Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Lê Bá Trung

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    526
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by Lê Bá Trung

  1. (Dân trí) - Nhìn cảnh toàn thân cháu bé băng bó, hai tay và chân phải treo lên cao để tránh những cơn đau khiến ai cũng phải chạnh lòng. Cháu bé đã trải qua cái Tết với những cơn vật vã do bỏng hành hạ, còn người mẹ thì lo lắng khi tiền đã cạn kiệt… Nằm trên giường bệnh, cậu bé Nguyễn Trang Nguyên (3 tuổi, quê ở xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) 2 chân và 2 tay run lên bần bật, nhưng không dám cử động nhiều vì nếu không em sẽ đau đớn vô cùng. Toàn thân em quấn băng trắng kín từ chân tới cổ, chỉ chừa lại mỗi cái đầu là không bị bỏng xâm lấn. Chỉ vào con trai mình, chị Phạm Thị Thủy, mắt ngấn lệ nói không thành tiếng: “Cháu bị ngã vào hố vôi đợt trước tết khi nhà đang tô trát lại, vôi lút từ chân tới cổ gây bỏng nặng, điều trị cả tháng trời ở Viện Bỏng quốc gia vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi nhiều”. Ngã vào hố vôi, bé Trang Nguyên bị bỏng 42%, trong đó bỏng độ 3 và độ 4 đến 35% Xác nhận với PV Dân trí, bác sĩ Nguyễn Như Lâm, trưởng khoa Hồi sức cấp cứu Viện bỏng quốc gia cho biết, so với trường hợp bị bỏng của bé Lê Đại Lợi mà Dân trí đã đăng tải, bé Nguyễn Trang Nguyên nặng hơn rất nhiều do em bị bỏng vôi tới 42%, mà trong đó 35% là bỏng sâu độ 3 và độ 4, lộ cả mỡ và gân ra ngoài. “Người bị bỏng vôi phải gánh 2 tác nhân lớn là nhiệt và bazơ, nguy cơ bị hoại tử dẫn đến tử vong rất lớn, nhất là với trẻ nhỏ như em Nguyên. Đây được đánh giá là một trong những ca bỏng nặng nhất ở Viện chúng tôi từ trước đến nay”. GS-TS Lê Năm, Giám đốc Viện Bỏng quốc gia cũng khẳng định, trường hợp bỏng của em Nguyên như đang gặp bão cấp 12, đang phải điều trị tích cực mới thoát được hiểm nghèo. Ông Lê Năm cũng cho biết, em Nguyên đã phải trải qua 4 lần phẫu thuật cấy ghép da đối với những mảng da đã bị hoại tử. Ngày 25/2, em Nguyên tiếp tục phẫu thuật cấy ghép da lần thứ 5, và khả năng sẽ còn nhiều lần phẫu thuật cấy ghép da trong thời gian tới. Lần phẫu thuật thứ 5 này khác với lần trước là không phải lấy phần da ở chân, bụng mà cắt da ở đầu để cấy ghép, bởi vì toàn bộ cơ thể của em Nguyên không còn chỗ nào lành lặn để cắt da nữa. Từ mái tóc đen nhánh, Nguyên đã phải cạo trọc đầu để chuẩn bị cho buổi cấy ghép vào ngày mai. Từ một cậu bé khỏe mạnh, hiền lạnh, Nguyên đang đối mặt và chống chọi trong đau đớn với nhưng vết thương do bỏng hành hạ. Nguyên những ngày đầu nhập viện Bây giờ em phải cạo trọc đầu để lấy da ghép cho những nơi đang bị hoại tử ở bụng và chân Khi thấy chúng tôi, Nguyên chỉ đưa mắt nhìn vừa tỏ vẻ lạ lẫm vừa cố gắng nín nhịn đau đớn. Em không cất một tiếng khóc, thi thoảng lại đưa ánh mắt nhìn mẹ như cầu cứu. “Cháu thấy người lạ thì nín, nhưng còn lại hai mẹ con thì cháu lại khóc ngằn ngặt vì đau. Thấy con đau lòng tôi cũng như xát muối trong lòng mà chẳng biết phải làm sao”, chị Thủy vừa cúi xuống vỗ về con trai vừa nói với chúng tôi. Điều quan trọng hơn, gia cảnh của chị Thủy cũng quá đỗi khó khăn. Ở quê nhà, nguồn thu nhập của chị Thủy chỉ dựa vào nghề làm muối. Chồng chị làm nghề thợ xây nên cũng rất long đong, vất vả. Số tiền mà chị Thủy vay mượn để chạy chữa cho cháu Nguyên hơn một tháng nay đã lên đến 100 triệu đồng, mà tương lai của cháu vẫn còn “thăm thẳm” ở phía trước. Tổng Biên tập Báo điện tử Dân trí Phạm Huy Hoàn trao tặng 3 triệu đồng cho em Nguyên để phẫu thuật cấy ghép da “Tiền đang cạn kiệt, chẳng biết vay mượn ở đâu được nữa. Có khi hết tiền đành phải đưa con về nhà thôi, nhưng mà nhìn con vật lộn với đau đớn thì tôi không nỡ. Ước gì tôi mới là người bị bỏng chứ không phải cháu”, chị Thủy cầu mong. Nhận số tiền ủng hộ 3.000.000 đồng của Tổng Biên tập Báo điện tử Dân trí Phạm Huy Hoàn, chị Thủy mừng mừng tủi tủi. Mọi đóng góp hảo tâm xin gửi về: 1. Chị Phạm Thị Thủy, xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định hoặc ủng hộ trực tiếp tại Khoa Hồi sức cấp cứu Viện Bỏng quốc gia, Hà Nội. ĐT: 01233910977 2. Quỹ Nhân ái - Báo Khuyến học và Dân trí - Báo điện tử Dân trí (Hà Nội) Số 2/48 Giảng Võ, Đống Đa, Hà Nội (Cạnh cây xăng Kim Mã) Tel: 04. 3. 7366.491/ Fax: 04. 3. 7366.490 Email: quynhanai@dantri.com.vn * Tài khoản VNĐ: Tên TK: Báo Khuyến học & Dân trí Số TK: 10 201 0000 220 639 Tại: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm * Tài khoản USD: Tên TK : Báo Khuyến học & Dân trí Số TK : 10 202 0000 004346 SWIFT Code: ICBVVNVX106 Tại: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương thành phố Hà Nội 3. Văn phòng đại diện của báo: VP Hà Tĩnh: 46 Nguyễn Công Trứ, Phường Tân Giang, TP Hà Tĩnh. Tel: 039.3.857.122 VP Đà Nẵng: 25 Nguyễn Tri Phương, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Tel: 0511.3653.725 VP HCM: 40/17/16 Nguyễn Văn Đậu, phường 6 quận Bình Thạnh. Tel: 08. 35107. 331 VP Cần Thơ: 53/13 Lý Tự Trọng, Q Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Tel: 071.3.733.269 Nguồn: Dantri
  2. :( Chúc Mừng Sinh Nhật Huynh Thiên Đồng. :( :) Chúc huynh nhiều niềm vui và thành công trong cuộc sống. :) Lê Bá Trung.
  3. Chúc Mừng Sinh Nhật Rin86. Chúc Thành đạt và luôn vui tươi trong cuộc sống. :)
  4. NGŨ HÀNH ĐĂNG (ĐÈN NGŨ HÀNH) Trong chín chòm sao Tử bạch, gồm : Nhất Bạch tinh (sao Sói Tham Lam, cát tinh), Nhị Hắc tinh (sao Cửa Lớn, hung tinh), Tam Bích tinh (sao Lộc Tồn, hung tinh), Tứ Lục tinh (sao Văn Khúc, hung tinh), Ngũ Hoàng tinh (sao Thanh Bạch, hung tinh), Lục Bạch tinh (sao Vũ Khúc, cát tinh), Thất Bích tinh (sao Phá Quân, hung tinh), Bát Bạch tinh (sao Hỗ Trợ bên trái, cát tinh) và Cửu Tử tinh (sao Hỗ Trợ bên phải, cát tinh), thì Ngũ Hoàng tinh (còn gọi là sao Liêm Trinh) được xem là đại hung tinh. Từ xưa người ta đã tin rằng, đại hung Ngũ Hoàng tinh chiếu đến đâu cũng mang đến những vận rất xấu như gia phong bại hoại, tiền của tiêu hao, người nhà bệnh tật, con cái ngỗ ngược, tính khí hung ác, … Và người ta cũng tin rằng, đèn ngũ hành sẽ khắc chế được những sát khí và vận hung do Ngũ Hoàng tinh gây ra. Đèn Ngũ Hành gồm 4 phần chính: phần nắp vặn hình chóp, phần miệng hình bình bát, phần thân như chiếc đèn ngủ và phần chân đế vuông. Bên trong miệng bình và chân đế rỗng. Chủ nhân sẽ cho vào miệng bình một ít trà, gạo và muối, phần chân đế sẽ chứa một ít đất lấy trong sân nhà. Đặt đèn ngũ hành ở phương chính của Ngũ Hoàng tinh, sẽ có tác dụng phát tán sát khí và hóa giải vận hung. Nguồn:hoangthantai.com
  5. :P Nhân dịp xuân Canh Dần. :( Kính chúc thầy Thiên Sứ :P và tất cả đại gia đình lý học đông phương một năm mới An Khang- Thịnh vượng-Sức khỏe dồi dào-Gia đình sum vầy-Phát lộc trong đầu năm mới :P
  6. Chúc Mừng Sinh Nhật Anh Minh Châu. Chúc anh và Gia đình luôn tràn ngập niềm vui trong cuộc sống. :(
  7. CHÚC MỪNG SINH NHẬT ANH PHẠM THÁI HÒA, CHÚC ANH NHIỀU SỨC KHÒE VÀ THÀNH CÔNG TRONG MỌI LĨNH VỰC. :( :lol: :P
  8. CHÚC MỪNG SINH NHẬT THẦY THIÊN SỨ. :lol: CHÚC THẦY NHIỀU SỨC KHỎE VÀ HOÀN THÀNH SỨ MỆNH 5000 NĂM CỦA NỀN VĂN HIẾN LẠC VIỆT. :rolleyes: :lol: :P
  9. Nhận dạng đất Tại sao phải nhận dạng đất ? Trước hết,hãy bỏ qua các yếu tố thần bí,mà đặt trọng yếu tối kinh nghiệm được đúc kết qua ngàn năm.Từ việc con người xem các chân cột để thấy được độ ẩm của đất,xem vầng sáng quanh mặt trăng để tiên đoán thời tiết,và ngay cả mầu xanh một chậu kiểng của một loài thực vật,hay nhìn ngắm con chó,con mèo nuôi mập ốm,để biết được sự mầu mỡ an lành của một vùng đất,đến việc khám phá ra rằng nhà mở cửa hướng Nam thường mát mẻ và mở hướng Bắc thường lạnh giá,nhà trên sườn đồi tránh được lụt lội và nhà trông ra biển người cư ngụ thường khỏe mạnh,ít đau bệnh.Những giải đoán có tính kinh nghiệm đó đã góp phần gây dựng và tồn tại cho đến bây giờ thuyết lý phong thủy. Và phong thủy giải đoán sự cát hung của đất đai qua diện mạo của nó với môi trường xung quanh.Diện mạo đó,vị trí đó được coi là địa mạo.Không nhất thiết phải có "cặp mắt phong thủy" mới quan sát được địa mạo,mà mọi người,với khả năng và kinh nghiệm sống của mình đều nhận ra khí của đất với những quan sát mắt thường,tiền đề cho những giải đoán sau này. Quan sát mắt thường là thế nào ? Là quan sát bằng cặp mắt của người không bận tậm đến phong thủy mà chỉ bận tậm đến việc lựa chọn mảnh đất xây dựng căn nhà cho mình.Đó là những quan sát thoạt tiên,nhất thiết không thể bỏ qua.Trước hết quan sát thực vật và động vật xung quanh vùng đất muốn lựa chọn.Nếu cỏ cây có mầu tươi xanh,khí ắt tốt lành và khỏe mạnh.Những vùng đất mầu nâu,mầu vàng hoặc trần trụi tỏ rằng dòng khí đã chảy khỏi mặt đất,nôm na gọi là đất bạc mầu.Long mạch chính là nơi tươi xanh những thảm cỏ,chồi lộc nhú trên cành xanh,bảo rằng chỗ ấy khí sung mãn,nên dựng nhà ở đó.Những động vật hoang dã và gia cầm,mà sắc diện của chúng khỏe mạnh,tươi vui,giúp ta dự đoán sự sung túc, xum họp.Các loại động vật như quạ,cú,chim móng nhọn,chim ăn thịt,chó mèo hoang là điềm báo khí hãm xấu.Nếu không có động thực vật thì cần quan sát những người quanh vùng,những người xóm giềng,xấu tốt hiện ra nơi mặt họ.Sống gần bên những người nổi tiếng,những người giầu sang,những người quân tử,những người cao thượng, đạo đức là cũng đơợc thụ hưởng nguồn khí tốt lành,cát vượng.Ngược lại sống bên những người trộm cắp,thấp hèn,luôn tranh dành cãi cọ,thật khó tránh khỏi những hãm xấu của môi trường.Do đó,việc quan sát cát hung của đất ở,nói chung,mỗi người đều có một khả năng phong thủy nhất định. Nhưng ? Nhưng đó chỉ là sự quan sát lựa chọn trong mơ,chỉ có trong thời cổ xưa khi đất đai mênh mông dân cư thưa thớt,người ta có thể lựa chọn cà hình sông thế núi để xây dưng căn nhà cư ngụ cho người sống và miệng rồng để táng nhà cho người chết.Còn giờ đây,tấc đất tấc vàng ao dầm san lấp,ruộng hoang nên nhà,thì việc lựa chọn một vùng đất thuận theo phong thuỷ cho một căn nhà không phải cứ muốn là được,mà phải chấp nhận theo hoàn cảnh,theo môi trường,và cố sao cho căn nhà được hưởng lợi nhiều nhất cát khí của môi trường tự nhiên ấy.Đất lành chim đậu.Không có vùng heo hút nào cư dân vùng ấy không quần tụ thành xóm,bản,thành thôn làng.Nơi quần tụ ấy chính là đất phong thuỷ nhất của vùng heo hút ấy.Nên việc được cư ngụ trên đất kinh đô,thành phố,thị xã,thị trấn,làng xóm đã là được hưởng cái phước của phong thuỷ chốn ấy.Vấn đề còn lại là sự đua tranh nhau dành những miếng đất cát tường hơn.Phong thuỷ hiện đại tham gia vào cuộc đua tranh ấy với những quan sát thông thoáng hơn và những giải pháp tích cực hơn,ví thể như con đường được coi như dòng sông,nhà cao tầng được coi như là núi,âm thanh,màu sắc,các vật sống,chuyển động,các vật phát sáng...được coi là giải pháp.Và việc lựa chọn những giải pháp nào cho thoả cái ý muốn Phúc Lộc Thọ là nội lực tự thân của người biết cầu thị,biết nhận sự tham góp ý kiến hay và đúng của phong thuỷ. Một vài cách quan sát Đã nói là quan sát,thì phải cố vận động trí tưởng ,bởi không có một địa mạo nào giống như mẫu vẽ.Mẫu vẽ chỉ mang ý nghĩa tham khảo.Và nên thuộc địa mạo quan sát trong trí tưởng để suy ngẫm giải đoán. Thuộc mặt đất,đó là việc không thể không làm được nếu muốn.Nhưng quan sát dòng khí là điều khó khăn hơn,đòi hỏi chuyên cần,tỉ mỷ và kiến thức.Có thể quan sát dòng khí như quan sát dòng chảy con sông hay con đường.Dòng chảy nào cũng có thượng lưu và hạ lưu,mặt trước của căn nhà ở phía thượng lưu. Sẽ nhận ra rằng : Quanh nhà ở có đường đi hay dòng sông hiền hoà bao bọc,liền lạc,không phân nhánh,cắt khúc,đó là đất tụ khí,tụ tài lộc.Lại bảo,trước cửa nhà có dòng sông hay đường đi bao quanh,nước chảy êm đềm,thật cát tường cho sinh tồn sinh lý.Lại bảo,dòng chảy thượng lưu chảy ngang qua mặt nhà (là con đường thì quan sát dòng chảy khi trời mưa),đất này vượng thuỷ khí,lợi việc giao tiếp. Và cũng dễ nhận ra rằng : Nếu dòng chảy từ hai bên nhà ở hợp lại phía trước cửa nhà,sau đó chảy đi,là đất tán khí.Lại thấy,dòng chảy đâm thẳng vào cửa chính,sau đó phân làm hai nhánh sang hai bên chảy đi,là khí xung sát,xấu hãm.Lại thấy,lưng hình cung của dòng chảy nằm ở phía trước nhà,như cánh cung ngược,cổ nhân cho rằng đất này gia đạo khó yên,hôn nhân trắc trở.Lại thấy,dòng chảy đi qua phía sau căn nhà nhô ra,ưỡn vào lưng nhà,gọi là đất lưỡi nhô,chủ về thị phi,tranh tụng.Dòng chảy đâm vào sau lưng nhà đến gần nhà chảy về hướng khác,gọi là đất nước xói,thuỷ khí sau lưng sự cố bất ngờ.Dòng chảy càng đẹp thì sát khí càng mạnh.Thác Cam Ly tuyệt đẹp,người ta có thể đến tham quan thưởng ngoạn và nghỉ lại đôi ba ngày.Nhưng nếu làm nhà ở bên thác (nếu có thể) cuộc sống cụng không thể cát vượng,nếu không muốn nói là có nguy cơ điên loạn,đau ốm,bệnh tật.Dòng chảy cong ngược đâm vào sau lưng nhà cũng gọi là đất hung.Hoặc trên dòng chảy hình thành một cung lượn thì gọi là đất Bạch Hổ quay đầu,loại địa hình này rất kiêng kỵ,mất láng giềng,luôn họa ách. Tóm lại,dòng chảy ôm căn nhà cư ngụ căn bản là cát,dòng chảy tấn công hoặc xói tán khí của căn nhà cư ngụ là hung. Nhận dạng công trình kiến trúc? Nắm vững lý thuyết ngũ hành sinh khắc để nhận định. Hình dạng kiến trúc có dạng hành kim : Hình dáng là cong tròn.Máu sắc là xám trắng.Công năng là an toàn,là nơi làm việc sinh ra và cất giữ tiền bạc.Vật liệu xây dựng là sắt thép.Một số ví dụ : Cấu,gò,đường cong vòm nóc,nhà làm việc,đường xe lửa,dao kéo,tiền,nữ trang,cung kiếm... Hình dạng kiến trúc có dạng hành thuỷ: Hình dáng uốn lượn,lên xuống.Màu sắc từ trắng trong đến đen.Công năng là chuyển động,giao tiếp,ngôn ngữ.Một số ví dụ : Phòng tắm,nhà bưu điện,nhà giặt ủi,rượu bia,tin học,điện toán,điện lực,viễn thông quảng cáo,giao thông,kính... Hình dạng kiến trúc có dạng hành mộc : Hình dáng vuông cao.Màu sắc là xanh lá cây.Công năng là sinh,dưỡng,tự trọng.Vật liệu xây dựng là mộc.Một số ví dụ : Cột tròn,tháp,tháp canh,phòng ngủ,phòng trẻ nhỏ,phòng ăn,nhà dưỡng nhi,màu hoạ sĩ,đồ đạc,rau cỏ,nghề mộc,cư xá,cà phê,nhà thương,khách sạn,cây cỏ... Hình dạng kiến trúc có dạng hành hoả : Hình dáng nhọn đầu,hình ngọn lửa.Màu sắc là đỏ tía.Công năng là thành tích.Một số ví dụ : Tháp nhà thờ,mũi nhọn,nhà bếp,công nghệ hoá chất,động vật,màu đỏ,đồ da,trí thức... Hình dạng kiến trúc có dạng hành thổ : Hình dáng vuông thấp.Màu sắc là hoàng thổ.Vật liệu xây dựng là gạch,cát,đá vôi,gốm...thuộc thổ.Công năng là sinh tồn,sinh lý.Một số ví dụ : Dãy nhà chung cư,mái bằng,nhà thấp tầng,hình vuông,tường hầm,nhà để xe,nhà kho,nông nghiệp,đồ gốm,công chánh,nơi bằng phẳng,đất sét,gạch... Hình thể mảnh đất xây dựng nhà ở nên như thế nào? Các hình thể mảnh đất: Hình thể mảnh đất chắc chắn còn nhiều hơn hình thể toán học.Nào vuông,nào chữ nhật,tròn,méo,nửa tròn,méo tròn,méo vuông,tam giác cân,tam giác vuông,ngũ giác,lục giác,bát giác,hình thang,hình bình hành,hình gà,hình cóc,hình rắn,hình chuột,hình hổ quay đầu,hình voi phục,hình lưỡi liềm,hình ngôi sao...Tóm lại là không thể kể hết. Xu thế chung của phong thuỷ truyền thống chuộng hình tròn và vuông.Có thể tròn là Trời,vuông là Đất (quan niệm cổ) tượng hình trong đồng tiền chinh cổtròn ngoài,vuông trong.Cũng có thể bởi vuông và tròn chứa đầy một cái bát quái` với tám điều mà người đời cho là thiết yếuvới cuộc sống của mình.Tám điều ấy là: Sự Nghiệp (1),Hôn Nhân (2),Gia Đình (3),Tiền Của (4),May Mắn (6),Con Cái (7),Trí Thức (8),Danh Tiếng (9),Tám điều này xoay quanh trục Trung Tâm (5) chủ hai căn bản của con người là Sinh Tồn và Sinh Lý.Hình vuông và tròn đầy một bát quái,chứa đầy đủ tám điều kể trên,là vậy. Vậy nên,mảnh đất hình dạng gì chăng nữa cũng nên xây dựng căn nhà trên một hình vuông hoặc chữ nhật,để được tiện ích,cát tường. Với mảnh đất rộng,thực hiện điều này không khó khăn.Nhưng với miếng đất quá hẹp hoặc không thể bố cục thành hình vuông hoặc hình chữ nhật,thì nên sử dụng các giải pháp nhập thế đưa miếng đất về hình vuông hoặc chữ nhật trong phạm vi có thể của nó. Nói thật dễ,nhưng dịch chuyển một miếng đất hình tam giác,hình méo tròn,hình đuôi chuột...về khuôn vuông hay chữ nhật là điều vô cùng khó.Khó không phải là bởi không thể làm được mà khó thuộc về suy nghĩ,tập quán và hoàn cảnh khiến chủ đầu tư không thể thực hiện.Trong các trường hợp nan giải này,xuất thế là giải pháp. Nguồn:phongthuybnn.com
  10. Những vấn đề nêu ra dưới đây, có điều phong thủy lý giải được, có điều không, dù rằng rất thông dụng trong dân gian. Và cũng chính vì những điều thông dụng ấy, nên chép lại cùng tham khảo. CHỌN NGÀY LÀM NHÀ ? 1. Theo kinh nghiệm và phong tục tập quán : Nguyên tắc chọn ngày tốt nhất là ngày Rằm, ngày mồng Một mỗi tháng, nếu các ngày Rằm, Mồng Một đó không rơi vào các ngày Hoang Ốc sau đây :Mùa xuân tránh ngày Thân/Mùa Hạ tránh ngày Dần/Mùa Thu tránh ngày Mão/Mùa Đông tránh ngày Dậu. Và cần tránh Ngày Sát Chủ : Mùa xuân kỵ ngày Ngọ/Mùa Hạ kỵ ngày Tí/Mùa Thu kỵ ngày Dậu/Mùa Đông kỵ ngày Mão. 2.Theo Âm Dương Ngũ Hành : Tìm quẻ ngày để biết hành của ngày đó, căn cứ vào ngũ hành sinh khắc mà lựa chọn ngày làm nhà, sửa chữa nhà, dọn nhà, cho thích hợp. Tìm quẻ giờ để biết hành của giờ cúng động thổ hoặc sửa chữa hoặc cúng mừng dọn về nhà mới. Những tính toán này theo âm lịch, cần am tường ngũ hành và nội dung quẻ dịch mà tùy nghi ứng dụng, nếu xét thấy cần thiết. Quy số theo chi đối với Năm và Giờ : Tí(1),Sửu(2),Dần(3),Mão(4),Thìn(5),Tỵ(6),Ngọ(7),Mùi(8),Thân(9),Dậ u(10),Tuất(11),Hợi(12). Ngũ hành tương sinh và tương khắc : Tương sinh : Thổ-Kim-Thủy-Mộc-Hỏa. Tương khắc : Thổ-Thủy-Hỏa-Kim-Mộc. Ngũ hành Bát Quái : Thổ : Khôn,Cấn. Kim : Càn,Đoài. Thủy : Khảm. Mộc : Chấn,Tốn. Hỏa : Ly. Phương pháp tìm quẻ ngày : Tổng số Ngày, Tháng, Năm chia cho 8, số dư là quẻ ngày (quẻ Thượng). Ví dụ, Ngày 22 tháng 12 năm Ất Dậu (năm Dậu quy số là 10), ta có : 22+12+10=44 : 8 = 5 lần dư 4 = Ngày Chấn thuộc mộc (còn gọi là Lôi) = Quẻ Thượng là quẻ Lôi. Phương pháp tìm quẻ giờ : Tổng số Giờ, Ngày, Tháng, Năm chia cho 8, số dư là quẻ giờ (quẻ Hạ). Ví dụ : Giờ Thìn (quy số là 5), ngày 22 tháng 12 năm Ất Dậu, ta có : 5 + 22 + 12 + 10 = 49 : 8 = 6 lần dư 1= giờ Càn (còn gọi là Thiên, Kim) = Quẻ Hạ là quẻ Thiên. Tổng số Giờ, Ngày, Tháng, Năm chia cho 8, số dư là quẻ giờ (quẻ Hạ).Ví dụ : Giờ Thìn (quy số là 5), ngày 22 tháng 12 năm Ất Dậu, ta có :5 + 22 + 12 + 10 = 49 : 8 = 6 lần dư 1= giờ Càn (còn gọi là Thiên, Kim) = Quẻ Hạ là quẻ Thiên. Thiết lập trùng quái, ta có quẻ Lôi/Thiên Đại Tráng (Chấn trên, Càn dưới), trên trời có sấm là quẻ Tráng. Quẻ này lợi cho việc cầu tài, cầu quan, nhưng bất lợi cho việc xây cất.Từ quẻ ngày và quẻ giờ, luận (lý, tượng, số) với mệnh người chủ đầu tư mà quyết định công việc nên hay không nên khởi công xây cất nhà. Ví dụ , với người thổ khởi công nhà ngày Địa là tốt, giờ cúng động thổ nên là giờ Địa / Phong Thăng (giờ Thìn, 7 – 9 giờ sáng), là cát tường. CÁCH TÍNH HẠN TAM TAI ? Trên thiên bàn Bát quái 12 cung, cổ nhân định vị các cung số mạch lạc, rõ ràng tính hành của từng cung trong mối tương quan sinh, khắc với các cung khác. Dưới đây tuần tự lược trình các thế cung trong Kinh Dịch, mong rằng qua đó nhận biết thêm về hung cát của tam tai mà tùy nghi tham khảo, ứng dụng. Có 6 nhị hợp. Tí Sửu : Nhị hợp hóa thổ. Dần Hợi : Nhị hợp hóa mộc. Mão Tuất : Nhị hợp hóa hỏa. Thìn Dậu : Nhị hợp hóa kim. Tỵ Thân : Nhị hợp hóa thủy. Ngọ Mùi : Nhị hợp hóa thổ. Có 4 tam hợp. Thân Tí Thìn : Tam hợp thuộc thủy. Dần Ngọ Tuất : Tam hợp thuộc hỏa. Tỵ Dậu Sửu : Tam hợp thuộc kim. Hợi Mão Mùi : Tam hợp thuộc mộc. Có ba cục diện tứ. Dần Thân Tỵ Hợi : Tứ Sinh hay còn gọi là Tứ xung theo từng cặp. Thìn Tuất Sửu Mùi : Tứ thổ hoặc Tứ Mộ. Tí Ngọ Mão Dậu : Tứ tuyệt còn gọi là tứ hướng Bắc Nam Đông tây. Từ thế cung Nhị hợp, Tam hợp, Tứ cục diện hình thành Tam Tai ( ba năm liên tiếp hung cát) Người trong tam hợp tuổi Thân Tí Thìn : tam tai các năm Dần, Mão, Thìn. Người trong tam hợp tuổi Dần Ngọ Tuất : tam tai các năm Thân, Dậu, Tuất. Người trong tam hợp tuổi Tỵ Dậu Sửu : tam tai các năm Hợi, Tí, Sửu. Người trong tam hợp tuổi Hợi Mão Mùi : tam tai các năm Tỵ, Ngọ, Mùi. Phong tục và kinh nghiệm dân gian cho rằng làm nhà các năm hạn Tam Tai là không nên vì xấu hãm.Điều này nên tham khảo, bởi đây là kinh nghiệm, tập tục dân gian. CÁCH CHỌN TUỔI LÀM NHÀ ? Ngoài việc xem Tam Tai,người làm nhà thường xem Kim Lâu,Hoang Ốc. NHỮNG HUYỆT KÍCH HOẠT KHÍ CHỦ YẾU THƯỜNG DỤNG Huyệt kích hoạt trường khí dương trạch còn gọi là huyệt Phúc, huyệt gia cường nền móng nhà. Huyệt trấn trạch. Huyệt nghênh lộc và thụ lộc. Huyệt tấn học, nghiệp học, danh tiếng. Huyệt sức khỏe và tuổi trời. Huyệt Thanh Sắc. Huyệt vọng nước cầu Long. Vân vân… Một ví dụ đặt huyệt sức khỏe tuổi trởi : Kích hoạt sức khỏe và tuổi trời bằng rùa đá. Vị trí kích hoạt : tùy theo dương trạch, nhưng vị trí chủ yếu ở không gian đất dựng trạch hoặc không gian cư ngụ thuộc Hậu Vũ (huyền Vũ – Rùa Đen). Tìm ý nghĩa và đức tin trong phong tục dân gian đo rùa sau đây : Một cây tăm nhang. Đo kỹ, hết chiều dài 5 ngón ngửa bàn tay. Rồi đo úp bàn tay (mu rùa). Lóng giữa ngón cái là đầu rùa. Lóng giữa các ngón trỏ, giữa và áp út là sáu khúc mình rùa. Lóng giữa ngón út là 4 chân và đuôi rùa. Đuôi rùa bằng chân và dư là ruột rùa. Luận : Rùa thiếu chân (Thiên/Địa Bĩ). Rùa thiếu đuôi (Hỏa/Sơn Lữ), thế sinh xuất, vất và tranh đấu tìm cơ may thành tựu. Đuôi bằng chân (Địa/Thiên thái), tích phúc tu thân hưởng phúc lộc thọ. Rùa có ruột (Hỏa/ Thiên Đại Hữu), biết dụng được cát tường. Từ ý nghĩa trên Rùa được coi là vật thiêng đặt huyệt sức khỏe và tuổi trời. Các Huyệt kích hoạt khác căn cứ theo ý nghĩa của Cửu Đức mà thiết lập : 1/Thiên Trạch Lý/2.Địa Sơn Khiêm/3Địa Lôi Phục/4.Lôi Phong Hằng/5.Sơn Trạch Tổn/6.Phong Lôi Ích/7.Trạch Thủy Khổn/8.Thủy Phong Tỉnh/9.Thuần Tốn. VẤN ĐỀ SAU CÙNG THỜ CÚNG Ở DƯƠNG TRẠCH. Không nên hiểu việc thờ cúng là một tôn giáo, dù tôn giáo có thờ cúng, mà nên hiểu đó là một phong tục, một luật tục. Có 5 loại bàn thờ trong một dương trạch. Bàn thờ thiên, đơn thuần là cầu xin thiên nhiên mưa thuận gió hòa, để dương trạch được tươi tốt, gia đình được an khang, xum vầy đầm ấm. Bàn thờ đơn giản đặt ngoài trời, chỗ cao nhất, đẹp nhất của dương trạch. Bàn thờ tôn giáo ( Đức Phật, Đức Chúa hay Đức Thánh, tùy theo tôn giáo). Bàn thờ này chủ về đức tin mà gia chủ dương trạch nuôi dưỡng và theo đuổi. Bàn thờ này nên đặt nơi trang trọng nhất trong nhà, cùng hướng với môn tiền của dương trạch. Bàn thờ gia tiên, hầu như nhà nào cũng lập, để tưởng nhớ cội nguồn, tri ân đấng sinh thành và nuôi dưỡng gia tộc, gia đình. Bàn thờ này nên đặt ở nơi trang trọng, không nhất thiết phải cùng hướng với dương trạch, nhưng nên đặt không gian cả gia đình thường xuyên xum họp quây quần, vì bản chất của bàn thờ này là hướng nội tâm là tưởng nhớ, tri ân. Bàn thờ Táo quân (đã trình bày trong mục Nhà Bếp). Bàn thờ Thổ Địa, Thần Tài cầu xin đất đai yên lành, cầu xin tiền bạc cơm áo, nên đặt sát đất và hướng về môn tiền dương trạch. Dương trạch có đặt huyệt kích hoạt khí, đó là các huyệt xuất thế, không phải bàn thờ, không cần hương khói. Với năm loại bàn thờ vừa dẫn, nên chú ý những kiêng kỵ sau : Tối kỵ đặt cho có, đặt mà trong lòng không có đức tin. Tối kỵ nơi xú uế, bẩn thỉu, hôi hám. Không nên đặt bàn thờ trên vách tường nhà bếp, nhà WC, đặt dưới nhà bếp hoặc nhà WC trên lầu, thậm chí hướng bàn thờ nhìn vào bếp hoặc nhà WC. Đặt bàn thờ chỗ gia đình xum họp (tĩnh nơi động mà tĩnh) khác với đặt nơi đường đi lối lại, nơi gầm cầu thang (tĩnh động giao tranh hung xấu). Tránh đặt bàn thờ tọa trên cửa sổ hoặc nơi cửa ra vào, thiếu tôn trọng, gây xấu hãm cho trường khí dương trạch. Việc cúng kiếng là tùy tâm, tùy nơi đức tin, không nhất thiết phải bầy vẽ và điều quan trọng nhất là không nên dị đoan mù quáng. Cúng động thổ, chủ dương trạch nên làm, chỉ cần hương hoa lòng thành, và cần nhất là có : muối, gạo và rượu trắng (thức ăn thuộc thổ, côn trùng được ăn và quá trình ăn là đánh thức đất), rượu trắng chỉ nên 99 giọt trộn với gạo muối và rắc xung quanh miếng đất xây dựng hoặc nơi sửa chữa. Những người thợ xây cất ngôi nhà có thể cúng Tam xên, đây là phong tục với ý nguyện cầu xin việc xây dựng ngôi nhà được an toàn, tốt đẹp. Cúng nhập trạch (mừng nhà mới), ý nghĩa nhiều hơn với người sống, tùy hoàn cảnh, điều kiện và tùy tâm. Ngoài ra không cần kiêng kỵ, cúng kiếng gì khác. Nguồn:phongthuybnn.com
  11. Chữ huyệt trong phong thủy hàm chứa nhiều bí ẩn hoang đường.Những nhà dịch học thời mới muốn né tránh chữ huyệt đổi thành chữ kích hoạt,thực chất nên gọi đầy đủ quan niệm này là huyệt kích hoạt*TAM TÀI PHÚC, LỘC,THỌ*Sẽ thật hoang đường,mơ hồ nếu bảo có thể nếu bảo có thể cầu xin một đấng siêu nhiên nào đó thay đổi được phúc,lộc thọ của con người ta,từ hung thành cát,từ cát thành hưng vượng hơn.Quả nếu có phép thuật đó thì ngưới biết sẽ chẳng truyền nghề cho ai và sẽ chỉ làm cho phúc lộc thọ của đời mình muôn năm hưng thịnh.Nhưng nếu nghĩ về tam tài phúc lộc thọ như một sức nuôi dưỡng,một đức tin tu thân,một ám thị nhắc nhở,một nội lực phấn đấu,thì việc đặt các huyệt kích hoạt tam tài phúc,lộc,thọ sẽ bớt đi phần dị đoan,mơ hổ và dễ dàng được cảm thông, tiếp nhận như một tập tục văn hóa mang ý nghĩa đạo đức nguồn cội.Tam tài là ba cõi lớn,gọi là thiên,địa,nhân hay gọi là phúc lộc thọ cũng vậy.Người ta ở đời chinh phục hoặc khuất phục ba cõi thiên địa nhân,phấn đấu hoặc cầu xin ba điều phúc lộc thọ cũng là lẽ thường tình,không có gì xấu,phải né tránh.Vì vậy việc đặt huyệt tam tài cầu nguyện phúc lộc thọ,thực lòng ai cũng đều muốn cả,muốn vì một nhu cầu có thật : Yên lòng.Trong ba huyệt Phúc,Lộc,Thọ con người ta thường tình xem trọng huyệt Lộc hơn cả,vì tin rằng huyệt Lộc tham gia vào cuộc sống đời thường,là hiện hữu,là có ý nghĩa thiết thực.Không phản bác sở thích này,tuy nhiên chớ nên quên rằng cả ba huyệt đều quan trọng như nhau,nếu không muốn nói rằng huyệt Phúc và huyệt Thọ còn cao hơn huyệt Lộc một bậc.Kích hoạt huyệt là gồm : Kích hoạt âm và kích hoạt dương.Kích hoạt âm thường gọi là các huyệt hạ thổ và phần mộ dòng tộc,ông bà cha mẹ.Kích hoạt dương thường gọi là các huyệt Bình thổ,Bích thổ,Ốc thổ,các phương vị bàn thờ,các vật dụng kích hoạt sinh hoạt và đời sống.La kinh là công cụ để thiết lập các huyệt hạ thổ.Cung Phúc Đức là định hướng kích hoạt mộ phần gia tộc.Chòm sao Thái Tuế dụng kích hoạt Phúc,chòm sao Thiên Lộc dụng kích hoạt Lộc,chòm sao Tràng Sinh dụng kích hoạt Thọ và Ma trận Bát Quái là công cụ để xác lập các huyệt kích hoạt Bình thổ,Ốc thổ,Bích thổ và các vật thiêng.*1.Kích hoạt tam tài Phúc.Mộ phần họ tộc : Căn cứ cung Phúc Đức mà xác định mộ phần.Cần biết Phúc và Đức là hai phạm trù chung làn ranh rõ ràng,mạch lạc.Những người khi đã về cõi thổ là thuộc phần Phúc,những người đang sống ở cõi dương gian là thuộc phần Đức.Nhưng người sống chỉ có thể tu thân tích thiện đức khi chết đi thiện đức ấy sẽ hóa thành phúc,làm cội rễ cho dòng tộc,cho con cháu. Xem Tứ tượng để biết cát hung của mộ huyệt dòng tộc.Cung tọa có vững chãi,cao ráo,sạch đẹp ? Cung tiền án có phong quang,sáng sủa,có bị ám xấu che lấp ? Cung Tả Thanh Long (dòng dương) và cung Hữu Bạch Hổ (dòng âm) cát vượng,xấu hãm thế nào ? Định Tứ tượng để tu chỉnh,sửa sang,chăm sóc mộ phần.Phải tự giác coi đây như một nếp văn hóa mang đậm ý nghĩa đạo lý nguồn cội. Cát và đất thịt sạch thật tốt cho việc tôn tạo,chỉnh trang phần mộ.Hai loại xương rồng dại dân gian gọi là xương rồng ông và xương rồng bà,thật có ích cho việc bài trừ hung xấu,giữ gìn phần mộ. Các loại bàn thờ : Bàn thờ Thiên,đặt nơi cao nghiêm,giữa trời,ngoài trời,cầu nguyện mưa nắng thuận hòa. Bàn thờ tôn giáo ( tùy theo tôn chỉ,quy tắc thờ cúng của từng loại tôn giáo ),nói riêng về bàn thờ Phật (vì phổ biến hơn cả) thì chỉ nên thỉnh thờ Phật Quan Thế Âm,được coi là độ phần Phúc ba cõi.Bàn thờ đặt nơi cao ráo,tôn nghiêm,tượng Phật quay mặt ra đường chính. Bàn thờ gia tiên đặt nơi tôn nghiêm,hoặc nơi có động người trong gia tộc tụ họp,không cần phải quay ra đường,nhưng nhất thiết không được quay về các phương xấu hãm xú uế. Bàn thờ Thổ Công và Thần tài,có thể thờ chung,đặt sát sàn đất,nên loại trang thờ chất liệu thổ ưu tiên 1,chất liệu mộc ưu tiên 2. Bàn thờ Táo quân (Táo lò không phải táo tòa) đặt ngang bằng với mặt lò nơi góc không gian thuận tiện. Chòm sao Thái Tuế kích hoạt Phúc. Chòm sao Thái Tuế an theo tuổi,theo năm.Chòm Thái Tuế gồm 12 sao,theo tuần tự xuất hiện : Thái Tuế/Thiếu Dương/Tang Môn/Thiếu Âm/Quan Phù/Tử Phù/Tuế Phá/Long Đức/Bạch Hổ/Phúc Đức/Điều Khách/Trực Phù. Định vị sao Thái Tuế theo cửa ra vào chính của không gian.Ba vị trí kích hoạt phúc tốt nhất là : Thái Tuế,Quan Phù,Bạch Hổ,gọi tắt là tam vị Phù-Tuế-Hổ. Vật dụng kích hoạt nên là vật dụng thuộc thổ như gốm,sứ.Chớ nên kích hoạt các vật dụng thuộc kim,như đao kiếm. 2.Kích hoạt tam tài Lộc.So trong Tam Tài Phúc Lộc Thọ,con người ta xem trọng việc cầu Lộc hơn cầu Phúc cầu Thọ.Kể cũng là phải,vì đời sống của con người là hiện thực,là ngay trong tay, ngay trước mặt nhìn thấy,sờ mó được,còn việc Phúc việc Thọ dẫu sao cũng bí hiểm đôi phần ảo. Cũng vì quan niệm ấy phong thủy rất ít khi dụng các huyệt kích hoạt hạ thổ cho việc cầu lộc.Phần lớn dụng các huyệt Ốc thổ,Bích thổ,Bình thổ để cầu lộc.Ví trị kích hoạt thường căn cứ theo khuynh hướng cát vượng của Thiên Lộc và Địa lộc. Thiên Lộc hàm nghĩa là lộc của Càn Khôn (Trời đất),còn có tên gọi là Lộc Tồn,thuộc thổ,thiết lập theo can tuổi,khởi từ Giáp tại cung Dần.Chòm sao Lộc Tồn bao gồm 12 sao : Lộc Tồn / Lực Sĩ / Thanh Long /Tiểu Hao/ Tướng quân / Tấu Thư / Phì Liêm / Hỉ Thần / Bệnh phù / Đại Hao / Phục Binh / Quan Phủ. Ba vị trí được ưa chuộng để kích hoạt lộc là : Lộc Tồn/Thanh Long và Phi Liêm.Tất nhiên vị trí Lộc Tồn coi là quan trọng nhất. Việc định hướng kích hoạt lộc nói ở trên là việc khó,tùy theo các trường phái và kinh nghiệm riêng của các thầy phong thủy.Tính thống nhất không cao và có nhiều dị biệt. Tuy nhiên Bát quái đồ đều được các trường phái thừa nhận là công cụ tín nhiêm nhất và được coi là căn cứ thiết lập các huyệt kích họat. Mười chử số thập phân (1-10) phân chia trên thiên bàn bát quái theo trình tự : 1 (Khảm),2 (Khôn),3 (Chấn),4 (Tốn),5 (trung cung),6 (Càn),7 (Đoài),8 (Cấn),9 (Ly) và số 0 (trung cung).Các số này tạo thành các trục ngang,chéo,dọc,tổng cộng là 15,nên gọi là ma trận 15 hay ma trận tam phương.Việc đặt các huyệt kích hoạt căn cứ trên sự cân bằng của từng trục. Các giải pháp,công cụ,phương hướng,ý nghĩa kích hoạt : Khảm,thủy,phương chính Bắc,tên cung Sự Nghiệp. Khôn,thổ đất,thổ lớn,phương Tây Nam,tên cung Hôn Nhân. Chấn,mộc sấm,phương chính Đông,tên cung Gia Đình. Tốn,mộc gió,phương Đông nam,tên cung Phú Quí. Trung cung,thổ,phương trung tâm,tên cung Đức Tin. Càn,kim,trời,cha,phương Tây Bắc,tên cung Quí Nhân. Đoài,kim,phương chính Tây,tên cung Tử Tức. Cấn,thổ núi,thổ nhỏ,phương Đông Bắc,tên cung Trí Thức. Ly,hỏa,phương chính Nam,tên cung Danh Vọng. Các vị trí kích họat được ưa chuộng nhất : 4/5/6.Số 5 thường là huyệt cóc đá,số 6 là huyệt Nghênh và số 4 là huyệt Nén.3.Kích hoạt tam tài Thọ. Chòm sao Tràng Sinh được coi là căn cứ kích hoạt các huyệt thọ.Chòm sao Tràng Sinh an theo cục diện hay còn gọi là cội nguồn sinh.Tràng Kim an tại tam sơn Thìn-Tốn-Ty,phương Đông Nam.Tràng Mộc an tại tam sơn Tuất-Càn-Hợi,phương Tây Bắc.Tràng Hỏa an tại tam sơn Sửu-Cấn-Dần,phương Đông Bắc.Tràng Thủy Thổ (cả cục thủy và cục thổ) đều an tại tam sơn Mùi-Khôn-Thân,phương Tây Nam. Chòm sao Tràng Sinh gồm 12 sao,theo thứ tự thuận : Tràng Sinh/Mộc Dục/Quan Đới/Lâm Quan/Đế Vượng/Suy/Bệnh/Tử/Mộ/Tuyệt/Thai/Dưỡng. Chòm sao Tràng Sinh tuần tự một vòng đời lập đi lập lại luân hồi mãi mãi.Và ai cũng muốn vòng đời mình được bền vững dài lâu hơn,vì lẽ đó Tràng Sinh được coi là chòm sao kích hoạt tam tài Thọ.Các vị trí sao ở ba ngôi Sinh,Vượng,Mộ được coi là ba vị trí kích hoạt mầu nhiệm nhất. Vật kích hoạt thọ làm từ đá,hình tượng phổ biến là Mầm Sơn và Rùa đá. Nguồn:phongthuybnn.com
  12. Dù giải thích cách nào thì hai chữ Phong Thủy cũng tàng ẩn những năng lực thần bí trong trang phục thánh thần.Chương sách này là những thực nghiệm dụng biến các năng lực thần bí ấy, bắt đầu từ Địa Lý Tả A ĐỊA LÝ TẢ AO Ông tổ của phong thủy Việt là cụ Tả Ao (Nguyễn Đức Huyền, người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, Tỉnh Hà Tĩnh), xin bắt đầu từ câu bốn trong sách Địa Đạo Diễn Ca vẻn vẹn 120 câu văn vần của Cụ. Bốn Là Mở Sách La Bàn Cho Thông. La bàn cái nhỏ gọi là Tróc Long, cái lớn gọi là La Kinh hay La Bàn. La bàn thường có 13 vòng, nhưng quan trọng nhất là 3 vòng Thiên Bàn, Địa Bàn và Nhân Bàn. Vòng ngoài cùng là Thiên Bàn, ứng dụng vào hướng thu thủy, phóng thủy. Vòng trong cùng là Địa Bàn, dùng án định long mạch. Vòng giữa là Nhân Bàn, dùng vào việc tiêu sa để xem sa nào tốt, sa nào xấu. Cả ba vòng đều chia làm 24 ô, mỗi ô 15 o trong 1 vòng tròn 360 o. Các chữ trong ba vòng đều giống nhau, chỉ khác nhau ở chỗ nếu lấy vòng trong cùng, vòng Địa bàn làm đích thì vòng Thiên bàn lệch sang bên phải nửa ô và vòng Nhân lệch sang bên trái nửa ô. Những chữ đề trong 24 vòng đó, chính Đông ở Mão, chính Tây ở Dậu, chính Nam ở Ngọ và chính Bắc ở Tí. Nếu đọc theo chiều thuận, từ Mão, theo kim đồng hồ thì thứ tự 24 chữ là : Mão, Thìn, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn, Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm, Tí, Quý, Sửu, Cấn, Dần, Giáp. Nếu phân chia thành tám hướng thì : Đông : Giáp, Mão, Ất. Đông Nam : Thìn, Tốn, Tỵ. Nam : Bính, Ngọ, Đinh. Tây Nam : Mùi, Khôn, Thân. Tây : Canh, Dậu, Tân. Tây Bắc : Tuất, Càn, Hợi. Bắc : Nhâm, Tí, Quí. Đông Bắc : Sửu, Cấn, Dần. 24 phương vị này, có 12 phương vị thuộc địa chi, 8 phương vị thuộc thiên can và 4 phương vị thuộc Bát Quái. Ba tầng Thiên-Địa-Nhân là vậy. NỘI DUNG CỦA ĐỊA LÝ TẢ AO Nội dung của Địa Lý Tả Ao gồm hai điều : Lý thuyết (lý khí) và thực hành (tầm long). Cả hai đều diễn nôm sơ sài, nhưng ý nghĩa thật sâu xa. Lý thuyết : Khuyên ai học làm thầy địa lý. Trước phải đọc sách sau là lượng cao. Dù ai khôn khéo thế nào. Học mà chẳng xét ấy là vô tông. Bốn câu này nhấn mạnh hai điểm : Hai câu trên hàm nghĩa khi xem phong thủy phải lượng cho cao và hai câu dưới hàm nghĩa phải xét cho đúng. Muốn lượng cao và xét đúng thực không dễ dàng. Đọc sách địa lý cho kỹ để có năng lực ước lượng cho rành mà còn phải thông hiểu dịch lý học, âm dương ngũ hành để suy xét cuộc đất, tìm sự quân bình cho mọi chi tiết kỹ thuật của khoa địa lý. 1) Trước tiên đất bình dương phẳng là dương, thì gò đống nổi cao là âm và đất sơn cước nhiều đồi núi là âm thì thung lũng bãi của nó là dương. Đất sơn cước cường dũng nên chọn huyệt ở chỗ mạch nhỏ long gẩy, nơi bình dương thấp phẳng phải chọn nơi cao làm huyệt (khởi đột). Như thế mới là âm dương cân đối. 2) Rồi đến tay Long là dương phát ngành trưởng và con trai thì tay Hổ phát ngành thứ hay con gái. Long Hổ phải tương nhượng nhau. Long là anh phải dài hơn Hổ là em. Long dài hơn nên cần nhọn đầu thì Hổ ngắn hơn cần thùy đầu hay tròn đầu. 3) Sau đến núi (Sơn) chủ tĩnh là âm thì nước (thủy) chủ đông là dương. Khi đến huyệt kết phải có sơn thủy giao lai âm dương giao hội, nghĩa là núi chủ tĩnh đến đó phải quay đầu vẫy đuôi như động và nước chủ động đến huyệt kết phải lưu luyến nửa muốn ở, nửa muốn đi, tụ lại trước huyệt rồi mới chảy đi. 4) Núi và nước, một động một tĩnh đi song song như vợ chồng che chở nâng đỡ hộ vệ nhau. Nước từ khe núi chảy ra ngoài thì nước lại theo núi mà nuôi dưỡng cho khí mạch của núi, cho núi đỡ khô. Long, mạch đi có vẻ âm thì chuyển dương mới vào huyệt. Trái lại, long, mạch đi đang dương thì nhập thủ huyệt trường phải âm. Bốn diễn giải sơ lược âm dương nói trên, dịch biến trong ngũ hành : tròn là kim, dài là mộc, vuông là thổ, nhọn là hỏa, gợn sóng là thủy. Phương hướng cũng chia ngũ hành : Đông thuộc mộc, Tây thuộc kim, Nam thuộc hỏa, Bắc thuộc thủy, bốn hướng Đông Tây Nam Bắc hội về trung ương thuộc thổ. Bốn phương lại chia thành 24 vị, vị theo hành. Lý thuyết của Địa Lý Tả Ao chỉ gồm vậy, tin hay không tin, kế thừa hay cho là hoang đường bỏ đi, tùy quan niệm từng người, không cần nghĩ ngợi bàn thêm. Phần thực hành (tầm long) của Địa Lý Tả Ao (Tỏ mạch, tỏ nước, tỏ long mới tường), trình tự như sau : Long mạch : Long mạch là mạch đất chạy trên mặt đất trong có khí mạch (cũng như cây trong có nhựa cây). Long có thể đi cao như dãy đồi núi và cũng có thể đi rất thấp, nó là những thớ đất, có khi chỉ cao chừng 4 cm. Nước : Nước từ long chảy ra và chảy theo nuôi dưỡng và hộ vệ long. Những chỗ nước tụ có khi là minh đường, có khi chỉ là hộ tống thủy (nước dẫn long). Long nhập thủ : Là Long kết huyệt. Huyệt trường : Là nơi kết huyệt. Huyền vũ : Thế đất đằng sau huyệt trường. Thanh Long : Thớ đất ở bên trái huyệt trường mọc ra ôm chầu vào huyệt. Bạch Hổ : Thớ đất ở bên phải huyệt trường mọc ra ôm chầu vào huyệt. Tiền án : Đất nổi trước mặt huyệt. Sa : Là gò đống, chứng cứ hiện ra, nổi lên xung quanh huyệt cả trước và sau, bao gồm : bút, bảng, chiêng, trống, voi, ngựa, kiếm, ấn… Thủy khấu : Nơi nước đến minh đường và nơi nước từ minh đường đi (cấp và thoát nước). Minh đường : Nước tụ trước huyệt để nuôi dưỡng khí mạch của huyệt. Long sinh : Long mạch sống động, bò ngoằn ngoèo, quay đầu, vẫy đuôi. Long tử ; Long mạch nằm ngay đơ, đuồn đuỗn như lươn, cá chết. Long cường : Long mạch nổi lên to lớn hùng vĩ, ngạo nghễ. Long nhược : Long mạch nhỏ nhắn, sắc thái thư thả, ung dung. Tóm lại cái gì có nước là thủy, cái gì có thớ đất là long, bất kỳ không gian nào (nhà và các phòng ốc) cũng dụng phép tỏ trạch, tỏ nước, tỏ long mà xét đoán. Thời hiện tại, đất hẹp, người đông, các khu dân cư xây dựng theo quy hoạch, khó thể tự ý tầm long và lập trạch theo ý muốn cá nhân. Tuy nhiên, trí tuệ và tập quán của con người vẫn là thiết lập các khu dân cư trên đất lành chim đậu, và kiến thức tầm long của Địa Lý Tả Ao vẫn được con cháu kế thừa. TẦM LONG DƯƠNG TRẠCH LÀ THẾ NÀO ? Tầm long trong ngôi nhà cư ngụ là một dụng pháp kế thừa Địa Lý Tả Ao. Dụng pháp này xin trình bày như một tham khảo. Cửa cái là khẩu khí của dương trạch (cửa vào các phòng ốc trong dương trạch cũng là khẩu khí của không gian ấy) dẫn khí mạch theo Bát Quái hậu thiên, với lẽ thuận lộ là cát, nghịch lộ là hung. BÁT QUÁI HẬU THIÊN MÔN SỐ 1 BƯỚC ĐI KHÍ MẠCH 1-2-3-4-5-6-7-8-9-1 4 9 2 3 5 7 8 1Môn BÁT QUÁI HẬU THIÊN MÔN SỐ 6 BƯỚC ĐI KHÍ MẠCH 6-7-8-9-1-2-3-4-5-6 4 9 2 3 5 7 8 1 6.Môn BÁT QUÁI HẬU THIÊN MÔN SỐ 8 BƯỚC ĐI KHÍ MẠCH 8-9-1-2-3-4-5-6-7-8 4 9 2 3 5 7 8-Môn 1 6 Bát quái Hậu thiên định danh theo số mà gọi là Bát quái đồ, như sau : Số 1 : Mệnh của chủ dương trạch là cung Sự Nghiệp.Số 2 : Người đồng lập trạch là cung Hôn Nhân. Số 3 : Âm dương hòa hợp là cung Gia Đình. Số 4 : Mục tiêu của đời sống là cung Phú Quí. Số 5 : Tích trữ, cân bằng nội lực là Trung Cung. Số 6 : Thu nhận ngoại lực từ may mắn là cung Quí Nhân Phò Trợ. Số 7 : Sinh dưỡng con cháu là cung Tử Tức. Số 8 : Sự nghiệp lập thành là cung Trí Thức. Số 9 : Thành đạt của người đời là cung Danh Tiếng. Từ Bát quái Hậu thiên và Bát quái đồ nhận thấy, dương trạch cát thuận với môn tiền mở ở vị trí số 1. Các phòng ốc trong nhà tùy theo sở nguyện có thể cát tường với cửa ra vào ở vị trí số 6 hoặc số 8. Ví dụ, phòng trẻ em nên mở cửa ra vào vị trí số 6 vì khí vào từ số 6 đi lên vị trí số 7 là cung Tử Tức. Ngược lại, thư phòng hoặc phòng làm việc thì lại nên mở cửa ra vào ở vị trí số 8 vì khí sẽ lên số 9 là cung Danh Tiêng. TRỞ LẠI ĐỊA LÝ TẢ AO. Muốn cho con cháu Trạng Nguyên. Thì tìm bút lập đôi bên sắp bầy. Nhất là Tân, Tốn mới hay.Bính, Đinh, Đoài, Cấn sắp bày đột lên. LÀ THẾ NÀO ? Nhìn la bàn hay hình đồ bát quái, chú ý các phương vị Tân, Tốn, Bính, Đinh, Đoài, Cấn (in đậm). TỴ TỐN THÌN BÍNH,NGỌ,ĐINH MÙI KHÔN THÂN ẤT MÃO GIÁP CANH DẬU TÂN DẦN CẤN SỬU QUÝ, TÍ, NHÂM TUẤT CÀN HỢI Việc tấn học, nghiệp học rất chuộng phương vị Nam, cung Danh Tiếng. Chuộng nhất là hai phương vị Bính và Đinh (không chuộng Ngọ vì là chính Nam, tuyệt hỏa), nghĩa rằng đất nơi phương Nam,tả có huyệt bút (phương Tốn, huyệt bút) và hữu có huyệt nghiên (phương Đoài, huyệt nghiên) triều về, thì việc tiến thân đường học hành, thi cử, khoa bảng là vượng địa. Bút tượng hình như trái núi, như cây bút nhọn đầu, ý nghĩa là giải đất nằm, đầu nhọn, ôm chầu về huyệt. Có hai loại bút, bút nằm và bút đứng. Bút nằm là bút giác điền, bút đứng là bút lập. Bút lập còn gọi bút kình thiên (chống trời). Nghiên là gò đống hay mảnh ruộng con hình vuông, chữ nhật, cũng có thể có nghiên hình tròn hay bán nguyệt. Đây là những căn bản nên ứng dụng vào việc kích hoạt cung Sự Nghiệp của dương trạch, các phòng ốc dành cho việc học tập và phòng trẻ em, thậm chí dụng được ngay trên bàn làm việc, bàn học.PHÂN BIỆT HUYỆT TRƯỜNG MỘC TIẾT, KIM LOAN ? Mộc Tiết văn đỗ Trạng Nguyên. Kim Loan võ được tước quyền Quận Công. LÀ THẾ NÀO ? Là phân biệt được cuộc đất phát văn hay phát võ. Một đất sinh nhân như thế nào, đầu tiên phải biết đất đó thuộc về văn hay võ. Văn cao nhất là Trạng Nguyên, Tể Tướng, xuống thấp dần đến thư ký. Võ cao nhất là Quận Công, Nguyên Soái xuống thấp nhất là lính. Muốn biết mức độ cát hung thế nào phải biết cuộc đất đó phát văn hay phát võ. Nếu phát văn thì cuộc đất hình dài,dài là hình mộc,nếu võ thì cuộc đất hình tròn, mà tròn là hình kim.Trường hợp đất vừa dài, vừa tròn có thể cho là phát cả văn lẫn võ. Thời hiện đại, xã hội phát triển, ý nghĩa cuộc đất không chỉ đơn thuần hai ý nghĩa phát văn hay võ, mà được luận theo ngũ hành, như sau : Cuộc đất hình vuông, thuộc thổ, phát vượng nghĩa sinh tồn, sinh lý, thuộc văn võ cách. Cuộc đất hình tròn, thuộc kim, phát vượng ý nghĩa an toàn, kim lộc, thuộc võ cách. Cuộc đất uốn lượn, gợn sóng, thuộc thủy, phát vượng ý nghĩa giao tiếp, thuộc văn cách. Cuộc đất hình dài, thuộc mộc, phát vượng nghĩa sinh, dưỡng, tự trọng, thuộc văn cách. Cuộc đất hình tam giác, nhọn đầu, thuộc hỏa, phát vượng ý nghĩa thành tích, thuộc võ cách. Năm cuộc đất này, hình thổ, hình mộc được ưa chuộng nhất. Hình kim dụng khó, dụng được tất giầu có. Hình thủy và hỏa ít được dụng, dụng được hình thủy chủ thọ, hình hỏa chủ danh. Trong thực tế, hình hỏa gây ra nạn ách, họa hại nhiều hơn phúc thọ. Nhấn mạnh : không có cuộc đất nào toàn cát và không cuộc đất nào toàn hung. Hung cát luôn song hành, chủ cư ngụ tiếp nhận hung cát thế nào chính là bản chất của phong thủy. Ý nghĩa hình dài mộc (phát văn) và hình tròn kim (phát võ) là một gợi ý các giải pháp xuất và nhập thế cho dương trạch và phòng ốc. HUYỆT HUNG CÁT. Xem cho biết huyệt cát, huyệt hung.Huyệt cát nước tụ vào lòng.Đôi bên Long Hổ uốn vòng triều lai.Huyệt hung minh đường bất khai.Sơn tà, thủy xạ,hướng ngoài tà thiên. LÀ SAO? Một đất kết (nền đất) cần phải xem xét đó là đất kết cát hay đất kết hung. Huyệt hung thì minh đường không tụ nước và sơn thủy xấu. Sơn thủy xấu là Sơn tà, thủy xạ, hướng ngoài tà thiên. Sơn tà : là sơn không chính.Sơn là các xa như bút (dài, nhọn), bảng (hình chữ nhật), ấn (hình vuông), ngựa, voi, trâu, lân, hổ,(hình thú).Những sa này không chầu vào huyệt , chiều cao không cân đối (gần thì ngang huyệt, càng xa càng cao hơn) đều là sơn tà (không chính), không quân bình. Sơn xấu làm cho huyệt kết thành kết hung. Thủy xạ : là các ngọn nước đáng lẽ phải bao (chảy êm đềm) chầu về huyệt thì lại đâm thẳng vào huyệt hay vào giữa minh đường. Nước như thế là thủy xạ. Thủy như thế là thủy xấu làm cho huyệt kết thành kết hung. Hướng ngoài tà thiên : là sơn hay thủy đáng lẽ chầu vào huyệt thì lại quay lưng lại huyệt và chầu ra ngoài (hướng ngoài). Các sa méo mó, lệch lạc siêu vẹo lở đứt. Sơn thủy hướng ngoài tà thiên cũng làm cho huyệt kết trở thành kết hung. Không những sa (sơn) và thủy (ngọn nước) hướng ngoài tà thiên là xấu, mà chính ngay Minh Đường hướng ngoài tà thiên cũng là xấu. Minh Đường hướng ngoài tà thiên là loại minh đường nghiêng lệch, đổ nước ra ngoài chứ không thu nước vào trước huyệt. Minh Đường mà nghiêng lệch thì con cháu sẽ có tâm địa tà dâm, bất chính. Tóm lại, muốn biết huyệt cát hay huyệt hung nhất thiết phải quan sát tứ tượng. Một huyệt cát trước tiên và cần thiết nhất là : Minh Đường phải có nước tụ và hai bên Long Hổ phải ôm chầu về huyệt. Đối với dương trạch hay phòng ốc, phong thủy còn có khả năng dịch chuyển hóa giải hung cát, nhưng với âm phần thì không. Do vậy các thể thức an táng và bố trí dương trạch nên tuân theo các nguyên tắc truyền thống chung. ĐỊA LÝ TẢ AO ĐƯỢC KẾ THỪA THẾ NÀO ? Phải chăng cha ông ta chỉ chuộng thực hành mà không chuộng thuyết lý, nên gần như không để lại một cuốn sách kinh điển nào về phong thủy cho hậu thế. Các vị hóa thân vào nhân gian truyền khẩu phong thủy Việt bằng ca dao, tục ngữ. Thật đáng tiếc. Địa Lý Tả Ao cũng chỉ là những ghi chép mang mầu sắc kinh nghiệm, không đủ cơ sở để thành giáo khoa, nên việc đời sau kế thừa và phát triển là không đáng kể. Các nhà tập sự phong thủy thời nay gần như không có cội nguồn để thiết lập lý thuyết phong thủy Việt. Cái hiện có chỉ là những lý thuyết phong thủy sao chép, trích dịch từ sách vở Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ, Triều Tiên, thậm chí cả Anh,Mỹ. Người nọ sao chép của người kia và tự cho là khởi phát từ nguồn cội. Cuốn sách Phong Thủy Ứng Dụng này cũng vậy, chỉ là cuốn sách sao chép, nên người chép sách cố ý không vinh danh bất kỳ nhà nghiên cứu phong thủy Việt nào, mà gộp chung đóng góp của mọi cá nhân (nếu có) cho nền móng phong thủy Việt Nam. Nguồn:phongthuybnn.com
  13. Trong thuật phong thuỷ, lập hướng rất quan trọng. Sai một ly đi một dặm. Để xác định được phương vị, các nhà phong thủy chia vòng địa bàn (360 độ) ra làm 24 Sơn. Mỗi sơn quản 15 độ. Chính giữa Sơn gọi là Chính hướng. Khi chọn hướng cho Dương trạch, người xưa thường căn cứ vào vị trí địa lý, khí hậu, phong tục tập quán, .. từng khu vực. Ở Việt Nam mùa hè thường có gió nam rất mát, nên làm nhà, lập trạch thường ưu tiên chọn hướng này. Hướng nam còn tránh được cái lạnh cắt da, cắt thị của gió mùa đông bắc, cái nắng gay gắt của mùa hè. Các cụ thường nói lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam là như vậy. Xét về mặt phong thuỷ. Nếu chọn chính hướng sẽ phạm vào quy giáp, sai thố không vong, khí đi thẳng, rất mạnh và cứng rắn, …. nên rất xấu, không thể dùng. Lập trạch hướng chính đông, hướng Chấn mộc, toạ Đoài kim là tương khắc, kim mộc giao đấu tượng bất lợi. Đông trạch lẫn lộn với tây trạch. Đây là tuyệt mệnh trạch theo phép Bát biến du niên, thuộc phá quân, âm kim, quái là Quy muội. Nhà này có hại con trai trưởng, con dâu và con gái trưởng. Người trong nhà thường mắc chứng bệnh về gan, mật, đau xương cốt, bất lợi cả tiền tài và nhân đinh. Nếu phạm phải, các phong thủy sư phải dùng pháp thuật để hoá giải mới mong yên được. Ngoài ra, hướng Đông hoặc chính tây sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi nguồn năng lượng mặt trười. Nhà lúc nào cũng bị ánh nắng chiếu rọi, làm cho ngôi nhà mất đi sự cân bằng của âm dương, phạm vào “Cô dương bất sinh, độc âm bất trưởng” - bất lợi hoàn toàn cho người cư ngụ. Nguồn:BLog laido
  14. Thân chào caytunghanoi. Về vấn đề này anh nên suy nghĩ thật kỹ, vì nếu nhà xây gần nghĩa trang sẽ mang nặng âm khí, người sống gần nghĩa trang ở lâu dễ bị trầm cảm và hoang tưởng. Với lại sát bên cửa sổ có một ngôi mộ, nếu như nhà cấp 4 đập ra xây sửa lại thì sợ động phải chỗ yên nghĩ của người âm rất xấu. Vài lời góp ý.
  15. Theo như Thầy Thiên Sứ thì hướng nhà không phải là yếu tố duy nhất để xác định toàn diện cục nhà, trong phong thủy còn nhiều mặt tương tác lẫn nhau như về cấu trúc Loan Đầu, Huyền Không, Dương Trạch Tam yếu...vv. Nhất Phúc, Nhì Mệnh, Tam Phong Thủy..Chị nên đưa sơ đồ nhà lên đây để mọi người tham khảo xem thế nào . Chào chị.
  16. Tỳ Hưu trong Phong Thủy dùng để cầu tài lộc, nhưng chơi Tỳ Hưu nên cẩn thận, Tỳ Hưu có 2 mặt trước phát sau tán, Tỳ Hưu là một loài chiêu lộc bốn phương hút tiền vào bụng nhưng Tỳ Hưu không có hậu môn cho nên càng chơi về lâu dài thì càng suy giống tình trạng bế khí, con người cũng vậy ăn nhiều mà không tiêu hóa được thì sẽ dẫn đến bội thực...Chứng nghiệm trên đường Điện Biên Phủ có 1 khách sạn chơi cặp Tỳ Hưu To để trước nhà. Ban đầu thỉnh về tình trạng làm ăn rất khá dần dần về sau vắng khách dẫn đến phá sản. Nếu muốn chơi nên có sự hướng dẫn của Thầy Chuyên Môn thì sẽ có kết quả...
  17. Nhìn sư phụ " Xì Tai "" quá..... :lol: :lol: :lol:
  18. Thân chào chị Bongdiendien. Trụ điện phát sóng nhô cao thuộc Âm, có phát ra tầng sóng...Nhìn về hình thể như một mũi tên nhọn khổng lồ. Chị nên có bản vẻ sơ đồ nhà và hướng nhà cụ thể ACE sẽ giúp chị. Chị nên chuyển topic này sang mục tư vấn đây là topic Trao đổi học thuật, cám ơn chị.
  19. Bài viết được soạn thảo bởi Thầy Quảng Đức ÂM DƯƠNG TRONG PHONG THỦY Trong địa lý, muốn biết Âm hay Dương thì hãy nhìn về hướng con nước chảy. Người nào học Phong Thủy cũng đều phải học qua bài Thủy pháp căn bản : - Thấy nước chảy từ phải sang trái là nước chảy ngược chiều kim đồng hô, thì biết là nơi đây nhiều Âm khí. - Thấy nước chảy từ trái sang phải, là nước chảy cùng chiều kim đồng hồ, thì biết nơi đây đầy khí Dương. Dương tính nhu nhuyễn, Âm tính cường kình. Không thấy những cơn bão lóc xoáy ngược chiều kim đồng hồ, cường kình mãnh liệt, gây ra không biết bao là tai họa là vì khí Âm rất lớn hay sao? Các vòng đua xe, đua ngựa, đua chó và ngay như các vòng đua của người cũng đều được quy định phải chạy từ phải sang trái, ngược chiều với kim đồng hồ, nghĩa là phải chạy theo chiều Âm. Là vì, Âm khí càng nhiều, thì cuộc đua mới càng quyết liệt. Càng quyết liệt thì cuộc đua mới càng hào hứng. Đã có bao giờ thấy vòng đua nào mà chạy thuận chiều kim đồng hồ, nghĩa là chạy theo chiều Dương chưa? Vậy thì khoa PhongThủy cho rằng Âm là Cao, là Cường, chủ sát phạt. Dương là Thấp là Nhược, chủ phát sinh, thì sao cứ một chiều cho là mê tín ? Các tổ sư Phong Thủy lại còn dạy cho biết là Âm Dương quý ở sự hài hòa. Hễ thấy chỗ nào Dương khí lớn , muốn hài hòa thì tìm nơi Âm mà ở. Chỗ nào Âm khí nhiều mà muốn hài hòa, thì tìm nơi Dương mà trú. Vậy chỗ nào bằng phẳng, lõm thấp là chỗ Dương khí nhiều thì cứ tìm ở trên nơi cao. Chỗ nào đồi cao, núi lớn là chỗ nhiều khí Âm thì cứ tìm nơi thấp mà trú. Thấp Dương là nhược. Cao Âm là Cường. Cường kình mà gặp tế nhược mới hóa thành sinh khí. Không lẽ giữa nắng trưa, muốn dưỡng lại sức, lại không biết tìm nơi có bóng mát mà nghỉ? Nắng trưa là Dương, bóng mát là Âm. Gặp nơi Dương khí lớn khôngphải tìm nơi Âm mà trú là gì ? Các nơi thấp lõm, sình lầy, ẩm ướt, thiên hạ không lẽ không biết tìm đến ở nơi cao? Trên núi cao, dóc đứng, thì dại chi mà không tìm nơi bằng phẳng mà ngụ. Thì thuật Phong Thủy dạy người hễ trên vùng cao, hãy tìm nơi thấp mà ở. Nơi vùng thấp hãy tìm nơi cao mà trú thì có gì là dị đoan? Chỉ vì người đời xưa nay chỉ biết cái lý của trời mà không hiểu được cái Khí của đất, lại tự cho mình là trí, không chịu tìm biết để phân biệt chỗ nào là Âm và chỗ nào là Dương, cho nên, hễ động đến Âm Dương, Phong Thủy là dẫy nẫy, cứ một chiều cho rằng mê tín. Trên trời thì Dương động mà Âm thì Tĩnh. Dưới Đất thì Dương Tĩnh mà Âm thì lại Động. Động thì cường mà Tĩnh thì nhược. Một bên là Khí, một bên là Hình; một bên là Tĩnh và một bên là Động thì hai chữ Âm Dương đâu phải ai cũng có thể phân biệt được rõ, để biết được cái tinh của tạo hóa? Thoạt nghe Âm thì cường, Dương thì nhược mà thấy như có vẽ ngược ngạo, thì hãy nhìn vào dạng Nước thì biết. Nước lạnh dưới Âm độ là nước Âm khí nhiều thì sẽ đóng thành băng, vón cứng thành cục , hình sẽ lồi nhô lên như Âm Nhũ - thì gọi là cường. Nước nóng ấm, Dương khí nhiều, lỏng chảy, uyễn nhuyễn , hình sẽ lõm xuống như Dương oa- thì gọi là nhu. Nếu vẫn chưa rõ thì cũng nên thử quan sát thực tế đất đai: Phương bắc, khí Âm thường nhiều và rét lạnh - Âm thì tính cường kình - cho nên phương bắc chỉ thấy toàn là đồi cao núi lớn. Ở phương nam, khí Dương thường nhiều và nóng ấm– Dương thì tính nhu nhuyễn - cho nên phương nam đất đai bằng phẳng, nhu mì. Âm lạnh thì đất đai hình co rút, sinh ra núi đồi, Dương nóng thì hình trải dài, đất đai bằng phẳng . Vậy thì thực tế và đia lý Phong thủy đâu có chi là khác biệt ? Tạ Giác Trai trong Đảo Trượng Thi dạy thêm rằng: Âm nhũ thì giống như dương vật của người Nam. Dương oa thì giống như sản môn của người Nữ . Lê Quý Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ lại nói cho rõ thêm: Đất lấy cát làm thịt, lấy đá làm xuơng, lấy cỏ cây làm lông, lấy sông nguồn làm mạch máu. Rõ ràng địa lý, đất đai, đồi núi cũng y chang như con người. Nghĩa là cũng phải có đủ Âm Dương mới có mặn nồng, hòa hợp, ái ân, thì công danh, tài lộc mới sinh sôi nẫy nỡ, sinh con đẻ cháu, nối dõi tông đường. Như vậy, điều trước tiên là phải nhận biết cho rõ Âm Dương rồi mới tìm đến huyệt kết, nôm na là tìm chỗ nào sinh khí nhạy cảm nhất. Đã nói đất đai cũng như con người thì chỗ nhạy cảm sinh khí nhất rõ ràng không chỗ nào hơn được chỗ Âm Nhũ của đàn ông và Dương oa của người Nữ . Xưa nay người ta vẫn thường cho rằng những kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác, tác động sâu vào tâm lý và hành động của con người mới chính thực là căn bản của thuật Phong Thủy. Không lẽ không thấy tại những vùng đất thấp, thì đại đa số nhà cửa ở trên các đồi núi cao đều nguy nga đồ sộ, đắt tiền, của những tay giàu có? Thì cũng biết đâu họ giàu là nhờ họ đã biết vùng thấp cho nên họ đã chọn ở trên cao? Các vùng trên cao, toàn đồi cao và núi lớn, nhiều Âm khí, thì thiên hạ lại ùn ùn chạy tìm xuống đồng bằng mà xây nhà dựng cửa là vậy. Các vùng đất nào thấp, thì nên tìm nhà trên lưng chừng đồi cao mà ở. Đó cũng là nơi Âm Dương giao hội. Sớm muộn rồi cũng sẽ trở nên khá giả, giàu sang. Con cái, cháu chắt đều có nhiều cơ hội để trở thành ông này bà nọ, nôm na như là kỷ sư, bác sĩ trong tay........ Nhưng, hãy nhớ cho thật kỷ và phải thuộc nằm lòng là nhà cửa mà xây dựng ở trên cao là đang tại trên Âm Nhũ. Cũng y như đang quanh quảnh đâu đó trên vùng kích dục nhất của Duơng vật, thì phải tìm biết chỗ nào là chỗ thoát tinh . Thường chỗ thoát tinh là chỗ cao nhất. Chỗ này phải để y nguyên trạng, khôngđược khai phá, xây dựng, đào phá, động đậy là vì chỗ thoát tinh mà bị bít kín thì khí sẽ không thông . Khí mà không thông lâu ngày, khí sẽ bị dồn ứ lên tận não, trước sau gì cũng sẽ bị tẩu hỏa nhập ma. Nhà cửa xây dựng trên một thế đất “ tẩu hỏa nhập ma “ thì khó mà giàu sang phú quý và con cháu mai hậu không tưng tửng thì cũng điên điên. Cách đơn giản, lại dễ hiểu là hễ thấy khu vực nào mà đỉnh núi hay đỉnh đồi cao nhất đã bị thiên hạ chiếm cứ xây dựng nhà ở lên rồi, nghĩa là cái đầu thoát tinh chỗ này đã bị bít kín, thì ba chân bốn cẳng, lẹ lẹ dọn nhà đi tìm nơi khác mà ở là vừa. Ngược lại, các vùng đất ở trên cao nhiều đồi nhiều núi thì nên tìm nhà trên dãi đất thấp, bằng phẳng hay bình nguyên mà ở. Bằng phẳng và thấp lõm thì chính là Dương Oa. Dương oa y chang như là sản môn của người Nữ thì coi chừng đừng có động đậy xây nhà dựng cửa hai bên mép. Hai mép của Dương oa mà bị triệt phá thì cả vùng sẽ bị lạnh cãm, hết còn kích được Dục thì đừng mong mà còn khả năng sinh tài sinh lộc, sinh quan sinh quyền. HÌNH và KHÍ Khí thì dựa vào tượng để thành hình và Hình thì để thể hiện Khí. Hình và Khí hoàn toàn khác biệt nhưng lại không thể tách rời được nhau. Muốn biết Khí thì phải dựa vào Hình. Thế nhưng mấy ai rõ biết? Hãy quan sát núi non trùng trùng, điệp điệp ở phương Bắc và bình nguyên rộng lớn trải dài ở phương Nam. Phương Bắc lạnh lẽo, Âm khí thì nhiều. Phương Nam nắng ấm Dương khí cùng khắp. Âm thì Lạnh, tỉnh. Dương thì Nóng, động. Khí Âm thì Trầm, Khí Dương thì Phù. Càng về Phương Bắc Âm khí càng lớn thì núi non càng hùng vĩ, càng về Phương Nam, Dương khí càng nhiều thì núi non càng hiếm, đất đai bằng phẳng. Khí âm thì nhu, trầm nhưng Hình thì cương cường bạo liệt. Khí Dương thì cương, phù, nhưng Hình thì nhu mì bằng phẳng. Phong là Gió, là nộ khí của trời đất. Gió càng lớn thí Âm khí càng nhiều. Sấm thuộc Dương khí cho nên mổi khi thấy Sấm động thì Bão sắp dứt. Có phải là Âm khí của Bão bị Dương đánh tan hay không? Bởi thế, càng ở chổ cao, thì gió càng lớn. Ở Phương Bắc, Âm khí thì nhiều mà khí Dương thì thường yếu kém không đủ, cho nên hình thể là núi non trùng điệp, cương cường. Ở phương Nam khí Dương thì nhiều, khí Âm thì yếu kém không đủ, cho nên hình thể bằng phẳng nhu mì. Lê quý Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ thêm: Ở Phương Bắc, trời tiết chưa rét lắm mà Nước đã đông đặc thành băng, bởi lẽ khí Dương quá yếu kém không đủ để lấn át khí Âm. Ở phương Nam, Dương khí thì nhiều lấn át khí Âm, khí âm thường tan biến phía dưới, cho nên nước không thể đông đặc đóng thành băng được. Hình và Khí như vậy là đã rõ Những nơi Âm khí nhiều thì Hình cương cường bạo liệt. Những nơi Dương khí nhiều thì Hình nhu mì bằng phẳng. Hình I: Nơi nhiều Khí Âm: HÌNH VẼ Hình 2: Nơi nhiều khí Dương: HÌNH VẼ Trời thuộc Dương cho nên Hình thì động mà Khí thì tỉnh. Đất thuộc Âm cho nên Hình thì tĩnh mà Khí thì động. Dịch lấy Âm Dương hai khí làm trọng. Trong Âm phải có Dương, trong Dương phải có Âm. Cô Âm hay cô Dương thì không thể tồn tại. Phong Thủy thì coi trọng Hình thể. Núi non cương mãnh thì Dụng là Dương nhưng cái Thể là Âm. Bình nguyên rộng khắp, nhu mì thì Dụng là Âm nhưng cái Thể là Dương. Rỏ ràng Âm Dương, Hình và Khí hoàn toàn vẫn không thể tách rời được nhau. Hãy nhìn kỷ bàn tay sấp ngữa để hình dung. Bàn tay sấp thuộc Âm nhưng Hình thì gồ ghề, dáng cương mãnh hiễn lộ, rõ ràng không chút ẩn giấu. Bàn tay ngữa thuộc Dương nhưng Hình thì bằng phẵng nhu mì, mềm mại. . . . . . Hoặc cũng có thể hình dung trạng thái của Nước. Âm khí nhiều thì nước vờn cục thành đá cứng nhắc, Dương khí nhiều thì nước nhu mì, uyển động. Địa Lý Toàn Thư của Lê Bá Ôn có ghi lại phần giải đáp giữa Dương Quân Tùng và Sư Nhất Hạnh. Tăng hỏi: Âm là gì? Dương là gì? Dương công đáp: Hai chữ Âm Dương là cốt lõi của phong thủy, là Hình và Khí được tạo rồi hóa mà thành. Dương khí có hình dạng lõm (OA ), Âm Khí cò hình dạng lồi (ĐỘT). Âm biến thì hóa thành Dương, Dương biến thì hóa thành Âm. Nếu Dương long đến thì Âm thụ huyệt. Nếu Âm long đến thì Dương thụ huyệt hay Âm lai thì Dương thụ, Dương lai thì Âm thụ. Âm Dương, Hình, Khí, đạo lý của tạo hóa là như vậy. Lại hỏi: Âm lai Dương thụ là gì? Dương công đáp: Mạch có sóng lưng, khi tiến nhập vào chổ huyệt có chổ lõm thì gọi là Âm lai Dương thụ. Lại hỏi: Dương lai Âm thụ là gì? Dương công đáp: Thế đến của Mạch tương đối bình hòa, chổ lồi chính là chổ nhập huyệt. Thì gọi là Dương lai Âm thụ. Họ Trúc giải thích thêm: Phàm là địa hình có thể thụ huyệt, nếu giống OA (lõm), KIỀM (kẹp), PHỆ (mỡ ra) tinh khí xuất ra bên ngoài ắt thành Dương. Nếu giống NHŨ (lồi), PHỦ (vòng lên), ĐỘT (nhô lên), tinh khí đọng lại bên trong ắt thành ÂM. Trong OA (lõm) có chổ ĐỘT (nhô lên) như vậy gọi là Dương lai Âm thụ. Phần đầu của NHỦ (chổ lồi) có OA (chổ lõm) như vậy gọi là Âm lai Dương thụ. Dương Mậu Thúc trong Thai Phục Luận viết: Thai Phục là thư, hùng song long. Thai sinh trước hòa hợp với Dương mà sinh Thư. Tinh thần của nó chiếu lên trên. Phục sinh sau, hòa hợp với ÂM mà thành Hùng. Tinh thần của nó chiếu xuống. Nghênh lên cao thì thành Dương. Phủ xuống dưới thấp thì thành Âm. Lưu Đôn Tố viết: Âm là cường, Dương là nhược. Nhược gần Cường mà sinh thành vạn vật. Âm tính thì cương kình, Dương tính thì nhu hòa. Lại viết: Dương lấy Âm làm bản tính. Âm lấy Dương làm hình thể. Chủ của Động là Tĩnh, chủ của Tĩnh là Thể. Ở trên trời thì Dương động mà Âm thì tĩnh. Ở dưới đất thì Dương tĩnh mà Âm thì động. Bản tính vì có hình thể mới Tĩnh. Hình thể vì có bản tính mới động. Núi non hùng vĩ cương cường tính Âm thì lấy chổ Dương làm trọng. Đồng bằng nhu mì bằng phẳng tính Dương thì lấy Âm làm trọng. Chổ nhỏ thì làm nơi mộ táng, lớn hơn thì làm nhà ở, lớn hơn nửa thì làm châu quận, tỉnh thành....Biết như thế để có thể giải thích tại sao người xưa ví Núi như Long là con Rồng trong thần thoại. Núi bản chất yên tĩnh thì trọng ở chổ Động. Ví Núi như Long là nhìn núi như con Rồng đang sống, nghĩa là đang có sinh lực dồi dào. Cũng từ quan niệm đó mà các nhà Phong Thủy phân biệt đâu là Sinh Long, đâu là Tử Long. Tử Long là dãy núi thẳng đơ, cứng nhắc như chết. Sinh Long là dãy núi uốn khúc nhấp nhô, lên xuống, sống động....... Nước thì bắt nguồn từ trên Núi cao cho nên nói Núi là mẹ của Nước hay nói ở đâu có Nước, ở đó có Khí là vì muốn đề cập đến Sinh Long là vậy. (Một số nhà Phong Thủy cho rằng những nơi ruộng lúa bao la, xanh ngát, chỉ cần một cơn gió nhẹ cũng có thể thấy rõ những làn sóng nhấp nhô sống động tạo thành lườn y như những vẫy Rồng sinh động.) Khí cũng chính là Nước, vì Nước là Mạch máu của Long. Nhưng để có thể phân biệt rõ thì Khí là sinh lực của Địa thế mà mắt thường không thấy được, ngược lại sinh lực của địa thế có thể thấy được thì đó chính là Nước vậy. Tạ Giác Trai trong Đảo Trượng Thi giải thích tiếp: Hai chữ Âm Dương rất khó làm rõ. Mấy ai hay biết cái tính của tạo hóa trong đó ! Âm nhũ giống như dương vật của người nam. Dương oa giống như sản môn của người nữ. Nếu giống như Âm nhũ của người nam thì không được làm tổn thương phần đầu. Nếu giống như Dương oa của người nữ thì không được làm hỏng hai môi....... Một không thể sinh ra sự vật mà cần phải có hai. Trường hợp hình thể và khí thế của Long Mạch chạy đến giống như sóng kiếm, như lưng bàn tay úp thì gọi là cô Âm, nếu như bàn tay ngữa thì gọi là độc Dương. Âm Dương cần tương giao với nhau (Giao hợp) nếu không thì y như người Nam không vợ, người Nữ không chồng thì làm sao sinh sôi nẩy nở? Trong Âm phải cầu Dương, trong Dương phải cầu Âm. Âm và Dương cầu giao với nhau mới không bị tuyệt diệt, đất lớn do đó mới được sản sinh. Cùng một cách nhìn khác của các nhà Phong Thủy thì cao là Âm, thấp là Dương. Địa thế cao vút là Âm. Bằng phẳng, tròn trịa là Dương. Phủ xuống là Âm, ngưỡng diện là Dương. Vật có Mũi Nhọn là Âm, vật có chổ Lõm xuống là Dương. Trường hợp địa thế trãi dài bằng phẳng, không thấy xuất hiện chổ nhô lên nghĩa là không thấy có Âm, nhưng lại thấy xuất hiện các dòng nước hội hợp, tức là đã có Âm tồn tại. Trường hợp này được gọi là trường hợp xão diệu, địa thế quý vô cùng. Quan sát thực tế ánh sáng, bóng tối hay ngày và đêm. Chính giữa đêm giờ Tý, Âm hoàn toàn làm chủ thì Dương bắt đầu xuất hiện. Giữa trưa đứng bóng giờ Ngọ, Dương hoàn toàn làm chủ thì Âm bắt đầu xuất hiện. Vì lẽ thế Dịch cho rằng Dương xuất từ Tý, Âm xuất từ Ngọ. Hoặc nói: Gốc của Âm ở trong Dương, gốc của Dương ở trong Âm là vậy. Âm Mạch thì phải trên nhỏ mà dưới lớn. Dương Mạch thì phải trên lớn dưới nhỏ. Do vậy mỗi khi Dương thở ra khí, vạn vật sinh ra. Một khi Âm hít khí vào thì vạn vật sinh thành. Đọc lại Địa Lý Bí Truyền của Tả Ao: . . . . . . . . . . Mạch có Mạch Âm Mạch Dương, Mạch nhược, Mạch cường, Mạch tử, Mạch sinh, Sơn cước Mạch đi rành rành, Bình dương Mạch lẩn, nhân tình không thông Có Mạch qua ao, qua sông Qua đầm, qua núi, qua đồng, qua non. . . . . . . Đồng bằng Mạch đị thấp nên gọi là Mạch Dương. Sơn cước Mạch đi theo đồi núi cao lớn nên gọi là Mạch Âm. Lại thêm 4 yếu tố để phân định: -Mạch Cường: Là thế mạch hùng vĩ, cương cường. -Mạch Nhược: Là thế Mạch thanh nhã, dịu dàng. -Mạch Sinh: Thế Mạch đi rất sống động như con thú đang quay đầu, vẫy đuôi. -Mạch Tử: Thế Mạch đi ngay đơ như cán cuốc. Về Cao Thấp thì trên sơn cước thấp một thước cũng gọi là thấp. Ở bình dương cao một tấc cũng gọi là cao. Âm Dương Hình Khí, Cụ Tả Ao tóm gọn trong hai câu dễ nhớ: Âm là gò đóng, đất ghềnh. Dương là ruộng phẳng, đất bằng như lai. NGŨ HÀNH cũng phân biện Âm Dương, Hình và Thể. Ngoài hành Thổ trung ương, 4 hành khác là Kim, Mộc, Thủy và Hỏa. Mỗi vị trí gọi là mỗi Cuộc Long. Đứng trên vị trí xây dựng, nhà ở hoặc mộ táng, nhìn thẳng góc với dòng nước chảy gần nhất, quan sát thấy dòng chảy của Nước từ TRÁI sang PHẢI, thuận theo kim đồng hồ thì KHÍ ở đó là KHÍ DƯƠNG. Ngược lại nếu dòng chảy của Nước từ PHẢI sang TRÁI thì Khí ở đó là KHÍ ÂM. (Cũng cần nhắc lại Âm Khí thì tìm Dương. Dương khí thì tìm Âm. Bình nguyên thấp một tấc cũng có thể là Dương, cao một tấc cũng có thể là Âm) 1: KIM cuộc: Nhìn thấy giòng nước chảy về hướng ĐÔNG. Nghĩa là giòng chảy từ hướng TÂY đến. Hướng TÂY hành KIM nên gọi là: TÂY LONG hay KIM CUỘC LONG. Nếu thấy giòng nước chảy từ TRÁI sang PHẢI thì Khí thuộc DƯƠNG. Ngược lại thì Khí thuộc ÂM. Nếu tính từ Vòng Tràng Sinh, Dương KIM trường sinh tại TỴ (Đông Nam). Vượng tại Dậu (Tây) và Mộ tại SỬU ( Đông Bắc). Tràng Sinh,Vượng và Mộ luôn luôn tại 3 vị trí TAM HỢP Tỵ Dậu Sửu tao thành Kim cuộc. Âm Kim trường sinh tại DẬU (Tây), Vượng tại TỴ (Đông Nam) và Mộ tại SỬU (Đông Bắc). Nước chảy về Phương nào thì phương đó là phương Mộ khố. Hình KIM thì TRÒN. Âm Kim phải có dạng TRÒN, đứng, cao hoặc LỒI. Dương Kim phải có dạng TRÒN nằm, phẳng hoặc LÕM. Nếu thấy Hình và Khí không được chính, thì phải quan sát thêm vì KIM vượng có thể Sinh THỦY. Thủy thì có Hình nhấp nhô sóng nước. Nhớ lại là Nơi Âm thì đi tìm Dương. Nơi Dương thì đi tìm Âm. Hình của Âm thì Lồi, Hình của Dương thì Lõm. Vị trí Tốt thường được chọn để xây nhà cửa là Vị trí Trường Sinh hoặc Đế Vượng. Trường Sinh như cây mới nụ, cần thời gian mới trổ trái ra hoa. Đế Vượng thì như Hoa nỡ rộ, sau đế vượng thì SUY, BỆNH, TỬ. . . . . Vì thế về lâu dài thì trọng Trường Sinh. Mau chóng thì chọn Đế vượng. 2: MỘC cuộc: Nhìn thấy giòng nước chảy về hướng TÂY. Nghĩa là giòng chảy từ hướng ĐÔNG đến. Hướng ĐÔNG hành MỘC nên gọi là: ĐÔNG LONG hay MỘC CUỘC LONG. Nếu thấy giòng nước chảy từ TRÁI sang PHẢI thì Khí thuộc DƯƠNG. Ngược lại thì Khí thuộc ÂM. Nếu tính từ vòng Tràng Sinh, Dương Mộc tràng sinh tại HỢI ( Tây Bắc). Vượng tai MÃO ( Đông) và Mộ tại MÙI ( Tây Nam ). Tràng Sinh, Vượng và Mộ luôn luôn tại 3 vị trí tam hợp Hợi Mão Mùi tạo thành Mộc cuộc. Âm Mộc tràng sinh tại Mão. Vượng tại Hợi và Mộ tại Mùi. Hình Mộc thì DÀI. Âm Mộc phải có dạng Dài, Đứng, Cao. Dương Mộc phải có dạng Nằm, Dài và thẳng. Nếu thấy Hình và Khí không được chính, thì phải quan sát thêm vì Mộc vượng có thể đi sinh Hỏa. Hỏa thì có hình Nhọn nhấp nhô. 3: THỦY cuộc: Nhìn thấy giòng nước chảy về hướng NAM. Nghĩa là giòng chảy từ hướng BẮC đến. Hướng BẮC hành THỦY nên gọi là: BẮC LONG hay THỦY CUỘC LONG. Nếu thấy giòng nước chảy từ TRÁI sang PHẢI thì Khí thuộc DƯƠNG. Ngược lại thì Khí thuộc ÂM. Nếu tính từ Vòng Tràng Sinh, Dương THỦY trường sinh tại THÂN (Tây Nam),Vượng tại TÝ ( Bắc) và Mộ tại THÌN ( Đông Nam). Tràng Sinh, Vượng và Mộ luôn luôn ở vị trí TAM HỢP Thân Tý Thìn tạo thành Thủy cuộc. Âm thủy tràng sinh tại Tý ( Bắc). Vượng tại Thân ( Tây Nam ) và Mộ tại Thìn ( Đông Nam). Hình THỦY thì nhấp nhô sóng nước. Âm Thủy phải có dạng Đứng, cao. Dương Thủy phải có dạng Nằm hoặc Lõm. Nếu thấy hình và khí không được chính, thì phải quan sát thêm là vì Thủy Vượng có thể đi sinh Mộc. Mộc thì có Hình thẳng và dài. 4: HỎA cuộc: Nhìn thấy giòng nước chảy về hướng BẮC. Nghĩa là giòng chảy từ hướng NAM đến. Hướng Nam hành HỎA nên gọi là: NAM LONG hay HỎA CUỘC LONG. Nếu thấy giòng nước chảy từ TRÁI sang PHẢI thì Khí thuộc DƯƠNG. Ngược lại thì Khí thuộc ÂM. Nếu tính từ vòng Tràng sinh, Dương HỎA tràng sinh tại Dần ( Đông Bắc). Vượng tại Ngọ ( Nam ) và Mộ tại Tuất ( Tây Bắc). Tràng sinh, Vượng và Mộ luôn luôn tại 3 vị trí tam hợp Dần Ngọ Tuất tạo thành Hỏa cuộc. Âm Hỏa tràng sinh tại Ngọ ( Nam ), vượng tại Dần ( Đông Bắc) và Mộ tại Tuất ( Tây Bắc). Nước chảy về phương nào thì phương đó là Mộ khố. Hình Hỏa thì Nhọn, nhấp nhô. Âm hỏa phải Cao, nhọn. Dương Hỏa nằm phẳng và góc cạnh. Nếu thấy Hình và Khí không được chính, thì phải quan sát thêm vì Hỏa vượng có thể đi sinh Thổ. Thổ thì có hình Vuông vức. Các nhóm thảo luận : 1/ Câu chuyện HUYỀN THOẠI Cao Biền đời nhà Đường sang làm Tiết độ Sứ, đã phá hết Long Mạch nước ta bằng cách trấn yếm tất cả các Huyệt Đạo , lâu ngày trở thành chuyện THẦN THOAI . a/ Thần Thoại cho rằng Cao Biền biết cởi Hạc Diều giấy chu du khắp mọi miền đất nước để tìm ra Long Mạch nước ViệtNam hầu trấn yếm không cho nước ta ngóc đầu lên nỗi ? Bạn có thể tin không vậy ? b/ Xưa nay khoa Phong Thủy cho rằng KHÍ tích tụ lại thành NÚI – Tan ra thành NƯỚC cho nên có người lại cho rằng Khí chính là Nước và vì thế: những gì có thể thấy được thì gọi là Nước , không thể thấy được thì gọi là Khí . Bạn có thể cho biết có mối tương quan hai chiều nào với câu của người xưa thường Dạy : Thủy lấy Suy làm Vượng và lấy Vượng làm Suy ? 2/ Người ta chia Kinh tuyến và Vĩ tuyến để định vị trí từng nơi . Việt Nam đi trước nước Mỹ khoảng đâu 1/2 ngày . Tối bên này thì bên kia trời đang sáng . Cho nên Lịch Việt nam lại đi trước Mỹ 1 ngày . Bạn biết có phải vì thế cho nên người xưa cho rằng Nam Tả Nữ Hữu hay Sáng là Dương Tối là Âm không vậy ? Nguồn: sưu tầm.
      • 1
      • Like
  20. Cân lượng theo năm sanh Giáp Tý: 1 lượng 2 chỉ - Bính Tý: 1 lượng 6 chỉ - Mậu Tý: 1 lượng 5 chỉ - Canh Tý: 0 lượng 7 chỉ - Nhâm Tý: 0 lượng 5 chỉ Ất Sửu: 0 lượng 9 chỉ - Đinh Sửu: 0 lượng 8 chỉ - Kỷ Sửu: 0 lượng 8 chỉ - Tân Sửu: 0 lượng 7 chỉ - Quý Sửu: 0 lượng 5 chỉ Bính Dần: 0 lượng 6 chỉ - Mậu Dần: 0 lượng 8 chỉ - Canh Dần: 0 lượng 9 chỉ - Nhâm Dần: 0 lượng 9 chỉ - Giáp Dần: 1lượng 2 chỉ Đinh Mẹo: 0 lượng 7 chỉ - Kỷ Mẹo: 1 lượng 9 chỉ - Tân Mẹo: 1 lượng 2 chỉ - Quý Mẹo: 1 lượng 2 chỉ - Ất Mẹo 0 lượng 8 chỉ Mậu Thìn: 1 lượng 2 chỉ - Canh Thìn: 1 lượng 2 chỉ - Nhâm Thìn 1 lượng 0 chỉ - Giáp Thìn: 0 lượng 8 chỉ - Bính Thìn: 0 lượng 8 chỉ Kỷ Tỵ: 0 lượng 5 chỉ - Tân Tỵ: 0 lượng 6 chỉ - Quý Tỵ: 0 lượng 7 chỉ - Ất Tỵ: 0 lượng 7 chỉ - Đinh Tỵ: 0 lượng 6 chỉ Canh Ngọ: 0 lượng 9 chỉ - Nhâm Ngọ: 0 lượng 8 chỉ - Giáp Ngọ: 1 lượng 5 chỉ - Bính Ngọ: 1 lượng 3 chỉ - Mậu Ngọ: 1 lượng 9 chỉ Tân Mùi: 0 lượng 8 chỉ - Quý Mùi: 0 lượng 7 chỉ - Ất Mùi: 0 lượng 6 chỉ - Đinh Mùi: 0 lượng 5 chỉ - Kỷ Mùi: 0 lượng 6 chỉ Nhâm Thân: 0 lượng 7 chỉ - Giáp Thân: 0 lượng 5 chỉ - Bính Thân: 0 lượng 5 chỉ - Mậu Thân: 1 lượng 4 chỉ - Canh Thân: 0 lượng 8 chỉ Quý Dậu: 0 lượng 8 chỉ - Ất Dậu: 1 lượng 5 chỉ - Đinh Dậu: 1 lượng 4 chỉ - Kỷ Dậu: 0 lượng 5 chỉ - Tân Dậu: 1 lượng 6 chỉ Giáp Tuất: 0 lượng 5 chỉ - Bính Tuất: 0 lượng 6 chỉ - Mậu Tuất: 1 lượng 4 chỉ - Canh Tuất: 0 lượng 9 chỉ - Nhâm Tuất: 1 lượng 0 chỉ Ất Hợi: 0 lượng 9 chỉ - Đinh Hợi: 1 lượng 6 chỉ - Kỷ Hợi: 0 lượng 9 chỉ - Tân Hợi: 1 lượng 7 chỉ - Quý Hợi: 0 lượng 7 chỉ Cân lượng theo tháng sanh Tháng Giêng: 0 lượng 6 chỉ Tháng Hai: 0 lượng 7 chỉ Tháng Ba: 1 lượng 8 chỉ Tháng Tư: 0 lượng 9 chỉ Tháng Năm: 0 lượng 5 chỉ Tháng Sáu: 1 lượng 6 chỉ Tháng Bảy: 0 lượng 9 chỉ Tháng Tám: 1 lượng 5 chỉ Tháng Chín: 1 lượng 8 chỉ Tháng Mười: 1 lượng 8 chỉ Tháng Mười Một: 0 lượng 9 chỉ Tháng Chạp: 0 lượng 5 chỉ Cân lượng theo ngày sanh Ngày mùng một: 0 lượng 5 chỉ Ngày mùng hai: 1 lượng 0 chỉ Ngày mùng ba: 0 lượng 8 chỉ Ngày mùng bốn: 1 lượng 5 chỉ Ngày mùng năm: 1 lượng 6 chỉ Ngày mùng sáu: 1 lượng 5 chỉ Ngày mùng bảy: 0 lượng 8 chỉ Ngày mùng tám: 1 lượng 6 chỉ Ngày mùng chín: 0 lượng 8 chỉ Ngày mùng mười: 1 lượng 6 chỉ Ngày mười một: 0 lượng 9 chỉ Ngày mười hai: 1 lượng 7 chỉ Ngày mười ba: 0 lượng 8 chỉ Ngày mười bốn: 1 lượng 7 chỉ Ngày rằm: 1 lượng 0 chỉ Ngày mười sáu: 0 lượng 8 chỉ Ngày mười bảy: 0 lượng 9 chỉ Ngày mười tám: 1 lượng 8 chỉ Ngày mười chín 0 lượng 5 chỉ Ngày hai mươi: 1 lượng 5 chỉ Ngày hai mươi mốt: 1 lượng 0 chỉ ngày hai mươi hai: 0 lượng 9 chỉ Ngày hai mươi ba: 0 lượng 8 chỉ Ngày hai mươi bốn: 0 lượng 9 chỉ Ngày hai mươi lăm: 1 lượng 5 chỉ Ngày hai mươi sáu: 1 lượng 8 chỉ Ngày hai mươi bảy: 0 lượng 7 chỉ Ngày hai mươi tám: o lượng 8 chỉ Ngày hai mươi chín: 1 lượng 6 chỉ Ngày ba mươi: 0 lượng 6 chỉ Cân lượng theo giờ sanh Giờ Tý: 1 lượng 6 chỉ Giờ Sửu: 0 lượng 6 chỉ Giờ Dần: 0 lượng 7 chỉ Giờ Mẹo: 1 lượng 0 chỉ Giờ Thìn: 0 lượng 9 chỉ Giờ Tỵ: 1 lượng 6 chỉ Giờ Ngọ: 1 lượng 0 chỉ Giờ Mùi: 0 lượng 8 chỉ Giờ Thân 0 lượng 8 chỉ Giờ Dậu: 0 lượng 9 chỉ Giờ Tuất: 0 lượng 6 chỉ Giờ Hợi: 0 lượng 6 chỉ Thí dụ: Người sinh năm Giáp Tý, tháng Giêng, ngày mùng Một, giờ Tý. Xem ở bài trên thì Giáp Tý được 1 lượng 2 chỉ, tháng Giêng được 0 lượng 6 chỉ, ngày mùng một được 0 lượng 5 chỉ, giờ Tý được 1 lượng 6 chỉ. Rồi cộng chung lại như dưới đây: sanh năm Giáp Tý : 1 lượng 2 chỉ sanh tháng Giêng : 0 lượng 6 chỉ sanh ngày mùng một: 0 lượng 5 chỉ sanh giờ Tý : 1 lượng 6 chỉ __________________ Tổng cộng : 3 lượng 9 chỉ Sau đó xem lời bình bên dưới đây. 2 lượng 2 chỉ Số này thân hàn cốt lạnh, khổ sở linh đinh, quanh năm lo kiếm ăn độ nhựt mà còn thiếu thốn, rồi có thể trở thành ăn mày vì số mạng vậy. 2 lượng 3 chỉ Số này hễ mưu toan làm việc chi cũng khó nên được. Chẳng trông cậy nơi anh em họ hàng, đành chịu tha phương cầu thực. 2 lượng 4 chỉ Số này suy ra không có phước lộc gia đình, khó gầy nên sự nghiệp, không nương cậy nơi họ hàng cốt nhục, chỉ lưu lạc tha phương cầu thực tới già mà thôi. 2 lượng 5 chỉ Suy ra số này tổ nghiệp suy vi, ít có phần gầy dựng nên gia đình được, họ hàng cốt nhục thì như than với giá, mot65 đời khổ sở, chỉ tự mình tìm sống mà thôi. 2 lượng 6 chỉ Số này trọn đời khốn khổ, một mình mưu tính công việc làm ăn luôn luôn nhưng chẳng thành. Nên lìa xa quê cha đất tổ mới hầu được đủ ăn và may ra lúc già mới được thanh nhàn. 2 lượng 7 chỉ Số này một đời làm công việc ít có được người khác mưu toan giúp đỡ, khó nhờ cậy phước đức của tổ tông làm chủ trương cho. Chỉ tự lực một mình làm ăn, từ bé đến lớn cũng chẳng có gì hay cả. 2 lượng 8 chỉ Số này làm ăn lộn xộn rối ren như bòng bong, về sản nghiệp của tổ tông thì như giấc mộng. Nếu chẳng làm con nuôi người ta hay là không đổi họ thì cũng phải dời đổi di cư tới đôi ba lần. 2 lượng 9 chỉ Số này năm xưa thì lẩn quẩn chưa hề được hạnh thông, dầu có công danh thì cũng trễ muộn, phải tới ngoài bốn mươi tuổi mới có thể đặng an nhàn, nhưng phải dời đổi nhà cửa hay là đổi họ mới hay. 3 lượng 0 chỉ Số này lao lực phong trần, trong đời gặp lắm cảnh lầm than. Dầu có siêng năng hà tiện, thì tới tuổi già chỉ đỡ ưu sầu chút đỉnh thôi. 3 lượng 1 chỉ Số này cũng vất vả lao đao vì sanh kế, khó nhờ sự nghiệp của tổ tông mà nên nhà nên cửa. Từ nửa đời người trở lên mới gọi là đặng đủ ăn đủ mặc. 3 lượng 2 chỉ số này năm xưa gặp vận rủi, khó mưu đặng công việc gì. Về sau mới có tài lợi như nước chảy lần tới. Từ nửa đời người trở lên thì sự ăn mặc đặng no đủ, lúc ấy công danh lợi lộc sẽ hạnh thông. 3 lượng 3 chỉ Số này lúc ban sơ làm ăn công việc chi cũng khó thành, mưu tính trăm đường chỉ uổng công thôi. Từ nửa đời người sắp lên mới gặp vận hay sẽ tới như dòng nước chảy lại, sau này tài lợi tấn phát đặng nhiều. 3 lượng 4 chỉ Số này có phước khí tăng đạo, phải xa quê hương cha mẹ mà xuất giá nương cửa Phật, hằng ngày tụng niệm thì mới đặng y lộc viên mãn. 3 lượng 5 chỉ Số này phước lượng sanh bình chẳng đặng chu toàn, chẳng hưởng phần căn cơ của tổ nghiệp truyền lại. Còn sự sanh nhai phải chờ khi vận tới rồi mới no đủ hơn xưa. 3 lượng 6 chỉ Số này một đời chẳng cần lao lực chi lắm, một tay gầy dựng nên gia nghiệp, cái phước chẳng phải vừa, vì sớm có ngôi phước tinh thường chiếu tới mạng mình, mặc dầu cho làm qua trăm bề đều đặng thành đạt. 3 lượng 7 chỉ Số này làm chẳng đặng thành công, anh em ít giúp sức, chỉ một thân cô lập. Tuy rằng cũng có tổ nghiệp chút đỉnh, nhưng lúc lại thì rành rành đó, mà lúc đi thì chẳng biết hết bao giờ. 3 lượng 8 chỉ Số này cốt cách rất thanh cao, sớm đặng thi đổ, tên họ ghi tên bảng vàng. từ năm 36 tuổi, sẽ đặng phú quý vinh hoa. 3 lượng 9 chỉ Số này trọn đời vận mạng chẳng đặng thông đạt, làm việc thành rồi cũng hư. Khổ tâm kiệt lực dựng nên gia kế tới sau này cũng như giấc mộng. 4 lượng 0 chỉ Số này phước lộc đặng lâu dài, nhưng xưa phải chịu qua nhiều nỗi phong ba vất vả. Sau này đặng hưởng an nhàn phú quý. 4 lượng 1 chỉ Số này là người tài ba lỗi lạc, công việc trước sau chẳng đồng nhau; từ nửa đời sắp lên lai cọ phước tiêu diêu, chớ chẳng như xưa kia vận chưa đạt. 4 lượng 2 chỉ Số này sẽ được nhiều thoả nguyện. Từ nửa đời người thì vận mạng đặng nên, lúc ấy tài lợi công danh thảy đều tấn phát. 4 lượng 3 chỉ Số này là người tánh rất thông minh, làm việc lỗi lạc hiên ngang gần với người sang quí. Một đời phước lộc tự trời định sẵn, chẳng cần phải lao lực mà tự nhiên đặng hạnh thông. 4 lượng 4 chỉ Phàm sự chi cũng bởi trời đem lại, chẳng cần cầu làm chi cho mệt, phước lộc về sau sẽ đặng hơn nhiều lúc khi xưa. Tuy rằng lúc trẻ cung Tài Bạch khó đặng như ý, nhưng tới tuổi già đặng an nhàn. 4 lượng 5 chỉ Số này phần công danh lợi lộc trước phải tân khổ, mà sau này cũng phải bôn ba; số hiếm hoi con cái vì khó nuôi; anh em cốt nhục cũng ít đặng phù trợ giúp sức. 4 lượng 6 chỉ Số này đi đâu cũng đều đặng hạnh thông, nhứt là đổi họ dời nhà lại càng thịnh vượng. Ăn mặc đầy đủ tự số trời định sẵn. Từ nửa đời cho tới lúc già đồng một mực trung bình. 4 lượng 7 chỉ Số này tính ra vượng về lúc tuổi già, vợ con phú quí, vì nguyên có cái phước sẵn như nước chảy lại. 4 lượng 8 chỉ Số này, tuổi trẻ cũng như lúc tuổi lớn, cũng chẳng đặng hưng vượng. Anh em họ hàng đều không đặng nhờ cậy giúp sức. Tới lúc già rồi mới đặng đôi phần an khương. 4 lượng 9 chỉ Số này suy ra có hậu phước lớn lắm, tự tay gầy nên sự nghiệp vẻ vang gia đình. Người sang đều kính trọng. Một đời sung sướng. 5 lượng 0 chỉ Số này hằng ngày chỉ lao lực về đàng công danh tài lợi. Lúc nửa đời cũng có nhiều phen gặp phước lộc; tới già có ngôi Tài Tinh chiếu mạng sẽ đặng an nhàn. 5 lượng 1 chỉ Số này một đời vinh hoa, mọi việc thảy đều tấn phát, chẳng cần lao lực, tự nhiên hạnh thông. Anh em chú cháu đều đặng như ý, gia nghiệp và phước lộc đặng đầy đủ. 5 lượng 2 chỉ Số này trọn đời hạnh thông, việc gì cũng hay, chẳng cần nhọc lòng mà tự nhiên yên ổn. Họ hàng cốt nhục thảy đều giúp sức; sự nghiệp hiển đạt. 5 lượng 3 chỉ Số này xem ra khí tượng chơn thật, nghiệp nhà mà đặng phát đạt cũng ở trong đó. Phước lộc một đời có số định sẵn vinh hoa phú quí. 5 lượng 4 chỉ Số này là người có tánh trung hậu và thanh cao, học hành minh mẫn, ăn mặc phong túc, tự nhiên an ổn, chính là người có phước trên đời. 5 lượng 5 chỉ Số này lúc trẻ hằng bôn ba trên đàng danh lợi, nhưng uổng công phí sức mà thôi. Ngày kia, phước lộc sẽ tới như nước chảy lại, rồi tự nhiên phú quí vinh hiển. 5 lượng 6 chỉ Số này suy ra là người lễ nghĩa thông thái, một đời phước lộc; nếm đủ mùi chua cay, nguồn tài lợi thì cuồn cuộn, an ổn và phong hậu. 5 lượng 7 chỉ Số này phước lộc dẫy đầy, mọi sự hạnh thông, quang hiển mẹ cha,oai vọng chấn dương, người đều kính trọng, riêng chiếm bầu xuân. 5 lượng 8 chỉ Số này là số bảng vàng áo gấm, quan cả khoa cao, phước lộc một đời tự nhiên đem lại, phú thọ đều đủ, danh lợi kiêm toàn. 5 lượng 9 chỉ Suy ra số này là người diệu xảo không có thanh cốt, chắc hẳn tài cao học rộng có phận đậu khoa bảng, có mạng làm quan sang. 6 lượng 0 chỉ Số này tên đậu bảng vàng, lập nên công lớn, vinh quang tông tổ, điền sản phong túc, y lộc dư giả. 6 lượng 1 chỉ Số này tư chất thông minh, học hỏi rộng rãi, tự nhiên vinh diệu, tên đậu bảng vàng. Dầu chẳng được quan sang, chắc cũng là một nhà phú hộ. 6 lượng 2 chỉ Số này phước lộc vô cùng, học giỏi làm nên, vinh hiển mẹ cha, đai vàng áo gấm, phú quí vinh hoa, mọi đường đầy đủ. 6 lượng 3 chỉ Số này là số đậu khoa cao, làm quan lớn, giàu sang cực phẩm, toại danh thiên hạ; phước lộc phi thường, gia đình vinh hiển. 6 lượng 4 chỉ Số này phú quí vinh hoa, ít ai bì kịp; oai quyền lộc vị, không kẻ sánh bằng. Áo tía đai vàng, ngôi cao chung đỉnh, trọn đời hạnh phúc. 6 lượng 5 chỉ Số này suy ra thì phước lộc chẳng nhỏ, tài cao giúp nước, công cả yên dân; chức trọng trào đình, giàu sang tột bực, vang danh thiên hạ. 6 lượng 6 chỉ Số này phú quí định sẵn tự trời, phước lộc hơn thiên hạ, quan cao quyền trọng, châu báu đầy vơi, ấm phong thê tử. 6 lượng 7 chỉ Số này sanh ra tự nhiên có phước lớn, điền viên gia nghiệp thật hưng long, trọn đời phú quí vinh hoa, muôn việc hạnh thông hoàn hảo. 6 lượng 8 chỉ Số này giàu sang tự trời ban, khỏi phải khó nhọc, gia tư có muôn vàng; nhưng mười năm sau chẳng có như hồi trước, căn cơ tổ nghiệp trôi đi như thuyền trên mặt nước sóng bão. 6 lượng 9 chỉ Số này là một vì sao y lộc ở nhơn gian, một thân phú quí, mọi người đều kính nể. tóm lại, là phước lộc do tự trời định, an hưởng vinh hoa trọn đời. 7 lượng 0 chỉ Số này suy ra phước chẳng nhỏ, không cần phải sầu lo làm chi cho mệt nhọc, vì trời đã đinh sẵn y lộc phong danh, một đời vinh hiển giàu sang. 7 lượng 1 chỉ Số này sanh ra rất khác với người thường, công hầu khanh tướng đều đặng hoàn hảo, một đời tự nhiên có phước tiêu diêu khoái lạc, cực phẩm hưng long. Nguồn: vuive.club.com
      • 1
      • Like
  21. Xin chân thành cám ơn Bác Hà Uyên đã bỏ thời gian ra luận cho cháu Thái. Chúc Bác nhiều sức khỏe. Kính chào Bác. Lê Bá Trung.
  22. Kinh nhờ Bác Hà Uyên xem dùm cho cháu Tên : Lê Minh Thái. Sinh ngày :05/03/2009. Giờ sinh: 12:20 phút. Chân thành cám ơn Bác. Chúc Bác nhiều sức khỏe.
  23. Tuy có sự phân chia làm 24 sơn nhưng cũng nằm trong phạm vi Bát quái, mỗi quẻ bao gồm 3 sơn, Ví dụ 3 chữ Càn Tuất Hợi đều thuộc quả Càn, Nhâm Tý Quý đều thuộc quẻ Khảm. Vì thế khi xem xét, bất luận là 1 hay 2, 3, 4, 5 đều 10 viện, cũng bất luận là phòng chính, phòng phụ, cũng bất luận là viện trước viện sau, trái hay phải, chỉ cần lấy phòng viện nào cao lớn nhất làm chuẩn, chiều cao thời căn cứ vào cái nóc. Tại nơi được chọn lựa ngay giữa nhà hạ La bàn xem thuộc chữ nào và cung nào của Bát quái. Môn là cổng ra đường đi, chứ không cần phân biệt lớn, nhỏ, muốn biết cát hung phải xem cổng này. Xét về bếp thời xét hướng của nhà bếp, tức là cửa ra vào bếp, chứ không phải là cửa bếp lò, cả 3 nơi này đều đặt La bàn để xác định phương hướng, rồi tổng hợp cả 3 để khảo sát theo ngũ hành sinh khắc mà định cát hung. Cách phân biệt Tĩnh trạch, Động trạch, Biến trạch, Hóa trạch: Dương trạch gồm có 4 loại là Động Tĩnh Biến Hóa: - Nếu nhà đó chỉ có đơn thuần 1 viên, 1 phòng thời gọi là Tĩnh trạch. Việc khảo sát chỉ cần xét nơi cửa an các sao theo Du Niên. - Nếu nhà đó gồm có 2, 3, 4 đến 5 viện thời gọi là Động trạch, đúng phép xảo phiên Bát quái. Tại sao Động trạch lại chỉ giới hạn có 5 phòng, vì chỉ có 5 hành Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ. Từ 6 phòng đến 10 phòng, gọi là Biến trạch. Điều này có thể lý giải là: Thiên nhất sinh Thủy, Địa lục Thành Chi… Từ Nhất, Lục, Nhị, Thất, Tam Bát, Tử Cửu và Ngũ Thập, số 10 là số cuối cùng và là thành số. Quá số 10 lại trở về số 1, vì thế gọi là Biến trạch. Cách khảo sát phải cùng song Kim, song Mộc, song Thổ, đó lập hướng pháp Xảo phiên Bát quái nói trên. Sau hết là nhà có từ 11 phòng trở lên đến 15 thời được gọi là Hóa trạch, Thổ thuộc số 5, muôn vật đều do Thổ mà ra. Phép giải hung của bếp: Đây là nguồn gốc nuôi dưỡng con người, bệnh tật cũng do ăn uống mà sinh ra. Do đó bếp phải an theo hướng có sinh khí. Thiên Ất hay Diên Niên, đó là 3 kiết phương, điều tối kỵ là làm bếp ở hung phương như Ngũ quỷ và Lục sát. Nếu phạm vào cát hung phương này thời hại người hại của, hay sinh bệnh hoạn. Muốn giải trừ hung họa, thời dọn dẹp hết tro bụi trên bếp cũ, cúng nước sạch quét rửa cho sạch sẽ. Sau đó đem tro bụi ra đổ ở sông hoặc hoặc ở vùng đồng trống. Mua những vật liệu mới xây cất theo cát phương Thiên y như vậy có thể giải quyết được hung tai, điều này rất ứng nghiệm, nếu bếp thuộc phương Mộc sẽ ứng nghiệm trong vòng 30 ngày, bếp thuộc phương Thổ ứng trong vòng 50 ngày, bếp thuộc phương Kim, ứng nghiệm trong vòng 40 ngày, bếp thuộc Hỏa ứng trong vòng 20 ngày, cuối cùng bếp thuộc phương Thủy sẽ ứng trong vòng 60 ngày. Nếu chủ cũng được cát phương thời bệnh mau khỏi, thêm con thêm của, và công danh hoạn lộ thường ứng trong vòng 3 năm. Ngoài ra những đồ thiết khí hay vật cứng, trang bị cho bếp cũ, vì e hung khí chưa tan, nên để ý nơi trống trải, đúng 100 ngày có thể dùng lại mà vô hại. Riêng những vật dụng thường dùng như chén bát, đũa, muỗng… đều không kỵ. Trái lại chỉ kỵ đồ dùng bằng sắt, sau 5 ngày mang đi bỏ ở nơi xa, đúng 5 ngày là lấy theo ý nghĩa phá Ngũ quỷ. Cách phân biệt rõ các táo Khi thấy trong nhà có những hiện tượng như ốm đau, trẻ con khó nuôi, tuổi già cô độc không con cái bệnh hoạn lâu không khỏi, hôn nhân trắc trở, cần đặt lại bếp vào phượng Thiên y (Thiên Ất hay Cự môn) và chiếu theo mạng nguyên của Trạch chủ mà an giường nằm, bếp nước sẽ được đại cát. Học hành mãi mà thi cử không đậu, hoặc trong nhà gặp cảnh cùng khốn, thời nên đặt bếp vào phương sinh khí, cổng lớn theo phương sinh khí, ngoài sinh trong tức là Môn sinh chủ sẽ có hiệu quả rất mau. Nếu cầu tài, trong vòng 100 ngày sẽ hiệu nghiệm. Con trai con gái trong nhà thường bị yểu mạng đó là hung triệu, gặp trường hợp này nên đặt bếp vào phương Diên Niên sẽ được tặng tuổi thọ. Đặt cổng lớn theo phương Diên Niên và Chủ an theo Thiên y phương rất tốt. Các phương sinh khí, Thiên y và Diên Niên kể trên cần được hợp với Mạng Nguyên của Trạch chủ. Nếu không được sự tương hợp thời an giường và táo khẩu (miệng lò lửa) hợp với phương hướng của Trạch chủ cũng rất tốt, tuy vậy không bằng trường hợp trên. Tóm lại, muốn được toàn mỹ cần được 5 điều: Môn, Chủ, Táo, giường nằm và táo khẩu đều hợp với bản mệnh của Trạch chủ. Hiệu quả tốt của 3 cát tinh: - Gặp được cát phương Tham Lang (tức sinh khí) thời sinh được 5 con, công danh hiển đạt, mau giàu có, tăng nhân khẩu, may mắn dồn dập đến, trong 30 ngày có hiệu quả. - Gặp được cát phương Thiên Ất (tức Cự môn) thời vợ chồng hòa thuận, sinh được 3 con hiền, làm ăn giàu có, ít bệnh tật, nhân khẩu, gia súc đều tăng tiến hưng vượng, nó hiệu quả trong vòng 50 ngày. - Gặp được cát phương Vũ khúc (tức Diên Niên) sinh được 4 con hiền, giàu vào hàng trung phú nhưng thượng thọ, vượng tài, vợ chồng hòa thuận, hôn nhân tốt đẹp, ruộng vườn mở mang, nhân khẩu và lục súc đều thịnh, thường có tin mừng. - Gặp được Phục vị (tức hai sao Phụ Bật) thời được Tiểu Phú trung thọ, nhiều gái ít trai (Sao này có tính cách phụ họa). Hiệu quả xấu của 4 hung tinh: - Tuyệt mạng (Phá Quân) thuộc Kim đóng tại cung Ly ví như con thú cùng đường quay đầu lại cắn, đóng tại cung Tốn, giống như kẻ bạo tàn đắc chí, tàn hại kẻ trung lương, đóng tại 2 cung Cấn Khôn, ví như chứa lương để nuôi giặc, dưỡng hồ di họa, đóng tại cung Khảm như dồn cọp xuống hổ, gầm thét vang trời, đóng tại hai cung Càn Đoài giống như lang sói, sẽ có lúc cắn lại. - Ngũ quỷ (Liêm Trinh) đóng tại hai cung Chấn Tốn là mộc sinh hỏa, cháy chóc khắp nơi, đóng tại hai cung Càn Đoài như lửa mặt trời, tan vàng nát đá, đóng tại hai cung Cấn Khôn, như lửa rực của Hỏa Diệm sơn ngọc đá đều tan, đóng tại cung Khảm giống những vị thuộc bào chế (Dã cát và ô dâu), đóng tại cung lạ như tưới dầu vào lửa, mọi vật tiêu tan. - Họa hại (Lộc Tồn) đóng tại 2 cung Chấn Tốn như bọn nô tỳ gian ác, dù sau này bị chế phục, sau này sẽ phản chủ, đóng tại 2 cung Cấn Đoài như quân cướp bóc tạm thời đều hàng, nhưng sau sẽ phản phúc. Đóng tại cung Ly như nhận giặc làm con nuôi, sau sẽ bị chúng cướp đoạt gia tài, đóng tại cung Khảm như kẻ gian rình mò trong đêm tối tự tung tự tác, đóng tại hai cung Cấn Khôn như kết liên gian đang, sẽ bị họa diệt tộc. - Lục sát (Văn khúc) đóng tại hai cung Càn Đoài giống như kẻ phỉnh nịnh, gian ác, đào tường khoét vách. Đóng tại cung Cấn giống như đôi vợ chồng xấu xa bệnh hoạn. Đóng tại 2 cung Chấn Tốn giống như cô trinh nữ mà thất tiết, tấm thân ô uế, đóng tại cung Khảm giống như phường trên bậc trong đầu. Đóng tại cung Ly giống như ở cùng với mụ vợ ghen tuông, suốt ngày la hét. Luận về sự khác biệt giữa sơn cốc và thành thị: Xét về dương trạch phải phân biệt rõ là nơi đó thuộc thôn quê có núi non sông nước hay thành thị đất chật người đông. Nếu ở nơi sơn cốc, thời lấy núi non làm chủ và nhà phải theo pháp long, chân khí hùng tráng, núi non nước bọc như vậy tất được đại phát. Còn ở thành thị phải theo trạch pháp, nghĩa lại cổng mở theo các phương chủ và táo đều cần hướng hợp, được như vậy sẽ hiệu nghiệm nhãn tiên chí trong vòng 3 năm được cát lợi. Phương vị của Cửu tinh sinh vượng: - Tham Lang cư bắc chủ vinh xương (Tham Lang ở Khảm tốt) - Cự môn đáo Hỏa tử tôn cưỡng (Cự Môn ở cung Ly tốt) - Vũ khúc tới nghi lâm Thổ vị (Vũ Khúc ở Cấn Khôn tốt). - Các cứ bản vị diệc sinh tưởng (mỗi sao đóng ở phương vị, thuộc hành của mình cũng rất tốt, như Vũ Khúc tại Càn). - Duy hữu Lục Sát Văn khúc Thủy (chỉ có sao Văn Khúc thủy). - Trung ương thụ chế bất vi ương (đóng tại cung Thổ như Khôn Cấn không gây tai họa). Ảnh hưởng Cát hung của Cửu tinh: - Phục vị và Thiên Ất không gây tai họa. - Diên Niên và Sinh khí đều là điều lành. - Ngũ quỷ là Liêm Trinh nếu gặp phải thời tổn thương nhân khẩu và nhiều tai họa. – Lục sát là Văn khúc thuộc Nhâm Quý Thủy, gây tổn thương gia súc và nhiều nổi kinh hoàng. – Tuyệt mạng gây tổn thương nhân khẩu. - Họa hại cũng gây những sự chẳng lành. - Tham Lang tức sinh khí có lợi cho quan lộc. - Vũ Khúc tức Diên Niên, tuổi thọ cao. - Phụ Bật tức Phục vệ, mọi sự đều tốt. - Cự Môn tức Thiên Ất, có lợi cho tài lộc. - Liêm Trinh tức Ngũ quỷ, hay bệnh tật. - Phá Quân tức Tuyệt mạng, nhiều tai ương. - Lộc Tồn tức Họa hại, tổn thương nhân khẩu. - Văn Khúc tức Lục Sát, nữ nhân bị tổn thương. - Sao Tham Lang thuộc Mộc đóng tại các cung Khảm Ly Chấn Tốn là đắc vị, phát phúc bền lâu. Đóng tại các cung Càn Đoài là nội khắc, tại các cung Khốn Cấn là Ngoại chiến.- Sao Diên Niên thuộc Kim, đóng tại 2 cung Càn Đoài là đắc vị, tại cung Khôn Cấn là được sinh khí, tại cung Ly là Nội khắc, tại 2 cung Chấn Tốn là Ngoại khiến. Ở sơn cốc thời phương hướng là riêng mình, còn ở thành thị là của chung của nhiều người. Miếu tinh phương vị:Miếu tinh tức là Thiên tinh. Vậy Thiên tinh là gì? Trên thì ứng với tinh tú trên trời dưới ứng với họa phúc trong cõi nhân gian, Miếu tinh gặp phương tinh thời hung, ở phương cát thời cát, Cát phương là gì? Tức là Tam cát, Lục tú. Các phương Hợi, Chấn Canh là Tam cát, Các phương Càn Bính Tốn Tân Đoài Đinh là Lục Tú. Tam cát là phương tài lộc, Lục tú là phương Văn học thi cử, Khi Miếu vũ dành chừa đặt đúng phương Tam cát hay Lục tú thời phần an vật thịnh. Tại đế thánh thời lấy đại dương làm chuẩn. Ngoài ra, như các miếu vũ tên tuổi Đông Nhạc, Văn Xương, Tam Quan, Nhị Lang đều cát, không hung. Đặc biệt ở những ngã tư đường không nên xây cất đền miếu. Nếu phạm vào Mậu Kỷ Sát, tất bất lợi. Phương vị của tháp bút: Nói chung những nơi đô thành tỉnh thị, phủ huyện mà trong vùng ít người đậu đạt, thi cử khó khăn chật vật, thời nên chọn 4 phương vị Giáp, Tốn, Bính, Đinh trên đó xây những ngọn tháp gọi là văn bút phong, cần cao hơn các sơn khác. Như vậy vùng đó sẽ phát khoa bảng. Ngoài ra có thể cất tháp ở trên ngọn núi, hoặc ở núi đất phẳng thời xây tháp thật cao, văn học sẽ phát. Bát phương miếu tinh: Nhất hạch hữu thiện tinh, điên cuồng to dâm loạn sinh - Nhị hắc hữu Thiên tinh, phú quý vượng nhân đinh, Tam bích hữu Thiên tinh, phát khoa tại trạch trung. Tứ lục hữu thiên tinh, gia phú quý tử sinh. Lục bạch hữu thiên tinh, phú hào khoa giáp đăng. Thất xích hữu Thiện tinh, trạch trung vô lỗ công, tuy nhiên phát khoa giáp, dản khủng vô nhân đinh. Bát bạch hữu Thiên tinh, hào tuấn xuất kỳ anh, phú quý thùy kham địch, hộ hộ tung thống bình, Cửu tửu tử hữu Thiên tinh, hoạc mục hựu tuyệt ông, tây phương nhược vô bộ, đồng biến khuyết nhân đinh. Nhất bạch dâm dục tiểu cát tường, nhị hắc vô tây hể đông xương, tam bích đăng khoa phục thọ trường, tứ lục kim bảng hề phú cườn, lục bạch Thiên tứ phú quý hương, chất xích tú lệ hể cô sương, bát bạch phúc lộc thọ phân phương, cửu tử nhãn tật hể tử vong, cánh hưữ ngũ hoàng mầu kỳ phương, Thiên tinh như lâm hề tai ương, thử trung âm dương nguyên diệu tàng, tham bát thấu hề danh hề dương. Nguồn:vuiveclub.net
  24. Kính chào bác Vạn Sự Tùy Duyên. Nếu bỏ chi phí 8-10 triệu cho một bản thiết kế xây dựng đúng theo Phong Thủy, thì cháu nghĩ đó là một chi phí khá là ít cho một bàn thiết kế hoàn chỉnh . Nếu như xây nhà xong không hợp với Phong Thùy rôi lại tư vấn đập chỗ này chỗ kia nữa thì mức giá cho sửa 1 căn nhà không dưới 20 -30 triệu trở lên. Theo như bác nói đó chỉ là tin đồn. Còn thật sự nhiều lúc thầy Thiên Sứ bỏ thời gian và công sức đến nhà để xem phong thủy nhưng không nhận lấy 1 đồng nào của gia chủ. :rolleyes: Kính chào bác.
  25. Thân chào anh HongVu. Anh cứ bình tĩnh, mọi người trên diễn đàn sẽ giúp đỡ cho anh. Làm phong thủy cần thiết nhất là sự chính xác, phải gọp chung nhiều yếu tố để xét tổng thể, như vậy sẽ đưa ra giải pháp hữu hiệu nhất cho ngôi nhà của anh. Thân chào anh !
×
×
  • Create New...