-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
Nếu cứ hiểu theo cái hiểu về "Khổng" của các cụ thì phong thủy chẳng ứng dụng được ở Anh Pháp Mỹ, Châu âu...vì ở đây có ai theo cái "Phu tử tùng tử" đâu nào? Người ta nhầm lẫn giữa một quan niệm đạo đước với một nguyên lý lý thuyết phản ánh thực tại vũ trụ. Đó là sự lẩm cẩm nếu không nói là chả khoa học tí nào!
-
Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt Cơ Bản 09 - 2012
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Xác nhận tufithou đóng 1.800.000 đ/ 03 tháng HKI, PTLV cơ bản 09. tufithou vào đây để khai báo danh tính: info@lyhocdongphuong.org.vn -
Tâm Linh Không Tôn Giáo
Thiên Đồng replied to Thiên Đồng's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Guru yoga và thực hành nghi quỹ Quan Âm Một trong những pháp thực hành quan trọng nhất của Kim Cương thừa là Guru Yoga. Guru Yoga có nghĩa là phương pháp tu tập xây dựng nhịp cầu nối tâm linh với Căn bản Thượng sư. Căn bản Thượng sư là hiện thân của ba đời chư Phật, chư đại Bồ tát. Ví dụ như với đức Phật Di Đà hay Bồ Tát Quán Thế Âm. Trong truyền thống Kim cương thừa, có rất nhiều các pháp thực hành khác nhau nhưng Guru Yoga là một pháp thực hành căn bản, giúp hành giả hợp nhất với tâm giác ngộ của căn bản Thượng sư trong hình tướng của một vị Phật hoặc một vị Bồ tát, như quán tưởng bậc Thầy trong hình tướng đạo sư Liên Hoa Sinh, trong hình tướng đức Phật A Di Đà hay Bồ tát quán thế âm. Bởi vậy Guru Yoga cũng có thể gọi là Thượng sư Tương ưng Pháp. Nghi quỹ thực hành Bồ tát quán thế âm là Guru Yoga hợp nhất với việc quán tưởng Thượng sư trong hình tướng của đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Đó là phương pháp giúp mỗi người khai triển trí tuệ và tình yêu thương nơi mình. Trong đời sống này, đặc biệt trong xã hội hiện đại, càng cần có từ bi và trí tuệ. Mọi việc làm chúng ta đều cần tâm từ bi, bằng không việc làm đó không thể đem lại lợi ích. Do đó phát triển từ bi và trí tuệ là rất quan trọng. Guru Yoga là pháp thực hành vô cùng quan trọng trong Kim Cương thừa. Trong truyền thống Thượng tọa bộ và Đại thừa không đề cập tới Thượng sư tương ưng pháp. Tất nhiên, nếu chưa có tri thức căn bản về Phật pháp và về Kim cương thừa thì cũng không dễ gì có thể hiểu được ý nghĩa pháp tu này. Guru nghĩa là gì? Guru bao gồm thượng sư bên ngoài, bên trong và bí mật. Thượng sư bên ngoài chính là Bậc Thầy gốc trong hình tướng loài người, ngài là hiện thân của Tăng già, Thượng sư bên trong chính là Pháp bảo tôn quý của đức Phật, mà chúng ta được đón nhận từ căn bản Thượng sư bên ngoài, Thượng sư bí mật chính là bản tâm giác ngộ của mỗi chúng ta. Guru Yoga là phương pháp tiếp cận với Thượng sư, các ngài là hiện tướng Tăng già, các ngài giúp chúng ta khai mở tuệ giác, chứng đạt bản chất Phật - thể tính của chính chúng ta. Kim cương thừa là pháp thực hành quan trọng và rất thực tiễn. Kim cương thừa nhấn mạnh tới Tăng già. Tăng già là quan trọng nhất. Vị trí của Tăng già được đặt lên hàng đầu. Mà căn bản Thượng sư là đại diện của Tăng già. Đối với Kinh thừa lại khác. Đại thừa Phật giáo đặt tầm quan trọng của giáo pháp lên hàng đầu. Giáo pháp là quan trọng nhất, nếu không có giáo pháp chúng ta không thể tu tập, chứng đạt giác ngộ giải thoát. Còn Phật giáo Nguyên thủy đặt tầm quan trọng tới đức Phật Thích Ca, bậc khai sáng giáo pháp giải thoát. Đây là một vài điểm đặc trưng của ba thừa Phật giáo. Trong tu tập Kim Cương thừa, nhấn mạnh tới bậc thượng sư bên ngoài. Thực tế cuộc sống chúng ta nhấn mạnh quy y bậc Thầy. Bậc Thầy là căn bản thượng sư, là người mà chúng ta trực tiếp đón nhận giáo pháp. Các ngài là người chúng ta có thể diện kiến, giúp chúng ta khai mở trí tuệ và tâm từ bi nơi chính mình. Ngài là bậc Thầy bên ngoài hay còn gọi là Tăng già. Guru hay bậc thầy bên ngoài là vô cùng quan trọng. Tại sao thế? Bởi nói về mặt tuyệt đối, đức Phật chưa từng nhập diệt nhưng vì vô mình che lấp nên chúng ta không thể kết nối trực tiếp được với đức Phật. Giáo pháp của Ngài vẫn thường trụ, nhưng chúng ta không đủ trí tuệ và phẩm hạnh để thấu hiểu được, bởi vậy căn bản Thượng sư của mình trở nên vô cùng quan trọng. Ngài là nhip cầu trung gian giúp chúng ta kết nối được với đức Phật và giáo pháp tinh túy. Thượng sư bên ngoài với đầy đủ phẩm hạnh và trí tuệ nội chứng, giúp chúng ta thấu hiểu và chứng đạt thượng sư bên trong, qua đó chứng đạt được thượng sư bí mật. Đức Pháp vương dạy rằng, trong truyền thống Kim cương thừa, nhấn mạnh tới việc quy y một bậc Thầy đầy đủ sự nội chứng và các phẩm hạnh thanh tịnh, nếu không có hướng đạo của bậc thầy thì chúng ta không thể tu tập, thực hành giáo pháp. Chúng ta hiện giờ đây chưa đầy đủ trí tuệ, nếu chúng ta không có dẫn dắt của bậc thầy chúng ta sẽ không thể có phương hướng trên con đường tu tập tâm linh của mình. Do đó bậc thầy giác ngộ trong hình tướng loài người là vô cùng quan trọng. Một bậc Thầy đủ sự nội chứng và phẩm hạnh có khả năng dẫn dắt, hướng đạo cho chúng ta. Cũng sẽ vô cùng nguy hiểm nếu chúng ta chọn sai một bậc thầy. Chúng ta sẽ bị dẫn sai đường, lạc lối nếu bị dẫn dắt bởi một bậc thầy chưa đủ phẩm hạnh. Một bậc thầy với đầy đủ khả năng nội chứng bên trong sẽ giúp chúng ta tiến từng bước vững chãi trên con đường tu tập tâm linh. Bậc Thầy trí tuệ chính là hóa thân chư Phật, chư Bồ tát. Vì thương xót chúng sinh vô minh nên các ngài đã hóa thân từ cảnh giới giải thoát, đến với thế giới này, để dẫn dắt cứu độ chúng sinh thoát khỏi luân hồi sinh tử. Như vậy, pháp thực hành Guru Yoga giúp hành giả kết nối và có thể nương tựa nơi một bậc Thầy đầy đủ phẩm hạnh giác ngộ. Tại sao thượng sư bên ngoài lại được đặt ở vị trí quan trọng nhất trong truyền thống Kim Cương thừa. Tại sao bậc Thầy bên ngoài lại quan trọng như vậy? Bởi vì bậc thầy là kết tinh của mười phương ba đời chư Phật. Lời của Ngài là Pháp bảo tôn quý, tâm của Ngài là bản chất Phật Đà. Chúng ta cần quy y nương tựa một bậc thầy giác ngộ. Kính ngưỡng căn bản Thượng sư quan trọng hơn cả đức Phật, bởi chỉ thông qua bậc Căn Bản Thượng sư, chúng ta mới có thể tiếp cận được với Phật, Pháp, Tăng. Căn bản Thượng sư là hiện thân của Bồ tát Quán thế âm, là hiện thân của đạo sư Liên Hoa sinh. Mặc dù ngay vào giây phút này đây, chúng ta có thể chưa tin, chúng ta có thể khởi nghĩ rằng ngài là người nữ, người nam, với thân vật chất, vật lý vậy làm sao thầy lại là hiện thân của Bồ tát? Thực sự hiện thân ở đây không phải là về phương diện vật lý mà là hiện thân trí tuệ và sự nội chứng bên trong. Đối với một hành giả Kim cương thừa, cần phải luôn nhấn mạnh về thân giác ngộ, sự nội chứng sâu thẳm bên trong. Do đó, chúng ta phải khắc cốt ghi tâm rằng, dù ở hình tướng nào, các ngài cũng đều là hiện thân của chư Phật. Bậc Thượng sư chính là đối tượng quy y trong Kim Cương thừa. Hành giả phải luôn ghi nhớ và hiểu rõ. Điều tôi đang cố luận giải tới các bạn là thượng sư có nghĩa là lama, một tăng già có đầy đủ phẩm hạnh. Thượng sư bên ngoài có thể trợ giúp phát triển thượng sư bên trong và tiến tới chứng đạt Thượng sư bí mật, tức là sự giác ngộ. Đức Pháp vương có nói tới các truyền thống Phật giáo. Guru Yoga là phương thức thực hành, là đặc trưng của Kim cương thừa. Bậc Thầy là hiện thân trong hình tướng Tăng già. Phẩm chất của ngài là phẩm chất giác ngộ, ta có thể tiếp cận trực tiếp với các ngài, ta có thể lãnh ngộ giáo pháp nơi ngài. Thông qua đó giúp chúng ta nhận biết bậc thầy bên trong, thông qua thực hành giáo pháp, lãnh hội bậc thầy, từ đó chứng đạt phật quả, tức là thượng sư bí mật. Đó là lý do tại sao Kim cương thừa nhấn mạnh tới thượng sư bên ngoài. Bởi vậy chúng ta cần đặt trọn niềm tin vào thượng sư bên ngoài, phẩm hạnh của ngài mở rộng lan tỏa khắp không gian, vũ trụ. Đối với một quan kiến thanh tịnh, chúng ta không được coi ngài là người nam, nữ hay một vị tăng thông thường, mà phải thấy thầy là hiện thân Tăng già, là tinh túy của mười phương Tam thế Phật. Ngài là toàn thể vũ trụ. Đây chính là nghĩa của Guru Yoga, là phương pháp thực hành để khai mở tình yêu thương, mở rộng lòng mình hòa nhập với vũ trụ. GuruYoga là phương cận hợp nhất với tâm giác ngộ của căn bản Thượng sư. Đức Pháp vương dạy rằng có hàng triệu phương cách và phương pháp thực hành Yoga. Guru Yoga là phương cách rất thiết thực và căn bản trong truyền thống Kim cương thừa. Điểm tương đồng trong tất cả các thừa là phát triển từ bi và trí tuệ. Đây cũng là hai phương diện chính trong truyền thống Kim cương thừa. Đức Pháp vương đã dạy rằng, Guru Yoga có nghĩa là lan tỏa, mở rộng tới khắp vũ trụ. Đây là phương pháp thiết thực hàng ngày đối với mỗi người chúng ta, giúp chúng ta mở rộng lòng mình, mở rộng tâm hồn để cảm thông hơn, bao dung hơn. Guru Yoga có nghĩa là lan tỏa tâm từ bi, tình yêu thương, ôm trọn vẹn vũ trụ trong tình thương và từ bi của chúng ta. Đây không chỉ là mục đích sự phát triển cá nhân, mà là bao trùm toàn bộ vũ trụ. Do đó ta phải nương theo giáo pháp của bậc Thượng sư. Ngài dạy phương pháp tu tập này không chỉ quan trọng đối với đời sống tâm linh, mà quan trọng hơn nữa là giúp chúng ta làm thế nào sống cuộc đời này một cách an bình, trí tuệ trong tình thương yêu của mỗi người. Trong một gia đình, các thành viên trong gia đình cần phải thương yêu, cảm thông, tha thứ lẫn nhau thì gia đình đó mới có hạnh phúc. Như vậy một xã hội muốn có hòa bình, hạnh phúc, con người càng phải mở rộng lòng mình, ban trải tình yêu thương đến với mọi người. Ân phước mà một bậc căn bản Thượng sư ban cho chúng ta không gì hơn là giáo pháp, là kinh nghiệm chứng ngộ của ngài, giúp rộng mở chan trải tình thương với con người cũng như mọi loài. Đức Pháp vương cũng đã dạy lời trì tụng đã được dịch sang tiếng Việt bởi vậy chúng ta hãy cố gắng hiểu những lời trì tụng để có thể tăng trưởng tín tâm hơn đối với giáo pháp. Tiếp đến đức Pháp vương đã luận giải và cử hành nghi thức cúng dường mandala, sám hối tịnh hóa nghiệp chướng. Đức Pháp vương dạy rằng, phương pháp tu tập này giúp tích lũy công đức, cúng dường mang lại sự giàu có về vật chất và tâm linh ở đời này và vô số đời sau. Chúng ta cúng dường lên Tam bảo, lên thượng sư, chư Bách thần hộ Pháp và tới tất cả mọi người và vô lượng chúng sinh. Chúng ta có thể cúng dường pháp thí, như chia sẻ giáo pháp, trợ giúp tâm linh cho người khác, cúng dường tài thí như cúng dường cơm ăn, thuốc men, quần áo, những thứ đơn giản nhất mà chúng ta có để mang lại cho người khác một đời sống bình an. Cúng dường bố thí là một phương pháp chuyển hóa bản ngã vô minh, giúp chúng ta tu tập hạnh bố thí, mở rộng vòng tay của mình, chia sẻ từ vật chất đến tinh thần với mọi người để tích lũy công đức và giảm thiển bản ngã của chúng ta. Tiếp đến đức Pháp vương đã cử hành và luận giải kỹ về phương pháp sám hối tịnh hóa nghiệp chướng. Ngài dạy rằng, trong đời sống của mình, chúng ta rất vô minh, chúng ta phạm rất nhiều tội lỗi trong đời này và vô số đời trước. Nhiều người cho rằng, trong đời này, mình không tạo lỗi, mình hoàn toàn thanh tịnh. Ý nghĩ đó là hoàn toàn sai lầm. Thực chất chúng ta rất dễ dàng phạm và tạo rất nhiều nghiệp bất thiện. Bởi vậy chúng ta cần phải sám hối trước Tam bảo, vũ trụ và quan trọng là sám hối với lương tâm chính mình, để xa lìa nghiệp bất thiện. Chúng ta trì tụng thần chú, thành tâm sám hối và nguyện quyết tâm từ nay không tạo tội lỗi như vậy nữa. Sám hối là một phương pháp vô cùng quan trọng và đầy uy lực trong Kim Cương thừa. Đức Pháp vương cũng đã giảng giải rất kỹ về việc quán tưởng khi trì tụng thần chú Quán Thế âm. Ở đây có điểm khác biệt giữa phương pháp Kim cương thừa và Đại thừa. Trong Phật giáo Đại thừa, chúng ta trì tụng danh hiệu đức Phật, quán tưởng chư Phật là hình ảnh bên ngoài, đối diện trước mặt chúng ta. Đó là hình ảnh chúng ta lấy làm đối tượng tu tập. Cách quán tưởng như vậy là thông thường, chưa phải là tuyệt đối. Trong Kim cương thừa có điểm khác biệt. Ở đây chúng ta cần quán tưởng các ngài không phải là đối tượng bên ngoài, mà phải quán tưởng ngài bất khả phân với căn bản thượng sư của mình. Hành giả cần phải thiền định trong trạng thái tâm bất khả phân với căn bản thượng sư. Ví dụ như: Quán tưởng đức Quán âm trong tâm giác ngộ của mình và thiền định bản thân trong trạng thái bất khả phân với Bồ tát Quán thế âm. Tâm nguyện khi thực hành không phải chỉ để cầu nguyện những mục đích thế gian mà quan trọng là khi thực hành trì tụng thần chú, phải cầu nguyện giúp đỡ cho người khác, mục đích chính là để có trí tuệ và từ bi giác ngộ bất khả phân với Bồ tát Quán thế Âm. Ngài cũng đã dạy mọi người quán tưởng tự thân là đức Bồ tát quán thế âm. Thân ta không còn là thân bằng máu thịt vật chất thông thường nữa mà lúc này là thân thanh tịnh của đức Bồ tát quán thế âm. Phía trên đỉnh đầu, chúng ta hãy quán tưởng, đức Phật Di đà bởi vì ngài là bản thể của tất cả các Bậc Thượng sư. Khi trì tụng chân ngôn, hành giả cũng cần phải an trụ trong trạng thái vô niệm. Pháp vương cũng luận giải rất kỹ về ý nghĩa và mục đích nghi thức cúng dường Ganachakra. Gana có nghĩa là trí tuệ căn bản, chakra có nghĩa là thể hiện bằng hành động qua tình yêu thương và trí tuệ hiểu biết. Nghi thức này thể hiện sự hợp nhất trí tuệ và tình yêu thương. Tất cả các lễ phẩm chia xuống mà hành giả có thọ dụng thể hiện phần trí tuệ và từ bi. Như vậy hành giả phải giữ tâm an tĩnh và thanh tịnh khi thọ dụng phẩm vật cúng dường được ban xuống. Cuối cùng đức Pháp Vương cũng căn dặn rằng, mọi người đã vừa được ngài truyền trao quán đỉnh Quán thế âm, có nghĩa là mọi người đã phép thực hành nghi quỹ này. Tuy nhiên để thành tựu pháp tu tập, mọi người cần thực hành mỗi ngày hoặc cũng có thể trì tụng theo Phương pháp của Phật giáo Đại thừa để phát triển tình thương và trí tuệ, đem ánh sáng trí tuệ cho mọi người và mọi loài. (Bài toát yếu phần giảng pháp về Guru Yoga của Đức Pháp Vương trong chuyến thăm Việt Nam lần thứ ba) -
“Học sử trên đường” sao cho dễ hiểu? Chú thích biển phố tại Hà Nội cho thấy sự lúng túng về tiêu chí trong cách soạn thảo. Điều này sẽ giảm đi hiệu quả của công việc đang nhận được nhiều thiện cảm này. “Chú thích trên biển phố là một ý tưởng tốt, nhiều ý nghĩa”, PGS-TS Võ Kim Cương - Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu lịch sử nhận định. “Mặc dù vậy, thông tin gì sẽ được ghi trên một tấm biển với diện tích có hạn là điều cần tính toán. Thậm chí cần có cả một hội đồng khoa học để tính toán”. Hiện mới đang trong giai đoạn thí điểm, những biển phố mới có thêm phụ chú đang nhận được cảm tình của dư luận. Giống như dự án chú giải tên đường trên các banner từng làm tại TP.HCM, chúng được kỳ vọng sẽ nâng cao hiểu biết lịch sử của người dân. Mặc dù vậy, vẫn có những băn khoăn về cách làm, cho dù không ai dám chê tâm huyết cũng như công sức của những người thực hiện. Giải thích tên phố Lê Thái Tổ có đoạn “miếu hiệu của Lê Lợi. Anh hùng dân tộc, lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh giành thắng lợi, lên ngôi vua năm 1428”. “Miếu hiệu” là tên của vua được phong, đề trên miếu thờ sau khi mất. Mặc dù vậy, khái niệm không có gì khó với người nghiên cứu lịch sử này lại đánh đố rất nhiều dân thường. Nhưng chỉ riêng sự đánh đố này cũng nhận được phản ứng khác nhau của các nhà nghiên cứu. Một biển tên phố ở Hà Nội - Ảnh: T.N PGS-TS Võ Kim Cương cho rằng từ “miếu hiệu” sẽ gây khó khăn cho người dân khi đọc biển chỉ dẫn nói trên. “Theo tôi nên viết dưới dạng Lê Thái Tổ (Lê Lợi) hoặc Lê Thái Tổ tức Lê Lợi. Điều này cũng giống một biển phố khác ghi Đinh Tiên Hoàng tức Đinh Bộ Lĩnh. Khi đó người dân sẽ thấy dễ hiểu hơn”. Trái lại, TS Nguyễn Hồng Kiên lại cho rằng việc dùng từ “miếu hiệu” trên biển phố hoàn toàn chấp nhận được. “Đinh Tiên Hoàng không hẳn là miếu hiệu của Đinh Bộ Lĩnh, nên có thể viết tức là. Còn viết “tức Lê Lợi” có lẽ hơi mất tôn kính”. Không chỉ riêng từ “miếu hiệu”, một số từ khác cũng có thể gây khó cho người đọc. Chẳng hạn, về Ngô Quyền có đoạn “lập ra nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Việt Nam”. Không phải ai cũng hiểu như thế nào là nhà nước phong kiến tập quyền. Hay, về Trần Nguyên Hãn có đoạn “được phong Tả tướng quốc”. Sẽ có rất nhiều người không rõ Tả tướng quốc là chức vụ như thế nào. Chưa kể, theo PGS-TS Cương, chức vụ này cũng có khác nhau với những triều đại khác nhau. Tiêu chí chưa rõ ràng TS Nguyễn Hồng Kiên cho biết trong thời gian thai nghén dự án chú thích biển phố này, ông cũng được đóng góp một số ý kiến. Để có được đóng góp trên, TS Kiên đã tham khảo kinh nghiệm về chỉ dẫn đường phố của nhiều nước. “Có những nước trên biển phố ghi rất rõ phố này dài bao nhiêu. Cũng để hình dung đường tốt hơn, có biển phố ghi rõ đi theo phố này sẽ dẫn tới phố nào. Thậm chí, tại Tây Ban Nha, biển phố còn ghi rất rõ phố sẽ cắt phố nào là đường một chiều”, TS Kiên cho biết. “Tại Nga, nếu phố từng có nhiều tên qua những thời kỳ lịch sử khác nhau, những tên gọi đó cũng được ghi trên biển phố. Với những phố quá dài, có nước còn ghi rõ trên biển đoạn phố từ ngã tư này tới ngã tư tới có số nhà từ bao nhiêu đến bao nhiêu”, ông Kiên nói. “Đã có những nhà khoa học được hỏi ý kiến. Mặc dù vậy, chính tôi khi được hỏi cũng không rõ Hà Nội lấy tiêu chí nào về độ dài cũng như nội dung để xây dựng các chú thích trên. Chính vì thế, tôi cũng chỉ tư vấn rằng nên có năm sinh, năm mất và công trạng của danh nhân. Cũng vì thế, sắp tới nếu triển khai tiếp ra các phố có tên phố không phải tên danh nhân, chắc chắn sẽ phải có một bộ tiêu chí cụ thể”, một nhà khoa học cho biết. Trinh Nguyễn
-
@bacsy Quẻ này thì không lo. Các bác của đoàn kiểm tra làm việc công minh, nghiêm khắc, nhưng có tình củm lắm. Vui cả làng thôi mà. Không chừng sau buổi kiểm tra có đi nhậu nữa à. Thiên Đồng
-
Tài Năng Việt Nam http-~~-//www.youtube.com/watch?v=nsvEByRc21o
-
Lịch sử Thiên văn học Phần 4: Thiên văn học thời Phục Hưng Thiên văn học châu Âu thời Phục hưng chứng kiến cuộc cách mạng của những tên tuổi lớn như Tycho Brahe, Copernicus, Kepler, Galileo... Tuy nhiên, trước đó phải nhắc đến Johannes Müller (còn gọi là Regiomontanus), người đã dịch tác phẩm vĩ đại Almagest từ tiếng Ả Rập và đưa ra những bình luận có giá trị trong cuốn sách Epitome of the Almagest (Tóm lược về Almagest) mà sau này được Copernicus, Galileo sử dụng.[47] Và rồi cuộc cách mạng đã bùng nổ với nhà thiên văn học người Ba Lan Nicolaus Copernicus, "người đã bắt Mặt Trời dừng lại và đẩy cho Trái Đất quay" như những lời ghi trên tượng đài của ông ở Warsaw. Sau những năm tháng làm việc ở giáo đường Frombork, ông cho ra đời tập Tiểu luận (Commentariolus) trình bày những ý niệm ban đầu về thuyết nhật tâm của mình. Kết quả của hàng thập kỷ lao động của ông được thể hiện trong bộ sách Về chuyển động quay của các thiên thể (De revolutionibus orbium coelestium) xuất bản lần đầu tiên năm 1543. Bộ sách gồm sáu cuốn trong đó trình bày quan điểm và những lý giải của ông về hệ thống nhật tâm đồng thời đưa ra danh mục các ngôi sao (định tinh) cũng như mô tả chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, Mặt Trăng và các hành tinh. Tuy nhiên do coi rằng các hành tinh chuyển động tròn đều nên hệ thống của Copernicus còn chưa đạt độ chính xác cao và sau này Kepler, Newton tiếp tục hoàn thiện. Do Copernic trì hoãn việc công bố học thuyết của mình nên Georg Joachim Rheticus, người học trò và là bạn vong niên của ông đã giới thiệu nó năm 1540 bằng cách cho xuất bản cuốn Tường giải ban đầu (Narratio prima). Lý thuyết của ông đã thách thức hệ thống của Ptolemy tồn tại hàng ngàn năm và là khởi đầu cho cuộc cách mạng trong khoa học, thần học và cả triết học. Tycho Brahe (1546 - 1601), nhà quan trắc thiên văn học người Đan Mạch đã xây dựng một đài thiên văn lớn và đặt tên là Uraniborg (nghĩa là "Lâu đài trời"). Với kết quả quan trắc, ông lập được một bản danh mục gồm 788 ngôi sao với độ chính xác cao mà sau này là cơ sở dữ liệu cho những công trình của Kepler.[48] Ông cũng có những nghiên cứu về sao chổi và đưa ra lý thuyết về chuyển động của Mặt Trời, Mặt Trăng. Tuy nhiên, Brahe vẫn cho rằng Trái Đất đứng yên, Mặt Trời, Mặt Trăng chuyển động quanh nó còn các hành tinh chuyển động quanh Mặt Trời. Mô hình hệ Mặt Trời của Kepler. Sử dụng những kết quả quan sát của Brahe, Johannes Kepler, người kế nhiệm ông ở đài thiên văn Prague, đã nghiên cứu và tìm ra quy luật chuyển động của các hành tinh. Ba định luật nổi tiếng mang tên ông đã được trình bày trong các tác phẩm Astronomia nova (Thiên văn học mới, xuất bản năm 1609) và Hamonices Mundi (Sự hài hoà của thế giới, xuất bản năm 1619). Những công trình của ông không những mô tả chuyển động của các hành tinh mà còn đề cập đến nguyên nhân của những chuyển động ấy. Theo mô hình của Kepler, động cơ tiên khởi của chuyển động của các hành tinh là Mặt Trời, nó quay và nhờ "trường lực" của mình khiến cho các hành tinh khác quay theo. Mặt khác các hành tinh còn hút lẫn nhau, lực hút này giống như từ tính và càng gần nhau thì cường độ càng lớn. Ông cũng đưa ra giả thuyết về nguyên nhân của thuỷ triều là do lực hấp dẫn của Mặt Trăng. Thiên văn học giờ đây đã chuyển từ những mô hình thuần tuý toán học sang bản chất vật lý mà sau đó Newton đã làm cho hai môn khoa học này gắn bó chặt chẽ với nhau. Với những đóng góp đó, Kepler được coi là một trong những người đặt nền móng cho thiên văn học hiện đại.[49] Sống cùng thời và đã có trao đổi thư từ với Kepler là một nhà thiên văn học vĩ đại khác - Galileo Galilei. Được biết về phát minh ra ống nhòm của người Hà Lan ông đã chế tạo ra kính viễn vọng và cuối năm 1609, bắt đầu quan sát bầu trời bằng dụng cụ này. Ông đã nhìn thấy những mỏm núi trên Mặt Trăng, quan sát các vết đen Mặt Trời, biết rằng Ngân Hà là được tạo bởi những ngôi sao nhỏ li ti, phát hiện ra bốn vệ tinh (Galileo gọi chúng là hành tinh và sau đó Kepler mới đề nghị dùng từ vệ tinh) của sao Mộc...Ông cũng nhận thấy các pha của sao Kim rất giống với Mặt Trăng và do đó nó phải quay quanh Mặt Trời chứ không phải Trái Đất. Những khám phá của Galileo đã chứng minh cho học thuyết của Copernicus. [50] Ông đã tìm cách thuyết phục Giáo hội La Mã về tính đúng đắn của thuyết Copernic nhưng ý kiến phán quyết của Toà án Giáo hội đã cho rằng nó là giả dối, phi lý, tà đạo và chống lại Kinh Thánh và chính ông đã phải tuyên thệ từ bỏ quan điểm của mình. Một nhà triết học và vũ trụ học người Ý khác là Giordano Bruno đã tán thành và phát triển học thuyết của Copernicus về vũ trụ. Ông cho rằng không chỉ Trái Đất mà cả Mặt Trời cũng tự quay quanh trục của nó và còn có nhiều hành tinh quay quanh Mặt Trời mà con người chưa biết tới. Trong vũ trụ có vô số những ngôi sao tương tự Mặt Trời cũng như những thế giới khác giống như Trái Đất. Vì những quan điểm này mà Bruno đã bị toà án giáo hội thiêu trên giàn lửa.[51] Tham khảo: 47 ^ . Regiomontanus.; University of Cambridge. 48 ^ Tycho Brahe.; University of Cambridge. 49 ^ Trần Mạnh Thường, Tr. 266. 50 ^ Galileo.; University Of St Andrews, Scotland. 51 ^ Giordano Bruno.; University Of St Andrews, Scotland. Wikipedia.org Phần 5: Thiên văn học thế kỷ 17 - 18 Thời cận đại đánh dấu bước chuyển của thiên văn học sang những nhận thức khoa học và hiện đại về vũ trụ, thiên văn học và vật lý học trở nên thống nhất với sự ra đời của môn cơ học thiên thể. Isaac Newton, nhà khoa học vĩ đại đã có những đóng góp to lớn trong sự phát triển của thiên văn học thời kỳ này. Ông đã chế tạo chiếc kính thiên văn phản xạ đầu tiên, phân tích ánh sáng thành một chuỗi các vạch quang phổ, đặt nền móng cho quang phổ học, một phương pháp quan trọng để nghiên cứu các thiên thể. Tuy nhiên thành tựu quan trọng nhất của ông trong thiên văn học là ba định luật của động lực học và định luật vạn vật hấp dẫn được trình bày trong phần thứ ba (thiên văn học) của tác phẩm Những nguyên lý toán học của triết học tự nhiên (tiếng Latin: Philosophiae Naturalis Principia Mathematica). Với quan niệm rằng chuyển động của các thiên thể cũng tuân theo các quy luật như chuyển động của các vật thể khác trên mặt đất. Newton đã hợp nhất các định luật của Kepler và cơ học của Galileo tạo bước ngoặt cho sự phát triển của môn cơ học thiên thể.[52] Chân dung Isaac Newton của Godfrey Kneller (1702). Những người kế tục Newton đã tiếp tục chứng minh tính đúng đắn của định luật vạn vật hấp dẫn cũng như phát triển môn cơ học thiên thể. Edmund Halley đã phát hiện ra gia tốc thế kỷ của Mặt Trăng mà sau này Euler, Lagrange và Laplace đã giải thích nó bằng lý thuyết vạn vật hấp dẫn. Ông cũng tới đảo St. Helena và lập bản đồ với 341 ngôi sao ở thiên cầu Nam (không nhìn thấy được ở châu Âu) và cũng trong khi ở đây, ông đo được sự khác biệt về độ dài của giây do con lắc dao động tạo ra khi ở những vĩ độ khác nhau do lực hấp dẫn khác nhau (bởi khoảng cách đến tâm Trái Đất thay đổi) mà Newton đã chỉ ra. Halley cũng tạo ra bước ngoặt trong quan niệm về sao chổi. Trước đó sao chổi được cho là có quỹ đạo parabol và sẽ vĩnh viễn đi vào vũ trụ bao la sau khi đi ngang qua Trái Đất. Từ quy luật xuất hiện của một số sao chổi đã quan sát thấy là 75-76 năm hoặc bội số của nó, ông đã áp dụng định luật của Newton và cho rằng quỹ đạo sao chổi có dạng hình elíp nhưng kéo dài đến mức ở những đoạn trông thấy được, nó giống như hình parabol. Từ đó ông khẳng định rằng sao chổi đã nhìn thấy năm 1682 sẽ quay trở lại vào năm 1758 hoặc 1759 và khi nó xuất hiện như dự báo vào Giáng Sinh năm 1758, sau khi Halley đã mất, sao chổi này đã được đặt tên là Halley[53]. Alexis Clairaut đã xây dựng lý thuyết về cấu tạo và hình dạng Trái Đất trong tác phẩm Lý thuyết về hình dáng Trái Đất (Théorie de la figure de la Terre, 1743) khẳng định quan điểm của Newton và Huygens là Trái Đất bị dẹt ở hai cực. Ông cũng nghiên cứu xây dựng lý thuyết chuyển động của Mặt Trăng, giải thích các hiện tượng quân sai (inequality - sự sai lệch trong chu kỳ chuyển động); xuất sai (evaction - sự nhiễu loạn có chu kỳ trong chuyển động so với các định luật Kepler do lực hấp dẫn của Mặt trời gây ra); nhị quân sai (variation - sự thay đổi vận tốc dưới tác dụng của lực hấp dẫn từ Mặt Trời); chu niên sai (annual equation - sự thay đổi khoảng cách đến Mặt Trời theo chu kỳ do quỹ đạo elíp gây ra). Lý thuyết chuyển động của Mặt Trăng tiếp tục được Euler phát triển và sau đó là Laplace tổng kết trong tác phẩm Bàn về cơ học thiên thể (Traité de Mécanique Céleste ). Tiếp tục hoàn thiện lý thuyết của Lagrange, Laplace đã chỉ ra rằng sự không đều trong chuyển động của các hành tinh có tính chu kỳ và tác động của lực hấp dẫn giữa các hành tinh không gây ra gia tốc vĩnh viễn trong chuyển động trung bình của chúng, có nghĩa là hệ Mặt Trời bền vững. Năm 1796, ông cho xuất bản tác phẩm Trình bày hệ thống thế giới (Exposition du systeme du monde) trong đó tập hợp tất cả những kiến thức chủ yếu về thiên văn học và đưa ra giả thuyết về nguồn gốc của hệ Mặt Trời.[54] Trong lĩnh vực quan trắc, giai đoạn này cũng có những thành tựu nổi bật. Giovanni Cassini, giám đốc Đài thiên văn Paris đã khám phá ra 4 vệ tinh của sao Thổ là Iapetus (1671), Rhea (1672), Tethys (1684), Dione (1684) và khoảng tối giữa vành đai của hành tinh này (gọi là vạch chia Cassini). Bằng phương pháp quan sát sao Hoả ở hai điểm Cayenne và Paris rồi từ hiệu toạ độ giữa chúng, ông đã xác định được khoảng cách tương đối chính xác từ Trái Đất đến Mặt Trời (đơn vị thiên văn).[55] Ở Nga, Mikhail Lomonosov tìm ra khí quyển của sao Kim còn ở Anh, James Bradley phát hiện hiện tượng tinh sai do chuyển động của Trái Đất và tính hữu hạn của vận tốc ánh sáng; hiện tượng chương động (sự lắc của trục Trái Đất với chu kỳ 18,6 năm đồng bộ với hiện tượng quay đảo của quỹ đạo Mặt Trăng).[56] Nhà quan trắc xuất sắc và tiên phong trong giai đoạn này là Friedrich Wilhelm (William) Herschel với những chiếc kính thiên văn phản xạ khổng lồ của mình. Trong 20 năm quan sát, ông đã phát hiện được khoảng 2500 tinh vân và sao chùm đồng thời đưa ra mô hình các tinh vân dạng Ngân Hà. Herschel đã tìm ra một hành tinh mới trong hệ Mặt Trời - sao Thiên Vương (1781) mà thoạt đầu ông nghĩ đó là sao chổi rồi 2 vệ tinh của nó là Titania và Oberon, phát hiện 2 vệ tinh thứ sáu và thứ bảy của sao Thổ (Enceladus, Mimas) năm 1789. Herschel còn chỉ ra rằng hệ Mặt Trời cũng chuyển động giữa các ngôi sao gần đó và điểm hướng trong chuyển động của nó (điểm Apex) là sao Lambda Herculis trong chòm Vũ Tiên. Nhà thiên văn này cũng là người phát hiện ra tia hồng ngoại khi nhận thấy nhiệt kế để ở ngoài phạm vi phổ nhìn thấy được của ánh sáng Mặt Trời về phía màu đỏ cũng nóng lên.[57] Kính thiên văn khổng lồ của Friedrich Wilhelm (William) Herschel. Về sự hình thành của vũ trụ và Hệ Mặt Trời, vào đầu thế kỷ 18, giả thuyết tinh vân do Emanuel Swedenborg đề xuất cho rằng mọi cơ cấu trong tự nhiên đều được tạo thành theo những nguyên lý như nhau. Các nguyên tử cũng như những ngôi sao đều được tạo ra bởi luồng xoáy cố hữu của vật chất. Nguyên tử là một cơ cấu phức tạp của các hạt tương tự như Hệ Mặt Trời. Tuy nhiên ông không công nhận lực hấp dẫn của Newton mà cho rằng các ngôi sao, hành tinh được từ lực giữ. Nhà triết học nổi tiếng Immanuel Kant đã tiếp tục phát triển giả thuyết này nhưng theo thuyết vạn vật hấp dẫn của Newton, chính lực hấp dẫn đã làm cho vật chất ở trạng thái loãng lúc ban đầu chuyển động xoáy. Dần dần, lực hoá học đã tạo ra được sự cô đặc ban đầu của vật chất nguyên thuỷ và dưới tác dụng của lực hấp dẫn, khối lượng cô đặc ở tâm tăng lên. Tinh vân chuyển động xoáy ngày càng đặc và phần trung tâm hình thành nên Mặt Trời còn vành khuyên tạo thành các hành tinh. Độc lập với Kant, Laplace cũng có một số ý tưởng trùng hợp trong tác phẩm Trình bày hệ thống thế giới.[58] Tham khảo: 52 ^ Sir Isaac Newton; University Of St Andrews, Scotland. 53 ^ Edmond Halley; University Of St Andrews, Scotland. 54 ^ Laplace; University Of St Andrews, Scotland. 55 ^ Giovanni Domenico Cassini. 56 ^ James Bradley (1693—1762), Third Astronomer Royal from (1742—1762); UK National Maritime Museum. 57 ^ Friedrich Wilhelm (William) Herschel; SEDS data base. 58 ^ Nguyễn Việt Long, Tr. 213 Wikipedia.org
-
'Thầy địa lý' 'bắt' nước bằng... dây TP - Gần đây, TS Vũ Văn Bằng liên tiếp nhận được đơn đặt hàng của các đơn vị, cơ quan nhà nước yêu cầu thăm dò nước và các kiến tạo ngầm theo cách hầu như không khác gì công việc của thầy địa lý năm xưa và câu chuyện về ông sẽ còn được kể dài dài. Một địa điểm khô hạn ở khu kinh tế Hòn La, tỉnh Quảng Bình tìm thấy nước nhờ thầy địa lý Vũ Văn Bằng (đứng giữa, đeo thiết bị) . Ảnh: QD Từ năm 2002 đến nay, nhiều người bắt đầu biết đến một nhà khoa học địa chất chuyển sang làm cái việc bị quy cho là dị đoan, thầy địa lý. Học, kiếm tiền ở Ba Lan về, có chút vốn, thay vì đi theo đồng nghiệp vác những máy hiện đại nhất khoan thăm dò nước ngầm, ông đã có cách làm khác. Vào nghề thầy địa lý muộn (cụm từ mà không bao giờ ông muốn dùng), ông gặp muôn vàn khó khăn khi hầu như không ai ủng hộ. Nhưng những gì ông làm được trong vòng tám năm qua thì ngay cả những người phản đối ông nhất bây giờ cũng bắt đầu hạ giọng. Điều quan trọng nhất là, kinh nghiệm bản thân ông cho phép người ta bắt đầu nghĩ đến triển vọng có thể lý giải một cách khoa học bí quyết của thầy địa lý. Hơn thế, người ta cũng bắt đầu nghĩ đến việc phối hợp kỹ năng của thầy địa lý với các phương pháp hiện đại để nâng cao hiệu quả dò tìm. Tạp chí Cơ học Đại chúng (Popular Mechanics) mới đây xếp thuật tìm nước bằng que thăm dò là một trong những tranh cãi dai dẳng nhất thế giới. Không ít ý kiến cho đây là trò lừa khi người ta chỉ dùng một con lắc hay một đôi đũa hay một khung dây để tìm nước. Có hẳn những tổ chức quốc tế chuyên tâm vào sự nghiệp bóc mẽ bằng được cái gọi là trò lừa đảo này. Có thể kể đến Ủy ban Nghiên cứu Khoa học về Các tuyên bố huyền bí (CSICOP), địa chỉ trên internet là http://www.csicop.org/si. Một tổ chức đáng gờm khác là Hiệp hội Giáo dục James Randi (JREF). Tổ chức có địa chỉ mạng http://www.randi.org này thậm chí thách ai chứng minh những thầy địa lý kia thực sự tìm được nước sẽ thưởng cả triệu USD. Kiểm chứng ma thuật Một ngày giữa tháng 10 năm nay, khi miền Bắc bắt đầu vào mùa khô, TS Trương Thành Công, Giám đốc Sở Khoa học&Công nghệ Bà Rịa-Vũng Tàu, xác nhận với Tiền Phong rằng, đích thân ông làm chủ tịch hội đồng, gồm bảy thành viên khó tính, nghiệm thu một đề tài kỳ dị và lần đầu tiên xuất hiện trong nghề quản lý của ông. Đấy là kiểm chứng ma thuật của thầy địa lý Vũ Văn Bằng. Mục tiêu chính của đề tài trị giá 400 triệu đồng kéo dài một năm, từ giữa năm 2008 đến giữa năm 2009 do Sở KH&CN Bà Rịa - Vũng Tàu đặt hàng, là thăm dò mỏ nước ngầm tại một trong những xã khan hiếm nước nhất của tỉnh. Bà Rịa - Vũng Tàu đang tiến lên công nghiệp hóa song cũng đang đứng ở ngưỡng nguy cơ đình đốn do nguồn nước ngày càng thiếu. Các số liệu thống kê của ba trạm khí tượng Xuyên Mộc, Bà Rịa, và Vũng Tàu suốt 30 năm qua cho thấy, Bà Rịa - Vũng Tàu đã chuyển sang trạng thái bán khô hạn. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 sang năm, nhất là vào tháng ba, vùng này thiếu nước trầm trọng. Các phương tiện hiện đại, các chương trình nước sạch quốc gia đều đã vào cuộc nhưng bức tranh trên vẫn không sáng thêm. TS Công quyết định làm một cú thử chưa từng có, đem gần nửa tỷ đồng của nhà nước để thử công nghệ huyền bí. Ông yêu cầu thầy địa lý Vũ Văn Bằng phải tìm bằng được nước ngầm ở một trong hai huyện khan hiếm nước nhất là Xuyên Mộc và Châu Đức. Cuối cùng, Sở KH&CN chỉ một điểm ở xã Suối Rao, nơi được mệnh danh là chó ăn đá gà ăn sỏi của huyện Châu Đức. Nơi đây, các đoàn địa chất về thăm dò và quan sát địa hình đều kết luận không có nước. Nhóm thợ khoan cũng khẳng định như vậy. Câu đầu tiên mà anh Phạm Văn Truyền, đội trưởng đội khoan, nhận nhiệm vụ là “không có nước đâu”. Chỉ đâu gần như trúng đấy Sau một hồi cầm cái khung dây nối với một thiết bị không giống ai, thầy địa lý Vũ Văn Bằng chỉ xuống một điểm: “Chỗ này có nước”. Để kiểm chứng độ chính xác của phương pháp mà cho đến giờ nhiều người vẫn phủ nhận, các nhà khoa học cho dùng một biện pháp hiện đại để đối chứng. Một tổ hợp máy thăm dò địa vật lý điện và từ được huy động. Các thiết bị không có phản ứng gì với cái gọi là từ trường của dòng chảy ngầm, tức là không đo được, không xác định được là có nước ngầm ở đó hay không. Khoan hay không? Có ý kiến đề nghị dừng vì rất tốn kém. Mỗi mũi khoan với thời giá hiện tại là một triệu đồng cho một mét. Nếu không có thì sao? Trong khi ấy, thầy Bằng đọc vanh vách các con số định lượng, chiều sâu gặp mạch nước là từ 60m trở đi. Chiều sâu hết mạch nước tối đa là 75 m. Lưu lượng nước dự kiến là trên 5m3/h. Khoan đến độ sâu 6,5m, bắt đầu gặp ngay tầng đá gốc, cái tầng mà dân địa chất và khoan thăm dò đều thống nhất là kịch kim, không thể làm gì được nữa. “Dừng thôi”, anh Truyền, đội trưởng đội khoan đề nghị. Chủ dự án đầu tư liếc nhìn các bên chứng kiến, ai nấy không giấu nổi sự ngao ngán. Nhưng tên đã bắn, không lẽ dừng giữa chừng? Mọi người quyết định khoan tiếp. Đến độ sâu 63m, lỗ khoan đang khô khốc bỗng nhiên sùi lên một dòng nước đục ngầu lên mặt đất. Ai nấy vã mồ hôi. Khoan tiếp đến độ sâu 71m, một dòng chảy liên tục với lưu lượng 7m3/h, lớn hơn dự kiến. Bất chấp các tranh cãi chưa ngã ngũ, không ít tổ chức khoa học trên thế giới chuyển sang xem xét câu chuyện thầy địa lý một cách nghiêm túc. Có thể kể đến dự án của Viện nghiên cứu Deutsche Gesellschaft fur Technische Zusammenarbeit (Đức). Dự án hy vọng sẽ tìm ra phương cách thăm dò nước rẻ tiền và hiệu quả hơn cho các vùng khô hạn ở các nước thế giới thứ ba. Trên 2.000 địa điểm tại Sri Lanka, Zaire, Kenya, Namibia và Yemen được thử nghiệm ròng rã 10 năm trời. Không phải mũi khoan nào cũng trúng nhưng tỷ lệ thành công cao một cách ngạc nhiên. Tại Sri Lanka, chẳng hạn, người ta khoan 961 lỗ và đạt tỷ lệ thành công 96 %. Cái máy bí ẩn hay tiềm năng cá nhân? Máy đo của thầy Bằng có một phần không khác gì đồ nghề của thầy địa lý. Đấy là cái khung dây bằng kim loại. Khác chăng là khung dây ấy được nối với một thiết bị nom cực kỳ đơn giản, không hề có bất cứ đồng hồ đo nào. Thầy “địa lý” Bằng trong một lần thực nghiệm trên đường Pháp Vân - Cầu Giẽ . Ảnh: Phạm Yên Từ bộ khung dây và cái máy đơn sơ ấy, thầy Bằng đã thi thố với các thiết bị đo hiện đại nhất của các nhà địa chất ở Việt Nam tại một địa điểm gần thị trấn Văn Điển, Hà Nội. Người viết bài này trực tiếp chứng kiến cuộc thử nghiệm với sự có mặt của 4 chuyên gia địa chất kỳ cựu. Các thiết bị đo hiện đại với đồng hồ điện tử hiện số hầu như không ghi nhận được bất cứ sự chuyển động nào của dòng nước ngầm mô phỏng, trong khi cái khung dây huyền bí nối với cái máy kia lại xoay. Từ năm 2002 đến nay, thầy Bằng đặt dấu ấn của mình tại 29 tỉnh thành và các đảo Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Côn Đảo. Tại những nơi đó, ông đã thăm dò và khoan 101 lỗ. Kết quả, 98 lỗ có nước, tỷ lệ thành công đạt 97,1%. Gần đây nhất, tại tỉnh Quảng Bình, 45 mũi khoan được thực hiện thì 44 mũi tìm thấy nước, tỷ lệ thành công đạt 97,8%. Liệu đấy có phải là một phương pháp khoa học, thậm chí, một phát minh, hay đơn thuần chỉ là năng lực siêu phàm của một cá nhân? Hy vọng sẽ có dịp trở lại cùng bạn đọc để trả lời các câu hỏi trên. Còn hiện tại, thầy địa lý Vũ Văn Bằng là người thường xuyên được TS Lê Văn Căn, Giám đốc Trung tâm Quốc gia Nước sạch & Vệ sinh Môi trường Nông thôn của Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, tham vấn. Phương pháp của TS Bằng ngày càng chứng tỏ được khả năng giảm chi phí và tăng tính hiệu quả cho các hoạt động thăm dò không chỉ với nước ngầm. Điều thú vị nữa, bị thuyết phục bởi câu “thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý”, một nữ chánh án cấp quận ở Hà Nội ngay sau khi nghỉ hưu đã quyết định dấn thân vào cái nghề của thầy Bằng mà xưa kia chị vốn dị ứng. Quốc Dũng
-
@milulan Cháu chào bác! Tuoir: Canh Ngọ Hỏi vào ngày 23/2/2012 vào lúc 9:32AM Cháu có mấy câu hỏi này ạh. Mong bác xem giúp cháu Câu 1: Cháu chưa kết hôn nên muốn hỏi là mộ ông bà nội cháu đã bốc được chưa ạh? Ông cháu mất năm 2007 bà mất năm 2009 Theo quẻ thì chưa được. Câu 2: Cháu đang yêu 1 người hơn cháu 6 tuổi liệu người này có phải là chồng cháu không ạh? Có thể như vậy lắm Câu 3: Cháu sau này có thành công không ạh? Cháu đi làm nhà nước hay kinh doanh thì hợp hơn ạh? Thành công. Kinh doanh thì hợp hơn. Cháu cảm ơn bác rất nhiều Thiên Đồng
-
Lịch sử Thiên văn học Phần 3: Thiên văn học thời Trung cổ Thiên văn học của người Hồi giáo Sau khi Vương quốc Hồi giáo Ả Rập hình thành và mở rộng lãnh thổ vào thế kỷ 8, thế kỷ 9, người Hồi giáo đã tiếp thu những thành tựu của nền văn hoá Byzantine, nơi gìn giữ tinh hoa của khoa học Hy Lạp cổ đại. Ngoài ra, họ còn tiếp cận kho tàng văn hoá, khoa học cổ đại thông qua Ấn Độ. Dưới triều đại của vua Al-Ma'mun (trị vì từ 813 đến 833), người ta đã xây dựng ở Baghdad một Viện Hàn lâm khoa học và một đài quan trắc thiên văn. Việc nhà bác học Thabit Ibn Kura (806 - 901) dịch tác phẩm đồ sộ của Ptolemy và đổi tên nó thành "Almagest" đã có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu thiên văn học của người Ả Rập. Từ cuối thế kỷ 10, đã hình thành những trung tâm khoa học trong thế giới Hồi giáo. Một "Nhà Tri thức" và một đài quan trắc trực thuộc triều đình được lập ra ở Cairo, nơi đây nhà thiên văn học Ibn Yunus (khoảng 950 - 1009) đã làm việc và để lại tác phẩm Hakimi Zij trong đó mô tả 40 trường hợp giao hội của các hành tinh và đưa ra bảng chuyển đổi giữa các loại lịch được dùng trong khu vực Trung Đông lúc bấy giờ...[37]. Tại Isfahan, nhà triết học, nhà thơ, nhà toán học đồng thời cũng là nhà thiên văn học Omar Khayyám (1048 - 1122) đã cùng một số nhà thiên văn học khác lập một đài quan trắc thiên văn lớn. Ông cũng đã cải cách lịch Hồi giáo thành Lịch Ba Tư, loại lịch mà sau một thời gian việc sử dụng bị gián đoạn khi những người Hồi giáo Chính thống nắm quyền ở Iran đã được dùng lại từ năm 1925.[38] Độ dài của năm dương lịch được ông xác định là 365.24219858156 ngày, chính xác đến số thập phân thứ 6.[39] Nền thiên văn học Hồi giáo mang đậm khuynh hướng quan trắc, họ đã học được cách chế tạo kính lục phân, kính tứ phân từ người Hy Lạp cũng như phát triển đĩa trắc cao thiên văn để quan sát bầu trời. Di tích đài thiên văn của Ulugh Beg tại Samarkand. Hình minh hoạ các pha của Mặt Trăng trong tác phẩm Kitab al-Qanun al-Mas'udi của Abū Rayhān al-Bīrūnī. Ngoài khu vực Trung Đông, vùng Trung Á cũng tồn tại những trung tâm thiên văn học của người Hồi giáo. Gazni (Afghanistan) là một trong số đó, nơi đây nhà bác học nổi tiếng Abū Rayhān al-Bīrūnī (973 - 1048) đã làm việc và để lại nhiều thành tựu. Di sản của nhà bách khoa này là gần 150 công trình nghiên cứu trong đó có hơn 40 tác phẩm về toán học và thiên văn học. Tác phẩm "Tường giải cơ sở của thiên văn học" và "Kitab al-Qanun al-Mas'udi" trình bày các bảng biểu thiên văn, danh mục các ngôi sao của ông hàng thế kỷ được dùng làm sách giáo khoa thiên văn chính trong thế giới Ả Rập[40]. Ông cũng chế tạo một kính tứ phân với bán kính vòng cung 4m nhờ đó có thể nhìn thấy vị trí của Mặt Trời và các hành tinh với độ chính xác 2' đồng thời hoàn thiện kính trắc cao thiên văn, tính toán độ nghiêng của hoàng đạo so với xích đạo, ước lượng khoảng cách tối đa đến Mặt Trăng... Vào giữa thế kỷ 13, Marāgha một thành phố ở miền Bắc Iran cũng là một trung tâm thiên văn học, tại đây, nhà bác học Nasīr al-Dīn al-Tūsī (1201 - 1274) cùng các cộng sự đã làm việc tại đài thiên văn Rasad Khaneh xây dựng năm 1259. Trong số các dụng cụ quan trắc tại đây có chiếc kính tứ phân có bán kính vòng cung lên tới 6,5 m. Sau 12 năm lao động, ông đã lập được hệ thống bảng biểu về chuyển động của Mặt Trăng, Mặt Trời và các hành tinh đồng thời đưa ra danh mục các ngôi sao trong cuốn sách Zij-i ilkhani.[41] Ở Samarkand (Uzbekistan), nhà thiên văn học Ulugh Beg (khoảng 1393/1394 - 1449) đã xây dựng một đài quan sát hình vòm có đường kính hơn 50 m và cao 35 m[42] và chiếc kính lục phân Fakhri khổng lồ có bán kính của vòng cung tới hàng chục mét. Bản danh mục sao Zij-i Sultani của ông xuất bản năm 1437 mô tả vị trí của 992 ngôi sao, ông còn tính toán khá chính xác độ dài của 1 năm là 365 ngày 49 phút 15 giây.[43] Châu Âu Thời Trung Cổ, châu Âu bận rộn tiến hành những cuộc thập tự chinh liên tiếp và miệt mài với giả kim thuật để biến kim loại thành vàng. Các học giả cũng hướng sang thế giới Ả Rập và những kiến thức thiên văn học được truyền bá ở châu Âu thông qua việc dịch thuật, biên soạn các tác phẩm từ tiếng Ả Rập sang tiếng Latin tạo tiền đề cho những bước phát triển có tính chất cách mạng trong giai đoạn Phục Hưng sau này.. Johannes de Sacrobosco, trong tác phẩm De Sphaera đã trình bày những kiến thức cơ bản về hình học cầu mà cốt lõi là thiên văn toán học của Ptolemy cũng như những chú giải của các học giả Ả Rập.[44] Một số người khác như Hermann of Reichenau... cũng tích cực chuyển tải những kiến thức khoa học nói chung cũng như hiểu biết, các dụng cụ thiên văn từ Ả Rập tới châu Âu.[45]. Cuối thế kỷ 14, trước Copernicus khoảng 200 năm, Nicole d' Oresme, trong một tác phẩm đã đi ngược lại quan điểm Trái Đất đứng yên của Aristotle và khẳng định nó chuyển động quay, tuy nhiên, ở cuối tác phẩm đó ông đã chối bỏ chính ý kiến của mình.[46] Tham khảo: 37 ^ Ibn Yunus Biography.; University Of St Andrews, Scotland. 38 ^ Omar Khayyám.; Pegasos 39 ^ Khayyám Biography.; University Of St Andrews, Scotland. 40 ^ Nguyễn Việt Long, Tr. 85 41 ^ Nasīr al-Dīn al-Tūsī.; University Of St Andrews, Scotland. 42 ^ Ulugh Beg.; University Of St Andrews, Scotland. 43 ^ Dr. A. Zahoor Ulugh Beg Biography.; Muslim Scientists, 700 - 1500 C.E. 44 ^ Johannes de Sacrobosco.; University of Cambridge. 45 ^ Hermann of Reichenau.; University Of St Andrews, Scotland. 46 ^ Oresme biography.; University Of St Andrews, Scotland. Wikipedia.org
-
@cattrang Cách đây gần 2 tháng, em có lăp topic riêng mong diễn đàn xem giúp tình hình công việc, gia đạo của gia đình em trong năm 2012, nhưng chờ hoài không thấy ai luận giúp, nên hôm nay em đưa nội dung này vào chuyên mục luận tuổi của anh nhờ anh xem giúp gia đình em 1 quẻ: Nữ, Tuổi giáp dần (1974) Hỏi vào ngày 22 tháng 2 năm 2012 giờ 11:00 dương lịch Câu hỏi 01: năm nay có xin được việc làm không? vào khoảng thời gian nào? công việc có tiến triển tốt không? nhanh tháng 3, chậm tháng 8 là có việc, công việc vừa ý, nhiều áp lực, tiến triển tốt. Câu hỏi 02: Công việc mới ( vừa xin được việc về làm gần nhà) của ông xã năm nay như thế nào? cần chú ý điều gì? công việc có vẽ ngon, nhưng chua ăn, nhưng như tưởng, lắm rắc rối bực mình, con chừng kẻ dòm ngó. Câu hỏi 03: Tình hình trong gia đạo, con cái (01 gái, 01 trai). Hai con có ngoan, có hiếu với cha mẹ không? tình hình học hành sau này như thế nào các con ngoan hiền hiếu thuận, hơi ù lì. Thiên Đồng
-
@tuong_vi Em cảm ơn anh nhiều lắm ạ. Cho em hỏi thêm tí nữa nha anh. hehe. Em đang phân vân ạ. 1. Nếu chuyển ra ở riêng thì khi nào hả anh (tháng nào năm nào ạ)? Ở gần nhà ba mẹ ko hay xa ạ? 2. Tháng 9 âm nay hoặc tháng 2 âm năm sau. Anh nói dậy theo em nghĩ là tháng 9 âm lịc năm nay, còn ko thì tháng 2 âm năm sau đúng ko ạ hay tháng 9 năm sau luôn ạ? 3. Câu cuối cùng khi nào cuộc sống của em mới ổn định, tốt đẹp ạ (năm nào)? Nếu anh nói em có bốn con dậy theo em nghĩ là 3 gái 1 trai đúng ko ạ? đọc kỹ lại năm nay liệu vợ chồng em có thêm cháu nữa ko ạ hay năm khác? chắc không Cảm ơn anh nhiều lắm lắm ạ. Chúc anh có buổi sáng gặp nhiều may mắn ạ. Em chào anh và cảm ơn anh lần nữa ạ. @Star1 Cảm ơn Anh Thiên Đồng đã tư vấn giúp em. Vợ em sinh năm 1982, vậy sinh con vào năm nào thì tốt ? Anh cho em lời khuyên ạ. Khó chọn con, nên chọn 2015 và 2018. Em xin chân thành cảm ơn.
-
LỊCH SỬ THIÊN VĂN HỌC - Phần I Thiên văn học là một trong những môn khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người. Những dấu vết khởi đầu của ngành thiên văn có từ thời tiền sử. Qua quan sát chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, Mặt Trăng, con người đã tìm ra những thời điểm thay đổi của thời tiết. Vào cuối thời đại đồ đá (thiên niên kỷ 4 - 3 TCN), ở những nền văn minh cổ đại, quan sát bầu trời là công việc rất quan trọng của giới tăng lữ. Trước khi con người học được cách định vị trên Trái Đất và sáng tạo ra môn địa lý học, họ đã quan sát bầu trời và sản sinh ra những mô hình đầu tiên của nó. Thời điểm thiên văn học trở thành một môn khoa học theo cách nhìn nhận ngày nay đã diễn ra vào thế kỉ 16 nhờ công sức của Nicolaus Copernicus, kế tiếp là Galileo Galilei, Johannes Kepler, Isaac Newton. Một trong những tác nhân quan trọng nhất đối với cuộc cách mạng thiên văn học của Nicolaus Copernicus là phát minh kính viễn vọng. Những bước tiến của thiên văn học hiện đại đã xảy ra vào nửa cuối thế kỷ 19 khi các phương pháp phổ học và chụp hình được sử dụng trong quan sát thiên văn. Những bước nhảy vọt của thiên văn học được ghi nhận vào những năm 40 của thế kỷ 20 nhờ các quan sát thiên văn vô tuyến và tiếp đó là sự kiện con người khắc phục được những cản trở của khí quyển Trái Đất khi quan sát toàn vẹn phổ của vũ trụ từ các vệ tinh nhân tạo. Thời tiền sử Từ buổi hồng hoang của lịch sử, con người đã ngắm nhìn và suy ngẫm về bầu trời sao huyền bí, quyến rũ trên đầu. Người xưa quan sát chuyển động lặp đi lặp lại của Mặt Trời và Mặt Trăng trên bầu trời đêm để nhận biết các thời điểm chuyển mùa. Những hiện tượng thiên văn bí ẩn còn được coi là điềm báo cho những gì sẽ xảy ra trong cuộc sống cũng như củng cố tín ngưỡng của con người. Khi việc trồng trọt và chăn nuôi xuất hiện thì quan sát thiên văn trở nên rất quan trọng. Nông dân, mục đồng, thợ săn và giới tăng lữ quan sát thiên văn để biết được thời vụ đánh bắt, sản xuất. Thời gian trôi đi, dần dần con người nhận ra rằng Mặt Trời, Mặt Trăng và những vì sao di chuyển theo một đường nhất định trên trời còn những hành tinh lại không như vậy. Những ngôi sao sáng ở gần nhau được con người gộp lại thành các chòm sao theo những hình dạng nhất định và thường đi kèm với những truyền thuyết, tín ngưỡng thủa xa xưa. Khoảng 8.000-12.000 năm trước, người tiền sử ở Siberia đã tưởng tượng ra hình một con gấu với cái đuôi dài khi quan sát những ngôi sao sáng trong chòm sao Đại Hùng ngày nay. Nhiều nền văn hóa cổ đại khác cũng gán cho chòm sao này hình con gấu với những truyền thuyết và huyền thoại khác nhau. Có tài liệu cho rằng, những dấu chấm khắc dưới hình con ngựa trong hang động Lascaux ở Pháp có niên đại khoảng 15.000 năm TCN thể hiện những pha của Mặt Trăng. Từ thời đồ đá, con người đã xây dựng những công trình thiên văn. Một trong những kiến trúc cổ nhất liên quan đến thiên văn học ở châu Âu là Newgrange ở gần thủ đô Dublin của Ai len. Công trình khổng lồ bằng đá với niên đại khoảng 3.200 năm TCN này có một hành lang hẹp dẫn vào một căn phòng. Vài ngày cận ngày đông chí, ánh sáng Mặt Trời mọc sẽ chiếu xuyên qua hành lang đó vào tận căn phòng. Một trong những công trình bí ẩn và hoành tráng đã được công nhận là di sản thế giới trên bình nguyên Salisbury của nước Anh là ngôi đền Stonehenge. Ngày nay, hầu hết những nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng ngôi đền được xây dựng vào khoảng năm 1900 đến 1600 TCN với 30 cột đá đồ sộ chôn sâu xuống đất và cao hơn mặt đất khoảng 5,5 m; rộng 2 m; nặng khoảng 26 tấn tạo thành một vòng đường kính 29,5 m. Phía trong vòng cột có có 5 "cổng" được tạo bởi một phiến đá xếp chồng lên hai phiến khác; nhóm "cổng" này được xếp theo hình móng ngựa bao quanh trụ đá trung tâm. Phiến đá lớn nhất gọi là "Cột Đá Gót" (Heel Stone) nặng tới 35 tấn được dựng ở cuối một đường hành lang ở hướng Đông Bắc của ngôi đền. Vào ngày hạ chí, khi Mặt Trời mọc ở hướng Đông Bắc gần điểm chính Bắc nhất thì nó mọc lên ở đúng đỉnh Cột Đá Gót. Ngoài ra, có nhà nghiên cứu còn cho rằng các cột đá khác còn có thể được dùng để xác định thiên thực. LỊCH SỬ THIÊN VĂN HỌC Phần II: THIÊN VĂN HỌC CỔ ĐẠI TRONG CÁC NỀN VĂN MINH Ai cập Khoảng 4.000 năm trước Công Nguyên, tại thung lũng sông Nil, một trong những nền văn minh lâu đời nhất đã xuất hiện: nền văn minh Ai cập cùng với ngành thiên văn học gắn chặt với con sông hùng vĩ này. Các vị tư tế nhanh chóng nhận thấy trước khi nước sông dâng cao luôn có hai sự kiện xảy ra: ngày hạ chí và sao Thiên Lang mọc vào lúc bình minh sau 70 ngày vắng mặt. Lúc đó, người Ai Cập cũng đã có âm lịch với 12 tháng, mỗi tháng 29 đến 30 ngày và cứ sau hai đến ba năm, họ lại cộng thêm vào một tháng để luôn phù hợp với các mùa trong năm. Lịch Ai Cập cổ đại lấy ngày bắt đầu của năm là ngày đầu của tuần trăng non sau khi sao Thiên Lang mọc trở lại. Ngoài lịch có tính chất tôn giáo này, người Ai Cập còn có "lịch lược đồ", cũng có 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày và cuối năm thêm năm ngày nữa. Bầu trời được chia thành 45 chòm sao và con người đã biết đến các hành tinh như sao Mộc, sao Hoả, sao Thổ, sao Kim, sao Thuỷ. Quan niệm của người Ai Cập về vũ trụ gắn liền với đa thần giáo. Trung tâm của thế giới là thần Geb, vị thần tượng trưng cho Trái Đất, người chị đồng thời là vợ của Geb - thần Nut chính là bầu trời. Nut sinh ra thần Ra - thần Mặt Trời và các vì sao còn Ra sinh ra Thoth - thần Mặt Trăng. Do Nut cứ sáng ra lại nuốt hết các vì tinh tú rồi đến đêm mới thả ra nên thần Shu, cha của bà, đã nâng bầu trời lên khỏi mặt đất. Thần Ra ban ngày bơi trên sông Nil ở thượng giới, chiếu sáng mặt đất còn ban đêm lại du hành dưới sông Nil chốn âm phủ và chiến đấu với những thế lực đen tối để rồi sáng hôm sau lại xuất hiện phía chân trời. Về dụng cụ thiên văn, người Ai Cập đã sáng chế ra đồng hồ Mặt Trời, đó chính là những cột bia thờ thần Ra, nó cho phép xác định độ cao của Mặt Trời so với đường chân trời. Để đo thời gian về ban đêm, các vị tư tế theo dõi vị trí của những ngôi sao. Người Ai Cập cũng đã cống hiến cho nhân loại ý tưởng xác định một giờ bằng 1/24 độ dài của một ngày đêm, thống nhất cho mọi mùa trong năm. Các vị thần Geb và Nut. Nut tượng trưng cho bầu trời với những vì sao bao bọc Trái Đất. Lưỡng Hà Là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại, vùng Lưỡng Hà là nơi cư trú của người Sumer, Assyrie và Babylone. Ngay từ đầu thiên niên ký thứ 3 TCN, người Sumer đã biết sao Hôm và sao Mai chỉ là một và đến cuối thiên niên kỷ đó, theo một văn bản ghi trên đất sét tìm được, họ đã có được danh sách các chòm sao cũng như việc phân biệt giữa hành tinh với định tinh. Vào thời kỳ thành phố Babylone bị người Kassite xâm chiếm, bộ sách chiêm tinh Enuma Anu Enlil đã ra đời với gần 7.000 lời tiên đoán. Thời kỳ Cổ Babylone, thiên văn học đã có những thành tựu quan trọng. Đầu thiên niên kỷ 2 TCN, người Babylone đã nhận biết được 5 hành tinh của Hệ Mặt Trời là Sao Kim, Sao Thuỷ, Sao Hoả, Sao Thổ và Sao Hải Vương cũng như đường đi của chúng. Họ cũng phân biệt 12 chòm sao trên hoàng đạo, nghiên cứu về sao chổi, sao băng, tính được nhật thực, nguyệt thực và đặt ra âm lịch. Tới cuối thiên niên kỷ 2 TCN, các vì sao được phân chia vào khoảng 70 chòm sao, trong đó có một số chòm trùng với các chòm sao ngày nay như Song Tử, Con Cua, Sư Tử, Bọ Cạp... Trong thời kỳ của vương quốc Assyrie, bộ sách Mul.Apin có niên đại vào khoảng năm 1100 TCN đã liệt kê danh mục các chòm sao, các sao, ngày tháng chúng mọc lên, 18 chòm sao nằm trên đường đi của Mặt Trăng (tiền thân của các cung hoàng đạo). Ngoài ra nó còn ghi lại lịch Mặt Trời và bằng xác định thời gian ban ngày theo cách đo đội dài bóng cọc tiêu. Dưới triều đại các vị vua Assyrie cuối cùng, chiêm tinh học và thiên văn học được liệt vào những công việc quan trọng của vương quốc, một mạng lưới các đền thờ đồng thời là đài quan sát thiên văn hình thành, kết quả quan sát được báo cáo đều đặn cho quốc vương. Từ giữa thế kỷ 8 TCN, nhật thực, nguyệt thực được ghi lại trong danh sách đặc biệt và nhật ký quan sát thiên văn được lập ra. Ngoài thiên thực, những ngày trăng non, trăng tròn, vị trí của Mặt Trăng so với các vì sao, sự dịch chuyển của các hành tinh, sự xuất hiện của sao chổi, ngày phân, ngày chí... cũng được ghi chép cẩn thận. Sang thời kỳ Tân Babylone, với sự phát triển của toán học, chuyển động của Mặt Trăng và các hành tinh được tính toán với độ chính xác cao hơn. Đóng góp nổi bật của giai đoạn này là sự phát triển khái niệm hoàng đạo: vòng tròn lớn của hoàng đới được chia thành 12 phần bằng nhau, mỗi phần tương ứng với một chòm sao và gọi là cung hoàng đạo. Đó cũng là thang chia độ để xác định vị trí của Mặt Trăng, Mặt Trời, các hành tinh. Cũng vào thời kỳ này, người Lưỡng Hà sử dụng lịch Mặt Trăng và Mặt Trời kết hợp, mỗi tháng có 29 đến 30 ngày và bắt đầu vào buổi tối khi lưỡi liềm của trăng non xuất hiện. Năm bắt đầu từ mùa xuân và gồm 12 hoặc 13 tháng Mặt Trăng. Các tháng phụ được cộng thêm vào sao cho ngày đầu tiên của năm trùng với kỳ lúa đại mạch chín, cứ một chu kỳ 19 năm, bảy tháng phụ lại được thêm vào. Người Babylone cũng tìm ra chu kỳ Saros - chu kỳ 18 năm của nguyệt thực để có thể dự báo nó. Một số nhà thiên văn học của thời kỳ này được nhắc đến là Kidinnu, Naburianus, Sudines và Seleucus thành Seleucia, người ủng hộ thuyết nhật tâm. Các thành tựu thiên văn học của người Babylone "đã trở thành tài sản chung cho các nhà bác học Hy Lạp và đóng vai trò quan trọng trong trong lịch sử ngành khoa học này. Lý thuyết về Mặt Trăng của Hipparchus chẳng hạn, phần lớn là lấy cơ sở từ các các dữ liệu của các nhà bác học Babylone, hệ thống các chòm sao thời cổ Hy Lạp có rất nhiều chòm lấy từ các chòm sao đã biết ở vùng Lưỡng Hà. Và ngày nay, chúng ta vẫn tiếp tục chia thiên cầu thành 360° như các nhà thiên văn cổ đại vùng Lưỡng Hà đã làm." <a style="" href="http://ngocchinhtv.violet.vn/uploads/resources/blog/1352/340px-marduk_and_pet_500.jpg"> Thần Marduk gắn liền với sao Mộc. Hình con dấu quân đội Babylon. Hy Lạp và La Mã Kế thừa những thành tựu của thiên văn học Lưỡng Hà, người Hy Lạp cổ đại đã có bước phát triển quan trọng trong lý thuyết và phương pháp tính toán để đưa thiên văn học tiến một bước dài. Những gì mà họ tạo ra sau này đã được người Ả Rập và châu Âu tiếp tục sử dụng. Vào buổi sơ khai, người Ai Cập cổ đại quan niệm vũ trụ được mặt đất chia thành hai phần, phần trên là bầu trời sáng láng còn phía dưới là địa ngục tối tăm. Ban ngày Thần Mặt trời cưỡi cỗ xe rực lửa chạy khắp bầu trời và ban đêm bơi trên một cái chén vàng theo đại dương bao quanh mặt đất. Vào thế kỷ 6 TCN, Thales (khoảng 624 TCN – khoảng 546 TCN) đã dự báo chính xác nhật thực xảy ra vào ngày 28 tháng 5 năm 585 TCN khi quan sát nhật thực lớn vào 18 tháng 5 năm 603 TCN, một tiến bộ quan trọng lúc đó. Ông chứng tỏ rằng các ngôi sao phát sáng nhờ ánh sáng của mình, trong khi Mặt Trăng được chiếu sáng nhờ ánh sáng Mặt Trời. Theo Thales, mặt đất là một chiếc ván phẳng bơi trên mặt nước. Học trò của ông - Anaximander (khoảng 611 TCN – khoảng 546 TCN) đã đưa ra một mô hình vũ trụ theo thuyết địa tâm đầu tiên trong lịch sử thiên văn học. Theo đó Trái Đất là trung tâm và bao quanh bởi ba vòng cầu lửa, vòng gần Trái Đất nhất có nhiều lỗ thủng nhỏ chính là những ngôi sao, vòng xa hơn có một lỗ thủng lớn - Mặt Trăng và vòng xa nhất có một lỗ thủng lớn nhất - Mặt Trời. Đó là một bước phát triển quan trọng bởi trước ông, những nghiên cứu thiên văn học chỉ dựa trên quan sát chứ không phải suy luận. Không những thế ông còn tìm cách giải thích nguồn gốc của vũ trụ: cái không giới hạn (Apeiron) là khởi đầu của tồn tại; vũ trụ sinh ra, trưởng thành rồi chết đi và lại sinh ra theo vòng tuần hoàn. Nhà triết học Pythagoras (khoảng 580 TCN – khoảng 500 TCN) cũng cho rằng Trái Đất là một quả cầu nằm tại trung tâm vũ trụ và phát hiện ra rằng sao Hôm và sao Mai chỉ là một hành tinh. Sau đó Anaxagoras (500 TCN – 428 TCN) đưa ra mô hình vũ trụ là một quả bóng hình cầu đang nở ra với Trái Đất là trung tâm. Ông cho rằng, Mặt Trời là một tảng đá nóng bỏng lớn hơn bán đảo Peloponnésos. Democritus (khoảng 460 TCN – khoảng 370 TCN) đưa ra ý niệm có vô số thế giới tồn tại trong vũ trụ vô cùng vô tận và được cấu thành bởi vô vàn các hạt nguyên tử. Nhà triết học Philolaus (470 TCN – mất?) coi Trái Đất là một trong những ngôi sao và chuyển động vòng tròn quanh một tâm điểm gây ra ngày và đêm. Vũ trụ của ông quay xung quanh mọt "ngọn lửa thần thánh" và gồm có bầu trời, các hành tinh, sau chúng là Mặt Trời, dưới Mặt Trời là Mặt Trăng, dưới Mặt Trăng là Trái Đất và Đối Trái Đất (Antichtone) giả thuyết nằm ẩn mặt phía sau ngọn lửa thần thánh. Philolaus cho rằng, Trái Đất quay quanh trục của mình.[19] Nhà triết học Plato (sinh khoảng 428 TCN- 423 TCN; mất khoảng 348 TCN- 347 TCN) trong tác phẩm Triết học tự nhiên (Timaeus) của mình đã cho rằng vũ trụ là do Đấng Sáng Tạo tạo ra bởi một hỗn hợp gồm hai bản thể: bản thể tinh thần không thể phân chia và bản thể vật chất có thể phân chia. Vũ trụ phân thành 7 vòng với khoảng cách không đều nhau có tâm là Trái Đất. Khoảng cách tương đối từ Trái Đất đến quỹ đạo của các thiên thể theo tỷ lệ gấp đôi hoặc gấp ba, tỷ lệ mà theo ông các vòm cầu của vũ trụ đạt được sự hài hòa. Đến thế kỷ 4 TCN, nền khoa học nói chung và thiên văn học nói riêng của Hy Lạp đã đạt đến trình độ chuyển từ suy luận chung sang nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống các hiện tượng tự nhiên. Eudoxus (khoảng 408 TCN - khoảng 347 TCN), người cùng thời với Plato đã có những đóng góp tiêu biểu cho khuynh hướng này. Ngoài việc vẽ được hình chiếu của chí tuyến trời và vòng Cực Bắc lên bề mặt Trái Đất cũng như đưa ra tỷ lệ giữa khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, ông đã xây dựng giả thuyết về chuyển động của các hành tinh, còn gọi là giả thuyết về các hình cầu đồng tâm. Đây là mô hình có tính chất hình học đầu tiên về chuyển động của các hành tinh. Lý thuyết của ông cho rằng chuyển động biểu kiến của các hành tinh là tổng của các chuyển động xoay tròn đồng mức. Chuyển động của mỗi hành tinh là một tổ hợp của một số vòm cầu lồng vào nhau, các cực của mỗi vòm được xếp liên tiếp chồng lên nhau. Để mô tả chuyển động của Mặt Trăng, Mặt Trời, cần 3 vòm cầu, cái thứ nhất mô tả chuyển động quay quanh trục của nó; cái thứ hai mô tả các tiết điểm (giao điểm của của hoàng đạo và đường đi của Mặt Trăng trên hoàng đới); cái thứ ba có trục hơi nghiêng so với các cực của vòm cầu thứ hai mô tả độ lệch góc của quỹ đạo so với mặt phẳng hoàng đạo. Các hành tinh có chuyển động biểu kiến phức tạp hơn thì cần tới 4 vòm cầu và hệ thống của ông có tổng cộng 27 vòm cầu. Sau đó Callippus (khoảng 370 TCN - khoảng 300 TCN) đưa thêm vào 6 vòm cầu nữa thành 33 và Aristotle tăng số lượng của chúng lên 55. Aristotle (384 TCN - 322 TCN) cũng cho rằng chuyển động hướng tâm và ly tâm là chuyển động tự nhiên còn những chuyển động khác phải có lực tác động vào. Sở dĩ các thiên thể chuyển động được là do "sức đẩy nguyên thủy" có tính chất thần thánh, nằm ngoài không gian và thời gian. Lý thuyết về vũ trụ của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến các học giả thời Trung Cổ và họ đã điều chỉnh nó cho phù hợp với giáo lý Ki - tô. Được hậu thuẫn bởi giới chức tôn giáo, mô hình của Aristotle đã tồn tại nhiều thế kỷ, và thật không may mắn, điều này đã kìm hãm sự phát triển của khoa học bởi lẽ rất ít người dám thách thức quyền lực của nhà thờ.[21] Dùng phương pháp đo góc, Eratosthenes (276 TCN - 194 TCN) đã tính toán được đường kính Trái Đất. Mặc dù độ chính xác của con số này là chủ đề tranh luận của các học giả nhưng chắc chắn rằng nó ở mức cao, thậm chí tuyệt vời. Sau khi La Mã xâm chiếm Hy Lạp, các nhà thiên văn học người Hy Lạp vẫn tiếp tục hành trình khám phá của mình. Ngoài việc dùng phương pháp đo góc để tính toán khoảng cách tương đối từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, Aristarchus (310 TCN - khoảng 230 TCN) còn là người đầu tiên trình bày một cách rõ ràng và có hệ thống về thuyết nhật tâm. Theo đó, Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, Trái Đất quay quanh trục của nó và các hành tinh quay quanh Mặt Trời. Hipparchus (khoảng 190 TCN - khoảng 120 TCN) cũng có những đóng góp quan trọng. Ngoài việc xác định hoàng vĩ và hoàng kinh (kinh độ và vĩ độ theo hệ tọa độ hoàng đạo) của 850 ngôi sao, ông đã đưa ra ý niệm về cấp sao biểu kiến. Ông cũng là người khám phá ra hiện tượng tuế sai trong chuyển động của các hành tinh, tính toán độ dài của một năm, khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trăng với độ chính xác cao. Sử dụng thành tựu của những người đi trước, Ptolemy (khoảng 100 - khoảng 178) đã tiếp tục xây dựng, phát triển lý thuyết về chuyển động biểu kiến của hành tinh. Ông đã sáng chế ra những dụng cụ đo góc để quan sát các vì sao như thước xích cầu, thước ngắm tam giác... và bổ sung vào danh mục các vì sao của Hipparchus đưa tổng số lên đến 1022. Mô hình vũ trụ của ông lấy Trái Đất làm trung tâm, các thiên thể chuyển động quanh đó. Các hành tinh không quanh quanh Trái Đất mà chuyển động đều trên các vòng tròn phụ gọi là ngoại luân và tâm của các ngoại luân mới mới chuyển động đều quanh Trái Đất theo vòng tròn lớn gọi là bản luân. Mô hình của Ptolemy đã được chấp nhận rộng rãi cho đến tận thời Phục Hưng khi Nicolaus Copernicus khẳng định Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời. Ngoài các công trình nghiên cứu thiên văn được tập hợp thành bộ sách đồ sộ Almagest, ông còn để lại những chỉ dẫn về chiêm tinh học trong tác phẩm Tetrabiblos. Trung Quốc Quan niệm về vũ trụ của người Trung Quốc cổ đại chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo. Vũ trụ buổi hồng hoang ở trạng thái mông lung, mờ mịt gọi là "thái cực" sau đó sinh ra "lưỡng nghi" (âm và dương). "Lưỡng nghi" vừa tương khắc vừa kết hợp với nhau tạo thành năm khí chất chủ yếu (ngũ hành) là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Từ quan niệm "thiên địa hai tầng", tầng trên là trời - thế giới vô hình, tầng dưới là đất - thế giới hữu hình, đến thế kỷ 5, hình thành ba quan niệm về cấu trúc vũ trụ. Thuyết "cái thiên" hình dung bầu trời như một cái nắp hình bán cầu trùm lên mặt đất hình vuông. Thuyết "hồn thiên" (thiên cầu mênh mông) của Trương Hành (78 - 139) thì cho rằng vòm trời có khí ở trong và bao bọc Trái Đất, chân trời có nước còn Trái Đất nổi trên nước, trời có chín tầng khí với vận tốc và áp lực khác nhau, các vì sao được "cương phong" (gió cứng) nâng lên. Thuyết "tuyên dạ" (đêm tối lan tràn, không trung vô tận) lại coi bầu trời trống rỗng và vô cùng, vô cực; bảy tinh tú (Mặt Trời, Mặt Trăng cùng năm hành tinh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) chuyển động tự do.[26] Các sự kiện thiên văn được ghi chép ở Trung Quốc từ rất sớm và khá cụ thể. Các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, sao mới xuất hiện đã được chép lại từ khoảng 1.500 năm trước Công Nguyên vào đời nhà Thương. Cho đến nay, ghi chép sớm nhất về vết đen Mặt Trời là sách Ngọc Hải , được ghi nhận không lâu sau năm 165 TCN. Hán Thư cũng ghi lại hiện tượng này khi nó xuất hiện ngày 10 tháng 5 năm 28 TCN. Thậm chí, dựa vào những lời ghi trong Kinh Dịch, có tài liệu còn cho rằng người Trung Quốc đã quan sát được vết đen Mặt Trời từ năm 800 TCN. Ở châu Âu, mãi tới đầu thế kỷ 9 mới có ghi chép về vết đen Mặt Trời. Ghi chép sớm nhất về sao chổi Halley nhìn thấy năm 613 TCN cũng được ghi trong Kinh Xuân Thu. Người Trung Quốc cũng ghi lại tỉ mỉ các hiện tượng xuất hiện sao mới, sao siêu mới (mà họ gọi là "sao khách"), sao băng...Hậu Hán Sử nhắc đến sao mới nhìn thấy ngày 7 tháng 12 năm 185. Vào thế kỷ 11 TCN, người Trung Quốc chia bầu trời sao vào hệ thống "tam viên nhị thập bát tú" với 28 chòm sao dựa theo 28 vì sao ở gần hoàng đạo và ba nhóm sao Tử Vi, Thái Vi, Thiên Thị (tam viên) ở xung quanh chòm sao Bắc Đẩu (gồm 7 sao hình cái gàu sòng thuộc chòm Gấu Lớn theo cách chia hiện nay) và thiên cực bắc. Danh mục sao cổ nhất của họ do Thạch Thân đời Chiến Quốc soạn có 122 chòm sao với 809 ngôi sao. Trương Hành thời Đông Hán đã sáng chế ra dụng cụ định vị sao gọi là hỗn thiên nghi và thống kê khoảng 2.500 sao nhìn thấy được ở Trung Quốc, chia thành 124 chòm với 320 sao được đặt tên. Đến thời Tam Quốc, Trần Trác đã lập bản đồ và danh mục sao gồm 283 chòm (tinh quan), 1.465 sao. Kết quả quan sát quy mô lớn của Đài Quan Tượng (xây dựng năm 1442 ở Bắc Kinh) đã thiết lập nên hai danh mục sao đồ sộ là "Nghi tượng khảo thành" liệt kê vị trí của của 3.083 ngôi sao và "Nghi tượng khảo thành tục biên" với vị trí của của 3.240 ngôi sao. Hiện tượng tuế sai cũng được Ngu Hỷ phát hiện vào thế kỷ 4 và ghi lại trong sách "An thiên luận". Người Trung Quốc cũng có nhiều phát minh về dụng cụ thiên văn như cọc tiêu Mặt Trời, la bàn, đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước... Khoảng năm 1100 TCN, Chu Công đã quan sát và đo bóng Mặt Trời lúc giữa trưa để xác định độ nghiêng của hoàng đạo so với xích đạo. Tuy nhiên, những thành tựu quan trọng nhất của thiên văn học Trung Quốc thể hiện ở lĩnh vực soạn lịch. Theo truyền thuyết và dã sử thì người Trung Quốc đã có lịch cách đây từ 3.000 đến 4.000 năm. Từ khoảng 600 năm trước Công Nguyên, họ đã có lịch âm dương kết hợp để phục vụ sản xuất nông nghiệp nên còn gọi là nông lịch. Cùng với Ai Cập, Trung Quốc là nơi sử dụng âm dương lịch sớm nhất. Tháng âm lịch (tuần trăng) bắt đầu từ ngày trăng non và có 29,5 ngày và cứ hai năm lại thêm một tháng nhuận cho phù hợp với năm dương lịch (365,25 ngày). Chu kỳ 19 năm (một chương) có bảy tháng nhuận ở các năm thứ 3,6, 8 (hoặc 9), 11, 14, 17 và 19. Những ngày khí được đưa vào để thuận lợi cho thời vụ nông nghiệp. Cùng với tiến bộ về thiên văn học, toán học, lịch Trung Quốc thường xuyên được cải tiến với những nhà soạn lịch nổi tiếng: Lưu Hồng, Hạ Thửa Thiên, Tổ Xung Chi, Lưu Chước, Quách Thủ Kính... Vào triều đại nhà Tần, Trung Quốc cũng đã có dương lịch với tháng tiết khí trung bình dài 30,44 ngày. Lịch sử dụng phổ biến trong dân gian là lịch can chi, dùng 10 can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và 12 chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi), 60 năm thì tên gọi của một năm (gồm can và chi) lặp lại, chu kỳ đó gọi là 1 hội. Việt Nam và một số nước Đông Á, Đông Nam Á hiện vẫn đang dùng loại lịch sử dụng hệ đếm Can Chi ra đời cách đây khoảng 2.600 năm này. Ấn Độ Trong bộ Kinh Vệ Đà ra đời cách đây trên 3.000 năm, người Ấn Độ quan niệm rằng khởi thuỷ của vũ trụ là trạng thái hỗn độn, rồi nước được sinh ra đầu tiên, tiếp đến là lửa. Hơi nóng chứa đựng sức mạnh vô biên của lửa sinh ra "quả trứng trời đất", nửa trên là bầu trời, nửa dưới là mặt đất còn ở giữa là khoảng không phân cách. Bộ kinh này cũng cho rằng hoàng đạo là con đường của thần Surya (thần Mặt Trời) và người Ấn Độ cổ xưa chia hoàng đạo ra làm 28 chòm sao, đó là những "trạm nghỉ của Mặt Trăng" (Mặt Trăng đi trọn một vòng hoàng đạo hết 27,3 ngày đêm). Toán học của Ấn Độ có những thành tựu rực rỡ và nhiều nhà toán học đồng thời cũng là nhà thiên văn học. Aryabhatta I (476-550) đã khẳng định rằng Trái Đất tự quay quanh trục của nó và chuyển động xung quanh Mặt Trời, đồng thời xác định độ dài của một năm dương lịch là 365 ngày 6 giờ 12 phút và 30 giây, một giá trị rất sát với tính toán hiện nay cũng như tính toán chu vi Trái Đất là 24.835 dặm Anh (số liệu hiện nay là 24.902 dặm). Varahamihira (505 - 587), một nhà thiên văn Ấn Độ khác đã tổng kết nhiều thành tựu kiến thức của Hy Lạp và La Mã vào bộ sách Pancha-Siddhantika với năm luận thuyết của thiên văn học. Brahmagupta (598 - 670) có những nghiên cứu về hiện tượng thiên thực, vị trí của các hành tinh trong tác phẩm Brahmasphutasiddhanta. Thiên văn học của các nền văn minh Trung Mỹ Nền văn minh Maya mà những gì cổ nhất ngày nay biết về nó là vào khoảng 1000 năm trước Công nguyên. Ở những thành bang của họ như Chichen Itza, Tical, Copan..., đều có đài quan sát thiên văn. Đó là những công trình bằng đá gọi là caracol (vỏ hến), một trong số đó, được xây dựng rất uy nghi ở Chichen Itza có những cửa sổ nhỏ nhìn thẳng vào vị trí Mặt Trời mọc và lặn trong ngày xuân phân và thu phân. Quan sát thiên văn là công việc dành riêng cho giới tư tế và các vị này dựa vào đó để đưa ra các chỉ dẫn về thời vụ trong sản xuất nông nghiệp. Thành tựu đáng kể của họ là bộ lịch Maya, mặc dù chỉ với những dụng cụ quan sát thô sơ, người Maya xác định năm dương lịch một cách chính xác nhất so với các bộ lịch cổ đại. Lịch Julius Ceasar sai 1 ngày sau 128 năm, lịch mà chúng ta đang dùng sau 3000 năm, lịch của Omar Khayyam sau 8000 năm còn lịch Maya phải sau 10.000 năm. Người Aztec cũng có bộ lịch rất hoàn thiện, mỗi tháng của họ có 20 ngày, năm có 18 tháng và cộng thêm 5 ngày cuối cùng thành 365 ngày, chu kỳ 52 năm của họ cũng tương tự như thế kỷ. 5 ngày cuối của năm, đặc biệt là khi kết thúc chu kỳ 52 năm là những ngày mà người Aztec cho là bất hạnh và phải cúng tế thần Lửa Mới với nghi lễ dùng con người làm vật hiến tế. Năm 1790, người ta đã tìm thấy tảng đá Mặt Trời nặng trên 20 tấn, được chạm các ký hiệu tượng hình biểu hiện 20 ngày trong tháng và hai con rắn đeo kính tượng trưng cho bầu trời theo quan niệm của họ. So với lịch sử dụng ở châu Âu cùng thời thì lịch Aztec cũng chính xác hơn. Sưu tầm.
-
@ Tịnh Tâm Cháu chỉ hỏi thêm câu cuối thui...con cháu sau này có hiếu thảo, thương cha thương mẹ ko? Có thành đạt ko? có. 3 thành đạt 1 bình thường. @hongvt Kính gửi anh Thiên Đồng, Kính nhờ anh xem giúp em với ah Nữ sinh năm Quí Hợi (1983) Hỏi vào ngày 21 tháng 02 năm 2012 lúc 11:45 AM Câu hỏi 1: Vợ chồng em sẽ có được mấy con ah? Năm Nhâm Thìn 2012 có sinh được con trai không ah? 4 con. Nhâm thìn không hợp tuổi, nếu đang có bầu thì sẽ là con trai. Câu hỏi 2: Con cái sau này có mạnh khỏe, thành đạt không ah? Tốt. Thành đạt. Câu hỏi 3: Vợ chồng em có sống hạnh phúc đến đầu bạc răng long không ah? đầu bạc trọc răng lưa thưa. Trân trọng cảm ơn anh nhiều! @còi cọt Anh Thiên Đồng ơi cho em hỏi với ạ: Em là Nữ sinh năm Kỉ Tỵ, theo đồng hồ của em giờ là 16h07 ngày 21/02/2012 DL Hôm nay em đi thi về nhưng làm bài không được tốt, và nêu môn này không qua thì năm nay em chưa tốt nghiệp được. Em muốn hỏi xem em có qua môn này được không và tháng 6 DL có ra trường được không ạ? Không qua được môn này, nhưng tháng 6 DL ra trường. Mong anh xem giúp em. Em cảm ơn nhiều. @ tuong_vi Mới vào diễn đàn đọc được nhiều bài em cảm thấy rất ấn tượng ko biết anh dùng cách nào mà xem cho mọi người chính xác dữ vậy, em cũng mạo mụi nhờ anh xem giúp mấy việc. Em là con trai, sinh năm bính dần 1986. 1. Vợ chồng em đang sống với ba mẹ, cho em hỏi sau này em có sống gần với ba mẹ em ko hay chuyển đi nên khác ở ? (Em thương ba mẹ em lắm nên cũng muốn ở gần ông bà để chăm sốc nhưng do em là con thứ nên sau này nhà dao cho ông anh nhưng tính ông anh khó chiệu lắm nên em và vợ em rất khó sống khi có ổng). Sau này hai anh em có hòa thuận sống vui vẻ ko hay như bây giờ cứ cãi cọ nhau...? Chuyển ra ở riêng. Anh em vẫn hòa thuận không gì căng. 2. Do công việc đi làm hơi xa với lại thỉnh thoảng phải về quê vợ nên hai vợ chồng em tính mua chiếc xe để đi nhưng tích góp bấy lâu mà vẫn chưa đủ tiền để mua anh xem khi nào em mới mua được (tháng nào, năm nào)?. Tháng 9 âm hoặc tháng 2 âm năm sau. 3. Khi nào ba mẹ em mới có cuộc sống sung sướng, ba mẹ em khổ từ khi còn trẻ đến giờ? Ko biết sau này em có nuôi dưỡng ông bà ko (đó là tâm nguyện của em)? nhanh thì 3 năm nữa, chận thì 6 năm. Cảm ơn anh trước nha, chúc anh có một buổi tối vui vẻ. Hỏi lúc 20h33" PM @Star1 Kính nhờ Anh Thiên Đồng xem quẻ giúp em ạ Em là Nam, sinh năm 1980 xin quẻ vào hồi 22h42 ngày 21 tháng 02 năm 2012 Câu hỏi thứ nhất: em sinh con năm nào thì tốt ạ? Phải có tuổi vợ mới xem được. Câu hỏi thứ hai: Công việc của em năm nay có gì đáng quan tâm ạ? công việc tốt, bận rộn nhiều, cơ hội tốt, đi xa nhiều. Câu hỏi thứ ba: Vợ chồng em liệu có sống với nhau đến khi rụng tóc bạc đầu không ạ? đầu bạc trọc răng lưa thưa. Em mong anh trả lời giúp em. Em chân thành cảm ơn. Thiên Đồng
-
Chữ Nôm hay chữ quốc ngữ mới là thuần Việt? - Trong khi nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân phủ nhận nguồn gốc của chữ Nôm thì một số ý kiến tại hội thảo về chữ quốc ngữ lại cho rằng đó mới chính là Tiếng Việt thực sự. “Sẽ rất đáng tiếc khi các ngành, các nghề đều có ngày kỉ niệm còn chữ quốc ngữ thì không!” – Ông Nguyễn Lân Bình chia sẻ. Tại hội thảo, bên cạnh những vấn đề liên quan đến chữ quốc ngữ, ảnh hưởng của nó đối với đời sống và văn hóa của người Việt, vai trò của nhà tân học, nhà báo, nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh trong việc “bắc cây cầu nối hai nền văn minh Đông – Tây” bằng sợi dây ngôn ngữ, các diễn giả Nguyễn Lân Bình, Lại Nguyên Ân, Mai Thành Chung, và nhà sử học Dương Trung Quốc đã đề xuất việc xác lập ngày kỉ niệm Chữ quốc ngữ nhằm tôn vinh ngôn ngữ của dân tộc. Cần Luật hóa ngôn ngữ Qua những phân tích cụ thể cùng dẫn chứng có tính khoa học, các nhà nghiên cứu đã khẳng định vai trò to lớn và sức sống mãnh liệt của chữ quốc ngữ trong dòng chảy thăng trầm của lịch sử. “Chữ quốc ngữ là điểm đến của những nỗ lực, những quá trình tìm tòi nhằm xác lập chữ viết riêng cho cộng đồng người Việt với tư cách một dân tộc - quốc gia. Tôi đồng tình với đề xuất cần có ngày kỉ niệm chữ viết của dân tộc”. – Nhà phê bình văn học, nghiên cứu ngôn ngữ Lại Nguyên Ân khẳng định. Diễn giả Nguyễn Lân Bình (cháu nội ông Nguyễn Văn Vĩnh) nhấn mạnh: “Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, việc có một ngày để tôn vinh chữ quốc ngữ là điều nên làm. Sẽ rất đáng tiếc khi các ngành, các nghề khác đều có ngày kỉ niệm còn chữ quốc ngữ thì không. Bởi lẽ, nguồn gốc của lòng yêu nước là văn hóa, đối với mỗi người dân Việt Nam không chỉ một mảnh ruộng, một con trâu là đã thể hiện tình yêu quê hương mà tình yêu ấy còn thể hiện qua chữ quốc ngữ, hay nói cách khác là qua nền văn học, thơ ca của dân tộc”. Người có công rất lớn trong việc truyền bá và phát triển chữ quốc ngữ phải kể đến Nguyễn Văn Vĩnh. Ông không sáng tác nhiều nhưng các tác phẩm dịch và những hoạt động ý nghĩa của ông đã góp phần vào quá trình tạo nên ngôn ngữ thuần Việt, chính là chữ quốc ngữ chúng ta sử dụng bây giờ. Tuy nhiên, ông là người không thích được ca ngợi nên những việc ông đã làm ít ai được biết đến, công nhận. Như trong hồi ký của mình, nhà văn Vũ Bằng đã viết: “Nguyễn Văn Vĩnh từng nói rằng, nếu cuộc đời này có một cái nhà kính để sống, để quan sát thì tôi sẽ đứng trong nhà kính đó” – Ông Nguyễn Lân Bình chia sẻ thêm. Nhà phê bình văn học Lại Nguyên Ân cho biết, nếu có ngày kỉ niệm Chữ quốc ngữ, có thể lấy ngày ra đời tờ báo tiếng Việt đầu tiên (Gia Định báo, ngày 15/4/1865). Nói về vấn đề này, ông Dương Trung Quốc (Tổng Thư ký hội Lịch sử Việt Nam) cho rằng bên cạnh việc xác định ngày kỉ niệm chữ viết dân tộc, cần có thêm Luật về ngôn ngữ vì có rất nhiều vấn đề đặt ra: “Tôi cho rằng ý tưởng về ngày chữ viết của dân tộc rất hay và cần thiết. Nhưng vấn đề bức xúc hiện nay là nước ta có hơn 54 dân tộc, có rất nhiều loại ngôn ngữ, chữ viết khác nhau. Tại sao không đưa chữ Hán Nôm vào đời sống, tất nhiên không phải là sự trở lại mà là để gìn giữ văn hóa nước nhà? Có nhiều loại chữ nhưng chữ nào chuẩn hóa? Vì vậy, cần phải có Luật ngôn ngữ”. Quốc ngữ: đâu mới là tiếng mẹ đẻ? Hội thảo tranh luận sôi nổi với nhiều quan điểm đa chiều về chữ quốc ngữ. Theo ông Lại Nguyên Ân, chữ Nôm không thuần Việt, vì đó là sản phẩm vay mượn của người Hán nên chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa Trung Hoa. Ông khẳng định: “Chữ quốc ngữ mới là của người Việt”. Nhà sử học Dương Trung Quốc: “Ý tưởng ngày kỉ niệm chữ quốc ngữ rất hay. Nhưng cần có Luật để giải quyết những vấn đề bức thiết”. Diễn giả, thạc sỹ Mai Thành Chung cũng hình tượng hóa chữ quốc ngữ một cách khéo léo: “Chữ quốc ngữ là chữ ghi thanh (nói như thế nào, viết như thế đấy), được Việt hóa hoàn toàn, nó xuất xứ từ tiếng La tinh nhưng do người Việt hoàn thiện. Việc tạo ra ngôn ngữ cũng giống như quá trình làm bánh, chúng ta chỉ dựa trên những nguyên liệu có sẵn để chế tạo ra sản phẩm cuối cùng, đó là chữ quốc ngữ”. Nói về nguồn gốc và ảnh hưởng của chữ Nôm, anh Mai Thành Chung cũng giải thích, đó không phải do người Việt sáng tạo như nhiều người vẫn nghĩ. Thêm vào đó, chữ Nôm khó sử dụng để giao tiếp, tư duy nên đã bị loại bỏ, và lùi xa so với chữ quốc ngữ trong tiến trình phát triển của xã hội. Bên cạnh đó, một số ý kiến lại cho rằng, chữ Nôm mới chính là sản phẩm thuần Việt, mang tính dân tộc và chứa đựng bản sắc dân tộc. Quốc ngữ có từ khi người Việt còn dùng chữ Nôm để sáng tác thơ văn, ghi lại sử ký. Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện (Phó Giám Đốc Thư viện, Viện nghiên cứu Hán Nôm dẫn chứng: “Từ thời Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có Bạch Vân am Quốc ngữ thi tập, hay như Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi với hàng trăm bài thơ Nôm”. Trao đổi trong cuộc thảo luận, có sự tham gia của rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình văn học. Nhiều vấn đề nảy sinh xoay quanh chữ quốc ngữ được đưa ra tranh luận, phân tích, và mổ xẻ. Trong khi Giám đốc Viện nghiên cứu Minh Triết Việt Nam, Nguyễn Khắc Mai đặt ra câu hỏi: “Tại sao lại gọi là chữ quốc ngữ?”, thì nhà nghiên cứu văn học Huệ Chi lại trăn trở: “Điều gì để chữ quốc ngữ trở thành độc tôn của dân tộc?”. Các nhà nghiên cứu cho biết, liên quan tới việc xác định ngày kỉ niệm chữ quốc ngữ còn rất nhiều vấn đề cần bàn bạc để đi đến thống nhất. • Thu Thảo ========================================== Sao không ai quan tâm đến Chữ Khoa Đẩu vậy? Nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền đã uổng công tìm lại di chỉ hằng ngàn năm, một di chỉ mà liên quan đến mọi vấn đề của văn hóa Việt. Trong khi nội dung nói về CHỮ thì đề mục bài báo lại...đi lạc đề Trong khi người ta đang muốn truy tìm nét đẹp, tiện ích và ý nghĩa của chữ để đặt chữ lên bục tôn vinh giống như tìm ý nghĩa của chiếc bánh khi đem ra triển lãm thì một người lại lo thuyết minh về kỹ thuật làm bánh!
-
Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt Cơ Bản 09 - 2012
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Trung Tâm xác nhận đã nhận được chuyển khoản của bạn Tr***G***Đức, bạn nào có nick này đề nghị vào đây xác nhận và gửi hông tin về email info@lyhocdongphuong.org.vn như yêu cầu ở trên. Danh sách đã đóng tiền nhưng chưa hoàn thành việc cung cấp thông tin học viên : 1. chinhtabinhduong 2. eagle 3. Panda Hien 4. Bảo Nguyên 5. Lại Thành Công * 6. Tr***G*** Đức Các bạn có 2 tuần để hoàn thành việc cung cấp thông tin trước khi được vào lớp. Trân trọng -
Ai không nên ăn cua đồng (Phụ nữ ngày nay )Cua đồng là món ăn dân dã quen thuộc của người Việt Nam và là món ăn được ưa chuộng trong những tháng cuối hè, đầu thu - thời điểm cua ngon béo nhất. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể ăn nhiều. Món bổ, thuốc hay Về dinh dưỡng: sách Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam do viện Dược liệu (bộ Y tế) ấn hành cho biết, trong 100g thịt cua đồng chứa 12,3% protid; 3,3% lipid; 5.040mg% Ca; 430mg% P; 4,7mg% Fe; 0,01mg% vitamin B1; 0,51mg% vitamin B2; 2,1mg% vitamin PP; 0,12mg% vitamin B6; 125mg% cholesterol; 0,25mg% melatonin... Đặc biệt, mai cua có nhiều chất chitin. Theo kinh nghiệm dân gian, để trẻ nhỏ cứng cáp, nhanh biết đi, người ta dùng cua đồng làm sạch, bỏ chân, càng, mai, yếm, chỉ lấy mình cua, rang nhỏ lửa cho vàng và khô. Giã nhỏ, rây lấy bột mịn. Hàng ngày, dùng bột cua quấy với bột gạo cho trẻ ăn, mỗi lần 1 - 2 thìa nhỏ. Về dược tính: trong Lĩnh nam bản thảo, Hải Thượng Lãn Ông ghi: “Điền giải là tên gọi cua đồng. Ngọt lạnh, ít độc hay sinh phong. Nối gân, tiếp xương, chữa phong nhiệt. Trừ mụn độc lở, huyết kết thông”. Sách Namdược thần hiệu của Tuệ Tĩnh ghi: điền giải có vị mặn, mùi tanh, tính hàn, hơi độc, tác dụng liền gân, nối xương, trị nhiệt tả, ngộ độc, máu kết cục, lở ghẻ. Sách Dược tính chỉ nam của ông ghi: điền giải có tác dụng tán tà nhiệt trong lồng ngực, thông được kinh mạch, làm cho năm tạng khỏi buồn phiền, giải được độc do thức ăn, liền được gân, thêm sức cho xương, bổ ích khí lực, tống được các vật kết đọng trong người, phá được chứng ứ huyết do vấp ngã hoặc bị đánh chấn thương, sốt rét... xMột số thử nghiệm trong phòng nghiên cứu ở Nhật ghi nhận, dung dịch trích bằng ether hay ethanol từ cua đồng có hoạt tính làm hạ huyết áp ở mèo, làm co thắt bắp thịt tử cung nơi chuột, đồng thời kích thích sự bài tiết của các hạch nội tiết. Những người không nên ăn cua đồng Do cua đồng có tác dụng phá khối u, tống xuất khối cục tồn đọng nên đông y khuyên phụ nữ có thai tránh ăn cua đồng. Người đau ốm mới khoẻ, hệ thống tiêu hoá còn yếu cũng không nên ăn. Người có biểu hiện tỳ vị hư hàn (cảm giác sợ lạnh) cũng cần hạn chế. Nếu bị tiêu chảy, không ăn cua đồng. Gạch cua có nhiều cholesterol, nên người huyết áp cao, bệnh tim mạch cần hạn chế dùng. Khi ăn cua, nên ăn cùng lá tía tô, gừng để làm giảm bớt tính hàn. Cua đồng cũng chứa nhiều sodium và purines nên không thích hợp cho người bị bệnh gút.
-
@hoangvu Nhờ anh Thiên Đồng xem giúp em vấn đề này.Em là nữ Tân Dậu,Hỏi vào lúc 0h52 phút ngày 21/1/2012 dương lịch (Hà Nội). Hiện em có anh bạn đồng nghiệp trước giờ vẫn rất quý, tuy nhiên dạo gần đây em thấy anh ấy có biểu hiện lạ. 1- Vậy xin hỏi đó chỉ là tình cảm bạn bè khác giới hay có tình cảm nào khác? Coi chừng bị cưa! 2- Nếu là bạn bè thì về lâu dài có sinh chuyện không hay không? Có. Và có thể kết thân được không? Có. Người này chắc đang muốn có người nâng khăn kiểm ví dài lâu nè! Mong anh xem giúp để biết ứng xử em đang rất phân vân. Xin cảm ơn anh nhiều. Thiên Đồng Cảm ơn anh Thiên Đồng rất nhiều. Nhưng nghe xong câu trả lời của anh em không biết phải cười hay khóc nữa :( . Vì cả e và anh đồng nghiệp đều có gia đình rồi em sơ xuất không nói trước khi hỏi anh. Chính vì vậy em rất nóng lòng muốn hỏi anh. Vậy anh cho em xin hỏi thêm câu này nữa nhé. Nữ Tân Dậu hỏi vào lúc 20h00 ngày 15/2/2012 Dương lịch.1- Nếu tiếp tục giữ mối quan hệ bạn bè với anh đồng nghiệp trên liệu sau này có phát sinh tình cảm lăng nhăng ảnh hưởng đến gia đình không? Có. rắc rối. 2- Có 2 cái nhà gđ em định mua, 1 ở Thái Thịnh và 1 ở Xuân Thủy. Anh xem giùm em xét tổng thể thì cái nhà nào hơn, nên mua cái nào? (cái nào ở tốt hơn và giả sử sử sau này muốn bán đi thì cái nào tốt hơn) Cái nào xa hơn thì xấu, cái nào ở phía nam Hà nội thì tốt. Mong được anh trả lời giùm em. Chân thành cảm ơn anh.Chúc anh cùng gia đình một năm mới mạnh khỏe vạn sự như ý! @Tịnh Tâm nam, bính dần 1986 Lúc trước cháu có hỏi vợ tương lai của cháu chú nói rất chính xác, lấy nhau mới biết cô ấy rất khó chiệu, cứng đầu...thui nói gì thì nói cũng là vợ mình chon mà...hehe Hôm nay cháu xin nhở chú xem giúp cháu mấy việc nữa làm phiền chú nha 1. Với tính cách của vợ cháu như vậy liệu vợ chồng có ăn ở được với nhau đến đầu bạc răng long không ạ? Cô ấy có thương cháu nhiều như cháu thương cô ấy ko ạ? Hạnh phúc dài lâu đến răng sâu đầu bạc trọc. 2. Sau này sự nghiệp của cháu cô ấy có giúp có nhờ vợ ko ạ ít nhất cũng được tí chứ ạ( hay gia đình phía vợ cũng hộ trở chứ ạ)? Nhờ nhiều thứ. 3. vợ chồng cháu sau này có mấy đứa con ạ, đứa đầu là trai hay gái ạ? Có đủ gái trai chứ ạ, chúng có thông minh học giỏi hiếu thảo cha mẹ ko ạ? 4 đứa, gái đâu, thông minh năng động. Hơi nhiều câu hỏi mong chú xem giúp ạ...đó là những thắc mắc của cháu mong chú thông cảm. Cảm ơn chú nhiều Thiên Đồng
-
Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt Cơ Bản 09 - 2012
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Xác nhận Bảo Nguyên đóng 1.800.000đ HKI, 03 tháng, PTLV CB 09. Bảo Nguyên khai báo danh tính về địa chỉ này: info@lyhocdongphuong.org.vn -
Minh triết - Một không gian thoáng rộng để luận bàn về văn hóa Việt Nam(*) Trần Đình Sử VĂN hóa là nền tảng của sự phát triển xã hội, từ kinh tế, chính trị, khoa học, giáo dục, văn học nghệ thuật... Nhưng lâu nay chúng ta tập trung bàn về bản sắc văn hóa để phát huy và phòng chống ngoại lai, mất gốc, chúng ta cũng nghiên cứu văn hoá vật thể và phi vật thể để khẳng định nền văn hóa phong phú đa dạng trong quá khứ. Nay Hoàng Ngọc Hiến nêu vấn đề minh triết, mở ra một không gian mới, thoáng rộng để luận bàn về các giá trị tư tưởng của văn hóa Việt trong thời hiện đại, gợi mở nhiều ý kiến sắc sảo, thú vị. Cuốn sách Luận bàn minh triết và minh triết Việt của Hoàng Ngọc Hiến, ngoài lời giới thiệu của Nguyễn Khắc Mai, gồm có ba bài tiểu luận của tác giả: 1. Luận bàn về những vấn đề minh triết (Góp phần định nghĩa minh triết); 2. Tìm hiểu minh triết tam giáo trong văn hóa Việt Nam; 3. Sức mạnh văn hóa và sự phát triển của văn minh (Điểm duyệt những nguồn và giá trị của minh triết Việt Nam). Ông Nguyễn Khắc Mai, người viết lời giới thiệu cuốn sách cho biết, những người làm minh triết không phải muốn lập môn phái đua tranh với mọi người mà là xuất phát từ “những câu hỏi lớn chưa có lời đáp của bản thân đất nước ta, dân tộc ta, xã hội ta” trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, dân sự, đạo đức, lối sống mà đi tìm minh triết nhằm tìm cách lí giải thực tại và trả lời những câu hỏi lớn của thời đại. Đó là một động cơ rất đáng để tất cả chúng ta đồng tình. Trong tình hình đất nước đang có nhiều nguy cơ thách thức như hiện nay, mọi tìm tòi đóng góp đều đáng quí, bất luận là mới hay cũ, khoa học hay chưa khoa học. Có bệnh thì vái tứ phương, nhưng tại sao lại tìm đến minh triết? Theo giới thiệu của Hoàng Ngọc Hiến thì thấy ông trực tiếp chịu ảnh hưởng của nhà triết học Pháp F. Jullien (xem sách Minh triết phương Đông và triết học phương Tây, nxb. Đà Nẵng, 2004), đồng thời chịu ảnh hưởng của trường phái nghiên cứu văn hóa của Hoa Kì. Theo ông, nghiên cứu minh triết đang là trào lưu khai sáng mới ở Hoa Kì. Trang web Wisdom Pages có 17 triệu trang, ở đó, nhiều trí thức muốn thay kinh tế tri thức bằng kinh tế minh triết, thay giáo dục tri thức bằng giáo dục minh triết... và hiện nay nhiều người xem minh triết là quan trọng nhất, vì thiếu minh triết sẽ đưa nhân loại đến bờ vực thẳm. Tầm quan trọng của minh triết như thế là rất lớn. Thế nhưng đáng tiếc là hiện nay người ta vẫn chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về minh triết, bởi vì không phải mọi thứ trên đời đều định nghĩa được và đi tìm định nghĩa về minh triết có khi là việc làm thiếu minh triết. Trong 17 triệu trang nghiên cứu trên trang web ấy chưa thấy cung cấp một định nghĩa nào thỏa đáng cho vấn đề đang nghiên cứu, và ông cũng chưa giới thiệu một định nghĩa nào của họ. Tuy thế không thể không có định nghĩa minh triết là gì, dù là định nghĩa để làm việc. “Minh triết” là từ có trong sách cổ Trung Hoa. Theo Từ điển Hán ngữ đại từ điển “minh triết” có hai nghĩa. Một là chỉ sự hiểu biết, thông hiểu sự lí; hai là chỉ người có trí tuệ sáng suốt, thông tuệ. Trung Quốc cổ cũng có từ “minh triết bảo thân”, lúc đầu có nghĩa tốt, chỉ người khôn ngoan, biết tránh xa những việc có nguy hiểm, sau biến thành từ có nghĩa xấu, chỉ loại người hèn nhát, thấy việc nghĩa thì tránh né không dám làm, sợ phiền hà cho bản thân mình. Các từ đó không phải phạm trù tư tưởng triết học gì, càng không phải một bộ môn học thuật. Còn từ Wisdom trong tiếng Anh mà ông Hoàng Ngọc Hiến dịch là minh triết, ở Trung Quốc người ta dịch thành rất nhiều từ khác nhau: trí tuệ, hành vi sáng suốt, phán đoán chính xác, tri thức, học vấn, học thức, tài trí, thông minh, người hiền minh, danh ngôn, câu nói chí lí... chưa thấy ai dịch thành minh triết cả, mặc dù người Trung Quốc có sẵn từ minh triết. Có thể vì họ đã hiểu minh triết thành nghĩa xấu như đã nói trên. Có thể là họ chưa tìm được mối liên hệ giữa chúng với nhau. Xét các từ dùng để dịch chữ Wisdom thì thấy có ba nhóm nghĩa: một là học vấn, tri thức; hai là phẩm chất của sự hành xử thông minh, chính xác trong đời sống; ba là các câu nói chí lí. Đó chưa phải là thuật ngữ khoa học. Minh triết trong sách của Hoàng Ngọc Hiến có ý nghĩa như là một thuật ngữ, chỉ lĩnh vực trí tuệ, văn hóa đặc biệt của nhân loại và dân tộc thể hiện ở đạo lí đời thường. Ông nêu định nghĩa: “Minh triết là tính sáng khôn, thiên về diễn ngôn thoáng gọn, chủ yếu được sống và sống ở bình diện đạo lí đời thường, tuy vậy không xa lạ với đạo lí thánh hiền, thiên về cảm hóa lòng người hơn là quở trách thói đời.” (tr. 18). Không biết quá trình in ấn có làm rơi rụng bớt chữ nghĩa không, chứ như câu trích thì chưa đủ, chưa rõ. “Tính sáng khôn” là một chữ hay, nhưng của ai, ai được sống, có lẽ là phải nói tính sáng khôn của con người trong lối sống, của hành vi con người thì mới rõ nghĩa. “Tính sáng khôn”là một phẩm chất trong lối sống của con người. Hoàng Ngọc Hiến nói thêm: “Minh triết là biết sống khôn ngoan và hẳn hoi". Hình thức biểu đạt của nó là những diễn ngôn thoáng gọn, phạm vi thiên về đạo lí, khuynh hướng xây hơn là chống. Nhưng tại sao chỉ ở bình diện đời thường? Đời sống chính trị, ngoại giao, quân sự, lãnh đạo cũng cần tính sáng khôn chứ, sao lại không? Có vẻ như định nghĩa của Hoàng Ngọc Hiến chưa được hoàn bị. Trong quá trình diễn giải, Hoàng Ngọc Hiến còn cụ thể hoá minh triết hơn định nghĩa của ông, như chỉ ra nó gắn với nghiệm sinh, với nhu cầu cân bằng, hài hoà, thể hiện trong lối sống, minh triết không phải là bẩm sinh, không phải là tri thức... song vẫn còn mông lung. Tôi thấy khái niệm minh triết ở đây thực chất là trí tuệ hay là sự khôn ngoan. Tính sáng khôn chính là tính trí tuệ. Gọi minh triết cho lạ đi một chút nhưng đó là trí tuệ. Chữ trí tuệ trong từ điển Từ Hải giải thích có ba ý: một là năng lực nhận thức, phân biệt, phán đoán chính xác sự vật và phát minh sáng tạo; hai là tài trí, mưu trí; ba là giống như từ bát nhã (prajna) của nhà Phật, tức là khả năng hiểu thấu sự vật như trong thực tế. Tổng hợp cả ba nghĩa ấy thì trí tuệ là sự khôn ngoan nhân tính, phương thức, phương pháp chỉ đạo con người tư duy và hành động thành công trong đời sống, những bài học bất hủ của nhân loại. Trí tuệ, sự khôn ngoan không đồng nhất với tri thức, thể hiện trong tư duy, hành động, giải pháp thực tiễn, phải chăng trí tuệ là nội dung cốt lõi của minh triết? Người Trung Quốc hiểu đó là trí tuệ đời sống (trí tuệ nhân sinh, trí tuệ sống) và họ nghiên cứu trí tuệ sống trong các bộ sách lớn như Luận ngữ, Mạnh Tử, Tôn Tử... Người ta cũng nghiên cứu trí tuệ sống trong các bộ tiểu thuyết lớn như Tam Quốc, Thủy Hử, Hồng Lâu mộng, Liêu trai chí dị, Tây du kí... Có thể nói văn thơ chứa đựng một khối lượng lớn minh triết nhân sinh, bao gồm bài học làm người, bài học tự tu dưỡng, phương pháp thu phục nhân tâm, trị nước, tề gia, bình thiên hạ, cách tự hiểu mình, hiểu người, chiến lược, nghệ thuật để thành công trong sự nghiệp và cuộc sống.... Nêu các ví dụ này để mong có người để tâm nghiên cứu minh triết trong văn học Việt Nam. Mặc dù định nghĩa chưa hoàn thiện sáng rõ như thế, song tác giả Hoàng Ngọc Hiến vẫn nêu được những bình diện mới của văn hóa mà lâu nay, do chủ nghĩa khoa học, chủ nghĩa tri thức và nhiều lí do khác mà người ta chưa chú trọng đến nó. Điều quan trọng là đứng ở góc nhìn minh triết Hoàng Ngọc Hiến chỉ ra nhiều cách hiểu, việc làm thiếu minh triết trong đời sống, văn hóa. Ông đã phân tích rất hay câu nói của Marx: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người”, theo ông sự phát triển tự do đó là phát triển tự do các năng lực nhân tính của con người, và sự phát triển này thể hiện sự tôn trọng cá nhân, song tự nó cũng phải liên đới một cách tất yếu với tự do của mọi người. Ông cũng cho rằng, chỉ chủ trương công hữu, mà không coi trọng tư hữu cũng là thiếu minh triết, bởi chỉ khi con người có tư hữu thì nó mới phát triển năng lực nhân tính một cách hẳn hoi, bởi nếu thiếu tư hữu, con người khó mà phát triển tự do được. Minh triết đã cung cấp cho tác giả một tiêu chí để đánh giá lại những suy nghĩ việc làm, một chỗ đứng để phê phán, một căn cứ để hiểu sâu sắc nhiều giá trị cuộc sống. Ví dụ Hoàng Ngọc Hiến đã khẳng định “Không thể quên minh triết Hồ Chí Minh đương biểu hiện ngời sáng ở ngàn vạn tấm gương sáng và người tốt việc tốt đương xuất hiện khắp nơi trên đất nước, không kể trước đây họ từng ở phía nào của chiến tuyến. (tr. 54). Hoàng Ngọc Hiến đóng góp một suy nghĩ rất sâu sắc trong phong trào học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, bởi vấn đề cụ thể đặt ra là học gì ở Người? Ông trả lời cần học minh triết, trí tuệ của Hồ Chí Minh. Tư tưởng, đạo đức và trí tuệ không đồng nhất với nhau. Người ta có thể quy tư tưởng Hồ Chí Minh vào chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ, nhưng trí tuệ Hồ Chí Minh thì chỉ có thể quy vào minh triết. Chủ nghĩa có thể lỗi thời nhưng minh triết thì không. Đứng ở không gian minh triết Hoàng Ngọc Hiến trình bày những điểm rất thú vị về minh triết của tam giáo qua một số trường hợp cụ thể. Trước hết ông bàn về minh triết của Khổng Tử và Mạnh Tử, mà không phải nguyên lí của Khổng giáo nói chung. Ông bàn về tư tưởng “phản thân” hay có thể gọi là “phản thân luận”, tức là ý thức về trách nhiệm của cá nhân, sự tu dưỡng cá nhân thể hiện trong một loạt từ có kết hợp với chữ “tự” như tự trọng, tự tôn, tự ái, một phương diện mà Hồ Chí Minh rất coi trọng và đề xướng, nhà thơ Tản Đà cũng rất coi trọng. Hồ Chí Minh nói: “Không làm điều gì có hại cho danh dự mình, thế là chân chính và tự ái, mà ai cũng phải tự ái”. Hồ Chí Minh coi đó là phẩm chất quan trọng nhất của con người: “Ai cũng có lòng tự trọng tự tin, không có lòng tự trọng tự tin là người vô dụng". Tản Đà giải thích về tự ái như sau: “chút lòng tự yêu mình, tự tiếc mình - giữ cái tài ấy, cái đức ấy,... làm nên công đức ấy, sự nghiệp ấy.” Từ không gian minh triết ấy Hoàng Ngọc Hiến chỉ ra vấn đề hiện nay “chúng ta coi nhẹ loại quan hệ (hoặc trách nhiệm) đạo đức của cá nhân đối với bản thân mình". Hoàng Ngọc Hiến diễn giải nội dung của “tứ vô” của Khổng Tử, ông không theo các nhà nho ta, mà theo F. Jullien. Tôi không biết ông triết Tây dựa vào đâu, nhưng dựa vào các bản dịch Luận ngữ mà tôi biết thì thấy ông bàn xa quá. Ở Luận ngữ chương 9 mục 4, nguyên văn viết: “Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã”. Tôi có nhiều bản dịch ra bạch thoại. Người ta dịch về ý cơ bản giống nhau(1). Đó là: “Không Tử tuyệt đối không phạm bốn lỗi: đoán mò (ý); khẳng định tuyệt đối, ý nói không biết biến thông (tất); cố chấp (khư khư giữ) ý kiến của mình (cố); tự cho mình là đúng (ngã). Trong sách Hoàng Ngọc Hiến viết là “Tử tứ tuyệt” là đã sai. Về “vô ngã” (tự cho mình là đúng), Hoàng Ngọc Hiến hiểu “ngã” đây là “cái tôi đặc biệt. Khổng Tử không phủ nhận cái tôi, nhưng phủ nhận cái tôi đặc biệt.” (tr. 65) Nhưng “cái tôi đặc biệt” là gì, thì không giải thích. Cái đặc biệt của nó là luôn tự cho mình đúng, chỉ mình là đúng, còn thiên hạ đều ngu dốt, sai. Đúng là Khổng Tử không phủ nhận cái tôi. Điều này chúng tôi đã có dịp bàn đến trong công trình Về con người cá nhân trong văn học cổ (1997, 1998, 2010). Về “vô ý” Hoàng Ngọc Hiến giải thích: “Vô ý không có nghĩa là không có ý kiến mà có nghĩa là: không có ý kiến nào được dành đặc quyền, được tuyệt đối hoá khiến cho ta không nhìn thấy những điều hợp lí.” “Không tuyệt đối hoá một tư tưởng nào, quan tâm đúng mức mọi tư tưởng.” Rõ ràng, các ý diễn giải này chẳng liên quan gì đến ý trong câu của Khổng Tử. Người ta đã triết học hóa, phức tạp hóa những điều hết sức giản dị, thông thường, không phải là phạm trù triết học. Nhưng nguyên văn “vô ý” thì chỉ có nghĩa là không đoán mò, không phán đoán, suy đoán một cách chủ quan, tùy tiện, vô bằng cứ. Điều này cho thấy chỉ theo triết Tây để tìm hiểu minh triết phương Đông nhiều khi cũng là không được minh triết cho lắm. Vẫn biết suy luận như triết Tây có khả năng đẩy vấn đề lên mức phổ quát, dễ liên hệ với các vấn đề bức xúc hiện nay. Phải chăng vì vậy mà tác giả chọn Jullien? Tuy nhiên dù thế nào thì cũng phải ăn nhập với văn bản chứ. Hoàng Ngọc Hiến đã diễn giải minh triết trong “vô vi” của nhà sư Pháp Thuận theo tinh thần đạo học, diễn giải 14 điều Phật dạy. Mỗi diễn giải là một dịp nhìn lại đối chiếu với tình trạng văn hóa hiện thời đặng rút ra bài học. Mọi ý kiến bàn bạc của Hoàng Ngọc Hiến đều có cái đích hướng đến nhằm bồi bổ cho văn hóa hiện tại. Từ không gian minh triết rộng thoáng Hoàng Ngọc Hiến điểm duyệt những nguồn và giá trị của minh triết Việt Nam. Ông bắt đầu bằng sự phân biệt văn minh với văn hóa, một sự phân biệt theo tôi rất quan trọng. Theo ông, văn minh là những thiết chế và cơ chế kinh tế, pháp lí, xã hội, được đặt ra để bảo đảm trật tự và ổn định của đời sống xã hội. Văn hóa là tổng thể những tư tưởng triết học, đạo đức học, tôn giáo, mĩ học... được siêu thăng từ đời sống tinh thần của xã hội. Văn hóa phong phú và bền vững hơn nhưng thiết chế của văn minh nhất thời cai quản xã hội. Văn minh xã hội chủ nghĩa đã đổ vỡ từng mảng lớn, có mảng sụp đổ hoàn toàn. Văn minh phương Tây cũng đang khủng hoảng. Chúng ta đang ở trong sự khủng hoảng văn minh toàn cầu. Nếu biết trở về nguồn minh triết với tinh thần đổi mới từ những giá trị minh triết bền vững, đề ra được những tư tưởng căn cốt thì văn hóa Việt Nam có thể trụ lại được trong cuộc khủng hoảng này. Đó là lập luận để tác giả thẩm duyệt các nguồn và giá trị minh triết Việt. Nguồn thứ nhất là minh triết Việt. Từ Tam giáo đồng nguyên tác giả nêu ra tư tưởng khoan hòa, bao dung như là bản chất của văn hóa. Văn hóa càng phát triển thì càng khoan hòa, ngay trong sự phân tuyến, vì nó lấy lợi ích tối cao của sự phát triển dân tộc và tiến bộ xã hội làm mục đích. Thiếu khoan hòa thì làm sao thực hiện được mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, xã hội công bằng văn minh? (tr. 92). Thứ hai là nguồn phương Tây. Ngay trong thời Pháp thuộc trước đây sự cộng sinh văn hóa Việt với văn hóa phương Tây đã làm tiền đề cho văn hóa phát triển. Thời đại hội nhập tạo khả năng cộng sinh văn hóa toàn cầu cho văn hoá Việt Nam phát triển. Gốc của văn hóa là nhân bản. Muốn cho văn hóa dân tộc phát triển thì trước hết phải làm cho dân thoát khỏi cuộc vật lộn và bươn chải vì cơm áo, vì cuộc vật lộn đó khiến con người mất cơ hội phát triển. Ở đây ông phân tích rất hay câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập tự do". Sự phát triển nhân cách của con người liên quan đến chế độ sở hữu của nó, sự an sinh, nối tiếp bền vững của gia đình, dân tộc. Tất cả đều là gốc nhân bản. Hiện đại hoá không xa rời bản sắc dân tộc, học phương Tây nhưng hòa nhi bất đồng, không sao chép. Minh triết Phật giáo đề cao tiềm năng giác ngộ của mỗi người, đề cao hoài nghi để khẳng định quyền uy của trực cảm bản thân cá nhân. Đó là tinh thần phá chấp, không “chấp” bất kì cái gì có trước, của người khác, của ngoại vật. Mặc dù có bản sắc riêng, nhưng các nước phương Đông đã phát triển, các con rồng châu Á, trên thực tế là tiếp thu ngoài khoa học và công nghệ tiên tiến, chế độ tư hữu và quyền tư nhân, những thể chế dân chủ, nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường... thì mới hiện đại hóa được. Sự giao lưu văn hóa Đông Tây vấp phải “độ chênh” văn hóa của phương Tây và phương Đông, theo ý kiến của F. Jullien bao gồm nhiều điểm khá thú vị theo trật tự sau: quan niệm chân lí và thông lí; sự quan tâm hiệu quả và hiệu năng; tư duy bố cục và tư duy tương liên; cấu trúc giải phẫu người và cấu trúc năng lượng và nhiều điểm nữa. Mặc dù có độ chênh, nhưng sự tiếp nhận không đoạn tuyệt với kinh nghiệm, vẫn có khả năng bổ sung lẫn nhau, và tạo ra khả năng cùng nghĩ như nhau. Tôi thấy cách lập luận như thế là có triển vọng. Từ lâu Marx đã nhận định, cùng với sự phát triển của thị trường, sự hạn chế dân tộc bị giảm bớt và sẽ hình thành một nền văn học thế giới. Câu nói đó không chỉ đúng với văn học. Toàn cầu hoá kinh tế, toàn cầu hóa tri thức sẽ tạo ra khuynh hướng suy nghĩ không chỉ những vấn đề toàn cầu, mà còn hình thành những cách nghĩ chung về đời sống và phát triển. Tác giả không tán thành cách hiểu giản đơn siêu hình về đối lập Đông Tây về văn hóa. Tác giả cho rằng quan niệm bảo vệ bản sắc giản đơn không tích cực bằng cách phát huy và làm giàu văn hoá dân tộc, khiến cho nó đa dạng. Nói đến sự làm giàu văn hóa thì không thể bỏ qua vai trò sáng tạo của các cá nhân, tác giả đặc biệt quan tâm vấn đề thăng trầm của cá nhân luận văn hóa trong quá trình hiện đại hóa văn hóa Việt Nam. Thời trước 1945 chủ nghĩa cá nhân được giới thiệu theo nghĩa chính diện, sau những năm 50 lại được hiểu theo nghĩa xấu với khẩu hiệu “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, đối lập cá nhân với tập thể. Cho đến bây giờ vị thế của cá nhân vẫn chưa được khôi phục đầy đủ. Tác giả thừa nhận có quá trình tích lũy những yếu tố cá nhân hóa qua các thời trung đại, cận đại, thể hiện ở sáng tác của các nhà văn hoá lỗi lạc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Tú Xương, Tản Đà... và được phát triển với một thế hệ nghệ sĩ trước năm 1945 (tr. 126 - 127). Tôi vui mừng nhận thấy đó cũng chính là quan niệm của chúng tôi trình bày trong công trình của tôi và nhiều tác giả công bố đã nêu trên. Chúng tôi xin lưu ý rằng quan niệm cho rằng các dân tộc châu Á thời trung đại không có cái tôi cá nhân là quan niệm của các nhà nghiên cứu văn hóa phương Tây, họ coi đó là sự khác biệt căn bản của phương Đông và phương Tây, được nhiều nhà văn và nhà nghiên cứu văn học ta tiếp nhận. Chúng tôi coi đó là một dấu vết của “phương Đông học” phương Tây, dấu vết của diễn ngôn thuộc địa mà ngày nay chúng ta cần làm sáng tỏ lại. Tóm lại cuốn Luận bàn minh triết và minh triết Việt của Hoàng Ngọc Hiến là một công trình nghiên cứu văn hóa công phu, mới mẻ và có nhiều ý kiến đóng góp quý báu cho những ai quan tâm đến sự phát triển của văn hóa Việt Nam. Là nhà nghiên cứu minh triết ý kiến của tác giả rất khoan hòa, thiên về xây hơn là chê bôi, quở mắng, thái độ nghiêm túc, thận trọng nhưng rõ ràng, dứt khoát, chỉ một lòng mong muốn cho văn hóa Việt Nam phát triển, tiến bộ. ------------------ (*) Đọc Luận bàn minh triết và minh triết Việt của Hoàng Ngọc Hiến, nxb Tri thức, H., 2011, 149 trang. nguồn: http://vanhoanghean.vn/
-
Trí thức nửa mùa F.Oleshuk Iu. Giới trí đang bị nhiều người chỉ trích. Họ bị coi là người chịu trách nhiệm về những cuộc cải cách đầy tai hoạ hồi những năm 1990. Hơn nữa, có thể nhận thấy rõ xu hướng là người ta không chỉ lên án giới trí thức về chuyện đó, mà còn vì vai trò của họ trong lịch sử đất nước nói chung, bắt đầu gần như từ nửa sau thế kỷ XIX, tức là từ khi những nhà cách mạng “thông ngôn kí lục” bước vào con đường khủng bố. Những lời kết án mang tính khái quát như thế không làm ai ngạc nhiên. Chúng ta, một đất nước có truyền thống phản trí thức, một truyền thống đã mang đến không ít đau khổ cho cả trí thức lẫn nước Nga. Tác giả không có ý định phán xét trách nhiệm của giới trí thức về những việc mà người ta quy cho họ trong quá khứ (chủ nghĩa phiêu lưu chính trị, thái độ cuồng tín cách mạng v.v…). Nhưng là một nhân chứng của những sự kiện diễn ra trong giai đoạn cải cách – tức là những sự kiện diễn ra trong hai mưoi năm gần đây – tôi có thể đánh bạo mà khẳng định rằng: giới trí thức không tham gia vào việc đó. Cái dư luận xã hội đang đổ mọi tội lỗi lên giới trí thức, theo tôi là đã có một sai lầm căn bản. Nó cho rằng dường nó như biết được giới trí thức là gì và ai là những người trí thức vậy. Nói chung, hiếm khi tách biệt và xác định được bản sắc của giới trí thức – không phải ngẫu nhiên mà trong những câu chuyện về giới trí thức người ta luôn phải sử dụng những định thức khác nhau nhằm bổ sung và mở rộng khái niệm này (“giới trí thức sáng tạo”, “mang tính tích cực xã hội”, “cảm thấy có trách nhiệm đối với đất nước”, “sống bằng những nhu cầu tinh thần”). Nhưng trong trường hợp này vấn đề không phải là những người kết án giới trí thức đã sử dụng một phạm trù mà họ không hiểu (xin hãy hỏi họ trí thức là gì – nhất định họ sẽ bị lúng túng trong việc trả lời). Họ đã bỏ qua một sự kiện quan trọng nhất: Ở nước Nga, trong thế kỷ XX đã hình thành một tầng lớp xã hội, được coi là trí thức, nhưng trên thực tế lại không phải là như thế. Chính các đại diện của tầng lớp này, chứ không phải giới trí thức, đã đóng vai trò chủ yếu trong những cuộc cải cách đầy tai hoạ hồi những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ vừa qua. Đấy là tầng lớp trí thức nửa mùa. Dĩ nhiên là sau khi đã đưa ra định nghĩa, tác giả phải minh giải nó. Theo tôi tầng lớp trí thức nửa mùa được hình thành từ một kiểu người đặc biệt và tương đối phổ biến. Trước hết đấy là người có học, có văn hóa, lại thường giữ chức vụ chứng tỏ những phẩm chất đó của anh ta. Nhưng nếu tiếp xúc lâu ta sẽ thấy: trình độ học vấn, kiến thức của anh ta không nhiều, nhu cầu văn hóa cũng thiếu hụt. Thực chất, dù có mang một vẻ hào nhoáng trí thức bên ngoài thì đấy cũng chỉ là một “kẻ thất phu” mà thôi. Vâng, như một người trí thức, dĩ nhiên là anh ta quan tâm đến công việc xã hội. Tầm hiểu biết của anh ta dường như cũng vượt ra khỏi các nhu cầu và tính toán cá nhân nữa. Thế gọi là tầm hiểu biết! Thế gọi là có quan điểm về những chuyện đang xảy ra xung quanh! Thường là chỉ ở mức tán nhảm của mấy gã chợ trời mà thôi. Không cao hơn cũng không sâu hơn một tí nào. Một đặc điểm nữa – cũng là đặc điểm phân biệt anh ta với người trí thức chân chính – hoàn toàn không biết tư duy độc lập về các đề tài xã hội. Không, tư tưởng thì có thể có trong đầu, nhiều nữa là đằng khác, nhưng tất cả đều không phải của mình, tất cả đều là học mót được. Thái độ thuần phục giữ vai trò chủ đạo trong giới trí thức nửa mùa, đấy là quan điểm thịnh hành chung cho cả giai tầng này. Họ theo nó một cách tự tin vì những người này không thể tự nghĩ ra được quan điểm nào khác để thay thế cho nó. Tạo ra thái độ thuần phục là một việc đơn giản. Giới trí thức nửa mùa có đặc điểm là bao giờ cũng phải có thần tượng, những người có uy tín, những nhân vật để mà tôn sùng. Trong nước Nga xã hội chủ nghĩa thời gian qua, khi mà giới trí thức nửa mùa hình thành và phát triển, thì thần tượng của họ thường là những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa và văn học – những người tích cực về mặt xã hội, có tinh thần phê phán-tranh luận về các vấn đề xã hội. Giới trí thức nửa mùa lĩnh hội quan điểm về hiện thực xung quanh từ những người như thế. Một đặc điểm nữa của giới trí thức nửa mùa: thái độ hung hăng khi bàn về các vấn đề xã hội. Giới trí thức nửa mùa cho rằng mình là giai tầng đứng trên “quần chúng” và nói chung là đứng trên tất cả mọi thứ khác nữa. Giai tầng này có thói kiêu ngạo tập thể đặc thù và rất mạnh. Từ lâu họ đã tin tưởng rằng chỉ cần giao cho họ – giao cho những người đại diện của họ – quyền lực là mọi tai hoạ của đất nước sẽ được giải quyết ngay lập tức. Chứ còn gì nữa: họ chẳng phải là người truyền bá kiến thức đấy ư? Chẳng phải là những người có học nhất và thông minh nhất đang đứng trong đội ngũ của họ đấy ư? Xin ghi nhận một tính chất nữa của giới trí thức nửa mùa: không chịu “tu thân”, đấy là nói theo cách ngày xưa. Không chịu đọc bất cứ một cái gì nghiêm túc, không chịu suy nghĩ một cách rốt ráo về bất cứ đề tài nào. Thường thì công việc tư duy độc lập được thay thế bằng việc nghe lỏm ý kiến và đánh giá của các nhân vật có uy tín và tuân theo một cách vô điều kiện. Có lẽ, ít nhất là một phần, sự lười biếng và thụ động về trí tuệ như thế là do giới trí thức nửa mùa thực sự tin rằng mình đã là trung tâm của kiến thức rồi. Nếu không cần cố gắng mà vẫn là trung tâm thì cố gắng để làm gì? Cuối cùng, trí thức nửa mùa còn có đặc điểm nữa là tự ái về chính trị, một đặc điểm đương nhiên một khi người ta đã đánh giá mình cao đến như thế. Hóa ra là thế này: chúng tôi biết hết, chúng tôi có thể làm được tất – thế mà chúng tôi bị gạt ra khỏi quyền lực, ở đó chỉ toàn các “quan chức”, “toàn bọn quan liêu ngu dốt”, “tư duy hạn chế”. Đánh giá thấp về người khác và đánh giá quá cao về chính mình đã tạo ra thái độ tự ái về chính trị như một tâm trạng bền vững “nội tại” của giai tầng này. Đau đớn và phẫn nộ là thái độ thường trực của giai tầng đó. Như vậy là trí thức nửa mùa chỉ là một kẻ giả danh trí thức. Hắn dùng bằng cấp, chức vụ và phô trương thái độ quan tâm đối với các vấn đề xã hội để đóng giả. Hắn đóng giả cả cách giải trí, cả thói đam mê mang tính phô trương về tất cả những gì gọi là “văn hóa” nữa. Đây hóa ra là chỗ dễ phân biệt trí thức nửa mùa nhất. Thí dụ như trí thức nửa mùa lũ lượt đi nghe hòa nhạc trong nhạc viện. Đương nhiên là họ đặc biệt thèm khát được có mặt tại những buổi biểu diễn được mọi người chờ đợi – hiện diện tại những buổi biểu diễn của những diễn viên ngoại quốc hay nhạc sĩ tài danh. Nhưng sẽ thật thú vị nếu quan sát thái độ của đám trí thức nửa mùa này suốt buổi hòa nhạc đó. Họ cảm thấy cực kỳ chán nản! Đâu đâu cũng chỉ thấy những bộ mặt vô cảm, những ánh mắt đảo khắp khán phòng. Nhưng sau khi kết thúc thì đám đó lại nhiệt liệt vỗ tay, tỏ vẻ ngưỡng mộ, tôn kính diễn viên (nhạc sĩ). Có thể thấy bức tranh tương tự như thế trong một buổi triển lãm nghệ thuật có uy tín nào đó. Xếp hàng thì chen nhau, trong phòng thì uể oải, còn khi kết thúc thì lại tỏ ra ngưỡng mộ. Xin đưa ra một phác thảo nữa – về khát vọng (giả tạo) của giới trí thức nửa mùa trong việc tìm hiểu hiện tình, nhu cầu và đặc điểm của đất nước. Nói rằng đấy là việc quan trọng thì trí thức nửa mùa lúc nào cũng sẵn sàng. Nhưng làm việc một cách nghiêm túc thì lại là chuyện hoàn toàn khác. Thí dụ: cuối những năm 1980 có quyết định in toàn tập tác phẩm của V. Kliuchevski[1] và S. Solovjov[2], hai nhà sử học lớn nhất của nước Nga trước cách mạng. Lạy Chúa tôi, tầng lớp trí thức nửa mùa đã bị kích động đến mức nào! Họ đã tỏ ra hân hoan, tuy có hơi sớm, đối với các tác giả, đặc biệt là đối với Kliuchevski, đến mức nào. Vì họ đã nghe nói ở đâu đó: đây là một nhà tư tưởng đặc biệt, một người hiểu rõ quá khứ của nước Nga. Thế là giới trí thức nửa mùa tìm mọi cách đăng kí mua. Mua bán trao tay, còn bọn đầu cơ thì hét giá đến 300 thậm chí 400 rub, một khoản tiền lớn thời đó. Mua được – rồi sao? Trong hàng chục người đã đăng kí mua (tất cả đều là những trí thức cả về học vấn lẫn địa vị, một số còn là những nhà hoạt động văn hóa nữa) tôi chưa thấy một người nào đọc! Chưa một người nào! Mua về, đặt lên chỗ dễ thấy nhất – cho mọi người nhìn – thế là hết. Họ hết sức tự hào vì đã mua được những trước tác vĩ đại như thế. Lịch sử thì họ đã và vẫn đọc, nhưng không phải là thứ “nặng” như thế, chỉ là những cuốn sách phổ thông mà thôi. Độc giả có thể thắc mắc: đấy có phải là một giai tầng không? Có phải là một lực lượng chính trị, lực lượng xã hội không? Có thể đấy chỉ đơn giản là những người có học vấn trung bình mà ở đâu, đất nước nào, xã hội nào chả có? Đúng thế, ở đâu cũng có. Nhưng ở nước ta từ nửa sau thế kỷ XX họ đã tạo thành một lực lượng chính trị, lực lượng xã hội. Họ không còn là những cá nhân trôi nổi trong xã hội nữa. Tại sao? Thứ nhất, họ đông đảo đến mức đáng kinh ngạc. Lý do, theo tôi, là sự vội vã trong việc đào tạo hàng loạt, cụ thể là việc phát triển một cách ồ ạt, mang tính bề nổi các trường đại học – chuyên tu, tại chức, v.v…; mà ngay chính quy hóa ra cũng “chưa đủ tầm”. Rất nhiều người có bằng đại học, mà cùng với bằng cấp là quyền được tự coi là trí thức. Nhưng trên thực tế đấy chỉ là “nửa vời”. Thứ hai, điều này cũng không kém phần quan trọng, như đã nói bên trên, giai tầng này có thói kiêu ngạo chính trị: “Nếu có quyền chúng tôi có thể làm được hết”. Nguyên nhân của thái độ như thế không phải là điều bí mật. Một mặt, đấy là thái độ bất bình với môi trường sống đang ngày càng gia tăng trong toàn xã hội. Mặt khác, đấy là nhận thức cho rằng mình (do đông người và những quan niệm hời hợt) là một lực lượng mà “không có việc gì là khó” cả. Chỉ có những kẻ có suy nghĩ hời hợt mới có thái độ tự tin như thế vì họ quan niệm tất cả mọi thứ trên đời đều đơn giản. Kết quả là đám đông trí thức nửa mùa càng ngày càng trở thành giai tầng sẵn sàng tham gia hoạt động chính trị. Mà lại dựa vào cương lĩnh về những cuộc cải tổ và cải cách nhanh chóng nhất. Các giai tầng khác cũng tỏ ra bất mãn với nhiều vấn đề, nhưng không có thái độ kiêu ngạo chính trị như thế. Họ không hoạt động, họ chỉ bực bội và phàn nàn mà thôi. (Nếu ai còn nhớ thì đấy là bức tranh điển hình hồi những năm 1970-1980). Trí thức nửa mùa càng ngày càng khao khát lao vào trận chiến. Khát khao hành động thì đã có, nhưng tai hoạ là ở chỗ họ chưa sẵn sàng hành động và hoàn toàn không biết cần phải làm gì. Tình hình càng trầm trọng thêm bởi niềm tin mù quáng của giới trí thức rằng họ biết rõ cần phải “làm gì”, kể cả với hoàn cảnh, chỉ cần tạo điều kiện cho họ là mọi việc sẽ xong ngay tắp lự. Do đó mà trong khoảng giao thời những năm 1980-1990 trong tâm trạng xã hội, bên cạnh tâm lý bất mãn chung đối với cuộc sống lại xuất hiện một xu hướng tự tin rất mạnh mẽ rằng dường như mọi việc đều cực kỳ đơn giản, có thể chấn chỉnh và sửa chữa một cách dễ dàng. Niềm tin này chính là dấu hiệu để phân biệt trí thức nửa mùa và cũng là ngọn cờ chiến đấu của họ. Giới trí thức chân chính – những người lao động trí óc nghiêm túc, có nhiều kiến thức và có thói quen suy nghĩ độc lập – hoàn toàn xa lạ với thái độ ngang tàng như thế đối với các vấn đề phức tạp và quan trọng. Nhận thức được rằng mọi việc đều phức tạp và thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng là việc khó khăn, giới trí thức cảm thấy lo lắng và lúng túng. Nhưng trí thức nửa mùa thì, xin nhắc lại, lao vào chiến đấu. Giai đoạn “cải tổ” ban đầu đã trở thành chất xúc tác cho các hoạt động chính trị và cải cách của giới trí thức nửa mùa. Đất nước đang cần những thay đổi to lớn và nhanh chóng, đặc biệt là về kinh tế. M. Gorbachev, sau khi nhận thức được rằng những biện pháp thận trọng ban đầu sẽ không đem lại hiệu quả, buộc phải hướng về giới trí thức nửa mùa, phải dùng những kẻ đang khát khao những thay đổi như thế, mà cụ thể là những người làm việc trong lĩnh vực khoa học kinh tế và khoa học xã hội. Tôi không muốn nói rằng chỉ có những trí thức nửa mùa đóng vai trò cố vấn và “nói leo”, nhưng phần lớn là những người như thế. Nhưng Gorbachev đã nhanh chóng bị rát mặt vì những lời cố vấn của họ. Là một người nhanh trí, ông lập tức nhận ra rằng những lời gợi ý và khuyến nghị của họ thường chỉ có tính cách nghiệp dư và chẳng mang lại kết quả gì, đằng sau cái vẻ khoa học và hiểu biết mang tính trang trí của các cố vấn thì tất cả những khuyến nghị đó chẳng có giá trị gì hết. Xin ghi lại một hồi ức về thời đó. Lúc đó Gorbachev rất tin tưởng vào những khuyến nghị về kinh tế của Viện Kinh tế và Giám đốc Viện là viện sĩ L. Abalkin – một chuyên gia rất sâu sắc và có uy tín. Một lần Albalkin đến Viện Kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế và cay đắng nói rằng Tổng bí thư giao cho ông lập tại Viện một nhóm các nhà kinh tế gia tài năng để tạo thành “túi khôn” cho cải tổ, nhưng sau khi đã lùng khắp cả nước ông vẫn không tìm được ai: “Tất cả đều là các cán bộ tuyên truyền và những người tố cáo chủ nghĩa đế quốc, còn công việc thì chẳng có ai hiểu gì”. Dĩ nhiên đấy là câu chuyện về giới trí thức nửa mùa trong lĩnh vực kinh tế học. Gorbachev đã quay lưng lại với những trí thức bất tài. Kinh nghiệm đã thu thập được là lý do ông có thái độ coi thường đối với tác phẩm của nhóm G. Iavlinski và kết quả của nó, tức là kế hoạch “năm trăm ngày”, liên quan đến giai đoạn cải tổ kinh tế ban đầu. Lúc đó Gorbachev đã nhận thức được rằng ông đang có quan hệ với những người như thế nào. Nhưng trong lĩnh vực những cuộc cải cách kinh tế đã chín muồi ông chẳng còn biết đi theo hướng nào nữa. Ông kiên quyết từ bỏ các cố vấn thận trọng trong các cơ cấu quản lý, theo ông thì đấy là những kẻ chẳng được tích sự gì. Các trí thức hóa ra cũng là những người bất lực nốt. Trong nhiệm kỳ thứ hai ông quyết định dành nhiều công sức hơn cho lĩnh vực đối ngoại, cố gắng dùng thành tích trong lĩnh vực này nhằm trám lại những lỗ hổng uy tín quá lớn trong lĩnh vực kinh tế. Tâm trạng của giới trí thức nửa vời – không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn rộng hơn – trong giai đoạn này thì như thế nào? Có thể họ đã ngộ ra rằng chính sách cải cách không phải là một việc đơn giản? Rằng họ không có kiến thức về hiện tình của đất nước? Rằng cần phải suy nghĩ một một cách nghiêm túc và sâu sắc, phải tìm kiếm, biến mình thành những người nghiên cứu xã hội? Không có gì như thế cả. Giới trí thức nửa mùa đã không còn là nửa mùa nếu họ có khả năng làm như thế. Tự phân tích không phải công việc phù hợp với họ. Họ có những phản ứng hoàn toàn khác – đơn giản, cứng nhắc và rất kiên quyết nữa. Đấy cũng là đặc trưng của hệ thống tư duy của cả giai tầng này. Trí thức nửa mùa bắt đầu thuyết phục dư luận xã hội rằng tất cả là do lỗi của Gorbachev, rằng những lời cố vấn mà họ đưa ra hoàn toàn chẳng có vai trò gì. Và cả giai tầng này lập tức quay lưng lại với Gorbachev. Sau đó, cũng lại vẫn theo tinh thần của trí thức nửa mùa; họ lao ngay lên một nấc thang cấp tiến mới. Từ quan niệm đơn giản về cải cách và sự kiên quyết của mình, họ đòi: cần phải đập tan “toàn bộ hệ thống”. Chỉ có thế mới ăn thua. Họ lại cảm thấy mọi thứ cực kỳ đơn giản – chỉ cần kiên quyết hơn, “phá đến tận gốc” là xong. Đúng lúc đó trên sân khấu chính trị xuất hiện thêm một người còn đóng vai trò xúc tác mạnh mẽ hơn đối với năng lực chính trị và cải cách của giới trí thức nửa mùa, đấy là B. Yelsin. Sau những lời khẩn cầu về việc “minh oan về mặt chính trị” bất thành tại Hội nghị Đảng lần thứ XIX (1988), ông ta, một người đã hoàn toàn li khai với Đảng và hệ thống cũ, cần những cuộc cải cách theo xu hướng đập tan tất cả ngay lập tức. Tôi nghĩ đấy là do không chỉ vì ông ta tin rằng hệ thống cũ và Đảng không có khả năng giải quyết được những vấn đề của đất nước (những vấn đề quả là to lớn và đã tích tụ trong hàng chục năm hoạt động của hệ thống và Đảng) mà còn vì sau khi đoạn tuyệt, hệ thống và Đảng đã trở thành kẻ thù nguy hiểm của ông ta. Vì những tổ chức đó có thể phản kích, muốn cho Yeltsin sống sót về mặt chính trị thì cả Đảng lẫn hệ thống đều phải bị đập tan. Ai có thể soạn thảo và thực hiện một kế hoạch như thế? Chỉ có một lực lượng duy nhất, đấy là giới trí thức nửa mùa, sau giai đoạn kết hợp ngắn ngủi với Gorbachev, đã trở thành cấp tiến hơn. Việc phá huỷ toàn bộ đất nước hoàn toàn phù hợp với trình độ tri thức và quan điểm của họ. Họ không nghi ngờ gì – cũng như khi cố vấn cho Gorbachev – rằng mọi việc sẽ kết thúc một cách tốt đẹp nhất. Tầm hiểu biết không cho phép họ nghi ngờ. Xin nhớ lại không khí cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990. Trí thức nửa mùa giành được quyền lực một cách cực kỳ nhanh chóng, họ nắm trong tay nhiều toà báo, nhiều kênh truyền hình, đài phát thanh. Họ – đấy là nói về Moskva – thường xuyên tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, đưa một loạt diễn giả bốc lửa và cuối cùng đã làm chủ được công luận. Không khí thật là phấn khởi và tự tin: nếu chúng ta đập tan được “chế độ toàn trị” thì trong cái mũ này sẽ có những gì? Chỉ cần thực hiện xong những cuộc cải cách mang tính khai phóng – trong kinh tế và chính trị – thì sẽ có gấp đôi, đúng không? Chỉ có sự ngu dốt một cách cùng cực và con đẻ của nó là sự đơn giản hóa tối đa mới có thể dẫn đến thái độ lạc quan vô căn cứ như thế mà thôi. Mà đây chính là dấu hiệu cha truyền con nối của trí thức nửa mùa. Họ tỏ ra hân hoan và đưa ra những lời tiên tri, họ cố gắng làm cho người khác cũng nhiễm những hy vọng thiếu căn cứ, cứ như là ngay ngày mai chúng ta sẽ sống như ở Mĩ hay ít nhất thì cũng như Thụy Điển vậy. Chính họ chứ không phải tầng lớp hay nhóm xã hội nào khác. Còn đa số dân chúng thì tỏ ra thận trọng, lo lắng. Dưới trào Yeltsin (đặc biệt là giai đoạn đầu) trí thức nửa mùa phát triển hết cỡ. Có một quy luật với rất ít ngoại lệ: ý định cải cách càng vĩ đại thì càng có nhiều người tự tin và ít hiểu biết sẵn sàng thực hiện nó. Công việc như thế thường làm cho những người nghiêm túc, có suy nghĩ tỏ ra thận trọng, chứ không hấp dẫn được họ. Thậm chí đơn giản là làm cho họ sợ nữa. Đấy chính là điều đã xảy ra ở nước Nga vào đầu những năm 1990. Cái nhóm tiến hành công việc cải cách ấy gồm những ai? Cho đến nay, người ta đã viết hàng núi sách khác nhau đủ loại về nhóm người này. Nhưng dù sao giữa hàng loạt đặc điểm được nêu ra vẫn có một sự tương đồng. Đấy chính là những đặc điểm của giới trí thức nửa mùa. Thứ nhất, tất cả mọi người đều ghi nhận sự tự tin vô tiền khoáng hậu của nhóm những nhà cải cách-cấp tiến vào sức mạnh và khả năng của mình. Nói chung, dĩ nhiên đấy không phải là một phẩm chất xấu, nhưng khi chủ nhân của nó bắt tay cải tạo một đất nước cực kỳ to lớn và cực kỳ phức tạp thì nó đã trở thành chỉ dấu của sự kém hiểu biết, thiếu kinh nghiệm, thiếu suy nghĩ, đầy nguy hiểm và thật đáng sợ. Thứ hai, chả lẽ sự tự tin mà vốn hiểu biết lại cực kỳ nghèo nàn không phải là đặc trưng thường gặp ở giới trí thức nửa mùa hay sao? Thực ra đây là những thanh niên, những người mới hôm qua còn ngồi trên ghế giảng đường đại học, kinh nghiệm sống, chưa nói kiến thức chuyên môn, chẳng có bao nhiêu. Thứ ba, tốc độ và sự quyết liệt của các cuộc cải cách cũng chứng tỏ rằng đấy là những người kém hiểu biết, nếu hiểu biết họ đã không làm như thế. Đúng là trong số những nhà cải cách cấp tiến có những người “không còn trẻ”. Nhưng thật ra không nhiều. Sẽ lầm to khi cho rằng trí thức nửa vời không tìm cách luồn lách để trở thành tiến sĩ, giáo sư, viện sĩ, v.v… Tác giả những dòng này, người đã làm trong lĩnh vực khoa học xã hội trong một thời gian dài, rất thường được nhìn thấy “những kẻ hay chữ lỏng” tự tin với các học hàm học vị cao nhất. Mà tất cả những người có dính líu đến lĩnh vực này đều nhìn thấy – chỗ nào chả có mặt họ. Trong quan hệ của mình với đám người này, dĩ nhiên là Yeltsin đã lặp lại đúng con đường của Gorbachev. Ông đã nhanh chóng nhận ra bản chất của những nhà cải cách qúa tự tin. Ông cũng quay lưng với họ sau khi giải tán chính phủ Gaidar và thay bằng chính phủ của Trenomyrdyn. Không thể không nhớ lại làn sóng giận dữ và bất bình nhân sự kiện này trong phe hữu, nơi tập trung nhóm trí thức nửa mùa quyết liệt nhất. Trong hàng trăm bài báo, bài bình luận trên truyền hình và những bài phát biểu khác, những người cánh hữu kêu ầm lên về cái sự gần như là phản bội của Yeltsin đối với sự nghiệp cải cách. Tác giả những dòng này hoàn toàn không phải là người ủng hộ và sùng bái Yeltin, ngược lại là khác. Nhưng tôi không tán thành những lời kết án được những người cánh hữu coi là chuẩn mực, coi là có giá trị như một tiền đề lịch sử. Sau khi thấy kết quả đầy tai hoạ của “liệu pháp sốc”, Yeltsin còn biết làm gì ngoài việc quay lưng lại với những nhà cải cách-cấp tiến? Bởi vì khởi kỳ thủy các nhà cải cách này đã vẽ ra viễn tượng cực kỳ xán lạn. Sau khi khởi động cuộc cải cách, Gaidar dự đoán rằng sẽ có một giai đoạn suy giảm sản xuất, giá sẽ tăng không đáng kể – từ 70 đến 200% – còn sau đó tình hình sẽ nhanh chóng ổn định và kinh tế sẽ phát triển. Kết quả? Tất cả những gì có thể đổ vỡ đều đã đổ vỡ hết. Giá cả gia tăng không phải từng đó mà là hàng ngàn lần! Sản xuất lâm vào tình trạng phá sản. Thất nghiệp cao khủng khiếp. Cả Chiến tranh thế giới I lẫn Chiến tranh thế giới II đều không đưa được nước Nga vào tình trạng khủng hoảng như những cuộc cải cách đó! Cần phải đặt câu hỏi: chính khách nào còn tin vào những kẻ đã gây ra thảm hoạ như thế? Trên thế giới này không có một kẻ nào điên đến mức như vậy. Xin nói thêm vài lời nữa. Tác giả vẫn còn nhớ bài phát biểu đầy tức giận của Gaidar trên vô tuyến sau khi ông ta bị Yeltsin bãi nhiệm. Lúc đó ông ta đã cay đắng nhận xét rằng trong tình hình tuyệt vọng người ta mới cần đến ông, còn khi đã ổn định thì cho ra rìa (tôi nhớ chính xác ý của bài phát biểu là như thế). Đấy là gì: không muốn nhìn thẳng vào sự thật? Cố gắng cứu vớt uy tín? Hay là mánh khoé nữa của một chính khách đang tự cứu mình? Có thể. Nhưng tôi cho rằng, đặc biệt là dưới ánh sáng của đề tài đang được thảo luận, ở đây có một cái gì đó hoàn toàn khác và nghiêm túc hơn nhiều. Đây lại là thêm một biểu hiện nữa của sự vô năng cố hữu của giới trí thức nửa mùa trong việc tự phân tích với tinh thần phê phán. Sự vô năng là do kiến thức nửa vời và góc nhìn hạn hẹp. Như ta thấy, Gaidar đã thực sự tin (và hiện vẫn còn tin) rằng ông ta và những người cùng hội cùng thuyền với mình đã làm đúng. Còn kết quả không được như ý là do bị người ta cản trở. Trong đó có cả vị Tổng thống “đã quay lưng” lại với họ. Một sự kiện đáng ghi nhận: sau đó một loạt các nhà cải cách-cấp tiến đã hứa với công luận rằng sẽ phân tích sai lầm của chính mình. Cố gắng đầy tai tiếng trong việc xuất bản một tác phẩm viết về các cuộc cải cách, năm vị “sư phụ cải cách” nổi danh nhất đứng đầu là Trubais đã nhận được một khoản nhuận bút cao chưa từng thấy từ một đại gia, cuốn sách có trách nhiệm rọi “luồng ánh sáng” của tư duy phê phán như đã hứa hẹn vào những gì họ đã làm. Nhưng không thấy “luồng ánh sáng” nào cả. Vì sao? Vì biết bao nhiêu lời chỉ trích đã được nói lên từ tất cả mọi phía rồi! Dù là chỉ để tách gạo ra khỏi trấu (theo như những nhà cải cách-cấp tiến quan niệm) thì đáng ra người ta phải làm cái việc tự phân tích và xem xét những sai lầm từ lâu rồi. Tất cả các lực lượng chính trị đều sử dụng những biện pháp như thế. Tác giả cho rằng mình biết cách giải thích điều bí ẩn này. Vấn đề hoàn toàn có thể là các nhà cải cách-cấp tiến thực sự không nhận ra rằng họ đã làm không đúng. Với kiểu người của họ, với sự hỗn hợp giữa thái độ tự tin và thiếu kiến thức như thế, đơn giản là họ không thể nhận ra điều đó. Còn khi hứa xem xét những sai lầm của chính mình là họ cố tình đánh lừa, cố tình tạo ra hình ảnh một lực lượng chính trị nghiêm túc và có trách nhiệm, có khả năng tư duy lại quá khứ và như vậy là nhằm nâng cao hiệu quả chính sách của mình trong tương lai. Tác giả nhắm đến ba mục tiêu khi viết bài báo này. Thứ nhất, mục đích chung nhất là góp phần làm sáng tỏ sự kiện là phân bố lực lượng chính trị-xã hội mà chúng ta đã quen trong hàng chục năm, trong giai đoạn tiếp nối đầy tai ương giữa những năm 1980-1990 đã và vẫn không hoàn toàn là cách phân bố mà theo thói quen ta từng tưởng tượng. Tầng lớp trí thức mà ta tưởng là một tác nhân mạnh mẽ cho những biến đổi xã hội trên thực tế đã không phải là như thế. Nhân danh nó, giới trí thức nửa mùa, giống trí thức thực sự ở cái mẽ bên ngoài, đã nhảy lên sân khấu. Trên thực tế, đây là lực lượng cực kỳ thiển cận về mặt chính trị, họ sẵn sàng ra tay không phải vì hiểu được thực tế mà là do tự đánh giá mình quá cao. Nhân chuyện này tôi muốn quay lại với định nghĩa về giới trí thức. Người ta nói nhiều đến định nghĩa này đúng vào lúc giới trí thức nửa mùa bắt đầu ngoi lên. Giới trí thức nửa mùa đã đưa cuộc thảo luận đến kết luận rằng trí thức là người thiết tha với quyền lợi xã hội, chứ không phải quyền lợi cá nhân hạn hẹp, và tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh xã hội. Cách nhấn giọng như thế là có thể hiểu được. Nó ngầm kêu gọi ủng hộ giới trí thức nửa mùa vùng lên chống lại hệ thống, tiến hành đập tan hệ thống. Nhưng xin suy nghĩ thêm về định nghĩa này. “Thiết tha với quyền lợi xã hội” có phải là người trí thức không? Thế thì Hitler cũng được coi là người trí thức: hắn chả “thiết tha” đấy ư! Không, “thiết tha” không thể là tiêu chí được, tiêu chí phải là phẩm chất của cách tiếp cận với các vấn đề xã hội. Kiểu người, phương pháp tư duy, tính nghiêm túc, chiều sâu, trách nhiệm trước các hành động (nó còn là tính đạo đức nữa), kiến thức rộng do lao động miệt mài mà có. Và có thể không phải là vô tình mà người trí thức, tầng lớp trí thức lúc đó đã không được giải thích theo cách đó. Tác giả hoàn toàn không nhớ một trường hợp nào như thế. Nếu có thì giới trí thức nửa mùa đã lập tức bị đẩy ra khỏi tầng lớp trí thức, một giai tầng có uy tín của xã hội, ngay từ lúc đó. Trí thức nửa mùa mang danh trí thức là một hiện tượng cực kỳ nguy hiểm, chứa đầy tai ương. Khi họ làm những công việc bình thường thì tai hoạ không phải là lớn (mặc dù dĩ nhiên là vẫn có: kém hiểu biết bao giờ cũng kéo theo hậu quả tiêu cực). Nhưng khi trí thức nửa mùa bắt tay vào làm việc lớn (đúng hơn là kiên quyết giành lấy vì thái độ tự tin của mình) thì tai hoạ là không thể tránh khỏi. Mục đích thứ hai – góp phần, trong chừng mực có thể (tác giả không có chút ảo tưởng nào về khả năng này), để giới trí thức nửa mùa không thể tạo ra được ảnh hưởng trong lĩnh vực chính trị như trước đây được nữa. Mười năm vừa qua đã làm giới này rúng động một cách mãnh liệt nhất, nó đã yếu đi nhiều, đa phần đã “tan đàn sẻ nghé”, chuyển sang những mối bận tâm khác và sử dụng những khả năng khác. Nhưng không được đánh giá thấp “khả năng quay về” đỉnh cao quyền lực chính trị của giới trí thức nửa mùa. Dù chỉ là vì một nhóm, sau khi đã leo lên hồi cuối những năm 1980 – đầu những năm 1990 đang tìm mọi cách bám trụ, đã trở thành xu hướng hữu và cực hữu. Dĩ nhiên là trí thức nửa mùa đang và sẽ còn cố gắng thôi miên xã hội rằng họ biết cách giải quyết tất cả mọi vấn đề. Họ đang nói và còn tiếp tục nói một cách tự tin và xấc xược (hơn nữa, xin nhắc lại, chính họ – đúng hơn là nhiều người trong số họ – tin vào khả năng và sự đúng đắn của mình). Chỉ cần một phần dân chúng tin họ thì đấy sẽ là bi kịch không thể nào sửa chữa được. Nhưng nếu cuối cùng điều đó vẫn xảy ra thì rõ ràng số kiếp của chúng ta đáng phải như thế. Một xã hội, sau khi đã trải qua những thử thách khốc liệt nhất, không rút ra được bài học thì đừng hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Mục đích thứ ba – bảo vệ giới trí thức chân chính. Giúp rửa vết nhục trách nhiệm về những điều đã xảy ra với Tổ quốc ta trong quá khứ. Tầng lớp này, đáng tiếc còn quá ít, nhất là trên nền của giới trí thức nửa mùa, đã và tiếp tục làm những công việc quan trọng sống còn của đất nước. Bất cứ ở đâu, khi đem áp dụng kiến thức, sự nhẫn nại và cố gắng, họ cũng đều đạt đến nhận thức khách quan, đến nguyên nhân thật sự của tất cả các tiến trình và hiện tượng. Thật đáng tiếc là trong sự nghiệp cải cách, giới trí thức chân chính của chúng ta đã gần như bị giới trí thức nửa mùa say máu đỏ đen và xấc láo đẩy ra ngoài. Rất muốn tin rằng giới trí thức chân chính một lần nữa sẽ quay trở về với vai trò lịch sử của mình./. Nguồn: Tư tưởng tự do thế kỷ XXI, số 10, năm 2002, trang 27. Đã đăng trong tập tiểu luận Về trí thức Nga, Nhà xuất bản trí thức, Hà Nội, 2009. © Phạm Nguyên Trường (Bản tiếng Việt) _______________ Chú thích: [1] Kliuchevski V. O. (1841-1911), nhà sử học nổi tiếng người Nga. [2] Solovjov S. M (1820-1879), nhà sử học người Nga, Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Moskva từ năm 1871 đến năm 1877
-
Tướng Nga: Nếu cần, sau 20 phút là Nhật Bản đi tong 2/10/2012 10:46:00 PM | Lượt xem: 17661 Vân Hà VietnamDefence - Các máy bay ném bom chiến lược Nga đã làm cho Nhật Bản hoảng hốt. Nhật và Hàn cho hơn 10 F-15, F-16 lên ngăn chặn. Một tốp máy bay hùng mạnh của Nga hôm thứ tư đã bay sát không phận Nhật Bản ở khu vực quần đảo Hokkaido và Honshu. Tốp máy bay gồm 2 máy bay ném bom chiến lược Tu-95MS, 2 máy bay trinh sát chiến thuật Su-24 và 1 máy bay báo động sớm А-50. Chúng cất cánh làm nhiệm vụ tuần tra chiến đấu từ căn cứ Ukrainka ở Viễn Đông, Nga. Ở một số đoạn bay nhất định, chúng được các tiêm kích Su-27 hộ tống. Không quân Nga cho hay, trong chuyến tuần tra này, các tổ lái Tu-95MS tập luyện các kỹ năng bay trên địa hình không có vật chuẩn, tiến hành nhận tiếp dầu trên không từ 2 máy bay tiếp dầu Il-78. Thời gian bay tuần tra là gần 16 giờ. Các máy bay Nga tuân thủ nghiêm quy tắc quốc tế về sử dụng không phận trên vùng biển quốc tế, không vi phạm không phận Nhật Bản. Nhưng Nhật và Hàn Quốc đã phản ứng với cuộc diễn tập của Không quân Nga rất mạnh. Khoảng 10-13 máy bay tiêm kích F-15 và F-16 đã cất cánh từ các sân bay của hai nước này. Bộ Quốc phòng Nhật cho biết, các máy bay quân sự Nga lần đầu tiên bay gần không phận Nhật với số lượng đông như thế và máy bay A-50 cũng chưa từng bay sát biên giới Nhật đến thế. Chiếc A-50 đã được các máy bay đánh chặn lần đầu tiên chụp ảnh trực tiếp. Tokyo đã chính thức yêu cầu Moskva tránh thực hiện các chuyến bay như thế. Điều gì có thể ở sau chiến dịch trên của Không quân Nga và tại sao Nhật lại phản ứng dữ dội thế? Phi công thử nghiệm công huân, Anh hùng nước Nga, Đại tá về hưu Magomed Tolboyev cho rằng, chẳng có gì khác thường ở những chuyến bay như thế. Không quân chiến lược được gọi là chiến lược là vì thỉnh thoảng vẫn bay trên các vùng lãnh thổ khác nhau trên khắp thế giới. Máy bay chiến lược Nga vẫn đang bay trên Bắc Cực, cả trên Thái Bình Dương. Không hiểu, Nga đã làm phiền gì Nhật Bản. Nga từ lâu đã đến lúc thức tỉnh và thực hiện càng nhiều càng tốt các chuyến bay như vậy. Cần bay dọc theo biên giới trên không của cả Mỹ và cả Anh nữa. Còn về chuyến bay này chỉ có ý nghĩa thực tiễn hay hàm chứa ý nghĩa chính trị nào hay không thì ông Tolboyev nói rằng, nhiệm vụ chính của chuyến bay thì chỉ có Tổng thống Nga mới biết. Máy bay ném bom chiến lược chỉ cất cánh khi được Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang, tức Tổng thống Nga cho phép. Theo ông Tolboyev, đây là chuyến bay theo kế hoạch, để luyện tập các nhiệm vụ kỹ thuật. Ngoài Nga, chỉ có Mỹ có không quân chiến lược và họ cũng đang bay bằng B-52 gần không phận các nước trên toàn thế giới. Điều chủ yếu là không bay vào không phận của các nước khác, còn việc Không quân Nga tập luyện ở đâu thì chẳng liên quan đến ai. Còn việc Nhật Bản lo lắng thì luôn vẫn thế. Đó là vì họ sống gần hai nước lớn là Nga và Trung Quốc. Nhật thì dân số vừa quá đông, vừa có sự già hóa dân số. Đất nước này đang suy yếu nên cái gì họ cũng lo. Phó Chủ tịch Hội đồng chuyên gia quân sự, Thiếu tướng về hưu Aleksandr Vladimirov thì khẳng định, tất cả rất đơn giản. Nước Nga mà ai đó đã chôn cất, bỗng nhiên lại thể hiện là có khả năng làm cái gì đó. Các phi công Nga đã thực hiện các nhiệm vụ chiến lược. Nga đang cho thấy Nga đang tồn tại trong không gian này và có thể kiểm soát nó. Theo ông Vladimirov, Nga không cần để ý đến những la ó, cứ làm việc của mình, thể hiện sự hiện diện của mình ở đâu Nga cho là cần thiết. Nhật Bản đến lúc phải hiểu là không cần khua tay múa chân trước mặt Nga, đòi quần đảo Kurils. Cần bình tĩnh thỏa thuận. Việc người Nhật khiếp sợ như thế là tự nhiên. Họ không thích bất cứ biểu hiện sức mạnh nào của Nga. Về số lượng, các máy bay Nhật có lợi thế, nhưng so sánh sức mạnh hai tốp máy bay Nga, Nhật ở đây là vô nghĩa. Các máy bay ở các đẳng cấp quá khác nhau. Các máy bay chiến lược Nga bay hoàn toàn không phải để đánh nhau với các máy bay tiêm kích. Nếu cần, chúng sẽ phóng các tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân của mình và Nhật Bản sẽ không còn tồn tại sau 20 phút. Điều quan trọng ở đây là Nga lại xuất hiện trên không phận Thái Bình Dương. Nga phải hành động như Mỹ, họ thích thì họ cứ làm. Ông Vladimirov bình luận, nước Nga có thể hoặc là một đế chế, hoặc chẳng là cái gì. Trước đây, khi Nga còn là một đế chế, người ta tôn trọng và phải tính đến Nga. Sau đó, Nga đã bị “bạn bè” và kẻ thù hợp lực tiêu diệt và Nga biến thành chẳng là cái gì. Còn nay tư “chẳng là gì”, Nga đang cố đứng dạy. Hiện thời thì chưa thật thành công lắm, nhưng phương hướng đã được xác định. Và đó là điều đúng đắn. Nguồn: SP, 9.2.12.
-
@vaio88 Anh Thiên Đồng ơi, em cảm ơn anh nhiều lắm ạ. Anh thật tốt với chúng em quá, em xin chân thành cảm ơn anh đã xem cho chúng em. Anh Thiên Đồng ơi, em suy nghĩ nhiều và lo lắng nhiều quá, kính mong được anh xem giúp em thêm lần nữa thôi anh nha Em là nữ, sinh năm 1988 mậu thìn ạ Em xin hỏi lúc 19:57 ngày 19 tháng 2 năm 2012 dương lịch Câu 1: Chồng em sau này có phải là người mà em đang yêu sâu đậm không ạ? có phải sinh năm 1988 không ạ? Chồng em có yêu em nhiều như em yêu anh ấy không ạ? gia đình có hạnh phúc không ạ? không biết Câu 2: Em có khả năng làm giàu, nên danh tiếng, trợ giúp cho chồng con không ạ? Số em được nhờ chồng hay chồng sẽ được nhờ em ạ? Có. người giỏi dang. Chồng nhờ. Câu 3: Em có khả năng được đi công tác nước ngoài không ạ? sự nghiệp sau này có tốt và thành công không ạ? Sẽ có. Thành công và phát triển. Anh Thiên Đồng ơi, em nghe anh, sẽ cố gắng làm tốt công việc ở trường tư thục này, đúng là chuyển sang trường công sẽ rất khó khăn vì em không có quen biết... Nhưng em sợ em không phù hợp với nghề dạy học, mọi người đều bảo tính em hiền quá, không dạy được... Em cảm thấy bất an và lo cho sự nghiệp của mình lắm. Anh xem cho em thời gian kết hôn hay quá ạ, theo tử vi thì em cũng có hạn kết hôn vào năm nay và năm 2014 luôn ạ. Anh Thiên Đồng xem chính xác quá. Em cũng mong sẽ sớm kết hôn, ổn định gia đình, để Mẹ em không lo lắng nữa ạ. Bản thân em cũng lo nữa... Chúc hạnh phúc Em cảm ơn anh Thiên Đồng thật nhiều thật nhiều. Em kính chúc anh luôn luôn vui vẻ an lành và hạnh phúc ạ. @thanhliem Em hỏi giờ hợi ngày 28 tháng 1 năm nhâm thìn (âm lịch) 1 : chuyện tình cảm năm nay có gì tiến triển không ạ? Sẽ tiến triển một cách chắc chắn 2 : có một đề nghị làm ăn, kèo này có ăn nên làm ra không ạ? Không. Huề vốn là mừng. Em cám ơn huynh! @milulan Cháu chào bác mong bác xem qua cho cháu với ạh! Tuổi: Canh Ngọ ngày 19 tháng 2 năm 2012 dương lịch vào lúc 10:39PM Câu 1: Năm nay cháu có thể tìm được việc làm không ạh? Liệu cháu có thể kinh doanh được không? Chưa được việc. Mở ra kinh doanh được, có nhiều cơ hội. Câu 2: Cháu đang quen một người hơn cháu 6 tuổi, liệu năm nay có chuyện cưới xin không ạh? Có. Nếu không thì ít nhất cũng đặt vấn đề. Câu 3: Bác có thể tả qua giúp cháu chồng cháu là người như thế nào và làm công việc gì không ạh? Người ăn nói lưu loát, nhưng kiệm lời, thực dụng, tướng có da có thịt, không biết mơ mộng. @thuong135 Cháu chào chú Thiên Đồng! Cháu rất hay vào diễn đàn của lyhocdongphuong, thế không hiểusao mà đến giờ mới đọc được mục của chú. Cháu thấy hay và lạ quá chừng. Tại saoviệc đặt câu hỏi vào lúc mấy giờ lại có thể liên quan tới số phận con người đượcnhỉ? Biết đâu có những người hỏi cùng 1 lúc thì ra kết quả giống nhau à? và nếuđồng hồ sai 1 phút thì lại cho ra kết quả sai hay sao ạ?Chú có thể nói cho cháuqua về môn này được không? Lạ quá…Mà cháu đọc đi đọc lại vẫn không hiểu hỏi lúcmấy h là tính từ lúc nào? từ lúc đặt bút xuống viết (đúng hơn là đặt tay xuốngbàn phím gõ câu hỏi) hay là lúc up lên diễn đàn?:) Học đi rồi biết. thời gian hỏi ngay lúc gỏ phím Con người luôn có tính tham lam, và cháu cũng vậy. Vậy nêncháu tham lam hỏi tiếp chú câu nữa, mong chú đừng bỏ qua. Đó là xem giúp cháu với.:)Cháuhỏi lúc 22h28’ ngày 19/2/2012 (đấy là tính từ khi cháu bắt đầu gõ câu hỏi ). Cháutuổi canh ngọ (1990) Cháu muốn hỏi chú 3 câu, đó là: Sắp tới cháu ra trường đi làm thì cháu sẽ làm ngành gì ạ? ( nghề nghiệp chính mà mình sẽ theo suốt cuộc đời, chứ không phải ngành nghề làm thêm linh tinh đâu ạ!). Cháu muốn hỏi vậy để xác định con đuờng học tập, vì cháu không định theo ngành mình đang học... Các ngành thuộc văn hóa, nghệ thuật, mỹ thuật, giao tiếp, bán hàng, tổ chức sự kiện.. Cháu nên lấy chồng vào tháng nào, năm nào? Và cả sinh con vào lúc nào nữa? ( Người yêu cháu sn 1984. Chúng cháu dự định cuối năm nay cưới mà không biết có tốt không?) Nam 1984, giáp tý, đang trong tam tai nên không cưới năm nay, sang năm cưới. Bố mẹ cháu sau này có thể mua đất và sinh sống ở Hà Nội không? được, nhanh thì 3 năm. Cháu kết thúc câu hỏi lúc 22h37’ cùng ngàyJ. Rất mong chú Thiên Đồng giúp cháu. Cảm ơn chú nhiều ạ! @hoatra90 Chào chú TĐ! Mong chú cho cháu câu trả lời ạ. Nữ, tuổi canh ngọ Hỏi vào 20/02/2012 (dương lịch) 9h5' AM. 1. Cháu mắc bệnh nội tiết về da từ 2010 đến giờ chưa khỏi, dù đã chữa ở nhiều nơi rồi. Đến khi nào bệnh của cháu mới khỏi dứt ạ? 6 tháng hoặc 1 năm sau. 2. Cháu sẽ lập gia đình năm bao nhiêu tuổi? nhanh 3 năm chậm thì 8 năm nữa. 3. Cuộc sống gia đình có hạnh phúc không ạ? Hạnh phúc Cháu cảm ơn chú. @tamly Em cảm ơn chú nhiều lắm...mạo muội nhờ anh xem giúp em lần nữa ạ: Nam bính dần 1986 1. Công việc của em đang làm rất nhàn nhưng đi sớm về muộng rất vất vả lương lại ít nữa, em tính chuyển làm việc khác anh xem liệu chuyển làm công việc khác có tốt hơn ko hay em vẫn làm công việc cũ? nên chuyển công việc, dù có khó hơn nhưng đúng sở thích hay chuyên môn. 2. Nhà em có mấy miến đất mẹ em định bán để lấy tiền buôn bán cho lớn liệu có bán được ko anh? hay chờ khi trúng dự án để được đền bù nghe nói dự án lớn nên đền bù giải tỏa giá rất cao bởi dậy mẹ em đang phân vân ko biết có bán hay chờ trúng đất của dự an anh xem giúp em cái? Chưa bán được, chờ đền bù (chưa biết giá cao hay không). 3. Ba mẹ vợ hứa hổ trợ cho vợ chồng em cái xe máy ko biết có toại nguyện ko anh? và ít vốn để buôn bán nữa anh xem có nhiều ko khoảng vài chục triệu...? Được như ý. Cảm ơn anh nhiều. hỏi lúc 9h49" AM @htt Chào Anh Thiên Đông Hỏi lúc 9h58phut ngày 20/2/2012. Nam lá số tử vi : http://www.lyhocdong...w=screen&size=2 Anh cho em hỏi: Câu hỏi 1: Cuối năm này định mở quán cà phê. Liệu có nên mở hay không? Được, khoảng tháng 10 âm Câu hỏi 2: Khoảng tháng 3 âm lịch vợ chuẩn bị sinh. Con sinh ra khoẻ mạnh, dễ nuôi không? Tốt lành. Bé gái. Câu hỏi 3: Sinh đứa con này vợ chồng có làm ăn khấm khá không, vợ chồng có hạnh phúc không? Tạm ổn.