-
Số nội dung
526 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Lê Bá Trung
-
ĐỊA LÝ TRỊ SOẠN PHÚ - CAO TRUNG . 1 LỜI TỰA Tập sách Địa Lý Trị Soạn Phú của Cao Trung. Ta đã biết địa lý có 2 phần: Loan đầu và Lý khí. Loan đầu là những gì thực tiễn của khoa địa lý mà ta có thể trông thấy trực tiếp trên đất đai nếu ta biết tìm nó. Lý khí là phần trừu tượng áp dụng các công thức Lý học Đông phương vào khoa địa lý để đưa đến kết quả tốt đẹp hơn. Bộ địa lý Vi sư pháp vừa xuất bản năm 1996 đã cho ta biết vững vàng về Loan Đầu. Bộ này, bộ Địa Lý Trị Soạn Phú phải đưa ta đến phần Lý khí, là phần có thể nói rất khó vì nó áp dụng nhiều công thức của nhiều bộ môn của Lý học Đông phương như Hà Đồ, Lạc Thư, các quẻ của Chu dịch, của Nhâm độn, của Giáp độn, của Lịch số, của Thiên văn v.v... Mấy ai đã học hết các bộ môn kia nên Lý khí xưa nay vẫn được coi là mơ hồ và khó hiểu. Những áp dụng chân chính thì rất hay nhưng bên cạnh nó lại thường kèm theo một số áp dụng man thư do một số man thư muốn giữ độc quyền của khoa địa lý bày đặt ra để làm lạc lối người học địa lý. Các cụ cho biết là Vua Hồng Vũ nhà Minh muốn giữ độc quyền khoa địa lý cho Hoàng tộc, nên có thuê một số man thư viết thêm nhiều áp dụng man thư cho người sau học dễ lạc vào rừng lý khí man thư mà không có thể giỏi và không làm đúng được. Lý khí tuy có lẫn man thư nhưng nếu là chân thư thì lại là phần rất quan trọng của khoa địa lý nếu ta nắm vững loan đầu và biết tránh cái sai của man thư. Vậy học địa lý không thể bỏ lý khí được mà chỉ cần tránh lý khí man thư mà thôi. Về phần lý khí của bộ sách này chúng tôi đã cố gắng trình bày thật rõ rệt, bỏ đi những điều gì mơ hồ như phần nhiều các sách địa lý khác đã làm từ xưa đến nay. Ngoài ra chúng tôi cũng vẽ rất nhiều đồ hình để giải thích cho dễ hiểu và cho đỡ sai lầm. Cuối sách này chúng tôi cũng tiếp tục trình bày thêm một số đất kết Cao Biền. Bộ trước, bộ địa lý vi sư pháp đã trình bày các kiểu đất kết của Cao Biền trong 9 Phủ huyện thuộc tỉnh Hà Đông và Hà Nội. Bộ này tiếp tục trình bày những đất kết Cao Biền trong ba tỉnh: Sơn Tây, Vĩnh Phúc Yên và Phú Thọ. CAO TRUNG CHƯƠNG 1 ĐỊA LÝ TRỊ SOẠN PHÚ Hướng dẫn Đây là các câu phú mô tả những công thức, những cách cục tốt, xấu của các cuộc đất. Cũng như trong Tử Vi có các câu phú mô tả các cách cục xấu tốt của lá số Tử Vi. Phần địa lý trị soạn phú này có trên 200 câu, trình bày các yếu tố khác nhau của huyệt kết. Không bắt buộc một ngôi đất phải có tất cả những gì hay, tốt của tất cả các câu phú này, nhưng càng nhiều càng tốt. Các câu phú, có câu nói về hành long, là nói về long mạch đi từ tổ sơn đến huyệt trường. Có câu nói về huyệt trường và những điều kiện tốt của huyệt trường như tiền quan, hậu quỷ. v.v... Có câu nói về tay long, tay hổ ôm vòng hai bên huyệt trường như thế nào mới là tốt, mới là kín đáo che gió cho huyệt trường. Hoặc ngoài long hổ còn có diệu nữa thì tốt ra sao. Có câu nói về Án như bàn giấy trước huyệt trường, án nga mi thì sinh con gái đẹp, án bái tướng thì làm lơn. Án là thành phần của Chu tước vì Chu tước là các gò đống đứng trước, huyệt trường. Có câu nói về Thành quách bao quanh nơi cuộc đất, chứng tỏ đó là đất kết lớn. Có câu nói về Huyền Vũ sau huyệt trường là nơi dự trữ khí mạch để cung cấp khí mạch cho huyệt trường. Huyền vũ càng đầy đặn càng tốt. Đầy đặn nhưng phải cúi đầu xuống huyệt trường mới được, còn như đày đặn mà đứng thẳng cũng không tốt. Phần Địa lý trị soạn phú này dài nếu so với các Chương khác. Vì nhiều quá khó nhớ, khó lĩnh hội, và mau chán dù hay nên chúng tôi phải chia nó ra làm 7 Phân Chương và đánh số từ 1-1 đến 1-7. Dưới đây là bắt đầu chương 1-1. CHƯƠNG 1-1 ĐỊA LÝ TRỊ SOẠN PHÚ Câu 1: Địa lý đa đoan, lý quy nhất yếu, quý cục quý ứng, thực bất khả sai. Tiện cách tiện ứng, tín bất vu hỹ. Dịch (1) Địa lý đa đoan mà chung quy có một lý, quý cục quý ứng không thể sai lầm. Tiện cục tiện ứng thực là dùng vậy. Câu 2: Càn Sơn Càn hướng thủy lưu Càn, Thiên Ất cao phong xuất trạng nguyên. Câu 3: Tốn sơn, Tốn hướng thủy lưu Tốn, Chấn Canh kỳ cổ quan ngoại khổn. Dịch (2) Càn sơn, Càn hướng nước cũng chảy về Càn mà Thiên Ất (hướng Tuất) có núi cao thì phát trạng nguyên. Dịch (3) Tốn sơn nước cũng chảy về Tốn mà phương Chấn Canh có cờ trống thì trấn thủ biên cương. Câu 4: Hậu đầu sơn tư phương tương, tài hóa nhật, tích. Câu 5: Diện tiền sơn như đốn bút, hào kiệt thời sinh. Dịch (4) Hậu đầu sơn như két vuông, tiền của ngày một nhiều. Dịch (5) Diện tiền sơn như ngòi bút, hào kiệt phát sinh lắm. Câu 6: Quý tiện quan ư Đoài vị, thọ yểu hệ ư Càn phương Dịch (6) Quý tiện quan hệ ở phương Đoài, thọ yểu quan hệ ở phương Càn. Giải thích (6) cung Đoài chủ quý, cung Càn chủ thọ. Câu 7: Huyền Vũ sơn hoành hậu, nam nữ thọ xương Câu 8: Chu tước thủy trừng thanh, tử tôn thanh tú. Dịch (7) Huyền vũ sơn hùng hậu, trai gái thọ trường. Dịch (8) Chu tước thủy trong sạch, con cháu thanh tú. Giải thích (7) Huyền vũ nếu cao dày là có chứa nhiều khí mạch cho huyệt trường, làm cho huyệt trường nhiều khí mạch nên dày dặn xung mãn. Con cháu sẽ khỏe mạnh sống lâu. Giải thích (8) Chu tước là bao gồm tất cả những gì ở trước huyệt trường như án, sa, diệu v.v... Câu này nói là nếu trước huyệt có án, sa diệu và ở chỗ nước trong thì con cháu nhà đó sẽ thông minh. Câu 9: Hạ sa thu tận nguyên đầu thủy, tử tôn mãi tận thế gian điền. Câu 10: Khố tích ư Bính Dần chi vị, tử tôn các xuất phú gia ông Dịch (9) hạ sa thu hết nước đầu nguồn, con cháu mua cả ruộng thế gian. Dịch (10) Kho chứa ở cung Bính, Dần, con cháu đều phú gia. Giải thích (9) Câu này hơi khó giải thích, vậy trước tiên ta phải nhớ là: những gò đống trước và xung quanh huyệt trường đều được gọi là sa. Ở đây nói về đầu long hổ gần huyệt trường nhất cũng là sa nhưng được gọi là hạ sa. Hai hạ sa ở đầu long, hổ này rất quan trọng, vì hạ sa gần nhất thu khí, gần khí cho có huyệt kết và cái hạ sa bên kia, xa hơn thu thủy cho có tiền của. Ở huyệt kết hồi long cố tổ thì có hạ sa thu khí rồi huyệt lại quay lại (hồi long) thu được cả thủy từ đầu nguồn về, nên con cháu sẽ rất giàu, có đủ tiền mua được nhiều ruộng đất của thế gian. Vì vậy các thầy địa lý rất ham kiếm đất hồi long cố tổ để được vừa giàu vừa sang. Giải thích (10) Cung Bính hay cung Dần có gò, có núi lớn như cái kho, cái cót thóc thì con cháu sẽ giàu. Câu 11: Diện tiền cận thủy như bối đao sơn túc mãn thương nhi nô mãn vũ. Câu 12: Viễn thùy đầu nhi cận tiếp mạch, hương quán chúng, nhi triền quán ban. Dịch (11) Trước mặt gần nước, sau nữa xa hơn có núi, thì thóc đầy kho, nô bộc đầy nhà. Dịch (12) Sa thủy đầu gần kề trán, ở làng bậc nhất ở triều đình thì ở đầu ban. Giải thích (11) Trước huyệt có nhiều nước, xa nữa mới tới núi thì thóc đầy kho, nô bộc đầy nhà. Giải thích (12) Án gần huyệt mà cúi đầu trước huyệt thì ở làng bậc nhất là tiên chỉ và nếu làm quan ở Triều đình thì cũng nhất triều (tể tướng, thủ tướng) Câu 13: Án tiền vạn giáp, nhất hô bá nặc. Câu 14: Án hữu tam tiêm bút, nhất cử tam khôi. Dịch (13) Trước án có vạn giáp sơn, một câu hô trăm câu dạ. Dịch (14) Ngoài án có 3 cây bút, một lần đi thi, đỗ tam khôi. Giải thích (13) Tất cả những núi non trước huyệt đều cúi đầu chầu vào huyệt thì người được đất đó hô một câu có trăm người dạ. Giải thích (14) Trước án có một cây bút cũng đã học giỏi và đi thi đỗ cao rồi, thế mà trước án có những 3 cây bút thì khi đi thi không những đỗ cả 3 khoa, mà lại đỗ đầu nữa (Cụ Nguyễn Khuyến tục gọi là cụ Tam nguyên Yên Đổ, một lần đi thi đỗ đầu cả 3 khoa). Đồng thời với cụ, có cụ nghè Vân Đình, là cụ Dương Khuê cũng đỗ đầu cả ba khoa nhưng phải thi nhiều lần. Hai cụ rất thân với nhau nên khi cụ Dương Khuê mất, cụ Nguyễn Khuyến có làm bài thơ phúng viếng rất nổi tiếng mở đầu có những câu: Bác Dương thôi đã thôi rồi Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau Kính yêu từ trước đến sau v.v... Rượu ngon không có bạn hiền Không mua không phải không tiền không mua Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết Viết đưa ai, ai biết mà đưa Hai cụ kính yêu nhau về tài học. Cụ Nguyễn Khuyến thường nói là tài học cụ Dương Khuê có thể thi một lần đỗ tam khôi như mình, tiếc thay cụ phải thi nhiều lần. Còn cụ Dương Khuê thì nói là cụ Nguyễn Khuyến xứng đáng thi đỗ tam khôi. Một hôm cụ Nguyễn Khuyến lại thăm cụ Dương Khuê ở Vân đình trở về và cụ Dương Khuê đi theo tiễn đến bờ sông, trước khi cụ Nguyễn Khuyến lên thuyền xuôi về Yên Đổ, Bình Lục, Hà Nam. Tại bờ sông hai cụ thấy mấy bà vạch đít trắng hếu ngồi ỉa đồng. Cụ Yên Đổ liền đọc: “Vân Đình hữu ý khuy toàn diện”. Câu này nghĩa đen là nếu cụ Vân Đình để ý thì có thể nhìn thấy tất cả bề mặt của các bà. Nghĩa bóng là nếu cụ Vân Đình cố gắng, có thể đi thi một lần đỗ đầu ba khoa. Cụ Vân Đình liền đáp lại: “Yên Đổ vô tình thức bán luân” Nghĩa đen câu này là: Cụ Yên Đổ vô tình mà đã thấy nửa vành bánh xe của các bà. Nghĩa bóng là cụ Yên Đổ dù thi sơ sơ cũng đủ tài đỗ đầu cả 3 khoa. Câu 15: Mộc sinh văn sĩ, Thổ vượng điền ngưu, Kim chi thượng thư. Câu 16: Thủy sinh lang dịch. Thổ khai khẩu, phú gia địch quốc. Dịch (15) Một phát văn tài, Thổ vượng ruộng trâu, Kim tới Thượng thư. Dịch (16) Thủy phát lang cấp, Thổ mở miệng, giàu ngang nhà nước. Giải thích (15) Đất kết hình mộc (nhỏ nhắn, dài) thì phát văn. Đất kết hình thổ (thô kệch) thì làm ruộng phát đạt. Đất hình kim (tròn đẹp) thì làm quan có thể đến thượng thư. Giải thích (16) Đất hình thủy thì phát quan lang, huyệt kết hình Thổ (vuông hay chữ nhật) mà khai Oa kết huyệt thì giàu nhất nhì trong nước. Câu 17: Mộc khai Oa, sĩ khôi thiên hạ Dịch (17) đất hình Mộc khai Oa kết huyệt, sẽ đỗ đầu thiên hạ. Câu 18: Quý cực phẩm, tại hồ tứ duy sơn ngật Câu 19: Phú địch quốc, tại hồ cửu khúc thủy triều. Dịch (18) Sang cực phẩm, do ở Tứ duy có núi mọc Dịch (19) Giàu nhất nước, tại vì thủy có 9 khúc triều về. Giải thích (18) Đất có núi cao trấn 4 phương cân đối (thuộc tứ duy) là: - Càn (Tây bắc) - Khôn (Tây nam) - Cấn (Đông bắc) và - Tốn (Đông nam) là đất quý cực phẩm. Giải thích (19) Nước từ minh đường chảy ra thủy khẩu hay nước từ thủy khẩu chảy đi, nếu chảy khuất khúc tốt hơn chảy thẳng. Chảy khuất khúc đến 9 khúc là tốt nhất. Câu 20: Sinh phong hầu, tử miếu thực, tại hồ ngũ khí triều nguyên. Câu 21: Thiếu chi quý, lão đắc toàn, tại hồ bát phương bất động. Dịch (20) Sống phong hầu, chết thành hoàng, bởi tại ngũ khí triều nguyên. Dịch (21) Trẻ cực sang, già có của, do ư bát phương bất động. Giải thích (20) Đất có ngũ khí triều nguyên là đất kết có huyệt trường hình Thổ ở trung ương, Đông có hình mộc, Tây có hình Kim, Nam có hình Hỏa và Bắc có hình Thủy. Giải thích (21) Huyệt trường được che gió kín, 8 hướng đều không bị xuy vong. Câu 22: Long tiêm phong, tử tôn tảo phát đăng khoa. Câu 23: Hổ thùy đầu, gia môn đa sinh anh hùng Dịch (22) Long có núi nhọn, con cháu sớm đăng khoa bảng. Dịch (23) Hổ cúi đầu, gia môn sinh lắm anh hùng. Giải thích (22 – 23) Long tốt phải dài và nhỏ, hổ tốt phải cao và cúi đầu. Câu 24: Khảm, Cấn, Chấn vi tam nam: Tốn, Đoài, Ly vi tam nữ. Mỗ vị ứng, mỗ vị phát, mỗ vị khuyết tắc, mỗ vị suy. Dịch (24) Khảm, Cấn, Chấn là 3 trai; Tốn Ly Đoài là 3 gái. Ứng ngôi nào là phát ngôi đó; khuyết ngôi nào thì suy ngôi đó. Câu 25: Sĩ khôi thiên hạ, tại hồ bút giá xấm vân. Câu 26: Sĩ trúng thiếu niên, tại hồ bút sáp đảo địa. Dịch (25) Đỗ đầu thiên hạ là do giá bút ngất tầng mây. Dịch (26) Đăng khoa tuổi trẻ là do bút mọc cài mặt đất. Giải thích (25 – 26) Bút đứng (bút cao tới mây) tốt hơn bút nằm (bút đảo địa). Câu 27: Lực thống tam quâ, tại hồ liệt ấn liệt kiếm Câu 28: Quyền thu vạn chúng, tại hồ bài cổ bài chung Dịch (27) Thống lĩnh ba quân, tại vì sẫn ấn, sẵn kiếm. Dịch (28) Chỉ huy vạn chúng, tại vì có trống có chiêng. Giải thích (27 – 28) Đất phát võ là làm lớn phải có chiêng trống và kiếm ăn. Câu 29: Tam quân xuất trận anh hùng tướng Câu 30: Lưởng sĩ phù kiên trúng một nho Dịch (29) Ba quân xuất trận, phát tay danh tướng Dịch (30) Hai sĩ phò vai, sinh bậc túc nho. Giải thích (29-30) Nếu thấy hai vai huyệt trường có 2 quả gò là được cách lưỡng sĩ phù kiên. Đất có cách này sẽ sinh được con, cháu là nho sĩ có tài học thâm thúy. CHƯƠNG 1 – 2 ĐỊA LÝ TRỊ SOẠN PHÚ (Tiếp theo) Hướng dẫn Chương 1 chia làm 7 chương nhỏ (phân chương) Đây là chương nhỏ thứ 2 (1 – 2) của Địa lý trị soạn phú bắt đầu từ câu 31 cho đến câu 60. Câu 31: Thiên hán lĩnh giang tâm, đỉnh sinh hùng tướng Câu 32: Hoa biểu hãn thủy khẩu, trấn tĩnh biên khu Dịch (31) thiên hán trấn giữa sông, phát sinh hùng tướng. Dịch (32) Hoa biểu ngăn thủy khẩu, trấn tĩnh biên khu. Giải thích (31 – 32) Đây nói về thủy khẩu là thành phần rất quan hệ cho một cục đất kết. Thủy khẩu là cái gò đống hoặc đống đá, cù lao, chỗ thắt lại ngăn nước chảy, để đóng cửa giữ nội khí cho khỏi tán nên mới có đất kết. Nói đến thủy khẩu người ta nghĩ đến người lính gác văn phòng, hoặc toàn lính gác những cơ sở lớn, hoặc nhiều toán lính gác các cung điện, dưới quyền chỉ huy của các cấp chỉ huy lớn nhỏ khác nhau. Nếu thủy khẩu có những tinh phong nhỏ như quy, sà hình thì gọi là cầm tinh trấn thủy khẩu. Những tinh phong ở thủy khẩu, lớn hơn như hình sư tử, voi, lân... ta gọi là thú tinh trấn thủy khẩu. Nếu có cái sơn đứng cao như canh gác thủy khẩu thì gọi là Hãn môn hay Thiên hán hoặc Hồng kỳ. Nếu thủy khẩu có 1 cái hay 2 sơn hình mộc tinh (hình dài) thì gọi là Hoa biển trấn thủy khẩu. Những Thiên hán, Hoa biểu hay Hồng kỳ do long mạch từ Thiếu tổ sơn kéo đến trấn thủy khẩu thường là đất lớn, hay phát sinh hùng tướng hay những vị lãnh trấn tĩnh biên khu. Câu phú 31 – 32 trên nói về loại thủy khẩu lớn này. Câu 33: Văn chương quán thế, tại hồ quỷ hậu sử thôi. Câu 34: Tinh nhuệ bạt luân, tại hồ thần đồng tiền lập. Dịch (33) Văn chương quán thế, tại vì đuôi chuột đằng sau (đây nói về hậu quỷ). Dịch (34) Tinh nhuệ hơn đời, tại vì thần đồng ở đằng trước (đây nói về tiền quan). Giải thích (33-340 Đất có tiền quan, hậu quỷ rất dễ sinh những nhân tài hơn đời. Câu 35: Văn chương quán xuất, tại hồ thủy diệu ấn phù Câu 36: Vũ dũng đỉnh sinh, tại hồ mão phương kiếm lập. Dịch (35) Văn chương lừng lẫy, ấn nổi mặt nước sui nên. Dịch (36) Võ tướng phát sinh, kiếm tại mão phương hợp cách. Giải thích (35-36) Ấn nổi mặt nước phát văn tốt hơn ấn trên cạn. Kiếm phương Chấn, Canh là hợp cách về võ, nên dễ phát lớn về ngành võ. Câu 37: Sơn kiến tam thai, vị cư Tể tướng Câu 38: Sơn hình tứ thú, đa xuất phú ông Dịch (37) Sơn hiệu tam thai, làm quan Tể tướng. Dịch (38) Sơn hình tứ thú, sản xuất phú ông. Giải thích (37-38) Chứng ứng hình tam thai là quả núi hay quả gò có 3 chỏm nhọn cao vút lên (giữa cao, 2 bên thấp) nên làm quan đến tể tướng. Còn chứng ứng hình thô kệch, to như con thú chỉ sản xuất ra nhà giàu, làm ruộng, ăn to vác nặng. Câu 39: Tịch mạo ỷ lập diên tiền. Đông cung thì giảng. Câu 40: Mịch đầu ỷ cứ huyệt hậu, lưỡng dịch, thừa ân Dịch (39) Tịch mạo nơi trước huyệt. Thị giảng đông cung. Dịch (40) Màn trướng tựa sau lưng, thừa ân cửu bệ. Câu 41: Tiền miên cung, hậu khai trướng, chân quý vô nghi. Câu 42: Nội bế thành, ngoại mật quách, phong hầu tại thử Dịch (41) Trước ôm lại, sau khai trướng (sau ôm lên) thực là quý nhất. Dịch (42) Trong bế thành, ngoài mật quách, tất phải phong hầu. Giải thích (41) Tiền miên cung là trước ôm lại. Hậu khai trướng là sau khai trướng ôm lên. Đó là cách thế tốt. Trước sau phải như thế mới có huyệt kết. Và hai bên Long hổ cũng phải bao che nữa mới được. Giải thích (42) khi nào thấy nội cuộc có Thành và ngoại cuộc có Quách từ Thiếu hoặc Thái tổ sơn về ôm bên ngoài hết tầng này đến tầng khác nữa thì đó là đất lớn, đất được phong hầu. Câu 43: Nga my kiến ư Tốn cung, khuynh thành quốc sắc. Câu 44: Liên châu khởi ư Đoài vị, nội điện cung phi Dịch (43) Nga my hiện ở Tốn cung, khuynh thành quốc sắc. Dịch (44) Liên châu khởi ở Đoài vị, nội điện cung phi. Giải thích (43) Hình nga my (như nửa vành trăng) ở Tốn cung có con gái là trang quốc sắc. Giải thích (44) Như chuỗi châu (tròn nhỏ liền nhau) ở cung Đoài thì có con gái làm phi. Câu 45: Trang đài ư hiệu khiết diệc nhiên. Câu 46: Dậu, Tốn chi lai long diệc thị. Dịch (45) Trang đài, thanh giá cố nhiên. Dịch (46) Dậu, Tốn lai long cũng vậy. Giải thích (45-46) Lai long ở Dậu hay ở Tốn có sa hình liên châu hay hình bán nguyệt thì con gái cũng là bậc trang đài, thanh khiết như tả ở câu phú 43 – 44 ở trên. Câu 47: Long liên châu, hổ đới ấn, khoa mục tự kỳ. Câu 48: Tả nghịch sa, hữu thủy nhiễu, phú quý bất dịch Dịch (47) Long liên châu, hổ đeo ấn, khoa mục hẹn ngày. Dịch (48) Tả biên sa, hữu thủy triều, giàu sang vô địch. Giải thích (47-48) Câu 45-46 nói về sa tốt cho nữ giới, bây giờ câu 47-48 nói về sa tốt cho nam giới và cho biết là nếu trên tay long hay tay hổ có tinh phong hiện lên như chuỗi châu hay như đeo ấn thì con trai học giỏi hễ đi thi là đỗ cao. Hoặc bên tả có sa tốt mà bên hữu có thủy triều thì giàu sang vô địch. Khoa địa lý còn có phép nạp giáp nghĩa là long nào đi với thủy nào thì lại tốt gấp bội. Chúng tôi sẽ trình bày nó kế tiếp. Câu 49: Đường tiền chi lan thủy triều dương, gia đa kim ngọc. Câu 50: Điền nội chi nhất điền đê tiểu, gia vượng điều ngưu Dịch (49) Trước minh đường có làm nước triều dương nhà nhiều vàng ngọc, Dịch (50) Trong minh đường có một mảnh ruộng trũng (tụ thủy), nhà vượng ruộng trâu. Giải thích (49-50) câu 49 nói về ngoại đường và câu 50 nói về nội đường. Nội đường chỉ cần có chút nước là đủ rồi, nhưng ngoại đường càng rộng lớn càng tốt. Câu 51: Địa hữu thác, lạc, đa sinh trác việt chi tà. Câu 52: Địa hữu quỷ, quan, tất chủ thông inh chí sĩ. Dịch (51) Đất có thác lạc, sinh lắm nhân tài trác việt. Dịch (52) Đất có quỷ quan tất phát nhiều bậc thông minh chí sĩ. Giải thích (51 – 52). Sau huyệt có thác lạc, quanh huyệt trường có quan quỷ đều là đất phát người có tài trác việt hơn đời. Câu 53: Liên hoa xuất thủy, sinh Đại tướng Câu 54: Mãnh hổ tại sơn, phát đại quan Dịch (53) Liên hoa xuất thủy, đại tướng phát sinh (hoa biểu từ tổ sơn đến trấn thủy khẩu là đất phát tướng). Dịch (54) hổ tại sơn (có núi đất, núi đá thú hình trần thủy khẩu) phát đại quan. Giải thích (53-54) Thủy khẩu có núi lớn hình liên hoa hay mãnh hổ (thú tinh) từ Thiếu tổ hay Thái tổ sơn kéo về thì phát võ rất lớn như vậy. Câu 55: Cầm hình văn quan, thú hình võ tướng, chân đích vô nghi Câu 56: Sơn thế nhân đinh, thủy thế tài vật, quả đích hữu nghiệm. Dịch (55) Cầm hình phát văn, thú hình phát võ, quả thực không sai. Câu 56: Sơn thế nhân đinh, thủy thế tài vật, quả đích hữu nghiệm. Dịch (55) Cầm hình phát văn, thú hình phát võ, quả thực không sai Dịch (56) Sơn thế phát đình, thủy thế phát phú, ứng nghiệm chẳng lầm. Giải thích (55) Trấn thủy khẩu hình cầm (nhỏ, dài) phát văn. Trấn thủy khẩu hình thú (hình to, lớn) phát võ. Giải thích (56) Sơn tốt sinh người tài giỏi, thủy tốt phát nhiều tiền của, vì sơn chủ quý và thủy chủ phú. Câu 57: Chấn, Canh triều, phú nhi kham địch quốc Câu 58: Hợi, Tốn triều, phú nhi bẩm gia truyền. Cố viết: Hợi sơn nhất thăng, khả dĩ tri phú Tốn thủy nhất nhược, khả dĩ cứu bần. Dịch (57) Chấn Canh triều về, tiền của như nước. Dịch (58) Hợi Tốn triều về, giàu có truyền đời nên mới nói: Hợi sơn một thăng, có thể nên giàu. Tốn thủy một nuôi, có thể cứu bần. Giải thích (57-58) Chấn, Canh, Hợi, Tốn là 4 hướng tốt. Hướng Tốn, Hợi có nước, có núi dù ít cũng giàu. Muốn kiếm đất cứu bần nên lưu ý hai hướng tốt này. Câu 59: Xích sà nhiễu ấn, chủ đại quý Câu 60: Bạch hổ đới ấn, chủ võ quan Dịch (59) Xích sà nhiễu ấn, phát đại quý. Dịch (60) Bạch hổ đới ấn, chủ võ quan Giải thích (59) Ấn ở hướng Tốn Tỵ gọi là xích xà nhiều ấn, đại quý. Giải thích (60) Bạch hổ đới ấn dễ phát võ. (Còn Tiếp)
-
. Nói thêm Nhân tiện nói về long tả toàn và long hữu toàn, cụ Tả Ao nói thêm những gì ở chỗ long gặp thủy. 61. Bên trước nước đã hợp thâu. 62. Lai nhận có đống bên sau chăng là. Hai câu này là 2 câu chuyển, đại ý như sau: Trên kia đã nói về nước gặp long Bây giờ nói đến phần đất ở chỗ nước gặp long đó, phần đất này có khi là thuận long (đi xuôi theo chiều nước). Có khi là nghịch long (đi ngược chiều nước). Có khi là hoành long (xoay ngang chiều nước chảy). Với 3 thế long này, cụ Tả Ao chỉ lưu ý đến thế Hoành long vì nó có cách đặc biệt: 63. Hoành long thì nước thực thà. 64. Dù chẳng có nước, ắt là đối không. Có nghĩa là khi long quay ngang ra thường xa nước Chính (tức dòng nước lớn) xa như thế nên hay bị cạn nước ở minh đường (nước thực thà). Cũng có khi xa quá, đến nổi không có nước ở minh đường nữa (đối không). Tiếp theo cụ nói thêm về sự có âm dương phối hợp, chắc chắn có đất kết. 65. Âm dương đã có thư hùng. 66. Cửa nhà đã hợp vợ chồng liên giao. Có nghĩa là nếu có âm dương gặp nhau như: a. Âm thủy hội với dương thủy hay dương thủy hội với âm thủy hoặc b. Long đi chiều dương gặp thủy đi chiều âm hay là long đi chiều âm gặp thủy đi chiều dương. Là đực gặp cái hay cái gặp đực, hay nói cách khác: thư gặp hùng (âm gặp dương) hay hùng gặp thư (dương gặp âm). Sinh vật sinh sôi, nẩy nở là nhờ có âm dương phối hợp thì khoa địa lý cũng có âm dương phối hợp mới tạo ra được đất kết. Âm dương phối hợp cũng như vợ chồng làm sứ mạng truyền giống (liên giao). Mà đã làm sứ mạng truyền giống thì xảy ra: 67. Ắt là khí dựng thai bào. 68. Tự nhiên sinh dục lẽ nào khác vay. Ắt là có thai (khí dựng thai bào) Tự nhiên sẽ sinh đẻ (tự nhiên sinh dục) chứ còn gì nữa Còn đất nếu cũng theo đúng định luật của dịch lý: “Có âm dương, có vợ chồng”. Dẫu tử thiên địa cũng vòng phu thê”. Cũng phải có âm dương phối hợp chặt chẽ, mới tạo ra được đất kết. Nếu không được như thế thì không có kết quả, đây là định luật quan trọng chi phối toàn thể khoa địa lý. Người có người đẻ ra con trung hiếu, hiền lương hay ác độc thì đất cũng có đất sinh nhân làm rạng danh dòng họ hoặc là sinh ra phường trộm cắp, ngu si. Đến đó phải còn nhiều yếu tố phải bàn đến nữa như long, sa, thủy, hướng, huyệt... Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ lưỡng sau. Cụ Tả Ao còn nói thêm sự kết phát là do chân long chính huyệt. Chân long, chính huyệt không thể bỏ qua luật âm dương phối hợp, đã trình bày ở trên. 69. Chân long chính huyệt ở đây Đến đây, Cụ Tả Ao lại xoay sang vấn đề đất hoành kỵ. 70. Ấy đất Hoành Kỵ lời thầy truyền ta. Trên đã nói đất Hoành long rồi bây giờ nói đến Hoành kỵ. Hoành kỵ phải có chỗ khác Hoành long. Hoành là ngang, Kỵ là cưỡi. Đất hoành kỵ là huyệt kết ở trên lưng hoành long. Chỗ đất kết ở trên lưng trông như người cưỡi trên lưng rồng, lưng ngựa, nên gọi là hoành kỵ. Nếu đất kết trên đầu long thì sau đất kết một chút là tới minh đường. Còn đất kết trên lưng long thì long còn chạy lâu nữa mới tới minh đường. Kết hoành kỵ mà huyệt kết còn ở xa minh đường còn được gọi là kết thoái. Chỗ đất tiếp theo huyệt kết này các cụ gọi là chiêu thần. Vì chiêu thần ở đất kết thoái này dài hơn chiên thần ở đất kết thường, nên cụ Tả Ao cho biết: 71. Kết thoái dư khí còn xa. 72. Phải đi trăm dặm mới ra chiên thần. Kết thường thì dư khí (chiên thần) còn một ít thước nữa là đến minh đường, nhưng kết thoái (đất hoành kỵ) thì dư khí (chiên thần) có khi đi đến rất xa mới hết, mới đến minh đường. Cái khó của sự điểm huyệt và cũng ở khoa địa lý là những cái khúc mắc chúng tôi vừa trình bày, và sẽ trình bày nữa sau này. Sở dĩ bộ địa lý thứ hai này (Dã Đàm Tả Ao) chúng tôi phải sửa chữa kê cứu liền 4 năm mới dám cho xuất bản là vì phải cố gắng trình bày cho rõ ràng những chỗ khúc mắc. Tuy đã cố gắng lắm, nhưng khoa địa lý thật là mênh mông, nếu còn thiếu sót nào thì kính xin các vị chân sư chỉ giáo cho, chúng tôi rất đa tạ. CHƯƠNG THỨ BẢY THỦY PHÁP 73. Muốn sinh: tử tức, vượng nhân 74. Thì tìm Sinh vị, bản thần triều lai 75. Muốn thăng: quan tước, lộc tài 76. Thì tìm Vượng vị thủy lai hội đường. 77. Cứ nơi mạch ấy cho tường 78. Tả thuận, hữu nghịch, hai đường cho thông. 79. Lập huyệt, tọa hướng mới dùng. 80. Cứ phép bão lại: huyền không ngũ hành. 81. Cứ như thủy pháp Nang kinh 82. Kim, Mộc, Thủy, Hỏa thông minh như lề 83. Năm hành phỏng luận một vì. 84. Bình mộc: Giáp, Ất – Giáp thì mộc dương 85. Ất là âm mộc đã tường 86. Phỏng đây suy biết: âm dương, ngũ hành. 87. Cứ đó mà khởi tràng sinh. 88. Giáp sinh tại Hợi, Ất dành Ngọ cung 89. Hợi thuận, Ngọ nghịch hai dòng. 90. Hẳn còn xuôi ngược cho thông một vì. 91. Nước Sinh, nước Vượng chầu về. 92. Nước Tử, nước Tuyệt chảy đi mặc lòng. 93. Cứ hướng làm chủ bản cung. 94. Kim, Mộc, Thủy, Thổ cho thông hướng nào. 95. Nhất thì được nước Sinh vào. 96. Nhì thì được nước Khắc vào hướng ta. 97. Mong sao Sinh, Khắc đến ta. 98. Là nước ấy có ích, chỉ ta hòa dùng. CHƯƠNG THỨ BẢY THỦY PHÁP Đây là thủy pháp, phần quan trọng, rắc rối nhất, và khó giải thích nhất, của Khoa địa lý, cụ Tả Ao nói sơ lược phần nhỏ nhưng là thực hành. Học địa lý mà không biết thủy pháp, thì chẳng bao giờ làm Địa lý nên. Lại nữa thủy pháp trình bày đầy đủ phải mấy trăm trang, mà đây Cụ Tả Ao thu vào có 26 câu, lại không sắp xếp theo lối thông thường của lý thuyết sách vở, thì làm sao không rắc rối được. Thủy pháp đã khó lại bị thu ngắn, lại trình bày trên một lề lối riêng biệt của cụ Tả Ao nên tác giả đã phải mất nhiều công phu nghiên cứu và trình bày lại. Đây cũng là một trong những lý do mà bộ địa lý này, bốn năm sau mới xuất bản được. Sau khi đọc hết phần thủy pháp mà chúng tôi giải thích dưới đây, nếu quý vị hiểu được một nửa, rồi rãnh rỗi, quý vị hoặc xem lại, hoặc thực hành trên đất, hoặc phúc lại những ngôi mộ cổ, vừa suy ngẫm về lời giải thích của chúng tôi để phát huy thêm những cái khác lạ nữa, mà chúng tôi, hoặc vì còn non kém chưa giải thích được hết, hoặc vì chúng tôi không dám giải thích dài dòng quá, mà sau một năm quý vị nắm được hết tinh thần (tài liệu mờ). Bởi vì nó là những điều bí hiểm về địa lý, mà xưa kia, chúng tôi phải “mòn gót giày, lỏng đầu gối” cũng phải trên mười năm mới hiểu được như thế. Những điều này, chúng tôi có khi theo thầy cả 2, 3 năm, chiều chuộng thầy, có khi hàng năm, mới được thầy “bố thí” cho một ít giải thích ân huệ. Trước khi giải thích phần thủy pháp này của cụ Tả Ao, chúng tôi thấy, nên nêu ra một số thắc mắc: 1. Một là có nhiều điều mà thủy pháp ở sách địa lý Trung Hoa tán dương, mà ở đây cụ Tả Ao lại bỏ đi. 2. Hai là cách trình bày của cụ Tả Ao xem ra thật là rắc rối và kỳ lạ. Nhưng sau nhiều năm kê cứu và duyệt lại một số thủy pháp của sách Trung Hoa, rồi hầu chuyện một số các vị cao nhân về địa lý và suy ngẫm, đắn đo về nỗi thắc mắc này, chúng tôi mới tìm thấy giải đáp của sự thắc mắc trên như sau: 1. Những cái mà sách vở Trung Hoa trình bày, mà cụ Tả Ao không nói đến, phần nhiều chỉ là những kiến thức địa lý dựa vào lý khí rồi khuếch trương lên để làm cho rắc rối thêm địa lý mà thôi. 2. Còn cách trình bày của cụ Tả Ao thì lại quả là phép trình bày thực tế nhất vượt ra ngoài cả các sách vở thông thường đến nổi chỉ có 26 câu, nhưng nếu chúng ta thật thuộc lòng nó, suy ngẫm nhiều về nó, thì ta sẽ có một căn bản đúng, giản dị, về khoa thủy pháp, vừa đắc dụng, vừa chân thật. Quả không ngoa những lời các bậc tiền bối xưa đã nói: “Nhiều khi chỉ một câu của cụ Tả Ao, học mười năm chưa hết” Quý vị, sau khi đạt được thủy pháp này của cụ Tả Ao rồi, lại đọc các sách Tàu về thủy pháp, quý vị sẽ thâấ người Trung Hoa viết sách địa lý 10 mà chỉ ích lợi một, còn cụ Tả Ao chỉ nói một, mà người học đạt được kết quả trăm lần. Cụ Tả Ao quả là vị thánh địa lý. Nếu chúng ta yêu văn chương thì chúng ta lại còn thấy cụ Tả Ao là một nhà văn chân thành và rất đại chúng của thế kỷ 15. Không lời nào của cụ xa sự thật, không lời nào viễn vông, dư thừa cả. Áng văn nôm giá trị về thủy pháp này, sau trên nhiều năm nghiền ngẫm, suy nghĩ cách diễn giải, chúng tôi nghĩ rằng với tất cả sự cố gắng, chúng tôi chỉ có thể giải thích được bằng phương pháp sau đây: 1. Trước tiên giải thích các định nghĩa từng câu riêng biệt. 2. Sau nữa mới giải thích tinh thần cả đoạn văn, kèm thêm ví dụ. Nào trước tiên chúng ta hãy giải thích các định nghĩa từng câu riêng biệt: 73. Muốn sinh: Tử Tức, Vượng nhân. Muốn đất kết về đinh, muốn nhiều con đỗ đạt. 74. Thì tìm sinh vị, bản thần triều lai Thì chọn huyệt ở hướng Tràng sinh của thủy. 75. Muốn thăng: Quan tước, lộc tài. Muốn làm quan to và muốn có nhiều tài lộc. 76. Thì tìm vượng vị, thủy lai hội đường. Thì phải tìm huyệt ở hướng Đế vượng của thủy. 77. Cứ nơi mạch ấy cho tường Phải hiểu rõ cả mạch của long, lẫn mạch của thủy. 78. Tả thuận, hữu nghịch, đôi đường cho thông. Phải hiểu rõ rệt thủy (cũng như long đã nói ở trên) như sau: a). Nước chảy từ trái sang phải (theo chiều kim đồng hồ quay), (nhìn ở trước huyệt) là dương thủy hay thủy tả thuận hay thủy tả toàn, hay hữu thủy đảo tả. :lol: . Nước chảy từ phải sang trái (theo ngược chiều kim đồng hồ quay), (nhìn ở trước huyệt) là âm thủy hay thủy hữu nghịch hay thủy hữu toàn, hay tả thủy đảo hữu. 79. Lập huyệt, tọa hướng mới dùng. Thủy pháp quan trọng cho sự lập huyệt (ấn định huyệt nằm đâu) và tọa hướng (huyệt ngồi đâu mà nhìn vào đâu). 80. Cứ phép bão lai, huyền không ngũ hành. Ngoài hướng sinh và hướng vượng của huyệt, lại còn hướng của thủy bão lại ở trước huyệt. Thủy bão là khúc sông hay suối, ngồi ôm vòng ở trước huyệt. Ta có thể dùng thủy pháp theo Dương công hay Thủy pháp theo Huyền Không ngũ hành. 81. Cứ như thủy pháp năng kinh Nang Kinh là sách Thanh nang kinh về địa lý cổ của Trung Hoa, có nói về phép thủy pháp đúng nhất (sau này có thủy pháp Nang Kinh giả và thủy pháp của các loại sách tên khác nói bậy bạ làm nhiều người lầm). 82. Kim Mộc Thủy Hỏa Thông minh như lề. Muốn biết thủy pháp, trước hết phải biết đất kết thuộc về cuộc long gì. Chỉ có 4 cuộc long là: 1. Kim cuộc long 2. Mộc cuộc long 3. Thủy cuộc long 4. Hỏa cuộc long 1. Nếu khi ngồi ở huyệt mà thấy thủy khẩu phóng về hướng Đông (Quý, Sửu, Cấn, Dần, Giáp, Mão) thì long từ hướng Tây đến. Mà từ hướng Tây long đến, chính là Kim cuộc long. 2. Nếu khi ngồi ở huyệt mà thấy thủy khẩu phóng về hướng Tây (Đinh, Mùi, Khôn, Thân, Canh, Dậu) thì long ở hướng Đông đến. Mà từ hướng đông long đến, chính là Mộc cuộc long. 3. Nếu khi ngồi ở huyệt, mà thấy thủy khẩu phóng về hướng Nam (Ất, Thìn, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ) thì long ở hướng Bắc đến. Mà từ hướng Bắc long đến, chính là Thủy cuộc long. 4. Nếu khi ngồi ở huyệt, mà thấy Thủy khẩu phóng về hướng Bắc (Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm, Tý) thì long từ hướng Nam đến. Mà từ hướng Nam long đến, chính là Hỏa cuộc long. Trên đây chỉ nói về đại cuộc còn tiểu cuộc có khi không luận theo như trên. Sau đó, khi tầm long vài chục bận quý vị sẽ rõ. 83. Năm hành phỏng luận một vì Phải biết luận ngũ hành theo can và chi: a). Can Giáp là dương mộc. Can Ất là âm mộc. Can Bính là dương hỏa. Can Đinh là âm hỏa. Can Canh là dương kim. Can Tân là dương kim Can Nhâm là dương thủy Can Quý là âm thủy Can Mậu là dương thổ Can Kỷ là âm thổ. (Can Mậu và Kỷ không dùng để luận long, vì không có thổ long). B) . Chi Dần là dương mộc. Chi Mão là âm mộc. Chi Tỵ là âm hỏa Chi Ngọ là dương hỏa Chi Thân là dương kim Chi Dậu là âm kim Chi Hợi là âm thủy Chi Tý là dương thủy Chi Thìn Tuất là dương thổ Chi Sửu Mùi là âm thổ. (Thìn Tuất Sửu Mùi không dùng để luận long vì không có thổ lon). 84. Bính Mộc Giáp Ất, Giáp thì mộc dương 85. Ất là âm mộc đã tường Nếu bình luận Mộc cuộc thì dùng Giáp và Ất. Nếu gọi là Giáp mộc tức là dương mộc (Ất là âm mộc). 86. Phỏng đây suy biết âm dương, ngũ hành. Theo cách gọi đó sẽ biết âm hay dương và có hành kim hay hành mộc, hành thủy hay hành hỏa (ngũ hành). Như trên đã nói, nếu ta thấy: Giáp mộc là dương mộc (tính xuôi) Ất mộc là âm mộc (tính ngược). Bính hỏa là dương hỏa (tính xuôi) Đinh hỏa là âm hỏa (tính ngược). Canh kim là dương kim (tính xuôi) Tân kim là âm kim (tính ngược). Nhâm thủy là dương thủy (tính xuôi) Quý thủy là âm thủy (tính ngược). 87. Cứ đó mà khởi tràng sinh Cứ theo đó mà khởi từ tràng sinh, rồi đến Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng. 88. Giáp sinh tại Hợi, Ất dành Ngọ cung. Ví dụ: a). Nếu là dương mộc thì: 1. Tràng sinh ở Càn Hợi 2. Mộc dục ở Nhâm Tý 3. Quan đới ở Quý Sửu 4. Lâm quan ở Cấn Dần 5. Đế vượng ở Giáp Mão 6. Suy ở Ất Thìn 7. Bệnh ở Tốn Tỵ 8. Tử ở Bính Ngọ 9. Mộ ở Đinh Mùi 10. Tuyệt ở Khôn Thân 11. Thai ở Canh Dậu 12. Dưỡng ở Tân Tuất. B) . Nếu là âm mộc thì đi nghịch: 1. Tràng sinh ở Bính Ngọ (Ất dành Ngọ Cung). 2. Mộc dục ở Tốn Tỵ 3. Quan đới ở Ất Thìn 4. Lâm quan ở Giáp Mão 5. Đế vượng ở Cấn Dần 6. Suy ở Quý Sửu 7. Bệnh ở Nhâm Tý 8. Tử ở Càn Hợi 9. Mộ ở Tân Tuất 10. Tuyệt ở Canh Dậu 11. Thai ở Khôn Thân 12. Dưỡng ở Đinh Mùi. 89. Hợi thuận ngọ nghịch mới dùng Nếu tràng sinh của mộc mà ở Hợi, ta cho đi thuận, còn nếu tràng sinh của mộc mà ở Ngọ, ta cho đi nghịch. 90. Hẳn còn xuôi ngược, cho thông một vì. Cứ tính xuôi ngược như thế cho thông đi, trên là mới tính có Mộc cuộc. Ta lại còn phải tập tính cả: Kim cuộc Hỏa cuộc Thủy cuộc nữa Cũng theo phép như của Mộc cuộc vừa nói, cho thật thông thì ra ngoài đồng mới tầm long, điểm huyệt nhanh được. 91. Nước sinh nước vượng chầu về. Cứ đến chỗ nào là tràng sinh hay đế vượng của thủy mà có nước chầu về hay có nước tụ là ta được nước sinh hoặc nước vượng cho huyệt. 92. Nước tử, nước tuyệt chảy đi mặc lòng. Nước Tử và nước tuyệt là xấu nhất không được tụ, không được đến mà phải để cho nó chảy đi. Khi điểm huyệt ta thu sinh, vượng và tránh tử tuyệt của nước cho khéo. Cụ Tả Ao gọi là: Thu: minh sinh, phóng: ám tử. Cụ có câu thơ về việc này như sau: Minh Sinh, Ám tử, vô di Coi đi coi lại, quản chi nhọc nhằn. Có nghĩa là: Phải thu nước sinh vượng, phóng nước Tử tuyệt. Phép này quan trọng không di dịch được. Phải chịu khó nhọc coi đi lại cho kỹ, cho chắc chắn. Bởi đất kết do long mà họa phúc lại do thủy. 93. Cứ hướng làm chủ bản cung Phải lấy hướng huyệt làm chủ (Theo phép của Huyền không ngũ hành). 94. Kim mộc thủy thổ chô thông hướng nào. Ví dụ hướng huyệt mà hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ thì ta phải chọn nước hướng nào? Và chọn làm sao? Ta chọn như dưới đây: 95. Nhất thì được nước sinh vào Nhất thì hướng thủy phóng phải sinh hướng huyệt (theo huyền không ngũ hành). 96. Nhì thì được nước khắc vào hướng ta. Nhì thì hướng thủy phóng phải khắc hướng huyệt (theo huyền không ngũ hành). 97. Mong sao sinh khắc đến ta Chỉ cần sinh nhập (nước sinh hướng huyệt), hoặc khắc nhập (nước khắc hướng huyệt). 98. Là nước ấy có ích chi ta hòa dùng. Ngoài thủy pháp của Dương công ta chỉ nên dùng loại thủy pháp của Huyền không ngũ hành đó mà thôi. Trừ Dương công thủy pháp chỉ loại nước đó mới hữu ích. Thật ra trường hợp đặc biệt mới dùng đến phép Huyền không Ngũ hành. Chỉ nên cố gắng dùng Dương công thủy pháp. - Quý vị đọc đến đây cũng vẫn chưa dùng được nếu không hiểu điều bí hiểm của Huyền Không ngũ hành sau đây: Phép ngũ hành thường ta có: Bính là hỏa Ngọ là hỏa. Giáp Ất là mộc v.v... Còn phép ngũ hành của Huyền Không khác ngũ hành thường như sau: Ất Dậu Bính Đinh nguyên thuộc Hỏa. Kiền Khôn Mão Ngọ Kim đồng tọa Hợi Quý Cấn Giáp thị Mộc thần Dần Thân Tân Tốn Kiêm Tý Tỵ Hợp dữ Thìn Nhâm bát Thủy thần. Dịch nghĩa: Theo huyền không ngũ hành thì: Ất Dậu Bính Đinh hành hỏa Kiền Khôn Mão Ngọ hành kim Hợi Quý Cấn Giáp hành mộc. Dần, Thân, Tân, Tốn, Tý, Tỵ, Thìn, Nhâm hành thủy Có phép chỉ dùng huyền không ngũ hành cho hướng huyệt và hướng thủy khẩu, lại có phép dùng cho cả nước lại và nước triều. Chúng tôi sẽ giải thích nó kỹ lưỡng sau này, ở những bộ sách kế tiếp. Nhưng nếu biết coi phép Hồng Phạm Ngũ Hành ta sẽ biết năm nào thì kết phát. Đây là đi đến chỗ cao và bí hiểm nhất của khoa địa lý. Các vị chân sư truyền dạy cho chúng tôi không muốn chúng tôi phổ biến những bí hiểm như vậy quá rộng rãi, mà chỉ được truyền cho những vị nào mà được các chân sư xét là đáng. Thật ra, không phải là các Chân sư muốn cho khoa địa lý sẽ thất truyền, mà thật ra các vị đó sợ đời học chưa đến nơi đến chốn, đã vội hành nghề, sẽ có nhiều sai nhầm, và như thế dĩ nhiên là có hại cho người xin để đất, tổn phúc cho thầy để đất, người truyền cũng có phần nào ân hận. Để dung hòa hai quan niệm mâu thuẩn nhau như trên, chúng tôi sẽ tìm cách lưu lại bí mật đó cho đời sau, bằng cách mỗi sách chúng tôi cho vào một số bí quyết. Các vị nào có tâm đạo, chỉ muốn biết khoa địa lý để báo hiếu cho cha mẹ, mà không hề có tham vọng hành nghề địa lý để kiếm ăn, sẽ gặp rất nhiều cơ duyên để thành đạt về khoa này. Xưa kia, các cụ chân nho nghiên cứu địa lý, chỉ mong tìm được một đến hai ngôi đất để báo hiếu cho cha mẹ là đủ mãn nguyện. Như vậy khoa địa lý sẽ không bị thất truyền mà vị nào quyết tâm vẫn học được nó. Ngay trong bộ này, quý vị nào có nhiều kinh nghiệm và nhiều hiểu biết về địa lý, đã thấy chúng tôi xen kẻ trong các câu giải thích, trong đó đây ở bộ sách này, những ẩn ý đặc biệt, liên quan rất nhiều đến toàn bộ kiến thức bậc cao của khoa địa lý. CHƯƠNG THỨ TÁM LUẬN: THẤU LONG 99. Phép trong ngọc sích đã thông 100. Bèn mới lại luận Thấu long cho tường 101. Nhâm long ngôi ở đầu hàng 102. Bính Tý chính khí một phương chớ rời. 103. Khảm long: Canh Ty chính ngôi 104. Quý long: Đinh Sửu là nơi bản về 105. Sửu long: Tân Sửu kể đi 106. Cấn long chẳng lệch, hào ly: Mậu Dần 107. Dần long: chính khí Nhâm Dần 108. Giáp long: Đinh Mão là phần chính cung. 109. Mão long: Quý Mão thì dùng 110. Canh Thìn chính khí: Ất long đang quyền. 111. Thìn long: Chính khí Giáp Thìn 112. Tốn long: Tân Tỵ đã yên một dòng 113. Tỵ long: Ất Tỵ thấu long 114. Bính long: Nhâm Ngọ phép trong nhiệm màu 115. Ngọ long: Bính Ngọ làm đầu 116. Thánh hiền truyền dạy trước sau ghi lòng 117. Quý Mùi: là chính Đinh long 118. Mùi long: Đinh vị, Khôn dòng: Giáp Thân 119. Mậu Thân: chính khí long Thân 120. Canh long: Ất Dậu là phần chính Canh 121. Kỷ Dậu: chính khí Đoài tinh (Dậu) 122. Bính Tuất: chính khí địa hình long Tân 123. Tuất long: Canh Tuất bản phần 124. Càn long: Đinh Hợi sai phân chớ hề 125. Hợi long, Tân Hợi một vì 126. Rành rành chính khí, thấu suy đã tường. CHƯƠNG THỨ TÁM LUẬN: THẤU LONG Khoa địa lý chính tông bao giờ cũng nhằm vào phần loan đầu. Lấy con mắt và sự khổ công nhiều năm quan sát tại ngoài đồng, tìm ra long-chân huyệt-đích. Sau khi có long-chân huyệt-đích rồi mới luận đến thấu long. Các sách man thư không nói câu này, mà chỉ phát huy nguyên có thấu long. Người làm đất nếu quên long-chân huyệt-đích, trên cụ thể mà cứ cố xoay huyệt cho đúng thấu long tốt, sẽ xảy ra nhiều trường hợp làm hỏng đất kết. Dưới đây là hai câu mở về luận Thấu long. 99. Phép trong ngọc sích đã thông. 100. Bên mới lại luận thấu long cho tường. Thấu long chỉ dùng để luận long chứ không được dùng nó để phá long-chân huyệt-đích mới là danh môn chính phái. - Thấu long cho huyệt ta xem nhập thủ mạch của huyệt. - Thấu long cho long nhập thủ ta xem lai long của long nhập thủ. Thấu long cũng có thể dùng cho tổ sơn. Còn phép áp dụng thì: - Thấu long cho huyệt và cho long nhập thủ ta phải lấy chi tiết của vòng nhỏ, giáp vòng địa bàn, nó là vòng 72 long xuyên sơn. (Xin xe một địa bàn chính xác của Cao Trung đã phát hành). Tiếp theo dưới đây là luận về thấu long của 24 nhập thủ mạch: 101. Nhâm long ngôi ở đầu hàng 102. Bính Tý chính khí một phương chớ rời. Có nghĩa là: Nếu là Nhâm long nhập thủ, thì đường gần đưa mạch vào huyệt ở chữ Bính Tý của địa bàn, là chính khí. Tiếp theo: 103. Tý long Canh Tý chính ngôi: Có nghĩa là: nếu là Tý long nhập thủ thì nhập thủ mạch (đường gần đưa mạch vào huyệt) nên ở vào chữ Canh Tý 104. Quý long Đinh Sửu là nơi bản về Có nghĩa là: nếu là Quý long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Đinh Sửu. 105. Sửu long Tân Sửu kể đi Có nghĩa là: nếu là Sửu long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Tân Sửu. 106. Cấn long chẳng chệch hào ly Mậu Dần Có nghĩa là: nếu là Cấn long nhập thủ, thì nhập thủ mạch nên ở chữ Mậu Dần. 107. Dần long chính khí Nhâm Dần. Có nghĩa là: nếu là Dần long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Nhâm Dần. 108. Giáp long Đinh Mão là phần chính cung. Có nghĩa là: nếu là Giáp long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Đinh Mão. 109. Mão long Quý Mão thì dùng: Có nghĩa là Mão long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Quý Mão. 110. Canh Thìn chính khí Ất long đang quyền. Có nghĩa là Ất long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Canh Thìn. 111. Thìn long chính khí Giáp Thìn Có nghĩa là: Thìn long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Giáp Thìn. 112. Tốn long Tân Tỵ đã yên một dòng Có nghĩa là: Tốn long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Tân Tỵ. 113. Tỵ long Ất Tỵ thấu long Có nghĩa là: Tỵ long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Ất Tỵ. 114. Bính long Nhâm Ngọ phép trong nhiệm mầu: Có nghĩa là: Bính long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Nhâm Ngọ. 115. Ngọ long Bính Ngọ làm đầu 116. Thánh hiền truyền dạy trước sau ghi lòng Có nghĩa là: nếu Ngọ long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Bính Ngọ. 117. Quý Mùi là chính Đinh Long Có nghĩa là: nếu Đinh long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Quý Mùi. 118. Mùi long Đinh vị, khôn dòng Giáp Thân Có nghĩa là: Mùi long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Đinh Mùi Và khôn long nhập thủ thì hập thủ mạch nên ở chữ Giáp Thân. 119. Mậu Thân chính khí Long thân Có nghĩa là: Thân long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Mậu Thân. 120. Canh long Ất Dậu là phần chính canh: Có nghĩa là: Canh long nhập thủ mạch nên ở chữ Ất Dậu 121. Kỷ Dậu chính khí đoài tinh: Có nghĩa là: Dậu long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Kỷ Dậu 122. Bính Tuất chính khí địa hình long tân: Có nghĩa là: Tân long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Bính Tuất. 123. Tuất long Canh Tuất bản phần: Có nghĩa là: Tuất long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Canh Tuất. 124. Càn long Đinh Hợi sai phân chớ hề: Có nghĩa là: Càn long nhập thủ thì nhập thủ mạch nên ở chữ Đinh Hợi. 125. Hợi long Tân Hợi một vì 126. Dành dành chính khí thấu suy đã tường. Có nghĩa là: Hợi long nhập thủ, thì nhập thủ mạch nên ở chữ Tân Hợi. Theo tính chất về chính khí của 24 long nói trên ta biết rằng: nếu phân kim thừa dùng chính khí như Hợi long thừa Tân Hợi mới được còn chi tiết khác sẽ bị cô hư, không vong sẽ có bại. Vậy ta nên xoay huyệt cho vào chính khí không? Có một số chân sư đáp rằng: - Loan đầu là thể - Lý khí là dụng. Thể mới là chính và dụng là phụ, tuy cả hai cùng cần. Nếu tìm đúng long-chân, huyệt-đích thì nắm chắc loan đầu, tự nhiên chính khí phải đúng. Một số vị chân sư khác cho biết: Có một vài trường hợp chính khí (Thâu long) sai mà có long-chân huyệt-đích thì phải chịu vậy, nó là tạp long – Dùng tạm huyệt đó rồi tiếp phúc nữa, hoặc đi tìm đất kết khác. Hơn nữa, dù tính chất của 24 long, dù thấu long cũng chỉ là luận long. Chỉ là luận mà thôi. Có nhiều người nệ vào tính chất của long, nệ vào thấu long, thành ra đặt huyệt vào chỗ không kết, thảm thay, thảm thay. Đã nhiều người khóc dở mếu dở về chuyện này. Lý do chỉ vì: - Loan đầu không vững - Quá nệ vào lý khí và luận long. Những thấu long trên đây nói về lai mạch nhập huyệt, nhưng thấu long còn có thể dùng cho long nhập thủ, cho hành long (thôi quan) và cho thiếu tổ sơn nữa. Tuy nhiên nên nhớ kỹ phần này chỉ là luận long sau khi có long chân, huyệt đích. Dưới đây là công thức xuyên sơn 72 long nói về mạch nhập thủ: Theo phương pháp này (luận về nhập thủ mạch). Mỗi khi đến huyệt trường, chỗ long kết huyệt, căn cứ vào chỗ quá giáp (chỗ long mạch thắt nhỏ lại) mình đặt la kinh xem long mạch vào chữ gì? Có thể coi: - Chỗ mạch nhập thủ - Chỗ long mạch thắt nhỏ lại - Hay chỗ thân long khởi hoặc phục rồi đem Giáp Tý nạp âm coi ngũ hành, sinh khắc để biết lành dữ. Ví dụ: Tý long lai mạch - Chữ Tý thuộc Thủy - Chữ về chi Tý là mẫu tự - Một mẹ sinh 5 con. Nếu Bính Tý long lai thì thuộc Thủy. Canh Tý long lai thì thuộc Thổ. Còn như Giáp Tý long lai thì thuộc Kim Mậu Tý thuộc hỏa Nhâm Tý thuộc mộc. Tính theo hàng can nạp giáp cho 8 quẻ để phân biệt thế nào là cô hư, vượng, tướng, thế nào là quý, giáp, không, vong, kiếp sát Ta thấy Giáp nạp cho Kiền Nhâm nạp cho Ly Hai quẻ này đều là dương cả, nên Giáp với Nhâm đều là cô Ất nạp cho Khôn Quý nạp cho Khảm Hai quẻ này đều là âm cả nên Ất với Quý đều là hư. Mậu Kỷ gọi là Quy, Giáp là Không, Vong là Quan sát. Bính là dương hỏa. Canh là dương kim. Chỉ có dương là vượng mà chỉ có hỏa và kim mới là vượng cho nên đây gọi là Vượng. Đinh là âm hỏa, Tân là âm kim chỉ có âm là tướng mà chỉ có hỏa và kim mới là tướng cho nên đây gọi là tướng. Phần này chỉ là nói thêm để gợi ý chút ít bí pháp phân kim, chúng tôi sẽ nói kỹ phân kim ở một bộ sách khác, sau này xuất bản. Trên là lý khí về nhập thủ mạch của bí pháp chính tông, Nguyên về Tý long nhập thủ mà còn nói khó hiểu như thế. Nếu nói hết bí pháp ngay thì quyển này sẽ khá dài. Nhưng mà trên thực hành, loan đầu chỉ cần tóm cả thấu long, nhập thủ mạch, của 24 long và một câu: Lai mạch nhập thủ mà khí còn cường sẽ dễ có xung khí, có hại, có tội. Lai mạch nhập nhĩ là vừa. Nhưng nếu lai mạch nhập thủ mà khí nhược thì châm chế được. Chỉ có thế thôi. Nếu loan đầu đúng thì lý khí đều phần nhiều đúng hết. Bao giờ hiểu rõ ta sẽ bất chấp cái khó khăn của lý khí. Làm địa lý mà không phân tích kỹ loan đầu, chỉ luận nguyên khí sẽ không bao giờ làm được địa lý cả. Như nhiều cụ xưa kia chỉ chuộng lý khí của sách Trung Hoa mà quên phần căn bản là loan đầu, cụ thể ở trước mắt, nhìn thấy được. Chúng tôi đã được dự kiến nhiều trận tranh luận về lý khí mà quên hẳn loan đầu. Kết quả là càng tranh luận lại càng nát bét. Các vị mải mê lý khí, mà quên loan đầu, nào có nghĩ rằng: Địa lý là khoa học thực dụng và thực tế. Nó bắt đầu có do ở sự quan sát trên đất đai cụ thể để tìm ra nơi nào đẹp nhất, dùng làm nhà ở, và chôn xương, cất xác các bậc tôn kính đã quá cố xuống đó. Mãi đến Hán, Đường mới có thuyết ngũ hành và từ đó thêm phần lý khí vào khoa địa lý và sau này các vị Đế vương Trung Hoa, muốn giữ độc quyền về khoa địa lý cho dòng họ mình, một mặt tìm Chân thư, mặt khác vừa bắt buộc, vừa cho tiền bạc một số địa lý gia viết man thư bằng cách dùng lý khí tán rộng và tán vào chỗ sai lầm. CHƯƠNG THỨ CHÍN LUẬN: HƯỚNG HUYỆT CỦA 24 LONG 127. Tại luận long hướng các phương 128. Tà khí tạp bác, âm dương cho thuần. 129. Nhâm long: ba hướng khả phân 130. Phương: Ngọ, Khôn, Ất xoay vần kể chi 131. Tý long: Khôn hướng một bề 132. Quý long: hay huyệt hướng về Ngọ, Khôn 133. Sửu long: Bính hướng vi tôn 134. Cấn long: tám huyệt kể tồn từng ngôi 135. Bính, Đinh, Canh, Tân, Tỵ, Mùi 136. Tốn, Đoài, tám hướng trạch chính an ngôi. 137. Dần long: hai hướng Khôn, Thân. 138. Giáp long: định hướng về phần: Càn, Khôn 139. Mão long: bốn hướng kể rồn 140. Canh, Tân, Đinh, Hợi đã yên một bề. 141. Ất long: Khôn hướng một vì 142. Thìn long: hai huyệt hướng về Càn, Khôn 143. Tốn long: Tân, Hợi, Cấn môn 144. Dụng ba hướng ấy, là không sánh tày 145. Tỵ long: một hướng Hợi thần 146. Bính long: bốn huyệt kể bày làm nơi 147. Hợi, Canh, Tân, Cấn hướng ngôi 148. Ngọ long: hai hướng về trời Quý, Nhâm 149. Đinh long: Cấn, Hợi thuần âm 150. Mùi long: một hướng cục nhằm Cấn Ly 151. Khôn long: phương Quý hướng đi 152. Thân long: Quý, Giáp hai vì cho mình 153. Hướng: Mão, Cấn là long Canh 154. Cấn, Tốn, Tỵ hướng, đã đành Dậu long 155. Tân long: Tốn, Mão, Cấn cung 156. Ngồi một hướng Ất, Tuất long địa bàn 157. Cùng theo Ất hướng, long Càn 158. Bính, Tốn, Đinh hướng, long đồng Hợi long CHƯƠNG THỨ CHÍN LUẬN: HƯỚNG NGUYỆT CỦA 24 LONG 127. Lại luận long hướng các phương 128. Tà khí tạp bác âm dương cho thuần Trên đây là luận về hướng huyệt của long như sau: Long nhập thủ và hướng cần phải có 2 tương quan: a). Một là cùng âm, cùng dương. Nếu không cùng âm cùng dương là: tà khí, tạp bác. B) . Hai là Long nhập thủ nào hay có hướng huyệt quay về hướng nào. Tiếp theo dưới đây cụ Tả Ao nói về long nào trên thực tế hay có Hướng huyệt quay về hướng nào. 129. Nhâm Long 3 hướng khả phân (xem hình 7) 130. Phương: Ngọ, Khôn, Ất xoay vần kể chi. -------------------------------------------------------------------------------- Hình 7: Nhâm Long Giải thích câu 129 – 130 (hình 7) Nếu là Nhâm long hay có 3 hướng huyệt: 1. Phương Ngọ (tọa Tý hướng Ngọ) 2. Phương Khôn (tọa Cấn hướng Khôn) 3. hoặc phương Ất (tọa Tân hướng Ất). 129. Nhâm Long 3 hướng khả phân (xem hình 7) 130. Phương: Ngọ, Khôn, Ất xoay vần kể chi. Hình 8: Tý long Giải thích câu 131 (hình 8) Nếu là Tý long thì thường chỉ có 1 hướng huyệt. Tọa Cấn hướng Khôn. 132. Quý Long hay huyệt hướng về: Ngọ, Khôn (xem hình 9) Nếu là quý long thì thường có 2 hướng huyệt: 1. Một là tọa Tý hướng Ngọ 2. Hai là tọa Cấn hướng Khôn. 133. Sửu Long Bính hướng vi tôn Nếu là Sửu long hay có 1 hướng huyệt: 1. Tọa Nhâm hướng Bính. 134. Cấn Long tám huyệt kể Tốn từng ngôi (hình 11) 135. Bính, Đinh, Canh, Tân, Tỵ, Mùi 136. Tốn, Đoài, Tám hướng trạch chính an ngôi Nếu là Cấn long hay có tới 8 hướng huyệt: 1. Tọa Nhâm hướng Bính 2. Tọa Quý hướng Đinh 3. Tọa Giáp hướng Canh 4. Tọa Ất hướng Tân 5. Tọa Hợi hướng Tỵ 6. Tọa Sửu hướng Mùi 7. Tọa Càn hướng Tốn 8. Tọa Mão hướng Dậu (Đoài) Tác Giả:Cao Trung. Nguồn:Blog360.dienbatn
-
CHƯƠNG THỨ HAI TỪ LONG KHỞI TỐ ĐẾN HUYỆT TRƯỜNG Mỗi kiểu đất kết thường nằm trong một cuộc đất. Mà tầm long là tìm cho hết một cuộc đất chứ không phải chỉ tìm ra một huyệt trường. Nhiều người học địa lý không thể tìm ra được một cuộc đất để ấn định huyệt trường. Họ chỉ căn cứ vào câu này của cụ Tả Ao để tìm một huyệt trường (chỉ là một phần nhỏ của một cuộc đất): Bên trên trồng đỗ, Dưới lỗ cấy chiêm Hai bên lưỡi liềm quơ lại. Căn cứ vào bí quyết đơn sơ đó, họ tìm nơi ria ruộng, bờ sông, hễ thấy chỗ nào mạch đất, chạy đến ao hồ hay ruộng chiêm, mà có 2 chi dài, một chi ngắn, thì đoán: chi ngắn là huyệt trường và 3 chi dài nếu ôm vào huyệt trường, thì họ liền cho đó là tay long và tay hổ. Thật ra phép tìm đất kết như thế không phải là sai, nhưng chỉ tìm tắt như thế vẫn có thể nhầm. Số là có nhiều khu đất có hình thể như vậy mà không có huyệt, bởi huyệt là chỗ tận cùng của long mạch, còn chỗ kia có thể chỉ là một cái vẩy, cái bướu của thân long chứ không phải là nơi tận cùng kết huyệt. Nó chỉ giống những huyệt kết, nhưng không phải là huyệt kết. Các cụ gọi chỗ trông giống huyệt mà không phải là đất kết này là giả huyệt. Táng vào đây không bao giờ được kết phát. Tuy nhiên cũng có vài người tìm phép 2 chi dài 1 chi ngắn như trên lại trúng huyệt thật, nhưng mà là họa hoằn, rất hiếm. Muốn chắc ăn ta có thể tìm thấy một chỗ nào như trên, rồi coi nó như là giả thiêế một huyệt kết, từ đó ta sẽ tìm tiếp theo lên nữa cho tới phát tổ sơn của nó tức là nơi phần long (chân mạch) xuống đất kết. Phát tổ sơn hay nơi phân mạch cũng ví như chỗ phân chi của một cành cây, mà chỗ đất kết là nơi đâm bông, kết quả (trái). Được như vậy rồi lại phải có cái nhìn tổng quát của cả một khu vực có cuộc đất từ gốc đến ngọn ta mới có được nhận định rõ rệt về toàn thể khu vực có đất kết. Nếu là huyệt thật, thì may mắn biết bao, trường hợp là giả huyệt thật, nơi có đất kết. Hơn nữa nếu học tầm long theo phép tổng quát này, khi tìm được huyệt thật rồi, nhờ có cái nhìn bao quát, ta mới hiểu được là cuộc đất lớn hay nhỏ, tốt hay xấu, một cách chính xác. Cũng có khi nhờ nó, mà sau khi đi lại xem xét kỹ lưỡng, ta lại còn khám phá ra một hay huyệt kết nữa. Có khi một hai kiểu đất kết tìm ra sau là huyệt kết bàng mà huyệt tìm ra trước mới là huyệt chính. Trái lại cũng có khi huyệt trước chỉ là huyệt bàng mà một, trong những huyệt tìm ra sau mới là huyệt chính. Phải nhìn toàn thể cả mấy huyệt ta sẽ thấy rõ rệt là huyệt chính phần nhiều ngay ngắn và huyệt bàng ở tay long thường quay sang phải, cũng như huyệt bàng ở tay hổ thường quay sang trái – Lý do là hai huyệt này ở hai bên triều vào huyệt chính. Rất có thể có trường hợp huyệt bàng lại tốt và đẹp hơn huyệt chính như kiểu đất nhà Lưu Bang, có những nô bộc (Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà v.v...) giỏi hơn Lưu Bang (nhưng triều phục Lưu Bang). Huyệt bàng không những có thể ở tay long, tay hổ mà còn có trường hợp nó ở ngoại long, ngoại hổ hay ở một mảnh sa nào triều về huyệt chính nữa. Nếu tìm được cả chùm như vậy, ta sẽ thấy rất thích thú, như có cả một chùm hoa, để ta muốn chọn hoa nào (hay chọn huyệt nào) mà ta thích. Có người mong kiếm huyệt giàu, có người mong kiếm huyệt sang, trái lại có người chỉ mong kiếm huyệt sinh con trung hiếu hiền lương, suốt đời vô tai nạn. Như vậy ta phải xem từ đất kết lên tới tổ sơn để biết đất kết này phát nguyên từ đâu, và đâu là khởi mạch cho khu vực này. (13) Nẻo xa liền hỏi tổ tông (14) Ở đâu hòa đến mạch long địa hình Dưới đây cụ Tả Ao chỉ cho ta hình tích long mạch từ tổ sơn: (15) Nước phân chữ bát phân minh (16) Hai bên chảy thuận, loan hình tố long (17) Cửa trời trên đã mở thông (18) Thượng phân là đấy chính long thực vào. Từ tổ sơn, nơi phát khởi ra mạch đất có đất kết, cho đến khu vực có đất kết, gọi là một cuộc long. Một cuộc long có ba phần: 1. Một là tổ sơn (nơi phát xuất ra cuộc đất) 2. Hai là hình long (tức phần nối tổ sơn với huyệt trường). 3. Ba là huyệt trường (nơi có huyệt kết). Ta thấy nước hai bên khe, cạnh thân long ở tổ sơn thủy xuống trên thì gần và dưới thì xa nhau ra, trông như chữ bát, như câu tả dưới đây: (15) Nước phân chữ bát phân minh Nước có chảy thuận theo chiều long ở tổ sơn đi - chảy khuất khúc (loan hình) bên cạnh long, khi sắp lại gần, khi lui ra xa như đi theo quanh quẩn bên long (tống long) như câu dưới đây: (16) Hai bên chảy thuận, loan hình tống long Hai bên thân long (thân long là mạch đất). Nước tại phát tổ sơn, chảy phân chữ bát như thế, còn được coi như là nước mở cửa cho long đi. (17) Cửa trời trên đã mở thông Long đi từ tổ sơn như thế là chân long, bắt đầu rời tổ ra đi cho đến đất kết. Nước chữ bát ở trên tổ sơn gọi là thượng phân. Long ở chỗ có nước thượng phân là chính long mà theo nó ta sẽ tìm đến huyệt kết. Long khởi mạch là đường phân thủy mà 2 bên có nước là 2 đường thông thủy (dẫn thủy) đầu tiên của cuộc long. (18) Thượng phân là đấy Chính Long thực vào Thế rồi long đi nước cũng đi theo. Long đi có thể chia ra thành nhiều chi khác. Những chi không kết huyệt gọi là long đầu thủ còn chi nào đi đến kết huyệt gọi là đến huyệt trường. Nước theo long đi, có khi phải vòng vèo qua những long đầu thủ nên có thể xa dần chính long. Nước đi, có thể lấy thêm nước ở các khe nước khác và cũng có khi nước đó lại chia ra làm nhiều nhánh khác nhỏ, có nhánh theo long, có nhánh chảy đi mất và bao giờ cũng có ít nhất một nhánh nước theo long đi cho đến chỗ long kết huyệt. Tới chỗ nào long kết huyệt thì ít ra cũng phải có 2 hay 3 nhánh nước đến tụ ở trước huyệt trường để làm minh đường. (19) Đến đâu hai nước tống giao (20) Ấy đấy cửa đất đóng vào cẩn thay Nước Tống giao nước tụ, chính là chỗ hạ hợp chỗ đóng nước lại cho long không đi nữa, để kết huyệt. (21) Hạ hợp là đấy vậy vay Như vậy khi long mới đi, thì nước thượng phân (mở cửa cho long đi) và khi long đến huyệt kết thì 2 nước đó lại hạ hợp (để đóng cửa lại). Do đó mà ta gọi là thượng phân và hạ hợp. Thiên nhiên trông như vô tri mà bao hàm trật tự và thủy chung (có trước có sau) mới hoàn thành được một sự việc. Con người cũng nên suy ngẫm. Hạ hợp như thế nước phải tụ ở trước huyệt làm minh đường. Nếu không như thế không phải đất kết. (22) Nơi chính thủy tụ thực hay chẳng nhầm Có thủy tụ mới có huyệt kết, bằng không, chỉ tà giả huyệt mà thôi. Một cuộc Long đi có thể lớn đến vài trăm mẫu. Một huyệt trường cũng có thể lớn đến vài mẫu. Ta phải tìm trong khu vực huyệt trường xem, chỗ nào là chỗ huyệt kết. Tìm được chỗ huyệt kết rồi, ta mới có đối tượng chính xem long, thủy, sa xung quanh huyệt trường, tương quan với đất kết ra sao. Việc tìm huyệt kết tại huyệt trường cũng khó khăn lắm vì không có huyệt trường nào giống hẳn huyệt trường nào. Không thể có một mẫu mực kiếm huyệt kết nào nhất định. Tuy nhiên theo nhiều kinh nghiệm tìm huyệt kết, ta cũng có thể biết, đại khái công thức như sau: Hình thể huyệt kết không hoàn toàn giống nhau nhưng nếu biết xếp loại thì nó cũng có cát tương tự. Nhờ có cái tương tự này mà ta có thể chia làm 4 loại chính cho dễ nhận chân. Đó là 4 loại hình huyệt trường dưới đây: 1. Hình Oa (xem hình 1 và hình 2) 2. Hình Kiềm (xem hình 3) 3. Hình Nhũ (xem hình 4) 4. Hình Đột (xem hình 5). Ta phân tích Oa, Kiềm, Nhũ, Đột như sau: 1. Oa và Kiềm phần nhiều ở chỗ có mạch sơn cước (có núi đồi). 2. Nhũ và đột phần nhiều ở nơi mạch bình dương (chiều cao thấp của ruộng, ít chênh lệch nhau rõ rệt). 3. Theo kinh nghiệm, ta thấy Oa thì tròn, Kiềm thì dài, dù Oa và Kiềm cùng do núi mà ra. 4. Cũng theo kinh nghiệm ta thấy Đột thì tròn và Nhũ thì dài, dù Nhũ và Đột cùng do đất bình dương mà có. Trên đây là 4 dạng hình thể huyệt kết tại huyệt trường gồm: Kết Oa, Kết Kiềm, Kết Nhũ, Kết Đột. Oa, Kiềm, Nhũ, Đột là 4 hình thể chính. Nhận ra được 4 hình thể chính này rồi, ta còn phải kinh nghiệm nhiều nữa, mới điểm huyệt trúng được. Riêng Oa có một biến dạng đặc biệt là Oa đứng (hình 2). Nhưng nói chung mỗi Oa, Kiềm, Nhũ, Đột cũng đều có biến dạng chút ít, ta phải biết phân biệt để xếp nó vào loại nào trong 4 loại nêu trên, thì ta mới thực hành được phép điểm huyệt chính xác được. -------------------------------------------------------------------------------- -------------------------------------------------------------------------------- Những huyệt trường có khi rộng đến cả một, hai mẫu mà huyệt kết chỉ ngang dọc ba bước là quán khí, vậy ta cũng phải có công thức tìm ra chỗ nào kết huyệt trong huyệt trường này nữa. Đó là phép điểm huyệt. Điểm huyệt tuy khó nhưng không ngoài ba phép: 1. Quân bình âm dương 2. Tìm hình thể quản cục: 3. Tìm chỗ âm dương giao độ: Khai triển ra ta có: 1. Nếu huyệt trường vuông, tròn thì huyệt kết hay ở chỗ méo mà hay ở giữa. 2. Nếu huyệt trường dài, ta tìm cái đốt, cái tiết. 3. Nếu huyệt trường cao, ta tìm chỗ thấp bằng (âm lai, dương thụ). 4. Nếu huyệt trường thấp, bằng, ta tìm chỗ cao (dương lai, âm thụ). 5. Nếu bên phải cao, ta tìm bên trái (vì khí mạch từ phải đổ sang trái) 6. Nếu bên trái cao ta tìm bên phải (vì khí mạch từ trái đổ sang phải) Tóm lại một câu: ta phải lưu ý tìm chỗ đặc biệt tại khu vực đó, là chỗ: không trong, không ngoài, không trên, không dưới nhưng chính là chỗ âm dương giao độ. Để chắc chắn hơn nữa, ta còn phải nhìn long hổ, án sa nếu những chứng ứng này mà cao, ta tìm huyệt kết trên cao. Còn long hổ, án, sa mà thấp ta tìm huyệt kết, nơi thấp để cho cân xứng với hình thể: cao, thấp của đất kết. Chiều cao lý tưởng, của huyệt kết, phải từ rốn đến ngang mày người ngồi ở huyệt kết. Như trên đã trình bày ta thấy. Nhà địa lý không những chỉ muốn kiếm đất kết, mà còn muốn coi cả một cuộc long, từ khi phát tích ở tổ sơn, cho đến huyệt kết nữa. Tầm long là phép theo toàn cuộc đất từ đất kết ngược lên tổ sơn hoặc đi từ tổ sơn xuống đất kết. Trong lúc đi quan sát cả cuộc đất như thế, nhà địa lý còn có cái thú xem phong cảnh thiên nhiên. Mà thiên nhiên dù rộng lớn đến mấy đi nữa trước mặt nhà địa lý, cũng được thu nhỏ lại thành một toàn thể, biểu hiện chung một thái độ, một trạng thái chỉ thị cho tính chất, của một cuộc đất, nó là ý hướng căn bản của sự quyết định tính chất kết phát của cuộc đất đó. Thiên nhiên, lúc đó, lại còn biểu hiện một cách triết lý cao siêu của dịch lý, bằng cách thu tất cả khung cảnh vào 2 mối: âm và dương. Thật vậy, đất muốn muôn hình, nghìn trạng, cũng đều chỉ có: cao và thấp, tức là chỉ có âm và dương mà thôi. Vì cao là âm và thấp là dương. Chiều hướng của mạch núi hay mạch đất bằng cũng có chiều âm, chiều dương. Nếu đi quay sang phải là dương và quay sang trái là âm. Thế rồi, nơi huyệt kết, ở huyệt trường cũng cần sự phối hợp âm dương như sau: nếu âm đến thì dương kết mà dương đến thì âm kết. Nếu muốn thu cả âm dương vào một mối thì âm, dương cũng chỉ là một, vì bên âm có dương, bên dương có âm; chúng liên tiếp bên nhau, đắp đổi cho nhau, nương tựa lẫn nhau, tạo nên một lẽ sinh thành, một toàn thể sinh hóa có trùng trùng duyên khởi: Đồng đồng nhất đại khối Diều diều như nghị quần. Như nhìn vào tổ ong, ta chỉ có cái nhìn tổng quát những con ong, mà không còn muốn phân biệt ong đực, ong cái, ong to, ong nhỏ nữa. Âm dương đến độ bất phân như vậy thì tâm hồn nhà địa lý đã trở vào Thiền lúc nào không hay, rồi người và cảnh cũng nhập vào với vũ trụ nữa. Đó là trạng thái xuất thần trong cảnh thiên nhiên của nhà địa lý, mà lúc đó, nhà địa lý là nhà nghệ sĩ thiên nhiên. Khi đã nhập thiền với thiên nhiên rồi thì nhà địa lý hết bị hình, danh, sắc, tướng chi phối, họ trực giác ngay được chỗ nào là trọng điểm của cuộc đất, nơi nào là quản cục của cuộc đất để rồi khi ly khai với Thiền họ sẽ phân tích lại trên thực tế những gì họ đạt trong Thiền. Thế rồi, trước cảnh, nhà địa lý, khi thì nhập vào cảnh, đi vào Thiền, để tổng hợp với thiên nhiên, khi thì trở về thực tại để phân tích đất đai. Trạng thái lại qua như thế. Cứ tiếp diễn liên tiếp rồi nhà địa lý thấy mình lâng lâng, khoan khoái muốn quên luôn cả cái hình, danh, sắc, tướng của mình và vũ trụ để cùng đi đến chỗ hòa. Những lúc trạng thái tâm hồn nhà địa lý cao vút như vậy thì họ không ngừng sáng tác bằng trực giác, bổ túc bằng thực tại, tổng hợp thực tại, để đi vào trực giác sáng tác kế tiếp. Họ nhìn vũ trụ ngoại cảnh như một toàn thể sinh động. Đất đai, sông núi như một sinh vật kỳ lạ hoạt động, mỗi khúc núi đồi cao thấp, như là một khúc con rồng (loài vật biến hóa khôn lường) đang bò, đầu ngoảnh bên phải, bên trái, thân uốn éo, chập chờn di động. Khi nghiêng xuống suối uống nước, khi vểnh tai nghe gió thổi rì rào, khi nheo mắt nhìn đám mây “vân cẩu” trôi, khi ghé mình bên rừng tránh nắng, khi tắm dưới mưa xuân phơi phới, khi phô lưng dưới ánh chiều dương, lại có khi thả sương chiều, khi phun khói sớm v.v... Thế rồi nhiều lúc nhà địa lý, nhà nghệ sĩ thiên nhiên, không biết mình là cảnh hay là người, cũng như Trang Tử nằm mơ thấy mình hóa bướm, khi tỉnh dậy không biết mình thật là bướm hay là người. Mãn cảnh giai không hà hữu tướng. Thử tâm thường định, bất ly thiền. Ta hãy xem thi nhân địa lý làm thơ tả cảnh, khi tầm long: Tầm long, nhận thủy làm đầu. Hợp dòng chỗ ấy, ở đâu mà về. Lưu Đông thì long ở tê (Tây) Lưu Nam ở bắc mà về phải không? Ngược lên cho đến đầu dòng Đâu nhiều tinh tú, tổ tông đấy rồi. Quần long, tụ một phương trời Ngũ tinh tụ giáng, tụ rồi lại chia Long, long từ đấy ra đi Mỗi long một ngã, dựng kỳ hành tinh. Phân phong, thụ mệnh thiên đình Dành dành mao thổ, cho mình khổn chuyên. Từ lâu rồi mới hạ đền. Theo mạch mà xuống, bốc lên tinh vì Cửu tinh, hình tượng phải suy Núi ấy là gì, thì nó hành long Hai bên, hộ vệ trùng trùng Thủy phân bát tự, hai dòng cũng theo Giám tinh, hoặc ít hoặc nhiều Bản long, thỉnh thoảng bốc theo một vì Cũng thường, ở đấy chia chi Một thì hộ chủ, hai thì phân tông Phân thủy, cũng rẽ hai dòng Rồi ra nước ấy, tụ trong minh đường Long hành hoặc gặp khê giang Ấy là quá giáp, hoặc sang hoặc rằng Long mạch ở kín khăng khăng Giáp sơn ủng hộ, các tầng bát phong Chốn ấy gọi là băng hồng Sơn bằng, thủy cộng ở trong có tình. Đình thì phải nổi chủ tinh. Khai diện, bố cục các hình làm sao Cách sông, long hổ hướng vào Mà nước bên ấy, cũng nào vào lòng, Thế là kết ở bên long, Gọi là tụ khí, trong vòng giáp sơn, Hoặc long quá giáp, đi sang, Khai cục, bố thế ở làng bên kia Quần sơn, chúng thủy, quanh về, Thường thường, chiều án ở về hậu long. Ấy là phấn thế, khí hùng. Giáp tiền, giáp hậu, tầm long nên càng. Địa lý Đại Thành Người ta thường nói nhà địa lý không những phải học kỹ thuật địa lý cho tinh tường mà còn phải có: - Thần tâm - Thánh nhỡn - Tiều phu cước Thần tâm là cái tâm thiên nhiên. Cái vũ trụ chi tâm. Thánh nhỡn là mục lực, trực giác sáng tác, khi tâm nhập thiên nhiên. Và tiều phu cước là công phu thực hành nhiều trên đất về khoa Địa lý. CHƯƠNG THỨ BA 24 LONG NHẬP THỦ 23. Đáo đầu, nhất tiết, hạ châm 24. Thấu long, cho biết lai lâm chữ gì. 25. Biết phương: Nam , Bắc, Đông, Tây 26. Hai mươi bốn vị: Can Chi chữ nào. CHƯƠNG THỨ BA 24 LONG NHẬP THỦ Ở trên, đã cho ta biết cách tìm chỗ nào kết huyệt, ở huyệt trường rồi. Nhưng tìm được chỗ kết huyệt vẫn còn chưa đủ. Phải biết tìm hướng của huyệt, và tọa sơn nữa. Hướng của huyệt, phải tương quan với sa và thủy ở trước mặt hay gần bên (ta sẽ học sa pháp và thủy pháp sau). Lại còn phải biết tương quan đến 24 long nhập thủ, hoặc long khởi tổ nữa. Như vậy ta phải lần lượt khai triển từng đoạn thơ trên của cụ Tả Ao. Trước tiên, cụ dạy ta tìm long nhập thủ của nó. (23) Đáo đầu, nhất tiết, hạ châm Có nghĩa là: sau khi đoán phỏng chỗ nào là huyệt kết rồi ta ra ngồi lên đúng chỗ đó, đặt địa bàn lên trung tâm huyệt kết, rồi quay đầu lại đằng sau, nhìn xem đốt long nào gần nhất, đoán là khí mạch ở đốt đó rót vào huyệt, nó chính là long nhập thủ - Long nhập thủ có 24 long ghi trên vòng địa bàn. (24) Thấu long cho biết lai lâm chữ gì? Rồi ta tìm thấu long của long nhập thủ đó theo 60 long thấu địa ghi ở vòng nhân bàn để biết nó hành gì theo phép nạp âm như sau: Ví dụ: Giáp Tý, Ất Sửu là Kim. Giáp Dần, Ất Mão là Thủy. Bính Ngọ, Đinh Mùi là Thủy. Mậu Thân, Kỷ Dậu là Thổ. Nhâm Tý, Quý Sửu là Mộc v.v... Sau tiếp, cụ Tả Ao nói qua về long khởi tổ là chỏm núi cao hay ụ mà từ đó chia ra đổ xuống thành cuộc long mà ta đang xem. Long khởi tổ ở gần thì dễ xem, nhưng ở quá xa thì khó thấy rõ. Nếu ở quá xa ta chỉ cần biết nó ở Nam , Bắc, Đông hay Tây của huyệt trường cũng đủ. Cũng nên nhắc thêm: 1. Long khởi tổ là đỉnh núi hay ụ đất, rót khí mạch vào cả cuộc đất. 2. Còn long nhập thủ là đốt long hay ụ đất, rót khí mạch vào huyệt trường. (25) Biết phương Nam , Bắc, Đông, Tây Biết long khởi tố ở Nam , Bắc, Đông hay Tây rồi ta cũng có thể tạm đoán được đường lối kết phát của long này. Nếu là: Đông (mộc) chủ Nhân Tây (kim) chủ Nghĩa Nam (hỏa) chủ Lễ Bắc (thủy) chủ Trí Biết 4 hướng chỉ là đại khái, nhưng nếu biết chi tiết hơn nó thuộc về long nào trong 24 long thì quý hơn. Lúc đó sẽ biết rõ long khởi tổ quý hay thiện. Cao hơn nữa, biết đến thấu long thì còn tỉ mỉ và chi tiết hơn. Dưới đây ta hãy nói đến 24 long Khởi tổ hay long Nhập thủ: (26) Hai mươi bốn vị can chi chữ nào? Nếu biết rõ 24 long ta sẽ biết nó là: quý long, tiện long, cát long, hung long, âm long hay dương long. Ví dụ: Hợi, Chấn, Canh là 3 âm long và là cát hung, ba long này gọi là tam, cát, long. Hoặc nếu là: Kiền, Giáp, Khôn, Ất ta biết cũng là âm long. Tuy nhiên người ta còn phân tích quý, tiện long, chi tiết hơn, như dưới đây: 1. Âm long: Bính long – Đinh long là thượng cách quý hơn hết. Canh long – Tân long là thứ cách quý Cấn long – Tốn long là thứ cách quý Mão long - Dậu long - Hợi long là tái thứ, thứ cách quý. Tỵ long là trung cách. Mùi long - Sửu long trong có sát khí (ít dùng). 2. Dương long: Hết thảy dương long đều kém âm long, nhưng không phải vì thế mà ta bỏ dương long. Nhân long – Tý long – Quý long là hạng trên. Ngọ long là hạng trung bình Kiền long – Khôn long - Dần long – Thân long - Ất long – Thìn long – Giáp long - Tuất long đều là hạ cách. Có long rồi ta mới biết nạp giáp thủy và sa, Như Kiền long thì Giáp thủy ứng mới quý hoặc Kiền cung (Tuất Kiên Hợi) có sa ứng thì phải có Giáp thủy triều v.v... (Chúng tôi sẽ lần lượt khai triển và viết thành những luận án liên quan đến: sa, thủy và rất nhiều yếu tố khác như: Nạp giáp Mã sơn cục Tá mã cục Mã sơn cố định Tam cát sa Lục tú sa Lộc sơn sa Tá lộc sa Quý nhân sa (luận 8 hàng can) (luận tứ duy và 12 địa chi). Công thức thôi quý (mau phát) Công thức xá văn tinh (suốt đời vô tù tội). Long thủy, đại quan tiết (thủy hội và thủy đáo đường). Công thức hoạch tài thủy Công thức cứu bần tiến thân thủy pháp. Bát quái phối cửu tinh (xem xa về ngũ hành tốt hay xấu). Công thức đại huyền – không ngũ – hành (hướng và thủy phóng). Công thức Cầm tinh về sa Đào hoa thủy Cửu tinh tọa hướng (lấy thủy khẩu làm chuẩn xem nước lại và nước đi). Sa thủy chương trực giải v.v... (tủ sách gia bảo: trước sau sẽ cống hiến quý vị toàn bộ chân địa lý qua những lần xuất bản kế tiếp, theo một thứ tự thực dụng và hữu ích). (26) Hai mươi bốn vị can chi chữ nào 24 chữ là tên 24 long nhập thủ ghi trong vòng địa bàn như dưới đây: Phía Đông có: Cấn, Dần, Giáp, Mão, Ất, Thìn (6 chữ) Phía Nam có: Tân, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi (6 chữ) Phía Tây có: Khôn, Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất (6 chữ) Phía Bắc có: Càn, Hợi, Nhâm, Tý, Quý, Sửu (6 chữ) 24 chữ này gồm có: a). 12 chữ thuộc thập nhị địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi :lol:. 8 chữ thuộc thập can (thiên can) Giáp, Ất, Bính, Đinh Canh, Tân, Nhâm, Quý c). Và 4 chữ thuộc bát quái Càn, Khôn, Cấn,Tốn. Tìm xem lai long thuộc long gì? Để ta có dữ kiện biết nó là: - Âm long hay Dương long - Quý long hay tiện long 1. Âm dương long Trong tử vi và lý học đông phương ta thấy can, chi, bát quái đều có âm dương của nó, như: Tý (dương) Sửu (âm) Dần (dương) Mão (âm) Thìn (dương) Tỵ (âm) Ngọ (dương) Mùi (âm) Thân (dương) Dậu (âm) Tuất (dương) Hợi (âm) Giáp (dương) Ất (âm) Bính (dương) Đinh (âm) Canh (dương) Tân (âm) Nhâm (dương) Quý (âm) hoặc: Càn (dương) Khôn (âm) Cấn (dương) Tốn (âm) Nhưng ở địa lý âm dương của long không giống hẳn như vậy. Ở địa lý âm dương long lại khác như sau: 1. Dương long về địa lý có: Dần, Giáp, Ất, Thìn, Ngọ, Khôn, Thân,Tuất, Càn, Nhâm, Tý, Quý. 2. Âm long về địa lý có: Sửu, Cấn, Mão, Tốn, Tỵ, Bính, Đinh, Mùi, Canh, Dậu, Tân, Hợi. So sánh âm dương long của địa lý với âm dương của can, chi, bát quái ta thấy giống nhau ở phần 12 địa chi và khác nhau ở phần bát can và bát quái như 2 bảng dưới đây: A. So sánh Âm dương về phần địa chi giữa lý số học và địa lý: 12 địa chi Âm dương của lý số học Âm dương của địa lý Dương Âm Dương Âm TÝ x x SỬU x x DẦN x x MÃO x x THÌN x x TỴ x x NGỌ x x MÙI x x THÂN x x DẬU x x TUẤT x x HỢI x x Bảng trên đây trình bày theo 12 chi âm dương long của địa lý, nó hoàn toàn giống như âm dương của 12 địa chi ta thường dùng Nhưng với âm dương của 10 can và 4 quái (Càn Khôn Cấn Tốn) thì có khác nhau như bảng dưới đây: B. So sánh Âm Dương về 8 can và 4 quái giữa lý số học và địa lý 8 can và 4 quái Âm dương của lý số học Âm dương long của địa lý Dương Âm Dương Âm GIÁP x x ẤT x x BÍNH x x ĐINH x x CANH x x TÂN x x NHÂM x x QUÝ x x CÀN x x KHÔN x x CẤN x x TỐN x x Sau đây chúng tôi đưa ra một số tính chất của 24 long. TÍNH CHẤT CỦA 24 LONG 1. Hợi long: Hợi long là âm long là tài thứ thứ cách quý - Hợi long là thiên hoàng và là chính khí của trời đất, sinh người tuấn tú thông minh. 2. Nhâm long: Nhâm long là dương long – sinh người bình thường, chóng suy. Hay sinh người 6 ngón tay, hay 6 ngón chân, hay là sứt môi. 3. Tý long: Tý long là dương long, tức Khảm long, hay sinh người to béo, giàu có, lợi về canh tác. Nếu lập Ngọ hướng mà có Ngọ thủy hồi triều, thì phát nhanh. Khảm long, con trai giữa được phát phúc trước. Tý long, huyệt tọa Tý hướng Ngọ, có gò đống đồng Ngọ, dáng vẻ như vén quần, sốc áo, múa xiêm, sinh con gái dâm đãng. Tý Ngọ là đại dâm chi vị. Tý long lúc phân kim thừa Bính Tý, Canh Tý là vượng, tướng: phát tới ba, bốn đời. Nếu phân kim thừa Mậu Tý, là không vong - Thừa Giáp Tý, Nhâm Tý là cô hư, thì phát ít và chóng tàn. 4. Quý long: Quý long là dương long, thứ long tầm thường hay sinh người béo, tròn và trắng bạch. Quý long hay sinh người đi tu hay phá của. Duy Quý long mà có quý thủy triều, thì lợi về buôn bán. 5. Sửu long: Sửu long là âm long nhưng có nhiều sát khí hay phát võ. - Sửu long cũng phát phú nữa. Năm Tý, năm Sửu hay có hoạch tài. - Khi phân kim Sửu long mà thừa: Đinh Sửu, Tân Sửu là hợp cục. - Khi phân kim Sửu long ta thừa Kỷ Sửu là không vong không tốt, thừa Ất Sửu, Quý Sửu là cô hư, hay sinh người hung ác, trộm cướp, ngu si. - Sửu long hay sinh người gian tham độc ác, bất nhân. Con cái thường to béo. - Sửu là hung long, nên lúc giao thời thì rất anh hùng, và phấn phát. 6. Cấn long: Cấn long thuộc thổ, Âm long và là loại long tốt, sinh người hiền lành, tuấn tú, thông minh, có khoa mục nhiều con lắm cháu, lộc nhiều, của nhiều. Cấn long phát những người tuổi Sửu, tuổi Dần, tuổi Hợi, lập hướng nào phát về tuổi ấy. Cấn long phát rất bền và phát nhiều. Nếu Cấn long mà lập Canh hướng, mà phương Canh lại có gò cao triều huyệt, thì trước phát văn, sau phát võ. 7. Dần long: Dần long là dương long hay phát văn, sinh người tuấn tú. Nếu kiếm được huyệt tốt cũng phát vài đời Dần long, phát tuổi: Dần, Ngọ, Tuất, Hợi. Phân kim thừa Bính Dần, Canh Dần: phát 3 đời. Nếu thừa Mậu Dần là không vong, thừa Giáp Dần, Nhâm Dần là cô hư, chỉ phát một đời, rồi lại bại huyệt, phải tiếp phúc ngôi đất khác. 8. Mão long: Mão long là tái thứ thứ cách của âm long, Mão cũng thuộc loại quý long, sinh người anh hùng hào kiệt, phát về trai trưởng, nhiều con cháu, hay phát võ về tuổi Mão, Tuất. - Nếu được đại cán long, phân kim thừa: Đinh Mão, Tân Mão nhập huyệt, thì phát mãi không bao giờ hết. - Nếu thừa Kỷ Mão là không vong - thừa Ất Mão, Quý Mão là cô hư, chỉ phát võ được một đời rồi chết trận. Mão phương tức Chấn phương, nếu lập Canh hướng là Cổ động lôi tùng, lại thêm có Canh thủy nhập hoài, thì phát dữ như sấm chớp. Mão long, có gò cao ở phương Canh, chắc chắn phát võ, toàn võ. 9. Giáp long: Giáp long là dương long, thuộc Mộc, là loại long thường, sinh người xấu xí, nhỏ bé. - Giáp long hay hoạnh phát về năm Dần, Mão. - Phát phú được một đời thì hết, muốn tiếp tục hưởng phúc, phải kiếm thêm đất khác tiếp phúc. 10. Ất long: Ất long là dương long, cũng giống như Giáp long. 11. Thìn long: Thìn long là dương long thuộc thổ là một trong tứ Mộ long. Hay sinh người gian ác, hay phát tuổi Thìn, tuổi Dậu, chỉ hoạnh phát về những lúc giao thời, nhưng chỉ được một đời rồi tàn. Nếu phân kim thừa khí Bính Thìn, thì phát được một đời. Chẳng may thừa Mậu Thìn thì bị không vong. Thừa Giáp Thìn, Nhâm Thìn là cô hư đành bị nghèo khổ, tai họa. Thìn long mà được phương Thân (phương Tây) cao ứng vào, có thể phát tiến sĩ. 12. Tốn long: Tốn long là âm long thuộc Mộc, chủ về văn chương, sinh người thông minh, tuấn tú. Tốn là con gái lớn, hay phát về con gái. Tốn long mà lập Tân hướng, lại có bút đóng Tân, con cháu đỗ cao. Phương Đoài có gò hoặc ruộng cao hình nga mi, con gái phát cung phi. - Phương Cấn, phương Càn, phương Khôn, phương Tốn có gò cao ứng là quý lắm. - Nếu Tốn long mà lập Canh hướng là văn sang võ. - Tốn long mà được Mộc hình kết huyệt, văn trúng khởi giáp. - Tốn long mà phương Cấn, phương Đoài (Dậu) có thủy triều, thì phát khoa mục. 13. Tỵ long: Tỵ long là âm long, lúc phát thì rất giàu sang, lúc nghèo thì rất bần tiện. - Phân kim: Thừa Tân Tỵ, Đinh Tỵ là vượng, tướng, có thể phát được hai, ba đời Nếu thừa: Kỷ Tỵ là không vong, Ất Tỵ, Quý Tỵ là cô hư, phát một đời, như sấm, như sét, nhưng lúc xuống, thì đồi bại rất nhanh chóng. - Nếu lập Đinh Tỵ kiêm Bính nhập huyệt mà phương Kiền, Hợi có gò đống ứng, mà hướng lại thừa long, hổ hồi đầu, thì con cháu ngẫu nhiên, gặp vua, phát quý. - Tỵ long phát cả quan, văn, võ nhưng lúc xuống lại rất bần tiện không được quân tử như Kiền hay Hợi long. - Tỵ long quyền võ tướng. 14. Bính long: Bính long thuộc hỏa là âm long thuộc loại long tốt, sinh người thông minh, tuấn tú, trí dũng, phát cả văn lẫn võ. - Bính long phát tuổi Tỵ, tuổi Ngọ. Nếu huyệt tọa dư khí lại được chính cán long có thể phát tới năm đời. - Nếu Bính long có án gần, mà thêm nghịch thủy, thì chỉ trong 3 năm là đại phát. - Như Bính long, mà phương Cấn có gò đống thanh tú, ứng thủy triều thì phú quý cực phẩm, phát cả văn lẫn võ. - Nếu phương Chấn, phương Canh có gò đống ứng thì có thể điều khiển nghìn vạn quân. - Phương Tốn, phương Hợi, phương Tân có gò ứng chứng sẽ phát văn. - Bính long mà phương Khôn có ruộng cao, trông như là cờ, con gái phát tướng quân. 15. Ngọ long: Ngọ long thuộc hỏa là dương long, sinh người tóc vàng, da đỏ, phát nhiều về năm Ngọ, Mùi. - Ngọ long là long xấu, phát đấy lại suy đấy, lúc phát như lửa dậy, lúc bại như tro tàn. - Ngọ long mà phân kim, thừa Bính Ngọ, Canh Ngọ nhập huyệt, phát được một, hai đời. - Nếu thừa Mậu, Ngọ là không vong – Giáp Ngọ, Nhâm Ngọ là có hư, chỉ phát một đời rồi bại tuyệt. - Như Ngọ long mà phương Dần, phương Tuất có sơn thủy ứng, là tam hóa cục (Dần Ngọ Tuất) có thể phát một đời trạng nguyên. 16. Đinh long: Đinh long thuộc hỏa là âm long, thuộc loại long tốt. Hỏa tính cấp, chóng phát, sinh người thông minh, nhiều nghề. - Đinh long phát người tuổi Ngọ, Mùi, Dầ, Thân, Dậu, Hợi. - Đinh long dễ sinh thần đồng. - Đinh long có Dần thủy triều, phương Tân có bút, thì văn đỗ đến trạng nguyên và sống lâu 100 tuổi (Đinh chủ thọ). - Đinh long thì phương Cán, Cấn phải khoáng đãng mới tốt. Trái lại phương Càn có gò đống cao sẽ bị tai vạ liên miên. - Đinh long mà có Tốn bút ứng, chỉ thi một lần là đỗ. - Đinh long mà phương Chấn, phương Canh có gò đống ứng, con cháu giàu sang. 17. Mùi long: Mùi long thuộc thổ là âm long sinh người khỏe mạnh, phát võ tướng, phát vào những buổi giao thời. - Mùi long mà phương Sửu có ruộng tròn như cái trống lại có cờ ứng, phát đại tướng, nhưng rất ác, tuy vậy lại xuất tăng ni. - Mùi, Sửu long hay sinh người ăn khỏe. 18. Khôn long: Khôn long là lão âm mà là dương long. Phát một đời không chu toàn, hay sinh người cô quả, bại tuyệt. - Khôn long mà phương Cấn có gò đống ứng, hoặc có nước lai triều, thời phát phú. - Càn cũng như Khôn, tuy có phát nhưng chóng bại. 19. Thân long: Thân long là dương long, chóng phát và chóng suy. - Thân long phát về năm Tý, năm Thân, sinh người béo phệ. Khi nào sinh đến người tóc vàng, tiếng ngắn là đến lúc bại. - Thân long mà phương Dần, phương Giáp có nước nghịch triều, thì chóng phát. - Phương Khôn mà có gò tròn, hoặc vuông, phát thầy chùa. 20. Canh long: Canh thuộc Kim là âm long, thuộc long tốt và hay phát võ, sinh người thanh bạch, tu mi. - Canh long thì hách, giàu sang, và nhiều người ha phát tuổi Thân, Dậu. - Nếu Canh long mà được chính huyệt, phát đến 8 đời. - Canh long mà phương Chấn có cờ, phương Hợi có trống thì võ tướng uy quyền, nghiêng thiên hạ. - Canh long mà Cấn hướng, thì trước phát văn sau phát võ. - Phương Cấn, Tốn, Tân có bút ứng thì văn, võ song toàn. 21. Dậu long: Dậu long thuộc âm dương, thuộc loại long tốt, sinh người thanh tú, phát về năm Dậu, Thìn hay phát văn, phát võ, phát cung phi, nếu mạch tường viễn, phát được 6 đời. - Phân kim thừa Đinh Dậu, Tân Dậu là vượng trường khí, phát lâu bền. Nếu chẳng may thừa Kỷ Dậu, Ất Dậu là cô hư, Quý Dậu là không vong, bị giảm phúc - Dậu long mà phương Tốn, phương Hợi có gò đống, đi thi dễ đỗ. - Phương Chấn có cờ, phương Hợi có trống, là võ tướng. - Dậu long mà phương Dậu có gò đống cao, che đỡ ác khí, phương Mão có nước tụ, làm quan hiển vinh, danh tiếng lừng bốn bề. - Phương Tỵ, phương Ngọ, phương Mão có gò đống ứng tất nhiên phát. - Dậu long, mà từ phương Ly (Ngọ) đến phương Tốn có gò đống liên châu, thì con gái phát hoàng hậu. 22. Tân long: Tân long là âm long thuộc Kim, là loại long tốt, sinh người tao nhã, tuấn tú phát tuổi Dậu, Tuất, Tân, chủ về văn chương, khoa mục - Tân là học đường, như Tân long lập Tốn hướng, mà phương Tốn lại có ruộng nhọn như cây bút, tức nhiên con cháu học giỏi đỗ nhiều. - Tân long mà phương Tốn, phương Hợi có gò đống ứng đi thi trúng tuyển. - Tân long, mà phương Bính, phương Ngọ, phương Đinh có gò đống ứng, văn đến thượng thư. - Tân long, Mão hướng, Mão phương có sơn thủy ứng triều thì văn võ song toàn. - Tân long mà lập Càn hướng, hai bên lại có ruộng trũng, nước trong sáng như mắt mèo, tựa như mặt trời mọc, thì thông minh, học một biết mười, đi thi đỗ đậu. - Tân long mà được huyệt tốt, có nhiều tầng long hổ, có thể phát thần đồng. 23. Tuất long: Tuất long thuộc thổ, là dương long và là một trong tứ Mộ long (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi). - Tuất long hay sinh người gian ngoan, ngu si, hung bạo, hay phát lúc thay đổi thời thế. - Tuất long, hoạch phát về năm Mão, năm Tuất. - Tuất long, phân kim thừa khí Bính Tuất, Canh Tuất mà phương Tốn lại có bút ứng (gò con hỏa hay ruộng nhọn) hoặc phương Nam (Ngọ) có hình Thiên mã – cũng đều phát trạng nguyên. Nếu có huyệt tốt, có thể phát ba đời, rồi sau sinh người ngu ngoan. - Nếu Tuất long, mà thừa: Mậu Tuất, Giáp Tuất, Nhâm Tuất hay sinh người gian ác - Tuất long, mà hai phương Dần, Ngọ có gò đống ứng thì cũng giàu sang. - Tuất long mà huyệt đơn bạc, long hổ ít tầng, thì chỉ phát một đời rồi nghèo khổ. - Tuất long mà phương Mùi có sa hay thủy phản, sinh làm giặc rồi bị tội. - Phương Mùi không có gò đống, mà có nước sâu trũng, hay bị tai họa bất ngờ. 24. Càn long: Càn long là lão dương ở phương Tây Bắc, phát một đời rồi nghỉ. Trên đây chỉ có một hình thức luận long cho 24 long của Khoa địa lý. Trong đó có nhiều câu, chỉ đúng có một phần, trái lại nhiều câu lại quá đúng. Như vậy ta chớ vội nệ vào phần luận long này và cũng đừng bỏ nó đi ngay, chỉ nên dùng nó làm phương tiện lúc đầu. Căn cứ vào nó ta đi tìm học địa lý để xác định lại xem chỗ nào trúng, chỗ nào sai. Sau khi xác định được do kiến thức lý thuyết thực hành của chính ta luận ra, chứ không phải người luận ra lúc đó ta mới thành công. Vậy xin nhắc lại,quý vị đừng hoàn toàn nệ vào sự trình bày tính chất của 24 long trên đây để tránh nhầm lẫn đáng tiếc. CHƯƠNG THỨ TƯ ÂM DƯƠNG LONG THEO LÝ KHÍ 27. Nhận xem cho biết long nào 28. Âm long, âm hướng, thủy toàn phóng âm 29. Dương long, dương hướng, chớ nhầm 30. Thủy phóng dương vị, luận âm dụng gì? CHƯƠNG THỨ TƯ ÂM DƯƠNG LONG THEO LÝ KHÍ Về địa lý, nói về lý khí, ngoài những công thức tìm hướng phù hợp, ta lại còn cách tìm theo âm dương nữa. Cách tìm theo âm dương ở đây là Toàn âm hay toàn dương. Với thuyết toàn âm hay toàn dương này, khoa địa lý có hai đường lối giải thích: 1. Phần đông giải thích rằng: Âm dương là theo Âm dương của ngũ hành của Can, Chi và bát quái ở 24 chữ trên địa bàn. Ví dụ: Tý là dương Sửu là âm Giáp là dương Ất là âm Khôn là âm Càn là dương v.v... 2. Một số ít giải thích rằng: Âm dương theo: Dương là thiên can. Ví dụ: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ v.v... Âm là địa chi và bát quái Ví dụ: Giáp Ất Bính Đinh, Càn Khôn Cấn Tốn Căn cứ vào phép âm dương long và âm dương hướng ở câu 27, 28, 29, 30 của Cụ Tả Ao. Ta thử tìm cách áp dụng và giải thích theo cả 2 cách: A. Cách thứ nhất: Giải thích âm dương theo âm dương của ngũ hành của can chi. (27) Nhận xem cho biết long nào: Ví dụ: Giáp long (dương) Mão long (âm) Ất long (âm) Thìn long (dương) Tốn long (âm) Tỵ long (âm) Bính long (dương) (28) Âm long âm hướng, thủy toàn phóng âm - Nếu là âm long thì hướng của huyệt phải nhìn vào âm hướng (bất kể Can hay Chi). Và thủy khẩu phải phóng vào âm hướng (bất kể Can hay Chi). (29) Dương long Dương hướng chớ nhầm Đừng quên nếu là dương long (dù Can hay Chi) phải dùng dương hướng (dù Can hay Chi) của can chi, bái quái, (30) Thủy phóng dương vị luận âm dụng gì? Dương long, dương hướng thì thủy khẩu phải phóng dươn mới đúng (dù Can, Chi hay bát quái). Nếu dương long hay dương hướng mà thủy khẩu phóng âm thì không dùng được. Không có kết phát. B. Cách thứ hai: Giải thích âm dương theo: 1. Dương là Càn, Khôn, Cấn, Tốn hoặc thiên can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý). 2. Âm là 12 địa chi. 4 câu này: 27. Nhận xem cho biết long nào. 28. Âm long âm hướng thủy toàn phóng âm 29. Dương long dương hướng chớ nhầm. 30. Thủy phóng dương vị luận âm dụng gì? được phải đối nghịch luận như sau: 4 câu trên, một số ít các cụ cho là sai, và các cụ sửa lại như sau: 27. Nhận xem cho biết long nào. 28. Âm long, dương hướng thủy toàn phóng dương 29. Thủy phóng dương vị luận âm dụng gì? Và các cụ cắt nghĩa như sau: 27. Nhận xem cho biết long nào Nhận xem long nhập thủ có phải là ở chữ địa chi như Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi thì mới được. Còn nếu long nhập thủ ở 8 chữ của thiên can hoặc 4 chữ Càn, Khôn, Cấn, Tốn thì không được. 2. Âm long, dương hướng, thủy toàn phóng dương Long vào ở địa chi là âm long thì hướng huyệt bắt buộc phải ở thiên can (như Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, Tân, Nhâm, Quý và Càn, Khôn, Cấn, Tốn) là dương hướng, mới được. Thủy khẩu cũng phải phóng thiên can và bát quái như hướng của huyệt. 29. Âm long, dương hướng chớ nhầm. Đừng có lầm, và phải nhớ là bao giờ long cũng phải thu theo địa chi (âm) Hướng huyệt và hướng thủy khẩu phóng lại phải theo thiên can (dương). 30. Thủy phóng dương vị luân âm dụng gì? Thủy phải phóng về thiên can, nếu phóng vào địa chi thì không được Các vị bênh vực phép thứ hai này đều căn cứ vào câu: Vạn thủy đô tòng thiên thượng khứ Quan long giai hướng địa tung hoành. (Thiên thượng là thiên can - Hướng địa là hướng của địa chi). Việc giải thích khác biệt nhau như trên làm cho làng địa lý chia làm 2 hệ phái tranh luận nhau đã mấy trăm năm mà chưa ngã ngũ. Riêng theo các vị chân sư nhận xét thì cả hai phép nói trên đều có chỗ cần bổ túc cho nhau, mà việc bổ túc này, không thể nói ít mà giải đáp được, vì nó liên quan đến rất nhiều yếu tố mà trừ phi học địa lý cho thật sâu sắc, mới tìm ra. Những yếu tố này bao gồm: - Thủy pháp - Sa pháp - Thôi quan pháp - Phép điểm huyệt, phân kim - Và một số bí yếu về địa lý cùng kinh nghiệm địa lý nữa. Sau khi đạt những yếu tố trên, lúc phân kim, điểm huyệt, cân nhắc lợi hại, sẽ thấy rõ ngay. Điểm bí hiểm này, hạn chế các thầy địa lý “tay mơ” không thể nào dùng tài nghệ và kinh nghiệm tầm thường mà làm được đất kết đến mức tối đa của nó. Khoa địa lý sở dĩ cả ngàn năm nay là khoa bí truyền, chỉ vì có nhiều khúc mắc, như khúc mắc nêu trên. Chúng tôi sẽ cố gắng đưa ra những luận án về từng loại lý khí và loan đầu để giải minh lần lần, trong các bộ sách, thuộc tủ sách Gia Bảo của nhóm chúng tôi, mà 2 bộ địa lý đã xuất bản (Địa lý Tả Ao và Dã Đàm Tả Ao) là 2 quyển đầu. Sở dĩ chưa trình bày ra đây vì phạm vi của quyển này không cho phép đi quá xa phần căn bản cần thiết của nó. CHƯƠNG THỨ NĂM ÂM DƯƠNG LONG THEO HÌNH THỂ CAO THẤP 31. Âm dương lại có phép kia 32. Âm lai dương thụ, âm sư dương hồi 33. Âm là gò đống đất ghềnh 34. Dương là ruộng phẳng, đất bằng như lai 35. Núi non kia, cũng âm hoài 36. Long cường, thì chớ huyệt nơi cao cường 37. Long nhược, nơi thấp chớ màng. 38. Lai dương hòa lại, đường thì bằng chi. CHƯƠNG THỨ NĂM ÂM DƯƠNG LONG THEO HÌNH THỂ CAO THẤP Ta vừa nói tới, (tài liệu mờ) Chú ý: Âm dương theo phương hướng thuộc phần lý khí (là âm dương này). Âm dương theo hình thể cao thấp thuộc phần loan đầu (là âm dương kia). 31. Âm dương lại có phép kia Phép kia: là phép nhìn hình thể cao thấp của long, để luận âm dương. Ta đã biết, cùng một long mạch, nếu chỗ nào cao là âm, và chỗ nào thấp là dương. Vậy khi kết huyệt, thì khi long đến huyệt mà đang cao (âm) thì huyệt trường phải thấp hay bằng (dương). Trái lại khi long dẫn đến huyệt, đang thấp hay bằng (dương), thì huyệt trường phải cao (âm). 32. Âm lai dương thụ, âm su dương hồi. a). Âm lai dương thụ là long cao đi đến huyệt thì huyệt phải bằng hay thấp (âm lai dương thụ). B). Âm su dương hồi là mạch bằng đến huyệt, thì huyệt phải cao (su và thụ nghĩa là chịu theo). Muốn kỹ lưỡng cụ Tả Ao cắt nghĩa rõ âm dương theo hình thể đất như dưới đây: 33. Âm là gò, đống, đất ghềnh 34. Dương là ruộng phẳng, đất bằng như lai. Cắt nghĩa như thế, để con cháu ý thức rằng: tất cả đất đai ta nhìn thấy đều là long cả, dù đất đai đó là: núi cao, gò đống, là đất ghềnh, hoặc là ruộng phẳng, hoặc là đất bằng. Dưới đất đai đều có khí mạch của long. Nếu khí cường, thì nổi cao, và khí nhược thì thấp là đất bằng có thế thôi. Khí mạch, trong vỏ đất, cũng như nhựa cây chạy trong thân cây vậy. Lại có những trường hợp, toàn là núi non, ta phải nghĩ là hỗ này toàn mạch âm, như câu: 35. Núi non kia cũng âm hoài (Núi non là đất nổi cao, có nhiều khí mạch). Gặp trường hợp này, thì huyệt phải không được ở chỗ cao, đúng phép. Mà muốn đúng phép đó thì phải nhớ câu này của cụ Tả Ao: 36. Âm cường thì chớ mạch nơi cao cường Là mạch cao thì chớ kiếm huyệt ở chỗ cao. Còn nói ngược lại, nếu mạch bình dương, chạy bằng phẳng chính xứ, qua ruộng bằng, thẳng cánh cò bay, thì chớ kiếm huyệt trường tại nơi phẳng, như cụ Tả Ao có nói: 37. Long ngược, nơi thấp chớ màng Như thế không có đất kết bởi vì: 38. Lai dương hòa lại dương thì bằng chi Nghĩa là bằng lại thì bằng không phải là đất kết. - Theo như mấy lời giản dị của cụ Tả Ao trong tập này, ta thấy lời cụ là cả một tinh hoa Địa lý và dịch lý. Cái khéo cái hay ở chỗ: chỉ 8 câu ở bài này, chúng ta dùng nó làm vốn, đi tìm huyệt cả nhiều năm liền, theo phép âm lai, dương thụ, âm su dương hồi, mới hiểu được thực tế nó, mới thấy rõ đất đai chỗ nào cũng chỉ là vì âm và dương. Sau nữa mới thấy sự sắp đặt khéo léo của hóa công trên những đất đai trên khắp mọi nơi, mà trước kia, ta chỉ tưởng là những nếp nhăn tự nhiên của quả đất vô tri. Và sau nữa ta mới thấy tinh thần dịch lý đã thu cả vũ trụ vào hai mối âm dương. CHƯƠNG THỨ SÁU LONG TẢ TOÀN VÀ LONG HỮU TOÀN A. LONG TẢ TOÀN: 39. Ruộng giống ngọc sích tiện vi 40. Dương tả, âm hữu, long chia hai đường 41. Tích phòng Đông chí sinh dương 42. Nãi dương Giáp Tý, khí sương tả hành. 43. Khởi tự: Hợi, Tý phân minh 44. Tiến lên ngăn ngắn, thuận hành tả biên 45. Qua Dần, Mão đến Tuất, Càn. 46. Chuyển Hợi nhập cuộc, chí, huyền, phân minh 47. Quần tiên đi, có tống nghênh 48. Mạch nào bên hữu, đã đành chân long 49. Xa nhận nước ở tả cung 50. Dương thủy chảy lại, hội đồng thiên tâm. B. LONG HỮU TOÀN: 51. Đạo trời hạ chí sinh âm. 52. Nãi âm Giáp Tý, khí lâm hữu toàn 53. Tòng Tý nghịch suy: Hợi, Càn. 54. Qua Dậu, Thân, Ngọ đến bên Mão, Dần 55. Nghịch hành về Cấn, Sửu hành 56. Chuyển tả nhập cuộc, ấy phần Dương long 57. Dù hòa thấy nước hữu cung 58. Âm thủy chảy lại, hội đồng giao dương 59. Âm long, dương thủy đã tường 60. Dương long, âm thủy minh đường gặp nhau. C. NÓI THÊM VỀ HOÀNH LONG 61. Bên trước nước đã hợp thâu. 62. Lại nhận có đống bên sau chăng là 63. Hoành long thì nước thực thà 64. Dù chẳng có nước, ắt là đối không. 65. Âm, Dương đã có: thư, hùng. 66. Cửa nhà đã hợp, vợ chồng liên giao 67. Ắt là khí dựng thai bào 68. Tự nhiên sinh đục, lẽ nào vậy vay 69. Chân long, chính huyệt ở đây. 70. Ấy đất Hoành kỵ, lời thầy truyền ta. 71. Kết thoái, dư khí còn xa 72. Hoặc đi trăm dặm, mới ra chiên thần. CHƯƠNG THỨ SÁU LONG TẢ TOẢN VÀ LONG HỮU TOÀN. Chương năm nói về âm dương theo chiều cao thấp. Chương sáu nói về âm dương theo long tả toàn và long hữu toàn. Vì hai phần hơi giống nhau nên chúng tôi xin cắt nghĩa phần trên (long tả toàn) theo hệ thống phân tích và phần dưới (long hữu toàn) theo hệ thống tổng hợp, để quý vị dùng ý kiến của phần nọ đối chiếu với phần kia, sẽ thấu hiểu chu đáo hơn. Khởi đầu là 2 câu mở: 39. Ruộng giống ngọc sích, tiện vi 40. Dương tả, âm hữu, long chia hai đường Có nghĩa là long mạch đi quanh co, khi sang phải, khi sang trái. Nếu đi sang phải là đi theo chiều dương (theo chiều kim đồng hồ). Và đi sang trái, là đi theo chiều âm (đi ngược chiều kim đồng hồ). 1. Đi từ trái sang phải ta còn gọi là long tả toàn, tả hành hay tả biên. 2. Còn đi từ phải sang trái ta còn gọi là long hữu toàn, hữu hành hay hữu biên. A. Long tả toàn 41. Tích phòng Đông Chí sinh dương Mỗi năm cứ đến ngày Đông chí (thường vào tháng 11 âm lịch) thời tiết bắt đầu chuyển sang dương. Tất cả cây cỏ đều thay nhựa mới, ẩn phục trong thân cây, để tạo lá mới, lộc mới cho năm tới. Những chất bổ dưỡng mới này sẽ làm cho cây cỏ chuyển thành nụ hoa, ngọn lá, vào ngày đầu xuân (2 tháng sau). Nói về cây cỏ cho ta dễ nhận xét, nhưng thật ra tất cả vạn vật, kể cả con người, cũng đều chịu sự chuyển dương như thế. 42. Nãi dương Giáp Tý, khí sương tả hành. - Từ Tý đi thuận là đi tả hành. - Tý có 5 phần bắt đầu từ trái sang phải trước hết: Giáp Tý, rồi đến Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý. Sau Tý sẽ đến Sửu (xin xem bản địa bàn (la kinh) của Cao Trung. Ta đã hiểu, như trên, từ trái sang phải là chiều Dương hay chiều Tả Toàn hay Tả hành hay Tả Biên. 43. Khởi tự: Hợi, Tý, phân minh Theo tả toàn thì Hợi rồi đến Tý. 44. Tiến lên ngăn ngắn, thuận hành tả biên. Long đi theo chiều Dương, đi từ trái sang phải (Tả biên). Các đốt long cứ từng đốt dài, ngắn đi theo chiều kim đồng hồ (nếu sự di chuyển này ở trước mặt chúng ta, còn như đi sau lưng, nếu ta không quay lại, thì sẽ đi ngược lại). 45. Qua Dần, Mão đến Tuất Càn. Tý đến Sửu đến Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi rồi Thân, Dậu, Tuất, Hợi là theo chiều dương. Nhưng vòng địa bàn có 24 ô, chứ không phải chỉ là 12 ô địa chi, nên ta cũng có thể viết: Hợi, Nhâm, Tý, Quý, Sửu, Cấn, Dần, Giáp, Mão, Ất, Thìn, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn, Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn. Các đốt long ít khi đi đủ vòng tròn như trên. Thực tế nhiều khi long: - Chỉ đi độ vài chữ, ít khi thành một vòng tròn đầy đủ. - Và long cũng không mấy khi bắt đầu đi từ Tý. Long có thể bắt đầu đi từ bất cứ chữ nào và cũng có thể chấm dứt cuộc đi để vào đất kết từ bất cứ chỗ nào. 46. Chuyển Hợi nhập cuộc, chi huyền phân minh. Ví dụ: Long đi từ Tuất, Càn rồi chuyển vào Hợi mà nhập thủ vào đất kết. Tuy gọi là đi vòng phải, hay vòng trái, nhưng không bao giờ Long đi thẳng đúng như một vòng tròn, Long đó thường đi khúc khuỷu, khi sang phải, lúc sang trái, trông như chữ chi và chữ huyền. (Long đi chữ chi, chữ huyền mới là Long tốt, có nhiều sinh khí, tưởng tượng như con rắn, con rồng uốn khúc. 47. Quân tiên đi có tống nghênh Cụ Tả Ao cho địa lý là môn học của bậc thần tiên, nên nhìn long đi, cụ tưởng tượng như là “bầy tiên đi” (quần tiên). Long tốt đi, có sa và thủy đón đỡ hoặc nghênh tiếp các đốt long. Cụ gọi đó là quần tiên (các đốt long) đi có tống nghênh (sa, thủy đón đỡ là tống nghênh). 48. Mạch nào bên hữu, đã đành chân long. Long đi tả toàn, là long từ bên hữu sang bên tả là chân long. 49. Xa nhận nước ở tả cung Long đi từ trái sang phải (tả toàn) lúc vào kết huyệt, thường nhận được nước vào minh đường từ bên tả, bên phải đế (nước ở tả cung). Lý do long tả toàn không nhận nước ở xa từ hữu đến vì long quay sang phải hay gặp nước ở phát tổ sơn về từ bên phải, và ngược lại long hữu toàn, long quay sang tay trái, hay nhận được nước xa đến, từ bên trái. Nước này thường là nước, mà đi ngược lên ta có thể tìm đến nguồn nó, là nước từ thiếu tổ sơn hoặc thiếu tông sơn đi ra. Nó chính là nước bát tự, nước mở cửa cho long từ tổ sơn đi ra. 50. Dương thủy chảy lại, hội đồng thiên tâm. Phải có thêm nước từ bên trái (nách tay long của ngôi đất) lại hội với thủy, ở xa, từ bên phải đến, mới là thủy giao hội mới tốt. Nước từ xa đến là dương thủy. Nước ở huyệt trường hoặc nách long, hổ sa gọi là âm thủy. (tài liệu mờ) B. Long hữu toàn Sau khi phân tích long tả toàn (trái sang phải) rồi, ta thử tìm hiểu xem cụ Tả Ao nói gì về long hữu toàn (phải sang trái). Chúng tôi đã phân tích kỹ long tả toàn ở phần trên rồi, phần long hữu toàn dưới này, chúng tôi sẽ nói cô đọng hơn. Chỉ trừ ra câu nào đặc biệt mới phân tích: 51. Đạo trời hạ chí sinh âm: Theo tiết khí thì vào khoảng tháng năm, mùa hạ là tháng có tiết Hạ chí, lúc này thời tiết bắt đầu chuyển sang âm. 52. Nãi âm Giáp Tý, khí lâm hữu toàn. Đi tả toàn là đi theo chiều dương, thì đi hữu toàn là đi chiều âm. Cũng nói bắt đầu từ Giáp Tý, nhưng đi ngược chiều kim đồng hồ chạy. 53.Tổng tý nghịch suy Hợi Càn. Đi theo Càn, Hợi là đi thuận, thì bây giờ đi theo Hợi, Càn là đi nghịch. (Ta cũng bắt đầu từ Tý là cho dễ). 54. Qua Dậu, Thân, Ngọ đến bên Mão, Dần. Đi nghịch thì từ Tý đến Hợi, Càn, Tuất, Dậu, Thân, Khôn, Mùi, Đinh, Ngọ, Bính, Tỵ, Tốn, Thìn, Ất, Mão, Giáp, Dần v.v... (xin xem hình bìa). 55. Nghịch hành về Cấn Sửu hành Cứ thế, nếu long cứ đi tiếp nối nghịch chiều (hữu toàn) thì đến Cấn, Sửu và Quý rồi cùng trở về đến Tý là đủ một vòng tròn. 56. Chuyển tả nhập cuộc ấy phần âm long Âm long là long đi chiều nghịch từ phải (hữu) quay sang trái (tả). 57. Dù hòa thấy nước hữu cung Long đi chiều nghịch, hữu toàn, phải sang trái, dễ nhận được nước xa, ở bên trái (tả) đến. 58. Âm thủy chảy lại hội đồng giao dương Lại phải có âm thủy (nước từ nách long hổ hoặc từ huyệt trường) chảy ra gặp đường thủy (nước từ xa đến) mới là trọn vẹn. Hai nước này hội ở trước huyệt. 59. Âm long, dương thủy đã tường. 60. Dương long, âm thủy minh đường gặp nhau. Ta đã có âm lẫn dương thủy, nên ta có: 1. Dương long (tả toàn) gặp âm thủy 2. Âm long (hữu toàn) gặp dương thủy. Và nếu đối với nước ở xa đến thì: 1. Long tả toàn khi gặp nước ở xa lại thì là long bên hữu đến gặp nước ở xa bên tả đến. 2. Long hữu toàn khi gặp nước ở xa lại thì là long bên tả đến gặp nước ở xa bên hữu đến. Đây là hai điểm quan trọng của nội cuộc đất, để biết có huyệt kết hay không. Ít thầy địa lý hiểu được điểm này, và cũng ít sách nói đến. ( Còn tiếp - dienbatn )
-
DÃ ĐÀM - TẢ AO TỰA Của Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn Giáo sư Đại học Nhân văn và Nghệ thuật Viện Đại Học Minh Đức Cách đây mấy năm ông Cao Trung đã nhờ tôi đề tựa quyển Địa Lý Tả Ao của ông, nay ông lại có nhã ý nhờ tôi đề tựa tập Dã Đàm Tả Ao này. Tác giả cho biết đây là tài liệu viết tay của ông Nguyễn Tấn Minh thuộc giòng giỏi cụ Tả Ao, viết năm Canh Thìn (cụ Tả Ao tên là Nguyễn Đức Huyên). Tôi may mắn có bộ sách “Tả Ao chân truyền địa lý” do Hà Kim, Duyên Tự Sơn Nhân hiệu đính, Bất Chuẩn Phiên khắc và hiệu Nghĩa Lợi h àng Đào phát hành năm Kỷ Mùi (1919) đời vua Khải Định. Tôi đem hai bản so sánh thì thấy hầu hết giống nhau, ngoại trừ một vài chi tiết nhỏ. Như thế là chúng ta có thể vững bụng về phần tài liệu. Nhưng dù là đọc bản in tại Hà Nội hay bản viết tay của ông Nguyễn Tấn Minh, tôi cũng thấy hết sức khó hiểu. Trái lại khi tài liệu trên vào đến tay ông Cao Trung thì nó lại trở nên khúc chiết, rạch ròi, vì nó đã được ông Cao Trung đem công phu phân thành tiết mục hẳn hoi, nhất là sự bình giải hết sức sáng suốt cặn kẽ. Tác giả vẫn dùng lối văn giản dị, lối trình bày rõ ràng, lại còn kèm thêm nhiều đồ bản, để minh chứng, giải thích, khiến người đọc có cảm giác rằng: khoa Địa lý cũng không đến nổi quá khó như mọi người thường nghĩ. Tuy nhiên, tập trước và tập này mới hoàn tất phần căn bản của khoa địa lý. Nếu muốn đi sâu vào chi tiết, nếu muốn nắm vững được hết những huyền vi, ảo diệu của khoa địa lý, là một khoa rất khó trong các khoa Cổ học thuật Trung Hoa, chắc chắn chúng ta còn phải tốn nhiều công phu, đọc nhiều sách vở. Cái đó là điều dĩ nhiên. Tác giả cũng biết như vậy nên đã hứa hẹn cho xuất bản thêm một số tài liệu về khoa này. Chúng ta sau khi đã đọc qua hai tập địa lý của tác giả hẳn đã hài long và ước ao tác giả mau xuất bản cho đủ toàn bộ khoa địa lý, để chúng ta có đủ tài liệu tham khảo và có được toàn bộ sách quý. Vì không sành về Địa lý, nên tôi chỉ chú trọng đến sự chính xác của tài liệu, và chỉ biết đề cao phương pháp khảo cứu và bình giải của tác giả, chứ không muốn đi sâu vào chuyên môn. Tuy nhiên trước khi cho xuất bản tập sách này, tác giả đã đưa cho nhiều bậc lão thành tinh thông về khoa địa lý xem và đã được các vị hết lời khen tặng, như ta thấy trong “Lời mở đầu” của tác giả. Có một điều tôi muốn lưu ý quý vị độc giả là ông Cao Trung từ nhiều năm nay, đã khổ công nghiên cứu về nhiều bộ môn Đông Phương học. Còn riêng về phương diện học vấn, ông cũng có một căn bản hết sức vững chải, một số vốn liếng hết sức dồi dào. Văn bằng cử nhân Văn khoa, Văn học Việt Nam của ông chính cũng là một sự bảo đảm cho sự hiểu biết của ông. Sau những lời trình bày và nhận định trên, tôi xin nồng nhiệt giới thệu tập sách địa lý Dã Đàm Tả Ao này cùng quý vị độc giả. Ước mong, đối với quý vị, tập sách này sẽ được đúng như lời cụ Tả Ao: Báu này yêu tựa ngọc vàng Được thì nên trọng nên sang, nên giàu Lấy tín lấy kính làm đầu Đạo có sở cầu, chí có ắt nên. Lọ là cưỡi hạc đeo tiền Trước tiên học lấy thần tiên trên đời... Sài gòn, ngày 10 tháng 4 năm 1974 LỜI NÓI ĐẦU Năm 1969 tập Địa Lý Tả Ao (Địa đạo Diễn Ca) ra đời, trong đó chúng tôi có giới thiệu tập Địa lý thứ hai: Dã Đàm Tả Ao (Tầm Long gia truyền bảo đàm) tức là bộ này. Từ khi xuất bản cuốn thứ nhất cho đến nay, chúng tôi được biết luôn luôn quý vị độc giả mong mỏi có cuốn kế tiếp. Cuốn thứ hai, lẽ ra có thể xuất bản vào năm 1970 mà cho đến ngày nay 1974 nó mới ra đời, vì có nhiều yếu tố đặc biệt, mà chúng tôi xin trình bày lên quý vị, dưới đây: 1. Cuốn trước nặng về loan đầu, cuốn sau nặng về lý khí và hai cuốn này trở nên một cặp thư hùng về căn bản địa lý. Muốn được như vậy phải chuẩn bị cho nó thật chu đáo mới khỏi phụ lòng độc giả trông mong, mới xứng với tập trước và mới hoàn thành sứ mạng việc soạn thảo cổ thư. 2. Từ trước tới nay, đã có bao nhiêu man thư về địa lý mà toàn dựa vào lý khí để làm man thư nên cuốn này, nặng phần lý – khí, phải làm cho rõ đâu là chân và đâu là cái ngụy của khoa Địa lý, nên tác giả đã phải ôn lại trên mười bộ sách địa lý vừa cổ thư bí truyền vừa có bán trên thị trường để đối chiếu và loại bỏ đi những phần nào có thể dễ làm cho độc giả dễ nhầm lẫn, khi đọc nó. Ngoài ra, cũng phải phân biệt chỗ nào quan trọng, chỗ nào kém quan trọng để nhấn mạnh những chổ quan trọng, cho độc giả mau có ý thức chính xác về phần lý khí, để đỡ nhầm lẫn, bởi nhầm về lý khí thì rất tai hại. 3. Nói là lý khí, nhưng thực thể của nó vẫn là loan đầu. Nếu quân thực thể mà trình bày nguyên những gì trừu tượng, vẫn còn làm cho độc giả khó nhận chân, nên các phần lý khí trên sách đều được tác giả cố gắng dung hòa với loan đầu cho có cả thể (loan đầu) và dụng (lý khí) mới là toàn bích. 4. Phần lý khí, nói hết ra một cách quá phân tích sẽ làm mất hứng thú sáng tác của độc giả, và cũng sẽ lại tạo nên hậu quả tai hại là dễ nệ vào phân tích mà quên tổng hợp. Khoa địa lý cũng như nhiều khoa khác phải sử dụng cả phân tích lẫn tổng hợp cùng một lúc mới thành công. Do đó tác giả phải dấu những điều tỉ mỉ dễ nhầm lẫn, nhưng thập phần quan trọng vào những câu, những chữ mà chỉ những ai dùng sự tận kỳ tâm, tận kỳ đạo mới khám phá ra. Nếu chỉ đọc không, chỉ lĩnh hội được phần nào sự diệu ảo của nó và vừa đủ cho kiến thức thông thường về địa lý mà thôi. 5. Sau đây lại là sự dung hòa 2 quan niệm mâu thuẩn liên quan đến sự phổ biến khoa địa lý đã làm cho tác giả thắc mắc suốt thời gian soạn bộ sách này: a. Một là nếu không lưu lại sự chân truyền địa lý thì ít lâu sau khoa này sẽ mai một, đâu còn của báu của tiền nhân. b. Hai là các chân sư sợ rằng “kẻ tục” sẽ tạo nên thị trường địa lý, dù chưa tinh thông. Như vậy sẽ gây tai hại cho đời, nếu sự phổ biến nó quá dễ dàng. Sau khi hoàn tất bộ sách này, may thay tác giả đã cố gắng làm trọn được hai quan niệm mâu thuẫn nhau như trên, và các bậc chân sư, sau khi đọc xong bản thảo, đã thở phào nhẹ nhõm và nói: “Viết sách Địa lý như thế này thì thật là tuyệt diệu. Một trăm, một ngàn năm sau, 2 bộ sách này vẫn là sách chân địa lý. Đời sau đọc nó không còn chê trách tiền nhân ở điểm nào. Thôi chúng tôi cũng an lòng và tán thành việc xuất bản nó”. Mong rằng quý vị độc giả thông cảm cho những nổi thắc mắc trình bày ở trên. Để cho có toàn bộ chân địa lý cho người Việt Nam chúng tôi sẽ khai thác các sách địa lý có giá trị như: 1. Địa lý Tả Ao tiên sinh truyền (của cụ Tả Ao). 2. Lưu Xá Hòa Chính bí truyền địa pháp (của cụ Hòa Chính) 3. Dương gia bí pháp (phối hợp địa lý với các khoa địa lý học Đông phương). 4. Bích ngọc kinh (cổ thư địa lý Trung Hoa). 5. Thanh nang kinh (cổ thư Địa lý Trung Hoa). Từ mấy trăm năm nay sách địa lý có rất nhiều, nhưng phần lớn là man thư, năm bộ sách nêu trên được coi là bậc nhất chân thư. Các bậc tiền bối của chúng ta, chỉ mong mỏi kiếm làm sao cho được một hai bộ trong năm bộ sách kể trên nghiên cứu, là mãn nguyện. Chúng tôi đã dịch xong bộ thứ nhất: Địa Lý Tả Ao tiên sinh truyền. Bộ Địa Lý Tả Ao tiên sinh truyền sẽ ra mắt quý vị độc giả sau bộ này. Bên cạnh bản dịch có kèm theo nguyên bản để tiện tra cứu và so sánh. Chúng tôi được biết vì sự sao chép cổ thư cẩu thả nên hiện nay trên toàn quốc có tới 6 nguyên bản Địa Lý Tả Ao và bản này được coi là chính bản Sau hết chúng tôi cũng xin thưa trước cùng quý vị độc giả là bộ sách Dã Đàm Tả Ao này được trình bày khác bộ Địa Lý Tả Ao xuất bản năm 1969. Bộ Địa Lý Tả Ao nặng về mô tả và định nghĩa thì bộ Dã Đàm Tả Ao lại bắt đầu thoát phép mô tả, để tiến lên phần luận. Phần luận sẽ làm cho nhiều quý vị mới học ưa thích vì nó như đưa quý vị đến nhiều khía cạnh đặc sắc hơn, nhưng nếu nệ vào nó quá sẽ nhầm lẫn, nên một số các vị chân sư đã muốn chúng tôi bỏ đi. Sau khi xét đi xét lại các vị lại đồng ý là có thể để được, vì nếu học cao hơn, nhất định phải vượt từ mô tả qua luận rồi đến triết mới có hy vọng đạt được phần cao nhất: “khai phóng mà vẫn không sai nhầm” của khoa Địa lý. Đạt được đến đây mới thành chân sư của khoa địa lý. Mong quý vị lưu tâm và chúc quý vị thành công. Xuân Giáp Dần 1974 Cao Trung DÃ ĐÀM TẢ AO Tầm – Long Gia - Truyền Bảo – Đàm CHƯƠNG THỨ NHẤT MỞ 1. Đấng làm quân tử đạo ta 2. Ơn vua, ơn chúa, ơn cha, ơn thầy. 3. Có làm báu cả xưa nay. 4. Văn chương, y dược, đạo này là ba 5. Lấy làm ba Bảo truyền nhà. 6. Song le địa lý thật là thần tiên 7. Học thầy khẩu thụ tâm truyền. 8. Nhiệm màu mọi vẻ, kính tin mười phần. 9. Đạo cao, đức trọng, chưng thân. 10. Hổ long liên phục, quý thần liên kinh. 11. Đức, nhân vốn ở cả mình. 12. Trước là tích đức, sau là tầm long. CHƯƠNG THỨ HAI TỪ LONG KHỞI TỔ ĐẾN HUYỆT TRƯỜNG 13. Nẻo xa liền hỏi tổ tông. 14. Bởi đâu hòa đến mạch long địa hình 15. Nước phân chữ bát phân minh 16. Hai bên chảy thuận, loan hình tống long. 17. Cửa trời, trên đã mở thông 18. Thượng phân là đấy, chính long thực vào. 19. Đến đâu hai nước tống giao 20. Ấy dưới cửa đất, đóng vào cẩn thay 21. Hạ hợp là đất vậy vay 22. Nơi chính thủy tụ, thực hay chẳng nhầm. CHƯƠNG THỨ BA 24 LONG NHẬP THỦ 23. Đáo đầu nhất tiết hạ chàm 24. Thấu long cho biết lai lâm chữ gì. 25. Biết phương Nam Bắc Đông Tây 26. Hai mươi bốn vị, can chi chữ nào CHƯƠNG THỨ TƯ ÂM DƯƠNG THEO LÝ KHÍ 27. Nhận xem cho biết long vào 28. Âm long, âm hướng, thủy toàn phóng âm 29. Dương long, dương hướng chớ nhầm 30. Thủy phóng dương vị, luận âm dụng gì? CHƯƠNG THỨ NĂM ÂM DƯƠNG THEO HÌNH THẾ CAO THẤP 31. Âm dương lại có phép kia 32. Âm lai dương thụ, âm su dương hồi 33. Âm là gò đống đất ghềnh 34. Dương là ruộng phẳng đất bằng như lai 35. Núi non kia cũng âm hoài 36. Long cường thì chớ huyệt nơi cao cường 37. Long nhược nơi thấp chớ màng 38. Lai dương hỏa lại dương thì bằng chi. CHƯƠNG THỨ SÁU LONG TẢ TOÀN VÀ LONG HỮU TOÀN 39. Ruộng giống ngọc sích tiện vi 40. Dương tả, âm hữu, long chia hai đường 41. Tích phòng Đông chí sinh dương 42. Nãi dương Giáp Tý khí sương tả hành 43. Khởi tự Hợi, Tý phân minh. 44. Tiến lên ngăn ngắn, thuận hành tả biên 45. Qua Dần, Mão đến Tuất, Càn 46. Chuyển Hợi nhập cuộc, chi huyền phân minh 47. Quần tiên đi, có tống nghinh 48. Mạch nào bên hữu đã đành chân long 49. Xa nhận nước ở tả cung 50. Dương thủy chẩy lại, hội đồng thiên tâm. 51. Đạo trời hạ chí sinh âm. 52. Nãi âm Giáp Tý khí lâm hữu toàn. 53. Tòng Tý nghịch suy Hợi, Càn 54. Qua Dậu, Thân, Tuất đến bên Mão, Dần. 55. Nghịch hành về Cấn, Sửu hành. 56. Chuyển tả nhập cuộc ấy phần Dương long 57. Dù hòa thấy nước hữu cung. 58. Âm thủy chảy lại hội đồng giao dương 59. Âm long dương thủy đã tường. 60. Dương long, âm thủy đôi đường gặp nhau. 61. Bên trước nước đã hợp thâu. 62. Lại nhận có đống bên sau chăng là 63. Hoành long thì nước thực thà. 64. Dù chẳng có nước ắt là đối không 65. Âm dương đã có thư hùng 66. Cửa nhà đã hợp vợ chồng liên giao. 67. Ắt là khí dựng thai bào 68. Tự nhiên sinh dục, lẽ nào vậy vay 69. Chân long chính huyệt ở đây 70. Ấy đất hoành kỵ lời thầy truyền ta 71. Kết thoái dư khí còn xa 72. Hoặc đi trăm dặm mới ra chiêu thần. CHƯƠNG THỨ BẢY THỦY PHÁP 73. Muốn sinh: tử tức, vượng nhân. 74. Thì tim sinh vị bản thần triều lai 75. Muốn thăng: quan tước, lộc tài 76. Thì tìm Vượng vị, thủy lai hội đường. 77. Cứ nơi mạch ấy cho tường 78. Tả thuận hữu nghịch, đôi đường cho thông. 79. Lập huyệt, tọa hướng, mới dùng 80. Cứ phép bão lại, Huyền Không Ngũ Hành. 81. Cứ như thủy pháp Nang Kinh 82. Kim, Mộc, Thủy, Thổ thông minh như lề 83. Năm hành phỏng luận mộc vi 84. Bính mộc Giáp, Ất, Giáp thì mộc dương 85. Ất là âm mộc đã tường 86. Phỏng đây suy biết âm dương ngũ hành. 87. Cứ đó mà khởi tràng sinh. 88. Giáp sinh tại Hợi, Ất dành Ngọ cung 89. Hợi thuận, Ngọ nghịch hai dòng. 90. Hẳn còn xuôi ngược cho thông một vì 91. Nước sinh nước vượng chầu về 92. Nước Tử, nước Tuyệt chảy đi mặc lòng. 93. Cứ hướng làm chủ bản cung 94. Kim, Mộc, Thủy, Hỏa cho thông hướng nào. 95. Nhất thì được nước sinh vào 96. Nhì thì được nước khắc vào hướng ta 97. Mong sao sinh khắc đến ta. 98. Là nước ấy có ích chí ta hòa dùng. CHƯƠNG THỨ TÁM LUẬN: THẤU LONG 99. Phép trong Ngọc sích đã thông. 100. Bèn mới lại luận thấu long cho tường 101. Nhâm long ngôi ở đầu hàng. 102. Bính Tý chính khí một phương chớ rời. 103. Khảm Long, Canh Tý chính ngôi. 104. Quý long: Đinh Sửu là nơi bản về 105. Sửu long: Tân Sửu kể đi 106. Cấn long chẳng lệch hào ly: Mậu Dần 107. Dần long: chính khí Nhâm Dần. 108. Giáp long: Đinh Mão là phần chính cung. 109. Mão long: Quý Mão thì dùng. 110. Canh Thìn chính khí: Ất long đang quyền. 111. Thìn long: chính khí Giáp Thìn. 112. Tốn long: Tân Tỵ đã yên một dòng. 113. Tỵ long: Ất Tỵ thấu long 114. Bính long: Nhâm Ngọ phép trong nhiệm mầu. 115. Ngọ long: Bính Ngọ làm đầu. 116. Thánh hiền truyền dậy trước sau ghi lòng. 117. Quý Mùi: là chính Đinh long 118. Mùi long: Đinh Vị, Khôn dòng: Giáp Thân. 119. Mậu Thân: chính khí long thân. 120. Canh long: Ất Dậu là phần chính Canh. 121. Kỷ Dậu: chính khí Đoài tinh 122. Bính Tuất: chính khí địa hình long Tân. 123. Tuất long: Canh Tuất bản phần 124. Càn long: Đinh Hợi sai phân chớ hề. 125. Hợi long, Tân Hợi một vì 126. Dành dành chính khí thấu suy đã tường. CHƯƠNG THỨ CHÍN LUẬN: HƯỚNG HUYỆT CỦA 24 LONG 127. Lai luận: long, hướng các phương. 128. Tà khí, tạp, bác, âm, dương cho thuần. 129. Nhâm long: ba hướng khả phân. 130. Phương: Ngọ, Khôn, Ất xoay vần kể chi. 131. Tý Long: Khôn hướng về một bề 132. Quý long: hay huyệt hướng về Ngọ, Khôn 133. Sửu long: Bính hướng vi tôn 134. Cấn long tám huyệt kể tồn từng ngôi: 135. Bính, Đinh, Canh, Tân, Tỵ, Mùi 136. Tốn, Đoài tám hướng, trạch chính an ngôi 137. Dần long: hai hướng Khôn, Thân 138. Giáp long: định hướng về phần Càn Khôn 139. Mão long: bốn hướng kể rồn 140. Canh, Tân, Đinh, Hợi đã yên một bề 141. Ất long: khôn hướng một vì 142. Thìn long: hai huyệt hướng về Càn, Khôn 143. Tốn long: Tân, Hợi, Cấn môn 144. Dụng ba hướng ấy là khôn sánh tày 145. Tỵ long: một hướng Hợi thần. 146. Bính long, bốn huyệt kể bày làm nơi 147. Hợi, Canh, Tân, Cấn, hướng ngôi 148. Ngọ long: hai hướng về trời: Quý, Nhâm 149. Đinh long: Cấn, Hợi thuần âm. 150. Mùi long: một hướng cục nhằm: Cấn ly 151. Khôn long: phương Quý hướng đi 152. Thân long: Quý, Giáp hai vì cho minh 153. Hướng: Mão, Cấn là long Canh 154. Cấn, Tốn, Tỵ hướng đã đành: Dậu Long 155. Tân long: Tốn, Mão, Cấn cung 156. Ngồi một hướng Ất: Tuất Long địa bàn 157. Cùng theo hướng Ất: Long Càn 158. Bính, Tốn, Đinh hướng Long đồng: Hợi long CHƯƠNG THỨ MƯỜI KẾT LUẬN 159. Âm long, Âm hướng thủy đồng. 160. Dương long, Dương hướng Thủy cung một bề 161. Âm, Dương đều đã hòa suy 162. Mọi đều nhiệm nhặt, trước suy đã tường. 163. Báu này, yêu tựa ngọc vàng 164. Được thì nên trọng, nên sang, nên giàu. 165. Lấy tín, lấy kính làm đầu. 166. Đạo có sở cầu, chí có ắt nên. 167. Lọ là cưỡi hạc, đeo tiền 168. Trước tiên học lấy thần tiên trên đời 169. Ắt là gọi có chúa tôi. 170. Mưa móc ơn trời, phúc thay thượng thư 171. Hòa nhà phú quý phong lưu 172. Con con, cháu cháu thiên thu dõi truyền. 173. Đến khi vui đạo Thánh Hiền 174. Ứng lời học trước, thần tiên chép bàn. TẢ AO TIÊN SINH Tờ 1. Nguyên bản TẦM LONG GIA TRUYỀN BẢO ĐÀM Tờ 2. Nguyên bản Tầm Long Gia Truyền Bảo Đàm Tờ 3. Nguyên bản TẦM LONG GIA TRUYỀN BẢO ĐÀM Tờ 4. Nguyên bản TẦM LONG GIA TRUYỀN BẢO ĐÀM Tờ 5. Nguyên bản TẦM LONG GIA TRUYỀN BẢO ĐÀM Tờ 6. Nguyên bản TẦM LONG GIA TRUYỀN BẢO ĐÀM CHƯƠNG THỨ NHẤT MỞ 1. Đấng làm quân tử đạo ta 2. Ơn Vua, ơn Chúa, ơn Cha, ơn Thầy Tìm hiểu học thuật tư tưởng trong văn học sử Việt Nam , kể từ nhà Đinh là thời kỳ bắt đầu được tự chủ cho đến đời cụ Tả Ao, ta thấy có 4 giai đoạn: 1. Thời Đinh, Lê (tiền Lê), mỗi triều đại chỉ được một hai đời vua. Hai triều đại này vì dùng võ công tranh thủ tự chủ, và tư tưởng, học thuật chưa được phát triển, do đó chưa tạo lập được văn hóa độc lập, làm nền tảng cho văn hóa chỉ đạo dân tộc. Rồi khi sức mạnh quân sự không còn nữa, là tàn rụi. Đấy là lý do sâu xa của sự ngắn ngủi 2 triều đại Đinh, Lê. 2. Đến đời Lý, nhờ có Vạn Hạnh thiền sư, sau khi giúp Lý Công Uẩn lên ngôi cửu ngũ, lại khéo đem Phật học, dung hòa Nho và Lão - tạo ra tinh thần tam giáo làm nòng cốt cho tư tưởng, học thuật, nên quốc gia bền vững và nhà Lý làm vua đến 8 đời. 3. Tiếp theo, đời Trần nhờ sẵn tinh thần tam giáo hun đúc từ Lý triều, khả dĩ có sức mạnh tinh thần tiềm tàng đáng kể, lại thêm có vua Thánh, tôi Hiền cũng nên cũng thịnh trị và chiến thắng oanh liệt được quân Nguyên, giữ được nền độc lập để tiếp tục phát huy văn hóa dân tộc. Ngoài ra nhà Trần lại cố gắng phát triển Nho học, để xã hội được tổ chức theo kịp trào lưu văn minh Nho giáo (dù các Vua nhà Trần đều mộ đạo Phật). Đạo Nho nhờ đó mới có cơ sở và trường thành được vào Triều Lê. 4. Đến đời Lê thì Nho giáo không những trưởng thành, mà còn trở nên gần như lấn át cả Phật và Lão. Đóng vai trò quan trọng trong tinh thần tư tưởng học thuật Việt Nam . Cụ Tả Ao sinh vào cuối đời Lê dù là nhà địa lý cũng bị ảnh hưởng sâu đậm của tinh thần này, nên câu mở đầu bài Tầm Long Gia Truyền Bảo Đàm, ta đã thấy ngay tinh thần nho giáo. (1) Đấng làm quân tử đạo ta Đạo ta là đạo làm người quân tử của Nho giáo. Nho giáo phân biệt 2 hạng người: Quân tử và tiểu nhân. Người quân tử thì phải lấy tam cương và ngũ thường làm gốc, kẻ tiểu nhân thì không thể. Tam cương là: - Quân (Vua) - Sư (Thầy) - Phụ (Cha) Ngũ thường là: - Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín Rồi đến câu thứ hai, cụ phải trước tiên, chứng tỏ tinh thần tôn quân: ơn Vua, Chúa trước rồi đến Cha và Thầy sau. (2) Ơn Vua, Ơn Chúa, Ơn Cha, Ơn Thầy Nhưng đời cụ Tả Ao có vua Lê lại có cả Chúa Trịnh nữa, mà Chúa Trịnh lại quyền hành hơn Vua Lê, nên cụ Tả Ao không dám chỉ nói đến vua, mà phải nói đến cả Vua lẫn Chúa, cho Chúa Trịnh khỏi nghi ngờ (ơn Vua, ơn Chúa, ơn Cha, ơn Thầy). (3) Có làm báu cả xưa nay (4) Văn chương y dược đạo này là ba Các nho sĩ chú trọng nhất là văn chương, nhì đến y lý, ba đến địa lý và cuối cùng đến lý số. Cái học của Nho gia không phải chỉ giới hạn vào từ chương, thơ phú mà là môn học bao gồm kiến thức của người cán bộ Nho giáo, trong đó có phép giữ đạo làm người (đạo đức), rồi đến cách thờ Vua giúp nước (kể cả chính trị lẫn quân sự). Một nho sĩ muốn là nhà chính trị và quân sự giỏi, thì trên phải thông thiên văn, dưới phải đạt địa lý, ngoài ra phải biết các khoa bói toán, để trù liệu và hỏi thần linh những gì mà con người không thể quyết định được chắc chắn. Nhà Nho, nếu tiến lên thì làm quan. Khi lui lại thì phải “đạt vi sư”. Với quan niệm đó, nhà nho nếu một khi không làm nổi công nghiệp thì các cụ sẽ quay về nghiên cứu y lý để chữa bệnh cho thiên hạ, đó cũng là một cách hành đạo tiêu cực. Những y sĩ có tâm đạo chỉ cốt làm thuốc để giúp đời hơn là cốt làm giàu. Họ làm nghề này với mục đích chính là chữa bệnh cứu đời, dù có tiền hay không cũng chữa. Con bệnh nếu có tiền trả thì y sĩ cũng không nỡ tính tiền công quá đáng - Kẻ nghèo khó cũng được tận tâm săn sóc như người sẵn tiền. Có những vị làm thuốc chỉ mong đủ ăn. Thân chủ đông thì lại tính tiền thuốc nhẹ đi. Nhiều vị, chỉ tính tiền thuốc sao cho đủ chi dùng một cách khiêm nhường, để hành nghề, chứ không mong là khi được đông thân chủ, lại càng tính giá cao, để làm giàu. Làm thuốc như vậy, cũng là một cách thế hành đạo ở đời. Sau Y Lý đến khoa địa lý. Nếu nho học, các cụ gọi là đạo nho, y lý cũng là đạo làm thuốc thì khoa địa lý cũng là đạo địa lý, bởi vì nhà chân địa lý, cũng dùng sự hiểu biết của mình để làm việc chu toàn mối đạo, mà thánh hiền đã đề xướng. Đạo địa lý khác hẳn những thầy địa lý “xôi thịt”. Người xưa học địa lý trước là báo hiếu. Họ cố tìm cho được ngôi đất kết để giữ nắm xương tàn của cha mẹ cho lâu tiêu hủy thành đất. Họ nghĩ rằng khi xương cốt ông bà, cha mẹ, chưa thành đất, thì người vẫn có thể, luôn luôn trở về, sống trên bàn thờ, ở trong gia đình, với con cháu phù hộ và giúp đỡ con cháu, cùng dự phần vui buồn với người sống. Sau nữa, nếu được đất kết thì con cháu cũng nhờ có ngôi đất đó mà làm ăn hưng phát, dài dòng lớn họ, vẻ vang cho người đã quá cố. Ngoài ra, nhờ có đất kết, mà dòng giỏi trở nên trâm anh, thế phiệt, giữ được danh thơm truyền thống và để cha mẹ đã quá cố cũng được vui lòng, dù người đã không còn sinh sống với con cháu, trên cõi trần gian này nữa. Học địa lý, ngoài cách báo hiếu như kể trên,, các cụ còn dùng sự hiểu biết địa lý của mình để làm việc nghĩa. Các cụ thấy ai nhân đức, hiền lành, mà quá nghèo, hoặc không có con trai nối dõi, thì các cụ có sứ mạng thay trời giúp cho người nhân đức đó một ngôi đất “cứu bần” hoặc “thêm đinh”. Cũng có khi các cụ dành những ngôi đất kết rất lớn cho những ai có công với quốc gia xã hội. Các cụ tin rằng làm địa lý giúp đời như thế, lại còn tạo thêm đức cho nhà mình cũng như là mình làm một nghĩa lớn vậy. Ngoài ra, nhà địa lý chân chính, không bao giờ vì tiền, mà để đất lớn cho những người kém đức. Làm địa lý với ý hướng như trên, cũng là hành đạo như chân nho sĩ và chân y sĩ. Do đó, cụ Tả Ao cho khoa địa lý cũng là đạo, và văn chương, y dược, địa lý là ba đạo: (4). Văn chương, y dược đạo này là ba Nho, y, lý, số là 4 nghệ của nho sĩ, nhưng lý số các cụ cho là phụ, vì khoa bói toán ít thiết yếu cho việc hành đạo. Các cụ chỉ quý có 3 thứ trên: Nho, Y và địa lý. Các cụ gọi 3 khoa này là 3 của báu của con người tri thức. Nếu có gì sở đắc thì nên truyền lại cho con cháu để hậu thế dễ có phương tiện, tiếp tục hành đạo. (5). Lấy làm ba bảo truyền nhà Tuy khoa địa lý là của báu thứ ba, trên khía cạnh hành đạo, nhưng khoa nàylại có một cách thế đặc biệt, khiến cho người có tâm hồn phóng khoáng, yêu thiên nhiên, cỏ cây, non nước, khi thực hành thì nó thấy mình có những thú vị thần tiên. (6). Song le địa lý thật là thần tiên Tâm hồn Á Đông (là tâm hồn tổng hợp) khác với Tây phương (chú trọng về phân tích). Tây phương: có làm việc, dĩ nhiên họ có du hý, nhưng sự làm việc và du hý bên Á Đông lại liên kết với nhau một cách chặt chẽ hơn Tây Phương. Ta thấy những văn thơ tỏ ý chí hành động của người Á Đông, luôn luôn có ý chí hành lạc bên cạnh. Những thơ văn của Nguyễn Công Trứ, tỏ rỏ sự bất phân biệt hành lạc và hành động, một cách rõ rệt. Con người tổng hợp Á Đông khi hàn vi nhàn du thì nghĩ đến sẽ thực hiện chí hướng và khi đang thực hiện chí hướng lại mơ màng đến sự hưởng lạc cho tâm hồn được quân bình. Thế mà khoa địa lý lại còn hơn thế nữa, nó cộng luôn việc làm với hưởng lạc vào một lúc. Con người địa lý ra ngoài thiên nhiên tìm đất kết, đồng thời họ thực hiện các cuộc thú vui du sơn du thủy. Cái thú “Ngao du nơi hàn cốc, thanh san” là cái thú hưởng lạc với thiên nhiên của Nguyễn Công Trứ, sau khi công thành danh toại, sau khi đã sống đủ và đã làm trọn chí trai. Nhưng với nhà địa lý thì hành lạc lại đồng thời một lần với hành nghề. Ngao du đó đây là cách hành lạc của đạo Lão, đạo Tiên. Đi vào thiên nhiên, nhìn núi xanh, mây trắng, ánh chiếu vàng, nhìn cỏ non đượm sương mai lóng lánh, nghe suối chảy rì rào bên rừng thu vắng, đem nhân giới nhập vào nhiên giới, nối cái hữu hạn của loài người vào cái vô hạn của vũ trụ, là thú thanh tao, thần tiên, say đắm, thích hợp cho tâm hồn có vũ trụ chi tâm. (6) Song le địa lý thật là thần tiên Khoa địa lý, nếu ta gọi là một nghề, thì nghề này cũng có nghệ thuật như các nghề thơ, họa, kiến trúc v.v... khác. Có nghệ thuật thì có sáng tác. Khoa địa lý trong lúc hành nghề, tâm trạng con người khi nhìn núi sông sắp xếp do thiên nhiên, họ thấy sống động khác thường. Sống động theo lẽ biến dịch đủ cả âm dương, ngũ hành của dịch lý. Họ không coi đất đai đồi núi là những vật vô tri, xa lạ mà coi nó như những sinh vật rất gần gũi với người. Đó là phép nghi nhân và thác vật của những tâm hồn nghệ sĩ. Trong câu thơ “Gió đưa cành trúc la đà” ta thấy vật giới (cây trúc) cũng ngã nghiêng la đà, như con người say cảnh thiên nhiên lòng rộn nỗi niềm. Nhà thơ mời Hàn Mạc Tử cũng đưa sinh khí, cảm giác của con người vào tĩnh vật; một hình thức thác vật rất sinh động: “Chiếc thuyền im bến mới trở về nằm. Nghe chất muối thắm dần trong thớ vỏ”. Thác vật, để cho vật vô tri trở thành có ý nghĩa, có sinh động thì nhà Địa lý nhà nghệ sĩ thiên nhiên với quan niệm dịch lý cũng nhìn toàn thể vật vô tri như: sông núi, cỏ cây, là những cái gì sống động, có sinh hoạt như người, sinh hoạt theo dịch lý. Này, núi cao là tượng âm thì chỗ thấp, bằng là dương, núi chủ tĩnh thì nước ngược lại, chủ động. Mạch đang âm (cao) thì chạy đến chỗ kết huyệt, nó phải đổi sang dương (bằng) cũng như mạch chạy dương (bằng) thì kết huyệt lại chuyển âm (cao). Thậm chí trong vỏ đất, họ cũng cho là có luồng sinh khí luân lưu, chạy từ tổ sơn về, theo núi phân chia ra nhiều mạch, mỗi mạch chạy đến chỗ nào đủ hợp, đủ độ âm dương thì khí mạch đó tụ lại, kết huyệt, cũng như ngựa cây trong thân cây đến chỗ nào tụ lại thì đâm bông, kết trái, tạo nên sự hiển dương tinh hoa của cây cỏ. Nhìn thế đất từ tổ sơn đi ra, họ cũng có quan niệm như nhìn cuộc di hành của một đám rước, hoặc cuộc đưa đón một đại quan trên lộ trình. Khi đang đi, thì có long, sa và thủy, hộ vệ, hai bên quân gia, tiền hô, hậu ủng, khi kết huyệt thì giống như chỗ khai triều của vị Đế Vương hay nơi khai đường của một vị Đại quan; cũng có tứ linh xung quanh, có bút nghiên ở gần, có án ở đằng trước, có kỳ ở sau lưng, có tay phải tay trái ôm vòng như vị đường quan hoặc vị đế vương ngồi nghị sự, ngồi khai triều phê sớ, phê án v.v... hoặc khung cảnh vị võ quan đang chỉ huy ba quân. Cách thác vật và ghi nhân của nhà địa lý sinh động như thế. Những cuộc đất nhỏ độ vài mẫu, lớn độ vài chục, vài trăm, vài ngàn mẫu đều được thu vào nhãn quan họ, thành những hiện trạng, tuy đa hình, không cuộc đất nào giống cuộc đất nào, nhưng cùng một nguyên tắc dịch lý, thoát thai của triết học Đông phương: Thế rồi, những nhà địa lý, mỗi khám phá ra một cuộc đất là một sáng tác khác nhau. Mỗi sáng tác lại cho nhà địa lý thêm một số tiền kinh nghiệm để làm vốn sáng tác những thế đất kế tiếp khác. Kỳ lạ là sáng tác lại là công việc tìm ra vẻ đẹp của cái gì đã có sẵn trong thiên nhiên. Mỗi lần đối cảnh lại mỗi lần sáng tác thêm. Như vậy nhà địa lý cũng là nhà nghệ sĩ thiên nhiên và nói cách khác là nhà nghệ sĩ “thần tiên” với tinh thần đó, nhà nghệ sĩ Tả Ao hạ bút phê câu: (6) Song le địa lý thật là thần tiên thì thật là tuyệt. (7) Học thầy khẩu thụ tâm truyền (8) Nhiệm màu mọi vẻ kính tin mười phần Hai câu trên cụ Tả Ao muốn xác định lại giá trị của khoa địa lý. Từ trên cả ngàn năm nay, nó là khoa bí hiểm nhất của huyền học Á Đông. Có nhiều chứng cớ cho thấy là nó có thật. Đó là những ngôi đất kết phát, tạo ra bao nhiều anh hùng, hào kiệt, vua chúa, phú ông, văn sĩ v.v... Nhưng mặt khác, nó lại gieo vào lòng nhiều người mối nghi ngờ, bởi có nhiều người học nó mà không đạt được kết quả, dù những vị đó là những nhà khoa bảng, tiến sĩ, cử nhân, văn hay, chữ tốt, học rộng tài cao! Cho đến nay mối nghi ngờ đó vẫn còn làm nhiều người nghiên cứu nó phải thắc mắc, nhất là các nhà học giả tây phương đã đem các phương pháp khoa học để tìm hiểu nó, giải thích nó mà hình như nó vẫn lẫn trốn. Những sách khảo cứu về địa lý của Tây phương, có rất nhiều nhưng có một quyển sách mà người Âu Tây cho là có giá trị nhất do học giả Ernest J Eitel...M.A.Ph.D of the London Missionary Society viết. Sách này được dịch ra nhiều thứ tiếng. Một vị giám đốc viện bảo tàng Quimet của Pháp tên là M.L.de Moutillé cũng dịch quyển này sang tiếng Pháp lấy tên là: FENG SHOUI ou Principes de sience nafurelle de Chine Sau khi đọc nó xong chúng tôi sực nhớ đến một cuộc đàm luận về địa lý và câu nói của một vị chân sư Địa lý Việt Nam đã 40 năm nghiên cứu và thực hành địa lý như sau: “Khoa địa lý này, người Âu Châu đã nhiều trăm năm cố khám phá, trong đó có cả các vị Cố đạo, các nhân viên các tòa đại sứ. Nhưng đến nay họ vẫn không đạt được chân địa lý”. Chúng tôi hỏi về lý do thì vị này trả lời “Phi người Á Đông có tâm hồn đạo, tâm hồn dịch lý của Á Đông, gặp được chân sư chỉ điểm, có chân thư để học và yêu nó rồi thực hành nó nhiều năm trên đất thì không thể nào đạt được khoa này. Suy ngẫm ra, riêng tôi thấy là đúng vì quyển sách coi là giá trị về Địa lý mà người Âu Tây đắc ý kể trên, sau khi xem xong, riêng tôi cũng nhận thấy quyển đó chưa trình bày được 1/3 chân địa lý, bởi lẽ giản dị nhất là nó mới chỉ có cái nhìn vật chất và phân tích một cách phiến diện mà thôi. Có vị hỏi thế còn sách Địa lý bằng chữ Hán thì sao? Có giá trị và đầy đủ không? Thưa rằng: Khoa Địa lý có nhiều bí ẩn liên quan đến sự thực hành trên đất mà các sách không sao nói được hết. Nghiên cứu nó mà không có thì giờ thực hành thì dù có sách hay cũng phải thiếu sót quá nữa. Có thực hành mà không được chân sư thì điểm cho thì cũng tốn nhiều công lao vô ích: Thì đây cụ Tả Ao, con người học được chân thư, chân sư và thực hành địa lý mấy chục năm liền đã chỉ cho ta biết khoa Địa lý thuộc về tâm học chỉ thụ đắc khi được khẩu thụ tâm truyền: (7) Học thầykhẩu thụ, tâm truyền (8) Nhiệm màu mọi vẻ kính tin mười phần Nghĩa là ngoài sách vở ra, muốn nắm bắt được hết tinh hoa của Địa lý phải có chân sư tâm truyền và truyền bằng miệng (khẩu thụ) mới hết chỗ ẩn ảo. Được như vậy mới học được hết nhiệm màu của địa lý và lúc đó mới thấy đúng, mới tin tưởng địa lý. (9) Đạo cao đức trọng chung thân (10) Hổ long liên phục, quỷ thần liên kinh. Tuy nhiên phần kết luận ở lời mở này, cụ cũng cho biết là dù có giỏi địa lý cũng chưa chắc hưởng được đất quý, nếu không có đạo cao đức trọng. Hình như có quỷ thần trông coi các ngôi đất lớn. Có đạo cao đức trọng, sẽ có phúc mà người có phúc thì mới xứng đáng được đất lớn, mà không có hại. Hai câu trên cụ Tả Ao lấy ý nghĩa của câu chữ Hán dưới đây: Đạo cao: long, hổ phục (đạo cao rồng, hổ cũng phải phục). Đức trọng: quỷ thần kinh (đức trọng quỷ thần cũng phải sợ) để nhắc ta cần tu nhân, tích đức, trước khi lo việc tìm đất kết. (11). Đức nhân vốn cả ở mình (12). Trước là tích đức sau là tầm long Đất kết là của báu của thế gian trời dành cho người có đức. Đức không phải tự nhiên rơi xuống cho mà chính con người phải tạo ra mới có. Có đức rồi sau mới nên tìm đất kết. CHƯƠNG THỨ HAI TỪ LONG KHỞI TỐ ĐẾN HUYỆT TRƯỜNG 13. Nẻo xa liền hỏi tổ ông. 14. Bởi đâu hòa đến, mạch long địa hình 15. Nước phân chữ bát phân minh 16. Hai bên chảy thuận, loan hình tống long 17. Cửa trời, trên đã mở thông 18. Thượng phân là đấy, chính long thực vào. 19. Đến đâu, hai nước tống giao 20. Ấy dưới của đất, đóng vào cẩn thay 21. Hạ hợp, là đấy vậy nay 22. Nơi chính thủy tụ, thực hay chẳng nhầm. . (Còn tiếp - dienbatn ) .
-
Những hiểu biết về bàn thờ Tài Thần-Ông Địa.
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Phong Thủy
2/ HÔ THẦN NHẬP TƯỢNG ( KHAI QUANG - ĐIỂM NHÃN ) . Đây là một tài liệu về cách HÔ THẦN NHẬP TƯỢNG ( KHAI QUANG ) dienbatn sưu tập được của Tiểu Không mà quên mất nguồn : " Tượng mới chưa dùng thỉnh về từ các tiệm buôn cần tẩy uế, hay rửa cho sạch bụi. Dùng một bát nước sạch, trì chú Thanh Tịnh Pháp Án Lam Xóa Ha (21 hay 27 (9x3) lần) dùng với ấn Bảo thủ và kiết tường. Dùng nước đó để rửa sạch tượng. Dùng một bát nước sạch, bỏ vào ít nước hoa, trì chú Thanh Tịnh Pháp Án Lam Xóa Ha, tri thêm chú Cam Lồ Thủy vào nước (7 hay 9). Dùng nước đó để rửa tượng. Nước đã dùng đổ ra trước sân hay vẩy chung quanh nhà, không đổ xuống cống. In Kinh Đại Bi Sám Pháp, Đại Bi Tâm Chú với chủng tử Phạn ngữ, Bát Nhã Tâm Kinh với chủng tử Phạn Ngữ. Dùng nước hoa thơm thấm vào 4 góc và chính giữa kinh. Trì chú Thanh Tịnh Pháp vào trong kinh (7 hay 9 lần). Trì tụng kinh đó 7 hay 9 ngày. Dùng chỉ ngũ sắc kết lại thành dây. Ngũ sắc là năm mầu của ngũ hành: Vàng, Trắng, Đen (hay xanh da trời), Xanh lá cây, và Đỏ. Dùng chú tẩy uế rồi vừa kết chỉ vừa trì Lục tự Đại Minh Thần Chú Án Ma Ni Bát Di Hồng. Sau khi đã đầy đủ, để kinh Bát Nhã phạn tự trên Kinh Đại Bi Sám Pháp, để Đại Bi Tâm chú phạn tự chồng trên kinh Bát Nhã, rồi cuốn tròn lại, cuộn sao cho thấy các chủng tử ở ngoài. Dùng dây chỉ ngũ sắc đã kết cột kinh lại. Có thể gấp lại và bỏ trong bao, dùng dây ngũ sắc cột miệng bao lại. Vẽ 3 chủng tử Om Ah Hum (phạn tự hay Tạng tự đều được) canh vẽ sao cho chữ Om phần giữa hai lông mày, Ah ở miệng, và Hum ở cổ của tượng - khoản cách đều nhau. Hay in ra rồi lấy mực đỏ đồ lên. Khi vẽ chữ Om thì trì chữ OM, vẽ chữ Ah thì trì chú AH, vẽ chữ Hum thì trì chú HUM. Nếu tập vễ các chủng tử, tập vẽ rồi mang tất cả ra ngoài đốt. Dùng giấy có Om Ah Hum dán ở trong lòng tượng đúng theo vị trí như trên. Để kinh đã cuốn dựng đứng trong lòng tượng. Để cho chữ viết đúng, đừng để ngược xuống. Niêm kín lỗ rỗng dưới lòng tượng lại. Phân này luôn trì Nam Mô Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Linh Cảm Ứng. Tất cả vật dụng đều phải dùng chú để tẩy uế! Sau đó đọc kinh an vị Phật (xem trong kinh nhật tụng) Các tượng Phật Bồ Tát khác cũng làm như thế. Vẽ thêm chủng tử của vị Phật hay Bồ Tát của hình tượng ở phần đầu của chú Đại Bi Tâm phạn tự. Hình của Bồ Tát cũng theo trên mà làm. Dùng nước thanh tịnh để lau chùi khung ảnh. Phần sau của hình thì vẽ các chủng tử Om Ah Hum như đã dẫn ở trên. Hay in ra dùng mực đỏ vẽ đồ lên các chủng tử rồi dán sau hình cũng được. Kinh và dây ngũ sắc để phía sau hình. Đây là cách cho các bạn ở xa không phương tiện nhờ chư Tăng hay các thầy điểm nhãn cho hình tượng chư Phật hay Bồ Tát. Hình tượng đã thờ lâu ngày không cần phải làm. Để đỡ tốn tiền mực, dùng hình kinh Bát Nhã phạn tự chữ đen trên nền trắng. - TK " Một cách khác của Thày Sương Mãn Thiên chỉ cho dienbatn như sau : Tượng mới thỉnh về cũng làm sạch như đối với bát nhang . Các đồ cho vào tượng qua lỗ trống ở dưới đáy tương tự như khi cho vào bát nhang . Sau đó , dùng băng keo dán kín lỗ ở dưới lại . Lập đàn pháp của Tiên gia theo nghi quỹ sau : NGHI THỨC CÚNG LUYỆN PHÉP : Thường thường luyện vào các thời Tý –Ngọ –Mão –Dậu. Luyện theo trình tự như sau : • Người luyện trước đó phải tắm rửa sạch sẽ. • Thắp nhang 3 nén chắp tay cầm nhang theo hiệp chưởng ấn. • Quán tưởng Linh phù như sau : • Đọc CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI : ( Ôm ram xóa ha ) –7 lần. • Tịnh CHÚ TAM NGHIỆP : (ÁN SA PHẠ BÀ PHẠ –TRUẬT ĐÀ SA PHẠ –ĐẠT MA SA PHẠ –BÀ PHẠ TRUẬT ĐỘ HÁN ) –3 lần. • Đọc CHÚ NIỆM HƯƠNG : ( NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ) –3 LẦN. Nam mô hách hách dương dương. Nhật xuất Đông Phương. Vạn sự Thần Pháp kiết tường. Hộ Thần đệ tử thủ chấp phần hương. Họa Linh phù Tiên sư Tổ sư chứng giám. Án Thiên linh linh. Án Địa linh linh. Ngã linh Thần phù lai ứng hiện. Án Thiên viên –Địa phương –Thập nhị công chương. Thần Phù đáo thử trừ Tà ma ,Quỷ mị bất đáo vãng lai. Trừ bá bệnh ,trừ tai ương. (Nam mô Phật tổ Minh dương Bồ tát ma ha tát ) –3 lần. Xá 3 xá,sau đó cắm nhang trên bàn thờ. • KIẾT ẤN HỘI TỔ :Bấm ngón tay cái vào ngón Tý của 2 lòng bàn tay,sau đó đưa lên bấm vào móng tay của ngón áp út,móc hai ngón trỏ và giữa vào nhau,ngón út dựng đứng.Đặt ấn Hội Tổ lên sát ngực và đọc CHÚ HỘI TỔ như sau : • CHÚ HỘI TỔ : (Nam mô Phật Tổ Như lai chứng minh. Đạt ma Tổ sư chứng minh. Nam mô Tam giáo Đạo sư Tam Thập lục Tổ. Tổ Xiêm,Tổ Lèo,Tổ Miên,Tổ Mọi. Mình dưới Châu giang –Bà lai đàng Chà. Mẹ sanh,mẹ Lục,ông Lục Phật Tổ,Cửu Thiên Huyền nữ,Lỗ Ban chơn tử. Thập nhị Thời Thần. 12 vị Thần Bùa,Thập lục ông Tà bà Tà ,bà Lục. Cảm ứng chứng minh cho Đệ tử là ..... –TUỔI .... đả thông Huệ Tâm,Huệ Nhãn,Huệ Nhĩ,Huệ Thiệt,Huệ Khẩu đắc quả Linh phù cứu Thế ,trợ Dân ) –3 lần. • Xả ấn hội tổ lên trên đầu để khỏi đánh trúng các vong linh vô tình đứng gần. • Đọc xong xá 3 xá. • THỈNH TỔ LỖ BAN : ( Nam mô vạn Pháp Lỗ Ban. Nam mô Tiên sư Lỗ Ban. Nam mô vần vận chuyển. Nam mô thanh tịnh vận chuyển . Chư Thần vãng lai trợ trì Đệ tử ... –Tuổi .... luyện phép cứu nhân độ Thế. Sâm ăn băn khoăn –Ba ra rơ tá –Bơ rơ bơ rơ mặc mặc –Cẩn thỉnh Thần minh bảo trì cấp cấp như luật lệnh. ) –3 lần. • Trong khi đọc Quán tưởng BÙA LỖ BAN như trên. CHÚ KHAI QUANG - ĐIỂM NHÃN . Lấy một thau nước sạch –Lấy bông xé bỏ vào và xịt thêm dầu thơm. Nhúng ông Địa hay Thân Tài vào tắm.Sau đó lấy dẻ lau khô rồi để trên Đạo tràng. Cúng nhang,nến,nước lạnh cho Phật hay rươụ cho Thần. Bắt ấn Tý và đọc chú khai quan : CHÚ KHAI QUANG : Phụng thỉnh Thổ Địa chi Thần Hoặc –Phụng thỉnh Tài Thần. Giáng hạ tại vị chứng minh –Kim vì ấn chú tên là ….Tuổi…Phát Tâm phụng thờ cốt vị.Xin ngài giáng hạ nhập vô –Hồn nhãn nhập nhãn –Hồn nhĩ nhập nhĩ –Hồn tâm nhập tâm –Túc bộ khai quờn –Tâm can,tì phế,thận –Cấp cấp linh linh. Sau đó cầm ba cây nhang chỉ vào từng chỗ mà đọc : Điểm nhãn nhãn thông minh . Điểm nhĩ nhĩ thinh thinh. Điểm khẩu khẩu năng thuyết. Điểm phủ túc thông hành. Cấp cấp như luật lệnh. Khi quán tường tập luyện nhìn đèn cầy,nhìn nhang sao cho lá Bùa lọt toàn bộ vào trong ánh lửa. Khi luyện phép xong phải nói 3 lần :Tống Thần –Tống Thần –Tống Thần. MỘT SỐ LÁ PHÙ CẦU TÀI CÓ THỂ BỎ VÀO TƯƠNG HAY DÁN TRÊN BÀN THỜ . -------------------------------------------------------------------------------- Cách làm như trên thuộc phái Lỗ Ban của Đạo Tiên Gia . Còn theo Mật Tông thì sau khi đọc xong nghi quỹ của bổn tôn , các bạn chỉ cần trì 21 biến của BẠCH Y THẦN CHÚ , LỤC TỰ MINH CHÚ HAY CHUẨN ĐỀ ... vào tượng . Sau cùng là hồi hướng cho các chư vị Thần là xong . Trên đây là những hiểu biết cần thiết về bàn thờ Ông Địa - Thần Tài . Những điều đó chỉ giúp các bạn có khái niệm và những việc cần phải làm khi lập bàn thờ . Khi lập bàn thờ nên nhờ các vị có chuyên môn cao , đức hạnh trọng làm cho thì bàn thờ mới được linh nghiệm , đủ sức giúp cho thân chủ làm ăn phát đạt . Và điều sau cùng dienbatn muốn nhắn nhủ các bạn : " CÓ ĐỨC MẶC SỨC MÀ HƯỞNG " , tu thân , tích đức mới là mọi nguồn suối của hạnh phúc trong cõi Ta bà này . Chúc các bạn thành công . Thân ái . dienbatn . Tác Giả:dienbatn. Nguồn:Blog360.dienbatn -
Những hiểu biết về bàn thờ Tài Thần-Ông Địa.
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Phong Thủy
SẮP ĐẶT BÀN THỜ THẦN TÀI - ÔNG ĐỊA -------------------------------------------------------------------------------- Theo sơ đồ trên ta thấy : Trong cùng bàn thờ , dán trên vách là một tấm Bài vị như đã nói ở phần trên . Hai bên , bên trái ( từ ngoài nhìn vào ) là ông Thần tài , bên phải là Ông Địa . Ở giữa hai ông là một hũ gạo , một hũ muối và một hũ nước đầy . Ba hũ này chỉ đến cuối năm mới thay . Giữa bàn thờ là một bát nhang , bát nhang này khi bốc phải theo một số thủ tục nhất định ( sẽ nói rõ ở phần sau ) . Để tránh động bát nhang khi lau chùi bàn thờ , các bạn nên dùng keo 502 dán chết bát nhang xuống bàn thờ. Khi đang làm ăn tốt mà xê dịch bát nhang gọi là bị động bát nhang , mọi chuyện trở nên trục trặc liền . Theo nguyên lý " Đông Bình - Tây Quả " , các bạn đặt lọ hoa bên tay phải , đĩa trái cây bên tay trái ( Nhìn từ ngoài vào ) . Thường nên cắm hoa hồng , hoa cúc , hoa đồng tiền . Trái cây nên xắp ngũ quả ( 5 loại trái cây ) . Thường ở ngoài nơi bán đồ thờ cúng , người ta có một cái khay xếp 5 chén nước hình chữ Nhất - , các bạn nên bỏ khay và xếp 5 chén nước thành hình chữ thập , tượng trưng cho ngũ phương , và cũng là tương trưng cho Ngũ Hành phát sinh phát triển . Ông Cóc để bên trái ( Từ ngoài nhìn vào ) , sáng quay Cóc ra , tối quay Cóc vào . Ngoài cùng trên mặt đất , các bạn nên chọn một cái tô sứ thật đẹp , nông lòng , đổ đầy nước và ngắt những bông hoa trải trên mặt nước ( Cái này làm Minh Đường Tụ Thủy - Một cách giữ tiền bạc khỏi trôi đi . Một số người trong miền Nam , khi cúng Thần Tài - Ông Địa , thường cúng kèm theo một đĩa tỏi có 5 củ tươi nguyên đẹp đẽ hay nhiều khi là cả một bó tỏi . Họ cho rằng : ông địa thích tỏi lắm nên ta đặt trước mặt ổng là đúng cách , cho ổng có phương tiện để bài trừ " các đạo chích vong binh " ám muội . Người âm chớ cũng có người tốt kẻ xấu như thường , giống y người dương mình vậy . Tuy nhiên , qua nghiên cứu , dienbatn cho rằng , họ dùng bó tỏi đó để phòng chống các Tà sư làm ác , phá hoại bàn thờ nhà người ta bằng Bùa , Ngải . Tỏi có tác dụng tránh được điều đó ( Các người luyện Bùa , Ngải thường kiêng ăn Ngũ Vị Tân : Hành , Hẹ , Tỏi ,nén , Kiệu ) . CÁCH ĐẶT BÀN THỜ : Nguyên tắc đặt bàn thờ Thần Tài - Ông Địa là phải từ bàn thờ , ông Địa và Thần Tài phải quán được hết sự vào ra của khách . Có thể đặt theo hướng tốt của chủ nhà , có thể đặt theo cách hứng lấy dòng Khí bên ngoài khi vào nhà . Có thể dùng phương pháp Điểm Thần Sát để tính , chọn lấy các cung THIÊN LỘC ,QUÝ NHÂN để đặt vị trí bàn thờ . HƯỚNG BÀN THỜ THEO CUNG TỐT CỦA GIA CHỦ. 1/ THIÊN LỘC : Lộc là phương Lâm quan của Tuế Can , tính của Ngũ hành , Lâm quan tới cát . Lâm quan là thời đương thịnh , đang lên phơi phới , là đúng Đạo sinh thành , gần tới Vượng mà là Lộc , bởi đã Vượng thì Thái quá . Lộc là cách có Lộc ra chính môn . Nhà có cách này là cát khánh , rất tốt . Lộc ra chính Môn sẽ đem lại nhiều may mắn về tiền bạc , gia sản thăng tiến , điền trang vượng .Thường sinh người béo tốt , thông minh , tuấn tú lại khéo léo , tài năng Kinh doanh giỏi , làm ăn tiến phát . Tuy nhiên cũng cần phải lánh xa Sinh - Vượng Lộc , tránh không vong tử , tuyệt . Nếu Mộ , Không vong , Tử , Tuyệt thì Khí tán , không tụ , là vô dụng . Có Lộc cũng như không . Tài sản dù có như nước , rồi cũng tiêu tan hết . Đó gọi là Tuyệt Lộc . Nếu gặp Thai Khí thì mặc dù vẫn phát đạt , nhưng con trai tài hoa mà kiêu ngạo , con gái nhỏ thì khả ái nhưng ngỗ nghịch . Trong gia đình hay sinh nội loạn , cãi vã , cả ngày ồn ào khiến mọi người bất yên .Lộc cung là Cát cung , vì vậy ngoài cách đặt cửa chính ra , còn có thể đặt cửa phụ , nhà bếp , phòng khách , phòng làm việc , bàn thờ , giường ngủ . Tất cả được Lộc đều tốt . Tuy nhiênLộc phải cư đúng cung tài , là Lộc cư Lộc , mới thật là đắc cách , mới thật sự tốt đẹp . 2/ QUÝ NHÂN : Quý Nhân Thiên Ất là vị Thần đứng đầu cát Thần , hết sức tĩnh mà có thể chế ngự được mọi chỗ động , chí tôn mà có thể trấn được phi phù . Nhà có chính môn ra Quý là Đại cát khánh , Gia đạo bình an , hòa thuận , hỉ Khí đầy nhà , luôn gặp may mắn . Quý nhân là sao cứu trợ , là Thần giải tai ách , nên nhà ra Quý nhân là gặp việc có người giúp đỡ , gặp ách có người giải cứu , gặp hung hóa cát. Sự nghiệp hiển vinh , công danh thành đạt , dễ thăng Quan , tiến chức , học hành thi cử nhất nhất đều tốt đẹp . Quý nhân gặp sinh , Vượng , thường sinh người hiếu lễ, khôi nguyên , tướng mạo phi phàm , tính tình nhanh nhẹn , lý lẽ phân minh , không thích mẹo vặt , thẳng thắn mà ôn hòa , khôi ngô tuấn tú . Nếu ngộ Không vong , Tử , Tuyệt thì nguồn Phúc giảm đi nhiều , hoặc nếu có mắc nạn cũng khó tránh , bởi nguồn cứu giải kém hiệu lực , người và gia súc bị tổn thất , kiện cáo , thị phi . Lại hay sinh người tính tình cố chấp , bảo thủ mà suốt đời vất vả , không nên người . Quý nhân ra Thai Khí , nếu lại ngộ Đào hoa thì nam , nữ tuy thông minh , tuấn tú , nhưng nam thì hiếu sắc , nữ thì dâm đãng , làm bại hoại Gia phong , lại hay mắc bệnh tật và trong nhà dễ có người tự ải , tự vẫn vì tình . Quý nhân là Cát Khí rất tôn quý , nên gia vào cung nào cũng rất tốt , ngoài cách đặt cửa chính ra còn có thể đặt cửa phụ , nhà bếp , phòng khách , phòng làm việc , bàn thờ , giường ngủ đều tốt . Đặc biệt bàn thờ đặt trên cung có Âm Quý nhân là đại cát khánh , như vậy sẽ được âm Linh phù trợ . Không được để phòng tắm , nhà vệ sinh vào cung Quý nhân , vì như vậy sẽ bị họa hại liên miên , nữ nhân thiếu máu , động thai , sinh con dù có đẹp đẽ nhưng cũng dấn thân vào con đường ô nhục , làm điếm , cuối cùng phải tự vẫn . Tài sản tiêu tan , yêu ma hoành hành , gia đình có người bị cướp bóc , chém giết máu me thảm khốc , bệnh tật đau khổ triền miên . Nếu để nhầm WC vào cung Âm Quý nhân thì tai họa khủng khiếp khó lường . Nhưng muốn đặt như thế nào thì trước mặt bàn thờ phải quang đãng , sạch sẽ ( Không như nhiều người nghĩ và đặt bàn thờ vào gầm , vào chỗ tối tăm ) . Ông Địa và Thần tài tuy thờ dưới đất nhưng tính rất thích thơm tho , sạch sẽ . Thường nên để sẵn một lọ nước hoa , lâu lâu lại xịt vào bàn thờ cho thơm . dienbatn sưu tầm được bài này của NCD ( TRƯỜNG MINH - Người Cô Đơn ) , không nhớ nguồn , các bạn đọc tham khảo : " SINH TÀI VƯỢNG VỊ VÀ VIỆC ĐẶT THẦN TÀI Hôm nay tôi muốn bàn về vấn đề mà có lẽ từ nhà thường cho đến cơ sở kinh doanh mua bán đều quan tâm : Đó là phương Sinh Vượng và cách đặt Tài Thần. Phương vị này còn được gọi là " TÀI VỊ " , nó khác với phương Chính Thần trong Huyền Không học. Có 3 thuyết nói về phương vị này khác nhau : _ Thuyết thứ nhất là theo trường phái Huyền Không , chọn phương Chính Thần làm phương của TÀI VỊ _ Thuyết thứ hai là theo Phi Tinh của Huyền Không , cho rằng phương của Tam Bạch phi đến mới là phương của TÀI VỊ. Tam Bạch chính là : Nhất Bạch , Lục Bạch và Bát Bạch _ Thuyết thứ ba là chọn phương chéo với cửa ra vào làm phương TÀI VỊ. Riêng bản thân NCD thì chọn theo thuyết thứ 3. Hai thuyết trên nói cũng có lý nhưng không thích hợp lắm. Nếu 1 lúc nào đó Vương Khí Chính Thần hay Tam Bạch Tinh phi đến phương vị Cửa , chẳng lẽ đem Tài Thần ra đặt ở đấy à ? Huyền Không Phi Tinh có nhiều điểm rất hay , nó có thể giải thích các hiện tượng động đất , sụp lỡ , hỏa hoạn , trộm cướp , chết người , đau bệnh , làm ăn thua lỗ...vv...mà các trường phái Bát Trạch Minh Cảnh và Dương Trạch Tam Yếu không thể giải thích thỏa đáng. Vì các trường phái kia thuộc TĨNH , các phương vị , an sao đều cố định nên gặp nạn tai thì không thể nói được khi nhà và Sao đều vẫn tốt so với mạng gia chủ như lúc đầu. Còn trường phái Huyền Không thì các Phi Tinh luân chuyển , khó có được năm tháng ngày giờ trùng Sao lại như nhau ( năm và tháng còn có thể nhưng thêm ngày và giờ thì rất hiếm hoi ). Lại thêm khi các sao đi đơn lẻ thì khác , đi kèm với Sao khác thì có thể ý nghĩa biến đổi , hoặc còn ảnh hưởng với Sao của Trạch Vận khác nhau mà cho kết quả khác nhau , Thiên hình Vạn trạng. Sự huyền diệu của Phi Tinh là vậy , nhưng không phải lúc nào cũng cứng nhắc các Vượng Khí , Phi Tinh vào Dương Trạch , phải biết lúc nào áp dụng PP nào cho thích hợp. Không phải vô tình mà người ta bố trí bàn làm việc nơi góc chéo với cửa ra vào , bởi nó là nơi tập trung Quyền lực trong 1 căn phòng . Theo khoa PT thì tại phương TÀI VỊ này , người ta thường đặt các cây xanh lá to hay các tượng Tài Thần . Phương TÀI VỊ này có 1 số điều nên và không nên như sau : 1/. Các điều NÊN ở TÀI VỊ : _ Nơi phương TÀI VỊ nên sáng sủa , quang minh , không thể để tối ám. Sáng là năng lượng Dương , thích Hợp với Dương Khí. Sinh Khí không ưa nơi tối tăm , nên phương này tuyệt đối không nên để tối , nếu thiếu ánh sáng tự nhiên thì nên lắp thêm đèn _ Nơi phương TÀI VỊ nên có Sinh Cơ , tức là chỉ nơi đây thiết bày cây xanh là tốt , phải nhớ là trồng loại cây luôn luôn xanh tươi. Nhất là các loại cây trồng bằng đất bùn ( nê thổ ) , không thích hợp các loại cây trồng trong nước. Nên kiếm các loại cây lá to , dầy , lá xanh mãi như cây Vạn Niên Thanh chẳng hạn _ Nơi phương TÀI VỊ tốt nhất nên đặt bàn ngồi ở đấy , để cả nhà thường xuyên ngồi ở đó , hít thở không khí của TÀI VỊ hay nói cách khác là được thấm nhuần nguồn TÀI KHÍ nơi đó , sẽ giúp ích cho Tài Vận ngườitrong nhà _ Nơi phương TÀI VỊ nên đặt giường ngủ là rất thích hợp. Đến đây thì có lẽ chúng ta đã hiểu vì sao các sách bày bán trên thị trường luôn khuyên " đặt giường chéo góc với cửa phòng " , có điều họ không nói rõ ra nguyên ủy bên trong thôi. 1/3 thời gian trong ngày con người nằm ngủ nghĩ nơi đó , thường xuyên hít thở nguồn TÀI KHÍ nơi đó cũng rất tốt cho Tài Vận vậy. _ Nơi phương TÀI VỊ nên đặt vật hay biểu tượng Cát lành. Bởi phương này là nơi VƯợng Khí ngưng tụ , nếu ta đặt thêm 1 biểu tượng Cát Lành thì tốt càng thêm tốt , như gấm thêu thêm hoa vậy. 2/. Các điều KỴ của TÀI VỊ : _ Nơi phương TÀI VỊ tối kỵ đặt các vật nặng như tủ sách , kệ sắt , máy móc nặng sẽ làm tổn hại đến Tài Vận của phòng đó _ Nơi phương TÀI VỊ tối kỵ THỦY. Đấy cũng là lý do vì sao ở trên kia lại bảo nơi đây không thích hợp cho các loại cây trồng trong nước. Vì nơi đây là Cát Thần tọa vị , nay ta đem nước đến là Cát Thần lạc Thủy , khéo hóa ra vụng đấy ! _ Nơi phương TÀI VỊ phía sau nên có tường che chắn , không thể trổ cửa , trổ cửa sổ, có vậy mới hợp cách cục " Tàng phong Tụ khí " trong PT , Tài Vận mới tụ được _ Nơi phương TÀI VỊ tối kỵ bị các vật nhọn xung xạ đến như cạnh bàn , cạnh tủ....vv..sẽ làm tổn hại Tài Khí nơi đó _ Nơi phương TÀI VỊ là nơi Cát Thần tọa vị nên ĐẠI KỴ ô uế , dơ bẩn. Vì vậy không thể để vật ô uế , bụi bậm nơi đây _ Nơi phương TÀI VỊ không nên để tối tăm , vì u tối thì Sinh Khí không sinh sôi được , sẽ ảnh hưởng đến Tài Vận , sinh kế 3/. Tài Thần Nói đến Tài Thần thì có lẽ không ai không biết đấy là vị Thần ban phước lộc , tiền tài , của cải cho mọi người. Thần Tài mà hôm nay NCD đề cập đến không phải là Địa Chủ Tài Thần mà mọi người hay thờ. Địa Chủ Tài Thần là 1 khuôn bài vị với 2 dòng chữ ở giửa là : NGŨ PHƯƠNG NGŨ THỔ LONG THẦN TIỀN HẬU ĐỊA CHỦ TÀI THẦN mà mọi người hay thờ , 2 bên có 2 câu đối ( " Kim chi sơ phát diệp _ Ngân thụ chánh hoa khai " , hay là " Thổ vượng nhân tòng vượng _ Thần an trạch tự an " , hay là " Thổ năng sinh Bạch ngọc _ Địa khả xuất Hoàng kim " ). Ngày xưa người ta thường thờ Địa Chủ Tài Thần bên trong , bên ngoài thờ Môn Thần ; ngày nay do nhiều nơi không cho thờ cúng bên ngoài nên chỉ còn thờ mỗi Địa Chủ Tài Thần bên trong , coi như vị Thần này kiêm luôn việc bảo hộ cho Trạch Chủ , không cho tà ma xâm nhập. Tài Thần mà NCd đề cập ở đây là tượng Văn-Võ Tài Thần theo quan niệm người Hoa ( vì vốn dĩ thuật PT truyền từ TQ sang đây nên NCD cũng soạn theo tư liệu gốc của người Hoa vậy ). a/VĂN TÀI THẦN : Chia làm 2 là Tài Bạch Tinh Quân và Tam Đa Tinh _ Tài Bạch Tinh Quân : Ngoại hình như 1 vị trưởng giả giàu có , mắt trắng râu dài , người mặc áo gấm thắt đai ngọc , tay trái ôm 1 thỏi Kim Nguyên Bảo ( thỏi vàng mả người ta hay để chưng nơi Thần Tài , nó cũng là 1 dụng cụ hóa sát trong PT đó chứ ) , tay phải ôm tờ giấy cuốn lại có in dòng chữ " Chiêu Tài Tiến Bảo " Theo truyền thuyết ông vốn là Thái Bạch Kim Tinh trên thượng giới , chức tước là " Đô Thiên chí phú Tài Bạch Tinh Quân " chuyên quản tiền tài vàng bạc của thiên hạ. Nên người ta hay đặt tượng ông nơi TÀI VỊ , có người còn thờ ông nữa _ Tam Đa Tinh : Nghe tên thì thấy lạ , nhưng thật ra đó là Phước Lộc Thọ Tam Tinh đấy thôi. Phúc Tinh tay ôm đứa bé tượng trưng có con thì vạn sự đủ phúc khí. Lộc Tinh mặc triều phục sặc sỡ , tay ôm Ngọc Như ý , tượng trưng thăng quan tiến chức , thêm tài tăng lộc. Thọ Tinh tay ôm quả đào thọ , mặt lộ vẻ hiền hòa , hạnh phúc tượng trưng cho an khang trường thọ. Trong 3 vị chỉ có Lộc Tinh mới là Tài Thần , nhưng do xưa nay Tam vị nhất thể đi chung không rời , nên người ta luôn làm chung tượng của 3 vị. Nếu đặt cả Tam Tinh vào TÀi VỊ thì cả nhà an vui , hạnh phúc , phúc lộc song thu Những người giữ chức văn , những người làm công nên đặt tượng Văn Tài Thần nơi TÀI VỊ , hay thờ Văn Tài Thần Các tượng Văn Tài Thần nên đặt quay mặt vào b/ VŨ TÀI THẦN : Cũng chia làm 2 là : Triệu Công Minh miệng đen mặt đen , và Quan Thánh Đế ( còn gọi là Quan Công ) mặt đỏ râu dài _ Triệu Công Minh : Vị thần này nếu quý vị nào có xem qua truyện Phong Thần ắt biết tiểu sử ông. Sau khi tử trận lên bảng Phong Thần , ông được Khương Tử Nha sắc phong làm " Chính Nhất Long Hổ Huyền Đàn chân quân " thống lĩnh 4 vị Thần : Chiêu Bảo , Nạp Trân , Chiêu Tài , Lợi Thị Ông vừa giúp tăng tài , tiến lộc vừa có thể hàng ma phục yêu , nên 1 số người Hoa cũng thích thờ ông , hay đặt tượng ông nơi TÀi VỊ , vừa giúp vượng tài , vừa giúp bình an. _ Quan Thánh Đế : Nói đến Ngài , có lẽ không cần xem truyện Tam Quốc thì ai cũng từng nghe và biết. Gần như 99% người Hoa đều có thờ Quan Thánh Đế trong nhà cả ! Ông không không chỉ tượng trưng chio Chính Khí sáng lòa , mà còn có thể giúp cho người chiêu tài , tiến bảo , làm ăn thuận lợi , tai qua nạn khỏi , trừ tà hộ thân. Những người làm quan võ , theo nghiệp lính , những ông chủ kinh doanh nên thờ Vũ Tài Thần hoặc đặt tượng Vũ Tài Thần nơi phương TÀI VỊ. Các tượng VŨ Tài Thần nên đặt hướng ra cửa. Trên nóc bàn thờ Thần Tài - Ông Địa , người ta thường đặt tượng của Di Lặc Phật Vương hay các câu chú Phạn tự ( tượng trưng cho cơ quan chủ quản các Thần ). Mục đích là để có sự quản lý , không cho các vị Thần làm điều sai trái . TƯỢNG DI LẶC PHẬT VƯƠNG ( Còn tiếp - dienbatn ) -
Những hiểu biết về bàn thờ Tài Thần-Ông Địa.
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Phong Thủy
HÌNH TƯỢNG ÔNG KHIẾT ( ÔNG CÓC ) TRÊN BÀN THỜ ÔNG ĐỊA THẦN TÀI . Ông Khiết và chòm sao Tiểu Hùng tinh . Biểu tượng của tri thưc vũ trụ quan kỳ vĩ, thuộc về nền văn minh Khoa Đẩu Nội dung của Hà Đồ là sự vận động có tính qui luật của ngũ tinh: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ trong Thái Dương hệ tương quan với địa cầu. Chính bẩy cái chấm trên minh hoạ cho điều đó. Đó chính là chòm sao Tiểu Hùng tinh, chòm sao Thiên Cực Bắc trên bầu trời Thiên văn hiện đại. Điều kỳ lạ nữa là: Bẩy cái chấm trên tranh thờ Ngũ Hổ Việt lại trùng khớp với một hình tượng phổ biến khác trong văn hoá dân gian vốn được coi là của văn minh Hoa Hạ. Đó là bẩy cái chấm trên lưng Ông Khiết. Chúng ta dễ dàng nhận thấy sự trùng hợp của biểu tượng văn hoá chứng tỏ xuất xứ cội nguồn của nó cũng thuộc về văn hoá Việt, một thời huy hoàng ở Nam sông Dương Tử. Con cóc là một biểu tượng rất xa xưa trong văn minh Việt. Chúng ta không lạ lẫm gì những hình tượng con cóc trong trống đồng. Tổng hợp những biểu tượng cho tri thức Việt, chúng ta thấy tiềm ẩn trong ấy một tri thức thiên văn cao cấp. Tri thức cao cấp ấy rất phổ biến trong văn hoá Việt cổ.Trong tranh " Thày đồ cóc có dòng chữ: “Lão Oa độc giảng” . Tại sao lại chỉ có loài Cóc mới độc quyền giảng dạy cho đời? Phải chăng nền văn minh Việt cổ với văn tự “khoa đẩu” – tức là chữ hình con nòng nọc. Nòng nọc lại là con của cóc, nên chỉ có Cóc mới có chữ để dạy cho đời. Một số bản dịch chữ việt ra đẩu tự của bác Đào Văn Xuyền . Hịch của Hai Bà Trưng . Có thể nói: những giá trị văn hoá Việt còn lại đến nay đều tiềm ẩn một sự minh triết rất sâu sắc. Nền văn minh Việt không để lại những di sản văn hoá đồ sộ như Kim Tự tháp và Vạn lý trường thành…. Nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng: Người Việt là một dân tộc đã sử dụng những biểu tượng văn hoá mang thể hiện một tri thức rất minh triết, qua những di sản văn hoá phi vật thể sớm nhất thế giới. Đấy chính là phần còn lại của một bề dày gần 5000 văn hiến. ( NGUYỄN VŨ TUẤN ANH ) " Khi đã hiểu được HỒNG BÀNG DỊCH , nghĩa là nắm được công thức bao quát toàn bộ sự vận hành của Vũ trụ bao la , Khoa học tâm linh sẽ phát triển trong Thiên nhiên kỷ thứ 3 là thời của THÁNH ĐỨC DI LẶC PHẬT VƯƠNG. Một Khoa học như vậy , người bình thường khó có thể hiểu nổi nếu không có một sự chỉ đạo cơ bản của Trời - Đất ( tức là của các Đấng VÔ VI ) , Một sự truyền năng lượng Siêu việt ( giống như một đường truyền intenet ) và một tiềm năng trí tuệ hết sức đặc biệt ( cái này do tu luyện mà có giống như khả năng download của máy Vi tính ) . Đối với những người nghiên cứu Khoa học Tâm linh , cách này là cách đúng đắn nhất để có thể sử dụng cho sự tiến bộ của Nhân loại , làm vinh quang cho đất nước Việt Nam và cho sư nghiệp của chính mình và con cháu mai sau . Xuất xứ từ các thông tin ghi nhận được từ Cõi Phật - Chòm sao Bắc Đẩu - Quê hương của Nhân loại chúng ta - Những kiến thức có được này từ các Đấng Vô Vi - Là sách Trời , là ân huệ của HỒN THIÊNG SÔNG NÚI , cho Nhân loại và con cháu Hồng Bàng chúng ta . Đây thực sự là những kiến thức có tầm xa thời gian vài nghìn năm " ( SỨ MỆNH ĐỨC DI LẶC - GS.TS NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG " Như vậy , chúng ta có thể thấy rằng , ông cóc trên bàn thờ ông Địa - Thần Tài , có một ý nghĩa to lớn trong tâm linh người Việt , nó không hề mang một dấu ấn nào của nền văn minh Hoa Hạ . Chỉ một chùm sao bắc Đẩu trên lưng ông cóc , chúng ta đã tìm lại cả một huyền sử kỳ vĩ của dân tôc Việt . Trên bàn thờ ông ông Địa - Thần Tài, ông Cóc không chỉ có tác dụng thu về tài lộc cho gia chủ mà còn mang cả Linh khí của dân tôc Việt , trấn giữ những điều không tốt lành đến với Gia chủ . Thông thường , ban ngày người ta để ông cóc quay ra ngoài , buổi chiều tối lại quay mặt ông cóc vào trong với mong muốn tiền của không bị trôi đi . -------------------------------------------------------------------------------- ( Còn tiếp - dienbatn ) -
Những hiểu biết về bàn thờ Tài Thần-Ông Địa.
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Phong Thủy
NHỮNG HIỂU BIẾT CẦN THIẾT VỀ BÀN THỜ THẦN TÀI - ÔNG ĐỊA . -------------------------------------------------------------------------------- Nguồn Gốc Thờ Thần Tài Người Hoa thờ thần Tài Một nhân vật lịch sử là Phạm Lãi cũng được coi là Tài thần. Phạm Lãi là một trung thần của Việt Vương Câu Tiễn. Ông hết lòng giúp vua Việt Vương trong cơn hoạn nạn và phò tá vua Việt để báo thù vua Ngô Phù Sai. 1. Người Hoa là cộng đồng được coi là sở trường về doanh thương nên tập tục thờ thần Tài đã trở nên quan yếu và phổ biến có phần lâu đời trong lịch sử tín ngưỡng. Ngược lại, người Việt là cư dân “dĩ nông vi bản” nên bảo thủ tập tục thờ thần Đất và tín lý phồn thực. Đến cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, thần Đất và thần Tài ở xứ ta vẫn chưa khu biệt rõ. Trong Đại Nam quốc âm tự vị (Sài Gòn, 1895), tác giả Huỳnh Tịnh Của cắt nghĩa Thổ thần và Tài thần đều là “thần Đất, thần giữ tiền bạc” (Tome II, tr. 336) và đến tận bây giờ, thần Tài và Thổ Địa vẫn cứ được thờ chung như một cặp đôi bất khả phân li ở khắp nơi, từ văn phòng công ty, tiệm quán, tư gia... thậm chí ở trên nóc tủ bán thuốc lá lẻ lề đường. Và điều đáng chú ý là, hình tượng vị thần Tài của người Việt, xét về mặt đồ tượng học, là một biến thể của Thổ Địa Phước đức chính thần của người Hoa. Đây là bằng chứng chỉ ra một cách thức ảnh hưởng tín ngưỡng Hoa đối với người Việt 2. Trong thực tế, đối với người Hoa, Thổ Địa cũng là một trong các thần Tài. Nói cách khác, cũng do nông nghiệp chiếm vai trò quan trọng trong lịch sử nên đất đai cùng các loại nông phẩm từ đất sinh ra là thứ của cải, tài sản chủ yếu nên thần Đất cũng là thần Tài. Mặt khác, thần Đất có công năng là thần Tài là do thuyết ngũ hành tương sinh: Thổ sinh kim. Điều cần lưu ý là tín lý về thần Đất của người Hoa rất đa dạng, thậm chí là phức tạp, bởi chúng được quy chiếu theo những lý sự đa tạp khác nhau. Ở đây không trình bày tường tận dài dòng được. Đại thể, ở đây, vị thần Đất chủ quản cả vùng Chợ Lớn (Sài Gòn phố thị xưa) được thờ ở Nhị phủ hội quán (tục gọi là “chùa Ông Bổn”). Theo bài vị thờ tên gọi chính thức của thần là “Nhị phủ miếu Đại Bá Công”, được đồng nhất với ông Bổn (Bổn Đầu công Châu Đạt Quan). Trên bức hoành treo trước chính điện Nhị phủ miếu ghi rằng “Ngô Thổ Địa dã” (Ta là Thổ Địa đây) và công năng chính của thần là bảo trở việc tài lộc. Điều này cho thấy đây là vị thần Tài, thần Đất và nhân thần; song thực chất đây là vị thần thuộc “ngũ thổ”: thần Thổ Phủ, bảo hộ kho chứa hàng hóa, hiểu rộng là chợ búa và hiểu rộng hơn là vùng Chợ Lớn/Bazar Chinois. Ở các xóm người Hoa cư trú tập trung (khu phố, con hẻm, đường phố...) có miếu thờ Thổ Địa Phước đức chính thần. Đồng thời ở các cơ sở thờ tự cũng thờ Thổ Địa Phước đức chính thần bảo hộ cho đền, miếu bên cạnh môn quan. Tại tư gia, vị thần Đất bản gia (được thờ ngay trước cửa, bệ thờ giản dị, đặt sát nền hiên) được định danh là Môn khẩu Thổ Địa tiếp dẫn Tài thần. Vậy là công năng vị thần Thổ Địa này là tiếp dẫn tài lộc cho chủ nhà. Chức năng kép của thần Đất được biểu thị rõ ở câu đối sau đây: Thổ sinh nhất kim, ngũ hành chúng trân quý Địa trưởng vạn vật, tứ quý ca bình vinh. 3. Ngoài thần Đất được thờ tự để cầu tài, người Hoa còn thờ nhiều thần Tài khác. Phổ biến và tôn quý nhất là thần Tài “Tài Bạch tinh quân”, “tinh quân” là ngôi sao trên thượng giới. Đây là vị thần thường thờ tự tôn kính ở các đền miếu, đặc biệt phổ biến là các cơ sở thờ tự thuộc nhóm phương tộc Triều Châu. Tài Bạch tinh quân gồm 5 vị thần, chủ bộ Tài lộc thiên giới, do Kim long Như ý chánh nhốt Long hổ Huyền đàn chân quân (tức Triệu Nguyên soái/Triệu Công Minh) đứng đầu và 4 phụ tá: Chiêu Bảo thiên tôn, Nạp Trân thiên tôn, Chiêu Tài sứ giả, Lợi Thị tiên quân. Trên trời có Tài Bạch tinh quân, dưới đất cũng có thần Tài âm phủ. Hình tướng vị thần Tài này giống một phán quan, đen thui, trên đầu đội mũ ống cao, có dòng chữ “Nhất kiến phát tài”. Vị thần Tài này đầu tiên thờ ở Điện Ngọc Hoàng và gần đây mới có mặt ở một số chùa Hoa khác. Tục truyền, trước đây, người ta đến cầu xin giải hạn: lấy vải thô trắng quấn quanh tượng và thi thoảng các tay cờ bạc mới đến cầu tài. Nay thì, vị thần Tài âm phủ này được nhiều người cầu cúng, vay tiền thiêng để đem về mua may bán đắt. Kế đó là thần Tài Lưu Hải. Hình tướng vị thần Tài này thấy ở trên cột trước Tam sơn hội quán và trên bờ nóc Điện Ngọc Hoàng: một chàng trai trẻ, tay cầm một sợi dây ngũ sắc buộc một con cóc ba chân hay mang trên vai một sợi dây buộc những quả trứng với các đồng tiền vàng. Theo truyền thuyết Trung Quốc, Lưu Hải là tể tướng dưới triều Lương Thái Tổ (907 - 926). Ông từ quan ở ẩn, được Lữ Đồng Tân (một trong Bát tiên) truyền bí pháp luyện quặng vàng thành linh đơn trường sinh bất tử. Truyền thuyết khác lại kể rằng, Lưu Hải là con trai một lái buôn người Phước Kiến. Ông đã câu được con cóc ba chân ở một cái giếng cạn, biểu thị cho việc phát tài (cóc có âm là “thiềm”, đồng âm với “tiền”). Giới thương buôn thường thờ Lưu Hải, dán tranh vẽ trên hai cánh cửa tiệm, quán để cầu tài. Trong những năm gần đây, tượng cóc ba chân và miệng ngậm tiền được tạo hình độc lập (không gắn với Lưu Hải) được bày bán rộng rãi. Người ta mua về chưng ở nơi thờ thần Tài - Thổ Địa hay nơi trang trọng trong nhà để biểu thị cho việc cầu tài lộc. Phổ biến không kém Lưu Hải là cặp nữ thần Tài Hòa Hợp nhị tiên. Hình tướng thường thấy của cặp thần Tài này là cô gái: một hài âm cầm bó hoa sen (sen: hà, hài âm “hòa”) hay bó lúa (lúa: hòa); và một bưng cái hộp (hài âm “hợp”). Cặp nữ Tài thần này là đề tài của điêu khắc gốm, chạm gỗ phổ biến của ngành công nghệ miếu vũ của người Hoa. Thần tích là một truyền thuyết kể về hai chị em Hòa và Hợp buôn may bán đắt. Họ buôn món hàng gì cũng đắc lợi, kể cả những việc cố ý phá bỏ cũng phát tài. Ở Trung Quốc, Hòa Hợp nhị tiên là đối tượng sùng bái của những người sản xuất đồ gốm sứ, thợ nung vôi và người bán quạt. Một nhân vật lịch sử là Phạm Lãi cũng được coi là Tài thần. Phạm Lãi là một trung thần của Việt Vương Câu Tiễn. Ông hết lòng giúp vua Việt Vương trong cơn hoạn nạn và phò tá vua Việt để báo thù vua Ngô Phù Sai. Sau khi đã toại chí, Phạm Lãi không màng công danh phú quý nên bỏ đi ở ẩn. Dã sử kể rằng Phạm Lãi với người đẹp Tây Thi bỏ trốn đi dạo chơi ở Ngũ Hồ. Sau khi bỏ đi, Phạm Lãi trở thành một nhà thương buôn thành đạt và giàu có nổi tiếng ở thôn Đào (?) nên được người đời gọi là Đào Công. Phạm Lãi được tôn là Tài thần. Trong dịp khai trương tiệm quán, cơ sở kinh doanh, người Trung Quốc và người Hoa hay tặng nhau tấm đại tự “Đào Công phất nghiệp” để chúc nhau việc kinh doanh, buôn bán thành đạt. Nhà nghiên cứu văn hóa Huỳnh Ngọc Trảng -------------------------------------------------------------------------------- ( Còn tiếp - dienbatn ). -
NHỮNG HIỂU BIẾT CẦN THIẾT VỀ BÀN THỜ THẦN TÀI - ÔNG ĐỊA . Tại các cửa hàng và gia đình hiện nay, chúng ta thường thấy có bàn thờ Ông Địa - Thần Tài . Việc thờ cúng đó có nguồn gốc như thế nào ? Cách thờ cúng và bài trí ra sao ? Trong mục này , dienbatn xin cùng các bạn tìm hiểu về vấn đề này nhé . Theo CAO ĐÀI TỪ ĐIỂN , có viết như sau : " Thần tài: 神財 A: The Genius of fortune. P: Le Génie de fortune Thần: - vị Thần, - Tinh thần, - Thiêng liêng mầu nhiệm, - Tài trí phi thường. Tài: tiền bạc, của cải. Thần tài là vị Thần cai quản về tiền bạc và của cải. Theo tín ngưỡng dân gian, Thần tài mang lại tiền bạc hay của cải cho mỗi gia đình, nên mỗi gia đình, nhứt là gia đình mua bán hay kinh doanh đều có bàn thờ Thần tài, đốt nhang nghi ngút để cầu xin Thần tài cho mua may bán đắt, trúng mối lời nhiều, đem lại nhiều tiền bạc sung túc. Người đời rất quí trọng tiền bạc nên rất quí trọng Thần tài. Những nhà kinh doanh đều có lập bàn thờ Thần tài rất long trọng, đặc biệt bàn thờ Thần tài không được đặt trên cao mà phải đặt ngay trên mặt gạch nền nhà. Tục thờ Thần tài được người Tàu truyền cho dân ta. Người Tàu sang nước VN làm nghề buôn bán trở nên giàu có, mỗi nhà người Hoa đều có thờ Thần tài nên người Việt thấy vậy bắt chuớc theo. Nhiều nhà không có thờ phượng Trời Phật chi hết mà lại thờ Thần tài. Sự tích của Thần tài: có nhiều sự tích nhưng dân gian thường nhắc hai sự tích sau đây: 1. Thần tài là một cô gái tên là: Như Nguyện. Ngày xưa, có một lái buôn tên là Âu Minh, khi đi thuyền qua hồ Thanh Thảo, được Thủy Thần tặng cho một cô hầu gái tên là Như Nguyện. Âu Minh đưa Như Nguyện về nuôi trong nhà. Sự buôn bán từ ngày đó trở đi càng ngày càng phát đạt, chỉ trong vòng vài năm mà Âu Minh trở thành một nhà giàu có lớn. Một hôm, vào Tết Nguyên đán, Âu Minh tức giận đánh Như Nguyện làm nó sợ hãi, chui vào đống rác trốn mất. Kể từ đó, việc buôn bán của Âu Minh bắt đầu thua lỗ sa sút, chẳng bao lâu thì sạt nghiệp, trở nên nghèo khổ. Người ta cho rằng, Như Nguyện là Thần tài. Lúc Âu Minh nuôi Như Nguyện trong nhà thì Thần tài ủng hộ nên làm ăn phát đạt. Tới khi Như Nguyện bị đánh rồi bỏ đi thì Thần tài không còn chiếu cố Âu Minh nữa nên làm ăn sa sút, thất bại. Do sự tích nầy, người ta có tục kiêng cử quét rác và hốt rác trong ba ngày Tết, sợ Thần tài không có chỗ ẩn trốn mà đi nơi khác thì việc làm ăn trong năm sẽ bị xui xẻo thất bại. Cũng do sự tích nầy mà người ta lập bàn thờ Thần tài sát nền đất hay nền gạch, không đặt cao như các bàn thờ khác, và đặt ở góc nhà hay nơi hàng hiên. Nhưng trong thực tế, người ta thường gọi là Ông Thần tài chớ không ai gọi là Bà Thần tài, nên sự tích Thần tài là cô gái Như Nguyện chưa hẳn là chính xác. 2. Thần tài là ông Triệu Công Minh: Ông Triệu Công Minh ở đây không phải là Triệu Công Minh trong truyện Phong Thần hay trong truyện Bắc Du Chơn Võ, mà là một người dân ở núi Võ Đang bên Tàu. Truyện dân gian Trung quốc kể rằng: ở vùng núi Võ Đang có một ông già tên là Triệu Công Minh nhà rất nghèo. Ngày ngày, ông xách giỏ đi khắp nơi xin quần áo cũ để mặc và xin cơm cặn canh thừa để ăn. Nghèo đến thế nhưng ông lão có nuôi một con chó đen già và một con vịt lông vằn không đẻ trứng. Gần đấy có một ông phú hộ, gọi là Tiền Viên Ngoại, tánh rất xa xỉ và bất nhân, cơm ăn không hết thì đem đổ xuống cống, áo mặc cũ rồi thì bỏ vào đống rác. Ông lão nghèo họ Triệu thấy vậy mới lượm gom hết các quần áo cũ đem phân phát cho những người nghèo, hốt các canh thừa cơm cặn ấy về nuôi chó và vịt. Bỗng một hôm, con vịt đẻ ra 10 quả trứng vàng, còn con chó già thì khạc ra 10 thoi bạc. Từ đó thành lệ, mỗi ngày vịt và chó đều đẻ và khạc ra vàng bạc cho lão Triệu. Lão Triệu trở nên rất giàu có, trong lúc Tiền Viên Ngoại thì càng lúc càng nghèo vì tánh xa xỉ. Một thời gian sau, Tiền Viên Ngoại phải đi ăn xin, khi gặp lại Triệu Công Minh, lão Viên cảm thấy rất xấu hổ. Họ Triệu thông cảm, giúp cho lão Viên một số tiền khá khá đủ làm vốn liếng làm ăn, nhưng Lão Viên quen tánh tiêu xài xa xỉ nên dần dần hết vốn, trở nên nghèo khổ. Lão Viên lại sanh ác tâm, thấy họ Triệu giàu lớn như vầy bèn tính giết Triệu Công Minh để chiếm đoạt tài sản. Lão Viên thừa lúc vắng vẻ, lén đốt nhà của Triệu cháy ra tro, nhưng họ Triệu không chết, con vịt biến thành chim Phụng bay vút lên trời, con chó già biến thành con cọp đen xông ra cắn chết lão Viên, tất cả vàng bạc của Triệu đều hóa thành đá, và Triệu Công Minh biến thành Thần Tài. Dân chúng lập miểu thờ Triệu Công Minh gọi là Thần tài miếu. Chúng ta không thể xác định được người VN thờ Thần tài vào lúc nào, bởi vì như trên đã nói, việc thờ Thần tài là do người VN bắt chước các Hoa kiều, như thế những người VN thờ Thần tài chắc chắn là những người thường làm ăn buôn bán với các Hoa kiều. Việc thờ Thần tài trong mỗi gia đình khiến cho người ta sáp nhập Thần tài vào các Thần bản gia như: Thổ địa, Ông Địa, Ông Táo. Do đó, người Tàu làm ra một tấm bài vị gộp chung các danh hiệu của các vị Thần bản gia để thờ, mà người ta thường gọi là "bài vị Thần tài", và chúng ta thấy bài vị nầy được thờ ở hầu hết trong các tiệm quán, nhà buôn, ở các văn phòng công ty và xí nghiệp. Bài vị Thần tài được vẽ trên một tấm kiếng, nền sơn đỏ, tất cả đều là chữ Hán màu nhũ vàng, vẽ một cái cổng mà hai trụ có rồng quấn, trên cổng có tấm bảng đề "TỤ BẢO ĐƯỜNG" nghĩa là ngôi nhà có tụ lại những thứ quí báu, phía dưới có vẽ một cái TỤ BẢO BỒN là cái chậu huyền diệu chứa của báu. Sau đây là một kiểu bài vị Thần tài và các Thần bản gia: 堂寶聚寶進 財招銀 樹 正 開 花 前 後 地 主 財 神 五 方 五 土 龍 神 金 枝 初 潑 腳 祥吉意如安平季四順風帆一 CHÚ THÍCH: (chữ Hán trên bài vị đọc từ phải qua trái và từ trên xuống dưới) 聚寶堂 : TỤ BẢO ĐƯỜNG: nhà chứa của quí báu. 招財 : Chiêu tài: mời gọi tiền của. 進寶 : Tiến bảo: dâng hiến bảo vật. 金枝初潑腳 : Kim chi sơ phát diệp: Cành vàng bắt đầu trổ lá. 銀樹正開花 : Ngân thụ chánh khai hoa: Cây bạc chánh thức nở hoa. Hai câu trên là đôi liễn đặt hai bên bài vị, như để chúc tụng. Trong một kiểu bài vị khác, đôi liễn trên được viết là: Thổ năng sanh bạch ngọc (Đất thường sanh ngọc trắng) Địa khả xuất hoàng kim (Đất khá xuất vàng ròng). 如意吉祥 : Như ý cát tường: tốt lành như ý muốn. 一帆風順 : Nhứt phàm phong thuận: thuận buồm xuôi gió. 四季平安 : Tứ quí bình an: bốn mùa bình an. Hai câu chữ lớn ở chính giữa là danh hiệu của các Thần bản gia để thờ phượng: 五方五土龍神 : NGŨ PHƯƠNG NGŨ THỔ LONG THẦN 前後地主財神 : TIỀN HẬU ĐỊA CHỦ TÀI THẦN ■ Ngũ phương Ngũ thổ Long Thần: năm vị Thần trấn năm hướng và năm vị Thần đất đai long mạch sắp đặt theo Ngũ Hành gồm: bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, và Trung ương. ● Năm vị Thần Ngũ phương là: Hoàng đế (Trung ương), Bạch đế (hướng Tây), Hắc đế (hướng Bắc), Thanh đế (hướng Đông), Xích đế (hướng Nam). ● Năm vị Ngũ Thổ Long Thần là năm vị Thần long mạch coi về đất đai, bảo hộ cư dân làm ăn sinh sống, gồm: Thổ Công, làm chủ nền nhà. Thổ Thần, làm chủ khu đất. Thổ Địa, cũng gọi là Môn Khấu Thổ Địa Tiếp Dẫn Tài Thần: Thần Thổ Địa trực ở cổng để tiếp dẫn Thần Tài vào nhà. Thổ Phủ, bảo hộ các kho hàng. Thổ Kỳ, cai quản mặt đất nói chung. ■ Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần: gồm hai vị: Tiền Địa Chủ Tài Thần và Hậu Địa Chủ Tài Thần. ● Tiền Địa Chủ Tài Thần là Thần Tài của chủ đất trước. Thờ vị Thần nầy là có ý báo bổn tư nguyên, tức là báo đáp cái gốc, nhớ đến cái nguồn. ● Hậu Địa Chủ Tài Thần là Thần Tài của chủ đất sau, tức là thờ vị Thần Tài của chủ đất hiện nay. (Theo Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc: Thần Tài - Tín ngưỡng và Tranh tượng) Những cơ sở kinh doanh các ngành nghề đều có thờ Thần Tài. Họ lập bàn thờ Thần tài lớn và trang nghiêm rực rỡ, chưng cúng bông và trái cây thường xuyên, cúng nước mỗi sáng mỗi chiều đều đốt nhang khấn vái để Thần Tài luôn luôn phù hộ cho họ làm ăn phát tài. Trên bàn thờ, ngoài bài vị Thần Tài còn có đặt phía ngoài hai tượng: tượng Ông Địa và tượng Ông Thần Tài. Đạo Cao Đài không có chủ trương cấm đoán các hình thức tín ngưỡng dân gian như việc thờ cúng Thần Tài, Ông Địa, Ông Táo, Ông Độ Mạng, Bà Mẹ Sanh,... nhưng cũng không khuyến khích các việc ấy, vì các sự thờ cúng trên đều có tánh cách mê tín, vị kỷ, cầu lợi lộc, tiền bạc cá nhân, đi sâu vào sự ràng buộc con người vào vòng vật chất, khó thoát khỏi luân hồi, trái với lẽ đạo là tu để cầu giải thoát, chớ không phải tu để cầu hưởng sự giàu sang danh vọng. Giáo lý của Đạo Cao Đài cho thấy rõ rằng, chư Thần, Thánh, Tiên, Phật đều là những bậc sáng suốt, công bình, vô tư, không biết ăn hối lộ của vật chất thế gian do người trần dâng cúng. Ai làm lành thì được thưởng, ai làm ác thì bị đọa, theo đúng Luật Nhân Quả là luật công bình thiêng liêng của Trời Đất. Sự giàu có không phải do van xin Thần Thánh, mà là do phước đức của mình tạo ra từ kiếp trước. Một người nghèo khổ là do kiếp trước gây nhiều việc ác, tạo nhiều nghiệp xấu nặng nề, thì dầu trong kiếp nầy có lạy cầu Thần Thánh đến dập trán chảy máu đầu cũng không thể khá hơn được. ● Thuở xưa, Đức Khổng Tử có dạy rằng: Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phúc, Vi bất thiện giả, Thiên báo chi dĩ họa.Nghĩa là: Làm điều lành thì Trời báo đáp cho điều phước, Làm điều chẳng lành thì Trời báo đáp điều tai họa.● Đông Nhạc Đế Quân cũng có nói rằng: Thiên Địa vô tư, Thần minh thời sát, Bất vị tế hưởng nhi giáng phúc, Bất vị thất lễ nhi giáng họa.Nghĩa là:Trời Đất không tư vị, các Thần sáng suốt thường soi xét, Không phải vì hưởng cúng tế mà xuống cho điều phước, Không phải vì thất lễ mà xuống cho điều tai họa.● Kinh Sám Hối cũng có câu: Thần minh chánh trực có đâu tư vì. ( Còn tiếp - dienbatn) .
-
3/ CÁCH HÓA GIẢI TRÙNG TANG LIÊN TÁNG : Trùng tang liên táng là một sự thực , dù cho người ta đến ngày hôm nay vẫn chưa tìm ra bản chất của nó . Từ xa xưa , người Việt chúng ta đã có quá trình theo dõi , điều trị có hiệu quả việc này . Thực ra sau khi tính toán và phát hiện ra người chết phạm vào Trung tang liên táng , việc điều trị rất đơn giản và hiệu quả rất cao . Điều cần thiết là khi phát hiện ra phải điều trị càng sớm càng tốt . dienbatn xin giới thiệu một số phương pháp hóa giải Trùng tang liên táng có kết quả mà dienbatn sưu tập được và một vài phương pháp dienbatn thường sử dụng đạt được kết quả khá tốt . Một điều cần chú ý là có nhiều phương pháp hóa giải Trùng tang liên táng , nhưng những phương pháp của Tiên Gia , Phù thủy , Đạo gia thường là những phương pháp bắt nhốt Trùng . Cách này tuy hiệu quả nhưng thực ra rất nguy hiểm vì khi công lực của Thày còn cao , Trùng còn phải chịu hãm trong vòng tù ngục , nhưng khi Thày chết , không còn ai cai quản nhà tù nữa , Trùng sẽ thoát ra gây ảnh hưởng rất nặng đến Gia đình Thày và Thân chủ . Phương pháp tốt nhất là dùng Mật Tông , trì chú cho Trùng được siêu thoát , sau đó hồi hướng công đức cho họ . Phương pháp này dùng những năng lực của Phật pháp , siêu độ cho Trùng rất tốt , khiến cho Trùng sớm siêu thăng tịnh độ , không còn làm ác được nữa . CÁC PHƯƠNG PHÁP HÓA GIẢI TRÙNG TANG LIÊN TÁNG : 1/ BÀI THUỐC TRẤN TRÙNG : Dùng các vị sau đây : 1/ Thần sa : 3 đồng cân . 2/ Chu sa : 2 đồng cân . 3/ Hồng hoàng : 5 đồng cân . 4/ Sương luật : 5 đồng cân . 5/ Địa liền : 5 đồng cân . 6/ A ngùy : 3 đồng cân . 7/ Huyết giác : 3 đồng cân . 8/ Đại hồi : 5 đồng cân . 9/ Quế chi : 5 đồng cân . Dùng chỉ ngũ sắc kết phù TỨ TUNG NGŨ HOÀNH để trên mặt thuốc , cho vào túi vải yểm trong quan tài . 2/ BỘ LINH PHÙ TRẤN TRÙNG : ( Theo QTPS và tamandieungo) " Tôi dự định đăng bộ phù trấn yểm trùng tang trong tài liệu sưu tầm thì tình cờ phát hiện bộ linh phù này đã được bạn QuangTichPhapSu đăng trên một trang web khác, thậm chí còn đầy đủ hơn. Lòng rất hoan hỉ, tôi đã save lại và sửa chữa nét cho rõ ràng cộng thêm chú thích. Nhận thấy những gì tôi có không bằng của bạn QTPS, nên tôi xin mạo muội đăng lại tài liệu này cho hoàn chỉnh. Xin cảm ơn bạn QTPS đã có công đăng tải để mọi người có cơ duyên tham khảo. Rất mong bạn đóng góp thêm để huynh đệ mở rộng kiến văn. 1- Phù để gối đầu người chết: 2- Phù dán giữa rốn người chết: 3- Phù dán giữa ngực người chết: 4- Phù dán lót dưới quan tài: 5- Phù chôn yểm trên nóc mộ: 6- Phù đặt vào lòng bàn tay người chết (nam tả nữ hữu): 7- Phù Thanh long dán vách trái quan tài: 8- Phù Bạch Hổ dán vách phải quan tài: 9- Phù Châu tước dán vách chân quan tài: 10- Phù Huyền Võ dán vách đầu quan tài: 11- Phù dán tường hướng Tây mộ: 12- Phù dán tường hướng Nam mộ: 13- Phù dán tường hướng Đông mộ: 14- Phù dán tường hướng Bắc mộ: 15-16: Phù dán hai vách quan tài: This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 644x800 and weights 151KB. Click this bar to view the small image. 18- Phù dán chân ván thiên: 19- Phù dán giữa ván thiên: 20-Phù dán trên đầu ván thiên: 21- Phù trấn phương Tây: 22- Phù trấn phương Bắc: 23, 24: Phù trấn phương Đông và Nam 25- Phù dán đầu quan tài: 26- Phù dán chân quan tài: 27- Phù dán bên trái ngoài quan tài: 28- Phù dán bên phải ngoài quan tài: 29 - Phù trị thần trùng: Cách 3 và 4 tham khảo của TRẦN MẠNH LINH ( DỊCH HỌC TẠP DỤNG ) 3/Theo cách của đạo Phật : Trước khi liệm : Dùng 6 lá Linh phù Lục tự Đại minh ( OM MANY PADME HUM ) có kích thước 31 x 10.5 cm viết theo chiều dọc từ trên xuống dán vào thành trong của quan tài tại đầu , chân , hai bên vai , hai bên hông. Những Linh phù này có tác dụng trấn tà khí của Linh hồn. Khi chôn : Vong Nam 7 , Vong nữ 9 quả trứng vịt đã luộc chín , để trên nắp quan tài trên vùng bụng , dùng một cái niêu đất úp lên trứng , sau đó lấp đất. Cách này dùng để thu nốt những Tà khì còn sót lại. Lưu ý Linh phù được viết trên giấy vàng chữ đỏ. -------------------------------------------------------------------------------- 4/Theo cách của Đạo gia : Linh phù ngũ trấn. Dùng Ngũ linh độn số chọn thời gian khâm liệm , thời gian di quan ( chuyển quan tài ra khỏi nhà ), thời gian hạ Huyệt. Tại mỗi thời điểm trên ta có một quẻ Ngũ linh ( tránh những quẻ Lục xung , quẻ có tượng xấu , Dụng khắc Thể , Thể sinh Dụng , quẻ có hào Thái tuế động ). Trước khi khâm liệm : Dùng giấy mầu vàng hai mặt có kích thước 30 x 10,5 cm vẽ quẻ Dịch của ba thời điểm trên , mặt kia vẽ Thư phù ( Dịch tự của quẻ đó ). Quẻ của Cục khâm liệm dán ở thành trong phía đầu quan tài. Lưu ý mặt có Quẻ dán úp vào mặt gỗ , mặt có Dịch tự quay ra ngoài. Quẻ của Cục Di quan dán ở chân quan tài. Quẻ của Cục hạ Huyệt , dán ở bên vai. Khi chôn cũng dùng 7 hoặc 9 quả trứng vịt như ở phần trên. 5/ THEO CÁCH CỦA MẬT TÔNG. Dùng Thần chú TÁN SA của ĐẠI NHẬT NHƯ LAI : d ùng cát sạch của ba dòng sông. Lấy cát giữa lòng sông đem về phơi khô, trộn vào ít châu sa, thần sa, để trong chén nước sạch. Tay kiết ấn Bảo Thủ bưng chén cát, còn tay mặt kiết ấn Cát Tường. Mắt ngó vào chén cát, miệng tụng Thần chú Tỳ Lô 108 biến làm chừng, gia trì cho được ba đêm rồi đem cát ấy rải lên mồ mả hay thi hài của người chết trùng, hay chết bất đắc kỳ tử mà vong nhơn không siêu được, làm phương pháp này liền được siêu sanh. Hoặc viết Thần chú này trên vải, giấy vàng rồi đắp lên thi hài người chết, vong họ sẽ nhờ chú lực được siêu sanh cõi Phật. Vái trước hồng danh các vị sau đây 3 lần rồi mới trì chú : NAM MÔ ƠN TRÊN TAM BẢO NAM MÔ THẬP PHƯƠNG CHƯ PHẬT NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT NAM MÔ CHƯ NHƯ LAI CHƯ BỒ TÁT CHƯ THIÊN, CHƯ THÁNH ,CHƯ THẦN CHƯ VỊ THỔ ĐỊA ,LONG THẦN ĐƯA CÁC VONG LINH VÔ HÌNH VỀ BÊN KIA THẾ GIỚI . OM A MÔ GA VAI RO CHA NA, MA HA MUSĐƠRA MANI PASMÊJÔLABRA, VAT DDADA HÙM HƠRIT BRUM . 6/ MỘT CÁCH NỮA : dùng linh phù Tứ tung ngũ hoành hay phù của Chuẩn đề : Theo hiểu biết của dienbatn thì dùng Linh phù CHUẨN ĐỀ tốt hơn vì một bên là Giáo hóa các Linh hồn , một bên là dùng Luật. Dùng giấy vàng gấp theo hình Bát quái và dùng mực đỏ để vẽ Linh phù. Vẽ Linh phù CHUẨN ĐỀ thì dùng nghi tụng niệm tới trước phần Bát nhã thì bắt đầu đọc 108 biến của Chú CHUẨN ĐỀ. Sau đó tác bạch lý do và vẽ Phạn tự CHUẨN ĐỀ vòng quanh Bát quái. Chữ OHM vẽ ở tâm của Bát quái vẽ trước. Sau đó đọc Chú HỒI HƯỚNG cho Vong được Siêu sanh Tịnh độ. Nếu dùng Linh phù TỨ TUNG NGŨ HOÀNH thì cũng đọc nghi tụng tới trước Kinh Bát nhã thì cũng dùng giấy vàng chữ đỏ , giấy gấp hình Bát quái , vừa vẽ vừa đọc Chú TỨ TUNG NGŨ HOÀNH : Nhất tung khai Thiên môn , Nhị tung bế Địa hộ. Tam tung lưu Nhân ngôn , Tứ tung sát Quỷ lộ. Nhất hoành trừ Nạn khổ , Nhị hoành độ Nhân thân , Tam hoành trừ Ác tặc , Tứ hoành trừ Sát nhân Ngũ hoành trừ Hung thần , Cấp cấp như CỬU THIÊN HUYỀN NỮ Y NHƯ LUẬT LỆNH. Lưu ý : Khi vẽ Linh phù TỨ TUNG NGŨ HOÀNH , tới đoạn cuối có 3 vòng khoeng , Sau khi vẽ xong cũng đọc chú HỒI HƯỚNG cho Vong như ở trên , khi Tẩm liệm , bỏ những lá Linh phù đó vào trong quan tài. LINH PHÙ TỨ TUNG NGŨ HOÀNH . CÁCH CUỐI CÙNG CỦA PHÁP SƯ : Dùng BÁT QUÁI TRẬN ĐỒ TRẤN ÂM TRẠCH hóa giải. Cách này dùng sau khi đã chôn mà không chọn được ngày giờ tốt vì một lý do nào đó , hoặc sau khi chôn một thời gian , mộ tác phát những điều xấu đều có thể hóa giải được rất linh nghiệm. MỘT DẠNG BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN DO DIENBẠTN THỰC HIỆN . ( dienbatn ) TÁC GIẢ:DIENBATN Nguồn:Blog360.dienbatn.
-
TRÙNG TANG LIÊN TÁNG - MỘT VÀI ĐIỀU CẦN BIẾT . 1/ KHÁI NIỆM TRÙNG TANG LIÊN TÁNG . Trùng tang liên táng là một hiện tượng có thật trong cuộc sống của chúng ta . Không có nhiều tư liệu viết về hiện tương này , nhưng trong dân gian vẫn truyền tụng với nhau những trường hợp chết phạm vào Trùng tang liên táng hết sức đau thương , thậm chí có nhà nhân đinh đông đúc là thế mà chỉ vài ba năm phải chịu cảnh tuyệt tự . Tại miền Bắc Việt Nam có một trung tâm nhốt Trùng lớn nhất nước : Đó chính là chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh .Chùa được xây dựng vào thời Lý, tương truyền đây là nơi tu hành của Thiền sư Dương Không Lộ. Nơi đây từ ngày xưa , các vị sư tăng đã có những phương pháp Trấn Trùng rất huyền bí mà hiệu quả . Hàng ngày , vào buổi chiều , các sư ở đây phải nấu một nồi cháo to , cúng thí thực cho Trùng và vong bị nhốt ở đây, bữa nào quên là gà vịt của dân quanh vùng thay nhau chết la liệt . Ngoài ra , tại miền Bắc Việt Nam , từ xưa đã có các môn phái Pháp Sư theo Bắc Tông , Pháp sư các môn phái Phù thủy của đồng bằng bắc Bộ nhất là tại các tỉnh Bắc Ninh , Hải Phòng , Nam Định ... có khả năng hóa giải Trùng tang liên táng rất hay . Thông thường , các vị sư trong chùa chỉ học theo đạo Phật chứ ít khi học theo kiểu Pháp sư , Phù Thủy , thế nhưng đặc biệt ở chùa Hàm Long - Bắc Ninh , Liên Phái - Hà Nội và một vài chùa nữa lại có những bộ ván khắc in phù giải Trùng tang liên táng từ hàng trăm năm . Theo Nguyên Vũ đã viết : "Hàm long : Chỉ nghe tên thôi cũng đã gợi lên một điều gì đó về ngôi chùa rồi. Dọc theo đường quốc lộ số 1 chỗ rẽ đi Cẩm Phả, xuất hiện một dãy núi lớn, dài 3,4 cây, ta tìm đến đầu của dãy đó là nơi toạ lạc của chùa Hàm long. Nơi đây cũng là trường trung cấp Phật giáo của tỉnh Bắc ninh. Về thế đất Tân long, huyệt kết oa, Long, hổ hoàn mỹ, ngoại minh đường rộng rãi có sông lớn chảy qua nhưng không được đẹp. Ngoài ra còn có Tứ linh chầu vào. trong chùa còn có một cây tháp đá rất cổ, thường có nước rỉ ra từ đó. tương truyền nơi đây là nơi nhốt trùng rất lớn. Tôi có một người bạn thân đã từng tu hành ở đây nói với tôi " ngày nào chùa cũng phải nấu một nồi cháo to để cúng, nếu không gà chó của dân địa phương tự nhiên lăn ra chết rất nhiều. " Trùng tang liên táng thường có các dạng như sau : " *Trùng 3 ngày( tức là trong gia đình họ hàng sẽ có người chết theo ngay, tính từ lúc có người chết trùng cho đến 3 ngày sau. Nhiều khi người này chưa kịp chôn thì người tiếp theo đã chết.Đây là trùng tang nặng nhất, làm cho gia đình không kịp trở tay vì cũng chưa biết là có chết trùng. ). * Trùng tuần đầu( tính từ lúc chết cho đến hết tuần đầu, đây cũng là trùng tang khá nặng và có thể kéo dài đến 49 ngày- tức là cúng 49 ngày đó. * Nhẹ hơn nữa tức là xảy ra vào những ngày sau đó, kéo dài cho đến hết 3 năm và có thể hơn tuỳ thuộc vào thời gian bốc mộ lên mộ tròn. Nhiều khi sự việc xảy ra vào đúng ngày cuối cùng ngay trước hôm bốc mộ do gia đình không kiêng khem cẩn thận. Sở dĩ nói trùng này là nhẹ nhất vì gia đình có nhiều thời gian để đi cứu giải. - Việc trùng nặng hay nhẹ do giờ của người chết trùng quyết định. Việc này nên nhờ các ông thầy hoặc các nhà sư cao tay xem cho. Vì vậy khi nhà có người mất thường nên đi xem ngay để nếu không may chết trùng gia đình còn kịp xoay xở. *Cách giải: - Nhà có người chết trùng phải lập tức gửi người đó lên chùa, tuy nhiên không phải chùa nào cũng giữ được vong chết trùng. Nó phụ thuộc vào sự linh thiêng của chùa và mức độ cao tay của vị sư trụ trì. Nếu trùng nhẹ các bạn có thể gửi lên một ngôi chùa nào đó gần nhà, các nhà sư sẽ hàng ngày đọc kinh niệm phật cho vong hồn siêu thoát( hay nói đúng ra là nhốt vong vào trong ngục, không cho đi lung tung kẻo quỷ sứ bắt được nó sẽ tra tấn và khai ra tên họ người nhà, càng những người hợp với vong chết trùng càng dễ bị bắt). - Nếu trùng nặng, tôi khuyên chân thành bạn phải gửi ngay vào chùa Hàm Long, dù có ở trong Nam thì cũng nên cấp tốc đi máy bay ra mà gửi. Các chùa khác nổi tiếng về cái gì thì tôi không biết nhưng đệ nhất giữ vong phải là chùa Hàm Long ( Ở Thành phố Bắc Ninh). Đây là ngôi chùa cổ mấy trăm năm nằm trên sườn núi, địa thế rất đẹp. Chùa có những cây cổ thụ cực to, và cũng là một trong những nơi đào tạo các nhà sư ở Việt Nam. Từ trong nam ngoài bắc trùng tang đều đem về đó gửi. Hàng ngày vào buổi sáng tôi thấy các nhà sư tụng kinh niệm phật cúng vong rất cẩn thận. - Khi gửi vào chùa rồi, bạn có thể yên tâm ăn ngủ nếu thực hiện đúng các điều sau( các nhà sư chắc cũng sẽ nói lại cho bạn nếu bạn đến đó): 1- sau khi gửi lên chùa, ở nhà không được lập bàn thờ cúng bái người đã chết nữa kể cả ngày giỗ tết, vì có hương là có hồn, chỉ cần bạn đốt hương và đọc tên người chết thì đó coi như chìa khoá mở ngục cho vong thoát ra ngoài. 2- Khi đưa vong lên chùa phải nhờ người không phải là họ hàng, nếu nhờ được bạn bè là tốt nhất, còn nếu không cũng phải nhờ người bên họ ngoại. Vì vong chết trùng thường rất khôn ngoan, nếu thấy người quen đưa đi thì thường nó sẽ đi theo về hoặc tệ hơn là nó đã biết trước và không đi theo. Thế nên không nên bàn chuyện đưa tiễn vong lên chùa ở nhà người chết.3- sau khi nên mộ tròn tức là người chết đã về với tổ tiên, mới được thờ cúng lại bình thường. * Có một nhà sư đã nói đặc điểm của người chết trùng (không phải ai chết trùng cũng có đặc điểm này, tôi chỉ ví dụ để bạn tham khảo thôi)là : dù có ốm thập tử nhất sinh người đó vẫn luôn tin mình sẽ sống ( kể cả là ung thư giai đoạn cuối thì vẫn tin có phép tiên), nên nếu bạn có hỏi xem người ấy có muốn trăn trối gì không thì họ thường lảng tránh câu đó không muốn trả lời. Thêm nữa nếu mất trong khoảng giữa đêm hoặc gần 6h sáng thì cũng nên cẩn thận vì đó là giờ quan, nên đi xem xét cho cẩn thận kẻo bị trùng tang mà không biết. * Ở chùa Hàm Long có các lá bùa để gia đình đeo vào trong khoảng 3 năm để tránh tai hoạ, tôi thấy một mặt là chữ nho một mặt là phật bà. * Rất tiếc là tôi không nhớ địa chỉ cụ thể, tuy nhiên bạn có thể đi đường cao tốc về thành phố Bắc Ninh, có 1 cái cầu vượt, tay trái đi vào thị xã, tay phải đi về phía chùa. Tuy nhiên chùa ở núi nên còn đi vào khá xa, tôi chỉ nhớ là có đi qua nhà máy kính nổi. sau đó thì bạn hỏi đường tiếp nhé, vì nó khá nổi tiếng mà,với lại cũng có biển chỉ đường đi về chùa đó. Tôi đã đi nhiều chùa nhưng đó là ngôi chùa cổ u tịch nhất mà tôi biết, khi tôi đến đó thấy cả dãy dài ô tô từ tứ phương đổ về- thường là những người đi gửi vong chứ ít ai đi vãn cảnh chùa lắm có lẽ vì tâm lý đó là nơi giữ vong, mọi người đến thường xong việc đi luôn, chắc cũng vì sợ ở lâu chỉ thêm đau long do thương xót người đã mất. Các gia đình sau khi gửi vong thường chỉ thực hiện được một thời gian đầu những điều cần kiêng, sau vì thương tiếc người thân đã cúng lại vì sợ ma bị đói. Đây là điều cần hết sức tránh vì các nhà sư cúng bái còn cẩn thận hơn chúng ta nhiều. Có nhiều gia đình phải gửi đi gửi lại nhiều lần vì vong theo về, vì cúng khấn ở nhà. Vì vậy bạn nên tránh những điều tôi đã nói nhé. Bạn ạh, chết trùng hoàn toàn có thể khống chế được nếu làm đúng cách. Vài điều nhắn gửi, mong gia đình bạn bình an. " ( dienbatn quên nguồn ). "Theo quan niệm của lịch số Trung Hoa và trong dân gian nói chung thì ngày trùng tang là ngày đại kỵ trong việc an táng, chôn cất. Ngày này còn có tên là ngày cướp sát. Cách tính ngày trùng tang như sau: Đối với tuổi Thân, Tý , Thìn kỵ Tỵ. Có nghĩa là người chết tuổi Thân hay tuổi Tý hoặc tuổi Thìn mà mất vào năm Tỵ, tháng Tỵ, ngày Tỵ và giờ Tỵ là bị chết vào ngày trùng tang, tuyệt đối tránh an táng vào ngày Tỵ. Tương tự như thế đối với các tuổi Tỵ, Dậu, Sưủ kỵ Sưủ, Dần, Ngọ, Tuất kỵ Hợi, Hợi, Mão, Mùi kỵ Thân. Những ngày trùng tang này rất hiếm trong năm. Theo quan niệm dân gian, nếu chôn cất vào những ngày trùng tang này thì sau khi an táng xong, một thời gian ngắn sau có thể những người khác trong thân tộc sẽ chết theo. Trong trường hợp khoảng vài tuần, vài tháng hoặc trong vòng ba năm có nhiều người chết liên tiếp thì bị trùng tang liên táng. Ngày trùng tang (trùng nhật) là ngày Dần, Thân, Tỵ, Hợi cùng trùng ngày, trùng tháng và trùng năm. Như ngày Dần, tháng Dần và năm Dần; ngày Thân tháng Thân và năm Thân... gọi là những ngày trùng. Vào những ngày trùng, kiêng kỵ tẩm liệm, chôn cất và cải táng. Người chết với bất cứ tuổi nào cũng đều xung kỵ ngày này. Trong dân gian tin rằng nếu chôn cất vào ngày trùng ắt sẽ có một người thân bị chết theo, tuy vậy vẫn nhẹ hơn trùng tang liên táng. Đối với Phật giáo thì sống chết là chuyện thường nhiên, do nghiệp lực của tự thân mỗi người chi phối. Sống và chết chỉ là hai hiện tượng trong tiến trình luân hồi bất tận. Nghiệp tuy có chung và riêng, song nghiệp riêng vẫn giữ vai trò chủ động, quyết định và có tính cách độc lập, không ai có thể thay thế cho ai. Vì thế, Phật giáo không có quan niệm về ngày trùng tang, trùng nhật và hoàn toàn phủ nhận việc ngày giờ chôn cất của một người mà có thể ảnh hưởng đến sự sống chết của người khác. Tuy nhiên, vì tập tục này ăn sâu vào tâm thức mọi người nên một vài nơi, trong tinh thần phương tiện, nhà chùa vẫn khuyên các Phật tử không an táng thân quyến vào những ngày trùng, nhằm giúp họ an tâm để chu toàn tang lễ đồng thời nỗ lực cầu nguyện, khai thị, làm phước hồi hướng cho hương linh. Đây mới là những điều cần làm để " âm dương lưỡng lợi" theo quan điểm Phật giáo." ( dienbatn ghi lại từ nguồn - Tổ tư vấn báo Giác ngộ - UIA ) Trùng tang liên táng hoàn toàn có thật , bản chất của sự việc này ra sao thì chưa có một nghiên cứu nào khả dĩ có thể giải thích được . Trong quá trình nghiên cứu về hiện tượng này , dienbatn cho rằng đó tương tự như một loài vật sống ký sinh trên xác người chết phạm vào giờ trùng . Đó chính là một trường năng lượng xấu tồn tại cùng với trường năng lượng của người chết phạm trùng . Vì lý do " Đồng thanh tương ứng - Đồng Khí tương cầu " hay hiện tượng cộng hưởng tần số . . Theo Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương :Trước hết vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và tần số của Trùng ,nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của cả đôi bên tham gia vào.Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống ,dòng họ.Do tần số đôi bên có thể khác nhau nhiều,nên trong lý thuyết về Nhạc,loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (Tần số này là bội số của Tần số kia ).Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống. Chính điều này cũng giải thích được hiện tượng chỉ có những người cùng huyết thống với người chết phạm phải giờ trùng tang liên táng mới bị , còn những người khác và con Dâu , con Rể cùng sống trong gia đình không bị ảnh hường . CHÙA HÀM LONG - BẮC NINH Một tư liệu khác nữa dienbatn sưu tập : "Theo tín ngưỡng dân gian: Trùng tang là chêt trùng vào năm tháng ngày giờ. Theo tinh thần Phật giáo Chánh Tín: thì không kiêng cử ngày giờ. Mọi sự vật đều bị chi phối bởi luật nhân-quả. Bởi vì chúng ta còn là phàm nhân nên mọi người chúng ta cũng bị chi phối bởi các tín ngưỡng dân gian. Do đó, Đức Phật-Ngài không cho chúng Tăng xem bói, coi tướng ngày giờ. Nhưng để hóa độ chúng sanh, cho nên Chúng Tăng có vị đã làm những việc này, xem như là một phương tiện nưong vào đó để hóa độ chúng sanh vì chúng sanh tín ngưỡng như thế nên các Ngài mới phưong tiện mà độ để giúp cho họ có niềm tin vào Phật vào Chánh Pháp. Nhưng hỡi ơi! Vào thời này có vị lạm dụng những việc này để kiếm tiền làm ô danh cửa đạo. Thật đáng buồn thay! Trùng tang có phải xét trên nhiều yêu tố khác như: bị thư bị yếm, phong thủy......Nói chúng ta là những người học Phật tu nhân không tin những việc này, nhưng cũng cần biết để mà xử trí khi gặp phải các vấn đề này: như trường hợp nàng Ma Đăng Già dùng chú của Phạm Thiên cám dỗ Tôn Giả A Nan, Đức Phật Ngài thuyết Chú Lăng Nghiêm và Sai Ngài Văn Thù Sư Lợi dùng Chú Phật để hóa giải chú của Phạm Thiên mà giải cứu Ngài A Nan thoát khỏi vòng dây tình ái ( ai nhiều dâm dục hay để ngăn ngừa thì nên trì tụng Chú Lăng Nghiêm, do đó các Chùa thường hay trì tụng Chú này ). Tôi xin nói về vị nữ cư sĩ khơi nguồn Mật Tông cho tôi là Người Nam Vang ( Campuchia ), ba của vị này là Thầy tu sĩ Phật giáo Nam Tông chính thống, chính vị nữ cư sĩ này đã kể nhiều chuyện cho tôi nghe như: ở miền quê mé miền Tây, có một người ghét không thích gia đình nào đó, thế rồi họ liệng vô nhà đó, chỉ 1 tờ giấy trắng, rồi người trong nhà mở ra thế là lần lần cả nhà chết hết....còn nhiều chuyện dị kỳ. Dó đó, mọi sự việc phải xét nhiều mặt chứ không nên phiến diện một phía...... Trung Hoa không thích đất nước ta vì có nhiều Thánh nhân xuất hiện và có nhiều vị tướng tài. Do đó, họ đã dùng các nhà phong thủy phù thuật trấn ếm nguyền rủa nước ta bằng nhiều cách nhiều phương diện....Cũng như Ô Mã Nhi, một vị tương sang đánh nước ta từng có lời thề:" Đánh thua VN thì đội quần đàn bà ", do đó, phụ nữ ai mà bị rớt đồ xuống sông thừơng bị mắc đàn dưới. Thầy tôi đã ra tay chữa bệnh này rất nhiều và Thầy tôi cũng đã lập Đại trai đàn để giải lời thề cho Ô Mã Nhi cũng như anh em Ngô Đình Diệm.... thoát khỏi bị đọa ( Nếu vị nào am tường về binh pháp chắc biết Ô Mã Nhi ). Đàn này rất lớn xin nguyện lực sự gia trì lực của của Chư Tăng Ni hòa Thượng nhiều nơi ẩn mật tu luyệncùng Chư Phật Bồ Tát Thánh Hiền, dưới sự chẩn tế của các pháp sư....Do đó, một lời thề đến một lúc nào đó cũng bị phá vỡ, do nguyện lực niệm lực niềm tin Phật Pháp Tăng Tam Bảo chính thống, thì bị phá vỡ bởi sức mạnh của Diệu pháp nhằm lợi lạc cho nhân sinh. Mọi việc không qua luật nhân quả, không ngoài huyền cơ là vậy. ( dienbatn ghi từ Phổ Quảng ) 2/ CÁCH TÍNH TRÙNG TANG LIÊN TÁNG : CÁCH TÍNH TRÙNG TANG ( Nhớ tính theo tuổi âm lịch ) . KIỂM TRA TRÙNG TANG NGÀY MẤT : Theo sách “ Tam Giáo Chính Hội “ : Nam nhất thập khởi Dần thuận liên tiến,Nữ nhất Thập khởi Thân , nghịch liên tiến , Niên hạ sinh Nguyệt , Nguyệt hạ sinh Nhật , Nhật hạ sinh Thời . Ngộ Tý - Ngọ - Mão - Dậu Thiên di . Dần - Thân - Tỵ - Hợi Trùng tang . Thìn - Tuất - Sửu - Mùi Nhập mộ cát dã “. Từ 1 đến 9 tuổi không tính Trùng tang. " Xin ghi lại tính Trùng Tang theo cổ truyền: 1. Địa Chi trùng Trong 12 tuổi con giáp chết bất kỳ năm tháng nào cũng kỵ 4 ngày ần, Thân, Tỵ, Hợi. Mức độ "Trùng" nhẹ hay còn gọi "trùng phục" theo dân gian. Khi chôn cất hay cải táng cũng phải cữ ngày giờ trên. 2. Trùng tang liên táng 2.1 Tuổi Thân Tý Thìn chết năm tháng ngày giờ Tỵ. 2.2 Tuổi Dần Ngọ Tuất chết năm tháng ngày giờ Hợi. 2.3 Tuổi Tỵ Dậu Sửu chết năm tháng ngày giờ Dần. 2.4 Tuổi Hợi Mão Vị chết năm tháng ngày giờ Thân. Chết năm tháng ngày giờ trên gọi là trùng tang liên táng. Sợ nhất là Trùng Năm. Khi niệm, chôn người trong thân tộc cũng phải tránh những năm tháng ngày giờ trên ứng theo tuổi. Chết ngày giờ trên gọi là ngày giờ kiếp sát (theo Tứ trụ). Dân gian gọi là Cướp Sát. Nếu thân tộc bị vào trường hợp trên rất là kinh hoàng. Cần đến Thầy gấp. Nếu nhanh có thể là 3 giờ, 3 ngày, 3 tháng lâu thì 3 năm thì mới hết. 3. Kỵ tuổi khi niệm và chôn Có 3 tuổi phải kỵ. Con trai trưởng nam tuổi Dần; dâu trưởng nam tuổi Mão; cháu trưởng nam tuổi Thìn. Kỵ giờ Dần Mão Thìn khi niệm phải tránh đi. Người chết không có con, dâu và cháu trưởng trên thì cần tránh anh trưởng và cha mẹ. 1/. Trước tiên , ta khởi Đại -Tiểu -Số -liên -tiết , nam khởi tại Dần đi thuận , nữ khởi tại Thân đi nghịch , tính đến tuổi người mất thì dừng lại. VD : Người mất là nam 68 tuổi Tại Dần ta khởi 10 , Mẹo là 20 , Thìn là 30 , Tị là 40 , Ngọ là 50 , Thân là 60 , Dậu là 61 , Tuất là 62 , Hợi là 63 , Tý là 64 , Sừu là 65 , Dần là 66 , Mẹo là 67 , Thìn là 68. Đến đây là đã đến tuổi người mất , ta dừng lại , chờ...tính tiếp Bước II 2/. Kế tiếp , ta lấy cung kế đó khởi tháng giêng , tính đến tháng người mất VD tiếp : Giả như người mất ở trên là mất vào tháng 6 , ngày 9 , giờ Dần Ở trên ta đã đếm tới cung Thìn là tuổi người đó , vậy cung kế là cung Tị khởi tháng 1 , Ngọ là tháng 2 , Mùi là tháng 3 , Thân là tháng 4 , Dậu là tháng 5 , Tuất là tháng 6. Đến đây ta lại dừng lại...chờ xem tính tiếp thế nào nhé ! 3/. Ta lần lượt tính như thế với ngày , rồi giờ. VD tiếp :Ở trên ta đã có tháng 6 ở Tuất , vậy nhích tới Hợi là mùng 1 , Tý là mùng 2 , Sửu là mùng 3 , Dần là mùng 4 , Mẹo là mùng 5 , Thìn là mùng 6 , Tị là mùng 7 , Ngọ là mùng 8 , Mùi là mùng 9. Vậy thì tới cung Thân là giờ Tý , cung Dậu là giờ Sửu , cung Tuất là giờ Dần. Bây giờ ta chỉ việc tra vào xem các cung năm tháng ngày giờ rơi vào cung nào thôi : Các cung TÝ _ NGỌ _ MẸO _ DẬU là Thiên Di Các cung THÌN _ TUẤT _ SỬU _ MÙI là Nhập Mộ Các cung DẦN _ THÂN _ TỊ _ HỢI là Trùng Tang Vậy các cung của VD này là Nhập Mộ hết , vậy là người chết đó tận số rồi vậy. Như thế con cháu sau này sẽ làm ăn khấm khá. Thường thì có cung này có cung khác , hễ càng có nhiều cung Trùng Tang chừng nào thì việc Trùng càng bị nặng thôi." ( dienbatn ghi lại từ bạn đồng tu Pháp vân ). Theo duonghoainam61 : " Trong phép tính trùng tang ta phải biết tiên lượng :trùng ngày nặng nhất-Trùng thất xa. trùng tháng nặng nhì-Trùng tam xa. trùng giờ nặng 3-trùng nhị xa trùng năm nhẹ nhất -trùng nhất xa. Ngoài ra cứ chết vào năm tháng ngày giờ :lol:ần,thân,tỵ,hợi thì cũng bị trùng tang theo phương đồ trên .Năm tính năm,ngày tính ngày... Còn phải xem người chết chôn vào ngày nào nữa để tính, nếu chết chôn: -Tháng giêng:ngày 7-19 -Tháng 2,tháng ba:ngày 6-18-30. -Tháng tư:ngày 4-16-28. -Tháng năm,tháng sáu:ngày 3-15-27. -Tháng bảy:ngày 1-12-25. -Tháng tám,tháng chín:ngày 12-24. -Tháng mười :ngày 10-22. -Tháng 11-tháng chạp:ngày 9-21. Nếu người chết mà chôn vào các ngày trên thì trong vòng ba tháng hoặc là ba năm sẽ có cha mẹ ,con cháu,anh em ruột chết nữa.Bài này khá linh nghiệm xin nhớ kỹ. Khi thấy bị phạm những điều trên rồi ,gia chủ nên tìm thầy giải hạn ngay,nên tìm các thầy tu ,cao tăng,ngoài đời thường rất hiếm.Chớ coi thường. " Có thể nhìn bảng tính sau do dienbatn thực hiện , cũng thấy dễ dàng : LIÊN QUAN GIỮA CÁC TUỔI CẦN TRÁNH KHI PHẠM TRÙNG TANG . Sách cũng viết rằng : Trùng tang Nhất xa - Ba người chết theo . Trùng tang Nhị xa - Năm người chết theo , Trùng tang Tam xa - Bẩy người chết theo . Sinh năm Kỷ Dậu nên bị Phục tang tại Địa hộ Tỵ - Tam xa . Phục - Sự quay trở lại của Vong hồn . Trùng _ Sự nhập của Vong hồn vào người sống , bắt đi theo . Trùng tang ngày là nặng nhất . Trùng tang Tháng là nặng nhì . Trùng tang Giờ là nặng thứ ba . Trùng tang Năm là nhẹ nhất . KIÊNG KỴ : Người nhà kiêng người Tam hợp tuổi , kiêng tuổi xung , kiêng tuổi Hình với Vong mệnh . Kỵ Long - Hổ - Kê - Xà tứ sinh Nhân ngoại ( Người khách các tuổi Thìn - Dần - Dậu - Tỵ không được có mặt khi khâm liệm ) . Kiêng người có cung phi Bát trạch xung khắc với Vong mệnh . Kiêng khóc thành tiếng khi đang liệm . Một bài của Trường Minh ( NCD ) về Thần Trùng : VỤ 30 : THẦN TRÙNG . Cách này ở nhiều sách hay lầm lẫn với các ngày Trùng Tang , Tam Tang , Trùng Phục...Thần Trùng là trong gia quyến , thân chủ có người chết nhằm ngày đó , nếu không Nhương Ếm thì sẽ bị tai họa chết trùng , người ta gọi là Trùng Tang Liên Táng , trong thân sẽ có người chết tiếp. Những ngày đã nói ở trên không kỵ chết mà chỉ kỵ những việc an táng , tẩn liệm , mặc đồ tang , chôn cất , xả tang... Còn như chết nhằm ngày Thần Trùng mới đáng sợ. Sau đây là ngày Thần Trùng : _ Tháng 1,2,6,9,12 : Chết nhằm ngày Canh Dần hay Canh Thân là phạm Thần Trùng " Lục Canh Thiên Hình ". Nếu thêm thấy năm tháng cũng vậy là càng nặng. _ Tháng 3 : Chết nhằm ngày Tân Tị hay Tân Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Tân Thiên Đình " , nếu gặp thêm năm , tháng nữa càng nặng hơn _ Tháng 4 : Chết nhằm ngày Nhâm Dần hay Nhâm Thân là phạm Thần Trùng " Lục Nhâm Thiên Lao " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng _ Tháng 5 : Chết nhằm ngày Quý Tị hay Quý Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Quý Thiên Ngục " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng _ Tháng 7 : Chết nhằm ngày Giáp Dần hay Giáp Thân là pahm5 Thần Trùng " Lục Giáp Thiên Phúc " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng _ Tháng 8 : Chết nhằm ngày Ất Tị hay Ất Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Ất Thiên Đức " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng _ Tháng 10 : Chết nhằm ngày Bính Dần hay Bính Thân là phạm Thần Trùng " Lục Bính Thiên Uy ". nếu gặp thêm năm tháng càng nặng _ Tháng 11 : Chết nhằm ngày Đinh Tị hay Đinh Hợi là phạm Thần Trùng " Lục Đinh Thiên Âm " , nếu gặp thêm năm tháng càng nặng NCD 3/ CÁCH HÓA GIẢI TRÙNG TANG LIÊN TÁNG : ( Còn tiếp - dienbatn )
-
NHỮNG VIỆC CẦN LÀM TRƯỚC KHI QUY TẬP MỘ PHẦN . 1/ KIỂM TRA XEM CÓ MỘ KẾT KHÔNG : ( Một ngôi mộ kết phải phá bỏ khi làm đường LÁNG - HÒA LẠC ) .Mộ kết là mộ khi đặt vào vùng có trường khí tốt , đã quán Khí ( tức là thu nhận được năng lượng của Địa Huyệt ) . Gia đình có mộ Kết thường là đang làm ăn phát đạt , con cháu học hành , công tác đều tốt . Bản chất của việc kết mộ , hiện chưa có một tài liệu nào nói cho rõ ràng cả , song trong quá trình đi khảo sát hàng trăm ngôi mộ , dienbatn có nhận xét như sau : Thường là do phúc phận của dòng họ tới ngày thịnh phát , nên có thể do chủ định ( Nhờ thày Địa lý đặt mộ ) , hoặc do vô tình ( thường là trường hợp Thiên táng rất bất ngờ ) đặt được vào trúng Long Huyệt ( Hay còn gọi là vùng có năng lượng tập trung ) . Đừng cứ tưởng là chỉ có những Long mạch khổng lồ kết Huyệt mới có mộ kết . Bản thân dienbatn đã chứng kiến nhiều trường hợp chỉ có một con Long nhỏ cũng đủ để kết mộ và gia đình của họ làm ăn rất phát đạt . Việc phân biệt mộ thường ( có thể bốc hay di dời ) với những ngôi mộ Kết ( Tuyệt đối không được di dời ) , thực ra cũng cần phải hết sức cẩn trọng . Theo nhận xét của dienbatn , thứ nhất là : những ngôi mộ Kết , thường thì đất ngày càng nở ra , làm cho ngôi mộ cứ to dần , nhiều khi to như một cái gò . Mặt khác , cây cối trên và xung quanh ngôi mộ thường là rất xanh tốt ( Đây là biểu hiện của vùng đất có Sinh Khí ) . Thứ hai có thể nhìn nhận một cách trực quan một ngôi mộ Kết là : những viên gạch , nhất là gạch men hay đá ốp vào mộ thường sáng bóng như có chùi dầu . Thông thường , các ngôi mộ , ít chăm sóc lau chùi thường xuyên thường có bám một lớp bụi ( dày hay mỏng do nhà chủ có thường xuyên chăm sóc hay không ) , nhưng tại những ngôi mộ Kết , ta thấy những viên đá hay gạch ốp vào luôn như vừa được chùi rửa sạch sẽ , sáng bóng . Một cách khác nữa là khi ngồi bên một cái mộ Kết , ta cảm thấy như có một luồng hơi ấm áp , tràn đầy Sinh lực thấm vào người , làm cho ta cảm thấy cực kỳ thoải mái , dễ chịu . Để có thể xác định được mộ có Kết hay không , ngoài những nhận xét về tình trạng bên ngoài như trên , ta còn cần phải nhờ các thày Địa lý có kinh nghiệm hoặc nhờ các nhà Ngoại Cảm xem xét giúp . Có nhiều dạng kết mộ , thông thường là kết từ đầu tới chân hay từ ngực kết ra xung quanh . dienbatn chưa thấy có hiện tượng nào kết từ chân lên cả . Về hình dạng của sợi kết , có thể là các dạng giống như những dây tơ hồng bám vào xương , hay giống như mạng nhện bao phủ bộ xương , một loại khác nữa là giống như những sợi thủy tinh trắng giăng đầy quan tài . Mộ kết tốt nhất là các sợi tơ có màu đỏ như chu sa , sau đó là màu vàng và cuối cùng là màu trắng hay xám . Một số ngôi mộ Kết : Việc một ngôi mộ đang Kết mà vô tình bốc lên , có thể xảy ra vô vàn tai họa , nặng thì chết người , nhẹ thì đau ốm , làm ăn lụn bại , con cháu mất đoàn kết , hư hỏng , trong nhà xảy ra nhiều chuyện quái dị . Mong rằng , mọi người đừng xem nhẹ việc này . 2/ KIỂM TRA NGÀY BỐC VÀ DI DỜI MỘ . A/ Trước hết cần lưu ý trong việc chọn ngày : Theo lịch Âm , tháng đủ có 30 ngày , tháng thiếu có 29 ngày . Tuy lịch xếp là vậy , xong , trong việc chọn ngày không phải cứ giở lịch ra thấy ngày 29 hoặc 30 đã là hết tháng . Ta cần phải căn cứ vào 24 tiết khí hay chỗ nào hòa trực ( Tức là hai trực giống nhau nằm kề ngày nhau ) , lúc đó mới sang tháng khác . Bởi vậy , nhiều khi đã leo qua tháng mới theo lịch 5-7 ngày mà vẫn phải tính theo tháng cũ . Nên để ý là đầu tiết bao giờ cũng đi liền 2 trực giống nhau , một trực là ngày cuối tháng , một trực là ngày đầu tháng . 12 trực KIẾN - TRỪ - MÃN - BÌNH - ĐỊNH - CHẤP - PHÁ - NGUY - THÀNH - THÂU - KHAI - BẾ , mỗi ngày là một trực . Các trực tốt nên sử dụng như sau : · Tröïc Thaønh, tröïc Maõn ña Phuù quyù . · Tröïc Khai , tröïc Thaâu hoïa voâ öông ( Hoïa khoâng tôùi ) . · Tröïc Bình , tröïc Ñònh höng nhaân khaåu . B/ Một lưu ý nữa là khi coi ngày : Coi đám cưới phải theo tuổi chú rể ; Coi làm nhà phải coi theo tuổi người chồng , vợ hay cô dâu là phụ thuộc nên không bị ảnh hưởng gì ; Coi ngày giờ tẩm liệm , chôn cất , bốc mộ thì phải coi theo tuổi của người chết . C/ Tuổi và ngày nên chọn theo Tam hợp , Lục hợp , Chi đức hợp , Tứ kiểm hợp . Tránh các ngày Lục xung , Lục Hình , Lục hại . Về Ngũ hành nên chọn ngày tương sinh hay tỷ hòa , tránh chọn ngày tương khắc . D/ Tùy theo tháng mà khi bốc hay di dời mộ , cần phải tránh thêm các ngày Trùng tang , trùng phục , Tam tang , Thọ tử Sát chủ , Nguyệt phá , Thiên tặc Hà khôi ... Thông thường , khi bốc hay di dời mộ , người ta tránh làm vào các tháng hè nóng nực mà thường chọn vào các tiết từ cuối thu ( Thu phân - Hàn lộ ..) cho tới trước tiết Đông Chí . Sau đó qua năm thường chọn từ Kinh chập , Xuân phân tới tiết Thanh Minh . E/ MỘT SỐ NGÀY CẦN QUAN TÂM : 1/ NGÀY ÁC SÁT : Các ngày Giáp , Canh Tý - Giáp Tuất - Quý Mùi - Mậu Thìn - Ất Hợi - Mậu Dần . Không kể tháng nếu gặp các ngày này là Ác Sát .2/ NGÀY THẬP ÁC ĐẠI BẠI : Giáp , Canh Thìn - Ất , Tân Tỵ - Bính , Nhâm Thân - Đinh Dậu - Mậu Tuất - Kỷ Sửu , Hợi . 3/ NGÀY BẠCH HỔ ĐẠI SÁT : Tuần Giáp Tý : Ngày Thìn , Tuất . Tuần Giáp Tuất : Ngày Đinh Sửu . Tuần Giáp Thân : Ngày Bính Tuất . Tuần Giáp Ngọ : Ngày Ất Mùi . Tuần Giáp Thìn : Ngày Quý Sửu . Tuần Giáp Dần : Ngày Nhâm Tuất . 4/GIỜ THIÊN LÔI : Ngày Giáp , Ất giờ Ngọ . Ngày Bính , Đinh giờ Tuất . Ngày Canh , Tân giờ Sửu . Ngày Nhâm , Quý giờ Mão . 5/ THIÊN SƯ SÁT THEO GIỜ : Ngày Dần , Thân , Tỵ , Hợi giờ Thìn , giờ Hợi . Ngày Tý , Ngọ , Mão , Dậu giờ Thìn , Dậu . Ngày Thìn , Tuất , Sửu , Mùi giờ Thìn , Mùi . 6/ GIỜ KHÔNG VONG : Ngày Giáp Thân giờ Kỷ Dậu . Ngày Ất Mùi giờ Canh Ngọ . Ngày Bính Thìn giờ Tân Tỵ . Ngày Đinh Mão giờ Nhâm dần . Ngày Mậu Tý giờ Quý Sửu . 7/ GIỜ NHẬP QUAN KIÊNG HỒN NGƯỜI SỐNG : Ngày Giáp , Ất giờ Mão .Ngày Bính , Đinh kiêng giờ Sửu . Ngày Mậu , Kỷ kiêng giờ Hợi . Ngày Canh , Tân kiêng giờ Sửu . Ngày Nhâm , Quý kiêng giờ Thìn . 8/ NGÀY SÁT SƯ : Ngày Giáp Tý , Canh Ngọ : xấu với người nhà . Ngày Bính Tý , Ất Mùi : Sát người Thày . Ngày Nhâm Tý : Không lợi cho tất cả . 9/ NGÀY THẬP ÁC ĐẠI BẠI KIÊNG VIỆC HUNG : - Năm Giáp Kỷ - Tháng 3 - Ngày mậu Tuất .Tháng 7 - Ngày Quý Hợi . Tháng 10 ngày Bính Thân . Tháng 11 ngày Đinh Hợi . Năm Ất , Canh - Tháng 4 ngày Nhâm Thân . Tháng 9 ngày Ất Tỵ . Năm Mậu , Quý : Tháng 6 ngày Kỷ Sửu . Năm Bính , Tân : Tháng 3 ngày Tân Tỵ . Tháng 9 ngày Canh Thìn . Tháng 10 ngày Giáp Thìn . Năm Đinh , Nhâm không phải kiêng . 10/ GIỜ LIỆM KIÊNG MỘC VÂY QUANH QUAN TÀI : Ngày Tý giờ Dậu . Ngày Sửu giờ Ngọ . Ngày Dần giờ Dần . Ngày Mão giờ Sửu . Ngày Thìn giờ Tuất . Ngày Tỵ giờ Tỵ. Ngày Ngọ giờ Thìn . Ngày Mùi giờ Hợi . Ngày Thân giờ Thân . Ngày Dậu giờ Mùi . Ngày Tuất giờ Mão . Ngày Hợi giờ Tý . dienbatn đã post cuốn ĐỔNG CÔNG TUYỂN TRẠCH NHẬT YẾU LÃN trong Blog này , các bạn theo sách mà dùng là an tâm không cần phải đi Thày xem ngày . 3/ CÔNG VIỆC CẦN CHUẨN BỊ TRONG NGÀY BỐC HAY DI DỜI MỘ . Thông thường sau khi chọn được ngày bốc mộ , người Thày cũng cần phải xem giờ bốc mộ cho thân chủ . Tùy theo giờ tốt mà bốc , nhưng tất cả cùng phải chung một điều là bốc mộ phải làm vào ban đêm . Việc này nhằm tránh cho xương cốt gặp ánh sáng sẽ bị đen đi . Khi bốc mộ , người ta thường đào trước phần lớp đất ở phía trên trước , sau đó đúng giờ tốt mới bắt đầu mở tấm ván Thiên lên ( Tấm ván Thiên là tấm ván trên nóc quan tài ) . Trước khi tiến hành bốc mộ , người nhà phải có làm một cái lễ tại Gia tiên để trình báo Tổ tiên . Tại nơi bốc hài cốt ngoài nghĩa trang cũng phải có một cái lễ trình Quan Thần Linh sở tại . Thông thường là một bộ đồ Quan Thần Linh ( Áo , mũ , ủng ) , ngựa và 1000 vàng hoa màu đỏ , giấy tiền vàng bạc , trầu cau , rượu , thuốc , đèn nến , gạo muối . Nhiều nhà còn cúng thên Tam sên ( trứng vịt luộc + Thịt lơn luộc và một nhúm tôm khô bóc vỏ ) , xôi , gà trống luộc nguyên con .... Vật dụng cần thiết cho quá trình bốc mộ là một cái tiểu sành , một cái quách đặt làm sẵn , một miếng vải đỏ , một tấm ni lông , vài chai rượu nặng và nước Vang ( Còn gọi là nước ngũ vị hương - Đừng nhầm với gói ngũ vị hương để nấu Ca ri - Gói Vang có bán sẵn ở tiệm thuốc Bắc ) . Một vài cái xô , chậu nhựa để rửa xương . Phần lớn việc bốc mộ diễn ra vào lúc nửa đêm, tuy nhiên tốp thợ thường phải thức trọn đêm cùng gia chủ làm công việc chuẩn bị như cúng bái và chuyển hài cốt sang mộ mới. Trung bình để bốc xong một ngôi mộ, mỗi tốp thợ phải làm việc quần quật suốt hơn một tiếng đồng hồ. Trước khi đào, họ phải xác định vị trí huyệt thật chính xác, nhiều ngôi mộ do chôn thời gian lâu, quá trình tu sửa bị sai lệch vị trí so với ban đầu, nếu không biết cách sẽ phải đào rất vất vả, có khi đào nhầm sang mộ bên cạnh. Công việc bốc mộ thường là do những người chuyên môn bốc mộ đảm nhiệm . Khi ván Thiên được cậy ra , người ta phải đổ vài chai rượu có nồng độ cao vào quan tài để tảy rửa âm Khí . Sau đó mới tiến hành lấy cốt . Nhiều khi gặp trường hợp hài cốt chưa phân hủy hết , người ta phải dùng xăng đổ vào mộ và đốt cháy thịt còn sót , sau đó phải dùng dao dóc những mảnh thịt còn lại và đem rửa bằng nước vang . Sau khi nhặt hết cốt , rửa sạch , người ta trải tấm ni lông ở dưới , tấm vải đỏ ở trên và lần lượt xếp xương theo thứ tự của người . Riêng cái sọ phải dùng trà hoặc vải kê để cho mặt hướng lên trên . Mọi thứ xương phải kiểm tra cho đủ , không được phép thiếu .Có một cách mà dân gian thường sử dụng để kiểm tra đó là: sau khi “đãi cốt” xong, người ta thường cắm một bó hương to giữa lòng đáy huyệt, nếu làn khói quyện lại, bay thẳng lên có nghĩa đã hết cốt, nếu làn khói tỏa xuống, lởn vởn trong lòng huyệt có nghĩa là xương cốt của người chết chưa hết, cần phải kiểm tra lại. Sau khi hoàn tất , người ta đóng nắp tiểu lại . 2/ VÍ DỤ CHỨNG NGHIỆM THỨ NHẤT: Tại Huyện Đức Thọ có một khu vực khác nữa kết phát Long Huyệt với tình thể rất lớn. Đây là một khu vực ven bờ sông La ( Ở phía ngoài đê chính - Ở ngoài có một con đê phụ ) . Con sông La và một nhánh của nó ôm vòng lấy một cánh đồng rất rộng - Trong đó có khu địa Huyệt . Con sông La và nhánh của nó chảy tới đây lững lờ như quyến luyến không muốn đi . Nhánh của sông La chảy nghịch Thủy , tạo thêm sinh khí rất mạnh cho toàn khu vực . Tại khu vực này là một vùng có Long khí rất mạnh , nơi phát tích nhiều đời Vua , Quan thuộc loại Tứ trụ Triều đình . Trở lại vùng Địa Huyệt đang xét , ta nhận thấy đây là một bày Long rất lớn có dạng như một bày Quy ( Rùa ) . Cách bờ sông chừng 500 m là cả một bày Quy có dáng như vừa bò từ dưới sông lên . Tại khu vực Địa Huyệt là một con Quy rất lớn đang đẻ trứng , đầu Quy hướng về phía cung Khôn , đuôi Quy về cung Cấn . Ổ Trứng Quy nằm trong cung Quý . Toàn bộ 4 ngôi mộ Tổ dòng họ Hà được đặt trong ổ trứng này . Chỉ tiếc là tại hướng Chấn - Phía Đông có mấy lò gạch đã đào đất làm gạch rất sâu , phá mất Long mạch tại chi Thứ ( Thường là những vùng có Long mạch , đất kết thành loại đất sét rất tốt cho làm gạch ) . Do vậy Long mạch này chỉ phát được chi Trưởng , làm đến chức Tam công mà chi Thứ lại vẫn yếu hèn . Đằng trước Long Huyệt có những gò đất nổi lên hình cái Trống , cái Bảng , lá cờ. Do vậy mà con cháu những người táng tại khu vực này học rất giỏi và thành tài ở khắp nơi trong và ngoài nước. Khu vực Long Huyệt này nằm tại làng Vĩnh Đại - Xã Đức vinh - Huyện Đức Thọ - Tỉnh HÀ TĨNH . ( Trích trong BÍ MẬT ĐẰNG SAU NHỮNG THÀNH ĐẠT CỦA CON NGƯỜI TẠI MỘT VÙNG QUÊ HÀ TĨNH . ) dienbatn đã về khảo sát và nghiên cứu rất kỹ hình thế tại khu vực này do lời mời của con cháu dòng họ Hà ( Trong đó có anh Hà Thạch - Hiện là Phó Chủ tịch tỉnh Hà Tĩnh ) . Để có thể hóa giải việc những cái Lò gạch phá nát Long mạch tại cung Chấn , làm toàn bộ các chi thứ của dòng họ không phát lên được , không thể dùng phương pháp Hoàn Long như bình thường được . Qua khảo sát , dienbatn biết rằng , trong nghĩa trang còn có mộ của cụ Hà Văn Đô là cụ đời thứ 5 của dòng họ , chưa được xây mộ , hiện tại chỉ có một nấm mộ đất thấp tè . Những người trong họ cho biết tên , năm sinh , năm mất của cụ Hà Văn Đô để dienbatn làm lễ . Trong suốt 3 ngày liền làm lễ , vong hồn của cụ Đô không có một ấn chứng và biểu hiện gì cả . Tức quá , dienbatn điện về hỏi chị Mai tại Thái Bình . Qua điện thoại , chị Mai cho biết là người nhà đã cung cấp sai năm sinh , năm mất của cụ , nên cụ tự ái không về . dienbatn liền nhờ các cụ lớn tuổi trong dòng họ Hà xem lại và quả đúng như chị Mai nói , các số liệu về năm sinh của cụ Đô lần trước là không chính xác . Lần thứ tư làm lễ , thỉnh vong của cụ Đô về là cụ về liền . Lần này cụ còn hăng hái chỉ vẽ cho cách làm , kiểu dáng của mộ cụ như thế nào . Khi dienbatn ngồi tịnh trong Đàn tràng , hình thế mộ của cụ Đô thấy thật rõ nét và cứ như là một hình ảnh 3D vậy . Ngày hôm sau , cứ nguyên mẫu mộ do cụ Đô chỉ , dienbatn vẽ kiểu cho thợ làm . Kết quả là nấm mộ của cụ Hà văn Đô như hình các bạn thấy ở trên . Cũng trong lần làm mộ cụ Đô , dienbatn tiến hành lập BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN , di chuyển cung Chấn về phương vị khác . Kết quả thật khả quan , chỉ 100 ngày sau , các chi thứ đã bắt đầu có những tiến bộ đáng kể trong quan trường . Đây cũng là một kỷ niệm khó quên tại Hà Tĩnh của dienbatn . dienbatn và anh Hà Thạch - PCT tỉnh Hà Tĩnh ) . MỘT CHÚT KIẾN THỨC ĐỘN GIÁP TRONG BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN . ( Mến tặng người bạn thời thơ ấu ở phố NHÀ CHUNG - HÀ NỘI .) Như dienbatn đã viết ở phần đầu : " Theo sử sách còn truyền lại,từ khi Phục Hy lập ra Bát quái định Thiên đồ,xa thì trông Thiên văn,đại Địa,gần thì trông ở người,vật,toàn đồ Vũ trụ quan bao gồm Thiên -Địa -Nhân.THIÊN :Tinh ba là Nhật -Nguyệt -Tinh. ĐỊA :Tinh ba là Thủy -Phong -Hỏa. NHÂN :Tinh ba là Tinh -Khí -Thần. Tất cả các thành phần trên gọi chung là Đại đạo,mỗi thành phần đều sống động. THIÊN ĐẠO :Là sự vận hành các phần tử Thiên hà,Thiên hệ,Tinh tú châu lưu an toàn trong khoảng không theo một trật tự nhất định. ĐỊA ĐẠO :Thủy -Hỏa-Phong châu lưu khắp nơi nhằm sinh hóa và nuôi dưỡng vạn vật. NHÂN ĐẠO :Là cái đức lớn của Thiên -Địa,Tinh khí tươi nhuận thì Thần mới minh. Vũ trụ toàn đồ luôn sống động,nếu ngưng ,nghỉ tức là hoại ,là diệt. Một Cảnh giới hài hòa tạo được sự an lạc,hạnh phúc cho mọi người tức là cả ba thành phần phải tốt tương ứng thể hiện đủ đức tính của Đại đạo.Vì thế ,các bậc Tiền nhân luôn có ước muốn tạo cho mình và cộng đồng một Cảnh giới Chân -Thiện -Mỹ,họ chiêm nghiệm ,học hỏi từ Thiên nhiên địa vật,tạo nên nền tảng Kiến trúc .Nhân giới luôn hài hòa với Tam tài (Thiên văn,Địa thế,Nhân sinh ),nên gọi là thuật Phong thủy.Phong thủy cũng dựa vào trên nền tảng Quái đồ,Hà Lạc. " 1/ TRONG HỆ TỌA ĐỘ THỜI GIAN CỦA THẾ GIỚI LOÀI NGƯỜI: Vạn vật và loài người trên Trái Đất khi vận động và sinh tồn đều phải chịu ảnh hưởng của ba yếu tố Nhật - Nguyệt - Tinh . Đây chính là những năng lượng cực kỳ hùng hậu tác động vào môi trường sống của con người và muôn loài trên TRÁI ĐẤT ( Ở đây ta cần phải mở ngoặc nói rõ là trên Trái Đất chứ chưa phải là trên mọi chiếu không gian khác nhau ) . Vạn vật trên Trái đất chịu sự chi phối , tác động của Nhật - Nguyệt - Tinh theo từng vị trí không gian tức thời , tức là theo từng lát cắt của Thời gian . Theo từng tọa độ tức thời của Thời gian ( hay lát cắt ) , mà mọi vật có những thù hình khác nhau về tính nết , sức khỏe , tuổi thọ , sự thành đạt . .. Trong Tử vi , Bát tự Hà - lạc , Tử Bình , Tứ trụ , người ta đều dựa trên đặc tính , tính chất của Nhật- Nguyệt - Tinh tại từng thời điểm đó mà tính toán vận mệnh của con người . Từ xưa , các nhà nghiên cứu về Dịch học cho rằng : nếu Thiên can là Ất - thì chu kỳ vận động của nó là Ất kỳ , tương ứng với sự ảnh hưởng vận động của Mặt Trời ; Nếu Thiên can là Bính - thì chu kỳ vận động của nó là Bính kỳ , tương ứng với sự ảnh hưởng vận động của Mặt trăng ; nếu Thiên can là Đinh - thì chu kỳ vận động của nó là Đinh kỳ , tương ứng với sự ảnh hưởng vận động của các Tinh tú . Chu kỳ vận động của Tam Kỳ ( Ất kỳ , Bính kỳ , Đinh kỳ ) và sáu nhóm Thiên can : Mậu , Kỷ , Canh , Tân, Nhâm , Quý phản ánh tác động của Nhật- Nguyệt - Tinh lên vạn vật trên Trái Đất , tạo ra những tính chất cá biệt của số phận vạn vật và con người . Trong Thập thiên can , vị trí Giáp bị ẩn đi ( nên gọi là ĐỘN GIÁP ) . Có lẽ ngày xưa các nha nghiên cứu đã nhận xét sự tác động của 9 hành tinh trong hệ Mặt trời nên đã tính toán tác động của 9 hành tinh này qua 9 vận hạn của con người ( Thái Dương , Thái Âm , La Hầu , Thổ Tú , Thủy Diệu , Thái bạch , Kế Đô , Vân Hớn ) và 9 hạn ( Huỳnh Tuyền , Tam kheo , Ngũ Mộ , Thiên Tinh , Toán Tận ,Thiên La , Địa Võng , Diêm Vương ) . Độn Giáp còn có một tên khác nữa là Thái Ất ( Thái tức là quá ). Trong vòng vận động các vị trí không gian , lần lượt tính chất âm dương được biểu thị qua Thập Thiên can . Giáp - Dương , Ất - Âm ...Trong trường hợp này , khi Giáp đã ẩn đi , can Ất lại đứng đầu trong chu kỳ vận động của Nhật- Nguyệt - Tinh , phần nào Ất bị thái quá nên các nhà Dịch học gọi là Thái Ất . Để có thể tính toán từng vị trí tức thời các tác động của Nhật- Nguyệt - Tinh lên Trái đất , người ta đã định lượng về Âm - Dương ( Tỷ lệ ) tại từng Tiết Khí ( Một năm có 24 Tiết Khí - Đây là đơn vị Thời gian của Độn Giáp ) , tỷ lệ đó người ta gọi là CỤC . Như vậy , người ta đã xây dựng được Hệ thức lượng Độn Giáp ( Tức là tỷ lệ ÂM - DƯƠNG theo đơn vị Thời gian là Tiết Khí ) và qua đó người ta có thể dự đoán về sự diễn biến các sự vật , con người được sinh ra tại lát cắt Thời gian đó . 2/ TRONG MỌI CHIỀU KHÔNG GIAN TÍNH THEO HỒNG BÀNG DỊCH : Việc tính toán này không chỉ áp dụng cho con người trên Trái đất , mà có thể tính toán cho tất cả các Thế giới vô hình khác ở các chiều Không gian khác nhau , dienbatn xin không nêu ra ở đây vì tính chất cực kỳ phức tạp của nó . Riêng Thế giới loài người trên Trái Đất , ở hệ Tọa độ Đề các là không gian 3 chiều , kết hợp chiều của Thời Gian , người ta chia ra làm 4 Kỷ Nguyên của Nhân loại ( Điều này Dịch học bình thường chưa hề có khái niệm ) . Bốn Kỷ nguyên đó là : 1/ KHẢM - THÁI ÂM TẠI HƯỚNG BẮC - Kỷ Nguyên THÁI ÂM ( HỦY ) - HẬU THIÊN LÀ CHỦ ĐẠO . 2/ CHẤN MỘC HƯỚNG VỀ BẮC - KỶ NGUYÊN THIẾU DƯƠNG ( THÀNH ) - TIÊN THIÊN LÀ CHỦ ĐẠO . 3/ LY - THÁI DƯƠNG HƯỚNG VỀ BẮC - KỶ NGUYÊN THÁI DƯƠNG ( THỊNH ) - TIÊN THIÊN CHỦ ĐẠO . 4/ ĐOÀI - THIẾU ÂM HƯỚNG VỀ BẮC - KỶ NGUYÊN THIẾU ÂM ( SUY ) - HẬU THIÊN CHỦ ĐẠO . Đó là 4 pha quan trọng nhất trong quá trình tiến hóa nhân loại . Trong BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN , người ta dùng thuật toán Thái Ất để tính được vòng sao BÁT TƯỚNG LÂM MÔN , từ đó có thể biết được những thăng trầm của ngôi mộ , từ đó có cách xử lý thích hợp khi thời gian thay đổi . Trong việc dùng BÁT QUÁI THIÊN ĐỒ TRẬN để hóa giải những điều bất lợi cho khu mộ dòng họ Hà , dienbatn đã thực hiện việc xử lý một ngôi mộ Tổ của dòng họ theo Thái Ất và kết quả là có một ngôi mộ như hình sau . Thời gian qua đã chứng minh cách xử lý đó hoàn toàn chính xác . Tác Giả:dienbatn. Nguồn:Blog360plus.dienbatn
-
Thân chào htv. Sau vài ngày tìm hiểu về phần mộ kết của anh Châu Thế Vinh và sư huynh Thiên Đồng. Thì Trung nhận ra một vài điều về phần mộ kết. 1. Quan sát phần mộ, mộ có vẻ to hơn so với mộ bình thường. 2. Cỏ mọc xung quanh mộ rất tốt,um tùm. 3.Khi đào mộ kết lên sẽ thấy trong hài cốt người đã khuất một vài biều hiện sau,có một ít tơ màu trắng, đỏ, xanh, xám như màn nhện bao xung quanh( Đỏ rất phát). 4. Đất đào lên rất cứng so với bình thường. Trung tìm hiểu về vấn đề này, vì chính gia đình Trung lúc xưa cũng đã xảy ra đào mộ kết do cố ý của người con dâu. Mộ kết đó chính là mộ của Ông Cố Ngoại Trung. Người con dâu này đào hòm lên để bán, mộ ông cố ngoại Trung đang kết chuẩn bị phát.Rễ dây tơ hồng đang băng(rất tốt). Khi đào mộ xong người con trai trưởng của bà này và chồng bà này đã chết oan uổng. và hậu quả là bên ngoại đã suy bại, tán gia bại sản đến đời thứ 3, trong đó có nhà của Trung...Một vài thông tin trên diễn đàn cho mọi người tham khảo để tránh. Hình ảnh mộ kết. Thân. Lê Bá Trung
-
Dạ hình như bài viết này của Vinh L. Cám ơn sư phụ Thiên Sứ rất nhiều. Kính chúc sư phụ nhiều sức khỏe, và thành công trong giai đoạn sắp tới. Kính gửi. Lê Bá Trung.
-
Chúng ta có cơ sở để tự hào về dân tộc chúng ta - tự hào về hơn 4000 năm văn hiến. Văn minh dưới thời vua Hùng giữa Trung Hoa và nước Việt chúng ta không có sự khác biệt, có những lĩnh vực chúng ta hơn hẳn người phương Bắc. Vấn đề là ở chỗ người Hán âm mưu đồng hóa dân Việt mình, cho nên họ đã cấm người Việt học chữ khoa đẩu, là chữ viết riêng của dân Việt. Khi người Việt không đọc được chữ của mình thì lịch sử, văn học, văn minh của một dân tộc không còn nữa. Người Việt chúng ta đã bị biến thành dân mọi rợ ngu dốt, học chữ Hán để chúng dễ dàng biến dân Việt thành dân Hán. Theo những nghiên cứu dựa vào chữ khoa đẩu dưới thời Lý thì lúc đó (thời Hùng Vương) bên đất Việt mình văn minh, võ học, tư tưởng, học thuật có phần hơn Trung Quốc. Về võ học, sử sách còn ghi Vạn Tín hầu Lý Thân thắng các cao thủ trong triều Tần Thủy Hòang, giúp xây Vạn Lý Trường Thành, đánh giặc Hung Nô. Chúng ta có chữ khoa đẩu từ xưa ghi lại văn minh thời vua Hùng, văn minh thời Lĩnh Nam đều chép bằng loại chữ này. Đến thời Hai Bà Trưng, công chúa Phùng Vĩnh Hoa cũng đã tìm được 74.988 bộ sách đã được viết trong suốt các triều đại lịch sử trước kia. Kinh thì có các bộ Bách Tộc, Kinh Dương, Lạc Long... Những sách chép về y học, thiên văn học, lịch số học, cùng với hàng nghìn bộ sách lặt vặt rất nhiều. Có thể nói, lúc đó văn minh hai nước Trung-Việt ngang nhau. Khi Mã Viện đánh thắng Hai Bà Trưng rồi chiếm lấy nước ta, Mã Viện đã ra lệnh thu hết sách vở chở về Lạc Dương, cấm học chữ khoa đẩu hoặc trong nhà người nào có sách bằng chữ khoa đẩu sẽ bị bắt để cho dân Việt chúng ta không còn biết nguồn gốc và xem chúng ta giống như các bộ tộc man di mọi rợ. Cái thành công của tụi Hán là làm cho chúng ta tin mình như vậy. Vì những thư tịch cổ của mình bị mất nên tụi Tàu nó muốn chép láo lếu về dân Việt của mình như thế nào cũng được vì tụi nó nghĩ rằng không còn ai biết để mà sửa lại. Trong bộ Hậu Hán thư của Phạm Việp còn ghi rằng dân Việt lúc đó không biết lễ nghĩa và chính Sĩ Nhiếp là người đầu tiên dạy dân Việt học chữ Hán với lễ nghĩa. Thế mà ngày nay nhiều người Việt còn coi bộ sách này làm khuôn vàng, thước ngọc để tra cứu sử Việt. Cũng may là đến thời nhà Lý vẫn còn công chúa Bình Dương con vua Lý Thái Tông và một số người vẫn còn biết chữ khoa đẩu để mà ghi chép lại, nếu không thì không biết đâu mà tìm. Nếu chúng ta không có 1 nền văn minh tích tụ trước từ thời vua Hùng, người Việt không có nguồn gốc lịch sử, văn học hay võ thuật không thể tự nhiên tình cờ có Hai Bà Trưng cùng với 162 vị anh hùng nổi lên đánh những trận kinh thiên động địa như trận Trường An, Nam Hải, Hồ Động Đình, Tượng Quận... gắn liền với tên tuổi của các vị công chúa Hoàng Thiều Hoa, Thánh Thiên, Phật Nguyệt, Phùng Vĩnh Hoa làm cho tụi Hán phải chống cự vất vả. Những trận chiến kia vẫn còn vết tích để lại trên phần đất Lĩnh Nam của chúng ta mà tụi Tàu chiếm giữ đến ngày nay. Thiên cổ Miếu, thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, TP Việt Trì, nơi thờ hai vợ chồng thày giáo Vũ Thê Lang, thời vua Hùng Nhà giáo về hưu 71 tuổi Đỗ Văn Xuyền (sinh năm 1937), hiện đang sống tại Việt Trì, sau một thời gian để công nghiên cứu đã bước đầu công bố công trình hơn 50 năm trời nghiên cứu “Giải mã chữ Việt cổ” tại Trung tâm Văn hóa Người cao tuổi Việt Nam. Để phản biện kết quả nghiên cứu của ông - một số người ngoài ngành tin rằng cần có một hội đồng chuyên gia đa ngành đánh giá và kết luận. Sơ bộ, đó là một thành quả nghiên cứu công phu, nghiêm túc, phản ánh sự lao động kiên trì, giàu nghị lực của tác giả và thành quả là một đóng góp có giá trị giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cội nguồn lịch sử, văn hóa của dân tộc và có thể mở ra "cửa sổ mới" hết sức thú vị để chúng ta hiểu được các thư tịch cổSau nhiều năm nghiên cứu các Ngọc phả tại các đền thờ khác nhau rải rác khắp vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ, ông đã tìm ra 18 nơi thờ các thầy giáo, học trò từ thời An Dương Vương, Hùng Vương. Từ đó ông đưa ra một giả thiết ban đầu của mình là trước năm 186 công nguyên là năm chữ Hán được đưa vào Việt Nam thì dân tộc ta đã có chữ viết riêng - chữ Việt cổ, chữ viết đó được các thầy giáo thời Hùng Vương sử dụng. Giả thiết này hoàn toàn khác với điều đa số người Việt hiện nay vẫn cho rằng là trước khi bị Tàu đô hộ, nước Văn Lang (tức nước Việt) không có chữ viết riêng mà chỉ đến khi người Tàu qua xâm chiếm thì người Việt mới bắt đầu dùng chữ Hán để viết. Qua nghiên cứu các thư viện và tìm đọc các thư tịch trong, ngoài nước của nhiều nhà nghiên cứu tiền bối đã đi sâu vào vấn đề này: Từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: Từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... ông đều gặp may bởi họ đã khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ có liên hệ gì với chữ Quốc Ngữ? Chữ Quốc ngữ xuất hiện ở nước ta từ thế kỷ 17. Nhiều cuốn sách cổ được in từ buổi đầu chữ Quốc ngữ xuất hiện, đến nay hầu như không ai đọc được.Khi đem bộ chữ Việt cổ đã được giải mã thử đọc một số cuốn sách cổ, như cuốn “Từ điển Việt-Bồ-La” (1651) của Alexandre de Rhodes, hay cuốn “Sách sổ sang” của Philip Bỉnh (Giám mục người Việt, ở Thủ đô Bồ Đào Nha những năm 1790-1820), thầy giáo Xuyền đã rất thú vị khi dễ dàng đọc được những từ khó mà lâu nay nhiều người không đọc cũng không giải thích được. Chính từ việc này, thầy Xuyền đã đưa ra một giả thuyết: Chữ Quốc ngữ có lẽ không phải là một công trình hoàn toàn mới của Alexandre de Rhodes. Những trang viết trong cuốn “song ngữ” La Tinh- Việt cổ do ông Xuyền biên soạn. Nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ?!Giả thuyết của thầy Xuyền không phải không có căn cứ. Bởi chữ Quốc ngữ và chữ Việt cổ do ông giải mã có cùng cấu trúc ghép vần tương tự nhau, chỉ khác nhau về hình dạng mà thôi! Chính trong cuốn “Từ điển Việt-Bồ-La”, Alexandre de Rhodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, nó đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ”. Theo ông Xuyền thì “cách đọc các từ” đó nhiều khả năng là thứ chữ Việt cổ! Tôi xin góp ý về bài thơ trên bằng chữ cổ, tức là xem kỹ thì thấy:- ở từ "nghêu" thiếu chữ "-u" (phải viết thêm "c" đảo lộn) - quen viết thành "engn" ("vv" là -e-, "nb" là ng-, còn U-vuông là n/m) ->lối viết nguyên âm rất giống tiếng Khmer, Thái Quy luật đặt âm, vần của chữ Việt cổ Theo nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền: Bộ chữ do Phạm Thận Duật mô tả là bộ chữ không có dấu, trong đó 17 chữ vần bằng là phụ âm, đi với thanh không. 16 thể chữ theo vần trắc là phụ âm đi với thanh huyền. 11 nét phụ (tứ bàng phụ họa) cho những từ vần bằng chính là nguyên âm. Sau nhiều năm khảo sát ở nhiều miền trong cả nước, ông sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu về chữ Việt cổ, và khu biệt được một bộ chữ gồm 47 chữ cái mà Ông tin chắc là chữ Việt cổ, vì bộ chữ này thỏa mãn được 03 tiêu chuẩn kiểm tra ký tự của một dân tộc, được các nhà khoa học đề ra, đó là:- Có ghi lại được đầy đủ tiếng nói của dân tộc đó không ? - Những đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc có thể hiện qua các đặc điểm của ký tự đó không ? - Có giải quyết được các "nghi án" về ngôn ngữ, ký tự của dân tộc đó trong quá khứ ? (Chứng minh bằng các cuộc kiểm tra thực tế ở các địa phương, bằng cách dịch lại các văn bản còn tồn nghi và đọc các văn bản cổ mới sưu tầm) Đây là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (không phải chữ tượng hình nguyên thuỷ) có cấu tạo gần với hệ chữ La Tinh của phương Tây, nên rất dễ học. Tuy nhiên bộ chữ này có một nhược điểm là những chữ nguyên âm luôn thay đổi vị trí. Phải mất nhiều năm nghiên cứu ông mới tìm ra quy luật – Quy luật đặt vị trí nguyên âm theo đạo lý người Việt (ví dụ: từ trời nguyên âm đặt phía trên, từ đất nguyên âm đặt phía dưới. Tương tự các từ cha, con nguyên âm đặt phía trước hoặc sau). Để thuộc bảng chữ cái và nắm được quy luật ghép vần , người ta có thể học sử dụng được bộ chữ này để đọc, viết trong khoảng thời gian 7-10 ngày. "Nghiêu thế, Việt thường Thị Kiến thiên tuế thần quy, Bối hữu khoa đẩu". Sách Tân Lĩnh Nam Chích quái của Vũ Quỳnh (đời Lê, thế kỷ 15) viết đại ý: Thời Lạc Long Quân có người hái củi, bắt được con rùa, lưng rộng khoảng ba thước, trên mai có khắc chữ như con nòng nọc gọi là chữ Khoa Đẩu. Hùng Quốc vương đã cử phái đoàn đem rùa thần đó cống cho vua Nghiêu. Về việc này, sách Thông Giám Cương Mục do Chu Hy đời Tống viết: “Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ IV (2352 trước Công nguyên) có Nam Di Việt Thường thị đến chầu, hiến con rùa lớn”. Sách Thông Chí của Trịnh Tiểu cũng đời Tống nói rõ hơn: “Đời Đào Đường, Nam Di Việt Thường thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần. Rùa ước được ngàn tuổi, rộng hơn ba thước, trên lưng có chữ Khoa Đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch”. - Đây còn là khởi thủy của KINH DỊCH đấy ! Một lần trên đường đi tìm kiếm ông đã dừng chân bên ngôi miếu nhỏ của một xóm núi, đọc được một bản Ngọc Phả thời Trần Thái Tông với những dòng chữ vang vọng tự hào: "Nghiêu thế, Việt thường Thị Kiến thiên tuế thần quy, Bối hữu khoa đẩu". Như vậy thời Hùng Vương, dân tộc ta đã có chữ viết với tên gọi Khoa Đẩu, đó là điều có thể khẳng định chắc chắn. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15, cuộc đốt phá hết thư khố quốc gia và thư khố của các bộ (sau cuộc tấn công vào đồn Mang Cá) của Pháp năm 1875, liệu có còn sót lại những gì? Ông Xuyền đến Sa Pa, trên tảng đá vùng Hầu Thảo, sau khi cạo lớp rêu phủ đã tìm được những chữ giống như chữ cái của Vương Duy Trinh, Hiệp biện Đại học sỹ, Tổng đốc Thanh Hóa. Trong cuốn Thanh Hóa quan phong viết năm 1903, Vương Duy Trinh đã giới thiệu một số chữ lạ sưu tập được, khẳng định đó là chữ Việt cổ từ thời Hùng Vương, và đưa ra nhận xét: “Vì Thập Châu là nơi biên viễn nên dân ta còn lưu giữ thứ chữ ấy. Các nơi khác, Sĩ Nhiếp bắt bỏ hết để học chữ Trung Quốc”. Giáo sư Hà Văn Tấn đã công bố công trình nghiên cứu “Về một nền văn tự trước Hán và khác Hán”, Giáo sư Lê Trọng Khánh thì khẳng định “Nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa Đẩu thời tiền sử để ghi tiếng dân tộc mình”. Nhớ tới câu nói của Vương Duy Trinh: "Vì thập Châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ ấy", ông hướng tìm tòi lên vùng Tây Bắc, Việt Bắc, vùng khu 4 cũ, rồi lăn lộn lên cả Đông và Tây dãy Trường Sơn để tìm theo dấu vết. Để đi được dài ngày và đi xa, với số tiền lương hưu ít ỏi, ông đã phải tính đến việc ăn ngủ giản tiện nhất, đó là: một chiếc võng bạt, một bi đông đựng nước, một ít bánh mì sấy khô và dăm gói mì tôm. Thế là ông "cầm cự" được hàng chục ngày để đi đến các vùng sâu vùng xa, quyết tìm cho ra chữ Việt cổ. Trong các tài liệu sưu tầm được, ông đặc biệt chú ý đến một bộ chữ lạ. Rất tiếc là những trang sách này đã bị nguỵ trang và khoá mã, mặc dù vậy nó đã tồn tại hàng mấy trăm năm mà không ai chú ý tới. Linh cảm mách bảo, ông đã thức nhiều đêm trắng để mày mò giải mã. Kiến thức tổng hợp và vốn ngoại ngữ đã giúp ông rất nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu chữ Việt cổ. Kết quả, ông đã khu biệt được loại ký tự này với các loại văn tự xung quanh, tìm ra được hình dạng, chức năng của từng chữ cái và cách cấu trúc của một loại ký tự mà người ta đã nhầm là chữ Mường, chữ Thái... Qua công trình nghiên cứu về ngôn ngữ người Việt cổ HauĐricourt, ông khẳng định được bộ ký tự này có từ trước công nguyên (loại ký tự bắt nguồn từ chữ Khoa đầu tượng hình chuyển sang chữ cái có ghép vần). Căn cứ vào ý kiến của giáo sư Lê Trọng Khanh: "Các dân tộc Bách Việt dùng thứ chữ này". Khi đã đọc thông viết thạo chữ Việt cổ, ông lại tìm đến các vùng người Thái, người Mường. Loại văn tự này có thể ghi được tiếng Thái, tiếng Mường nhưng không đầy đủ. Ông lại tìm đến các vùng quê Thái Bình, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thanh Nghệ Tĩnh... để lắng nghe những người già phát âm. Thứ ký tự này đã giúp ông ghi lại đầy đủ giọng nói, âm vực của họ, giúp ông giải thích được tiếng nói khác nhau của từng vùng - gần như nó đã ghi lại nguyên tiếng nói người Việt cổ. Nó đã giúp ông giải thích được nhiều vấn đề còn thắc mắc. Ví dụ: Vì sao trong tờ Le Paria và tờ L'Humanité từ những năm 20 của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Chữ Nguyễn Ái Quốc được viết là Nguyễn ái Quấc. Và trong cuốn sách sổ sáng của Filíp Bỉnh viết ở Bồ Đào Nha năm 1822, chữ huyên được viết là huên, chữ dòng được viết là dào. Cũng như vậy ông có thể chứng minh được một nền văn tự có trước Hán và khác Hán, của giáo sư Hà Văn Tấn qua việc giải thích sự tồn ghi trong cuộc khai quật của bà Cô La Ni ở Lam Giận Hoà Bình năm 1923. Tháng 9/2004, giáo sư Hà Văn Tấn đã mời ông về Hà Nội nghe ông kể lại quá trình đi tìm chữ Việt cổ và khi được ông tặng bản Hịch của Hai Bà Trưng đã chuyển sang chữ Việt cổ, giáo sư đã cảm động nghẹn ngào: "Vấn đề lớn lắm. Chúng ta phải sớm báo cáo lên nhà nước". Dịp hè năm nay, nghe tin tỉnh Sơn La tìm được hàng nghìn cuốn sách cổ có chữ lạ. Ông cầm vài tờ photo lên, đọc mà nước mắt ràn rụa. Như vậy điều dự đoán của các nhà khoa học trước đây đã được chứng minh: Thứ ký tự đặc biệt để ghi âm tiếng nói của người Việt cổ (thứ chữ dân tộc ta đã có từ thì đại Hùng Vương) đã được các dân tộc sử dụng chung và còn được lưu giữ bảo tồn ở vùng Tây Bắc cho đến ngày nay. . TIẾNG VIỆT TRÊN THƯ TỊCH CỔ Tìm về nguồn gốc chữ Việt cổ chính là những ưu tư khắc khoải của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước. Lịch sử ghi nhận vua Lê Thánh Tông (1460-1497) là một vị minh quân, không những sáng suốt trong việc trị quốc an dân mà nhà Vua còn là nhà có tài văn chương thi phú. Lê Thánh Tông là vị vua duy nhất trong lịch sử đứng đầu "Nhị thập bát tú" đã để lại nhiều tác phẩm thi văn cho hậu thế. Theo "Cổ Việt Hùng thị Thập bát Diệp Thánh Tông Ngọc Phả cổ truyền" do Hàn Lâm viện Trực học sĩ soạn năm Nhâm Thìn 1472, niên hiệu Hồng Ðức thứ 3 thì vua Lê Thánh Tôn giao cho Bảng Nhãn Nguyễn Như Ðỗ nghiên cứu về cương giới nước Việt xưa. Bản "Hùng Vương bát cảnh" do Nguyễn Như Ðỗ sưu tập thì lãnh thổ nước Văn Lang gồm:1. MIỀN GÒ NGỰA (Mã Kỳ) rộng khoảng 2.000 dặm, xưa tên là châu Ðiền nay thuộc tỉnh Vân Nam TQ. 2. MIỀN CỎ TRÂU (Ngưu Lan) rộng khoảng 1.500 dặm tức Việt Tây nay là tỉnh Quảng Tây TQ. 3. MIỀN AO CÁ (Ngư Trì) rộng 1700 dặm xưa có tên là Việt Ðông nay là tỉnh Quảng Ðông Trung Quốc. 4. MIỀN RỪNG QUẠ (Ô Lâm) xưa là châu Kiềm nay thuộc tỉnh Phúc Kiến, Quí châu giáp hồ Ðộng Ðình TQ. 5. MIỀN ÐỘNG HOA tức tức nước Phù Nam cổ rộng khoảng 1.000 dặm thời LêThánh Tôn là nước Chân Lạp. Vương quốc Phù Nam cổ ở Hạ Lưu sông Mekong, Vương quốc này tồn tại mãi đến thế kỷ thứ VI. Cương giới Phù Nam trải rộng hầu như khắp lục địa Ðông Nam Á cổ bao gồm cả miền Nam Trung Việt, Nam Việt Nam sang phía Tây gồm cả thung lũng sông Mê Nam Thái Lan. Phía Bắc tời vùng trung lưu sông Mê Kông tức lãnh thổ Lào ngày nay trải dài xuống phương Nam tới tận bán đảo Mã Lai, tức nước Malaysia bây giờ. 6. MIỀN NÚI QUAû (Quả Sơn) rộng khoảng 1.000 dặm tức nước Hồ Tôn ( Lâm Aáp cổ còn gọi là Chămpa ) sau là Chiêm Thành. 7. MIỀN BẦY VOI (Tượng Tào) rộng khoảng 1.000 dặm tức nước Ai Lao. 8. MIỀN LŨ HƯƠU (Lộc Hữu) rộng khoảng 1.000 dặm ở phía Nam Ai Lao tức Cao Miên (Cambodia) bây giờ. Còn về trước nữa thì biên giới nước ta lên tới Hồ Bắc và Nam Hà Nam lấy phân dã 2 sao Ngưu Nữ làm giới cận.(18) Thuở xa xưa Tổ Tiên ta định cư ở cuối dãy Nam Sơn, sau dời xuống vùng Tam giang Bắc gồm sông Hoàng Hà, sông Vị, sông Lạc. Ðời Kinh Dương Vương dời xuống vùng Tam giang Nam gồm sông Dương Tử (Trường Giang) sông Nguyên và sông Tương. Vùng đất này là vùng đất đỏ Basalt nên Kinh Thư gọi là Xích Qui phương nên Kinh Dương Vương mới đặt tên nước là XÍCH QUI. Cổ thư Trung Hoa gọi vùng này là Nam Giao, Cửa Việt, Giao Chỉ. Người Việt cổ thông đạt thiên văn ngay từ thời cổ đại. Người xưa đã quan sát chiêm nghiệm vị trí các vị sao với thời tiết mùa vụ để làm ra Nông Lịch đầu tiên trên thế giới. Theo nhà nghiên cứu "Tiên Tích Việt", Giáo sư Nguyễn Ðoàn Tuân thì toàn bộ chòm sao TĨNH theo kinh Thái Aát đóng tại giữa cung Khôn và Ly bao bọc các châu Lương, Tần, Kinh, Sở, Dương, Trinh của Xích Qui phương thời Kinh Dương Vương. Ðứng trước sao Tĩnh là sao VIỆT nên mới gọi là "Việt Tĩnh cương" là cương giới, phân dã sao ứng cho Ðông Việt, Tây Việt, Việt Thường và Bách Việt. Quan sát vị trí của 17 sao trong chòm sao Tĩnh, phận dã ứng với 15 bộ của VĂN LANG. Hai sao Thủy Phủ (Suifu) và Thiên Lang được chọn làm Kinh đô THỦY PHỦ{Suifu) và đặt tên nước là VĂN LANG. Mới đây, các nhà thiên văn người Pháp gồm 2 Thạc sĩ Sử Ðịa là Baron và P. Gourou cùng với Tiến sĩ văn chương P. Loubet đã tìm ra địa danh Thủy Phủ (Souifou) trên bản đồ Thái Bình Dương Pacific Ocean của National Geographic Society nay là cảng Thành Ðô tỉnh Tứ Xuyên. Địa danh Thủy Phủ (Suifu) cũng được ghi rõ trên bản đồ New International ATLAS of the World của Geographical Publishing company in năm 1949. Chòm sao Tĩnh đứng đầu 7 sao của chòm sao Chu Tước. Chu Tước chính là chim huyền thoại Phượng Hoàng chính là chim Trĩ, Công cùng họ với Bạch Trĩ là vật tổ biểu trưng của chi Aâu Việt. Chu Tước có bộ lông màu đỏ, hai sao Bạch Trĩ và Chu Tước ứng về phương Nam của Việt tộc. Về sau Hán tộc xâm lăng đẩy Việt tộc phải lùi dần về phương Nam nên "Tấn thư" mục Thiên văn chí chép:" Ðất Việt thuộc về phận dã sao Khiên, Ngưu và Vụ Nữ .. Ngày nay Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải và Nhật Nam đều thuộc về địa phận nước Việt. Vua nước ấy thuộc dòng họ Vũ, con thứ của vua Thiếu Khang nhà Hạ phong ở đất Cối Kê". Ðây chính là nước VIỆT (U-Việt) của Việt vương Câu Tiễn đã từng xưng Bá thời Xuân Thu. Ðến thời Hán, nước NAM VIỆT của Triệu Vũ Ðế chỉ còn lại phía Nam Ngũ Lĩnh nên "Hán Thư", Thiên văn chí chỉ chép phân dã Việt ứng với 2 sao Dực Chẩn, sao Ngưu Nữ ứng với địa phận Dĩnh Xuyên nên truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ là của người Việt chứ khơng phải của Tàu như người ta viết từ trước đến giờ. Tập " Thánh Tông dị thảo" gồm 20 truyện ký đặc biệt là truyện Mộng ký kể lại giấc mơ của nhà Vua như nỗi thao thức trăn trở về ngọn nguồn gốc tích dân tộc gửi lại cho những thế hệ sau. Truyện kể, một lần Vua Lê đi dạo chơi gặp mưa, nghỉ đêm bên hồ Trúc Bạch, Vua nằm mộng thấy hai người con gái thời Lý Cao Tông hiện lên dâng thư bày tỏ nỗi niềm oan ức gồm một bài thơ bằng chữ Hán và một tờ tấu bằng chữ bản địa có 71 chữ ngoằn ngoèo. Vua đọc không được, suốt ba năm cả triều đình cũng không có ai đọc được tờ tấu đó. Thế rồi, Vua lại nằm mơ có người hiện lên giảng giải cho Vua thêm về bài thơ chữ Hán. Vua hỏi âm, nghĩa của 71 chữ ngoằn ngoèo trên thì người ấy nói :" Chữ ấy là lối chữ cổ của nước ta. Nay Mường Mán ở núi rừng có người còn đọc được, nhà Vua cho vời họ đến thị tự khắc sẽ biết". Vấn đề ở đây không phải ở tình tiết thực hư của giấc mơ mà cốt lõi là Vua Lê Thánh Tông trao chiếc chìa khoá cho thế hệ sau chúng ta cùng giải mã vấn nan lịch sử đó. Cứ theo Vua Lê thì dân tộc ta đã có chữ viết riêng lối chữ cổ đó còn rơi rớt hiếm hoi ở thời Lý, theo đó hình dáng của lối chữ Việt cổ có nét chữ ngoằn ngoèo và hiện lối chữ ấy còn bảo lưu ở một đồng bào Mường Mán của chúng ta. Ðiểm đặc biệt là chính thư tịch cổ Trung Quốc cũng xác nhận Việt tộc đã có thứ chữ riêng hình con Nòng Nọc mà họ gọi là "Khoa Ðẩu tự" từ thời xa xưa. Sử ký Tư Mã thiên chép " Ðất Giao Châu ở phía Nam có Việt Thường Thị qua nhiều lần thông dịch, đến hiến một con chim Trĩ trắng". Sách Thông giám cương mục do Chu Hi đời Tống soạn cũng ghi:"Năm Mậu Thân đời Ðường Nghiêu thứ 5 (tức năm 2353TDL) có Nam di Việt-Thường Thị đến chầu, hiến rùa lớn" và sách Thông Chí do Trịnh Tiêu đời Tống chép rõ hơn: " Ðời Ðào Ðường, Nam di có Việt Thường Thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần. Rùa được nghìn tuổi, rộng hơn 3 thước, trên lưng có chữ "Khoa đẩu" chép việc từ lúc khai thiên lập địa tới nay. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Qui lịch". Sự kiện lịch sử này được xem như mối giao hảo giữa hai dòng Thần Nông phương Nam và phương Bắc của Việt tộc chứ không phải giữa nước ta với nước Tàu như các sử gia viết sai lầm từ trước đến giờ. Nguồn thư tịch cổ trên cho chúng ta thấy là Họ Việt Thường, một trong 15 chi tộc sau này họp lại thành quốc gia Văn Lang đã hiện hữu ngay từ thời Ðào Ðường thị Ðế Nghiêu. Việt Thường là một nhà nước sơ khai của Việt tộc đã cĩ chữ viết và một nền văn minh khá cao nên mới làm được lịch gọi là lịch rùa (Qui lịch). Ðặc biệt, trên lưng rùa có ghi chép những sự việc từ thời khai thiên lập địa được xem như khởi đầu của triết học với vũ trụ quan phương Ðông, uyên nguyên Âm Dương Dịch biến luận của người Việt cổ. Sự kiện sứ giả Việt Thường đến được Trung Nguyên trong khi đó dòng Thần Nông phương Bắc chưa biết đến Việt Thường đã chứng tỏ kiến thức về địa lý và thiên nhiên của Việt Thường cao hơn thời Ðường Nghiêu khiến Vua Nghiêu phải sai chép lại lịch rùa (Qui lịch). Quan trọng hơn là lúc đó Việt Thường đã có chữ viết dạng Khoa đẩu tức lối viết theo hình loăn quăn ngoằn ngoèo như con Nòng nọc. Truy cứu lại lịch sử chữ viết Trung Hoa cho chúng ta biết chữ Bát quái của Phục Hi, chữ Kết thằng là lối chữ ký hiệu bằng cách thắt nút giây của Ðế Thần Nông. Ðến đời Hoàng Ðế có Thương Hiệt là sử gia đã thống nhất được lối chữ cổ kể trên, đồng thời theo dấu hình chân chim thú bay nhảy mà biết văn lý phân biệt rồi khuếch trương bằng hình thanh đặt ra lối chữ ÐIỂU TRIỆN. Ðến thời Chu Tuyên Vương của Hán tộc mới sai thái tử Trứu thêm bớt lối chữ khoa đẩu đặt ra lối chữ ÐẠI TRIỆN nét tròn thường viết bằng sơn trên gỗ tre. Bởi vậy, lối chữ đại triện này gọi là Trứu thư được xem là của Hán tộc vì nó hoàn toàn khác với lối chữ khoa đẩu, Ðiểu triện thời Hoàng Ðế của Việt tộc. Theo những công bố gần đây được hầu hết học giả Trung Hoa học các nước chấp nhận thì cái gọi là văn hoá Trung Hoa chính là VĂN HOÁ VIỆT CỔ mà cổ thư gọi là văn hoá tứ di hay Di-Việt. Triều Thương của Hán tộc đã tiếp thu nền văn hoá này nhưng mãi đến đời Chu mới đưa thêm vào một số yếu tố du mục, chịu ảnh hưởng của Iran như chế độ thiên tử, hoạn quan, luật hình và tổ chức quân đội chuyên nghiệp… để rồi từ đó mặc nhiên tự nhận là văn hóa Hán. Triều Chu đóng đô ở Thiểm Tây và đặt ra chế độ Tông pháp để bảo vệ chế độ. Triều Chu phong cho họ hàng và các công thần làm Vua 15 nước chư hầu để làm phên giậu bảo vệ lãnh thổ của Chu. Ngày nay, các học giả đều thừa nhận là đời Chu mới bước vào văn minh với những thể chế hình mẫu của nhà nước phong kiến. Chức thiên tử uy quyền tuyệt đối mà Vua Chu tuy không quan niệm Vua là Thần thánh như ở Iran, nhưng Vua là con trời (thiên tử) nên vừa làm Vua, vừa là tư tế thượng phẩm. Vua Chu đại biểu của chế độ phong kiến nên độc tài chuyên chế, trói buộc người dân trên mọi phương diện. Vị Vua thế quyền nắm cả giáo quyền đã khống chế cả đời sống vật chất lẫn tinh thần của dân bị trị. Chu là một chư hầu của Thương ở Tây Thiểm Tây, là một tộc người du mục chứ không phải dòng dõi Ðế Cốc như các sử gia "Ðại Hán" đã tô điểm thêm thắt. Thế mà thư tịch cổ Trung Hoa chép Chu là dòng dõi ông Khí (con của Ðế Cốc) làm quan Hậu tắc, coi việc nông chính dưới triều Vua Thuấn, được phong ở đất Thái (tỉnh Thiểm Tây) truyền đến Công Lưu thì dời sang đất Mâu cũng giữ chức Hậu tắc. Tám đời sau đến Cổ Công Ðản phụ vì tránh nạn Bắc địch phải dời đến ở dưới núi Kỳ mới đổi quốc hiệu là Chu. Theo các công trình nghiên cứu của học giả Eberhard và Gernet thì Chu là một bộ lạc Thổ (Turc) sống chung với người Tạng (Tibet) chịu ảnh hưởng của văn hoá Thương tức văn hoá Di-Việt do Thương tiếp thu của Hạ. Tộc Chu có dòng máu Thổ và Hung nô nên quiù tộc Chu đã phân biệt giai cấp và gọi nhân dân là dân đen (Lê dân) tức dân tóc đen khác với tóc hung vàng của giới thống trị Thổâ (Turc). Chu sau khi tiếp nhận văn hoá Di Việt, cộng thêm bản chất du mục đã hình thành nền văn minh Chu với đế chế phong kiến chuyên chế thống trị nhân dân trong nước mà còn phân biệt chủng tộc. Giới thống trị Chu tự cho họ là văn minh và gọi các dân tộc khác là Man Di, di địch. Ðời Chu công Quí Lịch đi chinh phục các nước đã gọi cửu hầu là cửu quỉ (19). Sau Chu đến Tần cũng lấy lối chữ Ðại triện của đời Chu làm tiêu chuẩn để thống nhất chữ viết kể cả giọng nói để triệt tiêu ngôn ngữ của các dân tộc khác. Ðế chế Tần buộc các địa phương phải gửi người về Hàm Dương để học giọng Quan Thoại và lối chữ viết thống nhất khi trở về địa phương dạy lại từ quan đến dân lối chữ ấy. Tần ra chỉ dụ cấm đoán và trừng phạt khắt khe những ai còn nói giọng địa phương và viết chữ của dân tộc họ. Biện pháp cưỡng bách này khiến ngôn ngữ riêng của các dân tộc biến mất theo thời gian. Theo "Trúc thư kỷ niên" thì vào thế kỷ thứ 22 TDL mới có thứ chữ để viết dùng trong việc hành chánh, nghĩa là vào khoảng thời nhà Hạ của Việt tộc (2.205-1766TDL). Ðó là thứ chữ dựa vào câu sử truyền như sau: "Thượng cổ thánh nhân Kết thằng dĩ trị, hậu thế thánh nhân dịch chi dĩ Thư khế bá quan dĩ trị, vạn dân dĩ sát" nghĩa là thời xưa, đấng thánh dùng loại chữ "kết thằng" để trị, đời sau thánh nhân biến chữ đó làm một thứ "Thư khế" trăm quan theo đó mà trị, vạn dân lấy đó mà xét nghiệm. Câu nói này cũng chép trong mục "Thần Nông" tựa kỷ. Theo Nguyễn Ðoàn Tuân thì Kết Thằng còn đọc là Cát Thặng hay Kết thừa nghĩa là nhắc nhớ tới thời Lão Long Cát thị truyền chữ lại và coi chữ Kết Thằng như một "Kết ước thần linh". Chính vì vậy mà đời sau đổi Kết Thằng thành Thư Khế. Thư khế là sách ước xưa truyền lại và nhờ đó mà kết tinh trong Dịch. Ðiều này đến đời Thiệu Khang Tiết mới phát hiện. Các chữ cổ đời Hạ, Thương đều là lối chữ phiên thiết, nói chung lối chữ gọi là Hán tự thay đổi hoài. Ðến đời Tần, Tần Thủy Hoàng sai thừa tướng Lý Tư (213TDL) lấy lối chữ Kết Thằng đời Thần Nông (Viêm Việt) soạn ra chữ Tiểu Triện, mới được khoảng 3300 chữ. Thực ra Lý Tư chỉ lấy chữ Kết Thằng của Viêm Việt để hợp thành những danh tự chỉ đồ vật. Năm 120, Hứa Thận soạn sách "Thuyết văn Giải tự" kiểm điểm sắp xếp lại chữ Tiểu triện sắp lại thành 540 chìa khoá bộ chữ tạo thành 10.515 chữ được xem là chữ Hán định hình. Sau đó sách "Thuyết văn Thông thuận Ðịnh thành Lục thư thông" đã bổ túc và định nghĩa chắc chắn từng chữ một. Sau đó, Trình Mao Tạo ra cây viết chì nhọn, chấm vào mực để viết tròn ra vuông, cong ra gẫy. Mông Ðiềm giao lưu văn hoá với Hung Nô (Mông cổ) tạo ra bút lông, bút giấy. Bút lông không viết ngược chiều được, giấy hút mực nên phải viết cho lẹ, nét chữ biến hoá một cách tự do, nét đậm nét nhạt, mập mờ, nét móc, nét lồi, nét gối, nét nối liền nhau, thành thảo tự gọi là viết thảo. Người đời sau do sai lầm cứ dựa vào "Lục thư" mà tuỳ tiện xét đoán. Khi tìm thấy lối chữ cổ của vua Ðại Vũ viết trên tấm bia chôn ở núi Cú Lũ (tên cổ là hang rùa). "Lĩnh Nam Dật sử" có chép chuyện này, tác giả đoan chắc đó là bảng chữ Việt. Sách "Tô Ký Kinh ngoại" cũng xác nhận đó là tiếng Việt. Sách "An Nam Chí lược" của Lê Tắc, dẫn lời cẩn bạch của Ngạn Ngân Hương đề cao lối chữ này là "Thần vũ hữu Cú Lũ sơn" rằng :"Thiết nghĩ thước ngọc khuôn vàng vườn Côn Luân bản đồ trình hiến, chữ xanh vằn đỏ (xích văn lục tự) thơ truyền Vụ Uyển, thư tịch lưu truyền". Ðây chính là thứ chữ trong Lạc thư Bách Việt, ý người xưa Lạc là Thần, phát xuất từ cái nôi sinh tụ đầu tiên của tộc Việt là Rượu Cô Dịch di chuyển về Tiểu Côn Lôn là vùng núi Vụ Uyển nơi Ðại Vũ đã chôn giấu tấm bia mà sách Lĩnh Nam Dật sử nhắc tới. Thực tế lịch sử cũng cho chúng ta biết thời Xuân Thu các quốc gia Bách Việt cũng đã có ngôn ngữ riêng. Thật vậy, Nước Việt có quốc luật, Sở quốc có Hiến lệnh là những pháp lệnh thành văn đầu tiên cùng thời Tử Sản người nước Trịnh(20) năm 532 TDL đã soạn ra Hình thư rồi đem văn bản hình khắc lên chín cái đỉnh đúc bằng sắt gọi là Chú Ðỉnh hình. Tả truyện của Tả Khâu Minh chép truyện quan lịnh doãn nước Sở là Tử Ngươn đi đánh Trịnh, đến bên thành Trịnh thì thấy dân chúng bình tĩnh như không có gì xảy ra, lại còn lên đầu thành mà nói với xuống bằng tiếng nước Sở, cũng là tiếng Việt của họ. Sở dĩ họ không lo sợ gì vì là đồng chủng nên đối với họ, chiến tranh chỉ là sự tranh giành quyền lãnh đạo của giới cầm quyền mà thôi. Ðến ngày nay mà sách giáo khoa Tàu vẫn gọi tiếng Quảng Ðông là Việt ngữ. Học giả Lê Mạnh Thát trong tác phẩm "Vài tư liệu mới cho việc nghiên cứu lịch sử âm nhạc Việt Nam giai đoạn trước 939" đã đưa ra chứng cớ về sự hiện diện của chữ Việt cổ, căn cứ trên " Thuyết uyển" do Lưu Hướng viết vào khoảng năm 16 TDL. Nguồn sử liệu minh văn trên đã xác nhận một cách đúng đắn là người Việt đã có ngôn ngữ riêng, âm nhạc riêng đó là bài "VIỆT CA". Lục độ tập kinh cùng với "Cựu Tạp Thí dụ kinh" đã để lại cho chúng ta một loạt những cấu trúc tiếng Việt cổ quý giá mà từ đó, chúng ta tham khảo thêm bài Việt ca do Lưu Hướng chép lại trong Thuyết Uyển để có thể phục chế lại một phần nào diện mạo của tiếng nói dân tộc ta cách đây mấy ngàn năm. Ðặc biệt, ngoài bản Việt ca còn bảo lưu được trên 15 trường hợp các cấu trúc ngữ học theo văn pháp tiếng Việt cổ. Toàn văn Lục độ tập kinh thể hiện một cách có hệ thống và toàn diện, liên tục nhất quán của ngữ pháp, cú pháp về ngữ vựng của tiếng Việt ví dụ như tiếng Tàu gọi Trời xanh là thanh thiên, mây trắng là bạch vân hoàn toàn khác với tiếng Việt. Lê Huy Yêm trong tác phẩm " Lê phổ chí tục biên" đã viết về lối chữ Khoa Ðẩu của dân tộc ta như sau: "Con Rồng cháu Tiên, chữ con chữ Rồng viết như thế này .. Bọn Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang cai trị dân ta bắt đốt hết sách ta, nhà nào cất giữ thì bị giết hại. Ðây không phải chữ Nôm đâu, chữ Nôm về sau, cách đây khoảng năm trăm năm do Nguyễn Thuyên, tức Hàn Thuyên đặt ra bằng cách ghép chữ, còn chữ cổ Việt Nam đã có hàng mấy nghìn năm về trước. Nhà ta cất giữ được quyển sách này từ cụ Lê Huy Nghiêm. Các cháu phải biết là nước ta có chữ trước chữ Hán rất lâu .."(21) Năm 1932, nhà văn Lê Dư trên Tạp chí Nam Phong đã cho rằng dân tộc ta có chữ viết từ thời cổ. Thời Tự Ðức, Văn Ða cư sĩ đã viết : "Ta học chữ Tàu, thầy dạy hay học trò học, thế nào cũng pải lấy tiếng nước ta mà giải thích mới có thể hiểu, lại phải có một thứ chữ gì để làm phù hiệu, ghi cho dễ nhớ. Nhân vậy, Sĩ Vương (Sĩ Nhiếp) mới lựa những chữ Hán nào phát âm như tiếng ta, lấy những chữ ấy để làm phù hiệu, âm các tiếng chữ Tàu. Nhân vậy mới lấy một nửa hình chữ Hán khác hợp lại thành chữ hoặc dùng nghĩa, hoặc dùng ý hội, đem làm phù hiệu dịch thứ tiếng của ta. Vả chăng, Sĩ vương người đất Quảng Tín, quận Thương Ngô (trước thuộc lãnh thổ Bách Việt) thuộc nước Tàu bây giờ, mà bên ấy xưa cũng có một thứ chữ tục tự hệt như chữ Nôm của ta vậy …". Sách "An Nam kỷ lược" viết " Nước Việt Nam ta có lối chữ viết từ đời Ðinh, Lê trở về trước thì không trông thấy được nữa. Còn lối chữ từ thới Lý, đời Trần trở về sau thì bắt chước triều Tống". Trương Vĩnh Ký cũng cho rằng dân tộc ta đã có chữ viết trước thời Hán thuộc nhưng sau khi bị Hán tộc thống trị cấm sử dụng tiếng Việt cổ, đồng thời bắt dân ta phải học tiếng Hán nên sau hơn một ngàn năm nô lệ, tiếng Việt cổ mai một dần theo thời gian. TIẾNG VIỆT TRONG NGHIÊN CỨU THỰC TẾ Các nhà ngôn ngữ học ghi nhận ở vùng Nghệ Tĩnh ngôn ngữ địa phương vẫn còn giữ lại được nhiều từ tiếng Việt cổ như xưa họ nói "nác" nay là nước, "cơn" nay gọi là cây, "lả" là lửa, "ló" là lúa… Năm 1903,Vương Duy Trinh là Hiệp Biện Ðại học sĩ làm Tổng Ðốc Thanh Hóa đã sưu tập đựơc 35 mẫu tự của chữ cổ ở "Châu", đó là "Phụ Man mẫu tự tam thập ngũ tự" (Ba mươi lăm mẫu tự của chữ "Châu"). Vương Duy Trinh, tác giả Thanh Hoá Quan phong (thế kỷ XIX) viết : " Ðây là chữ Châu tiếng Châu. Trên kia đã dịch làm tiếng chợ, một khúc ca có 12 đoạn, có tầng thứ, có nông sâu, có mở đóng, có hồi cố. Có khác gì 13 nước Phong-thi. Người làm bài ca là người có học. Vậy mới biết có văn tự thì phải có văn chương. Tỉnh Thanh Hóa một châu quan có lối chữ thập châu đó. Người ta thường nói rằng Việt Nam không có chữ, tôi nghĩ rằng không phải. Thập Châu vốn là đất nước ta. Trên Châu còn có chữ lẽ nào dưới chợ lại không? Lối chữ trên Châu chính là lối chữ nước ta đó. Nay xem chữ trên Châu với chữ Xiêm, chữ Lào … tuy rằng viết dọc viết ngang có khác dạng nhưng cũng là một lối chữ Loan Phụng Khoa Ðẩu. Ðời xưa Trung quốc từ người Lý Tư đời Tần trở về sau hay có người thay đổi làm lối khác, mà nước ta nội thuộc kể đã dư ngàn năm. Từ sau Sĩ vương dạy lấy chữ Trung quốc mà lối chữ nước ta bỏ hết. Thập châu bởi là nơi biên viễn cho nên lối chữ ấy còn ..". Nguyễn Ðổng Chi trong tác phẩm "Việt Nam cổ văn học sử" đã sưu tầm được 35 chữ cái của đồng bào Mường. Ðó là lối chữ ngoằn ngoèo như con nòng nọc đúng như Tiền Hán thư chép và cũng đúng như giấc mơ cũng chính là ưu tư của Vua Lê Thánh Tông đã gợi mở cho chúng ta. Mặt khác, vùng Tây Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh địa bàn cư trú của Việt Thường, Văn Lang xưa cũ mà Tiền Hán thư ghi rõ là ngay từ thời Ðào Ðường khoảng thiên niên kỷ thứ II trước Dương lịch, người Việt cổ đã có một thứ chữ riêng biệt trông như con nòng nọc. Hình dạng chữ viết của đồng bào Mường gần giống như những hoa văn với những đường cong lạ trên mặt trống đồng Lũng cú, Hà Tuyên mới được phát hiện trong thập niên 70 với những hoa văn kỷ hà có những nét giống chữ Phạn cổ trên bia đá Võ Canh ở Khánh Hoà và chữ cổ khắc trên đá ở di chỉ Óc Eo (An Giang). Theo các nhà Tiền Sử học thì cách nay hơn 6 ngàn năm, một nhánh Malaynesian đã thiên di sang Aán Ðộ định cư, một số lại quay trở lại Ðông Dương. Các công trình khảo cổ mới tìm thấy ở 2 bang Punjap và Sin ở Tây Bắc Aán Ðộ một nền văn minh Harrapa và Mohenjo Daro. Ðó là nền văn minh tối cổ của MaLaynesian mà các nhà nhân chủng gọi là cư dân Dravidian. Ðó là nền văn minh sông Aán. Nền văn minh này phát sinh rất sớm vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TDL và tàn lụi vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ II TDL vì sự xâm lấn của chủng Aán Aâu (Arian). Cư dân Dravidian tôn thờ mặt trời, thờ nữ thần Mẹ và nhiều thần có liên quan đến nông nghiệp và chăn nuôi. Cư dân Dravidian có tín ngưỡng phồn thực và đã sáng tạo ra lối chữ cổ Aán Ðộ. Ðặc biệt trong sử thi Anh hùng ca Ramayana của Aán Ðộ cổ cũng có truyền thuyết về cội nguồn được xem như dị bản của huyền thoại Rồng Tiên với khái niệm Bách Việt mà Hoàng tử Rama là con trai trưởng giống như Hùng Quốc vương trong huyền thoại Rồng Tiên. Tất cả tự dạng trên có một điểm chung nhất là ký hiệu sổ ngang sổ uốn tròn như bộ di chuyển của con Nòng nọc. Tự dạng mang tính biểu trưng, lối chữ tượng ý chứ không tượng hình như Hán tộc.Theo Ðặng Ðức Siêu thì bên cạnh hình ngôi sao12 cánh, hoa văn vòng tròn có chấm, đường thẳng song song hướng tâm, đường gấp khúc hoặc nửa hình thoi, hình người hoá trang cách điệu, người ta còn thấy những đường nét uốn lượn tạo thành các hình dạng ngoằn ngoèo hoặc những vạch thẳng phối hợp với nhau thành những góc, những hình, những đường có tính chất kỷ hà. Phải chăng đó là dấu tích của lối chữ viết "ngoằn ngoèo như con nòng nọc" được khắc hoạ trên trống đồng Lũng cú Hà Tuyên? Rõ ràng là loại chữ này đã vượt qua giai đoạn chữ viết tranh vẽ như kiểu thư của bộ tộc XiTơ gửi cho vua Ba Tư. Nó cũng không phải là loại chữ tượng hình còn gắn bó nhiều với các yếu tố đồ hoạ như chữ cổ Ai Cập. Rất có thể, đó là thứ chữ bao gồm một hệ thống ký hiệu khá đơn giản. Mỗi ký hiệu là một đường nét ngắn, uốn lượn theo một thể thức nào đó. Số lượng ký hiệu hoạt động trong hệ thống chắc cũng có hạn, cho nên, khi viết nhiều ký hiệu đã được lập đi lập lại nhiều lần nên trong giống như đàn nòng nọc đang quấy bơi. Căn cứ vào sự mô tả ngoại hình đó, chúng ta có thể suy đoán rằng đó là một hệ thống văn tự được xây dựng trên nguyên tắc ghi âm. Những ký hiệu ghi âm trong hệ thống văn tự ấy được sử dụng độc lập không cần đến sự hiệu chính của các ký hiệu tượng hình ghi ý. Nếu những dấu tích trên trống đồng Lũng cú đúng là dấu tích văn tự thật và niên đại tuyệt đối của di vật này được xác định rõ thì đó sẽ là một đầu mối rất quan trọng giúp chúng ta lần tìm ra hình ảnh hệ thống chữ viết cổ sơ của dân tộc. Gần đây, giới khảo cổ mới khám phá ra một di tích tại thung lũng Mường Hoa, Hoàng Liên Sơn cách thị trấn Sapa khoảng 6 km. Ðó là những tảng đá trên bề mặt có nhiều nét chạm trổ. Chúng nằm rải rác xen giữa những thửa ruộng bậc thang của đồng bào Hmong-Dao. Di tích bãi đá cổ rộng khoảng 8 km2 được các nhà khảo cổ Pháp nghiên cứu từ năm 1925 gồm khoảng 159 hòn đá kích thước to nhỏ. Lớn nhất là hòn Bố dài 15 m, cao 6m trong đó đáng chú ý là những hình vẽ người, nhà sàn và các dấu hiệu có thể là hình thức phôi thai của chữ viết. Kế đến là đàn hổ đá và tấm bia có khắc chữ Việt cổ. Tại bản Pho thuộc thung lũng người ta tìm thấy những hòn đá có khắc chữ viết cổ, gần đó trên những thửa ruộng bậc thang thuộc 2 xã Lao Chẩy và Hầu Thào cũng tìm thấy những chữ viết cổ được khắc trên mặt đá. Theo nhận định của các nhà chuyên môn thì đây là chữ Việt cổ nhưng còn phải nghiên cứu giải mã những ký tự, văn tự này mới thoả đáp được vấn đề. Năm 1965, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã tìm thấy một thanh kiếm cổ trong ngôi mộ cổ ở núi Vọng Sơn, Gia Lăng tỉnh Hồ Bắc thuộc địa bàn cư trú của Bách Việt xưa. Sau khi gột rửa lớp đất bám trên kiếm, các nhà khảo cổ vô cùng ngạc nhiên xen lẫn thán phục vì thanh kiếm bị chôn vùi dưới lòng đất gần 2.500 năm nhưng vẫn sáng loáng dưới ánh sáng mặt trời và toả ra một làn ánh sáng màu xanh. Dùng mũi kiếm rạch nhẹ lên một chồng giấy gồm 10 thếp manh, chồng giấy bị cắt đứt như khi ta dùng máy xén bây giờ. Ðặc biệt trên thân thanh bảo kiếm có 8 chữ nạm sợi bạc, khắc theo lối "Ðiểu triện" tức lối chữ Triện viết theo dạng hình chân chim, nội dung như sau:" Việt vương Câu Tiễn tự tác dụng kiếm" nghĩa là vua Việt Câu Tiễn tự đúc kiếm ..". Toàn thân và chuôi kiếm có cẩn ngọc Minh Châu màu Lam và lục tùng rất đẹp. Lối chữ " Ðiểu Triện" của người Việt cổ chính là lối chữ Thương Hiệt thời Ðế Hoàng. Công trình nghiên cứu trên được kiểm chứng bởi các công trình khảo cổ. Ðặc biệt gần đây giáo sư Hà văn Tấn, viện trưởng viện Khảo cổ CHXHCNVN đã tìm thấy một lưỡi cày Ðông Sơn, một qua đồng ở Thanh Hoá và 3 qua đồng trong 1 ngôi mộ của người nước Sở ở Hồ Nam Trung Quốc bây giờ. Trên những di vật này đều có những ký hiệu được xem là dấu vết của một hệ thống chữ viết có niên đại vào thời Chiến quốc. Giới nghiên cứu ghi nhận:"Loại chữ này có từng ký hiệu riêng rẽ, phần lớn không phải chép lại hình ảnh hiện thực nghĩa là không phải các ký hiệu hình vẽ mà là các ký hiệu qui ước. Mỗi ký hiệu có khả năng tương ứng với một từ. Như vậy, đây là một loại chữ rất tiến bộ trong lịch sử chữ viết. Nó đã trải qua giai đoạn chữ viết hình vẽ mà ý tứ trong cả văn bản được thể hiện bằng một bức vẽ như vậy có thể hệ thống chữ viết này đã ở giai đoạn chữ viết biểu ý". Theo cách phân loại của các nhà nghiên cứu chữ viết hiện nay, thì chữ viết hình vẽ được gọi là chữ viết ghi câu vì hình vẽ truyền đạt ý cả câu. Còn chữ viết mà trong đó mỗi ký hiệu tương ứng với một từ thì gọi là chữ viết ghi từ. Hệ thống chữ cổ mà chúng tôi vừa phát hiện có thể là chữ viết ghi từ (logogramme) hoàn toàn khác biệt với chữ Hán. Chữ viết trên lưỡi cày văn hoá Ðông Sơn thì hẳn là chữ viết của người Việt cổ. Các nhà nghiên cứu cũng vừa tìm thấy qua đồng ở vùng sông Mã Trung Việt và sông Dương Tử bên Trung Quốc bây giờ, trên lưỡi qua có lối chữ chỉ có thể là của người Lạc Việt, chủ nhân nền văn hoá Ðông Sơn. Như vậy, ngay giờ đây đã có thể nói rằng: " Có một hệ thống chữ viết cổ thời kỳ văn minh Ðông Sơn phát triển rực rỡ vào khoảng thế kỷ thứ IV TDL, trước khi người Hán vào xâm lược và đô hộ đất nước của người Việt cổ hơn một nghìn năm và đến năm 938 đã bị đánh đuổi về phương Bắc .."Này mời các bạn bảng hình chữ Việt cổ chép lại cho nó đúng hơn một chút... - nhóm I gồm những âm cao - nhóm II dành cho những âm tiết thấp - nhóm III là những dạng chữ ở đuôi các từ - những chỗ có dấu hỏi tôi chưa thấy có / chưa dám chắc chắn ... - cách sắp xếp và hình dáng khá giống chữ Devanagari (Thai,Khmer) - cách phát âm (gi=d=r, x=s) viết cũng theo sát âm Việt hiện đại = nên thứ chữ này không thể có trước CN (thời các vua Hùng đó) Với những nghiên cứu gần đây về : Chữ Việt Cổ, Nguồn gốc Kinh Dịch, Nguồn gốc Luận thuyết Âm Dương Ngũ Hành ... xu thế tìm hiểu cội nguồn dân tộc được các nhà Học Giả tập trung nghiên cứu đã tạo nên một tâm thế mới, kích thích lòng tự hào dân tộc của chúng ta. Dân tộc Việt Nam có thể ngẩng cao đầu nếu một mai lịch sử ghi nhận những nghiên cứu của ngày hôm nay là chính xác - Chúng ta có thể giành lại bản quyền của nhiều phát kiến có tầm ảnh hưởng lớn Xin giới thiệu mọi người bài viết : Chữ Việt cổ (Tổng hợp từ bài viết của 2 tác giả Đỗ Quang và Quang Hoà, bổ sung thêm tư liệu và hình ảnh) Người Việt ta lập nước rất sớm, nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương đã có thầy giáo và học trò, điều đó chứng tỏ dân tộc ta đã có chữ, nhưng đó là thứ chữ gì ? Trong hơn một chục năm gần đây, vấn đề chữ viết của người Việt cổ đã được đặt ra trên tinh thần nghiêm túc và khoa học trong các hội nghị nghiên cứu thời kỳ các vua Hùng. Trong một bản Ngọc phả từ thời vua Trần Thái tông ghi: “Nghiêu thế, Việt Thường thị kiến thiên tuế thần qui, bối hữu Khoa đẩu” nghĩa là thời vua Nghiêu nước Việt Thường tặng rùa thần nghìn tuổi, lưng có chữ Khoa đẩu. Theo cổ sử Trung Quốc “vào thời Vua Nghiêu ( năm 2357 trước công nguyên) có sứ giả Việt Thường đến kinh đô tại Bình Dương (phía bắc sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con thần quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau”. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch. Sang thế kỷ 20, nhờ khảo cổ học và các môn khoa học khác phát triển, cung cấp nhiều bằng chứng khoa học mới về sự tồn tại của chữ Việt cổ. Năm 1979 Giáo sư Hà Văn Tấn phát hiện trên một công cụ bằng đồng - mà các nhà khảo cổ học quen gọi là lưỡi cày hình cánh bướm, đặc trưng cho vùng sông Mã - có hai kí hiệu ở hai bên họng tra cán. Hai kí hiệu này do hai bên không đối xứng nhau, ít có khả năng là hoa văn trang trí, nhiều khả năng là chữ viết. Những chữ việt cổ còn được phát hiện trên nhiều hiện vật khảo cổ khác. Trên bốn chiếc qua đồng Đông Sơn có chạm khắc 28 ký tự. Đó là những ký tự Việt cổ mà cho đến nay chưa giải mã được. Ngược dòng thời gian, năm 1930 một hiện vật gốm quý hiếm được M-CoLan phát hiện dưới chân vách đá Lan Gan ở Hoà Bình. Ban đầu người ta chỉ coi chúng là vật trang sức, “không có công dụng thực tế, không rõ để làm gì ...” Hai chiếc đĩa cổ bằng đất nung có chữ Việt cổ (chữ O và chữ S) ở Lan Gan (Hòa Bình) Đây là những chữ cổ có tuổi khảo cổ học một vạn năm, thuộc nền văn hoá đồ đá giữa Hòa Bình (xem thêm bài 7: Văn hoá Hoà Bình – Hoabinhian) và trong đó có chữ thứ 2 giống chữ Sĩ của Hán tự ngày nay, phát hiện này trong thời gian dài đã làm đau đầu nhiều nhà nghiên cứu, vì nó có trước Chữ Giáp cốt Ân - Thương (1392 - 1122 - Tr. CN) khoảng 6000 năm. Lúc đó cả tộc danh Hoa Hạ và chủng Trung Mông -gô lô-ít đều chưa có mặt (xem thêm bản đồ Migration patterns of early Humans và M175 từ Genographic project). Sử cũ cho biết, sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị thi hành chính sách đồng hoá. Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang ta bắt đốt hết sách, nhà nào cất giữ thì bị giết hại. Cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, sau này cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15…, Với chính sách đó thì chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, tưởng rằng đã bị xoá sạch là điều dễ hiểu. Trong tập: Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ, do Viện Văn hoá in năm 1986, Giáo sư Lê Trọng Khánh đã dẫn chứng: Nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa đẩu thời Phục Hy- Thần Nông để ghi tiếng dân tộc mình. Như vậy, dân tộc Kinh - Lạc Việt lại không còn văn bản hay sao? Riêng ở Việt Nam, chữ khoa đẩu được dùng lâu hơn. Mãi đến đời Sĩ Nhiếp vẫn còn, tuy Sĩ Nhiếp cấm đoán nhưng nhân dân ta vẫn dùng. Nhiều nhà nghiên cứu, từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... đều khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ được phát hiện ngày một nhiều trên nhiều hiện vật khảo cổ, được khắc trên đá, trên xương thú, trên đồ đồng như vũ khí, trống đồng cổ và phân bố rộng khắp lưu vực có người Việt sinh sống. Gần đây Nhóm nghiên cứu Chữ Việt cổ và giáo dục thời Hùng Vương, do nhà văn Khánh Hoài- Đỗ Văn Xuyền lãnh đạo đã có những khám phá rất quan trọng. Một trong những kết quả nghiên cứu của Nhóm là phát hiện ra một bộ chữ Việt cổ được lưu giữ ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Các nhà khoa học cho rằng văn tự này có thể là một biến thể của chữ “Khoa đẩu” hay “Hoả tự” đã ghi trong cổ sử. Thứ chữ đã tồn tại trong nền văn hoá tiền Việt - Mường. Do không được sử dụng phổ biến, bộ chữ này bị đóng băng, không phát triển theo kịp những biến âm trong tiếng nói người Việt hiện đại. Đến thế kỷ 16 khi đạo thiên chúa truyền vào nước ta, một nhóm trí thức người Việt đã cùng các giáo sĩ phương tây La Tinh hoá bộ chữ này thành chữ Quốc ngữ mà ta đang dùng ngày nay. Người Việt ta lập nước rất sớm, nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương đã có thầy giáo và học trò, điều đó chứng tỏ dân tộc ta đã có chữ, nhưng đó là thứ chữ gì ? Trong hơn một chục năm gần đây, vấn đề chữ viết của người Việt cổ đã được đặt ra trên tinh thần nghiêm túc và khoa học trong các hội nghị nghiên cứu thời kỳ các vua Hùng. Trong một bản Ngọc phả từ thời vua Trần Thái tông ghi: “Nghiêu thế, Việt Thường thị kiến thiên tuế thần qui, bối hữu Khoa đẩu” nghĩa là thời vua Nghiêu nước Việt Thường tặng rùa thần nghìn tuổi, lưng có chữ Khoa đẩu. Theo cổ sử Trung Quốc “vào thời Vua Nghiêu ( năm 2357 trước công nguyên) có sứ giả Việt Thường đến kinh đô tại Bình Dương (phía bắc sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con thần quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau”. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy Lịch. Sang thế kỷ 20, nhờ khảo cổ học và các môn khoa học khác phát triển, cung cấp nhiều bằng chứng khoa học mới về sự tồn tại của chữ Việt cổ. Năm 1979 Giáo sư Hà Văn Tấn phát hiện trên một công cụ bằng đồng - mà các nhà khảo cổ học quen gọi là lưỡi cày hình cánh bướm, đặc trưng cho vùng sông Mã - có hai kí hiệu ở hai bên họng tra cán. Hai kí hiệu này do hai bên không đối xứng nhau, ít có khả năng là hoa văn trang trí, nhiều khả năng là chữ viết. Những chữ việt cổ còn được phát hiện trên nhiều hiện vật khảo cổ khác. Trên bốn chiếc qua đồng Đông Sơn có chạm khắc 28 ký tự. Đó là những ký tự Việt cổ mà cho đến nay chưa giải mã được.Ngược dòng thời gian, năm 1930 một hiện vật gốm quý hiếm được M-CoLan phát hiện dưới chân vách đá Lan Gan ở Hoà Bình. Ban đầu người ta chỉ coi chúng là vật trang sức, “không có công dụng thực tế, không rõ để làm gì ...” Hai chiếc đĩa cổ bằng đất nung có chữ Việt cổ (chữ O và chữ S) ở Lan Gan (Hòa Bình) Đây là những chữ cổ có tuổi khảo cổ học một vạn năm, thuộc nền văn hoá đồ đá giữa Hòa Bình (xem thêm bài 7: Văn hoá Hoà Bình – Hoabinhian) và trong đó có chữ thứ 2 giống chữ Sĩ của Hán tự ngày nay, phát hiện này trong thời gian dài đã làm đau đầu nhiều nhà nghiên cứu, vì nó có trước Chữ Giáp cốt Ân - Thương (1392 - 1122 - Tr. CN) khoảng 6000 năm. Lúc đó cả tộc danh Hoa Hạ và chủng Trung Mông -gô lô-ít đều chưa có mặt (xem thêm bản đồ Migration patterns of early Humans và M175 từ Genographic project). Sử cũ cho biết, sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị thi hành chính sách đồng hoá. Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang ta bắt đốt hết sách, nhà nào cất giữ thì bị giết hại. Cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, sau này cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15…, Với chính sách đó thì chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, tưởng rằng đã bị xoá sạch là điều dễ hiểu. Trong tập: Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ, do Viện Văn hoá in năm 1986, Giáo sư Lê Trọng Khánh đã dẫn chứng: Nhiều dân tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa đẩu thời Phục Hy- Thần Nông để ghi tiếng dân tộc mình. Như vậy, dân tộc Kinh - Lạc Việt lại không còn văn bản hay sao? Riêng ở Việt Nam, chữ khoa đẩu được dùng lâu hơn. Mãi đến đời Sĩ Nhiếp vẫn còn, tuy Sĩ Nhiếp cấm đoán nhưng nhân dân ta vẫn dùng. Nhiều nhà nghiên cứu, từ Hà Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ, Pháp, nhất là Trung Quốc: từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... đều khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng. Chữ Việt cổ được phát hiện ngày một nhiều trên nhiều hiện vật khảo cổ, được khắc trên đá, trên xương thú, trên đồ đồng như vũ khí, trống đồng cổ và phân bố rộng khắp lưu vực có người Việt sinh sống. Chữ Việt cổ trên thân trống đồng Lũng Cú Chữ cổ trên bãi đá cổ Sapa Một số văn bản có chữ Việt cổ tìm được tại Sơn La. Gần đây Nhóm nghiên cứu Chữ Việt cổ và giáo dục thời Hùng Vương, do nhà văn Khánh Hoài- Đỗ Văn Xuyền lãnh đạo đã có những khám phá rất quan trọng. Một trong những kết quả nghiên cứu của Nhóm là phát hiện ra một bộ chữ Việt cổ được lưu giữ ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Các nhà khoa học cho rằng văn tự này có thể là một biến thể của chữ “Khoa đẩu” hay “Hoả tự” đã ghi trong cổ sử. Thứ chữ đã tồn tại trong nền văn hoá tiền Việt - Mường. Do không được sử dụng phổ biến, bộ chữ này bị đóng băng, không phát triển theo kịp những biến âm trong tiếng nói người Việt hiện đại. Đến thế kỷ 16 khi đạo thiên chúa truyền vào nước ta, một nhóm trí thức người Việt đã cùng các giáo sĩ phương tây La Tinh hoá bộ chữ này thành chữ Quốc ngữ mà ta đang dùng ngày nay. Một nhóm trí thức người Việt đã cùng các giáo sĩ phương tây La Tinh hoá bộ chữ này thành chữ Quốc ngữ mà ta đang dùng ngày nay. Thầy Xuyền và một số chữ Việt cổ được phát hiện tại các khu vực khác nhau. Một sổ khu vực phát hiện dấu tích chữ Khoa đẩu Vào năm 1903 Tổng đốc Thanh Hóa lúc ấy là Vương Duy Trinh công bố việc tìm ra một văn bản viết bằng thứ chữ lạ, trông như những ngọn lửa vờn cháy mà ông gọi là chữ Hỏa tự. Dựa vào những chữ Hán ghi chú bên cạnh ông dịch được nội dung, thì ra đây là một bài thơ có tựa đề "Mời trầu" có nội dung ca ngợi tình yêu.Vương Duy Trinh cho rằng, đây chắc chắn là chữ của tổ tiên ta từ thời các vua Hùng nay vẫn còn truyền lại và lưu hành trong một bộ phận nhỏ xã hội. Theo nghiên cứu của Ông thì:"Thập châu là vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ này". Cách đây hơn một thế kỷ, Phạm Thận Duật, một nhà văn hóa lớn của dân tộc, trong thời gian làm Tri châu ở Tây bắc (khoảng năm 1855) đã phát hiện nhiều bộ chữ mà Ông cho là chữ Thái thổ tự , trong đó có một bộ chữ cái có kèm ghi chú chữ Hán. Theo mô tả của Ông, thứ chữ này được viết theo chiều ngang, bộ chữ gồm 18 thể chữ cái theo vần bằng, 18 thể chữ cái theo vần trắc. Còn ở Châu Mai Sơn, Châu Minh Biên có bộ chữ gồm 17 thể chữ cái theo vần bằng, 15 thể chữ cái theo vần trắc. Ngoài ra còn 11 chữ và nét phụ ở 04 bên mà Ông gọi là "tứ bàng phụ họa, sử dụng 03 thể chữ cái đảo lên, lộn xuống, ghép lại với nhau thành từ, thì đều có thể thông với văn tự Trung châu" (tức là có thể chuyển ngữ cho chữ Hán). Theo nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền: Bộ chữ do Phạm Thận Duật mô tả là bộ chữ không có dấu, trong đó 17 chữ vần bằng là phụ âm, đi với thanh không. 16 thể chữ theo vần trắc là phụ âm đi với thanh huyền. 11 nét phụ (tứ bàng phụ họa) cho những từ vần bằng chính là nguyên âm. Sau nhiều năm khảo sát ở nhiều miền trong cả nước, ông sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu về chữ Việt cổ, và khu biệt được một bộ chữ gồm 47 chữ cái mà Ông tin chắc là chữ Việt cổ, vì bộ chữ này thỏa mãn được 03 tiêu chuẩn kiểm tra ký tự của một dân tộc, được các nhà khoa học đề ra, đó là: - Có ghi lại được đầy đủ tiếng nói của dân tộc đó không ? - Những đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc có thể hiện qua các đặc điểm của ký tự đó không ? - Có giải quyết được các "nghi án" về ngôn ngữ, ký tự của dân tộc đó trong quá khứ ? (Chứng minh bằng các cuộc kiểm tra thực tế ở các địa phương, bằng cách dịch lại các văn bản còn tồn nghi và đọc các văn bản cổ mới sưu tầm) Đây là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (không phải chữ tượng hình nguyên thuỷ) có cấu tạo gần với hệ chữ La Tinh của phương Tây, nên rất dễ học. Tuy nhiên bộ chữ này có một nhược điểm là những chữ nguyên âm luôn thay đổi vị trí. Phải mất nhiều năm nghiên cứu ông mới tìm ra quy luật – Quy luật đặt vị trí nguyên âm theo đạo lý người Việt (ví dụ từ trời nguyên âm đặt phía trên, từ đất nguyên âm đặt phía dưới. Tương tự các từ cha, con nguyên âm đặt phía trước hoặc sau). Để thuộc bảng chữ cái và nắm được quy luật ghép vần , người ta có thể học sử dụng được bộ chữ này để đọc, viết trong khoảng thời gian 7-10 ngày. Nhóm nghiên cứu đang đang tập trung nghiên cứu để một ngày gần đây chứng minh giả thiết cho rằng, những nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La Tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ. Chính trong cuốn “Từ điển Việt Bồ La”, Alexandre de Rodes đã viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong vòng 3 tuần, anh ta đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc các từ”. Theo thầy Xuyền thì “cách đọc các từ” đó nhiều khả năng là thứ chữ Việt cổ ! Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi cả nước khởi nghĩa giành độc lập, mùa xuân năm 40, được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ Một số bài thơ được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ Tác giả: Tổng hợp từ bài viết của 2 tác giả Đỗ Quang và Quang Hoà, bổ sung thêm tư liệu và hình ảnhNguồn:diendan.zing.vn
-
Dạ cháu cám ơn Bác Hạt Gạo Làng. Con cháu sắp sanh là cháu trai ạ. :P . Chân thành cám ơn bác,Chúc bác nhiều sức khỏe. Kính gửi. Lê Bá Trung.
-
Người đàn ông trong ảnh đã bị một chiếc vòi đâm xuyên vào mắt sâu gần 4 cm tại một bệnh viện. Nạn nhân của vụ tai nạn trên là ông Yi Zhao, 57 tuổi - một người không may mắn đã bị chiếc vòi đâm vào mắt trái ngay tại nhà của mình. Đó là viên sỏi thận khổng lồ được lấy ra khỏi cơ thể ông Sarkadi - một bệnh nhân ở Hungary. Viên sỏi thận nặng hơn 1 kg và dài 17 cm đường kính. Theo các phương tiện truyền thông đã đăng tải, cậu bạn 11 tuổi người Trung Quốc Liu Cheong đã suýt chết khi một người bạn của cậu vô tình bắn một mũi tên sâu tới 41 cm vào mắt Liu. Chiếc chìa khóa đã đâm thủng vào mắt rồi vào sâu tới não của một anh chàng có tên là Nicholas Holderman Kentucky. Ban đầu các bác sĩ tin rằng vật thể đã đâm thẳng vào nhãn cầu của Nicholas, nhưng sau đó một nhóm chuyên gia đã xác định rằng mối nguy hiểm sẽ nhanh chóng qua đi với cậu. Một thiếu niên đã may mắn thoát chết khi một chiếc dao đã đâm sâu tới 12,7 cm vào đầu. Cậu thiếu niên 16 tuổi và hai thanh niên khác đã bị thương trong khi cố gắng ngăn chặn một người bạn đi cướp tại trạm xe bus. Những thanh thiếu niên ở quanh đó đã nhanh chóng đưa cậu tới bệnh viên trong tình trạng con dao vẫn đang ở trong đầu cậu. Sự việc diễn ra ở Walworth, bắc London, vào tháng 11 năm 2008. Đó là hình ảnh của một người đàn ông 60 tuổi khi ông đi chụp X-quang tại bệnh viện Nishtar, Multan, Pakistan. Ông đã phải tìm kiếm phương pháp điều trị vì ông đã bị những tên kẻ trộm nhét chai Pepsi vào hậu môn trước khi chúng cướp đi 2 con bò của ông. Một nha sĩ đã tìm thấy nguồn gốc tại sao ông Patrick Lawler bị đau răng khi ông phàn nàn về vòm họng của ông đã bị một chiếc đinh dài đâm sâu tới 10cm vào vòm họng trong 6 ngày trước đó. Một cô bé 8 tuổi người Ấn Độ - Haley Lents đã nuốt phải 10 viên nam châm và 20 viên bi thép từ một món đồ chơi. Những viên nam châm và bi thép đã bị nuốt và một trong số chúng đã trôi xuống dạ dày của cô bé, tổng cộng là có 8 viên tất cả. Bố mẹ của Lents đã phải cô tới bệnh viện để được giải phẫu khẩn cấp. Sau đó Lent đã nói rằng những viên bi thép đó trông giống như “những viên kẹo”. Một chiếc đinh dài 5 cm đã được phát hiện khi một người đàn ông đến bệnh viện ở Seoul, phía bắc Hàn Quốc trong tình trạng nhức đầu trầm trọng. Các bác sĩ đã xem xét và đưa ra kết luận rằng chiếc đinh này đã ở trong đầu người đàn ông từ 4 năm trước trong một tai nạn mà người đó không hề hay biết. Một chiếc điện thoại di động đã bị nuốt trôi vào ruột của một tù nhân có tên là Salvadoran. Theo nguồn tin mới nhất người đàn ông đó là một trong 4 tù nhân thuộc băng đảng đường phố Mara Salvatrucha. Cuộc giải phẫu cần thiết để bảo vệ Houdini tại Ketchum, Idaho đã nuốt toàn bộ ổ điện, dây điện. Ảnh X-quang đã cho thấy những sợi dây điện đã bị rối, chằng chịt cùng với máy móc nằm gọc trong bụng nạn nhân. Một tấm ảnh X-quang do bệnh viện thú y ở Fort Lauderdale, Fla cung cấp cho thấy một chiếc dao có răng cưa bị nuốt bởi một chú chó 6 tháng tuổi - Saint Bernard. Lưỡi dao nằm ở giữa thực quản và dạ dày của chú chó trong 4 ngày trước khi nó được giải phẫu đưa ra ngoài. Cuộc phẫu thuật đã để lại cho chú chó một vết sẹo lớn nhưng nó hồi phục khá nhanh và nhanh chóng được trả về với chủ nhân của nó. Theo tin tức địa phương, một nhân viên của sân gôn Currumbin Wildlife Sanctuaryu ở Australia đã bị quở trách vì để cho một con rắn dài 32 inch nuốt 4 quả golf vào bụng vì lầm tưởng đó là những quả trứng. Một ca phẫu thuật cần phải diễn ra để lấy ra những quả golf khỏi ruột của con rắn. Tấm ảnh X-quang đã cho thấy một con mèo Australia, đã ở bên trong của một con trăn. Mặc dù đầu của con mèo lớn hơn so với chu vi vòng bụng của con trăn nhưng nó vẫn bị nuốt trọn vào bụng của con trăn. Nguồn:kênh 14.vn
-
Kính Gửi Bác Hạt Gạo Làng. Cháu Tuổi Bính dần vợ cháu Mậu Thìn. Tháng 3 này vợ cháu sanh em bé Kỷ Sửu. Nhờ bác xem dùm cho cháu. Theo như cháu biết vợ cháu Mậu Thìn, em bé Kỷ sửu, khắc tuổi nhau, về hành tương sinh thì sinh nghịch, cho cháu hỏi nếu năm nay mở tiệm làm ăn vậy có được không ạ? Và công việc làm ăn có tiến triển được không. Cám ơn bác Hạt Gạo Làng. Kính Gửi. Lê Bá Trung.
-
QUI LUẬT HOÀN HẢO CỦA HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ Trong tương quan quái mệnh và Bát Trạch Lạc Việt. Bảng dưới đây giới thiệu với quí vị và anh chị em về một phương pháp an Bát trạch so với cung phi bản mệnh trong Phong Thủy Lạc Việt. Bản này do VinhL một học viên của Phong Thủy Lạc Việt khóa II thực hiện. Sử dụng bảng này tiện lợi hay không tiện lợi tùy thuộc vào thói quen từng người. Nhưng ít nhất qua bảng này chúng ta lại thấy quy luật hoàn hảo của Bát trạch Lạc Việt liên quan đến cung phi bản mệnh. * PHƯƠNG PHÁP AN TÁM CÁCH CỦA BÁT TRẠCH LẠC VIỆT VinhL Khi nghiên cứu sâu vào sự vận hành của tám cách Bát Trạch qua các cung của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ thì khám phá được vài điều rất là lý thú. Từ các luật vận hành đó tôi xin cống hiến các bạn vài phương pháp để an 8 cách của Bát Trạch Lạc Việt một cách đơn giản, dễ nhớ. Reduced: 68% of original size [ 743 x 800 ] - Click to view full image Reduced: 89% of original size [ 644 x 800 ] - Click to view full image Reduced: 79% of original size [ 644 x 800 ] - Click to view full image Reduced: 93% of original size [ 614 x 800 ] - Click to view full image Reduced: 83% of original size [ 614 x 800 ] - Click to view full image Reduced: 80% of original size [ 636 x 800 ] - Click to view full image Bài này của chú Thiên Sứ. Bạn Vinh dành ít thời gian đọc bài này để áp dụng. Chúc bạn thành công. Thân. Lê Bá Trung.
-
Chúng ta hãy xem đoạn trích bài viết dưới đây của một một cao thủ trong thuật phong thủy là anh Bình Nguyên Quân. Qua đó thấy được tính chân lý của Phong thủy Lạc Việt với nguyên lý của nó là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ". QUOTE(Chú Thích) CHỌN HƯỚNG NHÀ THEO TUỔI Từ trước đến nay, khi nói đến vấn đề chọn hướng nhà, người ta đều dựa vào phương pháp phân chia nhà và tuổi thành 2 nhóm ĐÔNG - TÂY như sau: - Những người có năm sinh thuộc các quẻ CHẤN, TỐN, KHẢM, LY là thuộc ĐÔNG TỨ MỆNH, và chỉ có thể chọn những nhà có phương tọa thuộc các hướng ĐÔNG, ĐÔNG NAM, BẮC và NAM, tức những nhà thuộc ĐÔNG TỨ TRẠCH thì mọi sự mới được tốt đẹp. - Những người có năm sinh thuộc các quẻ CÀN, KHÔN, CẤN, ĐOÀI là thuộc TÂY TỨ MỆNH, nên chỉ có thể chọn những nhà có tọa thuộc các hướng TÂY BẮC, TÂY NAM, ĐÔNG BẮC và TÂY, tức những nhà thuộc TÂY TỨ TRẠCH. Nếu người mệnh ĐÔNG mà ở TÂY trạch, hay người mệnh TÂY ở ĐÔNG trạch thì thường là làm ăn thất bại, dễ mắc đủ mọi tai họa, bệnh tật, chết chóc. - Thí dụ: chủ nhà là nam, sinh năm 1960 (CANH TÝ) mệnh TỐN, tức thuộc Đông tứ mệnh, nên chỉ có thể chọn những nhà có phương tọa thuộc các hướng BẮC, NAM, ĐÔNG và ĐÔNG NAM. Tuy nhiên, có nhiều người dù đã được “đúng hướng hợp với bản mệnh”, nhưng sau khi vào ở vẫn bị nhiều tai nạn, khốn khó, yểu tử như những trường hợp dưới đây: - Trường hợp 1: Một gia đình nọ, cả 2 vợ, chồng đều sinh năm 1926 (BÍNH DẦN), nên chồng mệnh KHÔN, vợ mệnh TỐN. Vào năm 1965, họ dọn vào 1 căn nhà hướng TÂY NAM (210 độ), tọa ĐÔNG BẮC, nên tọa - hướng đều hợp với tuổi của chồng, nhưng khắc tuổi người vợ. Không những thế, bếp còn nằm ở khu vực TÂY BẮC, miệng bếp nhìn về hướng TÂY NAM. Nhưng sau khi vào ở thì gia đình càng ngày càng lụn bại, lại hay bị bệnh tật, tai họa liên miên. Sau khi ở đó được hơn 8 năm, người chồng bị đứt mạch máu và bại liệt nửa người, rồi chỉ hơn 1 năm sau thì ông qua đời. - Trường hợp 2: Một người nữ, sinh năm 1950 (vì sinh trong tháng 1 nên vẫn thuộc năm KỶ SỬU), mệnh LY. Vào năm 1995, người này dọn vào ở trong căn nhà tọa BẮC hướng NAM (hay tọa TÝ hướng NGỌ). Bếp nằm tại khu vực phía TÂY BẮC, hướng bếp (tức hướng lưng người đứng nấu) nhìn về phía NAM. Khi mới vào ở mọi sự bình thường, nhưng đến năm 2003 thì bị thất nghiệp, rồi sang năm 2004 lại phát hiện bị bệnh ung thư. Sau mấy năm trời đau đớn chịu đựng thì qua đời vào đầu năm 2008. - Trường hợp 3: Một gia đình nọ, chồng sinh năm 1958 (MẬU TUẤT), mệnh CÀN, vợ sinh năm 1961 (TÂN SỬU), mệnh CHẤN, mua nhà tọa BẮC hướng NAM từ cuối năm 2003. Bếp nằm trong khu vực phía BẮC và nhìn về hướng BẮC. Tuy nhà này “hợp” với tuổi của người vợ, còn “khắc hại” tuổi của người chồng, nhưng sau khi vào ở chưa vừa 3 năm thì người vợ bị đủ thứ tai họa, mất việc, kiện tụng, bệnh hoạn, thần kinh suy nhược trong khi người chồng thì tương đối ổn định, tuy có nóng nảy hơn lúc trước. Qua những trường hợp trên, cũng như rất nhiều trường hợp thực tế khác, có thể thấy phương pháp dùng tuổi để chọn hướng nhà là hoàn toàn sai lầm, và đôi khi còn mang tới nhiều kết quả tai hại. Chicago, ngày 21 tháng 4 năm 2008 Bình nguyên Quân Nguồn Phongthuyhuyenkhonghoc.com Thực tế được công bố của anh Bình Nguyên Quân cho chúng ta thấy tính ưu việt và chân lý của Phong Thủy Lạc Việt trên nguyên lý "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" như sau: QUOTE(Chú Thích) - Trường hợp 1: Một gia đình nọ, cả 2 vợ, chồng đều sinh năm 1926 (BÍNH DẦN), nên chồng mệnh KHÔN, vợ mệnh TỐN. Vào năm 1965, họ dọn vào 1 căn nhà hướng TÂY NAM (210 độ), tọa ĐÔNG BẮC, nên tọa - hướng đều hợp với tuổi của chồng, nhưng khắc tuổi người vợ. Không những thế, bếp còn nằm ở khu vực TÂY BẮC, miệng bếp nhìn về hướng TÂY NAM. Nhưng sau khi vào ở thì gia đình càng ngày càng lụn bại, lại hay bị bệnh tật, tai họa liên miên. Sau khi ở đó được hơn 8 năm, người chồng bị đứt mạch máu và bại liệt nửa người, rồi chỉ hơn 1 năm sau thì ông qua đời. Theo nguyên lý "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" của Phong Thủy Lạc Việt thì hướng Tấy Nam là cung Tốn thuộc Ngũ Quỉ Trạch với người cung phi Khôn. Bởi vậy, với Phong Thủy Lạc Việt trường hợp này là do sách Tàu sai ở vị trí Tốn - Khôn. QUOTE(Chú Thích) - Trường hợp 2: Một người nữ, sinh năm 1950 (vì sinh trong tháng 1 nên vẫn thuộc năm KỶ SỬU), mệnh LY. Vào năm 1995, người này dọn vào ở trong căn nhà tọa BẮC hướng NAM (hay tọa TÝ hướng NGỌ). Bếp nằm tại khu vực phía TÂY BẮC, hướng bếp (tức hướng lưng người đứng nấu) nhìn về phía NAM. Khi mới vào ở mọi sự bình thường, nhưng đến năm 2003 thì bị thất nghiệp, rồi sang năm 2004 lại phát hiện bị bệnh ung thư. Sau mấy năm trời đau đớn chịu đựng thì qua đời vào đầu năm 2008. Theo nguyên lý "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" của Phong Thủy Lạc Việt thì do độ số Hà Đồ khác với Lạc Thư chính ở vị trí Đoài Ly. Bởi vậy sách Tàu sai ở người phi cung Ly và Đoài. Do đó, với trường hợp 2 mà anh Binh Nguyên Quân đưa ra , người nữ Kỷ Sửu này theo Phong Thủy Lạc Việt chính là Đoài mạng. Người Đoài mạng (Theo Phong thủy Lạc Việt) nhà hướng Bắc Nam thuộc Tuyệt mạng trạch. Chị Wildlavender là hội viên của website Lý học Đông phương tuổi Binh Thân - sách Tàu là cung Đoài, Phong Thủy Lạc Việt là cung Ly - đã ứng dụng Phong Thủy Lạc Việt và đã thành công. Trường hợp của chị Wildlavender cũng chỉ là một trong hàng trăm thí dụ đã ứng dụng trện thực tế liên quan. QUOTE(Chú Thích) - Trường hợp 3: Một gia đình nọ, chồng sinh năm 1958 (MẬU TUẤT), mệnh CÀN, vợ sinh năm 1961 (TÂN SỬU), mệnh CHẤN, mua nhà tọa BẮC hướng NAM từ cuối năm 2003. Bếp nằm trong khu vực phía BẮC và nhìn về hướng BẮC. Tuy nhà này “hợp” với tuổi của người vợ, còn “khắc hại” tuổi của người chồng, nhưng sau khi vào ở chưa vừa 3 năm thì người vợ bị đủ thứ tai họa, mất việc, kiện tụng, bệnh hoạn, thần kinh suy nhược trong khi người chồng thì tương đối ổn định, tuy có nóng nảy hơn lúc trước. Trong Phong Thủy Lạc Việt nguyên lý nhất quán là "Âm phải thuận tùng Dương" , không tính tuổi người vợ trong bất cứ trường hợp nào khi thiết kế phong thủy. Trường hợp này người tuôi Mậu Tuất nam bị phạm tuyệt mạng trạch. Giống nhau giữa cổ thư chữ Hán và Phong Thủy Lạc Việt. Nhưng Phong Thủy Lạc Việt giải thích như trên. Như vậy, qua cả ba trường hợp mà anh Bình Nguyên Quân nếu trên và sự lý giải của Phong Thủy Lạc Việt, chúng ta thấy rằng sách Phong Thủy và các môn ứng dụng lý học Đông phương nói chung, có nguồn gốc từ cổ thư chữ Hán đã sai lệch ở vị trí Tốn Khôn và sự phối hợp với Lạc Thư. Đồng thời là cả một hệ thống lý thuyết cội nguồn của nó là thuyết Âm Dương Ngũ hành đã thất truyền nên không thể giải thích được những trường hợp hợp nếu trên. Chính vì sự sai lệch từ trong cổ thư chữ Hán đã gây ra hậu quả đáng tiếc như trên và hoàn toàn không phải như anh Bình Nguyên Quân viết: QUOTE(Chú Thích) Qua những trường hợp trên, cũng như rất nhiều trường hợp thực tế khác, có thể thấy phương pháp dùng tuổi để chọn hướng nhà là hoàn toàn sai lầm, và đôi khi còn mang tới nhiều kết quả tai hại. Chỉ có nền văn minh Lạc Việt một thời huyền vĩ ở bờ nam sông Dương tử - hậu duệ của nền văn minh siêu việt đã từng tồn tại trên địa cầu - chính là cội nguồn của mọi phương pháp ứng dụng thuộc học thuật cổ Đông phương và nguyên lý lý thuyết của nó được phục hồi mới có khả năng giải thích một cách hoàn chỉnh những vấn dề trên. Thiên Sứ
-
Thân chào Vinh. 1 người có 4 hướng tốt và 4 hướng xấu. 4 hướng tốt : Sinh khí, Diên Niên, Phục Vị,Thiên Y. 4 Hướng xấu: Tuyệt mệnh,Luc sát, Ngũ Quỷ,Họa Hại. Muốn xác định hướng tốt hướng xấu cho một ngôi nhà. Dựa vào mệnh trạch của gia chủ, tính theo tuổi, như vậy có thể biết được chủ nhà là Tây Tứ Trạch hay là Đông Tứ Trạch mà xác định. Vài dòng gửi Vinh. Thân. Lê Bá Trung.
-
Cám ơn htv rất nhiều. Mời huynh , tỉ cao nhân nào có thêm kiến thức này đóng góp thêm để cùng học hỏi kinh nghiệm.Chân thành cám ơn rất nhiều, chúc vạn sự cát tường. Thân. Lê Bá Trung.
-
Thân chào BtKhanh. btkhanh hãy cho biết hướng nhà, tọa độ và một sơ đồ nhà chính xác, ngày nhập trạch vào ngày mấy, năm nào. Về việc này btkhanh có thể nhờ sự tư vấn của các cao nhân khác trên diễn đàn, đặc biệt là bác Thiên Sứ. Chúc btkhanh vạn sư như ý và thành công. Thân. Lê Bá Trung.