Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Hà Uyên

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    1069
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    8

Everything posted by Hà Uyên

  1. SAO KHÁCH MỤC THUỶ KÍCH Sao khách mục Thuỷ kích còn có tên là Địa mục. Như phép thời kế, dùng cách này để an vị khách là kỳ binh và nghe ngóng tình hình quân giặc để chuẩn bị đối phó. Phương pháp tính là: Khách mục Thuỷ kích khởi nguyên nhân, Cấn vi hoa đức, gia kế thần Văn xương lâm xứ vi Thuỷ kích Khách mục tất ta khán Thiên luân. Chỗ khởi đầu để tìm khách mục Thuỷ kích: Cấn là Hoa đức, gia vào kế thần. Nói chung Văn xương tới là thuỷ kích. Khách mục tất xem Thiên luân. Hiểu rõ nơi Kế thần đóng, đặt Hoa đức vào đó. Xem trên niên bàn, Văn xương tới cung nào là Thuỷ kích ở đó. Ví dụ 1: Xem năm Canh Ngọ, niên hiệu Chính trị năm thứ 13 triều Lê, tương ứng với năm 1570 dương lịch. Kế thần năm 1570 ở Thân, gia cung Cấn (Hoà đức) Tính thuận Dậu gia cung Dần (La thân) ...............Tuất gia cung Mão (Cao tùng) ...............Càn gia cung Thìn (Thái dương) ...............Hợi gia cung Tốn (Đại trắc) ...............Tý gia cung Tị (Đại thần) ...............Sửu gia cung Ngọ (Thiên uy) ...............Cấn gia cung Mùi (Thiên đạo) ...............Dần gia cung Khôn (Đại vũ) ...............Mão gia cung Thân (Vũ Đức) ...............Thìn gia cung Dậu (Thái thốc) Văn xương năm 1570 ở Tốn gia cung Tuất (âm chủ) – Thuỷ kích đóng. Ta nói: Năm Canh Ngọ (1570) Thuỷ kích đóng tại Tuất, âm chủ. Dương niên cục 31, nguyên Canh tý dương – trung nguyên. Ví dụ 2: Tìm vị trí của sao Thuỷ kích năm 1592 dương lịch. Kế thần năm 1592 dương lịch ở Tuất, gia cung Cấn (Hoà đức) Tính thuận Càn gia cung Dần (La thân) ................Hợi gia cung Mão (Cao tùng) ................Tý gia cung Thìn (Thái dương) ................Sửu gia cung Tốn (Đại trắc) ................Cấn gia cung Tị (Đại thần) ................Dần gia cung Ngọ (Thiên uy) ................Mão gia cung Mùi (Thiên đạo) ................Thìn gia cung Khôn (Đại vũ) ................Tốn gia cung Thân (Vũ Đức) ................Tị gia cung Dậu (Thái thốc) ................Ngọ gia cung Tuất (Âm chủ) ................Mùi gia cung Càn (Âm đức) Văn xương năm 1592 ở Khôn gia cung Hợi (Đại nghĩa) – Thuỷ kích đóng. Ta nói: Năm 1592 dương lịch Thuỷ kích đóng tại Hợi, Đại nghĩa. Dương niên cục 53, nguyên Canh tý dương – trung nguyên. Ví dụ 3: Tìm vị trí của sao Thuỷ kích năm 1599 dương lịch. Kế thần năm 1599 dương lịch ở Mão, gia cung Cấn (Hoà đức) Tính thuận Thìn gia cung Dần (La thân) ................Tốn gia cung Mão (Cao tùng) ................Tị gia cung Thìn (Thái dương) ................Ngọ gia cung Tốn (Đại trắc) ................Mùi gia cung Tị (Đại thần) ................Khôn gia cung Ngọ (Thiên uy) ................Thân gia cung Mùi (Thiên đạo) ................Dậu gia cung Khôn (Đại vũ) ................Tuất gia cung Thân (Vũ Đức) ................Càn gia cung Dậu (Thái thốc) Văn xương năm 1599 ở Hợi gia cung Tuất (Âm chủ) – Thuỷ kích đóng. Ta nói: Năm 1592 dương lịch Thuỷ kích đóng tại Tuất, Âm chủ. Dương niên cục 60, nguyên Canh tý dương – trung nguyên. TÌM CHỦ KHÁCH TỪNG NĂM Phương pháp tính: Chủ, khách nhị mục toán như hà Chỉ khán hành cung số kỷ đa Gián thần khơi nhật, tứ cung tứ, Lục cung khởi lục, thuận hành qua. Thái ất cung tiền, bất lãng việt, Đắc số tiện vi chủ toán ma. Hữu thần nhị mục lâm Thái ất, Chỉ thử cung trung chỉ toán ca. Chủ và khách hai vị tính như thế nào ? Chỉ cầu xin cung đi số là bao nhiêu ? Tính chủ từ Văn xương, tính khách từ Thuỷ kích. Thuỷ kích phối gián thần khởi 1. Cung 4 khởi từ 4, cung 6 khởi từ 6.Tính thuận, đến trước cung Thái ất ngừng lại. Số tìm được là chủ. Nếu hai thần Chủ và Khách lâm vào Thái ất, lấy cung đó và ngừng tính. Cần biết rõ Văn xương, Thuỷ kích, dấu cung nào (theo bát quái). Bắt đầu tính cùng với ngôi gián thần (Dần, Thân, Tị, Hợi – Thìn , Tuất, Sửu, Mùi) Nếu như cung quái vị là đầu tiên tất xét số cung thuộc quái vị để khởi tính. Nếu gián thần là ngôi đầu tiên, lấy số 1 mà tính, rồi tính tiếp theo thứ tự xác định. Không tính số ngôi gián thần, đều đến trước cung Thái ất là ngưng lại. Xem số dư là bao nhiêu, lấy chủ khách mà tính. Nếu Nhị mục đóng ở cung có Thái ất, tất cả y số của cung ấy mà ghi số cung của khách đóng. Ví dụ 1: Năm Canh Ngọ, niên hiệu Chính trị năm thứ 13 triều Lê, tương ứng năm 1570 dương lịch. Dương niên cục 31, tìm cung chủ đóng. Phép tính diễn ra như sau: Tính chủ từ Văn xương. Ta biết rằng năm 1570 Văn xương đóng tại cung Tốn 9. Tính khởi từ số: .................9 Tốn. Tính thuận theo cấu trúc bát quái .................2 Ly .................7 Khôn .................6 Đoài .................1 Càn .................8 Khảm (đến Cấn là cung Thái ất đóng, phải ngừng lại) Cộng được: 33 Số không quá 5 là Vô địa. Lại tính khách. Lấy Thuỷ kích gián thần đóng là số 1. Thuỷ kích đóng: Cung Tuất (gián thần)..số 1 (theo bát quái) Cung Càn (gián thần)...số 1 Cung Khảm (gián thần) số 8 (Thái ất đóng cung Cấn 3) .....................Cộng là :..10 Được số 10, không vào cửa Tù mà là Hoà. Định nghĩa một số khái niệm: Phát: Nếu đại, tiểu tướng (Tham tướng) không ở cùng 1 cửa. Văn xương không bị Tù, Bách. Thuỷ kích không bị yểm kích là Tướng phát. Phát có nghĩa là lợi mà hưng phát thành công. Quan: Nếu như đại, tiểu tướng ở cùng một cửa. Văn xương gặp Tù, Bách. Thuỷ kích gặp yểm kích là tướng không phát động được. Bởi vì số tính của Chủ Khách cùng 1 cung với Thái ất. Văn xương hoặc đại, tiểu tướng lại có số cùng bằng nhau là Quan. Quan có nghĩa là hai bên giao chiến tranh đoạt nhau, thế một sống một chết, nếu cứ làm sẽ bất lợi. Chủ khi tính được đa (nhiều) và hoà là thắng. Nếu tính được thiểu (ít) và bất hoà là bại. Tù: Thái ất cùng Văn xương, Đại, tiểu tướng xâm lấn nhau, dưới phạm trên, bị táng vong, thua bại. Bách: Hai bên Tủ Hữu Thái ất gặp Thiên mục, Địa mục và Đại, Tiểu tướng bức sát bản cung; biểu lộ trên dưới lấn át nhau, tả hữu bức bách nhau. ........Trước là ngoài, sau là trong. Giờ (thần) là cấp cung là hoan; ở sau Thái ất. ........Thái tuế ở trước cung Thái ất là phản. Yểm: Là Thuỷ kích tới cung Thái ất. Âm thịnh dương suy, trên lấn át, dưới tiếm quyền. Thấy như vậy tất dùng mệnh toán để phối hợp xem hoà hay bất hoà. Tính được hoà là tốt, bất hoà là xấu. ........Thái ất ở các cung 3, 8, 4, 9 là dương; mà tính được số 1, 3, 5, 7 là lẻ, lóc dương; thế là trùng dương, chủ về hạn hán, hoả tai. ........Nếu Thái ất ở các cung 1, 6, 2, 7 là âm; mà tính được số 2, 4, 6, 8 là chẵn; là trùng âm, chủ về mưa lụt, nước to. Đều là theo số tính thấy bất hoà. ........Nếu Thái ất ở cung dương, tính được số chẵn; ở cung âm tính được số lẻ, là tính được hoà. ........Hai sao Thiên mục, Địa mục lấy các cung Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài là dương; mà lấy Hợi, Sửu, Dần, Thân, Tị, Mùi, Thân, Tuất (ngôi gián thần) là âm. ........Nếu ở cung dương tính được số chẵn, ở cung âm tính được số lẻ là hoà; trái lại là bất hoà. ........Số 3, 9 gặp cung Dần, Thìn là thuần dương. Số 4, 8 gặp cung Sửu, Tị là tạp dương. ........Số 3, 6 gặp Hợi, Mùi là thuần âm. Số 1, 7 gặp Thân, Tuất là tạp âm. Các số 33, 39 tính được là trùng dương; các số 22, 26 tính được là trùng âm. .......Thái ất, Thiên mục đóng ở cung âm mà số tính được 24, 28 là tạp trùng âm tai hoạ rất lớn. .......Thái ất, Thiên mục đóng ở cung dương, số tính được 13, 19, 31, 37 là tạp trùng dương, tai hoạ vừa vừa, quá lắm là trong ngoài có lập mưu. .......Thái ất, Thiên mục ở cung âm mà số tính được 11, 17 là dương ở trong âm. Bên trong có âm mưu; đều lấy số tính được nhiều và hoà là thắng, trái với thế là bại. .......Thái ất, Thiên mục đóng ở cung dương, số tính được 33, 39 là thuần dương, là thái quá, chủ về điều hung, về vua bạo ngược. .......Thái ất, Thiên mục đóng ở cung âm mà số tính được 22, 26 là thuần âm; thái quá cũng là yểm. Nếu gặp cung 2, cung 8 là định khí; cung 4, cung 6 là tuyệt khí. .......Tính “niên kế” là nhà vua gặp hung; cung 9 là thuần âm. Cung 1 là tuyệt dương, bề tôi gặp điều dữ xấu, bị giết. Kích: là Thuỷ kích bức bách gần Thái ất. Phía trước là tả, phía sau là hữu, bên trong đâm chém nhau, trên lấn át, dưới tiếm quyền. Nếu gặp giờ “kích” tai hoạ rất lớn. Nếu gặp cung “Kích” tai hoạ chậm hơn. Bên trong gặp rắc rối từ các bà hậu, bà phi; bên ngoài gặp phiền nhiễu từ ngoại quốc. Ví dụ 2: Tính Chủ Khách năm 1592 dương lịch. Dương niên cục 53. Nguyên Canh tý dương , trung nguyên. Thái ất đóng tại cung Ly 2 – Lý địa Văn xương đóng tại cung Đại vũ (Khôn 7) Thuỷ kích đóng tại cung Hợi – Đại nghĩa. Phép tính diễn ra như sau: Tìm cung Chủ đóng, trước hết tính từ Văn xương tại Khôn 7 .........................................................................Đoài 6 ..........................................................................Càn 1 ........................................................................Khảm 8 ..........................................................................Cấn 3 .........................................................................Chấn 4 ............Đến Ly 2 là cung Thái ất đóng phải ngừng lại Tốn 9 ...............................................................Cộng được: 38 Tìm cung Khách đóng, lấy Thuỷ kích gián thần đóng là số 1 Thuỷ kích đóng cung.........Hợi số 1 ..................................Khảm số 8 .....................................Cấn số 3 ...................................Chấn số 4 Thái ất đóng tại cung Ly 2 Tốn số 9.... ..............................Cộng được: 25 Thái ất đóng cung Ly 2 là âm. Số tính được 25 là lẻ. Ví dụ 3: Tính Chủ Khách năm 1599 dương lịch. Dương niên cục 60. Nguyên Canh tý dương , trung nguyên. Thái ất đóng tại cung Chấn 4 Văn xương đóng tại cung Đại nghĩa (Hợi) Thuỷ kích đóng tại cung Tuất, âm chủ. Phép tính diễn ra như sau: Tìm cung Chủ đóng, trước hết tính từ Văn xương tại Hợi 1 .....................................................................Khảm 8 ........................................................................Cấn 3 ...............................................Thái ất đóng tại Chấn 4 ............................................................Cộng được: 12 Tiếp đến tính Khách, lấy Thuỷ kích gián thần đóng là số 1 Thuỷ kích đóng cung Tuất số 1 ..............................Càn số 1 ...........................Khảm số 8 ..............................Cấn số 3 .....Thái ất đóng tại Chấn số 4 ......................Cộng được: 13 Thái ất đóng cung Chấn 4 là dương. Số tính được 13 là lẻ.
  2. SAO KẾ THẦN Người xưa nói: “Sao kế thần là con rồng đuốc của sao Thái ất” Phương pháp tìm cung có sao kế thần đóng. Kế thần Tý niên khởi từ Dần Trong thập nhị thần phải nghịch tuần Thời kế: hạ chí, từ thân khởi, Cục âm, 12 thần cũng tính ngược. Tích thập nhị tính, chia dần đi Số dư rơi cung nào là kế thần đóng. Cách tìm kế thần: năm Tý khởi từ cung Dần, rồi lần lượt tính ngược 12 địa chi. Tính giờ theo phương pháp tiết hạ chí, khởi từ giờ Thân. Cục âm 12 địa chi cũng tính ngược. Lấy số 12 mà chia dần đi. Số dư rơi vào cung nào là nơi kế thần đóng. Tính năm nào, số tích niên là bao nhiêu. Lấy số 12 theo phép Đại tiểu chu mà chia. Mười hai thân là từ Tý, Sửu đến Tuất, Hợi – số dư (kể cả 12) là ngôi ở của kế thần. Cách tính như sau: lấy năm Tý khởi từ cung Dần, tính ngược lại, tới đâu là biết cung kế thần đóng Bốn cách tính theo niên kế, nguyệt kế, nhật kế, thời kế đều tính nghịch. Duy có tính nhật kế, thời kế từ Hạ chí dùng cục âm, khởi Tý từ cung Thân tính nghịch lại. Năm Tý khởi từ Dần, đi ngược 12 năm là hết 1 vòng trời (chu thiên) Trình tự khởi từ Dần, tính nghịch 12 địa chi: Dần – Sửu – Tý – Hợi – Tuất – Dậu – Thân – Mùi – Ngọ - Tị - Thìn – Mão – (Dần)… Tính theo nhật kế, thời kế từ hạ chí dùng âm cục, trình tự khởi từ Thân, tính nghịch 12 địa chi: Thân – Mùi – Ngọ - Tị - Thìn – Mão – Dần – Sửu – Tý – Hợi – Tuất – Dậu – (Thân)… Ví dụ 1 Tìm kế thần của năm Canh Ngọ, niên hiệu chính trị năm thứ 13 triều Lê. Được số tích niên là 10.155.487 năm Lấy số 10.155.478 chia cho số 12. Được số dư là 7. Khởi năm Giáp tý kể là 1, từ Dần tính ngược đến 7 thấy Canh ngọ ở cung Thân, tức là kế thần ở cung Thân. Cụ thể là: 1-Năm Tý tại Dần (tính nghịch) 2-Năm Sửu tại Sửu 3-Năm Dần tại Tý 4-Năm Mão tại Hợi 5-Năm Thìn tại Tuất 6-Năm Tị tại Dậu 7-Năm Ngọ tại Thân (cung kế thần đóng) Muốn tìm cục năm Canh Ngọ trong ví dụ, ta lấy số tích niên 10.155.487 chia cho số 3600. Được số dư là 247. Lấy số dư 247 chia cho số 72, được số dư là 31. Năm Canh Ngọ trong ví dụ tương ưng với năm 1570 dương lịch, thuộc nguyên Canh Tý dương (theo bảng A). Ta nói: Năm Canh Ngọ niên hiệu Chính trị năm thứ 13, triều Lê, tương ứng năm dương lịch 1570 có dương niên cục 31, nguyên Canh Tý dương – trung nguyên. Sao kế thần đóng cung Thân. Ví dụ 2: Tìm kế thần năm 1592 Được số tích niên là 10.155.509 năm. Lấy số 10.155.509 năm chia cho số 12, được số dư là 5. Tính toán như sau: 1-Năm Tý tại Dần 2-Năm Sửu tại Sửu 3-Năm Dần tại Tý 4-Năm Mão tại Hợi 5-Năm Thìn tại Tuất (cung kế thần đóng) Muốn tìm niên cục 1592, ta lấy số tích niên 10.155.509 năm chia cho số 3600. Được số dư là 269. Lấy số dư 269 chia cho số 72, được số dư là 53. Ta nói: Năm 1592 có dương niên cục 53 nguyên Canh Tý dương – trung nguyên. Sao kế thần đóng cung Tuất. Ví dụ 3: Tìm kế thần năm 1599, được số tích niên là 10.155.516 năm. Lấy số tích niên 10.155.516 chia cho số 12, được số dư là 12. Tính toán như sau: 1-Năm Tý tại Dần 2-Năm Sửu tại Sửu 3-Năm Dần tại Tý 4-Năm Mão tại Hợi 5-Năm Thìn tại Tuất 6-Năm Tị tại Dậu 7-Năm Ngọ tại Thân 8-Năm Mùi tại Mùi 9-Năm Thân tại Ngọ 10-Năm Dậu tại Tị 11-Năm Tuất tại Thìn 12-Năm Hợi tại Mão (cung kế thần đóng) Muốn tìm niên cục năm 1599, ta lấy số tích niên 10.155.516 năm chia cho số 3600, được số dư là 276. Lấy số dư 276 chia cho 72, được số dư là 60. Ta nói: Năm 1599 dương lịch có dương niên cục 60 nguyên Canh tý dương – trung nguyên. Sao kế thần đóng tại cung Mão. SAO VĂN XƯƠNG Còn có tên là Thiên mục. Như phép thời kế dùng cách này để dẹp quân đánh úp và nghe ngóng tình hình giặc để phòng bị. Phương pháp tính: Văn xương thiên mục khởi Thân hương Thập lục cung gian thuận suy tường Số chí càn khôn lưu song toán Âm cục khởi Dần cấn tốn phương Tích niên thập bát luỹ trừ ngoại Dự đoán trú xứ tứ Văn xương. Văn xương thiên mục khởi từ cung Thân. Trong khoảng 16 cung tích thuận đến cung Càn Khôn, lưu lại 2 số. Âm cục khởi từ cung Dần, tính đến cung Cấn, cung Tốn cũng lưu lại 2 số. Tích số của năm chia cho số 18. Số dư tính đến cung Mão là Văn xương ở cung ấy. Mười sáu cung tương ứng với 16 thần là: 1-Càn: Ân đức.................. 9-Tốn: Đại trắc 2-Hợi: Đại nghĩa...............10-Tị: Đại thần 3-Tý: Địa chu...................11-Ngọ: Thiên uy 4-Sửu: Dương đức.............12-Mùi: Thiên đạo 5-Can: Hoà đức................13-Khôn: Đại vũ 6-Dần: La hầu..................14-Thân: Vũ đức 7-Mão: Cao tùng...............15-Dậu: Thái thốc 8-Thìn: Thái dương...........16-Tuất: Âm chủ Số tích niên là bao nhiêu, đem chia cho số 18 của phép cục chu. Số còn lại không đủ 18, tính bắt đầu từ cung Thân, thuận theo 16 thần. Nếu gặp cung Càn, cung Khôn lưu lại một số, số dư tính đến cung nào thì Văn xương ở cung ấy. Ví dụ 1: Xem năm Canh Ngọ niên hiệu Chính trị năm thứ 13 triều Lê tương ứng với năm 1570 dương lịch. Được số tích niên là 10.155.487 năm. Chia số 10.155.487 cho số 18 của phép cục chu, được số dư là 13. Khởi từ cung - Thân kế là 1 - Dậu kế là 2 - Tuất kế là 3 - Càn kế là 4,5 (tính 2 lần) - Hợi kế là 6 - Tý kế là 7 - Sửu kế là 8 - Cấn kế là 9 - Dần kế là 10 - Mão kế là 11 - Thìn kế là 12 - Tốn kế là 13 (cung Văn xương đóng) Cung Tốn theo hệ 16 thập tương ứng với Đại trắc. Vậy theo phép tính nói trên, năm Canh Ngọ (1570) Văn xương thiên mục ở cung Đại trắc (Tốn). Muốn tìm niên cục năm Canh ngọ (1570), ta lấy số tích niên 10.155.487 năm chia cho số 3600, được số dư là 247. Lấy số dư 247 chia cho số 72, được số dư là 31. Năm Canh Ngọ (1570) thuộc nguyên Canh tý dương (theo bảng A) – trung nguyên. Dương niên cục 31. Ta nói: Năm Canh Ngọ (1570) có dương niên cục 31, nguyên Canh tý dương – trung nguyên. Sao Văn xương thiên mục đóng tại cung Đại trắc (Tốn) Ví dụ 2: Tìm Văn xương thiên mục năm 1592 dương lịch. Được số tích niên là 10.155.509 năm. Chia số 10.155.509 cho số 18 của phép cục chu, được số dư là 17. Khởi từ cung: - Thân kế là 1 - Dậu kế là 2 - Tuất kế là 3 - Càn kế là 4,5 (tính 2 lần) - Hợi kế là 6 - Tý kế là 7 - Sửu kế là 8 - Cấn kế là 9 - Dần kế là 10 - Mão kế là 11 - Thìn kế là 12 - Tốn kế là 13 - Tị kế là 14 - Ngọ kế là 15 - Mùi kế là 16 - Khôn kế là 17 (cung Văn xương đóng) Vậy theo phép tính nói trên, năm 1592 dương lịch, Văn xương thiên mục ở cung Đại vũ (Khôn). Muốn tìm niên cục năm 1592, ta lấy số tích niên 10.155.509 chia cho số 3600, được số dư là 269. Lấy số dư 269 chia cho số 72, được số dư là 53. Ta nói: Năm 1592 có dương niên cục 53, nguyên Canh tý dương (theo bảng A) – trung nguyên. Sao Văn xương thiên mục đóng tại cung Đại vũ (Khôn) Ví dụ 3: Tìm Văn xương thiên mục năm 1599 dương lịch. Được số tích niên là 10.155.516 năm. Chia số 10.155.516 cho số 18 của phép cục chu, được số dư là 6. Khởi từ cung: - Thân kế là 1 - Dậu kế là 2 - Tuất kế là 3 - Càn kế là 4,5 (tính 2 lần) - Hợi kế là 6 (cung Văn xương đóng) Vậy theo phép tính nói trên, năm 1599 dương lịch có Văn xương thiên mục ở cung Đại nghĩa (Hợi). Muốn tìm niên cục năm 1599 dương lịch, ta lấy số tích niên 10.155.516 chia cho số 3600, được số dư là 276. Lấy số dư 276 chia cho số 72, được số dư là 60. Ta nói: Năm 1599 có dương niên cục 60, nguyên Canh tý dương – trung nguyên. Sao Văn xương thiên mục đóng tại cung Đại nghĩa (Hợi)
  3. BÀI 4 NHỊ THẬP TỨ TIẾT KHÍ VÀ GIAO HỘI CỦA MẶT TRỜI MẶT TRĂNG Đại hàn: Mặt trăng vận hành tại cung Sửu, mặt trời vận hành tại cung Tý Giao hội tại khoảng giữa cung Sửu và cung Tý (tại…..) Vũ thuỷ: Mặt trăng vận hành tại cung Dần, mặt trời vận hành tại cung Hợi Giao hội tại khoảng giữa cung Dần và cung Hợi (tại…..) Xuân phân: Mặt trăng vận hành tại cung Mão, mặt trời vận hành tại cung Tuất Giao hội tại khoảng giữa cung Mão và cung Tuất (tại…..) Cốc vũ: Mặt trăng vận hành tại cung Thìn, mặt trời vận hành tại cung Dậu Giao hội tại khoảng giữa cung Thìn và cung Dậu (tại…..) Tiểu mãn: Mặt trăng vận hành tại cung Tị, mặt trời vận hành tại cung Thân Giao hội tại khoảng giữa cung Tị và cung Thân (tại…..) Hạ chí: Mặt trăng vận hành tại cung Ngọ, mặt trời vận hành tại cung Mùi Giao hội tại khoảng giữa cung Ngọ và cung Mùi (tại…..) Đại thử: Mặt trăng vận hành tại cung Mùi, mặt trời vận hành tại cung Ngọ Giao hội tại khoảng giữa cung Mùi và cung Ngọ (tại…..) Xử thử: Mặt trăng vận hành tại cung Thân, mặt trời vận hành tại cung Tị Giao hội tại khoảng giữa cung Thân và cung Tị (tại…..) Thu phân: Mặt trăng vận hành tại cung Dậu, mặt trời vận hành tại cung Thìn Giao hội tại khoảng giữa cung Dậu và cung Thìn (tại…..) Sương giáng: Mặt trăng vận hành tại cung Tuất, mặt trời vận hành tại cung Mão Giao hội tại khoảng giữa cung Tuất và cung Mão (tại…..) Tiểu tuyết: Mặt trăng vận hành tại cung Hợi, mặt trời vận hành tại cung Dần Giao hội tại khoảng giữa cung Hợi và cung Dần (tại…..) Đông chí: Mặt trăng vận hành tại cung Tý, mặt trời vận hành tại cung Sửu Giao hội tại khoảng giữa cung Tý và cung Sửu (tại…..) CÁC SAO CƠ BẢN TRONGTHÁI ẤT THẦN SỐ Trong thái ất thần số, các sao cơ bản gồm: Sao Thái ất ; sao Kế thần ; sao Văn xương ; sao Thuỷ kích Sao Thái ất: Theo các sách kinh điển, sao Thái ất là tôn thần của thiên đế, ở trước sao Bắc thần, chủ sai khiến 16 thần. Sao Thái ất chủ về dự đoán gió mưa, hạn hán, lụt lội, chiến tranh, đói rét, bệnh tật. Xem xét tình hình trong nước, sao Thái ất chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn. Sao Thái ất vận hành trong 8 cung qua bát quái, không vào trung cung. Tại mỗi cung, sao Thái ất cư trú 3 năm: năm thứ nhất gọi là Lý thiên, năm thứ 2 gọi là Lý địa, năm thứ 3 gọi là Lý nhân. Ở năm thứ nhất, chức năng Lý thiên của sao Thái ất có nhiệm vụ điều chỉnh các thất lạc độ số các hiện tượng mặt trời, mặt trăng, các sao xấu biến động phát sáng gây những hiện tượng quái gở. Ở năm thứ 2, chức năng Lý địa của sao Thái ất có nhiệm vụ điều chỉnh những biến động về núi lở, đất hõm, sông xê dịch, đất đai, cây cối. Ở năm thứ 3, chức năng Lý nhân của sao Thái ất có nhiệm vụ điều chỉnh những biến động về vua tôi, các hiện tượng cha con khẩu thiệt, đói rét, lưu vong trong nhân dân. Sau 24 năm, sao Thái ất đi hết 1 vòng bát quái Phép tính sao Thái ất trong Tuế kế Bài ca: Cục dương Thái ất khởi tự cung Càn Mỗi cung trú lại 3 năm Đi thuận từ số 1 đến 9 Cục âm, Thái ất khởi từ Tốn 9 Tính nghịch từ số 9 đến số 1 Chú ý là không vào số 5 Số dư sau khi tính là cung Thái ất tới Tính từ năm Giáp tý đời Thiên hoàng đến năm ta cần tìm là bao nhiêu năm gọi là tích niên Lấy tích niên chia cho số 3600 (đại chu thiên) Số dư nhỏ hơn 360 chia cho số 240. Được số dư tính tiếp như sau: bắt đầu tính 1 từ Càn 2 Ly 3 Cấn 4 Chấn (không vào 5) 6 Đoài 7 Khôn 8 Khảm 9 Tốn Tính thuận, hết vòng lại trở về ban đầu Lẻ 1 là Lý thiên Lẻ 2 là Lý địa Lẻ 3 là Lý nhân Xem ngược về những năm đã qua, mỗi năm giảm đi 1 số. Xem xuôi về những năm sắp tới, mỗi năm thêm 1 số. Ví dụ 1: Tính từ năm Giáp tý đời Thiên hoàng đến năm 2000 theo quy ước là 10.155.917 năm. Năm ta cần tìm là năm Canh Ngọ, niên hiệu chính trị năm thứ 13 triều Lê, có tích niên là 10.155.487 năm (một phép tính khác là 10.153.847 năm). Vậy năm Canh Ngọ nói trong ví dụ tương ứng với năm 1570. Lấy tích niên 10.155.487 chia cho 3600, có số dư là 247, nhỏ hơn số 360. Lại lấy số dư 247 chia cho số 240, được số dư là 7. Khởi Thái ất tính 1 từ Càn. Trú lại 3 năm. Còn dư 4 sang 2 Ly, lại trú 3 năm. Còn dư 1 sang 3 Cấn. Vậy là Thái ất đi vào cung 3 Cấn 1 năm. Số 1 tức là năm thứ nhất tương ứng với Lý thiên. Muốn tìm niên cục của năm Canh Ngọ trong ví dụ, ta lấy số dư 247 nói trên chia cho số 72, được số dư 31. Năm 1570, theo bảng A, thuộc nguyên Canh tý dương, vậy ta có dương niên cục 31 thuộc nguyên Canh tý dương – trung nguyên, ta nói: Năm Canh Ngọ niên hiệu chính trị năm thứ 13 triều Lê dương nguyên cục 31 thuộc nguyên Canh tý dương – trung nguyên sao Thái ất đi vào cung Cấn 3 một năm, ứng với Lý thiên. Ví dụ 2: Tính từ năm Giáp tý đời Thiên hoàng đến năm Nhâm Thìn, niên hiệu Quang Hưng năm thứ 15 triều Lê. Được tích niên là 10.155.509 năm. Vậy năm Nhâm Thìn nói trong ví dụ tương ứng với năm 1592 Lấy tích niên 10.155.509 chia cho số 3600. Được số dư là 269. Số 269 nhỏ hơn 360. Lại lấy số 269 chia cho số 240, được số dư là 29 Lại lấy số 29 chia cho số 24, được số dư là 5. Khởi Thái ất tính 1 từ Càn, trú tại 3 năm. Còn dư 2. Vậy Thái ất đi vào cung Ly 2 hai năm, tương ứng với Lý địa Muốn tìm niên cục của năm Nhâm Thìn trong ví dụ, ta lấy số dư 269 chia cho số 72, được số dư 53 Năm 1592, theo bảng A thuộc nguyên Canh Tý dương, vậy ta có dương niên cục 53 thuộc nguyên Canh tý dương – trung nguyên. Sao Thái ất đi vào cung Ly 2 hai năm ứng với Lý địa Ví dụ 3: Tính từ năm Giáp tý đời Thiên hoàng đến năm 1644. Được tích niên là 10.155.561 năm Lấy số tích niên 10.155.561 chia cho số 3600. Được số dư là 321 Lại lấy số dư 321 chia cho số 240, được số dư là 9. Khởi Thái ất tính 1 từ Càn, trú lại 3 năm Còn dư 6 sang cung Ly 2, trú lại 3 năm Còn dư 3 sang cung Cấn 3. Vậy sao Thái ất vào cung Cấn 3 ba năm, tương ứng với Lý nhân Muốn tính niên cục năm 1644 trong ví dụ, ta lấy số dư là 321 chia cho số 72, được số dư 33. Năm 1644 theo bảng A thuộc nguyên Canh Tý dương. Vậy ta có dương nguyên cục 33 thuộc nguyên Nhâm tý dương – hạ nguyên. Ta nói: Năm 1644 dương niên cục 33, nguyên Nhâm tý dương – hạ nguyên. Sao Thái ất đi vào cung Cấn 3 ba năm, tương ứng với Lý nhân. Ví dụ 4: Tính từ năm Giáp tý đời Thiên hoàng đến năm 1732, được số tích niên là 10.155.649 năm Lấy số tích niên 10.155.649 chia cho số 3600, được số dư là 49. Số 49 nhỏ hơn số 360. Số dư 49 nhỏ hơn số 240 cho nên lấy số dư 49 chia cho 24, được số dư là 1. Khởi Thái ất tính 1 từ Càn, trú lại năm thứ nhất tương ứng với Lý thiên. Muốn tính niên cục của năm 1732, ta thấy số dư 49 nói trên nhỏ hơn số 72. Vậy ta có dương niên cục 49, nguyên Giáp tý dương (theo bảng A), thượng nguyên. Ta nói: Năm 1732 dương niên cục 49, nguyên Giáp tý dương – thượng nguyên. Sao Thái ất vào cung Càn 1 năm thứ nhất tương ứng với Lý thiên. Ví dụ 5: Tính từ năm Giáp tý đời Thiên hoàng đến năm 1756, được số tích niên là 10.155.673 Lấy số tích niên 10.155.673 chia cho số 3600 được số dư là 73 Lấy số dư 73 chia cho số 24 được số dư là 1 Khởi Thái ất tính 1 từ Càn, trú lại năm thứ nhất, tương ứng với Lý thiên Muốn tính niên cục năm 1756, ta lấy số dư 73 chia cho số 72, được số dư là 1. Vậy theo bảng A, ta có dương niên cục 1, nguyên Bính tý dương – trung nguyên, ta nói: Năm 1756 dương niên cục 1, nguyên Bính tý dương – trung nguyên. Sao Thái ất đi vào cung Càn 1 năm thứ nhất ứng với Lý thiên. Ví dụ 6: Tính từ năm Giáp tý đời Thiên hoàng đến năm 2000, được số tích niên là 10.155.917 năm Lấy số tích niên 10.155.917 chia cho số 3600 được số dư là 29 Số dư 29 nhỏ hơn số 240 cho nên ta chia 29 cho 24, được số dư là 5 Khởi Thái ất tính 1 từ Càn, trú lại 3 năm Còn dư 2, sang Ly 2 hai năm, tương ứng với Lý địa Muốn tính niên cục của năm 2000, ta thấy số dư 29 nói trên nhỏ hơn 72 vậy có dương niên cục là 29 nguyên Nhâm tý dương (theo bảng A), hạ nguyên. Ta nói: Năm 2000 dương niên cục 29 nguyên Giáp tý dương – hạ nguyên. Sao Thái ất đi vào cung Ly 2 hai năm, tương ứng với Lý địa. Ví dụ 7: Tính từ năm Giáp tý đời Thiên hoàng đến năm 2404, có số tích niên là 10.156.321 năm. Lấy số tích niên 10.156.321 chia cho số 3600, được số dư là 1. Số dư 1 nhỏ hơn 24. Lấy số đó khởi Thái ất, năm 2404 thuộc cục âm. Cục âm tính nghịch, khởi Thái ất tính 1 từ Tốn 9, tức là vào cung Tốn 9 một năm, tương ứng với Lý thiên. Muốn tìm niên cục của năm 2404, ta thấy số dư 1 nhỏ hơn 72. Vậy ta có âm niên cục 1, nguyên Giáp tý âm (theo bảng B, thượng nguyên. Ta nói: Năm 2404 âm niên cục 1, nguyên Giáp tý âm – thượng nguyên. Sao Thái ất đi vào cung Càn 1 một năm, tương ứng với Lý thiên. Ví dụ 8: Tính từ năm Giáp tý đời Thiên hoàng đến năm 2464, được số tích niên là 10.156.381 năm. Lấy số tích niên 10.156.381 năm chia cho số 3600, được số dư là 61 Lại lấy số dư 61 chia cho số 24, được số dư là 13. Lấy số đó khởi Thái ất. Năm 2464 thuộc cục âm. Cục âm tính nghịch, Thái ất khởi từ Tốn 9, trú lại 3 năm Dư 10, sang Khảm 8, trú 3 năm Dư 7, sang Khôn 7, trú 3 năm Dư 4, sang Đoài 6, trú 3 năm Dư 1, sang Thái ất vào Chấn 4 một năm, ứng với Lý thiên. Muốn tìm niên cục của 2464 ta thấy số dư 61 nhỏ hơn 72. Vậy ta có âm niên cục 61, nguyên Giáp tý âm – trung nguyên. Ta nói: Năm 2464 âm niên cục 61 nguyên Giáp tý âm – trung nguyên. Sao Thái ất đi vào cung Chấn 4 một năm, ứng với Lý thiên. GHI CHÚ: - Cục dương tính thuận từ Càn 1 đến Tốn 9 ...Cục âm tính nghịch từ Tốn 9 đến Càn 1. - Thái ất không vào trong cung 5 Số Quái ứng với dương cục và âm cục số đều bằng 10 Ví dụ: Số cục âm 1 và số cục dương 1 ứng với Càn 1 và Tốn 9, cộng lại bằng 10 Một quái ứng với x tam tài thiên – địa – nhân Ví dụ: Dương cục 1 có Càn 1 ứng với Thiên Dương cục 2 có Càn 1 ứng với Địa Dương cục 3 có Càn 1 ứng với Nhân
  4. BÀI 3 SỐ NHẬT CỤC Gốc tính nhật cục từ ngày mồng 1 tháng Giáp tý, năm Quý Hợi thuộc triều đại Cảnh Bình đời nhà Tống – Trung Quốc (ứng với ngày 19/2/423 dương lịch) Điểm mấu chốt của cách tính nhật cục là tính số ngày từ gốc tính nhật cục đến ngày đang xét. Ví dụ: Tính nhật cục ngày 14/02/1992 (âm lịch). Bước đầu tiên là tính số ngày từ gốc tính nhật cục (ngày 19/2/423) đến ngày 18/01/1992. Trước hết, ta tính tròn số năm phải xét. Vậy tính đến tháng 2 năm 1992, ta có: 1992 – 423 = 1569 năm Tiếp đó, ta tính số ngày tròn trong 1569 năm: (1569 x 365,2422) – 10 = 573.055 ngày Bước tiếp theo, ta tính số ngày từ 19/01/1992 đến ngày 14/12/1999. Số ngày theo dương lịch, ta có: 19/1/1992 – 31/1/1992 = 13 ngày 1/2/1992 – 29/2/1992 = 29 ngày 1/3/1992 – 31/3/1992 = 31 ngày 1/4/1992 – 30/4/1992 = 30 ngày 1/5/1992 – 31/5/1992 = 31 ngày 1/6/1992 – 30/6/1992 = 30 ngày 1/7/1992 – 31/7/1992 = 31 ngày 1/8/1992 – 31/8/1992 = 31 ngày 1/9/1992 – 30/9/1992 = 30 ngày 1/10/1992 – 31/10/1992 = 31 ngày 1/11/1992 – 30/11/1992 = 30 ngày 1/12/1992 – 14/12/1992 = 14 ngày ...........................Cộng = 331 ngày Số ngày từ 18/2/423 đến 14/12/1999 là: 573.055 + 331 = 573.386 ngày Tính tiếp theo công thức I: 573.386 : 360 = số dư 266 Cuối cùng tính theo công thức II: 266 : 72 = số dư 19 Ngày 14/2/1992 sau Đông chí thuộc dương (sau ngày hạ chí thuộc âm). Ta nói: ngày 14/2/1992 có dương nhật cục 50 thuộc nguyên nhâm tý dương, hạ nguyên. (*)Ta biết rằng: ngày 21 (Giáp tý) tháng 11 (Nhâm tý) năm Nhâm thân. Gốc tính (Lê Quý Đôn): Âm lịch – mồng 1 – tháng 11 – Giáp tý Năm Giáp tý (dương lịch 7/12/424) SỐ THỜI CỤC Cách tính thời cục là dung số Can chi cho ngày và giờ. Gốc của Can chi ngày là ngày Giáp Tý = 1 ; ngày Ất Sửu = 2 ; ngày Bính Dần = 3…v.v… Thử tính thời cục giờ Giáp Tý, ngày Giáp Thìn (tương ứng với ngày 23/1/1992) Giờ Giáp Tý là giờ đầu tiên của ngày Giáp Thìn. Ta có: giờ Giáp Tý = 1 Tính từ ngày Giáp Tý = 1 đến ngày Giáp Thìn, ta có: ngày Giáp Thìn = 41 Nhưng ta chỉ tính đến hết ngày Quý Mão (trước ngày Giáp Thìn) Ngày Quý Mão có số Can chi = 40 Mỗi ngày có 12 giờ âm lịch: 40 x 12 = 480 giờ âm lịch Cộng thêm giờ Giáp Tý ngày Giáp Thìn, ta có: 480 + 1 = 481 giờ âm lịch Tính tiếp, ta dùng công thức I: 481 : 360 = số dư 121 Cuối cùng, ta dùng công thức II: 121 : 72 = số dư 49 Ngày 23/1/1993 sau Đông chí. Tính thời cục cũng lấy thời gian từ Đông chí về sau thuộc dương, từ Hạ chí về sau thuộc âm. Từ kết quả tính toán trên đây, ta nói: ngày 23/1/1993 có dương thời cục 49 thuộc nguyên tý… Cách tính số niên cục, nguyệt cục, nhật cục, thời cục gọi là “Tứ kế” (tuế kế, nguyệt kế, nhật kế, thời kế) Theo nguyên tắc “Tề nguyên Giáp Tý”, gốc tính đầu tiên của “Tứ kế” là giờ Giáp Tý, ngày Giáp Tý, tháng Giáp Tý, năm Giáp Tý, nguyên Giáp Tý thuộc Hội Giáp Tý.
  5. THÁI ẤT DIỄN QUÁI YẾU GIẢI LỜI NÓI ĐẦU Theo quan niệm của người xưa, Thái Ất là thần của trời đất. Xét quan hệ giữa sao Thái Ất và 16 vị sao khác vận động trong không gian và thời gian x ba phạm trù thiên, địa, nhân (tam tài), phối hợp x x x thuyết âm dương ngũ hành, thập thiên can, x x x trong cấu trúc cửu cung và 12 phân dã, x x x và dự đoán được các việc gió, mưa, lụt, hạn trong x x, sự trị loạn, no đói trong nhân sự, sự thắng thua trong quân sự. Theo truyền thuyết, x x x Hoàng đế do mong muốn đem lại thái bình, x x x x nước, no ấm hạnh phúc cho muôn dân nên x x x x Thần Phong Hậu xem xét âm dương ngũ hành x x lịch số của trời đất, dựa vào các nguyên lý của Hà đồ Lạc thư, Thái cực Lưỡng nghi lập ra Thái ất thần số. Sau đó, x công, Lưu hầu phát triển thêm. Đến đời Tống, x x đóng góp thêm nhiều kinh nghiệm. Các nho sĩ đời Minh bổ sung, chú giải, nên môn học quý giá này càng thêm sáng tỏ. Tới Trương Hoa phối hợp Thái ất thần số với 64 quẻ dịch kinh thích ứng liên vận các thời đại, nội dung môn học càng thêm phong phú, cụ thể. Bảng nhỡn Lê Quý Đôn đánh giá cao môn Thái ất học. Ông nói: “ Thuyết Thái ất, phần nhiều nói về binh pháp. Địch ta, chủ khách, lợi hại, được mất, các cơ thịnh suy, trị loạn, cái thế thắng thua, yên nguy đều được diễn giải rõ ràng. Làm tướng mà không biết môn học Thái ất sẽ không biết rõ nên đánh hay giữ, tiến hay ngừng, khó quyết đoán các mưu kế khi ra trận địa. Trong triều đình nếu không biết môn Thái ất sẽ sai lầm ở sự động hay tĩnh, tiến công hay thoái thủ, khó quyết đoán những sách lược lớn.” Môn học thuyết cổ dù lớn bao nhiêu cũng không thể vượt qua những điều kiện lịch sử không nhất định. Đãi cát tìm vàng là mong muốn thiết tha của người cầu học Người viết Vũ Xuân Quang BÀI 1: SỐ CỦA 12 HỘI Cấu trúc thời gian (đồng thời cũng là cấu trúc không gian) của vũ trụ (thiên – địa – nhân) được thể hiện thành 12 Hội. Trước khi bàn về nội dung của 12 Hội, ta nên biết một số khái niệm thời gian có liên quan tới Hội. 1 đại nguyên = 30 nguyên (30 x 12 x 30 x 12 x 30) = 3.888.000 năm = 30 năm 1 nguyên = 12 hội (12 x 30 x 12 x 30) = 129.600 năm = 1 năm (360 ngày). 1 hội = 30 vận (30 x 12 x 30) = 10.800 năm = 30 ngày (1 tháng) 1 vận = 12 thế = 6 nguyên = 5 nguyên tý = 360 năm (12 x 30) = 12 giờ (1 ngày) 1 thế = 2 niên tiết = 30 năm = 30 phút 1 năm = (30 : 30) = 1 phút 1 tháng = 1phút / 12 = 1 giây 1 giây = 1 giây/ 30 = 1 giây Chú ý : Phép tính Thái ất lấy Hội làm cơ sở tính toán, đơn vị tính toán. Do đó, ta quy ước: Hội = N = 1 Cho nên ta có: N = 1 = 10.800 năm Cách tính của Thái ất lấy bội số ( và số chia ) 12; 30 làm cơ sở. Tính chất 1 phút và 1 năm, 1 ngày và 1 vận, 1 tháng và 1 hội về cơ bản là thống nhất. Số từng hội: Hội Tý = 10.800 năm = 129.600 tháng = 3.888.000 ngày = 46.656.000 giờ = 1.399.680 phân = 16.796.160.000 sao Hội Sửu = 21.600 năm = 259.200 tháng = 7.776.000 ngày (HTý x 2)= 93.312.000 giờ = 2.799.360.000 phân = 33.592.320.000 sao Hội Dần = 32.400 năm = 388.800 tháng = 11.654.000 ngày (HTý x 3)= 139.968.000 giờ = 419.904.000 phân = 5.038.848.000 sao Hội Mão = 43.200 năm = 518.400 tháng = 15.552.000 ngày (HTý x 4)= 186.624.000 giờ = 5.598.720.000 phân = 67.184.640.000 sao Hội Thìn = 54.000 năm = 648.000 tháng = 19.440.000 ngày (HTý x 5)= 233.280.000 giờ = 6.998.400.000 phân = 83.980.800.000 sao Hội Tị = 64.800 năm = 777.600 tháng = 23.327.000 ngày (HTý x 6)= 279.936.000 giờ = 3.398.080.000 phân = 100.776.960.000 sao Hội Ngọ = 75.600 năm = 907.200 tháng = 27.216.000 ngày (HTý x 7)= 326.592.000 giờ = 9.797.760.000 phân = 117.573.120.000 sao Hội Mùi = 86.400 năm = 1.036.800 tháng = 31.104.000 ngày (HTý x 8)= 373.248.000 giờ = 1.197.440.000 phân = 134.369.280.000 sao Hội Thân = 97.200 năm = 1.166.400 tháng = 34.992.000 ngày (HTý x 9)= 419.904.000 giờ = 12.597.120.000 phân = 151.165.440.000 sao Hội Dậu = 108.000 năm = 1.296.000 tháng = 38.880.000 ngày (HTý x 10)= 466.560.000 giờ = 1.399.680.000 phân = 167.961.600.000 sao Hội Tuất = 118.800 năm = 1.425.600 tháng = 42.768.000 ngày (HTý x 11)= 513.216.000 giờ = 15.396.480.000 phân = 18.475.760.000 sao Hội Hợi = 129.600 năm = 1.555.200 tháng = 46.656.000 ngày (HTý x 12)= 559.872.000 giờ = 16.796.160.000 phân = 201.553.920.000 sao CÔNG THỨC : 1x 12 x 30 x 12 x 30 x 12 Quan hệ tương đương: Hội Tý = 1 tháng – Hội Thìn = 5 tháng – Hội Thân = 9 tháng. Hội Sửu = 2 tháng – Hội Tị = 6 tháng – Hội Dậu = 10 tháng. Hội Dần = 3 tháng – Hội Ngọ = 7 tháng – Hội Tuất = 11 tháng. Hội Mão = 4 tháng – Hội Mùi = 8 tháng – Hội Hợi = 12 tháng Hình vẽ THÁI ẤT THIÊN BÀN CƠ SỞ cuối bài 1 BÀI 2 NGŨ NGUYÊN TÝ Mỗi vận (360 năm) chia ra năm phần. Mỗi phần gọi là 1 nguyên tý. Một nguyên tý có 72 năm (360 : 5). Năm phần này hợp thành ngũ nguyên tý. Tên của ngũ nguyên tý là tên của các thiên can, phối hợp với địa chi tý. (Chi đứng đầu trong hệ thống 12 địa chi), cụ thể là: Nguyên giáp tý Nguyên bính tý Nguyên mậu tý Nguyên canh tý Nguyên nhâm tý. TAM NGUYÊN THƯỢNG, TRUNG, HẠ Mỗi vận chia thành 6 phần là: Thượng nguyên ( 2 lần ) Trung nguyên ( 2 lần ) Hạ nguyên ( 2 lần ) Mỗi nguyên 60 năm ÂM CỤC VÀ DƯƠNG CỤC Theo quy định, từ năm 1324 đến năm 2403 (1.080) thuộc dương. Từ năm 2.404 đến năm 3.483 thuộc âm. Hiện nay, chúng ta đang sống trong thế kỷ thuộc dương. Bảng A Số nguyên tý từ năm 1.324 đến năm 2.403 (1080 năm) thuộc dương Nguyên giáp tý 1324 – 1395........1684 – 1755........2044 – 2115 Nguyên bính tý 1396 – 1467........1756 – 1827........2116 – 2187 Nguyên mậu tý 1468 – 1539........1828 – 1899........2188 – 2259 Nguyên canh tý 1540 – 1611........1900 – 1971........2260 – 2331 Nguyên nhâm tý 1612 – 1683.......1972 – 2043........2332 – 2463 ...............................I.......................II......................I II.......... Mỗi nguyên tý 72 năm [(72 x 15) = 18 nguyên] Bảng B Số nguyên tý từ năm 2404 đến năm 3483 (1080 năm) thuộc âm Nguyên giáp tý 2404 – 2475.........2764 – 2835..........3124 – 3195 Nguyên bính tý 2476 – 2547.........2836 – 2907..........3196 – 3267 Nguyên mậu tý 2548 – 2619.........2908 – 2979..........3268 – 3339 Nguyên canh tý 2620 – 2691.........2980 – 3051..........3340 – 3411 Nguyên nhâm tý 2692 – 2763.........3052 – 3123..........3412 – 3483 ...............................I.........................II..................... ...III............ Như vậy, ta có 3 ngũ nguyên tý (1080) thuộc dương, và 3 ngũ nguyên tý thuộc âm. Theo nguyên lý “ Nhất âm nhất dương chi vị đạo ”. Do đó, 1080 năm tiếp theo ngũ nguyên tý là 2404 – 3483 thuộc âm. Niên cục thuộc các nguyên tý dương gọi là niên cục dương, thuộc các nguyên tý âm gọi là niên cục âm. Ba ngũ nguyên tý bao gồm 18 nguyên (60 x 18 = 1080). Các thượng, trung, hạ nguyên từ năm 1684 đến năm 2403, gồm 12 nguyên (720 năm) = 2 vận Thượng nguyên 1684 – 1743.........1864 – 1923..........2044 – 2103..........2224 – 2283 Trung nguyên...1744 – 1803..........1924 – 1983..........2104 – 2163..........2284 – 2343 Hạ nguyên.......1804 – 1863..........1984 – 2043..........2164 – 2223..........2344 – 2403 .............................I..........................II...................... ..III.......................IV THÁI DƯƠNG THẬP NHỊ CUNG XÁ Thái dương thập nhị cung xá tức là 12 cung thuộc vòng hoàng đạo trong chiêm tinh học cổ đại phương Tây. Thập nhị địa chi phối hợp với 12 cung hoàng đạo như sau: Tý phối hợp với.......11 Bảo Bình....Năm 1684 Bắc ...................................................................1743 Sửu phối hợp với.....10 Ma kiệt..............1744 ........................................................1803 Đông Bắc Dần phối hợp với......9 Nhân mã............1804 ...................................................................1863 Mão phối hợp với......8 Thiên yết...........1864 Đông ...................................................................1923 Thìn phối hợp với......7 Thiên xứng........1924 ...................................................................1983 Đông Nam Tị phối hợp với.........6 Song nữ.............1984 ....................................................................2043 Ngọ phối hợp với......5 Sư tử.................2044 Nam ....................................................................2103 Mùi phối hợp với.......4 Cự giải...............2104 ....................................................................2163 Tây Nam Thân phối hợp với.....3 Âm dương...........2164 ....................................................................2223 Dậu phối hợp với......2 Kim ngưu............2224 Tây ....................................................................2283 Tuất phối hợp với.....1 Bạch dương.........2284 ....................................................................2343 Tây Bắc Hợi phối hợp với.....12 Song ngư............2344 ....................................................................2403 Tý phối hợp với.........Bảo bình...............2404 Bắc ....................................................................2463 Mỗi cung tương ứng với 60 năm (1 nguyên) Từ năm 2404 đến năm 3483 thuộc các nguyên tý âm. Từ đó ta suy ra từ năm 1323 lùi lại 1080 năm tức là từ năm 244 đến năm 1523 thuộc các nguyên tý âm. Từ năm 1324 lại bắt đầu phối hợp với Bảo bình trong “Thái dương thập nhị cung xá” với dương niên cục thuộc nguyên giáp tý dương. Bảng C Số nguyên tý từ năm 244 đến năm 1323 thuộc các nguyên tý âm Nguyên giáp tý.....244 – 315..........604 – 675............964 – 1035 Nguyên bính tý.....316 – 387..........676 – 747............1036 – 1107 Nguyên mậu tý.....388 – 459..........748 – 819............1108 – 1179 Nguyên canh tý....460 – 531...........820 – 891............1180 – 1251 Nguyên nhâm tý...532 – 603...........892 – 963............1252 – 1323 ...............................I.......................II....................... ..III............. Thượng nguyên..244 – 303......424 – 483......604 – 663......784 – 863......964 – 1023.......1144 - 1203 Trung nguyên....304 – 363......484 – 543......664 – 723......844 – 923......1024 – 1083......1204 – 1263 Hạ nguyên........364 – 423......544 – 603......724 – 783......904 – 983......1084 – 1143......1264 – 1323 ............................I...................II................III........... ......IV...................V.....................VI............. 18 nguyên (60 x 18 = 1080) SỐ NIÊN CỤC Mỗi nguyên tý có 72 năm. Niên cục được đánh số từ 1 đến 72 trong mỗi nguyên tý. Niên cục được tính theo chu kỳ của mỗi vận 360 năm. Ví dụ: - Năm 1570, theo bảng A ở trên, thuộc nguyên Canh tý dương. Nguyên Canh tý dương bắt đầu từ năm 1540. Ta coi: 1540 = 1 Vậy 1541 = 2 ; 1542 = 3 ; 1543 = 4 ; 1544 = 5…… Cứ thế ta tính tiếp, sẽ có : 1550 = 11 ; 1560 = 21 ; 1570 = 31 Do đó, năm 1570 thuộc nguyên Canh tý dương, dương niên cục 31. - Năm 1644, theo bảng A, thuộc nguyên Nhâm tý dương. Nguyên Nhâm tý dương bắt đầu từ năm 1612 Ta coi: 1612 = 1 Vậy: 1613 = 2 ; 1614 = 3 ; 1615 = 4 ; 1616 = 5…… Cứ thế ta tính tiếp, sẽ có: 1622 = 11 ; 1632 = 21 ; 1642 = 31 ; 1643 = 32 ; 1644 = 33 Do đó năm 1644 thuộc nguyên Nhâm tý dương, dương nguyên cục 33. - Năm 2404, theo bảng B ở trên, thuộc nguyên Giáp tý âm. Nguyên Giáp tý âm bắt đầu từ năm 2404. Ta coi: 2404 = 1 Do đó, năm 2404 thuộc nguyên Giáp tý âm, âm niên cục 1 - Năm 2478, theo bảng B, thuộc nguyên Bính tý âm. Nguyên Bính tý âm bắt đầu từ năm 2476. Ta coi: 2476 = 1 ; 2477 = 2 ; 2478 = 3 Do đó, năm 2478 thuộc nguyên Bính tý âm, âm niên cục 3. SỐ NGUYỆT CỤC Cục tương ứng với tháng gọi là Nguyệt cục. Gốc tính nguyệt cục là ngày mồng 1, tháng Giáp tý ,năm Giáp tý, thuộc triều đại Nguyên Gia thời nhà Tống Trung Quốc (tương ứng với ngày 7 tháng 12 năm 424 sau công nguyên). - Thử tính số nguyệt cục tháng Bính Dần, năm Kỷ Mão (năm 1999). Ta tính như sau: Từ tháng Giáp tý, năm Giáp tý (năm 424) đến tháng Quý hợi (trước tháng Giáp tý) năm Kỷ Mão (trước năm Canh Thìn tức là năm 1999), ta có: 1999 – 424 = 1575 năm (năm Mậu Dần, tháng Kỷ Mão) 1575 x 12 tháng = 18.900 tháng (tháng Hợi, năm Mậu Dần) Từ tháng Giáp tý, năm Kỷ Mão đến tháng Mậu Dần, năm Canh Thìn, có 3 tháng: 18.900 tháng + 3 tháng = 18.903 tháng (Bính Dần, năm Kỷ Mão) Dùng công thức I : 19.903 : 360 = số dư 183 Dùng công thức II : 183 : 72 = số dư 39 Năm 2000 thuộc nguyên Nhâm tý dương, ta nói : tháng Bính Dần năm Kỷ Mão (năm 1999) có nguyệt cục dương 39 thuộc nguyên Nhâm tý dương.
  6. Thân mến, chào VinhL Cảm ơn VinhL đặt vấn đề, đưa ra một hướng kiến giải, tôi sẽ dành thời gian tìm hiểu sâu thêm về góc độ: "Các tần sóng âm thanh và trị số hào giống nhau". Tôi đặt vấn đề về tính thống nhất và tuần tự liên tục của hào từ. Nguyên nhân nào đã quyết định "chí" hướng chỉ đạo "phương" hướng, mà buộc Người và vạn vật tất phải "vãng - lai", trong nguyên nghĩa của Hào từ (?). Điều gì lấy làm căn cứ, để dựa vào của Hào từ (?). VinhL có thể gợi mở, đặt vấn đề từ nhiều góc độ, để cùng anh chị em tham gia kiến giải từng bước, tôi cũng hiểu rằng, cái trừu tượng thường gợi mở cho chúng ta một phương hướng nào đó, rồi dần hướng tới quy luật chung của sự vật. Hà Uyên.
  7. Chào anh Thiên Sứ Dự báo về Nam - Bắc Triều tiên, chúng ta bắt đầu từ ngày: Jan 20 2010, 10:00 AM, với tiêu đề thông tin: "Sẽ có đảo chính tại Triều Tiên sau năm 2012?" Thông tin dự báo: - Tôi luận, diễn biến này, sẽ đến sớm hơn như bài báo viết. Cụ thể: năm Canh - tháng Canh khởi, có nghĩa rằng, việc bắt đầu từ tháng Canh Thìn - năm Canh Dần. - Bính Tân tụ hợp, có tụ thì có tán, vậy thì khi nào thì tán (?). Cách mạng Xô viết tụ hợp 1916 - 1917. Kéo theo sự ảnh hưởng lớn với Đông Đức - Tây Đức, Nam Hàn - Bắc Hàn, ...v.v..., đến năm 1991 là năm Tân, thì cũng hoán tán.- Sau Bính hợp Tân, thì đến Ất hợp Canh, vậy khi nào thì Ất Canh hoán tán. Từ tháng Nhâm Ngọ đến tháng Bính Tuất (150 ngày). Bính Tuất Thiên khắc Địa cung với Canh Thìn. Tháng 9 kiến Tuất: trong Tuất có dư khí Tân kim dụng sự 7 ngày, Bính hỏa mộ khố 5 ngày, vị chi là 12 ngày, rồi tiếp đến Mậu thổ dụng sự 18 ngày. Tháng 9 (Hàn lộ - Sương giáng). - Tháng 9 Bính Tuất phối quẻ, được quẻ Phong Trạch Trung phu, việc bắt đầu từ tháng Canh Thìn phối quẻ được quẻ Thuần Cấn. Động 5 hào 1-2-3-4-5, duy có hào 6 là "tĩnh": => - Hào 6 quẻ Trung phu: "Hàn âm đăng vu thiên, trinh hung". Tượng viết: "hà khả trường dã" (Tiếng chim kêu khi đang bay vang khắp trời, hư thanh này sao giữ được lâu dài.) Hư thanh nghe xa mà đức thành tín trung thực không được tiếp nối.- Hào 6 quẻ Thuần Cấn: "Đôn cấn, cát" - Nghiệm xét: trong 7 ngày đầu tháng 9, trọn làm tâm điểm (dư khí của Tân kim 7 ngày). Anh Thiên Sứ tham khảo thêm.Hà Uyên
  8. Cảm ơn bạn PhuongHien Hà Uyên.
  9. Khi giải Dịch theo trường phái tam tài Thiên - Địa - Nhân, trong chu kỳ 1864 - 2043, thì đối với "tài" của Thiên, chúng ta đang ngồi Hào 6 quẻ Sơn Thiên Đại súc, lời hào 6 quẻ Đại súc viết: Hà thiên chi cù , hanh. Tượng quẻ Sơn Thiên Đại súc Hỏi rằng: - Trước hào 6 quẻ Sơn Thiên Đại súc, là hào thứ mấy và thuộc quẻ nào đây ? - Sau hào 6 quẻ Sơn Thiên Đại súc, là hào thứ mấy và thuộc quẻ nào ? Dịch im lặng, không trả lời. - Phải chăng, "sau" hào 6 quẻ Đại súc, là hào 1 quẻ Địa Phong Thăng. Rồi tiếp đến hào 2 quẻ Địa Sơn Khiêm. - Phải chăng, "trước" hào 6 quẻ Sơn Thiên Đại súc, là hào 5 quẻ Thủy Thiên Nhu. Lại trước hào 5 quẻ Nhu, là hào 4 quẻ Lôi Thiên Đại tráng. Dịch vẫn im lặng. Vấn đề này, khi chú giải về "Kinh", thật là mông lung về tính liên tục của Hào từ. Vì đã gọi là "Kinh", thì phải là một hệ thống lôgíc chặt chẽ và hoàn chỉnh. Có thể đây vẫn là một khoảng trống, mà Dịch Kinh chưa đề cập tới. Hay, cũng có thể đã hình thành một hệ thống phương pháp luận về: tính liên tục của hào từ, mà ta chưa biết tới. Hoặc cũng là sự tồn nghi của cá nhân tôi, con người lại đòi hỏi về "tri thiên" thật mơ hồ.Vậy thì câu: "sổ vãng giả thuận, tri lai giả nghịch" chúng ta nên hiểu như thế nào đây.
  10. Hôm nay, ngày 25/5/2010, đợi tin của Haiphuong. Hà Uyên.
  11. Chào Anh Chị Em Chủ đề: "Cùng nhau học Dịch", được gợi mở khi anh Dichnhan đặt vấn đề: "Người đời học Dịch". Cũng mong Anh Chị em nhìn từ nhiều góc độ với sách Kinh Dịch, chúng ta cùng bình giải và bình luận khi học Dịch. - Anh Dichnhan viết: Hiện tại tôi đang soạn 2 tập tài liệu Kinh Dịch Tự Điển và Giải Mã Hào Từ nên mất rất nhiều thời gian suy nghĩ cho chúng. Nhưng may sao nhờ có chương V của Tâm Pháp nên đã bớt đi được phần nào khó khăn, giống như có chiếc la bàn chỉ hướng vậy. Tôi vừa mới giải lại hào 1 quẻ Quải, mời Bác cùng nghiệm xét: Sơ Cửu: “Nhanh chóng một cách xằng bậy thì sớm dừng lại, đi chẳng hơn được, gây nên lỗi.” - Hà Uyên viết: Quá trình nhận thức cá nhân, thường tôi phân: giải Dịch theo trường phái - hoặc giải Dịch theo "thuyết". Có nghĩa rằng, giải Dịch theo "thuyết", thường tự xây dựng một học thuyết riêng, mang tính độc lập. Đối với giải Dịch theo trường phái, thường lấy căn cứ theo Âm Dương chọn nghĩa, tam tài chọn tượng. Hướng tư duy cá nhân tôi, đang thăm dò hướng tới kết cấu khung, trong tổng thể 384 hào, để khảo chứng tìm về nguyên nghĩa của ý nghĩa hào từ, trên nguyên tắc: phải mang tính liên tục, tính hệ thống lôgíc của hào từ, sau đó mới xét tới không gian Quái danh, sau tiếp mới xét tới thời điểm Quái vị. Cụ thể: 1. Kinh viết: "Quải, Sơ Cửu, tráng vu tiền chỉ, vãng bất thắng vi cữu" - Dịch: Hào Chín Đầu, mạnh ở ngón chân trước, mạo hiểm tiến lên phía trước tất không thể thủ thắng, ngược lại sẽ dẫn tới cưu hại. 2. Anh Dichnhan giải Dịch: “Nhanh chóng một cách xằng bậy thì sớm dừng lại, đi chẳng hơn được, gây nên lỗi.” Tôi bình giải theo kết cấu khung: 1. Tính liên tục hào từ: tìm nguyên nhân: trước hào Sơ quẻ Quải, là hào Sơ quẻ Hàm - Hàm, Sơ Lục, hàm kỳ mẫu. - Dịch: Hào Sáu Đầu, giao cảm ở ngón chân cái. 2. Tính hệ thống: tìm xu hướng từ quẻ "đối" và quẻ "đảo", sau đó mới giải thích được tại sao lại " tráng vu tiền chỉ". Mong anh chị em cùng tham gia bình giải khi học Dịch Hà Uyên.
  12. Sấm truyền Maya - thảm họa hay khởi đầu kỷ nguyên mới? http://vtc.vn/394-248204/phong-su-kham-pha...-nguyen-moi.htm (VTC News) - Ngày nay, chủ đề ngày tận thế 2012 được đề cập rất phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng, nó được hàng triệu người biết và nhắc đến. Biết làm thế nào khác được nếu ngày tận thế đã được các tôn giáo của nhiều dân tộc, các nhà tư tưởng, nhà khoa học và những người nổi tiếng tiên đoán từ nhiều thế kỷ nay sẽ trở thành hiện thực? Trong số những người có cùng quan điểm có cả John Bogoslov, Nostradamus, Newton, James Hansen, và nhiều nhà chiêm tinh học hiện đại khác. Nhưng dù sao thì hiện tại chúng ta vẫn đang còn sống và trái đất vẫn chưa ngừng quay. Vậy có điều gì bí ẩn trong những lời tiên đoán này? Liệu chúng là sự thật hay chỉ là những điều bịa đặt? Hay đó chỉ là sự hoang tưởng bị kích động của những kẻ cuồng tín tôn giáo? Theo hình dung của người Maya thì ngày 23/12/2012 sẽ kết thúc chu trình lịch thứ 13 – tức Kỷ nguyên Thái Dương thứ Tư. Đúng vào ngày này Chúa Polonakte sẽ xuống trái đất. Ngày tận thế bắt đầu. Nhưng đồng thời, truyền thuyết của người Maya cũng nói rõ: kỷ nguyên thay đổi sẽ bắt đầu, đàn con của Báo sẽ được sinh ra với nhiều màu da khác nhau và sẽ sống trên toàn thế giới. Chúng sẽ đưa con người về với tình yêu, ánh sáng và cội nguồn. Nền văn minh Maya cổ đại được hình thành thế nào? Cho đến nay, không ai có thể đưa ra câu trả lời chính xác cho câu hỏi này. Đã ba thập kỷ nay, rất nhiều cuộc tranh luận và bút chiến nổ ra giữa các nhà khoa học, chiêm tinh học đại diện cho các trường phái tôn giáo khác nhau tranh luận về đề tài này. Kim tự tháp Maya. Có quan điểm cho rằng, người Maya xuất thân từ một dân tộc cổ đại có tên là Olmec. Nhưng các giáo sĩ của bộ tộc Maya – những người bảo vệ ban ngày – nói rằng, sau khi vùng đất huyền thoại Atlantic tách ra, những nhóm người lớn đã di tản ra khắp nơi trên thế giới như: Ai Cập, Ấn Độ, Trung Mỹ, Trung Quốc. Cho nên, ngày nay văn hóa của những nền văn minh này vẫn còn nhiều điểm chung: họ đều có các kim tự tháp, nét chữ viết giống nhau, cùng có ngành thiên văn học, tục thờ động vật… Chữ cổ của người Maya. Nền văn hóa của người Maya là độc nhất vô nhị. Nó phát triển độc lập ở vùng rừng mưa nhiệt đới. Người Maya từng sống trên vùng lãnh thổ của Mexico ngày nay và đã xây dựng các thành phố uy nghi ở đây. Các kim tự tháp của người Maya cao ngang với kim tự tháp của người Ai Cập. Họ còn xây dựng các đài thiên văn để theo dõi bầu trời. Những người bảo vệ thời gian – giáo sĩ Maya – đã từng tiên đoán về sự thay đổi khí hậu trên Trái đất. Vậy người Maya không có sắt và bánh xe đã bỏ ra biết bao công sức để xây dựng lên những công trình phức tạp và hoàn toàn chính xác ấy để làm gì? Phải chăng là để bảo vệ trước kẻ thù? Hay để chứng tỏ sức mạnh? Kiến trúc kiểu Maya. Kim tự tháp Polenke là một viên ngọc kiến trúc giữa rừng rậm. Theo tín ngưỡng của người Maya, tại đây tia nắng đầu tiên chiếu xuống trái đất và đây cũng chính là nơi kết thúc của hoàng hôn. Tại đây có đền thờ “Chữ khắc”, nơi mà tuyển tập chữ khắc và các bức bích họa của người Maya đã được tìm thấy. Người Maya có hệ thống chữ viết hiện đại. Trong một thời gian dài trước đây, người ta cho rằng không thể giải mã được chữ của người Maya. Nhưng nhà khoa học Nga Yuri Knorozov hiện đang sống tại Mexico đã trở thành vị anh hùng dân tộc khi tìm ra chìa khóa giải mã những ký hiệu đó. Nền văn minh Maya không hề thua kém bất kỳ nền văn minh cổ đại nào từng tồn tại trên Trái đất về mức độ vĩ đại, phát triển và thiên tài. Tất cả những gì họ có đều ở trình độ phát triển cao, như: toán học, thiên văn học, sự hiểu biết về tâm hồn, sự sáng tạo, y học và kiến trúc. Bộ lịch nổi tiếng của người Maya xuất hiện thế nào? Do ai tạo ra? Trước đây, người ta không thể trả lời được những câu hỏi này. Các nhà khảo cổ, các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về nền văn minh Maya và các nhà sử học đã đưa ra những kết luận khác nhau. Có một số quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, bộ lịch này là do người Maya đúc rút được từ nền văn minh phát triển và cổ đại hơn của người Olmec. Quả thật, trên lãnh thổ mà người Olmec từng sinh sống, người ta khai quật được những bản khắc trên đá và các hiện vật có đề ngày tháng theo lịch. Nhưng chẳng có bằng chứng khoa học nào chứng minh rằng người Olmec sáng tạo ra lịch. Phụ nữ Maya. Quan điểm thứ hai cho rằng, theo truyền thuyết của người da đỏ, một nhà cầm quyền da trắng nào đó đã sáng tạo ra chữ viết, lịch và truyền những kiến thức này cho người da đỏ. Quan điểm thứ ba cho rằng, những người bảo vệ ban ngày khẳng định rằng, những kiến thức này đến từ nền văn hóa Atlantic. Nền văn minh ngoài trái đất từ chòm sao Thất tinh đã dạy cho người dân của nền văn hóa Atlantic những kiến thức này. Dường như còn tồn tại bốn Á thần – tức Báo, đó là những vị thần đến trái đất sau thần Lũ lụt để vực lại sự sống cho trái đất. Họ đã tiến hành các lễ nghi thích ứng để xua tan sương mù khỏi trái đất và tặng quà cho con người – gồm chiếc túi tiên đoán, vương miện, chiếc đầu lâu bằng pha lê, cũng như dòng thời gian của chu kỳ ánh sáng (lịch). Tượng đá Maya. Người Maya có cả thảy 20 bộ lịch. Nhưng chính xác nhất chỉ có hai bộ: Lịch Tzolkin Ritual với một năm 260 ngày và Lịch Thái Dương rất giống với lịch Gregory một năm có 365 ngày. Hai bộ lịch này đều thể hiện chu kỳ đồng bộ 52 năm. Điều này có nghĩa là cứ 18.980 ngày hay 52 năm thì ngày Thánh lịch và lịch năm sẽ trùng nhau. Con số 52 rất có ý nghĩa đối với người Maya, và sau này là đối với người Aztec. Cứ sau mỗi chu kỳ 52 năm thì tất cả lại kết thúc hoặc bắt đầu. Thậm chí tuổi thọ trung bình của người Maya cổ đại cũng là 52. Người Maya cổ đại tính lịch dựa vào thuật chiêm tinh. Thuật chiêm tinh được thế giới ngày nay chấp nhận dựa vào vị trí của hành tinh trong hoàng đạo. Người Maya cũng biết về các chòm sao và họ cho rằng có 13 chòm sao. Thậm chí, họ còn biết đến cả chòm sao Ophiuchus.
  13. Chào Thiên đồng Cảm ơn Bạn rất nhiều từ những ý kiến mà Bạn đặt vấn đề. Tôi đang trải nghiệm, cùng luận giải thêm với Thiên Đồng sau. Gần đây, về cá nhân, tôi đang thử nghiệm, nhưng không nói ra, về: Họ và Tên của sự Hợp khí, với điều kiện là: Âm dương đã hợp hóa => đã "sinh". Ví dụ như tên của Dương: Trần văn A, tên của Âm là Nguyễn thị B => tôi phân: Trần Văn làm Ngoại quái, còn tên là chữ A, thì đặt làm Nội quái. Đối ứng với Âm, thì Nguyễn Thị tổ hợp làm Ngoại quái, còn tên chữ là B, thì tổ hợp làm Nội quái. Tôi thử nghiệm xét thấy, có nhiều điều rất lạ khi thông tin được bộc lộ ra, từ hai quẻ Đối ứng. Chia sẻ cùng Thiên Đồng và Anh Chị Em. Hà Uyên.
  14. Anh Dichnhan Khi ngài Tiêu Diên Thọ xây dựng kết cấu cho học thuyết của mình, Ông lấy Can Chi "ngày" làm "Bản" (gốc). Do vậy, ngài Tiêu mới lấy "Trực nhật" để minh chứng cho "Tiêu Lâm". Hôm nay, là ngày Đinh Mão, là Can Chi ứng cho ngày "Âm", nên tôi trải nghiệm theo nguyên tắc mà ngài Tiêu Diên Thọ đã đặt ra. Anh tham khảo thêm. Hà Uyên.
  15. Chào Anh Chị Em trên diễn đàn. Khi tìm hiểu những phương pháp để lập quẻ Dịch, trong MAI HOA DỊCH SỐ của ngài Thiệu Ung, có phương pháp CHIẾT TỰ SỐ. Theo sách "Bí bản trắc tự toàn thư", ngài Tự Thạch đã nổi danh thiên hạ về khoa Chiết tự. Chữ Quốc ngữ VN có thể xây dựng nên phương pháp Chiết tự này. Tham khảo từ Nguồn: Dichminh.co.cc, được xây dựng Chiết tự số như sau: A : 3 nét ; Ă : 4 nét ; Â : 5 nét B : 3 nét C : 1 nét D : 2 nét ; Đ : 3 nét E : 4 nét ; Ê : 6 nét G : 2 nét ; H : 3 nét I : 1 nét K : 3 nét L : 2 nét M : 4 nét N : 2 nét O : 2 nét Ô : 4 nét Ơ : 3 nét P : 2 nét Q : 3 nét R : 3 nét S : 1 nét T : 2 nét U : 1 nét Ư : 2 nét V : 2 nét X : 2 nét Y : 3 nét Sắc(/) : 1 nét Huyền (\) : 1 nét Hỏi (?) : 2 nét Ngã (~) : 1 nét Nặng (.) : 1 nét Một ví dụ về khoa Chiết tự số tương ứng với chữ Quốc ngữ: Câu thành văn như sau: Trèo lên ngọn cây, thấy mình cao quá, Mọi người ở dưới thấp, nên tự chán. Cụ thể: - "Trèo lên ngọn cây": tổ hợp Chiết tự số làm Ngoại quái - "thấy mình cao quá": tổ hợp Chiết tự số làm Nội quái Thực hiện: - Chữ "Trèo": T = 2, r = 3, e = 4, 0 = 2, dấu "huyền" = 1 => 2 + 3 + 4 + 2 + 1 = 12 - Chữ "lên": l = 2, ê = 6, n = 2 => 2 + 6 + 2 = 10 - Chữ "ngọn": n = 2, g = 2, 0 = 2, n = 2, dấu "nặng" = 1 => 2 + 2 + 2 + 2 + 1 = 9 - Chữ "cây": c = 1, â = 5, y = 3 => 1 + 5 + 3 = 9 Tổ hợp câu "Trèo lên ngọn cây" = 12 + 10 + 9 + 9 = 40 40 / 8 = 5 => được quái Khôn. - Chữ "thấy": t = 2, h = 3, â = 5, y = 3, dấu "sắc" = 1 => 2 + 3 + 5 + 3 + 1 = 17. - Chữ "mình": m = 4, i = 1, n = 2, h = 3, dấu "huyền" = 1 => 4 + 1 + 2 + 3 + 1 = 11 - Chữ "cao": c = 1, a = 3, 0 = 2 => 1 + 3 + 2 = 6 - Chữ "quá": q = 3, u = 1, a = 3, dấu "sắc" = 1 => 3 + 1 + 3 + 1 = 8 Tổ hợp câu: "thấy mình cao quá" = 17 + 11 + 6 + 8 = 42 42 / 8 = 5 dư 2 => được quái Đoài Câu: "Trèo lên ngọn cây, thấy mình cao quá" được quẻ ĐỊA TRẠCH LÂM. Tiếp tục với vế đối là câu: "mọi người ở dưới thấp, nên tự chán", lại phân câu này thành 02 quái: - Chữ "mọi": m = 4, 0 = 2, i = 1, dấu "nặng" = 1 => 4 + 2 + 1 + 1 = 8 - Chữ "người": n = 2, g = 2, ư = 2, ơ = 3, i = 1, dấu "huyền' = 1 => 2 + 2 + 2 + 3 + 1 + 1 = 11 - Chữ "ở": ơ = 3, dấu "hỏi" = 2 => 3 + 2 = 5 - Chữ "dưới": d = 2, ư = 2, ơ = 3, i = 1, dấu "sắc" = 1 => 2 + 2 + 3 + 1 + 1 = 9 - Chữ "thấp": t = 2, h = 3, â = 5, p = 2, dấu "sắc" = 1 => 2 + 3 + 5 + 2 + 1 = 16 Tổ hợp câu: "mọi người ở dưới thấp" = 8 + 11 + 5 + 9 + 16 = 59 59 / 8 = 7 dư 3 => được quái Ly - Chữ "nên": n = 2, ê = 6, n = 2 => 2 + 6 + 2 = 10 - Chữ "tự": t = 2, ư = 2, dấu "nặng" = 1 => 2 + 2 + 1 = 5 - Chữ "chán": c = 1, h = 3, a = 3, n = 2, dấu "sắc" = 1 => 1 + 3 + 3 + 2 + 1 = 10 Tổ hợp câu: "nên tự chán" = 10 + 5 + 10 = 25 25 / 8 = 3 dư 1 => được quái Càn Câu "mọi người ở dưới thấp, nên tự chán" được quẻ HOẢ THIÊN ĐẠI HỮU. - Tượng hai quẻ Lâm thừa Đại hữu: theo Bốc Dịch, động hào 3, 4, 6 - Theo Dịch Lâm được quẻ Lâm chi Đại hữu. Chúng ta tham khảo thêm một phương thức lập quẻ Dịch. Hà Uyên.
  16. Chào VinhL Tôi nghĩ, Phòng bó bột này nằm ở hướng Đông, lệnh sang Đông Nam khoảng 15 ~ 25 độ. Hà Uyên.
  17. Chào bạn Haiphuong Cảm ơn bạn đã dành thời gian hồi âm. Tôi rất tin vào phương pháp mà anh Thiên Sứ đã triển khai đối với vợ chồng bạn. Hôm nay là ngày 15/5/2010, là ngày Giáp Tý theo âm lịch, hy vọng 12 ngày nữa, tức là ngày Ất Hợi, là ngày 25/5/2010 mong rằng tin lành sẽ tới Hà Uyên.
  18. Tôi đợi tin của bạn Haiphuong. Hà Uyên.
  19. Chào bạn. Từ ngày 9/2/2010 là ngày Canh Dần, cho đến ngày hôm qua 10/5/2010 là ngày Canh Thân tháng Canh Thìn, đã được 102 ngày, Tôi hỏi thăm tình hình sức khỏe, diễn biến bệnh của chồng bạn, tiến triển có tốt không ? Hà Uyên.
  20. Chào VIETHA Từ ngày hôm nay tới tháng 9 âm lịch, còn khoảng hơn 180 ngày nữa. VIETHA có nên chia Thời gian làm hai giai đoạn, ví như từ ngày hôm nay đến tháng 5 âm lịch. Tiếp đến từ tháng 6 âm lịch tới tháng 9 âm lịch. Chúng ta cùng tham khảo từ thực tiễn xem sao. Hà Uyên.
  21. TPO - Trang web Điện Kremlin hôm nay, 7 - 5, cho biết trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev cảnh báo về khả năng bùng nổ một cuộc chiến tranh quy mô lớn trên thế giới. Tờ Izvestia của Nga dẫn lời Tổng thống Medvedev nhận định “khả năng chiến tranh quy mô lớn vẫn hiện hữu, vì các quốc gia khác biệt nhau cùng chung sống trong một thế giới với những mối quan tâm về lợi ích khác nhau”. Theo ông Medvedev, một lượng lớn vũ khí vẫn được dự trữ trên thế giới, trong khi một số thế lực vẫn coi chiến tranh như giải pháp để giải quyết những vướng mắc chính trị của riêng họ. Tổng thống Nga Medvedev cho rằng, cơ chế hiệu quả chống nguy cơ chiến tranh chính là sự hợp tác chặt chẽ của cộng đồng quốc tế, trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế, gồm Liên Hợp Quốc và Tổ chức An ninh và Hợp tác tại Châu Âu. Ông Medvedev nói: ”Bài học mà chúng ta rút ra được từ Thế chiến II là việc phải thiết lập hệ thống bảo đảm an ninh toàn cầu vững chắc”. Ông Medvedev cũng nói thêm rằng, vì mục đích an ninh, Nga sẽ tiếp tục sở hữu vũ khí hạt nhân trong khi tham gia đàm phán với các đối tác lớn của mình. Liên quan tới Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược mới vừa được ký kết giữa Moscow và Washington ngày 8 - 4, Tổng thống Nga Medvedev cho rằng, đây là “sự thỏa hiệp đúng đắn”. Trả lời phỏng vấn tờ Izvestia, Tổng thống Nga Dmitry Medvedev một lần nữa phản đối ý đồ bóp méo sự thật lịch sử về Thế chiến II của một số chính trị gia. Theo ông Medvedev, so sánh quân đội Xô Viết với những kẻ xâm lược phát xít là một kiểu “tội phạm đạo đức”. Huy Linh Theo Tân Hoa Xã Nguon: http://www.baomoi.com/Home/TheGioi/www.tie...lon/4232957.epi
  22. Thông qua chu kỳ 60 Can Chi, số Tích tuế từ Thượng cổ Giáp Tý tính tới năm Công nguyên được 169231 vòng - với số dư 57 (số Tai tuế quẻ Ly). Cụ thể: 169231 x 60 = 10153860 + 57 = 10 153 917 Số Tích tuế những năm được khởi từ sau Công nguyên, được tính bằng hợp số của số năm cần tính và số mốc giới hạn Tích tuế từ Thượng cổ Giáp Tý đến năm Công nguyên. Ví như: số Tích tuế của năm 1979 là: 10 153 917 + 1979 = 10 155 896
  23. Chào bạn HMD Tôi cũng ít dự đoán bóng đá, thấy bạn nói: "chắc chắn Inter thắng". Bạn có thể phân tích kỹ hơn cho bà con trên diễn đàn học hỏi thêm được không ? Hà Uyên.
  24. Chào Phúc Cô Wild nói đúng đấy, bạn nhầm lẫn trong việc hai lá số đều là "Âm nam"
  25. Chào bạn NguyenHoang2010 Theo như hiểu biết của tôi, mặt Trăng đã để lại trong bạn một số vấn đề, cụ thể: v/đ của phụ nữ hàng tháng của bạn không đều, hậu quả thường dẫn tới hội chứng Huyết áp thấp, hay là v/đ nội tiết tố ...v.v..., theo cách nhìn của Đông Y, thì bờ gan trái và phải chưa hòa (có thể), nên tuần hoàn máu theo nhịp mà liên đới ảnh hưởng. Bạn tham khảo thêm. Hà Uyên ............................. Cảm ơn bạn đã quan tâm PM tới tôi.
×
×
  • Create New...