Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

hoangnt

Hội viên
  • Số nội dung

    1909
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    6

Everything posted by hoangnt

  1. Chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tính Thấy - Tính tuyệt đối (thuộc tính của một Hiện thực khác quan), nếu Vật chất được xác định thêm là được đo đếm, nhận biết... dẫn đến tạm gọi Tính thấy có là thuộc tính của Phi vật chất. Vậy thì: Phi vật chất có tương tác với Vật chất hay không? khi mà vật chất cũng tồn tại từ vô thủy tới vô chung, điều ngày có nghĩa cùng song hành với Phi vật chất. Tính thấy có trong vật chất hay không hay nằm ngoài vật chất? nếu nằm ngoài thì nó chính là môi trường của vật chất hoặc cả trong cả ngoài tức nó có thuộc tính thấm nhập vào vật chất - bởi tính tuyệt đối. Hoặc chỉ bên trong của vật chất tức tồn tại cùng với các trạng thái lý tính của vật chất. Do tư duy phản ánh trong Tính thấy, dễ dàng rút ra kết luận Tính thấy có trong vật chất chứ không thẻ nằm ngoài vật chất. Vậy thì Lý tính cùng song hành Tính tuyệt đối: điều này dẫn đến có mối quan hệ giữa Vật chất và Phi vật chất trong cùng một sự vật, hiện tượng - được lý giải như thế nào??? GIả sử có một tương tác - nó phải lan truyền tới toàn vũ trụ vô cùng, điều này chỉ có thể xảy ra khi sự lan truyền thông quan Tính thấy hay tính tuyệt đối bởi vì nếu chỉ tương tác với Lý tính thì hoàn toàn bị giới hạn.
  2. Chủ đề "Định mệnh có thật hay không" thật là khó khăn nhưng chính là câu hỏi muôn đời của nhân loại và khoa học. Chùng nào khoa học còn tồn tại Tính bất định thì không thể tiếp cận được nó. Thí nghiệm tìm "hạt của Chúa" cũng không thể tới đích bởi giới hạn nào được xem là nhỏ nhất trong tổ hợp các hạt đang phân tích vẫn chưa rõ ràng: xác định bằng thực nghiệm và chứng minh bằng lý thuyết. Lý luận chuyển sang mối quan hệ với các thí dụ và quan niệm của Phật giáo - kết quả xuất hiện một định nghĩa mới đó là Tính Thấy - Tính tuyệt đối. Tính tuyệt đối tồn tại từ vô thủy đến vô chung tức vẫn đang hiện hữu, là một thực tại - có thể xem là Phi vật chất. Tính tuyệt đối vẫn được "nhận thức" bởi chúng ta hay có thể hiểu nó nhưng không thể nắm bắt cụ thể tức không thể sờ mó, nhìn, nghe... với mọi loại phương tiện nào. Tính tuyệt đối có trong vạn vật và dĩ nhiên không thể ngoài vạn vật tức là không thể từ "Hư không". Như vậy, nó có trong nhận thức chúng ta nhưng được chúng ta nhận thức trở lại tức biết nó tồn tại. Ví dụ trích: Suy nghĩ của chúng ta không già đi theo thời gian mặc dù nó là vật chất nhưng nếu là vật chất thì nó phải nằm trong các giai đoạn thành trụ hoại không - chứng tỏ đứng đàng sau nó là một thực tại khác.úng ta có
  3. Tìm hiểu cái thấy và tính thấy trong Kinh Lăng Nghiêm Theo tư tưởng kinh Lăng Nghiêm cả hai “cái thấy”và “tính thấy” tuy đều giống nhau ở chữ “Thấy”, nhưng chừng mực “Thấy” lại hoàn toàn khác nhau. Nghĩa của “cái thấy” tuy cũng là thấy nhưng mức độ thấy lại có chừng mực, có hạn lượng… Vì cái thấy là do con mắt thông qua sắc trần, cộng với ý thức mà thành.Ví dụ như cái thấy của con mắt là nhận biết về màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng…và tỷ lượng lớn, nhỏ, dài, rộng của các sự vật. Tiến xa hơn về cái thấy của Nhĩ căn là sự tiếp thu và phân biệt âm thanh lớn, nhỏ, êm dịu hay đanh gắt; cái thấy của Tỵ căn là phân biệt mùi hương thơm, thối, hay không thơm không thối; cái thấy của Thiệt căn là phân biệt mặn, nhạt, chua, cay; cái thấy của Thân căn là phân biệt nóng, lạnh, trơn, rát… Đức Phật dạy rằng: “Cái thấy do suy xét mà thấy là do căn, trần đối đãi với nhau mà sinh ra cái tưởng tượng giả tướng của tiền trần. Do tâm điên đảo vọng tưởng mà nhận thấy thế giới điên đảo vọng tưởng. Lâu ngày bám chấp cho những thứ vọng tưởng đó là tâm mình, thực ra đó chỉ là thức phân biệt, nó có tự thể là căn và trần. Nếu rời căn trần thì sẽ không bị cái thấy giả tạm lừa dối nữa.” Như chúng ta biết cái Thấy luôn dựa trên căn- cảnh-và thức mà thành. Cái thấy còn tuỳ thuộc vào các sự vật hiện tuợng và nghiệp báo của chúng sinh mà nhận biết được. Ví dụ cũng là một bông hoa có màu sắc tươi đẹp, nhưng đối với người có con mắt sáng bình thường thì họ sẽ thấy được bông hoa và màu sắc tươi đẹp của chúng; còn đối với người có bệnh mắt, tuy họ vẫn thấy bông hoa nhưng lại không thể thấy màu sắc của hoa,và đây chính là nghiệp báo của mỗi chúng sinh vậy. Tóm lại cái thấy trong tư tưởng Lăng Nghiêm chỉ là bóng dáng của tiền trần, nó không thực có, không phải thường trụ mà ngược lại nó luôn luôn thay đổi, lúc có lúc không, do đó sự hồi tưởng lại cái tướng của tiền trần cũng lúc sinh lúc diệt. Vì vậy mà đức Phật gọi bóng dáng của tiền trần vào trong ký ức phân biệt chỉ là vọng tâm, là những phiền não khách trần. Nhân là trần nên quả không thể có giây phút lặng yên, nó luôn lưu chuyển theo từng sát na sinh diệt. Tính thấy thì hoàn toàn ngược lại, tuy nó cũng được gọi là Thấy nhưng cái tính thấy ở đây thâm thuý hơn, siêu việt hơn; nó thường trụ không hề biến đổi. Đức Phật dạy cài thấy thông qua căn, trần, thức là cái thấy điên đảo vọng tưởng do sự nhận thức sai lầm của chúng sinh mà sinh ra; còn tính thấy thì thường trụ, nó vượt qua sự phân biệt, cũng không còn sự đối đãi giữa mê và ngộ, vọng và chân… Tính thấy không có hạn cuộc, nó bao trùm tất cả và được gọi bằng nhiều danh từ như Diệu minh chân tính, Như lai tàng tâm, hay Bản tính thanh tịnh… Vẫn chưa rõ nguồn gốc từ đâu, có trong vạn vật không? Thế gian hiện tượng tuy nhiêu, nhưng tóm lại không ra ngoài tám tướng: sáng, tối, thông, bít, sắc, không, trong, đục. Tám tướng xét cho cùng đều có thể trả về chỗ sở nhân phát sinh ra nó. Còn tính thấy thì không, nó không thể trả về đâu, vô thỉ vô chung, vô hình vô tướng, bất sinh bất diệt. Tuy không có hình tướng nhưng lại nhận biết được hết thảy các tướng của thế gian. Tính thấy là hiện hữu thường xuyên, ở thánh không tăng ở phàm không giảm; cho đến cả giữa Phật và chúng sinh cũng không có gì khác biệt. Phật chỉ hơn chúng sinh ở chỗ là người đã hoàn toàn giác ngộ và luôn sống hoà đồng với nó, còn chúng sinh thì ngược lại, luôn đắm mình trong ba độc tham, sân, si rồi quẩn quanh tạo nghiệp luân hồi, không biết rằng tự tính ( tính thấy) của mình bản lai vốn thường hằng, thanh tịnh, không hề biến đổi. Tính thấy tuy không có hình tướng như cái thấy nhưng nhờ thông qua kiến phần, tướng phần, chứng phần và chứng tự chứng phần mà biết được nó thường hằng, bất biến. Kiến phần chính là cái năng kiến. Nghĩa là khi nhãn căn tiếp xúc với sắc trần nó phân biệt, nhận biết được các đối tượng rõ ràng, rành mạch. Ví như người nhìn thấy bông hoa, hoặc là đem chiếc gương sáng để chiếu trước vật, gương và người đều là năng kiến; còn vật được chiếu là sở kiến. Cả hai kiến phần và tướng phần đều là huyễn pháp, do tâm vọng tưởng điên đảo mà sinh ra, hạng phàm phu vừa nhìn thấy bèn chấp cho là thật nên kết quả là chuốc lấy sự đau khổ luân hồi. Còn chứng phần thì siêu việt cả năng kiến và sở kiến, chỉ có bậc hiền thánh mới liễu ngộ được, chứng đạt được. Tuy địa vị hiền thánh đã và đang tiến đến quả vị giải thoát nhưng trong sâu xa của nội tâm vẫn còn một chút kiến hoặc và tư hoặc, trần sa hoặc. Chỉ có chư Phật, bậc đã đầy đủ phúc tuệ, các hạnh viên mãn mới đạt tới cảnh giới chứng tự chứng phần. Cảnh giới này còn được gọi là Bồ Đề hay Đại Niết Bàn… Tóm lại, qua kinh Lăng Nghiêm chúng ta thấy sự khác biệt giữa cái thấy và tính thấy hoàn toàn khác nhau. Tuy cùng đồng nghĩa thấy nhưng cái thấy còn ở trong vòng đối đãi, ở trong cảnh giới căn, trần, thức mà sinh ra. Còn tính thấy thì thanh tịnh, chu biến pháp giới, tuỳ tâm lượng chúng sinh mà ứng hiện. Nghĩa là tính thấy không trải qua Tỷ lượng, Phi lượng sai lầm mà luôn luôn ở trong phạm vi Hiện lượng. Nó hiện hữu khắp nơi, cũng giống như hư không, tuỳ theo đồ vật đối trước mà phản chiếu. Hành giả tu tập khi đã thể nhập Như Lai Tàng Tâm thì có thể chuyển vật, làm chủ được mình. Bờy giờ mới biết Tâm- Vật vốn không phải là hai, chúng sinh Phật cũng đâu có gì khác biệt. Tìm hiểu về Sắc và Không thông qua Tứ đại Thất đại. Tư tưởng Sắc, Không thông qua Tứ đại, Thất đại trong kinh Lăng Nghiêm được đức Phật tuyên thuyết như sau: Sau khi đức Phật tuyên thuyết về ấm, nhập, xứ, giới, các đại đều là Như Lai Tàng thì A Nan và đại chúng thảy đều vui mừng nhưng trong lòng còn có chút nghi ngại. Để giải quyết mối nghi này, đại diện cho chúng hội đương cơ, Tôn giả Phú Lâu Na, người được mệnh danh là thuyết pháp đệ nhất trong chúng đệ tử Thanh Văn đứng dậy lễ Phật và bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn ! Nếu tất cả các thứ như năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới, thất đại… trong thế gian đều là hiện tượng biểu hiện xuất phát từ tính thanh tịnh bản nhiên của Như Lai Tàng, vậy thì tại sao Như Lai Tàng bỗng nhiên lại sinh ra các tướng hữu vi thay đổi vô thường không có cùng tận như vậy? Đức Phật dạy: Như Lai vì muốn chỉ bày tính thắng nghĩa trong thắng nghĩa, khiến cho hàng định tính Thanh văn chưa được “ngã pháp câu không” hướng về Đại thừa, chứng nhập pháp tu chân chính tịch diệt, đạt tới cứu kính Niết Bàn. Qua đây chúng ta thấy, đức Phật muốn đem Thắng nghĩa, cội nguồn của vạn sự vạn vật để chỉ bày cho chúng sinh. Thắng nghĩa ở đây chính là Tính chân như, Tính thường như, Tính Giác diệu minh bản giác minh diệu, là tính chất “ Như Thị” trong Như Lai Tàng. Còn năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới và bảy đại sinh sinh diệt diệt trong Như Lai Tàng không phải là vấn đề đáng quan tâm, đáng thắc mắc mà điều quan trọng hơn là mối tương quan mật thiết giữa thất đại và con người. Đức Phật dạy: Tất cả vạn sự vạn vật hiện hữu trên thế gian này tất thảy đều không ra ngoài hai yếu tố đó là Sắc và Không. Thông thường Sắc được chỉ cho thế giới vật chất, còn Không thì được chỉ cho thế giới Phi vật chất, hay thuộc về các vấn đề tâm thức (nói thêo quan điểm Phật giáo), tâm linh, hay thế giới vô hình. Nếu hiểu theo tục đế thì Sắc và Không thông qua Tứ đại( địa, thuỷ, hoả, phong), Thất đại( địa, thuỷ, hoả, phong, không, kiến, thức) luôn luôn có sự khác biệt, luôn luôn có sự trống trái lẫn nhau, như tính của địa đại là cứng; tính của thuỷ đại là lạnh và ướt; tính của hoả đại là nóng và khô; tính của phong đại là động…như trong thuyết Ngũ hành nói: “ Thổ khắc thuỷ, thuỷ khắc hoả, hoả khắc kim, kim khắc mộc, mộc lại khắc thổ”. Còn ở đây, trong kinh Lăng Nghiêm cả hai quan niệm Sắc – Không thông qua Tứ đại, Thất đại thảy đều là một, đều trong Như Lai Tàng phát sinh ra. Đức Phật dạy: địa, thuỷ, hoả, phong…vốn đầy khắp pháp giới mà không bị át mất hay ngăn ngại lẫn nhau. Vì vậy cho nên trong Không có Sắc trong Sắc có Không. Nghĩa là trong bầu hư không tưởng chừng như hoàn toàn rỗng lặng lại có đầy đủ cả tính chất của địa, thuỷ, hoả, phong…đại. Thuỷ đại đầy khắp pháp giới mà không triệt tiêu hoả đại, không nhấn chìm tất cả thế gian, do đó nên đức Phật nói: . Pháp giới không đại vốn không phải là thuỷ đại, vậy mà trong không đại khắp đầy thuỷ đại, nên lại nói: Tính không chân thuỷ. Hoả đại đầy khắp hư không mà không thiêu cháy hết sơn hà đại địa, thảo mộc côn trùng…vì vậy mà nói: Tính hoả chân không. Hư không vốn không thấy hoả nhưng khi chúng sinh cần thì hoả lại có trong hư không, do đó mà đức Phật dạy:Tính hoả chân không… Các đại khác cũng như vây. Tính các đại vốn không ngăn ngại lẫn nhau nên trong Tâm Kinh Bát Nhã Bồ Tát Quán Thế Âm tuyên thuyết về diệu ngộ của mình là “…Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc…” Bởi vậy mà trong Như Lai Tàng, chủng tử cơ bản của vạn pháp có thể kết hợp thành từng nhóm quyện chặt với nhau, tạo thành một chỉnh thể hiện tượng vạn hữu. Nếu luận về nguồn gốc thế giới tương tục là chỉ đề cập đơn thuần trên bề mặt vật lý, còn nói tớichúng sinh tương tục thì phải đề cập tới hai mặt vật lý và tâm lý tương tác qua lại với nhau mà thành. Phật dạy: Sở dĩ các đại có thể dung hoà với nhau là vì tính chất duyên sinh của nó. Hiện tượng vạn pháp do duyên sinh cho nên không pháp nào có tự thể độc lập, cố định của riêng mình. Đó chính là sự thật, là chân lý bất di bất dịch đang hiện hữu khắp trên thế gian này. Tóm lại chúng sinh do vọng tưởng khởi tâm phân biệt, chấp mắc hiện tượng vạn hữu nên hiện tượng đó mới trở thành đối tượng Sở minh, còn sự phân biệt của con người trở thành Năng minh để đánh giá cái Tính Giác Diệu Minh của hiện tượng vạn pháp và chấp thủ sai lầm cái Bản Giác Minh Diệu của chính mình. Do nhận thức và đánh giá về Sắc – Không của Như Lai Tàng nên Như Lai Tàng theo cái nhận thức đó mà có Sắc – Không cùng khắp pháp giới; thấy gió thì động, thấy không thì tĩnh… Bắt nguồn từ vọng tưởng sai lầm không đầu mối đó nên đã dẫn đến những nhận thức sai lầm, tâm sinh ra yêu, ghét…bội giác hợp trần mà luân chuyển trong sinh tử khổ đau. Mối quan hệ giữa Căn - Trần - Thức. Khi tìm hiểu về căn, trần, thức chúng ta thấy nó luôn có mối quan hệ mật thiết tương quan tương hỗ với nhau mà tồn tại. Xét cho cùng đến cả sơn hà đại địa, vạn sự vạn vật, vô thuỷ vô chung, vô cùng vô tận này cũng không thể vượt ra ngoài căn, trần, thức. Sở dĩ nói như vậy là vì khi căn, trần, thức hiện hữu từ vô thỉ trên cuộc đời này thì vạn sự vạn vật cũng từ dó mà có mặt. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Kinh Pháp cú cũng chép: “ Ý đứng đầu các pháp, ý làm chủ ý tạo…” Hai chữ “Tâm, Ý” ở đây là chỉ cho cái tâm chân như, tâm bản lai thanh tịnh, nó thường hằng, bất biến, vạn pháp đều sinh ra từ cái tâm này. Đức Phật dạy: chúng sinh do khởi một niệm mê lầm, bội giác hợp trần, nên mới có kết quả khổ đau sinh tử… Nay nếu muốn thoát ly những sự đau khổ ấy thì phải khéo tu tập ba môn học là giới, định, tuệ; thu giữ ba nghiệp thân, khẩu, ý thông qua căn, trần thức.
  4. "Thái Cực là khái niệm chỉ sự khởi nguyên của vũ trụ. Thái Cực có nghĩa là vượt quá mọi sự giới hạn. Thái Cực không Thời gian, không Không gian và không lượng số." Với định nghĩa này, chúng ta hãy xem xét tính hợp lý của nó: - Thái cực là khái niệm chỉ sự khởi nguyên của vũ trụ - Hoàn toàn đồng ý. - Sự khởi nguyên của vũ trụ phải bắt đầu từ cái được gọi là "CÓ" do vạn vật sau khởi nguyên là hiện hữu - Tức chấp nhận sự tự nhiên tồn tại. - Thái cực có nghĩa là vượt quá mọi sự giới hạn. Thái Cực không Thời gian, không Không gian và không lượng số: định nghĩa này do chúng ta đặt ra, bởi vậy nó chưa xác định và có các mâu thuẫn như sau: + Bởi Thái cực phải tồn tại cái được gọi là "CÓ" cho nên nó có thuộc tính và nếu thuộc tính này là tuyệt đối như mô tả thì nó sẽ không thể hình thành được vạn vật sau trang thái Thái cực bởi rằng: không thể từ Cái tuyệt đối chuyển sang Cái tương đối. + Từ đó rút ra hệ quả: Thái cực phải tương thích được tuyệt đối và tương đối >>> ngay trong cái "CÓ" phải có thuộc tính tuyệt đối và tương đối >>>> điều này mâu thuẫn >>> Phải lý giải Thái Cực ở một trạng thái khác.
  5. ĐỊNH LÝ BẤT TOÀN (1) “Thầy Bói Xem Voi” K hoa học đang đứng trước hàng loạt câu hỏi thách thức: -Liệu có thể có một “Lý thuyết về mọi thứ” của vật lý không? -Robots có thể thông minh như con người không? -Bản chất vật chất của tinh thần là gì? -Máy móc có thể thay thế con người trong dịch thuật không? -Giả thuyết Goldbach là một tiên đề hay một định lý? -Vũ trụ trước Big Bang là gì? -Tồn tại chăng một lý thuyết dự báo tương lai chính xác? Nhận thức của con người vốn phiến diện và bị giới hạn – nhận thức dù tiến bộ đến mấy cũng chỉ đúng một phần chứ không bao giờ đầy đủ và hoàn thiện. Điều này là dĩ nhiên ngay khi nhận thức về một sự vật hiện tượng cụ thể, nhưng vẫn hiểu tổng thể nguyên lý vận động của vũ trụ cho nên mới tạo rao được thuyết thống nhất vũ trụ. Không đồng nghĩa tạo ra được thuyết này thì nắm bắt trực tiếp được trạng thái vật chất bất kỳ của vũ trụ, ví dụ: Khởi nguyên vũ trụ - Bản chất Ý thức... 2] Nghịch lý lớn về nhận thức: 3 bài học tưởng như không sao hiểu được trong thế kỷ 20: Thuyết Tương Đối của Einstein + Nguyên Lý Bất Định của Heisenberg + Bài học về cuộc khủng hoảng trầm trọng trong nền tảng Toán Học đầu thế kỷ 20. Không có nguyên lý bất định, chỉ có không thể nào biết được toàn bộ các quan hệ ngay tại thời điểm nhận định về một sự vật, hiện tượng mà thôi. Thuyết Tương Đối phải mất vài năm rồi nhân loại mới hiểu. “Làm thế nào để một bộ phận có thể nhận thức được cái toàn thể?” (How can a part know the whole?), đó chính là nỗi băn khoăn từ thế kỷ 17 của Blaise Pascal – một trong những nhà khoa học và triết học sâu sắc nhất của mọi thời đại. Chỉ cần dùng nguyên lý Nhân - Quả và tiên đề Vũ trụ tự hiện hữu là đã hiểu một phần. Một số học giả tây phương hiện đại cho rằng nhận thức là một hàm tăng theo thời gian, nhưng không tăng tới vô cùng, mà bị chặn trên bởi một tiệm cận ngang – một cái ngưỡng (threshold): Hàm nhận thức ngày càng tiệm cận tới cái ngưỡng đó nhưng không bao giờ chạm tới và vượt qua! Bạn phải hiểu bản chất của ý thức hay tư duy thì mới xác định được cái ngưỡng - là tính tuyệt đối (vật chất) cho nên nó hoàn toàn thức được mọi thứ nhưng không thể nắm bắt hay đo lường tính "tuyệt đối", ví dụ tại -273 độ, dây đồng không có điện trở... Các ngưỡng là: - Chấp nhận tiên đề vũ trụ hiện hữu là tự nhiên. - Cách thức hiện hữu ở trạng thái ban đầu. - Giới hạn vận tốc của "cái mà con người chế tạo ra". - Vũ trụ vô cùng. - Không thể tìm thấy hạt nhỏ nhất mặc dù nó tồn tại. - Không thể hiểu được Ý thức bởi không nhận thức được trong nó vạn vạn vật có tính tuyệt đối. - Không biết cuộc sống là giới hạn hay vĩnh cửu? - Vũ trụ có tan rã hay không?. TChính cái ngưỡng đó làm cho cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa hơn, hạnh phúc hơn, và khoa học sẽ đâm chồi nẩy lộc nhiều hơn, đơm hoa kết trái nhiều hơn! Không hợp lý - chỉ khi nào biết được tính tuyệt đối và nguyên lý vận động của vũ trụ thì mới hạnh phúc vẹn toàn bởi chúng ta có phương pháp tiếp cận nó. Tại sao vậy? trong cuộc sống hoàn hoàn phụ thuộc các quan hệ vô cùng, biến động cho nên phải có một "Trung tâm" để an trụ vào đấy, liên kết "tuyệt đối". Hệ quả: Robot làm sao thông minh hơn người được về toàn thể?????
  6. Mãi đến thế kỷ XV các nhà thiên văn Tây Phương mới phát hiện ra trái đất quay xung quanh mặt trời - người thì lên giàn thiêu, kẻ thì bị quản thúc bởi tòa án dị giáo, chả biết nhân danh gì??? - Cái này còn chưa biết thì dẫn chúng ta đi đâu? Học thuyết Âm Dương Ngũ Hành thậm chí nhận định được cả ý đồ khi dùng ngôn từ: - Chúng ta chỉ có một người cha ruột - cha vợ hoặc cha nuôi và tổng thể là cha trời mẹ đất. - Trong khi đó trong đạo Kito, hàng tỷ con người đang gọi hàng vạn "Cha" - nhân danh cái gì? đây là một cách thức dùng từ nhân xưng hế sức tinh vi, đầy sai sót nhưng có ý đồ. Học thuyết ADNH phân biệt cả ý nghĩa và bản chất đến từng "Từ".
  7. A/ ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ : * " Vua họ Lý, tên húy là Bí, người Thái Bình [phủ] Long Hưng. Tổ tiên là người Bắc, cuối thời Tây Hán khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam. Vua có tài văn võ, trước làm quan với nhà Lương, gặp loạn, trở về Thái Bình. Bấy giờ bọn thú lệnh tàn bạo hà khắc, Lâm Ấp cướp phá ngoài biên, vua dấy binh đánh đuổi được, xưng là Nam Đế, đặt quốc [15a] hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên3. - Tân Dậu, năm thứ 1 [541]," * " Giáp Tý, [Thiên Đức] năm thứ 1 [544], (Lương Đại Đồng năm thứ 10). Mùa xuân, tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. " * " Khi [quân của Bá Tiên] đến Giao Châu, vua đem 3 vạn quân ra chống cự, bị thua ở Chu Diên, lại thua ở cửa sông Tô Lịch, vua chạy về thành Gia Ninh. Quân Lương đuổi theo vây đánh. " * " [22a] Nhâm Tuất, năm thứ 32 [602], (Tùy Văn Đế Dương Kiên, Nhân Thọ năm thứ 1). Vua sai con của anh là [Lý] Đại Quyền giữ thành Long Biên, Biệt súy là Lý Phổ Đỉnh giữ thành Ô Diên (bấy giờ vua đóng đô ở Phong Châu). " * " Đinh Mùi [767], (Đường Đại Tông Dự, Đại Lích thứ 2). [Người] Côn Lôn, Chà Bà đến cướp, đánh lấy châu thành. Kinh lược sứ Trương Bá Nghi cầu cứu với Đô úy châu Vũ Định là Cao Chính Bình. Đại Việt sử ký san định bởi Ngô Sĩ Liên rất lạ: Cứ điểm mắt xích nào quan trọng là gắn cho Trung Quốc - như Lý Nam Đế.
  8. Đập chùa nghìn năm, xây bảo tàng mới: Ai oách hơn ai? Trái hay phải - Có hiếu thay là đám con cháu vừa đòi xây lại từ đường thờ cúng tổ tiên cho đàng hoàng to đẹp, vừa đập tanh bành cái bàn thờ cổ các cụ để lại, sắm cái khác! TIN LIÊN QUAN Bảo tàng Lịch sử Quốc gia - Ảnh mô hình Câu chuyện vừa liên quan đến tiền, vừa liên quan đến văn hóa nóng hôi hổi suốt mấy ngày qua hẳn thuộc về dự án Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, khi Bộ Xây dựng có tờ trình gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị thẩm định dự án đầu tư xây dựng bảo tàng này, với tổng mức đầu tư 11.277 tỉ đồng. Xin mở ngoặc thêm cho quý vị độc giả được biết: Số tiền khổng lồ này chưa bao gồm chi phí dự án thành phần đầu tư xây dựng nội dung và hình thức trưng bày do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện, tức hơn 11.000 tỷ này chỉ để dành cho cái vỏ bảo tàng. Như thường lệ, cánh nhà báo lại được một phen nhao nhao phản đối, với đủ loại ý kiến phản biện trên trời dưới biển, mà có thể gói gọn lại trong mấy từ: lãng phí, lãng xẹt, chưa đúng lúc, dành tiền cho những thứ thiết thực hơn. Mà danh sách những thứ thiết thực hơn này, khốn khổ thay, lại có thể kéo dài vô cùng tận: Dân đói dân rét, ăn mày ăn xin, đường sá xuống cấp, trường lớp hư hỏng, thiếu cầu qua sông, rồi nào trẻ em suy dinh dưỡng, bệnh viện quá tải, vân vân và vân vân… Dĩ nhiên, những người muốn xây dựng cái vỏ bảo tàng này cũng có lý riêng của họ. Quý vị thử nghĩ mà xem, ừ thì đất nước còn lắm gian truân, mà cứ cho là còn nghèo khó đi, nhưng sẽ thật chẳng ra làm sao nếu chúng ta chỉ suốt ngày ki ki cóp cóp từng đồng như một anh chàng khốn khổ không dám cho con đi học chỉ vì sợ tốn tiền. Nói như ngôn ngữ tuổi teen, là nghèo vẫn phải cho Tèo đi học, chúng ta có thể nghèo nhưng quyết không tiếc tiền cho cái thứ hết sức xa xỉ và cũng hết sức thiết yếu là văn hóa. Chẳng phải chúng ta vẫn thường hay vỗ ngực tự hào về lịch sử dài đến 4.000 năm của dân tộc đó sao, xây một cái bảo tàng dù có tốn đến nửa tỷ USD đi nữa cũng là xứng đáng lắm. Nghe nói, ở những xứ sở văn minh, bảo tàng còn là thứ không thể thiếu để chứng tỏ một thành phố có ăn có học, mà Thủ đô Hà Nội của chúng ta lại to đến thế, dù đã có mấy chục bảo tàng rồi, nhưng tiếc gì thêm tí tiền để tô son điểm phấn cho đất thần kinh? Cái luận điệu giàu thì sang, nghèo thì hèn, cứ thiếu tiền là có quyền nhơn nhơn bảo rằng ta đây cóc có cần văn chương nghệ thuật, là không thể chấp nhận được. Một luận điệu khó nghe nữa của trường phái phản đối, là đem so sánh với nước ngoài. Chẳng hạn, có người chi li đến mức tính toán, chi phí đề nghị xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam gấp 3,5 lần so với bảo tàng lịch sử Quốc gia Úc (chỉ 155 triệu USD), trong khi, thu nhập bình quân đầu người của ta chỉ bằng 1/47 của Úc. Một lần nữa, cha ông ta lại vô cùng vĩ đại: Quý vị nên nhớ lịch sử được ghi nhận từ thế kỷ 17 của Úc chỉ là một chàng lùn so với quá khứ oai hùng của dân tộc Việt Nam. Nói như ngôn ngữ của Bộ Tài chính khi phân trần về mức thuế, phí tại Việt Nam, là cái gì cũng phải so sánh đồng chất, tính chi phí cho từng năm lịch sử thì của ta vẫn là rẻ chán! Người ta chỉ băn khoăn rằng, chúng ta sẽ nhét những gì cho đầy một cái vỏ đồ sộ như vậy? Kể ra, với pho lịch sử đồ sộ của dân tộc, có vẻ như chúng ta sẽ không thiếu thứ để trưng bày. Nhưng cứ coi như vậy đi, thì cái vỏ và cái ruột vẫn phải nhìn nhau từng li từng tí, kẻo râu ông nội lại cắm cằm bà ngoại. Hẳn quý vị còn nhớ, khi bỏ 2.500 tỷ đồng ra xây bảo tàng Hà Nội, người ta cũng bảo hàng chục ngàn hiện vật đang nằm chờ, nhưng cho tới giờ, khi cái vỏ đã kịp xuống cấp thì phần nội dung vẫn đang ở tận đâu đâu ấy, ờ có sao đâu nhỉ? Đập cổ kính ra tìm lấy bóng (lộn). Chùa Trăm Gian sau khi được trùng tu. Ngược với quy luật thông thường là may áo theo người, thì nay thì với Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bộ Xây dựng may áo trước, còn Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tìm cách để người mặc vừa áo sau. Vả lại, nếu chẳng may có không khớp, thì kinh nghiệm hỏi xoáy đáp xoay của các bộ ngành cũng vô cùng phong phú: Học theo bài học ứng xử của cơ quan thanh tra và Bộ Giao thông vận tải trong vụ bổ nhiệm Dương Chí Dũng, Bộ Văn hóa có thể trả lời dư luận rằng do Bộ Xây dựng không hỏi, còn Bộ Xây dựng có thể đáp lại là chẳng thấy cơ quan văn hóa nói năng gì. Kết quả, nếu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia có giống một ông lão mặc đồ hip hop, hoặc vui hơn nữa là mặc đồ sơ sinh, thì cũng chả sao, có khi càng vui ấy chứ! Đã có nước nào trên thế gian này đã làm được hay đã dám làm như chúng ta chưa nào? Một thực trạng khác trong đời sống văn hóa nước nhà, khiến người viết dù đã khá cứng tuổi cũng phải phân vân, là tình cảm hết sức đặc biệt mà giới trẻ ngày nay dành cho quá khứ của cha ông. Chẳng cần phải nhắc đến những câu chuyện hài hước khốn nạn được đám học sinh sáng tác trong các bài thi, riêng sự kiện hội thảo rầm rộ về dạy và học lịch sử do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hồi cuối tháng 8 vừa rồi cũng đủ cho ta thấy con em nhìn lịch sử ra sao. GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam ngậm ngùi thừa nhận: Lịch sử là môn học bị coi thường nhất trong các trường phổ thông, nhiều nơi thay thầy cô dạy sử bằng giáo viên thể dục. Ta có thể nói thêm mà không sợ bị hớ: Có lẽ các thầy cô dạy thể dục cảm thấy xấu hổ vô cùng khi được điều đi dạy sử! Người ta chẳng rõ, nên coi tình trạng này là một bằng chứng hùng hồn để củng cố cho lập luận nên xây Bảo tàng Lịch sử Quốc gia to vật vã để khơi dậy tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, hay nên coi đây là một ví dụ cho thấy ý chí sắt đá không ngán gì hết của các thiết chế giáo dục văn hóa – lịch sử dân tộc, trong đó có các bảo tàng. Dân ta chẳng biết sử ta, nhưng đó là lỗi của ai thì đừng có vắt óc mà nghĩ làm gì cho tổn thọ: lỗi không của dân, vì dân trí thấp thì của ai nào? Cuối cùng, sẽ thật thiếu sót nếu chúng ta không nhắc lại một sự kiện văn hóa đình đám mấy tuần qua, ấy là chuyện trùng tu chùa Trăm Gian. Sau mọi sự eo sèo, người ta chỉ còn nghe thấy đúng 3 từ do sư trụ trì chùa nói trong cuộc họp kiểm điểm: Tại tôi tất! Chẳng biết có phải tại ông không, nhưng cách đây một thời gian, khi chùa sắp sập, thì các cơ quan chức năng bảo rằng đang phải “thắt lưng buộc bụng” để chống lạm phát, cho nên không có tiền mà sửa. Không có tiền sửa chùa nghìn năm do cha ông xây, nhưng nhân dịp 1.000 năm Thăng Long, ta vẫn có 2.500 tỷ đồng để xây bảo tàng Hà Nội, hòng thể hiện tấm lòng thành kính với tiền nhân. Đến hôm nay, lòng thành kính ấy còn được nâng lên một bậc nữa, khi giữa lúc nguồn thu ngân sách khốn khó như hiện nay, ta vẫn có hơn 11.000 tỷ đồng cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Cùng lúc, đám hậu sinh khả úy đập tan ngôi chùa Trăm Gian nghìn năm tuổi. Theo quý vị, giữa việc xây lại từ đường thờ cúng tổ tiên cho đàng hoàng to đẹp và việc đập tanh bành cái bàn thờ cổ các cụ để lại, sắm cái khác, bên nào có hiếu hơn? Hoặc diễn đạt khác đi, một đằng phá, một đằng xây, bên nào bất hiếu hơn? Dĩ nhiên, dù sao chúng ta cũng hạnh phúc hơn nhà thơ Huy Cận, khi ta hiểu vì sao các vị La Hán ngày nay lại cau mặt với tang thương nơi xứ Phật! Tam TháiNguồn: Phụ Nữ To đây. 400 triệu USD xây được cây cầu dây văng vĩ đại qua sông Hậu tại tỉnh Kiên Giang rồi, 5 triệu dân đi pha từ cổ chí kim đến nay. Kiến trúc, mỹ thuật: - 1 điểm. Đầu tư giá trị: - 1 điểm. Phong thủy địa lý: - 1 điểm (giống con cu đứa bé đang đái, nhưng bị chẻ làm hai). Rõ ràng, thiết kế kiểu này có ý đồ chẻ lịch sử Việt Nam ra làm hai ,đặc biệt ảnh hưởng tới giới Nam. Tổng: - 3 / 10: Dưới mức điểm liệt (2) lại còn âm, Phạt tù 5000 năm, tương ứng thời gian thu hồi vốn.
  9. Chúng ta xem xét dữ liệu máy tính, hình ảnh... quá khứ được lưu trữ qua một số trạng thái vật chất như VCD. Linh hồn vĩnh cửu và lưu giữ hình ảnh của quá khứ, cá nhân họ vẫn tư duy như đang là. Tương lai là là một kết quả trong một khoảng thời gian quy ước xác định - Thời gian thực chất là quy ước qua sự thay đổi trạng thái vật chất. Do tính quy luật vận động, chúng ta có thể nhận định trước. Như vậy, chúng ta sẽ "quay lại quá khứ" chỉ là thấy, nghe... nó chứ không "tồn tại" cùng thời điểm đó - giống như xem phim. Tương lai có thể tiên tri chứ không xem phim được.
  10. Việt và China Dòng Hùng Việt Bản thân người viết bài thuộc hàng abc chữ Nho nhưng thấy được tầm quan trọng của tương quan : tên nước và lịch sử của 1 quốc gia hay 1 dòng tộc nên mạo muội liều lĩnh đưa ra ý kiến như 1 sự gợi ý để các bậc túc Nho quan tâm đến vấn đề . Cổ sử Trung hoa và truyền thuyết Việt viết trên cái nền Dịch học nên chỉ với ngôn ngữ Dịch học người ta mới có thể biết đích xác thông tin chứa trong những sách cổ đó ; nghĩa là biết được lịch sử thực của Việt nam và Trung hoa . Tên gọi 1 quốc gia 1 dân tộc nếu viết bằng ngôn ngữ mẹ đẻ thì đương nhiên phải mang 1 nghĩa nào đó , ngược lại nếu quốc danh hay tộc danh mà không có nghĩa thì đấy chắc chắn là tên do ký âm ngôn ngữ khác mà có ví dụ như chữ Hán chẳng hạn , Trong Hán văn ...Hán nghĩa là gì ? đố ai biết ...vì từ Hán chỉ là ký âm của ‘Hãn’ nghĩa là ‘chúa’ trong tiếng Mông cổ ... Giới nghiên cứu khoa học Việt đã tốn không biết bao nhiêu công sức giấy mực cho chữ Việt nhưng ý nghĩa vẫn chưa thực sáng tỏ ; đạt sự đồng thuận để có thể coi là nghĩa chính thức . Khi đặt trên cái nền Dịch học thì nghĩa của chữ Việt sẽ hiện ra . 1 / Chữ Việt thứ I là chữ Việt = nhiệt : 粵thường gọi chữ Việt bộ Mễ, riêng nhà nghiên cứu Lãn Miên cho là bộ Thái . Chữ Việt này dùng phép chiết tự suy ra : - là ‘tượng hình’ của hình vẽ ý chỉ vùng đất trung tâm thiên hạ thường gọi là Trung thổ hay Trung nguyên . - phần mượn âm để đọc : việt = cái rìu tức cái búa dẹp hay dẹt , Phủ – việt là búa –rìu , thực ra cả 2 đều là từ Việt biến âm . Búa là cái dùng để bổ (động từ) : Bổ ↔ búa ↔ bủ – Phủ . Búa dẹp là cái dùng để chặt , dẹp ↔ dẹt ↔ diệt - Việt . thực ra chữ Việt bộ Mễ chỉ là chữ mượn âm để tạo danh từ riêng chỉ dân sống ở vùng nóng hướng Xích đạo do biến âm : Việt ↔ diệt ↔ nhiệt mà ra . Trong văn minh Á đông cổ có Cửu thiên nghĩa là 9 phương trời : Viêm thiên chỉ vùng viêm nhiệt tức hướng xích đạo nóng bức màu đỏ , Đỏ - Xích - Hồng - Đào cùng 1 nghĩa . Phương trời ngược lại là Huyền thiên , huyền ở đây là màu đen đồng nghĩa với Mun – ô . Vì đặt trên cái nền Dịch học tiêu biểu là Cửu thiên nên người Trung hoa xưa coi vùng lưu vực Hoàng hà là Trung thổ – trung nguyên , gọi dân sống ở nam Trường giang là Bách Việt , Việt còn phát âm là Diệc – Diệt mà Diệt cũng nghĩa là Nhiệt là nóng bức như thế ‘Bách Việt’ là danh từ riêng chỉ tộc người ở miền nóng tức Viêm thiên đối đẳng với tộc người sống ở Huyền thiên được gọi là Mun tộc , Mun = màu đen biến âm ra Man , Mãn , Mông , Minh .v.v. Xét như vậy thì chữ Việt bộ Mễ 粵là tộc danh của tộc người sống ở hướng nóng bức ; đó chính là cộng đồng người họ Hùng mà sử sách gọi là Bách Việt vì thế phải dùng trong tên các chi tộc của Bách Việt như : Lạc Việt , Di Việt , Dương Việt , Ngô Việt , Mân Việt ,Điền Việt , Đông Việt .v.v. . 2 / chữ Việt thứ II - chữ Việt = Vượt : 越 là chữ Việt bộ Tẩu . Cấu thành từ chữ tẩu là chạy và chữ qua là 1 loại binh khí . Qua là từ mượn âm , mượn âm của cái ‘qua’ là binh khí nhưng hiểu là quá , vượt qua . Ghép 2 phần thành cho ra ý ...chạy qúa tức là vượt , vượt ↔ việt. Chữ Việt bộ Tẩu 越có gốc ở từ Vượt của Việt ngữ ; nghĩa hàng ngang là qúa 1 chỉ giới hay qua 1 đối tượng tức ‘vượt qua – vượt qúa’ còn nghĩa hàng dọc thì vượt là trên mức bình quân thường thường tức ‘vượt lên – vượt trên’ , vượt còn dùng chỉ phẩm chất như ‘ưu việt – siêu việt’ Phối hợp 2 chữ mượn chỉ tính chất và chỉ thanh âm cho ta 1 danh từ riêng với ý nghĩa : Việt là tên gọi 1 đất nước , đây đích thị là quốc danh của quốc gia tiền nhân người Việt lập nên khởi đầu ở thời Hùng Việt vương Tuấn lang tức ông Đại Vũ tổ của vương quốc Trung hoả (theo Sử thuyết Hùng Việt ), thời Tản viên sơn thánh tức Việt vương Tuấn lang là thời vượt lũ “....nước cao thêm thì núi cũng vượt cao thêm ..” .đấy chính là nghĩa của chữ Việt ‘quốc danh’ . Vậy : Chữ Việt bộ Tẩu 越 là Quốc danh của người họ Hùng , được dùng trong tên các nước do người họ Hùng lập ra như : nước Việt thời Hùng Việt vương , nước Việt của Việt vương Câu tiễn , nước Nam Việt của Triệu Đà , nước Đại Việt thời Lý công Uẩn và sau cùng là Việt nam ngày nay . Ngày nay do quên mất gốc không thấu suốt cách tạo chữ nên sách vở - văn bản vẫn còn tùm lum , lẫn lộn không phân biệt đâu là ‘quốc danh ’ đâu là ‘tộc danh ’ còn phán bừa ...Việt nào cũng là Việt dùng chữ nào cũng được cả . 3 - CHINA . Tại sao ký âm Latinh lại viết Trung hoa là China ?. Âm China không dính dáng gì đến âm Trung – hoa hay Hán – hãn mà cũng chẳng thấy hơi hám của Mông – Thát hay Khiết đan gì gì trong đó ...vậy China mọc ở đâu ra vậy ?. Có người cho là : China là ký âm Latinh của từ Tần ,Tần là tên quốc gia nằm ở phía tây ‘thiên hạ’ đã có công thống nhất Trung quốc cả về lãnh thổ và những nét chính của nền văn hóa như Văn tự và Đo lường .v.v. Điều này xem ra cũng có lý và rất lý thú ... Tần còn gọi là Tây Tần đã chỉ ra vị trí nước này ở phía tây trên bản đồ ‘thiên hạ’ thời Xuân thu - chiến quốc , thực ra quốc danh Tần cũng chỉ là từ chỉ phía tây mà thôi ,thực vô cùng lý thú khi khám phá ...nó là từ Việt ngữ . “Tần, phát âm theo Hán ngữ là “Chín” (Qín), người Ấn Độ phiên cái âm “Chín” ấy thành China, sau người phương Tây theo đó gọi Trung Quốc là China.” (Trích bài Chữ Khoa Đẩu của tác gỉa Lãn Miên trên mạng internet ) Trong đồ hình Hà thư (đồ) 2 số 4 và 9 là số của phương Tây , ngay từ Tây trong phương Tây cũng chỉ là biến âm của Tư số 4 tiếng Việt mà ra . - 4 Tư ↔ Tây . - 9 Chín (tiếng Việt) ↔ Tần (Hán Việt) , như đã viết ở trên chính người Hoa phát âm là ‘Chín’ hoàn toàn đúng với cái gốc số 9 chín Việt ngữ chỉ phương Tây của Hà thư . Dưới ánh sáng Dịch học ...đến cái quốc danh CHINA ký âm La tinh chỉ Trung Hoả cũng lộ rõ gốc là 1 từ Việt thuần ...hỏi còn gì phải bàn nữa ...??? Theo hình vẽ của tác giả, tôi có ý kiến sau: đây là hình người nên có lẽ chỉ người Việt. -là ‘tượng hình’ của hình vẽ ý chỉ vùng đất trung tâm thiên hạ thường gọi là Trung thổ hay Trung nguyên: ta cũng thấy đây là trung cung của bàn cờ tướng. Chữ Việt này mang hình vuông cửu cung có lẽ chỉ quốc gia, Trung nguyên là hợp lý. Mang hình nội____? ngoại quốc? Không rõ chữ trong hình vuông là chữ gì, đồng thời hình vuông có râu là chữ gì?
  11. Tượng Nhạc Phi, trong miếu thờ Nhạc Phi ở Hàng Châu. Bốn chữ trên bảng là "Hoàn ngã hà sơn" - "Hoàn lại núi sông của ta". Chữ Việt cổ trên hoành phi trong miếu Nhạc Phi?
  12. Nguyễn Thiếu Dũng , nguồn : http://www.anviettoancau.net Xét về mặt phổ hệ Tần Thủy Hoàng, Triệu Đà và Gia Long là đồng tông nhưng không đồng tộc. Cả ba đều là người Việt. Họ đều có gốc từ Cao Dao, một trong tứ thánh thời Thượng cổ. Cao Dao (皋陶) là hiền thần thời vua Vũ nhà Hạ, truyền thuyết nói Cao Dao sanh vào thời vua Nghiêu, thời vua Vũ nhà Hạ được cử giữ chức quan hình pháp, lấy chính trực trị người nên được xem là tỵ tổ tư pháp Trung Quốc. Khổng Tử liệt Cao Dao vào hàng Thượng Cổ tứ Thánh: Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Vũ, Cao Dao. Sách “Minh nhất thống chí”, “Thanh nhất thống chí” đều ghi Cao Dao người Hồng Động. Sách “Hồng Động huyện chí” ghi Cao Dao người huyện Hồng Động, thôn Sĩ Sư, khi chết chôn tại phía đông thôn, miếu thờ lập ở phía đông bắc thôn. Lại có thuyết khác, sách “Lã thị Xuân Thu thông thuyên” nói Cao Dao là quan Tư pháp thời Ngu Thuấn, người Cao thành (nay là Lục An tỉnh An Huy) Cao Dao là hậu duệ của Thiếu Hạo thủ lĩnh Đông Di, họ Yển. Hiện nay phía đông thành phố Lục An có mộ Cao Dao Tương truyền Cao Dao có ba người con trai. Con trưởng là Bá Ế (tức Bá Ích) giỏi thuần hóa chim thú, làm quan nước Ngu, ăn lộc ở Doanh nên mang họ Doanh, hậu duệ Bá Ích được phong ấp Tần hợp xưng Doanh Tần, Tần Thủy Hoàng chính là dòng dõi Bá Ích, con cháu Bá Ích sau dời về trấn Triệu Thành, huyện Hồng Động, tỉnh Sơn Tây là thủy tổ của họ Triệu. Con thứ Trọng Chấn, làm quan nhà Hạ, được phong đất Lục (Lục An, tỉnh An Huy). sau phong đất Yển ( Khúc Phụ Tây, tỉnh Sơn Đông) nên mang họ Yển. Họ Yển về sau lập nước Nguyễn, hậu duệ mang họ Nguyễn. Các họ Thư, Từ, Nguyễn, Giang, Hoàng, Diệp đều là hậu duệ của Cao Dao. Như vậy Tần Thủy hoàng họ Doanh, Triệu Đà họ Triệu cùng gốc Cao Dao, dòng Bá Ích. Gia Long họ Nguyễn, họ Nguyễn có nguồn gốc từ Cao Dao nhưng thuộc dòng thứ Trọng Chấn. Tần Thủy Hoàng, họ Doanh tên là Chính, sử gọi là Tần Vương Chính. Tần Thủy Hoàng là con trai của Tang Tương Vương nước Tần tên Tử Sở và mẹ là Triệu Cơ (người đẹp nước Triệu) nguyên là thiếp của thương gia Lã Bất Vi. Tử Sở vốn là con tin của nước Triệu vì vậy sinh Tần Thủy Hoàng tại Kinh Đô Hàm Đan nước Triệu, do đó Tần Thủy Hoàng còn có tên là Triệu Chính, ông sinh năm 259 TCN, lên ngôi năm 247 TCN, năm 221TCN tiêu diệt sáu nước Triệu, Ngụy, Hàn, Sở, Yên, Tề thống nhất Trung Quốc. Tần Thủy Hoàng mất năm 210 TCN Để tránh vết xe đổ của nhà Chu do chế độ phân phong cát cứ khiến chư hầu lộng hành, Tần thủy Hoàng thành lập chế độ quận huyện. Đứng đầu quận là quận thú có quận úy phụ tá coi về quân sự. Triệu Đà người huyện Chân Định (真定), quận Hằng Sơn (恒山), thời Tần (nay là huyện Chính Định (正定), tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc; cùng quê với Triệu Tử Long (Triệu Vân) danh tướng thời Tam Quốc ) Năm 218 trước Công Nguyên, Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư (屠睢, còn đọc Đồ Tuy) làm chủ tướng, chỉ huy 50 vạn quân đi bình định miền Lĩnh Nam. Đồ Thư chiếm được nhiều đất đai nhưng cuối cùng bị tử trận. Tần Thuỷ Hoàng sai Nhâm Ngao (壬嚣[5]) cùng Triệu Đà đến cai trị vùng Lĩnh Nam. Khi Đồ Thư chiếm được vùng đất Lĩnh Nam, Tần Thuỷ Hoàng lập nên 3 quận là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (đông bắc Quảng Tây) và Tượng Quận (nam Quảng Tây), bổ nhiệm Nhâm Ngao làm Quận úy quận Nam Hải. Nam Hải gồm 4 huyện Bác La, Long Xuyên, Phiên Ngung và Yết Dương; Triệu Đà làm Huyện Lệnh Long Xuyên. Đó là đất của dân Bách Việt. Tần Thuỷ Hoàng chết (210 TCN), Tần Nhị Thế nối ngôi, hào kiệt nổi lên khắp nơi, mạnh nhất Lưu Bang và Hạng Vũ (từ năm 206 TCN), Trung nguyên lâm vào cảnh rối ren loạn lạc. Năm 208 trước Công nguyên, quận uý Nam Hải là Nhâm Ngao bị bệnh nặng, trước khi chết cho gọi Triệu Đà đến, dặn dò đại ý rằng: “ Đất Phiên Ngung thế núi hiểm trở, đất Nam Hải có núi chắn, có biển kề, rất thuận lợi cho việc dựng nước”. Khi nhà Tần diệt vong, Triệu Đà liền đánh chiếm Quế lâm, Nam Hải, Tượng quận lập nước Nam Việt xưng là Nam Việt Vũ Vương, chủ trương “hòa tập Bách Việt” ăn ở theo tập tục người Việt. Thời Cao Hậu, Triệu Đà xưng Đế, đem quân đánh quận Trường Sa, “đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “chế”, chẳng kém gì Trung Quốc. Triệu Đà sáp nhập Âu Lạc của An Dương Vương vào Nam Việt biến Nam Việt thành một quốc gia rộng lớn nằm về phía nam núi Ngũ lĩnh, gồm tỉnh Quảng Đông, một phần Quảng Tây, một phần Phúc Kiến (nay thuộc Trung Quốc), phía nam đến tận Hà Tĩnh (Việt Nam ngày nay). Sau khi nhà Hán tiêu diệt Nam Việt sáp nhập phần đất thuộc Trung Quốc ngày nay thì sử thư Trung Hoa xem Triệu Đà là người Trung Quốc và cho là ông có công Hán hóa người Việt, mặc dầu Sử Ký của Tư Mã Thiên xác định Triệu Đà chống lại nhà Hán để bảo vệ căn tính Việt. Sử gia Việt Nam thì chia làm hai phái, một công nhận Triệu Đà và Nam Việt Quốc thuộc Kỷ nhà Triệu Việt Nam, một ngược lại phản bác cho là xâm lược. Ngô Thì Sĩ (1726 – 1780), tác giả Việt sử tiêu án đã viết: “Đến như việc tán tụng công lao của Triệu Đà đã xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên cứ theo cách chép ấy không biết thay đổi, rồi đến bài Tổng luận của Lê Tung, thơ Vịnh sử của Đặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Đà là bậc đế của nước ta. Qua hàng ngàn năm mà không ai cải chính, vì thế tôi phải biện bạch kĩ càng” (4). “Xét sử cũ: An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Triệu Kỷ Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn Dương, Hưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nướcThục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy”. Nói như Ngô Thì Sĩ thì đúng ý của sử gia Trung Quốc, họ cho đất Bách Việt là đất của họ, Triệu Đà là người của họ. Mao Trạch Đông còn phong cho Triệu Đà là “Nam hạ cán bộ đệ nhất nhân” có công khai phá miền nam Ngũ Lĩnh. Các sử gia chính thống của ta thì thừa nhận Triệu Đà “có công mở đầu sự nghiệp đế vương cho nước Việt ta” Lê Văn Hưu nói: “Đất Liêu Đông không có Cơ Tử thì không thành phong tục mặc áo đội mũ [như Trung Hoa], đất Ngô Cối không có Thái Bá thì không thể lên cái mạnh của bá vương. Đại Thuấn là người Đông Di nhưng là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế. Văn Vương là người Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại. Thế mới biết người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được” Đến thời Nguyễn Trãi (1380-1442). Mở đầu Đại cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi cũng đề cao vai trò “gây nền độc lập” của Triệu Đà: “ …Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương… Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có!”… Nguyễn Trãi đã xác định hai điều cốt tử : Triệu, Hán mỗi bên hùng cứ một phương, núi sông bờ cõi đã phân định. Phong tục Bắc Nam cũng khác. Người Trung Quốc định nghĩa Hoa là quần áo đẹp, Hạ là to lớn có nghĩa với họ dân tộc Hoa Hạ không kết nối với nhau bằng huyết thống mà chính là do văn hóa phong tục tập quán, bị Hán hóa là chấp nhận y quan, tập quán của người Hoa. Triệu Đà luôn chống lại điều này, hơn ai hết nhà vua là người Việt, người Việt từ trong máu, gọi ông là người Hán là cưỡng bức lịch sử. Đâu phải Triệu Đà quê ở Chân Định, Hà Bắc mà vội kết luận ông là người Hán, hoàn toàn sai lầm. Triệu Đà họ Triệu, mà họ Triệu là hậu duệ của Cao Dao người Đông Di (Bách Việt) vì vậy ông có gen Việt. Đất đai của Trung Quốc hiện nay nguyên thủy là đất của người Việt, người Việt vào đấy trước người Hoa hằng mấy nghìn năm, hiện còn lưu lại nhiều di chỉ ở khắp nơi từ nam đến bắc. Khi người phương Bắc tràn xuống chiếm cứ Trung Nguyên người Việt đã thiên di trở về phương Nam nơi khởi thủy của họ ở Đông Nam Á khi từ Đông Phi đến, nhưng họ không thể chạy hết, chỉ một số ít chạy được còn thì phải ở lại rồi dần dần bị Hán hóa. Triệu Đà đến Lĩnh Nam là trở về với đồng bào của mình nên dễ hòa nhập với người Bách Việt phương Nam, sống thỏa mái trong theo tư thế người Việt. Đừng quên Lĩnh Nam là giang sơn của Văn Lang, là vùng đất mà Hai Bà Trưng đã đứng lên đạp đổ 65 thành để giành độc lập tự chủ trước quân nhà Hán xâm lược. Triệu Đà hãnh diện tự xưng “ Man Di đại trưởng lão phu” và thường lên án Cao Hậu hay kỳ thị phân biệt Hoa Di, Hán Việt. Man= Di= Hoa là tên tự gọi của chủng tộc không có phân biệt đẳng cấp như sau này. Năm 179 TCN Triệu Đà gởi thư cho Hán Văn Đế nói mình ở đất Việt đã 49 năm, đã có cháu bồng, ông sống theo lối Việt, ăn cơm Việt, lấy vợ Việt, con cháu ông cũng vậy, thì rõ là Triệu Đà đã Việt hóa từ lâu rồi, mà thần dân ông toàn là người Việt thì ông là người Hán chỗ nào. Cứ xem những người có gốc Bách Việt chạy sang Việt Nam họ hòa nhập rất nhanh, chỉ mới nửa đời thôi đã là người Việt rồi đến thế hệ thứ hai thứ ba họ hoàn toàn là người Việt sẳn sàng chết để bảo vệ đất nước mình đang sinh sống, lịch sử không thiếu những dẫn chứng. Ta cũng không thể quên tinh thần chống Hán để bảo vệ giang sơn Việt của Lữ Gia. Khi biết Cù Thái hậu muốn dâng Nam Việt cho nhà Hán, Lữ Gia đã truyền hịch khắp nước: “Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán, lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết đồ châu báu của Tiên Vương dâng cho nhà Hán để nịnh bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời". Bèn cùng với em đem quân đánh, giết vua và thái hậu, cùng tất cả bọn sứ giả nhà Hán, rồi sai người đi báo cho Tần Vương ở Thương Ngô và các quận ấp, lập con trưởng của Minh Vương là Thuật Dương Hầu Kiến Đức làm vua”. Những người tự cho mình yêu nước Việt hơn ai hết để rồi phỉ báng Triệu Đà, Lữ Gia có thể nào làm hơn Triệu Đà, Lữ Gia không? Các sử gia Trung Quốc bây giờ chỉ nhấn mạnh ở chỗ Triệu Đà người Hà Bắc lập quốc rồi chịu thần phục nhà Hán, Nam Việt quốc tồn tại như một địa phương cát cứ “赵佗归汉, 岭南正式列人中国统一的版图”(Triệu Đà quy Hán, Lĩnh nam chính thức sáp nhập vào bản đồ Trung Quốc thống nhất), mà lờ đi chuyện nhà Hán xua quân xâm lăng Nam Việt, lờ chuyện Nam Việt đã chiến đấu đến cùng cho nền độc lập vô vọng của mình nhằm muốn chính thống hóa đất Lĩnh Nam, văn minh Nam Việt là của Trung Quốc mà thôi. Thái Bá người nhà Chu (người Hoa) vượt Trường Giang đến ở với người Việt, cắt tóc ngắn xăm mình, lập nước Câu Ngô, không ai không nói Câu Ngô là nước của người Việt. Nhà Nguyên, nhà Thanh xâm lược Trung Quốc nhưng sử Trung Quốc có liệt vào kỷ Bắc thuộc ? Không như Ngô Thì Sĩ lớn giọng phủ nhận “ Than ôi! Đất Nam Hải , Quế Lâm không phải là đất Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam” các vị vua Việt Nam vẫn đau đáu miền đất Quảng Đông, Quảng Tây. Vua Quang Trung từng có ý định lấy lại Lưỡng Quảng. Vua Gia Long tên thực là Nguyễn Phúc Ánh theo phổ học cùng gốc với Tần Thủy Hoàng họ Doanh, Triệu Đà họ Triệu. Theo truyền thuyết họ Doanh, họ Triệu, họ Nguyễn đều là hậu duệ của Cao Dao người Đông Di , Tần Thủy Hoàng Hoa hóa, còn Triệu Đà, Gia Long là người Việt. Vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà, năm 1804 sai Thượng Thư Lê Quang Định đi sứ Trung Hoa xin phong và xin đổi quốc hiệu, trong thư gởi Gia Khánh nhà Thanh có nói: “ Các đời trước mở mang cõi Viêm Bang, mỗi ngày một rộng, bao gồm cả các nước Việt Thường, Chân Lạp dựng quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn 200 năm. Nay đã quét sạch miền Nam, vỗ yên được toàn cõi Việt, nên khôi phục hiệu cũ để chính danh tốt” Nhà Thanh không đồng ý tên Nam Việt, Gia long nói thẳng không cho thì không chịu phong, Gia Khánh bèn đổi là Việt Nam với ý “tên xưng chính đại, chữ nghĩa tốt lành, mà đối với tên cũ của Lưỡng Việt ở nội địa [Trung Quốc] lại phân biệt hẳn.( Đại Nam thực lục, Đệ nhất kỷ, quyển XXIII, tr. 580.Nxb Giáo Dục, 2002) Thư của Gia Long dường như muốn dấu một sự thực dưới lớp ngôn từ thủ thuật ngoại giao. Xứ Đàng Trong không có tên Nam Việt, Trung Quốc thường gọi là An Nam, Nhật Bản gọi là Giao Chỉ, cũng có khi hai nước gọi xứ của chúa Nguyễn là Quảng Nam Quốc. Nhà Lê xưng nước là Đại Việt vậy sao Gia Long lại chọn tên Nam Việt nói là khôi phục hiệu cũ trùng tên nước Nam Việt của Triệu Đà, còn nói quốc hiệu là Nam Việt chỉ mới truyền nối hơn 200 năm mà lại gồm cả Việt Thường. Rõ là hư hư thực thực khó lường. Theo Đào Duy Anh: "Sách Điền Hệ của Súy Phạm viết về các dân tộc thiểu số ở miền Vân Nam cho biết rằng một dân tộc thiểu số tên là Sản Lý hay Xa Ly, có truyền thuyết nói rằng đời Chu Thành vương họ sai sứ giả đến triều cống, khi về được Chu công cho xe chỉ nam, vì thế họ lấy tên là Xa Lý. Lại có một dân tộc khác là Lão Qua (Lào) có truyền thuyết rằng ở thời nhà Chu, tổ tiên của họ là nước Việt Thường. Sách Điền nam tạp chí thì nói Diến Điện (Mianma) là nước Việt Thường xưa. Những dân tộc kể trên nhận Việt Thường là tổ tiên xa của mình đều có thể là di duệ của người Di Việt, tức của người Việt tộc xưa cả. Do đó chúng ta có thể đoán rằng nước Việt Thường xưa, một nước của Việt tộc ở miền nam Dương Tử, có thể tồn tại thực, cho nên một số dân tộc di duệ của Việt tộc ngày nay, trong ấy có Việt Nam, vẫn còn ghi nhớ mà xem như nước tổ của mình" ( Đào Duy Anh, Lịch sử cổ đại Việt Nam, NXB VHTT 2005, trang 218, 219). Như thế, ta có thể thấy được ẩn ý của Gia Long muốn khôi phục lại quốc hiệu Nam Việt của Triệu Đà để nhớ rằng lãnh thổ rộng lớn của nước ta đã từng gồm cả phía nam Ngũ Lĩnh. Hàm ý của Gia Long cũng là niềm tiếc nuối của Tự Đức: “ Xét chung từ trước đến sau, đất đai của nước Việt ta bị mất về Trung Quốc đã đến quá một nửa, tiếc rằng vua sáng tôi hiền các triều đại cũng nhiều người lỗi lạc hiếm có ở trên đời, mà vẫn không thể nào lấy lại được một tấc, đó là việc đáng ân hận lắm! Thế mới biết việc thu hồi đất đai đã mất, từ đời trước đã là việc khó, chứ không những ngày nay mà thôi. Thật đáng thương tiếc!”. (Khâm Định Việt Sử thông Giám Cương Mục, tập 1, tr. 108 (Tb. II, 3 – 4). Châu phê của Tự Đức (dẫn theo Trần Xuân An). Với Nam Việt, Gia Long và Quang Trung đã gặp nhau, những người anh hùng đã có công thống nhất giang sơn không thể không để giấc mộng của mình bay cao hơn. Ý kiến của Văn Nhân về 2 chữ ...nay là . Ông Cao Dao là nhân vật của huyền sử chính vì vậy ông mới có thể sống xuyên thời gian qua 3 triều đại , sinh thời đế nghiêu , làm quan tư pháp thời đế Thuấn và là hiền thần trông coi về hình pháp thời Đại Vũ , chắc là so với Đại Vũ ông cũng không hơn kém bao nhiêu tuổi nên vua Vũ mới có ý định truyền ngôi cho ông . Đã gọi là nhân vật của huyền sử nên không - thời gian bao trùm dĩ nhiên là huyền ảo , người đọc đừng dùng mắt thường mà đong đếm rồi phán xét vô lý - có lý ... Huyền sử họ Hùng viết trên cái nền Dịch học nên nhân danh thường là ‘chức hiệu’ , địa danh thường là những ‘Dịch tượng’ dựa theo ngũ hành - Bát quái ... Địa danh Giao chỉ trong cổ sử chỉ nghĩa là chỗ giữa – chốn giữa thiên hạ , Cổ sử viết ‘thiên hạ’ khởi đầu chỉ có đất Đào – Đường là ý chỉ cái nhân ‘Giao chỉ’ có 2 phần ; Giao bắc ở hướng Xích đạo còn gọi là đất Đào - đỏ , Giao nam giáp với đất Nam Giao – kinh Thư nên còn gọi là Thường hay Đường , thường ở đây nghĩa là bình thường , thường đối nghịch với cao . Cặp đối đẳng trong ngôn ngữ Dịch học : thường và cao nói trên được người xưa dùng kết tạo ra 2 nhân vật huyền sử : Cao Dao (Giao ?) và Giao Thường , Giao Thường là tên của đế Nghiêu , trước khi lên ngôi báu đế Nghiêu mang tước Đường vương nghĩa là vương vùng Giao nam , suy ra ông Cao Giao là nhân vật đồng đẳng nên rất có thể ông là thủ lãnh dân vùng Giao bắc – xích đạo , chính vì điều này nên dù không là ‘đế’ ông Cao Giao vẫn được Khổng Tử liệt vào hàng Thượng Cổ tứ Thánh. Ông Cao Dao sinh ở Hồng động , sách khác viết là Cao thành ... Hồng – đào –đỏ - xích – minh tất cả cùng 1 nghĩa với từ Cao trong Cao thành xét theo chuẩn của Dịch học ; quẻ Ly - màu đỏ - số 9 cửu- cao ( Lạc đồ) hết thảy đều là Dịch tượng chỉ hướng Xích đạo – vùng nhiệt đới tức phần Giao bắc xưa (ngược với nay), dựa trên thông tin khí hậu chứa trong địa danh sử thuyết Hùng Việt cho phần Giao bắc này là đồng bằng Thanh nghệ tĩnh ngày nay. Đã là 1 không thời gian huyền ảo thì dựa vào đâu mà giới nghiên cứu sử địa Trung quốc phán ...nay là ...nay là ???. Không căn cứ mà phán bừa thì ai chả làm được ...thí dụ như sách “Lã thị Xuân Thu thông thuyên” nói Cao Dao là người Cao thành (nay là Lục An tỉnh An Huy) xin hỏi dựa vào đâu để nói : Cao thành nay là Lục An tỉnh An Huy ?, tương tự Sách “Hồng Động huyện chí” ghi Cao Dao người huyện Hồng Động, thôn Sĩ Sư cũng vậy , dựa vào đâu ???. xin nói thật với các vị học gỉa không học thật hay học thật nhưng không nói thật... nói ông Cao Giao sống ở Hà tĩnh xem ra có vẻ hợp lý hơn ....vì Hà Tĩnh có dãy Hồng Lĩnh ...., Hồng động nằm trong núi Hồng lĩnh có lý qúa đi chứ ?, xét khía cạnh khác ... danh từ ‘động’ nếu không nghĩa là cái hang thì là tên đơn vị hành chánh cơ sở đặc thù của nước Việt , Hồng động đồng nghĩa với Bắc động , vua Lê thái Tổ từng xưng là Lam sơn động chủ - Ngọc hoa động chủ ,người Tầu không hề dùng từ này vậy Hồng động ở đất Việt hay đất Tầu ? Nếu chỉ căn cứ vào chữ Cao và chữ Hồng thì cũng có thể nói ...ông Cao Giao là người ...tỉnh Đồng tháp , nơi sinh có thể là huyện Cao lãnh mà cũng có thể là huyện Hồng ngự ...và đế Thuấn do có tên là Diêu trọng Hoá nên xưa vốn gốc ở ga xe lửa Diêu trì Quảng Ngãi ...., Diêu là tên ông còn có thêm chữ trì vì ở ga ‘Diêu’ thời bao cấp cán bộ nhân viên ở đây đào ao nuôi cá cải thiện bữa ăn nên mọc ra chữ trì là cái ao mà thành ra ga Diêu Trì ...., tào lao như thế ...nhưng ai có thể chứng minh ... là sai ? , điều này cũng y như những chữ ...nay là ...nay là vô bằng của các học giả Trung quốc vậy , có gì bấu víu đâu ? .
  13. Người ta cho rằng: Trong toàn bộ lịch sử nhân loại chỉ có 2 cá nhân vĩ đại, 2 thiên tài đó là: Leonardo Da Vinci và Nikola Tesla. Họ không chỉ so sánh được với nhau mà có thể nói rằng ngang bằng nhau... Ai mà cho như trên là bị thần kinh. Kẻ nào mà chỉ ra: Bạn là ai - Vĩnh cửu hay không - Cần làm gì với trạng thái đã đang và sẽ muôn năm này. Kẻ đó mới là vĩ đại.
  14. Đằng sau những ước lệ ngôn từ của Thiên đô chiếu... Đã có rất nhiều bài viết, lời bình về tác phẩm đặc biệt này. Tôi vẫn muốn “chắp nhặt” bằng một vài suy tư tản mạn. 1. Những gì quan sát được từ bản văn 1.1. Một chút đáng tò mò: “Thiên đô chiếu”, tính cả tiêu đề, có 217 chữ (tự). Nhà Lý, từ năm 1009 cho tới năm 1225, tính theo thế đại, trải hơn 8 đời vua - hơn 8, nhưng không phải là 9 - , tính vòng quay nhật nguyệt (tức thời gian vũ trụ), thì cũng là 217 năm (không tròn). Theo một trong những nguyên tắc đọc hiểu của chữ Hán là đồng âm thông nghĩa, thì tự là chữ cũng có lúc thông nghĩa với tự là lớp lang, là nối tiếp. Ngạc nhiên chưa? Vài điều còn khiến lăn tăn ngay từ khoảng khắc sơ kiến này: Bản văn (chứ không phải văn bản) của Thiên đô chiếu truyền đến nay được bắt gặp sớm nhất hẳn là từ trong Đại Việt sử ký toàn thư. Bản thân pho Quốc sử này được chính thức thành hình lần đầu vào năm 1479, nhưng được nối tiếp, bổ sung rồi in chính thức trọn vẹn và lưu truyền được tới nay là bản in Nội các quan bản - mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Kinh qua mấy triều đại, dăm bảy sử gia chuẩn nhuận, bản văn có bị can thiệp nhiều ít gì không, hiện thời ta không biết. Nhưng nếu nguyên văn được tồn lưu nguyên vẹn - khả năng này, dù sao, là lớn nhất - thì còn có việc phải làm cho các nhà ngoại cảm và cho giới huyền học. Không thấy có một dạng văn bản nào in riêng, tách bạch ra thành văn bản độc lập, nên tuy chính sử nói là “thủ chiếu”, nhưng cũng không tránh được chỗ “nhòe, mờ”. 1.2.Nội dung bản văn trên thực tế là khá giản dị, đặc biệt là nếu đặt trong văn cảnh của người đọc, người xem, người nghe thời bấy giờ, hay nói chung thời Hán học còn thịnh. Lắng thấy như lời thì thầm, thân mật: 昔商家至盤庚五遷。周室迨成王三徙。豈三代之數君徇于己私。妄自遷徙。以其圖大宅中。爲億万世子孫之計。上謹天命,下因民志。苟有便輒改。故國祚延長。風俗富阜。 而丁黎二家。乃徇己私。忽天命。罔蹈商周之迹。常安厥邑于茲。致世代弗長。算數短促。百姓耗損。萬物失宜。朕甚痛之。不得不徙。 况高王故都大羅城。宅天地區域之中。得龍蟠虎踞之勢。正南北東西之位。便江山向背之宜。其地廣而坦平。厥土高而爽塏。民居蔑昏墊之困。萬物極繁阜之豐。遍覽越邦。斯爲勝地。誠四方輻輳之要會。爲萬世帝王之上都。 朕欲因此地利以定厥居。卿等如何。 Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ. Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô. Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà? Lời dịch (có thêm thắt): “Xưa nhà Thương đến Bàn Canh năm lần thiên đô, nhà Chu tới Thành Vương cũng dời chỗ ba lượt. Há rằng mấy vị vua thời Tam Đại ấy làm theo ý riêng, di dời tùy tiện? Hẳn làm thế là để mưu việc lớn, chọn chỗ giữa, tính kế dài lâu cho con cháu muôn đời. (Làm thế tức là) trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy tiện thì dời đổi. (Nhờ thế) nên vận nước bền lâu, đời sống dồi dào. Vậy mà hai nhà Đinh, Lê cứ theo ý riêng, lơ đễnh với mệnh trời, dửng dưng với kinh nghiệm Thương Chu xưa, đóng mãi một nơi này, dẫn đến chỗ đời nối không dài, số riêng ngắn ngủi, trăm họ chịu hao tổn, vạn vật không thích nghi. Trẫm thật đau lòng, không dời đi không đặng. Huống chi thành Đại La, nơi đô cũ của Cao Vương ấy, lại là khu vực ở vào khoảng giữa của trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đấy là chỗ gặp nhau của Đông Tây Nam Bắc, thuận trước sau sông núi đi về. Đất ấy rộng mà bằng phẳng, xứ đó cao mà sáng sủa, dân cư không có cái khổ thấp trũng tối tăm, vạn vật được nơi nảy nở cực kỳ phồn thịnh. Xem khắp nước Việt ta, đó quả là thắng địa. Thật là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đáng làm nơi định đô cho đế vương vạn thế. Trẫm muốn theo địa lợi ấy mà định nơi ở, ý các ngươi thế nào?”. Cứ như thiển ý của người viết bài này, thì giọng điệu của văn bản không hẳn đã là giọng điệu của một văn bản hành chính quan phương, phải mang tính pháp định (lạnh lùng) ở mức cao nhất, như yêu cầu của thể loại đòi hỏi. Không thể nào một văn bản “xin ý kiến” lại là một văn bản pháp lý ở cung bậc cao nhất được! Từ một góc nhìn khác, những người nghiên cứu có cổ Hán học sẽ không mấy khó khăn để nhận ra rằng văn bản đang được đề cập về hình thức cũng không mang cấu trúc của một đạo chiếu. Chỉ dấu dễ nhận thấy nhất nằm ở cả hai phần mở đầu và kết thúc.Cũng có thể nghĩ rằng sử gia khi truyền thụ lại văn bản đã tỉnh lược “đầu, đuôi”, nhưng dễ chấp nhận hơn, nếu coi đây là một đạo dụ. Tính quy phạm của dụ co giãn hơn nhiều so với chiếu, chế, cáo, tấu, biểu. Thậm chí, nhà vua có thể ban ra những “khẩu dụ”. Vậy nên, có phần chắc là ba chữ lấy làm tiêu đề: thiên đô chiếu, không nằm trong thủ bút của Thái Tổ nhà Lý. Tiêu đề của văn bản này (có thật) này là gì? Xin chịu! 1.3. Những ý tưởng hiển ngôn Kinh nghiệm lịch sử đối với mọi quốc gia, từ cổ chí kim, cho thấy rằng việc định đô, hay việc dời đô, là vô cùng hệ trọng. Không phải ngẫu nhiên mà vào đầu cái văn bản “trưng cầu quan ý” này, Lý Thái Tổ lại mở lời bằng chuyện thời… Tam Đại: chỉ ở mấy triều đại sớm nhất của lịch sử Trung Quốc mà tín sử ghi lại được (nên người Việt biết chữ Hán có thể đọc), mới có chuyện liên tục thay đổi nơi định đô. Việc dời đô ở các triều đại này thường gắn với những yêu cầu ổn định và phát triển hơn trước. Vào thời kỳ muộn hơn, dời đổi kinh đô là chuyện hy hữu. Tần chỉ có một kinh đô, (Lưỡng) Hán với vận số bốn trăm năm cũng chỉ dời đô vài lần, nhà Tống đôi lần, mà mỗi lần dời đi bao giờ cũng gắn với một hay những biến cố tai họa (catastropes) đang làm chao đảo triều đại. Không thấy chép việc nhà Đường dời đô trong ngót ba trăm năm tồn tại. Chuyện dời đô để mở ra vận hội mới cho quốc gia rõ ràng là chuyện ở những thời điểm các quốc gia đang nằm trong tiến trình quy hoạch và kiến tạo, trong đà đi lên. Còn lấy “tích” đâu cho phù hợp hơn “tích” thời Tam Đại nữa? Ở trên, tôi mạo muội dịch lại một đôi chỗ trong bản văn này. Chẳng dám tự coi mình là hay hớm chữ nghĩa gì, chẳng qua vì việc cảm nhận đúng các sắc thái ngôn từ trong trường hợp này có ý nghĩa thực sự quan trọng. Đang ngồi trong cung điện cũ của nhà Tiền Lê, lại có được ngôi vua dường như êm ả, Lý Thái Tổ dù sao chăng nữa không thể thống trách “Đinh Lê nhị gia” quá lời. Trên thực tế, các vua của hai triều Đinh, Lê đều có những giới hạn rõ ràng trong tầm nhìn, trong vốn văn hóa và viễn kiến chính trị. Vị Thái Tổ nhà Lý hẳn từ sớm đã âm thầm nhận ra và khắc phục ở chính mình những hạn chế ấy.[1] Theo cách nhìn của Lý Thái Tổ, vị trí của kinh đô quan hệ mật thiết, chi phối trực tiếp đến số phận cá nhân người làm vua, đến thịnh suy của triều đại, đến sự thăng trầm của “quốc tộ”, rộng hơn và toàn diện hơn, đến bi hoan ưu lạc của trăm họ, cảnh phồn thịnh hay hư hao của đời sống nói chung. Ngài đã nói ra cái điều mà bá quan hẳn cũng từng lờ mờ cảm thấy, nhưng giờ đây thì phải tự giác tri nhận. Theo cách đó, dễ dàng tìm được sự đồng thuận, tìm ra tiếng nói chung ở hầu hết các thành viên của triều đình. Trình bày xong cái lý buộc phải rời đất này mà đi, Thái Tổ dĩ nhiên tiếp đó phải trưng ra cái lẽ của việc lựa chọn nơi cần đến. Không ít người mang thể thức và thói quen làm văn nghị luận thời nay ra để đòi Lý Thái Tổ phải đáp ứng yêu cầu và tuân thủ tiêu chí[2]. E rằng làm như vậy, một lối “yêu sách” thoát ly khỏi hoàn cảnh cụ thể - lịch sử, là vô tình hay hữu ý cấm cản chính mình hiểu đúng được người xưa! Định quốc đô ở Hoa Lư là sự lựa chọn của người sáng lập nên vương triều nhà Đinh - vị thủ lĩnh xuất thân trong một hoàn cảnh thiệt thòi hơn nhiều người bình thường khác, nhưng đã trải qua một thời trai trẻ tự trưởng thành vượt bậc, từ địa vị một gia tướng, lên địa vị một chủ tướng, rồi “bay trên đầu thế kỷ nhân gian” thành Vạn Thắng Vương, để “chốt lại” ở danh xưng Tiên Hoàng đế. Lên đến “cửu tiêu” như vậy rồi, nhưng những năm tháng sau buổi thiết triều định đô, ngài còn vẫn phải tiếp tục xông pha hòn đạn mũi tên, nam chinh bắc chiến. Quán tính của lực ly tâm, cát cứ, vốn được nuôi dưỡng lâu bền từ trong sự bảo lưu dằng dặc của làng xã tự trị, được những người thuộc tầng lớp hào trưởng (khá đông đảo trên mọi vùng miền) không chỉ kế tục mà còn chực chờ cơ hội để “phát huy” chống lại quyền lực tập trung về triều đình trung ương. Ngoài võ công lưu vào sử sách chính danh trong những cuộc tranh đấu hướng ngoại “phá Tống bình Chiêm”, vị vua khai cơ của nhà Tiền Lê còn phải “liền năm đánh dẹp” hàng loạt những cuộc “nội loạn”[3]. Việc tranh chấp quyền lực giữa các phe phái và thế lực như thế diễn ra thậm chí ở mức độ khốc liệt hơn nhiều ngay trong và sau cái chết của Lê Hoàn, đến nỗi “trong nước 8 tháng không vua”, việc mai táng nhà vua không được thực hiện đầy đủ lễ nghi tối thiểu, thậm chí không có nổi cả tên thụy và tôn hiệu. Tận mắt chứng kiến, và thậm chí tham gia vào những biến cố đó, vị Thái Tổ tương lai của nhà Lý chắc chắn đã không chỉ nảy sinh những ý đồ mà còn trù tính cả một kế hoạch dài hơi cho bản thân mình. Việc ngài ôm xác Trung Tông Long Việt khóc ngay giữa triều đình của kẻ giết anh đoạt ngôi chắc chắn là một phép thử mang ý nghĩa sinh tử. Vậy mà kẻ bạo quân đó (Ngọa Triều Long Đĩnh) lại tỏ một thái độ mà ở một góc nhìn nào đó cũng nên được đánh giá là ít nhiều có “văn hóa chính trị”: “Vua lên ngôi được ba ngày thì bị Long Đĩnh giết. Bầy tôi đều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc. Long Đĩnh lên ngôi, truy đặt thụy cho vua là Trung Tông Hoàng Đế, cho Công Uẩn làm Tứ sương quân Phó chỉ huy sứ”[4]. Ba năm sau thời điểm ấy, Ngọa Triều băng khi mới 24 tuổi. Chính sử chép mơ hồ về nguyên nhân cái chết, bằng cách “kể” rằng vua mắc trĩ, từng phải “nằm coi chầu” nên mới có “uế danh” là Ngọa Triều, nhưng dã sử thì “đồn vụng đồn trộm”, ghi chép úp mở rằng cái chết ấy hình như có liên quan đến đôi tay của người từng ôm xác vua anh khóc mấy năm trước đó! Kém tuổi hẳn một giáp, dù có thể cũng là người thông minh cơ trí và lắm tham vọng, Lê Long Đĩnh vẫn chưa thể là đối thủ thực sự của viên Điện tiền chỉ huy sứ của mình. Chắc chắn rằng sau khi đã được tôn lập, một trong những việc cần làm ngay được nhà vua xác định và nhanh chóng thực hiện, là việc dời đô. Như đã nói ở trên, ngài khẳng quyết tường minh rằng, việc dời đô cùng một lúc có quan hệ mật thiết và trực tiếp đến an ninh cá nhân, dòng dõi hoàng tộc, nhu cầu an cư lạc nghiệp của cư dân nơi đế đô, điều kiện nắm quyền trị nước và lớn nhất, xa nhất là vận mệnh vương triều - vận mệnh quốc gia. Nhà vua không hề giấu giếm, ngược lại, thẳng thắn bộc bạch nỗi niềm canh cánh ấy. Nội dung chủ yếu của bản “chiếu” này chính là một sự giãi bày cùng những lý lẽ thuyết phục quần thần về quyết định quan trọng đó. Việc dời đô diễn ra tuy không quá vội vàng, mà được trù hoạch cẩn thận, nhưng cũng có thể nói là khẩn trương, gấp gáp. Nửa sau của lời “chiếu”, như đã biết, ít nhiều làm dấy lên những sự phân vân, những lời “phản biện”, nhất là đối với độc giả thời nay. Nhưng trước khi thể hiện “lập trường”, hãy tĩnh trí quan chiêm đôi dòng lịch sử. Cũng nên dừng lại bàn đôi lời về cách nhìn nhận, đánh giá đối với các “yếu nhân nhập cư” trong cả một thời gian khá lâu dài trong lịch sử, để hiểu hơn cách thế ứng xử từng được tỏ ra ở các tác giả, tác phẩm của “người Nam” về sau, trong đó có Lý Thái Tổ. Giữa các nhân vật từng là quan lại người Trung Quốc đô hộ ở nước ta, có một số tên tuổi để lại những dấu ấn đậm nét. Không mấy ai chỉ để lại “tiếng thơm”, nhưng sẽ là không công bằng nếu nhìn nhận nhất loạt những người này chỉ đơn giản là thuộc vào “bè lũ xâm lược và đô hộ tàn bạo, khát máu”, chỉ là những kẻ thù “không đội trời chung”. Cao Biền là một người cần được xét đoán nhiều chiều như thế. Cả chính sử lẫn dã sử đều có không ít những truyện tích cùng rất nhiều những ý kiến đánh giá, bình nghị trái chiều. Do chỗ hành trạng, năng lực, quan hệ và tính cách phức tạp, những người như Cao Biền hay Hoàng Phúc thuộc vào loại quan cao cấp để lại trong ký ức của người Việt những “kỷ niệm” đa nghĩa, thậm chí được huyền thoại hóa, truyền thuyết hóa. Họ, trong cảm quan người Việt, là những “phức cảm lịch sử”. Dù sao mặc lòng, không thể chối rằng các sử gia chính thống của các triều đại quân chủ Việt Nam, dù nuôi trong tâm khảm một lòng yêu nước sâu sắc, cũng từng viết về những người này bằng không ít những lời lẽ trọng thị, thậm chí kính phục. Thái độ đó của các sử gia xưa, ở một mức độ đại diện khá tiêu biểu, cũng phản ánh thái độ của cộng đồng cư dân Việt và các chính thể đại diện dân tộc đối với nền văn hóa, văn minh Trung Quốc, thể hiện thế ứng xử đa trị, đa chiều của người Việt đối với phức thể khổng lồ thường xuyên có quan hệ phức tạp với quốc gia - dân tộc mình, với cộng đồng cư dân mình. Xét cho cùng, sự tiếp cận đa chiều ấy về những mối liên hệ giữa hai cộng đồng, hai thực thể quyền lực là một tất yếu lịch sử. Cao Biền, như chính sử Việt chép, sau hơn mười năm chinh phạt ở nhiều nơi, sang Giao Châu với chức quan Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ “giữ phủ xưng vương, đắp La Thành…”[5]. Theo ghi nhận của các sử gia, trong thời gian trị nhậm nơi này, Biền làm được nhiều việc mang lại ích lợi lớn cho cộng đồng Việt. Ngoài tài trị nước cầm quân của một nho tướng, nhờ vào những kiến thức “ngoài luồng” như tri thức về Đạo giáo và phương kỹ, Biền cũng làm khá nhiều việc “khó hiểu”, có nhiều hành xử “không giống ai” nhưng xét về kết quả là hữu ích. Ngô Sĩ Liên từng bình luận : “Việc Cao Biền đào kênh sao mà kỳ dị thế? Đó là vì việc làm hợp lẽ, cho nên được trời giúp. Trời là lẽ phải. Đất có chỗ hiểm, chỗ bằng, đó là lẽ thường. Nếu hiểm mà không vượt được thì trời phải nhờ đến tay người làm gì? …Xem như lời của Biền nói “Nay khai đường biển để giúp sinh dân, nếu không theo lòng riêng thì có gì khó”. Lòng thành phát ra từ lời nói, thì lời nói ấy há chẳng là thuận ư?Lòng tin thành thực cảm thông đến cả vàng đá, huống nữa là trời?Việc gì trời đã giúp sức là thuận…”[6]. Các bộ sử Trung Quốc, cả những bộ sử chép kỹ chuyện ông này, như Tân Đường thư - Cao Biền truyện đều không thấy nói việc Cao Biền “xưng vương”, nhưng có điều chắc chắn là với một ông quan đa mưu túc trí lắm kế nhiều mưu, văn võ toàn tài và tham vọng không hề nhỏ như Cao Biền, triều đình trung ương của nhà Đường không thể mảy may “lơ là cảnh giác”. Không để viên quan này “mọc rễ” ở nơi biên viễn vốn thường trực một khả năng ly khai khỏi thiên triều, vào năm 875 vua Đường gọi ông ta về Bắc, đổi làm Tây Xuyên Tiết độ sứ. Không thể nói rằng lịch đại sử gia của Việt Nam đã “hữu khuynh” hay vì lịch sử quan Nho giáo đã làm sai lạc cách nhìn ở họ. Công bằng và khách quan bao giờ cũng là dấu hiệu của một nền văn hóa ứng xử ở một cộng đồng đã phát triển tới độ trưởng thành. Vậy thì, với hình tích như thế, việc Cao Biền (dù trên thực tế có “tiếm hiệu” hay không) được nhiều người Việt, cả đương thời lẫn về sau, gọi là Cao Vương, coi nơi ông ta trị nhậm là “đô”, tưởng không có gì là lạ. Dù đang ngự trên đỉnh cao của quyền uy, Lý Thái Tổ vẫn cứ là “đứa con của thời đại mình”, hạ bút viết một bổ ngữ “Đại La, đô cũ của Cao Vương” có lẽ không phải là điều đáng gây thắc mắc? Cao Biền vốn nổi danh là một bậc thầy lớn về phong thủy, một đạo sĩ “khét tiếng” có tài hô sấm gọi chớp, hô gió gọi mưa, cũng từng xuất hiện cả truyền thuyết về việc chọn đất đắp thành công thành Đại La (một thách thức lớn đối với nhiều nhân vật “tiền nhiệm”) của ông này, nên chắc chắn việc mô tả vùng đất mà về sau sẽ là Thăng Long của Thái Tổ nhà Lý với lý do đấy là đất do Cao Biền lựa chọn sẽ làm tăng thêm sức thuyết phục đối với triều thần. Bằng vào câu chữ, thì ngoài mệnh đề “đắc long bàn hổ cứ chi thế” (được cái thế rồng cuộn hổ ngồi) - vốn là một nhận xét “đầu lưỡi” vào thời đại bấy giờ đối với một vùng linh địa, thậm chí cả ở người thường - không còn câu chữ nào khiến ta chê trách ngài là đã không “phản ánh thực tế”! “Người ta” cũng lạ thật, định danh là Thăng Long thì hân hoan ngợi ca, mà mô tả thế đất “rồng cuộn hổ ngồi” thì xét nét, cho là dị đoan, là mê tín[7]! 2. … và những “chuyện nghìn năm” ẩn tàng sau câu chữ 2.1. Vận nước đến lúc rồi Sông Hồng tới tận đầu Công nguyên là một dòng chảy khổng lồ lấy thế năng từ một vùng đất cao nguyên rộng lớn đưa phù sa về vùng hạ lưu giao thoa với những dòng chảy lớn nhỏ khác tạo nên một “mạng lưới sông rạch”, hình thành nên những gò, những ụ, những bãi, những đầm. Giữa vô số những sự lắng đọng, trầm tích ngẫu nhiên vẫn dần dần hình thành nên những thế, những mạch đất “có tính khuynh hướng”, được tổ chức và bị điều chỉnh theo hoạt động của dòng sông mẹ. Vùng đất nào được bồi cao sớm, lại gần với những vùng cư trú cũ, tự nhiên dễ dàng được cư dân sống gần nơi đó nống thêm, khoanh lại, bao lấy, nhập vào. Thuở xa xưa ấy, theo cách hình dung của K. Marx, “việc chiếm hữu từng mảnh trên mặt địa cầu làm của riêng vốn có tính ngẫu nhiên”, nên giản dị như cách nói và làm của dân gian, ai “xí” trước thì người ấy được. Mùa này nối mùa khác, năm này liền năm khác, thập niên, thế kỷ này đến thập niên, thế kỷ khác, các cộng đồng thoạt đầu chỉ ở quy mô công xã thị tộc cứ thế đông đúc lên, lớn mạnh dần, khôn ngoan ra, kiên nhẫn mở đất, kiên nhẫn canh tác. Ở quy mô công xã thị tộc, rồi thành làng thành họ, thành chòm thành xóm, các cộng đồng ấy tự làm hình thành nên những mối liên kết nội tại phức tạp hoá dần dà, để đến lúc xuất hiện những lệ, những tục, những quy, những định, những khoán, những ước...Mọi cá thể - thành viên cộng đồng vừa có những nhu cầu, ham muốn, lợi ích... riêng phải cố mà đạt tới, vừa hiểu dần cái lẽ “Một cây làm chẳng nên non”, “Lụt thì lút cả làng”, nhận thức dần ra tính tất yếu phải tương thân, tương ái, tương trợ, khi cần thậm chí phải biết nhịn, phải chịu thiệt. Trong mọi nỗi lo, nỗi lo âu phổ biến hình thành sớm nhất ở các cá thể của những cộng đồng như vậy hẳn phải là nỗi lo “bật bãi”. Nỗi lo ấy lớn đến mức đã có lúc người ta khuyên nhau hoặc thậm chí tự nhủ “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”, “Thà chết một đống hơn sống một người”. So với nhiều vùng bình nguyên trên thế giới do các con sông lớn tạo dựng, thì đồng bằng sông Hồng được xếp vào loại đồng bằng trẻ. Không có sẵn một bình nguyên mênh mông mà ruột đất đã hình thành đâu đó từ “muôn năm cũ”, người Việt cổ hướng dần ra cái khoảng trời đất nước đang sôi sục tự nhào nặn để định hình kia những mong giành được, đoạt lấy hay gom thêm những khoảnh những vạt những rẻo những doi ... mới. Không chỉ thụ động chờ đợi cho đến lúc “Sông kia rày đã nên đồng”, họ cũng tận dụng cả những hiểu biết dẫu còn khá thô sơ về thiên văn thời vụ, “chớp cơ hội” tranh với các nhiên thần quyền đổ mồ hôi để thu về hoa lợi trên những mảnh đất còn đỏng đảnh chơi vơi giữa hai bờ sở hữu. Cứ thế, cứ thế, người Việt xuôi về hạ lưu của con sông dữ. Thành Cổ Loa là bằng chứng rõ ràng đầu tiên của sự tồn tại của một cộng đồng đã được tổ chức tới quy mô nhà nước. Nhưng chỉ An Dương Vương nửa thực nửa huyền là được khẳng định từng đóng đô ở đấy. Triệu Đà, người cho đến nay vẫn phải chịu tình trạng chân trong chân ngoài giữa những dòng lịch sử Việt Nam, thì lại định đô ở Phiên Ngung, tít tận Quảng Châu (Trung Quốc), chứ không phải ở hữu ngạn sông Hồng như “đồng nghiệp” bị ông thôn tính. Trong kỷ thuộc Tây Hán, trị sở của quan lại đô hộ được sử chép là đặt tại Long Biên, nhưng thành Long Biên ấy ở đâu thì nói rằng chưa kê cứu được (có thuyết từ xưa nói rằng Long Biên là Liên Lâu, cũng tức Luy Lâu, trên đất huyện Thuận Thành nay), còn đến thời Đông Hán, thì lị sở là ở Mê Linh (Vĩnh Phúc ngày nay), tức trở lại “vùng đất cao và chắc, vùng đất an toàn”! Cha con ông cháu Sĩ Nhiếp thì “định đô” ở Long Biên (vẫn là thành Long Biên chưa kê cứu được kia), cho tới tận Lý Bí, tức Lý Nam Đế, đô vẫn lại được đặt ở đất Long Biên ấy! Cần chú ý rằng lúc yếu thế, Lý Bí tránh vào động Khuất Lạo, mà theo kê cứu đời sau, là động thuộc đất Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Người anh hùng cứu quốc tiếp theo, Triệu Quang Phục, đô ở Long Biên, rồi dời sang Vũ Ninh (Quế Võ ngày nay), khi bị thất thế, lấy vùng đất sông rạch đầm phá là Dạ Trạch làm căn cứ địa kháng chiến. Hậu Lý Nam Đế thì đóng đô ở Phong Châu. Nhà Đường cậy là đại đế chế, sức dài vai rộng, mới đắp La Thành làm phủ trị của An Nam đô hộ phủ. Nhưng rồi qua mấy lần bị người Nam Chiếu tranh chấp, La Thành chịu cảnh trống không. Như đã biết, mãi tận khi viên kiêu tướng Cao Biền trấn giữ xứ này, La Thành mới có được một chặng ngắn lâm thời sinh sắc và trở nên “hoành tráng”. Ngoái nhìn sử cũ, từ Hai Bà Trưng cho tới tận Lê Ngoạ Triều, các vị quân chủ người Việt chưa mấy ai đủ điều kiện và/ hoặc đủ can đảm để chọn vùng đất Hà Nội làm nơi định đô. Nguyên nhân chủ yếu hẳn là do không thể “cãi giời”: cả vùng đất ấy vẫn đang trong quá trình thành tạo tưng bừng, mang sẵn trong mình độ rủi ro cực lớn cho những ai hăm hở sớm đóng gông nó lại! Nhưng tới đầu thế kỷ XI thì cục diện địa chất của đồng bằng sông Hồng nói chung và vùng đất mà Thái Tổ nhà Lý chọn để đặt “thượng đô” nói riêng đã nhiều phần khác xưa.Tuy vẫn là miền lắm sông nhiều bến, nhằng nhịt kênh rạch, nhưng với một thiên niên kỷ phù sa, thềm địa chất của đoạn trung lưu này đã kịp ổn định về cơ bản. Huống chi thành Đại La, nơi đô cũ của Cao Vương ấy, lại là khu vực ở vào khoảng giữa của trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đấy là chỗ gặp nhau của Đông Tây Nam Bắc, thuận trước sau sông núi đi về. Đất ấy rộng mà bằng phẳng, xứ đó cao mà sáng sủa, dân cư không có cái khổ thấp trũng tối tăm, vạn vật được nơi nảy nở cực kỳ phồn thịnh. Xem khắp nước Việt ta, đó quả là thắng địa. Thật là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đáng làm nơi định đô cho đế vương vạn thế. Lý Thái Tổ hân hoan khẳng định. Đó cũng là niềm hân hoan của hàng triệu cư dân từ đây có một quốc gia hùng mạnh để ổn định lâu dài, có một miền “thản địa” để cày sâu cuốc bẫm có một vùng đất đủ “rộng và thoáng” cho đấng vương chủ định đô. Nhưng dù sao, đã dời đến rồi định đô ở vùng trung thổ, miền đất vẫn chưa hoàn toàn ổn định về kết cấu tự nhiên, gần bốn thế kỷ thời đại Lý - Trần buộc phải có lắm việc phải làm với môi trường sông nước. Quân đội của hai triều đều rất mạnh thuỷ binh, thạo thuỷ chiến, có nhiều chiến công lẫy lừng gắn với môi trường và những địa danh sông nước. Nhưng nhiều sự kiện trái khoáy, nhiều biến cố bất tường cũng sẽ bởi môi trường sông nước mà ra[8]. 2.2.Đọc giữa những dòng văn Thành phố nào, thủ đô nào mà chẳng “có những vấn đề đặc thù” của nó, và tuổi thành phố, thủ đô càng lớn, thì vấn đề phát sinh lại càng nhiều. Như nhiều nhà nghiên cứu đã cùng ghi nhận, việc dời đô của Lý Thái Tổ là một quyết định sáng suốt, thể hiện một tầm viễn kiến trên nhiều góc độ, có tác động lâu dài đến sự phát triển, gần thì của chính vương triều, xa thì đến vận mệnh của toàn bộ lịch sử phát triển tiếp theo của toàn cộng đồng, của quốc gia - dân tộc. Ta sẽ cùng nối thêm đôi lời theo hướng đó. Bằng vào những gì mà sử liệu cung cấp, có thể nhận định rằng những mối liên hệ của Lý Công Uẩn với cộng đồng thân tộc của cá nhân ngài cho tới nay chưa thể nói là đã tường minh. Những nỗ lực “bạch hóa” lý lịch của người sáng lập nên vương triều Lý vào mấy thập niên gần đây xem ra không có tiến triển đột xuất[9]. Hãy bàn sâu hơn trên những gì đã có, đã biết. Từ thời điểm An Dương Vương làm mất nước cho tới trước thời điểm Lý Công Uẩn lên ngôi, nếu xét cội nguồn của những nhân vật lịch sử từng để lại dấu ấn của mình trên quỹ đạo đấu tranh giành độc lập, kiến tạo quốc gia trên cơ sở cộng đồng Việt, không khó nhận ra hai thành phần xuất thân chính: các nhân vật gốc thuần Việt và các nhân vật người Việt gốc… phương Bắc.[10] Xếp hàng đầu của “danh sách” những vị anh hùng dân tộc thuần Việt là Hai Bà Trưng - điều này khỏi cần nghi vấn, phản biện. Do chỗ nước Nam Việt của Triệu Đà không được kiến tạo chủ yếu trên cơ sở cộng đồng Việt, nên có thể coi người có vinh dự đứng đầu “nhóm đối đẳng” ấy là Sĩ Nhiếp. Phải đề cập tới chủ đề này, bởi đây từng và hãy còn là một ám ảnh, một phức cảm khác của lịch sử. Nơi quy chiếu ngắn gọn nhưng xác đáng nhất phải là: cộng đồng cư dân Việt đã chấp nhận ai, từng coi ai là “bề trên tự nhiên” của mình. Do có lịch sử thành tạo đặc thù, vùng đất Thăng Long xưa, Hà Nội (cũ) nay vốn không là “thuộc địa” của bất cứ vị hào trưởng hay sứ quân nào. Lại thêm một điều may mắn quan trọng: đất ấy khá gần với “quê mẹ” (thì làm sao dám chắc về “quê cha” của ngài, khi đến pho quốc sử hàng đầu mà cũng đành chép “đài” lên rằng “mẹ họ Phạm, đi chơi chùa Tiên Sơn, cùng với người thần giao hợp rồi có chửa”? [11]) của Lý Công Uẩn. Với cư dân nông nghiệp trồng trọt định cư xưa, một cô gái trẻ đi chơi chùa rồi mang bầu, có thể “từ đó suy ra”, rằng vậy “quê cha” của “cái bụng bầu” cũng “loanh quanh đâu đấy”! Người ngoài không biết, chứ “người trong cuộc” thì chắc chắn phải biết! Trước Lý Công Uẩn, từng không ít những “yếu nhân” có bản khai lý lịch không rõ ràng. Sau ngài, cũng không phải không còn ai với cái trích yếu thiếu mạch lạc vẫn được thừa nhận tới tận hàng quốc chủ. “Chủ nghĩa lý lịch” không nằm trong nền tảng tinh thần của người Việt, dẫu rằng lại cũng không nên dửng dưng với “quá khứ” của bất kỳ ai. Sự thật là, trừ trường hợp Ngô Quyền, mấy vị vua khai sáng nên hai triều Đinh, Tiền Lê đều có bản lý lịch với mục “họ và tên cha” … để trống. Từ thuở bé, bởi rất nhiều lý do, Lý Công Uẩn đã phải chịu cảnh “ly hương”, nhưng tới thời điểm không chỉ “lập thân” mà là “lập quốc” này rồi, sao chẳng phải nghĩ đến việc tìm (thêm) một điểm tựa tự nhiên thật chắc chắn? Dời đô về Thăng Long, cũng tức là thoát ra khỏi vùng “triền miên binh hỏa”, lại cầm chắc có được sự trợ giúp của ít ra là những “thế lực đồng hương”. Tôi không suy diễn về điều này. Quốc sử chép việc lên ngôi của Lý Công Uẩn ở Hoa Lư vào tháng 10, ngày Quý Sửu (1009). Sau khi chép lại hàng loạt những truyền thuyết, giai thoại, sấm ngữ xung quanh việc lên ngôi ấy, sử gia không chép bất kỳ sự kiện lịch sử đích thực nào xen thêm vào trước sự kiện này: “Thuận Thiên, năm thứ nhất (1010), (Tống, Đại Trung Tường Phù năm thứ 3). Mùa xuân, tháng 2, xa giá về châu Cổ Pháp, ban tiền lụa cho các bô lão trong làng theo thứ bậc khác nhau. Sai Viên ngoại lang Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm sang nước Tống để kết hảo”[12]. Tiếp liền theo đó, sử gia chép tới chuyện vua muốn dời đô. Rõ rằng chuyện “kết nối” với quê nhà là điều tối quan trọng, được ưu tiên hơn cả việc “nối mạng với máy chủ” Thiên triều! Việc đi sứ thì sai người làm (gia dĩ, người đi sứ có quan hàm khá khiêm tốn!), nhưng việc “hồi hương” thì phải tự mình, kết hợp thăm dò việc đại sự dời đô trong ý định. Đích thân nhà vua “đi tiền trạm”, “đạo đạt dân tình”. Quyết định dời đô còn bị chi phối bởi một lý do quan trọng khác, thậm chí là lý do quan trọng nhất: kiến tạo và cai quản cho bằng được một quốc gia có lãnh thổ đã khá rộng lớn nhưng chưa đạt tới sự thống nhất bền vững.Có lẽ, câu quan trọng nhất trong bản chiếu này là “Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội, vi vạn thế đế vương chi thượng đô”[13]. (Thật là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đáng làm nơi định đô cho đế vương vạn thế). Với bạn đọc không có điều kiện biết sâu Hán ngữ, cần có lời giải thích ngắn gọn: “bức thấu chi yếu hội” nghĩa là cái moay - ơ đối với bánh xe! Như đã sơ bộ đề cập, ở thời điểm Thái Tổ nhà Lý lên ngôi, sông Hồng đang tiếp tục quá trình “đẻ đất”. Sử liệu chính thức từ thời Lý ngược lên trước ít thấy chép về công việc đê điều, cũng thấy ít những “đại sự kiện” liên quan đến lũ lụt nói riêng, thuỷ tai nói chung. Nhưng đến thập kỷ thứ hai của triều Trần thì sử gia không thể cứ dửng dưng với thuỷ thần mãi được nữa. Mậu Tuất, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 7 (1238), mùa thu, tháng 7, nước to, vỡ tràn vào cung Thưởng Xuân; Canh Tý, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 9 (1240), tháng 7, gió lớn, mưa to, động đất; năm sau, 1241, mùa hạ, tháng tư, hạn hán, núi lở, đất toác; tháng 5 tháng 6/1242, lại hạn hán; mùa thu, tháng 8/ 1243 nước to, vỡ thành Đại La; Ất Tỵ, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 14 (1245) mùa thu, tháng 8, vỡ đê Thanh Đàm, tiếp đến mùa đông, tháng 12, gió to mưa lớn 3 ngày, nước sông tràn ngập, thuỷ tộc chết nhiều. Dẫu rằng vào thời đoạn ấy “quốc gia vô sự, nhân dân yên vui, người làm quan giữ mãi một chức, người ở quán, các 10 năm mới được xuất thân, người ở sảnh, cục 15 năm mới được xuất thân”, thì đến năm 1248, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 17, lịch sử ngành thuỷ lợi Việt Nam đã có được một mốc lớn đáng lấy làm ngày kỷ niệm: “Tháng 3, lệnh các lộ đắp đê phòng lụt, gọi là đê quai vạc, từ đầu nguồn đến bờ biển, để ngăn nước lũ tràn ngập. Đặt chức quan hà đê chánh phó sứ để quản đốc.Chỗ đắp thì đo xem mất bao nhiêu ruộng đất của dân, theo giá trả lại tiền. Đắp đê quai vạc là bắt đầu từ đó (tôi nhấn mạnh – TNV)”[14]. Có thể hình dung rằng vào thời điểm ấy, cả lưu vực ngày nay là vùng châu thổ Bắc Bộ vẫn còn là một vùng đất thấp đang được thành tạo nham nhở. Ngoài dòng chảy lớn, chính yếu là sông Hồng, còn có sự góp nước, góp phù sa của nhiều con sông lớn nhỏ khác, xuất phát từ những triền núi khác, hướng dòng chảy có thể gọi là “châu tuần”. Từ sơn hệ đá vôi thuộc địa phận Hoà Bình đến Ninh Bình, Bắc và Tây Bắc Thanh Hoá ngày nay, hướng dòng chảy của các sông là hướng Đông Bắc. Từ vòng cung Sông Gâm - Đông Triều, hướng dòng chảy của các sông chủ yếu là hướng Đông Nam. Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Tây Bắc tỉnh Sơn Tây, Bắc Giang và phần lớn Bắc Ninh về cơ bản đã ổn định “mặt bằng” từ thời gian xuất hiện Cổ Loa thành trở về trước. Nhưng tình trạng địa chất của cả dải đất từ trung xuống hạ lưu sông Hồng, nghĩa là từ Hát Môn về xuôi, nhất là phía bờ Nam, thì chưa đạt tới sự ổn định cả nền lẫn thềm như thế. Bộ phận thuộc văn minh sông Hồng có sự ổn định sớm hơn cả là phía bờ Bắc - cũng chính là phía “quê nhà” của Lý Thái Tổ. Phải rằng vì thế, mà từ đây trở đi, trong tứ nội trấn, duy phía Bắc này gắn với kinh đô để thành “Kinh Bắc”? Tuy lời chiếu dời đô khẳng định vùng đất chọn để định đô đã đạt tới tiêu chí “thản bình, sảng khải” (bằng phẳng, sáng sủa), ta cũng cần biết thêm rằng sông Hồng ngày nay đoạn chảy qua Hà Nội đang là một “con nước trên cao”, việc hộ đê càng năm càng tăng thêm mức báo động. Ngoài tuyến đê chính là tuyến đê sông Hồng, lần lượt hình thành các tuyến đê dọc theo các con sông khác cả trong lẫn ngoài phạm vi đồng bằng Bắc Bộ. Khi các tuyến đê hình thành thành mạng lưới liên thông và khép kín một cách tương đối, cũng là khi quá trình thành tạo tự nhiên của vùng châu thổ Bắc Bộ chấm dứt. Thuộc về hay chủ yếu thuộc về vùng châu thổ ấy là các tỉnh / thành phố Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội (gồm cả Hà Tây cũ), Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hải Phòng và Thái Bình ngày nay. Trong các tỉnh, thành ấy, Hưng Yên và Thái Bình là hai tỉnh chẳng đào đâu ra cảnh quan “sơn kỳ thuỷ tú”, bởi đơn giản là hai tỉnh này không có núi. Các nhà địa mạo học mô tả hình thế của tam giác châu Bắc Bộ nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, bề mặt giống chiếc phễu bổ đôi, còn mặt cắt ngang thì giống như cái võng. Cái “võng” ấy lại không chỉ lộ ra trên bề mặt, mà “võng từ nền”, từ cấu trúc “móng”: lớp trầm tích của phù sa chỗ “đáy võng” dày tới 30 – 40 km! Và “vùng đáy võng” ấy chính là Hà Nội.[15] Hà Nội “trũng cả trên lẫn dưới”. Nhà địa lý nhân chủng học Pierre Gourou đã diễn đạt thật hay toàn trạng ấy: “Châu thổ sông Hồng đã chết trong tuổi vị thành niên của nó”[16].Dĩ nhiên, đó là cái chết về mặt kiến tạo địa chất tự nhiên. Điều mà Lý Thái Tổ, dẫu có biết, cũng không thể nói ra trong lời chiếu này, chính là sự trạng ấy. Lời kết Hơn tám mươi năm đã trôi qua kể từ ngày Ngô Quyền phục quốc tới ngày Lý Công Uẩn lên ngôi. Nếu quan sát kỹ những điều chính sử ghi chép về khoảng thời gian này, sẽ chợt nhận ra rằng trải qua gần một thế kỷ có độc lập ấy giới lãnh đạo quốc gia dường như rất ít những hoạt động “tác nghiệp” ở cả một vùng rộng lớn của đất nước. Nếu lấy Thăng Long làm điểm quy chiếu, thì vùng dường bị quên ấy nằm cả ở phía Viễn Tây, phía Bắc và Đông Bắc. Nếu cứ ở vùng thung lũng đá vôi Hoa Lư, triều đình vươn tay thế nào để nắm lấy những vùng đất vô cùng quan yếu ấy? Ngẫm cho kỹ, mới thấu cái lẽ sâu xa nhưng cũng là niềm uẩn khúc mà đấng khai cơ của nhà Lý ngụ vào trong lời ngắn gọn của mình: “khoảng giữa của trời đất”, “chỗ gặp nhau của Đông Tây Nam Bắc, thuận trước sau sông núi đi về”. Việc dời đô của Lý Thái Tổ ghi dấu một bước ngoặt, phản ánh một nhận định chính trị mang tầm vóc thời đại: giai đoạn thủ hiểm nhất thiết phải được vượt qua và về cơ bản đã được vượt qua. Đã đến thời phải tạo dựng một quốc gia “đàng hoàng, to đẹp”. Dĩ nhiên, Lý Thái Tổ cũng đã lường đến những thách thức, những trở ngại, những nguy cơ nữa. Mười bảy năm trị vì tiếp theo của ngài là để đối diện, và ngài đã đối diện thành công mỹ mãn với những thách thức, trở ngại, nguy cơ ấy. [1] “Hốt thiên mệnh”, vì thế, chẳng nên dịch là coi thường mệnh trời, thiển nghĩ, chỉ là lơ đễnh với mệnh trời (có thể là vì không biết tới ý niệm đó!) thôi vậy.“Chểnh mảng, lơ là, sao nhãng. Như: sơ hốt 疏忽 sao nhãng, hốt lược 忽略 nhãng qua” http://www.vietnamtudien.org/hanviet/. Trong từ điển này, “sao nhãng” là nghĩa thứ nhất, “coi thường” là nét nghĩa thứ hai. [2] Chẳng hạn, trên Wikipedia tiếng Việt, mục từ Chiếu dời đô, ta đọc thấy: “…bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng chiếu dời đô lại nổi bật những nhược điểm khiến nó không thể trở thành một áng văn tiêu biểu của dân tộc Việt Nam”, thể hiện ở các yếu tố : thiếu tinh thần dân tộc …(“là văn bản khai sinh ra một thủ đô Hà Nội nhưng chiếu dời đô không đề cập đến truyền thống đấu tranh giành độc lập mà các triều vua Việt Nam trước đó đã gây dựng. Bản chiếu cũng không nêu vai trò của kinh đô Hoa Lư và các kinh đô trước đó như Phong Châu, Mê Linh, Long Biên. Lý Thái Tổ lấy việc làm của các triều đại của cường quyền đế quốc Trung Hoa để noi gương. Ông gọi đô hộ Cao Biền là “Cao Vương”, gọi thành Đại La là “đô cũ”. Điều này khiến chiếu dời đô chưa toát nên được tinh thần dân tộc chủ đạo mà các áng văn khác như Nam quốc sơn hà (“sông núi nước Nam vua Nam ở”) và Bình Ngô đại cáo (“từ… Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập”) đã có. Chiếu dời đô chỉ có ý nghĩa trong nội bộ quốc gia mà không thể ảnh hưởng ở tầm quốc tế”), …mang màu sắc dị đoan phong thủy (“Chiếu dời đô được viết với nội dung mang đượm màu sắc đầy dị đoan, phong thủy. Sự phát triển của một thủ đô so với các vùng đất khác hoàn toàn không bị ảnh hưởng nhiều vào yếu tố phong thủy. …Lý Thái Tổ ám chỉ các triều vua nhà Đinh, nhà Tiền Lê tự theo ý riêng mình mà vận mệnh ngắn ngủi trong khi chính ông là người thừa hưởng nền tảng độc lập mà các triều đại này để lại. Quan điểm này không phù hợp với đạo lý uống nước nhớ nguồn của người Việt. Thực tế rất nhiều anh hùng đã hy sinh như Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Ngô Quyền, Quang Trung…mà triều đại do họ gây dựng tồn tại rất ngắn nhưng lịch sử luôn đánh giá công bằng. Bản chiếu dời đô cũng không thấy sự xuất hiện của vị vua Việt Nam nào được vua Lý nêu tới”). Chính xác đã bị sửa [3] Không kể tới vụ “cần vương” của các đại thần nhà Đinh Nguyễn Bặc - Đinh Điền - Phạm Hạp, thì Lê Hoàn vẫn phải nhiều lần đối phó với những dư đảng của “thập nhị sứ quân” hay thậm chí chính một trong những “sứ quân” là Ngô Nhật Khánh, hậu duệ của Ngô Quyền, người vì khát vọng “đồ phục” mà không từ cả những hành vi tội lỗi như rước quân Chiêm vào cướp phá đất nước.Liên tục trong hàng chục năm sau khi lên ngôi, Lê Hoàn còn phải động binh đánh dẹp những “sứ quân mới” nhăm nhe trở thành “anh hùng nhất khoảnh” như Lưu Kế Tông (983), Dương Tiến Lộc (989), thổ tù châu Ma Hoàng (Thái - 996), Đỗ Động Giang (997), nhóm Trịnh Hoàng, Trần Lệ, Đan Trường Ôn ở châu Phong (1000), giặc Cử Long (Mường – 1001)… [4] Đại Việt sử ký toàn thư, t.1 (gồm 3 tập). Nxb Văn hóa – Thông tin H., 2000, tr.342. [5] Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr. 284 [6] Sđd, tr. 286 - 287. [7] Lại gần đây có nhà sử học chiết tự chữ Hán, và phân tích hùng hồn trên truyền hình rằng long bàn hổ cứ là “địa bàn của rồng, căn cứ của hổ”. [8] Xem thêm: Trần Ngọc Vương – Con đê và vết hằn lên tính cách người Việt. T/c Di sản văn hóa – Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch số 6/2009. [9] Tôi đơn giản là không tin cuốn “ngụy gia phả” mà người Trung Quốc đã “chế” ra sau khi Lý Công Uẩn trở thành vua nước Việt. Xin xem thêm Kỷ yếu Về quê hương nhà Lý, Nxb Thế giới 2009. [10] Có thể coi Mai Thúc Loan như “trường hợp nghi vấn”, một ngoại lệ duy nhất. Căn cứ vào đặc điểm nhân chủng học, vào vùng “quê”, vào thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa và vài dữ kiện phụ trợ khác, một số nhà nghiên cứu, trong đó có tôi, ngờ rằng vị “vua Đen” này gốc Chăm (tức “người Việt gốc … phương Nam”). Lưu ý rằng tôi dùng cụm từ “người Việt gốc phương Bắc” cho một số nhân vật lịch sử mà không dùng định ngữ “gốc Hán”, bởi không ít người trong số đó chắc chắn là “gốc phương Bắc”(quy chiếu với “Nam Việt”) nhưng lại không phải, hoặc không chắc, là người “Hán tộc”, từ Sĩ Nhiếp, Lý Bôn, Triệu Quang Phục cho tới tổ tiên của hai triều Trần, Hồ.Về chủng tộc, chắc chắn nhiều người trong số họ thuộc “Bách Việt”. [11] Đại Việt sử ký toàn thư Sđd, t.1, tr.356. [12] Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.357 -358. [13] Chỗ cần khảo dị duy nhất trong văn bản chính nằm ở câu này. Phần lớn các bản văn Chiếu dời đô hiện lưu hành có lời lẽ như chúng tôi đang trích dẫn, nhưng cũng có một số bản văn, ngay cả mộc bản vừa được phát hiện ở Thư khố lưu trữ quốc gia Đà Lạt được loan báo trên báo chí cuối tháng Tám vừa rồi (mà chúng tôi đã có được ảnh chụp trực tiếp), thì câu này là “Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội, vi vạn thế kinh sư chi thượng đô”. Ý nghĩa của sự dị biệt này cần được bàn riêng. [14] Xem thêm Trần Ngọc Vương, bài đã dẫn. [15] Xem thêm, chẳng hạn, các công trình của Lê Bá Thảo, Trần Nghi, Nguyễn Quang Mỹ, Đào Đình Bắc, Huỳnh Ngọc Hương ... về địa chất và địa mạo Bắc Bộ. [16] Pierre Gourou.- Les paysans du delta tonkinois. EFEO. Paris, 1936.
  15. Trong câu chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ chứa đựng ẩn nghĩa Định mệnh là có thật, nếu cải sửa chỉ còn cách dùng Phật pháp mà thôi. Mục Kiền Liên (wiki) Tranh vẽ mô tả sự tử vì đạo của Mục-kiền-liên Mục Kiền Liên cứu mẹ Mục-kiền-liên (chữ Trung Quốc: 目犍連) hay gọi tắt là Mục-liên (目連) (tên latinh hóa: Maudgalyayana, Mahamaudgalyayana hay Mahāmoggallāna; tiếng Pali: Moggallāna; Tạng ngữ: མོའུ་འགལ་གྱི་བུ་) là một trong những đồ đệ thân tín nhất của Thích-ca Mâu-ni. Ông nổi tiếng về sự hiếu thảo với mẹ. Xuất thân Mục Kiền Liên chào đời tại một ngôi làng nhỏ gần kinh đô Patna của vương quốc Magadha, nay thuộc tiểu bang Bihar, Ấn Ðộ. Thuộc giòng dõi Mudgala, tức là "Thiên văn gia.” Theo ngữ căn thì danh từ Moggalàna phát nguồn từ chữ Mudgala (một giòng dõi chuyên nghiên cứu Thiên Văn học rất cổ). Là công tử từ một giai cấp "Cao quý" và thuộc giòng dõi mỗi người tôn kính, phụ thân của ngài chẳng khác nào một Tiểu vương. Lớn lên trong một khung cảnh sang trọng không thiếu thốn bất cứ món gì. Được giáo dục theo truyền thống Bà la môn giáo. Một lần ngài cùng người bạn tên Upatissa đi dự hội "Hội Sơn Thần" (trước tế lễ thần núi, sau để dân chúng có một dịp liên hoan vui thú). Sau ngày vui đó tâm tưởng luôn nghĩ về Tử Biệt Sinh Ly giữa cuộc đời và cứu rỗi, hai người quyết đi tìm đường Giải thoát. Từ đó họ quyết định sống một cuộc sống đời làm Đạo sĩ, thoát ly gia đình, thoát bỏ sợi dây giai cấp của Bà la môn. Tìm đạo Ngài cùng bạn Ngài là Xá-lợi-phất đã gặp nhiều vị Giáo chủ, biết nhiều triết học khác nhau. Một số chủ trương hẳn thuyết Vô Ðạo Ðức (đạo đức là sự vô ích) một số khác đề cao thuyết Ðịnh Mệnh, và một số khác truyền bá tư tưởng Duy vật. Họ nhận thấy sự sai lầm của những giáo thuyết như thế, nên chẳng bao lâu đã không màng để tâm nghiên cứu nữa. Khi ấy cả Mục Kiền Liên và Xá-lợi-phất đã khoảng bốn mươi tuổi, và nhằm lúc Đức Phật vừa cho phép đoàn đệ tử đầu tiên đi truyền bá chân lý. Ðoàn sứ giả ấy, gồm sáu mươi vị, tất cả là những Thánh nhân. Mục đích đoàn Thánh Tăng này là đi ban bố giáo lý an lành và tiến hóa trong nhân loại.Còn đức phật, Ngài đích thân đến thành Vương Xá (Ràjagaha) để tiếp độ vị vua nước Magadha tên là Bimbisara và nhận lãnh ngôi tịnh xá Veluvana Vihàra do vua dâng cúng. Phật đang có mặt tại ngôi chùa này thì Mục Kiền Liên và Xá-lợi-phất vừa quay về thành Vương Xá, tạm thời ngụ trong viện của Đạo sĩ Sànjaya. Một hôm Xá-lợi-phất đã ra đường phố, còn Mục Kiền Liên ở nhà. Chợt chàng thấy người bạn thân trở về với vẻ mặt vô cùng hớn hở mà từ xưa đến giờ chưa bao giờ nhìn thấy. Phong độ của Upatiss lúc ấy hoàn toàn khác hẳn : trang nghiêm và rạng rỡ! Kolita lập tức hỏi:- Này bạn! Vẻ mặt bạn thật thỏa mãn, dung nghi bạn rất trong sáng, phải chăng bạn đã tìm ra con đường Giải thoát? Xá-lợi-phất trả lời: Ðúng như thế, thưa bạn! Pháp giải thoát khỏi sự chết đã được khám phá. Rồi Xá-lợi-phất thuật lại rằng: Trên con đường phố chàng gặp một vị Sa Môn phong cách rất tự tại. Vị Sa Môn này đã làm cho ông phát sinh lòng kinh cảm, rồi ông không ngần ngại hỏi vị Sa Môn xem Tôn sư Ngài là ai. Sa môn ấy chính là Trưởng lão Assaji một trong những vị đệ tử đầu tiên của đức Phật và cũng là một trong sáu mươi vị A La Hán. Trưởng lão Assaji còn xác nhận rằng Ngài chỉ là một đệ tử của vị Ðại sĩ thuộc giòng họ Thích Ca. Khi Xá-lợi-phất yêu cầu Sa Môn Assaji ban bố giáo lý thì Ngài nói rằng không thể thuyết pháp được nhiều, vì Ngài mới thọ Cụ Túc giới mấy tháng. Và Ngài chỉ tiết lộ Ngài vừa học được bốn sự thật sâu sa (Tứ diệu đế) mà ngoài bậc Giác Ngộ ra, phàm nhân không thể nào quán triệt. Nhưng Xá-lợi-phất liền cầu khẩn Ngài chỉ dạy cho, dù một phần tinh yếu cũng đủ cho mình phăng ra mối đạo. Trưởng lão Assaji nghiêm trang nhắc lại một kệ ngôn của đức Phật rằng: "Ye Dhammà Hetupabhàvà, Tesam Hetum Tathàgatàha, Tesam Yo Nirodho Evam Vàdi Mahàsamano-ti" Dịch : "Pháp nào có nhân ấy, Bậc Giác Ngộ đã thấy rõ nhân, Ngài cũng tìm ra con đường diệt quả. Ðây là giáo lý của các bậc đại Sa môn" Kệ môn này sau khi được đức Phật thốt ra đã trở thành câu nói gói trọn giáo lý giải thoát, và trở thành Triết học căn bản của đạo Phật xuyên qua nhiều thế kỷ. Xá-lợi-phất nghe được kệ ngôn ấy liền đắc Pháp nhãn (Dhamma Cakkhu) trong tâm thức chứng quả Nhập Lưu, Tu Ðà Hườn (Sotàpatti). Rồi khi chàng thuật lại cho Kolita nghe, người ấy cũng chứng quả tương tự. Nghĩa là cả hai cũng giác ngộ rằng "Bất cứ cái gì sinh ra đều phải tan biến". Sự thấy rõ chân lý do bài kệ này soi sáng, quả thật là một biến cố kỳ diệu. Ðối với chúng ta ngày nay, bốn câu kệ ngôn trên đây không thể đả thông hết tâm thức si mê, nên chúng ta nghe mà cũng chưa trực nhận được ý nghĩa nào. Chiều sâu và chiều rộng của câu Phật Ngôn ấy, chỉ có thể biểu hiện đối với những ai đã từng nhiều kiếp tu tập hạnh từ bỏ những dục lạc tạm bợ ở đời, và hằng rèn luyện trí tuệ để thấy rõ lý vô thường (luôn luôn chi phối bởi nhân duyên điều kiện) và chứng thực đạo bất sinh từ. Kết thúc cuộc đời Mục Kiền Liên nhập diệt nửa tháng sau Xá-lợi-phất. Nghĩa là vào ngày mồng 1 sau tháng Kattika theo lịch cổ Ấn Độ (khoảng giữa tháng 10 Dương lịch). Lúc ấy nhằm mùa thu, lá vàng rơi đầy tiễn đưa Ngài giã từ "biển khổ". Sau đây là những biến cố đáng thương trong cái chết của Mục Kiền Liên được diễn tả trong kinh Majjhima Nikàya của Phật giáo Nam tông như sau: Lúc ấy Nàthaputta, Giáo chủ đạo Jaina mà trong kinh điển Pàli gọi là Niganthasàsana (Ni kiền giáo) cũng vừa qua đời. Có sự tranh luận, xét lại giáo lý của Nàthaputta bỗng xuất hiện trong hàng ngũ những đạo sĩ tu theo tôn giáo này. Kết quả đạo Jaina đã bị mất một số tín đồ và cảm tình viên khá đông, khiến cho các đạo sĩ cầm đầu đâm ra tức giận. Nhiều sư trưởng đạo Jaina còn nghe đồn rằng: Ðại đức Mục Kiền Liên, sau những chuyến Thiên du (lên trời thuyết pháp rồi trở về) đã tiết lộ rằng: Hầu hết tín đồ Phật giáo đều được sanh lên cõi trên, nhưng rất hiếm những kẻ tu theo đạo khác được hưởng hạnh phúc ấy. Trái lại, họ còn bị đoạ vào cảnh khổ và tái sinh thành nhiều sinh vật thấp hơn loài người. Ðây có lẽ là tin đồn thất thiệt, nhưng là một trong những lý do khiến cho các đạo khác, kể cả đạo Jaina bị sút giảm hậu thuẫn. Ðặc biệt, một chi giáo cuồng tín của đạo Jaina ở vương quốc Magadha đã trở nên giận dữ trước sự mất danh tiếng càng lúc càng trầm trọng ấy, nên họ chủ tâm tiêu diệt Ðại đức Mục Kiền Liên. Những đạo sĩ cuồng tín đạo Jaina ấy không chịu điều tra rõ nguyên nhân suy đồi của tôn giáo mình. Họ chỉ biết âm mưu phỉ báng và trút hết lên đầu Ðại đức Mục Kiền Liên. Nhiều lần họ mưu tâm ám sát vị Thánh Tăng ấy nữa nhưng đều thất bại. Về sau, họ phải mướn bọn cướp làm việc đó. Thuở bấy giờ cũng có bọn chuyên đâm thuê chém mướn, sẵn sàng sát nhân, nếu được trả nhiều tiền như ngày nay. Họ là những kẻ vô cùng tham lam và hung bạo. Ðối với họ chỉ có tiền là "cao quí" nhất, nên họ bất chấp việc giết người nào, dù cho nạn nhân là một vị Thánh Tăng! Do đó, một số đạo sĩ cuồng tín đạo Jaina liền tìm mướn họ đi giết Ðại đức Mục Kiền Liên. Khi ấy, Mục Kiền Liên đang ẩn tu một mình trong tịnh cốc vắng, ven rừng Kàlasikà, thuộc vương quốc Magadha. Sau khi đã cảm thắng Quỷ Mẩ (đã thuật trong đoạn trước của kinh) Mục Kiền Liên biết rằng "đoạn chót của đời mình" sắp đến. Một vị Thánh Tăng khi đã được hưởng "hương vị" giải thoát hằng thấy rằng "xác thân phàm tục này chỉ là một chướng ngại hay một gánh nặng mà thôi!" Do đó, Mục Kiền Liên đã không một chút mảy may nghĩ đến việc dùng thần thông để được sống trường thọ. Ngược lại, khi Mục Kiền Liên thấy bọn cướp giết mướn lại gần, Ngài chỉ nghĩ "Ta không nỡ để cho các kẻ ấy phạm trọng tội!". Thế là toàn thân Ngài tự nhiên biến mất (do thần thông của một cao thủ A La Hán đầy lòng từ bi phát tác, chứ không phải do sự sợ sệt hay lòng tham sống mà ra). Bọn sát nhân (có sách gọi là bọn cướp) xông vào tịnh cốc, không tìm thấy một ai, chúng lục lạo khắp nơi, nhưng vẫn vô hiệu, bèn thất vọng ra về. Ngày hôm sau, chúng trở lại, và cũng rơi vào tình trạng như cũ. Nghĩa là từ xa chúng thấy Ðại đức Mahà Moggallàna thấp thoáng, nhưng khi đến gần, chẳng tìm ra Ðại đức đâu cả, mặc dù càng lúc chúng càng kéo đồng bọn đông hơn và lục soát kỹ hơn. Chúng cũng khôn ngoan cho bộ hạ mai phục, rình rập xung quanh tịnh cốc để phát giác sự xuất hiện của Ðại đức Mục Kiền Liên, rồi vẫn không có kết quả. Sau ngày liên tiếp như thế, sáu lần bọn cướp xông vào hãm hại Mục Kiền Liên, và sáu lần Mục Kiền Liên vì lòng từ bi, chỉ một niệm "không muốn kẻ ngu muội phạm trọng tội" thân thể Ngài đã biến mất một cách như nhau. Ðộng lực của thần thông vốn không phải là để bảo vệ xác thân ô trược này, mà để cứu độ những tâm hồn hung bạo. Nhưng tiếc thay thần thông ấy của một vị Ðại Tôn túc A La Hán đã không cảnh tỉnh được bọn người tội lỗi, nên qua ngày thứ bảy, Ðại đức Mục Kiền Liên đã quán xét bằng Tha tâm thông, thấy rằng "bọn cướp vì tham tiền quá độ sẽ không bao giờ từ bỏ hành động sát nhân ấy". Trong khi Ðại đức Mục Kiền Liên sử dụng Tha tâm thông như thế, thì "Di Thần" Thần Công của Ngài tự nhiên biến mất, xác thịt Ngài bất thần hiện lại như cũ, ngồi yên trong tịnh cốc. Thì ra ác quả một hành động tội lỗi xa xưa (khi tiền kiếp nọ, Mục Kiền Liên vì sợ vợ, đã nhu nhược đem cha mẹ bỏ vào rừng hoang, đói khát cho đến chết) nay ác quả đang đuổi kịp. Ðại đức Mahà Mục Kiền Liên phải trả xong ác quả ấy thì công hạnh mới hoàn toàn! Giống như đức Phật và Xá-lợi-phất, trước khi nhập Niết Bàn đã trải qua một cơn bệnh vậy! Bọn sát nhân tiến vào tịnh cốc thấy vị Thánh Tăng hiền hoà ngồi đó, liền đâm chết rồi muốn chắc ăn chúng bầm nát tay chân, biến người thành một khối thịt vụn bất động. Khi biết chắc nạn nhân chỉ còn là một thây ma, không cách nào sống lại, và phe mình sắp được lãnh tiền trả công, bọn sát nhân ung dung bỏ đi không thèm quay lại. Nhưng Ðại đức Mục Kiền Liên là một Thánh Tăng đại cao thủ thần thông, người không thể nhập Niết Bàn trong tình trạng như thế. Mục Kiền Liên trong khi bị đâm chém đã hoàn toàn nhập định, nên mọi đau đớn không chi phối được Ngài. Bây giờ, Ngài chỉ vận dụng thiền lực tập trung sức mạnh tinh thần điều hợp với thể chất, rồi tái hiện thành một Sa Môn như cũ. Mục Kiền Liên cố gắng đem tấm xương thịt đầy thương tích đến yết kiến đức Phật lần chót, khi hiện diện trước mặt Đức Phật, rồi ngồi yên, nhắm mắt lìa đời, biến địa điểm gặp gỡ lần cuối của Ngài và đức Phật thành một khung cảnh vô cùng ảm đạm và thánh thiện (theo kinh Majjhima Jàtaka trang 522). Truyền thuyết Ngài tu luyện thành công nhiều phép thần thông qua đó biết mẹ mình đang lâm kiếp ngạ quỷ; ngài hỏi Phật tổ về cách cứu mẹ. Phật dạy rằng: “ Dù ông thần thông quảng đại đến đâu cũng không đủ sức cứu mẹ ông đâu. Chỉ có một cách nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương mới mong giải cứu được. Ngày rằm tháng bảy là ngày thích hợp để vận động chư tăng, hãy sắm sửa lễ cúng vào ngày đó ” Theo lời Phật, mẹ ngài được giải thoát. Phật cũng dạy rằng chúng sanh ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng theo cách này (Vu Lan Bồn Pháp). Từ đó ngày lễ Vu Lan ra đời.
  16. Chữ Nhân được tác giả sáng tác cờ tướng lấy trong Binh pháp Khương Thái Công: " Quân chính nghĩa thì sức chiến đấu rất mạnh - Quân phi nghĩa thì sức chiến đầu rệu rã". Trong quá trình giải mã, có liên quan đến Khương Thái Công, kính nhờ bác Lãn Miên biên dịch sơ phác giúp bài tiên tri, do không biết tiếng Hoa Hạ (không hàm nghĩa phải chính xác nhiều): Càn Khôn Vạn Niên Ca của Khương Thái Công . Hán Việt 1.太極未判昏已過。 1 Thái Cực Vị Phán Hôn Dĩ Quá. 2.風後女媧石上坐。 2 Phong Hậu Nữ Oa Thạch Thượng Tọa. 3.三皇五帝己派相。 3 Tam Hoàng Ngũ Đế Kỷ Phái Tương. 4.承宗流源應不錯。 4 Thừa Tông Lưu Nguyên ứng Bất Thác. 5.而今天下一統周。 5 Nhi Kim Thiên Hạ Nhất Thống Chu. 6.禮樂文章八百穐。 6 Lễ Nhạc Văn Chương Bát Bách 穐. 7.串去中直傳天下。 7 Xuyến Khứ Trung Trực Truyền Thiên Hạ. 8.卻是春禾換日頭。 8 Khước Thị Xuân Hòa Hoán Nhật Đầu. 9.天下由來不固久。 9 Thiên Hạ Do Lai Bất Cố Cửu. 10.二十年閒不能守。 10 Nhị Thập Niên Nhàn Bất Năng Thủ. 11.卯坐金頭帶直刀。 11 Mão Tọa Kim Đầu Đái Trực Đao. 12.削儘天下木羊首。 12 Tước Tẫn Thiên Hạ Mộc Dương Thủ. 13.一土臨朝更不祥。 13 Nhất Thổ Lâm Triêu Canh Bất Tường. 14.改年換國篡平床。 14 Cải Niên Hoán Quốc Soán Bình Sàng. 15.泉中湧齣光華主。 15 Tuyền Trung Dũng Xích Quang Hoa Chủ. 16.興覆江山又久長。 16 Hưng Phúc Giang San Hựu Cửu Trường. 17.四百年來更世界。 17 Tứ Bách Niên Lai Canh Thế Giới. 18.日上一曲懷毒害。 18 Nhật Thượng Nhất Khúc Hoài Độc Hại. 19.一枝流落去西川。 19 Nhất Chi Lưu Lạc Khứ Tây Xuyên. 20.三分社稷傳兩代。 20 Tam Phân Xã Tắc Truyền Lưỡng Đại. 21.四十年來又一變。 21 Tứ Thập Niên Lai Hựu Nhất Biến. 22.相傳馬上同無半。 22 Tương Truyền Mã Thượng Đồng Vô Bán. 23.兩頭點火上長安。 23 Lưỡng Đầu Điểm Hỏa Thượng Trường An. 24.委鬼山河通一佔。 24 ủy Quỷ San Hà Thông Nhất Chiêm. 25.山河既屬普無頭。 25 San Hà Kí Chúc Phổ Vô Đầu. 26.離亂中分數十穐。 26 Li Loạn Trung Phân Số Thập 穐. 27.子中一硃不能保。 27 Tý Trung Nhất Chu Bất Năng Bảo. 28.江東覆立作皇洲。 28 Giang Đông Phúc Lập Tác Hoàng Châu. 29.相傳一百五十載。 29 Tương Truyền Nhất Bách Ngũ Thập Tái. 30.釗到兔儿平四海。 30 Chiêu Đáo Thố Nhân Bình Tứ Hải. 31.天命當頭六十年。 31 Thiên Mệnh Đương Đầu Lục Thập Niên. 32.肅頭蓋草生好歹。 32 Túc Đầu Cái Thảo Sinh Hảo Đãi. 33.都無真主管江山。 33 Đô Vô Chân Chủ Quản Giang San. 34.一百年前擾幾番。 34 Nhất Bách Niên Tiền Nhiễu Ki Phiên. 35.耳東入國人離亂。 35 Nhĩ Đông Nhập Quốc Nhân Li Loạn. 36.南隔長安北隔關。 36 Nam Cách Trường An Bắc Cách Quan. 37.水龍木易承天命。 37 Thủy Long Mộc Dịch Thừa Thiên Mệnh. 38.方得江山歸一定。 38 Phương Đắc Giang San Quy Nhất Định. 39.五六年來又不祥。 39 Ngũ Lục Niên Lai Hựu Bất Tường. 40.此時天下又紛爭。 40 Thử Thời Thiên Hạ Hựu Phân Tranh. 41.木下男儿火年起。 41 Mộc Hạ Nam Nhân Hỏa Niên Khởi. 42.一掃煙塵木易已。 42 Nhất Tảo Yên Trần Mộc Dịch Dĩ. 43.高祖世界百餘年。 43 Cao Tổ Thế Giới Bách Dư Niên. 44.雖見幹戈不傷體。 44 Tuy Kiến Cán Qua Bất Thương Thể. 45.子繼孫承三百春。 45 Tý Kế Tôn Thừa Tam Bách Xuân. 46.又遭離亂似瓜分。 46 Hựu Tao Li Loạn Tự Qua Phân. 47.五十年來二三往。 47 Ngũ Thập Niên Lai Nhị Tam Vãng. 48.不真不假亂為君。 48 Bất Chân Bất Giả Loạn Vi Quân. 49.金豬此木為皇帝。 49 Kim Trư Thử Mộc Vi Hoàng Đế. 50.未經十載遭更易。 50 Vị Kinh Thập Tái Tao Canh Dịch. 51.肖郎走齣在金猴。 51 Tiếu Lang Tẩu Xích Tại Kim Hầu. 52.穩穩清平傳幾世。 52 ổn ổn Thanh Bình Truyền Ki Thế. 53.一汴二杭事不巧。 53 Nhất Biện Nhị Hàng Sự Bất Xảo. 54.卻被鬍人通佔了。 54 Khước Bị Hồ Nhân Thông Chiêm Liễu. 55.三百年來棉木終。 55 Tam Bách Niên Lai Miên Mộc Chung. 56.三閭海內去潛蹤。 56 Tam Lư Hải Nội Khứ Tiềm Tung. 57.一兀為君八十載。 57 Nhất Ngột Vi Quân Bát Thập Tái. 58.淮南忽見紅光起。 58 Hoài Nam Hốt Kiến Hồng Quang Khởi. 59.八雙牛來力量大。 59 Bát Song Ngưu Lai Lực Lượng Đại. 60.日月同行照天下。 60 Nhật Nguyệt Đồng Hành Chiếu Thiên Hạ. 61.土猴一兀自消除。 61 Thổ Hầu Nhất Ngột Tự Tiêu Trừ. 62.四海衣冠新綵畫。 62 Tứ Hải Y Quan Tân Thải Họa. 63.三百年來事不順。 63 Tam Bách Niên Lai Sự Bất Thuận. 64.虎頭帶土何鬚問。 64 Hổ Đầu Đái Thổ Hà Tu Vấn. 65.十八孩儿跳齣來。 65 Thập Bát Hài Nhân Khiêu Xích Lai. 66.蒼生方得囌危睏。 66 Thương Sinh Phương Đắc Tô Nguy Khốn. 67.相繼春穐二百餘。 67 Tương Kế Xuân 穐 Nhị Bách Dư. 68.五湖雲擾又風顛。 68 Ngũ Hồ Vân Nhiễu Hựu Phong Điên. 69.人丁口取江南地。 69 Nhân Đinh Khẩu Thủ Giang Nam Địa. 70.京國重新又一遷。 70 Kinh Quốc Trọng Tân Hựu Nhất Thiên. 71.兩分疆界各保守。 71 Lưỡng Phân Cương Giới Các Bảo Thủ. 72.更得相安一百九。 72 Canh Đắc Tương An Nhất Bách Cửu. 73.那時走齣草田來。 73 Na Thời Tẩu Xích Thảo Điền Lai. 74.手執金龍步玉□。 74 Thủ Chấp Kim Long Bộ Ngọc □. 75.清平海內中華定。 75 Thanh Bình Hải Nội Trung Hoa Định. 76.南北同歸一統排。 76 Nam Bắc Đồng Quy Nhất Thống Bài. 77.誰知不許乾坤久。 77 Thùy Tri Bất Hứa Kiền Khôn Cửu. 78.一百年來天上口。 78 Nhất Bách Niên Lai Thiên Thượng Khẩu. 79.木邊一兔走將來。 79 Mộc Biên Nhất Thố Tẩu Tướng Lai. 80.自在為君不動手。 80 Tự Tại Vi Quân Bất Động Thủ. 81.又為棉木定山河。 81 Hựu Vi Miên Mộc Định San Hà. 82.四海無波二百九。 82 Tứ Hải Vô Ba Nhị Bách Cửu. 83.王上有人雞上火。 83 Vương Thượng Hữu Nhân Kê Thượng Hỏa. 84.一番更變不鬚說。 84 Nhất Phiên Canh Biến Bất Tu Thuyết. 85.此時建國又一人。 85 Thử Thời Kiến Quốc Hựu Nhất Nhân. 86.君正臣賢乘輔拔。 86 Quân Chính Thần Hiền Thừa Phụ Bạt. 87.平定四海息幹戈。 87 Bình Định Tứ Hải Tức Cán Qua. 88.二百年來為社稷。 88 Nhị Bách Niên Lai Vi Xã Tắc. 89.二百五十年中好。 89 Nhị Bách Ngũ Thập Niên Trung Hảo. 90.江南走齣釗頭卯。 90 Giang Nam Tẩu Xích Chiêu Đầu Mão. 91.大好山河又二分。 91 Đại Hảo San Hà Hựu Nhị Phân. 92.幸不全亡莫嫌小。 92 Hạnh Bất Toàn Vong Mạc Hiềm Tiểu. 93.兩人相見百忙中。 93 Lưỡng Nhân Tương Kiến Bách Mang Trung. 94.治世能人一張弓。 94 Trị Thế Năng Nhân Nhất Trương Cung. 95.江南江北各平定。 95 Giang Nam Giang Bắc Các Bình Định. 96.一統山河四海同。 96 Nhất Thống San Hà Tứ Hải Đồng. 97.二百年來為正主。 97 Nhị Bách Niên Lai Vi Chính Chủ. 98.一渡顛危猴上水。 98 Nhất Độ Điên Nguy Hầu Thượng Thủy. 99.别枝花開果儿紅。 99 Biệt Chi Hoa Khai Quả Nhân Hồng. 100.覆取江山如舊許。 100 Phúc Thủ Giang San Như Cựu Hứa. 101.二百年來衰氣運。 101 Nhị Bách Niên Lai Suy Khí Vận. 102.任君保重成何濟。 102 Nhậm Quân Bảo Trọng Thành Hà Tế. 103.水邊田上米郎來。 103 Thủy Biên Điền Thượng Mễ Lang Lai. 104.直入長安加整頓。 104 Trực Nhập Trường An Gia Chỉnh Đốn. 105.行仁行義立乾坤。 105 Hành Nhân Hành Nghĩa Lập Kiền Khôn. 106.子子孫孫三十世。 106 Tử Tử Tôn Tôn Tam Thập Thế. 107.我今只算萬年終。 107 Ngã Kim Chỉ Toán Vạn Niên Chung. 108.剝覆循環理無窮。 108 Bác Phúc Tuần Hoàn Lý Vô Cùng. 109.知音君子詳此數。 109 Tri Âm Quân Tử Tường Thử Số. 110.今古存亡一貫通。 110 Kim Cổ Tồn Vong Nhất Quán Thông. Trân trọng.
  17. Hay quá. Biểu tượng âm dương chính là hai con nòng nọc, nảy sinh từ Nước. Hồng Bàng: Hồng tiếng Hán là nhiều nước, Bàng là tổ tức là tổ nước. Vấn đề ngôn ngữ này không biết có đúng không? Kính.
  18. Ánh trăng & mùa Xuân trong bài thơ Tanka Nhật Bản NSGN: Lời người dịch: Phần trích dịch dưới đây nằm trong đoạn đầu của bài diễn văn nhận giải Nobel văn chương của Yasunari Kawabata, đọc tại Hàn Lâm viện Thụy Điển vào tháng 12 năm 1968, với nhan đề “Japan, the Beautiful and Myself”.(1) Tanka (đoản ca: 短 歌), là thể loại thơ độc đáo của Nhật Bản, gồm 31 âm tiết. Kawabata muốn giới thiệu những bài thơ này để nêu bật tinh thần Nhật Bản về thơ ca trong bài diễn văn của mình. Người dịch những bài thơ này đã mạo muội phóng tác thành những câu thơ mang hơi thở Việt Nam. Rõ ràng đó là việc làm dễ mắc phải sai lầm, một phần, vì qua ngôn ngữ thơ ca, dịch phẩm phải giống như việc tái tạo một sản phẩm mà điều may mắn hy vọng đạt được là tinh thần cốt tủy của sản phẩm cũ không sai lệch là bao, phần khác, người dịch đã chuyển từ bản dịch Anh ngữ chứ không phải từ nguyên ngữ Nhật Bản. Đó là lý do người dịch viết những lời này, với niềm mong mỏi bạn đọc bỏ qua cho những sai lầm lệch lạc, và đón nhận bài viết này nhẹ nhàng như cơn gió nhẹ thoảng qua, không ảnh hưởng gì đến ai cả. Mỗi lần có ai đó nhờ tôi viết vài câu thư pháp, tôi thường viết hai bài thơ sau đây, bài thứ nhất của tu sĩ Dogen (1200-1253), mà ông ta gọi là Bản lai diện mục (Innate Spirit), và bài thứ hai, của tu sĩ Myoe (1173-1232). “In the spring, cherry blossoms, in the summer the cuckoo. In autumn the moon, and in winter the snow, clear, cold”.(2) Mùa xuân đỏ thắm anh đào Tiếng cu bàng bạc điệu chào, hạ ơi! Trăng thu trong sáng gọi mời Tuyết đông lành lạnh tinh khôi bốn bề. “The winter moon comes from the clouds to keep me company. The wind is piercing, the snow is cold”(3). Trăng ngời ngọc sau làn mây hiển hiện Để cùng tôi qua mộng thực đôi bờ Ngọn gió buốt như hòa trong thớ thịt Trắng mênh mang màu tuyết lạnh hoang sơ. Trước bài thứ hai, Myoe ghi thêm những dòng sau, như một lời giải thích cho ý nghĩa chủ đạo của bài: “Vào đêm 12 tháng 12 năm 1224, mặt trăng đang ẩn khuất sau làn mây. Tôi bước vào điện Kakyu để ngồi thiền. Lúc nửa đêm, tôi ngừng thiền định, bước ra ngoài sảnh điện để đi xuống tầng dưới, tôi bắt gặp ánh trăng hiện ra sau màn mây và lan tỏa bàng bạc trên tuyết trắng. Và ánh trăng kia đối với tôi như một bạn đồng hành, đến nỗi, tiếng chó sói tru lên dưới thung lũng cũng chẳng hề làm tôi khiếp sợ. Rồi lúc sau, tôi rời hạ điện bước ra ngoài, ánh trăng lại khuất vào trong mây. Khi tiếng chuông ngân báo hiệu giờ cầu kinh lúc tàn đêm, tôi lại đi lên sảnh điện, ánh trăng đã dõi theo tôi trên con đường tôi bước. Tôi lại ngồi thiền, mặt trăng như đuổi theo mây để sau cùng chìm khuất trong ánh mặt trời đang hồng lên cho ngày mới, mặc dầu vậy, dường như với tôi, ánh trăng kia vẫn còn theo tôi trong tâm tưởng như một bạn đồng hành bí mật”. Sau bài thơ đã dẫn ở trên, là bài thơ sau, mà có thể đoạn cuối những lời dẫn của Myoe đã cho thấy rằng ẩn ngữ một vầng trăng đã khuất dần sau núi kia vẫn còn ngân vang trong lòng tác giả: “I shall go behind the mountain. Go there too, O moon. Night after night we shall keep each other company.”(4) Ta sẽ về bên kia núi, Trăng ơi! Em cũng về theo, mộng song hành Đêm lại rồi đêm ta sánh bước, Em là ta hay ta lại là em? Một lần khác, có thể là sau những thời khắc thiền định, hoặc khi bước đi lúc trời rạng sáng trên đường về chánh điện, Myoe đã viết thế này: “Vừa mở đôi mắt ra sau thời gian thiền định, tôi đã bắt gặp vầng trăng lúc trời tảng sáng, ánh trăng dìu dịu qua cửa sổ. Tôi cảm thấy ánh sáng dường như đang ngập tràn đến cả những góc phần tăm tối nhất của tâm hồn mình, và dường như ánh sáng đó đến từ ánh trăng muôn thuở”. Theo đó, Myoe đã viết bài thơ: “My heart shines, a pure expanse of light; And no doubt the moon will think the light its own.”(5) Sáng cả lòng ta dòng tinh khiết Hay chính là trăng nhập cõi hồn? Myoe thường được mệnh danh là thi sĩ của ánh trăng, bởi những dòng thơ trăng thanh thoát, bởi những dòng thơ như sự thảng thốt diệu kì, như tiếng kêu ngây thơ tự nhiên bật ra tâm hồn, như sự hứng khởi tuôn trào không mục đích: “Bright, bright, and bright, bright, bright, and bright, bright. Bright and bright, bright, and bright, bright moon.”(6) Trong ba bài thơ về ánh trăng, từ nửa khuya đến lúc trời rạ ng sáng, Myoe đã tuân thủ khuynh hướng thi pháp mà Saigyo đã sử dụng. Saigyo cũng là một thiền sư - thi sĩ, người đã tại thế vào khoảng 1118 đến 1190, ông đã nói: “Dù tôi có làm thơ chăng nữa, tôi vẫn không nghĩ về chúng như là những bài thơ tôi đã soạn”.(7) Trong ba mươi mốt âm tiết, ông đã tạo nên một bài thơ, trung thực, trực chỉ vào thực tại sinh động, dường như thể ông với trăng là một, chứ không đơn thuần là “đồng hành với trăng”. Nhìn trăng, ông trở nên trăng, và trăng cũng chính là ông khi nó là đối tượng được ngắm nhìn. Ông chìm vào thiên nhiên, và ông trở thành một cùng nhiên giới. Ánh sáng từ trái tim trong sáng (clear heart) của vị thiền sư đang thiền định từ nửa đêm đến gần rạng sáng đã trở thành ánh trăng, và bởi vậy, trăng vẫn sáng dù ngày lên hửng đỏ một góc trời. Như ta đã thấy trong lời dẫn của Myoe trước bài thơ nói trên, ở đó, ánh trăng mùa đông đã trở thành bạn đồng hành, nó chính là tâm của vị thiền sư, một ánh trăng đã từ sau làn mây tỏa sáng rồi chìm vào bầu trời tôn giáo và triết học, vĩnh viễn, ánh trăng và thiền sư đã lan tỏa vào nhau trong một hòa điệu tuyệt vời, mà bài thơ bất quá chỉ như một bật thốt tình cờ để diễn tả nên điều rất khó diễn bày. Đó cũng là lý do mà tôi nghĩ đến bài này đầu tiên khi có ai nhờ viết cho một bức thư pháp, với tôi, cảm xúc của bài thơ thật nhẹ nhàng phiêu hốt, một niềm đam mê thật bay bổng khinh an. Ánh trăng kia giữa bầu trời đông tuyết, nấp sau mây rồi hé lộ dần, rồi lại núp sau mây và lại hiển bày, tỏa sáng trên mỗi bước chân ta, khiến ta không còn sợ sói dữ. Phải chăng, hỡi trăng ơi, gió chìm vào trong em, gió lạnh mơn man em và tuyết trắng không làm em buốt giá? Tôi chọn bài thơ này, quả thực, tôi đã chọn một bài thơ ấm nồng, sâu lắng, bài thơ của niềm đam mê thanh thoát, trong tĩnh lặng khôn dò, trong thảng thốt suy tư ăm ắp cả một tinh thần Nhật Bản. Tiến sĩ Yashiro Yukio, một nhà nghiên cứu nổi tiếng về nhà danh họa Botticelli(8), một học giả uyên thâm về nghệ thuật từ cổ chí kim và từ Đông sang Tây, đã đúc kết tinh thần nghệ thuật Nhật Bản đặc trưng qua chỉ một câu thơ: “Ta nghĩ đến bạn bè ta mỗi khi nhìn hoa, ngắm tuyết, ngó trăng thanh”. Mỗi khi nhìn vẻ đẹp tuyệt vời của tuyết, mỗi lần thưởng ngoạn ánh trăng tròn vời vợi, hay say đắm trước vẻ xinh tươi của những khóm anh đào, mỗi khi để lòng chìm trong các bức họa hay bị đánh thức bởi vẻ mỹ miều của bốn mùa thay sắc, ta thường nghĩ đến những người gần ta nhất, những kẻ thương yêu, và trong ta khao khát niềm ước mong chia sẻ cảm giác hoan lạc này. Chính kích thích của mỹ cảm đã đánh thức các cảm xúc trong ta, đánh thức niềm khát khao đồng hành, khát khao những mối chân tình huynh đệ, và khi đó, từ “bằng hữu” (comrade) trở thành đặc trưng đầy ý nghĩa của hai tiếng “con người” (human being). Tuyết, trăng, những khóm hoa, những từ ngữ diễn tả bốn mùa, trong truyền thống Nhật Bản, đó là những từ ngữ hòa quyện vào nhau để nêu bật lên vẻ đẹp muôn thuở của núi, sông, cây cỏ, để diễn đạt thiên nhiên sâu lắng và muôn hồng nghìn tía, cũng như diễn đạt cảm xúc của con người khi chiêm nghiệm. Cái tinh thần đó, cái tinh thần khát khao tình huynh đệ khi đi trong tuyết, khi đứng dưới trăng, khi ngắm nhìn hoa ngàn cỏ nội, cũng chính là tinh thần căn bản trong nghi thức uống trà. Trong cảnh quan tươi đẹp thích hợp nào đó, bằng hữu gặp nhau, ngồi bên tách trà, hòa điệu một niềm giao cảm trước đất trời vạn đại, và động thái thưởng trà kia được nâng lên thành nghi thức, mà như người ta nói, ấy là Trà đạo. Tiện đây, tôi muốn đề cập đến tiểu thuyết Ngàn Cánh Hạc (Thousand Cranes) của mình, một cuốn tiểu thuyết thường được bạn đọc hiểu sai là tôi muốn ngợi ca vẻ đẹp hình thức và tinh thần của nghi thức uống trà đó. Nhưng ngược lại, tôi muốn diễn đạt mối hoài nghi cũng như cảnh báo mọi người về tính thông tục hợm người mà các nghi thức uống trà hiện nay đang sa ngã. “In the spring, cherry blossoms, in the summer the cuckoo. In autumn the full moon, in winter the snow, clear, cold”. Mùa Xuân đỏ thắm anh đào Tiếng cu bàng bạc điệu chào, hạ ơi! Trăng thu trong sáng gọi mời Tuyết đông lành lạnh tinh khôi bốn bề Một ai đó sẽ nghĩ rằng trong bài thơ đó của Dogen, đơn giản chỉ là sự miêu tả thiên nhiên một cách thông thường, xoàng xĩnh, một sự kể lể tầm thường bốn mùa thay nhau nối tiếp. Ai đó cũng có thể nghĩ rằng thơ gì như vậy mà cũng là thơ, chẳng có thơ có mộng gì với những từ bình thường ghép nhau như thế. Tuy nhiên, ta hãy nghe một bài tương tự viết lúc lâm chung của Thiền sư Ryokan (1758-1831): “What shall be my legacy? The blossoms of spring, The cuckoo in the hills, the leaves of autumn”.(9) Em thừa kế giùm tôi ngàn hoa thắm Tiếng chim kêu đồi mộng thuở ban sơ Tôi để lại cho trần gian muôn thuở Lá vàng thu, những khoảnh khắc không ngờ! Ở bài thơ này, cũng tương tự bài của Dogen, những ảnh hình và từ ngữ bình thường nhất đã hòa quyện trong nhau một cách trôi chảy, mà đặc biệt, nó đã truyền cho ta tinh thần cốt tủy của Nhật Bản. Bài thơ vừa trích dẫn trên là bài thơ cuối cùng trong cuộc đời của Thiền sư - Thi sĩ Ryokan. “A long, misty day in spring: I saw it to a close, playing ball with the children. The breeze is fresh, the moon is clear. Together let us dance the night away, in what is left of old age. It is not that I wish to have none of the world, It is that I am better at the pleasure enjoyed alone”.(10) Tôi đang đùa với trẻ con Trời sương trùm phủ lối mòn cỏ xuân Trăng thanh, gió nhẹ thật gần Một trời thân thiết, vang ngân giọng đàn Nhảy đi em, điệu muôn vàn Tiếng lòng kim cổ, nhạc vàng xưa sau Rồi nghe đất chuyển muôn màu Này hương vũ trụ bên cầu cô đơn Vòng tay ôm trọn xuyên sơn Một mình chiêm bái nguồn cơn vĩnh hằng! Yasunari Kawabata- Nguyễn Văn Nho biên dịch (1) Literature 1968-1980, Editor-in-Charge Tore Frängsmyr, Editor Sture Allén, World Scientific Publishing Co., Singapore, 1993. (2) Vào mùa xuân, những khóm anh đào, tiếng cu gù mùa hạ. Mùa thu, ánh trăng trong, và mùa đông, tuyết lạnh. (3) “Trăng mùa đông đến từ sau những đám mây để đồng hành cùng tôi/ Gió thổi buốt, và tuyết lạnh”. (4) “Tôi sẽ về sau núi, em cũng thế trăng ơi./ Rồi từng đêm, ta sẽ giữ bước song hành”. (5) “Tâm hồn tôi tỏa sáng, thứ ánh sáng lan rộng thuần khiết; Và không còn hồ nghi gì nữa, trăng cũng nghĩ rằng đó chính là ánh sáng của chính mình”. (6) “Sáng, sáng, ôi sáng, sáng, sáng, và sáng, sáng/ Sáng, cứ sáng hoài, sáng, sáng và sáng mãi, ánh trăng!”. (7) “Though I compose poetry, I do not think of it as composed poetry”. (8) Botticelli (1445 - 1507), họa sĩ nổi tiếng người Ý. (9) “Di sản của tôi ư? Những khóm hoa mùa Xuân/Chim gù trên đồi vắng, những chiếc lá thu bay”. (10) “Một ngày dài mùa xuân đầy sương: Tôi thấy bầu trời thật gần gũi khi đang chơi cầu cùng con trẻ. Cơn gió nhẹ trong lành, ánh trăng sáng tỏ. Ta hãy cùng nhau khiêu vũ suốt đêm thâu, trong điệu múa lời ca từ xa xưa đọng lại. Chẳng phải tôi ao ước cô độc giữa thế giới này, mà chính bởi khi chỉ còn lại một mình, tôi vui thú biết bao trong niềm cô đơn bất tuyệt”.
  19. Thông điệp của Bồ Tát Địa Tạng đến Phật tử qua kinh Địa Tạng Bổn Nguyện Published on Monday, 13 August 2012 16:21 Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện là một bộ Kinh nói về công đức, oai lực của Bồ Tát Địa Tạng thường được các Chùa chiền tự viện tại các quốc gia theo khuynh hướng Đại Thừa khai tụng trong suốt tháng bảy, đặc biệt là vào dịp lễ Vu Lan, tức là mùa báo hiếu cha mẹ, tổ tiên theo truyền thống của người con Phật. Bộ Kinh này đã được Hoà Thượng Trí Tịnh dịch từ Hán Tạng ra tiếng Việt. Lý Do Ra Đời Của Kinh Địa Tạng. Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện được mở đầu bằng câu nói quen thuộc của Ngài A Nan: "Ta nghe như vầy", có nghĩa là bộ Kinh này đã được Ngài A Nan ghi nhớ lại lời Phật giảng dạy và sau đó truyền tụng cho đại chúng. Ngay điểm mở đầu này có thể tạo nên một số nghi hoặc đối với đại chúng nhất là những người có một số hiểu biết về lịch sử Phật giáo, vì ai cũng biết rằng Ngài A Nan chỉ đắc quả A La Hán và đạt được thần thông sau khi Phật nhập diệt, chỉ vài giờ trước khi Ngài Ma Ha Ca Diếp triệu tập Đại Hội Tăng già kết tập Kinh điển lần thứ nhất. Như vậy, với tư cách là một phàm Tăng, người ta tự hỏi, làm sao ngài A Nan có thể đi cùng với Phật lên cung trời Đao Lợi để nghe Phật thuyết Pháp? Tuy nhiên, để giải tỏa mối nghi ngờ này, ta nên hiểu rằng, trước khi nhận làm thị giả chính thức cho Đức Phật, Tôn giả A Nan đã ra 8 điều kiện và được Phật chấp nhận, trong đó điều kiện thứ tám nêu rõ: "Nếu Đức Thế Tôn thuyết Pháp trong lúc A Nan vắng mặt, thì ông xin Đức Bổn Sư lặp lại bài Pháp ấy cho ông nghe.” Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện do Đức Phật Thích Ca diễn nói tại cung trời Đao Lợi, tức là từng trời thứ hai trong sáu từng trời của cõi Dục giới nơi mà Thánh Ma Gia, thân mẫu của Đức Phật đã thác sanh về đây sau khi hạ sanh Đức Phật được 7 ngày. Trước khi nhập Niết Bàn, vì cảm ơn đức sanh thành, Đức Phật đã diễn nói Kinh Địa Tạng tại Pháp hội ở cung trời này. Như vậy, Kinh Địa Tạng ra đời trước tiên là do lòng hiếu thảo của Đức Phật đối với bậc sanh thành, Ngài đã tưởng nghĩ đến mẹ khi biết rằng mình sẽ không còn trụ thế bao lâu nữa nên đã lập Pháp hội tại cung trời Đao Lợi để độ thoát cho thân mẫu. Đây là một Pháp hội vô cùng quan trọng vì có sự hiện diện đông đủ của chư Phật khắp mười phương thế giới, chư Đại Bồ Tát như Quán Âm, Văn Thù, Phổ Hiền... cùng các chúng Trời, Rồng, Quỉ, Thần khắp các cõi. Diễn nói Kinh Địa Tạng trong Pháp hội này vì thế mang một ý nghĩa vô cùng lớn lao. Là bậc Cha lành trong bốn cõi, không một việc làm nào dù nhỏ hay lớn mà Đức Thế Tôn lại không nghĩ đến lợi lạc của tất cả Pháp giới chúng sanh. Trong Pháp hội này Ngài vì thân mẫu mà thuyết Pháp nhưng động cơ chính vẫn là lòng từ bi lân mẫn đối với chúng sanh ở cõi Ta bà, đặc biệt là đối với những chúng sanh cang cường đầy tội khổ, khó khai hóa mà Ngài biết chắc chắn là sẽ "bị đọa vào đường dữ chịu nhiều sự thống khổ", vì thế trong Pháp hội này Ngài đã phó chúc cho Bồ Tát Địa Tạng nhiệm vụ "gắng độ chúng sanh trong cõi Ta bà đến lúc Phật Di Lặc ra đời, đều đặng giải thoát, khỏi hẳn các điều khổ, gặp Phật, được Đức Phật thọ ký.” (Quyển Thượng Phẩm Thứ Hai: Phân Thân Tập Hội). Như vậy nội dung chính yếu của Kinh Địa Tạng xoay quanh chữ Hiếu, nói lên những bổn phận, nghĩa vụ của người sống đối với người đã quá vãng, cũng như nêu bật những tội phúc quả báo ở kiếp sống bên kia để người Phật tử nương theo Kinh này cùng dựa vào oai lực độ trì, gia hộ của Bồ Tát Địa Tạng để tu tập, hầu độ thoát cho chính mình, cho người thân cũng như tất cả chúng sanh đã quá vãng khỏi rơi vào con đường ác. Hành Trạng Và Đại Nguyện của Bồ Tát Địa Tạng Bồ Tát Địa Tạng là nhân vật như thế nào mà lại được Đức Phật giao phó một trọng trách lớn lao và khó khăn như thế? Bồ Tát Địa Tạng là một vị Đại Bồ Tát thường được nhắc nhở đến trong rất nhiều Kinh điển Đại thừa vì công năng, oai lực của vị Bồ Tát này vô cùng lớn lao. Nếu chúng ta tôn xưng Đức Từ Phụ là Ta bà Giáo chủ thì Bồ Tát Địa Tạng cũng đã được tôn xưng như là vị U Minh Giáo Chủ, tức là người tiếp trợ, giúp đỡ các chúng sanh ở thế giới bên kia, tức là cõi âm. Ngài là nơi nương tựa, nguồn an ủi của những oan hồn vất vưởng không nơi nương tựa đến những linh hồn vì ác nghiệp bị giam giữ và trừng phạt tận các tầng địa ngục. Tên gọi của Ngài cũng đã mang một ý nghĩa như thế. Địa là đất cũng có nghĩa là dày chắc, Tạng là cất giấu, chứa đủ. Danh hiệu của Ngài hàm ý rằng Ngài là đại địa bao la, nơi ẩn chứa những kho tàng quý giá, tức thiện căn. Địa Tạng vì thế như là hình ảnh của một người mẹ thiên nhiên ôm ấp, bảo bọc, che chở tất cả muôn loài không phân biệt. Chẳng thế mà Đức Thế Tôn đã lên tiếng tán dương: "Địa Tạng! Địa Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không thể nghĩ bàn, biện tài của ông không thể nghĩ bàn." Bồ Tát Địa Tạng đã đạt đến quả vị này là do một phát tâm từ bi dõng mãnh muốn cứu vớt tất cả những khổ đau của chúng sanh, đặc biệt là những chúng sanh đang chịu khổ nạn trong địa ngục, được huân tập qua một quá trình tu tập trải qua hằng hà sa số kiếp, trong đó một vài kiếp nổi bật đã được Đức Phật nhắc lại trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện như sau: Vị Trưởng giả dưới thời Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai: Trong kiếp này Ngài là một vị Trưởng giả, đã lập nguyện độ thoát tất cả chúng sanh bị khốn khổ mới chứng thành Phật đạo. Hiếu nữ Bà La Môn dưới thời Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật: Trong kiếp này Ngài là một thiếu nữ Bà La Môn hết lòng sùng kính Tam Bảo nhưng bà mẹ lại là một người mê tín tà đạo, khinh chê Tam Bảo. Vì ác nghiệp này mà sau khi chết bà đã bị đọa vào địa ngục vô gián. Tuy không biết mẹ mình thác sanh về nơi nào nhưng Thánh nữ biết rằng với những tội lỗi mà bà đã gây ra, chắc chắn sẽ bị đọa vào con đường ác. Là một người con hiếu thảo, đau lòng vì thương nhớ mẹ, Thánh nữ đã tu tạo phước lành và cầu khẩn oai lực của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật giúp đỡ. Nhờ đó mà thân mẫu của bà chẳng bao lâu sau đã được vãng sanh lên cõi trời. Từ đây Thánh nữ lập nguyện: "Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát." Vị tiểu vương dưới thời Phật Nhất Thiết Trí Thành Tựu Như Lai: Trong kiếp này Ngài là quốc vương của một nước nhỏ, thương yêu dân như con, luôn thực hành mười hạnh lành làm lợi ích cho nhân dân. Tuy nhiên dân chúng của vương quốc này tánh tình rất ngang ngược, hung ác. Do đó Ngài đã phát nguyện rằng: "Nếu chưa độ hết những chúng sanh tội khổ đều đặng an vui chứng quả Bồ đề, thời tôi nguyện chưa thành Phật." Hiếu nữ Quang Mục dưới thời Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai: Cũng như câu chuyện của Thánh nữ Bà La Môn, Quang Mục là một thiếu nữ rất hiếu thảo đối với mẹ. Sau khi mẹ mất, nàng băn khoăn không biết mẹ mình nay đã thác sanh về đâu. Nhờ lòng hiếu thảo và công đức cúng dường một vị La Hán đầy phước đức, Quang Mục biết được mẹ đang chịu khổ nạn tại địa ngục do hai tội ác giết hại sanh vật và chê bai mắng nhiếc người khác gây ra lúc còn tại thế. Do phước lực của nàng và oai lực của Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, bà mẹ sau đó đã phải trở lại đầu thai vào làm con của người đầy tớ trong nhà Quang Mục chịu kiếp hạ tiện cho đến năm 13 tuổi mới được vãng sanh về cõi trời. Nàng Quang Mục vì thương mẹ mà đã phát nguyện rộng lớn như sau: "Từ ngày nay nhẫn về sau đến trăm ngàn muôn ức kiếp, trong những thế giới nào mà các chúng sanh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địa ngục, súc sanh, và ngạ quỉ, v.v... Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới trở thành bậc Chánh Giác." Đức Thế Tôn đã vì mẹ mà tìm đến cung trời Đao Lợi. Tôn giả Xá Lợi Phất trước khi biết mình sắp nhập Niết Bàn đã quay về mái nhà xưa để độ thoát cho mẹ già. Trong những câu chuyện về tiền kiếp của Bồ Tát Địa Tạng được Đức Phật nhắc lại ở trên, hai hình ảnh nổi bật nhất vẫn là hai thiếu nữ hiếu thảo hết lòng cứu mẹ. Chữ Hiếu như thế, rất quan trọng trong đạo Phật. Biết thương yêu mẹ mới biết thương yêu chúng sanh. Hiểu được những nỗi khổ mà mẹ đang chịu đựng mới có thể hiểu được những nỗi khổ của chúng sanh. Từ đó mới phát đại nguyện cứu vớt chúng sanh. Phật, Bồ Tát, Thánh Tăng khi đã chia xẻ kiếp người, cũng chia xớt với chúng ta những tình cảm như thế, cho nên chúng ta, những người con Phật, những hiếu tử, có ai nghĩ về mẹ mà không nước mắt rưng rưng? Nhưng làm thế nào để giúp mẹ, để cứu vớt những người thân trong lúc lâm chung hay đã qua đời? Kinh Địa Tạng cùng với công năng, oai lực của Bồ Tát Địa Tạng sẽ giúp ta thực hiện được điều đó. Công Năng, Oai Lực của Bồ Tát Địa Tạng và Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện Công năng, oai lực của Bồ Tát Địa Tạng bao trùm khắp ba cõi Trời, Người và cõi âm. Nói theo danh từ nhà Phật, oai lực đó là không thể nghĩ bàn. Riêng trong cõi thế gian này, Đức Thế Tôn qua Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện đã cho chúng ta biết rằng bất cứ chúng sanh nào hoặc được nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát rồi chí tâm quy y hoặc cúng dường, chiêm ngưỡng, tô vẽ hình tượng, đảnh lễ Bồ Tát, chắc chắn sẽ đạt được những lợi ích lớn lao sau đây: 1. Lợi ích trong cuộc sống hiện tại: ---------------------------- Những nguyện lớn mau chóng thành tựu: Những ước muốn mong cầu trong đời hiện tại hoặc vị lai, chắc chắn sẽ được thành tựu. Tất cả những ai phát nguyện lớn lao, muốn cứu độ chúng sanh, muốn đạt đạo quả Bồ đề đều được oai lực của Bồ Tát trợ giúp để đạt thành ý nguyện. Được trí huệ lớn: Đối với những người kém trí nhớ, nghe rồi quên, Kinh điển đọc tụng bao nhiêu lần cũng không nhớ nỗi, Phật dạy nên dùng một chén nước trong để trước tượng Bồ Tát một ngày một đêm rồi chí tâm cung kính quay mặt về phương Nam thỉnh nước này để uống, sau đó phải kiêng cử rượu thịt, các thứ hành, hẹ, tỏi... giữ gìn 5 giới trong vòng 7 hoặc 21 ngày sẽ thấy hiệu nghiệm. Tai Nạn Tiêu Trừ: Tất cả những ai luôn bị tai vạ theo đuổi, thân luôn mang tật bệnh, gia đạo không an, người thân ly tán... Nếu chuyên tâm trì tụng danh hiệu của Bồ Tát từ một muôn biến trở lên, tất cả mọi hoạn nạn sẽ dần dần được tiêu trừ. Thoát khỏi hiểm nguy: Nếu gặp cảnh ngộ phải xông pha vào chốn hiểm nguy, trước khi ra đi chuyên tâm niệm danh hiệu của Bồ Tát trên một muôn biến, sẽ thoát khỏi khổ nạn hiểm nguy. Tiêu tội chướng, bệnh tật: Những người bị bệnh thập tử nhất sinh, nằm liệt giường, sống dở chết dở, đó là do nghiệp đạo luận tội chưa đi đến quyết định dứt khoát nên khó chết cũng như khó lành. Trong lúc này người thân nên dùng tài sản, vật qúy của người bệnh tô vẽ hình tượng, cúng dường Bồ Tát rồi báo cho người bệnh biết cũng như trì tụng Kinh này thì người đó vì nghiệp báo mà phải mang lấy bệnh nặng sẽ được hết bệnh, sống lâu, còn như nếu hết nghiệp lúc chết các nghiệp chướng sẽ được tiêu trừ, không còn bị đọa vào ba đường ác mà sẽ được vãng sanh về cõi Trời. Được quỉ thần hộ vệ: Những người cung kính đảnh lễ, dùng các hình thức văn mỹ nghệ ca ngợi Bồ Tát Địa Tạng, khuyến khích những người khác cùng làm theo như thế, trong đời này cũng như ở những kiếp sau, họ sẽ được trăm nghìn quỉ thần luôn theo hộ vệ ở bên mình, không còn bị mắc vào những tai họa nữa. 2. Lợi ích cho kiếp sau: ------------------------- Thoát khỏi nữ thân: Những người nữ nào không muốn mang thân gái ở kiếp sau, hàng ngày thành kính cúng dường, chiêm ngưỡng, đảnh lễ Địa Tạng Bồ Tát sẽ được như ý nguyện. Được thân xinh đẹp: Những người nữ hiện tại mang thân hình xấu xí, hay ốm đau bệnh tật trong những kiếp tới sẽ được thân hình xinh đẹp, sinh vào nơi quyền qúy cao sang nếu cung kính đảnh lễ, trì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng. Thoát kiếp nô lệ: Những người sinh ra trong kiếp tôi đòi, nô lệ nếu thành tâm trì tụng danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng liên tiếp trong 7 ngày, đủ một muôn biến, kiếp tới sẽ không còn sinh vào nơi hạ tiện nữa. 3. Lợi ích trước phút lâm chung. --------------------------- Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện có thể xem là một quyển Kinh gối đầu giường, một cuốn chỉ Nam cho người Phật Tử khi phải đối diện hoàn cảnh một người thân yêu của mình sắp mạng chung. Đây là giây phút hệ trọng nhất của một linh hồn sắp giã từ cõi thế, khi mà tất cả những ham muốn, dục vọng của cả một đời người tích tụ lại thành một năng lực quyết định cho hướng đến của kiếp tương lai. Giống như sĩ tử trong kỳ thi cuối cùng, đây chính là thời điểm thử thách, cân lường thiện nghiệp, ác nghiệp của một đời người trước khi chuyển kiếp. Trong lúc này, Đức Thế Tôn cho ta biết, "thần thức của người chết đang hôn mê, mờ mịt, những quỉ thần, ma đạo đôi lúc còn biến hình ra cha mẹ, những người thân thuộc để lôi kéo họ vào ác đạo, ngay cả đối với những người đã tạo nghiệp lành trong hiện thế." (Quyển Trung Phẩm Thứ Tám Các Vua Diêm La Khen Ngợi). Cho nên vai trò của người thân lúc này rất quan trọng. Họ phải ở bên cạnh người sắp lâm chung, liên tục trì tụng danh hiệu Phật, Bồ Tát làm sao cho lọt được vào lỗ tai người chết, như vậy các ma quỉ, ác thần mới lui tan đi chỗ khác. Đức Phật cũng cho biết những công việc cần làm của thân nhân trong suốt 49 ngày khi linh hồn người chết đang còn vất vưởng, luôn trông ngóng thân quyến cốt nhục tu tạo phước đức làm hành trang, vốn liếng cho họ được nhẹ bước siêu linh. Nỗ lực chính yếu của thân nhân trong thời gian này nên được thể hiện bằng những hành động tích cực như không được giết hại sinh vật, cúng tế thần linh, ma quỉ. Sau 49 ngày thì người chết sẽ tùy theo nghiệp mà nhận lấy quả báo. Có lẽ quyển "Tạng Thư Sống Chết" của Phật giáo Tây Tạng là quyển sách diễn tả một cách khá rõ ràng về những giai đoạn biến chuyển của thần thức hay thân trung ấm (bardo) con người từ giây phút lâm chung cho đến 49 ngày sau đó, phù hợp với giáo lý mà Đức Phật đã diễn nói trong Kinh Địa Tạng. Trong phần "Các cảnh báo trước nơi tái sanh" tác giả cho biết: "Những người nào phải sanh vào địa ngục sẽ nghe những tiếng như những lời than vãn và sẽ bị bắt buộc phải đi vào một cách không cưỡng lại được. Sẽ hiện ra những khoảng tối mù mịt, những ngôi nhà màu đen và trắng, những lỗ đen ngòm trong đất, những con đường tối om mà người ta sẽ phải đi theo. Bước vào đó là người ta vào địa ngục và sẽ phải đau khổ vì quá nóng, quá lạnh... và sẽ phải chịu đựng lâu dài mới ra khỏi được.” Bởi vậy, đối với người đang hấp hối, sự hiện diện bên cạnh của vị Bổn sư hay của một vị thiện trí thức mà đương thời người hấp hối kính trọng, tin tưởng, đọc tụng cho họ những bổn Kinh hay trì niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ Tát, cụ thể là Bồ Tát Quán Thế Âm hay Bồ Tát Địa Tạng hoặc vị Bồ Tát nào mà lúc sinh thời người đó đã chọn thờ kính làm vị Đại sư của mình tương tự như vị Thánh bổn mạng của người Thiên chúa giáo sẽ giúp ích lớn lao cho người chết được mau chóng siêu thăng về cõi Phật. 4. Lợi ích đối với người quá vãng. ------------------------------ Siêu độ vong linh: Tại sao trong giấc ngủ ta nằm mơ thấy ma quỷ, hoặc hình ảnh những người lạ tạo cho ta những ấn tượng lo buồn, hoặc kinh sợ đến đổi phải thở than, khóc lóc hoặc kinh hoảng trong giấc mơ? Đức Phật giải thích cho ta biết đó là do linh hồn những thân quyến của ta đã chết trong kiếp này hay những kiếp trước bị đọa vào ác đạo nên tìm đến ta để mách bảo hy vọng rằng vì tình cốt nhục ta sẽ tìm cách giúp họ thoát ra khỏi con đường ác đạo. Để giúp cho những vong linh này được siêu độ, Phật dạy ta nên chí tâm đảnh lễ trước hình tượng của chư Phật hay Bồ Tát rồi tự mình đọc tụng Kinh này hoặc nhờ người khác đọc tiếp từ 3 đến 7 biến tức thời những linh hồn thân quyến kia sẽ được giải thoát không còn hiện về trong giấc mơ nữa. Gặp lại người thân đã quá vãng: Những người nào gặp cảnh cha mẹ mất sớm từ lúc vừa mới sanh ra cho đến trong vòng mười tuổi, hoặc có anh chị em, quyến thuộc đã qua đời, sau này khi họ lớn lên, nhớ tưởng đến những người đã quá vãng? không biết thác sanh về đâu, trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, Phật dạy rằng hễ cứ mỗi lần nghe danh hiệu hoặc chiêm ngưỡng hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng thì cung kính đảnh lễ một lần trong suốt một ngày đến 7 ngày, những thân quyến quá vãng dù có bị đọa vào ác đạo cũng được siêu thăng lên cõi Trời. Nếu thực hiện công hạnh này đủ 21 ngày và trì tụng một muôn biến danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng sẽ được Ngài hiện về trong giấc mơ mách bảo cho biết nơi thác sanh hoặc Ngài sẽ dẫn đến tận nơi để gặp lại người thân đã qua đời. Quan Niệm Về Địa Ngục, Tội Phước Nghiệp Báo Trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện Có thể xem Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện là quyển Kinh nói rõ nhất về thế giới bên kia tức cõi âm, về địa ngục và những trừng phạt, về tội phước và nghiệp báo. 1. Về địa ngục: ------------------- Một vấn nạn mà các triết gia Đông Tây thường nêu ra để tìm lời giải đáp là sau khi chết thần thức, tức linh hồn của con người sẽ đi về đâu? Phải chăng có cõi địa ngục hiện diện ở thế giới bên kia và nếu có qua đó những kẻ gây ác nghiệp sẽ bị trừng phạt như thế nào? Câu trả lời của Phật giáo rất rõ ràng. Trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, Đức Phật đã trả lời dứt khoát cho ta biết là có địa ngục và có sự trừng phạt. Ngài chỉ rõ rằng những người sinh ra trong đời này hoặc mang kiếp nghèo hèn, hoặc gia đình quyến thuộc kình chống nhau, hoặc thân hình xấu xí tàn tật, đui, điếc, câm ngọng, không lưỡi, miệng lở, điên cuồng mất trí, chết yểu,... hoặc sinh làm chim chóc, súc sanh... đều là những chúng sanh đã tạo ác nghiệp từ thân khẩu ý từ những kiếp trước, sau khi chịu qủa báo ở đời này, nếu không tu tập, họ sẽ còn tiếp tục bị "đọa vào địa ngục trải qua nhiều kiếp không lúc nào thoát khỏi.” Ta tin lời Phật dạy là có địa ngục, nhưng địa ngục đó như thế nào? Để trả lời những thắc mắc của Thánh mẫu Ma Gia cũng như Bồ Tát Phổ Hiền nêu ra trong Pháp hội, Bồ Tát Địa Tạng đã tóm lược ra cho ta biết tất cả những loại địa ngục, qua đó nạn nhân phải nhận chịu những hình thức trừng phạt hết sức kinh khủng bởi những khí cụ tra tấn ghê rợn trong từng các loại địa ngục, mà trong đó nặng nề nhất là địa ngục Vô Gián. Đọc đến đoạn Kinh này, những người mang tinh thần duy lý có thể sẽ nêu nghi vấn, đặt vấn đề: Con người chỉ cảm nhận được đau đớn khi có xác thân, nhưng sau khi chết rồi, xác thân tan rả thì những hình phạt, tra tấn đâu có tác dụng gì nữa, như vậy phải chăng địa ngục chỉ là sự hù dọa của Tôn giáo đối với những kẻ yếu bóng vía? Ta hãy xem Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện giải thích như thế nào về vấn đề này. Địa ngục là gì? Trả lời Bồ Tát Phổ Hiền, Ngài Địa Tạng nêu rõ: "Đó là do chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề làm những điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra những địa ngục như thế" và ngay cả các khí cụ tra tấn cũng được giải thích, "Khí cụ là do các hạnh nghiệp quấy ác của chúng sanh mà cảm vời ra." (Quyển Thượng Phẩm Thứ Năm: Danh Hiệu của Địa Ngục). Thiết tưởng câu trả lời trên đây đã diễn tả đầy đủ ý nghĩa về địa ngục. Địa ngục hiện hữu là do nghiệp của mỗi chúng sanh mà CẢM ra. Có lẽ phải cần một cuốn sách hay nhiều cuốn sách mới giải thích một cách đầy đủ quan niệm "tùy nghiệp chiêu cảm", tuy nhiên để có thể hình dung một cách cụ thể thì nếu ta gây nghiệp ác, linh hồn ta sẽ không ngớt bị dày vò, chịu trừng phạt đau đớn sau khi chết giống như ta đang sống trải qua một cơn ác mộng. Trong ác mộng, tuy xác thân ta không bị hành hạ nhưng ta cũng cảm thấy đau đớn, lo lắng, kinh hải, ta cũng rên la than khóc, đổ mồ hôi hột trước những sự khủng khiếp mà ta đang chịu đựng trong giấc mơ; nhưng may mắn cho ta, thần thức ta có chỗ dựa là xác thân, khi sự kinh khủng lên đến cao độ ta tỉnh mộng và tìm được lối thoát. Nhưng sau khi chết, linh hồn ta sẽ không còn chỗ dựa, ta không còn lối thoát nào nữa, cơn ác mộng do đó sẽ kéo dài bất tận do những nghiệp ác gây nên, cho đến khi nào nghiệp ác tự tiêu diệt hoặc ta được những nguyện lực có khả năng cứu rổi ta siêu thoát qua cảnh giới khác. Hiểu Địa ngục như thế để thấy cảm thương cho cha mẹ, thân quyến của ta, của tất cả chúng sanh vì nghiệp ác phải trả trong địa ngục, để hướng từ bi tâm của ta nguyện cầu cho họ mau chóng siêu thoát hoặc tích cực hơn, trì tụng Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện để nhờ oai lực của Bồ Tát cứu vớt họ đến những cảnh giới an lạc. 2. Vấn đề tội phước nghiệp báo: -------------------------------- Khi ta tin có Địa ngục tức là ta tin có vấn đề tội phước nghiệp báo, trong Kinh Địa Tạng bổn nguyện Đức Thế Tôn đã cho ta biết như thế. Mọi việc xảy ra ở trên đời này không có gì là ngẫu nhiên. Ta như thế nào trong kiếp sống hiện tại là kết qủa của nghiệp báo gây ra từ những kiếp trước. Chính nghiệp tốt hay xấu của một người gây ra do thân, khẩu, ý trong đời này lại sẽ là lực quyết định tương lai cho những kiếp tới của cá nhân đó mà không là gì khác. Nghiệp là một nhà phán quan vô tư không sai chạy. Hay ta có thể hình dung ra nghiệp như là một nhà kế toán với phương tiện điện toán hiện đại nhất mà tất cả những hành động tốt xấu của ta xảy ra sẽ được nó lưu trữ vào bộ nhớ (memory) không sót một chi tiết nào. Đến giờ lâm tử, nó mới bắt đầu giở sổ sách ra để tính toán với ta. Từ đó cánh cửa mở ra để ta bước vào cõi Phật, cõi Trời, hoặc đầu thai trở lại làm người, làm súc sanh, hay đi về địa ngục... Vấn đề luân hồi, tái sinh ngày nay không còn là một vấn đề siêu hình, trừu tượng nữa mà đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà khoa học thực nghiệm. Hàng ngàn trường hợp đã được kiểm chứng một cách khoa học và được phổ biến qua báo chí, sách vở. Ba nhà tiên phong trong lãnh vực này là Bác sĩ Ian Stevenson nguyên Giáo sư Đại học Y Khoa Louisiana State University, Trưởng khoa Thần Kinh Trường Đại học Y Khoa University of Virginia; Tiến sĩ Bác sĩ Raymond Moody, Jr., thường trú tại bệnh viện Đại học Y Khoa University of Virginia và đặc biệt là Bác sĩ Nha Khoa Bruce Goldberg, hiện có phòng mạch tại Los Angeles, CA đã dùng "Thôi miên trị liệu Pháp" (Hypnotherapy) để cho bệnh nhân nhớ lại tiền kiếp. Trường Đại học Y Khoa Florida, Hoa Kỳ, đã mở hẳn phân khoa "Thôi miên trị liệu Pháp", dùng phương pháp thôi miên để khám phá những căn bệnh mà họ không thể xác định được căn nguyên. Với phương pháp này họ có khả năng làm cho người bệnh nhớ lại tiền kiếp của mình và nhờ đó mà khỏi bệnh. Bản báo cáo của Trường Đại học này có ghi lại là trường hợp của một bệnh nhân bị chứng đau bụng dưới kinh niên. Cơn đau kinh khủng đến độ bệnh nhân tưởng như cơ thể, đất trời phải nổ tung ra, không thể chịu đựng nỗi. Các phương tiện y khoa đều bó tay không tìm ra nguyên nhân căn bệnh, cuối cùng phải nhờ đến phương thức trị liệu mới. Nhờ phương thức này mà các bác sĩ chữa trị đã giúp bệnh nhân nhớ lại một trong những tiền kiếp của mình, khi anh là một cai tù tại một quốc gia Nam Mỹ dưới thời thống trị của đế quốc Tây Ban Nha vào thế kỷ thứ 15. Anh là một cai tù rất hung bạo. Những tù nhân nào qua tay anh đều bị anh mang giày bốt đá vào bụng dưới; những nạn nhân này không bị dập gan, dập ruột thì cũng bể bao tử, đau đớn vô cùng. Thấy được tiền kiếp này anh cảm thấy vô cùng hối hận và lành bệnh. Chính BS. Bruce Goldberg trong tác phẩm của ông, "Past lives, Future lives" cũng đã kể lại trường hợp ông đã chữa lành bệnh mù mắt cho một thiếu nữ khi cho bệnh nhân này thấy lại tiền kiếp của mình. (Sđd, trang 100 - 106). Đức Thế Tôn trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện cũng đã nêu ra một số thí dụ điển hình về tội phước nghiệp báo. Ngài cho biết những hạng Tăng ni giả danh, phá giới, phạm trai, những người chế diễu, phỉ báng những kẻ tu hành thì chắc chắn sẽ bị đọa và ngục Vô Gián, hoặc sanh làm cầm thú đói khát suốt đời; nếu những người chuyên sát sanh hại vật thì kiếp tới sẽ bị chết yểu; những người không bao giờ toại chí, trong cuộc sống làm việc gì cũng thất bại là vì kiếp trước họ hà tiện, bỏn xẻn, chẳng hề giúp người; những người hay chửi bới mắng nhiếc, nói lời thô ác thì bị quả báo không lưỡi, miệng lở, hoặc nội bộ gia đình quyến thuộc không an ổn, kình chống lẫn nhau; những người đời này mang thân xấu xí, tàn tật là do kiếp trước hay nóng giận... Là Phật tử, khi đã hiểu rõ về tội phước nghiệp báo như thế, nếu ta có gặp phải những bất hạnh trong kiếp sống này thì nên nỗ lực tu tập để hy vọng được sanh về những cảnh giới tốt đẹp hơn trong tương lai, còn nếu ta đang tận hưởng tất cả những hạnh phúc, sung sướng, giàu có, uy quyền trong kiếp sống hiện tại thì lại càng phải nỗ lực tu tập hơn nữa để tăng trưởng thiện nghiệp cho những kiếp sắp tới. Đức Thế Tôn vì lòng đại bi, thương yêu chúng sanh như con nên đã chỉ cho ta một con đường sáng tỏ như thế trong Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện. Lời dạy của Ngài không cao xa mà rất cụ thể, chỉ cho ta phương pháp thực hành rất dễ dàng để không còn bị rơi vào ác đạo: "Trong mỗi tháng những ngày: Mùng một, mùng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hăm ba, hăm bốn, hăm tám, hăm chín và ba mươi, mười ngày trên đây là ngày mà các nghiệp tội kết nhóm lại để định là nặng hay nhẹ... Trong mười ngày trai trên đây, nếu có thể mỗi ngày tụng một biến Kinh này." (Quyển Trung Phẩm Thứ Sáu Như Lai Tán Thán). Tu Tập, Hành Trì Theo Hạnh Nguyện Của Bồ Tát Địa Tạng Đọc tụng Kinh Địa Tạng, trì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng, ta phải thấy được hạnh nguyện cao cả của Ngài: "Nếu trong địa ngục còn một chúng sanh bị đau khổ, tôi thề sẽ không thành Phật", để từ đó những người phát tâm Bồ Tát nỗ lực tu tập, hành trì theo hạnh nguyện của Ngài, theo gót chân Ngài, nương theo oai lực của Ngài đi vào chốn địa ngục để cứu vớt những linh hồn bất hạnh hầu đền trả ơn Tam Bảo, ơn cha mẹ, tổ tiên. Nhưng địa ngục ở đâu? Có lẽ ta không cần phải tìm địa ngục ở đâu xa, bởi vì địa ngục không nhất thiết là ở thế giới bên kia, địa ngục tồn tại ngay trong kiếp sống này, trên thế giới này; bởi vì nơi nào có ngục tù, có giam cầm, tra tấn, có tiếng rên xiết, thở than là ở đó có địa ngục. Phật giáo là Tôn giáo của Từ Bi, ra đời vì những khổ đau của nhân loại, cho nên người Phật tử phải là những nhân tố tích cực có mặt hàng đầu tại những nơi khổ nạn mà chốn ngục tù là một thí dụ điển hình. Chưa hết, còn bao nhiêu oan hồn vất vưởng, nạn nhân của những cuộc chiến kinh hoàng, những phòng hơi ngạt, những trại tập trung, những trại cải tạo, trên Biển Đông, trong những ngục tù oan khuất... đang cần được siêu độ. Đọc tụng Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện, trì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng, được phần công đức nào ta nên hồi hướng đến những chúng sanh bất hạnh này và nguyện cầu cho linh hồn họ mau chóng siêu thoát. Địa ngục cũng có thể ở chung quanh ta, đó là môi trường không thoải mái mà ta phải sống hoặc làm việc. Đó là những người sống bên cạnh ta, là bạn đồng sở, hàng xóm láng giềng, thậm chí ngay cả cha mẹ, vợ chồng, anh em, con cái... những người ta không thích nhưng do nghiệp duyên ta phải gần gũi, chung đụng mà đôi khi họ đã tỏ ra rất độc ác, biến đời sống ta thành cõi địa ngục. Jean Paul Sartre, một triết gia nổi tiếng của Pháp đã từng nói "L”enfer c”est les autres" Địa ngục tức là những người chung quanh cũng trong ý nghĩa này. Địa ngục cũng ở ngay chính trong ta, đó là tham lam, giận dữ, hận thù, đố kỵ si mê, mù quáng... đã hàng ngày không ngớt xâu xé ta, biến ta thành những con người ngập chìm trong vô minh tăm tối, bị chế ngự bởi những thú tính thấp hèn. Tu theo hạnh nguyện của Bồ Tát Địa Tạng vì thế cũng có nghĩa là thể hiện những hành động tích cực biến cải chính con người ta, môi trường sống chung quanh ta từ địa ngục trở thành Tịnh Độ. Từ những công hạnh và nỗ lực tu tập này, người Phật tử thực hành Bồ tát đạo, khi giã từ cõi thế lập tức phát khởi tâm đại từ bi, dâng lời phát nguyện xin bước theo Bồ Tát Địa Tạng đi về chốn địa ngục để lập thêm công đức, cho đến khi nào Đức Phật Di Lặc chuẩn bị ra đời, ta lại xin được trở về cõi Trời Đâu suất, tiếp tục tu học để cùng với Phật Di Lặc trở lại cõi thế trong hội Long Hoa, xây dựng một cõi Tịnh độ mới cho nhân loại. Chắc chắn Ngài sẽ tiếp nhận ta. Hình ảnh của Bồ Tát Địa Tạng với khuôn mặt đôn hậu, từ ái, đầu đội mũ Tỳ lư, tay cầm Tích trượng là một hình ảnh luôn tỏa sáng trong tâm khảm của những người con Phật, đặc biệt là trong mùa Vu Lan báo hiếu. Chiếc Thiền trượng của Bồ Tát Địa Tạng đã, đang và sẽ gõ mãi vào cánh cửa địa ngục. Năng lực của tâm đại bi sẽ làm mở tung tất cả những cánh cửa hắc ám, làm tan rả những xiềng xích trói buộc, giải cứu tất cả những ai còn bị đọa đày trong cõi vô minh, tù ngục để từ đó những hạt giống Bồ đề, những hạt giống thương yêu sẽ nẩy mầm mạnh mẽ trong những linh hồn đau khổ của anh, của chị, của chúng ta, của tất cả những thân bằng quyến thuộc, đang sống hay đã qua đời... Đó chính là thông điệp của Kinh Địa Tạng Bổn Nguyện. Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát. Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. (Tâm Hà Lê Công Đa)
  20. Triệu Việt Vương đi theo 'vết xe đổ' của An Dương Vương? (ĐVO) Dù sống cách xa nhau về thời gian, nhưng ở An Dương Vương Thục Phán và Triệu Việt Vương Triệu Quang Phục, chúng ta nhìn thấy nhiều điểm trùng hợp đến ngẫu nhiên giữa hai tiền nhân này. Hãy cùng điểm qua điều đó. Nắm quyền bằng chuyển giao quyền lực Thục Phán theo sử cũ chép, vốn dòng dõi Thục Vương, vì đời tiền nhân của Thục Phán cầu hôn con gái Hùng Vương không được nên sinh cừu hận. Nhân khi Hùng Vương không phòng bị, Thục Phán cướp nước Văn Lang lập nên nhà nước mới. Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Hùng Vương bỏ không sửa sang võ bị, chỉ ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục Vương”. Tranh Minh Họa vua An Dương Vương trước lúc tự tận. Đại Việt sử lược (khuyết danh) thì chép ngắn gọn: “Cuối đời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi rồi lên thay.” Lên ngôi rồi, An Dương Vương đặt tên nước là Âu Lạc. Tên gọi này theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép lại theo Dư địa chí của Cổ Hi Phùng “Giao Chỉ về đời Chu gọi là Lạc Việt, về đời Tần gọi là Tây Âu”. Như vậy tên Âu Lạc là cách gọi kết hợp về cùng một địa danh. Tây Âu - Tâu Vu - Quảng Châu (nơi được quyền chế tác trống đồng sau Phong Châu) theo thiển ý của tôi. Nếu An Dương Vương nắm quyền lực sau khi truất ngôi Hùng Vương thì Triệu Quang Phục cũng nắm quyền từ một cuộc chuyển giao quyền lực, nhưng mang tính chất hòa bình. Sau khi lập nên nước Vạn Xuân năm Giáp Tý (544), Lý Nam đế - Lý Bí lại phải chống quân Lương do Trần Bá Tiên dẫn đầu sang xâm lược. Tháng 8 năm Bính Dần (546) bị thua ở hồ Điển Triệt (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay), “phải lui giữ ở trong động Khuất Lão để sửa binh đánh lại, ủy cho đại tướng là Triệu Quang Phục giữ việc nước” (Đại Việt sử ký toàn thư). Năm 548, Lý Bí bị bệnh chết ở động Khuất Lão, Triệu Quang Phục lên nắm quyền, tức là Triệu Việt Vương. Hai vị vua tài An Dương Vương từng đánh Hùng Vương, rồi đuổi quân xâm lược Triệu Đà. Nhưng bằng chứng hùng hồn nhất cho tài thao lược của ông phải kể đến đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc quân sự thời Âu Lạc, đó là thành Cổ Loa (vì thành có hình xoáy ốc, lại có tên là Trung Qui thành, thời Đường gọi là Côn Lôn thành, có ý nói là thành rất cao) với ba vòng thành Nội, thành Trung, thành ngoại, phối kết hợp với hào lũy từ dòng nước tự nhiên của sông Hoàng làm nên công trình quân sự kiên cố chống giặc xâm lược. Tranh minh họa vua Triệu Quang Phục ở Đàm Dạ Trạch. Bên cạnh đó, nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương còn có thứ vũ khí đáng sợ là nỏ liên châu, hay Linh Quang thần trảo mà dân gian gọi là nỏ thần, một lúc có thể bắn được nhiều mũi tên. Đối với Triệu Việt Vương, tài năng của ông thể hiện rõ qua việc được Lý Nam đế Lý Bí tin cẩn giao cho quyền bính, và hiện thực hóa qua kế đánh “trì cửu” (cầm cự lâu dài) với việc lấy đầm Dạ Trạch (tức đầm Một Đêm, thuộc Khoái Châu, Hưng Yên) làm đại bản doanh chống giặc Lương: “Ngày ngày, quân sĩ thay phiên nhau vừa luyện tập, vừa phát bờ, cuốc ruộng, trồng lúa, trồng khoai để tự túc binh lương. Ban ngày tắt hết khói lửa, im hơi lặng tiếng như không có người, đến đêm nghĩa quân mới kéo thuyền ra đánh úp các trại giặc, cướp được nhiều lương thực” (Việt sử tiêu án – Ngô Thì Sỹ). Nhờ cách đánh “trì cữu” đó năm Canh Ngọ (550), Triệu Quang Phục đánh đuổi quân Lương lấy lại được nước. Được thần giúp vũ khí An Dương Vương đắp thành Cổ Loa vừa làm kinh đô, vừa làm căn cứ chống giặc phương Bắc. Nhưng thành cứ đắp lại đổ, sau nhờ có thần Kim Quy giúp mới đắp không quá nửa tháng thì xong. Lại được thần “trút chiếc móng trao cho vua và nói: “Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nhưng người cũng nên phòng bị; nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà bắn thì không phải lo gì”. Vua sai bề tôi là Cao Lỗ làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim Trảo thần nỏ” (Đại Việt sử ký toàn thư). Nhờ có nỏ thần đó, quân Nam Việt năm lần bảy lượt xâm lược Âu Lạc đều thất bại. Còn Triệu Việt Vương khi đóng quân ở đầm Dạ Trạch, cũng là đầm nơi trước kia hai vợ chồng Tiên Dung – Chử Đồng Tử theo truyền thuyết đã bay lên trời. Quang Phục thấy quân Lương không rút lui, bèn đốt hương khấn trời thì có điềm tốt là được móng rồng để đính lên mũ đâu mâu, dùng để uy hiếp quân giặc. Đại Việt sử ký toàn thư chép lại việc này: “tục truyền rằng thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử bấy giờ cưỡi rồng vàng từ trên trời rơi xuống, rút móng rồng trao cho vua, bảo gài lên mũ đâu mâu mà đánh giặc. Từ đó thanh thế quân đội lừng lẫy, đánh đâu được đấy”. Như vậy, An Dương Vương và Triệu Việt Vương đều được thần giúp. Có một điều rất hay nữa là, vũ khí thần ở đây đều là của hai con vật thần thoại nằm trong bộ “Tứ linh” (long, lân, quy, phụng) và đều là chiếc móng. Rùa và rồng là hai con vật gắn liền với cư dân nông nghiệp lúa nước Việt Nam (rồng được thần thánh hóa từ hình tượng có thật là con rắn). Thông gia và kết cục - Hai kịch bản, một nội dung? An Dương Vương - Triệu Đà - Trọng Thủy - Mỵ Châu: Không xâm lược được nước Âu Lạc, Nam Việt Vương Triệu Đà giả thác hòa thân, dùng con bài hôn nhân chính trị để cướp nước. Trọng Thuỷ con Triệu Đà kết hôn với công chúa Mỵ Châu của An Dương Vương. An Dương Vương vì trọng hòa bình, hữu hảo mà tác thành, lại cho Trọng Thuỷ theo cái tục “Chuế tế” - gửi rể chỉ ở Trung Quốc đời Tần mới có (con trai không có tiền nộp sính lễ, lấy thân ở gửi nhà vợ nên gọi là chuế tế (ở gửi rể). Để rồi từ đây, Mỵ Châu với tình yêu dành cho chồng đã tiết lộ hết bí mật quân sự (móng rùa thần), quốc gia cho Trọng Thuỷ, An Dương Vương mất nước. Triệu Việt Vương - Lý Phật Tử - Nhã Lang - Cảo Nương: Vết xe đổ xảy ra ở thế kỷ 2 TCN của An Dương Vương còn đó, nhưng Triệu Việt Vương vẫn dẫm vào. Sau khi đánh đuổi quân Lương, Triệu Việt Vương giao tranh với Lý Phật Tử (vốn là bộ tướng của Lý Thiên Bảo là anh của Lý Bí) rồi vạch đôi sơn hà cai trị. Lý Phật Tử cũng như Triệu Đà, cho con trai mình Nhã Lang kết hôn với công chúa Cảo Nương của Triệu Việt Vương rồi đánh cắp bí mật quân sự (móng rồng) để rồi cướp nước. Năm Canh Dần, (570), Triệu Việt Vương mất nước về tay Lý Phật Tử. Dù ở hai thời khác nhau, nhưng An Dương Vương và Triệu Việt Vương đều bị kẻ thù lừa cùng một kịch bản: Hôn nhân, gửi rể - vợ tiết lộ bí mật quân sự cho chồng - thông gia cướp nước. Bí mật quân sự ở được nói tới là móng rùa thần, móng rồng, nhưng thực tế đó chính là việc Trọng Thuỷ, Nhã Lang phá vỡ sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ triều đình An Dương Vương, Triệu Việt Vương. Mất đi điều đó, dù có thành cao, hào sâu, vũ khí lợi hại bao nhiêu đi chăng nữa cũng mất nước. Mất nước, cả An Dương Vương, Triệu Việt Vương đều đem theo con gái yêu chạy về nam và cùng tìm đến biển làm nơi tự tận. An Dương Vương “xuống biển” ở xã Cao Xá ở Diễn Châu, Nghệ An. Còn Triệu Việt Vương chết ở cửa biển Đại Nha, nay thuộc Nghĩa Hưng, Nam Định. Cái chết của An Dương Vương cùng việc mất nước Âu Lạc mở đầu cho thời kỳ hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Còn Triệu Việt Vương mất nước, chỉ thời gian ngắn sau, với việc Lý Phật Tử hàng Tuỳ, nước ta lại rơi vào thân phận nô lệ. Theo BAODATVIET.VN
  21. OAN NGHIỆT LÂU ĐỜI GIỮ MỴ CHÂU VÀ TRỌNG THỦY Mỵ Châu xưa ngây thơ và trong trắng Tin yêu chàng Trọng Thủy hết lòng Trao lẫy nỏ khiến Cổ Loa Thành thất thủ: Ân oán chất chồng muôn kiếp âm u Hại cha chết và muôn dân tang tốc Tội sâu dày nhưng nàng có tội gì đâu. Oan khiên hỡi trời cao không kêu thấu Tội gì đây? Mỵ Châu tội chung tình Phút chiến chinh không muốn thất lạc với chồng mình Áo lông rải chỉ đường, thành phản tặc Bởi quá yêu thương đã biến thành oan trái Ôm mối hận trong lòng, Mỵ Châu chìm đắm mãi Oan khiên kia ai hóa giải cho nàng Không thể ngờ người tin yêu phản bội Tâm trong sạch oán hận thành u tối Mang trong tâm mối oán hận đời đời Không năng lực nào có thể đổi dời Chìm đắm mãi muôn đời không thể giải Càng tin yêu, càng hận thù nhau mãi… Đến hôm nay, được hóa giải mới tỉnh bừng Thần, tướng, vua, muôn dân không thể diễn tả nỗi mừng Năng lực ngài năng lực của tái sanh Năng lực của ngoài càn khôn vũ trụ Ngài cứu độ cho hồn con thoáng chốc Hiểu ngọn ngành xóa ân oán chất chồng Một sát na vâng phục, nhẹ tênh lòng Xóa sạch hết muôn vàn lời trách móc Xin nhận lại sự sáng trong của bản lai diện mục Lập tức siêu thăng bỏ oán hận chất chồng Vua cha nay cũng được hưởng ân hồng Cùng với muôn dân thời chiến chinh tàn sát Với muôn vạn sinh linh hàng tỷ năm đọa lạc Cùng đoàn viên, ngỡ ngàng vui hoang lạc Cất tiếng ca vang dậy cả địa đàng Năng lực ngài – lệnh ân điển phá buộc ràng Cho giải thoát về cội nguồn nguyên thủy Bởi u mê nên đời đời chìm đắm Nay hiểu rồi, tay lại nắm tay Thù hận oán ân xưa xóa sạch ngay “Bừng tỉnh dậy” trở về nơi cao đẹp Nguyên thủy tánh từ nay sanh bất diệt Không âm u trong đọa lạc mê lầm Chúng ta sinh ra đâu phải để thù hằn Lợi dụng tình yêu mưu lợi mặc dù Như thế ta cũng nên cởi niềm oán hận Mỵ Châu xin chàng cũng nên vâng lệnh Theo năng lực ngài ban ân điển thăng hoa Cùng xóa hận thù trở nên thương mến Chúng ta sinh ra đâu phải để hận thù Hãy vui vẻ trở về Nơi nguyên thủy cội nguồn không tranh chấp Và muôn đời mình không phải thiếu nhau.
  22. Kinh Đại Phương Quảng Thập Luân 18 Tháng 12 2009 Dẫn nhập Theo truyền thống văn hóa Phật giáo Bắc tông, ở các chùa viện thường có những lễ cúng trong tháng (lịch Âm), kỷ niệm về ngày khánh đản, xuất gia, hay thành đạo của chư Phật và các vị Bồ-tát. Đặc biệt trong tháng bảy có những ngày khánh đản Bồ-tát Đại Thế Chí (ngày 13), Địa Tạng (ngày 30), Long Thọ (ngày 24), Tổ sư Phổ Am (ngày 21) và ngày Phật hoan hỷ (ngày 15). Nhưng tại Việt Nam trong tháng 7, lâu nay chỉ thấy ghi chép, tổ chức, hành lễ ba ngày, là ngày Bồ-tát Đại Thế Chí, Bồ-tát Địa Tạng và ngày Phật hoan hỷ (Vu-lan thắng hội). Riêng ngày vía Bồ-tát Địa Tạng, nhằm ngày 30 tháng 7, có thể người ta theo truyền thuyết được ghi trong Tống cao tăng truyện quyển 20, tạng Đại chánh 50, số hiệu 2061, trang 838c11: Ngài Thích Địa Tạng, người giòng họ Kim thuộc vương quốc Tân-la (nay là Triều Tiên), tên Kim Kiều Giác (năm Vĩnh Huy thứ 4, ngài 24 tuổi cắt tóc đi tu)… cưỡi thuyền đến đất Giang Nam, ở huyện Thanh Dương, phủ Trì Châu có ngọn Cửu Tử (Cửu Hoa sơn), thích cảnh u tịch, ngài lưu lại đó tọa thiền 75 năm. Đến năm Khai Nguyên thứ 6, đời Đường, đêm 30 tháng 7 thì thành đạo. Năm Trinh Nguyên thứ 19 (803), ngài thị tịch, thọ 99 tuổi. Từ đó vị Địa Tạng họ Kim này được coi là hóa thân của Bồ-tát Địa Tạng. Nhân dịp Tập san Pháp Luân kỳ này hướng đến chủ đề Bồ-tát Địa Tạng, chúng tôi xin giới thiệu đến quí Phật tử một số bản kinh nói về công hạnh, đại nguyện cứu khổ của ngài. Toát yếu nội dung kinh I. Kinh Đại phương quảng thập luân (大方廣十輪經), còn gọi là kinh Phương quảng thập luân, Thập luân, 8 quyển, mất tên người dịch, được dịch vào thời Bắc Lương, tạng Đại Chánh 13, số 410, trang 681. Nội dung kinh này gồm 15 phẩm, kể về công đức của Bồ-tát Địa Tạng, đồng thời nói nếu nương vào 10 Phật luân (10 lực) và 10 y chỉ luân của Tam thừa thì có thể xoay chuyển 10 ác nghiệp luân. Bản dịch khác của kinh này là Đại thừa đại tập Địa Tạng thập luân (xem kinh thứ 2). II. Kinh Địa Tạng thập luân (地藏十輪經), gọi đủ là kinh Đại thừa đại tập Địa Tạng thập luân, 10 quyển, ngài Huyền Trang (600-664) dịch thời Đường, tạng Đại Chánh 13, số 411, trang 721. Kinh này tường thuật đức Như Lai nhân lời thưa hỏi của Bồ-tát Địa Tạng mà nói 10 thứ Phật luân (10 lực), có năng lực phá trừ 10 ác luân trong đời mạt pháp, và khen ngợi công đức Bồ-tát Địa Tạng. Mục đích kinh này nhằm dung hợp Tam thừa về Đại thừa, lại nhắm vào các Tỳ-kheo phá giới mà giải thích rõ về công đức “thắng tưởng”, và việc Bồ-tát Địa Tạng hiện tướng Sa-môn để cứu độ chúng sanh trong đời mạt pháp. Nội dung gồm 8 phẩm: 1. Phẩm Tựa; 2. Phẩm Thập luân; 3. Phẩm Vô y hành; 4. Phẩm Hữu y hành; 5. Phẩm Sám hối; 6. Phẩm Thiện nghiệp đạo; 7. Phẩm Phước điền tướng; 8. Phẩm Hoạch ích chúc lụy. III. Kinh Địa Tạng bồ-tát bổn nguyện (地藏菩薩本願經), 2 quyển, ngài Thật-xoa-nan-đà (Śikṣānanda, dịch Hỷ Học, 652-710, người nước Vu-điền) dịch thời Đường, tạng Đại Chánh 13, số 412, trang 777. Kinh này nói về công đức bản nguyện, thệ nguyện bản sinh của Bồ-tát Địa Tạng. Người đọc tụng kinh này có thể tiêu trừ vô lượng tội nghiệp và được lợi ích không thể nghĩ bàn. Nội dung 1. Phẩm Đao-lợi thiên cung thần thông (Thần thông tại cung Đao-lợi); 2. Phẩm Phân thân tập hội (Thân phân hoá qui tụ lại); 3. Phẩm Quán chúng sanh nghiệp duyên (Quán sát nghiệp quả chúng sanh); 4. Phẩm Diêm-phù chúng sanh nghiệp cảm (Nghiệp quả của người Diêm-phù); 5. Phẩm Địa ngục danh hiệu (Danh xưng địa ngục); 6. Phẩm Như Lai tán thán (Thế Tôn tuyên dương); 7. Phẩm Lợi ích tồn vong (Lợi ích người còn kẻ mất); 8. Phẩm Diêm-la vương chúng tán thán (Các vua Diêm-la xưng tụng); 9. Phẩm Xưng Phật danh hiệu (Xưng tụng danh hiệu chư Phật); 10. Phẩm Giáo lượng bố thí công đức duyên (trắc lượng công đức bố thí); 11. Phẩm Địa thần hộ pháp (Thần đất hộ trì); 12. Phẩm Kiến văn lợi ích (Ích lợi của sự thấy nghe); 13. Phẩm Chúc lụy nhân thiên (Thế Tôn ký thác). IV. Kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo (占察善惡業報經), còn gọi là kinh Địa Tạng Bồ-tát nghiệp báo, Địa Tạng Bồ-tát, 2 quyển, do ngài Bồ-đề-đăng (người Tây Vực) dịch thời Tuỳ, tạng Đại Chánh 17, số 839, trang 901. Nội dung kinh này nói Bồ-tát Địa Tạng phụng mệnh đức Phật, thuyết pháp cho chúng sanh ở đời mạt pháp nghe về việc cầu pháp lành. Quyển thượng nói rõ pháp xem xét nghiệp báo thiện ác. Quyển hạ thuật nghĩa chân thật của Đại thừa. V. Địa Tạng bồ-tát nghi quĩ (地藏菩薩儀軌), 1 quyển, do ngài Du-bà-ca-la (dịch là Thiện Vô Uý, người nước Ma-già-đà, Ấn Độ) dịch thời Đường, tạng Đại Chánh 20, số 1158, trang 652. Nội dung kinh thuật lại lúc đức Phật ở trên núi Khư-la-đề-da, Bồ-tát Địa Tạng muốn nói thần chú làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, sau khi được đức Phật hứa khả, Bồ-tát Địa Tạng liền nói ba loại thần chú: Đại, trung, tiểu, kế đến nói về cách vẽ tượng, sau đó nói về ấn chú, ấn Phổ cúng dường, Tổng thuyết tổng ấn, Thỉnh tán ấn, cuối cùng nói cách thành tựu 17 pháp hộ ma. VI. Kinh Địa Tạng Bồ-tát đà-la-ni (佛說地藏菩薩陀羅尼經), 1 quyển, không có tên người dịch, tạng Đại Chánh 20, số 1159B, trang 655. Nội dung kinh này nói về Đà-la-ni, công đức và thệ nguyện của Bồ-tát Địa Tạng. Đà-la-ni gồm 63 câu, người trì tụng Đà-la-ni này có thể diệt trừ tất cả khổ não. VII. Địa Tạng Bồ-tát thập trai nhật (地藏菩薩十齋日), 1 quyển, không có tên người dịch, tạng Đại Chánh 85, số 2850, trang 1300. Nội dung kinh này chỉ dạy 10 ngày ăn chay (giữ giới) trong tháng, là ngày: Mồng 1, Đồng tử xuống trần, giữ trai giới, và niệm Định Quang Như Lai thì thoát địa ngục đao thương, trừ tội 40 kiếp. Mồng 8, Thái tử xuống trần, giữ trai giới, và niệm Phật Dược Sư Lưu Ly Quang, thì thoát địa ngục phân uế, trừ tội được 30 kiếp. Ngày 14, Sát mệnh (xem xét tính mạng) xuống trần, giữ trai giới, và niệm nghìn đức Phật của Hiền kiếp, thì thoát địa ngục vạc sôi, trừ tội được một ngàn kiếp. Ngày 15, Ngũ đạo đại tướng quân xuống trần, giữ trai giới, và niệm Phật A-di-đà, thì không đọa địa ngục băng lạnh, trừ tội được 200 kiếp. Ngày 18, Diêm-la vương xuống trần, giữ trai giới, và niệm Bồ-tát Quan Thế Âm, thì không đọa địa ngục rừng kiếm, trừ tội được 90 kiếp. Ngày 23, … niệm Phật Lô-xá-na…; ngày 24, … niệm Bồ-tát Địa Tạng…; ngày 28, … niệm Phật A-di-đà…; ngày 29, … niệm Bồ-tát Dược Sư Thượng…; ngày 30, … niệm Phật Thích-ca Mâu-ni… Mười ngày trai này về sau có sự thay đổi, như nghìn đức Phật của Hiền kiếp trong ngày 14 được thay bằng Bồ-tát Phổ Hiền. Bồ-tát Địa Tạng trong ngày 18 được thay bằng Bồ-tát Quan Thế Âm… Những ngày trai này có thể xuất phát từ phẩm “Như Lai tán thán” của kinh Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện quyển thượng có nói, vào 10 ngày này kết tập các tội, quyết định nặng nhẹ, tất cả cử chỉ động niệm của chúng sanh ở cõi Ta-bà đều là nghiệp, đều là tội, huống chi còn giết hại, trộm cắp, nói dối, v.v… Nếu trong 10 ngày trai, đối trước tượng chư Phật, Bồ-tát, Hiền thánh đọc tụng kinh này… thì xung quanh không xảy ra tai nạn, những người trong nhà xa lìa đường ác. VIII. Kinh Địa Tạng bồ-tát (佛說地藏菩薩經), 1 quyển, không có tên người dịch, tạng Đại Chánh 85, số 2909, trang 1455. Nội dung kinh kể về Bồ-tát Địa Tạng ở thế giới Lưu Ly phương Nam, dùng thiên nhãn thanh tịnh quán chúng sanh thọ khổ trong địa ngục, không chịu được cảnh ấy, Ngài mới đến địa ngục cùng vua Diêm-la phán xét, và cũng vì sợ vua Diêm-la đoán xử sai, hoặc chưa đúng tội mà xử chết... Đồng thời, nếu có thiện nam, thiện nữ nào đọc tụng, biên chép kinh Địa Tạng, vẽ hình tượng, hay niệm danh hiệu ngài, thì khi lâm chung đều được Ngài tiếp dẫn về thế giới Tây phương cực lạc... IX. Kinh Địa Tạng bồ-tát phát tâm nhân duyên thập vương (佛說地藏菩薩發心因緣十王經), gọi tắt kinh Địa Tạng thập vương, hay Thập vương kinh, 1 quyển, do Sa-môn Tạng Xuyên ở chùa Từ Ân phủ Thành Đô soạn, thuộc Tục tạng (chữ Vạn 卍) tập 1, số 20, trang 404a6. Nội dung kinh này nói việc người chết chịu sự phán xét thiện ác ở điện Thập vương cõi âm phủ, về nhân duyên phát tâm cũng như bản nguyện của Bồ-tát Địa Tạng và chỉ rõ tiền thân vua Diêm-La chính là Bồ-tát Địa Tạng. Cuối cùng dùng bài kệ nói về Phật tính để kết thúc kinh. Lời kết Nói đến kinh Địa Tạng, hay hình ảnh về Ngài, thì không còn mập mờ, mơ hồ trong tâm tưởng của người Phật tử nữa, qua những buổi lễ cầu siêu, người thân quá vãng, ai ai cũng tụng đọc, trì niệm kinh Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện và chiêm ngưỡng tôn tượng Ngài với hình tướng Thanh văn (xuất gia), tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm hạt minh châu, ngồi trên tòa sen, hay cỡi con linh thú Đế thích. Nhưng đứng về phương diện lịch sử, một số bản kinh trên không thấy ghi chép xuất xứ vào thời điểm nào, ngay cả kinh Địa Tạng bồ-tát bổn nguyện là bản kinh trì tụng thông dụng, được nhiều bậc Trưởng lão, Kỳ túc phiên dịch, chú giải, như Hòa thượng Trí Tịnh, Hòa thượng Trí Quang; Hòa thượng Tuyên Hoá (Tổng hội Phật giáo thế giới ở Vạn Phật Thánh Thành - Hoa Kỳ dịch ra Việt 1 bản, Cố thượng tọa Thích Chánh Lạc - Học viện Hải Đức, Nha Trang dịch 1 bản), cư sĩ Chánh Trí - Mai Thọ Truyền, đều không thấy đề cập gì đến giai đoạn lịch sử của kinh. Nhưng hạnh nguyện dấn thân nhập thế, thao thức trách nhiệm cứu khổ nhân sinh của Bồ-tát Địa Tạng là tinh thần Bồ-tát đạo, mà tinh thần Bồ-tát đạo bắt đầu từ thời điểm kinh Pháp hoa xuất hiện, tức khoảng 700 năm sau đức Phật nhập diệt (khoảng cuối thế kỷ thứ II Dương lịch); dựa vào chứng cứ là ngài Long Thọ (Nāgārjuna) tác giả bộ Đại trí độ luận, sống vào cuối thế kỷ thứ II, trong đó có trích dẫn kinh Pháp hoa. Kinh Pháp hoa là đại biểu cho đạo Bồ-tát, ca ngợi hạnh nguyện các vị Bồ-tát: Quan Thế Âm, Trì Địa, Thường Bất Khinh, v.v… và một trong 4 đặc chất của Bồ-tát là nguyện lực “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Vậy thệ nguyện của Bồ-tát Địa Tạng: “Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ-đề. Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật”, cũng có thể minh chứng kinh văn viết về Bồ-tát Địa Tạng xuất hiện cùng thời với kinh Pháp hoa hay sau đó? Chúng ta cố gắng tìm hiểu, xác định những bản kia có vào giai đoạn lịch sử nào, để biết thêm ngài Địa Tạng có thật hay núp bóng huyền thoại đều không quan trọng; quan trọng là chúng ta nên hiểu, các vị Bồ-tát dù ở vào thời gian nào cũng luôn luôn gánh vác trách nhiệm cứu độ chúng sanh, hạnh nguyện đó tiếp nối từ kiếp này qua kiếp khác, không bao giờ gián đoạn. Và chúng sanh tu thành Phật hay Phật thị hiện để hóa độ chúng sanh đều nhờ vào nhân cách Bồ-tát mà thực hiện. Do vậy, mà trong phẩm Tựa, kinh Đại phương quảng thập luân quyển 1, kinh Chiêm sát thiện ác nghiệp báo quyển thượng, kinh Địa Tạng Bồ-tát bổn nguyện quyển 1, phẩm “Phân thân tập hội” đều nói ngài biến hóa vô lượng thân khác nhau mà thuyết pháp, “hoặc hiện rừng núi, dòng nước, đồng bằng, sông ngòi… làm lợi ích cho mọi người, ai cũng được độ thoát”. Do đó, trong thế giới hiện nay, biết đâu nơi tối tăm đói khổ, chiến tranh triền miên, dịch bệnh hoành hành, môi trường ô nhiễm… Bồ-tát Địa Tạng, hình ảnh Thanh văn tướng lại ẩn tàng qua một con người khác, bằng mọi phương tiện, Ngài luôn mang lại an lạc cho nhân loại và cứu nguy khắp cõi Ta-bà này. Danh hiệu của Ngài còn nhắc nhở chúng ta một điều mà trong khoa nghi có bài tán: “Khể thủ bản nhiên tịnh tâm địa, vô tận Phật tạng đại từ tôn.” Nghĩa là “Địa Tạng chính là kho tàng tâm linh vô tận, chứa đựng tuệ giác từ bi và sự thanh tịnh sẵn có trong mỗi một chúng sanh mà tất cả đều nên quay về đảnh lễ”. Văn tán ấy là dựa vào định nghĩa trong kinh Đại Tỳ-lô-giá-na thành Phật kinh sớ 5, T39n1796, tr. 635c2: Địa Tạng Bồ-tát là “chủ trì kho báu vô biên công đức phát khởi từ bản tánh của tâm địa”. Vậy, trong mỗi chúng ta đều có đức Địa Tạng Bồ-tát dấn thân, nhập thế, cứu mình cứu người và một ngài Diêm chúa phán xét thiện ác nơi mình, phá vỡ gông cùm chốn địa ngục tâm.■
  23. Về An Dương Vương (phần I) Những tài liệu xưa nhất của Việt Nam còn lại là Việt điện u linh, Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái và Đại Việt sử ký toàn thư đều ghi chép về sự tồn tại của thời kỳ lịch sử An Dương Vương và nước Âu Lạc trong giai đoạn đầu của lịch sử Về An Dương Vương Trần Quốc Vượng, Đỗ Văn Ninh Những tài liệu xưa nhất của Việt Nam còn lại là Việt điện u linh, Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái và Đại Việt sử ký toàn thư đều ghi chép về sự tồn tại của thời kỳ lịch sử An Dương Vương và nước Âu Lạc trong giai đoạn đầu của lịch sử Việt Nam. Tiếp những tập sách trên, Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú,... cũng có ghi chép về An Dương Vương và nước Âu Lạc với nội dung tương tự. VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU Sơ qua về tình hình nghiên cứu trước đây: Qua những tài liệu này chúng ta thường hiểu An Dương Vương họ Thục, tên Phán, người đất Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay), con của vua Thục, nhân vì không mãn ý trong việc cầu hôn của tổ phụ với con gái Hùng Vương là Mỵ Nương mà mang quân đánh đổ Hùng Vương, lập nước Âu Lạc, làm vua xưng là An Dương Vương, xây thành Cổ Loa... Cho tới cuối thế kỷ XIX, một số sử thần nhà Nguyễn mới tỏ ý hoài nghi những ghi chép trên. Họ cho là Âu Lạc "hoặc giả ở ngoài cõi tây bắc giáp liền với nước Văn Lang" và Thục Vương không phải là người Ba Thục. Tiếp đó Nguyễn Văn Siêu trong một bài thơ chữ Hán đã phủ quyết những điều ghi chép của sử cũ, không công nhận có thành vua Thục ở đất quận Giao Chỉ. Dưới thời thuộc Pháp, Ngô Tất Tố cho rằng: "Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục". Tràn Trọng Kim cũng lặp lại các ý kiến của sử thần nhà Nguyễn. Một số học giả Pháp như H. Maxpêrô, trong bài Vương quốc Văn Lang, cho An Dương Vương chỉ là một "nhà vua thần thoại", hoặc như A.G. Ôđricua đã kết luận: "Trước nhà Hán thì không có lịch sử An Nam"[1]. Một vài học giả khác như G. Đuymuchiê và R.Đêpie thì chỉ mô tả sơ sài bề ngoài thành Cổ Loa, mô tả ngày lễ đền Thượng và lịch sử cũ hay văn bia nói về An Dương Vương... Đối với nhân dân, đặc biệt nhân dân quanh vùng Cổ Loa thì trước sau như một có một lòng tin vững chắc hơn nữa không còn đặt vấn đề có hay không có - vào giai đoạn lịch sử này. Một khi truyền thuyết phong phú gắn chặt với từng địa danh, từng di tích lịch sử, từng phong tục tập quán thành một khối thống nhất gợi lại một thời kỳ lịch sử xem ra như vừa đầy đủ, vừa chặt chẽ, vừa hợp lý thì khó có ai tỏ nổi một nỗi hoài nghi. Đền thờ An Dương Vương và tượng vua Thục, am thờ Mỵ Châu với pho tượng đá cụt đầu cùng giếng Trọng Thủy như chứng minh sự có thật của những nhân vật quen thuộc của thời kỳ lịch sử này với những chi tiết khá lý thú khiến khách tham quan phải tin rằng: Có một vị vua An Dương Vương, có một người con gái của vị vua đó tên là Mỵ Châu đã nhẹ dạ lấy nỏ thần của vua cha cho chồng xem, có người chồng của Mỵ Châu tên là Trọng Thủy đã lấy trộm chiếc lẫy nỏ thần để rồi bi kịch được kết thúc bằng vua Thục thua trận, mất thành, Mỵ Châu bị cha chém cụt đầu và Trọng Thủy tự tử tại "giếng ngọc" trước cửa đền An Dương Vương. Ba vòng thành cổ Loa với chiều dài hơn 16.000m quanh co bao bọc lẫn nhau như hình xoáy ốc, miếu thờ thần Rùa trên bờ giếng Rùa mang tên Loa khẩu, hàng loạt gò đống từng đôi, từng đôi, phân bố dọc con đường từ làng Tiên Hội tới Cổ Loa... là chứng cứ cho truyền thuyết đắp thành. Truyền thuyết kể rằng tiên Hội là nơi các nàng tiên đêm đêm tụ họp tại đó để gánh đất giúp vua đắp thành, những hòn đất lọt từ sọt rơi xuống chất thành gò đống. Mỗi cặp gò đống thường bên nhỏ bên to - và thật vô cùng chặt chẽ - truyền thuyết kể rằng ở bên nhỏ nàng tiên còn móc thêm cái cuốc, như vậy hai bên vẫn nặng đều nhau. Di tích và truyền thuyết còn cho biết cả những hoạt động của vua Thục như việc thiết triều ở ngôi đình "Ngự triều di quy", xem thử nỏ thần ở gò "Ngự xạ đài". Truyền thuyết cũng không quên kể lại cả triều đình vua Thục với những tướng tài như Cao Lỗ, người đã sáng chế ra nỏ thần, có công luyện tập binh sĩ và từng dược vua Thục sai làm trấn tướng phía Bắc nơi xung yếu bậc nhất của Loa Thành: như Nồi Hầu, người đã huy động dân làng tổ chức dân binh giúp vua chống Triệu và khi mất nước cả 3 cha con đã tự tử không chịu để cho giặc bắt. Nhiều phong tục, kiêng kỵ có quan hệ chặt chẽ với truyền thuyết củng cố thêm mức độ đáng tin cậy cho truyền thuyết như tục rước vua sống hàng năm, tục kiêng nuôi gà trắng[2], tục đãi dâu không đãi rể[3], tục kiêng tên Phán gọi chệch thành Phớn hoặc nồi gọi chệch thành niêu[4]. Những phong tục địa phương còn mang nặng thái độ về luân lý đạo đức. Người dân địa phương biểu lộ thái độ khinh bỉ sự phản phúc của Trọng Thủy trong tục đãi dâu không đãi rể; biểu lộ lòng kính trọng người tướng có công Nồi Hầu, không dám chạm tên húy; biểu lộ sự tôn trọng dân làng Quậy, mời ngồi chiếu trên mỗi khi mở hội chính vì dân Quậy vốn là người lập nghiệp cũ trên đất Cổ Loa, bởi lẽ lấy đất đắp thành mới phải dời về Quậy. Ý nghĩa của việc nghiên cứu của chúng ta: "Uống nước nhớ nguồn" là một trong những đặc điểm cao quý của con người Việt Nam đạo đức. Dân xã Cổ Loa và 7 xã khác chung quanh hàng năm vẫn mở hội vào ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch để tưởng nhớ vua Thục xưa. Tình cảm gắn bó với tổ tiên sâu sắc tới mức: Chết thì bỏ con bỏ cháu Sống thì không bỏ mồng sáu tháng giêng Vấn đề An Dương Vương, một bộ phận của cả vấn đề lớn "thời đại bắt đầu dựng nước và giữ nước", liên quan đến nguồn gốc của nhân dân ta, liên quan đến sự diễn biến của lịch sử Việt Nam ta, đến lịch sử nước ta trong mấy chục năm nay và đến cả tương lai của dân tộc ta. Tình cảm dân tộc thôi thúc, yêu cầu của khoa học đòi hỏi, chúng ta thấy bức thiết phải đặt vấn đề nghiên cứu. Vấn đề đã được nghiên cứu từ hàng chục năm nay, từ nhỏ bé tới quy mô, từ từng cơ quan riêng lẻ tới việc cộng tác của nhiều cơ quan. Đầu năm 1968, khi mà đề tài "Thời kỳ lịch sử Hùng Vương - An Dương Vương" của Viện Khảo cổ học được Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam duyệt và Nhà nước thông qua coi là đề tài nghiên cứu trong kế hoạch 3 năm 1968-1970, thì công tác nghiên cứu bước vào thời kỳ mới, thời kỳ hợp tác xã hội chủ nghĩa chặt chẽ và rộng rãi của nhiều người, nhiều cơ quan và nhiều ngành có liên quan và tất nhiên kết quả tuy chưa dứt điểm nhưng đã tương đối khả quan[5]. Sau gần 2 năm nghiên cứu, mọi vấn đề, mọi khía cạnh của đề tài Hùng Vương đã được nhiều người xới lên, thì mọi người lại thấy phải quy tụ vào một số chuyên đề để tập trung đi sâu giải quyết. Vấn đề An Dương Vương tự nó, qua yêu cầu khách quan của việc nghiên cứu, qua thực tế diễn biến lịch sử của thời kỳ Hùng Vương, đã trở thành một vấn đề đóng khung, chấm dứt cho thời kỳ lịch sử Hùng Vương. Dự định đưa vấn đề An Dương Vương thành một trọng tâm nghiên cứu riêng biệt tiếp sau vấn đề Hùng Vương với tất cả các mặt kinh tế, xã hội, chính trị,... được thay đổi cho hợp với khả năng về thời gian và yêu cầu thực hiện phương châm tập trung dứt điểm trong việc nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương, đồng thời, quan trọng hơn, là phù hợp với thực tế khách quan của lịch sử. Tháng 9-1969, nhóm nghiên cứu thứ 6 được thành lập với tên gọi Nhóm An Dương Vương và quan hệ với thời kỳ Hùng Vương. Tên đặt cho nhóm nghiên cứu này tự nó đã giải thích nhiệm vụ của nhóm là điều tra, sưu tầm tư liệu các mặt, khai quật khảo cổ học, nghiên cứu rút ra kết luận mấu chốt nhất tức là quan hệ giữa thời kỳ An Dương Vương với thời kỳ Hùng Vương trước nó. Có được kết luận có tính chất chỉ đạo này rồi, tương lai chúng ta có thể tách riêng vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc để đi sâu nghiên cứu mọi mặt một cách rất thuận lợi và đúng hướng. Thành viên chính thức của nhóm gồm: Nhóm trưởng Trần Quốc Vượng (trường Đại học Tổng hợp), ủy viên thường trực Đỗ Văn Ninh (Viện Khảo cổ học), và các ủy viên Trương Hoàng Châu (Viện bảo tàng Lịch sử), Đặng Nghiêm Vạn (Viện Dân tộc học), Hoàng Hưng (Viện Sử học), Đỗ Đình Truật, Nguyễn Duy Chiếm, Phạm Như Hồ (Viện Khảo cổ học). Ngoài ra, nhóm còn được sự cộng tác của các nhà nghiên cứu ở nhiều ngành, nhiều cơ quan như: Nguyễn Khắc Xương (ty Văn hóa Vĩnh Phúc), Vương Hoàng Tuyên (trường Đại học Tổng hợp), Trần Huy Bá, Phùng Bảo Khuê, Nguyễn Ngọc Chương (Vụ Bảo tồn bảo tàng), Vũ Tuấn Sán (Sở Văn hóa Hà Nội), Trần Ngọc (trường Đại học Sư phạm Việt Bắc), Nguyễn Bá Tiệu, Lê Khôi (trường đại học Sư phạm Hà Nội 1), Bùi Huy Hồng (cán bộ nghiên cứu khí tượng đã về hưu), Đào Duy Anh (cán bộ Viện Sử học đã về hưu), Nguyễn Ngọc Ngoạn (kiến trúc sư Cục Xây dựng Hà Nội), Dương Tất Từ (Viện Văn học), v.v... Từ khi thành lập nhóm, công tác nghiên cứu lại càng được đẩy mạnh hơn. Công việc khai quật với diện tích và quy mô khá lớn đã cung cấp thêm nhiều tư liệu quý. Việc sưu tầm truyền thuyết, địa danh và phong tục tập quán ở Cổ Loa và những vùng khác cũng bổ sung được nhiều tài liệu có ích. Trên cơ sở của khối tư liệu khá phong phú đó công việc nghiên cứu cũng có nhiều tiến bộ. Nhiều ý kiến nghiên cứu phát biểu trong các buổi sinh hoạt học thuật do nhóm tổ chức hàng tháng hoặc chính thức viết thành bài đăng trong các tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, tạp chí Khảo cổ học hoặc các báo khác, mặc dù còn những điều chưa nhất trí, đã nói lên nhiều hứa hẹn trong việc giải quyết vấn đề. ĐÃ NHẤT TRÍ 1. Khẳng định thời kỳ lịch sử An Dương Vương và nước Âu Lạc là có thật Vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc là một bộ phận hữu cơ của cả vấn đề lớn thời kỳ lịch sử Hùng Vương - An Dương Vương, vì vậy những kết quả của việc nghiên cứu thời kỳ lịch sử Hùng Vương đã góp phần quan trọng soi sáng thời kỳ lịch sử An Dương Vương. Hai hội nghị 1 và 2 nghiên cứu thời kỳ lịch sử Hùng Vương tháng 12-1968 và tháng 4-1969 đã rút ra được mấy kết luận căn bản, là: "Thời kỳ Hùng Vương là có thật". "Nền văn hóa Hùng vương là một nền văn hóa đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, từ thấp lên cao". "Đó là một nền văn hóa bản địa... nảy sinh tại chỗ, tiến lên dần, do chính ông cha ta sáng tạo ra và xây dựng nên". "Nền văn hóa Hùng Vương tỏ ra có những nét đặc sắc, độc đáo, đỉnh cao của sự phát triển đó phải nói là ở một trình độ cao"[6]. Những kết luận trên được rút ra từ những cơ sở khoa học chắc chắn. Những văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn gần như được mọi người nhất trí nhận rằng đó là những văn hóa có niên đại kế tiếp nhau từ thời đại đồng sớm tới thời đại sắt sớm. Như vậy, trước hết ta có cơ sở khoa học để nói rằng có một thời kỳ rất dài có dấu vết hoạt động liên tục của con người trên một phần đất Việt Nam ta hiện nay. Kết quả chính thức phân tích C14 than tro lấy ở hai di chỉ Đồng Đậu và Vinh Quang cho biết các niên đại: Đồng Đậu ở độ sâu 4m: 3328 ± 100 năm, và Vinh Quang ở độ sâu 1m80: 3046 ± 120 năm cách ngày nay (kể từ năm 1950 trở về trước). Đồng Đậu chưa phải là di chỉ sớm nhất của thời đại đồng (và cũng không phải là di chỉ sớm nhất của thời kỳ lịch sử Hùng Vương). Như vậy, con số 4000 năm của lịch sử Việt Nam trong thư tịch cũng như trong truyền thuyết đã có thể được chấp nhận như một điều hợp lý. Đáp số của khoa học tự nhiên phù hợp với đa số ý kiến đoán định niên đại bằng phương pháp so sánh loại hình khảo cổ học. Những hiện vật khảo cổ đồ gốm, đồ đồng mà ta đã phát hiện, xét từ hình dáng, hoa văn tới kỹ thuật làm, nhìn lên phía bắc, nhìn sang phía tây và nhìn xuống phía nam, chúng ta không thể nào tìm thấy những vật nào đủ tiêu chuẩn là nguồn gốc từ đó phát triển ra chúng. Rõ ràng đây là những hiện vật phát sinh từ bản địa và phát triển cũng trên bản địa. Những đồ án hoa văn cân đối, sinh động do những đường cong, đường tròn chấm dải của văn hóa Phùng Nguyên vẫn còn được giữ gìn khá trọn vẹn ở những mô típ chủ đạo của những đồ án hình học của văn hóa Gò Mun và rồi lại phản ánh đầy đủ trên hoa văn đồ đồng Đông Sơn. Những hiện vật trang sức bằng đá của Phùng Nguyên, những hiện vật bằng đồng Đông Sơn không thua kém bất cứ hiện vật nào của một nền văn hóa khác cùng thời trên thế giới. Vậy nói rằng ở thời Hùng Vương tổ tiên ta đã sáng tạo ra một nền văn hóa ở một trình độ cao là phù hợp thực tế và vẫn rất khiêm tốn. Những kết luận khoa học nói trên về thời kỳ lịch sử Hùng Vương, một thời kỳ còn xưa hơn và mơ hồ hơn rất nhiều so với thời kỳ lịch sử An Dương Vương, rõ ràng là cơ sở để khẳng định sự có thật của thời kỳ An Dương Vương và nước Âu Lạc ngắn ngủi nối tiếp ngay sau nó mà có người gọi vui, nhưng xem ra cũng hợp lý ở góc độ nào đó, là thời "Hùng Vương thứ 19". Thư tịch, truyền thuyết, phong tục, địa danh và những di tích lịch sử về thời kỳ An Dương Vương và nước Âu Lạc ở những điểm cơ bản rất là nhất trí. Ở phần trên chúng tôi đã kể một số trong rất nhiều tư liệu đã thu lượm được trong thời gian qua. Ở đây, thiết tưởng cũng không cần cử thêm ví dụ, điều cần thiết phải bàn, là: cái lõi của trí nhớ chất phác của nhân dân là điều có thật trong lịch sử. Với sự thận trọng, "cảnh giác" với quá trình "lịch sử hóa" truyền thuyết và "truyền thuyết hóa" lịch sử, qua rất nhiều truyền thuyết ta rút ra được cái lõi gì? Một nhân vật Thục Phán thay thế vua Hùng cai quản đất nước, rồi có họa xâm lăng của Triệu Đà từ phương Bắc tới, ông vua này tổ chức kháng chiến nhưng rốt cuộc bị thua. Từ đó đất nước của Thục Phán chịu sự thống trị của họ Triệu. Nhân vật Triệu Đà cùng cuộc xâm lược phương Nam đã được lịch sử Trung Quốc xác minh. Thời kỳ lịch sử Hùng vương cũng đã được chúng ta khẳng định bằng những căn cứ khoa học chính xác và phong phú. Vậy không còn nghi ngờ gì nữa, một thời kỳ nối tiếp thời kỳ các vua Hùng, thời kỳ An Dương Vương tiếp tục dựng nước và tổ chức chống Triệu giữ nước, phải là điều có thật. Từ cái lõi có thật này, chúng ta thoát khỏi ảnh hưởng của thái độ hoài nghi, đi tìm những bằng cớ khoa học để giải thích những điều tưởng như hoàn toàn hoang đường trong truyền thuyết như chuyện Rùa vàng, chuyện Nỏ thần, chuyện Mỵ Châu - Trọng Thủy, v.v... và tới nay nhiều cách giải thích đã có thể chấp nhận được. Di chỉ khảo cổ học Đường Mây có tầng văn hóa dày từ 30 đến 60cm, là một di chỉ nằm sâu dưới chân thành ngoài Cổ Loa, ở khu Trại Xóm Vang ngày nay. Trong di chỉ này, ngoài nhiều mảnh gốm thô (có đồ gốm kiểu Đường Cổ), rìu đá, bàn mài, bàn "dập gốm" kiểu Phùng Nguyên và nhiều xương thú, đã tìm thấy một số mũi tên đồng (hình lá, hình tam giác bẹt 2 cánh, có chuôi, 3 cạnh sắc, tiết diện tam giác...), nhiều cục sắt và mảnh hiện vật bằng sắt được tạm định thuộc sơ kỳ thời đại sắt"[7]. Di chỉ Đường Mây có niên đại gần với niên đại của tường thành (trong chứa gạch, ngói ống, ngói bản). Về niên đại của tường thành, tới nay còn có những ý kiến khác nhau. Có người cho rằng tường thành thuộc thời An Dương Vương, và di chỉ Đường Mây thuộc về một thời kỳ lịch sử trước An Dương Vương. Điều đó phù hợp với truyền thuyết dân gian nói rằng An Dương Vương đã đuổi dân bản địa ở Cổ Loa xuống vùng Đại Vĩ (Quậy Cả, Quậy Con, Quậy Rào) để lấy đất đắp lũy xây thành[8]. Có ý kiến cho rằng tường thành có niên đại thời thuộc Hán và suy nghĩ (chưa khẳng định) rằng di chỉ Đường Mây là thuộc cuối thời Hùng Vương - An Dương Vương. Tuy có phần khác nhau, nhưng một điểm thống nhất có thể rút ra được ở cả hai ý kiến trên, là những di vật Đường Mây là sản phẩm của cư dân vùng Cổ Loa trong khoảng thời gian hôm trước là thành viên của nước Văn Lang và hôm sau là thành viên của nước Âu Lạc. Từ điểm này, dễ có thể đi tới kết luận thống nhất, rằng những hiện vật Đường Mây, nếu không phải là tất cả; ít nhất cũng là bộ phận quan trọng của văn hóa Âu Lạc, vì người dân Cổ Loa khi dời sang Quậy vẫn tiếp tục làm ra những sản phẩm hôm trước họ đã làm ở Cổ Loa (sự khác nhau chắc chẳng là bao), theo truyền thống ông cha từ hàng nghìn năm trước. Tại thôn Lỗ Khê, gần Quậy và hiện nay cùng thuộc chung một xã Liên Hà với Quậy, đã tìm thấy dấu vết văn hóa của một thời đại tương đương với địa điểm Đồng Vông, Bãi Mèn (lớp dưới). Ở đây, còn có mỏ than bùn (có ý kiến cho rằng ngói gạch Cổ Loa được nung bằng loại than này). Những vết tích khảo cổ học nơi đây chứng nhận một sự gắn bó hữu cơ của cả vùng Cổ Loa nói chung. Tuy rằng chúng ta chưa tìm thấy tại đây những di vật kiểu Đường Mây để có thể, không chút ngập ngừng, giải thích một cách khẳng định truyền thuyết dời dân đắp thành, nhưng chưa thấy chưa hẳn đã là không có. Ở Đình Chàng (Dục Tú) - cạnh làng Quậy, đã tìm thấy những mộ táng chứa đồ gốm kiểu Đường Cồ. Như vậy, đã có những bằng cớ khoa học để khẳng định sự có mặt của thời kỳ An Dương Vương và nước Âu Lạc trong lịch sử. 2. Khẳng định thời kỳ lịch sử này là bước nối tiếp của thời kỳ Hùng Vương Trong khi đi tìm nguồn gốc tộc Thục, những người nghiên cứu đã đi theo những hướng khác nhau, nhưng trong giả thuyết công tác thì mọi người đều lại thấy thống nhất ở điểm tìm tộc Thục trên cơ sở tìm "láng giềng" của tộc Hùng. Người "láng giềng" này phải có sự gần gũi về đất đai, về văn hóa, và chủng tộc, v.v... nghĩa là có nhiều quan hệ với nhau trong quá trình phát triển. Có người còn dự đoán tộc Thục có thể chính là một bộ trong 15 bộ thuộc quyền cai quản của vua Hùng; có người nghĩ rằng đây là một tộc ở xen kẽ ngay trong miền đất đai của 15 bộ của nước Văn Lang. tóm lại, ít nhất tộc Thục phải là thành phần trong dòng Bách Việt. Bắt đầu điểm từ ý kiến "An Dương Vương là người Lạc Việt cho nên việc ông chiếm Văn Lang dựng nước Âu Lạc chỉ là việc nội bộ người Lạc Việt". Do An Dương Vương là người Lạc Việt cho nên chúng ta thấy xã hội Văn Lang và Âu Lạc không có thay đổi gì do văn hóa của một ngoại tộc đến thống trị gây ra[9]. Tác giả đã căn cứ vào ghi chép của Sử ký và Hán thư để giải thích Tây Âu, Tây Âu Lạc và Âu Lạc chỉ là một, chữ "Tây" chỉ là chữ chỉ phương hướng để phân biệt với chữ "Đông", và để củng cố cho ý kiến đó tác giả đã căn cứ thêm vào các sách Hoài Nam tử, Cựu Đường thư, Thái Bình hoàn vũ ký xác định Tây Âu, Tây Âu Lạc và Âu Lạc đều ở khu vực quận Quế Lâm thời Tần, và "địa bàn Lạc Việt bao gồm toàn bộ khu vực các quận Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Tường Kha, Giao Chỉ, Cửu Chân thời Hán, tức là bao gồm một vùng rộng lớn từ lưu vực sông Hồng đến lưu vực Tây Giang ngày nay... Từ Tây Âu hay Tây Âu Lạc là để chỉ tên một nước ở trong khu vực này". Ý kiến dựa vào truyền thuyết về "bộ Nam Cương" của đồng bào Tày - ở Cao Bằng thì "suy đoán rằng tộc đảng Thục Vương đó đã định cư ở miền gần phía nam Tả Giang, lưu vực Hữu Giang cùng miền thượng lưu các sông Lô, sông Gâm, sông Cầu, mà thành nước Nam Cương, là một bộ lạc liên hiệp thuộc giống Tây Âu"[10]. Căn cứ vào "sự ghi chép của truyền thuyết của sử cũ (Đại Việt sử ký toàn thư)... không thấy nêu lên sự tình một cuộc chinh phục", căn cứ vào sự suy luận rằng "xưa nay không ai xem An Dương Vương là một kẻ chinh phục đã đặt ách thống trị ngoại tộc lên cổ nhân dân hay là một kẻ thù đã gây họa diệt tộc", tác giả kết luận: "Sự hợp nhất giữa nước Nam Cương và nước Văn Lang, cái tên Âu Lạc lại càng nêu rõ sự hợp nhất bình đảng giữa hai thành phần Tây Âu (Nam Cương) và Lạc Việt (Văn Lang)". Từ đó, tác giả "tán thành... hợp thời An Dương Vương với thời Hùng Vương làm một,... thời An Dương Vương là giai đoạn cuối cùng của một thời kỳ văn hóa chung..."[11]. Thuyết Ai Lao Di[12] gợi ý một nước Tây Thục mà cư dân là giống người Bộc, người Lào ở sát nước ta về phía Tây Bắc nay thuộc châu tự trị Đức Hoằng, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Nhiều ý kiến đề cập việc nghiên cứu cả vùng Bách Việt, gợi ý nên lưu ý cả khung cảnh chung vùng Đông Nam Á rộng lớn, đề ra phương hướng đáng chú ý là thoát khỏi sự ám ảnh của biên giới hiện tại. Những ý kiến nghiên cứu về mặt dân tộc học đã rút ra quy luật ở xen kẽ của các dân tộc ở Việt Nam và cả vùng Lưỡng Quảng, từ đấy suy luận về sự phân bố xen kẽ của người Âu Lạc và người Lạc. Tóm lại, tất cả các ý kiến đều toát lên một điểm chung là tìm một cái gần gũi giữa Thục và Hùng và đã phần nào nói lên được rằng việc mất ngôi thủ lĩnh của Hùng Vương không phải là kết quả sự mất nước của Hùng Vương. Lịch sử tất cả các vua Hùng và vua Thục đều được chép cùng trong "thời đại bắt đầu dựng nước và giữ nước". 3. Khẳng định có cuộc kháng chiến chống Tần và chống Triệu Đà Các nhà viết sử xưa nay đều nhất trí về cuộc chinh phục của nhà Tần vào đất Bách Việt và đều nói về việc nhà Tần lập 3 quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng. Tuy vậy chưa ai đi sâu hẳn vào cuộc kháng chiến chống Tần của người Việt. Trong quá trình nghiên cứu đề tài An Dương Vương, những người nghiên cứu chúng ta đã tiến thêm một bước trong việc khẳng định cuộc kháng chiến chống Tần của tổ tiên xảy ra vào cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Dựa vào điều ghi chép "(Người Việt) cùng nhau đặt người tuấn kiệt làm tướng, để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá Tần và giết được Đỗ Thư" trong Hoài Nam tử, và điều ghi chép: "Người Việt bỏ trốn. (Quân Tần) trì cửu lâu ngày. Lương thực bị tuyệt và thiếu. Người Việt ra đánh. Quân Tần đại bại" của Sử ký và đối chiếu với những sách khác, có ý kiến phân tích rằng: quân Tần bị khốn đốn ở miền Nam đất Quảng Tây, miền ấy hẳn là thượng lưu Tả Giang và Hữu Giang. Cư dân miền ấy thuộc giống Tây Âu. Miền ấy tương đương với nước Nam Cương của truyền thuyết mà quân trưởng chính là Thục Phán. Việc "cùng nhau đặt người kiệt tuấn" lãnh đạo kháng chiến chứng tỏ có hội nghị của Nam Cương và Văn Lang, cả hai đều chưa bị Tần đặt làm quận huyện, bầu con người có tài năng độc đáo về cung nỏ lên lãnh đạo cuộc kháng chiến chung. Người đó là Thục Phán. Sau sáu bảy năm, cuộc kháng chiến đã kết thúc thắng lợi. Cuộc kháng chiến chống Tần đã rèn đúc sự đoàn kết giữa hai khối Tây Âu và Lạc Việt. Thắng lợi của kháng chiến đã nâng cao uy thế của Thục Phán để tiến tới "phục các Lạc tướng" mà hợp nhất nước Nam Cương và Văn Lang, lập thành nước Âu Lạc. Thần tích đền Chèm ghi An Dương Vương đánh nhau với Tần Thủy Hoàng, muốn "cầu hòa" nên đem Lý Ông Trọng mà hiến để xin bãi binh. Điều thống nhất là có cuộc chống Tần của An Dương Vương. Cuộc kháng chiến chống Tần được những người nghiên cứu về "truyền thống đánh giặc thời dựng nước" của ông cha ta[13] khẳng định và từ đó khai thác những nguyên nhân thắng lợi như cách đánh du kích: "Người Việt vào rừng ở với cầm thú... ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá Tần và giết được Đồ Thư"; hoặc như phương pháp đánh lâu dài: "Người Việt bỏ trốn, trì cửu lâu ngày. Lương thực bị tuyệt và thiếu (nói quân Tần), người Việt ra đánh. Quân Tần đại bại". Cuộc kháng chiến chống Triệu được nghiên cứu sâu sắc hơn ở nhiều góc độ khác nhau. Nước Âu Lạc thành lập sau lần đoàn kết kháng chiến chống Tần của các bộ lạc Tây Âu và các bộ lạc Lạc Việt, đã trở thành một nước mạnh có quân đội hùng cường "giỏi cung nỏ, thạo thủy chiến". Kho mũi tên đồng Cầu Vực vô cùng lớn về số lượng, những mũi tên tương đối lớn về kích thước (và có những điểm đặc biệt về hình dáng), phát hiện năm 1959, đã là cơ sở tốt để giải thích câu chuyện nỏ thần. Nhiều người chấp thuận ý kiến cho rằng chuyện nỏ thần phản ảnh sự xuất hiện, hoặc ít nhất là cải tiến, một thứ vũ khí mới lợi hại trong chiến đấu, có tác dụng sát thương cao. Chúng ta cũng không loại trừ khả năng một thứ nỏ máy thô sơ có thể một lúc bắn hàng loạt mũi tên, truyền thuyết đã cường điệu thành loại nỏ "nhất phát sát vạn nhân". Sự xuất hiện thành Cổ Loa mà di tích ngày nay vẫn còn, kiến trúc rất quy mô, độc đáo, thế đất chọn hiểm trở[14] phù hợp với truyền thuyết "thần tiên giúp xây thành", lại phù hợp với sử sách ghi là "Côn Lôn thành", "tam trùng thành quách", "thành 9 vòng chu vi 9 lý", v.v... chứng minh một trình độ cao về tổ chức xã hội và cả về văn hóa vật chất, đủ sức chặn đứng những cuộc tiến công quân sự của quân Triệu Đà, làm cho họ Triệu phải nhờ tới âm mưu nội gián mới chiếm được Âu Lạc. Sử sách cũng như truyền thuyết có ghi về cuộc chiến tranh Thục - Hùng, nhưng chỉ ghi như một sự kiện nội bộ bình thường. Chúng ta không những không thấy gì nói tới hằn thù dân tộc mà ngược lại. Phong tục tế lễ đền Cổ Loa bổ sung cho nội dung câu chuyện dời dân xây thành, phản ánh một cái gì có tính chất anh em một nhà giữa người dân Âu và người dân Lạc... Tham gia tế lễ đền Cổ Loa có tất cả 8 làng quanh Cổ Loa. Dân Quậy (nay là Hà Vĩ) bao giờ cũng được dân làng Cổ Loa nhường lễ chiếu trên. Khi ra về, bao giờ dân Cổ Loa cũng biếu dân Quậy khuôn "bỏng hiến" (gọi là bỏng Chủ - Chủ là tên nôm của Cổ Loa) để về chia cho 8 "giáp" trong làng. Truyền thuyết kể rằng dân làng Quậy vốn ở Cổ Loa, vì nhường đất xây thành nên đã dời đến làm ăn ở Quậy, chính vì lẽ đó mà được dân Cổ Loa đời đời kính trọng. Sự thật chắc đúng là như vậy, bởi vì chẳng bao lâu sau trong lần thử thách của cuộc chống Triệu Đà xâm lược, người dân Âu Lạc - không hề phân biệt Âu Lạc hay Lạc - đã kề vai sát cánh chiến đấu tới cùng cho một mục đích chung giữ gìn đất nước. 4. Về niên đại Về tuổi thọ của nước Âu Lạc, trước nay có một số ý kiến chính như sau: - Từ năm 257 đến năm 208 trước Công nguyên: 50 năm[15].(1) - Từ năm 210 đến năm 207 trước Công nguyên: 4 hoặc 5 năm[16].(2) - Từ năm 208 đến năm 179 (hoặc năm 180) trước Công nguyên: 30 năm[17].(3) Lấy năm 179 (hay năm 180) làm mốc cuối cùng ngược lên trước dăm chục năm: nửa sau thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Ý kiến thứ 3 được nhiều người nghiên cứu chấp thuận. Căn cứ sử liệu của ý kiến này là lấy việc Tần Thủy Hoàng chết, Tần Nhị Thế bãi binh, cuộc đoàn kết kháng chiến của người Tây Âu và Lạc Việt kết thúc và từ đó nước Âu Lạc ra đời - năm 208 trước Công nguyên. Niên điểm kết thúc cũng bằng vào sự kiện "Cao Hậu chết tức bãi binh. Triệu Đà nhân lúc đó uy hiếp biên cảnh và lấy của cải đút lót khiến Âu Lạc thần phục"[18], để lấy năm 180 trước Công nguyên làm năm nước Âu Lạc bị Triệu Đà kiêm tính. Và như vậy thì nước Âu Lạc chỉ tồn tại được khoảng 28-30 năm. Từ niên đại này có người lại rút ra được một điều đáng chú ý, là thời kỳ lịch sử An Dương Vương có hơn 20 năm, trùng với thời Tây Hán. Thời gian tồn tại song song này còn có thể cho phép giải thích rằng những hiện vật có đặc điểm Tây Hán có mặt ở khu di chỉ Cổ Loa của An Dương Vương là điều hợp lý. (Còn nữa) Nguon theo hoinhavanvn VỀ AN DƯƠNG VƯƠNG (PHẦN II) Sau khi bác bỏ thuyết Ba Thục (thuộc vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc), mọi người đã đi tìm hầu như gần khắp các hướng Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc của vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ mà ý kiến chung đã nhất trí coi là khu vực thuộc nước Văn Lang của Hùng Vương. VỀ AN DƯƠNG VƯƠNG (PHẦN II) CHƯA NHẤT TRÍ 1. Về nguồn gốc tộc Thục Sau khi bác bỏ thuyết Ba Thục (thuộc vùng Tứ Xuyên, Trung Quốc), mọi người đã đi tìm hầu như gần khắp các hướng Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc của vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ mà ý kiến chung đã nhất trí coi là khu vực thuộc nước Văn Lang của Hùng Vương. a. Thuyết nước Nam Cương và người Tày Cao Bằng Thuyết này lấy căn cứ chủ yếu là truyền thuyết "Chín chúa tranh vua" của đồng bào Tày ở Cao Bằng. Truyền thuyết này đã được Rômanê đuy Caiô nêu từ năm 1880, nhưng trong tay chúng ta không còn tài liệu đó của học giả người Pháp này. Câu chuyện được Lã Văn Lô dịch thành thơ tiếng Việt đăng lại trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 50 và số 51 năm 1963 là tài liệu thu thập được của Sở Văn hóa Việt Bắc. Từ khi truyền thuyết được công bố, một số người nghiên cứu đã hướng về Cao Bằng để tìm quê hương vua Thục. Truyền thuyết áo lông chim của người Tày - Nùng, tục thờ rùa, truyền thuyết rùa dạy làm nhà, phù hộ người, chống ma quỷ của người Tày - Thái, một vài địa danh tiếng Tày bắt gặp ở khu gần Cổ Loa như làng Viềng (tức Thành) càng tiếp sức cho thuyết vua Thục vốn người Tày làm chúa nước Nam Cương mà trung tâm là huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng ngày nay. Tới nay, vẫn có người tiếp tục đi sâu nghiên cứu và "suy đoán rằng tộc đảng Thục Vương đó đã định cư miền gần phía nam Tả Giang, lưu vực Hữu Giang cùng miền thượng lưu các sông Lô, sông Gâm, sông Cầu". Sau cuộc điều tra ở Cao Bằng hồi tháng 7 và 8-1969, các đồng chí Đỗ Đình Truật và Phạm Như Hồ, viện Khảo cổ học, đã cung cấp những tư liệu có phần khác. Người sưu tầm và viết lại truyền thuyết này là ông Lê Bỉnh Sư (còn có tên là Lê Đình Sự), người Kinh vốn ở Nghĩa Lộ, sau năm 1947 mới dời về ở tại huyện Hòa An (Cao Bằng). Chính ông Lê Bỉnh Sư kể lại rằng chuyện do ông sắp xếp lại, có sửa ít nhiều cho các chi tiết được hợp lý. Gốc chuyện là do ông chú ngày trước kể, nay nhớ lại mà viết để dự cuộc thi văn nghệ do Sở Văn hóa Việt Bắc tổ chức. Cái gốc chân thật của truyền thuyết dân gian là những phần nào, chi tiết nào là thuộc phần sửa chữa của ông Sư, chưa có dịp làm sáng tỏ. Đỗ Đình Truật và Phạm Như Hồ đã tìm gặp một số cụ già địa phương để xác minh truyền thuyết, nhưng không một ai biết chút nào. Vấn đề còn ở tình trạng chưa được sáng tỏ. Như vậy, truyền thuyết này không thể đã được coi là căn cứ đáng tin cho một kết luận khoa học, và công việc phải tiến hành tức là tiếp tục điều tra lại để xác minh truyền thuyết. b. Thuyết Ai Lao Di[19] Người chủ trương thuyết này không tán thành thuyết trên vì những lẽ: - Theo truyền thuyết thì nước Nam Cương không nằm trong phạm vi Tây Vu được chỉ định theo tài liệu Trung Quốc. Những địa danh trong truyền thuyết phần lớn bắt đầu có từ đời Nguyễn. - Truyền thuyết bị "người đời sau dường như đã thêm thắt vào nhiều thậm chí đã tiểu thuyết hóa đi". Cần phải thẩm tra lại. Tác giả đã căn cứ vào truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh, nghiên cứu một khối lượng khá lớn thần phả, ngọc phả, tục hèm có liên quan, thấy rằng Sơn Tinh (tức Thánh Tản viên) là một nhân thần, là người đã có công giúp vua Hùng đánh Thục trong cuộc chiến tranh chống Thục, đã "được phản ánh một cách rất đậm nét, rất cụ thể trong những truyền thuyết về thời Hùng Vương", và "giặc Thục ở đây còn được gọi là giặc Ai Lao, Thục Phán đã từ Ai Lao đến xâm lược Văn Lang". Từ truyền thuyết đối chiếu qua thư tịch, đặc biệt Nam Man Tây Nam di truyện trong bộ Hậu hán thư và Thuật dị ký, tác giả đã tìm ra Tây Thục tức Ai Lao Di, tức nước Thục của thục Phán. "Đó là một nước đã tồn tại thật sự trong lịch sử: nước Tây Thục (tức Ai Lao)... ở phía Tây Bắc nước ta ngày nay". "Cuối đời vua Hùng, Thục Phán đã từ đây mà xuống xâm lược nước ta. Đó là một cuộc chiến tranh dai dẳng và khốc liệt, cuối cùng nước Văn Lang bị diệt". "Nước Tây Thục (Ai Lao) ở sát nước ta về phía tây bắc, nó nằm trên trục giao thông chủ yếu của nước ta với miền Tây Nam Di là thung lũng sông Hồng, sông Lô; Tây Thục cũng là một trạm trung gian trên con đường giao thông quốc tế thời cổ giữa Trung Quốc với các nước phía tây như Ấn Độ cổ đại". Tác giả còn có phần chỉ cụ thể: "Đến đời Hán Minh Đế (58), Ai Lao thuộc hẳn nhà Hán, Hán lấy đất đó phân làm hai huyện Ai Lao và Bắc Nam, sau đổi thành Vĩnh Xương, nay là châu tự trị Đức Hoằng thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) hiện nay". c. Thuyết người Lạc Việt nói chung[20] Từ chỗ chứng minh rằng chữ "Tây" trong Tây Âu hay Tây Âu Lạc chỉ là chữ chỉ phương hướng, tác giả đã chủ trương Tây Âu, Tây Âu Lạc và Âu lạc chỉ là tên của một nước. Từ chỗ chứng minh rằng Tây Âu, Tây Âu Lạc hay Âu Lạc là một nước có địa bàn chủ yếu nằm ở lưu vực sông Hồng ngày nay, trùng với bộ phận của địa bàn rộng lớn của Lạc Việt gồm từ lưu vực sông Hồng tới lưu vực Tây Giang ngày nay, tác giả chủ trương nước Tây Âu của người Lạc Việt, "trong Lạc Việt có nhiều dân tộc (theo đúng nghĩa dân tộc học ngày nay) có quan hệ lịch sử, huyết thống nào đó với nhau". Đối với thuyết Ai Lao Di, tác giả cho rằng "những thần tích ghi về việc Thục Phán cai trị ở Ai Lao là những tài liệu do người sau viết". Về việc giao lưu giữa Giao Châu và Ích Châu thì "chỉ hạn chế đến Điền, không vượt qua khỏi Điền đến Ai Lao Di bao giờ. Ai Lao Di cũng chưa từng trở thành một nước hùng mạnh và có xu thế phát triển về phía Giao Châu bao giờ". "Văn hóa phương Bắc vào Giao Chỉ không phải qua con đường Ai Lao Di. Con đường qua Ai Lao Di là một con đường đi Thân Độc Quốc (Ấn Độ), nhưng con đường cũng chỉ đánh thông được rất muộn về sau. Thời Tần - Hán, Điền là bức thành chắn ngang đường giao lưu giữa Trung Quốc và Miến Điện, Ấn Độ ngày nay. Tất cả những điều nghiên cứu trên dẫn tới việc không công nhận tên trước Âu lạc hình thành do sự sáp nhập của hai tộc Âu lạc và tộc Lạc, mà tên nước này đã xuất hiện ngay từ trước khi thời Hùng Vương kết thúc. 2. Âu Lạc đã là một nhà nước thật sự Thời gian nghiên cứu gần đây, vấn đề này chưa được bàn tới nhiều. Những ý kiến đã chính thức công bố nêu ra đây không phải khác nhau về điểm Âu Lạc đã là một nhà nước thật sự, mà khác nhau ở chỗ Nhà nước Âu Lạc đã xuất hiện trên cơ sở trình độ sản xuất của thời đại đồng hay thời đại sắt. Những mũi tên đồng Cầu Vực được coi là vật tiêu biểu của "văn hóa đồ đồng ở giai đoạn Âu Lạc" và "văn hóa vật chất của tổ tiên ta ở thời An Dương Vương vẫn chưa khác văn hóa vật chất ở thời Hùng Vương bao nhiêu, căn bản vẫn là văn hóa đồ đồng". Đây là một trong những lập luận cho rằng nước Âu Lạc là một nhà nước của thời đại đồng[21]. Một ý kiến khác[22] cho rằng "những di tích văn hóa vật chất thời An Dương Vương còn để lại trên khu di tích Cổ Loa đã được tìm thấy một số, như những lưỡi cày đồng ở xóm Nhồi, kho mũi tên đồng với hàng vạn chiếc mà chúng ta đều biết và có thể là lớp dưới của tầng văn hóa ở di chỉ Bãi Mèn"[23]. Tuy rằng người viết không nói rõ, nhưng ta hiểu ý đó nói rằng thời kỳ lịch sử An Dương Vương thuộc thời đại đồng thau. Di chỉ Đường Mây được phát hiện và khai quật 2 lần vào năm 1970. Nhiều cục sắt và mảnh hiện vật bằng sắt được tìm thấy, trên cơ sở đó di chỉ được tạm định thuộc sơ kỳ thời đại sắt[24]. Đặc biệt, di chỉ Đường Mây nằm trên một doi đất cao tự nhiên ven sông Hoàng và ven bờ đầm cả và ngay dưới chân thành ngoài của thành Cổ Loa. Từ lẽ đó, người khai quật di chỉ này quả quyết rằng "nó (Đường Mây) thuộc về một thời đại trực tiếp trước thời đại của thành Cổ Loa. Khi tiến hành xây thành, người ta đã đắp lũy (thành ngoài) phủ lên trên khu di chỉ này, biến quả gò trên đó trước đây có cư dân sinh sống thành một bộ phận của thành ngoài. Vì di chỉ ấy thuộc về sơ kỳ thời đạt sắt cho nên thời hạn niên đại dưới của thành Cổ Loa không thể xưa hơn sơ kỳ thời đại sắt. Thành Cổ Loa là một công trình của thời đại sắt Việt Nam, điều đó bác bỏ luận điểm cũ của nhiều nhà sử học và khảo cổ học nói rằng thành Cổ Loa thuộc về thời đại đồng thau phát đạt của Việt Nam". Nghiên cứu sâu hơn nữa về nước Âu Lạc, tác giả của ý kiến Cổ Loa chỉ có thể là kinh thành của một nhà nước Việt Nam thời cổ có trước đời Hán... Nhà nước đó, theo sử cũ là Nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương". Từ đó tác giả còn rút ra kết luận: "Nước Âu lạc do An Dương Vương lập đã là một nhà nước thật sự". Sự phân hóa giai cấp là rõ rệt. "Tầng lớp vua chúa quý tộc ở nhà ngói sân gạch". Xã hội này đã có trình độ phát triển kinh tế cao, có quyền lực xã hội mạnh mẽ, kỹ thuật xây dựng cao, trình độ tổ chức cao, và có mức phát triển cao, của trí tuệ và tài năng sáng tạo, có trình độ nghệ thuật quân sự rất cao. Một ý kiến khác cho rằng "văn hóa Âu Lạc" tồn tại chừng 100 năm trước khi nước Âu Lạc bị tiêu diệt, nghĩa là "văn hóa Âu Lạc" có hơn nửa thế kỷ song song tồn tại với "văn hóa Văn Lang" và thuộc thời đại sắt[25]. 3. Vấn đề thành Cổ Loa Về tòa thành cổ nhất của giai đoạn lịch sử này, ngày nay về cơ bản vẫn còn nhận thấy dấu vết các vòng tường thành, nhưng cũng dễ dàng nhận thấy có sự đổi thay theo yêu cầu về chính trị, quân sự, kinh tế hoặc văn hóa của mỗi thời. Con đường ôtô lớn chạy từ cửa Nam qua cửa Bắc (?) xuyên qua hai vòng thành giữa và ngoài, và cửa Bắc ở vòng thành ngoài, chắc là sản phẩm của việc làm con đường này ngay trong thời đại chúng ta. Trên tường thành ở quãng xóm Nhồi, trên tường thành gần ở giữa xóm Mít trên gò Ông Trưng, dấu vết những lò gạch ngói chứng minh một sự phá hoại khác của những thời trước đây vài trăm năm. Đền An Dương Vương, một kiến trúc thời Lê, đã làm thay đổi hẳn bộ mặt của góc tây thành trong. Một đoạn tường thành cũ đã biến thành nền đền và một tay ngai ngoài của đền được đắp thêm để tạo dáng cân đối. Những đổi thay mà ta đã biết rất nhiều, những đổi thay chưa biết còn gấp bội. Chính vì vậy, điều nhất trí trong yêu cầu công tác của chúng ta là đi tìm bộ mặt ban đầu của thành cũ An Dương Vương. Do sự nhất trí nhận định rằng khu di chỉ Cổ Loa nói chung, thành Cổ Loa nói riêng, là một trọng điểm của đề tài nghiên cứu về "thời kỳ lịch sử An Dương Vương và quan hệ với thời kỳ Hùng Vương", nên mấy năm nay chúng ta đã đầu tư nhiều công sức, tiền của vào đây. Khối lượng tư liệu đã thu được khá lớn, những ý kiến khác nhau cũng dần dần nhích lại gần nhau. Tồn tại chủ yếu hiện nay là vấn đề niên đại của những di vật tìm thấy nhiều nhất, phổ biến nhất tại khu vực Cổ Loa là gạch, ngói ống, ngói bản. Sự khác nhau trong việc đoán định niên đại cho những di vật loại này dẫn tới những giải thích khác nhau về nhiều mặt khác. a. Về gạch, ngói ống, ngói bản tìm thấy trong các tường thành và những vật cùng loại ở ngoài tường thành Đây là loại di vật tìm thấy nhiều nhất và cũng có thể nói là quan trọng nhất. Xác định được niên đại của chúng, ta có thể không những xác định được niên đại của các vòng thành còn lại, mà từ đó còn rút ra những kết luận chính xác về trình độ sản xuất, tổ chức xã hội, trình độ kỹ thuật quân sự, quan hệ giao lưu văn hóa với các miền khác chung quanh, đặc biệt là với phương Bắc, v.v... Trong khi tiến hành đoán định niên đại cho loại di vật này, bất kỳ ai với kết luận gì, người nào cũng dùng phương pháp so sánh chúng với các hiện vật tìm thấy tại Trung Quốc, quê hương của loại sản phẩm này. Ở Trung quốc, người ta đã có kết luận về quy luật phát triển và diễn biến hoa văn trên các loại hiện vật này, do đó có thuận lợi cho ta trong việc so sánh tìm hiểu niên đại. Tuy nhiên, thời gian tồn tại của mỗi loại hoa văn có khi kéo dài hàng trăm năm, mặt khác Cổ Loa cách rất xa trung tâm của quê hương những loại hiện vật này, và hiện vật Cổ Loa lại được sản xuất tại chỗ rất có thể có những điều ngoại lệ. Do đó, việc so sánh để tìm niên đại cho những hiện vật gạch ngói trong thời kỳ lịch sử An Dương Vương ngắn ngủi cũng có khó khăn nhất định, đặc biệt là trong trường hợp chúng ta hầu như chỉ tìm thấy gạch ngói mà không có thêm những vật khác cùng thời để hỗ trợ cho sự đoán định. 1. Người cho rằng "Cổ Loa - với loại hình to, có lỗ để đóng đinh ngói, vách mỏng, văn thừng, tương đối thô - cũng giống ngói Đông Chu và Tần Hán", thì cũng kết luận rằng những vòng thành còn lại ngày nay căn bản là đắp từ thời An Dương vương, đồng thời, trước những sản phẩm mang đậm nét văn hóa Hán đó, đã đưa ra cách giải thích "tầng lớp quý tộc thời đó đã hấp thụ ảnh hưởng văn minh Trung Hoa thời Chiến Quốc". "Việc hấp thụ ảnh hưởng văn hóa bên ngoài của tầng lớp quý tộc và của đông đảo nhân dân lao động rất khác nhau. Tầng lớp quý tộc có thể chịu ảnh hưởng sâu xa phong cách nước ngoài (tổ chức hành chính, tổ chức triều đình, quan lại, lề lối ăn mặc, nhà cửa, chữ viết, v.v...); trong khi nhân dân lao động hấp thụ rất thận trọng, có sáng tạo, biết "dân tộc hóa" những yếu tố vay mượn từ bên ngoài và kiên trì bảo tồn cái vốn tinh túy của nền văn hóa dân tộc"[26]. 2. Người khác lại sắp xếp cho những đầu ngói tìm thấy ở Cổ Loa một niên đại "không thể sớm hơn vãn kỳ Tần Hán" với những lý do: - Hoa văn mây cuốn của những đầu ngói Cổ Loa tương tự như đầu ngói Tây Hán ở Trung Quốc. - Hoa văn thừng thô và thừng nhuyễn trên thân ngói bản Cổ Loa là đặc điểm của đồng loại bên Trung Quốc vào văn kỳ Tây Hán. - Cũng có đầu ngói văn mây cuốn kiểu Đông Hán sơ kỳ. - Thời Tây Hán sơ kỳ còn có loại đầu ngói nửa hình tròn nhưng ở Cổ Loa không có. - Ngói Cổ Loa có nhiều mảnh có độ nung cao rắn như sành, vượt xa độ nung của ngói thời Đông Chu. Cách tính tuổi cho đầu ngói như thế, tất nhiên dẫn tới kết luận: "Lớp đất đắp thành có chứa những mảnh ngói nói trên được đắp vào thời Mã Viện, sau khi tên tướng xâm lược này đàn áp cuộc khởi nghĩa lừng danh của Hai Bà Trưng". Tuy nhiên, tác giả ý kiến này còn đưa thêm giả thuyết "đáng suy nghĩ hơn cả" rằng lớp đất đắp thành có chứa đựng ngói cổ có thể do Lý Phật Tử thi công[27]. 3. Ngôi mộ cổ tại Mạch Tràng khai quật vào tháng 1-1970 đã cung cấp một số tư liệu đáng chú ý: - Những viên gạch xây mộ phần nhiều có in chữ Hán và cho biết 3 niên đại tuyệt đối: Năm 99 sau công nguyên (Vĩnh Nguyên thứ 11). Năm 105 sau Công nguyên (Vĩnh Nguyên thứ 17). Năm 111 sau Công nguyên (Vĩnh Sơ thứ 5). - Những đồ gốm, đồ sứ chôn trong mộ đều mang đặc điểm thời Đông Hán muộn. - Những viên gạch xây mộ được chèn bằng các mảnh ngói cùng loại với ngói tìm thấy phổ biến trong và ngoài tường thành Cổ Loa. Người phụ trách khai quật ngôi mộ này đã đưa ra một số ý kiến như sau: - Giới hạn niên đại sớm nhất của ngôi mộ là năm 111 sau Công nguyên. Giới hạn muộn không thể đoán cụ thể, nhưng cũng không thể vượt khỏi thời Đông Hán. - Ngói Cổ Loa có niên đại tương đương với ngôi mộ. Theo quy luật phổ biến (chưa thấy có ngoại lệ) thì những vật chèn trong gạch mộ thường là những phế phẩm gốm sứ đương thời. Khó có thể nghĩ rằng người ta đã đi vào tìm những mảnh ngói cách đó 3 thế kỷ để chèn mộ. Một lẽ khác là cho tới nay chưa có người nghiên cứu nào nghĩ tới việc tách những ngói Cổ Loa, loại này đã tìm thấy trong cùng một tầng văn hóa, phân bố phổ biến biến trên khu vực Cổ Loa, ra nhiều niên đại khác nhau tới 3 thế kỷ. - Lớp đất đắp thành chứa ngói Cổ Loa chỉ có cùng niên đại với ngói hoặc muộn hơn và như vậy việc đi tìm dấu thành cũ của An Dương Vương còn phải tiếp tục tiến hành. - Một khi trong tay có những hiện vật không còn nghi ngờ gì nữa là thuộc thời An Dương Vương, mới có thể rút ra kết luận chính xác về bộ mặt xã hội thời đó[28]. 4. Những hiện vật tìm thấy tại lớp đất cuối cùng (sau 5 đến 6m tính từ mặt thành) của đoạn thành xóm Mít, một đoạn thành nguyên vẹn nhất và cao nhất của vòng thành ngoài, vẫn là những mảnh ngói Cổ Loa, một mảnh trôn và vài mảnh miệng của một cái chõ, một số mảnh gạch in văn thừng thành đồ án những hình chữ chi, hoặc văn ô trám lồng... Người phụ trách cắt đoạn thành này quy định cho những hiện vật này một tuổi tương đương với thời Đông Hán và cũng đưa ra ý kiến cho rằng không thể coi tất cả những tường thành còn lại trên mặt đất hiện nay là thuộc thời An Dương Vương[29]. b. Về kỹ thuật xây thành Từ kết luận "thành Cổ Loa hiện tại không thể có sau thời Hán, cũng không thể là một huyện thành đời Hán..., chỉ có thể là kinh thành của một nhà nước Việt Nam thời cổ trước đời Hán... theo sử cũ, đó là nước Âu Lạc của An Dương vương", tác giả ý kiến này đã đi sâu nghiên cứu và rút ra một số nhận xét về tòa thành: - Khi đắp thành, điều kiện địa hình ở khu vực Cổ Loa đã được nghiên cứu và vận dụng phù hợp sáng tạo. Sông được lợi dụng làm hào thiên nhiên và cung cấp nước cho hệ thống hào, gò đống được đắp nổi thành tường thành. - Người xưa đã sáng tạo ra kỹ thuật kè đá tảng và rải gốm ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở. - Thành Cổ Loa là một công trình lao động quy mô lớn. - Thành Cổ Loa là một công trình phòng vệ kiên cố và lợi hại, vừa là một căn cứ bộ binh, vừa là một căn cứ thủy quân quan trọng. Nó là sự chung đúc truyền thống quý báu của người Âu - người Lạc tổ tiên chúng ta[30]. Những người còn hoài nghi về dấu vết thành còn lại, hay nói cho đúng hơn, hoài nghi những lớp đất đắp thành trong có chứa những gạch ngói mà họ cho là có tuổi Đông Hán, thì tất nhiên chưa phát biểu gì về kỹ thuật đắp thành, về tổ chức ăn ở và bố trí phòng vệ trong và ngoài thành thời Thục... Họ chủ trương tiếp tục đi tìm dấu vết còn lại của tòa thành Cổ Loa của An Dương Vương mà họ cho rằng có chỗ không còn chút nào, có chỗ bị thành Hán trùm lên và có chỗ chìm trong lòng đất ngoài phạm vi chân thành hiện tại. Họ cũng nhất trí suy luận rằng ngay trên mảnh đất Cổ Loa lịch sử này có khả năng tìm thấy không những dấu vết thành Cổ Loa của An Dương Vương mà còn tìm thấy cả những di vật các loại đương thời, không chỉ là những di vật kiến trúc[31]. Cho tới nay, trừ di chỉ Đường Mây, thì trong phạm vi tường thành và những nơi khác trong khu vực ba vòng thành, người ta tìm thấy nhiều nhất là gạch, ngói ống, ngói bản (đây là nói những di vật trước, sau công nguyên một vài thế kỷ). Gạch ngói tất nhiên không phải là tất cả những di vật thời An Dương vương, nhưng cho tới nay nó gần như là tất cả những di vật đã được tìm thấy mà có ý kiến xếp vào niên đại thời kỳ An Dương Vương. Những người chưa đồng ý như vậy, về mặt nghiên cứu hiện vật chưa chấp nhận đây là những di vật sớm hơn thời thuộc Hán, về mặt suy lý chưa thỏa mãn rằng bộ mặt văn hóa vật chất của một thời kỳ lịch sử tiếp liền ngay sau thời kỳ Hùng Vương mà tính chất bản địa, độc đáo, sáng tạo, có trình độ cao của nền văn hóa đã được chứng minh khá đầy đủ bằng những hiện vật khảo cổ, lại bỗng chốc chịu ảnh hưởng quá đậm nét đặc điểm văn hóa phương bắc. Đối với những hiện vật tìm thấy tại di chỉ Đường Mây, nên nhìn thấy trong đó những đặc điểm của thời kỳ lịch sử này (có thể không có đặc điểm riêng trong văn hóa vật chất của thời kỳ này). Di chỉ Đường Mây có niên đại gần kề với niên đại của tường thành Cổ Loa. Gốm thô Đường Mây tương tự gốm Đường Cồ mà nhiều người cho là có niên đại từ cuối Chiến Quốc tới Đông Hán, và có tính chất bản địa. Những đầu mũi tên đồng hình lá, hình tam giác bẹt 2 cánh, hình 3 cạnh sắc, tiết diện tam giác, v.v... gần gũi rất nhiều với những đầu mũi tên tìm thấy ở những di chỉ sớm hơn. Những bàn "dập gốm" có dáng dấp Phùng Nguyên. Những dấu vết sắt của sơ kỳ thời đại sắt dễ phù hợp với thời gian khoảng 2-3 thế kỷ trước Công nguyên. Tất cả những điểm kể trên có nhiều gợi ý cho việc đi sâu nghiên cứu hiện vật di chỉ Đường Mây và từ đó có hy vọng giải thích rõ bộ mặt văn hóa vật chất của thời kỳ lịch sử An Dương Vương và nước Âu Lạc. * * * Kết hợp nhận xét về cách thức xây thành với sự có mặt của gạch ngói trong tường thành, có một loại giả thuyết được đề ra, bị phản bác, nhưng trong tình hình khai quật và nghiên cứu hiện nay, chưa thể được thật sự đánh giá đúng sai, cũng như mọi giả thuyết khác. Cho nên, trong tinh thần thật sự cầu thị, muốn phản ánh mọi hướng suy nghĩ để tiện đường tìm tòi, cũng xin nêu: hai vòng thành ngoài, dựa vào đồi gò thiên nhiên, có thể là được xây dựng từ trước thời Bắc thuộc, sở dĩ có gạch ngói muộn bên trong tường là do có sửa chữa về sau; còn vòng bên trong có hình chữ nhật cân xứng, có nhiều hỏa hồi, cấu trúc khác hẳn hai vòng ngoài, có thể là xây dựng về sau. Những việc cần tiếp tục làm Vấn đề An Dương Vương tự bản thân nó và trong mối quan hệ gốc gác và tiếp nối với thời kỳ Hùng Vương nói chung và vấn đề thành Cổ Loa nói riêng, đối với những người nghiên cứu khảo cổ học, sử học và cả các ngành có liên quan, ai cũng thấy là vấn đề phong phú, lớn nhưng phức tạp, khó khăn. Hầu như tất cả mọi người, trong ý kiến phát biểu cũng như trong bài viết đều đánh giá kết quả những công việc đã làm mới chỉ là "bước đầu", mới chỉ là "những giả thuyết nghèo nàn so với thực tế vô cùng sinh động và phong phú, mới chỉ là "phát biểu trên cơ sở một tình hình nghiên cứu chưa đầy đủ". Vì vậy đặt vấn đề tiếp tục đi sâu nghiên cứu là một điều hợp lý. Căn cứ vào tình hình nghiên cứu đã qua, nhóm nghiên cứu thời kỳ An Dương Vương và quan hệ với thời kỳ Hùng Vương thấy cần phải tiếp tục làm một số việc trong thời gian tới như sau: Về mặt tư liệu khảo cổ học - Phấn đấu để tìm ra những di vật các loại thuộc thời kỳ lịch sử này Đi tìm một cái gì riêng của thời kỳ An Dương Vương là một việc làm khó khăn vì thời gian tồn tại của thời kỳ lịch sử này quá ngắn ngủi. Tuy nhiên không đặt ra trong giả thuyết công tác lại là một thiếu sót. Tìm được một cái gì đã có tính riêng của thời đại, một cái gì đã có thể ít nhất giải thích được sự kế tục của văn hóa thời kỳ Hùng Vương có yếu tố văn hóa mới hoặc của tộc Thục anh em, hoặc của phương Bắc, tất nhiên đó là điều lý tưởng. Nhưng địa bàn tìm ra cái đó, quan trọng nhất, vẫn là khu vực Cổ Loa lịch sử, bởi vì nơi đây thư tịch, truyền thuyết... đã hỗ trợ đắc lực cho chúng ta kết luận quyền sở hữu các di vật thời đó thuộc về An Dương Vương. Một khi đã làm được điều nói trên, chúng ta sẽ có cơ sở để so sánh với những di chỉ đó đây, trả lại cho An Dương Vương những cái mà trước đây ta thường nói là thuộc thời "Hùng Vương muộn". Và phải chăng cũng từ đó chúng ta lần tìm được cương vực (tất nhiên không đơn giản) của nước Âu Lạc xưa? Nếu không tìm được cái gì riêng của thời An Dương Vương, nếu chúng ta chỉ gặp những hiện vật đồng loại với thời Hùng vương cuối mà có niên đại gần kề thời thuộc Triệu hay thuộc Hán thì cũng là điều hợp lý, chúng ta lại có cơ sở để xác minh những dự đoán bấy lâu nay là "văn hóa vật chất thời kỳ An Dương Vương về cơ bản là văn hóa thời kỳ Hùng Vương". Những tài liệu truyền thuyết ở Cao Bằng cần xác minh chu đáo. Những ghi chép của Rômanê đuy Caiô từ năm 1880 chắc giữ được nhiều phần nguyên thủy hơn. Việc kiếm lại tài liệu này là một công việc rất cần. Đồng thời việc cùng tác giả bản Chín chúa tranh vua lọc tìm cái cốt cũ của truyền thuyết cũng cần làm ngay. Vùng Tĩnh Gia (Thanh Hóa) và Diễn Châu (Nghệ An) ít nhiều đã cung cấp cho ta một số tư liệu có ích nhưng tới nay "trữ lượng" tư liệu các vùng này vẫn chưa được khai thác hết. Trong kế hoạch sưu tầm tư liệu thì vùng này tất không thể bỏ qua. Tóm lại trong kho tư liệu các loại về thời kỳ lịch sử An Dương Vương hiện nay, tư liệu khảo cổ học còn quá ít cả về số lượng lẫn loại hình. Thực tế này yêu cầu chúng ta phải bổ khuyết kịp thời. Về mặt nghiên cứu - Nguồn gốc tộc Thục và quan hệ Thục - Hùng tới nay vẫn còn nhiều bí ẩn. Giải quyết tốt vấn đề nguồn gốc tộc Thục chúng ta sẽ giải quyết tốt vấn đề quan hệ với Hùng Vương, đồng thời sẽ thoải mái trong việc đưa thời kỳ lịch sử An Dương Vương vào thời đại bắt đầu "dựng nước và giữ nước". Trong việc giải quyết vấn đề này, tài liệu thư tịch và dân tộc học sẽ phát huy nhiều tác dụng. - Vấn đề thành Cổ Loa. Phần trên đã nói tới vị trí quan trọng của thành Cổ Loa trong việc nghiên cứu thời kỳ lịch sử An Dương Vương và nước Âu Lạc. Nhưng một tòa thành cổ, trải qua mấy nghìn năm đầy biến động của lịch sử dân tộc, không dễ gì xác định. Chính sự sụt lở do mưa nắng, thời gian, chính sự tu sửa bồi đắp và cả sự phá hoại của con người thời sau đã gây ra những điều chưa nhất trí trong các ý kiến khoa học hiện nay. Nhưng sự chưa nhất trí còn có nguyên nhân quan trọng là công việc của chúng ta làm còn quá ít nên chưa gần được chân lý. Tòa thành I-lion "thần thoại"[32] phải sau 20 năm đào bới, những người làm công tác khảo cổ học mới tìm thấy vết tích thật của nó. Trong vấn đề này chẳng bàn cũng có thể dễ dàng thống nhất rằng khảo cổ học đóng vai trò chủ yếu. Kết quả khả quan của một thời gian ngắn ngủi nghiên cứu trên tinh thần đoàn kết hợp tác xã hội chủ nghĩa vừa qua là bảo đảm vững chắc cho việc giải quyết tốt vấn đề lịch sử phức tạp, khó khăn nhưng có ý nghĩa rất quan trọng này. Nguồn: Trần Quốc Vượng, Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm/khoalichsu.edu.vn Nxb. Văn học, 2003, tr.615-649. [1]A.G. Ôđricua, "Người An Nam trước triều đại nhà Hán của Trung Hoa", Tạp chí Đông Dương, tháng 7-12/1923, tr.229. [2]Trong truyền thuyết, gà trắng (Bạch kê tinh) là quỷ tinh phá thành vua Thục. [3]Ở Cổ Loa người con rể không được tự do ăn nằm với vợ ở nhà bố mẹ vợ, người ta sợ rằng như vậy sẽ làm ăn xúi quẩy vì quan niệm rằng chính vua Thục xưa quá tin Trọng Thủy cho ở rể nên sau này mất nước. [4]Phán là tên Thục Phán, Nồi là tên của Nồi Hầu. [5]Công tác điều tra khai quật phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài "Thời kỳ lịch sử An Dương Vương và nước Âu Lạc" tính từ khi phát hiện kho mũi tên đồng Cầu Vực năm 1959 gồm những đợt lớn như sau: - Phát hiện kho mũi tên đồng Cầu Vực 1959. - Lai Quý Hộ (Đội Khảo cổ, Bộ Văn hóa. Điều tra khảo cổ học khu Cổ Loa, 1959. - Trần Hương Văn, Nguyễn Văn Cự (Đội Khảo cổ, Bộ Văn Hóa). Đào thám sát Đống Chuông, Đống Dáo, 1964. - Hà Nguyên Điểm, Lê Xuân Diệm (Đội Khảo cổ, Bộ Văn hóa). Đào khu mộ cổ Mả Cơ - Cầu Cả, 1966. - Đỗ Đình Truật, Nguyễn Thành Trai (Đội Khảo cổ, Bộ Văn hóa). Điều tra cơ bản khu Cổ Loa, 1966. - Đoàn điều tra cổ sử trưởng ĐHTH. Điều tra sưu tầm truyền thuyết, địa danh, các vòng thành Cổ Loa, 1966. - Khoa Sử trường Đại học Tổng hợp. Điều tra, khai quật Đồng Vông, Bãi Mèn, Trại Xóm Vang, cắt thành trong, đào khu mộ cổ Mả Cơ, 1967. - Nguyễn Duy Tỷ (Viện Khảo cổ học). Khai quật Bãi Mèn, 1968. - Nguyễn Duy Chiếm, Phạm Như Hồ (Viện Khảo cổ học). Điều tra sưu tầm truyền thuyết, 1969. - Khoa Sử trường Đại học Tổng hợp. Khai quật Đồng Vông - Đường Mây, 1969. - Đỗ Đình Truật, Phạm Như Hồ (Viện Khảo cổ học). Điều tra khảo cổ học Cao Bằng 7-1969. - Đỗ Đình Truật, Phạm Như Hồ, Trần Đình Luyện (Viện Khảo cổ học). Cắt thành Luy Lâu, Hà Bắc 12-1969. - Khoa Sử trường Đại học Tổng hợp. Khai quật Đường Mây, Đình Chàng 1-1970. - Nguyễn Duy Chiếm, Đỗ Đình Truật, Phạm Như Hồ, Trần Đình Luyện (Viện Khảo cổ học). Khai quật Đồng Vông, mộ Mạch Tràng, cắt thành ngoài Cổ Loa, 1-1970. - Nhóm sinh viên Dân tộc học trường Đại học Tổng hợp. Điều tra dân tộc học vùng Cổ Loa, 2-1970. - Đỗ Đình Truật (Viện Khảo cổ học). Điều tra khảo cổ học Thanh Hóa, Nghệ An 4-1970. [6] Phạm Huy Thông, "Tiến đến đưa thời kỳ Hùng Vương vào chính sử", Tạp chí Khảo cổ học, Hà Nội, số 1, tháng 6/1969, tr.60. [7] Trần Quốc Vượng, "Cổ Loa: những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới", Tạp chí Khảo cổ học, số 3-4, tháng 12/1969, tr.112-113. [8] Trần Quốc Vượng, "Cổ Loa: những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới", bài đã dẫn, tr.112-113. [9] Nguyễn Duy Hinh, "Bàn về nước Âu Lạc và An Dương Vương", Tạp chí Khảo cổ học, số 3-4, tháng 12/1969, tr.154. [10] Đào Duy Anh, "Góp ý kiến về vấn đề An Dương Vương", Tạp chí Khảo cổ học, số 3-4, tháng 12/1969, tr.138. [11] Đào Duy Anh, "Góp ý kiến về vấn đề An Dương Vương", bài đã dẫn, tr.138. [12] Nguyễn Linh, "Bàn về nước Thục của Thục Phán", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 124, tháng 7/1969, tr.45-50. [13] Nguyễn Văn Huyên, ý kiến trao đổi trong buổi sinh hoạt học thuật tại viện Khảo cổ học, ngày 5-5-1970. [14] Phần còn lại của các tường thành trên mặt đất hiện nay còn có ý kiến khác nhau về niên đại, nhưng điểm thống nhất là khẳng định có một ngôi thành An Dương Vương trên miền đất Cổ Loa hiện tại. [15] Đại Việt sử ký toàn thư. [16] L. Ôruxô. [17] Đào Duy Anh. [18] Xem Sử ký của Tư Mã Thiên. [19] Nguyễn Linh, "Bàn về nước Thục của Thục Phán", bài đã dẫn, tr.45-50. [20] Nguyễn Duy Hinh, "Bàn về nước Âu Lạc và An Dương Vương", bài đã dẫn, tr.150, 152-153. [21] Đào Duy Anh, "Góp ý kiến về vấn đề An Dương Vương", bài đã dẫn, tr.143. [22] Trương Hoàng Châu, "Tòa thành đất cổ trên đất Cổ Loa", Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 129, tháng 12/1969. [23] Theo ý kiến của Nguyễn Duy Tỳ thì lớp dưới của di chỉ Bãi Mèn là thuộc thời đại đồng thau. [24] Trần Quốc Vượng, "Cổ Loa: những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới", Bài đã dẫn, tr.113-126. [25] Diệp Đình Hoa, Sơ kỳ thời đại sắt ở nước ta và vấn đề Hùng Vương - An Dương Vương, Báo cáo tại Hội nghị lần thứ hai nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương (bản đánh máy), lưu tại Phòng tư liệu Viện Khảo cổ học. [26] Trần Quốc Vượng, "Cổ Loa: những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới", bài đã dẫn, tr.120,126. [27] Trương Hoàng Châu, "Tòa thành đất cổ trên đất Cổ Loa", bài đã dẫn,. [28] Nguyễn Duy Chiếm, Báo cáo khai quật ngôi mộ Mạch Tràng (bản đánh máy), lưu tại Phòng tư liệu Viện Khảo cổ học. [29] Đỗ Đình Truật, Báo cáo cắt thành Cổ Loa ở xóm Mít (bản đánh máy) lưu tại phòng Tư liệu Viện Khảo cổ học. Đoạn thành này được cắt tháng 1-1970, chân thành rộng 20m. [30] Trần Quốc Vượng, "Cổ Loa: những kết quả nghiên cứu vừa qua và những triển vọng tới", bài đã dẫn, tr.126. [31] Tổ nghiên cứu 3, Viện Khảo cổ học. [32] Theo tiếng Pháp quen gọi là Tơroa. Nguon theo Hoinhavanvn
  24. (Quyền thiên dị) – Tiết tử 07 Thứ Bảy Tháng 4 2012 Edit: Tiểu Điền Điền Vào khoảng thời gian không rõ, ước chừng là năm Đại Tống, trên trời bỗng có ngôi sao bay thẳng xuống, sấm điên cuồng cuồn cuộn trong không trung cùng với mưa lớn ba ngày không dứt. Trên trời dưới đất, người phàm hay thần tiên chẳng ai ngờ rằng, viên ngọc Khóa Yêu tháp trên núi Côn Lôn đột nhiên nứt ra, phóng thích tà ma, nhân gian điên đảo, thông qua cánh cửa Ma giới mà vô cớ phá phách. Ma tộc tuy có một người đứng đầu bị giam giữ chưa thể hoành hoành, nhưng vẫn rục rịch không yên. Thế gian nguy ngập, tuy rằng pháp sư cùng thần tiên hợp lực, nhưng lực lượng yêu ma vẫn ngày càng tăng, cái gọi “đạo cao một thước, ma cao một trượng” chính là đây. Chúng sinh trong thế gian, chỉ mong tiên nhân mau mau trùng tu Côn Lôn bắt lại yêu quái, để cuộc sống người người bình an. Tuy nhiên, muốn khôi phục linh châu chấn tháp há đễ dàng được như vậy? Chúng sinh rối loạn, thần nhân cũng lo âu, liền lập tức phái bảy vị tinh quân giải tai ách xuống hạ giới, giả làm phàm nhân tìm lại linh châu chấn tháp. Trên ba mươi ba tầng mây, điện Lăng Tiêu – nơi ở của các vị thần tiên. Sương mù mông lung. lượn lờ mờ mịt. Sâu trong nơi hỗn độn đó, dần dần hiện ra vườn hoa tuyệt đẹp vô cùng, những bông hoa lê bay quanh co trong không trung chẳng khác nào bông tuyết đang rơi. Hương của hoa lê quả thật làm mê hồn người. Ngẫu nhiên truyền nghe thấy một hai âm hí khúc của Liên Hoa Lạc giòn vang, hoặc đôi khi lại là tiếng cười khẽ. Những bông tuyết vẫn phất phơ bay theo gió, tại khung cảnh đó vị thần tiên nào lại có nhã hứng tại đây đánh cờ? Giữa không gian tràn ngập hoa lê, dần dần hiện ra hai thân ảnh một thanh (xanh) một lam (xanh lam). Thân ảnh màu lam là một thanh niên có ngũ quan thanh tú, đáng tiếc trên mặt lại buồn bực không thôi, đôi lông mày trước mặt nhăn lại, đôi mắt nhìn chăm chăm vào bàn cờ trước mặt. Trên bàn cờ là thế cờ lục bác, gọi là lục bác bởi thế cờ tạo từ năm chữ “tản” và một chữ “kiêu”, “kiêu” có thể ăn “tản”, khi chơi cờ, kỳ thủ hai bên đều lấy kiêu vi bách (muốn có được chữ kiêu), tiêu diệt “tản” tự, nhưng “tản” lại có thể điều binh khiển tướng tìm cơ hội giết “kiêu”, thắng thua là dựa vào việc diệt “kiêu” mà định. Thân ảnh còn lại cũng là một nam tử, cả người toát lên khí chất tiên nhân, giống như một thanh niên chính trực vô tư, ánh mắt tràn ngập khí độ ung dung, người dựa vào thân cây, hai tay khoanh trước ngực. tươi cười không có chút gì gấp gáp. Nhưng tỉ mỉ quan sát thế cờ trước mặt liền thấy một quân cờ đen đang bị một quân cờ trắng “kiêu” ép đến tuyệt địa, quân “tản” đứng bên ngoài, quân trắng “tản” vừa đến gần sẽ bị quân đen “kiêu” ăn mất, quân trắng “kiêu” đứng một mình, thế cờ cự sát. Giờ đây chỉ có thể nghe thấy tiếng gió thổi qua tán cây xào xạc. Thật khó trách thanh niên trầm tư suy nghĩ, bởi vẫn không nghĩ ra biện pháp phá trận. Cuối cùng, hắn bất đắc dĩ thất vọng hạ bả vai xuống, ngẩng đầu nhìn nam tử đối diện nói: ”Thường nghe thấy Thiên Quyền tinh quân vốn có tấm lòng nhân hậu, chính là một tiên nhân mẫu mực….Nếu ai có cùng ngươi chơi ván cờ mà thua, nhất định sẽ không có ý nghĩ ngờ vực gì.” Namtử cười đáp lời: “ Ván cờ thắng hay bại, bất quá chỉ là trò chơi, ti mệnh tinh quân đừng quá để ý.” “Nếu ngươi thua liên tiếp năm trăm năm, liền biết để ý thôi.” Thanh niên nhỏ giọng nói thầm. Nam tử cũng không phải không nghe thấy, nhưng chỉ cười không nói. Đã thua ròng rã năm trăm năm nhưng cứ luôn quay về khiêu chiến, cũng chỉ vị sao Nam Đẩu ti mệnh tinh quân này mới có sự bền lòng như vậy. Đáng tiếc nghị lực thì có đủ, nhưng năng lực thì….thật khó nói. Thanh niên đưa tay hạ quân cờ xuống, đang định chiếm thêm vùng nữa, bỗng nhiên nghe được có tiếng chuông vàng ngân vang từ bầu trời, đạp gió mà tới. Hai người thần sắc trên mặt trầm xuống, vội vàng đứng dậy ngẩng đầu lên, liền thấy ngay một đám mây lơ lửng trên không, một tiên đồng chân trần đang chầm chậm bước xuống. Mắt cá chân đeo một chuỗi kim vàng tinh xảo sáng bóng, mỗi khi bước thêm một bước, tiếng chuông lại vang lên, nghe rất vui tai. Nam tử nhận ra được đứa trẻ này, đúng là tiểu tiên đồng xưa nay có nhiệm vụ truyền lệnh của Đế quân, bèn hỏi: “ Không biết Đế quân có gì sai phái?” Tiên đồng chân trần cười tinh nghịch, đôi tay bạch ngọc khẽ phất, đột nhiên trong không trung một cuốn hoàng kim lệnh trải ra. Thanh âm mặc dù non nớt, lại vô hình ẩn chứa uy nghi: “Khóa yêu tháp phá, yêu tà tẫn thích, vi bảo thiên hạ thương sinh linh, tư lệnh bảy huyền giải ách tinh quân hạ phàm, mịch linh châu, tố bảo tháp.” (Khóa Yêu Tháp bị phá, yêu ma được phóng thích, để bảo vệ thiên ha cùng chúng sinh linh, lệnh cho bảy vị tinh quân giải tai ách lập tức hạ phàm, tìm linh châu, chấn bảo tháp.) Nam tử nghe vây, đôi mày khẽ nâng: “Sợ là không dừng ở đó đi?” Tiên đồng cười khanh khách: “Thiên Quyền tinh quân quả nhiên lợi hại, Đế quân phân phó, nhân gian chịu sự nhiễu loạn của yêu quái không tránh khỏi kinh hách, bảy vị tinh quân nhớ không lấy chân thân xuống trần gian.” Chỉ chờ tiên đồng thu pháp rời đi, thanh nhiên nhịn không được đi lên nửa bước, khuỷu tay huých vào bả vai nam tử, cười cười vẻ lưu manh nói: “Này cũng không phải vệc gì nhàn hạ a!” Nam tử mỉm cười gạt cánh tay đang làm càn của thanh niên xuống: “ Tuy việc này không khó, nhưng cũng thật sự phiền toái. Chiếu theo quy định mà làm, tất phải đi đầu thai. Nếu như vây, muốn tự do ra ngoài cũng phải mười tuổi trở lên, huống chi việc này là đi tìm châu, phải rời nhà thường xuyên không khỏi làm phàm thế phụ mẫu lo lắng, thật sự không ổn.” “Ngươi nghĩ thật chu đáo…” Thanh niên nghĩ nghĩ. “Nếu không như vậy đi, tìm một cỗ thi thể nào đó mà nhập vào có được không?” “Không thể như thế, Tá Thi Hoàn Hồn là trái với đạo trời, huống chi hiện giờ yêu ma đầy rẫy, nếu giờ ngay cả tiên gia cũng theo tà đạo, chẳng phải là thiên hạ đại loạn sao?” Thanh niên có chút không kiên nhẫn: ”Thế này không được thế kia cũng không được. Hừ! Vậy ngươi chỉ cần đi mượn thân thể một ai đó dùng tạm là được rồi.” Hắn bất quá chỉ là trong lúc tức giận nói thế, ai ngờ lại nghe nam tử kia nói: “Thật là một ý kiến hay!” Thanh niên mắt trợn trắng : “Ai chịu cho ngươi mượn a?” Nam tử cũng không nghĩ đến việc đó, mở ra bàn tay, tỉ mỉ tính toán: “Không thể chọn người lương thiện, cũng không nên chọn người cha mẹ vẫn còn, nhưng nếu là kẻ đại gian đại ác, lại có thêm chút quyền lực địa vị, như vậy mới dễ dàng hành sư.” “Được rồi!” Thanh niên đập hai tay vào nhau, cũng không biết chính mình năm trăm năm qua đã luyện được tính nhẫn nại sao đối với nam nhân này thoáng chốc đã biến thành sương khói, thật sự là phiền :”Ta giúp ngươi tìm đi!” Nam tử coi như sớm biết được hắn sẽ ra tay giúp đỡ, cười cười gật đầu :”Một khi đã như vậy, trước xin mượn hồ lô bắt giữ yêu quái của tinh quân để dùng, tạm lưu hồn phách kia tầm mấy năm. Ta biết hồ lô kia của ngươi ẩn chứa “Hoàng lương nhất mộng”, hồn phách ở trong đó chỉ như người say rượu nằm mơ, hết thảy bình thường. Đợi ngày đại sự thành công, đưa hắn trở lại như cũ là được.” “Ngươi sớm đã có quyết định này có phải không?” Thanh niên nhe răng trợn mắt, đáng tiếc khuôn mặt đó đối với nam tử hoàn toàn không có hiệu quả gì, bất đắc dĩ, đành phải thở dài lấy từ trong tay áo một hồ lô màu tím: ”Ngươi nhớ kĩ cho ta, trở về ngươi chắc chắn phải thua ta một ván.” Nam tử chỉ cười một tiếng: “Thắng bại đều dựa vào bản thân, nếu ta nhường cho ngươi thắng, vậy năm trăm năm qua không phải là đã lãng phí hết công sức sao?” Thanh niên nghe vậy sửng sốt, tuy quen biết nam nhân này đã được vạn năm, lại vẫn thường bị bề ngoài tao nhã của nam nhân này lừa. Hắn có thể dễ dàng nhìn thấu lòng người, bất tri bất giác dẫn dắt người ta. Tuy là bại bởi hắn, nhưng lòng vẫn cam tâm tình nguyện, thậm chí dần dần còn sinh ra một loại kiến thức, đó là trong thắng thua có thể nhận thức rõ được chính mình. Vì vậy, thế cục bàn cờ qua năm trăm năm, chỉ còn lại sự hưởng thụ quá trình chơi cờ, không để tâm đến thắng thua nữa. “Được rồi, ta nói ngươi!” Hắn quơ quơ hồ lô: “Chúng ta đi đô thành của Hoàng Đế nhân gian.” “Đi vào trong đó làm gì?” Thanh niên lại trợn mắt: “Không phải ngươi muốn người quyền cao chức trọng, đại gian đại ác sao? Dưới chân Thiên tử đang có một kẻ thích hợp đấy!” Lịch sử cờ tướng Nguồn gốc cờ tướng là vấn đề rất thú vị, hiện nay vẫn còn đang tranh luận và tiếp tục được tìm tòi, khảo cứu. Ai là người phát minh? Dân tộc nào là ông tổ của cờ tướng? Trung quốc hay Ấn độ ? data:image/jpeg;base64,/9j/4AAQSkZJRgABAQAAAQABAAD/2wCEAAkGBhQSERQUExQWFRUUFBQVGBUXFRgVFxQVFxQXFxYZFBUXHCYeFxkjGRcVHy8gIycqLCwsGB8xNTAqNSYrLCkBCQoKDgwOGg8PGCkfHyQsLCwpKSwsLCkpLCwsKSwpLCwsKSwpLCkpKSwpLCksLCwpKSwpLCwpLCwpLCkpLCwpLP/AABEIANYA6wMBIgACEQEDEQH/xAAcAAAABwEBAAAAAAAAAAAAAAAAAQIEBQYHAwj/xABIEAACAQIEAwUFBQUECAYDAAABAhEAAwQSITEFQVEGEyJhcQcygZGhFEJSscEjM2Jy8IKi0eEkQ1N0kqOywhUWlLPS8Rdjc//EABoBAAIDAQEAAAAAAAAAAAAAAAABAgMEBQb/xAAsEQACAgIBAgQFBAMAAAAAAAAAAQIRAyESBDFBUWHwBRMicYEUI1KhJDKx/9oADAMBAAIRAxEAPwDXbi0WI29Cv/UKWDXPFCVP9bVk4mls6haOKVFJmjigsQaVhV96fxGPkP1mkzXS02/rU8fcjM7RSaMGiG9aCsAWlgUYoiaCIKI0dEaCQkb0s0kUpWBGnpQIBopoMaSrj5UrQCqCikm4NPPbzoy1FoLOlJJpOeiLUWKwjRgUU0JosLOgoUQNGKYxLUAaK4w5mKKgYCaSRShRGkByaio2aizVFghhjO0OGsuLd7EWbbnZHuojGdvCxnWoLtRgjfdLp7wphrveILZJDXEVk8QWTo5YERrG8SKkOI9kMJc+0XbmHtXLlySXdAzaWlChWO0ZREV245x6xw/D23xLMEBRCyoXOYgsWYLrGjEmOdRUaG5WS2GzZFzwWyrmI08UDNp6zXRq54LFLdRLiHMjqGVhsykSCPhXVxUGiaOLNS8PsfUn60k0vD7a9TSxrYS7DDj+LZLRCGLlwi2h3ylgZaOeVQ7f2aibBcAqt8KW0K5VMaQSgBBVttSW2660O0V5buJt2if3Vs3WWSJN0m2gIHvCEumD5daWnDcPlyulsCNF7tCDpz0qrNOTnUWWQilC2iQ4FiCC9piCVh1gFRkYxABJ2YHn94VMAVUuGcNW1jrLKWVTYvp3ZdigOaw4KqScsZWEDTUVb5rThdwVlE9MItSaNhRAVaROeIuZQDsJAJ6DrTdb4AIDbu2umvh67D9afAUcVRPHKTtSr39yyMkl2I69ijlkNH7LPy96g12GYho8aCNIMgCpArSctVPBO75f99fX1/oOa8iPDSVGbXvbg5SNHA+lD7Ucs5t0fpqymB8fKpDLQKVFdNKKdS96Xn6f2J5E/D3sZrfkxmg+GBp4gQCf126UgXmIGupDSNPDAP5HT409y0MtT+VL+Xu/v+CPNeQwOIhfe/1YI235x1rob5111DKAOoMfPc/KnWWjy0lhn/L3v190PmvIa2bxzDxTLOI05TG1KwmIJEswgKCdVgHmdNY9ac5KTbwwHOdI1jb4DyprFNNb969SSkmuw0xL/vNeduAT5r+tOLFzMN5M6jTwnppXc0VWQxOM+V/j8t+fqDkmqoSBRGlGktV5AQVrmTXVjSCoqLBM5XHkletxPkFDH8iPjS8XqrTBGWI3EtoNOe4qIxz3GzXLTAMqKbcgFXa6o0Yf2QZ85pxwtHFmwLji6zQzOBAbQuCBJ0nIBSBIlLNoKAqgAKAAByAEAfKgTRzSM1VMsQVzypaNI9a5XDS7RJFOHcUimXeG3L3EMS2fwLbQC0yyhZfDLDMuYmLkAmNfjU1YxNvIQ1mMukGwADEA5RqDvyJHSlLdC3rmUggqTI11UywJ5kZhpPPzqOv8avkMww7x4Sgm2zOJkfeAQ6D3joKm0gj2FcFwoOKt3F8Fvu7uS2ucIxJQFsjovdkDMPDo0zyq3ioThmK71hcHum2sTv4tdR6VLzUo9iEls6E0VFQipCFA0c0kChQAqhSZoUAKIoUmaUDQKgEUUUdETQOgSKTmoRRrQFBijJopojQJBTQojQoGA0k0IpJoGBjXOaWaQVpWBQMJ7QcItkJmu5lkD9kTAC92u25CR8TTDG+1CwiW1RGYW7ISXZbSzCiTqWGg/DzrNrOEt6AqoJMCQehPOeQPKnVm2N0QImsvlyhQZAnqSYAjfr1rsat9jR/Z92+a6MScTeQWbfcm2WkEd4bngVmJa6PCsEyxJqVxHtJsw5tqTlOWX8Et0ye90Osb1jiYJ7zNLeITNwrkOXKrAFmllnNI2M5galcNwmFW2zlpDZmADjLrEljoBqNiSelVTlRqwYXJ7VlkxXbzHXWOR1RNCDbthTHQm4W89dI86h+KY3EXdbmKvjoEvOgG24B8R36b1yZRZUKuw0Gs/CunD+EPiHCmVBnXKzAREyVBjcab68qw/NnKWju/pMOLHc0WDsXxBe97pBdaxkDF2Kn7NdcsLmUrvaaN4JU76V0dccmJXMoFkMVF02+8uW7XMIVEljGxXnVg7HdkbeFzkhHdxlLAbIIyoAw0HOKb8c7TZRdSyj3GQEAgaEiR4SW1iGO3oDXQU1xtnnZY1yqJWsb2tu57VzD3e7VFZEs5T4QpABvk6XM0SVAGWNDJq6dnPaLavEJfAs3DABmbbn+FjqpP4W9ATWN2cU87fX9Dr+dOLWJBJmAdiJg/EETWWWfIpWux2MPw/DkhTdS8z0fRBazXsX2/S3FjEXFVIAS4xjKfwux5dDWkWrwYBlIZTqCDII8jW7HkU42jj58MsM+MhQNANRgUYFWFIVGKBohQIM0BRCjoAOiihNAtQIPLQoppJagAzSRTLiHFAgMFZXfMSFWSNyAdfL8qi+C9oe9uXP21q7bDZBkUo9lwQMlwFmkGdG06QZBqLkk6JcXVlhNAUU0qakII1zJo2pMUDCzUnOaVFJIqLAx/hPZq09pney4RAzaXmUNlUkKCSoJJG0n/ABgLS2bto3rFpsMLSKxVzBe3mKi4zmc6hlgk6iBy2sVjGqtsW7q94inOqkkQ+VlmV12Yj41WzwubV5x+8RcTba0HLm2nc3lFvvCSxQlrbDNzg6EkVFbQk62hmUCzbbMruoJVAQJEGVYgQxyxqeQ1qx4pwoAB1C6nqdfjtHxmorBZSqyJu20tEZmkrmhEaTo0HM3oBzNdsTcn5j5kxXP6iVaPRfDMSd5H4Etwbs22IAul1QZtAysxZeoyspWeuu8DzunD+Fqi5QxMDQLnVQPRmNcuBJ+xtEDQ20O3VQf1pzisaFfKdJBHIa5c35flWFTcnxRXnm3JtsZ3cU2cFmeCvd5Q5VGIIaYkDXMASennSHvhAZVVct7rGMqxoTEkeQpN58oGYoTLe7tvI1nXQx8qViCXdPCzaQT3ZJOXbXbbrrWmlxruYlybtFa7Sdm/Cb9u3GpZ0QgyNzctR728lY11I1GtWuIwEgd4sAgwG08v8q0vFuza5spk/wAKyNwI0+FQXEOCWZXuiylnAOUZ0YkiTk2RtzC6akkU5cUkben6iUG4yX5KhYxLAaW8oncgIPjP+dWrsH2pfAtkYf6PceSsXB3MjVrWYDMkwSqiNSR0qc4T2btW/EVzNHv3SDHmqAAKfMAetSFzCd4P2Yt5ZnNcSQ8cl00U/i+XWoQ6hQl9JLqZrKqki9YfEK6hlIZWAIIMggiQQRvXSaqvDuN2sHbt2LmVPeyAPMqDJ0YAmMwqxYbGpcnIwMGCNiD5g67a114ZIzWmcGUHFjiaOKSBSjVhASKE0kUc0Aw6I0VCaAATUH2h4wttH8RhR4gkl2MSEUL4sxGumsetTTms/wCNIQ129YR2No3GP7RWXP8Ae8MllaNNQdBtUJvROCTeyGwODLMblrELqxc2c5a2rtAkA+NWAEazuYFMbuFJZkCNhrl2bdzIQoa47r3dy2UgMWHeDMMpaQGAiQ5xfbTDKyjFJ3bsocHK2x0PiVWXcHXSl9msVbx3EVVCHRFW8/vNAtOvdiHA8Xed2Q0HQN5Gs3BtmrnGMS28Pw2ItXDfNu47MAHXMPECy+JhuzgCBMKokAbk2+aQKVWtKjG3bCNEaM0g0wCmkk0cUdJjMZFsXACuoMQRsZ2gnrpTAcJLpecXCU7xmdRIBXur2TbfxFD00NSd7FSDImdNROnmDyrna4jBuWnBAuoxBAjK+RoLDocwG1VdkEVbK/hBBjLlhoB6oFuFVOp2YHf/AArvPi+INOcTgsrA6eInYf8A9IJ8yD9KZNcyhieWb5ATXNzbkeq6BccDNPwuOW1h7YHiYW0GVd9EG/TbnTfDq7W81yFuM7sG94AGQLf8MIAJFNuyl1Th1TTMgIcHf3j4vMHkfhuKkkxNsZlLGdSBB2j6VQvpk0cxpP6hmcB7rNqTEACVB/m+u1EGkqXW67LGQhpGhnX8WsV0u40rp3hdQRClcpGo1Dczz1GtJ760QP2piAGlWzHY8tP0p209MkqrZ1sBy0XOY92PCRz0HPzFNktgZl3IdCsH/wDYoEH4kVzucVznJbDsq/cTVmPLOZyr5BmFOEwFxkIIt2gSDB/bMwBBh4KqvQgFgR61bDBOfcpnmjHsSdvCA7ofQkkfLY09nTbSoixhHUR9ouc91ttz2WU0GwgztvTi3YXQsC55Fjm18hsPgBUX0OReJFdTF90d5R2lcpZR7wOqg9DS7PDj+8lVjTvD4rpiYytoBvz03rmrMTAE6GEEz66U8xOGxPdKEVc5OoL5SARzOQ8+moq7p+nnGX1dirLki1oc4btNbUEYhxacZvC+jFV+8ABqu2o613TtThyP3n9xx/21F8R4ddUGAGC5iMpObaRIA8uW5O0TTXiWFNmyHdmcyBAXxSeuUDoeVdPZjonP/MuH270D1Vl/MUr/AMw4f/bJ84/OoS3w67AIBIIB8xImCNwaTcVwYIYetOx8SxWOM2X9y7bb0dT+tO887VUAwO/+Nc7llWOqieR90j4iDRYuLLdic2Qld4/qPOq2nGVuYe9kJDIrZl1DKYbkfMHWuYuXFgi5c0jQtnH9+aieDcUuXGxGZRKlkKkmYLFgBsAOk1CWyUdaIXtT2MW6bZvErCqPdz/EtoBJPTpUPhMbb4Ziu88b3e57pFGUHuzBUlSDCyBqd9YiKv3GuPXHXucMk3mDSXEpZG2e7BMgmQF+8QeQJFdsezS0B3t67dvO0MzswBZjEnQajTryHSktLYnG3ouHYftRcxqXGuolshlKIs6WyI1Zj4yHVxIA5aVaSazK32XsWnW5ZXu7qMGS6rFnDZArTmmVK6FdiNKuXBeOm7mt3AFvJqQPddNhctzrlmQQdVYEagqWmpWDg13JmaKa5h6MNUiIZpM0JpBekwM/X2T3XP7fHvA2Fmytr5lmamON4CLWVPFKteTMxlmQXmylj1y6zWplqrHaPDeIEazm0GhJI05fGeQmq5rRdipPZnWKZiGzI4IIgnLlbRpyZdeR1PpUPftEqQN2UqOeryB/1VMdp7eS8EDSCjXI6EiB9Fam3Cbee/kysxCyFAMFnlBmce4oQXJPnprXOmv3L8j0OGXy+lb8+xLN2Sv3EtYi1eNrEqkhNMgVoJtkjUnqTIJ5QAA6fiONAsp3du7iLhdWsC3ldFUEl1ulwjjQbHnEU8w/CFZywctdGpcEg9PDB0UGRA0FduOpmw4zyWs3FfMNIWctyY/gY+sCKhHM5T2rOTOHGOnRH8K7QqWGdltySgzK9vM6nKwBuDIxBBEqTqIp8cML1wqFyqpGdgYMkTkUjYkEMSNgQBqdI7D50u2e8fPh8KzXbVpwAkZWBnw5pUm4IMgQDFWfBnNbttszqLhj8dzxtv5t9K2Y4RlJyM0m0kkNr2Nt4eye7ywpyZUEgPvlIQGD8J9aUtm/ctoSy2nmXyjvBl1gAsVgxEkzzrnfFvC27jhUtyxZm5FzzImTvsDT/hfE8qg3LeedQ6tmEESPAYrVdFdDPhll7aKl+6Ljsxh8vdiCYA6QOvmKmMRwW5kbKyi5pA8RWJ1kgTMc4p0Mbh7xVmCZk1UMozof4ZGnLanlzEhTqVVfxT/Qp0hNsgsHgLyYoF0fKLRJdboFkNHiFuzmLlpEQVjUkETFSdrtRYNtrpY27anKS6MsmJ0ka6dNtZ2NSQH/AN0x4u1oITeUOgg5SneEmYGVNSTJp1RWSK3AQCNQQCCOYOtccaxFtioBIBMHSfjTS/xu1aFrOSjXQMqsIPLRvwxIHxrhfxV0gAMAQRrsCBvOWco86Gx1Z3wPDSjvdZnJfXLnlLa75UUQDHWJNDA8Zt31LWmkBspLIRqOk77ilWrlyBqDpuRImN1KkHfrVQ7U8bZrtuyujLaF66knwq9wKMhGhYBbgnXL6xQmmPi0WDFcVw4vd1kDEau4IyoAdczEgCOdczdwrEhGcECdEua6x4JWH/szVRxd229xe5GS4UUZiC+REYBsik5VMMdY6EzU1/4qttYTUkAFiZY+p6VW5otjBi8bjbaTFwyusFBm9MszPlULna7+0yPbdgEUAG2bpZvCrTDeZMDLrBNO+DYpXzuohmuPmbctDEDXkI5U/wAbhTCXBvbuq+2sAFWGvPKzR5xSsOPiHwrg62R3IkszZnYsWJLasfEZAGuk6aVMYu+D4NAig+ECCIECOhEGkW8QhVG94MpHk0agg/H5Cmt64FY5JggADnrG56U26QLbI12g67k/D+tqJcSVdXHvKSR0aRDKT0YafBTyFHeOYCfQ/X/OuJ6/L15VT2ZfVrZc8HiluIHXYifMHYg+YMj4V3FU/gvFxYuG258D5TJ2RiIBPQE6E8oB6mrcTWmLtGOSpipopoppNNiF4hyFYgSQCQOpAkCs24nxVzdsosZrxNxrh0VCpykBQQTLLlAnTn0Nl7RF7yX7TXWsoy5Ithc+UggtnYeGddtqzziV7B2nsrbU3ThwuHUm4baLkbPAIWLt6QDAESp1BFReyVsZcYVu/AYz4UA02Gd9PhMVK9l8Jdu3b/d+AP3SNdIBgKGYhBzY95z0A1qN48QcW8bDJ9bavH9+rV2JuhLNxjsbxnyGS2s/SuVldNnopr/Hil5k3heH27XhliYBzMxJ/DpA8Ow0ECmWMx7WmK3lDpupUlGy9CQYMbHr8ac4i5KG5uVGo2gZgfWANabcXxHfWnCqe8QF1mMpZY8M7eISPjWaLldoxTUapkbi/s9/vLFoFc6EZWBBto6lGymYKDNOm3MU27CdpRds/ZrjAYnCjunWZzrbJQOvNogA89jzp7hLAyhl2O38BPIc412rPu0OC/07FMrtbdHa4lxCQVbJZLiR5v8AXzrpdLl5SaMeeHBJmtOywdiDrBEg+oNDvJrO+Fe0m5bCrjLckqrC6gALoxIDlRpupnarfwztLh8RpavIx/CTlcf2Gg1tM6aJRlB3kx11rnesq4hhIGoBAIHwNK11oxc+dJonZIWuPXF97K48vCf1ptimsX+9i5dw167AN4Es6gRohecixOg01nc1wa5SAeYo2iLii14bDIUtqSt4oBDuFZifxaDQnyFNuKcTto9u05cNcIjLrzjWd/SDVeVoOxHmDB+mlPrHF3UaPmjk/wCho5C4+RYUwgHNjHUkfQaVTfaLwhu67+1INkkkDUG04i6GG5Ewx9CRrU2vaiPftt6jUVz4nx0MqGzdywwJUpJcfh8p2p6ZGpFA4TcVk8fjWZDg+6euYaqYiRUjfw7aMSSvJ13H8y7H1p1iEt377JctsLmUMHRQiprpFxYl/XTfzqFuvew10hnd1I0IUkMOsqpg9VYelQcLLFOiUwqZDmUe9JLLsx6unM+e/nUh35hjrIB2MgwPoKheHcTe4YNi4APvBMo+IaB8qkrN8NIBEgajZviOVQpplnJNaJjDOFVYAIVVWOX4jJ9aS1yd9ZOp+f03+dN8LdBQbwVBjeZA1rsiMwiIH9czQwikcWtkzAmf60pqlzNkI2IB+dTOTKo9Z/KqlwN5toSdZcf32I+hAqMlone6JLitrVXAmPCeejbT5Tp6Gpvs3xeT3DTKqWtkmcyAgMv8ySo81KnWDUBi8enedwxOZ7bNAGwBAXMfukmY65G6VGY/ihspbuKJupicPkGhJdrnduqjnmtNdXT8VSi2mVzVo1HNSZoyKLLWgzWUH2lcQxNgZ7GXVszuVDlFECyoQzCMxIZo0+M1XsZw91aziMiMA6u5cFQO9mWUAHuxJ313161pvaXhFu7aZ2gPaR2R5YZSFnxZSMySBIPTrWa9leJG1GIZYa7Za+NwGti2AWQSQsMCpA01HWoSS7klbdETir+bEO0DVn0Go0IUQTBIhREjard2KQNZug6jvj9UQ/rVJw6n7xkwAT1Man51euxEdw8b96Z9cifpXCzyvkz1ubHwwwRYmtDkIB0PnpH5VXfs5K7k5DlYRmIynL4Ry5mrGz1H93DuR+KfUMAZ+c1RiycWczLj5KhvhVElYI2iQQayrtTj+5xmMtNsbhI/td3c/L+tK1vGNlZGnfw/HcT9RWXe1fApbxaXBMX7ckAx40OUtzmVK/Kuj0c7m9dzF1Magl5FTN3M1rMCQLa29DGgJ0AjofSud+4hyhRBXUt97QRBAgAgjf6134XwHE4kObFtrgtRmggFZk6SQTsdq6Yc37Qe0EuIzAFl7tg5CnMJBHujXlXUtGCn3HPDu2eKsgBMRcKg+60OP+YD9CKtGD9qr/6y0rADVlJQ/I5l+oqiNczaOymckMsaAmGkADYawa5Ya6VaVMZSdRoT0oC2bDwzt/hrw/1gPTKG+iMZ+AqTt9r8Kw/fKkf7VXsn/mqBWYcRx6X7Kl7SFlUMXCqHaRkhmiYGUEb6sagbtyMgzZZBkgtpBI2B1mDSJcmb1b4jbceC5bYnpcQ6/A0/AAgEct9d+ted7eIYxqfj+kgzS/tLCJO+mkSSZjKMv9aUIOTN6w+KZiwa2VAMDUHP56THx602w2GuE3O8KakhMgyFVPIkjesSaz4gc14CRLEjw82lANSFDGOcV0uuC9wJcd1QkqWIzMAYByjbrA5UxcjYeGNeUk3mCKCQEzBif4i8x10ilXuM4a2xZryKW3m4GjrCgmscx7BFGrM5EkHQAHbbU894HSaZLdkHcHceGQRzk0ByNa4j7RcOmltXukdBlHzIn6VUOK9v71x1yKtlZ0YANc/4m2HlFVG4GQhp3AIjTfUbU+7NYB8TirVtf9orE9EQ5mJ9APyoC2bpwh2NiyY0NpdYM+6JBj0p9m2J0ExudDynyqN4YYXSfCXUa6LqSvh9GGtP+9k6a/HTUcvptVLNMex0xN0BHJ+6jkDqQhI+FUPB49rJPhLKAGjrKKFVB1Lg6+YG9WfiV8KtxgI/ZZeWpLkfTMao/a2xdDWFS4ES5YZWOUkqbbmCSDKgreAzR4Ymir0J62ccB2sJxTDIWzkqbo1GeNYAEBdMo12+dTWDsucfYvs2bJcQJbChEXO4R3YsfE4tltfkK48G4KbFpEmFPiVio8XIkH9R0peMwzvcVVvFCA77ZhKr4J1Gzsjf2TUN8tEvp4bs12gajuz3Ghi8LZxCgqLqBsrCCDsfhIMHmIPOpCa1GShWKw63EZHAZHUqynZlIIIPlGlZFxPFL9kVUByd4bFo/isWmlHWAPA6Kmn8cbVr7Cd6xrtBdGdLahQtpSBk2hiGUef7IWfrVHUS4wbN/wAPx/MzxRF200O8aaxoJ2k7Crn2GU91dkQDe0PX9nbn61G9ksILjOrCVCgsDzkOoB+p/sirRwjAdxbNvNIzsy6QYaPe6nzrhZXFKj0PVZuTePyY9u7UwvuVdWCkgiGA30O8fe3Og1jrtTy5TXEaBD/GB/xSv5kVmg6kYZLQq2VcQYKk/Ij8jWb+2axD4QdVvD626077Or6mQ3UGCfXr8azn2x2yLmBBJM98PP3rNdLpJfu19zD1P+hOezzhy2cBaZAJur3jk7sx/QDQVbLDZuQI+npUL2L4aPsGFJJINi22XYCVB5anfrVltoANABVGab+ZJ34luKK4LRTe0HsswuIAayFwz/wIDbYfxW5Go6iKzjtP7P8AEYEF2i5ZzBe9Ux72wZCZUzpzFb0DVM9rVtjw5sv3btp2H8IMSfKSD8K1dL1GSUlF7Rlz4YpOSMdXiAK5dAIUHqYZm/WKZuefUSfLVv6+Fc4M/GN+vryrTfZH2Xs4rE3nvoHXDpZKp9zO2ceIR4vdDQeZrr0c8zxb2gg6KCB6czPqaVesujkMrTlkAqVMMJDEGD5zXoy57MeHtiDiDYGctmK5mFov+I2py76xtPKn3aPsPg8dBxFoMy6LcBKOB0zKRI12MinQHmNr5IgghRE7lS4BEnzg/nXVFU5I0aGzDWN/CB6jea9E/wD4s4bkyfZVIA3z3MxPUsGnN57064Z2AwNgOLeHTxqUYvmusUYQVzXCTHkKKCzzXiCXZiTq084+PmBXS0BBLHUKEVdzmOk+Q2+Qr0MfZvgLdm6i4dSHliXJchgNMrMSVA6Csv8AYlhQ+OzMAcuHuNBEyxa0AfhJ+dKhlR4twe9YtWu9TKLq94hMg5JKgEHbXXr4hVh9lWMsWr903nRGa2q2yxAkljnAJ5wFrYPaB2ct4rB3Zthrlu27WjqGVgJABGpGm2xrFOD8DPc5hYW4WY63MwRVjw8tSY3oY4s1fBXVBbKysGafCQYhQOXpNPTiutZnieylkNau5DaUiGNslShMQSU3A69D5Va+AYN7VnK99sRJJVmIYBeSq2pYeZJ+FQpF6exzxp9vQ6gdXWJ9NfnUV2qwjXLFlrZIuC+AoVgpbNbfQTodQpykgHKASN6c8cbxII3VvmHt/wDyFM7V/wC04rT9zgWO0ftMSVg89ramPUmo+NkmrVA4VxjR7b2SHW2DscolozoeRkaqYJ2MRTTi2MZQ7ggEqtq2OYZpkjqNjPIJUzjJBVgDDaNHxgn4afKolsMl28IMooJbkoQmcnQgxPkNNAdYXcrQ0uMaZc/ZnxBbmCVAT+xOUAj/AFdxRetR5BLgX+xVrzVQvZej3WxeL1Wzea3asrAEpYDIWgbSTHwNX2tRkOHFlJtEKY1Sf5c4zAHlIkT51kHEc7Peu5PCbxXMSEQSxS0upkmFC+FTqIrZsTZzqVmJ57wQQQY56is84f2BLY1nuWWS0j3r5i9CX8S97Optqh/dZBlIcAiQNdSap41PTNGDqJYG5Q7nfgPDns24bKXZmzFfdAViqiTqdNZjnUl3DTOeJ5QCP8agO1GMxmE4e1641mwyhVVUJvvcdhlGrBFTWWOj6KazBPaFj5H+kMdQYypB8j4dvKuVLoJybekbP1q8bZtj3WXdZHVdf7u/ymivMLttlUiTqD+FgZUkbiGAqL7LcYvYiwLly0ZAUk2yDmDLIYW/eHPQTtUnaxFu6SFZWK7jZlPmp8QNYZ9PPG9ovjmjNaZ1wF5yBnGVx7wGonqDzU7iqF7Zn8eBP+8fnYq/rh41JIjmf86zX2v3Zv4SDIFu4ZEb51n8q19Em8t/co6ppQNC7Iv/AKBhP92sf+0tS4aq/wBkLF18BhClk6YeyAz3hbRoQCRkDt81FWO3wF2/e3AF/BaBUnqGvMSxH8oQ+dTl0eSc2yC6mMYpEbxK9fNq99kVXu21aC3u5wPcXk1zy2HM6isg7Pccv3RdtXrruLk5ldiQxMg5lO28Ry+FeiLFhUUKgCqogKBAAHQDash9rXAUw+Jw1/DoLb3zd7wg5UdlNsjyDsGc+eWulhwRxKkYsuV5O5lGOw/d3bi8kZh8jFekfZv2SGAwaq2t67F2638RAhR5KIHmZPOvP/EsOWv4mYBCFj6gWp+cz8a1f2ae0tDaGGxtxbb2k8F52hbltRs7Ns6gc9wOoNXlRqZNACko4IBBkEAgjYg6gj4UqmAqiiiJoUAMeNG59nu90oa53b5ATALZTAJrF/Yphn+3MVHhSwwc+TFMgPQkj6Gt2qKxZsYGxduraCqJdltIAzsTyA3Yk/WmBHcf4+oudznAhJfxAEljCJ8QGMDXbrVQ4t2gtWWRLiXES54VuG2y2wZgCWiPlVhtWe+vpedQjkhgi6RzHeEAZ38I1O2w85nifCUv22R1DK4gqw0PMT8Y+tUzLoujP7+KyFJE22ZlMT4TAKERpEBvpSOEL3GIv2x7txu8jkpn3ljaQwnlz5VFYnhTYfEW7KEth73fPbQ6tZe2pBUE6934hvz09XWOYsLbTqVQEzE5bgBBPmsikiT8yQ7Q5yFyEBhnCs2yktaJJ6xlJjnFdeE4RLNlbSHRZJY7sx1Zm6kmmnGLk9wTrmuld9psXH/NPrXW63gMGBuWOgCjcVXJ+BdFK7HV3GSpI5yF9OtV7j1tzbFu2york94Z8ZURmAERrrr5RzoYjtDbQK2YJaMzcYavpoLKDU8/EfgOdRjfasWClq21myxhr1wRcdDAIRfug+UzG9ShB3bI5ckeyNg7D2lXh2ECiFNhGAO8P49ep8VTeaszu8TbA4c3rd51tWUAWy5z23Kwq2wGkoTEAoRlmSCBFaJg8SLltLigw6q4kQYYAiQdRvV9mTsPK537wVSzEAKCSTsAN66BaBSdDqOh1piML9s/E8Vcuolyy9rDqS1rNl/amIZ2KsQp5BDBAmRJgU7gXZbFYlh3Fi4xEGcuUa7HMxAj0mvTGL4LZuKVdAykyVJYiZ3GvhPmIrpZwqIIRQo20H50AV/sv2XGEUEkm4baIxnwwslQIiYJOp6nqalsVwmzfg3rSOQdCygsvLwtuPnTujDUVYrG9ngmHU6WLU9e7Un5kTWN+2gseIKGPhTC22QAaAFrhbTzZT8hW4q1Q3aHsVhccyPiELNbEAq5WVJkqwGjL5HqetHFDti+xWAezw/C27hBdbKAxsJEgTzgED4VMk0FEAAbAADyA2oBppgCm2O4fbvLkuoHU7qRIPqp0PxpxQzUgPOvbjCJY4ljktqFRbQUKAAP3Fk7DTerJwf2a4hr6hlCKQzG8pV1USSMgMMXMiAVUaE6gCYT2lkf+K43TeyAP/Tpr9K9AYZpRP5V/IUCaGfBeGixbFtA6ouih2DHmTl1OVZOi7DkANKfzQNCgYYNFmoE0maYCpqC7YYnJaBGpzrlU7F/uf3iutTReqhx7E97icu6WI+N5h/2qfm3lUXocdugheKAN7xQAxzYgfrFLPG3vAyzYdSNFGXOWJgL3hkBjpsBr1rnyqNxfDlvZQxZSrB1KtlIYdOUxPppVVmhwtHO3wtsMxtO7XCfErvqSH0dVPQOpMfxiorEYAt4QInvAPIxI+td+2vGGwqLmc38gFy3c0zgFwrJeK6QykgGJkA7gUOKcTFrDvf1GVC6yNSzQEBB3MkVHaY4u4kHx7Fllwq2zD5mxAMZlCi2wTP0Bkx5KagO0OMe2VF1WuXIDjMP2S6kKFSYECdtdpJp7exP2fh+d2PfXUthSdGnKqiIiFVBtttOpqvYX7RdDNbS/cUEBjbR3VSdgxXQH1qxIqlIRhu1FxLou93ZdxsXVmj+WW0+FSt3t5xC4CBKg/7Oxr8yCarl28+d88hgCIbQqQRpB1BFdLfEHaFGckwAASZOwAHrUissfZNnfiOFONLPaF3UXjKKzK2SUmFBcpyivQ+n9GvLpt3cO2W/ZZS6nw3FZCyNKzlMHcHXcEV6M7JYtr2Bw115zvYts3mSok/Hf40xE/NEWoA0gnXamAZNcyaNmpM0AGFomShNHTsQhSdIpxaPWuMUYp2FHcmkk0hBSiaQwBqMiiFHNIDz/wBssDdfjN6ydXvXAiSJzW7qhUMfhVTr/Ia3zBYbu7aWwSQiKknc5QFk+sV0yjnuNvL0ozQAZNETRUTtQAZNJowdKSTTAj+M8R7iy9yJKjwj8TnRF+LECqnw+3lUAtmbdm/E51Yn1M1IdrMXmu27Q+4O9bpmMrbH/UflUfhSARVWSXgX4o+I4utp6Uwxl8rl85p1duaac6h+I3pYAHYD/Oqu7LpaVEp2i4dbxGACEBQ11AwA3i6rx8V/Oq92om6e7AGS3DEbhrhU92un3VBzR1KdKcXr94uqk2+5twwXxS1zKVl45BSNBuY2pr9hK3LnjzHvLksdJOeNuWgAjpVhSk6Kjh+E3cZxFcOt1LTIqKhuHZQiZgiwczkEtl5xvtU52C7EWmxmKwmKds1kAqtq8UDZXKsWC76ZDEyAwphe4NavcYFi+blsXQiB7Z8SXe7HcMAQZUhVBHIk6+GrrhexHEcG73MNi8Pde5AZsRZIuMoAADXAGLe6OdWoobMp7bcOTDY7E2rYIS3cIUMSxjKCJJ1O/wBasGG7E5eK2cNYu3lZUt3HuhMzYe4bRdvEAoKh8oB0BzRuKje2lvEDiLHEtY78myXNue6U+ELnkSIAGbTatB47guODD3rlzG2FtpbZz9nDZ2AWQFItgieoIoAovaezi8VxFcLcupiL9sjDLctiM3iLEvGmZc3i6ZSJMTW/YDh4tWrdpfdtoiD0VQo/Ksx9h/BrbLfxbeK6tzulJ1yAqruR5tmgnoPM1q2agBzSZoUKAEE0KFCgAUJoUKADApQWhQqSAM0dChSQBE0U0dCkAJoTR0KACmkE60KFAClNRvaDGtbsnJo7sttSdQrOYzEc4kmOoFChUhIqV3h5Jm5ce4x3JOXNpzFvKD8qbng4GtqLb9VGh8nA94fWjoVmfc1xWhrgcaWLK26kqekjeDzFIvWZcebfTnRUKGtj8g8UD4v5v8KbW3y3MSW8QR80cyPAY9daFChEJF94D2ctotm9ctWvtItBDdEsYljAZgDsYzRJqeyTQoVpMpSeO+yvDYrGfaXLANBuWl0F1hoCW3WRoY3gbc7fbsqihVACqAoUbBQIAHlAihQpMYVvDqmiqqgmYVQon0AoyKOhSGf/2Q== Hiện nay có 2 giả thuyết chính về nguồn gốc cờ tướng :1. Cờ tướng do cờ Lục bác phát triển mà thành. Cờ Lục bác du nhập vào Ấn độ, phát triển thành Saturanga. Saturanga sao đó lại du nhập ngược vào Trung quốc, kết hợp với cờ tướng đang có để trờ thành cớ tướng ngày nay. 2. Cờ tướng là do Saturanga, một phát minh của người Ấn độ, du nhập vào Trung quốc phát triển mà thành, không liên quan gì đến cờ Lục bác. Giả thuyết 1 được sự ủng hộ chủ yếu là từ các trang web của Trung quốc trong đó có wikipedia (tiếng Trung).Theo giả thuyết này thì cờ tướng đã có ở Trung quốc rất lâu trước khi người Ấn có Saturanga. Trong các tác phẩm từ thời Chiến quốc như “ Thuyết Uyển” và “Chiêu hồn-Sở từ” đã có nhắc đến cờ tướng (mà người Trung quốc vẫn gọi là Tượng kỳ). Giả thuyết 2 được các học giả phương Tây và cả trang wikipedia (tiếng Việt) ủng hộ. Để làm rõ giả thuyết nào đáng tin hơn, hãy xem bàn cờ Saturanga 車馬象王士象馬車兵兵兵兵兵兵兵兵 兵兵兵兵兵兵兵兵車馬象士王象馬車Cách đi cờ như sau : -Tốt : mỗi lần di chuyển chỉ tấn 1 ô về phía trước, đi thẳng nhưng ăn chéo như cờ vua. Chỉ luôn luôn tấn 1 ô, không bao giờ nhảy 2 ô, vì vậy không có việc ăn tốt qua đường, cũng không có chuyện phong cấp. - Vua, Xe và Mã có cách di chuyển hoàn toàn giống như cờ vua (mã không bị cản) - Sĩ : Mỗi lần có 4 vị trí để di chuyển , đi tới ô chéo góc liền kề (giống như cờ tướng) - Tượng : Đi giống như sĩ nhưng dài gấp đôi (giống như cờ tướng nhưng không bị cản) Cũng xin lưu ý rằng vị trí ban đầu của các quân cờ không hoàn toàn giống như cờ vua vì 2 quân Vua đặt chéo nhau, không cùng 1 cột. Rõ ràng cờ Saturanga có một số điểm giống cờ vua và một số điểm giống cờ tướng. Điều này cũng dễ hiểu ví chính bàn cờ Saturanga khi du nhập sang phương Tây thì trở thành cờ vua, còn du nhập vào Trung quốc thì trở thành cờ tướng. Người Trung quốc đã có những cải tiến làm thay đổi gần như hoàn toàn bàn cờ. Cải tiến đầu tiên và cũng quan trọng nhất là vị trí đặt quân cờ : đặt ở giao điểm các đường chứ không đặt trên ô, quân di chuyển trên đường chứ không nhảy từ ô này sang ô khác. Chỉ với động tác này, bàn cờ tăng thêm số điểm đặt quân từ 64 của Saturanga lên 81, số quân ở hàng cuối từ 8 tăng lên 9. Vua giờ đây đã có thể ở ngay trục giữa và rất dễ dàng nhận thấy quân thêm vào bên phải vua chỉ có thể là 1 con sĩ, có vậy mới đảm bảo sự cân đối của bàn cờ. Sau đó là phải vẽ đường cho quân Sĩ, chữ X trước mặt Vua được thêm vào và thế là ta có cửu cung. Cờ tướng cổ đại không có quân Pháo. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất là quân Pháo được bổ sung từ cuối thời nhà Đường (618-907), là quân cờ ra đời muộn nhất trong bàn cờ tướng. Nhiều người cho rằng quân Pháo xuất hiện muộn là do ngày xưa không có pháo binh. Sự thật hoàn toàn không phải vậy. Pháo binh xuất hiện rất sớm trong chiến tranh thời xưa. Vấn đề là muốn đưa Pháo vào bàn cờ thì bàn cờ đó phải đủ rộng . Bàn cờ 64 ô nếu muốn thêm quân Pháo thì cũng không biết phải đặt ở đâu khi quân 2 bên đông nghẹt như lô cốt thời nay! Bàn cờ tướng có chỗ đặt quân Pháo là nhờ số điểm đặt quân nhiều hơn (81 so 64). Xin nói thêm là bàn cờ Saturanga khi du nhập vào Thái Lan đã phát triển thành makruk, sang Nhật phát triển thành shogi. Hai loại cờ này đều không có quân Pháo chỉ vì đặt quân trên ô. Chỉ có bàn cờ janggi của Hàn quốc là có quân Pháo vì loại cờ này xuất thân từ cờ tướng sau khi cải tiến của Trung quốc, cũng đặt quân trên đường. Người Trung quốc khi ấy phải mất nhiều thời gian loay hoay tìm vị trí cho quân Pháo này và cuối cùng cũng tìm được vị trí lý tưởng cho quân Pháo như chúng ta thấy trên bàn cờ ngày nay. Tuy nhiên, để có vị trí này thì hàng chốt phải đẩy rất xa lên phía trước. Kết quả là không đấu thủ nào dám tấn chốt vì chỉ cần tiến lên 1 bước thì sẽ bị chốt đối phương ăn mất ! Thế là Sở hà Hán giới ra đời, tạo thêm không gian ngăn cách 2 bên. Khi "hà" xuất hiện trên bàn cờ, 9 điểm đặt quân nữa được tăng thêm. Như vậy, bàn cờ tướng bây giờ đã có 90 điểm so với 64, đó là một sự mở rộng đáng kể. Diện tích chung của bàn cờ hầu như không tăng mấy (chỉ tăng thêm 8 ô) nhưng số điểm tăng thêm được 1 phần 3. Quân cờ trong cờ tướng cũng được cách tân.Theo các tài liệu lịch sử, cờ tướng ở thời Đường được gọi là Tượng hý (du hý - trò chơi) có đặc điểm là quân cờ lập thể, bàn cờ có 64 ô vuông xen kẽ hai màu trắng đen, giống hệt bàn cờ vua hiện nay. Loại bàn cờ này đã được để lại trên các bức tranh dệt "Cầm, Kỳ, Thi, Hoạ" cũng như trên các vật dụng bằng sứ thời Đường.Thế nhưng sang thời Tống (960-1279) thì quân cờ trở nên dẹt và phẳng, trên có ghi chữ như quân cờ tướng ngày nay. Phải chăng đây là sự “cải lùi” ? Yếu tố kinh tế là một giả thuyết tuy dễ thuyết phục nhiều người nhưng chấp nhận giả thuyết này khác nào cho rằng người dân thời Tống nghèo hơn (hay tiết kiệm hơn) người dân thời Đường? Sự thật chẳng qua là khi người ta chấp nhận thay đổi vị trí đặt quân thì cũng dễ dàng chấp nhận những thay đổi khác như hình dạng quân cờ. Còn một lý do khác có thể thấy khi hình dung bàn cờ vua ngày nay: Nếu quân cờ đặt trên ô thì quân cờ không thể che hết ô, nhưng nếu đặt trên đường thì quân cờ có thể che hết đường, nghĩa là sẽ khó quan sát hơn. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính Saturanga là tiền thân của cờ tướng và cả cờ vua ngày nay. Bàn cờ tường ngày nay là sự phát triển từ,và chỉ từ Saturanga, không liên quan đến 1 loại cờ nào khác.Khi người dân Trung quốc tiếp xúc với bàn cờ Saturanga, họ đã nhận ra sự ưu việt của loại cờ này so với cờ tướng hiện có lúc đó. Kết quả là hàng ngoại lấn lướt hàng nội, chiếm hết “thị phần”, thậm chí chiếm luôn cả “ thương hiệu”. Chuyện này không phải chỉ có ở bộ môn cờ. Bàn cờ tướng đã có ở Trung quốc từ trước khi Saturanga du nhập đã bị thất truyền, không còn ai chơi nữa .Tóm lại, giả thuyết 2 đáng tin cậy hơn. Hóa ra bàn cờ tướng mà chúng ta vẫn chơi ngày nay là sản phẩm trí tuệ của hàng vạn người, thuộc nhiều thế hệ, nhiều dân tộc và phải mất hàng ngàn năm mới định hình. Cũng là kỳ công ! Chu Phưởng [周昉] (~730 – 800, đời Đường), Cung nữ chơi cờ (Nội nhân song lục đồ [内人雙陸圖]) mực nho, màu trên lụa, 30.5 x 61.9 cm, Freer Gallery of Art, Washington.
  25. Qua điển cố Chung Vô Diệm chém Hầu Anh do Hầu anh (với Tâm xem như con khỉ - mã ý Tâm viên) thèm trái đào tiên (Tây vương Mẫu), chúng ta thấy ẩn nghĩa cuộc chiến sinh tử là cái Tâm của con người và sự trường sinh. Âm Dương hay Thủy Hỏa là Chung Vô Diệm - Hạ Hầu Anh, Như vậy, quân cờ trên bàn cờ một lần nữa cho ta kết luận vẫn là màu Xanh lá cây và màu Đỏ. Màu đỏ tượng trưng cho sự Hóa chứ không phải sự Tử. Hạ Hầu Anh bị chết nhưng cũng không được trái đào tiên trường sinh chỉ ra sống Đời Đạo song hành, âm luôn thắng dương hay vô hình thắng hữu hình. Từ nhỏ, chúng ta thấy quân cờ xanh lá cây là được sử dụng phổ biến nhất. Việc giải bàn cờ tướng rất phức tạp: Chung Vô Diệm - Hán Sở tranh hùng - binh pháp Khương Thái Công - lịch sử vũ khí chiến trạnh... rất tổng quát mới hiểu ý tác giả. Dĩ nhiên, Tượng kỳ được phát triển từ môn cờ trước đấy là Lục Bác.
×
×
  • Create New...