Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. ĐỘN THIÊN CƯƠNG Đây là 1 phép bấm độn của người xưa, rất hay và tiện lợi, dễ sử dụng nữa, ai cũng có thể tự xem quẻ cho mình ngay khi cần. Quẻ Dịch phải tịnh tâm, mới không luận đoán thiên lệch. Cách này thì khác, có công thức sẵn, cứ tháng ngày giờ mà tính ra, có lời bàn sẵn , tuy không đủ hết các chuyện mình cần hỏi nhưng có nó cũng tiện. Cách tính như sau : Xin xem tấm hình bàn tay đó có sẵn các vị trí Tý, Sửu , Dần , Mẹo Tháng Giêng , tháng 9 : Khởi từ Sửu. Tháng 2 , tháng 8 : Khởi từ Tý. Tháng 3 , tháng 7 : Khởi từ Hợi. Tháng 4 , tháng 6 : Khởi từ Tuất. Tháng 5 : Khởi từ Dậu. Tháng 10, tháng 12 : Khởi từ Dần. Tháng 11 : Khởi từ Mẹo. Trên tháng khởi ngày mùng 1 , tính đến ngày ta đang xem thì dừng lại. Trên cung ngày ấy khởi giờ Tý , tính đến giờ ta đang xem là giờ gì thì dừng lại. Từ cung đó lùi lại 1 cung ( thí dụ Mùi lùi lại Ngọ ; Hợi lùi lại Tuất ; Mẹo lùi lại Dần..) , bấm đó là Thiên Cương. Xem đó là cung thuộc Mạnh- Trọng-Quý , so với bảng chú giải việc ta đang xem , xem Thiên Cương gia vào cung Mạnh-Trọng-Quý đó sự việc sẽ là gì , vậy là đã xong. Thiên Cương chính là 1 trong 12 vị Đô Thiên Nguyệt Tướng trong phép chọn ngày. 12 vị đó theo thứ tự là : Thiên Cương , Thái Ất , Thắng Quang , Tiểu Cát , Truyền Tông , Tòng Khôi , Hà Khôi , Đăng Minh , Thần Hậu , Đại Cát , Công Tào , Thái Xung. Người ta dùng năm tháng để tìm ra 4 Nguyệt Tướng rơi vào Sơn nào trong PT cần tu sửa , sẽ được đại cát lợi. Có câu thế này : ""Công Tào , Truyền Tông giàu địch quốc . Thắng Quan , Thần Hậu bền trăm năm ". Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng dựa vào 12 Nguyệt Tướng này soạn ra quẻ Nhâm Cầm Độn Toán , các bước trên cũng y vậy. Chỉ thêm ở bước cuối : Sau khi có vị trí cho Sao Thiên Cương thì lấn lượt gia các Sao khác vào các cung , tìm xem 3 TƯỚNG :" Đăng Minh , Thần Hậu , Đại Cát " gia vào cung nào trong 4 cung Tý , Ngọ , Mẹo , Dậu mà luận đoán quẻ vậy. Tổng cộng có 12 trường hợp. Còn MẠNH-TRỌNG-QUÝ là tính y theo M-T-Q của các tháng vậy , tức là : _ các cung Dần , Thân ,Tị ,Hợi là MẠNH _ các cung Tý , Ngọ , Mẹo , Dậu là TRỌNG _ các cung Thìn , Tuất , Sửu , Mùi là QUÝ. VÍ DỤ 1 : Xem quẻ Cầu tài , lúc ngày mùng 8 , tháng 5 , giờ Mẹo. * Trước tiên ta tra xem tháng 5 ở cung nào ,thấy ở cung Dậu. * Từ cung Dậu ta tính là mùng 1 , cung Tuất mùng 2 , cung Hợi mùng 3 , cung Tý mùng 4 , cung Sửu mùng 5 , cung Dần mùng 6 , cung Mẹo mùng 7 , cung Thìn mùng 8. Đây là ngày ta đang xem nên dừng lại. * Từ cung Thìn này ta cho nó là giờ Tý , tính tiếp cung Tị giờ Sửu , cung Ngọ giờ Dần , cung Mùi giờ Mẹo. Đây là giờ ta đang xem quẻ nên dừng lại. * Từ cung này lùi lại 1 vị là Thiên Cương , vậy cung Mùi lùi ngược lại là Ngọ , Thiên Cương ở Ngọ. * Ta thấy Thiên Cương gia Ngọ là gia Trọng , xem ở quẻ cầu tài Thiên Cương gia Trọng cầu tài được không , đó là quẻ ta cần tìm vậy. VÍ DỤ 2 : Xem quẻ bệnh nặng nhẹ , tháng 11 , ngày 14 , giờ Tuất. * Trước tiên xem bảng trên thấy tháng 11 ở cung Mẹo. * Tại cung Mẹo khởi mùng 1 , cung Thìn là mùng 2 , cung Tị là mùng 3 , cung Ngọ là mùng 4.....cung Mẹo là ngày 13 , cung Thìn là ngày 14. * Tại cung Thìn ta khởi giờ Tý , cung Tị giờ Sửu , cung Ngọ giờ Dần , cung Mùi giờ Mẹo , cung Thân giờ Thìn...cung Dần giờ Tuất. * Tại cung Dần lùi lại 1 cung là cung Sửu , tức Thiên Cương ở cung Sửu ,là gia Quý. * Xem bài giải ở quẻ bệnh nặng nhẹ , xem Thiên Cương gia Quý là sao , đó là quẻ ta cần tìm vậy. CẦU TÀI : Thiên Cương gia Mạnh cầu nan đắc Gia Mạnh cầu đắc dã tu trì Gia Quý chi thời cầu lập đắc Tài hướng Đông lai cánh vô nghi ==> Mạnh thì khó được , Trọng thì được nhưng chậm , Quý thì có ngay Tài từ hướng Đông đưa đến. XUẤT HÀNH CÁT HUNG : Thiên Cương gia Mạnh đại cát xương Gia Trọng xuất hành vi họa ương Gia Quý chi thời đa bình ổn Quân lưu y thử định hà phương ==>Mạnh là rất tốt;Trọng thì không nên,đi ra e có tai họa đến thân ;Quý bình an HÀNH NHÂN : Thiên Cương gia Mạnh thân bất động Gia Trọng chi thời bán lộ lai Gia Quý chi thời tức cánh chí Quân hành tu ký thử tam thời. ==>Mạnh thì người chưa đi ; Trọng thì người đã đi được nửa đường ; Quý thì người sắp đến nơi , chừng khoảng 3 canh giờ thì đến. GIAO DỊCH : Thiên cương gia Mạnh ứng bất toại Gia Trọng chi thời ứng thành khả mưu Gia Quý chi thời khả toại ý Trở trệ ứng vô mạc tu sầu. ==>Mạnh thì không được ;Trọng thì có thể ứng thành ;Quý thì toại ý , lúc đầu có trắc trở , đình trệ xin chớ lo , mọi việc trước trì trệ sau hanh thông QUAN SỰ : Nhược vấn quan sự cát dữ hung Gia Mạnh vô lý nhi hòa bình Gia Trọng tha thâu thử tiếu bĩ Quý thượng yêm lưu ngã tất doanh. ==> Mạnh e không thể an bình ; Trọng thì đắc lợi ; Quý thời thắng kiện , đắc lý BỆNH KHINH TRỌNG : Thiên Cương gia Mạnh nhân bệnh trọng Gia Trọng bệnh khinh bất dụng sầu Gia Quý chi thời nan đắc hảo Cấp nghi nhương tạ tảo đồ mưu ==> Mạnh thì bệnh nặng ; Trọng thì bệnh nhẹ , không cần sầu lo ; Quý thì không tốt , phải mau cúng vái cầu xin mới mong qua khỏi. MÃI MẠI : Kinh doanh lợi ích hữu kiêm vô Gia Mạnh nan cầu ý bất như Gia Trọng bình bình , Quý mãn ý Quân năng y thử định vô nghi. ==> Mạnh thì không như ý , Trọng thì buôn bán bình thường , Quý thì buôn may bán đắt. SANH SẢN NAM NỮ CÁT HUNG : Thiên Cương gia Mạnh thị nam tử Gia Trọng nữ nhơn định thị nghi Gia Quý chi thời sản phụ tử Cấp nghi tác Phúc đắc an ninh. ==> Mạnh thì là sanh trai , Trọng thì sanh nữ , Quý thì người mẹ nguy hiểm , phải mau làm Phúc mới mong cứu được. ĐÓA TỊ THỊ PHI : Hồi tị chi nhân thị dữ phi Mạnh Đông vi cát , Trọng nghi Tây An chi Đông Bắc gia chi Quý Thử thị thần tiên diệu tích ky ==> Mạnh thì tránh về hướng Đông , Trọng thì tránh về hướng Tây , Quý thì tránh về Đông Bắc. Đây là phép tìm phương tránh những chuyện thị phi ngày xưa vậy. NCD chỉ biên ra đây , còn ngày nay gặp chuyện chúng ta cần đương đầu tìm cách giải quyết , khác với xưa vậy. từ: psy-che.com
  2. Bảng tính này thật cô động, áp dụng nhanh và dể dàng. Thật hay. :(
  3. Vậy Thăng Long là Rồng đi lên chăng? :( :(
  4. Thì ra đình chùa, miếu mạo, nhà thờ...dễ mà. Có bàn thờ mà con cái không được giáo dục thì nó cũng chả lạy cho. Mà có giáo dục thì cũng chưa chắc đã lạy bàn thờ. Một ví dụ là ngày xửa xưa có Ông vua...(lâu quá quên tên) ở Việt Nam, sau thời gian được giáo dục ở Pháp Quốc về thì đếch thèm lạy bàn thờ tổ tiên. Xem ra cái công to lớn khai hóa của "mẫu quốc" thật văn minh đó nghen. :( Đông Thiền :(
  5. :( Rồi Khổng Tử sinh ra Khổng Long :( :lol:
  6. Bản Thể -Thế nào là bản thể của tâm? - Không có vấn đề ấy - Tại sao? - Nếu tâm là tâm thức hay trạng thái tâm lý thì tâm đang ở "dụng"nghĩa là phạm trù hiện tượng. Do đó không thuộc phạm trù bản thể. Nếu tâm là cái tối thượng thì nó là tánh hay thể, nên không cần phải dùng bản thể của tâm! . . . - Thế nào là năng lực của tâm? - Không có vấn đề ấy. - Tại sao? - Nếu tâm là tâm thức hay tâm lý, thì cái gọi là hiệu ứng tâm lý thật ra là do cơ thể hiển thị. Bởi tâm lý hay tâm thức chỉ là một khái niệm duy danh không phải là một thực thể. Do đó không có vấn đề năng lực của tâm! Nếu tâm là cái tối thượng thì nó là tánh hay thể do vậy nó phải vượt khỏi phạm trù nhị nguyên của "năng và không năng". Vì cái tối thượng thì phi đặc tính. Bởi vậy không có vấn đề năng lực của tâm! . . . - Đặc tính "tịnh" của khí là gì? - Không có vấn đề ấy. - Tại sao? - Nếu khí ở "dụng" nghĩa là mặt hiện tượng thì khí là năng lượng. Đã là năng lượng thì năng động miên viễn chảy mãi không bao giờ ngừng nghĩ. Do vậy không có vấn đề tịnh. Nếu khí là cái tối thượng thì khí trùng với tánh hay đạo. Do vậy khi ấy khí phải vượt khỏi phạm trù nhị nguyên của "tịnh và động"Nên trong trường hợp này cũng không có vấn đề tịnh của khí. - Vậy phải dùng "tâm" hay "khí" thế nào mới đúng? - Đừng vẽ rắn thêm chân! . . . - Mô Phật! . . . - Uống trà đi! HAI LÚA/14/9/2004 TÂM KHÔNG? - Ngồi thiền yên lặng, không để một ý nghĩ hay tình cảm nào phát khởi, giữ tâm rỗng không. Trạng thái đó có phải " Tâm Không" không ? - Có " Chỉ" mà không có " Quán", có " Định" mà không có " Tuệ ". Đó là " Ngoan Không "hay tâm không có gì", chứ không phải tâm không. Tiếp tục hành công như vậy, tâm thức sẽ biến thành vô tri vô giác như gỗ đá. Không còn khả năng nhận biết tỉnh giác nên không thể "Kiến Tánh " được. - Xin cho một thí dụ ? - Như cái ly chứa nước này, tâm thức chứa dòng sông ý nghĩ và tình cảm. Do phan duyên với các niệm này mà tâm rối loạn. Muốn định tâm mà gạt bỏ mọi ý nghĩ và tình cảm, thì thành trạng thái tâm thức chứa "cái không có gì" đối lập với "cái có". Chứ khuôn mẫu tâm thức vẫn còn, tức là còn "có ngã". Giống như ly nước này, tuy đổ nước đi nhưng vẫn còn cái ly. Tâm không trái lại, như là không còn cả cái ly, không còn cả khuôn mẫu tâm thức. Tức là không còn có ngã (vô ngã - anatta). - Như vậy làm thế nào để đạt tâm không ? - Dùng phương tiện nhận biết tỉnh giác, thăng hoa ý thức và chuyển hoá vô thức. Cho đến khi toàn bộ tâm thức là trạng thái "nhận biết thuần khiết". Do không còn vô nhận biết để so sánh. Nên cái biết này không gọi là biết. Vì không có hành động biết, không cố gắng để biết, và vượt ra ngoài tâm trí. Nên gọi là " tự nhiên trí", là "trực nhận"hay "vô sư trí". Còn gọi là " bát nhã" hay sự vật "phản ảnh như thị" qua tâm không. MÂY 1/10/2003 Từ: duongsinh.net
  7. Chờ xem cuối tháng 2 xem sao? Mặt khác, nếu hongbhq rảnh thì đưa sơ đồ nhà vào mục tư vấn phong thủy để TĐ và các ACE xem sao? Chầu cafe này chắc không đường quá. hehehe :( THiên Đồng :(
  8. Không có gì là mâu thuẩn cả Đổng Lâm. Nếu xét câu: "Dương thăng, Âm giáng"; thì cũng xét luôn câu "Dương thấp trũng, Âm nhô cao" và trong cổ thư cũng có nhắc: "Dương đi xuống, Âm đi lên" Cổ nhân nói "thăng giáng" là quán xét trên mặt đất, trên quả địa cầu làm mốc, chứ trong vũ trụ có đâu mà "thăng" với "giáng"? Cổ nhân hóa ra sai à? Đông Y vẫn áp dụng đúng là vì Đông Y vẫn dùng cái "dụng" của Âm Dương thôi. Sau này ĐL sẽ hiểu mà. Truyện Hồng Bàng Thị có kể: năm mười người con theo mẹ lên núi , năm mươi người con theo cha xuống biển. Mẹ l= Âm, núi = nhô cao: Âm nhô cao, đi lên. Cha = Dương, biển = trũng thấp: Dương trũng thấp, đi xuống. Chỉ có chủ nhân đích thực của thuyết Âm dương Ngũ Hành là nên Văn minh Văn Lang mới chuyển tải câu truyện có nội dung thâm thúy như vậy. Tôi không cần bạn đồng ý hay công nhận, nhưng từ từ bạn suy nghiệm sẽ thấy. :( Thiên Đồng :(
  9. bknavn yêu chưa? Trước khi yêu chắc cũng nghe người ta nói " yêu là khổ, yêu là sướng". Vây không yêu thì làm sao biết sướng biết khổ thế nào? Cũng như vậy, chưa đọc sách thì làm sao biết sách sai hay đúng? Võ đoán như thế có phải trí tri chăng? Nếu đọc sách nào mà sau đó biết rằng sai hay đúng thì cũng đã là học được gì đó rồi. Phật bảo: Phi pháp phi phi pháp là vậy. :( Thiên Đồng :(
  10. Coi chừng, tối lại nó hiện ra là cô gái xinh đẹp quét dọn nhà cửa. Hihi. :( :(
  11. Thưa các cụ các bác, Qua những lượt bút giao, cũng thấy rằng các cụ các bác đã nổ lực không ngừng nhằm tìm ra khái niệm hay định nghĩa Âm Dương. Kết cục, mõi cụ tự cho rằng cái hiểu của mình là đúng đắn và không đưa ra được định nghĩa nào khả dĩ, mặc dù các cụ ở thượng tầng cơ sở hay hạ tầng cơ bản thì cũng chẳng đi tới đâu. Nhìn chung, các cụ chấp nhặt vào câu từ ngôn ngữ mà mổ xẻ, xách mé, đôi khi gượng ép từ hay cưỡng từ đoạt ý như "chủ thể", "đối lập"… Nói như thế nào thì nói, việc xác định âm dương, các cụ tựu chung cũng chỉ trả lời hai câu hỏi: 1. Với đối tượng nào? (Tức tương quan, tức so sánh đối đãi.) 2. Như thế nào? (tức hoàn cảnh, tức bản chất của sự vật hiện tượng) Sự vật hiện tượng tồn tại ngoài ý thức của con người, tương quan với trùng trùng vạn vạn sự vật hiện tượng trong thế giới. Sự quán xét đến sư vật hiện tượng là âm hay dương đối đãi với sự vật hiện tượng khác là do sự quán xét của con người khu biệt trong chiều nhận thức hiện tượng sự vật. Bởi bản chất của sự vật hiện tượng luôn luôn là Âm là Dương trong tương quan vạn thể mà không cứng nhắc độc âm độc dương. Do vậy chỉ là khái niệm phâm biệt chứ không thể là thực thể. Do vậy, có đối đãi là có âm dương, còn đối tượng nào ở vai trò dương hay âm thì xét theo bản chất của sự vật hiện tượng. Cho nên: Định nghĩa thế nào về Âm Dương cũng không vượt ra ngoài “so sánh đối đãi” và bản chất sự vật hiện tương”. Đã nói đối đãi thì bao hàm cả đối lập, cả phân biệt, đã nói bản chất thì không có cái nhầm lẫn từ là “chủ thể”. Thái cực và Vô Cực, ngoài sự nhập nhằn về câu từ ra, hiễn nhiên là đãđối đãi, là Âm Dương và như vậy không còn cái gọi là Thái Cực hay Vô Cực nữa vì nó đã là nhị nguyên. Và ở trạng thái Thái Cực thì không có Nhị nguyên, tức ai đó đẻ ra thêm Vô Cực thì đã là nhị nguyên rồi. Cho nên “đèn cù nó lại tít mù" là thế, cho nên “rắn cắn đuôi” là thế. Thiên Đồng
  12. Penguin định làm cửa rộng bao nhiêu? Các cửa phòng trong nhà thường 1m là kích thước tốt. Nhưng lưu ý là thông thủy (nước thông qua).
  13. ĐỊA NGỤC - Kinh Phật bảo có các tầng trời và địa ngục? Điều ấy có hay không? Nếu chỉ là các hình tượng minh hoạ cho các khái niệm về triết học thì sẽ khiến người tu dễ hiểu nhầm sinh mê tín. Còn nếu có thật thì hoá ra có linh hồn tồn tại như một tự tánh và có thượng đế hữu nhân cách? - Nó có như ông đang "có" và không như ông đang "không". Vậy ông là có hay không? - Không thể nói "có" hay "không"!. . . - Đúng vậy!. . . Có ở bản thể và huyễn ảo ở hiện tượng, vì như một luồng chảy mãi chẳng bao giờ dừng. Bởi vậy mọi hiện tượng đều chẳng tồn tại độc lập như một tự tánh. - Vậy địa ngục là khái niệm hay hiện tượng? - Là tâm trí. Tưởng Vậy/6/9/2005 VÔ THƯỜNG Con được biết: Mọi thứ trên đời đều vô thường, nay xin hỏi vậy có thứ gì là thường còn ko mất chăng? Ví như nước mưa A, từ mây rơi xuống đất rồi bốc hơi mất . Như vậy có khi nào mưa A ko mất và trở lại được ko ? Nếu vậy mưa A là thường hay vô thường? Mưa B, mưa C cũng vậy, Liệu có vô thường ko hay là thường? LaoTru/ . . . . . Trả lời: Nếu Mọi thứ trên đời đều vô thường. Thì vô thường cũng phải vô thường. Nghĩa là có cái sẽ “Thường”. Cái ấy gọi là Tánh hay Bản Thể Và như vậy định luật vô thường chỉ đúng ở phạm trù hiện tượng và đếch đúng ở phạm trù bản thể. Thí dụ trong chư kinh nhật tụng có câu: Nam Mô Thường Trú Tam Bảo. . . .vậy Tam Bảo chẳng thường là gì?! Do vậy, cho rằng tất cả cái gì cũng đều vô thường thì chính là một dạng của Vô Minh! Ba Gàn PHẬT TƯỞNG Tư Rượu Đế đang hí luận với Tưởng Vậy: - Nè ông Tưởng. Giáo ngoại biệt truyền: Nghĩa là có một cách truyền riêng không có trong kinh sách. Vậy cái tối thượng có phương pháp truyền sao? Đang chăm chú đọc một cuốn kinh dày cộm. Ngước nhìn lên qua khe chiếc kính lão mang trệ ở sống mũi, Tưởng Vậy mỉm cười: - Biệt truyền ấy không phải là có cách truyền riêng mà là: Bất truyền truyền. . . . Giáo ngoại bất truyền truyền. - Thế còn: Bất lập văn tự: Sao lại thế? Không được viết sách. Không được ghi lại bằng văn tự. Thế nói thì được hay sao? Hay lời nói có thể diển đạt chân lý, còn chữ viết thì không? - Ý! đừng nóng, văn tự ở đây có nghĩa là mọi phương cách hữu tướng, chứ không cứ gì chữ viết. Lời nói hay điệu bộ hoặc bất kỳ phương cách diễn đạt nào cũng đều không thể giải thích được chân lý là cái tuyệt đối. Bởi vậy không phải như chú nghĩ đâu. Câu ấy có nghĩa là: Bất lập hữu tướng. - Như vậy là vô tướng ? - Không phải hữu tướng không phải vô tướng mà là " Vô". - Thế còn: Trực chỉ nhân tâm? Tớ cũng không hiểu nổi người xưa định nói gì? Trực chỉ nhân tâm, thế thân thì sao? Tớ nghĩ, thân và tâm không thể tách rời? Cái thân này cũng từ Phật tánh hiển thị mà thành. Bởi vậy, mọi biến chuyển nơi thân đều gây ra tác động nơi tâm và ngược lại. Vậy cũng cần trực chỉ thân nữa chứ? - Không phải như chú nghĩ đâu. Người tu tập bất cứ lúc nào cũng phải nhận biết tỉnh giác mọi hành động của mình trong sinh hoạt thường nhật, thế chẳng phải luôn trực chỉ thân là gì? Câu trực chỉ nhân tâm là nhằm nhấn mạnh sự quan trọng của phương pháp dụng tâm quán tâm khi hành thiền. Vậy câu ấy, chú nên hiểu là: Trực chỉ thân tâm. - Thế còn câu: “Kiến tánh thành Phật”? Theo tôi nghĩ thì: Kiến tánh thì tánh là đối tượng của kiến. Vậy kiến và tánh là 2 cực của tâm trí nhị nguyên, nên chưa thành Phật được. Hơn nữa Phật không thể thành vì bản thể vốn là Phật, chưa bao giờ không phải Phật nên không có việc thành. - Không phải vậy đâu. Kiến không phải là thấy. Kiến vượt trên thấy và không thấy. Nó có nghĩa là trạng thái thể nhập. Vậy kiến tánh không phải là thấy tánh mà là thể nhập tánh như giọt nước rớt vào lòng đại dương vậy. Còn thành Phật: Đúng như chú nói, bản thể tức Phật, nhưng toàn thể hiện tượng cũng là Phật, nên thành Phật nhằm chỉ sự hội nhập hoặc thống nhất giữa hiện tượng và bản thể, giữa giới hạn và vô giới hạn, giữa cái một và toàn diện Bởi vậy câu ấy, chú nên hiểu là: Tánh tức Phật. - Hì hì! Bác thông tuệ thật, em thật bái phục. - Mô Phật! chứ chú không biết tôi có biệt danh là Tưởng Vậy sao? Tôi tưởng vậy chứ chưa chắc đã vậy? Chú nên hỏi các vị thiện trí thức khác rồi bảo cho tôi biết với. từ: duongsinh.net
  14. Chú Sapa, Chú viết: Thiên Đồng sẽ chứng minh "tính cân đối toàn diện" của con "Bướm ngày" Lạc Thư và luôn cả Hậu Thiên Văn Vương mà như chú đắc ý, chẳng phải là nền tảng cho cái gì gì cả. Nó sai từa lưa tòe loe ra từ hàng ngàn năm nay mà kim cổ mù mắt học vẹt chẳng phân biệt nỗi sự hợp lý hay không? Hãy chờ đấy, vài ngày nữa thôi. Thiên Đồng thả diều lấy hứng rồi thì cho chú biết cũng không muộn mà. Đã đến lúc quẳng cái Hậu Thiên Văn Vương vào sọt rác và dẹp cái Lạc Thư sang một bên! Sự cân đối hình thức chả nói lên được điều gì, chả là nền tảng. Hãy đợi đấy!!! :D Thiên Đồng :P
  15. Sư Phụ và mọi thành viên trong diễn đàn, (theo tin hàng lang) Nghe nói, vừa qua tại bệnh viện tâm thần ở Thành phố Biên Hòa có một bệnh nhân tâm thần cấp độ bất trị, tiền sử bị bệnh tự kỷ dẫn đến hoang tưởng, bị xổng khỏi bệnh viện sau một thời gian dài cách ly điều trị không hiệu quả. Đặc điểm nhận dạng: Bề ngoài thì thấy bình thường, nhưng càng giao tiếp thì càng thấy bệnh nhân này bột phát những tư tưởng cực đoan và rối loạn, luôn bị rối loạn tâm lý, và thường tham gia các diễn đàn để hoang tưởng và mức độ hoang tưởng càng lúc càng cao khi giao tiếp. Trong khi chờ các cơ quan chức năng xử lý sự vụ, Sư Phụ và các thành viên không nên giao lưu tiếp xúc với đối tượng tâm thần này.
  16. gửi hoasenvang năm nay em có được tăng lương không ạ?Và sớm nhất là tháng mấy có tin tốt lành. ngày tan dậu (tl m) 27 tháng mậu dần (TD th) năm canh dần (tb m) giờ bính thân (dk t) Tử Đại An - Kinh Lưu Niên Luận: người bạn nào đó khuyên có khi là đúng. Bởi hiện tại vấn đề tài chính của công ty đang trong thế kẹt, có thể cty đang bị thất thu nặng về tài chánh nên trở nên eo hẹp trong chế độ này. Một tháng sau hoasenvang viết thư xem. Có khi nhận được sự giúp đỡ của sếp bự. Cỡ tháng 4 âm lịch bạn được như ý. Chúc...lên lương. :P Thiên Đồng :D
  17. Phương Tiện - Chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị Tổ Sư đều có hiển thị thần thông. Nay tại sao bảo trụ vào thần thông và các trò quái dị là sai chệch bản chất của pháp môn? - Nó chỉ là cái móc để móc cái áo choàng "chánh niệm, tỉnh giác, vô ngã, vô trụ tướng, thể nhập tánh". - Tại sao gọi thế? - Như có đứa bé kia học toán "cộng" ở trường. Cô giáo cho đề bài : "Em có một cái kẹo. Mẹ em cho em 2 cái nữa. Hỏi em được mấy cái? " Này Cỏ May, ông nghĩ sao. Vấn đề của đứa bé là học được phép "cộng" để sau này ứng dụng vào cuộc sống. Hay là trụ vào hình thức và chất lượng các viên kẹo? - Biết làm toán cộng mới là mục đích của nó. - Cũng thế pháp môn "Vô ngã, thể nhập tánh" mới là bản chất vấn đề. - Có phải vì thế mà gọi là xa rời được tâm phân biệt của nhị nguyên? - Đúng vậy, biết làm toán cộng thì chỉ có một, nên gọi là nhất nguyên hay bất nhị. Còn trụ vào kẹo thì có vô lượng vô biên màu sắc, hình thức và phẩm chất. Do đó sinh tâm phân biệt và đấu tranh vì cho rằng kẹo mình giá trị hơn kẹo của người khác! . . . Cũng thế pháp "Vô ngã, thể nhập tánh" của Như Lai là bình đẳng vì duy nhất "Một", còn trụ vào phương tiện hữu tướng sẽ sinh tâm phân biệt đấu tranh. - Có phải vì thế mà nảy sinh vấn đề duy danh hữu tướng? - Đúng vậy. Nếu bây giờ có người có người thay "kẹo" bằng "Máy vi tính hay các thiết bị hiện đại " . Thế nào Cỏ May! Ông có cho rằng đề toán có tính khoa học? - Không phải vậy - Nếu bây giờ có người thay "kẹo" bằng "nước mắm hay áo tứ thân". Thế nào Cỏ May! Ông có cho rằng đề toán có tính dân tộc? - Không phải vậy - Nếu bây giờ có người thay " kẹo" bằng "Tượng hay sách viết về Phật đạo". Thế nào Cỏ May! Ông có cho rằng đề toán là chánh giáo? - Không phải vậy. - Nếu bây giờ có người thay " kẹo" bằng "Tượng hay sách viết về các pháp tu khác". Thế nào Cỏ May! Ông có cho rằng đề toán là tà đạo? - Không phải vậy. - Này Cỏ May! Trụ vào các pháp phương tiện thì cũng "Không phải vậy". - Vậy thế nào là phương tiện thiện xảo? - Bây giờ giả dụ, đứa bé học toán cộng kia, đã trưởng thành. Nó làm nghề dạy học và lại dạy toán cộng. Thế nào Cỏ May! Ông có cho việc thay đổi đề bài không dùng kẹo nữa mà dùng bánh hay các vật khác là sai với chánh giáo? - Không phải vậy. - Thế nào Cỏ May! Ông có cho việc không thay đổi đề bài lúc nào cũng phải dùng "kẹo" mới học được phép cộng? - Không phải vậy. - Dụng phương tiện thiện xảo cũng như vậy. - Mô Phật! . . Đó có phải là " . . .ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" ? - Hôm nay trời quang, núi không sa mù. Đi dạo thôi! . . . MÂY /12/11/2004 Luân Hồi -Chào bác Ba Gàn -Nè! ông Tưởng Vậy. Nay có nhân duyên gặp nhau đây, tôi xin hỏi khí không phải mong bác bỏ quá cho? Gật đầu, im lặng, nhìn không nói! -Luật "Luân hồi" có phải lúc nào cũng đúng ? -Đúng vậy lúc nào cũng đúng. -Vậy "luân hồi" cũng phải luân hồi. Nghĩa là biến dịch thành cái không luân hồi. Như vậy đâu phải lúc nào nó cũng đúng. -Đúng vậy, lúc này nó không đúng. -Vô lý, cùng một việc sao lại khi đúng khi không đúng! -Mô Phật, bác Ba cứ nói hết ý mình đi rồi tôi sẽ nói vì sao lại thế. -Cũng vậy luật "vô thường" có phải lúc nào cũng đúng ? -Đúng vậy lúc nào cũng đúng. -Vậy "vô thường" cũng phải vô thường nghĩa là sẽ biến dịch thành cái không "vô thường". -Đúng vậy, lúc này nó không đúng. -Vô lý, cùng một việc sao lại khi đúng khi không đúng! -Mô Phật, bác Ba cứ nói hết ý mình đi rồi tôi sẽ nói vì sao lại thế. -Cũng vậy luật "vô ngã" lúc nào cũng đúng ? -Đúng vậy lúc nào cũng đúng. -Vậy "vô ngã" cũng phải vô ngã. Nghĩa là nó sẽ biến dịch thành cái không "vô ngã". -Đúng vậy, lúc này nó không đúng. -Vô lý, cùng một việc sao lại khi đúng khi không đúng! -Mô Phật, bác Ba cứ nói hết ý mình đi rồi tôi sẽ nói vì sao lại thế. -Cũng vậy luật "khổ" lúc nào cũng đúng? -Đúng vậy lúc nào cũng đúng. -Vậy "khổ" cũng khổ. Nghĩa là sẽ biến dịch thành cái không "khổ". -Đúng vậy, lúc này nó không đúng. -Vô lý, cùng một việc sao lại khi đúng khi không đúng! -Mô Phật, bác Ba cứ nói hết ý mình đi rồi tôi sẽ nói vì sao lại thế. -Cũng vậy luật "không" lúc nào cũng đúng ? -Đúng vậy lúc nào cũng đúng. -Vậy "không" cũng phải không. Nghĩa là sẽ biến dịch thành không "không". -Đúng vậy, lúc này nó không đúng. -Vô lý, cùng một việc sao lại khi đúng khi không đúng! -Mô Phật, bác Ba cứ nói hết ý mình đi rồi tôi sẽ nói vì sao lại thế. -Nè! Xin lỗi bác, tôi không chờ được nữa. Cứ xem như tôi đã nói hết ý mình rồi đấy. Bác trả lời cho, vì sao vô lý thế, sao khi đúng khi lại không đúng? -Ý đừng nóng! Thế này, chẳng có chi vô lý cả, không luân hồi là nói về "tánh", không "vô thường" là nói về "thường", không "vô ngã" là nói về "ngã", không "khổ" là nói về "lạc", không "không" là nói về diệu hữu. Các yếu lĩnh: luân hồi, khổ, không, vô thường, vô ngã. Là đứng trên quan điểm tiểu thừa. Còn: thường, lạc, ngã, tịnh là các yếu lĩnh trên quan điểm đại thừa. Tiểu thừa nói về cái "một" còn đại thừa nói về cái "toàn diện". Chẳng mâu thuẫn nhau mà còn bổ túc cho nhau rất chặt chẽ là đằng khác. Trước áp dụng các tiêu chuẩn tiểu thừa là để hoàn thiện mình. Sau áp dụng các tiêu chí của đại thừa là để độ sanh. -Hì hì! . . bác thông tuệ thật. Tiểu đệ xin bái phục. -Mô Phật! chứ bác không nhớ tôi có biệt danh là Tưởng Vậy sao. Tôi tưởng vậy chứ chưa chắc đã vậy. Mong bác có dịp hỏi các vị thiện tri thức khác rồi bảo cho tôi biết với!. Phù vân 07/04 từ: duongsinh.net
  18. Hai đứa mình ăn hết hong vậy ta? Chẹp chẹp! (sao chẹp chẹp hoài giống đang ăn cá gỗ quá dị ta? mum mum) Hehehe. :D :P
  19. Bạn Nhân Vô Minh, Chắc bạn cũng là người học Phật. Vậy bạn cũng biết những câu truyện truyền thuyết về phật hay những câu truyện về các vị tổ hay bồ tát. Vậy mà người đời vẫn tin. Có ai tra cứu gốc tích hay chính sử đâu? Chưa nói đến truyền thuyết nói về Phất đản sanh, một sách nói Phật chui ra từ nách, một sách nói thân mẫu Phật sinh Phật ra theo lẽ thông thường của người đời. Vậy mà người đời vẫn tin theo pháp của phật. Nhân vật thầy trò Đường Tam Tạng là hoàn toàn hư cấu. Ấy vậy mà sau khi bộ phim Tây Du Ký chiếu lên, chùa chùa lại đúc tượng Tề Thiên để thờ. Chắc bạn cũng biết đến cuốn Mật Mã Da Vinci một dạo rình rang trên kệ best seller, nhưng bây giờ dể dàng mua rẻ bên lề đường? lời của wikipedia viết: "Cốt truyện của tiểu thuyết kể về âm mưu của Giáo hội Công giáo nhằm che dấu sự thật về Chúa Giê-su. Truyện ám chỉ rằng Tòa thánh Vatican biết rõ âm mưu này từ hai ngàn năm qua, nhưng vẫn giấu kín để giữ vững quyền lực của mình. Sau khi vừa xuất bản, cuốn tiểu thuyết đã khơi dậy mạnh mẽ sự tò mò khắp thế giới đi tìm hiểu sự thật về Sự tích Chén Thánh, và vai trò của Mary Magdalene trong lịch sử Giáo hội Công giáo." Chỉ là sự tích, huyền thoại hay truyền thuyết mà người người tin theo, bởi tuy nó không phải là bằng chứng lịch sử, nhưng nó ẩn chứa yếu tố sự kiện của lịch sử hay chính sử. Không hiếm những nhà sử học, khảo cổ học đã nghiên cứu các trường ca của các dân tộc như ấn độ, maya, inca hay gần hơn là ở Việt Nam có Mường, Máng, Tây Nguyên để hiểu về lịch sử văn minh dân tộc họ và có cả đoán định những dân tộc đó có nền văn minh văn văn hóa tiếp thu được từ văn minh ngoài trái đất. Nhưng cuốn Mật Mã Da Vinci chậm chân hơn cuốn "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại" của Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Và sự giải mã các truyền thuyết trong công trình này mang tính khoa học và thuyết phục hơn Mật Mã Da Vinci. Và vài năm gần đây, Unessco mới công nhận, yếu tố văn hóa phi vật thể cũng là bằng chứng chứng minh khoa học. Một lý thuyết được gọi là khoa học thì lý thuyết đó phải có tính khách quan, tính quy luật, có thể giải thích mọi vấn đề liên quan đến lý thuyết đó và có khả năng tiên tri. :D Thiên Đồng :(
  20. Vậy bạn cho hỏi: "Văn hóa gốc của người Việt là gì?" Câu này không phải tôi hỏi mà tôi lập lại của một thầy dạy văn hóa ở trường Cao Đẳng Nghệ Thuật Văn Hóa (không biết nay nâng cấp đại học chưa?), khi tôi có duyên học với người thầy này. Câu hỏi này cũng làm tôi suy nghĩ và duyên đưa đến với Lý học. Bạn nên đi vào chuyên môn Lý học, không cần phải tuyên ngôn, vì ông cha, bác chú ta và cữu huyền thất tổ nhiều đời nhiều kiếp thâm thẫm xa xâm đã tuyên ngôn lâu rồi. Thiên Đồng
  21. Gửi Học Trò, đôi khi Thiên Đồng chậm trả lời hay không trả lời vì những lý do sau: -bận việc nên không viết. -bận...thả diều, nhảy lò cò nên không viết. -do loạn quẻ hay cảm ứng không có hay bị loạn cảm ứng nên không viết. Sẳn đây chia sẻ với các ACE, khi một người hỏi trực tiếp và ngay lúc hỏi mình trả lời ngay thì lấy quẻ rất dể, còn qua diễn đàn, người viết thư hỏi, mình trả lời đôi khi quẻ không chuẩn vì hỏi trong một thời gian khác, mình trả lời đôi khi trong một thời gian khác so với thời điểm người hỏi đưa ra câu hỏi. Do vậy cần phải cảm ứng. Quẻ bốc lên đôi khi là kết quả đôi khi là nguyên nhân đôi khi là tiến trình, khó mà lần. Thiên Đồng
  22. Bạn Nhân Vô Minh, Vậy là bạn chưa đọc kỹ và đọc hết bài. Thiên Đồng có viết ở ngay mở đầu (chú Vô Trước trích rồi đó) và kết thúc: Có thể đây không phải là một chứng minh, nhưng ít ra cũng là một cách nhìn đầy thú vị của riêng người viết, khi liên hệ những yếu tố của kho tàng văn hóa Việt với tri thức Lý học Đông phương nhằm tạo một sự hứng khởi trên con đường nguyên cứu khám phá trong biến bờ Lý học Đông phương huyền vĩ. Không dám cho rằng là đúng khi tính bao hàm của cơ sở Lý học Đông phương quá rộng lớn so với sự nhận thức hạn hữu của con người. Bạn đọc chơi xem như giải trí ấy mà. Mình cũng viết giải trí cho vui mà. Vui là chính! Còn câu chú đó đọc cũng dễ thôi mà. Và có một cấp độ nào đó: Thấy người đọc mà không phải người đọc, người không đọc nhưng đang đọc không dừng. Đó là Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn. Bạn vào đây tham khảo: http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...amp;#entry71843 Chào bạn. Thiên Đồng
  23. Truyện cổ tích Việt Nam và sự liên hệ Bát Trạch Lạc Việt Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn Thành viên nghiên cứu Phong thủy Lạc Việt Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương. Trong tác phẩm, công trình nghiên cứu như: “Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại”, "Tìm về cội nguồn Kinh Dịch"; "Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp"; Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam" của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, ông đã lấy những câu truyện cổ tích, truyền thuyết và huyền thoại để làm cảm hứng cho sự giải mã và phân tích những bí ẩn của nguyên lý học thuật cổ Đông Phương (gọi tắt là Lý Học Đông Phương) thuộc nền văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử. Sự giải mã phân tích ấy, mặc dù ông không coi là bằng chứng chứng minh cho những sự liên quan, nhưng cũng đặt ra nhiều chiêm nghiệm thú vị. Lấy cảm hứng theo cách tiếp cận và giải mã của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh và được sự hướng dẫn gợi ý của ông, người viết xin đưa ra đây thêm một vài trường hợp trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, để trả lời câu hỏi: “Phải chăng những di sản văn hóa dân gian Việt là những chiếc chìa khóa giải mã những hiện tượng bí ẩn của Lý Học Đông Phương?” Xin tham khảo qua hai câu truyện cổ tích sau đây. Câu truyện thứ nhất: Hổ và Mèo "Ngày xưa, muông thú đều tôn Mèo là Thầy, vì Mèo rất tài giỏi, dạy cho muông thú các môn võ nghệ để phòng thân và tồn tại. Như trâu biết húc, gà biết mổ và đá, ngựa biết chạy và lúc gặp kẻ thù nguy hiểm thì biết đá hậu…Khi ấy Hổ chưa biết ngón nghề võ nào, thấy muông thú đều được học thì cũng muốn lắm, ngặt nỗi không biết làm sao, bèn tìm cách học lén khi những con thú học với Mèo. Mèo một lần bắt gặp, Hổ thấy thế xin: -Xin Thầy thương tình mà truyền cho các ngón nghề võ nghệ phòng thân. Nghe thế Mèo đồng ý nhận Hổ làm học trò mà ngày ngày truyền dạy võ nghệ, truyền tất cả các ngón nghề. Mỗi lần học, Hổ lại nài nỉ: -Thầy còn tuyệt nghệ nào xin truyền hết đi. Thế là Mèo lại truyền môn “ra oai” bằng những chiêu gầm gừ, gầm rống và xù lông làm đối phướng khiếp vía kinh hải. Ngày qua ngày, Hổ đã học được hết tất cả các môn võ nghệ. Muông thú đều sợ hãi và đều thất bại dưới móng vuốt của Hổ mỗi khi tỉ thí. Tính tham lam và cao ngạo lên cao, nhìn lại thấy chỉ còn Mèo là Hổ chưa tỉ thí và nghĩ Mèo quá nhỏ thó so với Hổ, nếu thắng Mèo nữa thì sẽ là Chúa tể muôn loài. Vậy là Hổ thẳng thừng thách đấu với Mèo. Mèo nghe tin ấy không tỏ vẻ sợ hải hay ngạc nhiên. Đến ngày thi đấu, Mèo đến, Hổ đã chờ sẳn. Không nói không rằng, Hổ liền bất ngờ tấn công Mèo. Mèo biết trước, nhanh nhẩu né tránh và trèo thoăn thoắt lên cây cao. Hổ bị bất ngờ nên tức lắm, ở dưới gốc cây gầm rống vang cả núi rừng. Mèo ở trên cây cười và bảo: -Meo mẻo mèo meo, ta còn võ trèo, ta chẳng dạy cho. Hổ càng tức điên, nhưng cố bình tĩnh, nhại lại Mèo, nghiến răng nói: -Meo mẻo mèo meo, ta bắt được Mèo ta ăn cả cứt! Từ ấy, Hổ tuy mạnh mẽ nhưng lại không biết leo trèo, cũng từ ấy dòng dõi nhà Mèo đều phải đào hố và giấu phân của mình." Câu chuyện kết thúc với hình ảnh một con hổ dưới gốc cây đang ấm ức trước con mèo trên cành cây. Dường như nội dung duy nhất chuyển tải của câu truyện, xét trên quan niệm truyền thống ngàn đời của người Việt Nam, là muốn nhắc nhở người đời rằng phải biết “tôn sư trọng đạo”, “uống nước nhớ nguồn”. Điều này dường như đã đủ đối với bao nhãn quan xã hội nhân văn. Nhưng lạ lùng thay, khi bằng nhãn quan của lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc nền Văn Hiến Việt thì sự trùng khớp mang tính ngẫu nhiên thú vị. Trong mười hai cung Địa Chi, người xưa quy định, Dần Mão thuộc mùa Xuân, thuộc Mộc, câu chuyện kết thúc với hình ảnh gồm 3 yếu tố Hổ - Dần, Mèo – Mão và Cây – Mộc, môt sự trùng khớp với quan niệm Dần – Mão – Mộc thuộc Đông phương. Khi quán xét thêm ba yếu tố này trên nguyên lý Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ trong 24 sơn hướng Bát trạch Lạc Việt sẽ thấy như sau: Mão trụ tại phương chính Đông thuộc Dương Mộc, độ số là 3 Dương trên Hà Đồ và quái Chấn chủ quản chính Đông phương. Hình ảnh con Mèo trèo lên cây cao trùng khớp với Mão trụ ở Đông phương và cây cao to đã phát triển là Dương Mộc. Vì ý nghĩa Mèo có khả năng trèo lên cây cao to lớn trong câu chuyện nên có thể chứng tỏ sự biểu đạt ý nghĩa của việc gắn kết mật thiết hiễn nhiên Mão – Mộc, chính Đông phương. Còn lại là hình ảnh con Hổ ngồi dưới gốc cây, vì không học được khả năng leo trèo. Hổ là Dần, thuộc phương Đông Bắc âm Mộc thuộc thứ phương, độ số là 8 Âm trên Hà Đồ. Hổ và Mèo tạo thành sự đối lập Âm Dương rỏ rệt trong cùng hành Mộc, Mão – Mèo đại diện cho chính Đông phương dương Mộc, Hổ - Dần đại diện cho thứ phương Âm Mộc. So với sự tương quan Hổ - Dần, Mão – Mèo thì Dần đứng hàng thứ 3 trong 12 địa chi, cũng tương ứng với sơn Dần là sơn Dương và Mão đứng hàng thứ 4 trong 12 địa chi, tương ứng với sơn Mão Âm trong 24 sơn Bát Trạch Lạc Việt. Theo nguyên lý “Âm đi lên, dương đi xuống”, “ Âm cao dương thấp” thì Mão – Mèo là Âm thể hiện trong câu chuyện Mèo có khả năng trèo lên cao, Hổ - Dần thuộc Dương thể hiện trong câu chuyện là không học được khả năng trèo lên cao và phải ngồi ở dưới dốc cây, ở dưới thấp. Câu truyện Hổ và Mèo kể chuyện Hổ đi học võ nghệ để có được khả năng và sức mạnh , đó là muốn nhấn mạnh sức mạnh và tri thức, cũng như sức mạnh của tri thức. Lạ lùng thay sự trùng lấp ý nghĩa này khi xét trong Mệnh Cung Bát Trạch truyền bao đời nay thì 2 cung Tri Thức và Sức Khỏe nằm liền nhau Tri Thức thuộc Cấn âm Mộc, cung có Dần ở, Sức Khỏe (Sức Mạnh) thuộc Chấn dương Mộc, cung có Mão trụ. Có sức khỏe chưa chắc đã mạnh, điều này chắc chắn đúng và được thể hiện ngay trong nội dung câu truyện, Mèo không thể thắng được sức mạnh võ biền của Hổ nên đã nhanh nhảu trèo lên cây. Đây là sự thể hiện của sức mạnh trí tuệ linh hoạt khi tri thức chỉ là phương tiện để nhằm mục đích đạt được cái cao hơn. Vậy cái cao hơn là gì? Câu truyện chắc hẳn không chỉ chuyển tải ý nghĩa đạo lý “tôn sư trọng đạo” mà ở chiều sâu còn gửi gắm hàm ý thâm trầm hơn khi quán xét theo lý Dịch. Sách “ Nhập môn Chu Dịch dự đoán học” của tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 46 có đoạn: “Tượng Chấn Chấn là sấm, là đế vương, là con trai cả, là chủ, là tổ, là tông, là ông, là chư hầu, là bách quan, là kẻ sĩ, là chồng, là hành nhân, là đồ vật chính, là vương thần, là quân tử, là trăm thứ ngũ cốc, là tiền đồ rộng lớn, là đường bằng phẳng, là cỏ dại, là cây thấp, là lăng, là ngựa, là hưu lộc, là cái làn, là gót chân, là ngón cái, là dày, là đâm vào, là trống, là ra, là sống, là ban đầu, là bên trái, là dần dần, là đi, là làm, là khởi đầu, là bôn ba, là sống lại, là phấn chấn, là dơ lên, là kính trọng, là cấm, là đầu, là uy, là nhân nghĩa, là kinh sợ, là nói, là cười, là kêu, là âm thanh, là lời cáo, là vui, là kế giữ, là xuất chinh.” Cùng trích từ sách “ Nhập môn Chu Dịch dự đoán học” của tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 47 có viết: “Tượng Cấn Cấn là núi, là đá, là cát, là miếu thờ, là môn đình, là cung thất, là thành trì, là nhà trọ, là ngõ hẻm, là đường tắt, là huyệt, là gò đồi, là thung lũng, là khô, là thiếu nam, là quân tử, là hiền nhân, là người thâm trầm, là đệ tử, là tiểu nhân, là cô đơn, là trẻ thơ ngây, là chúa, là lỗ mũi, là tay, là ngón tay, là lưng, là ngày cuối tháng, là đêm, là đuôi, là da, là hổ, là báo, là chuột, là ngôi sao nhỏ, là ngày kết thúc, là gỗ nhỏ, là quả to, là ngô, là hoa lệ, là ngừng, là thận trọng, là tiết lễ, là chấp chính, là dẫn dắt, là chọn lấy, là cầu tìm, là đưa dắt, là nạp vào, là nắm lấy, là nhiều, là dày, là trung thành thật thà, là tích đức, là biết nhiều, là tin, là nhớ đến, là nhỏ là xấu hổ, là nghỉ, là nhàn, là ở, là thôi, là đề phòng, là ngôi thứ.” Hình ảnh Mèo trên cây và Hổ dưới đất đại diện cho quẻ Chấn bên trên và Cấn bên dưới, xét theo cảm ứng tượng quẻ. Theo nội dung và hoàn cảnh câu chuyện thì trong nhiều nghĩa của tượng Chấn thì nghĩa là tổ, là quân tử, là nhân nghĩa là phù hợp với nội dung và hoàn cảnh câu chuyện, vì mèo là người dạy cho muôn loài võ nghệ, đem cái tri thức, kiến thức, sở học của mình mà giúp cho muôn loài tồn tại và tiến triển và chỉ có người có cái tâm bao dung rộng lớn đầy nhân nghĩa mới làm được đều đó luôn cả đối với học trò, dù biết trước sẽ là phản đồ. Điều này rỏ ràng hơn khi nghĩa của quẻ Cấn là hổ, là đệ tử,là tiểu nhân, là cầu tìm, là tích đức. Hổ đã tìm điến để cầu học với Mèo và được Mèo truyền thụ võ nghệ, là truyền thụ tri thức, nhưng Hổ lại không chịu tích đức, không hiểu ra được điều nhân nghĩa mà luôn dùng võ lực, oai danh, những điều đã học được để đe dọa trấn áp thiên hạ, muôn loài, một khi tham vọng lợi ích, quyền lực che mờ cả lý trí thì sẳn sàng quay trở ngược lại đánh người thầy, phản thầy một cách thẳng thừng. Tham vọng của kẻ nghịch đồ càng cao, càng mờ mắt vì danh, vì lợi, vì quyền hạn thì tất yếu dẫn đến những hành động bỉ ổi xuất phát từ tư tưởng hèn kém mà mọi việc hạ cấp hay ti tiện nào cũng có thể làm, đó là: “-Meo mẻo mèo meo, ta bắt được Mèo ta ăn cả cứt!” Rõ ràng và đích thật, đây là hạn tiểu nhân. Quẻ Cấn bao gồm hai nghĩa song song là “tiểu nhân” và “quân tử”, nhưng cũng hàm chứa nghĩa “tích đức”, do vậy tiểu nhân hay quân tử chỉ khác nhau một chữ “Đức” mà thôi. Khi lấy hai tượng Chấn chồng lên Cấn thì được quẻ Lôi Sơn Tiểu Quá, một sự trùng lấp lại hiện ra so với nội câu truyện, khi xét nghĩa quẻ sau đây: Trích từ sách “ Chu Dịch dự đoán học” của tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 52: “Tiểu quá, Quá tức là vượt qua. Có thể vượt qua điều thường tình mới đủ sức làm việc lớn.” Hổ muốn thị oai, muốn làm chúa tể muôn loài, nghĩa là muốn mưu cầu việc lớn, nhưng Hổ không thể vượt qua được điều rất bình thường là thu phục lòng muôn loài, không chịu tích đức, không hiểu ra được cái tuyệt chiêu tối thượng cần phải cầu học là Nhân Nghĩa, do vậy mà Hổ phải chịu thất bại trước Mèo, trước sức mạnh linh hoạt của tri thức, của lòng Nhân Nghĩa. Và Mèo được muôn loài tôn và trọng không phải vì tài nghệ hay sức mạnh võ biền mà là vì cái tâm Nhân Nghĩa truyền thụ đạo học. Trích từ sách “Dịch học ngũ linh”, tác giả Cao Từ Linh, NXB Văn Hóa Thông Tin, trang 678 có đoạn: Lời quẻ “Tiểu Quá, hanh lợi, trinh, khả tiểu sự bất khả đại sự, phi điểu di chi âm, bất nghi thượng, nghi hạ, đại cát” (Quá nhưng việc nhỏ, hanh thông hợp đạo chính thì lợi, có thể làm việc nhỏ, không thể làm việc lớn. Con chim bay để tiếng kêu lại, không nên lên cao mà nên xuống thấp, được vậy thì đại cát.) Hổ không thể đánh bại được Mèo đã thể hiện cái “không thể làm việc lớn”. Vì Tiểu Quá là vượt qua những việc nhỏ, những chuyện thường tình thế sự thì mới có thể nghĩ đến việc lớn hơn. “bất nghi thượng, nghi hạ đại cát” ý chỉ người nào việc náy mà tùy theo khả năng của mình vậy. Phải chăng câu chuyện ngoài việc muốn chuyển tải ý nghĩa nhắn nhủ rằng tri thức của nền văn minh phương Đông chỉ truyền lại cho những ai học được điều Nhân Nghĩa và nền tảng của tri thức phương Đông này lấy Nhân Nghĩa làm chủ đạo, mà còn chuyển tải hàm ý xác định tính chất hai cung Cấn và Chấn là hai cung Tri Thức và Sức Khỏe (sức mạnh) trong Mệnh cung Bát Trạch, muốn nhấn mạnh núi tri thức phương đông là phương tiện hướng đến một sức mạnh lý trí linh hoạt của Đông phương dựa trên nền tảng Nhân Nghĩa sâu sắc. Truyện thứ 2, tựa: Trí khôn ta đây!(hay là sự tích bộ lông vằn của hổ, hàm răng trên bị khuyết của trâu) "Một con cọp từ trong rừng đi ra, thấy một anh nông dân cùng một con trâu đang cày dưới ruộng. Trâu cặm cụi đi từng bước, lâu lâu lại bị quất một roi vào mông. Cọp lấy làm ngạc nhiên. Ðến trưa, mở cày, Cọp liền đi lại gần Trâu hỏi: - Này, trông anh khỏe thế, sao anh lại để cho người đánh đập khổ sở như vậy? Trâu trả lời khẽ vào tai Cọp: - Người tuy nhỏ, nhưng người có trí khôn, anh ạ! Cọp không hiểu, tò mò hỏi: - Trí khôn là cái gì? Nó như thế nào? Trâu không biết giải thích ra sao, đành trả lời qua quýt: - Trí khôn là trí khôn, chứ còn là cái gì nữa? Muốn biết rõ thì hỏi người ấy! Cọp thong thả bước lại chỗ anh nông dân và hỏi: - Trí khôn của anh đâu, cho tôi xem một tí có được không? Anh nông dân suy nghĩ một lát rồi nói: - Trí khôn tôi để ở nhà. Ðể tôi về lấy cho anh xem. Anh có cần, tôi sẽ cho anh một ít. Cọp nghe nói, mừng lắm. Anh nông dân toan đi, lại làm như sực nhớ ra điều gì bèn nói: - Nhưng mà tôi đi khỏi, lỡ anh ăn mất trâu của tôi thì sao? Cọp đang băn khoăn chưa biết trả lời thế nào thì anh nông dân đã nói tiếp: - Hay là anh chịu khó để tôi buộc tạm vào gốc cây này cho tôi được yên tâm. Cọp ưng thuận, anh nông dân bèn lấy dây thừng trói cọp thật chặt vào một gốc cây. Xong anh lấy rơm chất chung quanh Cọp,rồi châm lửa vừa đốt vừa cầm gậy nện Cọp tới tấp và quát: - Trí khôn của ta đây! Trí khôn của ta đây! Trâu thấy vậy thích quá, bò lăn ra mà cười, không may hàm trên va vào đá, răng gãy không còn chiếc nào. Mãi sau dây thừng cháy đứt, Cọp mới vùng dậy ba chân bốn cẳng chạy thẳng vào rừng không dám ngoái nhìn lại. Từ đó, cọp sinh ra con nào trên mình cũng có những vằn đen dài, vốn là dấu tích những vết cháy, còn trâu thì chẳng con nào có răng ở hàm trên cả." Câu truyện cổ tích này được truyền khẩu từ bao đời nay, đã làm cho biết bao tâm hồn trẻ thơ, luôn cả những người lớn lấy làm thú vị vì cách giải thích một nguyên do lông cọp bị vằn và hàm răng trâu không có hàm trên, qua đó cũng diễn đạt ý nghĩa sâu hơn của câu truyện là trí khôn chỉ có ở con người và trí khôn không phải là điều gì lớn lao lắm mà chỉ đơn giản là việc ứng xử với thiên nhiên với môi trường xung quanh một cách linh hoạt. Đây là điều thật lý thú và thú vị đem đến từ câu chuyện. Điều này chỉ dừng lại ở đây thôi thì sẽ không còn gì đáng nói, nhưng bất ngờ thay đằng sau nó dường như chuyển tải một bí ẩn khác, khi nhìn dưới nhãn quan Lý học đông phương. Câu truyện vỏn vẹn chỉ có 3 nhận vật: Cọp, Trâu và Người, trong đó Người và Cọp là hai nhân vật chính, còn Trâu là nhân vật phụ, nhân vật trung gian. Điều trùng hợp ở đây là Cọp và Trâu là hai hình tượng trùng lấp với Sửu và Dần khi liên hệ trên 24 sơn Bát Trạch Lạc Việt, cung Cấn, thuộc phương Đông Bắc, Âm Mộc trên Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt. Bát quái mệnh cung từ cổ thư chữ Hán Bát quái mệnh cung Lạc Việt Nội dung chính của câu truyện kể về việc Hổ thắc mắc muốn hiểu biết trí khôn là gì. Lạ lùng thay, ngay trên Bát quái mệnh cung được lưu truyền bao đời nay, cũng như đồ hình Bát Quái mệnh cung được một một Phong thủy gia người Đài Loan công bố thì cung Tri Thức lại ở ngay cung Đông Bắc, gồm 3 sơn Sửu – Cấn – Dần. Và theo sự phục hồi trên cơ sở Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ thì Sửu – Cấn – Dần thuộc phương Cấn âm Mộc, vẫn là phương Đông Bắc.Tri Thức là Trí Khôn là khả năng cao cấp nhất chỉ có con người mới có được, và yếu tố con người xuất hiện trong câu truyện không phải là dư thừa hay không hợp lý khi trong cố thư có câu: “Thiên sinh ư tý, địa sinh ư sửu, nhân sinh ư dần” Tạm dịch là trời sinh ra ở hội tý, đất sinh ra ở hội sửu và người sinh ra ở hội dần. Vì vậy vấn đề “trí khôn là cái gì? ở đâu?” được giải quyết trong phần cuối câu truyện xảy ra giữa Cọp và Người, hình ảnh của Dần và Nhân. Sự trùng lấp Trâu - Cọp với Sửu – Dần và nội dung câu truyện giải thích trí khôn là gì với tương đương nghĩa của tính chất cung Đông Bắc là Tri Thức là một sự trùng họp tuyệt vời, có thể là một bí ẩn chuyển tải trong kho tàng truyện cổ tích của người Việt, trong văn hóa của người Việt lưu truyền một cách vô thức qua bao thế hệ, có thể đây là một thông điệp ngàn đời muốn nhắn nhủ rằng chủ nhân đích thực của nền văn minh phương Đông là con Rồng cháu Tiên với nền văn hiến 5000 năm huyền vĩ. Hai câu truyện “Hổ và Mèo” và “Trí khôn của ta đây” trùng lặp với sự giải mã theo cơ sở Lý học Đông phương, xác nhận hai phương Chấn và Cấn là hai cung Sức Khỏe và Tri Thức mà qua đó chủ nhân đích thực của nền văn minh phương Đông muốn nhắn gửi một điều sâu thẩm rằng tri thức Đông phương là sức mạnh linh hoạt và biến chuyển (qua hình ảnh Mèo và Người) không dể bị áp chế bởi sức mạnh võ biền (hình ảnh Hổ) và nền tảng của nền văn minh ấy là đạo lý Nhân Nghĩa sâu sắc. Có thể đây không phải là một chứng minh, nhưng ít ra cũng là một cách nhìn đầy thú vị của riêng người viết, khi liên hệ những yếu tố của kho tàng văn hóa Việt với tri thức Lý học Đông phương nhằm tạo một sự hứng khởi trên con đường nguyên cứu khám phá trong biến bờ Lý học Đông phương huyền vĩ. Không dám cho rằng là đúng khi tính bao hàm của cơ sở Lý học Đông phương quá rộng lớn so với sự nhận thức hạn hữu của con người. Tp HCM, tháng 3-2010 Thiên Đồng ----------------------------------------------------- Tham khảo: - Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2007 - Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2003 - Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam. - Phong thủy Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, lưu hành nội bộ. - Dịch học ngũ linh, tg Cao Từ Linh, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2006. - Nhập môn chu dịch dư đoán học, tg Thiệu Vỹ Hoa, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1996. web: www.wikipedia.org
  24. Ước gì...có ở đây một nồi. Ước gì...có được thêm nhiều nồi. Chẹp chẹp!!!... :( :D :( :D
  25. có câu truyện sau: Một anh chuyên nấu sử sôi kinh hằng ngày. Có nhiều người nói với anh ta: - Thư trung hữu nhan như ngọc. Nghĩa là trong chữ hay trong sách có người đẹp như ngọc ngà. Cũng có ý nói người đó quá mê sách, say sưa với sách. Nhưng anh chàng này nghe vậy liền nói: - Thư trung hữu mễ. Vài năm sau, anh chàng đỗ trạng nguyên và làm quan lớn. Nghèo và đói không còn nữa mà trở nên hoàng tráng rỡ ràng. Mọi người bắt chước anh ta nói: "Thư trung hữu mễ". Từ câu truyện này, có thể liên hệ sang lĩnh vực khác: Hội Họa. Thiên Đồng nói: - Họa trung hữu tâm. Thuật và nghệ chưa uyển chuyển, nhưng cái cảm trong tranh đầy tính chân thật. Ai đã từng nhìn thấy những bức tranh do các cháu mẫu giáo vẽ thì sẽ cảm thấy được cái "mỹ" trinh nguyên trong ấy, đến nỗi có hẵn một trường phái mà các họa sĩ bắt chước vẽ "như con nít" vẽ, nhưng dù vẽ như thế nào đi nữa thì cũng không thể "như con nít" được, vì chẳng được cái đẹp "vô thủy vô chung" như con nít. Có dịp Huynh sẽ nói về bút pháp của thư pháp cho Rin nghe để Muội có nhiều cảm hứng hơn trên con đường..."chơi nghệ thuật". Chữ "chơi" rất đắc giá. Hehehe. :D Đông Thiền :(
×
×
  • Create New...