-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
Bản Chất Thật Của Pháp Luân Công?
Thiên Đồng replied to Kim Cương's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Bồ đề bổn vô thọ Minh cảnh diệc phi đài Bổn lai vô nhứt vật Hà xứ nhạ trần ai. Nghĩa là: Vốn không cây Bồ đề Cũng chẳng đài gương tỏ Vốn không có vật gì. Chỗ nào đóng bụi lọ. Nếu liễu ngộ được ý này của tổ Lục Tổ Huệ Năng thì chả có cái gì gọi là "cảnh giới cao thâm" hay không cao thâm cả. Tự cho rằng Đại đạo, chánh pháp...thì có khác chi người mơ nói sảng. -
Bí Ẩn Nhục Thân Các Thiền Sư
Thiên Đồng replied to Thiên Đồng's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Bí ẩn nhục thân các thiền sư Kỳ 3: Chuyện lạ từ làng Phật Tích nguồn: www.thanhnien.com.vn, 10/12/2009 22:27 Nhà điêu khắc Bùi Đình Quang (trái) và nhà nhân chủng học Nguyễn Lân Cường tái tạo hình dạng của nhục thân thiền sư Chuyết Chuyết dựa vào di cốt còn lại - Ảnh tác giả cung cấp Chùa Phật Tích - ngôi chùa thời Lý nghìn năm tuổi còn giữ được pho tượng đá lớn nhất và những con thú bằng đá, nằm trên lưng chừng núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Nhưng tại sao lại có tên Lạn Kha, Tiên Du và Phật Tích? Chuyện xưa Trèo lên đỉnh núi phía sau chùa, chúng ta sẽ bắt gặp mấy khối đá vuông, mặt phẳng. Các cụ già trong làng bảo đấy là bàn cờ tiên. Tương truyền, trong làng lúc đó có một chàng tiều phu tên gọi là Vương Chất. Một hôm, nhân lên núi đốn củi, Vương Chất thấy hai cụ già râu tóc bạc phơ đang ngồi đánh cờ trên tảng đá bằng phẳng. Hai cụ vừa đánh cờ vừa ăn đào và vứt hột sang bên. Vương Chất vừa xem cờ, vừa nhặt hạt đào để ngậm tiếp. Ván cờ vừa xong, nhìn xuống chân, thấy chiếc cán rìu đã mục và cũng là lúc hai cụ biến vào sau hàng thông hiu quạnh... Soi mình trong bóng nước thấy râu tóc bạc trắng, chàng mới chợt hiểu rằng mình đã lạm sống một thời gian dài ở cõi tiên - một năm bằng sáu, bảy mươi năm ở cõi trần. Thế là, vì có tiên xuống chơi mà người ta gọi là Tiên Du và cũng vì “cán rìu mục nát” mà núi ở đây cũng còn có tên là Lạn Kha... Truyện kể lại, chùa xưa rộng rãi khang trang có tới 300 tòa nhà. Chỉ riêng công việc dọn dẹp đã cần tới 70 người. Đặc biệt ngọn tháp của chùa cao vời vợi, nhòa lẫn trong mây, đến nỗi ở tận kinh thành Thăng Long vẫn còn nhìn rõ. Nhà vua ngạc nhiên hỏi cận thần cớ sao ở nơi thôn dã mà lại có cây tháp cao hơn cả cung điện trong hoàng thành? Sau lời “quở” đó, cây tháp thần kỳ bị đổ dọc theo sườn núi, gạch đổ xuống tới tận đầu làng dài gần cây số, nơi ấy nay còn tên là “Ngõ Gạch”. Dưới lòng đáy tháp lộ ra một pho tượng Phật sừng sững. Pho tượng ấy nay vẫn còn, gọi là tượng Phật A Di Đà. Để ghi lại tích Phật ấy, làng đổi tên là Phật Tích và dời lên sườn núi. Bí ẩn tháp Báo Nghiêm Vào một đêm cuối tháng 8.1989, trời mưa tầm tã, những tia sét cuối hè xé ngang bầu trời tối đen như mực, liếm sang cả phía sau sườn núi Lạn Kha. Chính trong cái đêm mưa bão ấy, kẻ gian đã lẻn lên sau chùa phá ô cửa nhỏ bằng đá của tháp Báo Nghiêm, hòng tìm kiếm vàng bạc, hay tượng đồng đen trong tháp. Tháp Báo Nghiêm, dựng năm Chính Hòa thứ 13 (1692), cao bốn tầng. Mặt tháp có chạm tượng Phật, ngồi trên tòa sen. Bọn trộm có ngờ đâu, trong lòng tháp chỉ vỏn vẹn có một vại sành, trong đó đựng xương và những mảnh vỡ của một pho tượng cổ. Ngày hôm sau, đoàn tham quan gồm bảy nhà sư do Thượng tọa Thích Thanh Quang - trụ trì chùa Quỳnh Lâm (tỉnh Quảng Ninh) dẫn đầu lên thăm khu tháp bỗng nhìn thấy các mảnh xương, mảnh bồi nằm tung tóe dưới chân tháp. Thượng tọa vội báo cho Ban di tích “Tìm thấy di hài của Phật Tổ rồi!...”. Ông Trần Xuân Trường và Ban di tích của chùa vội gom lại xương và các mảnh bồi vào trong một hòm kính đặt ở chùa. Chẳng mấy chốc, cái tin tìm thấy thi hài của “Phật Tổ” lan đi rất nhanh. Đúng vào thời gian này, tôi đang nghiên cứu tại Viện Khảo cổ học Viện Hàn lâm khoa học Cộng hòa Liên bang Nga (Liên Xô cũ) ở Moscow. Về nước vào đầu tháng 3.1991, thì giữa tháng 4, tôi được Ban di tích của chùa Phật Tích mời lên nghiên cứu nhục thân của thiền sư. Ngày 26.4.1991, trở lại chùa Phật Tích lần thứ hai, suốt cả một ngày trời tôi loay hoay chắp gắn và khớp được ống chân phải với phần dưới của đùi, tạo thành một góc nhọn, chúng tôi khẳng định tư thế hai chân ngồi xếp bằng tròn của pho tượng. Chúng tôi đã phát hiện ra 209 mảnh bồi và 133 mảnh xương. Nghiên cứu góc xương mu, khuyết ngồi lớn, mỏm chũm... chiều dài xương đùi, chúng tôi cho rằng đây là di hài của một người đàn ông chừng 65-70 tuổi, cao 1,59m. Đặc biệt chúng tôi tìm được bảy đoạn dây đồng nằm lọt giữa mảnh bồi. Như vậy, chắc chắn người ta đã dựng khung xương trước nhờ những đoạn dây đồng và bồi ra bên ngoài để tạo tượng. Chất bồi cũng là sơn ta, vải màn, mạt cưa, đất... giống chất bồi của thiền sư Vũ Khắc Minh, nhưng cách tạo tượng thì khác hẳn vì không bồi trực tiếp lên thi hài. Nhìn chiếc vại đựng thi hài, chúng tôi thấy nét vẽ rồng bằng phẩm màu rất sơ sài, nên tôi và nhà khảo cổ học Trịnh Cao Tưởng đều cho rằng đây là chiếc vại có niên đại rất muộn - chỉ cách ngày nay vài chục năm, không thể so sánh với niên đại của tháp. Thế thì có đúng đây là di hài của thiền sư Chuyết Chuyết hay không? Tại sao bức tượng có xương cốt của ngài lại bị đập vỡ và để trong vại đặt trong tháp Báo Nghiêm của chùa Phật Tích? Tất cả những câu hỏi trên mãi sau này chúng tôi mới có lời giải đáp... (Lược trích từ cuốn Bí mật phía sau nhục thân của các vị thiền sư của PGS-TS Nguyễn Lân Cường) PGS-TS Nguyễn Lân Cường -
Kính Nhờ Bác Thiên Đồng Xem Giúp Cháu 1 Quẻ!
Thiên Đồng replied to Thảo Phương's topic in Lạc Việt Độn Toán
Gửi Thảo Phương, ngày canh dần (TB Mộc) 25 tháng ất hợi (TL Thủy) năm kỷ sửu giờ tị. Sinh Xích Khẩu 15/12/2009(DL) này cháu sẽ nhận đề tài tốt nghiệp! Nhờ bác Thiên Đồng xem giúp cháu là liệu cháu có được làm đề tài tại Hà Nội không ạ? Luận: Phải đợi bổ sung một điều kiện nào đó thì người ta sẽ thông tin báo cho biết là được hay không. Quẻ này cho biết từ đây đến sang năm rất thuận lợi cho việc học vấn công danh. Tuy vậy, từ đây đến cuối năm phải chịu khó khăn trong những thủ tục mang tính chất hành chính. Có thể đề tài sẽ được báo sau 3 tuần nữa. Chúc công thành danh toại. :rolleyes: Thiên Đồng :wacko: -
Ấn Độ: Những hình ảnh mới nhất của em bé 2 mặt (Dân trí) - Đối với nhiều người thì một đứa trẻ sơ sinh với hai gương mặt hoàn chỉnh là “người ngoài hành tinh” nhưng đối với một cặp vợ chồng Ấn Độ thì con gái của họ là sự hiện thân của nữ thần. Bé gái chưa được đặt tên chào đời hôm 10/3 với 2 khuôn mặt, 2 miệng, 4 mắt tại bệnh viện quận Nagar của bang Uttar Pradesh, cách thủ đô New Delhi khoảng 50km về phía đông bắc. Cha mẹ em - vợ chồng anh Vinod và cô Susham Singh tới từ ngôi làng Sani, cho biết cô con gái bé bỏng của họ là “một món quà từ Chúa trời”. Người dân làng Sani lũ lượt kéo đến tận mắt chiêm ngưỡng em bé "ngoài hành tinh". Các phụ nữ cầu nguyện cho “Thần nữ” sơ sinh. Cô Susham Singh và đứa con gái 7 ngày tuổi. Em bé hiện đang được cho ăn bằng bình. Các bác sĩ chưa thể xác định liệu em các chức năng ăn uống của em có bình thường hay không. Người dân làng Sani khẳng định em là hiện thân của nữ thần, vì thế họ đã tới ăn mừng sự ra đời của em với những tiếng vỗ tay, tiếng reo hò, những món quà tặng và tiền. Các bác sĩ đỡ đẻ cho chị Susham cho biết bé gái có sức khoẻ tốt lúc chào đời nhưng cũng nói thêm rằng cần tiến hành các cuộc kiểm tra trong tương lai gần để biết chính xác tình hình sức khoẻ của em. Lưu Ly Theo Reuters, Dailymail www.dantri.com.vn
-
gửi gianghd Cháu sinh giờ Tuất, ngày 01/09 năm Giáp tý; Vợ cháu sinh giờ Tị, ngày 29/03 năm Ất sửu. Chú và các anh chị có thể tư vấn cho vợ chồng cháu sinh em bé năm nào là đẹp nhất không ạ. Cháu xin cảm ơn ạ. nên sinh đứa gái Quý Tị 2013 và trai 2016 Bính Thân 2016. Chúc hạnh phúc
-
Bí Ẩn Nhục Thân Các Thiền Sư
Thiên Đồng replied to Thiên Đồng's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Bí ẩn nhục thân các thiền sư Kỳ 2: Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Trường nguồn: thanhnien.com.vn, 10/12/2009 0:22 Tượng đối chứng (trước) và tượng gốc (sau) của thiền sư Vũ Khắc Minh - ảnh: N.L.C Trong chùa còn có pho tượng cổ thứ hai: Thiền sư Vũ Khắc Trường - người trụ trì chùa Đậu kế tục ngay sau Vũ Khắc Minh, không có tài liệu nào nói đây là “chú, cháu” như một số báo đã đưa tin. Năm 1893, chùa bị lụt, tượng Vũ Khắc Trường nằm ở vị trí thấp hơn nên bị nước tràn vào và bị hỏng. Các cụ trong làng đã làm lại một pho tượng khác bằng sơn ta có cốt dựng bằng tre và gỗ rồi xếp xương vào bên trong. Tại Viện Thông tin khoa học xã hội VN ở Hà Nội, chúng tôi tìm thấy hai bức ảnh chụp tượng thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường còn bóng nước sơn, không hề có vết nứt nào. Nhưng chỉ sau vài chục năm, do tượng để trong am cạnh chùa rất ẩm ướt nên đã làm cho cả hai pho tượng xuống cấp trầm trọng. Pho tượng Vũ Khắc Minh bị nứt ở đầu gối và phần mặt. Pho tượng Vũ Khắc Trường, hỏng trầm trọng ở phần chõn, hầu như không còn ngồi được ngay ngắn, nếu không có những miếng gỗ kê ở phía dưới. Tôi bắt tay viết dự án Tu bổ, bảo quản tượng hai vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường ở chùa Đậu (Hà Tây) ngay vào đầu năm 2000. Nhóm công tác gồm: PGS-TS Nguyễn Lân Cường (Chủ nhiệm dự án), họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân, các nhà điêu khắc Phạm Xuân Sinh, Nguyễn Ngọc Lâm, kỹ sư Nguyễn Mạnh Hà. Ngoài ra, còn có 6 cơ quan cùng kết hợp để thực hiện dự án, một hội đồng cố vấn và Ban quản lý dự án được thành lập. Điều khó khăn nhất với chúng tôi là các phương án nêu ra không thể mắc sai lầm vì hai pho tượng này là độc bản, chỉ cần mắc một lỗi nhỏ là không thể sửa chữa được. Chúng tôi là những người hiểu nhất điều này vì các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước lúc đó như ông Nguyễn Khoa Điềm - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Bộ trưởng Văn hóa - Thông tin Phạm Quang Nghị... đã tới tận chùa để nghe chúng tôi trình bày phương án tu bổ - bảo quản hai nhục thân. Ngày 18 tháng 4 năm 2003 (tức 17 tháng 3 năm Quý Mùi) sau vài tháng tranh luận quyết liệt xem tu bổ nhục thân ở đâu, lễ khởi công dự án tu bổ - bảo quản nhục thân hai vị thiền sư chùa Đậu được tổ chức ngay tại chùa. Và thế là bắt đầu những ngày lao động trong suốt 6 tháng trời... Bằng kỹ thuật truyền thống: bó, hom, lót, thí, mài và thếp với các nguyên liệu như: sơn ta, vải màn, giấy dó, mạt cưa và đất, chúng tôi đã tiến hành sơn 14 lớp và thếp vàng đối với tượng gốc Vũ Khắc Minh, còn nhục thân Vũ Khắc Trường thì thếp bạc. Sau mỗi lớp sơn lại tiến hành mài, khiến bề mặt là các lớp sơn đan ken, xoắn quyện với nhau. Đến lớp cuối khi phủ quang dầu xong, chúng tôi phát hiện bề mặt pho tượng không nhẵn. Những hạt bụi lơ lửng trong không trung đã bám vào bề mặt tượng. Chúng tôi quyết định làm lại và thực hiện khâu này trong... màn. Trời nóng, mấy anh em phải xoay trần suốt cả buổi chiều. Thật tuyệt vời, 2 ngày sau kiểm tra trên mình thiền sư mịn bóng, không một gợn bụi... Họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân đang thếp vàng tượng gốc thiền sư Vũ Khắc Minh Với pho tượng của thiền sư Vũ Khắc Trường, vốn là pho tượng đã được dựng lại năm 1893, nên có nhiều chi tiết sai lệch về mặt giải phẫu. Trong dự án soạn thảo đầu tiên, tôi có ý định dỡ ra, thu thập xương cốt rồi dựa theo xương sọ để phục nguyên lại đúng với vẻ mặt ban đầu của thiền sư. Đây là phương pháp của Gherasimov (người Nga) mà tôi là người VN đầu tiên và duy nhất được học tập tại nước ngoài. Nhưng nhà chùa và cơ quan văn hóa thông tin địa phương không tán thành, vì cho rằng nhân dân địa phương hơn trăm năm nay đã in đậm trong tâm khảm hình ảnh của cụ Vũ Khắc Trường hiện tại rồi. Dù phục dựng pho tượng mới có giống với hình hài thật của cụ, họ cũng sẽ không chấp nhận. Tôi đành phải theo ý họ, mặc dầu vẫn ấm ức! Pho tượng bị hỏng trầm trọng, bề mặt tượng lớp sơn bị mủn nát. Chỉ cần một tác động nhẹ là cả pho tượng sẽ bị đổ sập xuống. Do đó không thể đổ thạch cao làm khuôn trên chính pho tượng gốc để làm tượng đối chứng. Nhóm chúng tôi quyết định giao cho nhà điêu khắc trẻ Nguyễn Ngọc Lâm làm một pho tượng bằng đất sét có kích thước, hình dáng giống hệt tượng gốc và tiến hành đổ khuôn để tu bổ phần chân và pho tượng đối chứng. Vào một buổi chiều mùa hè, tôi ngồi ngắm pho tượng gốc của Vũ Khắc Trường và cứ suy nghĩ mãi không hiểu tại sao vị thiền sư này có cánh tay dài thế, khi so sánh với tỷ lệ chung của pho tượng. Tôi bàn bạc với họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân và quyết định “bí mật” khoét bốn ô nhỏ ở vùng gần đầu xương cánh tay và khuỷu tay. Điều này cấp trên không tán đồng, nhưng chúng tôi cứ “liều” vì biết đâu có thể phát hiện ra một chân lý nào đó... Ước mơ ấy của chúng tôi đã thành sự thật. Trong hố khoét của cánh tay phải ở phía trên gần vai, tôi phát hiện ra ròng rọc và chỏm của xương cánh tay (đã bị đặt lộn ngược), bên cạnh nó là xương mác của xương ống chân được ghép vào xương cánh tay và cũng bị lộn đầu. Đây chính là nguyên nhân làm cánh tay của thiền sư dài quá cỡ. Chúng tôi đã tiến hành phủ sơn ta, giấy bản, vải màn, mạt cưa, đất và thếp bạc mà chỗ dày nhất tới 22 lớp. Toàn bộ pho tượng thiền sư Vũ Khắc Trường nặng 31 kg. Ngày nay ai tới chùa Đậu cũng thấy có 2 cụ Minh, 2 cụ Trường, từng cặp giống nhau như hệt. Thật ra chỉ có 2 pho tượng gốc là đặt trong nhà tổ. Hai pho còn lại được làm bằng thạch cao để đặt trong am ở hai bên cạnh chùa. (Còn tiếp) PGS-TS Nguyễn Lân Cường -
Cha nội thầy bùa này tạo nghiệp nặng. Vợ chồng bà Chúc này cũng nặng nghiệp luôn. Xem ra cái câu chửi " Tao đào mồ cuốc mả nhà mày" là có phần rất ác ý, mà nay lại mướn thầy yểm nữa thì...hết bàn. Công an vào cuộc thôi!
-
chòi, Đại Không Vong dịch sang tiếng Việt là không có chuyện gì lớn chuyện cả. Được cái hướng này là phúc đức bự là đúng vì các chư vị âm binh, âm vong...vô canh nhà dùm. Yên chí là ngủ có người báo thức. hehe Gia chủ mà cao cơ thì có thể nhờ âm vong phò trì, hay đánh con đề cũng ô kê mà. Phúc đó!
-
TÍNH MINH TRIẾT TRONG ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG VIỆT
Thiên Đồng replied to Thiên Sứ's topic in Chú Ý - Các Bài Viết Quan Trọng
Niên đại của những bức tranh hay của các cổ vật không phải là sự khai sinh hay giấy chứng nhận cho giá trị hay chứng tích của vật, của hiện tượng. Không nên lầm lẫn giữa quá trình và kết quả. Và hiện tượng, hiện vật chỉ như một nét điểm xuyết cho một hệ thống hay nền tảng. -
Gia đình này rất hợp. Sinh đứa Nhâm Thìn 2012.
-
Trùi, phải cấp tốc cưởi chiến đấu cơ về mừng sinh nhật của Sói con cho kịp nè. Gần tới rồi, trượt luôn cho nhanh. A lê hấp!
-
Hic. Mình mơ ước có cái nhà chung cư như Pì Ló Vờ để...bán. Hehe
-
Sử sách chưa phải là cái chứng cứ đáng tin nhất. Nhất là sử sách Tàu. Ngụy thư tràng lan. Chưa kể kể viết sử bị chi phối bởi ý triều đình hoặc đưa ý kiến cá nhân của người viết vào sách. Rồi hậu sinh tam sao thất bản.
-
Quyền Thái Gửi “chiến Thư” Thách đấu Thiếu Lâm Tự
Thiên Đồng replied to HungNguyen's topic in Thông Tin Cập Nhật
Quanh vụ muay Thái thách đấu Thiếu Lâm tự 09/12/2009 1:25 Ông Lý Kiện Bình (trái) không tin có chuyện thách đấu nghiêm túc - ảnh: sina.com Những ai đang trông ngóng trận đấu lịch sử giữa muay Thái với cao thủ võ lâm Trung Hoa vào ngày 19.12 tới có thể sẽ thất vọng, bởi các quan chức Trung Quốc đã phủ nhận việc này. Tờ China Daily vừa qua đã đưa tin: việc 5 võ sĩ muay Thái tung lời thách đấu với chùa Thiếu Lâm đã gây xôn xao chú ý không chỉ riêng ở xã hội hai nước, mà còn đẩy sự đối kháng giữa võ thuật Trung Hoa và muay Thái lên một cao trào mới. Tên tuổi của 5 võ sĩ này đã được xác định là Phỉ Thái Khắc, Xá Thụ Liên, Nạp Như Liên, Xá Sơn và Khảo Khắc Thái (phiên âm theo báo chí Trung Quốc). Theo kế hoạch thách đấu, họ sẽ tập trung tại Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông vào ngày 19.12 tới để tham gia trận đấu lịch sử này. Trước lời thách đấu nói trên, đại diện của chùa Thiếu Lâm cương quyết khẳng định lập trường không nhận thách đấu với lý do: "Đối phương lợi dụng danh tiếng của chùa Thiếu Lâm để tạo scandal". Trong khi đó, Hội trưởng Hội Nghiên cứu võ thuật Nga My, chưởng môn Nga My - ông Uông Kiện - lại cho rằng "không thể nhẫn nhục" trước lời thách đấu này và đã đệ đơn lên Hiệp hội Võ thuật Trung Hoa, xin chấp thuận cho nhận lời thách đấu. Tuy nhiên, theo nguồn tin của China Daily, sau khi gặp gỡ ông Trần Quốc Vinh - Chủ nhiệm Trung tâm quản lý Hiệp hội võ thuật Trung Hoa - thì hiệp hội này cho tới nay vẫn chưa nhận được một tờ đơn nào của phía Nga My. Ông Trần nhấn mạnh: "Cơ chế tổ chức các cuộc thi tranh bá ở Trung Quốc không cho phép tự do đăng ký xin tham gia. Mọi thành viên tham gia thi đấu sẽ do đội tuyển võ thuật quốc gia đích thân tuyển chọn căn cứ vào năng lực và vào biểu hiện của từng trận đấu trước đó. Thậm chí nếu có thi đấu đi chăng nữa, chúng tôi cũng không dùng võ sư dân gian. Không phải chúng tôi phủ nhận họ, nhưng để bảo đảm an toàn cho thí sinh, chúng tôi nhất thiết phải tuyển chọn các vận động viên chuyên nghiệp". Trong khi đó, ông Lý Kiện Bình - huấn luyện viên trưởng đội quyền Anh quốc gia Trung Quốc, đồng thời là giáo sư Học viện võ thuật Vũ Hán - đã tuyên bố lời thách đấu trên chỉ là bịa đặt. Do từng nhiều lần làm huấn luyện viên trưởng của đội tuyển quốc gia, ông Lý hiểu rất rõ về đặc điểm của muay Thái và kungfu Trung Hoa. Ông cho biết: "Thách đấu Thiếu Lâm, Thiếu Lâm không dám nhận lời. Nga My xuất trận, viết huyết thư… tất cả đều là bịa chuyện". Từ năm 2001 tới nay, Trung Quốc và Thái Lan đã tổ chức 6 trận đấu tranh bá quyền Anh với quy cách: mỗi bên cử 5 vận động viên tiến hành các trận đấu 1 chọi 1, gồm 5 trận, mỗi trận 3 phút. Từ kết quả các trận đấu này cho thấy thực lực hai bên tương đương nhau, trong đó kungfu Trung Quốc có nhỉnh hơn chút ít. Nguyễn Lệ Chi (tổng hợp) -
Bí ẩn nhục thân các thiền sư Kỳ 1: Nhục thân cụ sư Rau www.thanhnien.com.vn 09/12/2009 0:55 Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh sau khi tu bổ - Ảnh do tác giả cung cấp LTS: Trải qua hàng trăm năm với bao biến động dâu bể, làm thế nào mà nhục thân các thiền sư vẫn còn lại đến ngày nay? Từ những phát hiện về nhục thân các thiền sư Vũ Khắc Trường, Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu, thiền sư Chuyết Chuyết ở chùa Phật Tích, PGS-TS Nguyễn Lân Cường đã hé mở phần nào những bí ẩn về nghệ thuật táng tượng và thiền táng độc đáo của người Việt trong công trình khoa học “Phía sau nhục thân của các vị thiền sư” vừa được phát hành. Xin giới thiệu đến bạn đọc loạt bài của PGS-TS Nguyễn Lân Cường dành riêng cho Thanh Niên. Ngày 3.5.1983, theo yêu cầu của Văn phòng 10 Hội đồng Bộ trưởng, Viện Khảo cổ học cử một đoàn cán bộ xuống chùa Đậu, thuộc huyện Thường Tín (Hà Tây cũ) để kiểm tra tình trạng xuống cấp của gác chuông. Trong đoàn có tôi. Lang thang vòng ra bên phải, sau dãy hành lang, tôi thấy một chiếc am nhỏ, rêu phong mà bên ngoài cửa phủ mành tre. Nhìn vào bên trong, tôi chợt giật mình vì thấy một nhà sư ngồi thiền, đôi mắt “lim dim” như đang suy tư về cõi Phật. Từ lâu, nhân dân quanh vùng đã truyền tụng với nhau rằng ở chùa Đậu, có hai am nằm ở bên phải và bên trái của chùa. Am bên phải là của thiền sư Vũ Khắc Minh, bên trái là am thiền sư Vũ Khắc Trường. Chuyện kể rằng, khoảng thế kỷ XVII, vào một ngày nọ, thiền sư Vũ Khắc Minh (mà nhân dân trong vùng quen gọi ngài là cụ sư Rau - nhà sư thường chỉ ăn rau trừ bữa) bước vào trong am và nói với các đệ tử rằng: “Mang cho ta một chum nước uống và một chum dầu để thắp. Khi nào thấy dứt tiếng mõ hãy mở cửa am ra. Nếu thấy thi thể của ta đã hỏng, thì dùng đất lấp am đi, còn ngược lại thì dùng sơn ta bả lên thi thể...”. Dứt lời, cụ bước vào am tọa thiền và chỉ còn nghe vẳng ra tiếng mõ tụng kinh suốt ngày này qua ngày khác. Tròn trăm ngày, các đệ tử không nghe thấy tiếng mõ nữa, vội mở cửa am ra thì thấy ngài vẫn ngồi đấy như đang trong lúc tọa thiền. Hai chân ken vào nhau đúng vị trí của thiền, còn hai tay hơi bị xệ xuống. Nhớ lời thầy dặn, họ vội lấy sơn ta bả lên thi hài. Trong cuốn Những chùa, đình và nhà thờ của Hà Đông - Phong cảnh Hà Đông xuất bản năm 1932 (tiếng Pháp), tác giả cho rằng đó là những “momies” (xác ướp) kiểu Ai Cập. Thật sai lầm! Tệ hại hơn, trong một bài báo đăng trên tờ Thời Mới vào năm 1957 lại có tiêu đề khá giật gân Xác ướp chùa Đậu hàng trăm năm vẫn còn giữ nguyên bộ phận sinh dục! Bằng con mắt nghề nghiệp, tôi phát hiện qua vết nứt ở trên trán có xương sọ ở bên trong, và thế là tôi nảy ra ý định chụp phim X-quang để chứng minh đây là một nhục thân nguyên dạng. Nếu chứng minh được thì rõ ràng phương thức táng này nằm ngoài 5 táng thức đã có trước đây trên thế giới: địa táng hay thổ táng (chôn trong đất); hỏa táng (đốt thi hài); hải táng hay thủy táng (thả xuống nước); thiên táng hay điểu táng (cho chim ăn để được bay lên trời); huyền táng hay táng treo. Chiều 25.5.1983, tôi chuyển nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh về khoa X-quang Bệnh viện Bạch Mai. Với sự giúp đỡ tận tình của PGS - bác sĩ Đặng Văn Ấn, bác sĩ Nguyễn Trọng Đức và các kỹ thuật viên, tôi đã tiến hành soi phần sọ, ổ ngực và ổ bụng. Qua màn hình, tôi thấy toàn bộ xương sườn, xương đốt sống đổ sập xuống nằm gọn trong khoang bụng. Rõ ràng, không có chất dính giữa các xương đốt sống. Hộp sọ còn nguyên vẹn, phần xương lá mía không bị đục vỡ như trên sọ vua Ai Cập Ramsès V để lấy não ra. Từ đó, có thể suy ra não và các nội tạng - về mặt lý thuyết - là vẫn còn nguyên trong nhục thân. Kết hợp giữa chiếu và phim chụp, có thể thấy rõ các xương dưới sọ như xương cánh tay, cổ và bàn tay, xương chậu hông, đùi, xương chày, mác và xương cổ chân, bàn chân đều nằm đúng với vị trí giải phẫu. Trong các xương không có cốt bằng kim loại, rõ ràng đây là một nhục thân nguyên dạng. Bằng phương pháp quang phổ phát xạ vùng tử ngoại và chiếu xạ tia rơn-ghen khi phân tích chất bồi của nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh, tiến sĩ Lê Nguyên Sóc cũng đã có kết luận phù hợp với ý kiến của chúng tôi về chất bồi. Đó là hỗn hợp của sơn ta, mùn cưa, giấy dó và đất... Tôi mừng quá, vì như vậy là đã chứng minh được đây là một táng thức mới mà tôi đặt tên là tượng táng (táng theo kiểu làm thành tượng) hay thiền táng (táng theo kiểu ngồi thiền). Sau này tôi mới biết nét văn hóa trên cũng có ở Trung Quốc. Vào thế kỷ thứ VIII sau Công nguyên, kỹ thuật “Giáp trữ tất” (sơn ta bó lụa) đã được thực hiện khi Lục tổ Huệ Năng (638 - 713) viên tịch. Hiện nay, chân thân còn nguyên vẹn để tại Nam Hoa Tự, nằm ở phía tây tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc, thuộc thôn Nam Hoa, huyện Khúc Giang, cách TP Quảng Châu về phía tây hơn 230 km. (Còn tiếp) PGS-TS Nguyễn Lân Cường
-
Trống vắng :rolleyes: :wacko: :wacko: :P :lol: :lol: :lol:
-
Chắc huynh viết truyện tình của Heocon và Tétpỳ quá. hic. Lâm ly bi đát. Tình như mây khói bay đi mất để lại niềm riêng một cõi sầu. :unsure:
-
Luận về các sao xuất huyệt Sao Tham Lang xuất huyệt, thì hiển đạt văn chương, thiếu niên cập đệ: Người ta tranh nhau để cho được xem mặt quan tân lang, vì tại phương Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Cung là được đất, năm sáu người con chủ ứng ở phương Chấn là con trai trưởng vậy. Sao Cự Môn xuất hiện thì doanh nghiệp mở mang ngày thêm thịnh vượng, người ta chăm đọc thi thư nên tính tình độ lượng khoan hồng. Bởi tại Khôn, Cấn, Đoài, Kiều, Cung là được đất bốn con thủ ứng phương Khảm là người con trai giữa vậy. Sao Vũ Khúc xuất huyệt, thì vượng người vượng của, mũ xanh áo tía đàng hoàng đoan trang theo hút lại. Bởi tại Kiền, Khôn, Cấn, Đoài, Cung là được đất tam tự chủ ứng phương Cấn là người con trai Út vậy. Sao Tả Phụ xuất huyệt, đất phát võ quan soái phủ được người ta tôn sùng lại thêm mạnh mẽ làm quan tới chức tam công. Sao Thái Dương xuất huyệt, thì con cháu rất tốt, giàu sang của cải đề đa, tức là bạch ốc xuất công khanh thế vậy. Sao Thái Âm xuất huyệt, thời con gái thành cung nga, con trai mở kho lẫm, bên là đỗ đại khoa. Sao Thủy tinh tức là trương thiện xuất huyệt, thì con cháu đông đúc, nhiều người chăm đọc sách, đỗ đạt rất nhiều, giàu có, điền viên thiên mạch. Sao Mộc Tinh tức là xung thiên xuất huyệt văn chương hiển đạt giàu sang đẹp đẽ người nhiều ruộng lắm đất hay. Sao Thiên Tài xuất huyệt thì con cháu nối tiếp nhau thi đỗ, đôi con đôi vợ của cải giàu sang phát đạt. Kén chọn long mạch Từ đây trở xuống là thu góp các nhà so sánh về long mạch tốt xấu. Quý long ba hướng lành mạnh. Gọi là Cấn, Tốn, Đoài là ba phương tốt vậy. Xuất ở hải vũ kinh. Năm phương tiện long xấu, bảo rằng Càn, Khảm, Ly, Chấn là năm thứ hung long vậy. Xuất ở hải vũ kinh. Bốn khu vực của ngôi sao quý long: Bảo rằng là Hợi Cấn Binh Đoài là bốn khu vực của ngôi sao. Xuất ở thanh nang kinh. Hải lão tiện long. Bảo rằng là Kiền Khôn là hải lão tiện long. Xuất ở ngọc xích kinh. Lục tú quý long bảo rằng Hợi là đệ nhất, Cấn Tốn Đoài Binh Đinh Tân là lục tú quý long vậy. Xuất ở thôi quan thiên. Tứ khố tiện long bảo rằng là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là tứ khố tiện long vậy. Xuất ở ngọc xích kinh. Bất tường long nói rằng là Dần Thân Ất Khôn là bất tường long vậy. Bát cá tinh xuất ở la kinh vậy. Trong kinh có thơ nói rằng: Tốn Đoài Cấn Binh với Tân Đinh, Kỷ, Hợi bao gồm lại bát tinh. Núi nước được chiều ai phúc đức Cành vàng lá ngọc giúp vua mình. So sánh về thủy luận Từ đây trở xuống là gom góp các nhà nói về dị đồng của nước. Đây là mười hai phương âm thủy có: Hợi Mão Mùi Kỷ Dậu Sửu Cấn Bính Tân Tốn Đinh Canh ấy là âm thủy vậy nên chầu về long âm. Đây là 12 dương thủy có: Thân Tý Thìn Dần Ngọ Tuất Càn Giáp Khôn Nhâm Quý Ất là dương thủy vậy nên chầu về dương long. Đại thần thủy có: Nói rằng là Càn Khôn Cấn Tốn ấy vậy. Trung thần thủy có: Nói rằng là Giáp Canh Bính Đinh ấy vậy. Tiển thần thủy có: Nói rằng là Ất Tân Đinh Quý ấy vậy. Tiến thần thủy có. Nói rằng là sinh vào khắc ra ấy vậy. Thoái thần có. Nói rằng là thủy sinh ra khắc vào ấy vậy. Âm thôi thủy có. Bảo rằng là Cấn Chấn Tốn Đoài ấy vậy. Dương thôi thủy ấy có. Bảo rằng là Bính Đinh Canh Tân ấy vậy. Tứ khổ thủy ấy có. Bảo rằng là Thìn Tuất Sửu Mùi ấy vậy, nên xúc tích chẳng nên chảy. Lúc thần thủy ấy có bảo rằng là thanh long bạch hổ chu tước huyền vũ, câu trận, đằng xà là sáu thần thủy ấy vậy. Trích theo tràng sinh khởi: Lục kiến thủy ấy có nói rằng Hợi là thiên kiến, Cấn là địa kiến, Đinh là nhân kiến, Mão là tài kiến, Tốn là lộc kiến, Bính là mã kiến, là sáu kiến ấy vậy. Tam cát thủy ấy có nói rằng là Cấn là tam lang, thủy tinh chủ quan lộc. Tốn là cự môn. Thủy tinh chủ tài bạch. Đoài là vũ khúc. Thủy tinh chủ nhân tài ấy vậy. Xá văn thủy ấy có nói rằng là Tốn Bính Đinh là văn thủy ấy vậy. Trường thọ thủy ấy có nói rằng là Cấn Bính Đinh Đoài là tràng thọ thủy ấy vậy. Ngũ cát thủy ấy có bảo rằng là Mão Tốn Bính Tân Đinh là năm cát thủy ấy vậy. Bảo thương thủy ấy có nói rằng là Mão Thủy ấy vậy. Văn bút thủy ấy có bảo rằng là Tốn Thủy ấy vậy. Kim đường thủy ấy có bảo rằng là kính thủy ấy vậy. Ngọc môn thủy ấy có bảo rằng là đinh thủy ấy vậy. Học đường thủy ấy có bảo rằng là tân thủy ấy vậy. Lục tú thủy ấy có nói rằng là Cấn Tốn Đoài Binh Đinh Tân là lục tú thủy ấy vậy. Kim giai thủy ấy có nói rằng là Canh Dậu Tân là Kim giai thủy ấy vậy. Ngự nhai thủy ấy có nói rằng là Kiền Khôn Tốn Cấn là ngư nhai thủy ấy vậy. Đào hoa thủy ấy có nói rằng là Tý Ngọ Mão Dậu là đào hoa thủy ấy vậy. Sát kiếp thủy ấy có nói rằng là Dần Thân Tỵ Hợi là kiếp thủy sát ấy vậy. Hoàng tuyền thủy ấy có nói rằng là Canh Đinh hướng, thì khôn thủy là hoàng tuyền. Ất Bính hướng, thì Tốn thủy là hoàng tuyền. Tân Nhâm hướng, thì Càn Thủy là hoàng tuyền. Quý Giáp hướng, thì cấn thủy là hoàng tuyền. Đinh Canh Ngọ Mùi Thân năm hướng. Ất Bính Mão Thìn Tỵ năm hướng. Tân Nhâm Dậu Tuất Hợi năm hướng. Quý Giáp Tý Sửu Dần năm hướng. Khôn hướng, thì Canh Đinh thủy là hoàng tuyền. Tốn hướng, thì Ất bính thủy là hoàng tuyền. Càn hướng, thì Tân Nhâm thủy là hoàng tuyền. Cấn hướng, thì Quý giáp thủy là hoàng tuyền. Bát diệu thủy ấy có: Kiền long kiêng ngọ thủy, khảm long kiêng Thìn thủy. Cấn long kiêng Dần Thủy, Chấn long kiêng thân thủy. Tốn long kiêng Dậu Thủy, ly long kiêng hợi Thủy. Khôn long kiêng Mão thủy, Đoài long kiêng Tỵ thủy. Quy nguyên thủy ấy có nói rằng là thai tuyệt là hai vị vậy. Thủy của tôn miếu Pháp hồng Nhân lại nói rằng: Nước đi khuất khúc có tình, Tinh thần chưa hợp nhưng hình tốt thay Ông Dương Quân Tùng nói rằng: Cứu bần nước đến chữ huyền Hỏi chi cung cách tần phiền phi công Ông Khắc Yêm lại nói rằng: Dữ lành nước hỏi thành nao? Ly phương phúc trạch dồi dào cháu con. Đây là nói phương hướng tốt, còn như hình thế xung đột, bắn nhắm, bay lạc, xiên vẹo, dùi thủng, trái ngược, nghiêng ngửa, thì dẫu có ở được ngôi lành rồi sau cũng suy sút. Xuất gia dị đồng thủy. nguồn: vnthuquan.net
-
Liệt giường vì ăn ốc ma VnExpress - Thứ Ba, 8/12 Ăn một con ốc ma (ốc sên) nướng, Lưu Thanh Điền, 20 tuổi, ngụ tại Tiền Giang, sùi bọt mép, hôn mê và mất luôn tri giác từ 4 tháng nay. Các bác sĩ cho hay, bệnh nhân bị một loại ký sinh trùng cư trú trong ốc gây viêm màng não.> Viêm màng não vì ăn ốc sên / Nguy kịch tính mạng vì ăn ốc sống Nằm điều trị ở khoa Nhiễm Việt - Anh, Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, TP HCM, từ một sinh viên cao to của trường kỹ thuật, Điền trở nên xanh xao, mắt lờ đờ, không nhận ra người thân của mình. Các bác sĩ cho hay, loại ký sinh trùng có trong thịt ốc ma gây biến chứng khiến não của bệnh nhân bị tổn thương quá nặng. Khả năng bình phục không thể tiên lượng. “Tùy vào vị trí não bị tổn hại, bệnh nhân có thể bị liệt hoặc phải sống đời sống thực vật suốt đời”, một bác sĩ cho biết. Theo người nhà bệnh nhân, trong một lần nhậu, thấy ốc ma từ ngoài vườn bò vào nhà, Điền và người bạn nhậu đã bắt nướng ăn. Chỉ vài giờ sau, cả hai đã mê man bất tỉnh. Người cùng ăn với Điền may mắn bình phục. Cùng thời điểm với bệnh nhân Điền, Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới cũng tiếp nhận 4 trường hợp khác nhập viện do ăn ốc ma. Một trường hợp ở Sóc Trăng hiện cũng phải sống đời sống thực vật do viêm màng não vì ký sinh trùng có trong ốc. Trong lúc một số bệnh nhân thừa chết thiếu sống vì tai biến do ốc ma thì tại Củ Chi, Hóc Môn (TP HCM), Định Quán, Tân Phú (Đồng Nai), Tây Binh, Bình Phước, ốc ma được bắt bán với giá 30.000 đồng một kg. Người dân cho hay, họ tìm mua ốc ma hoặc tự đi bắt về ăn vì nghe đồn loại ốc này có thể trị được bệnh phong thấp và chứng đau nhức. Tuy nhiên theo các bác sĩ, khả năng chữa trị bệnh từ loại ốc này nếu có, vẫn thấp hơn khả năng gây biến chứng rất nhiều. “Tất cả loại ốc đều có mang ký sinh trùng gây bệnh viêm màng não, nhưng ốc ma chứa loại ký sinh trùng này nhiều hơn. Chính vì thế, tốt nhất là không nên ăn ốc ma. Hoặc nếu ăn thì phải chế biến thật kỹ bằng cách luộc nhiều lần để loại trừ ký sinh trùng gây viêm màng não”, một bác sĩ chuyên khoa Nhiễm khuyến cáo. http://vn.news.yahoo.com/vne/20091207/ten-...ma-7143884.html
-
Luận về sự tranh đấu tịnh âm tịnh dương Đại phàm lập huyệt, chỉ nên xem nước nỏ chảy đi chảy lại thế nào, không những là kén chọn âm dương long mạch, điều ấy thì người ta ai cũng phải biết rồi. Như các sách Trác ngọc phủ biên ra trước kia có nói âm long dương hướng, dương long kỳ âm hướng là những lời nói như thế, người sau chẳng biết duyên cớ gì đâu lại cho là chính tông, thật là hại cho người ta quá tệ, chẳng biết rằng ông Lưu Thanh Điền có nói dương long dương hướng nước chảy cũng dương ấy là lời nói rất hoang đường. Âm long âm hướng nước chảy cũng âm. Người giết người câu lệ là thường, vì rằng âm long âm hướng, dương long dương hướng nó phối hợp với nhau vốn cũng đã nhiều mà âm long dương hướng, dương long âm hướng nó phối hợp với nhau lại cũng chẳng phải là ít vậy. Chỉ duy có người sáng suốt mới nhận định ra ngay nước chảy đứng chầu là bí quyết. Được như thế, thì không đi đến đâu mà chẳng đích đáng vậy. Hai bên cũng rất cần phóng khoáng Kinh có nói rằng: Chốn bình dương hình thế không cùng, núi thì giữ gió, nước nguyên do phát tự ở đâu lại phải phân biệt nước chảy đi chảy lại làm sao kiêng gió kiêng nước cũng thật là chân tuyệt diệu. Nhưng gió thổi thủy kiếp thì sống lâu giàu bền, con cháu nối dõi lâu dài mà minh đường thế đất trùng điệp sóng dồn lại thì càng tốt. Phép so sánh long mạch Kìa như kim mộc thủy hỏa thổ ấy là thiên tinh đấy vậy. Tròn hay là uyển chuyển, thẳng hay là nhọn vuông ấy là hình thế của đất vậy. Thiên tinh địa hình: Trên dưới cùng nương tựa nhau, mà mỗi cái vẫn có nguyên nhân, duyên theo chỗ đó mà phát sinh ra cho nên mới nói rằng: Hình tức là tinh vậy. Hiện thiên kim Trương thiên thủy Sung thiên mộc Diệm thiên hỏa Chướng thiên thổ Đây là năm sao chính ở trên trời vậy. Chủ phát đại phú đại quý. Phép kén chọn huyệt Tham lang tinh thuộc mộc tức là sao tử khí tinh, tức là sao sinh khí. Cự môn tinh thuộc thổ, tức là sao thiên tài, tức là sao thiên y. Lộc tồn tinh thuộc thổ, tức là sao cô diệu, tức là sao lộc cung. Sao văn khúc thuộc thủy tức là sao trảo đãng, lại tức là sao lục sát. Sao liêm tinh thuộc hỏa tức là sao táo hỏa. Sao vũ khúc thuộc kim tức là sao duyên niên vậy. Sao phá quân thuộc kim, tức là sao thiên cương, lại là tuyệt mệnh Thái dương thuộc kim tinh Thái âm thuộc kim tinh. Sao tả phụ thuộc kim Sao hữu bật thuộc kim. Sao tử khí thuộc mộc, tức là sao tham lang. Sao thiên tài thuộc thổ, tức là sao cự môn. Sao cô diệu thuộc thổ, tức là sao lộc tồn. Sao trảo đãng thuộc thủy tức là sao văn khúc Sao hỏa táo thuộc hỏa, tức là sao liêm trinh. Sao duyên niên thuộc kim, tức là sao vũ khúc. Sao thiên cương thuộc kim, tức là sao phá quân.
-
gửi satic82 Nam Nhâm Tuất và Nam Quý Hợi hợp tác công việc. ngày bính tuất 21 tháng ất hợi năm kỷ sửu giờ dậu. Sinh Xích Khẩu Luận: Hai tuổi này hợp tác nhau thì đôi khi cũng có đôi co, nhưng cũng vì chuyện công việc mà thôi. Sang năm thì hai tuổi này có vẽ thuận lợi, nhiều cơ hội làm ăn và hiệu quả cũng rất khá. Công việc này sẽ tiến triển khá tốt rong 2 năm tới. :wub: Thiên Đồng :unsure:
-
Đồng Dollar Mỹ là một danh từ, một vật chất, rất phổ thông chẳng những cho người Mỹ, mà còn rất hấp dẫn đối với hầu hết các quốc gia khác trên thế giới. Bất kể quốc gia nào, thương hay ghét Mỹ, đồng dollar vẫn là cái tiêu chuẩn kinh tế để họ so sánh, ít nhất là cả gần một thế kỷ qua và ngay cả hiện tại nữa. Trong lãnh vực tình yêu, hay rộng hơn nữa, nhân tình thế sự, “dollars” cũng được xem như một trong những đặc điểm “đáng yêu” (có khi đáng ghét), hay ít nhất, “đáng nể” của đối tượng. Đối với những người mới tỵ nạn ở Mỹ, đồng “đô la” thường được nói lái thành “đa lo” (lo nhiều).Nhưhg thật ra có bao giờ bạn để ý trên đồng bạc dollar có những hình vẽ, những ý nghĩa nào, hay ít nhất, màu sắc gì chưa? Cùng lắm, người ta nói “đô la xanh” để nói đến màu xanh của nó thôi. Nếu bạn chưa có dịp thì ngay bây giờ hãy đem đồng đô la ra để “chiêm ngưỡng” nó một tí cho dễ tìm hiểu trong lúc đọc bài viết này. Reduced: 77% of original size [ 748 x 658 ] - Click to view full image Mẫu thiết kế của tờ đồng dollar hiện lưu hành ngày nay được ra đời vào năm 1957. Tuy gọi là “tiền giấy”, thật ra đồng dollar làm bằng chất vải lanh bện bông, với những đường chỉ tơ màu đỏ và xanh rất nhỏ đan ngang dọc. Thật sự đồng dollar làm bằng vải. Chúng ta đã từng giặt nó mà chưa hề thấy nó bị rách. Một màu mực đặc biệt được dùng trong đồng dollars, chẳng biết trong đó pha trộn thế nào. Người ta in những dấu hiệu lên trên đó, và rồi nhuộm hồ để nó không thấm nước và được in ép cho nó mỏng và sát sao đẹp đẽ như ta thấy. Nếu nhìn mặt trước của nó, ta sẽ thấy dấu mộc của sở Ngân Khố Hoa Kỳ. Phía trên cùng của dấu mộc là bàn cân tượng trưng cho sự cân bằng ngân sách. Chính giữa là thước thợ, một dụng cụ dùng để đo cắt cho ngay thẳng. Phía dưới là chìa khóa của sở Ngân Khố Hoa Kỳ. Tất cả đều có thể nhìn ra dễ dàng, nhưng đằng sau của tờ dollar mới là điều mà ta cần tìm hiểu. Nếu bạn lật phía sau của tờ dollar lên, bạn sẽ thấy có hai vòng tròn. Cả hai vòng, họp lại làm thành con dấu lớn của Hoa Kỳ. Đệ Nhất Hội Nghị Lục Địa của Mỹ đòi ông Benjamin Frankin và một nhóm người nghĩ ra một con dấu. Họ đã phải mất bốn năm mới hoàn thành và hai năm sau nữa mới được chấp thuận. Bên hình tròn phía tay trái là một Kim Tự Tháp. Để ý thấy mặt trước của nó thì sáng, và mặt phía Tây của nó thì tối đen. Ý nghĩa của thiết kế này như sau. Lúc ấy quốc gia này (Hoa Kỳ) còn mới bắt đầu. Người Hoa Kỳ chưa bắt đầu khám phá miền Tây hoặc chưa có quyết định gì đối với nền văn minh của miền đất phía Tây. Kim Tự Tháp không có ngọn, tượng trưng rằng họ còn chưa hoàn tất. Trong miếng đá trên đỉnh, có hình một thiên nhãn, mắt nhìn thấy mọi nơi, một dấu hiệu cổ xưa tượng trưng cho Thượng Đế. Ông Franklin tin rằng một người không thể làm một mình, nhưng một nhóm người, với sự hỗ trợ của thần linh, có thể làm bất cứ việc gì. Từ ý nghĩ trên, nhóm chữ “IN GOD WE TRUST” được in trên đồng dollar. Hàng chữ Latin phía trên Kim Tự Tháp “ANNUIT COEPTIS” có nghĩa là “thượng đế đã ủng hộ trách nhiệm của chúng ta”. Hàng chữ Latin phía dưới Kim Tự Tháp “NOVUS ORDO SECLORUM” có nghĩa “một trật tự mới được bắt đầu”. Phía dưới nền của Kim Tự Tháp là số La Mã ghi năm 1776 (đánh dấu năm công bố bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ). Nếu bạn nhìn kỹ bên phía hình tròn bên phải, bạn sẽ tìm thấy nó trong tất cả các Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ. Dấu hiệu đó cũng được nhìn thấy trên đường phố hàng cờ ở Nghĩa Trang Quốc Gia ở Busnell, Florida, và là biểu hiệu chính cho hầu hết các đài kỷ niệm ghi ơn các anh hùng. Sửa đổi một chút, nó thành cái dấu mộc cho Tổng Thống Hoa Kỳ, và luôn luôn hiện hữu mỗi lần ông nói chuyện, tuy ít có ai để ý những dấu hiệu này mang ý nghĩa gì. Con ó sói đầu được làm dấu hiệu tượng trưng cho vinh quang vì hai lý do: thứ nhất, nó không sợ bão táp, nó mạnh mẽ, và thông minh để vượt bay qua cơn bão. Thứ hai, nó không mang một vương miệng nào cả. Điều này nói lên sự phủ nhận vua chúa. Lúc ấy Hoa Kỳ vừa ly khai khỏi Anh Hoàng. Còn nữa, cái thuẫn che trước ngực nó không có cây đỡ. Ý nghĩa là xứ sở này ngày nay có thể tự đứng vững một mình. Bạn thấy trên đầu của cái thuẫn che có một cái thanh ngang màu trắng, nó tượng trưng cho quốc hội, là một yếu tố kết đoàn. Chúng ta đến với nhau như một quốc gia. Trên mỏ của con ó bạn đọc thấy hàng chữ “E PLURIBUS UNUM”, có nghĩa rằng “một quốc gia của nhiều dân tộc”. Phía trên con ó, bạn thấy có 13 ngôi sao, tiêu biểu cho 13 tiểu bang nguyên thủy. Chung quanh các ngôi sao, tất cả những cụm mây mờ hiểu lầm đang bay ra xa. Nhắc lại một lần nữa, chúng ta đang đến với nhau để họp thành một. Bạn để ý xem con ó cầm cái gì trong những móng của nó. Nó cầm một cành cây olive và những mũi tên. Đất nước này muốn hòa bình, nhưng chúng ta không bao giờ sợ phải đi chiến đấu để bảo vệ hòa bình. Con ó luôn hướng mặt về nhành olive, nhưng trong thời chiến, nó dán mắt nhìn vào những mũi tên. Người ta nói rằng số 13 là con số không may. Điều này gần như cả thế giới đều tin như vậy. Bạn thường ít khi thấy phòng số 13, hoặc mấy cái phòng ngủ không có tầng lầu thứ 13. Nhưng hãy nghĩ xem: 13 thuộc địa đầu tiên, 13 người ký tên trong bản Tuyên Ngôn Độc lập, 13 sọc trên lá cờ Hoa Kỳ, 13 bậc trên Kim Tự Tháp, 13 mẫu tự trong hàng chữ Latin nói trên, 13 chữ trong “E Pluribus Unum”, 13 ngôi sao trên đầu con diều hâu, 13 sọc trong cái thuẫn đỡ của nó, 13 lá trên cành olive, 13 trái cây, và nếu bạn nhìn gần một chút sẽ thấy 13 cái mũi tên. Còn nữa, đối với những người thiểu số: Tu Chính Hiến thứ 13. Ít ai biết điều này, các em học sinh không biết, ngay cả các giáo sư sử cũng nhiều người không để ý. Nhân đây, bạn cũng nên biết, Tu Chính Hiến thứ 13 của Hoa Kỳ bãi bỏ chế độ nô lệ. Nguồn: BacBaPhi Tờ Xanh và Những Chuyện Lạ “Tờ xanh” (danh từ để chỉ đồng dollar Mỹ, USD) trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới là một thương hiệu quen thuộc và phổ biến hơn cả những nhãn hiệu hàng hoá đại chúng như Coca - Cola hay McDonald. Hình thức của những đồng USD hiện đại chứa đựng nhiều điều thú vị do những pha trộn các chi tiết kết cấu, lịch sử và các yếu tố huyền bí. Một số chi tiết trên các tờ xanh thường bị coi là các biểu tượng của hội Tam Điểm hay các tổ chức tín ngưỡng huyền bí nào đấy. Theo đánh giá của website Washprofile, những suy nghĩ như thế hoàn toàn không vô căn cứ vì nhiều nhà lập quốc của nước Mỹ đã là thành viên của hội Tam Điểm và hiện nay các nhóm Tam Điểm vẫn điềm nhiên tồn tại và phát triển trong lòng nước Mỹ. Tuy nhiên, nói một cách công bằng, phần lớn các chi tiết trên các tờ xanh được đưa vào để chống lại những kẻ làm tiền giả. Yếu tố an ninh luôn được đặt lên hàng đầu trong lĩnh vực tài chính Mỹ. Hình thức căn bản của đại đa số các tờ xanh hiện đang được lưu hành đã được thông qua năm 1928. Trên các đồng USD thường có chân dung các nhà lãnh đạo Mỹ: vị Tổng thống thứ nhất George Washington hiện diện trên các tờ $1; vị Tổng thống thứ ba Thomas Jefferson - trên các tờ $2; vị Tổng thống thứ 16, người anh hùng đã giành được chiến thắng trong cuộc nội chiến Nam Bắc Abraham Lincoln - trên các tờ $5; một trong những nhà lập quốc và cũng là Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của Mỹ Alexander Hamilton - trên các tờ $10; vị Tổng thống thứ 7 và cũng là một trong những người sáng lập ra các đồng USD hiện đại Andrew Jackson - trên các tờ $20; vị Tổng thống thứ 18 và cũng là anh hùng nội chiến Ulysses Grant - trên các tờ $50; nhà bác học, nhà bình luận chính trị kiêm nhà ngoại giao Benjamin Franklin - trên các tờ $100. Trên các tờ bạc Mỹ có mệnh giá $500 có hình vị Tổng thống thứ 25 William McKinley; trên tờ có mệnh giá $1.000 - hình vị Tổng thống Mỹ thứ 24 Grover Cleveland; trên tờ có mệnh giá $5.000 - hình vị Tổng thống thứ 4 James Madison; trên tờ có mệnh giá $10.000 - hình người đứng đầu Bộ Tài chính dưới thời Tổng thống Lincoln và về sau trở thành Chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, ông Salmon Chase. Chính ông Chase đã là người đầu tiên quyết định ghi lên các tờ bạc Mỹ câu "Chúng tôi tin ở Thượng đế" (In God We Trust) - câu này thoạt tiên được khắc lên các đồng tiền kim loại mệnh giá 12 cent (100 cent bằng 1 USD) năm 1864. Trên các tờ bạc giấy, câu này xuất hiện năm 1957 và từ năm 1963 bắt đầu được sử dụng thường xuyên. Có một chi tiết là: tờ $1, được phát hành từ năm 1863, đã không có chân dung của George Washington mà chỉ có chân dung của ông Chase. Năm 1864, Quốc hội Mỹ đã thông qua đạo luật quy định rằng, trên các tờ bạc Mỹ không được in hình của những người còn sống. Quy định đó được đưa ra sau khi xảy ra câu chuyện thú vị này: ông Spencer Clark, lãnh đạo của Cục Tiền tệ mới được thành lập và vừa bắt đầu phát hành các đồng USD (để tài trợ cho cuộc nội chiến ở Mỹ khi đó) đã đưa chân dung của mình lên tờ bạc 5 cent (nay là đồng tiền kim loại). Thử nghiệm này đã có thể không gây nên những chuyện ầm ĩ vì trước đó trên các "tờ xanh" cũng đã có chân dung của ông Chase, một quan chức tài chính vẫn đang còn sống. Thế nhưng, chẳng bao lâu sau đó Clark lại bị dính vào một vụ tai tiếng tình ái: trong cơ quan mà ông Clark quản lý có những phụ nữ đầu tiên được nhận làm viên chức nhà nước ở Mỹ và ông đã có với họ những mối quan hệ cá nhân không xứng danh quan chức. Để giải thoát cho các "tờ xanh" khỏi những tai tiếng và để định chế nhà nước Mỹ không bị giễu cợt, Quốc hội Mỹ đã đưa ra quyết định trên - những người không còn sống thì không thể nào gây nên các vụ tai tiếng mới! Ở mặt sau của các "tờ xanh" có những hình ảnh minh họa cho lịch sử của nước Mỹ hoặc là những biểu tượng của nước Mỹ. Trên tờ $2 (tương đối là hiếm gặp) có hình ký bản Tuyên ngôn Độc lập. Trên tờ $5 - hình khu Tưởng niệm Lincoln ở Washington . Trên tờ $10 - hình trụ sở Bộ Tài chính Mỹ. Trên tờ $20 - hình Nhà Trắng. Trên tờ $50 - hình trụ sở Quốc hội Mỹ. Trên tờ $100 - hình Independence Hall ở Philadelphia, tòa nhà mà trong đó đã diễn ra lễ ký Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. Tất cả các tờ bạc Mỹ đều in fácimile (bản sao) chữ ký của các quan chức chịu trách nhiệm về nền tài chính nước nhà. Thoạt đầu đó là những chữ ký "tươi" của những con người có thực. Năm 1776, những phần tử li khai ở Mỹ đã quyết định tung ra đồng tiền riêng của mình mang tên continental (tên gọi này được hình thành từ tên Quốc hội đầu tiên của quốc gia tương lai - Continental Congress). Thực tế là đã khởi động cỗ máy in ra những đồng tiền không có gì đảm bảo giá trị (vị Tổng thống tương lai của nước Mỹ, khi đó mới chỉ là Tổng tư lệnh quân đội George Washington có lần đã nhận xét một cách châm biếm rằng, mang một xe tiền continental đi có thể mua được một xe khoai tây!) Thế nhưng, mỗi một tờ continental đều được in các chữ ký để chống lại những kẻ làm giả nó, vốn rất ráo riết tác nghiệp ở Bắc Mỹ khi ấy. Để thực hiện công việc này đã tập hợp hàng trăm công dân khả kính, ngồi cùng nhau bên bàn và ký vào từng tờ bạc một - nhiều người trong số này về sau kêu ca rằng đó đã là công việc nặng nhọc nhất trong cuộc đời của họ. Chỉ tới năm 1863, những chữ ký "tươi" mới được thay bằng các bản sao. Trên mặt sau của tờ $1 có in hình "Cái ấn vĩ đại của Hoa Kỳ" (Great Seal of the United States ). Đó là hai hình ảnh: bên phải có con đại bàng đầu trắng, được che bởi một cái mộc có hoa văn của lá cờ sao và vạch. Một móng con đại bàng quắp cành ô liu (tượng trưng cho hòa bình) cùng 13 trái cây và 13 cái lá (tượng trưng cho 13 thuộc địa đã tạo nên Hợp chúng quốc Hoa Kỳ); móng bên kia đại bàng giữ 13 mũi tên (tượng trưng cho chiến tranh). --PageBreak-- Những trái cây, lá và mũi tên được các nhà thiết kế ra đồng USD vay mượn từ các biểu tượng của liên minh các bộ lạc da đỏ Iroquois. Trên đầu con đại bàng là 13 ngôi sao (lại là biểu tượng của 13 thuộc địa). Đầu con đại bàng đã được hướng tới phía cành ô liu nhằm thể hiện khát vọng của nước Mỹ về hòa bình (cho tới trước năm 1945 con đại bàng đã nhìn sang hướng khác). Mặt trên của cái mộc thể hiện cơ quan lập pháp, đầu con đại bàng thể hiện cơ quan hành pháp, còn đuôi của đại bàng - đó là cơ quan tư pháp (tòa án). Các lý giải này chỉ tới đầu thế kỷ XX mới xuất hiện. Trên đầu con đại bàng có dải băng in dòng chữ (cũng gồm 13 chữ cái): E Pluribus Unum, có nghĩa là một trong nhiều. Ý nghĩa của dòng chữ này rất mù mịt. Những tìm kiếm của các nhà ngôn ngữ học và sử học, định lần tới những căn nguyên tương tự trong các công trình của những nhà hiền triết La Mã cổ đại đều hoá công dã tràng - một câu tương tự chỉ được tìm thấy trong một trường ca của thi sĩ Vergilius (mất năm 19 trước CN). Thực ra, bí ẩn của câu văn này rất giản dị. Trong những thế kỷ XVIII-XIX, giữa giới tinh hoa Anh - Mỹ rất phổ biến tạp chí Anh Gentleman's Magazine (năm 1922, tạp chí này đã ngừng xuất bản hàng tháng và ra mỗi quý một lần và đổi tên thành Gentleman's Quarterly, năm 1980, nó lại được phát hành hàng tháng với cái tên GQ). Đầu thế kỷ XVIII, số tiền đặt tạp chí này rất lớn, vì thế, các quý ông chỉ có thể mượn nó đọc từ thư viện hoặc mua cả bộ một năm: bộ tạp chí cả năm này được ký hiệu là E Pluribus Unum. Những nhà thiết kế các tờ bạc Mỹ đầu tiên đã mượn logo này của tạp chí Anh để tạo cho đồng tiền mới một vẻ chững chạc và tin cậy. Ở phía bên trái có hình một kim tự tháp dang dở với chữ số 1776 ở dưới chân (năm thành lập nước Mỹ, được in bằng chữ số La Mã). Không có phương án lý giải chính thức cho hình ảnh này. Người ta cho rằng, kim tự tháp tượng trưng cho sự phát triển tương lai của nước Mỹ và khát khao vươn tới hoàn thiện. Ngoài ra, kim tự tháp còn có 13 bậc - đó cũng là tương trưng cho 13 thuộc địa và cũng là một biểu tượng của hội Tam Điểm. "Con mắt nhìn thấu mọi sự" trong hình tam giác được viền bởi những tia nắng mặt trời (một biểu tượng tôn giáo rất cổ kính), tượng trưng cho sức mạnh thần thánh đang theo dõi cõi trần thế. Trên đỉnh kim tự tháp có dòng chữ gồm 13 chữ cái Annuit Coeptis, có nghĩa là Người đồng tình với việc làm của chúng ta. Dưới chân kim tự tháp - lại là một danh ngôn La tinh nữa: Novus Ordo Seclorum, tức là trật tự mới của các thế hệ, tượng trưng cho sự xuất hiện của "kỷ nguyên Mỹ". Kim tự tháp, con mắt nhìn thấu mọi sự và những dòng chữ này xuất hiện ở thế kỷ XVIII trên những tờ bạc đầu tiên được phát hành ở nước Mỹ - chúng được mời chào sử dụng bởi một trong những nhà lập quốc của Mỹ, Benjamin Franklin, người từng là chủ nhà in, nhà bình luận chính trị, nhà sáng chế, nhà bác học, nhà ngoại giao và cũng là một thành viên hội Tam Điểm. Điều này được lý giải bằng hai yếu tố: sự phổ cập của những biểu tượng như thế trong nghệ thuật thời đó (Franklin cũng tuân thủ theo mốt) và ý muốn gây khó khăn cho những kẻ định làm tiền giả, vốn không đủ tài nghệ để sao chép chuẩn xác những hình ảnh như thế và cũng không thông thạo tiếng La tinh lắm. Tuy nhiên, cái ấn đó chỉ tồn tại trên các tờ bạc Mỹ trong vòng vài thập niên rồi bị quên lãng. Trên các tờ USD hiện đại, "Cái ấn vĩ đại của Hoa Kỳ" chỉ quay trở lại vào những năm 30 của thế kỷ trước, dưới thời cầm quyền của vị Tổng thống thứ 32 Franklin Roosevelt. Ông Roosevelt đánh giá chi tiết này trong hình thức của đồng USD như một biểu tượng sức mạnh của nền kinh tế Mỹ. Người ta cũng đã thông báo với ông về biểu tượng của hội Tam Điểm có trong cái ấn. Thấy vậy, ông Roosevelt đã hỏi ý kiến của một thành viên nội các (một tín đồ Thiên chúa giáo) về việc, liệu các chi tiết như thế có làm xúc phạm tới tình cảm của các tín đồ không, và ông đã nhận được câu trả lời là không! Những nguyên nhân khiến các tờ bạc Mỹ có màu xanh cho tới nay vẫn không được ai biết rõ. Trước năm 1929, để in các tờ bạc Mỹ, người ta đã sử dụng các màu sắc khác nhau - màu xanh đơn độc như hiện nay chỉ xuất hiện từ năm 1929. Mực màu xanh nhìn chung là tương đối rẻ và màu xanh tương đối ổn định trước các tác động từ bên ngoài. Thêm vào đó, màu xanh về mặt tâm lý thường gợi lên sự tin cậy đối với đồng tiền và khiến người ta cảm thấy lạc quan. Trong những năm gần đây, các tờ bạc Mỹ lại được tô thêm màu mới nhờ những ánh vàng và hồng. Mặc dầu thế, "tờ xanh" vẫn tiếp tục là "biệt danh" của đồng USD trong ngôn ngữ của nhiều nước
-
Gửi Huy Khôi, Tôi đang có băn khoăn có nên thay đổi công việc hiện tại không và đã bốc đươc quẻ ngày Quí Mùi, tháng: Ất Hợi, năm Kỷ Sửu (04-12-2009) Quẻ Phong Địa Quan Gió thổi trên đất, sấm dậy mặt đất, báo hiệu sự khởi sinh, ý ấy là vui vẻ mà manh lo dự phòng, nghĩa ấy là thổ động nứt ra, vạn vật phất triển. Biến quái Phong Thủy Hoán Sấm động trên mặt bể, thuyền xuôi theo sông dài, ý ấy là phân tán, nghĩa ấy là giải đi. Thể đầu khắc dụng, dụng sau sinh thể, lại lâm nguyệt lệnh, tuế lệnh hối thúc. Hào nhị trung chính động biến đắc dương vị. Đoán rằng có sự thay đổi, nhanh thì đầu xuân sau, nhanh hơn thì trong vòng 12 ngày. Vài hàng lạm bàn. Thiên Đồng
-
So sánh để lập huyệt nơi bình dương phép động tĩnh Đại phàm khi lập huyệt, cần nhất phải xem đất hay ruộng chỗ nào là chỗ động thì mới là chân thực xác đáng. Thế nào là động? Nơi cao nơi thấp của đất ruộng là động. Động nghĩa là hoặc lồi hoặc lõm, chỗ khác thường đi thời là long mạch hay ở những chổ ấy vòng quanh xúm xít hay ở những chỗ đứng mạch lại. Thế cho nên chỗ hơi cao một chút là động, hơi thấp một chút là tĩnh. Cho nên nói rằng: cao hơn một tấc là núi, thấy đi một tấc là nước vậy Nước vốn động nhưng cầu được chỗ tĩnh mới tốt. Đất vốn tĩnh nhưng cầu được chỗ động mới hay. Tính tình nước động chảy đi Ý thiêng tụ hội tĩnh thì mới hay Đất thường bình tĩnh xưa nay, Mạch động đặc biệt khác ngay mới là... Người xưa có nói rằng: Huyệt không động tĩnh, phúc ấm không hay kém thịnh, đất không cao thấp, mỏi mắt nhọc lòng uổng công phí sức, người ý tứ phải như thế đấy. Luận về Minh đường cao thấp Phàm khi định huyệt, huyệt cần nên xem những chỗ nào âm dương biến hóa, như được những phương đế vượng thì nhân định thịnh nhiều. Cao một tấc là núi thuộc âm, thấp một tấc bằng phẳng, ruộng thuộc dương. Cũng có khi vì ruộng thấp mà phải bồi đắp thêm đất để mà táng ấy cũng thành thuộc âm. Nhược bằng ấy nước thủy triều lên xuống cũng tức là thuộc dương. Chỗ âm dương cùng giao cảm với nhau tức là vượng tướng, phàm làm huyệt, trong minh đường nếu có ruộng thấp quá thì nên làm khí quản (ống hơi). Kinh nói rằng: Minh đường như lòng bàn tay Nhà giàu đấu đựng vàng đầy của dư. Nhưng ở ngoài minh đường cũng cần nên phải để cho cao. Lại có câu kinh rằng: Minh đường cao lại ưa cao, Phúc cho con cháu biết bao sang giàu Minh đường thấp quá hoặc sâu, Nghèo nàn con cháu buồn rầu xác xơ nguồn: vnthuquan.vn