-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
@lovestory_87 Anh Thiên đồng cho em đăng ký với: Em tuổi Bính Dần (sinh ngày 10/12/1986 - âm lịch). Hỏi vào ngày 28/02/2011, vào 22 giờ 33 phút. Em xin hỏi: 1. Công việc của em năm nay có tốt đẹp, mỹ mãn không? Công việc năm nay vất vả, đôi khi gặp nhiều chuyện kh6ng hay dễ bị mất của hay tiểu nhân quậy phá. Nhưng cơ bản là được. 2. Năm nay em sẽ có người yêu chứ ạ? Nếu có thì tháng mấy sẽ gặp và đây có phải là chồng tương lai của em hay không? Chồng có là người tốt? và nếu có thể anh nói qua về hoàn cảnh gặp gỡ cho em biết với ạ. Ế tình, tháng 8 âm có người để ý. Sau nay lấy chồng khá giả gặp nhau trong lúc cả hai đều ế độ, 3. Tiền bạc của em năm nay có khấm khá không ạ? không khá. Em cám ơn anh nhìu nhìu!!!! Chúc anh và gia đình năm mới vạn sự như ý :) @Hoacucvang Chào anh Thiên Đồng, Mong anh thu xếp để có thể xem giúp Hoacucvang vài câu. Bắt đầu hỏi từ lúc 23h 49 PM ngày 28 tháng 2 năm 2012. (xin lỗi vì đã hỏi anh quá khuya) Nữ: sinh tháng 9 năm 1980 Canh Thân - Thạch Lựu Mộc 1. Hoacucvang đang làm ở một cơ quan nhà nước, và cũng có làm thêm cho một công ty nước ngoài. Công việc làm thêm này rất tốt. Hoacucvang muốn hỏi liệu Hoacucvang có làm công việc này được lâu bền không? Công việc tốt lâu bền và lợi lộc to. 2. Hoacucvang muốn nghỉ/chuyển việc tại cơ quan cũ sang nơi khác. Đã xin nghỉ/ chuyển một lần rồi mà không được. Không biết khi nào có thể xin nghỉ ở đây để đi được? Nếu có thể đi được thì công việc mới có làm công việc chuyên môn đó nữa không, hay làm chuyên môn khác? (Gia đình cha mẹ chỉ thích Hoacucvang làm công việc hiện tại thôi cho đúng chuyên môn đã ăn học, Hoacucvang cũng thích công việc này, nhưng... càng ngày càng chán, mà bỏ thì... tội quá) Không chuyển được. muốn đi thí sang năm mới được. Nhưng cố gắng đi trong năm nay thì trong tháng 4 âm không đi dược thì chắc chắn sang năm. 3. Các con của Hoacucvang có ngoan và học giỏi không? Sau này có thành người có ích cho xã hội không? Con cái thật hiếu động, sáng dạ, thông minh, sau sẽ thành đạt nổi tiếng về một lĩnh vực nào đó. Cám ơn anh Thiên Đồng. Chúc anh vạn sự tốt lành. Hoacucvang. @ Chilam Cháu chào bác Thiên Đồng! Bác có thể trả lời giúp cháu vài câu hỏi được không ạ! Cháu sinh ngày 10/12/1982 và chồng cháu sinh ngày 20/8/1981, cháu có một bé gái sinh ngày 24/3/2011 (dương lịch). Bắt đầu hỏi từ lúc 20 giờ 53 phút ngày 29/2/2012 (nhằm ngày 9/2/2012 al) Bác cho cháu hỏi 1. Khi nào cháu có nhà riêng? nhanh thì 4 nam chậm thì 8 năm 2.Cháu có sinh thêm bé nữa không? Con trai hay gái. Con cháu có ngoan không? nên sinh thêm đứa 2019, trai gái đều tốt. 3. Cuộc sống vợ chồng cháu có hòa thuận không, sống với nhau trọn đời không? tốt đẹp an lành hạnh phúc Cháu cám ơn Bác. Chúc Bác nhiều sức khỏe. Thiên Đồng
-
thiên tai tăng nặng... =================== Cháy rừng ở Sa Pa (TNO) Theo nguồn tin của Thanh Niên Online, tại xã Séo Mí Tỉ, H.Sa Pa (cách TP.Lào Cai khoảng 60km) đang xảy ra vụ cháy rừng khá lớn. Vụ cháy được phát hiện vào khoảng 13 giờ 30 phút trưa ngày 2.3. Tính đến chiều 4.3, vụ cháy rừng đã xảy ra được 3 ngày, nhưng chưa có biện pháp dập lửa hữu hiệu nào được triển khai. Nguyên nhân ban đầu được xác định là do người dân đốt than bất cẩn đã gây cháy. Nguồn tin của chúng tôi cũng cho biết thêm, hiện tại có khoảng 300 người đang gắng sức phát đường băng để ngăn đám cháy lan rộng. Cho đến chiều 4.3, ngoài nỗ lực này thì chưa có biện pháp dập lửa nào được triển khai. Tất cả đang mong chờ đêm nay sẽ có mưa xuống dập tắt đám cháy. Hiện nay gió tại khu vực H.Sa Pa đang rất mạnh khiến đám cháy có nguy cơ lan rộng thêm. Thanh Hội - Lê Quân
-
52 第五二象 乙卯 乾下坤上 泰 谶曰: 慧星乍见 不利东北 踽踽何之 瞻彼乐国 颂曰: 枪一点现东方 吴楚依然有帝王 门外客来终不久 乾坤再造在角亢 金圣叹:此象主东北被夷人所扰,有迁都南方之兆. 角亢南极也。其後有明君出,驱逐外人,再度升平 Đệ ngũ nhị tượng: Ất Mão Kiền hạ Khôn thượng Thái Sấm viết: Tuệ tinh sạ kiến, bất lợi Đông Bắc, củ củ hà chi, chiêm bỉ nhạc quốc Tụng viết: thương nhất điểm hiện Đông phương, Ngô Sở y nhiên hữu đế vương môn ngoại khách lai chung bất cửu, Kiền Khôn tái tạo tại Giác Kháng Kim Thánh Thán: thử tượng chủ Đông Bắc bị di nhân sở nhiễu, hữu thiên đô Nam phương chi triệu, Giác Kháng Nam cực dã, kì hậu hữu minh quân xuất, khu trục ngoại nhân, tái độ thăng bình Lược dịch: Sấm viết: chợt thấy sao Tuệ, chẳng lợi (ich nơi) Đông Bắc, lủi thủi một mình làm chi ?, nhìn xem nước bên cạnh vui thích. Tụng viết: một ngôi sao chổi nhỏ bé hiện ra ở phương Đông, Ngô Sở vẫn cứ như cũ có được đế vương, khách đến ngoài cửa chẳng lâu sau, Kiền Khôn tạo lại (nơi ngôi sao) Giác (Giốc) Kháng (Cang). Kim Thánh Thán: tượng này chủ nơi Đông Bắc bị người (nước) bên cạnh quấy rối, có triệu chứng dời kinh đô về phương Nam, sao Giác Kháng ở cực Nam vậy, về sau có vua sáng xuất hiện, xua đuổi người ngoài, làm cho được yên bình. Các nhà Thiên Văn Học chia bầu trời ra 4 hướng : Đông Tây Nam Bắc . Mỗi hướng gồm có 7 chùm sao . Hay là 4 hướng x 7 chùm sao = 28 chùm sao . Ngày nay chúng ta thường gọi là Nhị Thập Bát Tú Bảy chòm sao hợp lại thành một phương trời và được biểu tượng thành một con vật có mầu sắc theo sự phối thuộc của ngũ hành- Phương Bắc là con rùa đen gọi là Hoa Cái (Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích). - Phương Tây là con hổ trắng gọi là Bạch Hổ (Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chuỷ, Sâm). - Phương Nam là con phượng đỏ gọi là Phượng Các (Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn). - Phương Đông là con rồng xanh, gọi là Thanh Long (Giốc, Cang, Đê, Phòng Tâm Vĩ, Cơ). 53 第五三象 丙辰 乾下震上 大壮 谶曰: 关中天子 礼贤下士 顺天休命 半老有子 颂曰: 一个孝子自西来 手握乾纲天下安 域中两见旌旗美 前人不及後人才 金圣叹:「此象有一秦姓名孝者,登极关中,控制南北,或以秦为国号,此一治也 Đệ ngũ tam tượng: Bính thần Kiền hạ Chấn thượng Đại Tráng Sấm viết: quan trung thiên tử, lễ hiền hạ sĩ, thuận thiên hưu mệnh, bán lão hữu tử Tụng viết: nhất cá hiếu tử tự tây lai, thủ ác kiền cương thiên hạ an, vực trung lưỡng kiến tinh kì mĩ, tiền nhân bất cập hậu nhân tài Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất Tần tính danh hiếu giả, đăng cực quan trung, khống chế Nam Bắc, hoặc dĩ tần vi quốc hào, thử nhất trì dã Lược dịch: Sấm viết: vua ở Quan Trung (ở nơi giữa cửa), lấy lễ hiền với kẻ sĩ ở dưới, thuận lòng trời sai khiến mệnh lệnh, đến gần già mới có con. Tụng viết: có một đứa con hiếu nghĩa đến từ phía Tây, cầm nắm lấy kỷ cương thiên hạ yên lành, bờ cõi cờ quạt cả hai thấy đẹp đẽ, người thời trước chẳng theo kịp được sự tài giỏi của người thời sau. Kim Thánh Thán: tượng này có một tên họ Tần hiếu thảo vậy, lên cao ở Quan Trung (chính giữa, đứng đầu ngôi chính giữa …), cầm nắm cai quản Nam Bắc, hoặc là lấy pháp chế (từ thời) nhà Tần làm pháp chế (cai trị nước coi như là) quốc bảo. 54 第五四象 丁巳 乾下兑上 谶曰: 磊磊落落 残棋一局 啄息苟安 虽笑亦哭 颂曰: 不分牛鼠与牛羊 去毛存悺称强 寰中自有真龙出 九曲黄河水不黄 金圣叹:「此象有实去名存之兆,或为周末时,号令不行,尚颁止朔:亦久合必分之徵也 Đệ ngũ tứ tượng: Đinh Tị Kiền hạ Đoái thượng Sấm viết: lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức cẩu an, tuy tiếu diệc khốc Tụng viết: bất phân ngưu thử dữ ngưu dương, khứ mao tồn (cách 革 – hưởng thượng 尚饗 ) xưng cường, hoàn trung tự hữu chân long xuất, cửu khúc Hoàng Hà thủy bất hoàng Kim Thánh Thán: thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt thì, hào lệnh bất hành, thượng ban chỉ sóc:diệc cửu hợp tất phân chi trưng dã Tạm dịch: tài cán hơn người, cờ tàn một cuộc, trác tức 啄 息 (than thở, thở ngắn thở dài từng cơn, thở phào ra …) tạm yên, tuy cười lại khóc. Chẳng chia ra trâu (với) chuột cùng với (hay là) trâu (với) dê, nhổ (bỏ, vặt) lông còn 悺? (cách革: da, đổi, bỏ) hoặc là (hưởng 享: hưởng thụ, dâng lên, thết đãi) - thượng hưởng (ngõ hầu mới được hưởng mà) xưng (là) mạnh, trong cõi giữa tự có chân long (thánh quân) xuất hiện, chín khúc hoàng hà nước chẳng vàng. Tượng này có điềm báo chứng thực là bỏ danh (xưng, hiệu …) để tồn tại, hoặc là thời kỳ mạt 末 (cuối cùng) gây nên khắp nơi, hiệu lệnh ban ra chẳng (nơi nào chịu) thi hành, trên mới ban ra ngừng lại (đình chỉ), chứng cớ là ấy (bởi vì) hợp lâu ắt hẳn (có ngày phải) phân chia ra. Đại loạn bình 大乱平, tứ di phục 四夷服, xưng huynh đệ 称兄弟, lục thất quốc 六七国” Bản đồ Trung Quốc nếu phân chia ra 55 第五五象 戊午 乾下坎上 谶曰: 惧则生戒 无远勿届 水边有女 对日自拜 颂曰: 觊觎神器终无用 翼翼小心有臣众 转危为安见节义 未必河山是我送 金圣叹:「此象有一石姓或刘姓一统中原,有一姓汝者谋篡夺之,幸有大臣尽忠王室,戒谨惕励,一切外侮不灭自灭,虽乱而亦治也。 Đệ ngũ ngũ tượng: Mậu Ngọ Kiền hạ Khảm thượng Sấm viết: cụ tắc sanh giới, vô viễn vật giới, thủy biên hữu nữ* , đối nhật tự bái Tụng viết: kí du thần khí chung vô dụng, dực* dực tiểu tâm* hữu thần chúng, chuyển nguy* vi an kiến tiết nghĩa, vị tất hà sơn thị ngã tống Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất Thạch tính hoặc Lưu tính nhất thống trung nguyên, hữu nhất tính nhữ giả mưu soán đoạt chi, hạnh hữu đại thần tẫn trung vương thất*, giới cẩn dịch lệ, nhất thiết ngoại vũ bất diệt tự diệt, tuy loạn nhi diệc trì dã Lược dịch: Sấm viết: sợ phép tắc pháp luật (nên) sinh ra phòng bị, chẳng xa chớ (nên) đến, ven (bờ) nước có (con) gái, đối (diện) mặt trời (mà) lạy. Tụng viết: (cho dầu có cầu) mong (hay là mong ước) thần (thánh) (rồi) sau (cũng) chẳng (có) tác dụng (hay công dụng gì cả), tâm nhỏ (hoặc là: lòng khinh thường, tâm hẹp hòi mà ôm ấp) che chở (cho) bầy tôi mọi người, (vì) tiết nghĩa (nên) chuyển nguy làm (nên) yên ổn, chưa hẳn (là) sông núi (đã) ấy đưa (tới) (hay là trở về) cho ta. Kim Thánh Thán: tượng này có một danh tánh họ Lưu hoặc là họ Thạch (tập) hợp lại (được) ở giữa (nước, quốc gia), (rồi) có một tên (người khác) người ấy mưu mô soán đoạt (tranh dành quyền lực), may (mắn là) có đại thần hết lòng trung (thành với) nhà vua, đề phòng cẩn thận (cố) gắng (hết) sức, hết thẩy (sự) khinh thường (lấn áp) bên ngoài không tan rã (cũng bị) tự tan mất, tuy loạn mà lại (vẫn được cai) trị (họ Lưu hay họ Thạch ngồi lại được, tại chức không bị truất phế). Đồ hình này là để tiếp diễn đồ hình 54 “thử tượng hữu thật khứ danh tồn chi triệu, hoặc vi chu mạt 末 thì, hào lệnh bất hành”. Một bản Thôi Bối đồ khác bổ xung những chữ bị mất. sấm viết: lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức cẩu an, tuy tiếu diệc khốc. tụng viết:bất phân ngưu thử dữ ngưu dương, khứ mao tồn (cách 革 – thượng hưởng 尚饗) xưng cường, hoàn trung tự hữu chân long xuất, cửu khúc Hoàng Hà thủy bất hoàng Tạm dịch: Sấm viết: tài cán hơn người, cờ tàn một cuộc, trác tức (than thở, thở ngắn thở dài từng cơn, thở phào ra …) tạm yên, tuy cười lại khóc. Tụng viết: Chẳng chia ra trâu (với) chuột cùng với (hay là) trâu (với) dê, nhổ (bỏ, vặt) lông còn? (cách 革: da, đổi, bỏ) hoặc là (hưởng 享: hưởng thụ, dâng lên, thết đãi) – thượng hưởng 尚饗(ngõ hầu mới được hưởng mà) xưng (là) mạnh (cường quốc), trong cõi giữa tự có chân long (thánh quân) xuất hiện, chín khúc hoàng hà nước chẳng vàng. “lỗi lỗi lạc lạc, tàn kì nhất cục, trác tức (thở phào ra) cẩu an (tạm yên), tuy tiếu diệc khốc”. 56 第五六象 己未 坤下坎上 比 谶曰: 飞者非鸟 潜者非鱼 战不在兵 造化游戏 颂曰: 海疆万里尽云烟 上迄云霄下及泉 金母木公工幻弄 干戈未接祸连天 金圣叹:「此象军用火,即乱不在兵之意。颂云,海疆万里,则战争之烈,不仅在於中国 也。 Đệ ngũ lục tượng: Kỷ vị Khôn hạ Khảm thượng Bỉ Sấm viết: phi giả phi điểu, tiềm giả phi ngư, chiến bất tại binh, tạo hóa du hí Tụng viết: hải cương vạn lí tẫn vân yên, thượng hất vân tiêu hạ cập tuyền, kim mẫu mộc công công huyễn lộng, kiền (can) qua vị tiếp họa liên thiên Kim Thánh Thán: thử tượng quân dụng hỏa, tức loạn bất tại binh chi ý, tụng vân, hải cương vạn lí, tắc chiến tranh chi liệt , bất cận tại vu Trung Quốc dã Tạm dịch: Sấm viết: cái đó (ấy) bay (được mà) chẳng phải (là con) chim (hoả tiễn, phi tiễn, phi cơ …), cái đó (ấy) ngầm ẩn dấu (bơi lặn được trong nước mà) chẳng phải (là con) cá (tầu ngầm, thuỷ ngư …) chiến tranh chẳng ở tại binh (lính), tạo hoá (trời đất) rong chơi đùa giỡn. Tụng viết: (từ) vạn dặm bờ (cõi trên) biển hết thẩy (tất cả đều) đầy khói lửa mù mịt, (từ) khoảng mây cao trên trời (cho) đến (tận) dưới suối nguồn (trong rừng) (khói lửa mù mịt từ trên trời dưới biển cho đến ở sâu trong rừng), cha gỗ mẹ sắt khéo làm nên sự huyễn lộng (khoa học kỹ thuật đã đến trình độ vô cùng tối tân hiện đại, làm ra những điều tưởng giả mà lại như thật, cứ như tưởng đùa mà hoá ra là thật). Kim Thánh Thán: hình tượng này là quân lính dùng lửa (vũ khí), ý tức là loạn (giặc giã) không ở tại binh lính (đánh nhau không dùng đến binh lính cận chiến), ca tụng rằng: vạn dặm ngoài biển (biên giới, hải giới), chiến tranh thời rất ác liệt (dữ dội), chẳng (đánh cận chiến) ở tại (trên đất) Trung Quốc vậy. (chiến tranh xẩy ra bằng vũ khí hiện đại, từ nơi ở xa đánh tới, dùng phi cơ, phi tiễn, tầu ngầm, tầu chiến… để đánh vào trận địa chiến trên đất nước Trung Quốc, chứ không dùng binh lính để đánh cận chiến vào nước Trung Quốc) . 57 第五七象 庚申 兑下兑上 兑 谶曰: 物极必反 以毒制毒 三尺童子 四夷讋服 颂曰: 坎离相克见天倪 天使斯人弭杀机 不信奇才产吴越 重洋从此戢兵师 金圣叹:「此象言吴越之间有一童子,能出奇制胜,将燎原之火扑灭净尽,而厄运自此终矣,又一治也 Đệ ngũ thất tượng: Canh Thân Đoái hạ Đoái thượng Đoái Sấm viết: vật cực tất phản, dĩ độc chế độc, tam xích đồng tử, tứ di triệp phục Tụng viết: Khảm Li tương khắc kiến thiên nghê, thiên sử tư nhân nhị sát ky, bất tín kì tài sản Ngô Việt, trọng dương tòng thử tập binh sư Kim Thánh Thán: thử tượng ngôn Ngô Việt chi gian hữu nhất đồng tử, năng xuất kì chế thắng, tương liệu nguyên chi hỏa phác diệt tịnh tẫn, nhi ách vận tự thử chung hĩ, hựu nhất trì dã Tạm dịch Sấm viết: sự vật đến cùng cực ắt hẳn (sẽ phải) trở về (trả lại như trước đây), dùng độc (độc kế, cách thức đặc biệt kì lạ) để chế ngự ác độc, đứa trẻ (cao) ba thước (chữ xích 赤 còn có nghĩa là sắc đỏ, phương Nam), bốn bên sợ (mà) bội phục. Tụng viết: Trong cõi bầu trời bé nhỏ (lẽ của tự nhiên) thấy rõ là Li Khảm (nước lửa) khắc lẫn nhau, trời sai khiến Người ấy (Thánh nhân xuống để) khéo léo (làm cho) ngừng thôi (không còn) đánh giết (lẫn nhau nữa), chẳng (thể) tin (được là Người có) tài năng kì lạ (lại) sinh ra ở (nơi đất) Ngô – Việt, (vì) tôn trọng (đức độ của Thánh nhân to lớn) mênh mông (như biển cả cho nên các nơi) tuân theo bèn lui binh lính cất buông vũ khí. Kim Thánh Thán: cảnh tượng này nói ở trong khoảng (đất nước của) Ngô – Việt có một người con trai, có tài năng kì lạ làm ra được (bãi binh, buông vũ khí), coi như là nguồn gốc của lửa bốc cháy (chiến tranh) (được dập tắt) tan mất (các nơi) hoàn toàn tĩnh lặng (được thanh bình), thời vận khốn ách khổ sở bèn tự nhiên mà kết thúc vậy, lại cùng (nhau) sửa chữa (xây dựng lại đất nước). Chú thích: Nước Ngô – Việt: Các nước Việt nho nhỏ ở Hán Đông tan rã, nhưng lại nổi lên hai nước cùng dòng tộc Việt khác rất nổi tiếng thời Đông Châu cũng gọi là thời Xuân Thu hay Chiến Quốc, đó là nước Ngô và nước Việt. Nước Ngô ở vào tỉnh Giang Tô ngày nay. Vua nước Ngô lúc đó là Thọ Mông. Một phản tướng của nước Sở là Khuất Vu chạy trốn qua nước Tấn nên tộc đảng bị vua Sở đem chém hết. Khuất Vu tức giận, đổi tên là Vu Thần, bày mưu cho vua nước Tấn là Tấn Cảnh Công sang giao hiếu với nước Ngô, dạy cho nước Ngô về binh pháp, chế tạo vũ khí để mượn tay nước Ngô đánh phá nước Sở. Vu Thần lại cho con là Hồ Dung sang làm quan ở nước Ngô. Từ đó nước Ngô hùng mạnh lên, chiếm các nước Việt Hán Đông của nước Sở. Nước Ngô nổi tiếng về tài đúc kiếm. Thanh kiếm Can Tương và Mạc Gia rất nổi tiếng được sử Tàu nói đến nhiều. Vì có tài luyện kim, đúc kiếm, chế tạo vũ khí nên kho vũ khí rất dồi dào. Nước Ngô lại được phản tướng nước Sở là Ngũ Viên tự là Ngũ Tử Tư sang đầu, rèn luyện quân binh rất hùng mạnh. Nước Ngô lại được thêm Tôn Vũ là người Việt nước Ngô. Tôn Vũ là một chiến lược gia, viết bộ Binh Thư, thường được biết dưới tên “Tôn Ngô Binh Pháp” nổi tiếng cho đến ngày nay các nhà quân sự vẫn còn áp dụng. Có thể nói nước Ngô là nước mạnh nhất thời đó. Ngũ Tử Tư vì muốn báo thù vua Sở nên xúi vua Ngô đánh nước Sở. Vua Ngô là Hạp Lư đem quân đánh Sở, vào chiếm kinh đô nước Sở là Dĩnh Đô, vua Sở phải bỏ chạy. Vua Ngô Hạp Lư lập con vua Sở là công tử Thắng làm vua rồi rút quân về. Con Hạp Lư là Phù Sai nối ngôi làm vua nước Ngô, thế lực bao trùm cả các nước chư hầu nhà Châu. Ngô Phù Sai triệu tập các nước chư hầu nhà Châu để xưng Bá thay cho nước Tấn. Đây là lần đầu tiên một nước Việt tộc đã làm bá chủ các nước Hoa tộc và sau đó một nước Việt tộc khác là U Việt của Câu Tiển lên làm bá chủ thay Phù Sai. Phía dưới nước Ngô, có nước Việt tức U Việt, nay là tỉnh Chiết Giang. Vua nước Việt là Dõan Thường chăm lo sửa sang triều chính, dùng người hiền lương, thương mến dân nên nước mỗi ngày mỗi cường thịnh. Vua nước Ngô là Dư Sái thấy thế đâm lo lắng sai tướng sang đánh nước Việt, bắt được tướng Việt là Tôn Nhân đem về chặt chân sai giữ thuyền vua. Một hôm Dư Sái ngự chơi thuyền, uống rượu say rồi ngủ quên. Tôn Nhân cởi thanh gươm của Dư Sái, đâm Dư Sái chết. Bọn nội thị xúm lại giết Tôn Nhân. Từ đó giữa nước Ngô và nước Việt có mối thù khiến hai nước cùng chung dòng giống Việt này gây chiến muốn tiêu diệt lẫn nhau. Nước Việt cũng rất giỏi nghề luyện kim đúc kiếm, đúc đồng pha. Tương truyền vua nước Việt có 5 thanh kiếm quý do kiếm sư Âu Gia Tử luyện ra. Vua Ngô là Thọ Mông nghe tiếng muốn lấy nên vua Việt phải dâng 3 thanh kiếm, đó là các thanh Ngư Trường, Ban Dĩnh và Trạm Lư. 58 第五八象 辛酉 坎下兑上 困 谶曰: 大乱平 四夷服 称兄弟 六七国 颂曰: 烽烟净尽海无波 称王称帝又统和 犹有煞星隐西北 未能遍唱太平歌 金圣叹:「此象有四夷来王,海不扬波之兆。惜乎西北一隅尚未平靖,犹有遗憾,又一治 也 Đệ ngũ bát tượng: Tân Dậu Khảm hạ Đoái thượng Khốn Sấm viết: đại loạn bình, tứ di phục, xưng huynh đệ, lục thất quốc Tụng viết: phong yên tịnh tẫn hải vô ba, xưng vương xưng đế hựu thống hòa, do hữu sát tinh ẩn Tây Bắc, vị năng biến xướng thái bình ca Kim Thánh Thán: thử tượng hữu tứ di lai vương, hải bất dương ba chi triệu, tích hồ Tây Bắc nhất ngung thượng vị bình tĩnh, do hữu di hám, hựu nhất trì dã Tạm dịch Sấm viết: loạn lớn được yên bình, bốn bên vui lòng nghe theo, cùng nhau xưng danh là anh em, (Trung Hoa chia ra làm) sáu bẩy nước (Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Hán ….). Tụng viết: biển lặng sóng khói lửa tan mất, hết thẩy (mọi nơi) đều được yên tĩnh, (các nước tự) xưng danh vua chúa (Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Hán … chia ra tự lập nền chính trị riêng) tất cả lại cùng nhau (sống) hoà thuận, bởi vì sát tinh lui ẩn về phương Tây Bắc, khắp nơi ca hát bài ca thái bình. Kim Thánh Thán: tượng này lại có bốn bên làm vua, có điềm báo biển cả chẳng còn nổi lên sóng dữ, tiếc là đất ngoài nơi phương Bắc còn chưa được bằng phẳng yên tĩnh, còn có sự hối tiếc, lại phải sửa trị một lần nữa vậy. 59 第五九象 壬戍 艮下兑上 咸 谶曰: 无城无府 无尔无我 天下一家 治臻大化 颂曰: 一人为大世界福 手执签筒拔去竹 红黄黑白不分明 东南西北尽和睦 金圣叹:「此乃大同之象,人生其际,饮和食德,当不知若何愉快也。惜乎其数已终,其或反本归原,还於混噩欤。」〈此象乃说是天下大同,地球上再无国家与政府。人种经大混种,使肤色混同,世上再无不同肤色之种族 Đệ ngũ cửu tượng: Nhâm thú Cấn hạ Đoái thượng Hàm Sấm viết: vô thành vô phủ, vô nhĩ vô ngã, thiên hạ nhất gia, trì trăn đại hóa Tụng viết: nhất nhân vi đại thế giới phúc, thủ chấp thiêm đồng bạt khứ trúc, hồng hoàng hắc bạch bất phân minh, Đông Nam Tây Bắc tẫn hòa mục. Kim Thánh Thán: thử nãi đại đồng chi tượng, nhân sanh kì tế, ẩm hòa thực đức, đương bất tri nhược hà du khoái dã, tích hồ kì sổ dĩ chung, kì hoặc phản bổn quy nguyên, hoàn vu hỗn ngạc dư, thử tượng nãi thuyết thị thiên hạ đại đồng, địa cầu thượng tái vô quốc gia dữ chánh phủ, nhân chủng kinh đại hỗn chủng, sử phu sắc hỗn đồng, thế thượng tái vô bất đồng phu sắc chi chủng tộc Tạm dịch Sấm viết: không còn thành trì, không còn quan phủ (ẩn nghĩa là không còn chất chứa oán hận nhau nữa), không (cái này) là của anh hay của tôi, trên dưới một nhà (thế giới đại đồng), sửa chữa trừng trị (những điều sai trái) (tự) cảm hoá to lớn (ở bên trong mọi người). Tụng viết: một người (mà) làm cho thế giới to lớn này được hướng phúc, nắm tay nhau cùng ký kết (hoà ước, thoả thuận, tương trợ …), (mọi sắc tộc) da đỏ vàng đen trắng chẳng chia rẽ (không còn kì thị sắc tộc nữa), Đông Nam Tây Bắc (các châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc) hết lòng sống cùng nhau hoà thuận thân tín kính trọng lẫn nhau. Kim Thánh Thán: tượng này là hình tượng hoà vui cùng nhau, mọi người cùng sống giao tiếp với nhau (hoà ái), ăn uống thuận hoà cùng (sống) nhau đức độ (không tranh giành quyền lợi), đang (ở trong thời này) chẳng biết được sao (những người ở trong thời đó) lại được hưởng vui vẻ sung sướng (đến) như vậy ?, tiếc vậy (tiếc quá) đã hết số rồi, lại ngờ (rằng) phản bản (thể) (để) quay trở về nguồn gốc (cũ), trở lại ở (thời) (mà trời đất còn) hỗn độn (chưa phân chia ra) thật đáng là kinh ngạc vậy thay !. Tượng này nói rằng thiên hạ đại đồng, trên trái dất (này) lại (trở về thời mà) chẳng có quốc gia cùng chánh phủ (cai trị) (giống như ở trên niết bàn, thiên đường hay thiên giới vậy), con người trải qua (thời kì) đại hỗn tạp chủng tộc, khiến cho mọi mầu da sắc tộc cùng hỗn hợp đồng nhất với nhau, trên thế gian này lại trở về (thời kì nguyên thuỷ) (chẳng còn phân biệt) màu da sắc tộc (với nhau nữa). 60 第六十象 癸亥 坤下兑上 萃 谶曰: 一阴一阳 无始无终 终者自终 始者自始 颂曰: 茫茫天数此中求 世道兴衰不自由 万万千千说不尽 不如推背去归休 金圣叹:「一人在前,一人在後,有往无来,无独有偶,以此殿图,其寓意至深远焉。无象之象胜於有象。我以不解解之,著者有知当亦许可。」 Đệ lục thập tượng: Quý Hợi Khôn hạ Đoái thượng Tụy Sấm viết: nhất âm nhất dương, vô thủy vô chung, chung giả tự chung, thủy giả tự thủy Tụng viết: mang mang thiên sổ thử trung cầu, thế đạo hưng suy bất tự do, vạn vạn thiên thiên thuyết bất tẫn, bất như thôi bối khứ quy hưu Kim Thánh Thán: nhất nhân tại tiền, nhất nhân tại hậu, hữu vãng vô lai, vô độc hữu ngẫu, dĩ thử điện đồ, kì ngụ ý chí thâm viễn yên, vô tượng chi tượng thắng vu hữu tượng, ngã dĩ bất giải giải chi, trứ giả hữu tri đương diệc hứa khả. Tạm dịch Sấm viết: một âm một dương, chẳng trước không sau, sau lại tự nhiên sau, trước lại tự nhiên trước. Tụng viết: số (vận của) trời (thật là) mênh mông ấy thế (mà lại) tìm (trở về) sự quân bình, đạo lí của (trần) thế thịnh suy chẳng bởi tự nhiên do (mình làm ra) (mà là đạo lí của trời đất tự nhiên là như vậy), muôn ngàn lời nói chẳng (diễn tả) ra được hết, chẳng bằng (như) thôi bối (đẩy vai nhau) đi (rồi) về (lại) nghỉ ngơi. Kim Thánh Thán: một người đàng trước một người sau, có đi chẳng lại, chẳng đơn có đôi, lấy thế (làm thành) đồ hình, lại ngụ ý rất thâm sâu xa vậy, chẳng tượng hình (mà lại) thành ra hình tượng, có được ở nơi hình tượng, ta chẳng thể giải thích (được hết thấu đáo) vậy, (Thôi Bối Đồ) trứ danh (như vậy) ấy thế (mà) (người) đang (thời) có biết (đến thì cũng chỉ nói) … ừ (cũng tạm) được !!! 61 第六十一象 歲星逆行讖曰: 歲星逆行 諸事不吉 一二九六 換課為宜 頌曰: Đệ lục thập nhất tượng Tuế tinh nghịch hành Sấm viết: Tuế tinh nghịch hành, chư sự bất cát, nhất nhị cửu lục, hoán khóa vi nghi (Tuế tinh “sao Thái Tuế – Mộc tinh” đi ngược, mọi việc chẳng tốt, một hai chín sáu, quẻ thay đổi nên mới gây ra như vậy – )
-
@Hoangnt Người mẹ và lũ điếm thối cùng những chuyện khủ khiếp là các đối tương riêng rẽ khác nhau. Cũng như bà mẹ của thằng ăn cướp thì bà mẹ đó không có tội. Thằng ăn cướp có tội vì đi ăn cướp. Bà không tham gia hay đã chết rồi thì làm sao có tội? Bà mẹ vĩ đại huyền thoại Babylon đã quy tiên rồi, nhưng còn lại những đứa con, không may là chúng trở thành lũ điếm thối và gây ra bao chuyện khủng khiếp. Thiên Đồng
-
Cóc đã được sự tư vấn của SP Thiên Sứ thì đã là rất quý, lại thêm các đệ muội Vusonganh, Tuấn Dương, Tuyết Minh, Phạm Hùng hổ trợ nữa. Cho nên Cóc cứ lóc cóc mà mần. Nhưng mà phong thủy như con người, người rụng răng mà xài răng giả thì ăn cũng được nhưng gặp phải món ngon hơi dai hơi cứng thì đôi khi cũng phiền hoặc tiếc chút vậy thôi. Giải pháp tình thế phong thủy đôi khi cũng như cái hàm răng giả vậy à. Thiên Đồng
-
Ồn! Vốn dĩ sinh ra chằng dại khôn Làm sao chớ dại với chớ khôn Khôn được ích mình đi đôi dại Dại hèn giữ mạng cũng bằng khôn Nhiễm hiểm đáng chi câu khôn dại? Dại hiền chưa hẳn ấy là khôn Như một, cậy khôn hay cậy dại Bàn khôn bàn dại nát thần hồn Thiên Đồng
-
@ Cóc Tại sao phải xây? Bị cái gì mà xây cái gì? TD
-
Hướng nhà và hướng bếp nhất thiết phải trùng nhau thì khỏi cần tư vấn phong thùy. Cứ thế mà đặt. Thắc mắc chi thêm phiền? Nữ 1954 thì quay hướng đông nam hợp, nam 1954 thì Tây Nam rất hợp. Đây là theo Bát trạch của Phong thủy Lạc Việt. Mến Thiên Đồng
-
45 第四五象 戊申 坎下艮上 蒙 谶曰: 有客西来 至东而止 木火金水 洗此大耻 颂曰: 炎运宏开世界同 金乌隐匿白洋中 从此不敢称雄长 兵气全消运已终 金圣叹:「此象于太平之世复见兵戎,当在海洋之上,自此之後,更臻盛世矣。」 Đệ tứ ngũ tượng: Mậu Thân Khảm hạ Cấn thượng Mông Sấm viết: hữu khách tây lai, chí đông nhi chỉ, mộc hỏa kim thủy, tẩy thử đại sỉ Tụng viết: viêm vận hoành khai thế giới đồng, kim ô ẩn nặc bạch dương trung, tòng thử bất cảm xưng hùng trường, binh khí toàn tiêu vận dĩ chung Kim Thánh Thán: thử tượng vu thái bình chi thế phục kiến binh nhung, đương tại hải dương chi thượng, tự thử chi hậu, canh trăn thịnh thế hĩ. Lược dịch: Sấm viết: Có khách đến từ hướng Tây, ở tận cùng phía Đông, mộc hoả kim thuỷ, ấy thời nhẵn nhụi sạch sẽ (hết cái) nhục lớn. Tụng viết: vận số to lớn mở ra ở phương Nam thế giới cùng nhau, mặt trời ẩn trốn ở bên trong biển trắng, đi theo vậy mà chẳng dám xứng đáng là tài giỏi khoẻ mạnh, binh khí tan rã xong hết vận số kết thúc. Kim Thánh Thán: tượng này là thời thái bình (đi qua lại thấy) trở lại áo giáp binh khí, đang ở tại trên biển (căng thẳng eo biển Trung Hoa – Đài Loan ?), bởi vì là sau đó, thay đổi là thời thịnh vượng (Trung Hoa tăng cường quân sự). 46 第四六象 己酉 坎下巽上 涣 谶曰: 黯黯阴霾 杀不用刀 万人不死 一人难逃 颂曰: 有一军人身带弓 只言我是白头翁 东边门 伏金剑 勇士後门入帝宫 金圣叹:「此象疑君王昏 ,一勇士仗义兴兵为民请命,故曰万人不死一人难逃 Đệ tứ lục tượng: Kỷ Dậu Khảm hạ Tốn thượng Hoán Sấm viết: ảm ảm âm mai, sát bất dụng đao, vạn nhân bất tử, nhất nhân nan đào Tụng viết: hữu nhất quân nhân thân đái cung, chích ngôn ngã thị bạch đầu ông, đông biên môn, phục kim kiếm, dũng sĩ hậu môn nhập đế cung Kim Thánh Thán: thử tượng nghi quân vương hôn, nhất dũng sĩ trượng nghĩa hưng binh, vi dân thỉnh mệnh, cố viết vạn nhân bất tử nhất nhân nan đào. Lược dịch: Sấm viết: Đen tối ảm đạm mịt mù, giết chết mà chẳng dùng đến gươm đao, muôn người chẳng chết, một người cũng khó mà trốn được. Tụng viết: Có một người lính đeo cung tên trên người, chỉ nói ta là ông đầu bạc, bên ngoài cửa phía Đông, dấu gươm sắt, dũng sĩ ở cửa sau vào cung điện của nhà vua. Kim Thánh Thán: tượng này nghi ngờ là quân vương hôn ám tối tăm, một dũng sĩ vì nghĩa khí động binh lính, vì dân mà truyền lệnh, cớ sao lại viết rằng muôn người chẳng chết một người cũng khó mà trốn chạy được ?. 47 第四七象 庚戍 坎下乾上 讼 谶曰: 偃武修文 紫薇星明 匹夫有责 一言为君 颂曰: 无王无帝定乾坤 来自田间第一人 好把旧书多读到 义言一出见英明 金圣叹:「此象有贤君下士,豪杰来归之兆,盖辅助得人,而帝不居德,王不居功,蒸蒸然有无为而治之盛。此一治也 Đệ tứ thất tượng: Canh thú Khảm hạ Kiền thượng Sấm viết: yển vũ tu văn, tử vi tinh minh, thất phu hữu trách, nhất ngôn vi quân Tụng viết: vô vương vô đế định Kiền Khôn, lai tự điền gian đệ nhất nhân, hảo bả cựu thư đa độc đáo, nghĩa ngôn nhất xuất kiến anh minh. Kim Thánh Thán: thử tượng hữu hiền quân hạ sĩ, hào kiệt lai quy chi triệu, cái phụ trợ đắc nhân, nhi đế bất cư đức, vương bất cư công, chưng chưng nhiên hữu vô vi nhi trì chi thịnh, thử nhất trì dã. Nghỉ. Như yển vũ tu văn 偃武修文 nghỉ việc võ sửa việc văn. Lược dịch: Sấm viết: nghỉ việc võ sửa trị việc văn, sao Tử Vi sáng sủa, người đàn ông có trách nhiệm gánh nhận, một lời làm vua. Tụng viết: Không vua chúa chẳng đế vương xếp đặt Kiền Khôn (Trời Đất), đến từ đồng ruộng (là) người hạng nhất, yêu thích giữ lấy sách cũ nhiều độc đáo, ý nghĩa lời nói ra thấy thật là sáng suốt. Kim Thánh Thán: tượng này có vua hiền tôi giỏi ở bên dưới, là điềm hào kiệt quay trở về, được người che chở phò trợ, vậy mà vua chẳng ở đức độ, vì sao vương hầu chẳng (vì) việc công, một lũ một bọn như thế làm sao có được thịnh vượng ?, ấy vậy cần phải sửa trị vậy. 48 第四八象 辛亥 离下乾上 同人 谶曰: 卯午之间 厥象维离 八牛牵动 雍雍熙熙 颂曰: 水火既济人民吉 手持金戈不杀贼 五十年中一将臣 青青草自田间出 金圣叹:「此象疑一朱姓与一苗姓争朝纲,而朱姓有以德服人之化,龙蛇相斗,想在辰巳之年,其建都或在南方 Đệ tứ bát tượng: Tân Hợi Li hạ Kiền thượng Đồng Nhân Sấm viết: Mão Ngọ chi gian, quyết tượng duy li, bát ngưu khiên động, ung ung hi hi Tụng viết: Thủy Hỏa Kí Tể nhân dân cát, thủ trì kim qua bất sát tặc, ngũ thập niên trung nhất tương thần, thanh thanh thảo tự điền gian xuất Kim Thánh Thán: thử tượng nghi nhất chu tính dữ nhất miêu tính tranh triêu cương, nhi chu tính hữu dĩ đức phục nhân chi hóa, long xà tương đấu, tưởng tại thần Tị chi niên, kì kiến đô hoặc tại Nam phương. Lược dịch: Sấm viết: vào khoảng Mão Ngọ, hiện trạng khởi lên ràng buộc bám dính lấy, co kéo tám trâu, hoà hợp vui vẻ. Tụng viết: Thủy Hỏa Kí Tể nhân dân tốt, tay cầm nắm vũ khí chẳng giết giặc, trong năm mươi năm rồi sẽ có một bày tôi, cỏ cây sinh ra xanh ngát một khoảng ruộng. Kim Thánh Thán: tượng này ngờ rằng một người họ Chu là một mầm mống tranh giành trong triều cương, vậy mà họ Chu có đức độ cảm phục được lòng người, rồng rắn đánh nhau, nhớ lại ở năm Tị, dựng lên kinh đô hoặc ở phương Nam. 49 第四九象 壬子 坤下坤上 坤 谶曰: 山谷少人口 欲剿失其巢 帝王称弟兄 纷纷是英豪 颂曰: 一个或人口内啼 分南分北分东西 六爻占尽文明见 棋布星罗日月 金圣叹:「久分必合,久合必分,理数然也,然有文明之象,当不如割据者之纷扰也 Đệ tứ cửu tượng: Nhâm tử Khôn hạ Khôn thượng Khôn Sấm viết: sơn cốc thiểu nhân khẩu, dục tiễu thất kì sào, đế vương xưng đệ huynh, phân phân thị anh hào. Tụng viết: nhất cá hoặc nhân khẩu nội đề, phân Nam phân Bắc phân Đông Tây, lục hào chiêm tẫn văn minh kiến, kì bố tinh la Nhật Nguyệt Kim Thánh Thán: cửu phân tất hợp, cửu hợp tất phân, lí sổ nhiên dã, nhiên hữu văn minh chi tượng, đương bất như cát cư giả chi phân nhiễu dã Tạm dịch: Sấm viết: hang núi ít người, tham muốn ăn hớt mất luôn cả tổ chim (tham quá bắt lấy cả tổ chim làm tuyệt giống), đế vương xưng anh em (mỗi địa phương là một ông vua con), rối bời anh hùng hào kiệt (người nào cũng tự xưng là tài giỏi). Tụng viết: một cái (gì đó) hoặc một ngừơi kêu khóc ở bên trong (lòng dân đau xót uất hận ở bên trong), chia Nam chia Bắc chia Đông Tây (chia rẽ trầm trọng), xem (bói) hết thảy cả sáu hào thấy được nền văn minh (mới ló rạng), la liệt cờ vải trăng sao mặt trời. Kim Thánh Thán: chia ra lâu ắt hẳn (có ngày) hợp lại, hợp lâu (rồi) ắt hẳn (có ngày sẽ phải) phân chia ra, lí số tự nhiên (nó là) như vậy (đấy), hiện tượng này (phân chia ra, cửu hợp tất phân …) có như thế (mới) là sự văn minh, cảnh huống (hiện nay) đang chẳng phải là tốt, cái ấy (hiện tượng ấy, cát cứ địa phương), (hiện nay) là ngổn ngang rối loạn nhũng nhiễu. 50 第五十象 癸丑 震下坤上 复 谶曰: 水火相战 时穷则变 贞下起元 兽贵人贱 颂曰: 虎头人遇虎头年 白米盈仓不值钱 豺狼结队街中走 拨尽风云始见天 金圣叹:「此象遇寅年遭大乱,君昏臣暴,下民无生息之日,又一乱也 Đệ ngũ thập tượng: Quý Sửu Chấn hạ Khôn thượng Phục Sấm viết: Thủy Hỏa tương chiến, thì cùng tắc biến, trinh hạ khởi nguyên, thú quý nhân tiện Tụng viết: hổ đầu nhân ngộ hổ đầu niên, bạch mễ doanh thương bất trị tiễn, sài lang kết đội nhai trung tẩu, bát tẫn phong vân thủy kiến thiên Kim Thánh Thán: thử tượng ngộ Dần niên tao đại loạn, quân hôn thần bạo, hạ dân vô sanh tức chi nhật, hựu nhất loạn dã Lược dịch: Sấm viết: nước lửa đánh nhau, thời (đã tới lúc) cùng cực ắt sẽ biến dạng, dưới chính đính mới đầu khởi lên, loài cầm thú thì quỳ loài người thì hèn mọn. Tụng viết: người đầu hổ gặp đầu năm hổ, gạo trắng đầy bao chẳng cầm nắm được tiền, loài lang sói kết thành bầy chạy giữa bốn bên (nơi nào cũng thấy loài lang sói), gió mây (làm u ám) hết sạch mới thấy được trời xanh. Kim Thánh Thán: tượng hình này năm Dần gặp nạn lớn, vua hôn ám bầy tôi tàn bạo, dân ở dưới hàng ngày sống khó thở (bị áp bức uất ức nghẹn ngào đến khó thở), lại sẽ có một sự rối loạn (trong xã hội) vậy. 51 第五一象 甲寅 兑下坤上 临 谶曰: 阴阳和 化以正 坤顺而感 後见尧舜 颂曰: 谁云女子尚刚强 坤德居然感四方 重见中天新气象 卜年一六寿而康 金圣叹:「此象乃明君得贤后之助,化行国内,重见升平,又一治也。卜年一六,或在位七十年 Đệ ngũ nhất tượng: Giáp Dần Đoái hạ Khôn thượng Lâm Sấm viết: âm dương hòa, hóa dĩ chánh, khôn thuận nhi cảm, hậu kiến Nghiêu Thuấn Tụng viết: thùy vân nữ tử thượng cương cường, khôn đức cư nhiên cảm tứ phương, trọng kiến trung thiên tân khí tượng, bặc niên nhất lục thọ nhi khang. Kim Thánh Thán: thử tượng nãi minh quân đắc hiền hậu chi trợ, hóa hành quốc nội, trọng kiến thăng bình, hựu nhất trì dã, bặc niên nhất lục, hoặc tại vị thất thập niên Lược ldịch: Sấm viết: Âm Dương hoà, biến hoá thành chánh đáng, nhu thuận mà cảm hoá, sau thấy được vua Nghiêu Thuấn. Tụng viết: rằng ai là người đàn bà con còn cứng rắn mạnh mẽ, đức của nhu hoà như thế cảm thông được bốn phương, hình tượng mới được xem trọng giữa bầu trời, bói thử yên được lâu trong một sáu năm. Kim Thánh Thán: tượng hình này là vua hiền được vợ giỏi trợ giúp, thi hành chuyển hoá trong nước, coi trọng sự công bằng, lại có một sự sửa chữa vậy, bói thử một sáu năm, hoặc là ở địa vị bẩy mươi năm.
-
Thôi Bối Đồ Dân Quốc 38 năm sau: từ 40 đến 59 (sau thời Mao cho tới nay và thời gian sắp tới, rất quan trọng có dịch nghĩa từ đồ hình) 40 第四十象 癸卯 巽下艮上 蛊 谶曰:一二三四 无土有主 小小天罡 垂拱而治 颂曰:一口东来气太骄 脚下无履首无毛 若逢木子冰霜涣 生我者猴死我雕 金圣叹:「此象有一李姓,能服东夷,而不能图长治久安之策, 卒至旋治旋乱,有兽活禽死之意也。」〈此似指国民党迁台 Đệ tứ thập tượng: Quý Mão – Tốn Hạ – Cấn Thượng – Cổ Sấm viết: nhất nhị tam tứ, vô thổ hữu chủ, tiểu tiểu Thiên Cương, thùy củng nhi trì Tụng viết: nhất khẩu đông lai khí thái kiêu, cước hạ vô lí thủ vô mao, nhược phùng mộc tử băng sương hoán, sanh ngã giả hầu tử ngã điêu Kim Thánh Thán: thử tượng hữu nhất lí tính, năng phục đông di, nhi bất năng đồ trường trì cửu an chi sách, tốt chí toàn trì toàn loạn, hữu thú hoạt cầm tử chi ý dã thử tự chỉ Quốc Dân Đảng thiên thai Lược dịch: Sấm viết: một hai ba bốn, đất ở không có chủ, sao Thiên Cương bé nhỏ, cung kính cúi đầu mà sửa trị. Tụng viết: một cửa (khẩu) to lớn ở phía đông qua lại, dưới chân chẳng có giầy dép đầu không tóc, nếu như giống (mầm) cây gỗ gặp (được) băng sương tan rã, (như) con khỉ đã chết, ấy là ta sống lại (mà) trở thành con chim diều hâu kên kên. Kim Thánh Thán: tượng này có một tánh lý, có tài (khả) năng chế phục (qui phục) Đông di (Nhật Bản), mà không có khả năng mưu đồ trường trị (trị vì lâu dài), sách lược yên bình lâu dài. Lính tốt (lính quèn) quay trở lại (thì) rối loạn, (mạng người) chết (như) loài chim thú vậy, ấy là chỉ Quốc Dân đảng vậy. (thời kỳ Nhật Bản – Tưởng – Mao) 41 第四一象 甲辰 离下离上 离 谶曰:天地晦盲 草木繁殖 阴阳反背 上土下日 颂曰:帽儿须戴血无头 手弄乾坤何日休 九十九年成大错 称王只合在秦州 金圣叹:「此象一武士握兵权,致肇地覆天翻之祸,或一白姓者平之。〈此指毛泽东所行各种运动,九十九合成是廿八年,与毛在位期相合。秦州即陕西省,延安亦在陕西。帽儿 戴是说扣帽子。 Đệ tứ nhất tượng : Giáp thần Li hạ Li thượng Li Sấm viết: thiên địa hối manh, thảo mộc phồn thực, âm dương phản bối, thượng thổ hạ nhật Tụng viết: mạo nhân tu đái huyết vô đầu, thủ lộng Kiền Khôn hà nhật hưu, cửu thập cửu niên thành đại thác, xưng vương chích hợp tại Tần Châu Kim Thánh Thán: thử tượng nhất vũ sĩ ác binh quyền, trí triệu địa phúc thiên phiên chi họa, hoặc nhất bạch tính giả bình chi, (thử chỉ Mao Trạch Đông sở hành các chủng vận động, cửu thập cửu hợp thành thị nhập bát niên, dữ Mao tại vị kì tương hợp, Tần Châu tức Thiểm Tây tỉnh, duyên an diệc tại Thiểm Tây, mạo nhân đái thị thuyết khấu mạo tử Lược dịch: Sấm viết: trời đất tối tăm mờ mịt, cây cỏ cây cỏ đầy rẫy (hoang vu tiêu điều cây cỏ mọc hoang đầy rẫy), âm dương quay lưng đối nhau, mặt trời ở dưới mặt đất. Tụng viết: người đội mũ râu quai nón (có) tâm huyết sắt máu, không ai đứng trên được, tài giỏi bỡn cợt cả Kiền Khôn mà sao ngày lại tốt lành, chín mười chín năm thành lầm lẫn lớn, chỉ một mình xưng vua ở tại Tần Châu. Kim Thánh Thán: tượng này là một võ sĩ nắm bình quyến, suy cho cùng là nơi chốn bắt đầu gây ra cái hoạ tự nhiên lập lại, hoặc ấy là một thời bày ra trăm họ được bình trị chăng ? (đó là ám chỉ nơi mà Mao Trạch Đông vận động các phong trào quần chúng, chín mười phong trào đảng phái qui tụ về một thành lập nên làm một trong 28 năm đều là do Mao tập hợp thành, Tần Châu tức là tỉnh Thiểm Tây, cuộc khởi tạo sự nghiệp của Mao cũng ở Thiểm Tây, người đội mũ chính là Mao Trạch Đông vậy 42 第四二象 乙巳 艮下离上 旅 谶曰:美人自西来 朝中日渐安 长弓在地 危而不危 颂曰:西方女子琵琶仙 皎皎衣裳色更鲜 此时浑迹匿朝市 闹乱君臣百万般 金圣叹:「此象疑一女子当国,服色尚白,大权独揽,几危社稷,发现或在卯年,此始乱之 Đệ tứ nhị tượng: Ất Tị Cấn hạ Li thượng Lữ Sấm viết: mĩ nhân tự tây lai, triêu trung nhật tiệm an, trường cung tại địa, nguy nhi bất nguy Tụng viết: tây phương nữ tử tỳ bà tiên. kiểu kiểu y thường sắc canh tiên, thử thì hồn tích nặc triêu thị, nháo loạn quân thần bách vạn bàn Kim Thánh Thán: thử tượng nghi nhất nữ tử đương quốc, phục sắc thượng bạch, đại quyền độc lãm, kỉ nguy xã tắc, phát hiện hoặc tại Mão niên, thử thủy loạn chi triệu dã. Lược dịch: Sấm viết: Người đẹp đến từ phía Tây, ngày giữa sớm mai dần dần yên định, bề dài đo tại đất, nguy nhưng mà chẳng nguy (hoặc cao ngất ngưởng tưởng nguy hiểm nhưng chưa hẳn là nguy hiểm). Tụng viết: Con gái phương Tây (ôm cây) đàn Tỳ bà (đẹp như) tiên, đổi thay quần áo sạch sẽ lại (càng) thêm tươi tốt (Giang Thanh diễn viên sân khấu điện ảnh ?), ấy thời ẩn dấu vết vẩn đục từ sớm (như) ở chợ búa, vua tôi (bàn cãi) quanh co ầm ỹ nháo nhào rối loạn (đại ý là nhìn bề ngoài áo quần sạch sẽ đẹp đẽ tốt tươi đấy, nhưng ẩn dấu bên trong lẫn lộn sạch đẹp bẩn xấu như các loại ở chợ đã được che dấu sớm từ trước rồi). Kim Thánh Thán: tượng này nghi ngờ có một nữ nhân đảm đương việc nước, áo mặc màu trắng ở trên, nắm chiếm lấy một mình quyền thế, làm nguy nan cho xã tắc, phát hiện ra ở năm Mão, ấy là cái triệu chứng mới bắt đầu loạn vậy. (thời Giang Thanh mới bắt đầu được Mao sủng ái ?) 43 第四三象 丙午 巽下离上 鼎 谶曰:君非君 臣非臣 始艰危 终克定 颂曰:黑兔走入青龙穴 欲尽不尽不可说 唯有外边根树上 三十年中子孙结 金圣叹:「此象疑前象女子乱国未终,君臣出狩,有一杰出之人为之底定,然必在三十年後 Đệ tứ tam tượng: Bính Ngọ Tốn hạ Li thượng Đỉnh Sấm viết: quân phi quân, thần phi thần, thủy gian nguy, chung khắc định Tụng viết: hắc thỏ tẩu nhập thanh long huyệt, dục tẫn bất tẫn bất khả thuyết, duy hữu ngoại biên căn thụ thượng, tam thập niên trung tử tôn kết Kim Thánh Thán: thử tượng nghi tiền tượng nữ tử loạn quốc vị chung, quân thần xuất thú, hữu nhất kiệt xuất chi nhân vi chi để định, nhiên tất tại tam thập niên hậu Lược dịch: Sấm viết: vua chẳng ra vua, tôi chẳng phải là tôi tớ, thời gian đầu gian nan nguy khốn, sau được yên định. Tụng viết: con thỏ đen chạy vào hang rồng xanh (Đặng Tiểu Bình ẩn trốn chờ thời cơ ?), tham muốn hết sức chẳng còn có thể nói gì được nữa (tứ nhân bang). Kim Thánh Thán: tượng này là nghi ngờ nữ nhân (quẻ) trước là người làm cho đất nước rối loạn, vua tôi ra ngoài, có một người kiệt xuất đến làm cho yên ổn, như thế ắt hẳn ở tại 30 năm sau đó. 44 第四四象 丁未 坎下离上 未济 谶曰:日月丽天 群阴慑服 百灵来朝 双羽四足 颂曰:而今中国有圣人 虽非豪杰也周成 四夷重译称天子 否极泰来九国春 金圣叹:「此象乃圣人复生,四夷来朝之兆,一大治也。 Đệ tứ tứ tượng: Đinh vị Khảm hạ Li thượng Vị Tế Sấm viết: nhật nguyệt lệ thiên, quần âm nhiếp phục, bách linh lai triêu, song vũ tứ túc Tụng viết: nhi kim Trung Quốc hữu thánh nhân, tuy phi hào kiệt dã chu thành, tứ di trọng dịch xưng thiên tử, phủ cực thái lai cửu quốc xuân Kim Thánh Thán: thử tượng nãi thánh nhân phục sanh, tứ di lai triêu chi triệu, nhất đại trì dã Lược dịch: Sấm viết: Mặt trời mặt trăng sáng đẹp ở trên bầu trời, bè lũ đen tối sợ hãi khiếp phục, hàng trăm sinh linh lại về chầu, hai lông vũ bốn chân. Tụng viết: Mà nay Trung Quốc có thánh nhân, cho dầu chẳng phải là hào kiệt làm cho thành trọn vẹn, bốn bên (các nước chung quanh) coi trọng xem như là ông vua (của nước Trung Hoa), bĩ cực lại được thái lai đất nước như mùa xuân đẹp. Kim Thánh Thán: tượng này là thánh nhân sinh lại, là điềmbốn bên vui vẻ quay trở lại, tất cả đều được sửa trị vậy.
-
1001 Câu Hỏi Phong Thủy Thường Thức Chủ đề này mở ra để mọi người có những câu hỏi thắc mắc về vấn đề phong thủy thường thấy, thường gặp, thường nghe nói, thường nghe đồn...mà không biết tại sao, thế nào...có thể vào đây đặt câu hỏi tham vấn. Mọi người có thể hỏi vặn, ở đây sẽ đáp vẹo. Tuy vặn với vẹo không thẳng thóm nhưng cũng có thể giúp mọi người hiểu hơn vấn đề quan tâm. ngày mồng 4 tháng hai năm nhâm thìn, giờ tị, quẻ Cảnh xích khẩu. Thiên Đồng
-
Phát hiện mới về khả năng “tiên tri” 03/03/2012 3:39 Nghiên cứu mới cho thấy, những người càng tin vào cảm giác của mình thì càng dự đoán chính xác các sự kiện xảy ra trong tương lai. Đó là nội dung báo cáo đăng trên chuyên san Journal of Consumer Research, do một nhóm chuyên gia Mỹ thực hiện, cho rằng những người tin vào cảm giác của mình có thể liên tục dự đoán những sự kiện trong tương lai chính xác hơn những người không tin vào cảm giác của mình, một phát hiện được gọi là hiệu ứng tiên tri cảm xúc. Phát hiện này được dựa trên 8 nghiên cứu, trong đó những người tham gia được yêu cầu dự đoán nhiều kết quả khác nhau trong tương lai, từ bầu cử tổng thống Mỹ, sự thành công của nhiều bộ phim, cuộc thi American Idol, những biến động của chỉ số Dow Jones, người chiến thắng giải vô địch bóng bầu dục dành cho các trường đại học và thậm chí cả thời tiết Bất kể phương pháp được sử dụng để nghiên cứu là gì, các chuyên gia thuộc Trường kinh doanh Columbia và Đại học Pittsburgh (Mỹ) đều nhận thấy những người tin tưởng vào cảm giác của mình dự đoán chính xác hơn so với nhóm còn lại. Các nhà nghiên cứu giải thích kết quả này thông qua giả thuyết “cửa sổ đặc quyền”. Ông Michel Tuấn Phạm, giáo sư Trường kinh doanh Columbia và là thành viên của nhóm nghiên cứu, giải thích: Khi dựa vào cảm giác của mình, chúng ta đã tóm lược tất cả các kiến thức, thông tin thu thập được một cách có ý thức và vô thức về thế giới xung quanh. “Theo nghĩa nào đó, cảm giác giúp chúng ta tiếp cận được cửa sổ đặc quyền về kiến thức và thông tin. Đó là cửa sổ mà sự lý luận, phân tích sẽ ngăn chúng ta hình thành nó”. Theo giả thuyết cửa sổ đặc quyền, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng dường như người tham gia thử nghiệm cần có một số kiến thức liên quan để có thể dự đoán chính xác hơn về tương lai. Chẳng hạn, trong một nghiên cứu, những người tham gia được yêu cầu dự đoán thời tiết. Tuy những người tin vào cảm giác của mình cũng đưa ra dự đoán tốt hơn về thời tiết nhưng họ chỉ có thể làm như vậy trong nơi sinh sống của mình. Giáo sư Leonard Lee giải thích điều này là do họ “không có nền tảng kiến thức giúp thực hiện những dự đoán”. Một ví dụ khác, chỉ những người tham gia có kiến thức nền tảng về mùa bóng bầu dục hiện tại và tin vào cảm giác của mình mới dự đoán chính xác người thắng cuộc tại Giải bóng bầu dục quốc gia dành cho các trường đại học của Mỹ (BCS). Khang Huy ===================================== Các phương pháp cổ xưa của Lý học đông phương đã đề cập đến vấn đề này từ...ngày xửa ngày xưa, gọi chính xác là cảm ứng tiên tri. Nhưng cảm ứng tiên tri này không phải như trò chơi xác suất hay cảm ứng vu vơ, phong long mà đi kèm theo đó là nhiều phương pháp khác nhau làm cơ sở cho khả năng luận đoán để đưa ra lời tiên tri, trong đó Lạc Việt Độn Toán là một ví dụ. chuyên san Journal of Consumer Research nên chịu khó vào sinh hoạt ở diễn đàn này thì sẽ thấy...càng ngạc nhiên hơn với khả năng cảm ứng tiên tri này. Giống như Phật Cồ Đàm nói từ hơn 2500 năm trước " Một con cá quẩy đuôi cũng động tới tam thiên đại thiên thế giới" 2500 năm sau hơn hơn, có một người mới phát hiện ra một lý thuyết và nói: "Có thể nào cái vổ cánh của một con bươm bướm ở Chicago cũng có thể là nguyên do của trận sống thần tại Tokyo?". Đại ý là như vậy. Nhưng so với Phật Cồ Đàm thì câu sau cục bộ hơn. Do vậy khả năng tin vào giác quan thì không có gì là lạ, dân gian Việt còn gọi nó là "điềm" và vận dụng một cách cụ thể, thường xuyên vào một tiên tri thực tế hơn, đó là...đánh số đề. hehe Thiên Đồng
-
Chữ "thôi bối" nghe cũng đồng âm với "Thôi bói!", tức đừng bói nữa!, dừng bói lại!, không cần bói! Y như tiếng Việt. Hông biết có đúng hong? Còn chữ "đồ", nghe cũng giống chữ "đầu". Vậy là "Thoi bói đầu!", bói cái tiếp theo đến cái chót, bỏ cái đầu. Có thể vì vậy mà 64 tượng quẻ lại thiếu 4, chỉ có 60. Vài dòng lạm bàn, vải thưa che mắt Sư Phụ và chú Lãn Miên. Còn cái hình hai ông, một ông sờ lưng một ông đứng yên thì vô nghĩa quá. Nếu hình này minh họa thực cho tương truyền ông này bảo ông nọ dừng bói thì, nếu theo Thiên Đồng minh họa thì sẽ vẽ hình hơi nghiêng một ông đang tay cầm bút, tay bấm độn say sưa, một ông ngồi sau đẩy lưng sốt ruột bảo dừng bói lại. Tóm lại thì nội dung câu truyện thật giống với hai từ: "Thôi bói!" (Đừng bói nữa!)
-
Làm một chai nếp đi anh Gạo. Dô dô dô!!!
-
NGỌC HẠP CHÁNH TÔNG Tháng đại lợi (gái xuất giá về nhà chồng) TUỔI GÁI XUẤT GIÁ THÁNG ĐẠI LỢI PHÒNG MAI NHƠN TIỂU LỢI PHÒNG ÔNG – CÔ PHÒNG NỮ PHỤ MẪU PHÒNG PHU CHỦ PHÒNG NỮ THÂN Tý, Ngọ 6 – 12 1 – 7 2 – 8 3 – 9 4 – 10 5- 11 Sửu, Mùi 5 – 11 4 – 10 3 – 9 2 – 8 1 – 7 6 - 12 Dần, Thân 2 – 8 3 – 9 4 – 10 5 – 11 6 – 12 1 – 7 Mẹo, Dậu 1 – 7 6 – 12 5 – 11 4 – 10 3 – 9 2 – 8 Thìn, Tuất 4 – 10 5 – 11 6 – 12 1 – 7 2 – 8 3 – 9 Tỵ, Hợi 3 – 9 2 – 8 1 – 7 6 – 12 5 – 11 4 – 10 Phàm dùng Tháng Đại Lợi thì đặng tròn tốt. Như muốn dùng Tiểu lợi thì “Phòng Ông – Cô” mà không có cha mạ bên chồng thì được. Như “Phòng nữ phụ mẫu” mà không có cha mẹ bên gái thì được. “Phòng phu chủ” là kỵ chánh người trai “Phòng nữ thân” là kỵ chánh người gái “Phòng ông - cô” là kỵ cha mẹ bên chồng “Phòng nữ phụ mẫu” là kỵ cha mẹ bên gái Năm hung niên Trai không nên cưới vợ, Gái không nên lấy chồng TUỔI CON TRAI NĂM HUNG NIÊN TUỔI CON GÁI NĂM HUNG NIÊN Tý Mùi Tý Mẹo Sửu Thân Sửu Dần Dần Dậu Dần Sửu Mẹo Tuất Mẹo Tý Thìn Hợi Thìn Hợi Tỵ Tý Tỵ Tuất Ngọ Sửu Ngọ Dậu Mùi Dần Mùi Thân Thân Mẹo Thân Mùi Dậu Thìn Dậu Ngọ Tuất Tỵ Tuất Tỵ Hợi Ngọ Hợi Thìn Phàm trai hay gái mà gặp năm hung niên, thì không nên thành hôn vì năm ấy rất khắc kỵ. Qúi vị xem Bảng lập thành sẵn trên đây thật đúng chẳng sai. Thiên Can Và Địa Chi từng tháng: Năm nào cũng: Tháng Giêng là tháng Dần Tháng Hai là tháng Mẹo Tháng Ba là tháng Thìn Tháng Tư là tháng Tỵ Tháng Năm là tháng Ngọ Tháng Sáu là tháng Mùi Tháng Bảy là tháng Thân Tháng Tám là tháng Dậu Tháng Chín là tháng Tuất Tháng Mười là tháng Hợi Tháng Mười Một là tháng Tý Tháng Chạp là tháng Sửu Những tháng nhuần thì 15 ngày trên thuộc về Địa Chi của tháng trước, còn 15 ngày dưới thuộc về Địa Chi của tháng sau. Còn Thiên Can thì cứ 5 năm là đủ 60 tháng (không kể tháng nhuần) lại bắt đầu trở lại. Lục Hại (lấy nhau không hạp) Tuổi Tý kỵ tuổi Mùi Tuổi Dần kỵ tuổi Tỵ Tuổi Thân kỵ tuổi Hợi Tuổi Sửu kỵ tuổi Ngọ Tuổi Mẹo kỵ tuổi Thìn Tuổi Dậu kỵ tuổi Tuất Tứ Tuyệt (lấy nhau không hạp) Tuổi Tý kỵ tuổi Tỵ Tuổi Dậu kỵ tuổi Dần Tuổi Ngọ kỵ tuổi Hợi Tuổi Mẹo kỵ tuổi Thân Bào Thai (những tháng sanh của trai kỵ tháng sanh của gái. Lấy nhau không hạp) Trai sanh tháng Giêng, tháng Bảy, kỵ gái sanh tháng Tư, tháng Mười Trai sanh tháng Hai, tháng Tám, kỵ gái sanh tháng Hai, tháng Mười Một Trai sanh tháng Ba, tháng Chín, kỵ gái sanh tháng Sáu, tháng Chạp Trai sanh tháng Tư, tháng Mười, kỵ gái sanh tháng Hai, tháng Mười Trai sanh tháng Năm, tháng Mười Một, kỵ gái sanh tháng Hai, tháng Tám Trai sanh tháng Sáu, tháng Chạp, kỵ gái sanh tháng Ba, tháng Chín. Mười Thiên Can kỵ và hạp, lấy nhau tốt hay xấu Bảng lập thành dưới đây chỉ trai có chữ gì thì nên lấy vợ có chữ gì, hay là không nên lấy vợ có chữ gì. TUỔI TRAI CÓ CHỮ NÊN LẤY VỢ CÓ CHỮ KHÔNG NÊN LẤY VỢ CÓ CHỮ Giáp Kỷ Canh Ất Canh Tân Bính Tân Nhâm Đinh Nhâm Quý Mậu Quý Giáp Kỷ Giáp Ất Canh Ất Bính Tân Bính Đinh Nhâm Đinh Mậu Quý Mậu Kỷ Phép xem tuổi cưới gả khắc hay hạp (chọn sẵn Thiên Can tuổi trai so xuống tuổi gái) Khi xem tuổi thì phải lựa Thiên Can của tuổi trai coi xuống 12 Địa Chi của tuổi gái, như hợp thì đặng hòa thuận suốt đời và sanh con cũng mạnh khỏe, thông mình hay là ít bịnh tật: 10 Thiên Can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý 12 Địa Chi là: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi Dưới đây tôi lựa sẵn những tuổi trai có chữ gì, cưới tuổi gái trong 12 chi nào, tốt hay xấu, khắc hay hợp. Và tôi có lựa sẵn năm Dương Lịch, đối chiếu với năm Âm Lịch, tôi cũng có lựa sẵn những năm, những tuổi đang hiện tại và những tuổi về tương lai sau này và cũng có cả năm Dương Lịch và Ấm Lịch đối chiếu. Trai (Thiên Can) lấy vợ (Địa Chi) tốt hay xấu Trai có chữ Giáp lấy 12 tuổi như dưới đây: Giáp lấy vợ Tý: có con cái đều đặng danh dự và quyền thế, nhưng không có âm đức về sau Giáp lấy vợ Sửu, Dần: có con không đặng nhờ vì con không đặng hiếu hạnh Giáp lấy vợ Mẹo: vợ chồng không an toàn, hoặc có hư thai Giáp lấy vợ Thìn: có con cháu không toàn vẹn Giáp lấy vợ Tỵ: cuộc tình chồng nghĩa vợ dỡ dang, chẳng đặng bền lâu Giáp lấy vợ Ngọ, Mùi: có con khó nuôi đến lớn Giáp lấy vợ Thân: con cháu thi đỗ được nhiều khoa, nhưng rồi cũng không bền Giáp lấy vợ Dậu, Tuất: cửa nhà vẻ vang, con cái thi đỗ thành công, con quý, rể hiền Giáp lấy vợ Hợi: con cháu đặng thi đỗ, nhưng trước vinh sau nhục, trước giàu sau nghèo Trai có chữ Ất lấy 12 tuổi như dưới đây: Ất lấy vợ Tý: con cái đặng thi đỗ, nhưng phải chịu gian nan thưở nhỏ, sung sướng về tuổi già Ất lấy vợ Sửu, Dần: sanh con cháu thi đỗ nhiều, nhưng cũng phải trước giàu sau nghèo Ất lấy vợ Mẹo: nếu không có con thì mới đặng an toàn Ất lấy vợ Thìn, Tỵ: sanh con sang trọng, đặng công thành danh toại Ất lấy vợ Ngọ: vợ chồng được song toàn đại lợi, nhưng sau cũng sanh buồn phiền Ất lấy vợ Mùi: được giàu sang vinh hiển, sanh con cháu thi đỗ đặng nhiều khoa Ất lấy vợ Thân: có thi đỗ nhưng sau cũng không lợi Ất lấy vợ Dậu: vợ chồng khó đặng toàn vẹn, từ 30 tuổi trở lên mới biết sự hay dở Ất lấy vợ Tuất, Hợi: vợ chồng trước nghèo sau giàu Trai có chữ Bính lấy 12 tuổi như dưới đây: Bính lấy vợ Tý: người vợ sanh sản khó, nhưng nuôi được thì được danh thơm, trước sau cũng được giàu sang đại lợi. Nếu được vợ lẽ thì người vợ lẽ ấy sẽ sanh con trai. Bính lấy vợ Sửu: vợ chồng làm ăn khó nhọc, sau sẽ có lợi, sanh con trai thi đỗ, nhưng con phải có tật bịnh mới có thể nuôi đặng đến lớn Bính lấy vợ Dần: vợ chồng khi lìa khi hiệp, rồi sau cũng đặng sum vầy, sanh con trai thi đỗ vì đặng chữ “Phùng Xuân” ứng. Bính lấy vợ Mẹo, Thìn: làm ăn lúc thạnh lúc suy, nhiều con chẳng thành đạt, dầu có lúc phong lưu cũng vô ích Bính lấy vợ Tỵ: đặng phú quý vinh hoa, sung sướng đến trọn đời, con cháu cũng đặng hiển đạt Bính lấy vợ Ngọ, Mùi: vợ chồng đặng giàu sang đại lợi, từ 40 tuổi trở lên sẽ có tiểu tật, con đặng thi đỗ Bính lấy vợ Thân: vợ chồng làm ăn trước phải chịu gian nan, sau sẽ phú túc, tích nhiều thành đa, cần kiệm sẽ khá Bính lấy vợ Dậu: vợ chồng đặng song toàn, trước nghèo sau giàu, con cái ít. Bính lấy vợ Tuất, Hợi: có con khó nuôi, vợ chồng trước hiệp sau lìa Trai có chữ Đinh lấy 12 tuổi như dưới đây: Đinh lấy vợ Tý, Sửu: vợ chồng rất gian truân, chẳng đặng yên ổn, con cái cũng khó nuôi, hoặc nghèo nàn Đinh lấy vợ Dần: trước lành sau dỡ, khó được bén duyên tơ tóc Đinh lấy vợ Mẹo: cuộc tình duyên vui vầy và hạnh phúc, có con cháu đông Đinh lấy vợ Thìn: có hai đứa con đặng thi đỗ, quan tước hiểng vang, nếu có vợ lẽ cũng đặng giàu sang Đinh lấy vợ Tỵ: trước sau cũng đều đặng sang giàu, con cái đặng thi đỗ thành danh và đại lợi Đinh lấy vợ Ngọ, Mùi: sanh con gái đầu lòng thì không đặng lợi, cửa nhà ắt bị hao tổn, phải nuôi con nuôi thì nuôi con ruột mới dễ được, hay là lấy vợ lẽ mới đặng toàn hảo thuỷ chung Dinh lấy vợ Thân, Dậu: được quyền cao tước trọng, nhưng sau cũng bị mất chức, trước hay sau dỡ Đinh lấy vợ Tuất: vợ chồng phải tha hương xứ người mới được hào phú đại lợi, có quyền quý, sanh con gái đặng song toàn Đinh lấy vợ Hợi: trước có nhà cửa huy hoàng, sau gặp lúc phong ba, nếu là quan quyền thì lận đận lắm. Trai có chữ Mậu lấy 12 tuổi như dưới đây: Mậu lấy vợ Tý: vợ chồng đặng sum vầy hòa hiệp, phú quý vinh hoa, trước sau đều đại lợi, con cháu cũng đặng giàu sang Mậu lấy vợ Sửu, Dần: trai gái đều đặng toàn vẹn, vợ chồng cũng đặng song toàn hạnh phúc Mậu lấy vợ Mẹo: vợ chồng làm ăn đủ dùng, nếu tha phương làm ăn lại càng hay, thuở đầu hơi gian nan, về sau sung sướng Mậu lấy vợ Thìn: trước phải chịu cảnh gian truân, về sau đặng vinh hiển, lại e cuộc tình duyên chẳng đáng vẹn toàn. Mậu lấy vợ Tỵ, Ngọ: khó bề đặng phú quý, nếu trai gái đều toàn thì sanh biến, không biến thì nhà cửa phải tiêu tan, dầu cho có quan lộc cũng phải biến Mậu lấy vợ Mùi, Thân: trước sau đều đặng đại lợi, sanh con nhiều và tròn vẹn Mậu lấy vợ Dậu: lúc đầu đại lợi sau rồi vô ích, nếu lấy vợ lẽ sẽ sanh con trai được trọng quyền Mậu lấy vợ Tuất, Hợi: không nhờ con cái, đi tha phương lại càng tốt. Trai có chữ Kỷ lấy 12 tuổi như dưới đây: Kỷ ly vợ Tý: vợ chồng làm ăn đặng thịnh vượng, nhưng trước phải đặng nghèo, rồi sau mới đặng giàu Kỷ lấy vợ Sửu, Dần: sanh con trai khó nuôi được đến lớn, đi làng khác mới được yên, vợ lẽ sanh con dễ nuôi hơn Kỷ lấy vợ Mẹo, Thìn: phải tha phương mới nên sự nghiệp, giàu sang mà sanh con trai, sau không có con gái là khí âm tiêu hết Kỷ lấy vợ Tỵ, Ngọ: gặp thời thì thạnh lỗi mùa thì suy, vợ chồng cách trở tha phương, chẳng chết thì cũng lìa xa đôi ngã, đời sau vợ chồng mới sanh con trai Kỷ lấy vợ Mùi, Thân: vợ chồng được trường cửu hạnh phúc song toàn, nhiều con thi đỗ cao, và vinh quang trọn đời Kỷ lấy vợ Dậu: vợ chồng khó đặng bền lâu, phải ly biệt, nếu ăn ở với nhau được thì cũng thường ốm đau bịnh tật Kỷ lấy vợ Tuất: sanh con chẳng đặng nhờ vì con bất hiếu, nến con có đỗ cao cũng phải chịu khó về sau Kỷ lấy vợ Hợi: vợ chồng đặng song toàn hạnh phúc, nhà cửa phú túc, con cháu đông đúc và thi đỗ cao Trai có chữ Canh lấy 12 tuổi như dưới đây: Canh lấy vợ Tý, Sửu: lấy nhau gặp thời thì tốt, nếu không thì dù trai hay gái cũng trọn đời chẳng có gì là vinh hiển Canh lấy vợ Dần, Mẹo: trước phải gian truân, sau mới sung sướng giàu sang, có con thi đỗ cao Canh lấy vợ Thìn, Tỵ: vợ chồng ăn ở hiền lương thì đặng phú quý và nhiều con, nếu thất đức thì ắc phải nghèo nàn Canh lấy vợ Ngọ: tự mình lập thân chẳng cậy nhờ ai, khoa danh hiển đạt, lộc hưởng tự nhiên Canh lấy vợ Mùi, Thân: đời vợ trước không đặng vẹn bền, đời vợ sau mới đặng giai lão Canh lấy vợ Dậu: lúc đầu hòa hiệp, về sau có phần khó khăn, trước nghèo sau khá Canh lấy vợ Tuất, Hợi: đời vợ trước chẳng đặng trọn tình, lấy vợ sau mới đặng vững bền và sanh đặng quý tử (con thảo) Trai có chữ Tân lấy 12 tuổi như dưới đây: Tân lấy vợ Tý: nếu có vợ sớm thì dẫu có con cũng không thành đạt, hay là sanh con khó nuôi đến lớn, lấy vợ sau mới đại lợi Tân lấy vợ Sửu, Dần: không được hào con, sự làm ăn trước thành sau suy Tân lấy vợ Mẹo: tự nhiên phú quý, nhưng có con thi đỗ thì chết, trước nghèo sau giàu Tân lấy vợ Thìn, Tỵ: sanh con gái dễ nuôi hơn con trai, đặng của cải quan lộc Tân lấy vợ Ngọ: sự làm ăn hoàn toàn thạnh vượng, sanh con gái thì đặng hiếu thảo Tân lấy vợ Mùi, Thân: trước giàu sang sau lại hóa ra nghèo, con cái khó nuôi, lúc tuổi già có bịnh tật liên miên Tân lấy vợ Dậu: công danh toại nguyện, được giàu sang nhưng vất vả, có con khó nuôi đến lớn Tân lấy vợ Tuất, Hợi: có vợ gặp sanh sản khó, vợ chồng bất chánh Trai có chữ Nhâm lấy 12 tuổi như dưới đây: Nhâm lấy vợ Tý: vợ chồng sẽ có bịnh tật, thường gặp sự thưa kiện, dẫu sanh con trai hay con gái cũng không vẹn toàn Nhâm lấy vợ Sửu, Dần: sanh nhiều con gái, nếu có con trai dẫu có thi rồi cũng thất chức Nhâm lấy vợ Mẹo: sanh con trai hay gái cũng đều vẹn toàn, song chẳng nhờ con, có thi đỗ cao cũng không đặng chức phận Nhâm lấy vợ Thìn: về sau phải chịu cảnh nghèo khổ, mặc dầu thuở trước đã giàu sang, trở về già thường mắc bịnh tật Nhâm lấy vợ Tỵ: dầu đặng giàu sang nhưng sanh con cũng khó nuôi được (thất hào con), từ 40 tuổi trở lên lập nghiệp khó khăn, lấy vợ sau mới yên vui được Nhâm lấy vợ Ngọ: tuổi trẻ làm ăn được thạnh vượng, con gái hay trai đều song toàn, nhưng từ 40 tuổi trở về sau thì mắc bịnh tật không toàn Nhâm lấy vợ Mùi: tự nhiên có lộc và quan chức, tuổi già có mắc tật bịnh Nhâm lấy vợ Thân: sanh con chẳng toàn, được giàu sang song chẳng đặng thọ Nhâm lấy vợ Dậu: tình vợ chồng không toàn vẹn, có nhiều sự gây gỗ trong gia đình Nhâm lấy vợ Tuất, Hợi: được phú quý thịnh vượng, đông con cái và nhiều lộc trời ban Trai có chữ Quý lấy 12 tuổi như dưới đây: Quý lấy vợ Tý: đặng giàu sang, con cái thi đỗ cao, nếu tha phương thì có nhiều đại lợi Quý lấy vợ Sửu, Dần: có vợ ở xa xứ, đặng phú quý đại lợi, học hành thi đỗ Quý lấy vợ Mẹo: ăn ở lúc nhở thì hợp nhau, lớn ắt phải xa lìa, có chức vị quan tước Quý lấy vợ Thìn, Tỵ: đặng phú quý đại lợi, lấy vợ ở xa xứ rất tốt Quý lấy vợ Ngọ: trước nghèo nàn, sau sẽ đặng phú quý, đại lợi, nhiều của cải, con cháu thi đỗ cao Quý lấy vợ Mùi, Thân: đặng quan tước cao, công thành danh toại Quý lấy vợ Dậu: dầu có chức tước cũng không đặng trọn vẹn, chẳng việc gì đặng toại nguyện Quý lấy vợ Tuất, Hợi: trước tốt sau xấu, trước thành sau hại, dầu có hay một lúc rồi cũng gian nan BẢNG SO ĐÔI TUỔI VỢ CHỒNG THUỘC CUNG, MẠNG (Gọi là Bát San) Chồng cung Càn lấy vợ cung gì, tốt hay xấu: Chồng cung Càn lấy vợ cung Càn : đựơc Phục vị (tốt vừa) Chồng cung Càn lấy vợ cung Cấn : được Phước đức (thật tốt) Chồng cung Càn lấy vợ cung Khôn : được Sanh khí (thật tốt) Chồng cung Càn lấy vợ Đoài : được Duyên niên (thật tốt) Chồng cung Càn lấy vợ cung Khảm : bị Lục sát (thật xấu) Chồng cung Càn lấy vợ cung Chấn : bị Ngũ quỉ (thật xấu) Chồng cung Càn lấy vợ cung Tốn : bị Họa hại (thật xấu) Chồng cung Càn lấy vợ cung Ly : bị Tuyệt mạng (xấu vừa) Chồng cung Khảm lấy vợ cung gì, tốt hay xấu: Chồng cung Khảm lấy vợ cung Khảm : được Phục vị (tốt vừa) Chồng cung Khảm lấy vợ cung Chấn : được Thiên y (thật tốt) Chồng cung Khảm lấy vợ cung Tốn : được Sanh khí (thật tốt) Chồng cung Khảm lấy vợ cung Ly : được Phước đức (thật tốt) Chồng cung Khảm lấy vợ cung Càn : bị Lục sát (thật xấu) Chồng cung Khảm lấy vợ cung Cấn : bị Ngũ quỷ (thật xấu) Chồng cung Khảm lấy vợ cung Khôn : bị Tuyệt mạng (xấu vừa) Chồng cung Khảm lấy vợ cung Đoài : bị Họa hại (thật xấu) Chồng cung Cấn lấy vợ cung gì, tốt hay xấu: Chồng cung Cấn lấy vợ cung Cấn : được Phục vị (tốt vừa) Chồng cung Cấn lấy vợ cung Càn : được Thiên y (thật tốt) Chồng cung Cấn lấy vợ cung Khôn : được Sanh khí (thật tốt) Chồng cung Cấn lấy vợ cung Đoài : được Duyên niên (thật tốt) Chồng cung Cấn lấy vợ cung Khảm : bị Ngũ quỉ (thật xấu) Chồng cung Cấn lấy vợ cung Chấn : bị Lục sát (thật xấu) Chồng cung Cấn lấy vợ cung Tốn : bị Tuyệt mạng (xấu vừa) Chồng cung Cấn lấy vợ cung Ly : bị Họa hại (thật xấu) Chồng cung Chấn lấy vợ cung gì, tốt hay xấu: Chồng cung Chấn lấy vợ cung Chấn : được Phục vị (tốt vừa) Chồng cung Chấn lấy vợ cung Khảm : được Thiên y (thật tốt) Chồng cung Chấn lấy vợ cung Ly : được Sanh khí (thật tốt) Chồng cung Chấn lấy vợ cung Càn : bị Lục sát (thật xấu) Chồng cung Chấn lấy vợ cung Cấn : bị Ngũ quỉ (thật xấu) Chồng cung Chấn lấy vợ cung Khôn : bị Họa hại (thật xấu) Chồng cung Chấn lấy vợ cung Tốn : bị Họa hại (thật xấu) Chồng cung Chấn lấy vợ cung Đoài : bị Tuyệt mạng (xấu vừa) Chồng cung Tốn lấy vợ cung gì, tốt hay xấu: Chồng cung Tốn lấy vợ cung Tốn : được Phục vị (tốt vừa) Chồng cung Tốn lấy vợ cung Khảm : được Sanh khí (thật tốt) Chồng cung Tốn lấy vợ cung Chấn : được Phước đức (thật tốt) Chồng cung Tốn lấy vợ cung Ly : được Thiên y (thật tốt) Chồng cung Tốn lấy vợ cung Càn : bị Họa hại (thật xấu) Chồng cung Tốn lấy vợ cung Cấn : bị Tuyệt mạng (xấu vừa) Chồng cung Tốn lấy vợ cung Khôn : bị Ngũ quỉ (thật xấu) Chồng cung Tốn lấy vợ cung Đoài : bị Lục sát (thật xấu) Chồng cung Ly lấy vợ cung gì, tốt hay xấu: Chồng cung Ly lấy vợ cung Ly : được Phục vị (tốt vừa) Chồng cung Ly lấy vợ cung Khảm : được Phước đức (thật tốt) Chồng cung Ly lấy vợ cung Chấn : được Sanh khí (thật tốt) Chồng cung Ly lấy vợ cung Tốn : được Thiên y (thật tốt) Chồng cung Ly lấy vợ cung Càn : bị Tuyệt mạng (xấu vừa) Chồng cung Ly lấy vợ cung Cấn : bị Họa hại (thật xấu) Chồng cung Ly lấy vợ cung Khôn : bị Lúc sát (thật xấu) Chồng cung Ly lấy vợ cung Đoài : bị Ngũ quỉ (thật xấu) Chồng cung Khôn lấy vợ cung gì, tốt hay xấu: Chồng cung Khôn lấy vợ cung Khôn : được Phục vị (tốt vừa) Chồng cung Khôn lấy vợ cung Càn : được Duyên niên (thật tốt) Chồng cung Khôn lấy vợ cung Cấn : được Sanh khí (thật tốt) Chồng cung Khôn lấy vợ cung Đoài : được Thiên y (thật tốt) Chồng cung Khôn lấy vợ cung Chấn : bị Hoạ hại (thật xấu) Chồng cung Khôn lấy vợ cung Khảm : bị Tuyệt mạng (xấu vừa) Chồng cung Khôn lấy vợ cung Tốn : bị Họa hại (thật xấu) Chồng cung Khôn lấy vợ cung Ly : bị Lục sát (thật xấu) Chồng cung Đoài lấy vợ cung gì, tốt hay xấu: Chổng cung Đoài lấy vợ cung Đoài : được Phục vị (tốt vừa) Chổng cung Đoài lấy vợ cung Càn : được Phước đức (thật tốt) Chổng cung Đoài lấy vợ cung Cấn : được Duyên niên (thật tốt) Chổng cung Đoài lấy vợ cung Khôn : được Sanh khí (thật tốt) Chổng cung Đoài lấy vợ cung Chấn : bị Tuyệt mạng (xấu vừa) Chổng cung Đoài lấy vợ cung Khảm : bị Họa hại (thật xấu) Chổng cung Đoài lấy vợ cung Tốn : bị Lục sát (thật xấu) Chổng cung Đoài lấy vợ cung Ly : bị Ngũ quỉ (thật xấu) HÔN NHƠN THUỘC NGŨ HÀNH, TỐT HAY XẤU Chồng mạng Kim, lấy vợ mạng gì, tốt hay xấu Chồng Kim vợ Kim, Thì ăn ở nhau sanh đẻ bất lợi, hay cãi lẩy, có khi phải lìa nhau, trừ khi đúng vào quẻ “Lưỡng Kim, Kim Khuyết”, hoặc Lưỡng Kim thành khí Chồng Kim vợ Mộc, thì Kim khắc Mộc, khắc xuất khổ sở nghèo nàn, chồng Nam vợ Bắc Chồng Kim vợ Hỏa, thường hay cãi vã nhau, sanh con khó nuôi, nhà cửa túng nghèo Chồng Kim vợ Thủy, là thiên duyên tác hợp, con cháu đầy đàn, vợ chồng hoà thuận Chông Kim vợ Thổ, vợ chồng hòa thuận, con cháu đầy đàn, gia đình vui vẻ, lục súc bình an Chồng mạng Mộc, lấy vợ mạng gì, tốt hay xấu Chồng Mộc, vợ Mộc, quan lộc tốt, con cháu đông đủ, gia đình hoà hiệp Chồng Mộc, vợ Thủy, Một với Thủy tương sanh, tiền tài phú túc, con cháu đông, vợ chồng bách niên giai lão Chồng Mộc, vợ Hỏa, Mộc, Hoả tự nhiên sanh, tiền tài quan lộc đặng thạnh vượng, con cháu đông đủ Chồng Mộc, vợ Thổ (1) Thổ Mộc tương sanh, con cháu đông và làm nên đại phú Chồng Mộc, vợ Kim Hai mạng đều khắc nhau, trước hợp sau lìa, con cháu bất lợi Chồng mạng Thủy, lấy vợ mạng gì, tốt hay xấu Chồng Thuỷ, vợ Thủy Hai Thuỷ tuy không tốt nhưng điền trạch (đặng) khá yên, ăn ở nhau được Chồng Thuỷ, vợ Kim Kim Thuỷ sanh tài, sung sướng đến già, con cháu đặng khá Chồng Thủy, vợ Mộc Thủy Mộc nhân duyên, vợ chồng ăn ở đặng bá niên giai lão Chồng Thủy, vợ Hỏa Thuỷ Hỏa tương khắc, vợ chồng chẳng đặng bền duyên, con cháu bất lợi, gia đạo an nguy Chồng Thủy, vợ Thổ hai mạng khắc nhau, vui vẻ bất thường, làm việc gì cũng khó Chồng mạng Hỏa, lấy vợ mạng gì, tốt hay xấu Chồng Hỏa, vợ Hỏa hai Hỏa giúp nhau, có khi hưng vượng, con cháu đầy đàn Chồng Hỏa, vợ Kim Hỏa Kim khắc nhau, hay cải lẩy và kiện cáo, gia đình không an Chồng Hỏa, vợ Mộc Hỏa Mộc hợp duyên, gia thất bình an, phước lộc kiêm toàn Chồng Hỏa, vợ Thủy Thuỷ Hỏa tương khắc, vợ chồng chẳng đặng bền duyên, con cháu bất lợi, gia đạo an nguy Chồng Hỏa, vợ Thổ Hỏa Thổ hữu duyên, tài lộc sung túc, con thảo dâu hiền Chồng mạng Thổ, lấy vợ mạng gì, tốt hay xấu Chồng Thổ, vợ Thổ lưỡng Thổ tương sanh, trước khó sau dễ, lắm của nhiều con Chồng Thổ, vợ Kim vợ chồng hòa hiệp, con cháu thông minh, tài lộc sung túc Chồng Thổ, vợ Mộc Thổ Mộc bất an, vợ chồng phải phân ly, mỗi người mỗi ngã Chồng Thổ, vợ Thuỷ Thổ Thuỷ tương khắc, trước hiệp sau lìa, sanh kế bất lợi Chồng Thổ, vợ Hỏa Thổ Hỏa đắc vị, quan vị dồi dào, con cháu đông đủ và giàu sang NGŨ HÀNH TƯƠNG SANH (Tốt) Mạng Kim sanh Thủy Mạng Thủy sanh Mộc Mạng Mộc sanh Hỏa Mạng Hỏa sanh Thổ Mạng Thổ sanh Kim NGŨ HÀNH TƯƠNG KHẮC (Xấu) Mạng Kim khắc Mộc Mạng Mộc khắc Thổ Mạng Thổ khắc Thủy Mạng Thủy khắc Hỏa Mạng Hỏa khắc Kim Phụ giải: Ngũ Hành là năm thể chất giao nhau mà sanh tồn, dầu cho quý vị có tôn trọng khoa học đến đâu thì nhà khoa học ngày nay đã tìm thấy trong bản thật con người cũng không ngoài năm thứ thể chất ấy, mà ta gọi là “Ngũ Hành”. Cho nên sự khắc hợp rất là quan trọng. TAM HẠP HỘI THÀNH CUỘC Thân, Tý, Thìn hội thành Thủy cuộc Tỵ, Dậu, Sửu hội thành kim cuộc Dần, Ngọ, Tuất hội thành Hỏa cuộc Hợi, Mẹo, Mùi hội thành Mộc cuộc ============================= Còn nhiều điểm phải bàn, bởi chỉ không thể dựa trên đi chi hay cung phi không thôi mà quyết định tốt xâu! Thiên Đồng
-
(tiếp theo) 2. SỰ HOÀN CHỈNH CỦA HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ Trên cơ sở phân tích những bất hợp lý về hai trục Thiên Địa và Quỷ Môn từ đồ hình và tư liệu ghi lại từ cổ thư chữ hán, được dịch ra chữ Quốc ngữ ngày nay, người viết đi tìm một sự hợp lý cho những vấn đề tồn nghi. Và, người viết nhận thấy rằng những bí ấn, nghịch lý và tồn nghi được giải trừ, thay vào đó bằng sự lý giải hoàn toàn hoàn chỉnh trên cơ sở Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ, một nguyên lý được hiệu chỉnh dựa trên các cơ văn hóa phi vật thể thuộc nền văn hiến Việt có bề dày lịch sử 5000 năm huyền vĩ, nguyên lý ấy được giải thích và công bố trong các tác phẩm “ Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”, “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt”, “Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam”(*)…tác giả công trình nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Với sự phục hồi hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã công bố một nguyên lý lý thuyết được hiệu chỉnh và phục hồi, từ những mật ngữ tồn tại trong văn hóa phi vật thể của Việt tộc, đó là nguyên lý căn để Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ. Theo tiêu chí khoa học hiện đại quyết định rằng: “Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, nếu nó giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách nhât quán, hoàn chỉnh, có tính hệ thống, tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri.”. Nguyên lý lý thuyết căn để Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ chứng tỏ tính nhất quán và hợp lý của nó trong việc giải mã những bí ấn và nghịch lý của khái niệm trục Thiên – Địa và trục Quỷ Môn. Đầu tiên, hãy xem qua đồ hình Hậu thiên Lạc Việt với sự hoán vị hai vị trí Tốn – Khôn, đã được luận giải và chứng minh trong các tác phẩm đã nêu (*), xin miễn chứng minh, cùng với đồ hình Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ như sau: Hậu thiên Lạc Việt với hoán vị Tốn - Khôn. Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ. Từ đồ hình Hậu thiên Lạc Việt do nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh phục hồi, người viết họa lại đồ hình với hai trục khái niệm Thiên – Địa và Quỷ Môn như sau: Một sự phân hơp lý có thể nhân ra rằng phương Cấn – Đông Bắc vẫn là Quỷ môn với định danh là Nam quỷ môn có được sự đồng nhất giữa danh và quái khí là Nam quỷ môn với quái Cấn là tượng thứ nam trong nghĩa về tượng quái của 8 quái dịch, đồng thời đối lập, đối xứng cân bằng trong mối tương quan cân đối Âm dương với phương Tây Nam là quái Tốn, đăng đối với danh vị Nữ quỷ môn, bởi quái Cấn tượng là thiếu nam hợp, con trai út với định danh Nam quỷ môn lại đồng đẳng và đối xứng âm dương với quái khí Tốn tượng là trưởng nữ, con gái cả. Tiếp theo, xét cặp khái niệm Thiên Môn - Đại Hộ với căp quái Càn - Khôn trong Hậu thiên Lạc Việt. Giống như thế, phương Càn – Tây Bắc gọi là Thiên Môn nghĩa là cổng trời đồng nhất giữa danh và quái khí là Càn, tượng là trời là cha là lão ông trong nghĩa về tượng quái của 8 quái dịch môn đăng hậu đối với phương Đông Nam chủ quái là Khôn, được hoán vị hoàn toàn tương hợp với danh vị là Địa Hộ. Hai định danh Thiên Môn và Địa Hộ trong mối quan hệ đồng trục với ngôi nhà mới là Hậu thiên Lạc Việt đã cho thấy rỏ ràng tính đối lập, đối xứng, cân bằng âm dương trong mối tương quan trên bát quái thể hiện chặt chẻ tính đồng đẳng tương quan, bởi quái tượng Càn là trời, là cha, là lão ông với định danh Thiên môn đăng đối với quái khí Khôn tượng là đất, là mẹ, là lão bà hoàn toàn xứng hợp với định danh Địa hộ. Vì vậy tính đồng đẳng, tương quan so sánh được thể hiện ngay và hoàn chỉnh hợp lý với phương trục Thiên Địa mà cổ thư chữ không thể hiện được điều này! Ở phần chi tiết hơn, tính đối xứng, cân bằng âm dương thể hiện rỏ ràng qua từng hào của quái, ở các hào sơ, hào trung, hào thượng giữa hai quái Càn – Khôn. Bản thân ngay tượng quái Càn và Khôn cũng đã thể hiện đối lập âm dương và cũng hiển nhiên cũng là một cặp phạm trù thể hiện tính âm dương. Còn lại, ở hai trục Khảm – Ly, Chấn – Đoài thì không cần phải bàn đến, bởi đã thể hiện đầy đủ tính tương quan cân đối âm dương. Với nguyên lý lý thuyết Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ, tính nhất quán còn thể hiện ngay trong quy luật tương phối quái khí thể hiện trong phương pháp Bát trạch Lạc Việt và Phiên tinh Lạc Việt. Theo phương pháp Bát trạch Lạc Việt, một phần ứng dụng của khoa Phong thủy Lạc Việt, cũng xác định phi cung mệnh chủ của con người được chia thành hai phe, phe Đông trạch và phe Tây trạch. Nhưng do sự hoán vị Tốn – Khôn nên Đông trạch sẽ gồm bốn phương tốt là Bắc, Nam, Đông và Tây Nam và quái khí không đổi là Khảm, Ly, Chấn, Tốn, ngược lại Tây Bắc, Đông Nam, Đông Bắc và Tây tương ứng với quái khí không đổi là Càn, Khôn, Cấn, Đoài thuộc Tây trạch. Từ đồ hình, vẫn nhận thấy trục Phúc Đức của phe Đông trạch vẫn là trục Khảm – Ly, Bắc – Nam theo phương pháp Bát trạch Lạc Việt và sơn hướng phối quái của phiên tinh Lạc Việt. Chính do sự chuyển đổi Tốn – Khôn, Hậu thiên Lạc Việt cho thấy sự xuất hiện trục Phúc Đức của người Tây trạch, ngay ở trục Thiên – Địa, trục Càn – Khôn, thể hiện một trục đồng tính chất quái khí tốt nhất của người Tây trạch mà Bát quái cổ thư không thể hiện được điều này. Một sự hoàn chỉnh hơp lý khác được mở ra khi quán xét hai trục còn lại trên đồ hình Hậu thiên Lạc Việt. Trục Đông Bắc – Tây Nam với hai quái Cấn – Tốn là trục Quỷ môn với định danh Nam quỷ môn và Nữ quỷ môn, khi được xét theo phương pháp Bát trạch Lạc Việt thì mệnh cung Tốn nhà hướng Cấn hay mệnh cung Cấn mà nhà hướng Tốn thì đều được Tuyệt Mạng và theo phương pháp Phiên tinh Lạc Việt, sơn hướng phối quái sơn hậu Cấn phối Tốn hướng hoặc sơn hậu Tốn phối Cấn hướng đều là Tuyệt Mạng, gọi là Tuyệt Mạng trạch và rỏ ràng đây là trục Tuyệt Mạng. Khái niệm trục Quỷ Môn đến lúc này trở nên thật tương xứng với tính chất nội tại của nó là trục Tuyệt Mạng và như vậy giữa danh và tính đã có sự hợp lý hoàn hảo mà Bát quái cổ thư cho đến thời điểm này vẫn không có thể nào tỏ rỏ tính hợp lý như vậy. Cùng một cách như vậy, trục Đông – Tây , Chấn – Đoài vẫn thể hiện là trục Tuyệt Mạng trên Bát quái Hậu thiên Lạc Việt. Một cách tổng thể nhận xét Hậu thiên Lạc Việt, lúc này phối với Hà đồ về việc phân bố trạch quái sẽ thấy rằng: Với hai trục trung tâm, hay gọi là đường trung tâm thì trục Thủy (Khảm) – Hỏa (Ly) hợp thành trục Phúc Đức vuông góc trục trung tâm Đông – Tây, Chấn – Đoài là trục Tuyệt Mạng thể hiện tính đối lập âm dương giữa một trạch – trục mang tính chất tốt nhất với một trach – trục mang tính chất xấu nhất. Cũng như vậy với trục tứ ngung Thiên – Địa là trục Phúc Đức vuông góc, đối lập với trục trục tứ ngung, là trục Quỷ môn với nội tính là trục Tuyệt Mạng thể hiện sự đối lập âm dương trên tổng thể đồ hình. Mặt khác, xét về tương quan quan ngũ hành giữa từng cặp phương đối xứng đồng trục thì tất cả đều tuân thủ theo nguyên lý ngũ hành tương khắc, như Thủy ( Khảm) – Hỏa (Ly), Kim (Đoài) – Mộc (Chấn), Cấn thuộc Mộc tương khắc với Tốn thuộc Kim, theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt và Càn là âm kim đới thủy tương khắc với Khôn là âm hỏa đới thổ vẫn thể hiện lý tương khắc cho một căp hành quái trên nguyên lý bát quái Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ. Và chính ngay khi phối các các quái lên cung vị của Hà đồ thì tính chất tương khác về ngũ hành cung vị Hà đồ vẫn thể hiện được tính đồng nhất và tương hợp với bát quái, một cách tổng quát các quái khí đồng trục đều theo một lý tương khắc hoàn toàn nhất quán và hoàn chỉnh. Tính quy luật cân đối âm dương còn thể hiện trên Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ khi cho thấy hai trục, âm Phúc Đức với độ số Hà đồ là 6-2 và dương Phúc Đức với độ số là 1-7 cho phe Đông trạch và Tây trạch, cùng với hai trục âm Tuyệt Mạng với độ số 8-4 và dương Tuyệt Mạng với độ số 3-9 cho hai phe Đông – Tây trạch. Đây là thể hiện tính cân đối âm dương, có cặp có đôi trong nội hàm Phúc Đức và Tuyệt Mạng và cũng thể hiện lý âm dương trong ngay trên cặp phạm trù Phúc Đức và Tuyệt Mạng. Như vậy sự hoàn chỉnh tuyệt vời cho việc giải mã bí ẩn, nghịch lý trục Quỷ Môn và trục Thiên Môn – Địa Hộ tồn tại từ trong cổ thư và sư phân bố tổ chức hợp lý các phương quái thì không nguyên lý nào bằng nguyên lý Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ thuộc nền văn hiến Việt 5000 năm huyền vĩ. Hơn nữa, xét theo trục từ trường Trái Đất, trục Khảm - Ly trùng với trục từ trường Bắc - Nam của quả đất dành riêng cho phe Đông trạch. Trục Tây Bắc - Đông Nam tương hợp với trục nghiêng của Trái đất cũng thể hiện là một trục chính với chiều tương tác quan trọng đồng chất dành riêng cho phe Tây trạch. Một lần Hậu thiên Lạc Việt phối Hà đồ thể hiện tính ưu việt của nó. 3. LỜI KẾT Để hiệu chỉnh một nguyên lý đã có sẳn thì cần phải đi từ một lý thuyết hoàn chỉnh và nếu như thế thì chỉ có chủ nhân đích thực của hệ thống lý thuyết đó mới thực hiện được điều này, với sự phục hồi học thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc nền văn hiến Việt 5000 năm rực rỡ thì việc giải quyết tính bất hợp lý của những khái niệm như trục Thiên – Địa, trục Quỷ Môn cho thấy tính hoàn chỉnh của nguyên lý lý thuyết Hậu thiên Lạc Việc phối Hà đồ, được công bố bởi nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, thể hiện tính nhất quán, tính quy luật và có thể giải thích được nhưng hiện tượng hiên quan đã cho thấy sự hoàn chính và phù hợp với tiêu chí khoa học của nguyên lý lý thuyết ấy. 19 tháng Dậu năm Tân Mẹo (2011) Thiên Đồng ================================= Tham khảo: - Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2007 - Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2003 - Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam. - Phong thủy Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, lưu hành nội bộ. - Dịch học ngũ linh, tg Cao Từ Linh, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2006. - Nhập môn chu dịch dư đoán học, tg Thiệu Vĩ Hoa, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1996. - Phong thủy toàn thư, tg Thiệu Vĩ Hoa, NXB Thời Đại, 2009
-
NGHỊCH LÝ TRỤC QUỶ MÔN, BÍ ẨN THIÊN MÔN ĐỊA HỘ VÀ SỰ HOÀN CHỈNH CỦA HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương. Tiêu chí khoa học hiện đại quyết định rằng “Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, nếu nó giải thích hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách nhât quán, hoàn chỉnh, có tính khách quan, tính quy luật và có khả năng tiên tri.” Trong những tri thức liên quan đến phương pháp của học thuật cổ Đông phương, cụ thể là phương pháp Bát trạch trong phong thủy, tồn tại những khái niệm bất biến như Thiên Môn, Địa Hộ, Quỷ Môn, Nhân Môn, Nam Quỷ Môn, Nữ Quỷ Môn…nhưng đi kèm với những định danh này thì không có sự tương hợp, tương xứng cho từng định vị hay sự tương thích trong cùng mối liên hệ để tạo nên sự nhất quán cho một hệ thống lý thuyết mang tính hoàn chỉnh. Do vậy, điều nghịch lý tồn tại hằng ngàn năm được mặc khải như một chân lý cần được giải linh, khơi sáng nỗi tồn nghi. 1. NGHỊCH LÝ TRỤC QUỶ MÔN VÀ BÍ ẨN THIÊN MÔN - ĐỊA HỘ: Sách Phong Thủy Toàn Thư, tác giả Thiệu Vĩ Hoa, nhà xuất bản Thời Đại ấn hành năm 2009, trang 128, hướng dẫn về cách xem tướng nhà và phương vị nhà cửa, có tái hiện phương vị la bàn bằng đồ hình như sau: Trang 176, sách cùng tựa, có đoạn như sau: Cuốn Phong Thủy Toàn thư của Thiệu Vĩ Hoa. Nxb Thời Đại 2009. Đây là lời giải thích trong sách của tác giả Thiệu Vĩ Hoa cho việc xác định đường Tứ ngung, đường Trung tâm, đường Quỷ môn. Người viết một lần nữa ghi nhận rõ hơn rằng: Đường trung tâm, có hai đường, được xác định trên la bàn, là đường kéo dài từ 0 độ qua tâm đến 180 độ và đường kéo dài từ 90 độ qua tâm đến 270 độ. Người viết gọi là Trục trung tâm. Đường tứ ngung, nghĩa là đường bốn góc, có hai đường, được xác định trên la bàn, là đường kéo dài từ 45 độ qua tâm đến 225 độ và đường kéo dài từ 315 độ qua tâm đến 135 độ. Người viết gọi là Trục tứ ngung. Trong đó, đường Quỷ môn là đường kéo dài từ 45 độ qua tâm đến 225 độ, người viết gọi là Trục Quỷ môn. Xin xem hình sau: Cũng sách Phong Thủy Toàn Thư, tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 33, 34 có đoạn giải nghĩa như sau: Từ những chú giải trên, trích từ sách, một tư liệu còn ghi lại từ cổ thư chữ Hán mà chính tác giả Thiệu Vĩ Hoa đã trưng ra và dẫn giải, người viết vẽ lại đồ hình tổng hợp sau: Dễ dàng nhận thấy rằng hai đường trung tâm (Trục trung tâm) vuông góc của bốn phương vuông góc là Nam – Bắc và Đông – Tây, còn lại là hai đường tứ ngung (Trục tứ ngung), nghĩa là đường bốn góc, như cái tên của nó, vuông góc nhau ở bốn phương góc Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc – Tây Nam. Từ đây, đều nghịch lý và những bí ẩn được trưng như từng được chấp nhận như một lẽ đương nhiên trên bát quái Hậu Thiên cổ thư, thường gọi là bát quái Hậu thiên Văn Vương. Phương Cấn – Đông Bắc gọi là Quỷ môn với danh cụ thể là Nam quỷ môn chứng tỏ được sự đồng nhất giữa danh và quái khí là Nam quỷ môn với quái Cấn là tượng thứ nam trong nghĩa về tượng quái của 8 quái dịch. Nhưng ngược lại, phương Tây Nam có chủ quái là Khôn lại không đồng danh vị với danh Nữ quỷ môn. Bởi lẽ, hai định danh Nam quỷ môn và Nữ quỷ môn đã thể hiện sự đối lập, đối xứng cân bằng trong mối tương quan đối xứng trên bát quái, nhưng về quái khí thì hoàn toàn không có tính đối xứng, cân bằng âm dương và không mang tính đối lập đồng đẳng. Quái Cấn tượng là thiếu nam, trai út hợp với định danh Nam quỷ môn, nhưng không đồng đẳng hay đối xứng âm dương với quái khí Khôn tượng là mẹ, đàn bà, bà lão, là lão âm và chính quái Khôn cũng không thể tương hợp với định danh Nữ quỷ môn. Lẽ ra phải gọi là Lão quỷ môn thì mới hợp với danh và quái. Nhưng như thế cũng không đồng đẳng với mối tương quan so sánh giữa hai phương Đông Bắc và Tây Nam, tức giữa Cấn và Khôn, tức giữa lão bà và con trai út (con nít!). Vì thế, dĩ nhiên là không có sự đối xứng âm dương, cân bằng âm dương thể hiện qua từng hào của quái, nghĩa là đối lập âm dương giữa các hào sơ, hào trung, hào thượng giữa hai quái Cấn - Khôn hoàn toàn không có thể hiện để tạo sự đối lập, đối xứng nào. Xin xem hình. Cũng như vậy, phương Càn – Tây Bắc gọi là Thiên môn có sự đồng nhất giữa danh và quái khí là Càn, tượng là trời là cha là lão ông trong nghĩa về tượng quái của 8 quái dịch. Nhưng ngược lại, phương Đông Nam có chủ quái là Tốn lại không đồng danh vị với danh Địa hộ. Hai định danh Thiên môn và Địa hộ trong mối quan hệ đồng trục, thể hiện sự đối lập, đối xứng cân bằng trong mối tương quan đối xứng trên bát quái, nhưng về quái khí thì hoàn toàn không có tính đối xứng, cân bằng âm dương và không mang tính đối lập đồng đẳng. Bởi, quái Càn tượng là trời với định danh Thiên môn (cửa trời), nhưng không đồng đẳng hay đối xứng âm dương với quái khí Tốn tượng trưởng nữ, người con gái cả và ngay cả chính quái Tốn cũng không thể tương hợp với định danh Địa hộ.Như thế, có việc không đồng đẳng với mối tương quan so sánh giữa hai phương Tây Bắc và Đông Nam, tức giữa Càn và Tốn, tức giữa lão ông và con gái cả, giữa trời và gió! Do vậy mà cũng không có sự đối xứng âm dương, cân bằng âm dương thể hiện qua từng hào của quái, nghĩa là đối lập âm dương giữa các hào sơ, hào trung, hào thượng giữa hai quái Càn – Tốn hoàn toàn không có thể hiện để tạo sự đối lập, đối xứng nào. Xin xem hình. Tuy vậy, ở hai trục trung tâm thì sự đối lập đối xứng âm dương giữa tượng quái Khảm – Ly, Chấn – Đoài thể hiện một mối tương quan hài hòa cân đối giữa 2 phương đối lập, cùng trục, thể hiện một quy luật rỏ ràng. Tuy nhiên, xét trên tổng thể 8 quái, mối tương quan của từng cặp về quái khí và danh tính của phương vị thì tổng thể bát quái Hậu thiên cổ thư không thể hiện được tính nhất quán trong quy luật, do vậy mà sự bất hợp lý cũng như bí ẩn về hai cặp phạm trù đối lập Thiên môn và Địa hộ, Nam quỷ môn và Nữ quỷ môn vẫn tồn tại một cách khó hiểu. Tính thiếu nhất quán còn thể hiện ngay trong quy luật tương phối quái khí thể hiện trong phương pháp Bát trạch và Dương trạch tam yếu về phần Phiên tinh phối quái. Phương pháp Bát trạch cổ thư, một phần ứng dụng của khoa Phong thủy, xác định phi cung mệnh chủ của con người được chia thành hai phe, phe Đông trạch và phe Tây trạch. Đông trạch gồm bốn phương tốt là Bắc, Nam, Đông và Đông Nam tương ứng quái khí Khảm, Ly, Chấn, Tốn, ngược lại Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc và Tây tương ứng với quái khí Càn, Khôn, Cấn, Đoài thuộc Tây trạch. Theo đó người mệnh cung Ly nhà hướng Khảm hay ngược lại người cung mệnh là Khảm nhà hướng Ly thì đều phương Phúc đức. Cũng tương tự như vậy, theo phương pháp Phiên tinh phối quái thì nhà hướng Ly, sơn hậu là Khảm hay ngược nhà hướng Khảm mà sơn hậu là Ly thì theo nguyên tắc lấy sơn phối hướng đều được Phúc Đức, gọi là Phúc Đức trạch. Như vậy, đều đương nhiên trên bát quái 8 phương tồn tại một trục tốt nhất của phe Đông trạch gọi là trục Phúc Đức. Điều này dễ nhận biết ngay trên bát quái với trục Bắc - Nam, chính trục từ 0 độ đến 180 độ, gọi là trục trung tâm, tức trục Khảm – Ly, tức là Phúc Đức trạch hay gọi là trục Phúc đức, bởi Phúc đức là phương vị tốt nhất đứng đầu trong các phương còn lại là Thiên Y, Sinh Khí, Phục Vị, Ngũ Quỷ, Lục Sát và Tuyệt Mạng, cho nên một trục chính với hai quái tượng đối xứng, đối lập âm dương, tương quan đồng đẳng về hình tượng Trung nam đối Trung nữ, tạo một trục đồng khí Đông trạch, đương nhiên gọi là trục Phúc Đức. Bát quái cổ thư do vậy vẫn thể hiện được một trục Phúc Đức với đường trung tâm, của phe Đông trạch. Tuy vậy, ở phe Tây trạch, chính ở tương quan Tây trạch xuất hiện sự bất nhất, bất hợp lý được hiển hiện ngay trên đồ hình tám cung quái. Trục Đông Bắc – Tây Nam với hai quái Cấn – Khôn là trục Quỷ môn với định danh nam quỷ môn và Nữ quỷ môn, tuy vậy theo phương pháp Bát trạch của cổ thư, mệnh cung Khôn nhà hướng Cấn hay mệnh cung Cấn mà nhà hướng Khôn thì đều được Sinh Khí. Vẫn như vậy, nếu hướng nhà là Cấn, sơn hậu là Khôn hoặc là nếu hướng nhà là Khôn mà sơn hậu là Cấn thì theo nguyên tắc lấy sơn phối hướng thì đều đước Sinh Khí, gọi là Sinh Khí trạch hay là trục Sinh Khí. Rỏ ràng, có sự không đồng nhất giữa định danh phương trục và tính chất của phương vị, cung quái của hai phương Cấn – Tốn này, bởi gọi là trục Quỷ môn nhưng khi xét tính chất phối quái hai phương đồng trục thì lại được trục Sinh Khí, tính bất nhất là ngay ở điểm này. Đồng một lý như vậy với trục tứ ngung, trục Thiên – Địa, Càn – Tốn; nếu nhà hướng Càn, mệnh cung Tốn hoặc dã, nhà hướng Tốn mà mệnh cung Càn thì đều được phương Họa Hại; cũng như vậy với phối quái phiên tinh, nếu hướng là Càn, sơn hậu là Tốn hay hướng là Tốn mà sơn hậu Càn thì đều được Họa Hại, gọi là trục Họa Hại hay Họa Hại trạch. Từ những điểm trên, xét một cách tổng quát về phân bố trạch quái của bát quái Hậu thiên cổ thư dễ thấy rằng: Với hai trục trung tâm, hay gọi là đường trung tâm thì tương quan quan ngũ hành giữa hai phương đối xứng đồng trục là tương khắc Thủy (Khảm) – Hỏa (Ly) và Kim (Đoài) – Mộc (Chấn) theo tính chất hành quái, nghĩa là theo lý tương khắc của ngũ hành thuộc hành quái. Với trục tứ ngung là Thiên – Địa, Càn – Tốn thì với tính chất hành quái của Càn là kim đới thủy đối xứng với Tốn thuộc hành quái Mộc, theo cổ thư, thì tính chất tương quan đồng trục giữa hai phương Càn – Tốn là tương sinh về ngũ hành. Trong khi đó, với trục Quỷ môn Đông Bắc và Tây Nam, Cấn đối Khôn thì tương quan của ngũ hành là tương hòa với Cấn và Khôn đều thuộc hành thổ theo cổ thư. Như vậy, ở bốn trục cho tám phương thì quan hệ ngũ hành đồng trục về tương khắc biểu hiện hai lần, về ngũ hành tương sinh đồng trục biểu hiện một lần và tương hòa thì biểu hiện một lần, xét một cách tổng thể thì ngay ở điểm này, các trục quái của Hậu thiên cổ thư không thể hiện một tính quy luật và nhất quán trong cách bố trí cung quái và phương trục, bởi tính chất ngũ hành tạp loạn. Hơn nữa, với cái nhìn tổng quan, trạch Phục Đức là trạch tốt nhất trong điều kiện Bát trạch và Dương trạch thì theo đồ hình tổng thể trên thấy rằng chỉ có phe Đông trạch mới có Phúc đức trạch hay trục Phúc Đức, ngược lại phe Tây trạch chỉ có Sinh Khí trạch hay trục Sinh Khí. Do vậy đây cũng chính là sự biểu hiện tính không đồng đẳng, tính mất cân xứng và tính bất cân bằng trong quy luật Âm Dương. Từ những phân tích trên về hai cặp khái niệm Thiên - Địa, Nam quỷ môn và Nữ quỷ môn với tính chất bất tương hợp và không nhất quán của nó về định danh và quái khí cho thấy một sự nghịch lý hay một bí ẩn trong quy luật sắp xếp của tám quái cần phải được chỉnh lý hay hiệu chỉnh để trở về với một trật tự hoàn hảo và nhất quán của bát quái. Bởi vậy, bát quái Hậu thiên cổ thư không thể là một nguyên lý hoàn chỉnh mà ngược bộc lộ những căn cứ mơ hồ, bất nhất đầy tồn nghi.
-
Bản Chất Thật Của Pháp Luân Công?
Thiên Đồng replied to Kim Cương's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Người xưa bảo là cẩn ngôn. Chỉ có người trình độ lớp 12 mới nhận xét người lớp 12. Người lớp 12 không thể nhận xét được thấu đáo các giáo sư, bác học... Cũng như vậy, muốn bảo rằng ngài Trần Nhân Tông "không thể đạt đến cảnh giới của Thích Ca Mâu Ni" thì người đưa ra nhận xét này chí ít cũng phải đạt đến cảnh giới của Thích Ca Mâu Ni" hay cảnh giới Trần Nhân Tông thì mới được. Bởi vậy...thiệt là....!!!! -
(tiếp theo) Bên trong các toà nhà có kết cấu bằng kính và thép ở Đức, các kiến trúc sư luôn chú ý đến các khoảng cây xanh, nhằm tạo cảm giác thư thái và cố gắng giảm bớt tính “lạnh” của chất liệu kính. Ảnh chụp bên trong tổ hợp Sony Center ở Berlin: Toà nhà bằng kính mang tên Pei-Bau là phần mở rộng của Bảo tàng Lịch sử Đức, được thực hiện theo ý tưởng của kiến trúc sư mang hai dòng máu Mỹ-Trung I.M.Pei, tác giả toà kim tự tháp bằng kính ở bảo tàng Louvre Paris. Công trình có phần cầu thang cuốn trong suốt này là nơi diễn ra các triển lãm đương đại của bảo tàng: Nhà ga chính của Berlin được đưa vào sử dụng toàn bộ hai ngày trước lễ khai mạc World Cup năm 2006. Công trình có dáng vẻ hiện đại với kết cấu kính và thép này cũng là nhà ga đường sắt lớn nhất châu Âu, mỗi ngày đón 1.800 lượt tàu và khoảng 350.000 hành khách. Đây là đồ án đoạt giải nhất trong cuộc thi tìm thiết kế nhà ga của nhóm kiến trúc sư Gerkan, Marg và Partners đến từ Hamburg: Trụ sở của Bộ Nội vụ Liên bang Đức soi bóng xuống dòng sông Spree ở thủ đô Berlin. Công trình có dáng vẻ vững trãi như một pháo đài, nhưng vẫn tạo được sự thanh thoát nhẹ nhàng nhờ ứng dụng chất liệu kính ở bề mặt: Hai toà nhà văn phòng của quốc hội Đức cách nhau bằng dòng Spree. Tòa bên trái mang tên Paul Löbe House dành cho các uỷ ban và Marie Elisabeth Lüders House (bên phải) dành cho thư viện và các hoạt động nghiên cứu. Cả hai đều nằm sát trụ sở quốc hội Reichstag và được nối với nhau bằng những cây cầu mảnh mai để người đi bộ và xe đạp qua lại: Toà nhà Victoria Haus cao 108 m ở thành phố Duesseldorf. Toà nhà văn phòng hình tròn có kết cấu bên ngoài bằng kính và thép này gồm 29 tầng được hoàn thành vào năm 1998 và là toà nhà cao thứ ba tại thành phố công nghiệp Duesseldorf: Khách sạn Park Inn trên quảng trường Alexanderplatz. Công trình cao 125 m này khi khánh thành vào năm 1970 đã trở thành toà nhà cao nhất ở cả hai phần đông và tây Berlin thời điểm đó. Sau khi nước Đức thống nhất, toà nhà này đã được thay đổi chủ và được thiết kế thêm phần ngoại thất bằng kính hiện đại: Phòng đọc của thư viện Anna Amalia ở Weimar, nơi lưu giữ nhiều tài liệu quý của nền văn học và lịch sử Đức với hơn một triệu đầu sách. Sau vụ hoả hoạn nghiêm trọng năm 2004, thư viện được xây dựng lại, trong đó nổi bật là phòng đọc có mái vòm bằng kính, giúp độc giả có thể đọc bằng ánh sáng tự nhiên ngay cả khi ngồi dưới tầng hầm: Tổ hợp World Trade Center ở Dresden rộng 80.000 m2, bao gồm các văn phòng, phòng hội nghị, khu vực triển lãm và cả khách sạn. Đây là một trong những nơi thường diễn ra các hoạt động quan trọng của thành phố cổ Dresden: Hai mảng đối lập về kiến trúc tại thành phố tài chính Frankfurt am Main. Các cao ốc bằng kính và thép của những ngân hàng lớn nhất thế giới nhìn từ phía một con phố tương đối cổ nằm gần nhà ga chính của thành phố (Hauptbahnhof): Tổ hợp văn phòng, trung tâm thương mại và giải trí Neues Kranzlereck ở Berlin do kiến trúc sư Helmut Jahn thiết kế. Công trình có phần ngoài bằng kính này được xây dựng trong hai năm từ 1998 đến 2000: Kính được ứng dụng làm cả tường ngăn (hàng rào) rất ấn tượng. Đây là ý tưởng thiết kế độc đáo thuộc tổ hợp văn phòng của quốc hội Đức Jakob Kaiser Haus, nằm cạnh sông Spree: 3. Nhận Xét Của Phong Thủy Lạc Việt Đối Với Những Kiến trúc Bằng Kính. Bằng cái nhìn của Lý học Đông Phương và trên quan điểm của Phong Thủy Lạc Việt thừa hưởng những tri thức của Văn hiến 5000 năm của tổ tiên Lạc Việt, dù kiến trúc xây dựng thay đổi đa dạng về hình thức hay phong cách kiến trúc cũng không nằm ngoài phạm vi quán xét của Phong Thủy. Dựa trên hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành, Phong thủy Lạc Việt có thể nhận xét những mặt tích cực và tiêu cực của các công trình kiến trúc từ truyền thống đến hiện đại, miễn sao đó là kiến trúc. Trong một phạm vi nhỏ hẹp, người viết chỉ dùng một phần nhỏ của tri thức Phong Thủy Lạc Việt để nhận xét mô hình Kiến trúc hiện đại bằng kính tại Đức, một trào lưu tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc đương đại. Theo học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, cho rằng do sự vận động và tương tác từ khởi nguyên của vũ trụ, tự nhiên phân ra thành hai loại khí Âm và Dương. Hai loại khí này tương tác lẫn nhau tạo nên sự phát triển của vạn vật. Vạn vật lại tương tác và trùng trùng khởi sinh. Phong Thủy Lạc Việt khẳng định rằng sự tương tác của vật chất tạo là Âm động tạo ra Dương khí và sự vận động nội tại của vật chất là Dương tịnh tạo ra Âm khí. Mỗi loại khí đều có mặt tích cực và tiêu cực trong từng trường hợp và trong mục đích cụ thể. Quán xét trên cơ sở học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, ánh sáng mặt trời được gọi là Dương quang, thuộc về khí Dương. Kính do tính chất trong suốt và thấu thị, tạo điều kiện cho ánh sáng đi qua, xuyên qua, nghĩa là ánh sáng đi qua một môi trường trong suốt và ít nhiều bị gãy khúc hoặc biến tính tạo một trường năng lượng dương. Cơ sở thực nghiệm khoa học cũng xác nhận rằng ánh tác động lên thấu kính sẽ tạo nên năng lượng dương. Đó là tương tác. Học thuyết thuyết âm dương Ngũ hành xác định sự tương tác của vật chất tạo nên khí Dương. Từ đây có thể nhận thấy rằng các kiến trúc hiện đại bằng kính tại Đức được kiến trúc và xây dựng trên phương tiện vật liệu chủ yếu là kính với khung sường kết cấu bằng sắt thép là những mô hình kiến trúc mang khí dương rất dồi dào và cường thịnh, điển hình cho các kiến trúc cần có khí Dương vượng. Mặt khác, cũng theo học thuyết âm dương Ngũ Hành, những khái niệm thuộc về tinh thần là Dương. Do vậy tư duy, ý thức, khả năng sáng tạo, tuy duy logic, ý chí phấn đấu, nhiệt huyết năng động, nói năng diễn thuyết, tư tưởng bay bổng, tinh thần hướng thượng, chủ nghĩa sáng tạo…thuộc Dương. Theo như Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, khái niệm rằng Phong Thủy là sự tương tác, đó là sự tương giữa con người và môi trường, mà sự tương tác trực tiếp nhất, tế vi nhất là Khí, Dương khí và Âm khí. Vì thế với những công trình kiến trúc làm bằng kính, như kiến trúc tại Đức thì đó là môi trường mà khi con người hoạt động và làm việc tại đó, sẽ chịu sự tác động chủ yếu và hầu hết cúa khí Dương. Cũng như đã nói ở trên, do sự tác động của Dương khí lên đối tượng là con người nên con người ở đây trở nên luôn tích cực, năng động, nhạy bén, sáng tạo, hoạt động, hành động, suy tư, tư duy…tóm lại luôn trong trạng thái hoạt động của cả thể chất lẫn tinh thần. Do đó, những công trình kiến trúc làm bằng kính luôn là mô hình lý tưởng cho một môi trường cần sự hoạt động về tinh thần và năng động về thể chất, một môi trường hữu ích cho việc đầu tư, trau dồi khai thác trí tuệ, tìm năng của con người đưa vào phục vụ lợi ích xã hội. Vì thế, mô hình kiến trúc làm bằng kính luôn thích hợp cho làm nơi hoạt động trí tuệ như công nghệ thông tin, văn phòng kinh doanh, văn phòng dịch vụ, những nơi diễn thuyết họp hành, bảo tàng nghệ thuật mỹ thuật, thư viện, triễn lãm…bởi những nơi đây cần có sự hoạt động chủ yếu của tinh thần và cũng bởi do tính chất dương khí của công trình nên nó cũng thích hợp với công năng sử dụng để làm nơi trụ sở công quyền hay là cơ quan hành chánh quốc gia, cho nên, kiến trúc làm bằng kính, có thể nói là mô hình kiến trúc hữu ích trong việc khai thác năng lực và năng lượng của con người , đáng là những kiểu trúc tiêu biểu. Tuy vậy, cũng theo học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, khi Dương khí hay Âm khí quá vượng thì bao giờ cũng sinh bất cập. Sự vượng phát thái quá của khí Âm hay khí Dương đều dẫn đến hiện tượng mất cần bằng Âm Dương, lại trở nên tiêu cực. Trong trường hợp cụ thể đối với kiến trúc làm bằng kính này thì do chính bởi cấu trúc vật liệu làm cho công trình tạo nên nhiều dương khí và Dương khí quá dồi dào, do vậy dể dàng đưa đến những thái quá trong hoạt động. Điều này thật dể dàng nhận thấy qua những con người hoạt động và làm việc lâu dài trong những công trình kiến trúc bằng kính này là thường dể bị căng thẳng, mỏi mệt, cáu gắt, uể oải, suy nhược về tinh thần và thể chất. Cũng do tính chất Dương khí thái quá nên môi trường ở những khu kiến trúc làm bằng kính thường có bầu không khí khí làm việc dưới những áp lực căng thẳng vô hình, những áp lực luôn tạo sự năng động cho con người hoạt động và làm việc nơi đây nhưng thường thì thời gian gắn bó của các cá nhân ở nơi đây không được lâu dài và bền vững. Sự thái quá của Dương khí thể hiện sự mất cân bằng cơ bản, xét trên quan điểm Lý học, do đó thông qua những hoạt động sống của con người thì từ cơ sớ lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành có thể đưa đến một nhận xét, cũng như một sự tiên tri rằng đây là một mội trường mà trong đó mọi hoạt động luôn biến đổi trong sự mất cân đối và sự biến đổi đó là do sự tác động trực tiếp bởi Dương khí, cho nên tính bất an hay đột biến được biểu hiện cụ thể qua thực tế hoạt động hay hiệu quả của sự hoạt động là hiển nhiên, phản ánh đúng tính quy luật khách quan của cơ sở Lý Thuyết Âm Dương. Mặt khác, do vật liệu chủ yếu là chính nên thường vật liệu kết cấu chính là sắt thép tạo khung sường, vì vậy các kiến trúc làm bằng kính thường có hình thể mà trong phong thủy gọi là “lộ cốt”, có thể là lộ cốt trong hoặc cũng có thể là lộ cốt ngoài. Thêm nữa, các kiến trúc đôi khi có hình thù tổng thể lạ mắt hay kỳ dị, cho nên theo quan điểm xấu – tốt của Hình Lý Khí thì cũng góp phần vào làm tăng thêm tính chất xấu của công trình. Tính tự do sáng tạo trong kiến trúc hiện đại và việc vận dụng đầy sáng tạo vật liệu làm bằng kính để tạo một phong cách đặc thù kiến trúc dể đưa đẩy các mô trình kiến trúc đến những hình thể xấu theo quan điểm Phong thủy Lạc Việt. Hơn nữa, bởi kính là vật liệu chủ yếu thay tường vách bằng bê tông nên ít nhiều cũng tạo những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của con người hoạt động trong đó, do tính phản quan một phần hay tính thấu thị của kính. Do vậy, chính hiệu ứng giữa ánh sáng và kính dể làm cho con người bị bệnh mất ngủ, căng thẳng, tress, dẫn đến những bệnh về tiêu hóa, bao tử hay tim mạch. Có thể nói rằng kiến trúc làm bằng kính là một trong những phong cách kiến trúc đặc thù của trường phái kiến trúc hiện đại (modernisme) với chất liệu chủ yếu là kính và sắt thép tạo nên một phong cách tiêu biểu đặc biệt và ấn tượng. Tuy nhiên, khi quán xét trên quan điểm Phong thủy Lạc Việt thì do chính yếu tố thiết kế kiến trúc bằng kính đã tạo nên những hiệu ứng tốt xấu lên đối tượng là con người hoạt động trong các công trình kiến trúc này. Dù cho sự phát triển, biến đổi về mặt kiến trúc, cũng như kết cấu trong xây dựng thì kiến trúc xây dựng cũng vẫn là đối tượng quán xét của phong thủy và cũng chỉ là một phần trong nhiều yến tố của phong thủy. Kiến trúc xây dựng phát chuyển theo từng thời kỳ cũng chỉ thực hiện và đáp ứng bốn (4) tiêu chí chính là Bền Bỉ - Kinh Tế - Tiện Ích – Thẩm Mỹ, nhưng không thể đáp ứng một tiêu chí có tính tiên quyết là Tốt và chỉ có Phong thủy và chỉ với Phong Thủy Lạc Việt mới đáp ứng thỏa mãn tiêu chí này. Như đã nói trên, phong thủy không phải yếu tố riêng phần đối lập với kiến trúc mà ngược lại kiến trúc là một bộ phận của phong thủy. Vì vậy phong thủy là sự tổng hòa của các yếu tố nhằm mang lại Chân - Thiện - Mỹ phục cho mong muốn an lạc và phát triển của con người, của cộng đồng và xã hội. III. Kết Luận: Tóm lại, việc xây dựng các công trình trong trào lưu kiến trúc đượng đại thì đa phần hoặc chọn phong cách kiến trúc Hiện Đại hoặc theo phong cách kiến trúc Hậu hiện đại hoặc đôi khi Hitech (Kỹ thuật công nghệ cao) đều lấy tính hình tượng hay chú trọng việc vận dụng vật liệu kết cấu là phương tiện thể hiện ý tưởng hay phong cách, đều không những không ngoài sự quán xét của Phong thủy Lạc Việt mà còn là cơ sở cần xét đến để xác định chiều tương tác tích cực tốt xấu đi đến sự nhận định thành bại hay thịnh suy của một công trình. Xét cho cùng, khi một công trình kiến trúc được dựng nên không chỉ đơn thuần hướng đến sự tồn tại bền bỉ, công năng sử dụng tiện lợi tiện nghi, yếu tố thẩm mỹ thu hút và giá trị hiện kim đáng quan tâm của công trình mà tất cả đều nhắm đến sự phát triển thành hay bại, thịnh hay suy, cho dù đó là sự tâm huyết hay đầu tư hướng đến lợi nhuận hay phi lợi nhuận thì sự phát triển hay không phát triển của một thực thể kiến trúc là mối quan tâm trong tâm khảm và hàng đầu. Phong thủy Lạc Việt với ý nghĩa là sự tổng hòa các mối tương tác, bao hàm yếu tố kiến trúc thì mọi cơ sở quán xét đều đi đến nhận định tốt xấu bảm bảo tính định hướng của sự phát triển của công trình đem lại lợi ích phục vụ xã hội. Viết xong, ngày 16 tháng 11 năm 2009 Thiên Đồng =========================================== Tham Khảo: -Phong thủy trong Bất động sản, tg Jo Incheol, NXB Tổng Hợp Tp HCM. -Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2007 -Phong thủy Lạc việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, lưu hành nội bộ. -Kiến trúc hiện đại, tg Tôn Thừa Nguyên, NXB Xây Dựng. -Nguyên lý thiết kế nhà dân dụng: Nhà ở và nhà công cộng, tg Gs, Ts, Kts, Nguyễn Đức Thiềm, NXB Khoa học kỹ thuật. -www.google.com
-
(tiếp theo) II. CÁI NHÌN PHONG THỦY LẠC VIỆT VỀ KÍNH TRONG KIẾN TRÚC HIỆN ĐẠI CỦA ĐỨC 1.Trào Lưu Phát Triển và Phong Cách Kiến Trúc Bằng Kính. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trào lưu kiến trúc hiện đại ở các nước Châu Âu được khai sinh và bùng nổ, mở ra một “kỷ nguyên mới” đoạn tuyệt với kiến trúc truyền thống cổ điển với nhiều chi tiết rườm rà với những quy định chặt chẽ về không gian kiến trúc, đưa kiến trúc nhân loại tiến đến một bước phát triển mới. Trào lưu kiến trúc hiện đại có thể được xem là luồng sinh khí mới tạo điệu kiện cho tư duy sáng tạo kiến trúc được bay bổng và tự do hơn về khả năng sáng tạo những giải pháp hữu hiệu về mặt không gian kiến trúc, khai thác tối đa về phương pháp sử dụng vật liệu, biện pháp thi công, đa dạng trong quan điểm thẩm mỹ, khởi sướng một một kỷ nguyên rực rở của kiến trúc hiện đại vào những thập niên đầu của thế kỷ XX. Giữa những sự đa dạng về loại hình kiến trúc của trào lưu Kiến trúc hiện đại thì vật liệu kiến trúc cũng được đưa lên thành đối tượng chính quyết định cả về cấu trúc, xây dựng, thẩm mỹ và biểu tượng. Đó là những công trình như Tháp Eiffel do hai kiến trúc sư Koechlin và Nouguier thiết kế, Biệt Thư Gạch Đỏ (The Red House) của Phillip Wedd thiết kế, Cung Thủy Tinh (Crystal Palace) ở Hyde Park, (London, Anh) năm 1851 do Joseph Paxton thiết kế, Trường Bauhaus, Đức do KTS Walter Gropius thiết kế, Biệt thự Savoye ở Poissy, Pháp- Le Corbusier thiết kế, Toà nhà Quốc hội của Brasil do Oscar Niemayer thiết kế…đã tạo nên những ấn tượng đậm nét, đầy tính cách và tạo ảnh hưởng mạnh mẽ trong trào lưu kiến trúc thế giới. Tháp Eiffel xây dựng năm 1889 Biệt thự Gạch đỏ (The Red House) Cung Thuỷ Tinh (Crystal Palace) Biệt thự Savoye ở Poissy, Pháp- Le Corbusier Trường Bauhaus, Đức do KTS Walter Gropius thiết kế Toà nhà Quốc hội của Brasil do Oscar Niemayer thiết kế Và sự ảnh hưởng lang tỏa đó tạo hứng khởi sáng tạo kiến trúc cho việc vận dụng vật liệu bằng kính trong kiến trúc hiện đại, một phong cách kiến trúc mới tại Đức. Kính được dùng làm vật liệu phổ biến trong phong cách kiến trúc hiện đại tại một quốc gia công nghiệp với những nét vừa lạ lẫm vừa hoàng tráng, xuất hiện rất nhiều cao ốc văn phòng với kết cấu thép và kính gần như trong suốt. Nhìn từ bên ngoài, có thể thấy rõ sự đi lại, hoạt động, của các nhân viên của từng con người trong tòa nhà. 2. Những kiến trúc tiêu biểu: Mái vòm bằng kính của toà nhà quốc hội Đức (Reichstag). Đây là tác phẩm của kiến trúc sư Anh, Norman Foster, có chiều cao 23,5 m, làm từ 800 tấn thép và 3.000 m2 kính. Bên trong mái vòm còn có 360 tấm gương để phản chiếu ánh sáng tự nhiên vào phòng họp chính. Người dân có thể tự do leo lên thăm mái vòm và theo dõi các nghị sĩ họp bên dưới: Reduced: 98% of original size [ 583 x 843 ] - Click to view full image Bahn Tower, trụ sở hiện đại của hãng đường sắt Đức Deutsche Bahn trên Quảng trường Potsdamerplatz ở Berlin. Toà nhà có kết cấu bằng thép và kính cao 94 m với 26 tầng được khánh thành vào năm 2000. Cao ốc văn phòng có hình tam giác trong suốt này là một trong những biểu tượng của Berlin hiện đại: Một góc của quần thể hiện đại Sony Center bao gồm cả tháp Bahn Tower. Tổ hợp do kiến trúc sư Helmut Jahn thiết kế có trị giá xây dựng 800 triệu USD gồm nhiều cửa hiệu, nhà hàng, văn phòng, trung tâm hội nghị, khách sạn, rạp chiếu phim và cả bảo tàng về điện ảnh. Toàn bộ phần bên trong tổ hợp này được hỗ trợ Wi-Fi miễn phí.
-
(tiếp theo) 5. Nhận xét theo quan niệm Hình Lý Khí đối với một số kiểu kiến trúc hay công trình: 5.1 Tòa nhà Royal College of Physicians Tòa nhà Royal College of Physicians thiết kế bởi Denys Lasdun ở Regent Park được cho là công trình Kiến trúc Hậu hiện đại đầu tiên, nếu xét trên cái nhìn Hình Lý Khí thì sẽ được miêu tả như hình tượng miệng một con cá sấu đang hả miệng nhưng lại bị chống bởi ba cây gậy và nếu xét sự vững chãi của tòa nhà theo cảm quan thì công trình tỏ ra bị mất cân đối ngay phần đầu, hai khối kiến trúc trắng phía trên như hai miếng phô mai để chênh venh trên một nền và được chống chỏi bằng ba que tăm bé tí. Một hình tượng đầy khó khăn hay trở ngại. 5.2 Học viện Nghệ thuật Châu Á Lasalle Học viện Nghệ thuật Châu Á Lasalle Sia - College of the Arts tại Singapore, được chọn thay mặt cho phong cách kiến trúc Hậu hiện đại. Ý tưởng xây dựng một cộng trình từ hình tượng của sự “tan vỡ” của một tảng băng trôi khổng lồ đã là một hình tượng mang ý nghĩa không tốt trong phong thủy. Nếu theo chiều cảm quan khác trên tổng thể mô hình thì kiến trúc như một khung cảnh của một góc chiến địa với 3 tường chắn và những lổ châu mai, những khe núi để luồn lách ẩn mình và những đường chiến hào dọc ngang phía sau. Hoặc cũng có thể hình dung kiến trúc như một con hổ bị nhốt trong tường đá và bị căng ra tư phía để lột da và cuối cùng là mảnh da căng dưới đất. đi vào phần bên trong của công trình thì kết cấu toàn bằng kính với những khu đà một màu đen của nham thạch, kết cấu xiêu vẹo tạo cảm quan thiếu sự vững chắc, tuy vạm vỡ và được nối kết bởi những cầu nối giữa 6 khối nhà, nhưng cũng thấy vẽ trống trãi và hình tượng “lộ xương” bên trong, hơn nữa cũng vì việc thể hiện bằng sự rộng mở của không gian, không có cổng trường, các lối đi thông suốt tạo nên những cách của sự thoái khí. Xét tổng thể hình tượng và kết cấu thì học viện Lasalle thì công trình này mang hình tượng âm khí nặng nề và dương khí suy thoái. Ý nghĩa và cũng như hình tượng cấu trúc đều dẫn đến nhưng ý nghĩa không tích cực và như vậy xét theo quan niệm Hinh lý Khí trong Phong Thủy lạc Việt thì tất nhiên cũng không thuộc cách tốt. 5.3Công trình Bảo tàng Milwaukee Công trình Bảo tàng Milwaukee - “Đôi cánh hải âu quyền năng”, nằm kề bên hồ Michigan, được cho rằng đã tạo một bước đột phá trong thiết kế kiểu dáng và công năng và được xem là tác phẩm đỉnh cao của loại hình kiến trúc động ảo, một phong cách Kiến trúc Hậu hiện đại do chính Calatrava khởi xướng từ cuối thế kỷ 20, đem lại thành công lớn và là biểu tương cho tiểu bang Wisconsin. Công trình bằng kiến trúc động ảo với đôi cánh bay lên là một hình tương đẹp mang ý nghĩa đẹp và cũng do sự vận động của đôi cánh nên đây là một công trình duy nhất tự tạo được dương khí chế ngự được phần âm khí và sát khí nặng nề của tổng thể kiến trúc lộ cốt bên trong và hình tượng lối vào như hàm cá mập hả họng nuốt chửng mọi thứ. 5.4 Sân Vận Động Bắc Kinh. Đây là một công trình điển hình cho hình tượng “lộ cốt” (trơ xương) mà Phong thủy Lạc Việt thường đề cập. Một hình tượng hoàn toàn xấu về mặt hình thể kiến trúc theo quan niêm phong thủy. Có lẽ vì thế báo chí thường đề cập đến sân động tổ chim này thường gọi nôm na là “cái bát trống rỗng”. Nếu nhìn với một cảm quan khác thì công trình như chiếc nón chẳng những thủng ở đỉnh đầu mà còn bị rách bươn hay có đường chỉ vá chằn vá đụp. Công trình này lúc đầu gây được sự chú ý của dư luận và công chúng cả nước, thu hút khách tham quan, nhưng sau đó và cho đến nay lượng khách tham đã không được như mong muốn của nước chủ nhà tưởng tượng và hy vọng như ban đầu. “Sân vận động Tổ chim - với chi phí xây dựng 450 triệu USD - giờ cần đến 15 triệu USD bảo trì hàng năm. Tuy nhiên, nguồn thu duy nhất là từ khách du lịch, với 9 USD/người cho mỗi lần vào chụp ảnh chiếc "bát" trống rỗng. Số du khách tới đây đã giảm từ 80.000 người/ngày trong tháng 10/2008 xuống chỉ còn 10.000 vào tuần cuối tháng 3. Với tình trạng này, các nhà chức trách ở Bắc Kinh khó có thể đạt được doanh thu 30 triệu USD/năm như mục tiêu đã đề ra đối với sân vận động này.” Trích báo điện tử baomoi.com (11/4/2009) 5.5 Nhà hát lớn quốc gia tại Bắc Kinh Nhà hát lớn quốc gia tại Bắc Kinh của kiến trúc sư (KTS) Paul Andrieu, chuyên gia hàng đầu người Pháp, được chọn trong một cuộc thi quốc tế, công trình Kiến trúc Hậu hiện đại được thể hiện là khối bán cầu bằng kính vĩ đại đặt trên một mặt nước vuông nằm ở vị trí trung tâm quảng trường Thiên An Môn. Công trình muốn thể hiện ý tưởng “trời tròn đất vuông”, nhưng trên thực tế mô hình kiến trúc lại dẫn đến một cảm quam khác. Toàn bộ phần vuông thể hiện là đất lại được thiết kế thành thủy, phần công trình tròn ở giữa dẫn đến hình tượng như một đĩa bay bị nạn ngập dần trong nước hay bị mắc cạn và người phương Tây thì gọi công trình này tên là “The Egg”, tức là quả trứng chim, nhưng tiếc thay quả trứng này lại bị úng ngập trong nước hay cũng có thể liên tưởng như một trứng trứng khủng long bị úng trong vũng nước tù. Do thiết kế mái vòm trong suốt và nước xung quanh, nên công trình mang nét vượng của dương khí phù hợp với những nơi mang tính chất cộng đồng hay hoạt động văn hóa nghệ thuật, nhưng tổng thể hình tượng lại không thể hiện được ý nghĩa tích cực nên sự phát triển cũng hay mong muốn hiệu quả cho nhiều lợi ích khác chắc hẳn cũng hạn chế hay trì trệ, bởi hình tượng một quả trứng trong nước không dẫn đến sự hình thành một sự sống hay sự phát triển. 5.6 Sân bay quốc tế Bắc Kinh “Một biểu tượng mới của Bắc Kinh-Sân bay quốc tế thủ đô với hệ mái vòm không gian lớn được lấy ý tưởng từ hình ảnh Rồng bay…”. Đó là miêu tả của báo giới cho một hình tượng. Phong thủy Hình Lý Khí cũng có cái nhìn tương đồng và sâu sắc hơn, nghĩa là một con rồng với thân bị đoạn thành ba khúc. Nhìn dưới góc độ khác, tổng thể công trình như một bộ xương cá bị đứt đoạn hay một ngọn “thiết hỏa trường thương” bị đứt khúc. Bản thân công trình như thể một cách vô tình tạo ra sát khí cho môi trương xung quanh và chính tính hình tượng của công trình đã tạo nên một trường khí xấu có tác động đến vận mệnh của công trình và sự tồn tại và phát triển của công trình sẽ như thế nào thì còn dựa trên nhiều tiêu chí quán xét khác của Phong thủy Lạc Việt. Tuy vậy theo website của tạp chí Forbes cho rằng sân bay quốc tế Bắc Kinh là tồi tệ thứ nhì thế giới, xét về chuyện muộn chuyến. Sân bay Bắc Kinh cay mũi vì bị dán nhãn 'dở ẹc' Thành phố chủ nhà của Olympic 2008 bực bội phản bác thông tin trên website của tạp chí Forbes cho rằng sân bay quốc tế Bắc Kinh là tồi tệ thứ nhì thế giới, xét về chuyện muộn chuyến. Tổng giám đốc sân bay Dong Zhiyi cho biết các số liệu chính thức của họ cho thấy 86,28% số chuyến cất cánh từ đây đúng giờ, cao hơn nhiều so với mức mà Forbes nêu ra là 33%. Trên trang web của mình, tạp chí Mỹ viết: "Tại sân bay quốc tế ở thủ đô Bắc Kinh - nơi đang mở rộng để đón Olympic mùa hè tới, chỉ 33% số chuyến bay cất cánh đúng giờ năm 2007. Sân bay này chỉ kém Brasilia một bậc xét về mức độ tồi về chuyện muộn chuyến". Forbes đã khảo sát hơn 100 sân bay, lấy số liệu từ FlightStats - một cơ quan chuyên theo dõi thông tin về các chuyến bay. Các sân bay được khảo sát đều thuộc loại có thể phục vụ ít nhất 10 triệu hành khách trong năm 2006 trở lên. Ông Dong nói sân bay Bắc Kinh không đáng bị xếp hạng xấu thế. Theo con số mà ông đưa ra, thì sân bay của thành phố này tốt hơn nhiều so với ga hàng không tệ nhất châu Âu - Charles de Gaulle - với 50% số chuyến đúng giờ. Tuy thế, nó vẫn phải ngượng ngùng trước sân bay Osaka Itami của Nhật, với 97% đúng giờ. Trung Quốc đang nỗ lực cải thiện hạ tầng các sân bay để chuẩn bị đón lượng khách dự kiến sẽ tăng vọt trong hè này. Tuy thế hành khách vẫn thường phải chờ hàng giờ ở nhà chờ và chỗ lấy hành lý. Nhà chức trách cũng ra một loạt quy định nhằm buộc các hãng hàng không và nhà ga phục vụ hành khách tốt hơn. Sân bay Bắc Kinh đã phục vụ hơn 50 triệu khách trong năm ngoái, sẽ mở thêm cổng thứ ba vào cuối tháng hai này. T. Huyền (theo Reuters) 5.7 Trụ sở truyền hình Bắc Kinh, Trung Quốc (CCTV) Ảnh chụp trụ sở mới của CCTV (trái) và tòa nhà khách sạn Mandarin Oriental sau khi bị cháy - Ảnh: AFP Công trình được xây dựng theo hình thế hai chữ V ngược nhau. Toàn bộ công trình đều phạm cách “lộ cốt” (trơ xương), nếu liên tưởng đến một cái rọ thì đây là cái rọ bắt cá hình ống vuông. Khối kiến trúc tạo ra cảm giác mất cân bằng như có xu hướng đổ ập về phía trước. Thông thường hình dạng lộ cốt thể hện cho một kết cuộc không mấy tốt đẹp, báo trước sự thất bại và những khó khăn bất ngờ, những biến cố têu cực hay có hại cho công trình đó, nghĩa là những ai tồn tại trong công trình trình đó đều phải chịu sự tương tác có trường khí tiêu cực. Và đây là thông tin liên quan đến TTCV: Trích từ nguồn: www.baomoi.com Một cán bộ đài CCTV bị bắt trong vụ cháy KS Mandarin Oriental TTO - Cảnh sát Bắc Kinh ngày 12-2 cho biết đã bắt giữ một nhân viên cấp cao của Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) và 11 người khác do có liên quan đến vụ đốt pháo hoa bất hợp pháp làm cháy khách sạn Mandarin Oriental. Trong số những người bị bắt, còn có Xu Wei, 50 tuổi, phụ trách xây dựng trụ sở mới cho CCTV, nằm cách khách sạn Mandarin Oriental khoảng 200m. Trong khi đó, dẫn nguồn tin cảnh sát, Tân hoa xã cho hay ba nhân viên khác của CCTV và 8 người nữa cũng đã bị tạm giữ, tuy nhiên không cung cấp thêm thông tin chi tiết. Vụ cháy lớn tối 9-2 đã thiêu hủy gần như toàn bộ tòa nhà khách sạn Mandarin Oriental, dự kiến sẽ là một trong những khách sạn hạng sang bậc nhất Bắc Kinh, khiến một nhân viên cứu hỏa thiệt mạng và bảy người khác bị thương. Tranh Cãi Về Logo của CCTV Nguồn: www.xaluan.com Một cuộc tranh cãi đang nổi lên khắp Trung Quốc sau khi một quan chức cấp cao yêu cầu Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) phải thay đổi logo đã được CCTV sử dụng từ 30 năm qua vì nó phá vỡ nhiều nguyên tắc trong bộ luật của nước này. Wang Dengfeng, Vụ trưởng Vụ ứng dụng và Quản lý Ngôn ngữ tiếng Trung, cho rằng những logo mà 20 đài truyền hình, trong đó có 12 kênh của CCTV, “đang vi phạm nhiều quy tắc, do đó cần phải được thay đổi”. Các logo này hoặc là dùng tiếng Anh viết tắt hoặc là sự hòa trộn của tiếng Anh và tiếng Trung. Luật về Ngôn ngữ viết và nói tiếng Trung được ban hành hồi tháng 1/2001 quy định rõ các logo điện ảnh và truyền hình nhất thiết phải mang ngôn ngữ cơ bản của Trung Quốc, tức là tiếng Quan thoại. "Ngôn ngữ được sử dụng trên các logo truyền hình nên tuân theo luật để quảng bá văn hóa quốc gia", tờ Beijing Times trích đăng lời ông Wang. Nhưng một quan chức của CCTV cho rằng, đài truyền hình đang sử dụng logo rất dễ nhận biết và biểu tượng đó đã quen thuộc với khán giả từ hàng chục năm qua, thế nên “sẽ khó khăn nếu thay đổi” và “logo này sẽ chỉ được thay đổi nếu như các nhà chức trách cấp cao hơn thấy cần thiết phải làm như vậy”. Ông Jiang Zhipei, nguyên Chánh án của Tòa án Nhân dân Tối cao, cũng nhận thấy logo của CCTV không cần phải thay đổi. “Đài truyền hình Trung ương đã sử dụng nó trong 30 năm và bộ luật được ban hành sau đó rất lâu. Nhiều logo truyền hình, trong đó có cùa CCTV, có những giá trị thị trường nhất định. Nếu không được phép sử dụng thì các logo đó sẽ bị mất đi giá trị mà chúng đã tạo nên”. Tuy nhiên, có nhiều người lại ủng hộ việc thay đổi logo. Một cư dân mạng có nickname là Minshanxue viết rằng: “Là một đài truyền hình Quốc gia thì logo nên dùng hoàn toàn tiếng Trung vì nó ảnh hưởng tới hình ảnh quốc gia”. Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc được thành lập vào năm 1958 và tên viết tắt tiếng Anh là CCTV được sử dụng từ năm 1978. 5.8 Tòa nhà REN: Tòa nhà REN được đề xuất làm khách sạn, trung tâm hội nghị và giải trí vào dịp Triển lãm thế giới World Expo tổ chức năm 2010 tại thành phố Thượng Hải. Đây là một công trình tầm cỡ của Trung Quốc. Công trình này cũng được nhà thiết kế cố giải thích theo hình tượng Ngũ Hành trong nguyên lý học thuật cổ đông phương ở mọi góc độ nhìn. Tuy vậy những giải thích hay gợi ý đó không thật sự phù hợp với cai nhìn Hình Lý Khí. Tổng thể công trình như một nửa dưới con người bị dựng thành bia đỡ đạn với hậu quả là trên thân hằng lên những vết lổ chổ của vết tích bị đạn băm và thân thể bị kiệt lực với đôi chân không đứng nỗi, chuẩn bị ngập sâu và chìm dần trong biển nước. Có thể nhìn ở một cảm quan khác thì công trình như một mảnh vải bị xé toạc ra làm đôi. Một mảnh vải cũ rách loan lỗ. vì vậy đậy cũng là một hình tượng mang khí vận không mấy khả quan cho một công trình được trù tính là nơi vui chơi giải trí, trung tâm hội nghị hay khách sạn cao cấp trong tương lai. 5.9 Khách sạn 5 sao Lotus – Hoa sen của Tập đoàn Riviera (Nhật Bản), tại Mễ Trì. Công trình khách sạn 5 sao Lotus tại Mễ Trì là sự hoài vọng của các chủ đầu tư. Nhưng với một Hình Lý Khí tiêu cực, ngay từ đầu tiến độ đầu tư và hiện quả kinh doanh đã có nhiều trắc trở. Tổng thể công trình được thể hiện theo phong cách Hậu hiện đại, nhưng bằng cái nhìn cảm quan Hình Lý Khí trong Phong thủy Lạc Việt thì đây như hình tượng của một đoàn xa lửa với những toa tàu bị chìm trong biển cả hay có thể liên tưởng đến một hình tượng rỏ hơn, như một cổ quan tài bị chìm trong biển nước. Và dù cho nhìn ở cảm quan nào hay dù là hình tượng đơn giản nhất với mái nhà lượn sóng hình tượng của thủy và khối công trình bên trong vuông dài tượng hình Mộc thì mộc này bị chìm ngập trong nước cũng đã thể hiện tính xấu trong ý nghĩa của Ngũ Hành. Và hiệu quả của nó được kiểm chứng qua các thông tin liên quan sau: Công ty CP phát triển Đô thị Kinh Bắc sẽ là chủ đầu tư dự án khách sạn Hoa Sen Theo Kinh tế đô thị - 23/10/2009 KTĐT - Chiều ngày 21/10, tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, Tổng công ty CP XNK Xây dựng VN (Vinaconex) và Công ty Sản xuất thương mại và xây dựng Thiên Thanh đã xin rút lui khỏi dự án khách sạn 5 sao Lotus (Hoa Sen). Như vậy, chỉ còn lại Công ty CP phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBC) là nhà đầu tư duy nhất được Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội lựa chọn để trình UBND Thành phố Hà Nội quyết định. Dự án khách sạn Hoa Sen (cạnh Trung tâm Hội nghị Quốc gia, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội) có diện tích khoảng 4,3 ha với thiết kế gồm 550 phòng sang trọng. Vốn đầu tư dự kiến khoảng 500 triệu USD. Đây là dự án khách sạn lớn nhất tại Hà Nội. Theo yêu cầu của thành phố Hà Nội, nhà đầu tư cần phải chứng minh được tài chính. Cụ thể, phải nộp bảo lãnh thực hiện dự án bằng 10% tổng mức đầu tư (25 triệu USD) trong vòng 15 ngày kể từ khi nhận được quyết định lựa chọn chủ đầu tư; 30 ngày sau khi nhận giấy chứng nhận đầu tư - chủ đầu tư nộp 5,5 triệu USD tiền ủng hộ không hoàn lại cho ngân sách TP Hà Nội. Trước đó, Tổng công ty CP Kinh Bắc đã làm việc với nhà đầu tư Nhật Bản để nhận lại tài liệu thiết kế và các tài liệu liên quan và có nhiều cam kết trong đó có cam kết về nộp ngay tiền bảo lãnh và tiền thuê đất. Đây là dự án qui mô đầu tư lớn, thuộc lĩnh vực Thành phố chủ trương khuyến khích kêu gọi đầu tư, thuộc danh mục đăng ký khuyến khích hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, có vị trí thuận lợi, giá trị thương mại cao vào bậc nhất hiện nay tại khu vực cửa ngõ phía Tây vào trung tâm Thủ đô - nếu trì hoãn lâu không triển khai sẽ lãng phí tài nguyên đất đai. V.B 5.10 Tòa nhà Thuận Kiều Plaza. Tọa lạc ngay trung tâm quận 5 Tp HCM, nơi hoạt động kinh tế nặng động và sầm uất nhất Sài Gòn. Vậy mà cho đến hiện nay, các hoạt động nơi đây đều kém hiệu quả. Riêng đa phần các căn hộ của ba tòa nhà đều như bỏ hoang. Tổng thể công trình như hình ảnh con tàu Titanic nổi tiếng với 3 cột khối tàu quá khổ cao vút và con tàu bị cắt đôi bởi con đường băng ngang ngay đoạn giữa thân tàu. Ba ống khói lớn hơn tổng thể thân tàu thể hiện sự mất cân đối, lại thêm con đường cắt ngang thân thể hiện một hình tượng không mấy tốt đẹp. Nếu nhìn bằng một cảm quan khác, ba tòa nhà như ba nén nhang to tướng cắm trên mộ bia. Mặt khác nếu chỉ xét riêng ba tòa nhà thì hình thể cả ba đều thuộc cách xấu, vì không những khuyết góc mà còn bị phạm vẻ góc cạnh xương xẩu. Ba khối công trình lớn ở giữa cân đối với khối công trình nằm ngang có hai đầu nhô tạo cách “ Nhị quỷ đài kiện” (hai con quỷ chửi nhau). Và khi nhìn bên trong tòa nhà thì một lối chi chính ở giữa giao với các lối đi ngang tạo thế “Bại hổ phân thây” ( như con hổ bị căn ra lột da xẻo thịt). Hoặc có thể tưởng tượng được hình ảnh của ba mũi khoan khoan vào một khối bê tông giữa chừng bị đứt đoạn và dính chặt. Tóm lại, đây là một công trình còn có khá nhiều yếu tố khác và nhiều điểm khác thất bại về mặt phong thủy. 5.11 Dự án cao ốc văn phòng - trung tâm thương mại - căn hộ cao cấp tại 289 Trần Hưng Đạo, Quận 1. Đây là một công trình dân dụng tư nhân, theo dự án sẽ khởi công vào ngày 1/11/2009. hình thể công trình mang phong cách Hậu hiện đại thể hiện một ý tưởng táo bạo và lạ lẫm trong hình tượng kiến trúc. Hai khối kiến trúc hình tam giác chồng lên nhau thuộc hỏa hình thể hiện một ý chí mạnh mẽ muốn đạt được mọi thành quả trong kinh doanh khi công trình này hoàn tất. Hai khối tam giác chồng lên nhau thành hình ảnh như một cây búa hay lưỡi rìu với đầu rìu bên trên chém về một hướng hể hiện ý chí san bằng mọi thử thách và cản trở trên bước đường kinh doanh, vô hình trung tạo một luồng sát khí đủ lớn và đủ mạnh làm phương hại cho môi trường phong thủy mà hướng lưỡi rìu này chém tới, chứng tỏ một tinh thần độc đoán và ít khi tạo được sự thân thiện với môi trường xung quanh hay những đối tác xung quanh. Hơn nữa, tổng thể khối kiến trúc tạo một cảm quan mất thăng bằng khi phần dưới, tầng trệt, không thể hiện được sự vững chãi với cấu trúc chênh vênh. Và nhìn như thế nào đi chăng nữa thì khối kiến trúc cũng phạm phải cách “lộ cốt” giơ xương trên toàn diện công trình thể hiện những gian truân có thể đưa đến một thất bại nặng nề khi khí vận xấu phát tác. Nếu xét với một cảm quan nhẹ nhàn hơn thì khối công trình như hai phần bánh bông lan hay hai phần phô mai bị chuột gậm được xếp chồng lênh nhau rất chênh vênh. Đây là sự phân tích các yếu tố xấu đối với bản thân công trình, nhưng đều nguy hại không kém là chính hình tượng công trình tạo một trường sát khí lớn ảnh hưởng đến môi trường xung quanh mà khí sát của công trình này hướng tới. 6. Tạm kết Qua những nhận định và phân tích trên theo quan niệm Hình Lý Khí trong Phong Thủy Lạc Việt, cho thấy rằng sự thể hiện bằng hình tượng của công trình kiến trúc mang yếu tố của tính dự báo cho xu hướng tồn tại của thực thể đó trong không thời gian và sự đo lường về mức độ nhanh chậm nặng nhẹ của tương tác còn phải dựa trên những yếu tố khác của phong thủy. Cho dù có sự nghi ngờ về tính xác thực cũng như phương pháp luận của Hình Lý Khí so với các trường phái khoa học thực nghiệm hay thí nghiệm thì tính vận mệnh được quán xét trên đối tượng tương tác theo lý “hình nào khí đó” vẫn tồn tại theo quy luật khách quan. Trong khi kiến trúc Hậu hiện đại xem tính hình tượng chỉ như sự thể hiện ý tưởng trong thiết kế kiến trúc để thỏa mãn tính sáng tạo, thỏa mãn tiêu chí gọi là phong cách và dừng lại ở mục đích này thì quan niệm Hình Lý Khí luôn xét đến ý nghĩa đó có mang lại ý nghĩa tích cực hay không và hình tượng đó có tạo ra khí vận xấu hay không đó là tiêu chí hàng đầu cũng như mục đích cuối cùng khi tư duy hình tượng. Bởi vậy hình khí mang ý nghĩa quan trọng trong kiến trúc, vì đây là một trong những yếu tố tạo nên tiêu chí gọi là Tốt, cát tường trong phong thủy.
-
(tiếp theo) 2.7 Sân bay quốc tế thủ đô Bắc Kinh sắp hoàn tất do KTS hàng đầu về công nghệ cao thế giới người Anh là Norman Foster thiết kế, mang dáng dấp “rồng bay” (phi long). Ông là người mới đoạt giải kiến trúc Pritzker cao quí (tương đương giải Nobel ngành kiến trúc). Nó trông giống hai chữ Y ghép lại, thể hiện hình tượng hai chữ “nhân” (người). Một đầu là nơi đón đưa của các phương tiện vận chuyển trên mặt đất (xe lửa và xe hơi), còn đầu kia là để đón nhận máy bay đến từ các vùng trời khác nhau trên thế giới. 2.8 Trụ sở Truyền hình trung ương Trung Quốc CCTV, do KTS thời danh người Hà Lan Rem Koolhaas, từng đoạt giải kiến trúc Pritzker năm 2000, thiết kế. Tháp truyền hình cao 230m gồm hai tháp gắn kết nhau ở phần đế dưới cũng như phần trên đỉnh bằng hai cánh hình chữ V sắp ngược nhau. Ông đã chọn giải pháp thực hiện một lớp vỏ bọc bằng kính bên ngoài, sử dụng vừa làm kệ sách vừa che chắn ánh nắng, đồng thời trang trí màu sắc vui tươi. 2.9 Và một công trình mang tầm tham vọng cao hơn: tòa nhà REN. Với thiết kế hình chữ "Nhân" (người) đặc biệt, toà nhà REN bao gồm hai toà nhà trong một. Tòa nhà thứ nhất, nhô lên từ mặt nước dành để vận động thân thể và làm một trung tâm văn hóa dưới nước. Tòa nhà thứ hai, mọc lên từ đất liền dành cho hoạt động tinh thần, khai sáng và dùng làm trung tâm hội nghị và bố trí các chỗ họp hành. Lên trên, hai toà nhà gộp lại thành một khách sạn có tới 1.000 phòng và tạo thành hình chữ "nhân" (tiếng Trung Quốc). Được biết REN sẽ có một mái vòm, nơi đó tạo ra một quảng trường để công chúng tụ tập và đây sẽ là khu vực chính của cuộc triển lãm trông ra sông HuangPu. Các kiến trúc sư đã thiết kế quảng trường này không bị mưa ướt nhưng ánh sáng mặt trời vẫn chiếu qua được từ phương Đông vào buổi sáng và từ phương Tây vào buổi chiều. Tóm lượt: REN - Peoples Building Địa điểm:Khu vực tổ chức triển lãm thế giới, Thượng Hải, Trung Quốc Thời điểm hoàn thành:2010 Giá trị đầu tư ước tính: €1,100m (một tỷ một trăm triệu euro) Quy mô: Tòa nhà REN : 50.000m² Các tòa nhà phụ: 500.000m² Tòa nhà REN được đề xuất làm khách sạn, trung tâm hội nghị và giải trí vào dịp Triển lãm thế giới World Expo tổ chức năm 2010 tại thành phố Thượng Hải. 2.10 Vài công trình kiến trúc tại Việt Nam: khách sạn 5 sao Lotus – Hoa sen của Tập đoàn Riviera (Nhật Bản). Với diện tích xây dựng khoảng 4,3 ha, ngay cạnh Trung tâm hội nghị Quốc gia ở xã Mễ Trì, dự án khách sạn Lotus có vốn đầu tư khoảng 500 triệu USD, với thiết kế gồm 550 phòng sang trọng và dự tính khi hoàn thành sẽ trở thành khách sạn lớn nhất Hà Nội. 2.11 Cao ốc Thuân Kiều Plaza. Một trong những cao ốc được hình thành sớm nhất của TP HCM, ở một nơi thuộc vị trí thuận lợi và năng động với sức đầu tư lớn. 2.12 Và những công trình Kiến trúc Hậu hiện đại khác… đi vào kiến trúc dân dụng một cách tự nhiên và vui nhộn. 3. Cái Nhìn Của Phong thủy Lạc Việt Hình Lý Khí: Mọi trào lưu nghệ thuật, trào lưu kiến trúc đều dựa trên một lý thuyết, một chủ nghĩa để làm mục đích thể hiện và cái này phủ định cái kia, cái sau phủ nhận cái trước. Riêng Phong thủy Lạc Việt, chỉ dựa trên một lý thuyết duy nhất là Âm Dương Ngũ Hành, lý thuyết thống nhất và bao trùm của người Việt, trường tồn với thời gian, làm kim chỉ Nam đánh giá tính tốt xấu của kiến trúc, xác định sự tương tác tích cực hay tiêu cực của kiến trúc cũng như môi trường lên đối tượng quán xét chủ yếu là con người. Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành nếu được xem là một triết học định hướng tính sáng tạo và thẩm mỹ cho kiến trúc thì vẫn là một cơ sở lý thuyết định hướng thẩm mỹ có tính bao hàm cao, dĩ nhiên nó không phải là một lý thuyết triết lý nhằm làm phương thức thể hiện tư tưởng phản kháng lại thời cuộc hay môi trường mà nó là một phương thức triệt để nhằm một mục đích duy nhất suy xét sự thịnh suy của công trình kiến trúc, sự thành bại của đối tượng tồn tại và chịu sự tác động trực tiếp của kiến trúc đó, đối tượng đó là nhân sinh. Như vậy lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành mà phương thức ứng dụng của nó là Phong thủy mang một mục đích duy nhất rỏ ràng là phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của nhân sinh, nhắm thẳng đến tính chất duy nhất, quyết định lên nhân sinh là sự tốt xấu và thịnh suy như một tôn chỉ cho sự thể hiện. Nếu Kiến trúc Hiện đại phủ nhận sự gắn bó với môi trường, sẳn sàng tồn tại độc lập với môi trường thì Kiến trúc Hậu hiện đại đi ngược lại chiều hướng ấy, nó mang tính linh hoạt, thích hợp với mọi môi trường sẳn sàng hòa nhập và hài hòa với môi trường chịu sự tương tác của môi trường, đó là môi trường giới hạn địa lý cụ thể và môi trường văn minh văn hóa của một địa lý cụ thể. Phong thủy có phần như vậy, nhưng cũng khác, không khu biệt trong một môi trường mà thể hiện sự bao trùm của tính tương tác của vũ trụ lên vạn vật, vận dụng tính tương tác đó để xác định xu hướng tồn tại của kiến trúc tạo nên tính vững bền cho kiến trúc, vì vậy nó không phân biệt địa lý hay văn hóa, tiếng nói hay màu da và cũng không thể nói là nó hòa nhập hay thích hợp với môi trường trong khi mà chính bản thân Phong thủy đã thể hiện quy luật tương tác. Một cách rỏ ràng hơn rằng Phong Thủy không khu biệt do tính đặc trưng về văn hóa hay quan niệm kiến trúc của một cộng đồng hay một quốc gia, ngược lại chính bởi tính đặc trưng về kiến trúc của từng khu vực cộng đồng lại chứng minh cho sự tương tác trong phong thủy. Ví dụ, so sánh giữa 2 vùng, một ở cao nguyên Hoàng Thổ ở Trung Quốc, sống trong nhà hầm, đào trong lòng đất và một ở Hồ Nam sống trên nhà sàn thì sẽ thấy rỏ sự tương tác của con người với môi trường thiên nhiên rỏ ràng khác nhau. Phương pháp phong thủy chỉ quan tâm mối quan hệ tương tác giữa nhân sinh với kiến trúc và với môi trường xung quanh trải dài đến xa thẩm của vũ trụ để đi đến một hiệu quả của sự quán xét được gọi là vận mệnh. Điều nổi bật ở Kiến trúc Hậu hiện đại là tính biểu trưng, biểu tượng trong kiến trúc. Có thể chính bởi tính chất này mà Kiến trúc Hậu hiện đại mang lại sự tự do trong sáng tạo và là nguồn khơi gợi cho sự thể hiện các ý tượng sáng tạo vượt qua mọi rào chắn của những tiêu chuẩn, quy định của Kiến trúc truyền thống hay cổ điển và vượt qua mọi sự khác biệt về quan niệm kiến trúc theo từng văn hóa vùng miền để đi đến sự tự do thể hiện sức mạnh tư duy thông qua những hình tượng kiến trúc. Bởi vậy sự đa dạng đến nỗi phức tạp hay kỳ dị về hình thức trong các mô hình Kiến trú Hậu hiện đại là vô vàng. Chính bởi đặc điểm này mà sự quán xét của Phong thủy Lạc Việt lên các mô hình Kiến trúc Hậu hiện đại được thể hiện một cách linh hoạt, phong phú, ưu việt và giầu tính tưởng tượng phóng khoán để đi đến sự nhận định tốt xấu của công trình kiến trúc. Mỗi một kiểu mô hình kiến trúc được tạo ra đều mang tính hình tượng và ý nghĩa biểu trưng nhằm diễn tả ý tưởng chủ đạo, nội dung nhắm đến theo một hệ tư tưởng sẳn có, được gọi là phong cách và dừng lại ở đó với ý nghĩa biểu trưng được thỏa mãn, công năng sử dụng được giải quyết, yếu tố thẩm mỹ được công nhận theo một phạm trù, thì hơn nữa, chính tính mình tượng và biểu trưng đó lại là cơ sở cho sự suy xét tốt xấu thành bại cho mỗi kiến trúc cụ thể dựa trên một hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngủ Hành mà phương pháp vận dụng của nó là Hình Lý Khí. Có thể nói Hình Lý Khí là phương pháp quán xét hay đánh giá hoàn toàn phù hợp đối với kiến trúc Hậu hiện đại thông qua tính biểu trưng, tính hình tượng của mô hình kiến trúc nhằm tiên lượng sự tốt xấu của công trình trong sự tương quan đa chiều. 4. Vậy Hình Lý Khí là gì? Giả thích cho phạm trù này, nhất thiết phải quay về sự giải thích Khởi nguyên vũ trụ bằng lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành, lý thuyết thống nhất vũ trụ mà chủ nhân đích thực là giống nòi Rồng Tiên Bách Việt với nền văn hiến 5000 năm, một thời rực rỡ dãy phía Nam sông Dương Tử. Con người đang tồn tại trong thực tại Hậu Thiên so với thể bản nguyên của vũ trụ gọi là Thái Cực. Một trạng thái vô định của không không gian, không thời gian, không cực lớn cũng không cực nhỏ, nói nhanh cũng không nhanh nói chậm cũng không chậm, không có cái không để nói tới cái có, không sáng không tối, không có sự phân biệt nên không thể dùng mọi danh từ để nói về nó, chẳng có đối đãi, viên mãn trong giây 0 tuyệt đối. Và nếu trạng thái này vẫn giữ nguyên như thế thì không có con người và vạn vật tồn tại trong thế giới như ngày nay, vì vậy Thái Cực viên mãn trong trạng thái tuyệt đối đến một lúc nào đó đã xuất hiện một trạng thái đối đãi tương đối có sau so với nó. Cái đối đãi có sau gọi là Âm – ngay từ khởi nguyên vũ trụ và như vậy cái tuyệt đối – Thái Cực có trước sinh ra cái tương đối có sau thì Thái Cực trở thành Dương. Vậy là hai khí Âm Dương xuất hiện, khí Dương nhẹ trong thì bay lên, khí Âm nặng đục thì rớt xuống tụ lại thành hình. Vạn vật cứ tiếp nối trùng trùng duyên khởi. Phong thủy Lạc Việt Hình Lý Khí vận dụng nguyên lý cho rằng khí tụ thành hình, hình nào khí đó, có hình là có khí để xác định sự thịnh suy, thành bại của vạn vật. “Hình nào khí đó” được xác định như một định đề. Khi vật chất tụ thành hình với muôn ngàn hình tượng thì bản thân nó đã có khí. Theo như định nghĩa về Khí trong Phong thủy Lạc Việt của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh thì “Khí” là một dạng tồn tại của vật chất, được hình thành bởi sự tương tác của các vật thể và chịu sự chi phối bởi sự tồn tại của các vật thể, đồng thời tác động lên các vật thể ấy. Như vậy "khí" ở đây không phải là không khí, ánh sáng, gió, nước…và mọi vật khi có hình thì đã có khí. Cũng như trong Đông Y, khái niệm “khí” không chỉ đến huyết, dịch, hiệu điện thế nhân thể hay năng lượng tỏa ra thành nhiệt lượng cơ thể mà đó là phản ánh một thực tại tương tác tế vi, nếu là Tiểu vũ trụ con người thì ngay trong chính nó, nếu là Đại vũ trụ vô cùng tận thì trong chính sự tương tác của vũ trụ này. Có hình là có khí, không thể tách rời và “Lý” được xem như phát ngôn của chiều tương tác “Hình Khí” đưa đến một sự nhận định tốt xấu. Vì vậy Hình Lý Khí nếu được xem là tiêu chí duy nhất để đi đến sự nhận định mang tính vận mệnh thì chính tiêu chí đó tự phản ánh một quy luật khách quan vượt lên trên những tiêu chí mang tính duy thức hay chủ nghĩa nhất thời mà giá trị nhận định tính nghệ thuật hay tính hình tượng dựa trên kinh nghiệm luôn thay đổi theo chiều vận động của xã hội.
-
PHONG THỦY LẠC VIỆT VỚI KIẾN TRÚC ĐƯƠNG ĐẠI Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương. Kiến trúc đương đại trên thế giới đã đi từ Kiến trúc Hiện đại sang phong cách Hậu hiện đại và nhờ vào kỷ thuật khoa học tiến bộ thì Phong cách Kỹ thuật công nghệ cao (Hitech) như một xu hướng mới nhưng chưa thật sự phổ biến. Dù thế nào đi nữa thì việc ứng dụng trong xây dựng đa phần hiện nay đều theo nếu không là phong cách Hậu hiện đại thì cũng là phong cách Hiện đại. Dựa trên những cơ sở hay điểm chung của các phong cách mà Phong thủy Lạc Việt nhận định và đánh giá sự tốt xấu hay thành bại của các công trình cụ thể theo phương pháp luận của phong thủy và trên cơ sở khoa học. Bài này chỉ xét trên vài nét đặc trưng của Kiến trúc Hậu hiện đại và Kiến trúc Hiện đại trên quan điểm của Phong thủy Lạc Việt. I KIẾN TRÚC HẬU HIỆN ĐẠI VÀ CÁI NHÌN HÌNH LÝ KHÍ 1.Từ Triết Lý Đến Kiến trúc Hậu Hiện Đại: Trong bối cảnh đầy biến động của thế giới vào giữa đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa Hậu hiện đại (postmodernisme) xuất hiện như một mảnh lực của một cá nhân bị bó buột và rào chắn bởi những quy cách, định chế, nội quy…vực dậy nói lên tiến nói phá bỏ luật lệ. Những Heiddegger, Derrida, Foucault, Nietzsche .v.v. gióng lên hồi chuông khai tử cho sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Hiện đại và văn hóa Tây phương, đó là hồi chuông chống lại sự đồng nhất về văn hóa, tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, ủng hộ bảo nguyên tính đa dạng của từng nền văn hóa khác nhau, phản ứng lại uy quyền của lý tính, chống lại nền tảng, phê phán sự thống trị của lý tính, đẩy mạnh sự cách tân, phá cách và vượt qua chuẩn mực, vượt qua truyền thống. Từ lý tưởng triết học, chủ nghĩa hậu hiện đại đi vào thơ ca văn chương, hội họa, kiến trúc…như một phương thức hành động, sự bày tỏ thái độ rỏ ràng đối với thời cuộc. Và, nếu coi kiến trúc là một phương tiện thể hiện duy nhất và hữu hiệu cho sự thể hiện của mọi chủ nghĩa trong thời đại của sự phát triển vũ bão của kỷ thuật thế giới thì Kiến trúc Hậu hiện đại là một phương tiện phổ biến và đầy đủ sự đa dạng. Bắt đầu những thập niên 1950 cho đến thời hiện tại, tiếp nối trào lưu Kiến trúc hiện đại, Kiến trúc Hậu hiện đại hình thành thành một trào lưu mạnh mẽ và tầm ảnh hưởng lớn trong mọi thời đại kiến trúc. Để mở đầu cho thời kỳ Kiến trúc Hậu hiện đại, tác giả Charkes Jencks đã “khai tử” cho nền Kiến trúc Hiện đại bằng câu nói nổi tiếng như cắm một cây thập tự cáo chung: "Kiến trúc Hiện đại đã chết ở Saint Louis, Missouri ngày 15 tháng 7 năm 1972 vào hồi 15h32". Đó cũng là lời mở đầu cuốn sách "Ngôn ngữ của kiến trúc Hậu hiện đại" của chính ông. Cuốn sách này đã gây tiếng vang lớn trong giới kiến trúc và được tái bản nhiều lần, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nó báo hiệu một trào lưu kiến trúc mới ra đời: Kiến trúc Hậu hiện đại. Nếu Kiến trúc Hiện đại chối bỏ những chi tiết trong kiến trúc được cho là rườm rà, phủ nhận truyền thống, không xem xét đến bối cảnh mà có thể đặt công trình ở bất kỳ môi trường nào, bất kỳ nước nào thì Kiến trúc Hậu hiện đại cho xuất hiện lại các chi tiết trang trí, phát triển thêm tính đa nghĩa của biểu tượng trong kiến trúc, chú ý đến mối quan hệ của kiến trúc đến môi trường, phát huy và hài hòa với tính bản địa của kiến trúc để tạo thành phong cách. Kiến trúc Hậu hiện đại đề cao tính biểu trưng lịch sử khi hòa trộn những nét thảm mỹ cổ điển với nét thẩm mỹ chủ đạo mang tính quốc tế nhằm đưa đến một cái nhìn chấp nhận và đầy cảm tưởng. Kiến trúc Hậu hiện đại mang tính linh hoạt, thích hợp với mọi môi trường văn hóa, sẳn sàng hòa nhập với tính bản địa để tạo sự hài hòa. Đặt biệt, kiến trúc hậu hiện đại vận dụng tối đa tính ẩn dụ và trừu tượng, đẩy mạnh tính biểu trưng dẫn đến sự tự do thể hiện trong hình thể kiến trúc và nhấn mạnh cách bố trí không gian kiến trúc, đề cao đến trật tự trong kiến trúc, đôi khi đưa đến sự dàn trải không gian, tạo cảm giác một không gian vô hạn, không rõ ràng, thậm chí nhập nhằng với nhau hay chú trọng thể hiện cấu trúc theo hình học sơ cấp và đơn giản nhất mà ở đó người ta dể tìm thấy những khái niệm cổ điển như trục chính hay tâm nhà. Và kiến trúc Hậu hiện đại, luôn khuếch đại tính biểu tượng, biểu trưng, thể hiện chủ nghĩa chiết trung mạnh mẽ và đa dạng một cách triệt để. 2.Những Kiến Trúc Hậu Hiện Đại Tiêu Biểu: 2.1 Tòa nhà Royal College of Physicians thiết kế bởi Denys Lasdun ở Regent Park được cho là công trình Kiến trúc Hậu hiện đại đầu tiên. 2.2 Được xem như là dấu son tiêu biểu cho Kiến trúc Hậu hiện đại, Học viện Nghệ thuật Châu Á Lasalle Sia - College of the Arts, được chọn thay mặt cho phong cách kiến trúc Hậu hiện đại, đề án này đã được giới thiệu tại triển lãm kiến trúc danh tiếng Biennale tại Venice (Ý) năm 2004 và hiện nay công trình được coi là niềm tự hào của Singapure. Lasalle tọa lạc trên con đường Joseph Menally chỉ có số 1 duy nhất tòa nhà Lasalle để bày tỏ lòng kính trọng vị hiệu trưởng đầu tiên Joseph Menally. Nhóm thiết kế học viện Lasalle là sự kết hợp giữa RSP Architects và Huger Dutton Associates (HDA). Tập đoàn Nhật Bản Takenaka phụ trách xây dựng - HDA từng tham gia cố vấn, thiết kế và xây dựng nhiều công trình nổi tiếng thế giới như Kim tự tháp tại Bảo tàng mỹ thuật Louvre - Paris. Với 6 block chính từ ý tưởng “tan vỡ” của một tảng băng trôi khổng lồ - Lasalle chỉ toàn bằng kính kết hợp với màu đen của nham thạch, xiêu vẹo, quặn vỡ nhưng được nối kết tuyệt vời bởi những cầu nối giữa 6 khối nhà. Khái niệm “Kiến trúc thân thiện” cũng được thể hiện bằng sự rộng mở của không gian, không có cổng trường, khách bộ hành có thể băng qua học xá để qua con đường sau lưng hay trước mặt Lasalle. 2.3 Bảo tàng Milwaukee - “Đôi cánh hải âu quyền năng”, nằm kề bên hồ Michigan, Bảo tàng nghệ thuật Milwaukee với kiến trúc đặc trưng đã trở thành biểu tượng cho thành phố lớn nhất của tiểu bang Wisconsin. Đây là công trình hoàn chỉnh đầu tiên ở Mỹ và cũng là viện bảo tàng “đầu tay” của kiến trúc sư nổi tiếng người Tây Ban Nha Santiago Calatrava. Với công trình này, Calatrava đã chứng tỏ được “quyền năng” của kiến trúc, tạo một bước đột phá trong thiết kế kiểu dáng và công năng. Với tổng diện tích toàn bộ là 341.000m2, đây có thể được xem là tác phẩm đỉnh cao của loại hình kiến trúc động ảo, một phong cách Kiến trúc Hậu hiện đại do chính Calatrava khởi xướng từ cuối thế kỷ 20. Bảo tàng từng được tạp chí Condé Nast Traveler đánh giá là một trong những "kỳ quan mới của thế giới Chính thức mở cửa vào tháng 10-2001, trung bình mỗi ngày bảo tàng chào đón hơn 5.000 lượt du khách đến tham quan, cá biệt có những buổi triển lãm lớn, con số này có thể nhảy vọt lên đến 32.000 người ". Hàng loạt công trình qui mô lớn mang tính Hậu hiện đại được dựng lên tại thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc thể hiện sự dứt khoát hướng về cái mới của ngày mai. Những công trình này mang một thông điệp của ý chí vượt xa hơn phương Tây, do đó các công trình thường gắn liền với tên tuổi của các nhà thiết kế hàng đầu thế giới hiện nay. 2.5 Công trình mang dáng dấp của một chiếc tổ chim và thiết kế dựa trên ý tưởng bảo vệ môi trường sinh thái. Sân vận động do hãng Herzog & DeMeuron (Thuỵ Sĩ) từng giành giải thưởng Kiến trúc Pritzker danh tiếng, cộng tác với Arup Sport và nhóm kiến trúc Trung Quốc, thiết kế và thi công. Với kinh phí đầu tư 430 triệu USD, sân vận động có chiều dài 330, rộng 220m, cao 69,2m và được xây dựng trên tổng diện tích là 250.000 m2. 2.6 Nhà hát lớn quốc gia tại Bắc Kinh của kiến trúc sư (KTS) Paul Andrieu, chuyên gia hàng đầu người Pháp, được chọn trong một cuộc thi quốc tế, công trình Kiến trúc Hậu hiện đại này xuất hiện giữa một Bắc Kinh cổ kính đã từng gây nhiều tranh luận sôi nổi. Được thể hiện là khối bán cầu bằng kính vĩ đại đặt trên một mặt nước vuông nằm ở vị trí trung tâm quảng trường Thiên An Môn. Hình tượng “bầu trời” (thiên) thể hiện qua vòm kính và nền vuông “mặt đất” (địa) là một diện tích mặt nước vuông rộng lớn muốn bật ý niệm “Trời tròn đất vuông” kinh điển. Cái độc đáo của công trình này là lối vào nằm dưới hồ nước, tạo cảm giác toàn khu phức hợp trình diễn nghệ thuật nằm dưới mặt đất. Ba cơ sở chính là nhà hát Kinh kịch trung tâm, phòng hòa nhạc và nhà hát kịch nói được bố trí nằm gọn trong khối “vỏ trứng”, không gian còn lại là nơi giao lưu nghệ thuật.
-
"Cóc mở miệng" Câu thành ngữ lưu truyền trong dân gian Việt Nam này có nội dung nói đến những chuyện hy hữu, bất khả kháng. Cả đời, hiếm khi ai nghe được tiếng cóc. Có đánh chết, cóc cũng im, không một tiếng kêu. Các cụ gọi là "gan cóc Tía". Nhưng với hình tượng Ông Khiết, nếu rút đồng tiền ra khỏi miệng cóc thì ta thấy ngay "Cóc mở miệng". Ngậm miệng ăn tiền...và..... Cóc mở miệng! Chính vì mối liên hệ chặt chẽ giữa hình tượng của Ông Khiết và những câu thành ngữ trong văn hóa dân gian Việt, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã tiến hành dùng con lắc cảm xạ kiểm tra và phát hiện ở miệng Ông Khiết, khi bỏ đồng tiền ra, có một hiệu ứng bức xạ rất mạnh. Hiện tượng này được nhà cảm xạ Dư Quang Châu - Trưởng ban cảm xạ Trung Tâm nghiên cứu tiềm năng con người - dùng máy đo xác định: Ở các bộ phận khác nhau trên mình Ông Khiết, đèn báo không sáng toàn phần.... Trung bình có bẩy đơn vị đèn sáng..... Chỗ ít nhất chỉ có ba đơn vị đèn sáng...... Nhưng tại miệng Ông Khiết, đèn sang toàn phần, đã chứng tỏ có một bức xạ rất mạnh ở đây. Một hiện tượng cần lưu ý là: Nếu ta để đồng tiền trở lại vào miệng Ông Khiết thì hiện tượng bức xạ yếu hẳn. Hiện tượng "Cóc mở miệng" nói lên điều gì? Phải chăng những điều gần như không tưởng trở thành có thể? Trong thành ngữ dân gian Việt Nam có câu "Bao giờ cóc mọc râu". Một câu thành ngữ có tính ví von với hình tượng so sánh với những việc gần như không tưởng. Cóc thì chẳng bao giờ mọc râu cả, vậy thì những việc làm sẽ chẳng bao giờ thành công ví như chờ đến khi "cóc mọc râu" vậy. Nhưng kỳ lạ thay! Một lần nữa câu thành ngữ dân gian Việt này lại liên hệ rất cụ thể với hình tượng Ông Khiết: Bạn đọc hãy nhìn kỹ xem: Ở hai bên mép Ông Khiết có hai sơi râu thật..... " Cóc mọc râu" đúng cả nghĩa đen với hình tượng Ông Khiết. Phải chăng, chính hình tượng Ông Khiết muốn nhắc nhở hậu thế rằng: Những điều không tưởng vẫn có khả năng trở thành hiện thực?! Trong bài "Hòn Vọng Phu" của nhạc sĩ Lê Thương có câu: Ta cố đợi ngàn năm. Một ngàn năm nữa sẽ qua.... Nhạc sĩ Lê Thương sáng tác bài hát nổi tiếng này của ông, khi mà tất cả các nhà nghiên cứu văn hóa sử Việt còn sống ngày nay chưa sinh ra ở trên đời..... Hơn hai ngàn năm đã trôi qua, kể từ khi nền văn hiến huyền vĩ Việt sụp đổ ở miến nam sông Dương Tử, ông Khiết đã "Ngậm miệng ăn tiền". Đến nay, Ông Khiết đã mở miệng và thể hiện những điều mà trước đây gần như không tưởng - "Cóc mọc râu". Qua hình tượng Ông Khiết, đã xác định một nền văn hiến huyền vĩ ở bờ nam sông Dương Tử - nền văn minh Khoa Đẩu - đã sở hữu một lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước. Đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Ông Khiết và thuyết Âm Dương Ngũ hành. Ngay trên đầu ông Khiết, đã đội Âm Dương, cho chúng ta thấy hình tượng Ông Khiết có mối liên hệ chặt chẽ với thuyết Âm Dương Ngũ hành. Do đó hình tượng này phải là một sự lựa chọn liên quan mật thiết đến học thuyết này. Nếu chúng ta có thể cách điệu hóa hình tượng ông Khiết ba chân đầy huyền bí này thành hình kỷ hà thì sẽ có hình tam giác cho thân ông Khiết với đỉnh ở miệng Ông Khiết và một hình tam giác khác có đỉnh là chân sau ông Khiết. Và đây chính là biểu tượng của Do Thái giáo - một tôn giáo cổ xưa nhất của nhân loại và nay chính là lá cờ của quốc gia Isarael. Đồng thời đây cũng chính là biểu tượng của đồ hình Hậu Thiên Lạc Việt với sự kết hợp hai quái Đoài Tốn và Cấn Chấn thành đồ hình tam âm, tam Dương. Xin xem hình minh họa dưới đây: Không ai có thể phủ nhận sự liên quan giữa bát quái với Ngũ hành trong ứng dụng. Biểu tượng của ông Khiết liên quan đến Thuyết Âm Dương Ngũ hành là việc rất rõ ràng không cần phải bàn cãi, ít nhất với xoáy Âm Dương mà Ông Khiết mang trên đầu. Nhưng vấn đề cũng chưa dừng lại ở đấy, mà biểu tượng này còn liên quan mật thiết với những tri thức vũ trụ và xác định: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là sự tổng hợp của những tri thức vũ trụ, khi mà trên lưng Ông Khiết chính là hình tượng của chòm sao Đại Hùng Tinh - Chòm sao Thiên cực Bắc của bầu trời Thái Ất trong lý học Đông phương. Bạn đọc có thể so sánh hình dưới đây: Chòm sao Đại Hùng tinh trên bầu trời Thái Ất hiện nay (Chấm đen trên hình minh họa). So sánh với các chấm trên lưng ông Khiết...... Như vậy, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng: Ông Khiết chính là biểu tượng hoàn hảo của nền văn minh Khoa Đẩu (Con ông Khiết chính là nòng nọc - Khoa Đẩu tự - văn tự chính thống của nền văn minh Lạc Việt), miêu tả một cách cô đọng nhất những nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành và một thực tại mà học thuyết này phản ánh: Đó chính là những quy luật vũ trụ tương tác với Địa cầu, mà chòm sao Thiên Cực Bắc chính là chòm sao định vị căn bản cho mọi sự vận động, tương tác đó. Nhưng vấn đề cũng không chỉ dừng lại ở đây, hình tượng Ông Khiết còn xác định rằng: La bàn chính là sản phẩm có từ lâu trong nền văn minh cổ nhân loại và không phải do người Trung Quốc phát minh. Biểu tượng Ông Khiết - Xác định la bàn là phát minh của người Việt cổ. Từ hàng ngàn năm nay, cả thế giới này vẫn ngộ nhận la bàn là phát minh của nền văn minh Hoa Hạ, cũng như cho rằng Kinh Dịch và thuyết Âm Dương Ngũ hành của người Trung Hoa vậy. Có thể nói rằng trên hầu hết những website nghiên cứu đều thống nhất nói về điều này. Nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim chép trong Việt Nam Sử Lược "... và ông Chu Công Ðán lại chế ra xe chỉ Nam để đem: "... và ông Chu Công Ðán lại chế ra xe chỉ Nam để đem xứ Việt thường về nước." (quyển 1, trang 13). Còn theo sự khảo cứu của Châu Âu cho rằng la bàn từ dùng kim nam châm được các nhà hàng hải Trung Hoa dùng khoảng năm 1100 Tây lịch. Theo học giả Alexander Neckam viết trong sách Desutensilibus (Nói về các dụng cụ) thì các thủy thủ Anh,vào năm 1190, đã từng dùng la bàn cho những chuyến hải hành trên cách đại dương. Khoảng từ năm 1220 người Arập đã bắt đầu dùng la bàn và khoảng 1250 thì người Viking cũng đã biết dùng loại công cụ định hướng này một cách thường thức. Họ còn trưng ra nhưng cái gọi là "di vật khảo cổ" để xác định la bàn là phát minh của người Hoa Hạ: Chiếc thìa chỉ Nam - một di vật được coi là phát minh của người Hoa Hạ vào thế kỷ II BC. Thế giới theo thói quen nhận thức đó, mặc nhiên ngộ nhận sự phát minh La Bàn là của người Trung Quốc. Nhưng một bí ẩn còn chưa được giải thích, một câu hỏi còn đang bỏ lững, khi đặt cho câu hỏi rằng những công trình kim tự tháp của Ai Cập, Hy Lạp, Inca, Maya, Zoque ở Trung Mỹ, được xác định phương hướng để xây dựng hay các cấu trúc công năng của tháp cũng thể hiện khả năng, công dụng xác định được phương hướng, xác định được sao Cực Bắc, các hướng chính Bắc, chính Nam, chính Đông, chính Tây - với độ sai biệt siêu việt hơn độ sai biệt lý tưởng cho phép của xây dựng thời hiện đại - thì thời đó các nền văn minh hơn 5000 năm này họ xác định hướng bằng gì? Nếu cho rằng: Các nền văn minh cổ xưa đã dùng sao Thiên Cực Bắc để tìm hướng Bắc, thì chúng ta đều biết rằng: Hướng Bắc của chòm sao Thiên cực Bắc không hoàn toàn trùng khớp với phương Bắc của Địa cầu. Sự chính xác của các công trình kiến trúc nổi tiếng thời cổ đại, như Kim Tự Tháp Kim tự tháp Keop nổi tiếng của Ai Cập có đường chéo góc trùng khớp hoàn toàn với kinh tuyến Bắc Nam của địa cầu và là kinh tuyến đi qua đất liền dài nhất thế giới. Làm thế nào để họ xác định chính xác trục Bắc Nam mà xây nên Kim Tự tháp vĩ đại này? Cũng có ý kiến cho rằng: Người Ai Cập căn cứ vào sao Bắc Đẩu để xác định phương Bắc. Mới nghe thì có vẻ có lý và có nhiều ngươi đồng tình. Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là trục Địa cầu nối kinh tuyến dài nhất theo hướng Bắc Nam, chứ không phải phương Bắc. Làm sao người Ai Cập biết trục Địa Cầu nằm đúng phương Bắc Nam mà nhìn sao Bắc Đẩu, nếu không có la bàn - hoặc một cái gì đó tương tự như vậy - để xác định phương hướng các vì sao trên bầu trời với một kiến thức thiên văn vượt trội . Điều này đã chứng tỏ qua vị trí các vì sao tương quan với các Kim Tự Tháp. Chúng ta xem lại hai tư liệu liên quan đến sự phát minh ra la bàn vốn được coi là của người Trung Hoa. 1 - Truyền thuyết ghi nhận trong trận đánh Hoàng Đế Xuy Vưu tại Trác Lộc (Trên 5000 năm cách ngày nay). Xuy Vưu làm phép khiến trời đất mù mịt. Một vị đại thần của Hoàng Đế phát minh ra cái xe chỉ nam và nhờ cái xe này, Hoàng Đế chỉ huy quân đội, phá tan đạo quân của Xuy Vưu. 2- Sứ giả Việt Thường đến kinh đô cống vua Nghiêu một con rùa lớn (3000 năm cách ngày nay), trên mai rủa có ghi việc trời đất mở mang bằng Khoa Đẩu tự. Vua Nghiêu sai tặng sứ Việt thường chiếc La bàn để định hướng về nước.Sau hai tư liệu trên thi không có một tác giả Trung Hoa nào tự giới thiệu là người phát minh ra la bàn. Chúng ta cũng biết rằng: Chính các nhà sử học Trung Quốc cũng cho rằng lịch sử văn minh Hoa Hạ chỉ rõ ràng trong khoảng thế kỷ thứ VIII BC. Huyền thoại thì không phải là cơ sở để tin cậy như một chứng cứ thuyết phục, nếu không giải thích được những vấn đề liên quan đến nó. Khoa phong thủy đã được chứng minh rằng: Nó thuộc về nên văn hiến Lạc Việt một thời huy hoàng bên bờ nam Dương Tử. Tất yếu cái la bàn là vật bất ly thân của môn này không thể ra đời trong văn minh Hán.Quí vị cũng cần quán xét một hiện tượng là: Ở đây, tôi cũng cần lưu ý thêm quý vị là: Sử Ký Tư Mã Thiên dành hẳn một truyện cho những thày chuyên coi ngày, tựa là "Nhật giả liệt truyện", nhưng lại không hể nhắc tới khoa Phong Thủy vốn được coi là xuất hiện từ thế kỷ thứ III BC - tức là trước cả Tư Mã Thiên hàng 100 năm - như tài liệu trên ghi nhận. Ông ta cũng không hề có một chữ nào nói đến sự ứng dụng khoa Phong thủy trong các công trình xây cất của triều đình Hán. Tất nhiên, ông cũng không hề xác nhận la bàn là do phát minh của văn minh Hoa Hạ. Những chứng cứ trên xác định việc phát minh la bàn không thuộc về văn minh Hán cổ. Cóc với đôn cố định. Hình tượng Cóc thật sự là bình dị và phổ thông như đã thấy, nhưng kết cấu lại đưa đến những sự trùng hợp mang tính tương đồng hay định hướng cho một sự suy nghiệm hợp lý giữa các hiện tượng liên quan. 1 - Ông Khiết được đặt trên đôn tròn có thể xoay các hướng tương làm cho miệng nhọn của hình tượng như một mũi tên chỉa về các phương tương tự mũi kim nam châm luôn xoay tít và chỉ hướng Bắc Nam khi đã ổn định. Do vậy, đôn đế thường được thiết kế tròn và bằng vật liệu không phải là kim loại, tương đồng với việc thiết kế vỏ la bàn bằng vật liệu không tạo sự nhiễm từ. 2 - Miệng Ông Khiết ngậm một đồng tiền tròn - theo quan điểm Lý học Đông Phương thì tượng tròn thuộc kim - Hình tượng này cho thấy tính hút kim loại - tiêu biểu là sắt - của La bàn. Những hình ảnh tiền bạc mà tượng cóc ngồi lên, cũng có thể tượng trưng cho tượng Kim, kim loại bị từ trường hút giữ. Như vậy tính từ lực được thể hiện qua hình tượng ẩn dụ mang tính thường thức phổ thông qua ý nghĩa cầu tài chiêu lộc. Nhưng đó là ẩn ngữ nhằm miêu tả một tri thức bị che lấp bởi hàng ngàn năm Hán hóa. Cấu trúc của miệng Ông Khiết hơi nghiêng chếch lên, nên khi ta chỉ cần cho đồng tiền vào đúng miệng là tự nó vào sâu tiếp trong miệng Ông Khiết, nói lên khi cho kim loại tới gần nam châm sẽ hút được nó. 3 - Lưng ông Khiết mang chòm sao Bắc Đẩu và nhìn lên trời, cho thấy ông nhìn về hướng Bắc..... 4 - Chân ông Khiết có nhiều đồng tiền nhỏ xung quanh, hình tượng thuộc kim một lần nữa được tái hiện, cho ta thấy nam châm có thể hút được kim loại từ rất nhiều chiều. Trong khi đế lại được chế tác hình tròn và bằng loại vật liệu khác và tách rời với ông khiết, muốn nói rằng, vỏ của la bàn phải được làm bằng loại vật liệu khác mang dáng dấp của hình tròn và không phải là kim loại, không phải là nam châm thì la bàn mới hoạt động được. 5 - Qua tác nghiệp đo xung khí bằng máy RFI của Nhà cảm xạ học Dư Quang Châu, cũng như sử dụng đo xung xạ bằng con lắc của nhà nghiên cứu lý học Nguyễn Vũ Tuấn Anh cho thấy rằng: Khi Ông Khiết ngậm đồng tiền, không tạo xung khí, trời đất giao thoa, nói lên trái đất vẫn chịu sự tưong tác của thiên văn. Khi rút đồng tiền ra, miệng Ông Khiết tạo ra một xung khí phát thẳng, có thể coi là chỉ dấu chiều từ trường trái đất Đương nhiên ông cha ta không muốn bị thất truyền, nên ngoài việc mang tính chiêu tài để lưu truyền, ông cha ta thêm chùm sao Đại Hùng tinh trong tranh dân gian Việt in hình của chòm sao trên lưng trong tượng ông Khiết. Trong buổi hội thảo về "Tính khoa học của phong thuỷ trong kiến trúc và xây dựng", nhà tổ chức đã trao tặng các đại biểu tượng Ông Khiết trên đế tròn. Đây cũng là biểu tượng và mong muốn phổ biến một hình tượng minh triết Việt đến với mọi người. Chúng tôi luôn tuân thủ nguyên tắc: Không sử dụng sử giải mã những biểu tượng, truyền thuyết làm bằng chứng khoa học để minh chứng cho Việt sử 5000 năm vắn hiến. Nhưng, chúng tôi vẫn trân trọng giới thiệu một cách nhìn về tính minh triết Việt qua di sản của tổ tiên Lạc Việt để lại. Ẩn truyền của ông cha ta khi nói: “Con cóc là cậu ông Trời” thật là ý nghĩa. Và một điều thú vị khác nữa là: Trong cuốn "Cội nguồn trăm họ" của giáo sư Bùi Văn Nguyên, tác giả cho rằng - Kinh Dương Vương tên húy là Nguyễn Minh Khiết. Như vậy, danh từ "Khiết" chính là thủy tổ khai sáng nền văn minh Lạc Việt - Nền văn minh Khao Đẩu một thời huyền vĩ ở miến nam sông Dương tử.. Achau
-
Ông Khiết - Một biểu tương minh triết của văn minh Lạc Việt. Sự xác định phát minh ra la bàn thuộc về văn minh Việt cổ. Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương Hướng dẫn: Thiên Sứ Biên soan: Achau Bổ sung: Thiên Đồng Trong hội thảo "Tính khoa học của Phong thủy", do Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương tổ chức tại Hanoi, ở khách sạn La Thành ngày 15 - 12 - 2009, Hoàng Triều Hải là một thành viên nghiên cứu và hiện là trưởng đại diện Văn Phòng Hanoi của Trung tâm đã giới thiệu "Ông Khiết" - một vật trấn yểm độc đáo của Phong Thủy Lạc Việt. Ông Khiết chính là một món quà tặng của Trung Tâm cho các vị khách quí tham dự hội thảo. Đây cũng chính là một biểu tượng đầy tính minh triết của nền văn Lạc Việt, một thời huyền vĩ ở miến nam sông Dương tử.... Ông Khiết - quà tặng của Trung tâm trong hội thảo. Ảnh: TTNCLHĐP Tính minh triết Việt qua biểu tượng Ông Khiết Có lẽ, hầu hết người Việt Nam khi bước vào đời, trước nhưng khó khăn của cuộc sống đầy bon chen, sát phạt, thì thường tự an ủi với câu thành ngữ rất phổ biến: "Ngậm miệng ăn tiền". Hoặc trước những bất công xã hội, những sự ức chế thì ông cha ta cũng thường nói: "Cóc cũng phải mở miệng". Hay trong đời thường, trước những khó khăn không thể vượt qua, người ta thường thách đố nhau: "Đợi đến cóc mọc râu" mới làm được việc đó. Đã từ lâu, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, đã phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa những câu thành ngữ lưu truyền trong dân gian Việt Nam, những giá trị văn hóa phi vật thể của nền văn hiến Việt liên hệ đến hình tượng "Ông Khiết", qua những tác phẩm của ông: "Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam", "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại", "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch", "Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp"; "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt"…nhằm phục hồi hệ thống lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc về nền văn hiến Việt 5000 năm huyền vĩ phía Nam Dương Tử. Có thể nói rằng: Trong suốt lịch sử trải gần 5000 năm đó, hình tượng "Ông Khiết" - cụ Cóc - luôn gắn bó với nền văn hóa truyền thống Việt. Chúng ta có thể nhận thấy ngày hình ảnh "Ông khiết" Việt trong nền văn hiến Việt qua những di sản khảo cổ từ hàng ngàn năm trước: Đây là những di vật khảo cổ của người Việt, đã làm thế giới phải ngạc nhiên và thú vị trước một nền văn minh và kỹ thuật phát triển thể hiện một đỉnh cao không những trong kỹ thuật đúc đồng mà ngay cả trong nghệ thuật khắc nổi và hình họa. Những chi tiết trên trống đồng phản ánh một hình thái xã hội với chiều sâu của nó, xác định một nền văn minh Văn Lang rực rỡ của Việt tộc. Một trong những chi tiết độc đáo, được đắp nổi trên tang trống Lạc Việt từ hàng ngàn năm trước là những những con vật bình dị, nhưng rất thân thuộc trong xã hội văn minh lúa nước, đó là hình ảnh con Cóc. Trống đồng Lạng Sơn, loại Heger II, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam. Trống đồng Đông Sơn và hình tượng cóc - Ông Khiết. Tượng cóc trên trống đồng Đông Sơn Tượng cóc trên mặt trống Heger II Đã có nhiều học giả có những cách lý giải khác nhau về con Cóc trong các nghiên cứu khoa học. Có thuyết cho rằng Cóc là biểu hiện cho tình trạng thời tiết trong mùa màng, như “Cóc nghiến răng thì trời sẽ mưa”. Những hình ảnh Cóc trên trống đồng xuất hiện rất thường xuyên trong các di vật khảo cổ và người ta càng khó hiểu khi có những hình tượng Cóc giao hoan, không những giữa hai cá thể mà những ba cá thể (!). Nhiều học giả có ý kiến cho đó là biểu trưng cho tính ngưỡng phồn thực cổ xưa của văn hóa Việt!? Tượng 3 cóc giao phối. Không chỉ ở nhưng di vật khảo cổ xác định hình tượng Ông Khiết đã tồn tại từ lâu trong nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, mà hình tượng này còn tồn tại trong văn hóa truyền thống dân gian Việt Nam cho đến tận bây giờ. Những chuyện liên quan đến Cóc là nhân vật chính có thể kể ra đây là: Chuyện Trê Cóc, Cóc kiện trời, Thày đồ Cóc...Trong văn học dân gian Việt thì có thể nói ông Cóc có một vị trí đặc biệt được tôn trong: Con cóc là cậu ông trời. Ai mà đánh nó thì trời đánh cho Ông Trời - Thượng Đế - cai quản cả vũ trụ mà nhân loại phải kính trọng, nhưng cóc lại còn là "Câu ông Trời" thì đủ hiểu cóc có địa vị như thế nào! Không những thế, cóc còn là thầy dậy, là sự truyền đạt văn hóa và chỉ mình Cóc làm được chuyện này. Lão Oa độc giảng - Thày Đồ Cóc - Tranh dân gian làng Đông Hồ. Ông Trời chính là biểu tượng của sức mạnh vũ trụ, cóc là Cậu ông Trời và là độc quyền giảng dậy, truyền đạt văn hóa! Phải chăng con cóc là hình tượng muốn gợi mở một suy nghiệm liên quan đến những bí ẩn vũ trụ được ẩn chưa trong nền văn minh Khoa Đểu - đó là loại chữ hình con nòng nọc - con của cóc. Trong ca dao tục ngữ Việt, còn những câu thành ngữ liên quan đến ông Cóc và đặc biết là Ông Khiết - một biểu tượng cách điệu của con Cóc - một cách kỳ lạ, mà chúng tôi lần lượt trình bày với bạn đọc dưới đây: "Ngậm miệng ăn tiền". Một câu thành ngữ độc đáo của nền văn hóa dân gian Việt. Các nhà nghiên cứu, phê bình cho rằng câu thành ngữ này có một nội dung ích kỷ, thiếu tính đấu tranh, chỉ biết lợi cho mình....Nhưng kỳ lạ thay! Đây chính là biểu tượng của Ông Khiết: Hình tượng Ông Khiết - "Ngậm miệng ăn tiền". Thế gian này chẳng ai có thể ngậm miệng ăn tiền cả. Câu thành Ngữ Việt "Ngậm miệng ăn tiền" chỉ mang tính hình tượng, nhằm miêu tả một nội dung khác. Nhưng với hình tượng "Ông Khiết" thì đúng cả đến nghĩa đen. Các thày bà còn khuyên thân chủ mua Ông Khiết về để thờ và cứ phải" sáng quay ra, tối quay vào" để ông mang tiền về cho gia chủ. Hàng ngàn năm đã trôi qua - kể từ khi nền văn minh Khoa Đẩu của Việt tộc sụp đổ ở miến nam sông Dương Tử, hình tượng Ông Khiết "ngậm miệng ăn tiền" vì có khả năng "mang tiền về cho thân chủ" - nên mãi mãi lưu truyền đến ngày nay - phải chăng đã hàm chứa sự gìn giữ những bí ẩn của nền văn minh Khoa Đẩu? Hình tượng Ông Khiết nguyên thủy thì đồng tiền trong miệng có thể tháo rời ra được. Nhưng ngày nay, để tiện vận chuyển và sản xuất, người ta đã hàn dính đồng tiền vào miệng Ông Khiết, hoặc đúc dính liền đồng tiền và mình Ông Khiết thành một khối. Tuy nhiên, vẫn còn có những nơi làm hình tượng này theo đúng truyền thống - họ không đúc liền đồng tiền vào miệng Ông Khiết. Và điều này lại liên quan một cách kỳ lạ đến câu thành ngữ "Cóc mở miệng". còn tiếp