Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Hà Uyên

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    1069
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    8

Everything posted by Hà Uyên

  1. Điều mà người xưa cho là "nghiêm mật", chính là "cái mà phải dựa vào đang dần mất đi sự ổn định". Phàm là 10 tuổi thích chạy, 20 tuổi thích đi nhanh, 30 tuổi thích đi bộ, 40 tuổi thích sự ngồi, 50 tuổi thích sự nghỉ, 60 tuổi thích sự nằm. Dịch - Sơn Địa Bác, tượng hào 2 nói: "Bác sàng dĩ biện, vị hữu dữ dã", có nghĩa rằng: "Đã đến lúc muốn nằm nghỉ, thì giường nằm từ cứng mạnh đang chuyển thành hư yếu". Phải dừng lại, vì người ta không thể quên nguồn cội của mình. Thường ngày cần phải củng cố cái "gốc" để phòng sự "bác". Khi "thời gian" tích lại ngày một lớn, có nghĩa rằng tuổi ngày một tăng lên, thì "vật chất" ngày càng mất dần đi. Cái mà ta phải dựa vào đó vậy !
  2. Tiếp tục: VÒNG 3 ...........................ĐỈNH ........GIA NHÂN.........................LÂM ...GIẢI.....................+.................TỤY ........ĐẠI SÚC......................ĐỘN ..........................TRUÂN NHẬN XÉT: - Cung Càn 6 với cung Cấn 8: trong ngoài, trên dưới, nội ngoại, thay đổi vị trí cho nhau: Thiên Sơn <=> Sơn Thiên, hướng Tây Bắc <=> Đông Bắc. - Cung Khảm 1 với cung Chấn 3: trên dưới thay đổi vị trí cho nhau: Thuỷ Lôi <=> Lôi Thuỷ - Cung Khôn 2 với cung Đoài 7: trên dưới thay đổi vị trí: Địa Trạch <=> Trạch Địa - Cung Tốn 4 với cung Ly 9: Phong Hỏa <=> Hoả Phong. VÒNG 4 ...........................VỊ TẾ ........ÍCH.............................THÁI ...HẰNG.....................+...............HÀM ..........TỔN...................................BĨ ...........................KÝ TẾ - Cung Càn 6 với cung số Khôn 2: Thiên Địa <=> Địa Thiên => Giáp Nhâm = Ất Quý >> hướng Tây Bắc và hướng Tây Nam - Cung Đoài 7 với cung Cấn 8: Bính <=> Đinh - Cung Khảm 1 với cung Ly 9: Mậu <=> Kỷ - Cung Chấn 3 với cung Tốn 4: Canh <=> Tân VÒNG 5 .............................MÔNG ......VÔ VỌNG.......................ĐẠI TRÁNG ...THĂNG.....................+...................KIỂN ........KHUÊ...................................QUAN ...........................CÁCH - Cung Cấn 8 với cung Khảm 1: Bính <=> Mậu - Cung Tốn 4 với cung Khôn 2: Tân <=> Ất (Quý) - Cung Chấn 3 với cung Càn 6: Canh <=> Giáp (Nhâm) - Cung Ly 9 với cung Đoài 7: Kỷ <=> Đinh VÒNG 6 ...........................HOÁN ........PHỆ HẠP.........................QUẢI ...TỈNH.....................+.................KHIÊM ..........LÝ...................................BÁC ...........................PHONG - Tây Bắc cung Càn 6 phối ứng với Tây cung Đoài 7: Đinh <=> Nhâm (Giáp) - Đông Bắc cung Cán 8 phối ứng với Tây Nam cung Khôn 2: Bính <=> Quý (Ất) - Hướng Bắc cung Khảm 1 phối ứng với hướng Đông Nam cung Tốn 4: Mậu <=> Tân - Hướng Đông cung Chấn 3 phối ứng với hướng Nam cung Ly 9: Canh <=> Kỷ. VÒNG 7 ..........................Nam ..........................TỤNG ...........DI............................NHU ...ĐẠI QUÁ...............+...............TIỂU QUÁ ........TRUNG PHU.....................TẤN ...........................MINH DI .............................Bắc - Cặp [ 9 <=> 2 ] => Ly <=> Khôn (Nam ~ Tây Nam) - Cặp [ 7 <=> 4 ] => Đoài <=> Tốn (Tây ~ Đông Nam), (Đinh ~ Tân) - Cặp [ 6 <=> 1 ] => Càn <=> Khảm (Tây Bắc ~ Bắc) - Cặp [ 8 <=> 3 ] => Cấn <=> Chấn (Đông Bắc ~ Đông) VÒNG 8 ....................ĐỒNG NHÂN ...........CỔ.........................TỶ ...TUỲ...............+...............QUY MUỘI ..........TIỆM.....................ĐẠI HỮU ......................MINH DI - Cặp 6 ~ 9 => Hỏa Thiên ~ Thiên Hỏa - Cặp 3 ~ 7 => Trạch Lôi ~ Lôi Trạch - Cặp 1 ~ 2 => Địa Thủy ~ Thủy Địa - Cặp 8 ~ 4 => Phong Sơn ~ Sơn Phong Chúng ta đã xong được một bước. Tiếp theo, ta cần phải biết được, trong 32 cặp phối hợp này, cặp nào là cặp có sự "dao động" mạnh nhất. Hệ số "dao động" này, giúp được gì cho chúng ta khi ứng dụng vào thực tiễn ? Có người, gặp hệ số "dao động" thấp mà vẫn bị họa tai, có người lại gặp hệ số "dao động" cao mà họ vẫn có khả năng vượt qua (!). Ta tiếp tục khai phá những điều mà người xưa cho là "nghiêm mật".
  3. Chào Amour Thấy Amour nói và bàn tới thuyết Nạp Giáp, lại thêm Amour cũng đã khảo tới sự phối hợp "thời gian" với Kinh Dịch. Mỗi một vòng Hoa Giáp khi phối hợp với Hào từ, đều xẩy ra hiện tượng tồn tại số "trùng lưu" như sau - Số 1 ~ số 49 ==> Giáp Tý <=> Nhâm Tý - số 2 ~ số 50 ==> Ất Sửu <=> Quý Sửu - số 9 ~ số 21 ==> Nhâm Thân <==> Giáp Thân - số 10 ~ số 22 ==> Quý Dậu <==> Ất Dậu - số 11 ~ số 59 ==> Giáp Tuất <==> Nhâm Tuất - số 12 ~ số 60 ==> Ất Hợi <==> Quý Hợi - số 19 ~ số 31 ==> Nhâm Ngọ <==> Giáp Ngọ - số 20 ~ số 32 ==> Quý Mùi <==> Ất Mùi - số 21 ~ số 9 ==> Giáp Thân <==> Nhâm Thân - số 22 ~ số 10 ==> Ất Dậu >==> Quý Dậu - số 29 ~ số 41 ==> Nhâm Thìn <==> Giáp Thìn - số 30 ~ số 42 ==> Quý Tị <==> Ất Tị - số 31 ~ số 19 ==> Giáp Ngọ <==> Nhâm Ngọ - số 32 ~ số 20 ==> Ất Mùi <==> Quý Mùi - số 39 ~ số 51 ==> Nhâm Dần <==> Giáp Dần - số 40 ~ số 52 ==> Quý Mão <==> Ất Mão - số 41 ~ số 29 ==> Giáp Thìn <==> Nhâm Thìn - số 42 ~ số 30 ==> Ất Tị <==> Quý Tị - số 49 ~ số 1 ==> Nhâm Tý <==> Giáp Tý - số 50 ~ số 2 ==> Quý Sửu <==> Ất Sửu - số 51 ~ số 39 ==> Giáp Dần <==> Nhâm Dần - số 52 ~ số 40 ==> Ất Mão <==> Quý Mão - số 59 ~ số 11 ==> Nhâm tuất <==> Giáp Tuất - số 60 ~ số 12 ==> Quý Hợi <==> Ất hợi Amour đọc và khảo, có nhận xét thấy được điều gì không ? Tại sao số 31 là Giáp Ngọ trùng lưu với số 19 là Nhâm Ngọ ? Có phải từ đây mà hình thành quy luật, như Amour nói là thuyết "nạp giáp", rồi chỉ rõ rằng "cách bát tương sinh", cặp số 1 ~ 31 đều được Nạp Âm với Ngũ hành giống nhau 4 - 2 - 3 - 5 - 4 (Kim-Hoả-Mộc-Thổ-Kim). Cụ thể: - Giáp Tý - Giáp Ngọ = 4 - 2 -3 - 5 - 4 (Kim - Hỏa - Mộc - Thổ - Kim) - Giáp Thìn - Giáp Tuất = 2 - 1 - 5 - 4 - 3 (Hỏa - Thủy - Thổ - Kim - Mộc) - Giáp Thân - Giáp Dần = 1 - 5 - 2 - 3 - 1 (Thủy - Thổ - Hỏa - Mộc - Thủy) Amour có khảo chứng được không ? Lưu ý với Amour đừng để nhầm lẫn, như khi đọc chưa kỹ về thuyết Hào thần, mà đã vội lập thành bảng biểu không được chính xác. Do vì tôi đã có một bài viết riêng cho sự phối hợp Hào thần với Thời gian, đó là bài #12 tại chuyên mục "Cùng nhau học Dịch". "Chu Dịch học thuyết" có lời bàn về quẻ Sơn Thuỷ Mông viết: "Vật mới sinh tất ngu tối, cho nên cây quả có vỏ phủ ngoài mầm, người ta mà ngu tối tất cũng vô tri, cũng như cây quả, có vỏ phủ ngoài mầm, vỏ ngoài của cây không thể tự tách bỏ, mà đợi sấm, mưa đến mới tách bỏ đi được ; người ta ở vào "thời" ngu tối cũng không tự thoát ra được, phải đợi người giúp thoát ra." Con Người được tạo sinh bởi Trời Đất, trong mỗi người đều tự có lòng "thành tín". Nhưng, Dịch lại hỏi rằng, lòng "thành tín" này, rộng hay là hẹp đây ?, cũng như khi ta nói: "mở rộng tấm lòng" vậy !!!. (rộng hẹp, trên dưới, to nhỏ, trước sau, chung thuỷ, nhân quả,...v.v...) Can Năm sinh của Amour là can Ất, ngày sinh của Amour cũng là can Ất, theo Tử Vi thì Mệnh lập tại cung Thìn có sao Tham lang. Can năm sinh "trùng lưu" với can ngày sinh, cùng là can Ất, thì số Tử bình gọi là Tỷ - Kiếp. Cũng như sao Tham lang được phối với can Giáp, sao Tử vi được phối với can Kỷ, do vậy Ất gặp Giáp thì Tử Bình gọi là "Kiếp". Hướng Tây Nam: phối can Ất, bất kể quẻ nào trong 64 quẻ khi bay về an tại cung Khôn 2 hướng Tây Nam, thì sự khởi đầu luôn phải bắt đầu từ hào 4, tiếp đến hào 5, 6, 1, 2, 3. Ta có: - Ất Sửu hào 4 - Ất Hợi hào 5 - Ất Dậu hào 6 - Ất Mùi hào 1 - Ất Tị hào 2 - Ất Mão hào 3 Trong đó, can chi ngày Ất Dậu hào 6 là tới "cùng", can chi ngày Ất Mão hào 3 là tới "cực". Amour sinh ngày có can chi là ẤT MÃO, như vậy, theo Phong Thủy thì hướng Tây Nam đối với Amour phải hết sức cẩn trọng vậy (!). Amour sẽ hỏi rằng, hướng Tây Nam theo PHONG THỦY tại sao lại như vậy ? Bao giờ thì xẩy ra ? Hoàng Đế hỏi, Kỳ Bá trả lời: Đây là Âm Dương của Thiên Địa, nó không phải là sự vận hành của ngũ hành trong Tứ thời, vả lại Âm Dương là cái gì hữu danh mà vô hình, cho nên nếu đếm ra thì con số có đến mười, nếu suy ra có đến trăm, tán rộng ra có đến ngàn, suy ra có đến vạn...v.v... Không phải Năm - Tháng - Ngày - Giờ nào cũng phải cẩn trọng, "Vận Mệnh" con người thì có Khách vận và Chủ vận, trong 64 quẻ Dịch 384 hào từ (480), thì tới một thời điểm, khi một Can Chi cũng như một Hào từ "XÉO BAY" về hướng Tây Nam, sự ứng hợp thời gian sẽ xẩy ra. Hà Uyên.
  4. Khảo sát vòng 2 ...........................LỮ .....TIỂU SÚC.........................PHỤC ...DỰ.....................+....................KHỐN ..........BÍ..................................CẤU ...........................TIẾT Nhận xét thấy - Hướng Tây -Nam cung Khôn 2, mang quẻ Địa Lôi Phục phối hợp với hướng Đông, cung Chấn 3 mang quẻ Lôi Địa Dự, hướng Tây - Nam thì: Địa ở bên ngoài mà Lôi ở bên trong ; Địa ở trên mà Lôi ở dưới ; Địa ở ngọn mà Lôi ở gốc,...v.v... Đối với hướng Đông thì vị trí Nội quái và Ngoại quái được thay đổi cho nhau (không phải là đảo - ngược quái): Lôi lại ở bên ngoài còn Địa lại ở bên trong => Lôi Địa <==> Địa Lôi (Tây Nam <==> Đông). Tương tự: - Hướng Tây - Bắc cung Càn 6, mang quẻ Thiên Phong Cấu phối hợp với hướng Đông - Nam cung Tốn 4, mang quẻ Phong Thiên Tiểu súc => Thiên Phong <==> Phong Thiên (Đông Nam <==> Tây Bắc) - Hướng Đông - Bắc quẻ Cấn 8, mang quẻ Sơn Hoả Bí phối hợp với hướng Nam cung Ly 9 mang quẻ Hoả Sơn Lữ => Sơn Hỏa <==> Hỏa Sơn (Đông Bắc <==> Nam) - Hướng Bắc cung Khảm 1, mang quẻ Thuỷ Trạch Tiết phối hợp với hướng Tây cung Đoài mang quẻ Trạch Thuỷ Khốn => Thuỷ Trạch <==> Trạch Thuỷ (Bắc <==> Tây) Nội ngoại, trong ngoài, trên dưới, trước sau, gốc ngọn, nhân quả...v.v... đều thay đổi vị trí cho nhau. Khi sự thay đổi vị trí quái như vậy, thì chúng ta nhận thức được gì đây ? Phải chăng, cái "bên ngoài" của hướng Tây phản ảnh thông tin cái "bên trong" của hướng Đông - Bắc, cũng như cái "bên trong" của hướng Tây Bắc phản ánh thông tin về cái "bên ngoài" của hướng Đông Nam,...v.v...
  5. Chào anh Thiên Sứ Để mở một chuyên mục riêng về đề tài: "HOÀNG ĐẾ NỘI KINH TỐ VẤN", là một đề tài Kinh điển, tôi khó có thể kham nổi, mong Anh thật sự thông cảm. Chân thành cảm ơn Anh. Hà Uyên.
  6. LINH KHU - THIÊN 72 THÔNG THIÊN Hoàng Đế hỏi Thiếu Sư: "Ta thường nghe nói về con người, có người thuộc Âm, có người thuộc Dương, Người như thế nào thì thuộc Âm ? Người như thế nào thuộc Dương ?”[1]. Thiếu Sư đáp: “Trong khoảng Thiên Địa, bên trong lục hợp, tất cả không tách khỏi ngũ hành, con người cũng ứng theo đó, nhưng cũng không phải chỉ có 1 mẫu người Âm, 1 mẫu người Dương mà thôi, nó chỉ được nói 1 cách giản lược mà thôi, lời nói không thể diễn tả rõ rệt được”[2]. Hoàng Đế hỏi: "Ta mong được nghe giảng 1 cách sơ lược về ý nghĩa của vấn đề con người Âm Dương ấy[3]. Các bậc hiền nhân, thánh nhân, nội tâm của họ có phải kiêm cả Âm Dương và có thể biểu hiện ra bằng hành vi hay không ?”[3]. Thiếu Sư đáp: “Nói chung, có những người thuộc Thái âm, có những người thuộc Thiếu âm, có những người thuộc Thái Dương, có những người thuộc Thiếu Dương, có những người thuộc Âm Dương hòa bình, phàm tất cả 5 loại người này, hình thái của họ bất đồng, cân cốt và khí huyết cũng không giống nhau”[4]. Hoàng Đế hỏi: "Sự không giống nhau đó, ta có thể nghe giải thích được không ?”[5]. Thiếu sư đáp: “Những người thuộc Thái âm, tính tình của họ là tham lam mà bất nhân, bề ngoài có vẻ khiêm cung, chu đáo, nhưng bên trong chất chứa những điều âm hiểm, chỉ biết lấy về phần mình là vui thích, mà rất ghét khi bị thua thiệt mất mát[6]. Tâm địa của họ như rất nhu hòa, hình sắc không để lộ ra ngoài, có việc gì xảy ra họ không phản ứng và biểu lộ ý mình kịp thời, động tác của họ thường biểu lộ chậm hơn người khác, đó chính là tâm tính, thái độ...) của những người thuộc Thái âm[7]. Những người thuộc Thiếu Âm, tính tình của họ là tham lam những điều nhỏ mọn, thường có ý hại người, mỗi khi thấy người khác có những tổn thất nào đó, họ thường tỏ vẻ vui mừng như đang được 1 cái gì đó; Họ thích làm thương tổn đến người khác, khi thấy người khác có chút gì vinh quang, họ thường tỏ ra nổi giận; Tính khí của họ tàn ác, vô ân; Đây chính là tâm tính, thái độ... của người thuộc Thiếu âm[8]. Những người thuộc Thái dương, tính tình của họ là không chú trọng, để ý lắm về chỗ ở của mình, họ thích bàn chuyện đại sự, không có tài năng nhưng hay nói chuyện rỗng tuếch, chí hướng của họ thường khoe rộng ra khắp bốn phương, cử chỉ và hành động của họ không đếm xỉa đến lẽ phải trái, việc làm của họ thì tầm thường nhưng lại rất tự tin, khi việc họ làm bị thất bại, nhưng họ không bao giờ hối hận; Đó là tâm tính, thái độ... của những người thuộc Thái Dương[9]. Những người thuộc Thiếu dương, tính tình của họ thường tỉ mỉ, cẩn thận tự cho là người có tài giỏi hơn người, nếu họ chỉ làm được 1 chức quan nhỏ nào đó, họ rất tự cao, tự đắc ý, họ có tài về ngoại giao, nhưng không thể làm những việc bên trong; Đó chính là tính tình, thái độ ... của những người thuộc Thiếu Dương[10]. Những người thuộc Âm Dương hòa bình, tính tình của họ là có 1 nếp sống an tĩnh, họ không có những nỗi lo sợ vu vơ, họ không có những thái độ ham muốn vui mừng quá trớn, hành động của họ thường thuần tùng với quy luật sự vật, họ không tranh chấp kỳ kèo gì đến những gì có ích lợi cho họ, họ chỉ sống thuận với sự biến hóa của thời lệnh (khí hậu); Họ có thể có địa vị tôn qúy, nhưng thái độ rất khiêm tốn, Lời nói của họ là dùng đức để cảm hóa người khác chứ không dùng đến quyền bính, đó gọi là phương pháp xử lý sự việc tốt nhất[11]. Ngày xưa, người thầy thuốc khéo dùng kim châm và ngải cứu để trị bệnh, họ thường quan sát biết được 5 dạng người như nói trên để phân biệt ra mà trị liệu: Khi nào thịnh thì dùng phép tả, khi nào hư thì dùng phép bổ”[12]. Hoàng Đế hỏi: "Nguyên tắc trị liệu cho 5 loại hình thái người như trên thế nào ?”[13]. Thiếu Sư đáp: “Những người thuộc hình thái Thái âm, nhiều Âm mà không Dương, Âm huyết của họ trọc, vệ khí vận hành sắc trệ không trơn tru[14]. Âm và Dương không điều hòa, cân khí hoãn, bì phu dầy, đối với dạng người huyết trọc và bì phu dầy như vậy, nếu không áp dụng phương pháp châm tả nhanh thì không thể làm cho bệnh tình giảm nhẹ được[5]. Những người thuộc hình thái Thiếu âm, nhiều Âm mà ít Dương, Vị của họ nhỏ mà Trường Vị lại to công năng của lục phủ không điều hòa[6]. Mạch khí của kinh Dương minh Vị kém trong lúc đó mạch khí của Thái dương nhiều (to), vậy nên thẩm xét 1 cách thận trọng trước khi tiến hành điều trị, nếu không, do ở khí kém không giữ được huyệt sẽ làm cho huyết dễ bị thoát, còn nguyên khí cũng dễ bị bại[7]. Những người thuộc hình thái Thái dương, nhiều Dương mà ít Âm, ta nên thận trọng trước khi điều trị, vì Âm khí ít ta không nên làm cho thoát Âm, chỉ có thể châm tả Dương khí mà thôi, nhưng nếu Dương khí bị thoát nhiều lần sẽ đưa đến cuồng bệnh, và nếu Âm lẫn Dương đều bị thoát sẽ bị chết 1 cách đột ngột, hoặc sẽ bất tri nhân sự[8]. Những người thuộc hình thái Thiếu dương, nhiều Dương ít Âm, kinh mạch nhỏ nhưng lạc mạch lớn, huyết ở bên trong còn khí ở bên ngoài, trong khi điều trị phải làm sao làm cho Âm kinh được thực, và tả bớt khí của Dương lạc bên ngoài[9]; Nhưng nếu chỉ tả có lạc mạch, đó là ta đã cưỡng bức Dương khí hao tán, thoát tiết ra ngoài, như vậy là trung khí sẽ bất túc, bệnh khó có thể lành được[10]. Những người thuộc hình thái Âm Dương hòa bình, khí của Âm và Dương được điều hòa, huyết mạch cũng được điều hòa[11]. Trong lúc trị liệu nên cẩn thận chẩn đoán sự biến hóa của Âm Dương, xét được sự thịnh suy của tà khí và chính khí, dáng điệu của người thầy phải thung dung, xét đoán được sự hữu dư và bất túc của khí huyết, nếu tà khí thịnh thì nên dùng phép tả, nếu chính khí suy nên dùng phép bổ, nếu bệnh thuộc không thịnh không hư thì dựa vào kinh đã bị bệnh mà chọn huyệt châm[12]. Phương pháp này gọi là điều hòa Âm Dương, cũng là tiêu chuẩn để phân biệt được 5 dạng hình thái của con người trong việc trị liệu”[13]. Hoàng Đế hỏi: "Ôi ! Những người thuộc hình thái 5 loại khác nhau ấy, có khi chúng ta chưa bao giờ sống chung, hoặc quan hệ với họ, vậy khi gặp họ 1 cách thình lình, ta không thể biết được hành vi hàng ngày của họ, ta làm sao phân biệt được họ thuộc dạng người nào ?”[14]. Thiếu Sư đáp: “Đa số người có những loại hình khác nhau, thường không biết, hoặc không giống với những người thuộc 5 loại hình thái Âm Dương như kể trên, nhất là đối với ngũ ngũ nhị thập ngũ nhân thuộc ngũ âm, ngũ hành, thì 5 loại hình thuộc Âm Dương lại càng không thể so và giống nhau được[15]. Năm loại hình thái người thuộc Âm Dương lại càng không giống với quần chúng bình thường”[16]. Hoàng Đế hỏi: "Vậy làm cách nào để phân biệt được 5 loại hình thái của những người này ?”[17]. Thiếu Sư đáp: "Những người thuộc loại hình thái của Thiếu Âm, dáng người của họ có nước da đen xạm, ý niệm tư tưởng của họ bộc lộ như 1 người thấp kém, tầm thường, đôi mắt của họ thường nhìn xuống như thể là 1 người cao lớn phải nhìn xuống mới thấy được mọi vật, tuy họ không phải là người có tật gù lưng, nhưng gối và kheo chân của họ cong lại không đứng thẳng lên được; Đó chính là hình thái của người thuộc Thái âm vậy[18]. Những người thuộc hình thái của Thiếu âm, dáng bề ngoài của họ giống như thanh cao, nhưng lại có thái độ lén lút, lấm lét, rình mò 1 cái gì, lòng của họ thật âm hiểm, tặc hại 1 cách không lay chuyển, khi họ đứng thì lúc nào cũng bộp chộp không yên, biểu lộ 1 tâm địa nham hiểm, lúc họ hành động thì người họ khom xuống, chịu đựng sự trầm tư đầy phản trắc; Đó là hình thái của người thuộc Thiếu âm[19]. Những người thuộc loại hình thái của Thái dương, dáng điệu của họ rất kiêu căng, tự đắc, họ thường nẩy ngực, co bụng, và cũng thường co gối lại. Đó là hình thái của nghiên thuộc Thái dương[20]. Những người thuộc loại hình thái Thiếu dương, dáng đứng của họ thường nghểnh đầu và mặt lên, lúc đi, thân hình của họ thường lắc lư, 2 vai cũng như 2 cánh chỏ của họ thường hướng ra phía sau lưng; Đó là hình thái của người thuộc Thiếu dương[21]. Những người thuộc loại hình thái Âm Dương hòa bình, dáng điệu của họ lúc nào cũng ung dung, tự tại, lúc nào cũng sẵn sàng thích ứng với hoàn cảnh, nét mặt lúc nào cũng có vẻ nghiêm nghị, đứng đắn, tươi vui, đôi mắt biểu lộ cái nhìn hiền lành, dịu dàng, cử chỉ và hành động không bộp chộp mà phân minh và đứng đắn, mọi người gọi họ là bậc quân tử; Đó là hình thái của người thuộc Âm Dương hòa bình”[22].
  7. LINH KHU - THIÊN 12 NGŨ THẬP DOANH Hoàng Đế hỏi: “Ta mong được nghe thế nào là ngũ thập doanh”[1]. Kỳ Bá đáp: “Thiên xoay hết 1 chu thì hết nhị thập bát tú, mỗi tú vận hành 36 phân, khí của con người vận hành 1 chu[2]. Trong 1008 phân, nhật hành nhị thập bát tú, kinh mạch của con người vận hành trên dưới, trái phải, trước sau, thế là 28 mạch vận hành chu thân dài 16 trượng 2 xích nhằm ứng với nhị thập bát tú, lậu thủy chảy xuống trăm khắc nhằm phân ra ngày và đêm[3]. Cho nên con người 1 lần hô thì mạch tái động, khí vận hành 3 thốn[4]. Hô hấp định 1 tức, khí vận hành 6 thốn[5]. Khí vận hành trong trong 10 tức được 6 xích, nhật hành nhị phân, 270 tức khí hành 16 trượng 2 xích, khí vận hành giao thông với bên trong 1 chu toàn thân, nước chảy xuống 2 khắc, nhật hành 25 phân, 540 tức khí hành 1 lần nữa chu toàn thân, nước chảy xuống 4 khắc, nhật hành 40 phân, 2700 tức khí vận hành 10 chu toàn thân, nước chảy xuống 20 khắc, nhật hành 5 tú 20 phân, 13.500 tức khí vận hành 50 doanh ở toàn thân nước chảy xuống 100 khắc, nhật hành nhị thập bát tú, nước chảy xuống đã hết, mạch cũng dứt vậy[6]. Cái gọi là giao thông ý nói cùng vận hành với nhau theo đúng với con số. Vì thế con số 50 doanh đã đáp ứng đầy đủ tuổi thọ của Thiên Địa... nghĩa là sự vận hành được 810 trượng vậy[7]. LINH KHU - THIÊN 64 ÂM DƯƠNG NHỊ THẬP NGŨ LUẬN Hoàng Đế hỏi: "Ta nghe nói vóc dáng con người gồm 2 loại Âm và Dương phân biệt như thế nào ?”[1]. Bá Cao đáp : “Trong khoảng Trời Đất, trong khoảng 4 phương và trên dưới, không có cái gì tách rời được sự phân loại của ngũ hành, con người cũng ứng theo ngũ hành[2]. Trong ngũ hành lại chia mỗi hình làm 5 loại hình khác nhau, cho nên 5 lần 5 là 25 loại hình chuẩn trong số này chưa kể đến 2 loại hình Âm và Dương như thiên ‘Thông Thiên’ đã nói, hình thái của những người thuộc Âm Dương gồm có 5 loại, cũng khác với người thường[3]. Tất cả những điều đó, ta đều đã biết cả, Ta chỉ mong được nghe giải thích về vấn đề hình dáng của 25 người này, khí huyết sinh ra làm sao ? Đặc trưng biểu hiện bên ngoài của mỗi người như thế nào ? Làm sao có thể đi từ hình dáng bên ngoài để suy ra biết được sự biến hóa của tạng phủ bên trong ? Tất cả phải hiểu như thế nào ?”[4]. Kỳ Bá đáp : "Thật là những câu hỏi rất đầy đủ, đây là những hiểu biết mà các bậc tiên sư phải giữ gìn kín đáo, dù là Bá Cao, cũng không thể rõ được nội dung”[5]. Hoàng Đế rời khỏi chỗ ngồi, lui lại vài bước, nói 1 cách cung kính: “Ta nghe rằng, ta biết được 1 người có tài năng mà không dạy cho họ những điều hay của tiên sư, đó là 1 tổn thất to tát, nhưng giả thiết nếu ai đó biết được những điều hay ấy mà lại phổ biến 1 cách bừa bãi, người có Thiên tính tốt rất ghét những việc phổ biến bừa bãi ấy, Ta chỉ mong được biết những điều hay của tiên sư để làm sáng tỏ nó rồi cất vào hộp Kim quỹ, không dám phổ biến rộng rãi bừa bãi”[6]. Kỳ Bá đáp : "Trước hết, chúng ta nên mô tả lại 5 loại hình dáng thuộc Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, tiếp đến là phân biệt được ngũ sắc, tìm ra những nét khác nhau trong 5 loại hình dáng ấy, như vậy, ta sẽ có đầy đủ 25 loại hình dáng của họ”[7]. Hoàng Đế hỏi: "Ta mong được nghe thầy nói đầy đủ hơn nữa”[8]. Kỳ Bá đáp : "Thật là thận trọng ! Thật là thận trọng ! Thần xin trình bày như sau:”[9]. Người có hình dáng của Mộc, so được với âm Thượng giốc, giống với dáng người thương đế (đông phương); Những người này có làn da màu xanh, đầu nhỏ, khuôn mặt dài, hai vai to rộng, lưng thẳng, thân người nhỏ, tay chân nhanh nhẹn; Họ có là người có tài năng, làm việc lao tâm, sức lực kém, nhiều ưu tư, chịu khó đối với việc làm; Họ là người chịu đựng được thời lệnh của mùa xuân và mùa hạ, không chịu được thời lệnh của mùa thu và mùa đông, vì vào mùa này, khi họ bị cảm bởi tà khí thì sẽ bị bệnh; Những người mẫu theo âm Thượng giốc này thuộc về Túc Quyết âm Can kinh, phần lớn dáng dấp của họ là ung dung tự tại[10]. Người thuộc Mộc hình còn chia ra làm 4 loại, người thuộc âm Đại giốc (phần trên của phía tả), so được với dạng người thuộc túc Thiếu dương Đởm kinh ở phía tả, giống với dạng người bên trên của túc Thiếu dương, thái độ làm người của họ là khiêm nhượng, hòa nhã, không tranh hơn thua[11]. Người thuộc âm Tả giốc (phần dưới của bên hữu), so được với dạng người của túc Thiếu dương Đởm kinh ở phía hữu, giống với dạng người bên dưới của túc Thiếu dương, thái độ làm người của họ là hay thuận tùng theo người khác[12]. Người thuộc âm Đệ giốc (phần trên của bên hữu), so được với dạng của người của túc Thiếu dương Đởm kinh ở phía hữu, giống với dạng người bên trên của túc Thiếu dương, thái độ làm người của họ là cầu tiến, tiến về phía trước[13]. Người thuộc âm Phán giốc (phần dưới của bên tả), so được với dạng người của túc Thiếu dương Đởm kinh ở phía tả, giống với dạng người bên dưới của túc Thiếu dương, thái độ làm người của họ là ngay thẳng (phương chính)[14]. Người có hình dáng của Hỏa, so được với âm thượng chủy, giống với dáng người xích đế (nam phương); Những người này có làn da màu đỏ, thớ thịt ở cột sống lưng nẩy nở rộng, gương mặt gầy nhọn, đầu nhỏ, các vùng vai, lưng, xương mông, bụng nẩy nở đều, tay chân nhỏ, bước đi vững vàng, xử sự với mọi vật, mọi việc rất sáng suốt, khi bước đi hai vai lắc lư nhịp nhàng, bắp thịt ở lưng tròn đầy; Hành vi của những người này đầy khí phách, xem nhẹ tiền tài, kém tự tin, nhiều ưu tư, gặp việc giải quyết sáng suốt, thích sắc đẹp; Tâm nhanh, không sống lâu, thường bị chết 1 cách tức tửi; Họ là người chịu đựng được thời lệnh của mùa xuân và mùa hạ, không chịu đựng được thời lệnh của mùa thu và mùa đông, vì vào mùa này, khi bị cảm bởi tà khí thì sẽ bị bệnh; Những người mẫu theo âm thượng chủy này thuộc về thủ Thiếu âm Tâm kinh, phần lớn dáng dấp của họ là trung thực[15]. Người thuộc Hỏa hình còn chia làm 4 loại, người thuộc âm chất chủy (phần trên của phía tả), so được với dạng người thuộc thủ Thái dương Tiểu trường kinh ở phía tả, giống với dạng người bên trên của thủ Thái dương, thái độ làm người của họ là nông cạn[16]. Người thuộc âm thiếu chủy (phần dưới của bên hữu), so được với dạng người của thủ Thái dương Tiểu trường kinh ở phía hữu, giống với dạng người bên dưới của thủ Thái dương, thái độ làm người của họ là lạc quan và thường vui vẻ[17]. Người thuộc âm hữu chủy (phần trên của bên hữu), so được với dạng người của thủ Thái dương Tiểu trường kinh ở phía hữu, giống với dạng người bên trên của thủ Thái dương, thái độ làm người của họ là không chịu nhường bước, đứng sau ai [18]. Người thuộc âm chất phán (phần dưới của bên tả), so được với dạng người của thủ Thái dương Tiểu trường kinh ở phía tả, giống với dạng người bên dưới của thủ Thái dương, thái độ làm người của họ là quẳng hết mọi ưu phiền, thung dung tự đắc[19]. Người có hình dáng của Thổ, so được với âm thượng cung, giống với dáng người hoàng đế thời thượng cổ (trung ương); Những người này có làn da màu vàng, mặt tròn, đầu to, vai và lưng nẩy nở khỏe đẹp, bụng to, đùi và cẳng chân đều đẹp, tay chân thon nhỏ, bắp thịt đầy đặn, thân hình từ trên xuống dưới đều cân đối, bước đi vững vàng, bước chân không cao; Nội tâm của họ ổn định, thường hay làm lợi cho người khác, không thích có quyền thế, chỉ thích và khéo làm việc giúp đỡ người khác; Họ là người chịu đựng được thời lệnh của mùa thu và mùa đông, không chịu đựng được mùa xuân và mùa hạ, vì vào mùa xuân và hạ, khi bị cảm bởi tà khí thì sẽ bị bệnh; Những người mẫu theo âm thượng cung này Thuộc về túc thái âm Tỳ kinh, thái độ làm người của họ là đôn hậu, thành khẩn[20]. Người thuộc Thổ hình còn chia làm 4 loại, người thuộc âm Thái cung (phần trên của phía tả), so được với dạng người thuộc túc Dương minh Vị kinh ở phía tả, giống với dạng người bên trên của túc Dương minh, thái độ làm người của họ là thích hòa thuận[21]. Người thuộc âm gia cung (phần dưới của phía tả), so được với dạng người của túc Dương minh Vị kinh ở phía tả, giống với dạng người ở bên dưới túc Dương minh, thái độ làm người của họ là đoan trang, cẩn trọng[22]. Người thuộc âm thiếu cung (phần trên của bên hữu), so được với dạng người của túc Dương Minh Vị kinh ở phía hữu, giống với dạng người bên trên của túc Dương minh, thái độ làm người của họ là uyển chuyển để được vẹn toàn[23]. Người thuộc âm tả cung (phần dưới của bên hữu), so được với dạng người của túc Dương minh Vị kinh ở phía bên hữu, giống với dạng người bên dưới của túc Dương minh, thái độ làm người của họ là siêng năng, cần cù, chuyên tâm làm việc không ngại gian lao[24]. Người có hình dáng của Kim, so được với âm thượng thương, giống với dáng người thuộc bạch đế; Những người này có làn da màu trắng, khuôn mặt vuông, đầu nhỏ, vai và lưng nhỏ, bụng nhỏ, tay chân thon nhỏ, xương gót chân như muốn gồ ra ngoài, các đốt xương toàn thân nhẹ; Họ thường gìn giữ thân hình sạch sẽ; Tâm cấp, có thể tĩnh đó có thể động, động lên 1 cách dữ dội, họ giỏi về cung cách làm quan (hành chính); Họ chịu đựng được mùa thu và mùa đông, không chịu đựng được mùa xuân và hạ, nếu bị cảm bởi tà khí thì bệnh sinh ra; Những người mẫu theo âm thượng thương này thuộc về thủ Thái âm Phế kinh, thái độ làm người của họ là cứng rắn, không chịu khuất phục[25]. Người thuộc Kim hình còn chia làm 4 loại, người thuộc âm Đại thương, (phần trên của phía tả), so được với dạng người thuộc thủ Dương minh Đại trường kinh ở phía tả, giống với dạng người ở bên trên thuộc thủ Dương minh, thái độ làm người của họ là luôn luôn giữ được thân mình trong sạch[26]. Người thuộc âm hữu thương (phần dưới của phía tả), so được với dạng người của thủ Dương minh Đại trường kinh ở phía tả, giống với dạng người ở bên dưới thủ Dương minh, thái độ làm người của họ là thư thả, dễ chịu, không bị câu nệ[27]. Người thuộc âm tả thương (phần trên của phía hữu), so được với dạng người của thủ Dương minh Đại trường kinh ở phía hữu, giống với dạng người ở bên trên của thủ Dương minh, thái độ làm người của họ là giỏi phân biệt điều phải trái[28]. Người thuộc âm Thiếu thương (phần dưới của bên hữu), so được với dạng người của thủ Dương minh Đại trường kinh ở phía hữu, giống với dạng người bên dưới của thủ Dương minh, thái độ làm người của họ là trang nghiêm, chững chạc[29]. Người có hình dáng của Thủy, so được với âm thượng vũ, giống với dáng người thuộc hắc đế; Những người này có làn da màu đen, khuôn mặt lõm vào, đầu to, cằm nhọn, hai vai nhỏ, bụng to, tay chân hay động, khi đi hay lắc lư thân hình, phần dưới từ thắt lưng đến xương cùng dài, phần lưng cao dong dỏng; Bẩm tính của họ là không cung kính ai, cũng không sợ ai, giỏi tài lường gạt người khác, đã giết người rồi thì giết đến chết; Họ chịu đựng được mùa thu và mùa đông, không chịu đựng được mùa xuân và mùa hạ, trong mùa xuân và hạ nếu bị cảm bởi tà khí thì bệnh sinh ra; Những người mẫu theo âm thượng vũ này thuộc về túc Thiếu âm Thận kinh, thái độ làm người của họ là không gò bó, hạn chế bởi 1 giới hạn nào cả[30]. Người thuộc Thủy hình còn chia làm 4 loại, người thuộc âm Đại vũ (phần trên của phía hữu), so được với người túc Thái dương Bàng quang kinh ở phía hữu, giống với dạng người bên trên thuộc túc Thái dương, thái độ làm người của họ là biểu lộ ở trên mặt một sắc thái tự đắc[31]. Người thuộc âm Thiếu vũ (phần dưới của phía tả), so được với dạng người của túc Thái dương Bàng quang kinh ở phía tả, giống với dạng người bên dưới của túc Thái dương, thái độ làm người của họ là hay quanh co, không thẳng thắn[32]. Người thuộc âm Chúng vũ (phần dưới của phía hữu), so được với dạng người của túc Thái dương Bàng quang ở phía hữu, giống với dạng người bên dưới túc Thái dương, thái độ làm người của họ là thẳng thắn, trong sạch[33]. Người thuộc âm Chất vũ (phần trên của phía tả), so được với dạng người của túc Thái dương Bàng quang kinh ở phía tả, giống với dạng người bên trên của túc Thái dương, thái độ làm người của họ là có một tâm hồn vững vàng, đạo đức cao trọng[34]. Cho nên, hình dáng con người thuộc ngũ hành, phân chia ra làm 25 lần biến hóa, đây là những điều biến hóa khó hiểu mà đa số người bình thường không quan tâm, xem thường vậy[35]. Một người nào đó đắc được cái hình dáng thuộc 25 hình, nhưng sắc diện lại hiện ra không đúng với hình dáng ấy thì sao ?”[36]. Kỳ Bá đáp : "Nếu ngũ hành của hình dáng khác ngũ hành của sắc diện, hoặc ngũ hành của sắc diện thắng ngũ hành của hình dáng, ta nên chú ý đến trường hợp này, gặp phải năm niên kỵ, nếu bị cảm bởi tà khí thì dễ sinh bệnh, và nếu việc trị liệu bị sơ thất thì bệnh tình sẽ có nhiều điều lo âu[37]. Nếu như hình dáng và sắc diện tương đắc đó là sự biểu hiện dạng người phú qúy, đại lạc vậy”[38]. Hoàng Đế hỏi: "Trường hợp hình dáng và sắc diện tương khắc, rồi gặp phải năm niên kỵ nữa, ta có thể biết sự tương quan này không ?”[39]. Kỳ Bá đáp : "Thông thường khi nói đến niên kỵ, đối với các dạng hình dáng như nói trên, tùy theo dáng người thuộc thượng hạ của đường kinh, năm đại kỵ bắt đầu từ 7 tuổi, thêm 9 tuổi nữa là 16 tuổi, thêm 9 tuổi nữa là 25 tuổi, thêm 9 tuổi nữa là 34 tuổi, thêm 9 tuổi nữa là 43 tuổi, thêm 9 tuổi nữa là 52 tuổi, thêm 9 tuổi nữa là 61 tuổi; Đây là những năm đại kỵ của con người mà người ta không thể không biết đến để luyện tập nhiếp sinh nhằm giữ cho sức khẻo được an lành, bởi vì những năm này, nếu bị cảm bởi tà khí thì sẽ dễ sinh bệnh, và nếu vì trị liệu sơ suất thì bệnh tình sẽ có nhiều điều lo âu[40]. Nói rõ hơn trong những năm này, không nên làm những chuyện dâm tà, đó là những gì quan hệ đến năm kỵ”[41]. Hoàng Đế hỏi: "Thầy đã nói về những đặc điểm thượng và hạ của Thủ Túc tam Dương kinh, đã nói đến sự biểu hiện của huyết khí nhiều ít , ta có thể dựa vào sự quan hệ đó để biết về sự quan hệ giữa hình và khí như thế nào không ?”[42]. Kỳ Bá đáp : "Hình thể đặc trưng của kinh Túc Dương minh biểu hiện ở phần trên của con người, nếu huyết khí đều thịnh thì râu má đẹp mà dài, nếu huyết ít khí nhiều thì râu má ngắn, cho nên nếu khí ít huyết nhiều thì râu má ít, nếu huyết khí đều ít thì không có râu má, hai bên mép có nhiều nếp nhăn[43]. Túc Dương minh biểu hiện ở phần dưới của con người, nếu huyết khí đều thịnh thì lông mu đẹp mà dài, đến như ở ngực cũng có lông; nếu huyết nhiều khí ít thì lông mu đẹp mà ngắn, đến như ở rún cũng có lông, mỗi khi bước đi thường dở chân lên cao, phần cơ nhục của các ngón chân đều ít, 2 chân thường cảm thấy lạnh; nếu huyết ít khí nhiều thì cơ nhục dưới hạ chi dễ bị sinh lạnh chân và nhọt, nếu huyết khí đều ít thì sẽ không có lông mu, dù có đi nữa thì cũng rấtlơ thơ, khô héo, thường hay xảy ra tình trạng hai chân bị lạnh và mềm nhũn, hoặc bị tê dại” [44]. Hình thể đặc trưng của kinh túc Thiếu dương, biểu hiện ở phần trên của con người, nếu khí huyết đều thịnh thì toàn bộ râu quai hàm đẹp và dài, nếu huyết nhiều khí ít thì toàn bộ râu quai hàm đẹp mà ngắn, nếu huyết ít khí nhiều thì râu quai hàm sẽ ít, nếu huyết và khí đều ít thì không có râu cằm, nếu bị cảm bởi khí Hàn Thấp thì thường hay bị chứng tý, cốt thống, móng tay bị khô[45]. Túc Thiếu dương biểu hiện ở phần dưới của con người, nếu huyết khí thịnh thì lông ở cẳng chân đẹp và dài, mắt cá ngoài mập, nếu huyết nhiều khí ít thì lông ở cẳng chân đẹp mà ngắn, mắt cá ngoài có da cứng mà dầy, nếu huyết ít khí nhiều thì lông ở cẳng chân ít, da của mắt cá ngoài mỏng và mềm, nếu huyết và khí đều ít thì không có lông, mắt cá ngoài gầy và không có thịt”[46]. Hình thể đặc trưng của kinh túc Thiếu dương, biểu hiện ở phần trên của con người, nếu khí huyết đều thịnh thì đôi mày sẽ đẹp, lông my dài, nếu huyết nhiều khí ít thì lông my xấu, nét mặt có nhiều nếp nhăn nhỏ, nếu huyết ít khí nhiều thì gương mặt nhiều thịt, nếu huyết khí được hòa thì gương mặt xinh đẹp[47]. Túc Thái dương biểu hiện ở phần dưới của con người, nếu huyết khí thịnh , thịt ở gót chân đầy đặn, gót chân phần dưới tiếp đất cứng rắn, nếu khí ít huyết nhiều thì gót chân gầy và bắp thịt cũng không đầy đặn, nếu huyết khí đều ít thì dễ bị chuyển gân, gót chân chấm đất hay bị đau[48]. Hình thể đặc trưng của kinh thủ Dương minh, biểu hiện phần trên của con người, nếu huyết khí thịnh thì râu mép đẹp, nếu huyết ít khí nhiều thì râu mép xấu, nếu huyết khí đều ít thì không có râu mép[49]. Kinh thủ Dương minh, biểu hiện ở phần dưới của con người, nếu huyết khí thịnh thì lông dưới nách đẹp, vùng ngư của bàn tay đầy đặn thịt mà ấm, nếu khí và huyết đều ít thì cánh tay gầy mà lạnh[50]. Hình thể đặc trưng của kinh thủ Thiếu dương, biểu hiện ở phần trên của con người, nếu huyết khí thịnh thì lông mày đẹp mà dài, màu sắc của 2 tai đẹp, nếu huyết khí đều ít thì 2 tai khô và màu sắc xấu, không nhuận bóng[51]. Kinh thủ Thiếu dương, biểu hiện ở phần dưới của con người, nếu huyết khí thịnh thì phần cơ nhục ở 2 lưng bàn tay đầy đặn mà ấm, nếu huyết khí đều ít thì 2 lưng bàn tay sẽ gầy mà lạnh, nếu khí ít huyết nhiều 2 lưng bàn tay sẽ gầy và nổi nhiều gân mạch lên[52]. Hình thể đặc trưng của kinh thủ Thái dương, vận hành bên trên của con người, nếu huyết khí thịnh thì râu cằm mọc nhiều, gương mặt đầy đặn, đồng đều từ trên xuống dưới, nếu huyết khí đều ít thì gương mặt gầy và sắc diện khô mà không tươi nhuận, sắc tối tăm[53]. Kinh thủ Thái dương, biểu hiện ở bên dưới của con người, nếu huyết khí thịnh thì bắp thịt ở lòng bàn tay đầy đặn, nếu huyết khí đều ít thì lòng bàn tay sẽ gầy mà lạnh”[54]. Hoàng Đế hỏi: "Hình dạng của nhị thập ngũ nhân có những ước định gì không ?”[55]. Kỳ Bá đáp : "Người có đôi lông mày đẹp, đó là khí huyết của kinh túc Thái dương nhiều, người nào có đôi lông mày xấu, đó là khí huyết túc Thái dương ít, người nào mập mà da không nhuận trạch, đó là khí huyết đều bất túc[56]. Ta nên xét rõ sự hữu dư hay bất túc của hình và khí để châm bổ tả, nhằm điều hòa khí huyết, đó mới có thể gọi là người thầy châm cứu, thuốc, biết được lẽ nghịch thuận vậy”[57]. Hoàng Đế hỏi: "Châm những bệnh biến của các kinh Âm và Dương phải thế nào ?”[58]. Kỳ Bá đáp: "Ta nên dựa vào mạch Thốn khẩu và mạch Nhân nghênh để biết được sự thịnh suy của Âm Dương, rồi tùy theo đó mà điều hòa chúng[59]. Đồng thời, ta dùng tay ấn lần, dò theo những đường kinh lạc để xem có khí huyết ngưng trệ hay không, có không thông hay không, nếu có thì trên thân thể của bệnh nhân sẽ có trạng thái đau nhức và tý, nặng hơn nữa, sẽ làm cho người bệnh không bước đi được, do đó mà khí huyết bị ngưng sắc (trệ)[60]. Trường hợp này, ta dùng phép châm bổ lưu kim, nhằm làm cho Dương khí đến để làm ấm nơi bị ngưng trệ, đợi khi nào, huyết mạch được điều hòa mới thôi[61]. Khi nào có chứng kết trong lạc mạch, đó là mạch bị kết sẽ làm cho huyết không hòa (thông sướng), ta phải dùng phép quyết: rạch đường máu (chích lể để tả huyết kết) thì huyết mới vận hành bình thường trở lại[62]. Cho nên mới nói rằng: nếu khí hữu dư ở trên, ta dùng phép dẫn dắt cho nó xuống, nếu khí bất túc ở trên, ta nên dùng phép xoa bóp cơ nhục ,đồng thời dùng phép châm lưu kim để đợi khí đến[63]. Nếu lưu kim đã lâu mà khí vẫn chưa đến nghênh ( tới nơi) để rước (nghênh), dù sao, ta vẫn cần phải nắm được con đường của kinh toại thì mới thực hiện việc châm trị và chờ đợi thành công được[64]. Nếu có trường hợp giao tranh giữa hàn và nhiệt, ta nên dẫn dắt khí nào đang thịnh nhất nhằm giúp cho khí huyết được tuyên hành[65]. Nếu gặp lúc mạch khí uất kết lâu ngày nhưng huyết chưa bị kết, ta nên suy đoán theo tình thế để thực hiện việc châm trị[66]. Tất cả đều phải biết rằng phép châm tả là để điều hòa khí huyết là quan trọng nhất, như vậy trước hết, ta phải nắm cho được khí huyết bẩm thụ nơi 25 dạng người từ tả hữu thượng hạ nhằm tham khảo trong quá trình chẩn đoán trên lâm sàng, được vậy, là ta đã nắm được các phép tắc của việc châm trị rồi vậy”[67]
  8. LINH KHU - THIÊN 41 ÂM DƯƠNG HỆ NHẬT NGUYỆT LUẬN Hoàng Đế hỏi: "Ta nghe nói Thiên thuộc Dương, Địa thuộc Âm, Nhật thuộc Dương, Nguyệt thuộc Âm, những điều nói trên hợp với con người như thế nào ?"[1]. Kỳ Bá đáp : "Từ thắt lưng trở lên thuộc Thiên, từ thắt lưng trở xuống thuộc Địa, cho nên Thiên thuộc Dương, Địa thuộc Âm, cho nên 12 kinh mạch của Túc nhằm ứng với 12 nguyệt[2]. Nguyệt sinh ra từ thủy, cho nên bên dưới thuộc Âm, 10 ngón tay thuộc Thủ nhằm ứng với 10 nhật, nhật chủ về Hỏa, cho nên bên trên thuộc Dương"[3]. Hoàng Đế hỏi: "Khi nó hợp với kinh mạch của Thủ Túc thì thế nào ?"[4]. Kỳ Bá đáp : "Tháng Dần là tháng sinh Dương của chính nguyệt (tháng giêng), chủ về Thiếu Dương của tả túc, tháng Vị (mùi) là tháng 6 chủ Thiếu dương của hữu túc, tháng Mão là tháng 2 chủ Thái dương của tả túc, tháng Ngọ là tháng 5 chủ Thái dương của hữu túc, tháng Thìn là tháng 3 chủ Dương minh của tả túc, tháng Tỵ là tháng 4 chủ Dương minh của hữu túc; đây là lúc lưỡng Dương hợp nhau ởphía trước, vì thế gọi là Dương minh[5]. Tháng Thân là tháng 7 chủ Thiếu âm của hữu túc, đây là tháng sinh Âm, tháng Sửu là tháng 12 chủ Thiếu âm của tả túc, tháng Dậu là tháng 8 chủ Thái âm của hữu túc, tháng Tý là tháng 11 chủ Thái âm của tả túc, tháng Tuất là tháng 9 chủ Quyết âm của hữu túc, tháng Hợi là tháng 10 chủ Quyết âm của tả túc; đây là lưỡng Âm giao ở tận, cho nên gọi là Quyết âm[6]. Giáp chủ Thiếu Dương của tả thủ, Kỷ chủ Thiếu Dương của hữu thủ, Ất chủ Thái dương của tả thủ, Mậu chủ Thái dương của hữu thủ, Bính chủ Dương minh của tả thủ, Đinh chủ Dương minh của hữu thủ, đây là giai đoạn của lưỡng Hỏa cùng hợp chung nhau, cho nên gọi là Dương minh[7]. Canh chủ Thiếu âm của hữu thủ, Qúy chủ Thiếu âm của tả thủ, Tân chủ Thái âm của hữu thủ, Nhâm chủ Thái âm của tả thủ [8]. Cho nên Dương của Túc thuộc về Thiếu dương trong Âm, Âm của Túc thuộc về Thái âm trong Âm, Dương của Thủ thuộc Thái dương trong Dương, Âm của Thủ thuộc về Thiếu âm trong Dương[9]. Từ thắt lưng trở lên thuộc Dương, từ thắt lưng trở xuống thuộc Âm[10]. ... Đối với ngũ tạng, Tâm thuộc Thái Dương trong Dương, Phế thuộc Thiếu âm trong Dương, Can thuộc Thiếu dương trong Âm, Tỳ thuộc Chí âm trong âm, Thận thuộc Thái âm trong Âm"[11]. Hoàng Đế hỏi: "Phép châm trị phải thế nào ?"[12]. Kỳ Bá đáp : "Tháng giêng, tháng 2 và tháng 3, nhân khí tại tả, không nên châm vào Dương khí ở tả túc, tháng 4, tháng 5 và tháng 6, nhân khí ở tại hữu, không nên châm vào Dương khí ở hữu túc, tháng 7, tháng 8, tháng 9, nhân khí ở tại hữu, không nên châm vào Âm khí ở hữu túc, tháng 10, tháng 11, tháng 12, nhân khí ở tại tả, không nên châm vào Âm khí ở tả túc"[13]. Hoàng Đế hỏi: "Trong ngũ hành, đông phương thuộc Giáp Ất Mộc, nó chủ mùa xuân (nó làm cho xuân được vượng), mùa xuân thuộc màu xanh, chủ về Can, Can thuộc Túc Quyết âm[14]. Nay phu tử lại cho rằng Giáp thuộc Thiếu dương của tả thủ, không hợp với độ số (mà chúng ta đã nói), tại sao vậy ?"[15]. Kỳ Bá đáp : "Đây là Âm Dương của Thiên Địa, nó không phải là sự vận hành của ngũ hành trong tứ thời, vả lại Âm Dương là cái gì hữu danh mà vô hình, cho nên nếu đếm ra thì con số có đến mười, nếu suy ra có đến trăm, tán rộng ra có đến ngàn, suy ra có đến vạn... Đó là ý nghĩa về Âm Dương mà chúng ta vừa bàn đến vậy"[16].
  9. Thiên năm: ÂM DƯƠNG ỨNG TƯỢNG ĐẠI LUẬN Hoàng Đế nói: Âm Dương là đạo của trời đất, là giường mối của muôn vật, là cha mẹ của sự biến hóa, là gốc ngọn của sự sinh sái, là cái kho chứa mọi sự thần minh (1). Trị bệnh phải tìm tới gốc (2). Nên biết rằng, tích lũy nhiều Dương là trời, tích lũy nhiều Âm là Đất (3). Âm thì tĩnh, Dương thì táo (4). Dương sinh ra, Âm nuôi lớn (5). Dương giảm đi, Âm tiềm tạng (6). Dương hóa khí, Âm thành hình (7). Hàn cực sinh ra Nhiệt, Nhiệt cực sinh ra Hàn (8). Khí hàn sinh ra chất trọc (đục), khí nhiệt sinh ra chất thanh (trong) (9). Thanh khí ở bộ phận dưới thì sinh chứng xôn tiết, trọc khí ở bộ phận trên thì sinh chứng điền trướng (đầy tức) (10). Đó là Âm Dương ở trong người do sự ‘Nghịch tùng’ mà sinh bệnh vậy (11). Cho nên thanh Dương là trời, trọc Âm là đất, khí đất bốc lên thành mây, khí trời giáng xuống thành mưa, mưa làm ra bởi địa khí, mây làm ra bởi thiên khí (12). Thanh dương tiết lên thượng khiếu, trọc Âm tiết xuống hạ khiếu (13). Thanh dương phát ra tấu lý, trọc Âm chạy vào năm Tạng (14). Thanh dương đầy đủ ở tứ chi trọc Âm qui tụ về lục phủ (15). Thủy là Âm: Hỏa là Dương (16). Dương là khí, Âm là vị (1) (17). Vị theo về hình, hình theo về khí, khí theo về tinh, tinh theo về hóa (18). Tinh nhờ ở khí, hình nhờ ở vị (3) (19). Do hóa sinh ra tinh, do khí sinh ra hình (20). Vị làm thương hình, khí làm thương tinh (21). Tinh hóa làm khí, khí thương bởi vị (22). Âm vị tiết ra hạ khiếu, Dương khí tiết ra thượng khiếu (23). Vị hậu thuộc về Âm, bạc thuộc về dương (24). Vị hậu thì phát tiết, bạc thì không, khí bạc thì phát tiết, hậu thì phát nhiệt. Cái khí của tráng hỏa suy, thì cái khí của thiếu hỏa tráng (25). Tráng hỏa ‘thu hút’ khí, khí ‘thu hút’ thiếu hỏa (26). Tráng hỏa làm tán khí, thiếu hỏa sẽ sinh khí(27). Khí vị tân, cam, công năng của nó chuyên về phát tán, thuộc Dương (28). Khí vị toan, khổ, công năng của nó có thể dũng liệt, thuộc Âm (29). Âm thắng thì Dương sẽ mắc bệnh: Dương thắng thì Âm sẽ mắc bệnh (30). Dương thắng thì nhiệt, Âm thắng thì hàn (31). Gặp (trùng) hàn thì hóa nhiệt, gặp nhiệt thì hóa hàn (32). Hàn làm thương hình, nhiệt làm thương khí (33). Khí bị tổn thương thành bệnh đau, hình bị thương thành bệnh thũng (34). Nếu trước đau mà sau mới thũng, đó là khí làm thương hình; nếu trước thũng mà sau mới đau, đó là hình làm thương khí(35). Phong thắng thì sinh ra động (36). Nhiệt thắng thì sinh ra thũng (37). Táo thắng thì sinh ra can (38). Hàn thắng thì sinh ra ‘phù’ (thần khí phù việt) (39). Thấp thắng thì sinh ra ‘nhu tiết’ (ẩm thấp), tiết tả (40). Trời có bốn mùa, năm hành để thi hành sự sinh trưởng, thâu, tạng, và để sinh ra các khí hàn, thử, táo, thấp, phong (41). Người có năm tạng hóa ra năm khí, để sinh ra hỷ, nóùä, bi, ưu khủng (2) (42). Cho nên, hỷ với nóùä làm thương đến khí, hàn với thử làm thương đến hành (3) (43). Bạo nóùä thì thương đến Âm, bạo hỷ thì thương đến hình (44). Nếu khí dẫn ngược lên, mạch sẽ bị đầy tràn, ly thoát mất cái hình của chân tạng (45). Hỷ, nóùä không hạn chế, hàn thử để quá độ, sinh mệnh sẽ không được bền (46). Cho nên ‘Trùng Âm’ tất bệnh dương, ‘Trùng dương’ tất bệnh Âm (47). Mùa Đông bị thương về hàn, tới mùa Xuân tất phát bệnh ôn (48) ; mùa Xuân bị thương về phong, tới mùa Hạ tất sẽ phát bệnh xôn tiết (49). Mùa Hạ bị thương về thử, tới mùa Thu tất phát bệnh hơi ngược (50). Mùa Thu bị thương về thấp, tới mùa Đông tất phát bệnh khái thấu (51). Hoàng Đế hỏi rằng: Tôi nghe các bực thánh nhân đời thượng cổ, hiểu rõ thân thể con người, về tạng, phủ thì phân biệt rõ ràng, Về kinh mạch thì xét rõ đầu mối; Về ‘lục hợp’ của mạch, nêu rõ xự hội thông của nóù; Về các ‘khí huyệt’ thì chỉ rõ từng nơi và ấn định tên của nó. Về các ‘khê, cốc’ đều chỉ rõ cái chỗ bắt đầu của nó; Về bộ phận bì phu, có nghịch có tùng, đều có điều lý; Về bốn mùa, Âm dương, đều có kinh hỷ, và ứng vào thân thể con người, đều có biểu lý liên lạc với nhau...Có thật thế chăng ?(52). Kỳ Bá thưa rằng: Đông phương sinh ra phong (gió), phong sinh mộc, mộc sinh toan, toan sinh can, can sinh cân (gân), cân sinh tâm, Can chủ về mắt (53). Theo lẽ đó, ở trời gọi là ‘huyền’, ở người gọi là ‘đạo’, ở đất thì là ‘hóa’, hóa sinh năm vị (54). Đạo sinh ra trí, huyền sinh ra thần (55). Thần ở trời tức là khí phong; ở đất tức là hành mộc, ở thân thể con người tức cân; ở tạng phủ con người tức Can. (56) Ở sắc là màu xanh; ở Âm là âm giác; ở tiếng là tiếng hô (thở ra, reo hò); ở sự biến động là ác (nắm tay lại, hình dung sự co gân); ở khiếu là mắt; ở vị là toan; ở chí là nộ (57). Nóä (giận) làm thương Can, bi sẽ thắng nộ; phong làm thương cân, táo sẽ thắng phong; toan làm thương cân, tân sẽ thắng toan(59). Nam phương sinh nhiệt (nóng), nhiệt sinh hỏa (1) hỏa sinh khổ, khổ sinh Tâm. Tâm chủ huyết, huyết sinh Tỳ, Tâm chủ về lưỡi (60). Theo lẽ đó, ở trời là khí nhiệt, ở đất là hành hỏa ở thể là mạch, ở tạng là Tâm (6) (61). Ở sắc là xích (đỏ), ở Âm là Âm chủy, ở tiếng là tiếng cười, ở sự biến động là ưu (lo), ở khiếu là lưỡi, ở vị là khổ, ở chí là hỷ (62). Hỷ quá thì thương Tâm, khủng sẽ thắng hỷ; Nhiệt quá thì thương khí; hàn sẽ thắng nhiệt; khổ làm thương khí, hàn sẽ thắng khổ (63). Trung ương sinh thấp, thấp sinh thổ, thổ sinh cam, cam sinh Tỳ, Tỳ sinh nhục, nhục sinh Phế, Tỳ chủ về miệng (64). Theo lẽ đó, ở trời là khí thấp, ở đất là hành thổ, ở thể là nhục, ở Tạng là Tỳ. Ở sắc là sắc vàng, ở Âm là âm cung, ở tiếng là tiếng hát, ở sự biến động là uế. Ở khiếu là miệng, ở vị là cam, ở chí là tư (nghĩ ngợi) (65). Tư quá thì thương Tỳ, nóùä sẽ thắng tư; thấp quá thì thương nhục, phong sẽ thắng thấp, cam quá thì thương nhục, toan sẽ thắng cam(66). Tây phương sinh Táo, Táo sinh Kim, Kim sinh tân, Tân sinh Phế; Phế sinh bì mao, bì mao sinh Thận; Phế chủ về mũi (67). Theo lẽ đó, ở trời là khí táo, ở đất là hành kim, ở thân thể là bì mao, ở Tạng là Phế, ở sắc là sắc trắng, ở Âm là âm thương, ở tiếng là tiếng khóc; ở sự biến động là ho, ở khiếu là mũi, ở vị là tân; ở chí là ưu (68). Ưu làm thương Phế, hỷ sẽ thắng ưu, nhiệt làm thương bì mao, hàn sẽ thắng nhiệt, tân làm thương bì mao, khổ sẽ thắng tân (69). Bắc phương sinh hàn, hàn sinh thủy, thủy sinh hàm, hàm sinh thận, thận sinh cốt tủy, tủy sinh can, thận chủ về tai (70). Theo lẽ đó, ở trời là khí hàn, ở đất là hành thủy; ở thân thể là xương, ở Tạng là Thận, ở sắc là sắc đen, ở Âm là âm vũ, ở tiếng là tiếng thở dài, ở sự biến động là run rẩy, ở khiếu là tai, ở vị là hàm, ở chí là khủng (71). Khủng quá thương Thận, tư sẽ thắng khủng; Hàn quá làm thương huyết, Táo sẽ thắng hàn, Hàm quá làm thương huyết, cam sẽ thắng hà(72). Cho nên nói rằng: trời đất là một bộ, vị trên và dưới của muôn vật, Âm với dương, đối với người là huyết khí của nam nữ (73). Tả với hữu là đường lối của Âm dương, thủy với hỏa là triệu chứng của Âm dương, Âm với dương là trước sau của muôn vật (74). Nên chú ý rằng: Âm ở bên trong, nhờ có sự giữ gìn của dương ở bên ngoài. Dương ở bên ngoài nhờ sự sai khiến của Âm ở bên trong (75). Hoàng Đế hỏi rằng: Nên bắt chước ở Âm Dương như thế nào? (76). Kỳ Bá thưa rằng: Dương thắng thì mình nóng, tấu lý vít lấp, thở mạnh và khó cúi hoặc ngửa, mồ hôi không ra mà nhiệt, răng se; do đó thành phiền oán (bực dọc, nóng nảy), bụng đầy, thuộc chứng chết, chỉ qua được mùa đông, không qua được mùa Hạ (77). Âm thắng thì mình lạnh, mồ hôi ra, mình thường mát, thường run và rét. Rét thì quyết, quyết thì bụng đầy, thuộc chứng chết, chỉ qua được mùa Hạ không qua được mùa Đông. Đó là sự biến của Âm Dương ‘thiên thắng’, và là chứng trạng phát hiện vậy (78). Hoàng Đế hỏi rằng: Muốn điều dưỡng hai khí âm dương, phải làm sao?(79). Kỳ Bá thưa rằng: Nếu biết được cái lẽ ‘thất tổn, bát ích’, thì hai khí ấy có thể điều hòa. Nếu không biết, sẽ là cái cơ tảo suy vậy. (80) Con người, năm bốn mươi tuổi, Âm khí đã tới phân nửa, sự khởi cư đã suy rồi (81). Tới năm năm mươi tuổi, thân thể nặng nề, tai mắt không còn sáng tỏ nữa(82) Tới năm sáu mươi tuổi, thì Âm suy, khí đã rất suy, chín khiếu không thông lợi, dưới hư trên thực, nước mũi nước mắt thường chảy ra (83). Cho nên nói: biết thì khỏe mạnh, không biết thì chóng già (84). Thần khí, vốn ‘cùng ‘ sinh ra ở Âm tinh, mà về sau cái danh nó ‘khác’ đấy thôi(85). Người trí xét rõ tự chỗ ‘đồng’ (cùng), còn kẻ ngu trí biết xét ở chỗ ‘dị’ (khác), kẻ ngu thường bất túc người trí thường hữu dư (86). Vì hữu dư nên tai mắt sáng tỏ, thân thể khỏe mạnh, đến tuổi lão mà vẫn được như trai tráng; đã trai tráng mà lại càng đầy đủ thêm(87). Vì thế nên bực thánh nhân làm cái việc ‘vô vi’ vui cái yên ‘điềm đạm’, thuận dục khoái chí ở trong cái phạm vi ‘hư vô’ (88). Cho nên thọ mệnh vô cùng, sống chung trời đất...Đó là phương pháp trị thân của bậc thánh nhân vậy (89). - Trời ‘bất túc’ về phương tây bắc, Tây bắc thuộc Âm, do đó, con người tai mắt bên hữu không sáng bằng bên ta(90). Û Đất ‘bất mãn’ về phương đông nam, Đông nam thuộc dương, do đó, con người tay chân tả không mạnh bằng bên hữu (91). Hoàng Đế hỏi: Vì cớ sao? (92). Kỳ Bá thưa rằng: Phương đông thuộc Dương, Vì là dương, nên tinh khi dồn lên trên thì trên sáng mà dưới hư, cho nên khiến tai mắt sáng tỏ mà tay chân không mạnh (93). Phương tây thuộc Âm, Vì là Âm, nên tinh khí dồn ở dưới, dồn ở dưới thì dưới thịnh mà trên hư, cho nên khiến tai mắt không sáng tỏ, mà tay chân được mạnh (94). Cho nên, đều là cảm phải tà khí, mà về bộ phận trên thì bên hữu nặng hơn, về bộ phận dưới thì bên tả nặng hơn (95). Đó chính vì thiên địa âm dương không thể toàn vẹn được, nên tà khí cũng do chỗ thiếu hụt ấy để xâm lấn (96). Cho nên, trời có tinh, đất có hình, trời có tám cõi, đất có năm hành, vì thế mới có thể làm được cha mẹ cả muôn vật (97). Thanh dương bốc lên trời, trọc Âm theo xuống đất (98). Nhân có sự động tĩnh, làm giường mối cho sự ‘thần minh’ nên mới phát triển được cái công năng sinh, trưởng, thâu, tàng, hết rồi lại có (99). Chỉ bực người hiền, về bộ phận trên biết bắt chước trời để nuôi đầu, bộ phận dưới biết bắt chước đết để nuôi chân, về bộ phận giữa lựa theo nhân sự để nuôi năm tạng (100). Thiên khí thông vào phế, địa khí thông vào ách (thực quản), phong khí thông vào Can, lôi khí thông vào Tâm, cốc khí thông vào Tỳ, vũ khí thông vào Thận (101). Sáu kinh coi như sông, trường vị coi như biển, chín khiếu là nơi tiết ra của hơi nước (102). Lấy Âm dương của trời đất làm Âm dương của con người (103) Dương hãn, mượn tiếng ‘vũ’ của trời đất để đặt làm tên (104). Dương khí, mượn tiếng ‘lôi’ của trời đất để đặt tên (105). Bạo khí tượng với lôi, nghịch khí tượng với dương (106). - Vậy về phương pháp trị liệu, nếu không bắt chước cái lý Âm dương của trời đất, sẽ khó thoát tai hại (107). Cho nên khí tà phong nó đến, gấp hơn gió mưa (108). Người chữa bệnh giỏi, vhữa bệnh ngay từ lúc tà còn ở bì mao; bực thứ nữa, chữa tà khí vào tới cơ phu, bực thứ nữa, chữa khí tà vào tới cân mạch, lại bực thứ nữa, chữa khí tà vào tới sáu phủ, lại bực thứ nữa, chữa khí tà vào tới năm tạng. Để tà vào tới năm tạng thì nửa chết, nửa sống (109). Nếu cảm nhiễm phải tà khí của trời, thì sẽ hại tới năm tạng, nếu cảm nhiễm về sự nóng hay lạnh của loài thủy cốc thì sẽ hại tới sáu phu(110).û. Nếu cảm nhiễm phải thấp khí của đất, thì sẽ hại tới bì, nhục, cân, mạch (111). Cho nên người khéo dùng châm, từ Âm phận dẫn qua dương phận, từ dương phận dẫn qua Âm phận. lấy bên hữu để trị bên tả, lấy bên tả để trị bên hữu, lấy ngoài biểu để biết trong lý, lấy tinh thần của mình để hiểu biết bệnh tình của người bệnh (113). Do đó, để xem cái nguyên nhân của bệnh nó phát sinh từ đâu, và cái lý tà, chính, hư, thực như thế nào...Như thế mới khỏi gây nên tai hại (114). Người khéo ‘chẩn’, xét ở sắc, ấn vào mạch, phải phân biệt Âm Dương trước đã (115). Xét rõ thanh hay trọc, để biết thuộc về bộ phận nào (116). Coi hơi thở, nghe tiếng nói, mà biết được sự đau đớn thế nào (117). Xem quyền, hành, qui, củ để mà biết được bệnh nó chủ về đâu (118). Ấn tay vào bộ vị Xích, Thốn nhận rõ phù, trầm, hoạt, sắc...Mà biết được bệnh do đâu sinh ra (119). Rồi lại xem đến cả người không có bệnh, để rút kinh nghiệm, như thế sẽ không nhầm lẫn nữa (120). Bệnh khi mới phát sinh, có thể dùng châm thích cho khỏi, khi bệnh thế đã thịnh, đừng vội dứt bỏ châm, đợi tà khí suy dần, sẽ thôi (121). Nhân cái lúc bệnh tà còn nhẹ, mà phạt dương cho nó tiết ra, đến khi bệnh thế đã thịnh, phải để cho nó giảm bớt dần, đến khi bệnh thế đã suy thì phải giúp ích chính khí cho nó đầy đủ thêm(122). Hình bất túc, dùng khí để ôn, tinh bất túc, dùng vị để bổ (123). Nếu bệnh tà ở phần trên, làm cho nó vọt lên, nếu ở bộ phận dưới, dẫn cho nó hạ xuống, nếu đầy ở bộ phận giữa, nên theo bên trong mà tả (124). Nếu là tà biểu, tẩm vào nước cho phát hãn (125); Nếu ở bì mao làm cho phát tán (126); Nếu tà khí quá mạnh, nên dùng phép án ma cho thâu dẫn (127); nếu là thực, nên tán và tả (128). Xét rõ Âm dương, để chia nhu cương. Dương bệnh trị ở Âm, Âm bệnh trị ở dương (129). Định rõ khí huyết, cần giữ bộ vị (130). Nếu huyết thực, làm cho nó hành, nếu khí hư, nên tuyên dẫn cho thông xướng (131).
  10. Một Ví dụ mà Tôi thường ứng dụng và trải nghiệm: Can Chi ngày sinh của Tôi là ngày Ất Mùi, nếu tính theo số TỬ BÌNH hay LỤC NHÂM, thì hiện tại Tôi đang ở trong VÒNG 6. Trước tiên, Tôi tìm hiểu ý nghĩa cấu tạo của VÒNG 6 cho ta biết về những "Sự" gì ? VÒNG 6 ...........................HOÁN ........PHỆ HẠP.........................QUẢI ...TỈNH.....................+.................KHIÊM ..........LÝ...................................BÁC ...........................PHONG - Hướng Nam, đó là sự lìa tan - Phong Thuỷ Hoán - Hướng Bắc, đó là sự thịnh lớn - Lôi Hoả Phong - Hướng Đông, đó là "Mạch nước ngấm không cùng" - Thuỷ Phong Tỉnh - Hướng Tây, đó là sự khiêm tốn - Địa Sơn Khiêm - Hướng Tây - Bắc, đang là sự bong ra từng mảng - Sơn Địa Bác - Hướng Tây - Nam, đang có sự quyết đoán - Trạch Thiên Quải - Hướng Đông - Nam, đang có sự cắn để hợp lại - Trạch Thiên Quải - Hướng Đông - Bắc, đang có nhắc nhở về "sự thận trọng trong đi lại" - Thiên Trạch Lý. Một người bạn có lời mời Tôi đi miền Nam, từ VÒNG 6 xét thấy, phía Nam đang có sự lìa tan, ứng hợp vào tháng nào đây ? Chắc là tháng Nhâm Ngọ vậy. Tôi thành thật cảm ơn bạn mình, và trả lời không thể đi được. Hướng Tây Nam đang có sự quyết đoán, lại có lưu "Lộc Tồn", tôi chiêm đoán rằng: cơ quan mà tôi đã làm việc, đang cân nhắc tiền thưởng cho một số cán bộ lão thành. Khi tính theo số ĐỘN GIÁP thì can ngày sinh Ất Mùi của Tôi cho tôi biết những thông tin gì đây ? .........................................Tân gia Mậu ..................Kỷ gia Canh................................Đinh gia Nhâm (Đinh gia Giáp) ....Mậu / Tân...............................+.......................Ất / Bính ...................Nhâm / Đinh................................Bính / Quý .............................................Canh / Kỷ Như vậy, Can ngày sinh của Tôi đang nhắc nhở tôi, cho tôi biết thông tin rằng: tôi cần phải có sự khiêm tốn (Địa Sơn Khiêm) trong những ngày tới. Không biết số Thái ất của Tôi còn nói cho tôi biết thêm những thông tin gì đây. !
  11. Can Chi ngày sinh của Tôi là ngày Ất Mùi, nếu tính theo số LỤC NHÂM, thì hiện tại Tôi đang ở trong VÒNG 6. Trước tiên, Tôi tìm hiểu ý nghĩa cấu tạo của VÒNG 6 cho ta biết về những "sự" gì ? VÒNG 6 ...........................HOÁN ........PHỆ HẠP.........................QUẢI ...TỈNH.....................+.................KHIÊM ..........LÝ...................................BÁC ...........................PHONG - Hướng Nam, đó là sự lìa tan - Phong Thuỷ Hoán - Hướng Bắc, đó là sự thịnh lớn - Lôi Hoả Phong - Hướng Đông, đó là "Mạch nước ngấm không cùng" - Thuỷ Phong Tỉnh - Hướng Tây, đó là sự khiêm tốn - Địa Sơn Khiêm - Hướng Tây - Bắc, đang là sự bong ra từng mảng - Sơn Địa Bác - Hướng Tây - Nam, đang có sự quyết đoán - Trạch Thiên Quải - Hướng Đông - Nam, đang có sự cắn để hợp lại - Trạch Thiên Quải - Hướng Đông - Bắc, đang có nhắc nhở về "sự thận trọng trong đi lại" - Thiên Trạch Lý. Một người bạn có lời mời Tôi đi miền Nam, từ VÒNG 6 xét thấy, phía Nam đang có sự lìa tan, ứng hợp vào tháng nào đây ? Chắc là tháng Nhâm Ngọ vậy. Tôi thành thật cảm ơn bạn mình, và trả lời không thể đi được. Hướng Tây Nam đang có sự quyết đoán, lại có lưu "Lộc Tồn", tôi chiêm đoán rằng: cơ quan mà tôi đã làm việc, đang cân nhắc tiền thưởng cho một số cán bộ lão thành. Khi tính theo số ĐỘN GIÁP thì can ngày sinh Ất Mùi của Tôi cho tôi biết những thông tin gì đây ? .........................................Tân gia Mậu ..................Kỷ gia Canh................................Đinh gia Nhâm (Đinh gia Giáp) ....Mậu / Tân...............................+.......................Ất / Bính ...................Nhâm / Đinh................................Bính / Quý .............................................Canh / Kỷ Như vậy, Can ngày sinh của Tôi đang nhắc nhở tôi rằng: cần sự khiêm tốn vậy. ! Không biết số Thái ất của Tôi còn nói cho tôi biết thêm những thông tin gì đây. !
  12. Chào Amour Cảm ơn bạn đã dành thời gian quan tâm. Chúng ta sẽ bình khảo sau Hà Uyên.
  13. Hệ thống 60 can chi, khi phối ứng với 384 Hào từ quẻ Dịch sẽ thuận tự trải qua 8 vòng, nhận thấy một vòng 60 ngày sẽ có 12 ngày mang "thông tin" trùng nhau, được trường phái "Tam huyền" (Tiêu Diên Thọ, Kinh Phòng, Dương Hùng) gọi là số "Trùng lưu". Ta xét tỷ lệ: 1 / 4, có nghĩa rằng: 48 ngày mang "thông tin" tỷ lệ với 12 ngày mang "thông tịn" trùng lưu (thông qua một mà biết bốn - Khổng Tử). Tỷ lệ này, được ứng dụng một cách nghiêm mật, rải khắp trong các môn thuật toán Đông Phương học. Phép bói Cỏ thi mà sách Dịch có bàn tới, sử dụng số 49 cọng cỏ thi. Con số "49" này, xét thấy tương đương với số "1". Chúng ta đã phối ứng "Thời gian" với Hào từ Kinh Dịch, thấy rằng một "thông tin" ẩn tàng trong "can chi", ví như trong ngày Giáp Tý, thì sau 49 ngày, tới ngày Nhâm Tý thì "thông tin" quay trở lại (phản bản hoàn nguyên - quy luật Phản Tổ). Ta đang bàn về học thuyết thuyết "Bản thể", đã nhận thấy sự khởi nguồn khi người xưa định "Tuần không", khi chúng ta tìm hiểu về học thuyết thuyết "Sinh - Thành", thì sẽ nhận thức rõ thêm tại sao người xưa quy định như vậy.
  14. Chào Amour Tôi mở đầu cho mục Tư vấn này: - Tư vấn về xem Tật - Bệnh: sức khoẻ hiện tại tôi đang có vấn đề, đã trải qua một cơn tai biến nhồi máu não, hiện tại tay phải đang rất yếu. - Thời gian hỏi 21h 17 - Giới tính: nam - Năm sinh Dương lịch: 1928 Cảm ơn Amour Hà Uyên.
  15. Can Chi phối khóa (720) 1. Ngày Giáp Tý: quẻ số 1 – Nguyên thủ khóa - Càn 2. Ngày Ất Sửu:quẻ số 6 – Mão tinh khóa - Lý 3. Ngày Bính Dần: quẻ số 3 – Tri nhất khóa - Tỷ 4. Ngày Đinh Mão: quẻ số 8 – Bát chuyên khóa – Vô vọng (Kiểm !) 5. Ngày Mậu Thìn: quẻ số 5 – Dao khắc khóa - Khuê 6. Ngày Kỷ Tị: quẻ số 10 - Phản ngâm khóa - Chấn 7. Ngày Canh Ngọ: quẻ số 7 - Biệt trách khóa – Đông nhân 8. Ngày Tân Mùi quẻ số 12 – Tam dương khóa - Tấn 9. Ngày Nhâm Thân quẻ số 9 - Phục ngâm khóa - Cấn 10. Ngày Quý Dậu quẻ số 14 - Lục nghi khóa - Đoài 11. Ngày Giáp Tuất quẻ số 11 – Tam quang khóa - Bí 12. Ngày Ất Hợi quẻ số 16 – Long đức khóa - Ích 13. Ngày Bính Tý quẻ số 13 – Tam kỳ khóa - Dự 14. Ngày Đinh Sửu quẻ số 18 – Phú quý khóa - Đại hữu 15. Ngày Mậu Dần quẻ số 15 - Thời thái khóa - Thái 16. Ngày Kỷ Mão: quẻ số 20 – Chú ấn khóa - Đỉnh 17. Ngày Canh Thìn: quẻ số 17 – Quan tước khóa 18. Ngày Tân Tị quẻ số 22 - Dẫn tòng khóa 19. Ngày Nhâm Ngọ quẻ số 19 – Hiên cái khóa – Thăng 20. Ngày Quý Mùi quẻ số 24 - Phiền xương khóa – Hàm 21. Ngày Giáp Thân quẻ số 21 – Trác luân khóa – Di 22. Ngày Ất Dậu quẻ số 26 - Đức khánh khóa – Nhu 23. Ngày Bính Tuất quẻ số 23 – Hanh thông khóa - Tiệm 24. Ngày Đinh Hợi quẻ số 28 – Hòa mỹ khóa – Phong 25. Ngày Mậu Tý quẻ số 25 – Vinh hoa khóa – Sư 26. Ngày Kỷ Sửu quẻ số 30 - Bế khâu khóa – Khiêm 27. Ngày Canh Dần quẻ số 27 - Hợp hoan khóa - Tỉnh 28. Ngày Tân Mão quẻ số 32 – Tam giao khóa - Cấu 29. Ngày Nhâm Thìn quẻ số 29 - Trảm quan khóa - Độn 30. Ngày Quý Tị quẻ số 34 - Chuế tế khóa - Lữ 31. Ngày Giáp Ngọ quẻ số 31 – Du tử khóa – Quan 32. Ngày Ất Mùi quẻ số 36 – Dâm dật khóa - Ký tế 33. Ngày Bính Thân quẻ số 33 - Loạn thủ khóa – Lâm (kiểm !) 34. Ngày Đinh Dậu quẻ số 38 - Giải ly quái – (???) 35. Ngày Mậu Tuất quẻ số 36 (35) – Xung phá khóa - Quải 36. Ngày Kỷ Hợi quẻ số 40 – Đô ách khóa – Bác 37. Ngày Canh Tý quẻ số 37 – Vu dâm khóa - Tiểu súc 38. Ngày Tân Sửu quẻ số 42 – Truân phúc khóa – Truân 39. Ngày Nhâm Dần quẻ số 39 – Cô quả quái (???) 40. Ngày Quý Mão quẻ số 44 – Hình thương khóa - Tụng 41. Ngày Giáp Thìn quẻ số 41 – Vô lộc tuyệt tự khóa – Bĩ 42. Ngày Ất Tị quẻ số 46 – Thiên họa khóa - Đại quá 43. Ngày Bính Ngọ quẻ số 43 – Xâm hại khóa - Tổn 44. Ngày Đinh Mùi quẻ số 48 – Thiên khấu khóa - Kiển 45. Ngày Mậu Thân quẻ số 45 - Nhị phiền khóa – Minh di 46. Ngày Kỷ Dậu quẻ số 50 – Phách hóa khóa - Cổ 47. Ngày Canh Tuất quẻ số 47 – Thiên ngục khóa - Phệ hạp 48. Ngày Tân Hợi quẻ số 52 – Long chiến khóa – Ly 49. Ngày Nhâm Tý quẻ số 49 – Thiên võng khóa – Mông 50. Ngày Quý Sửu quẻ số 54 – Tai ách khóa – Quy muội 51. Ngày Giáp Dần quẻ số 51 – Tam âm khóa – Trung phu 52. Ngày Ất Mão quẻ số 56 - Cửu xú khóa - Tiểu quá 53. Ngày Bính Thìn quẻ số 53 - Tử kỳ khóa - Vị tê 54. Ngày Đinh Tị quẻ số 58 - Lệ đức khóa – Tùy 55. Ngày Mậu Ngọ quẻ số 55 – Ương cữu khóa - Giải 56. Ngày Kỷ Mùi quẻ số 60 – Toàn cục khóa - Đại súc 57. Ngày Canh Thân quẻ số 57 - Quỷ mộ khóa - Khốn 58. Ngày Tân Dậu quẻ số 2 – Trùng thẩm khóa – Khôn 59. Ngày Nhâm Tuất quẻ số 59 – Bàn châu khóa - Đại tráng 60. Ngày Quý Hợi quẻ số 4 - Thiệp hại khóa - Khảm.
  16. Bài số #13, chúng ta đã có ví dụ về VÒNG 8, hệ thống 60 can chi phối hợp với Hào từ của 8 quẻ thuộc Vòng 8. Nhận xét thấy: - Mỗi quẻ Dịch có 6 hào, ta ví dụ mỗi một Hào trong quẻ Dịch tương đương với đơn vị tính là một ngày. Như vậy, một vòng Dịch Can Chi sẽ tương đương với 60 ngày. Thuận tự hết 8 vòng, thì số ngày là: 60 x 8 = 480 ngày tương đương với 480 hào từ. - Khi người xưa quy định sự phối hợp Thiên can với quẻ Dịch, thì can Giáp - Nhâm phối với quẻ Càn, can Ất - Quý phối với quẻ Khôn. Từ nguyên nhân này, đã nảy sinh ra số "Trùng lưu" (Lão Tử gọi là Trùng hư), cụ thể như sau: - Số 1 ~ số 49 ==> Giáp Tý <=> Nhâm Tý - số 2 ~ số 50 ==> Ất Sửu <=> Quý Sửu - số 9 ~ số 21 ==> Nhâm Thân <==> Giáp Thân - số 10 ~ số 22 ==> Quý Dậu <==> Ất Dậu - số 11 ~ số 59 ==> Giáp Tuất <==> Nhâm Tuất - số 12 ~ số 60 ==> Ất Hợi <==> Quý Hợi - số 19 ~ số 31 ==> Nhâm Ngọ <==> Giáp Ngọ - số 20 ~ số 32 ==> Quý Mùi <==> Ất Mùi - số 21 ~ số 9 ==> Giáp Thân <==> Nhâm Thân - số 22 ~ số 10 ==> Ất Dậu >==> Quý Dậu - số 29 ~ số 41 ==> Nhâm Thìn <==> Giáp Thìn - số 30 ~ số 42 ==> Quý Tị <==> Ất Tị - số 31 ~ số 19 ==> Giáp Ngọ <==> Nhâm Ngọ - số 32 ~ số 20 ==> Ất Mùi <==> Quý Mùi - số 39 ~ số 51 ==> Nhâm Dần <==> Giáp Dần - số 40 ~ số 52 ==> Quý Mão <==> Ất Mão - số 41 ~ số 29 ==> Giáp Thìn <==> Nhâm Thìn - số 42 ~ số 30 ==> Ất Tị <==> Quý Tị - số 49 ~ số 1 ==> Nhâm Tý <==> Giáp Tý - số 50 ~ số 2 ==> Quý Sửu <==> Ất Sửu - số 51 ~ số 39 ==> Giáp Dần <==> Nhâm Dần - số 52 ~ số 40 ==> Ất Mão <==> Quý Mão - số 59 ~ số 11 ==> Nhâm tuất <==> Giáp Tuất - số 60 ~ số 12 ==> Quý Hợi <==> Ất hợi Như vậy, trong 24 ngày được gọi là "trùng lưu" này, thì số ngày thực tính mang thông tin, chỉ còn 12 ngày, vậy nên số "thông tin" thực có sẽ là 60 - 12 = 48, tương đương với một vòng Dịch Can Chi - Khi trải qua 8 vòng thì số "thông tin" là 48 x 8 = 384, tương đương với số hào của 64 quẻ Dịch. Ta có thể đưa ra một kết luận rằng: trong quá trình thực tính, thì tổng số hào của Kinh Dịch là 480 hào, được phân làm 8 vòng, mỗi một vòng là 60 hào tương đương với 60 can chi, trong mỗi một vòng thì số "trùng lưu" sẽ là 12. Từ đây, chúng ta nhận thức được tại sao LẠC VIỆT ĐỘN TOÁN chỉ dùng đơn vị số quẻ là 48. Nhưng bên trong số 48 này, vẫn ẩn tàng số "trùng hư", để thuận theo số chu kỳ của thời gian là 60. 480 HÀO LÀ SỐ THỰC CỦA KINH DỊCH.
  17. Chào anh Thiên Sứ Cảm ơn sự quan tâm của Anh tới chuyên đề này. Kiến thức trong Ất - Giáp - Nhâm hình thành trong tôi, như một người bạn mà tôi dành thời gian đã tạm đủ, vậy mà cũng còn nhiều khái niệm mà tôi vẫn tồn nghi cho tới hôm nay. Khi được trao đổi học thuật cùng Anh Chị Em trên diễn đàn, đặc biệt được sự quan tâm và ủng hộ của Anh, chúng ta sẽ từng bước khai mở những tinh túy còn ẩn tàng bên trong lớp toán Tam minh này, để ứng dụng trong thực tiễn, mang lại giá trị có hiệu quả cho từng người. Bạn Amour đứng vai trò nòng cốt, bên cạnh có VinhL như có Tả Hữu cùng nhau trao đổi học thuật. Tôi không thể cố được, nhưng sẽ gắng theo, cùng các bạn đối với chuyên đề LỤC NHÂM này. Hà Uyên
  18. Khảo sát ngày Giáp Tý phối hợp với Hào từ quẻ Dịch, thông qua 8 vòng Giáp Tý 1. Ngày Giáp Tý vòng 1: Càn hào 1 - “Sơ Cửu, tiềm long vật dụng”. - “Hào Chín Đầu, rồng lớn ẩn mình dưới nước, tạm thời chưa thi thố được tài năng”. 2. Ngày Giáp Tý vòng 2: Cấu hào 1 - “Sơ Lục, hệ vu kim nê, trinh cát ; hữu du vãng, kiến hung, luy thỉ phu trịch trục.” - “Sáu Đầu, chặn ngay nó lại bằng cái “phanh” nhạy, cứng chắc, giữ vững chính bền thì được tốt lành ; nếu vội đi lên thì tất nhiên sẽ có hung hiểm, giống như lợn cái nhảy nhót lung tung không thể ở yên.” 3. Ngày Giáp Tý vòng 3: Độn hào 1 - “Sơ lục, độn vỹ ; lệ, vật dụng hữu du vãng” - “Hào Sáu Đầu, trốn tránh không kịp mà lại rơi vào phần đuôi, có nguy hiểm, không nên có sự đi”. 4. Ngày Giáp Tý vòng 4: Bĩ hào 1 - “Sơ Lục, bạt mao nhự, dĩ kỳ vựng ; trinh cát, hanh”. - “Sáu Đầu, nhổ cỏ mao, cả đám rễ cùng theo lên, thế là cùng loại thì tụ tập nhau mà ra ; giữ vững chính bền thì được tốt lành, hanh thông”. 5. Ngày Giáp Tý vòng 5: Quán hào 1 - “Sơ Lục, đồng quán, tiểu nhân vô cữu, quân tử lận.” - “Sáu Đầu, như trẻ nhỏ ngẩng trông cảnh vật, tiểu nhân không nguy hại gì, quân tử tất có hối tiếc.” 6. Ngày Giáp Tý vòng 6: Bác hào 1 - “Sơ Lục, bác sàng dĩ túc, miệt ; trinh hung.” - “Sáu Đầu, làm sập giường trước tiên phải đẽo từ chân, chân giường tất sẽ gãy gục, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm.” 7. Ngày Giáp Tý vòng 7: Tấn hào 1 - “Sơ Lục, tấn như tồi như, trinh cát ; võng phu, dụ vô cữu.” - “Sáu Đầu, sự tiến thịnh khởi đầu đã bị ghìm lui chắn lại, giữ chính thì được tốt lành ; hãy tạm ung dung đợi thời thì không gặp cữu hại”. 8. Ngày Giáp Tý vòng 8: Đại hữu hào 1 - “Sơ Cửu, vô giao hại, phỉ cữu ; gian tắc vô cữu”. - “Chín Đầu, chưa đi lại giao du thì chưa mắc họa, tự nhiên thì không có cữu hại, nhưng tất phải nhớ là cần cẩn thận như lúc gặp gian nan, như vậy thì mới không gặp cữu hại”. Xét thấy ngày Giáp Tý thông qua 8 vòng mà sao lời Hào từ lại nói "vật dụng" khởi đầu ở Vòng 1, mà tới cùng là Vòng 8 nói "chưa đi lại giao du thì chưa mắc hoạ", lạ thật !!!. Vậy thì, có sự liên hệ tới Độn Giáp chăng ?
  19. VÒNG 7 ..........................Nam ..........................TỤNG ...........DI............................NHU ...ĐẠI QUÁ...............+...............TIỂU QUÁ ........TRUNG PHU.....................TẤN ...........................MINH DI .............................Bắc VÒNG 6 ...........................HOÁN ........PHỆ HẠP.........................QUẢI ...TỈNH.....................+.................KHIÊM ..........LÝ...................................BÁC ...........................PHONG VÒNG 5 .............................MÔNG ......VÔ VỌNG.......................ĐẠI TRÁNG ...THĂNG.....................+...................KIỂN ........KHUÊ...................................QUAN ...........................CÁCH VÒNG 4 ...........................VỊ TẾ ........ÍCH.............................THÁI ...HẰNG.....................+...............HÀM ..........TỔN...................................BĨ ...........................KÝ TẾ VÒNG 3 ...........................ĐỈNH ........GIA NHÂN.........................LÂM ...GIẢI.....................+.................TỤY ........ĐẠI SÚC......................ĐỘN ..........................TRUÂN VÒNG 2 ...........................LỮ ........TIỂU SÚC.........................PHỤC ...DỰ.....................+....................KHỐN ..........BÍ..................................CẤU ...........................TIẾT VÒNG 1 ...........................LY ........TỐN.............................KHÔN ...CHẤN.....................+..............ĐOÀI .........CẤN.............................CÀN ...........................KHẢM
  20. VÒNG 8 ....................ĐỒNG NHÂN ...........CỔ.........................TỶ ...TUỲ...............+...............QUY MUỘI ..........TIỆM.....................ĐẠI HỮU ......................MINH DI VÒNG 8 1. Giáp Tý - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 1 (1 ~ 49) - “Sơ Cửu, vô giao hại, phỉ cữu ; gian tắc vô cữu”. - “Chín Đầu, chưa đi lại giao du thì chưa mắc họa, tự nhiên thì không có cữu hại, nhưng tất phải nhớ là cần cẩn thận như lúc gặp gian nan, như vậy thì mới không gặp cữu hại”. - Tượng “Đại hữu Sơ Cửu, vô giao hại dã” – Chín Đầu nếu không giao du đi lại với ai, thì cũng không mắc phải họa hại. Thân tuy ở cuộc “đại hữu”, nếu giữ cho sự ăn ở của mình được yên ổn, không lạm “giao” với vật, thì có thể vô hại. 2. Ất Sửu - Thủy Địa Tỷ, hào 4 (2 ~ 50) - “Lục Tứ, ngoại tỷ chi, trinh cát”. - “Sáu Bốn, ở ngoài thân mật với đáng quân chủ, giữ vững chính bền thì được tốt lành”. 3. Bính Dần – Phong Sơn Tiệm, hào 6 - “Thượng Cửu, hồng tiệm vu lục, kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát”. - “Chín Trên, chim đại nhạn bay từ từ lên núi cao, lông vũ của nó có thể làm đồ trang sức đẹp tinh khiết, tốt lành”. 4. Đinh Mão – Lôi Trạch Quy muội, hào 2 - “Cửu Nhị, diểu năng thị, lợi u nhân chi trinh”. - “Chín Hai, chột mà cố gắng nhìn được, lợi về giữ vững chính bền của bậc u tĩnh điềm đạm”. 5. Mậu Thìn - Địa Thủy Sư, hào 2 - “Cửu Nhị, tại sư, trung cát, vô cựu ; vương tam tính mệnh”. - “Chín Hai, thống xuất quân đội, giữ đúng mức không thiên lệch sẽ được tốt lành, tất không bị cữu hại, nhà vua nhiều (ba) lần ban thưởng, giao cho trọng trách”. 6. Kỷ Tị - Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 6 - “Thượng Cửu, đồng nhân vu giao, vô hối”. - “Chín Trên, hòa đồng với mọi người ở nơi giao ngoại xa xôi, chưa có được kẻ chí đồng cũng không hối hận”. 7. Canh Ngọ - Trạch Lôi Tùy, hào 4 - “Cửu Tứ, tùy hữu hoạch, trinh hung ; hữu phu tại đạo, dĩ minh, hà cữu !”. - “Chín Bốn, được người theo, thu hoạch được nhiều, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm ; chỉ cần giữ lòng thành tín, hợp chính đạo, sáng suốt trong sự lập thân, như vậy thì làm sao có cữu hại được”. 8. Tân Mùi – Sơn Phong Cổ, hào 4 - “Lục Tứ, dụ phụ chi cổ, vãng kiến lận”. - Sáu Bốn, dùng dằng không trị sự tệ loạn của cha, nếu cứ như vậy mãi thì tất sẽ hối tiếc”. 9. Nhâm Thân - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 5 (9 ~ 21) - “Lục Ngũ, quyết phu giao như, uy như, cát”. - “Sáu Năm, lấy đức thành tín để giao tiếp với người trên kẻ dưới, biết tỏ rõ uy nghiêm, tốt lành”. 10. Quý Dậu - Thủy Địa Tỷ, hào 6 (10 ~ 22) - “Thượng Lục, tỷ chi vô thủ, hung”. - “Sáu Trên, thân mật gần gũi với người mà lại không tiên phong dẫn đầu, có hung hiểm”. 11. Giáp Tuất[/b] - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 6 (11 ~ 59) - “Thượng Cửu, tự nhiên hựu chi, cát vô bất lợi”. - “Chín Trên, sự giúp đỡ từ trên trời rơi xuống, tốt lành, không có gì là không lợi”. 12. Ất Hợi - Thủy địa Tỷ, hào 5 (12 ~ 60) - “Cửu Ngũ, hiển tỷ ; vương dụng tam khu, thất tiền cầm, ấp nhân bất giới, cát”. - “Chín Năm, thân mật gần gũi một cách vô tư ; khi đấng quân vương đi săn thì bổ vậy ba mặt, lưới chỉ giăng một mặt, mặc cho các cầm thú ở phía trước đi thoát, các kẻ thuộc hạ là người trong ấp cũng chẳng phòng vệ hộ, tốt lành”. 13. Bính Tý – Phong Sơn Tiệm, hào 5 - “Cửu Ngũ, hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dựng ; chung mạc chi thắng, cát”. - “Chín Năm, chim đại nhạn bay từ từ lên gò cao, (giống như chồng đi xa), vợ ba năm không có mang ; (nhưng vợ chồng tất sẽ được xum họp) kẻ khác cuối cùng không thể xâm phạm ngăn trở mà thủ thắng, tốt lành”. 14. Đinh Sửu – Lôi Trạch Quy muội, hào 3 - “Lục Tam, quy muội dĩ tu, phản quy dĩ đệ”. - “Sáu Ba, người con gái sau khi lấy chồng mỏi cổ mong được thành vợ cả, nên quay về đợi thời, làm vợ lẽ”. 15. Mậu Dần - Địa Thủy Sư, hào 1 - “Sơ Lục, sư xuất dĩ luật, phủ tang hung”. - “Sáu Đầu, quân đội khi xuất quân thì phải dùng quân luật, hiệu lệnh để ước thúc, quân kỷ không khéo tất có hung hiểm”. 16. Kỷ Mão – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 1 - “Sơ Cửu, đồng nhân vu môn, vô cữu”. - “Chín Đầu, vừa ra khỏi cửa mà đã có thể hòa đồng ngay với người, tất vô cữu hại”. 17. Canh Thìn - Trạch Lôi Tùy, hào 3 - “Lục Tam, hệ trượng phu, thất tiểu tử ; tùy hữu cầu đắc, lợi cư trinh”. - “Sáu Ba, quấn quýt với đấng trượng phu dương cứng, mất kẻ tiểu tử ở dưới, theo với người mà ta đã cầu tất được, lợi nếu như ở yên, giữ vững chính bền”. 18. Tân Tị - Sơn Phong Cổ, hào 5 - “Lục Ngũ, cán phụ chi cổ, dụng dự”. - “Sáu Năm, vì uốn nắn sự tệ loạn của cha mà được tiếng khen”. 19. Nhâm Ngọ - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 4 (19 ~ 31) - “Cửu Tứ, phỉ kỳ bàng, vô cữu”. - “Chín Bốn, đừng để tỏ ra sự quá giầu có thì không cữu hại”. 20. Quý Mùi - Thủy Địa Tỷ, hào 1 (20 ~ 32) - “Sơ Lục, hữu phu tỷ chi, vô cữu ; hữu phu doanh phẫu, chung lai hữu tha, cát”. - “Sáu Đầu, trong lòng thành tín, thân mật gần gũi với bậc quân chủ thì không gặp cữu hại ; sự thành tín của bậc quân chủ như riệu ngon đựng đầy hũ, cuối cùng khiến cho kẻ ở xa đều đến quy phục mà hưởng sự vỗ về ở tận các miền khác, tốt lành”. 21. Giáp Thân - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 5 (21 ~ 9) - “Lục Ngũ, quyết phu giao như, uy như, cát”. - “Sáu Năm, lấy đức thành tín để giao tiếp với người trên kẻ dưới, biết tỏ rõ uy nghiêm, tốt lành”. 22. Ất Dậu - Thủy Địa Tỷ, hào 6 (22 ~ 10) - “Thượng Lục, tỷ chi vô thủ, hung”. - “Sáu Trên, thân mật gần gũi với người mà lại không tiên phong dẫn đầu, có hung hiểm”. 23. Bính Tuất – Phong Sơn Tiệm, hào 4 - “Lục Tứ, hồng tiệm vu mộc, hoặc đắc kỳ dốc, vô cữu”. - “Sáu Bốn, chim đại nhạn bay từ từ lên cây cao, may mà tìm được cành bằng đậu thoải mái, không bị cữu hại”. 24. Đinh Hợi – Lôi Trạch Quy muội, hào 4 - “Cửu Tứ, quy muội khiên kỳ, trì quy hữu thời” - “Chín Bốn, người con gái đi lấy chồng bị lỡ thì con gái, dềnh dàng chưa lấy chồng, yên đợi thời cơ”. 25. Mậu Tý - Địa Thủy Sư, hào 6 - “Thượng Lục, đại quân hữu mệnh, khai quốc thừa gia, tiểu nhân vật dụng”. - “Sáu Trên, thiên tử ban phát mệnh lệnh, phong thưởng cho các công thần, là chư hầu, là đại phu ; còn kẻ tiểu nhân thì không thể trọng dụng”. 26. Kỷ Sửu – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 2 - “Lục Nhị, đồng nhân vu tông, lận”. - “Sáu Hai, hòa đồng với mọi người trong họ, có sự đáng tiếc”. 27. Canh Dần - Trạch Lôi Tùy, hào 2 - “Lục Nhị, hệ tiểu tử, thất trượng phu”. - “Sáu Hai, quấn quýt theo kẻ tiểu tử, mất đấng trượng phu dương cứng”. 28. Tân Mão – Sơn Phong Cổ, hào 6 - “Thượng Cửu, bất sự vương hầu, cao thượng kỳ sự” - “Chín Trên, không làm sự nghiệp của bậc vương hầu, đề cao hành vi ung dung tự tại của mình”. 29. Nhâm Thìn - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 3 (29 ~ 41) - “Cửu Tam, công dụng hưởng vu thiên tử, tiểu nhân phất khắc”. - “Chín Ba, bậc vương công dâng lễ cho thiên tử để tỏ lòng tôn kính, kẻ tiểu nhân không thể đảm đương được việc lớn như vậy”. 30. Quý Tị - Thủy Địa Tỷ, hào 2 (30 ~ 42) - “Lục Nhị, tỷ chi tự nội, trinh cát” - “Sáu Hai, từ bên trong thân mật gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền sẽ được tốt lành”. 31. Giáp Ngọ - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 4 (31 ~ 19) - “Cửu Tứ, phỉ kỳ bàng, vô cữu”. - “Chín Bốn, đừng để tỏ ra sự quá giầu có thì không cữu hại”. 32. Ất Mùi - Thủy Địa Tỷ, hào 1 (32 ~ 20) - “Sơ Lục, hữu phu tỷ chi, vô cữu ; hữu phu doanh phẫu, chung lai hữu tha, cát”. - “Sáu Đầu, trong lòng thành tín, thân mật gần gũi với bậc quân chủ thì không gặp cữu hại ; sự thành tín của bậc quân chủ như riệu ngon đựng đầy hũ, cuối cùng khiến cho kẻ ở xa đều đến quy phục mà hưởng sự vỗ về ở tận các miền khác, tốt lành”. 33. Bính Thân – Phong Sơn Tiệm, hào 3 - “Cửu Tam, hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung ; lợi ngư khấu”. - “Chín Ba, chin đại nhạn bay từ từ đến ngọn núi nhỏ, giống như người chồng đi xa, một đi không trở về, người vợ không giữ được trinh chính, có mang để con không nuôi, có hung hiểm ; (nếu có thể giữ chính, dụng cương, thì) lợi về sự chống trả giặc mạnh. 34. Đinh Dậu – Lôi Trạch Quy muội, hào 5 - “Lục Ngũ, Đế Ất quy muội, kỳ quân chi duệ, bất như kỳ đệ chi duệ lương ; nguyệt cơ vọng, cát”. - “Sáu Năm, Đế Ất cho em gái về nhà chồng, y phục của người vợ chính không đẹp bằng y phục của cô vợ lẽ ; (đức hạnh rất cao, ví như) trăng đến ngày sắp tròn mà chưa đầy, tốt lành. 35. Mậu Tuất - Địa Thủy Sư, hào 5 - “Lục Ngũ, điền hữu cầm, lợi chấp ngôn, vô cữu ; trưởng tử suất sư, đệ tử dư thi, trinh hung”. - “Sáu Năm, trong ruộng có cầm thú, lợi về sự vậy bắt, tất không có gì cữu hại ; ủy nghiệm cho bậc trưởng giả cương chính, thì có thể thống suất quân đội, còn ủy nhiệm cho bọn người trẻ tuổi không có đức thì tất phải trở xác, đại bại mà về, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm”. 36. Kỷ Hợi – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 3 - “Cửu Tam, phục nhung vu mãng, thăng kỳ cao lăng, tam tuế bất hưng” - “Chín Ba, phục binh giữa nơi rừng rậm, thỉnh thoảng lên gò cao trông ngóng, qua ba năm cũng không dám dấy binh giao chiến”. 37. Canh Tý - Trạch Lôi Tùy, hào 1 - “Sơ Cửu, quan hữu du, trinh cát ; xuất môn giao hữu công”. - “Chín Đầu, có quan niệm tư tưởng giữ vững chính bền, thì sẽ được tốt lành ; ra cửa kết bạn với người, tất sẽ thành công”. 38. Tân Sửu – Sơn Phong Cổ, hào 1 - “Sơ Lục, cán phụ chi cổ, hữu tử khảo, vô cữu, lệ chung cát”. - “Sáu Đầu, uốn nắn sự tệ loạn của cha, người con có thể nối được nghiệp tổ tiên, tất không có cữu hại, tuy có thể nguy hiểm nhưng cuối cùng tất được tốt lành”. 39. Nhâm Dần - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 2 (39 ~ 51) - “Cửu Nhị, đại xa dĩ tái, hữu du vãng, vô cữu”. - “Chín Hai, dùng xe lớn chở của cải, đi chỗ nào cũng được, tất không cữu hại”. 40. Quý Mão - Thủy Địa Tỷ, hào 3 (40 ~ 52) - “Lục Tam, tỷ chi phỉ nhân”. - “Sáu Ba, thân mật gần gũi với người có hành vi không đứng đắn”. 41. Giáp Thìn - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 3 (41 ~ 29) - “Cửu Tam, công dụng hưởng vu thiên tử, tiểu nhân phất khắc”. - “Chín Ba, bậc vương công dâng lễ cho thiên tử để tỏ lòng tôn kính, kẻ tiểu nhân không thể đảm đương được việc lớn như vậy”. 42. Ất Tị - Thủy Địa Tỷ, hào 2 (42 ~ 30) - “Lục Nhị, tỷ chi tự nội, trinh cát” - “Sáu Hai, từ bên trong thân mật gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền sẽ được tốt lành”. 43. Bính Ngọ - Phong Sơn Tiệm, hào 2 - “Lục Nhị, hồng tiệm vu bàn, ẩm thực hãn hãn, cát”. - “Sáu Hai, chim đại nhạn bay từ từ đến bên phiến đá lớn, ăn uống thảnh thơi vui vẻ, tốt lành”. 44. Đinh Mùi – Lôi Trạch Quy muội, hào 6 - “Thượng Lục, nữ thừa khuông, vô thực ; sỹ khuê dương, vô huyết, vô du lợi”. - “Sáu Trên, người con gái tay xách giỏ tre, không có gì ở trong ; người con trai cầm dao giết dê, không thấy máu: (vợ chồng làm lễ không thành), không có gì lợi”. 45. Mậu Thân - Địa Thủy Sư, hào 4 - “Lục Tứ, sư tả thứ, vô cữu”. - “Sáu Bốn, quân lui về, tạm giữ thế thủ thì tránh được cữu hại”. 46. Kỷ Dậu – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 4 - “Cửu Tứ, thừa kỳ dung, phất khắc công, cát”. - “Chín Bốn, cưỡi lên tường thành rồi lại lui không dám tiến công, tốt lành”. 47. Canh Tuất - Trạch Lôi Tùy, hào 6 - “Thượng Lục, câu hệ chi, nãi tùng, duy chi ; vương dụng hưởng vu tây sơn”. - “Sáu Trên, bắt giam, cưỡng bức phải theo, theo mà ràng chặt lấy ; đấng quân vương xuất quân thảo nghịch đặt tế lễ ở non tây”. 48. Tân Hợi - Sơn Phong Cổ, hào 2 - “Cửu Nhị, cán mẫu chi cổ, bất khả trinh”. - “Chín Hai, uốn nắn sự tệ loạn của mẹ, khi tình thế khó tiến hành thì không thể gượng làm được, mà phải giữ vững chính bền để đợi thời”. 49. Nhâm Tý - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 1 (49 ~ 1) - “Sơ Cửu, vô giao hại, phỉ cữu ; gian tắc vô cữu”. - “Chín Đầu, chưa đi lại giao du thì chưa mắc họa, tự nhiên thì không có cữu hại, nhưng tất phải nhớ là cần cẩn thận như lúc gặp gian nan, như vậy thì mới không gặp cữu hại”. 50. Quý Sửu - Thủy Địa Tỷ, hào 4 (50 ~ 2) - “Lục Tứ, ngoại tỷ chi, trinh cát”. - “Sáu Bốn, ở ngoài thân mật gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền thì được sự tốt lành”. 51. Giáp Dần – Hỏa Thiên Đại hữu, hào 2 (51 ~ 39) - “Cửu Nhị, đại xa dĩ tái, hữu du vãng, vô cữu”. - “Chín Hai, dùng xe lớn chở của cải, đi chỗ nào cũng được, tất không cữu hại”. 52. Ất Mão - Thủy Địa Tỷ, hào 3 (52 ~ 40) - “Lục Tam, tỷ chi phỉ nhân”. - “Sáu Ba, thân mật gần gũi với người có hành vi không đứng đắn”. 53. Bính Thìn – Phong Sơn Tiệm, hào 1 - “Sơ Lục, hồng tiệm vu can ; tiểu tử lệ, hữu ngôn, vô cữu”. - “Sáu Đầu, chim nhạn bay dần đến bên bờ nước (không được an toàn) ; giống như trẻ nhỏ gặp lúc nguy hiểm, bị trách mắng, nhưng nếu có thể tiến dần không vội thì tránh được cữu hại”. 54. Đinh Tị - Lôi Trạch Quy muội, hào 1 - “Sơ Cửu, quy muội dĩ đệ, phả năng lý, chinh cát”. - “Chín Đầu, người con gái về nhà chồng làm vợ lẽ, chân thọt mà cố gắng đi được, tiến lên thì được tốt lành”. 55. Mậu Ngọ - Địa Thủy Sư, hào 3 - “Lục Tam, sư hoặc dư thi, hung” - “Sáu Ba, quân chốc chốc phải chở xác về, có hung hiểm”. 56. Kỷ Mùi – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 5 - “Cửu Ngũ, đồng nhân, tiên hào đào, nhi hậu tiếu, đại sư khắc tương ngộ”. - “Chín Năm, hòa đồng với người, trước thì khóc lóc kêu rên, sau thì vui mừng cười reo, đánh lớn rồi báo tiệp, chí đồng rồi tương ngộ hội hợp”. 57. Canh Thân - Trạch Lôi Tùy, hào 5 - “Cửu Ngũ, phu vu gia, cát”. - “Chín Năm, tỏ rõ lòng thành tín với kẻ thiện, tốt lành”. 58. Tân Dậu – Sơn Phong Cổ, hào 3 - “Cửu Tam, cán phụ chi cổ, tiểu hữu hối, vô đại cữu”. - “Chín Ba, uốn nắn điều tệ loạn của cha, hơi có hối hận, nhưng không có cữu hại lớn”. 59. Nhâm Tuất - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 6 (59 ~ 11) - “Thượng Cửu, tự nhiên hựu chi, cát vô bất lợi”. - “Chín Trên, sự giúp đỡ từ trên trời rơi xuống, tốt lành, không có gì là không lợi”. 60. Quý Hợi - Thủy Địa Tỷ, hào 5 (60 ~ 12) - “Cửu Ngũ, hiển tỷ ; vương dụng tam khu, thất tiền cầm, ấp nhân bất giới, cát”. - “Chín Năm, thân mật gần gũi một cách vô tư ; khi đấng quân vương đi săn thì bổ vậy ba mặt, lưới chỉ giăng một mặt, mặc cho các cầm thú ở phía trước đi thoát, các kẻ thuộc hạ là người trong ấp cũng chẳng phòng vệ hộ, tốt lành”. Vòng 8, với sự khởi đầu là ngày Giáp Tý, cho chúng ta nhận thức được một hàm nghĩa rất rõ ràng: "nếu không giao du đi lại với ai, thì cũng không mắc phải họa hại". Đạo lý hay thật !!!
  21. Hoa Giáp Phối Hào 1. Can Giáp: Càn - Cấu - Độn – Bĩ – Quan – Bác - Tấn - Đại hữu - Giáp Tý hào 1 - Giáp Tuất hào 6 - Giáp Thân hào 5 - Giáp Ngọ hào 4 - Giáp Thìn hào 3 - Giáp Dần hào 2 2. Can Ất: Khôn - Phục – Lâm – Thái - Đại tráng - Quải – Nhu - Tỷ - Ất Sửu hào 4 - Ất Hợi hào 5 - Ất Dậu hào 6 - Ất Mùi hào 1 - Ất Tị hào 2 - Ất Mão hào 3 3. Can Bính: Cấn – Bí - Đại súc - Tổn – Khuê – Lý – Trung phu - Tiệm - Bính Dần hào 6 - Bính Tý hào 5 - Bính Tuất hào 4 - Bính Thân hào 3 - Bính Ngọ hào 2 - Bính thìn hào 1 4. Can Đinh: Đoài - Khốn - Tụy – Hàm - Kiển – Khiêm - Tiểu quá – Q.Muội - Đinh Mão hào 2 - Đinh Sửu hào 3 - Đinh Hợi hào 4 - Đinh Dậu hào 5 - Đinh Mùi hào 6 - Đinh Tị hào 1 5. Can Mậu: Khảm - Tiết – Truân – Ký tế - Cách – Phong – M.di - Mậu Thìn hào 2 - Mậu Dần hào 1 - Mậu Tý hào 6 - Mậu Tuất hào 5 - Mậu Thân hào 4 - Mậu Ngọ hào 3 6. Can Kỷ: Ly - Lữ - Đỉnh - Vị tế - Mông – Hoán - Tụng - Đồng nhân. - Kỷ Tị hào 6 - Kỷ Mão hào 1 - Kỷ Sửu hào 2 - Kỷ Hợi hào 3 - Kỷ Dậu hào 4 - Kỷ Mùi hào 5 7. Can Canh: Chấn - Dự - Giải - Hằng – Thăng - Tỉnh - Đại quá – Tùy - Canh Ngọ hào 4 - Canh Thìn hào 3 - Canh Dần hào 2 - Canh Tý hào 1 - Canh Tuất hào 6 - Canh Thân hào 5 8. Can Tân: Tốn - Tiểu súc – Gia nhân – Ích – Vô vọng - Phệ hạp - Di - Cổ - Tân Mùi hào 4 - Tân Tị hào 5 - Tân Mão hào 6 - Tân Sửu hào 1 - Tân Hợi hào 2 - Tân Dậu hào 3 9. Can Nhâm: Càn - Cấu - Độn – Bĩ – Quan – Bác - Tấn - Đại hữu - Nhâm Thân hào 5 - Nhâm Ngọ hào 4 - Nhâm Thìn hào 3 - Nhâm Dần hào 2 - Nhâm Tý hào 1 - Nhâm Tuất hào 6 10. Can Quý: Khôn - Phục – Lâm – Thái - Đại tráng - Quải – Nhu - Tỷ. - Quý Dậu hào 6 - Quý Mùi hào 1 - Quý Tị hào 2 - Quý Mão hào 3 - Quý Sửu hào 4 - Quý Hợi hào 5
  22. Tìm hiểu mối quan hệ giữa Hệ thống 60 Can Chi với Dịch Kinh. Đây là phần kiến thức ít thấy sách vở bàn tới. Trọng tâm tìm hiểu là trường phái Tam huyền đời nhà Hán. Nhà Đại Dịch học Trịnh Huyền đã công bố về "HÀO THẦN ĐỒ", chúng ta bắt đầu khảo chứng từ bảng LỤC THẬP TỨ QUÁI DANH sau: 乾宫八卦属金 Càn cung bát quái thuộc kim 乾为天 Càn Vi Thiên 天风姤 Thiên Phong Cấu 天山遁 Thiên Sơn Độn 天地否 Thiên Địa Bỉ 风地观 Phong Địa Quán 山地剥 Sơn Địa Bác 火地晋 Hỏa Địa Tấn 火天大有 Hỏa Thiên Dại Hữu 坎宫八卦属水 Khảm cung bát quái thuộc thủy 坎为水 Khảm Vi Thủy 水泽节 Thủy Trạch Tiết 水雷屯 Thủy Lôi Truân 水火既济 Thủy Hỏa Ký Tế 泽火革 Trạch Hỏa Cách 雷火丰 Lôi Hỏa Phong 地火明夷 Địa Hỏa Minh Di 地水师 Địa Thủy Sư 艮宫八卦属土 Cấn cung bát quái thuộc thổ 艮为山 Cấn Vi Sơn 山火贲 Sơn Hỏa Bí 山天大畜 Sơn Thiên Đại Súc 山泽损 Sơn Trạch Tổn 火泽睽 Hỏa Trạch Khuê 天 泽履 Thiên Trạch Lý 风泽中孚 Phong Trạch Trung Phu 风山渐 Phong Sơn Tiệm 震 宫八卦属木 Chấn cung bát quái thuộc mộc 震为雷 Chấn Vi Lôi 雷地豫 Lôi Địa Dự 雷 水解 Lôi Thủy Giải 雷风恒 Lôi Phong Hằng 地风升 Địa Phong Thăng 水风井 Thủy Phong Tỉnh 泽风大过 Trạch Phong Đại Quá 泽雷随 Trạch Lôi Tùy 巽宫八卦属木 Tốn cung bát quái thuộc mộc 巽为风 Tốn Vi Phong 风天小畜 Phong Thiên Tiểu Súc 风火家人 Phong Hỏa Gia Nhân 风雷益 Phong Lôi Ích 天雷无妄 Thiên Lôi Vô Vọng 火雷噬嗑 Hỏa Lôi Phệ Hạp 山雷颐 Sơn Lôi Di 山 风蛊 Sơn Phong Cổ 离宫八卦属火 Ly cung bát quái thuộc hỏa 离为火 Ly Vi Hỏa 火 山旅 Hỏa Sơn Lữ 火风鼎 Hỏa Phong Đỉnh 火水未济 Hỏa Thủy vị Tế 山水蒙 Sơn Thủy Mông 风水涣 Phong Thủy Hoán 天水讼 Thiên Thủy Tụng 天火同人 Thiên Hỏa Đồng Nhân 坤宫八卦属土 Khôn cung bát quái thuộc thổ 坤为地 Khôn Vi Địa 地雷复 Địa Lôi Phục 地泽临 Địa Trạch Lâm 地天泰 Địa Thiên Thái 雷天大壮 Lôi Thiên Đại Tráng 泽天夬 Trạch Thiên Quải 水天需 Thủy Thiên Nhu 水地比 Thủy Địa Tỉ 兑宫八卦属金 Đoái cung bát quái thuộc kim 兑为泽 Đoài Vi Trạch 泽水困 Trạch Thủy Khốn 泽地萃 Trạch Địa Tụy 泽山咸 Trạch Sơn Hàm 水山蹇 Thủy Sơn Kiển 地山谦 Địa Sơn Khiêm 雷山小过 Lôi Sơn Tiểu Quá 雷泽归妹 Lôi Trạch Quy Muội Từ bảng LỤC THẬP TỨ QUÁI DANH, chúng ta lần lượt xắp xếp Can Chi theo hệ thống, khởi đầu từ Giáp Tý, để xác định HÀO THẦN phối hợp với 60 Can Chi: 1. Giáp Tý – hào 1 2. Ất Sửu – hào 4 3. Bính Dần – hào 6 4. Đinh Mão – hào 2 5. Mậu Thìn – hào 2 6. Kỷ Tị - hào 6 7. Canh Ngọ - hào 4 8. Tân Mùi – hào 4 9. Nhâm Thân – hào 5 10. Quý Dậu – hào 6 11. Giáp Tuất – hào 6 12. Ất Hợi – hào 5 13. Bính Tý – hào 5 14. Đinh Sửu – hào 3 15. Mậu Dần – hào 1 16. Kỷ Mão – hào 1 17. Canh Thìn – hào 3 18. Tân Tị - hào 5 19. Nhâm Ngọ - hào 4 20. Quý Mùi – hào 1 21. Giáp Thân – hào 5 22. Ất Dậu – hào 6 23. Bính Tuất – hào 4 24. Đinh Hợi – hào 4 25. Mậu Tý – hào 6 26. Kỷ Sửu – hào 2 27. Canh Dần – hào 2 28. Tân Mão – hào 6 29. Nhâm Thìn – hào 3 30. Quý Tị - hào 2 31. Giáp Ngọ - hào 4 32. Ất Mùi – hào 1 33. Bính Thân – hào 3 34. Đinh Dậu – hào 5 35. Mậu Tuất – hào 5 36. Kỷ Hợi – hào 3 37. Canh Tý – hào 1 38. Tân Sửu – hào 1 39. Nhâm Dần – hào 2 40. Quý Mão – hào 3 41. Giáp Thìn – hào 3 42. Ất Tị - hào 2 43. Bính Ngọ - hào 44. Đinh Mùi – hào 6 45. Mậu Thân – hào 4 46. Kỷ Dậu – hào 4 47. Canh Tuất – hào 6 48. Tân Hợi – hào 2 49. Nhâm Tý – hào 1 50. Quý Sửu – hào 4 51. Giáp Dần – hào 2 52. Ất Mão – hào 3 53. Bính Thìn – hào 1 54. Đinh Tị - hào 1 55. Mậu Ngọ - hào 3 56. Kỷ Mùi – hào 5 57. Canh Thân – hào 5 58. Tân Dậu – hào 3 59. Nhâm Tuất – hào 6 60. Quý Hợi – hào 5
×
×
  • Create New...