Lãn Miên
Hội Viên Ưu Tú-
Số nội dung
595 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
19
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Lãn Miên
-
Qua các tư liệu và phân tích của Hoangnt, rõ ràng là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã diễn ra khắp Giang Nam, mà Hán thư cũng có bản gọi đó là “giặc khăn vàng”. Hán thư xưa viết không có chữ hoa cho tên riêng, lại cũng không có dấu phẩy hay chấm câu, nên bây giờ khi viết phải viết là cuộc khởi nghĩa “hoàng cân” (tức “ khăn vàng”) chứ không viết cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (bạn đọc sẽ tưởng lầm là cuộc khởi nghĩa của lãnh tụ nào đó tên là Hoàng Cân). Vùng rộng lớn như vậy, có tới 65 thành, mà thời đó chưa có điện thoại di động thì chỉ huy bằng cách nào? Thưa rằng thời đó các Lạc Hầu của dân Lạc Việt liên lạc với nhau bằng ám hiệu âm thanh của trống đồng và ám hiệu của ngọn lửa đốt lên. Mỗi Lạc Hầu cai quản một tiểu Vuông 文= Vùng=Vồng=Động 洞 =Đống. Trống đồng được đặt trên cao điểm, lại có đắp đăt thêm một nền vuông cao là cái Ụ=Vụ=Vun=Vồng=Đống=Đàn (di ảnh về sau là cái Đàn Nam Giao), trống đồng đặt trên cái Đàn đó để Gõ=Võ=Vỗ=Vũ khi tế Trời hay trong tình huống cấp bách cần thông tin cho cộng đồng.( Cái “cối Đồng để Gõ” ấy sau Hán thư viết chữ Đồng Gõ là hai chữ Đồng Cổ 銅 鼓, cái “Cối Vỗ” ấy sau thành hai chữ Cổ Vũ 鼓 舞). Thời Vua Hùng phong đất cho Lạc Hầu (“Phát cho một Vòng”= “Phong”, viết bằng chữ Phong 封, gồm hai chữ Thổ và chữ Thốn tức được thôn tính). Đã được đất Phong cho thì phải có trách nhiệm Phòng thủ. Ngọn lửa đốt lên để báo hiệu mỗi khi có giặc đến thì gọi là Phỏng (tức phỏng đoán tình hình nóng rát, sau này ngôn ngữ dùng khái niệm này là Phỏng=Bỏng=Bập Bùng=Bừng Bừng). Chữ Phỏng ấy viết là chữ Phong 烽 gồm bộ lửa 火 và cái âm phong 夆. Nghĩa chữ Phong 烽 ấy từ điển giải thích là “ngọn lửa báo khi có giặc đến”. Bà Trưng sinh ra ở đất Mê Linh là dòng dõi vua Hùng, không phải là họ Trưng. Khi Bà cầm quân Chinh chiến mới gọi là Bà Trưng. Đánh thắng giặc Hán, Bà được tôn xưng là Lĩnh Nam Hoàng Đế. Tên tục của Bà là Chắt (sau viết là Trưng Trắc). Người Việt xưa đẻ con đầu lòng thường đặt tên con là Chắt , đôi vợ chồng đã có con đầu lòng thì được lên “chức” mà gọi là ông Chắt bà Chắt thay cho tên thường gọi (Chắt=Chắc là số 1, Chục là số 10. Trẻ con có trò chơi đánh chuyền bằng một bó 10 cái đũa tre và một quả cà tròn, tung quả lên rồi bắt que đũa, bắt đầu từ cú bắt 1 que, rồi cú bắt 2 que… gọi là “đánh chắt” tức bắt từ con 1 đầu tiên). Sự thật mà Hán sử từng viết là Mã Viện sau khi thắng Hai Bà Trưng đã thu gom trống đồng để đồng thời phần thì phá hủy phần thì nấu đúc thành ngựa kiểng chở về phương Bắc, nhằm triệt hạ cho thật nhanh văn minh Lạc Việt, bởi vậy dân Việt phải chôn dấu trống đồng khắp Việt Nam, Vân Nam, Thái Lan, Giang Nam nơi nào cũng có. Câu “Đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt” chỉ là câu nguyền hằn học của Mã Viện trước nền văn minh trống đồng rực rỡ của người Việt và khiếp sợ trước lời thề của Bà Trưng “quyết dựng lại nghiệp xưa Họ Hùng”. Câu ấy nghĩa đen của nó là “Trống đồng Hết, Giao Chỉ Hết”(Mất văn hóa thì chẳng còn dân tộc). Các từ Việt ngữ Hết=Chết=Giết=Diệt=Chiết đều có nghĩa chung nôi khái niệm là Hết vì đều cùng “Rỡi” Ết. Chữ Trụ cũng vậy(đời sau viết bằng chữ Trụ 柱 nghĩa là cây cột chỉ là mượn chữ để ký âm mà thôi, đừng để ý đến cái nghĩa chữ), ngược dòng lịch sử thì Trụ=Cụ=Cữu=Cối=Cái=Kẻ, nó là cái tiếng chỉ cái khí cụ đặc thù bằng đồng là cái trống đồng (cái cối đồng là hình dáng lộn ngược của cái cối đá thời đồ đá, Cối Đồng viết ngược là chữ Đồng Cổ 銅 鼓, chỉ có cái “tiếng” của nó Vỗ ra mới gọi là “trống”vì nhìn chẳng thấy). Chuyện “ cột đồng Mã Viện” chỉ là giai thoại , mà về sau chính sử lại ghi vào. Ở Quế Lâm (bắc Quảng Tây người dân cũng nói có cột đồng Mã Viện ở vùng núi ngoại ô thành phố Quế Lâm).
-
RƯỢU ERESSON Xứ mường sinh thái tự nhiên Đất đai thuần hậu, đồng điền cò bay Mạch nguồn tinh khiết giếng xây Men niêm truyền thống như ngày tổ tiên Có công nghệ mới nhu mềm Gạo nương ủ cất mà thêm hương lừng Dịu như cam thảo họng ngưng Rượu qua mùi rượu còn dừng ngất ngây Cờ đầu thiên hạ là đây ERESSON TỬU rượu nầy rượu Ta. Rượu này hãnh tiến biển xa Nhấm vô một hớp người đà khỏe ra Rượu này phúc đến mọi nhà Vui truyền thiên hạ bao la nhân quần Rượu này hòa hợp toàn dân Cùng trong trời đất chung xuân muôn đời Rượu này các Thánh chung vui Cả ta nữa đó cũng ngôi bạn bè Rượu này rượu trắng trong be Hương nồng ngây ngất hồn mê mẩn hồn Rượu này thành tín tửu môn Trăng rằm phẩm chất tiếng đồn trăm năm Mười lăm năm cất trong hầm Rượu này đoạt giải cờ hồng rượu ngon Rượu này đi dọc nước non Muôn kênh đưa đến bà con vạn nhà Rượu nào hơn nổi rượu ta Đây là diệu phẩm, đây là rượu sang Rượu này của nước Hồng Bàng Dân ta thích uống rượu làng của ta. Rượu này khiến khỏe đẫy đà. Con người tráng kiện mới là toàn năng Rượu này điển phạm hương vân Phẩm chất thời thượng trong ngần rượu thơm Rượu trần hơn chục năm liền Xứng tên Trân Tửu đáng tiền mà mua Rượu này chúc khánh bốn mùa Thế dân vận nước chẳng thua nước nào Rượu này ủ cất công lao Hàng sang xứng đáng rượu vào hoàng gia Rượu này mùa vụ phong hòa Người thân, bè bạn được là cùng nhau Rượu này ủ cất đã lâu Uống vô để có cái đầu nghĩ suy Trời cho trí tuệ hồi qui Như vầng trăng tỏ mỗi khi đến rằm Rượu này dịu nhã hương nồng Diệu vinh tiền thưởng séc hồng khoản chi Thời quang sán lạn truyền kỳ Bõ khi trời ủ, bõ khi rồng tàng Ấm trơn như ngọc như vàng Thế gian nổi tiếng rõ ràng rượu đây Rượu này hạnh phúc tràn đầy Người khôn biết tiếng rượu nầy rượu ngon Rượu này hai xị cỏn con Cũng làm kiếp sống biết còn say sưa Rượu này thanh nhã hài hòa Trời, Người và Đất cả ba đồng quần Rượu này nấu, ủ hiếm trân Làm cho thiên địa xa gần đều ưa Rượu này truyền thế từ xưa Thầy đầu cất nấu mới vừa lòng nhau Thái Không ủ, cất đã lâu Rượu này là rượu giải sầu, mua vui Tinh hoa linh khí đất trời Làm nên chất rượu tuyệt vời thế gian Rượu này đệ nhất tửu đàn Hương thơm phưng phức vô vàn kẻ say Gây niềm hưng phấn tràn đầy “ERESSON” TỬU rượu nầy đoan cao: “Em Ra Rượu Sạch như Sao Dấu Son So Sánh rượu nào rượu hơn Rạch Ròi tên rượu ERESSON Ai ai Sành điệu mọi miền đều hay Sẻ San nhau chén rượu đầy Sắt Son bầu bạn bắt tay nghĩa tình Sun – Trời, E – Đất chắt tinh Nên thơm rượu gạo Riêng mình Việt Nam Chữ S Rộng Rãi nắng vàng Sẻ San Bè bạn rượu làng hương bay”. Rượu này tâm nếm mới hay Nghệ thuật ưu nhã thứ này thanh tao Ly rượu trong vắt ngắm vào Thuần hương, mỹ ảnh, xiết bao phong tình Muốn dùng tâm nếm, tâm bình Tự mình với rượu, say tình với tâm.
-
Cùng với câu ca dao trên còn có thành ngữ “công cốc” để chỉ cái công làm ra mà không được hưởng xứng đáng. Mấy con đó dù có gọi là gì thì vẫn đều là Kẻ=Con=Cái=Cá (thể) , tức đều bình đẳng như nhau. Nhưng Cò, Vạc, Nông (bồ nông) thì ý thức được giá trị của tự do, tự chủ, chúng tự kiếm ăn, dù chỉ là “tự túc tự cấp” vẫn đủ cho béo tốt . Con Cốc nếu được tự do thì nó kiếm ăn còn giỏi hơn mấy con kia vì nó có tài bắt cá hơn. Nhưng nó lại không ý thức được giá trị của tự do, tự chủ, nên nó cam tâm làm nô lệ theo sự sai khiến của kẻ khác, chịu cái vòng kim cô ở cổ, dù bản thân nó cũng được no đủ béo ú, nhưng nó đáng bị xử vì cái kém nhận thức của nó.
-
Rượu RƯỢU GẠO - Rượu cũ bình mới: Âm Dương như Cốt với Bình Cốt là Ruột Rượu, Bình là cái da Dương ngoài biến đổi xông pha Âm trong giữ mãi Nếp nhà cho thơm Nhìn nhận phần Dương của sản phẩm : văn hóa bình đựng rượu Lịch sử của Rượu: Một từ như RƯỢU rồi đến TỬU cũng thấy là từ RƯỢU có trước từ TỬU, có khi đến hàng ngàn năm. Tiếng Việt, “Ruột” là cái Lõi trong cùng của bất cứ vật thể nào. Rượu không phải tự nhiên loài người nghĩ làm ra. Nó là do phát hiện ngẫu nhiên như phát hiện Lửa vậy. Ruột = Ruột-Rà = Tá = Lả = Lửa = Lõi. Ruột là cái Tim = Tâm, nó là ngọn lửa của cơ thể như Hải Thượng Lãn Ông định nghĩa, nó là cái gốc, Ruột = Rễ = Thể. Mọi ngôn ngữ của loài người đều bắt đầu bằng A, như đứa trẻ ra đời là Há miệng khóc A…, A = Cả = Cà = Cơm = Cơ = Kẻ = Thẻ = Thể. Cơm là cái ăn được của quả cây, Cơ là cái ăn được của động vật, nhưng động vật thì phải giết chết nó rồi mới ăn được, nên cái “Thể động vật đã chết bởi bị Giết” mới lướt gọi là “Thịt”. Còn trong Thể động vật đang sống thì gọi là Cơ chứ không gọi là Thịt. Tiếng Việt có thành ngữ “Máu mủ ruột rà” chứ không phải là “Máu mủ ruột thịt” như người ta vẫn nói sai, do hiểu sai chữ Nhục là Thịt như người Hán mượn dùng chữ Nhục để chỉ Thịt. Chữ Nhục nếu truy ngược lịch sử thì thấy Nhục=Nhau=Rau=Ruột (Hai chữ Cùng Nhau=Cùng Rau, ý nói là ruột rà, xưa người Việt viết đều bằng hai chữ nho có bộ Cung, ý là đều Cùng một Bụng mà ra, đó là hai chữ : 同 肉, đọc là Đồng Nhục, tức Cùng Nhau). Trái dừa già bỏ quên lâu thì cơm dừa và nước dừa trong ruột nó tự lên men thành rượu, ngẫu nhiên uống phải thấy ngây ngất , cảm giác hay hay, rồi mới nghĩ ra cách chế rượu. Rượu là phát hiện của dân nông nghiệp trồng trọt ngẫu nhiên từ trong Ruột của trái cây chín nẫu. ( Giáo sư tiến sĩ người Canada Julio Mercader là nhà sử học thuộc Học viện khảo cổ học nhiệt đới, trong một nghiên cứu mới đây nhận định rằng loài người đã bắt đầu sử dụng hạt cốc để ăn từ cách nay 100.000 năm, và biết nấu rượu từ ngũ cốc cũng từ đó). Ruột = Rượu = Riệu = Diệu = Dậu = Lẩu (tiếng Thái) = Chẩu = Chỉu (tiếng Hán- “jiu”) =Tỉu = Tửu. Kỹ thuật làm rượu cũng là có từ thời mẫu hệ, do U làm ra: U = Ủ = Ấm = Ôn温“ wen” = Nốn = Náu = Nấu = Nướng酿 “niang” = Chường = Chưng蒸 “zheng” = Chứa = Chắt = Chất = Cất = Kiếu窖 “jiao”. Nói “Nấu một mẻ rượu” hay nói “Cất một mẻ rượu” cũng nằm trong Nôi Khái Niệm đó cả. Văn hóa đồ đựng rượu: Đồ đựng rượu bao gồm bình rượu, lon rượu, ấm rượu, ly rượu, đồ hâm rượu v.v.Theo cẩu trúc to nhỏ mà chia ra gọi là Lon rượu, Ao rượu, Hải rượu, Đàn rượu v.v. Đồ đựng rượu đại diện cho nội dung và hình thức văn hóa. Trong lịch sử, ấm rượu, ly rượu, đồ hâm rượu từng có một địa vị văn hóa huy hoàng, cho đến tận ngày nay, bất luận số lượng hay chất lượng công nghệ đã sớm lùi xuống vị trí chỉ là bổ trợ, còn giá trị nghiên cứu có ý nghĩa nhất vẫn là tính di lưu của lịch sử. Ngày nay ủ nấu rượu theo công nghiệp với sản lượng lớn và tốc độ nhanh nên đồ chứa đựng rượu người ta không mấy để ý đến tính văn hóa, chia ra bình đựng phổ thông và bình đựng công nghệ. Bình đựng công nghệ thì tập trung thể hiện tính văn hóa. Văn hóa bình rượu đã tồn tại trong một lịch sử rất lâu dài, nhưng khái niệm chân chính về văn hóa bình rượu thì ngày nay mới được nhiểu nhà sưu tầm bình đựng rượu dân gian nêu lên. Nội dung của nó là: Văn hóa bình rượu là tên gọi chung của các loại hiện tượng văn hóa dựa vào bình rượu làm tải thể. Nó bao hàm toàn bộ tư duy và hành vi của con người đối với việc tạo bình, dùng bình, giữ bình, thưởng ngoạn bình. Cũng tức là nói công nghệ bình rượu vừa là sản phẩm vật chất vừa là sản phẩm tinh thần, cái bình rượu vừa là vật thực dụng vừa là vật nghệ thuật, nó có cái đẹp cụ thể lại có cái đẹp trừu tượng, tức nó vừa có dáng vừa có hồn. Nội dung hình thức của bình rượu có thể đề cập đến chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, lịch sử , pháp luật, dân tục, mỹ học, văn nghệ v.v. rất nhiều phạm trù, nó phát triển thành một môn khoa học vòng ngoài vượt qua phạm vi của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, dần dần hình thành một khoa học tự thân , đó là “khoa học văn hóa bình đựng rượu”. Văn hóa bình đựng rượu có các đặc trưng cụ thể là: 1.Tính trang sức văn hóa. Bình đựng rượu là một tải thể thừa kế và chuyển tải nội dung nhiều loại văn hóa. Văn hóa là biểu hiện hình thức của bình rượu. Nội dung này cùng với hình thức đã thống nhất biểu đạt lên tính trang sức của văn hóa. Làm cho nguyên bản vốn chẳng có màu sắc gì trở nên có nhan sắc mỹ lệ, làm cho nguyên bản không có nội dung gì trở thành một câu chuyện làm động lòng người. Làm cho nguyên bản vốn chỉ có hình thái đơn nhất trở nên các loại tạo hình. Những thông tin ấy thông qua thị giác của con người mà chuyển cái đẹp đến đại não, làm cho con người đạt được sự hưởng thụ thỏa mãn về tinh thần, hình thành nên hứng thú thẩm mỹ và giá trị nhân văn cao hơn. Cái lõi của tính trang sức văn hóa là “đẹp”. Bình rượu nghệ thuật là một bài thơ vô thanh, là một bức họa lập thể, là một âm nhạc cô đọng, là một bức tượng lưu động. Đặc trưng cốt lõi của văn hóa bình rượu là tính trang sức văn hóa. 2.Tính phong phú nội dung. Văn hóa bình rượu thừa tải cá tính độc đáo này, quyết định tính phong phú về nội dung của nó. Nước ta có lịch sử văn hóa lâu đời từ thời nền văn minh Văn Lang Lạc Việt rực rỡ cách nay 5000 năm ( “ Kể năm hơn bốn ngàn năm. Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa. Hồng Bàng là Tổ nước ta. Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang”). Nhiều thời đại trải qua trong lịch sử, các dân tộc trên đất nước ta vẫn giữ gìn được bản sắc văn hóa độc đáo của từng sắc tộc, văn hóa của từng tôn giáo, cùng sống chung “anh em thuận hòa” như “nhiễu điều phủ lấy giá gương”, những nết độc đáo của văn hóa dân tộc như điêu khắc đá của người Chăm, điêu khắc gỗ của người Tây Nguyên, chạm trổ của người Kinh, nặn tượng đất, tò he, tễu rối nước, dáng đa dạng của dụng cụ đan bằng tre mây của các dân tộc, truyện cổ tích, tích chèo và tích cải lương ca ngợi cái thiện, tích hát bội ca ngợi lòng nghĩa hiệp, ca dao, thư pháp, thơ Đường, câu đối, tranh dân gian v.v.và v.v. là đề tài văn hóa không bao giờ cạn cho bình đựng rượu thừa tải, biểu đạt nên nội hàm trừu tượng về chính trị, kinh tế, lịch sử, văn nghệ, tôn giáo. Tất cả những thứ kể trên đều là chất liệu cơ bản cho văn hóa bình rượu. Nội dung phong phú chính là đặc trưng chủ yếu nhất của văn hóa bình rượu. 3.Tính đa dạng hình thức. Hình thức biểu hiện của văn hóa bình rượu là vô cùng đa dạng. Chất liệu đa dạng, tạo hình đa dạng, màu sắc đa dạng, phụ đề văn hóa trên bình rượu đa dạng. Chất liệu của bình đựng rượu từ cổ xưa là chất liệu tự nhiên: gỗ, tre, sừng , vỏ ốc, vỏ quả bầu hồ lô. Rồi đến gốm, sứ, đồng thau, đá ngọc, thủy tinh, bạc, nhôm, inox, nhựa, giấy v.v..Tạo hình thì muôn vẻ người, cảnh động vật, vật thể v.v., lại muôn màu muôn sắc… Vấn đề là sự kết hợp các tố chất nghệ thuật để phản ánh được một nội dung tinh thần đầy bản sắc văn hóa có thể lay động tâm hồn con người nhất, để người dùng có thể thỏa mãn đầy đủ mọi cảm xúc: thưởng ngoạn, thưởng thức, cất giữ như sưu tầm của báu. 4. Tính dân tộc khu vực . Đây cũng là một đặc trưng của văn hóa bình rượu. Văn hóa rượu truyền thống của dân tộc cũng là một hình thái văn hóa, bản thân nó đã có giá trị khoa học của văn hóa . Bản thân văn hóa bình rượu là một khái niệm động thái, là một quá trình phát triển của lịch sử, bởi vậy văn hóa bình rượu có đặc trưng khu vực và đặc trưng dân tộc, có đặc trưng thời đại. Nước ta nhỏ nhưng đa sắc tộc nên bản sắc văn hóa phong phú, bức tranh ấy là chất liệu phong phú cho văn hóa bình rượu. 5. Tính dung hợp và thừa kế truyền thống. Văn hóa rượu có một quá trình phát triển lâu dài cùng với sự phát triển lịch sử của dân tộc.Văn hóa bình rượu phát triển theo mọi hướng nhưng vẫn là bắt đầu từ truyền thống mà lên . Tinh hoa của bình rượu ở các thời đại là ở chỗ chất liệu, màu sắc, tạo hình, kế thừa mãi theo các đời cho đến ngày nay. Rượu theo quan niệm dân gian thì càng bày ra càng hay, do vậy mà từ xưa người ta đã thích vẽ vời càng nhiều điều trên bình rượu càng hay, đó là một không gian sáng tác rất rộng, đó là độ dễ dãi của văn hóa bình rượu, mỗi một tiến bộ văn hóa gì của thời đại cũng dễ được đem thể hiện trên bình rượu, bình rượu dung hợp được hết, làm cho văn hóa càng hoàn mỹ và đầy đủ. Cho nên có thể nói rằng văn hóa bình rượu là sự chứng kiến lịch sử, là sự tượng trưng thời đại, là phong thái của xã hội, là hình ảnh tổng hợp của đời sống. Tính dung hợp và thừa kế truyền thống là đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa bình rượu. Nhà sản xuất rượu chính là người cổ động, sáng tạo và phát triển văn hóa bình rượu. Người tiêu dùng chính là người truyền bá và giữ gìn văn hóa bình rượu. Lãn Miên
-
- 1
-
-
Hít và Niệm thở, ru bảy luân xa “Niệm” là “Nói - Nghiệm” với tâm Có nói thành tiếng - hoặc thầm trong im Lục bát trắc - với vần bằng Hễ trắc hít tới - thời bằng thở êm: 1. Om Ma Ni - Pad Me Hum Vẳng như tiếng nhạc - ru êm cõi lòng 2. Óm Ma Ni - Pad Me Hùm Luân xa vẫn cứ - theo vòng mà lăn 3. Om Ma Ni - Pad Me Hum Thân tâm vẫn cứ - lớn lên âm thầm 4. Óm Ma Ni - Pad Me Hùm Trí tuệ thông sáng - trong vùng lặng tâm 5. Om Ma Ni - Pad Me Hum Da dẻ sáng láng - như ông trăng tròn 6. Óm Ma Ni - Pad Me Hùm Nghĩ gì theo nấy - việc làm hanh thông 7. Om Ma Ni - Pad Me Hum Mãi ngân tiếng nhạc - ru êm cõi lòng
-
- 3
-
-
Quan Âm Bồ Tát dạy lời Sống tươm tất, ăn từ từ Hàng năm vẫn có tiền dư chờ mình Chẳng so bì, chẳng tranh giành Tự mình chẳng bực với mình làm chi Ăn chua nhiều, mặn ít đi Bớt ngồi bài bạc, dành đi bộ hành Ngủ , thức đúng giấc rành rành Cuốc bộ, khiêu vũ để thành khỏe thân Cha Mẹ Trời Biển công lênh Tận hiếu cha mẹ mới đành phận con Vợ Chồng như Nước cùng Non Nuôi con có hiếu mới tròn phận ta Với ai cư xử cũng là: Thiện làm một chút , đức đà dầy lên Thiện nhiều thì đức càng thêm Mồm còn nhai được thì tiền khỏi lo Ít nhiều cũng chẳng nhằm nhò Còn hơn chết sớm chẳng cho ở đời Quan lớn nhỏ, tiền đầy vơi Cũng đều xuống huyệt chầu trời Diêm Vương.
-
Đạo giáo trong ngôn từ Việt “Ngôn ngữ” là một từ Việt-Hán, coi như một từ khoa học, thông dụng trong tiếng Việt. Ngôn ngữ vốn được đưa ra bằng cái Lưỡi (bóc vỏ lưỡi chim yiểng, chim sáo, chim vẹt để dạy nó bắt chước nói tiếng người), nên tiếng Anh, tiếng Nga đều gọi ngôn ngữ là “lưỡi”, còn tiếng Việt thì Lưỡi đưa ra Lời, cái mồm đưa ra một tiếng có nghĩa gọi là một từ, thì “Mồm đưa ra Tiếng” ấy đã lướt thành “Miệng”, khác với cái mõm hay cái mỏ của động vật. Nhưng thực ra động vật cũng có ngôn ngữ để chúng giao tiếp với nhau, do người không hiểu hoặc không nghe thấy được mà thôi. Xưa Trang Tử đã nói ý đó rồi. Tại sao trong tiếng Việt lại có vô cùng nhiều từ đồng nghĩa là “nói”. Ngẫm theo QT thì thấy hóa ra là vì tư tưởng của Đạo giáo đã có sãn trong ngôn từ Việt, con nào được mang tên là gì thì đều có một từ trong logic QT với nó mang nghĩa là “nói”, tức như Trang Tử nhận xét, chúng đều có ngôn ngữ giao tiếp với nhau cả. Chẳng qua là người vơ hết về mình để dùng, nên có nhiều sắc thái của khái niệm “nói” thành ra càng phong phú mà thôi, nhưng vì nhiều quá nên nhiều khi cũng hay dùng lẫn lộn. Đơn cử ví dụ nhỏ: Con CÀ , con CÁY, KÊ “kêu” Con GÀ, con GẸ “gọi” nhiều lời ra Mái gẹ “gọi” giọng đàn bà Gà trống nó “gáy” giọng là đàn ông RẮN, RỒNG “réo rắt” trong lòng Con TRÂU “trọ trẹ” nghe chừng dễ thương Con CHUỘT “chút chít” gậm giường Con KHỈ “khèng khẹc” nhún nhường trên cây Con VỊT “van” mãi lời này (chữ Vân 云 nghĩa là “nói”) Con NÒI biết “nói” lời hay ý dồn (chữ Na 吶 nghĩa là “nói” Giống NÒI “nói”, giống NGƯỜI “ngôn” (chữ Ngôn 言 nghĩa là “nói”) Con CHIM thì biết “chiêu” hồn với chim (chữ Chiêu 詔 nghĩa là “nói”) Con VƯỢN thì biết “véo von” VƯỢN tiến thành VIỆT, Đác-Uyn “viết” rồi (chữ Viết 曰 nghĩa là “nói”) Mở xem cổ sử mà coi Khổng Tử xưa “viết” những lời ngàn năm. (cổ thư thường trích “Khổng Tử viết 孔 子 曰”: ...) VIỆT thì mới “viết” rõ rành NÒI Nam, Lưỡi “nói”, Lời thành Ngợi, Ngôn ( “khen ngợi” là nói lời khen, “ca ngợi” là nói lời ca, “ngẫm ngợi” là nói lời trong nghĩ thầm, nghĩ thầm nói lướt là “ngẫm”, ngôn ngữ quả thực là công cụ để tư duy)
-
Cảm ơn phân tích của Đỗ Thành cho thấy bài Việt nhân ca là nguyên bản một bài hò sông nước của người Việt đã được phiên âm bằng cách dùng Hán tự mà ngày nay Hán ngữ hiện đại cũng không hiểu nổi. Theo QT, có Nôi mới có Nói, có Nói mới có (khái) Niệm nên các từ đơn âm Việt có cùng Nôi Khái Niệm khi chúng cùng “Tơi” (cùng “Tiển tố để lưỡi đưa ra Lời”), hoặc cùng “Rỡi” (cùng “Ruột của Lời”), hoặc tạo ra do lướt ( qui tắc Lướt=Thướt=Thiết này Hứa Thận đã nghiệm thấy và nêu ra cách nay 2000 năm, ngày nay người Việt Nam vẫn dùng để tạo ra từ mới một cách tự nhiên do từ trong tâm thức). Những chữ trong bài ca trên tóm tắt theo QT là như sau: Lam=Nam=Năm; Ừ=Ề=Hề (tiếng Nghệ An)=Hầy (tiếng Nghệ An, Quảng Đông, Nhật Bản)=Đây=Nầy=Nè=Nê ( tiếng Nhật Bản)=Nhé=Nhá; Biện Thảo=(lướt)=Bảo; Dự=Dư=Dia (tiếng Triều Châu)=Kia=Kưa=Xưa; Xương=Thương=Sương (tiếng Nghệ An)=Sẹc (tiếng Quảng Đông)=Siaiê (tiếng Triều Châu); Hằng=Hoàng; Trạch Dự=(lướt)=Trự=Trử=Tử; Thực=Sực (tiếng Quảng Đông)= Sựa=Xưa; Thậm=Sẩm=Sơm (tiếng Quảng Đông)=Sớm; Châu=Chiêu (tiếng Triều Châu)= Triệu=Chiêu=Chiều; Zen=En=Em; Hồ Tần=(lướt)=Hận; Hô Chiêu=(lướt)=Hiểu; Thản=Thẳng=Đặng=Được; Tần Du là mượn âm để phiên hai từ Tình Duyên, vì Tần=Tsình (tiếng Triều Châu), Du=Dua (tiếng Triều Châu)=Duyê (tiếng Quảng Đông)=Duyên; Sâm=Sâm (tiếng Quảng Đông, nghĩa là Sâu)=Sâu; Đề Tùy=(lướt)=Đùy=Đầy. Riêng chữ Tư Tư thì tôi nghĩ là người dịch khi đó định phiên âm hai tiếng Tơ Tơ của người Việt, vì Hán ngữ không có âm “ơ”. Tơ Tơ là nhiều Tơ, ý nói đang tình rối như tơ vò, người Việt hay dùng Tơ để nói về tình yêu (“Buồn nhìn con nhện giăng tơ”- tơ con nhện nhả ra, “ Đã lìa ngó ý còn vương tơ lòng”- tơ trong lõi cọng sen), tình yêu luôn mỏng manh dễ đứt như tơ nhưng lại luôn sinh ra mãi không cạn, nên cái chuyện “yêu nhau lắm cắn nhau đau” là chuyện bình thường, “giận thì giận mà thương thì thương”. Vì bài hò sông nước của người Việt là bài ca lục bát, dịch qua mấy người rồi người cuối cùng mượn chữ có âm na ná để ghi lại cái âm mà thôi,biểu ý của chữ không hợp logic nghĩa của lời, nên người đời sau không thể dịch hiểu được, cho là tiếng Choang, tiếng Thái v.v.Hò sông nước là những điệu hò trữ tình vẫn còn mãi ngày nay ở sông nước Việt Nam khắp ba miền Bắc Trung Nam ( “ Hơ… Hò… Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục, Thì biết sống cuộc đời răng là nhục là vinh, Thuyền em lên thác xuống ghềnh…”), mà đa số những bài êm ái trữ tình ấy đều do con gái hát khi đang chèo thuyền , bắt đầu là giọng luyến “Ơ…Hớ…” rồi đến lớn giọng “Hò…” sau tiếp là lời tự sự . ( “Hát lới Lơ” lướt thành Hớ, “Hát Ò” lướt thành Hò, vì Ò là đi, Ọ là dừng lại, Hò là Hát đưa đi, như Hò đưa nôi khi ru con, hò đưa thuyền khi chèo thuyền, hò đưa linh khi đám ma. Vì lời ca Việt là lục bát, qua dịch ý, lại bằng phiên âm từ đơn âm thành hai âm kiểu “phiên thiết” nên không còn thấy lục bát nữa. Bài ấy là: Năm này bảo với năm xưa Thương chàng Hoàng tử chiều xưa thương chiều (vừa thương vừa muốn chiều chuộng) Tơ vương em hận sớm chiều Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy. Thật thương người con gái đem tình yêu đơn phương cho một hoàng tử, mà có khi chỉ là một chàng đẹp trai nào đó trong mộng mà thôi, yêu mơ nhiều năm rồi mà chưa gặp đối tượng. Nếu nói là bài gốc tiếng Choang hay tiếng Thái thì không đúng. Sử hiện đại ghi “người Choang là hậu duệ của dân tộc Bách Việt” . Nghiền ngẫm một từ đơn âm của Việt cũng có khi nhìn thấy. Ví dụ từ của Hán ngữ hiện đại “Vĩ Đại” nghĩa là to lớn, theo âm “vĩ” là đuôi, “đại” là to, âm “vĩ đại” là đuôi to thì vô lý quá. Chẳng qua từ “Vĩ Đại” là hai chữ phiên âm của “Việt To” mà thôi, viết bằng hai chữ đặt ra mà thôi, Việt được phiên âm là “Vẩy”, viết thành chữ Vĩ; To phiên âm là “Ta”, viết là chữ Đại, “Vẩy Ta” (wei da) là Vĩ Đại mang nghĩa To Lớn, vì thời cổ đại, khi còn là “Bắc phương Hồ, Nam phương Việt” như cổ sử ghi, thì khi ấy khối dân Việt phương Nam là số đông áp đảo và với một nền văn hóa lớn, cho nên gọi là Việt To (wei da). Chỉ vì không phát âm được nên sinh ra “biến” như vậy, phiên âm Việt To là “vẩy ta”(wei da), cũng giống như người Nhật không phát âm được “Việt” nên họ phải phiên âm là “Bê- Tô” vì họ không có âm “vờ” và âm “iết”, trong khi tiếng Việt thì quá phong phú về vần. To lớn trong Hán ngữ có từ Cự Đại để chỉ cục hòn khối to cụ thể, Bàng Đại để chỉ nó chiếm không gian lớn cụ thể, như Hồng Bàng (một vùng Rộng và Bằng), còn Vĩ Đại chỉ là từ chỉ sự to lớn trừu tượng, nó chỉ có thể là từ cái cụ thể là khối dân cư và văn hóa to lớn phương Nam thời cổ đại được gọi là “Việt To” (Hán ngữ phát âm là “Vẩy Ta” – “Wei Da”) mà trừu tượng hóa lên thành từ mới,”vĩ đại”, một nhân vật bé nhỏ nếu có thể vẫn được gọi là một con người Vĩ Đại. Một từ như Rượu rồi đến Tửu cũng thấy từ nào có trước từ nào, có khi đến hàng ngàn năm. Tiếng Việt, “Ruột” là cái Lõi trong cùng của bất cứ vật thể nào. Rượu không phải tự nhiên loài người nghĩ làm ra. Nó là do phát hiện ngẫu nhiên như phát hiện Lửa vậy. Ruột = Ruột- Rà = Tá =Lả = Lửa = Lõi. Ruột là cái Tim = Tâm, nó là ngọn lửa của cơ thể như Hải Thượng Lãn Ông định nghĩa, nó là cái gốc, Ruột = Rễ = Thể. Mọi ngôn ngữ đều bắt đầu bằng A, như đứa trẻ ra đời là Há miệng khóc A…, A = Cả = Cà = Cơm = Cơ = Kẻ = Thẻ = Thể. Cơm là cái ăn được của quả cây, Cơ là cái ăn được của động vật, nhưng động vật thì phải giết chết nó rồi mới ăn được, nên cái “Thể động vật đã chết bởi bị Giết” mới lướt gọi là “Thịt”. Còn trong Thể động vật đang sống thì gọi là Cơ chứ không gọi là Thịt. Tiếng Việt có thành ngữ “Máu mủ ruột rà” chứ không phải là “Máu mủ ruột thịt” như người ta vẫn nói sai, do hiểu sai chữ Nhục là Thịt như người Hán dùng. Chữ Nhục là do ngược Nhục = Nhau = Rau = Ruột (Hai chữ Cùng Nhau = Cùng Rau, ý nói là ruột rà, xưa viết đều bằng hai chữ có bộ Cung, là đều Cùng một Bụng mà ra, đó là hai chữ : 同 肉, đọc là Đồng Nhục, tức Cùng Nhau). Trái dừa già bỏ quên lâu thì cơm dừa và nước dừa trong ruột nó tự lên men thành rượu, ngẫu nhiên uống phải thấy ngây ngất , cảm giác hay hay, rồi mới nghĩ ra cách chế rượu. Rượu là phát hiện của dân nông nghiệp trồng trọt ngẫu nhiên từ trong Ruột của trái cây chín nẫu. ( Giáo sư tiến sĩ người Canada Julio Mercader là nhà sử học thuộc Học viện khảo cổ học nhiệt đới, trong một nghiên cứu mới đây nhận định rằng loài người đã bắt đầu sử dụng hạt cốc để ăn từ cách nay 100.000 năm, và biết nấu rượu từ ngũ cốc cũng từ đó). Ruột = Rượu = Riệu = Diệu = Dậu = Lẩu (tiếng Thái)= Chẩu = Chỉu (tiếng Hán- “jiu”)= Tỉu = Tửu. Kỹ thuật làm rượu cũng là có từ thời mẫu hệ, do U làm ra: U = Ủ = Ấm = Ôn 温 “ wen” = Nốn = Náu = Nấu =Nướng 酿 “niang” = Chường = Chưng 蒸 “zheng” = Chứa = Chắt = Chất = Cất =Kiếu 窖 “jiao”. Nói “Nấu một mẻ rượu” hay nói “Cất một mẻ rượu” cũng nằm trong Nôi Khái Niệm đó cả.
-
Từ CẢ là từ gốc nhất, nó nở ra như chia Dương Âm thành CON và CÁI (Con/ Cái là cặp từ đối). Từ Con và Cái khi dùng làm lượng từ thì Con dùng cho chuyển động như con người, con vật, con sông, con thuyền, con xe; Cái dùng cho bất động như cái bàn ,cái ghế, cái cây; kể cả sinh thực khí cũng dùng lượng từ tương ứng như vậy. Con=Công=Chồng=Cha=Ba . Cái=Mái=Mẹ , nên người Việt gọi bố là Cha hoặc Ba, gọi mẹ là Cái. Cái (= số Hai) đại diện cho Lớn, vĩ đại, như sông Cái, đường Cái, cầm Cái; nhưng Cái cũng đại diện cho Bé nhỏ, tầm thường nhất (theo nghĩa phiếm chỉ) như cái ong cái kiến, cái rau cái rác. Ba đại diện cho Lớn, tôn nghiêm như Ba ngôi (Thiên-Địa-Nhân, Cha- Con- Thánh thần), Ba tòa; nhưng cũng đại diện cho Xấu xa (theo nghĩa phiếm chỉ) như ba trợn, ba xạo, ba láp, ba lăng nhăng, ba thằng cướp, ba Tàu ( đến người Hoa ở Chợ Lớn cũng chỉ gọi những người Hoa buôn gian bán đểu là “ mấy cha ba Tàu”).
-
Ngôn Ngữ Đơn Âm Trích của học giả Vương Chấn Ninh (Trung Quốc): 2) Kinh Dịch là một trong các nguyên nhân làm cho Hán ngữ trở thành ngôn ngữ đơn âm. Nguồn gốc của Hán ngữ, Hán tự Các ngôn ngữ nguyên thủy và ngôn ngữ chín muồi trên thế giới đều là ngôn ngữ đa âm [nguyên văn: phức âm]; rất hiếm có ngôn ngữ đơn âm. Tôi không nắm được bất kỳ một ngôn ngữ chín muồi nào khác là ngôn ngữ đơn âm như Hán ngữ. Gần đây các nhà khảo cổ phát hiện 16 nghìn năm trước, người dân Giang Tây đã thu thập lúa dại để làm lương thực chính. Cho nên hơn 10 nghìn năm trước đã hình thành văn hóa Trung Hoa. Ta có thể tin rằng hồi ấy họ đã có ngôn ngữ. Ta cũng có lý do có thể giả thiết những ngôn ngữ mà tổ tiên ta sử dụng hồi ấy là ngôn ngữ đa âm. Thế thì vì sao sau này lại biến ra thành Hán ngữ đơn âm? Từ Hán ngữ đa âm biến thành Hán ngữ đơn âm nhất định phải trải qua một quá trình rất dài, hơn nữa nhất định phải có lý lẽ của nó, vì đây là một chuyện rất độc đáo. Tôi cho rằng thời đại hình thành văn hóa Trung Hoa, thời đại hình thành Hán ngữ đã chịu ảnh hưởng từ tên gọi các quẻ trong Kinh Dịch, từ Kinh Dịch phát triển ra quan niệm ở tầng sâu cho rằng tinh giản là đẹp, cô đọng là đẹpTôi có một giả thiết mạnh dạn như sau : sự biến đổi đó chịu ảnh hưởng của Kinh Dịch. Tên quẻ [quái danh] là đơn âm. Càn, Khôn, .... đều đơn âm cả. Đó là những từ tầng lớp thống trị sử dụng, có tính chất thần bí, có ảnh hưởng lớn, đọc lên có sức mạnh. Lâu ngày nó sẽ hình thành một giá trị quan coi trọng ký hiệu [phù hiệu] đơn âm, về sau ảnh hưởng tới toàn bộ sự phát triển Hán ngữ. Hôm nay tại đây có sự hiện diện của các chuyên gia ngôn ngữ; ý kiến của tôi là rất mạnh dạn, hy vọng sẽ không bị các nhà ngôn ngữ học đập cho tơi bời. Chúng ta xem : Nguyên, Hưởng, Lợi, Trinh, Cát, Hung, Âm, Dương, Nhật, Nguyệt, Thiên, Địa - những chữ đơn âm này có thanh có sắc, có sức nặng, nói ra có tác động, dĩ nhiên có ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của toàn bộ ngôn ngữ văn tự. Cho nên vừa rồi tôi nói tôi đoán là Hán ngữ, Hán tự sở dĩ biến thành ngôn ngữ văn tự đơn âm là có quan hệ khăng khít với Kinh Dịch. ( Nguồn: 杨振宁:《易经》对中华文化的影响 ) Để trao đổi, mời bạn đọc xem tiếp bài trích trên mạng viết theo sách của Hà Văn Thùy, dưới đây: Cho đến nay, có lẽ ít người để ý rằng, tiến trình hình thành dân cư Việt Nam có khoảng trống lớn. Từ giữa thế kỷ XX, khảo cổ học xác nhận, người Khôn ngoan (Homo sapiens) có mặt đầu tiên trên đất nước ta tại di chỉ Sơn Vi 32000 năm trước. Nhưng những khám phá di truyền học gần đây cho thấy, người tiền sử đã từ châu Phi theo bờ biển Ấn Độ tới Việt Nam khoảng 70.000 năm trước. Khám phá của các nhà di truyền học là đáng tin vì khảo cổ học cũng đã phát hiện bộ xương người Mongoloid tại Lưu Giang, Quảng Tây 68000 năm tuổi, một sọ người Australoid 60000 năm trước tại sa mạc Mungo nước Úc. Như vậy, di truyền học đã đẩy thời gian người tiền sử xuất hiện trên đất nước ta xa thêm 40.000 năm. 40000 năm ấy là khoảng trống vô tận của khảo cổ học, chắc chắn đã vô tăm tích nếu không được ghi dấu trong bộ gen của chúng ta! Vấn đề đặt ra là, trong thời gian thăm thẳm ấy, tổ tiên chúng ta sống ở đâu và hoạt động như thế nào? Theo nhiều nghiên cứu thì vào thời Băng Hà, mực nước biển thấp hơn hôm nay 130 mét, Thái Bình Dương bị thu hẹp thành những biển nhỏ. Giữa chúng nổi lên lục địa Sundaland nối từ Đài Loan xuống Indonesia và Hainanland ở phía nam đảo Hải Nam, là thềm lục địa Biển Đông của Việt Nam. Về cấu tạo địa chất, thềm Biển Đông là nối dài của kiến tạo địa chất Trường Sơn vươn ra biển. Chưa có nghiên cứu nào về khi hậu Đông Nam Á thời Băng Hà, nhưng dựa trên khí hậu chung Trái đất thời đó, có phần chắc rằng, Đông Nam Á không nóng và ẩm như bây giờ mà có lẽ khô và mát. Trong điều kiện lúc đó thì khi hậu như vậy là thuận lợi nhất cho động, thực vật và con người sinh sống. Từ châu Phi, vượt qua cửa Hồng Hải, đoàn người di cư tới đất Yemen. Một bộ phận dừng lại ở đây vì bị bức thành băng phía bắc chặn đứng. Một bộ phận đi về hướng mặt trời mọc. Từ bờ Ấn Độ dương, họ băng qua eo biển rộng 120 hải lý, tới đảo Mã Lai, sau đó tới quần đảo Indonesia. Một số đi tiếp tới các đảo khác ở Thái Bình dương và châu Úc. Một bộ phận từ mạn tây Borneo đi lên phía bắc, tiến vào đồng bằng Hainanland và Sundaland (1). Gặp môi trường thuận lợi, họ hòa huyết, sinh sôi cho bốn chủng người mà sau nay khoa học đặt tên là Indonesian. Melanesin, Vedoid và Negritoid, cùng thuộc loại hình Australoid. Trong đó, chủng Indonesian chiếm đa số (2). Khoảng 50.000 năm cách nay, người từ Hainanland và Sundaland đã đông đúc. Một bộ phận di cư về phía đông, tới các hải đảo Thái Bình Dương và châu Úc. Một bộ phận băng qua đất liền Việt Nam, Mianmar vào chiếm lĩnh Ấn Độ. Có thể một nhóm người khi tiến về phía Tây, đã dừng lại tại khu vực Phú Thọ, trở thành chủ nhân văn hóa Sơn Vi 32000 năm trước và để lại di cốt sớm nhất của người tiền sử trên đất liền Việt Nam. Không hiểu vì sao, chúng ta không phát hiện được đi cốt người tiền sử ở Việt Nam sớm hơn niên đại 32000 năm cách nay, mặc dù di truyền học cho thấy 50000 năm trước, người xưa đã băng qua Việt Nam tới Ấn Độ. Khoảng 40000 năm trước, khi khí hậu phía bắc được cải thiện, người từ Hainanland và Sundaland đi lên khai phá đất Trung Quốc. Khoảng 20000 năm trước, tại Hainanland, người cổ thuần hóa được cây kê và cây lúa khô (lúa nương, lúa lốc). Nhờ tự túc được một phần lương thực, đời sống được cải thiện, nhân số tăng nhanh, phân công lao động xuất hiện. Tại đây con người nảy sáng kiến mài đá cuội thành búa, rìu, giúp vỡ đất đề cấy trồng. Từ 18000 năm trước, khí hậu trở nên ấm nóng, băng hà bắt đầu tan, mưa nhiều hơn, nước biển dâng lên mỗi năm một cm. Một số nương trồng kê ngập nước, diện tích kê bị thu hẹp. Tuy nhiên, cũng lúc này, một số chủng lúa khô lại phát triển tốt hơn trong môi trường nước. Con người chuyển sang chăm sóc những ruộng lúa nước. Nông nghiệp lúa nước ra đời cùng với thuần dưỡng gà và chó. Khoảng 15000 năm trước, nước biển dâng cao, ngang với mức hiện nay. Đồng bằng Hainanland, Sundaland bị chìm trong nước. Do nước lên từ từ nên người cổ đã di chuyển lên vùng đất cao xung quanh: các đảo của Mã Lai, Indonesia, miền nam sông Dương Tử, đất Việt Nam… Khoảng 18000 năm trước, tổ tiên ta định cư ở Hòa Bình và sáng tạo nền văn hóa Hòa Bình nổi tiếng (3). Một điều khiến giới khảo cổ đau đầu là trong khi nhiều đoán định cho rằng, khoảng 15000 năm trước, lúa nước đã được trồng ở nơi nào đó tại Đông Nam Á nhưng trên thực tế, những di chỉ khảo cổ có dấu vết lúa nước trong vùng tuổi lại khá muộn! Nay có thể giải thích là, cái nôi của lúa nước là tại đồng bằng Hainanland. Cả bào tử phấn hoa từ cây lúa trồng đầu tiên cũng như di cốt chủ nhân của chúng đã bị chìm trong lòng nước. Ngày nay, nhiều khảo sát ADN cho thấy, trong dân cư Đông Á, người Việt Nam có chỉ số đa dạng di truyền cao nhất, có nghĩa, người Việt Nam là dân cư cổ nhất ở khu vực. Điều này có thể được giải thích là đồng bằng Hainanland, hay thềm Biển Đông chính là cái nôi của dân cư Đông Á mà phần lõi của khối dân cư ấy, khi nước dâng đã di cư lên đất Việt Nam. Do khoảng di chuyển quá ngắn, kiểu như từ chân lên lưng chừng đồi nên các nghiên cứu ADN kết luận: “Người tiền sử từ châu Phi theo đường Nam Á đến Việt Nam 60-70000 năm trước.” Đến Việt Nam nhưng không phải là đất liền Việt Nam hiện tại mà là thềm biển Đông của Việt Nam. Kết luận được rút ra ở đây là: thềm Biển Đông là cái nôi của người Việt. Tại đây, tổ tiên chúng ta đã gặp gỡ, yêu đương, lao động và sáng tạo ra nền văn minh nông nghiệp đầu tiên của nhân loại. Cũng từ đây, nhiều thế hệ người Việt lên đường mở đất, gieo văn minh trên khắp châu Á, châu Âu và cả châu Mỹ. Hy vọng rằng, sau này, nhờ tiến bộ khoa học, cùng với khai thác tài nguyên thềm lục địa, chúng ta sẽ xây dựng khoa khảo cổ hải dương học, tìm lại vết tích của tổ tiên xưa. Bảo vệ Biển Đông cùng Hoàng Sa, Trường Sa không chỉ giữ gìn lãnh hãi mà còn bảo vệ cái nôi thiêng liêng, nơi tổ tiên chúng ta lần đầu đặt chân lên đất châu Á, 70000 năm trước. Tham khảo: 1- Stephen Oppenheimer. Địa đàng ở phương Đông. NXB Lao Động, H, 2004 2- Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB ĐH&THCN. H, 1983 3- Hà Văn Thùy. Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008. © Hà văn Thùy ( Nguồn: Đàn chim Việt ) Và xem tiếp bài dưới đây ( Xin lỗi là có chèn những đoạn Lãn Miên chú thích viết trong ngoặc đơn),sưu tầm từ cuốn “Dân tộc bách khoa toàn thư”, trang 424, NXB Đại bách khoa toàn thư, Bắc Kinh tháng 5 – 1994. Trang 424 phần viết về dân tộc Việt: Việt là tên gọi chung các tộc người Việt cổ đại ở miền Nam Trung Quốc. Thời Chiến Quốc gọi là Bách Việt 百 越 ( LM chú thích: ở đây dùng chữ Việt 越 ,mà LM đã giải thích là chữ “Việt đi” ) sử ghi là Bách Việt 百 粤, Việt 粤, ( LM chú thích: ở đây dùng chữ Việt 粤 mà LM đã giải thích là chữ “Việt ở, có trước. Các nét biểu ý để tổng hợp nên chữ nho này đã được học giả Đỗ Thành người Triều Châu, blog Nhạn Nam Phi, giải thích là: Vuông đất – cái nét hình vuông 口, tiếng Triều Châu cũng phát âm là “vuông”- của dân Cháy- chữ Thái 采, Triều Châu phát âm là “Chói”, ở Việt Nam còn có dòng sông Chảy, làm nghề Cày- hình cái cày cong ở dưới, tức dân nông nghiệp định cư thờ mặt trời”. Có ở định cư làm nông nghiệp rồi dân số phát triển đông lên mới đi mở cõi tiếp. Ở=U=Ư 于 =Ổ - theo QT, trường hợp này là những từ cùng có mẫu số chung là Vắng Tơi thì là cùng nôi logic khái niệm. “Từ Ổ” lướt thành đơn âm là “Tổ”, nghĩa là cái người đầu tiên. “Việt U” lướt thành đơn âm là “Vu 于”. Nước Ư Việt 于 越 hay nước Vu Việt 于 越 cổ đại cùng là một. “Vu Quê” lướt thành đơn âm là “Về”). lại nói phân bổ thậm rộng, trong đó có nhiều họ khác nhau, cư trú xen kẽ khắp nơi miền Nam. Bách Việt là một từ bao gồm các dân tộc, hoặc để chỉ một tộc thể theo sự phát triển của lịch sử mà có sự biến hóa. Nguồn gốc và phân bố: Về nguồn gốc tộc Việt, có quan điểm cho rằng có quan hệ sâu xa với Sở, truyền thuyết nói rằng nó cùng họ với Sở ( “dữ Sở đồng tính 与 楚 同 姓”), đều là hậu duệ của thần Chúc Dung ( “Chúc Dung chi hậu 祝 融 之 后”); ( LM chú thích: Chúc Dung, cổ Hán thư khi ghi lại truyền thuyết, và ngày nay khi các sách viết thì đều viết là chữ Chúc Dung 祝 融, Hán ngữ hiện đại phát âm là “trú dung”- zhu yong. Truyền thuyết Trung Hoa lại nói rằng: “Thời Hoàng Đế có thần Chúc Dung được Hoàng Đế giao cho việc bảo quản lửa”. Vậy không hiểu tại sao chữ Chúc Dung 祝 融 này chẳng có nét biểu ý nào thể hiện lửa cả, chữ Chúc 祝 là chúc mừng, chữ Dung 融 là hòa rộng. Còn chữ Chúc Dung 燭 熔 xưa hơn, Hán ngữ hiện đại phát âm cũng là “trú dung”- zhu yong, lại không được dùng. Chữ Chúc Dung 燭 熔 này đều có nét biểu ý là bộ lửa: Chúc 燭 Dung 熔. Chữ Chúc 燭 nghĩa là cây đuốc. Đuốc=Đốt=Đúc=Chúc=Cháy, nghề đúc là cái nghề phải đốt lửa. Chữ Chúc 燭 này có bộ Đỏ 火để biểu ý, nó là màu ngũ hành của lửa - do cặp từ đối nguyên thủy chỉ màu ngũ hành là Đỏ/Đen đại diện cho Lửa/Nước, chính ra cặp đối nguyên thủy là Nắng/Nước kể từ khi hình thành vũ trụ để tạo ra một cái Năng, cái Năng ấy đến bây giờ vẫn nhiều vô tận là ở Nắng và Nước; từ đối nguyên thủy thì là hai từ phải cùng mẫu số chung là Cùng Tơi, hoặc Vắng Tơi, Nắng và Nước cùng Tơi là N. Chữ Chúc 燭 ấy còn có bộ biểu âm là chữ Thuộc属.Thuộc=Thục. “Đỏ 火 Thuộc 属” đã lướt thành đơn âm là “Đuốc 燭”, cũng như “Cháy Thục” đã lướt thành đơn âm là “Chúc”, đều là của Việt cả, Đuốc là từ Việt, Chúc cũng là từ Việt, chẳng có từ nào gọi là “từ Hán Việt”. Còn các nhà hàn lâm thì nói: Đuốc là từ thuần Việt còn Chúc là từ Hán- Việt. Chữ giản thể viết chữ Chúc 烛 gồm bộ hỏa 火 , vẫn nguyên biểu ý, và bộ trùng 虫, đánh mất cái âm “úc” hay “uốc” để biểu âm, cũng coi như làm mờ lịch sử, nên chữ giản thể bị người Hoa phản đối cũng nhiều. Chữ Dung 熔 nghĩa là Nóng Chảy. Nóng Chảy = Nóng Cháy, đều cho hậu quả như nhau là Nóng.Nắng=Nóng=Nung=Dung=Dong. Chữ Dung 熔 này có bộ Nỏ 火 biểu ý lửa, thành ngữ Việt có câu “phơi cho nỏ nắng, hong cho nỏ lửa”, nó là màu ngũ hành đại diện lửa : Đỏ=Nỏ. Chữ Dung 熔 này còn có bộ biểu âm là chữ Dong 容 nghĩa là cái Dáng, Dáng=Dong=Dung, như trong từ chân dung là từ Việt Hán, câu thành ngữ Việt “Trông mặt mà bắt hình dong”. Cái âm dong này được mượn để biểu âm. “ Nỏ 火 Dong 容” đã lướt thành đơn âm là “Nóng 熔”. Cháy Nóng= Chúc Dong = Chúc Dung. Kết luận: Thần Cháy Nóng trong truyền thuyết Viêm Đế Thần Nông của người Việt và cả truyền thuyết Viêm Đế Thần Nông của người Việt đã được người Hán mượn để chế tác thành truyền thuyết Hoàng Đế có thần Chúc Dung 祝 融 coi việc bảo quản lửa, nhưng chữ Chúc Dung 祝 融 mà Hán thư viết lại chẳng có tí lửa nào, do mượn chữ nho có âm na ná – chúc dung - “trú dung”- zhu yong” na ná âm cháy nóng - để làm giả tá mà thôi ). có quan điểm cho rằng nó là hậu đại của Hạ Vũ v.v.Theo sự phát hiện ngày càng phong phú của bộ môn khảo cổ văn học hóa, các học giả thiên về coi trọng văn hóa thời đá mới khi thăm dò và thảo luận về nguồn gốc của người Việt. Có học giả cho rằng người sáng tạo ra đồ gốm có khắc chìm hoa văn tìm thấy phổ biến ở vùng Đông Nam và Nam TQ là tiên nhân của người Việt hoặc Bách Việt ( LM chú thích: Các từ chỉ dụng cụ do người Việt làm ra ở thời đồ gốm sang thời đồ đồng tương ứng là : Chum - Chuông, Vại - Vạc, Bộng - Bồn v.v. đều có logic theo QT cả , dáng cái Chuông bằng đồng giống cái Chum bằng đất nung, dáng cái Vạc bằng đồng giống cái Vại bằng đất nung, dáng cái Bồn bằng đồng giống cái Bộng bằng đất nung. Chỉ có điều Chuông đồng là dáng lộn ngược của cái Chum sành, vì Chum là dụng cụ cho người dương dùng, còn Chuông thì chỉ dùng khi liên hệ với người âm . Cũng như cái Cối Vồ bằng gỗ hoặc bằng đá, có cái Chày, cũng gọi là cái Vồ nếu nó có cán để đứng cách xa cái côi, để dã vào cối, là dụng cụ người dương dùng, thì cái Cối Vồ bằng đồng có dáng lộn ngược lại, vì Cối Vồ bằng đồng chỉ dùng khi liên hệ với người âm và khích lệ người dương khi xung trận, nên danh từ Cối Vồ là cái khái niệm cụ thể đã được nâng nghĩa mà viết thành chữ nho Cổ Võ là một khái niệm trừu tượng. Người Việt cũng còn gọi vật thiêng ấy là Cối Đồng, chất liệu nó bằng đồng, còn tiếng của nó thì trống nên gọi là Tiếng Trống. Tiếng nó “Trong và vang Rộng” đã lướt thành đơn âm là “Trống”, tiếng nó trong suốt như Nước và Nắng, không nhìn thấy được. Khi nền văn minh Văn Lang của người Lạc Việt sụp đổ ở bờ nam sông Dương Tử, mọi Cối Đồng đều được chôn dấu dười lòng đất, sách “ Thuyết văn giải tự” của Hứa Thận thời Đông Tấn đẩu công nguyên có nói tới việc thời Tần- Hán về sau người ta khai quật được nhiều. Danh từ Cối Đồng người Hán gọi ngược là Đồng Cổ theo ngữ pháp Hán phụ trước chính sau ). Sử ghi Man hay Kinh Man thời nhà Thương đại khái bao gồm tộc Việt cổ đại. Trong giáp cốt văn cũng có chữ Việt (Việt tự粤 字), nó có quan hệ gì với tộc Việt khi cần nghiên cứu, nhưng rõ ràng là tộc Việt hoặc tiên nhân của họ cư trú rộng ở miền Nam TQ đã có văn hiến có thể chứng minh. Phạm vi phân bố của người Việt, có thuyết nói ở Giang Nam, có thuyết nói từ Cối Kê đến Giao Chỉ, có thuyết cho rằng bao gồm miền Nam TQ và Bắc Bộ VN, có thuyết cho rằng bao gồm cả các nước ở bán đảo Trung Ấn. Theo ý kiến nghiên cứu rộng rãi nhất thì địa bàn người Việt cổ đại là ở Giang Tô, Triết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến, Đài Loan, Quảng Đông, Quảng Tây, An Huy, Hồ Nam TQ và Bắc Bộ VN. Biến thiên lịch sử và quan hệ với vương triều trung ương: Cuối Xuân Thu đến đầu Chiến Quốc, tộc Việt từng thiết lập Việt Quốc lớn mạnh tại vùng là Giang-Triết ngày nay, truyền 8 đời vua dài 160 năm, triều cống nhà Chu, tôn Chu thiên tử là “Cộng chủ”, Chu thiên tử cũng cho ngai vàng, phong cho là “phương bá”. Việt Quốc lúc đó liên minh với quốc gia ở Trung Nguyên, coi sóc vùng lớn Giang-Chuân, xưng là “Bá chủ”. Sau bị Sở diệt, từ đó phân tán, các con tranh vị, có người xưng Vương, có người xưng Quân, hoạt động ở vùng ven biển Giang Nam, dần dần phục tùng nước Sở. Sau Chiến Quốc, ngoài danh xưng Bách Việt còn có danh xưng Dương Việt, tức tộc Việt ở vùng Dương Châu. Dương Châu bao gồm Chuân Nam, hạ du Trường Giang và miền đông Lĩnh Nam, có lúc bao gồm toàn bộ Lĩnh Nam, ngày nay.Bởi vậy Dương Việt thực tế cũng chỉ là danh xưng chỉ người Việt nói chung ở giai đoạn từ Chiến Quốc đến Tần-Hán. Thời Tần danh xưng rộng chỉ dân tộc ở miền Nam TQ là tộc Việt, sử ghi người miền Bắc gọi là người Hồ, người miền Nam gọi là người Việt (“ Bắc phương Hồ, Nam phương Việt 北 方 胡,南 方 越” . Do sự phát triển và biến hóa của lịch sử, thời Hán sơ, người Việt đã hình thành vài bộ phận tương đối lớn như Đông Âu (Đông Hải), Mân Việt, Nam Việt, Tây Âu. Chứng tích lịch sử tên tộc, nơi cư trú và hoạt động càng có sự khác nhau rõ ràng. Đông Âu ở vùng Ôn Châu ngày nay thuộc nam Triết Giang; Mân Việt ở Phúc Châu Phúc Kiến; Nam Việt ở Quảng Đông sau mở đến Quảng Tây và phía nam; Tây Âu đại khái ở miền tây Quảng Đông, nam Quảng Tây và Vân Nam; Lạc Việt 骆 (雒)chủ yếu phân bố ở Bắc Bộ VN. Các bộ phận Việt này đều có trung tâm chính trị riêng, đều có quan hệ mật thiết với vương triều Hán, như quân chủ đời thứ nhất của Mân Việt là Vô Chư và quân chủ đời thứ nhất của Đông Hải là Diêu đều nhận phong hiệu của Hán triều. Nam Việt vương Triệu Đà nguyên là người Chân Định tỉnh Hà Bắc, thời Tần làm huyện lệnh Long Xuyên ở quận Nam Hải, sau làm đô úy quận Nam Hải, thừa cơ cuồi Tần đại loạn, dùng vũ lực bình định Quế Lâm, Tượng Quận, chiếm hữu cả ba quận của Lĩnh Nam, thành lập nước Nam Việt, quan hệ với triều Hán lúc thì thần phục, lúc thi bội phản. Tây Âu hầu như chưa có tổ chức cình trị thống nhất, ở trạng thái phân tán bộ lạc, bị Tần chinh phục, sau thuộc Quế Lâm, Tượng Quận, sau lại bị Triệu Đà chinh phục, thành một phần của nước Nam Việt. Lạc Việt “骆 越”, cái tên này có người cho rằng Tây Âu và Lạc Việt là đồng tộc dị danh, có người lại cho rằng là hai bộ tộc khác nhau. Các trung tâm chính trị trên của tộc Việt về sau đều bị Hán Vũ đế chinh phục, đổi thành quận huyện của triều Hán. Từ đó về sau danh xưng Bách Việt không còn thấy sử ghi nữa, cái tên tộc Việt cũng hiếm gặp. Thời Tam Quốc ở vùng nước Ngô thống trị có người Sơn Việt (ý nói người Việt ở miền núi) phân bố ở những vùng ngày nay là An Huy, Giang Tô, Triết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây v.v. có giao lưu chính trị , kinh tế, văn hóa mật thiết với Hán tộc, dần dần đồng hóa với Hán tộc. Thời Tùy – Đường cong thấy sử ghi về người Sơn Việt, từ thời Tống trở về sau thì không thấy xuất hiện lại nữa. Ngoài ra thời Tam Quốc ở bắc Phúc Kiến còn có “An gia chi dân”, ở Đài Loan có “Sơn Di”; thời Tùy ở Đài Loan có “Lưu Cầu thổ dân”, nhưng cư dân trên đều được coi là một bộ phận của hậu duệ tộc Việt. Những tên tộc như Việt, Bách Việt đều bị biến mất trên sử ghi nhưng không phải là dân tộc cổ xưa này đã bị biến mất, mà chỉ là phát sinh biến hóa hoặc bị thay tên bằng tên các tộc khác. Hiện nay các dân tộc hệ ngữ Chooang Đồng, Miêu Dao và một số dân tộc ở Đông Nam Á đều có quan hệ sâu xa nhất định với tộc Việt cổ đại. Đặc điểm sinh hoạt và văn hóa: Bách Việt vốn có ngôn ngữ dân tộc và đặc điểm sinh hoạt, văn hóa. Đặc điểm sinh hoạt, phong tục Bách Việt chủ yếu là: Cắt tóc xăm mình, thích cánh kết bạn, ăn nhiều hải sản, ở nhà sàn, thiện nghệ đi thuyền và thủy chiến, thiện nghệ đúc dồng như gươm đồng thau, chuông đồng v.v. Ngôn ngữ thì có người cho rằng tương tự hệ ngữ Choang Đồng ngày nay. Khi dịch Việt ngữ sang Hán ngữ thì thường cứ một chữ Việt phải dịch bằng hai chữ Hán, ví dụ khái niệm yêu thì dịch bằng hai chữ “luyến chức 怜 职”, khái niệm nóng thì dịch bằng hai chữ “húc khẩu 煦 □” (LM chú thích: Hán ngữ cũng giống Việt ngữ là ngôn ngữ đơn âm và có thanh điệu. Hán ngữ có 4 thanh điệu. Việt ngữ có 6 thanh điệu, lại có âm vận phong phú hơn Hán ngữ rất nhiều nên rất ít từ đồng âm dị nghĩa. Bởi vậy Việt ngữ đã có thể từ bỏ ký tự tượng hình để dùng lại ký tự ghi âm , lần này là dùng chữ cái Latin thay cho chữ khoa đẩu xưa kia, là một sự đổi mới mạnh mẽ mang tính cách mạng của người Việt Nam trong quá trình hội nhập Đông - Tây. Do tiếng Việt âm vận phong phú nên rất nhiều âm vận không có trong Hán ngữ. Ví dụ cặp từ đối nguyên thủy Ít/Ắp – hai từ cùng Vắng Tơi- tương đương cặp từ đối nguyên thủy Nheo/Nhiều – hai từ cùng Tơi Nh, những âm vận trên đều không có trong Hán ngữ. Họ phải phiên âm bằng hai chữ thay cho một chữ Việt: Ít đọc là I- Tơ, Ắp đọc là A- Pa, Nheo đọc là Ni- Ao, Nhiều đọc là Ni- I- Ao. Đoạn ở sách trên viết: nóng dịch bằng hai chữ “húc khẩu 煦 □”. Thực ra đó là chữ Hực của tiếng Việt, “Hồng Rực” đã lướt thành đơn âm là “Hực”, Hán ngữ không có âm vận “ưc” nên phải phiên âm thành hai chữ là ư- k, họ phát âm “ Húc Khẩu” là “Xuy Khẩu”- Xukou. Đoạn ở sách trên viết yêu dịch bằng hai chữ “luyến chức 怜 职”, thực ra đó là chữ Luyến Chứ 怜 之, Chứ=Chi 之, Hán ngữ phát âm chữ này là “trư”-zhi, ở trên, sách đã dùng chữ Chức 职 cũng phát âm là “trư”-zhi chỉ là mượn âm na ná của chữ “chức vụ” để phiên âm chữ Chứ. Chữ Luyến Chứ 怜 之 tương đương Yêu Đấy 爱 的, Đấy=Đích. Từ Yêu là từ xuất hiện sau, nhưng nay được dùng nhiều hơn trong tiếng Việt so với các từ đồng nghĩa mà cổ hơn. Trước nó người Việt dùng từ Thương, ít ra là đến giai đoạn lịch sử Đàng Trong Đàng Ngoài vẫn dùng từ Thương (câu ca dao “Thương em anh cũng muốn vô, Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang” ). Vậy từ cổ nhất chỉ khái niệm tình yêu thì người Việt gọi là gì? Đó là từ Lòng, nó là cái “Lỳ bên trong” đã lướt thành đơn âm là “Lòng”, mắc Lòng rồi thì không thể dứt bỏ được, đôi trai giá đã phải Lòng nhau rồi ( “ Mẹ ơi con muốn lấy chồng. Mẹ ơi anh ấy có Lòng với con. Hẳn rồi, con đã phải Lòng anh ta”). Lòng=Lượn ( hát Lượn dao duyên tìm đối tượng của trai gái người Tày)=Luyến. Các cặp từ đôi theo nguyên tắc cổ trước kim sau là Lòng Thương, Thương Yêu, Luyến Ái). Ý kiến của Lãn Miên: Cũng giống như Hán ngữ, đã từ đa âm của cổ xưa rồi biến thành ngôn ngữ đơn âm.Tiếng Việt từ hệ ngôn ngữ Môn Khơ Me đa âm biến thành đơn âm, mà nguyên nhân của nó không phải là do Bát Quái, như ý kiến của Vương Chấn Ninh khi nói về sự đơn âm hóa của tiếng Hán. Mà ngược lại, ngôn ngữ hoàn tất thành đơn âm của tiếng Việt là có trước, rồi người Việt mới dùng ngôn ngữ đơn âm ấy làm công cụ , đặt tên cho các quẻ trong Bát Quái . Tên các Quái đều là tên Việt, cũng như tên 12 con giáp, điều này nhiều người đã chứng minh rồi. Ví dụ con trâu – “đầu cơ nghiệp” của nền văn minh lúa nước đã từ Tlu (tiếng Mường)=Tru=Trâu=Ngầu(tiếng Quảng Đông)=Ngưu=Sửu=Sỉu=Níu ( tiếng Hán). Nguyên nhân để tiếng Việt từ đa âm tiến bộ thành ngôn ngữ đơn âm là ở QT Vo, QT Nở và QT Lướt. Đơn âm thành nghĩa, nên một tiếng của Việt là một từ, mà nghĩa của nó có khi tương đương bằng cả một câu. Ví dụ từ Thẹn, nghĩa là: muốn ẩn vào bóng tối để không ai nhìn thấy. Bởi vì từ Thẹn này có nguồn gốc là từ màu ngũ hành của Nước: Nước= “Nậm” ( tiếng Thái)=Lầm=Thâm=Đậm=Đen=Thẹn=Than=Thủy= “Sủy”= “Suẩy” (tiếng Hán). Đen=Hoẻn=Hắc= “Hây” (tiếng Hán). Người Việt đã dùng màu Than để đặt tên cho khoáng chất Than, cũng như dùng màu Vàng đặt tên cho kim loại Vàng, màu Bạc đặt tên cho kim loại Bạc. Cũng như cặp từ đối nguyên thủy khi hình thành vũ trụ là Nắng/Nước, cặp từ đối nguyên thủy của màu là Thiên/Than, vì trời luôn luôn sáng còn than luôn luôn tối. Từ nôi khái niệm trên của Nước mà có các từ đôi Lầm Than để chỉ cuộc đời tăm tối như màu đen. Sang khái niệm trí tuệ thì Lầm chỉ sự hiểu biết kém chính xác, và có cặp từ đối nguyên thủy là Thấy/Than. Thấy là biết rò tường tận, khi nghiên cứu một cái gì mà đến lúc biết được rõ “Thật là cái ấy” đã lướt thành đơn âm là Thấy. Than là ngu tối chẳng biết gì. Để chỉ cụ thể hơn một con người trong lĩnh vực trí tuệ thì có từ Thợ nghĩa là người biết làm việc, “Thợ giỏi như Hiền” đã lướt thành đơn âm là “Thiện” tức thiện nghệ. Từ Thợ này theo QT Nở cho ra cặp từ đối nguyên thủy là Thầy/Thằng, tương ứng với Thấy/Than. Bạc là màu nguyên thủy của khái niệm Trắng hay dùng bây giờ, dùng lộn do quên nguồn gốc. Bạc mới chính là màu của Bạc và của Vôi, màu Bạc là từ tiếng Mường. Bạc=Bạch="Bái" (tiếng Hán). Trắng nghĩa nguyên thủy là không màu, do Nắng=Trắng=Trong=Trống, trong suốt cũng như Nước. Nói nắng vàng chẳng qua là do ảo giác khi bị ảnh hưởng của các tầng khí quyển. Màu Lầm là màu Than, màu Đen, nên vải nhuộm củ nâu rồi lại còn nhuộm bùn cho nó thành màu Lầm gọi là vải đồng Lầm, loại vải Lầm nhưng sáng bóng loáng thì “Lầm nhưng sáng” đã lướt thành đơn âm là "Láng". Đàn bà Việt đi làm đồng mặc váy vải Lầm, đi chơi chợ mặc váy vải Láng. Vải =Váy=Vận=Mấn=Quấn=Quần 裙. (Người Hán lại gọi cái váy là Quần, phát âm là “xuýn”). Vì chỉ có đàn bà Việt mới mặc váy ( “Cái thúng mà thủng hai đầu. Bên Ta thì có bên Tầu thì không”). Mảnh vải có Quấn có Quây mới thành Quẩn (cái váy) nên từ này được nâng nghĩa lên thành Quây Quần, rồi Quần Chúng (từ Việt Hán), nhưng chữ Quần 群 này phải viết bằng một chữ nho khác. Còn cái quần hai ống thì người Hán gọi là cái Khố 裤, là một từ Việt, cái mảnh vải quấn của đàn ông để “Không ló lộ” đã lướt thành đơn âm là “Khố”. Trên là nói về màu. Nói về mùi cũng vậy. Một Kẻ=Thẻ=Thể. Thể này theo QT Nở chia ra thành Thơm/ Thúi, trong nôi khái niệm đang chia là Thơm… Thum-Thủm…Thúi (Thum tiếng Khơ Me nghĩa là Thúi). Còn cái khứu giác là mũidùng để Ngửi=Hửi cũng phân biệt ra mùi do từ Hửi theo QT Nở mà chia ra thành Hương/Hôi . Do nghĩa Hương tương đồng Thơm nên người ta cũng gọi cây Nhang thơm là cây Hương. Còn từ Nhang chỉ sản phẩm là cây Nhang thì đã có từ nhiều ngàn năm trước, vì đó là sản phẩm do người Việt làm ra đầu tiên, dùng để đốt lên tưởng nhớ tổ tiên. Đến thời trung cổ tàu thuyền Án Độ, Ả Rập, Trung Hoa vẫn đến miền Trung Việt Nam mua hương liệu, nơi xứ sở của trầm và kỳ nam. Tục đốt lửa thờ chắc là có từ tiền sử, như làm Nhang thơm để đốt chắc là có từ khi nền văn minh Văn Lang sụp đổ, người Việt đốt cây đó lên khi tưởng nhớ nền văn minh xưa, “ Nhớ Lang” đã lướt thành đơn âm là “Nhang” ( Truyền thuyết có nói, dân Việt gọi Lạc Long Quân “Bố ơi sao chưa về”). Ngày nay trong tiếng Việt gặp rất nhiều từ được gọi là “từ Hán Việt” thực ra là do người Việt tự đặt ra, lại đặt theo ngữ pháp Hán, do sính ngoại. Ví dụ từ Vĩ Mô, trong Hán ngữ hiện đại làm gì có, cái khái niệm mà ta gọi là Vĩ Mô thì Hán ngữ gọi là Hồng Quan, lại là một từ Việt Hán, nghĩa là mắt nhìn rộng: Rộng=Hồng=Hoằng=Hùng=Vùng=Vuông; Mắt=Mắc (phát âm Nam Bộ)=Quắc=Quan. Từ cái nôi khái niệm của Việt đó mà có từ Hồng Quan. Còn từ Vĩ Mô nếu hiểu theo ngữ pháp Việt thì có nghĩa là: (cái) Vĩ ( ở) Mô?
-
Chữa khỏi bệnh đốt xương sống cổ chỉ bằng hai câu Người ngồi máy tính dài lâu Bệnh đốt sống cổ : choáng đầu, ù tai, Thị lực cứ bị giảm hoài, Cổ hay bị mỏi khiến người bất an Một vị tiến sĩ đã làm Luyện tập cơ thể chỉ bằng câu đây: 1.“Mày đấm tao, tao đấm mày Bảy mươi bảy cái, khỏi ngay bệnh này”: Tay phải đấm vai trái, Tay trái đấm vai phải Vươn càng sâu sau vai Tay đấm 77 cái Người trẻ tay dẻo dai Vòng sau lưng càng phải Người già tay cứng cỏi Vòng qua cổ đấm vai Tác dụng: máu thông lại Tuần hoàn sướng lâu dài. Rồi lại tập tiếp câu hai: 2. “Hít thở sâu quì lên xuống, Mười giờ mười phút kim chỉ, nhướng”: Bình thường ta hít thở Nửa lít khí vào ra Hít sâu phồng bụng to Khí vào bảy lần bội Luyện cơ hoành có lợi Dạ dày, gan, tỳ, trường, Công năng tiêu hóa cường, Lại giữ gìn nội tạng Đứng hít rồi quì xuống Thở ra hai mươi lần Khiến giao cảm thần kinh Được luyện rèn cho tốt Về sau dậy đột ngột Không chóng mặt, đau đầu. Hai tay thẳng vai nhau Song song nền mặt đất Như 9 giờ 15 phút Sau giơ lên một chút Như 10 giờ 10 phân Làm hai, ba chục lần Ngực, lưng… luyện cơ đủ Rồi kiễng chân, nghển cổ Như nhìn lén tường rào Giữ vài giây đủ lâu Rồi lại làm lặp lại Cơ gân đều được lợi. Một tháng tập như vậy Ngồi lại máy tính làm Cảm thấy thật đàng hoàng Không đau mỏi như trước.
-
Hiểu biết mới về tế bào ung thư (sưu tầm của Mỹ) 1. Tế bào ung thư là vốn có sẵn trong cơ thể mỗi con người. Chúng tăng trưởng từ số lượng ít đến hàng tỷ. Khi còn là số lượng ít thì không thể phát hiện được bằng các cách kiểm tra xét nghiệm thông thường. Khi bác sĩ nói với bệnh nhân rằng trị liệu xong thì không còn tế bào ung thư nữa thì chỉ có nghĩa là tế bào ung thư còn không đủ số lượng để có thể phát hiện thấy. 2. Khi hệ thống miễn dịch của con người đủ mạnh thì sẽ hủy diệt được tế bào ung thư, làm cho nó không thể phồn thực để dẫn đến tạo thành những khối u. 3. Nếu con người bị bệnh ung thư chứng tỏ người đó bị mất điều hòa dinh dưỡng. Nguyên nhân có thể là do: bẩm sinh, môi trường, đồ ăn, lối sống . 4. Thay đổi nội dung đồ ăn và phương thức ăn uống có thể tăng cường được hệ miễn dịch. 5. Liệu pháp hóa học giết được tế bào ung thư đang sinh trưởng với tốc độ nhanh, nhưng đồng thời cũng giết cả tế bào khỏe mạnh đang sinh trưởng với tốc độ nhanh, gồm tế bào tủy, tế bào đường ruột và dạ dày, tổn hại các cơ quan như gan, thận, phổi, tim v.v. 6. Trị liệu bằng phóng xạ khi giết chết tế bào ung thư đồng thời cũng đốt cháy bị thương tế bào lành gây tổn hại đến tổ chức, cơ quan của cơ thể. 7. Hễ bắt đầu hóa trị, xạ trị thì có thể giảm nhỏ được khối u, nhưng sử dụng lâu dài sẽ vô phương phá hủy được khối u. 8. Khi hóa trị, xạ trị sẽ gây ra tích lũy chất độc trong cơ thể quá nhiều, hệ thống miễn dịch bị trơ và trị liệu bị mất tác dụng, làm cho bệnh nhân lúc đó sẽ mắc phải những chứng bệnh phát sinh khác. 9. Hóa liệu, phóng liệu sẽ làm cho tế bào ung thư sản sinh đột biến, kết quả dẫn đến sản sinh kháng tính nên càng khó bị tiêu diệt. Nếu mổ sẽ làm cho tế bào ung thư phát tán đến các bộ phận khác. 10. Làm cho tế bào ung thư bị đói cũng là một phương pháp, không cung cấp nhu cầu dinh dưỡng cho nó có thể sinh sản. 11. Nhu cầu dinh dưỡng của tế bào ung thư là: A-Đường. Đường là dưỡng phần tốt nhất cho tế bào ung thư. Nhưng nếu thay đường bằng NutraSweeet, E qual, Spoonful v.v. là những vị ngọt nhân tạo Aspat Ame thì lại hại cho cơ thể. Tốt nhất là dùng các thứ thay đường từ tự nhiên như một chút xíu mật ong Manuk a Honey hoặc Molasess. Dùng muối biển tốt hơn là muối ăn thông thường. B-Sữa sẽ sản sinh dịch dính bám vào đường ruột dạ dày làm đẩy nhanh sự sinh trưởng tế bào ung thư. Dùng sữa đậu không đường có thể làm đói tế bào ung thư. C-Tế bào ung thư thích môi trường axít. Ăn cá tốt hơn thịt, ăn chút ít thịt gà tốt hơn thịt lợn. D-Khẩu phần ăn nên 80% là rau, nước quả, ngũ cốc, ít trái cây tươi, có thể tạo ra môi trường kiềm (ví dụ một cốc nước chanh vắt không pha đường uống trước khi ăn cơm), 20% là món ăn nấu chín gồm cả đậu. Hàng ngày uống nước trái cây tươi bao gồm cả nước giá đậu, ăn hai ba lần rau sống. E-Tránh cà fe, trà, sô cô la, có thể uống chè xanh, nước lọc tinh khiết, không dùng nước chưng cất. 12. Chất xơ trong thịt không dễ tiêu hóa, nó thường lưu trữ trong ruột, bị thối sinh ra độc tố 13. Hệ thống miễn dịch ( IP6, Flo r-ssence, Essiac, Anti-oxida nts, Vitamins, Minera ls, EFAs v.v. ) có thể làm cho những tế bào sát thủ trong cơ thể tiêu diệt được những tế bào mà cơ thể không cần. 14. Bệnh ung thư là một chứng bệnh nội thể với lại tâm linh. Tinh thần tích cực và chính diện thì có thể tránh được việc sinh trưởng tế bào ung thư. Tức giận, không tha thứ, tạo thành áp lực trong cơ thể dẫn đến tính ghen ghét. Hãy sống với tinh thần yêu, tha thứ, thoải mái với hưởng thụ cuộc sống. 15. Mỗi ngày vận động, hít thở sâu để lợi dụng được nhiều dưỡng khí. Liệu pháp dưỡng khí là một quan niệm mới. 16. Chú ý trong sinh hoạt hàng ngày: A-Không dùng đồ đựng bằng nhựa trong lò vi sóng. B-Nước uống chứa trong chai không cất trong tủ lạnh. C-Không dùng màng bảo vệ trong lò vi sóng. D-Hâm nóng đồ ăn bằng lò vi sóng phải dùng đồ đựng bằng thủy tinh hoặc sứ trắng để tránh sinh ra chất dioxin. E-Đồ ăn, canh, khi hâm phải đổ ra đồ đựng bằng thủy tinh hoặc sứ. ( Bổ sung cho bài Tự chữa bệnh ung thư bằng niệm câu “Nam mô A Di Đà Phật “ )
-
Ngồi duổi thẳng hai cẳng chân song song như hai đường ray, xoay cho hai bàn chân xòe ra chữ bát rồi dập mạnh lại cho hai đầu ngón cái đập vào nhau (tất cả các ngón chân đều bị rung đồng thời khớp gối cũng bị vặn), góc chữ bát càng rộng và tốc độ đập càng nhanh càng tốt.
-
Luyện tập gõ ngón chân Tập cho khỏe vốn có nhiều Nên chọn một kiểu, tập đều thường xuyên Gõ ngón chân, kiểu dễ làm Một vị trưởng lão nước Hàn làm qua Người ta quá bảy chục già Cổ chân, đầu gối thường là yếu suy Đi lại lỡ ngã thì nguy Tập gõ chân, lại tức thì trẻ ra: Mắt tinh, óc tỉnh, hết già, Phản xạ nhanh nhậy như là thanh niên Bài này cứ tập thường xuyên Trong nhà, lúc rảnh, chẳng phiền thời gian Mười phút gõ được một ngàn Nhiều, nhanh càng tốt, cứ làm cho chăm Lúc đầu gõ khoảng một trăm Quen rồi nâng đến hai trăm là vừa Năm tháng sau thấy không thừa Gõ liền nghìn cái cũng vừa sướng chân: Ngồi, hai tay chống sau lưng, Thân thẳng, buông lỏng, mà không cúi chùng, Hai chân duỗi thẳng song song, Hai gót là đế, hai bàn chân vuông, Xòe cánh quạt mở hai bàn, Rồi gõ hai ngón cái liền chạm nhau, Mở càng rộng, tốc càng mau Càng có hiệu quả sướng đầu ngón chân Mở ra, dập lại nhiều lần Lúc đầu miệng đếm được gần một trăm Sau rồi cứ vậy làm chăm Đủ mười phút tức được gần nghìn thôi. Gõ ngón chân thực có lời: Mạch máu dãn nở, máu thời lưu thông, Hỏa khí trên não xuống dần, Óc được tỉnh táo, sắc thần nhậy nhanh Da dẻ cũng đẹp dần dần Người già cải lão hoàn đồng, dẻo dai. Tập này khuyên khắp mọi ai Học sinh, trí thức , thường ngồi ghế lâu Gõ ngón chân, thoáng cái đầu Đi thi dễ đỗ, làm giàu dễ ra Thường xuyên cứ tập trong nhà Tránh được bệnh tật với là thuốc thang.
-
Nam Phương- thơm thảo người Nam (南芳) Nên nhiều hồng phúc là nàng Hồng Nương (洪娘) Có tài có vốn là thường Luôn giành thắng lợi thương trường Kim Anh (金英)
-
Vi vu sáo thổi lòng ta Minh là tiếng hót đưa ra, gọi Mừng Minh Vi thành tiếng My chung Họa My Hoàng Hậu nhất vùng nhạc ca Hoàng là vua của muôn nhà My là nét đẹp rõ ra dáng người
-
Cấp cứu bệnh tim Ai thường bị nghẽn cơ tim Sẵn hai viên Asperin đầu giường Vài triệu chứng chớ coi thường: Hàm dưới đau dữ, lạnh lường mồ hôi Cơ tim dù chớm nghẽn rồi Vẫn chưa cảm giác ngực người đau đau Bệnh tim phát lúc ngủ sâu Đa phần người ngủ vẫn rầu ngủ mê Chỉ khi đau ngực ê chề Mới bị thức tỉnh, dầm dề mồ hôi Bấy giờ phải vội ngậm ngay Hai viên thuốc đã sẵn bày Asperin Ngậm tan rồi, uống nước liền, Gọi xe cấp cứu đưa miền Nhà thương Ngồi tựa ghế, chớ nằm giường ! Báo bác sĩ biết đã dùng Asperin. Thông tin này đã đưa lên Bạn chuyển ngay rộng, nhân lên gấp mười Ít ra cứu được một người Bí quyết cấp cứu, giúp đời nhân duyên.
-
Tên người Ngữ pháp chân chính của tiếng Việt là như trong các câu Kiều, tức như cách nói năng hàng ngày của người dân Việt hàng ngàn năm xưa nay vẫn thế. Bởi vậy Phạm Quỳnh mới nói: “Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn; tiếng Việt còn, dân tộc Việt còn”. Cao Xuân Hạo đã nêu ra cái ngữ pháp đó của tiếng Việt là qui tắc “Đề và Thuyết”. Có nghĩa là trong câu nói của người Việt không có chia ra theo kiểu “Chủ ngữ-Vị ngữ-Tân ngữ” như ngữ pháp tiếng Pháp, mà chia ra theo kiểu “Đề và Thuyết”. “Đề” là cái người nói cần đề cập đến, “Thuyết” là cái có đề rồi mới nói tới để giải thích cho đề. Ví dụ so sánh hai câu: “Tên đặt hay quá” và “Đặt tên hay quá”.Trong câu đầu “Tên đặt hay quá” thì “Đề” là Tên, là cái người nói muốn đề cập đến, muốn nêu ra để bình, còn xuất xứ của nó từ đâu không quan tâm, nó được “Thuyết” là Hay. Ý ở câu này là người nói muốn khen cái tên.Trong câu sau “Đặt tên hay quá” thì “Đề” là Đặt, và nó được “Thuyết” là Hay. Ý ở câu này là người nói muốn khen ai đó là người đã hoàn thành cái việc đặt này. Nếu cứ căn cứ vào ngữ pháp nước ngoài làm chuẩn để chấm điểm cho hai câu nói trên thì sẽ cho chúng điểm kém vì bị “đổ tội” cho là “câu cộc lốc”. Về kết cấu từ ghép thì theo ngữ pháp tiếng Việt là phải nói “xuôi” tức chính trước phụ sau, cái To có trước mới đẻ ra cái Nhỏ sau, cũng như vũ trụ có trước mới đẻ ra các thứ nhỏ hơn. Một con người được đặt một cái tên. Người=Ngôi=Tôi=Tui=Tau=Tên=Tâm=Tay=Ta=Ngã=Người. Một Tên là phải do hai Họ mới sinh ra được một tên, nên Họ trước Tên sau là ngữ pháp Việt. Dân tộc nào đặt tên người theo kiểu Họ trước Tên sau (kiểu chính trước phụ sau ) là do họ đã được thừa hưởng cái ngữ pháp tiếng Việt có trước ngôn ngữ của họ mà thôi. Do quá trình Hán hóa, từ ghép của tiếng Việt có rất nhiều từ đã bị ép ghép theo kiểu ngữ pháp Hán, phụ trước chính sau, những từ ấy gọi chính xác là từ Việt Hán, vì cái tố của từ là cái có trước, nó là của Việt , còn cái qui tắc ghép theo “ngược”, phụ trước chính sau kiểu Hán là có sau, bởi vậy phải gọi theo logic Trước- Sau là từ Việt - Hán. Ví dụ từ “Kinh Luân” (văn học còn dùng ám chỉ mặt trăng) thực gốc nó là từ “Lăn Quay” đã bị ép ghép ngược. Cái tố của nó vẫn còn là Việt: Lăn quanh quẩn=(lướt)=Luân, Quay theo trình=(lướt)=Kinh. Nhưng những từ Việt-Hán ấy được nâng ý lên thành “trang trọng” hơn (do tâm lý) nên đã đóng góp làm phong phú thêm tiếng Việt. Còn ba từ trong kết cấu Họ Tên của chính người Hán trong Hán ngữ hiện đại mới chính xác gọi là từ Hán- Việt, vì cái tố của nó là chữ Hán phát âm như người Hán phát âm, còn cách ghép thì lại Họ trước Tên sau như ngữ pháp Việt (chính trước phụ sau) trong khi người Hán nói năng theo ngữ pháp Hán là phụ trước chính sau (đáng lý ra họ phải viết Tên trước Họ sau như người Anh vậy). Do bị quán tính lịch sử (vốn xưa họ có Tên trước Họ sau) trước khi họ bị Việt hóa ở Trung Nguyên 5000 năm trước, nên khi đã theo văn Việt mà viết Họ trước Tên sau rồi thì họ vẫn quen xưng Họ, gọi Họ (vì quán tính nghĩ đó là cái Tên, đứng trước, theo ngữ pháp tiếng họ), và người đời, với tâm lý Hán hóa lại cho rằng “gọi thế cho nó trang trọng”. Ví dụ gọi cụ Hồ là gọi bằng Họ. Ở nhà quê “kính lão đắc thọ” người ta không gọi các cụ bằng tên vì nghĩ rằng như vậy “xược”, cũng chẳng gọi các cụ bằng họ, nên họ gọi thay bằng thứ,cụ Hai, cụ Ba, hoặc gọi thay là cụ “Chắt” nếu có con trưởng là trai, cụ “Hoe” nếu có con trưởng là gái. Vì nghĩ rằng nó là “trang trọng” nên người Việt cũng hay dùng từ Việt Hán để đặt tên. Hiểu được nghĩa của nó sẽ thấy đẹp. Ví dụ: KINH LUÂN: trải ánh trăng vàng HỒNG THANH: nổi tiếng Hồng Bàng văn minh THANH PHONG: xanh thắm quê mình HOÀNG DUY: giữ mãi lung linh sáng ngời MINH THIÊN: bài lý tuyệt vời THANH MY: tiếng Việt muôn đời nhạc vang LỆ THANH: tươi đẹp giang san VŨ MINH: sạch sẽ thênh thang bầu trời
-
Chỉ cần niệm lặp đi lặp lại "Nam mô A Di Đà Phật" với một lòng thành
-
Chữa bệnh ung thư bằng cách niệm Phật Trạng thái tâm lý của mình Ảnh hưởng miễn dịch, lập trình thành chương Tâm niệm là cái tối cường Là sức quyết định con đường tồn vong Sống một ngày, học trong lòng Sống một hôm biết vui trong mọi thì “Phải Vui Thật” gọi là gì? Đó chính là “Phật” bởi vì vô lo “Bút” xưa từng đã “Viết” cho Nặng thành “Bụt Việt”, chẳng mò mà tri: Mình mà nóng giận, tức thì Sản sinh độc tố khác gì hổ mang May mà còn có lá gan Lọc hết nọc độc, khỏi làm mạng toi. Công năng giải độc kém rồi Do cao huyết áp, tim thời đang suy Độc chẳng lọc hết, tức thì Đủ để giết mạng, chỉ vì giận gây. Hoa Kỳ nghiên cứu đủ dầy: U to, u nhỏ, ung ngay chỗ nào, Nặng, nhẹ chửa thấm vào đâu Cái Tâm mới chính là đầu nguyên nhân Bệnh nhân thắng được trăm phần Là do tâm niệm mà mần thành công. Tâm lý nóng giận, lo buồn Công năng miễn dịch nó liền giảm suy Thuốc vào cũng chẳng ích gì Công năng không có, đâu đi được hành. Tâm niệm – sức mạnh lòng thành Niệm Phật, tâm sáng, khiến mình an vui Sức miễn dịch lại sục sôi Thuốc vào trợ giúp, bệnh thời khỏi ngay. An nhiên niệm Phật ngày ngày Chẳng cho gì khác chen giày vò ta Tế bào não đẻ thêm ra Như thêm cảnh vệ để mà đấu tranh Ung thư sẽ bị teo nhanh Đúng như Phật đã dạy thành một câu: “Tâm tạo vạn pháp” là đầu “A Di Đà Phật !” nhiệm mầu yên vui Hít sâu vào, niệm “A Di” Tiếp niệm “Đà Phật” khi thì thở ra Tâm tưởng vui vẻ an hòa “Mình còn sống mãi” đó là thuốc Tiên. Đừng để tâm lý gây phiền, Tưởng tượng, tự dọa nó nghiền bản thân. Tâm niệm khơi dậy lòng tin Tế bào phấn chấn, cái nhìn lạc quan Giống như thai phụ gian nan Mang thai – u lớn, nhưng hòa toàn vui Nhìn bao bà chửa đấy thôi Thai lớn, sinh đẻ, làm vui cuộc đời. Ung thư cũng giống vậy thôi Vui vẻ niệm Phật, nó thời tự qua Như cây đu đủ ấy mà Khẳng khiu cây nhỏ, la đà quả sây Kiên cường cây để quả đầy Như người, ung bướu nó dầy trong thân Chịu đựng là đức phải cần Vui vẻ xử lý là phần niềm tin: Con người – vô tận tiềm năng Cơ thể thay đổi là trong mỗi ngày Mỗi cơ quan mỗi bắt tay Xử lý mọi việc đâu hay đợi mình Giỏi giang khéo léo quá chừng Ta đối cơ thể vô cùng biết ơn: Quả tim vốn đập không ngừng Từ nhỏ đến lớn chưa từng đình công Ai làm chu đáo vậy không? Ta đối tim phải tỏ lòng biết ơn Thấy tim mệt chớ có hờn Từ bi, thông cảm sẽ làm tim vui. Chứng ung thư cũng vậy thôi Tế bào vốn dĩ không tồi trong ta Do bị bức ép, thế là Tế bào phân hóa thành ra sai lầm Cơ thể thấy vậy chặn ngăn Công năng mà yếu, chặn ngăn khó toàn Đừng nên mổ, cắt tràn lan Không tận trừ được nguyên nhân hình thành Ta phải vận dụng cái Tâm Tế bào tự sửa, lại thành tốt hơn Niệm Phật mầu nhiệm phi thường Cảm thông tâm niệm, mở đường sửa sai Bào ung thư tự đổi thay Quay về hướng đúng, chẳng hoài tràn lan. Niệm Phật chẳng phải lan man Niệm Phật chẳng phải ai làm thay ta Niệm Phật, nước bọt tiết ra Lục phủ ngũ tạng như là nhuần tươi Thân tâm thư thái, yên vui Sóng âm xoa bóp khắp nơi tế bào Công năng huy động được cao Nâng cấp miễn dịch, bệnh nào cũng tan Ngay cả trước lúc cơm ăn Vui vẻ cầu nguyện phúc lành chúng sinh Ung dung nhai kỹ cho mình Thức ăn chuyển hóa dưỡng lành thân tâm.
-
Thời báo Hoàn Cầu (环球时报 网友评论.评论称中国在南海动武应缩小打击面可锁定菲越 2011-09-27 18:39 ) , cơ quan của ĐCS của TQ, ngày 27-09-2011 đăng bài của Ông Long , nhà phân tích chiến lược của Cơ quan đầu tư năng lượng Trung Hoa (作者:龙韬 中华能源基金委员会战略分析师), nói rằng : Trung Quốc nên đánh những trận nhỏ ở Biển Đông thì mới có thể ghìm chặt được Philippin và Việt Nam. Bài báo viết: Những năm 70 về trước cả thế giới chẳng có nước nào dị nghị gì về đường lưỡi bò chín đoạn khẳng định chủ quyền của TQ ở Biển Đông. Nó chỉ xảy “vấn đề” kể từ khi VNCH, rồi sau là Việt Nam độc lập thống nhất, xâm chiếm các đảo bãi ở Biển Đông. TQ ngoại trừ đã trừng phạt VNCH, lấy lại Hoàng Sa, trừng phạt VN ở biên giới trên bộ, còn đối với các hành động xâm chiếm Trường Sa của VN thì chưa có tiến hành khống chế gì nên mới để lại hậu di chứng như ngày nay. Đó là, một là các nước nhỏ nhâu nhâu đòi chia các đảo bãi Trường Sa của TQ ; hai là VN thì kéo Mỹ vào đồng thời lôi kéo các nước nhỏ xới vấn đề song phương giữa TQ và VN lên thành quốc tế hóa. Xu thế quốc tế hóa v/đ Biển Đông đã quá rõ ràng nhưng cũng chưa hoàn toàn thành hình. Người viết cho rằng bây giờ mới là lúc TQ cần lẳng lặng mà phân tích, nắm lấy cơ hội tốt mà nhanh chóng hành động. Các nước đang chạy đua trang bị vũ khí cho Biển Đông, kể cả những nước nhỏ thấy Mỹ “trở lại châu Á” coi như vớ được trái núi làm chỗ dựa, cũng nhào sắm vũ khí, nhỏ như Singapo cũng sắm máy bay tiêm kích, căng thẳng chiến tranh ở Biển Đông đang dần dần tích tụ. Thời gian không nằm ở phía TQ. TQ phải chủ đạo trong hợp tác khai thác, chỉ cần nêu điều kiện ưu đãi thật ngon là có thể đánh bạt được các tập đoàn dầu khí phương Tây, đồng thời đối với các hành động khai thác dầu khí xâm phạm lãnh hải của TQ thì phải “tiên lễ hậu binh” mà răn đe, đừng ngại chiến tranh qui mô nhỏ, đánh những trận qui mô nhỏ chính là phương thức tốt nhất để hóa giải căng thẳng chiến tranh, đánh vài trận nhỏ sẽ tránh được chiến tranh lớn cấp thế giới. Nói đến chiến tranh thì cứ xem trước mắt đấy thì thấy nếu nổ ra thì ai sẽ là người thiệt, TQ ở Biển Đông chưa khai một giếng dầu nào, quần đảo Trường Sa có 4 sân bay thì cũng chưa có cái nào của TQ đại lục, chiến tranh mà nổ ra thì ngàn giếng dầu đang khai thác ở Biển Đông sẽ biến thành ngàn ngọn đuốc, các cty dầu khí phương Tây sẽ bỏ đi hết thì ai là người thiệt nhất ? Đối với TQ mà nói thì Biển Đông lại là chiến trường tốt nhất. Người viết cho rằng ở Biển Đông chỉ cần đánh trận qui mô nhỏ là ghìm chặt được hai kẻ đang la ó hung hăng nhất hiện nay là Philipin và VN, giết gà dọa khỉ, không cần đánh như Mỹ đánh Irắc và Apganitan, mà phải đánh kiểu thật nghệ thuật, đánh là tất thắng, thành một kiểu giáo hóa đạo đức. Mỹ đang lo ở Trung Đông, không có sức để mở chiến trường thứ hai ở Biển Đông. TQ phải kiên trì nguyên tắc là có lý, có lợi, có tiết, mà quyết tâm chuẩn bị chiến tranh qui mô lớn và thực tế thực thi chiến tranh qui mô nhỏ. Một hành động chiến tranh qui mô nhỏ của nước lớn có thể gây chấn động thế giới một thời gian ngắn, nhưng về đại cục thì nó lại làm ổn định được khu vực và hòa giải được giữa các nước lớn, là cái phúc cho hòa bình thế giới.
-
Theo Nam Phương Nhật Báo (Quảng Đông) ngày 14-9-2011 đưa tin, ngày 13-9 Nhân Dân Nhật Báo có bài viết : Nhân dịp đón kỷ niệm 100 năm cách mạng Tân Hợi, nhà xuất bản Trung Hoa thư cục ở Bắc Kinh đã phát hành bộ sách “Trung Hoa Dân Quốc sử” gồm 36 tập. Đây là một trước tác nghiên cứu tiêu biểu nhất về sử Trung Hoa Dân Quốc, trong đó có cách nhìn đổi mới đột phá trong đánh giá Tưởng Giới Thạch và các nhân vật lịch sử khác, nhất là đánh giá khẳng định địa vị và tác dụng của Tưởng Giới Thạch trong chiến tranh kháng Nhật. Ông Uông Triều Quang phó khoa nghiên cứu sử cận đại viện khoa học xã hội Trung Quốc tiết lộ với ký giả Nhân Dân Nhật Báo rằng bộ sách này được bắt đầu biên soạn theo chỉ thị của Chu Ân Lại từ năm 1971 trong hội nghị công tác xuất bản toàn quốc, sau đó nhiệm vụ này được giao cho khoa. Từ năm 1981 đã xuất bản quyển 1 “Trung Hoa Dân Quốc sử”, cho đến khi toàn bộ 36 tập hoàn thành xuất bản là trong vòng 30 năm, đây là một sự kiện lớn trong nghiên cứu Dân Quốc sử. Điều được độc giả chú ý trong bộ sử này là : Khẳng định cống hiến của Quốc dân đảng trong kháng chiến; Đánh giá toàn diện hơn đối với Tưởng Giới Thạch. Có phương tiện thông tin đại chúng còn cho rằng bộ sách này thể hiện cái nhìn của đại lục đối với “Dân Quốc sử” đã có sự biến đổi “đảo lộn trời đất”. Cùng ngày, báo đưa tin Ban liên lạc cựu học viên Hoàng Phố ở Vân Nam và hội Hoa kiều hồi hương ở Vân Nam vừa tổ chức đưa về nước đợt đầu được 19 hài cốt tướng sĩ quân đội Quốc Dân đảng tử trận tại Miến Điện trong chiến tranh kháng Nhật. Tại Vân Nam sẽ có một nghĩa trang công viên vinh danh các liệt sĩ quân đội Quốc Dân đảng viễn chinh trong chiến tranh kháng Nhật. ( Đến khi nào sẽ có cuốn “Cổ đại sử” được viết với cái nhìn “ phan thiên phúc địa” ?)
-
Mỗi chuyện cổ tích Việt đều có tính minh triết, như chuyện bánh chưng bánh dầy. Nhưng mỗi ngôn từ của tiếng Việt cũng có tính minh triết vậy, cứ như nó sinh ra đã là như vậy. Luận về con người, người ta thường viết là “luận về cái Ngã” hay “bản Ngã”, còn nếu dùng từ Việt thì một chữ Tôi đã cho thấy hết, khỏi phải luận: Tôi chính là Tâm. Người=Ngôi=Tôi=Tâm. Nếu Tôi mà hành xử không trong sáng, làm cái gì cũng cứ Lạm cho riêng tư bất chính, thì Lạm tức nặng, nên Tôi nặng thành Tội, đánh vần là “Tôi nặng Tội”, đó là Tôi có Tội. Nếu Tôi không thấy thực tế thời đại, cứ giáo điều vào lý tưởng hão huyền, thì đánh vần là “Tôi huyền Tồi”, đó là Tôi Tồi, tôi thua kém người dân các nước tiên tiến. Nếu Tôi chỉ ham sắc đến quáng cả mắt để nhãn quan không nhìn xa trông rộng, không biết giữ thể diện cá nhân và dân tộc, thì đánh vần là “Tôi sắc Tối”, đó là Tôi ngu tối. Mọi việc Tôi làm, cho kết quả hay hoặc dở đều là do Tâm của Tôi mà ra cả, tức là từ cái “Lõi của Tôi”=(lướt)= “Lỗi”, đó chính là tiền đề của cái câu viết bằng chữ nho là “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Lỗi là do từ Lõi của Tôi, nên Tôi phải biết nói câu cửa miệng là “Xin lỗi” khi lỡ phương hại đến bất cứ ai dù lớn tuổi hay nhỏ tuổi hơn mình. Đúng như Đạo Phật dạy rằng: Tâm ta xoay đổi thường xuyên, Cũng thể thành Phật cũng liền Tà ma. Thiên đường, Địa ngục đó mà . Suy ra muôn việc cũng là do Tâm. Chân tơ kẽ tóc Phật răn. Mong người giác ngộ để làm sáng Tâm. Để học tiếng Việt được nhanh và đúng (cả đối với người Việt và người nước ngoài) chắc là phải bắt đầu từ học cái minh triết của mỗi ngôn từ tiếng Việt.
-
Tiếng Nghệ Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ Chưa ghé nỏ biết chi mô Quê choa giọng nói líu lô tức cười Con người thì van “con ngài” Con ruồi lại gọi “con ròi” đó nghe Cà dài là “trấy dái dê” Con bê lại gọi “con me” của bò Con trâu thì gọi “con tru” Bồ câu lại gọi “cù cu” đó nờ “Ẻ” hố xí - xuống “chuồng chồ” Chê giòi nhiều biểu là đồ “lắm troi” “Mọi” là con muỗi, đừng cười Xơi cá quả lại gọi xơi “cá tràu” Đường xa- “đàng ngái” đi lâu “Cái trôốc” là nói cái đầu đó mi Tiếng quê choa hắn ra ri: “Trôốc cha mi khái cạp”- đầu bố thì hổ tha Con gà thì gọi “con ga” “Mả cha” là mộ của ba mi nờ “Nói mớ” là nói nằm mơ “Mả ôông cha mi xéo!” là bố mày cút đi! Vớt tép thì gọi “cất te” Khuỷu chân lại gọi “lặc lè” mới hay Ngượng thì lại bảo là “rầy” Ngứa thì van “ngá” cho mầy biết thêm Gốc cây gọi cái “cộc cơn” Bàn tre thì gọi “cái mươn”, chớ ngồi “Đi nhởi” là nói đi chơi Ra sân lại gọi “ra cươi” nhởi hầy “Đọi nác” như bát nước đầy “Rú” là cái núi, “hói” này chỉ mương “Hun” là hôn hít khi thương “Cặp mui”chúm chím “ngó” thường “sọi”- xinh Trên em có “ả” có anh Mợ thì gọi “mự”, cô thành gọi “o” Quả bầu thì gọi “trấy bù” Con giun thì lại gọi như “con trùn” Chổi sể thì gọi “chủi cùn” Lười làm lại gọi “nhác mần”chảy thây Chúng mày lại gọi “tụi bây” Tôi-“tui”, tối-“túi” ra vầy “hom hom” “Ruốc” là tên gọi mắm tôm Muối gói lại bảo “mói đùm” biết chưa Nướng-“náng, luộc- “lọc” cho vừa Tán gái lại gọi “đi cưa” hết ngày Váy lại gọi “mấn” mới hay Anh “chộ” là thấy em này thương thương Anh thích lại bảo anh “sèm” Nhúng lại gọi “trụng” đừng đem ra cười “Giáp đít” là cái rế nồi Ngồi mòn đít lại bảo “ngồi mòn khu” Trai đầu, cha chức “ông Cu”, “Ông Hoe”, “ông Đĩ” là dù gái thôi “Xay ló”- xay lúa mà coi “Đâm gấu”-dã gạo một hồi trắng phau “Vò trôốc” là nói gội đầu Choa nói tiếng Nghệ với nhau quen rồi Ghé quê choa nhởi đôi hồi Khắp làng xởi lởi tiếng cười râm ran.
-
- 4
-
-
Giải thích những chữ nho viết theo kiểu “hội ý” Những chữ nho kiểu “hội ý” là ghép các chữ khác nhau lại thành một chữ để diễn đạt một ý, không có thành phần biểu âm mà lại đọc được thành một âm chẳng liên quan gì đến âm của các chữ cấu thành nó. Phân tích âm đọc ấy lại thấy nó chỉ đúng là âm của tiếng Kinh, chẳng có từ nào gọi là “từ Hán-Việt” cả . < Nghĩa của chữ lấy trong cuốn “Từ điển yếu tố Hán-Việt thông dụng” Viện ngôn ngữ học, NXB Khoa học xã hội-Hà Nội 1991> 1/ Chữ Vũ 武 (Từ điển giải thích là: 1. Sức mạnh làm cho người khác phải nể sợ (vũ thuật, vũ lực, uy vũ) 2. Thuộc về quân sự (vũ khí, vũ trang) 3. Dũng mạnh (vũ phu) Viết bằng chữ nho một chữ Vũ 武 này nhưng trong tiếng Việt thì Vũ và Võ là hai chữ có nghĩa khác nhau. Những nghĩa trên chỉ là những nghĩa mà về sau được Hán ngữ dùng, khi nó đã thành từ hàn lâm rồi. Chữ Vũ 武, người Hán phát âm là “vủ” (wu), người Việt phát âm là “ Vũ”. Nghĩa nguyên thủy của nó nằm trong biểu ý của nó, vì nó là chữ cấu thành kiểu “hội ý”. Cấu tạo của nó gồm chữ Chỉ 止( dừng) và chữ Qua 戈 (dáo), phát âm tương ứng của người Hán là “trử”(zhi) và “cưa” (ge), phát âm tương ứng của người Việt là “Chỉ” và “Qua”, không hề có một chữ biểu âm nào (để có cách phát âm) thêm vào trong cấu tạo của nó, thế mà nó lại được đọc là Vũ. “Trử” với “Cưa” thì lấy đâu ra âm “Vủ”? Nhưng “Chỉ” và “Qua” thì có cho thấy ý. Âm “Chỉ” là do Giao Chỉ, âm “Qua” là cái Dáo bằng đồng, là cái dáo kim loại đầu tiên trong lịch sử. Âm “Vũ” là do “Việt Cũ”=(lướt)= “Vũ”. Nguyên thủy chữ Vũ武này nghĩa là Giao Chỉ. Giao Chỉ tức là Việt Cũ. Vì theo QT: Ở=Đỗ=Đậu=Đứng=Đình=Đừng=Dừng=Giao=Giữa=Chứa=Chợ=Chỗ=Chỉ=Chơi=Bời=Bội=Hội=Họp=Góp=Gom=Nhóm=Nhau=Nhao=Dáo=Trao= =Chào=Choa=Qua < “chúng ta”=(lướt)=” “choa” >. Trong nôi khái niệm lớn này có những từ đôi Ở Chợ, Họp Chợ, Chơi Bời, thì cũng có từ đôi Chỉ Qua. Hai chữ ấy ghép lại với nhau là cảnh sinh hoạt ở chợ của người Giao Chỉ trao đổi khí cụ bằng đồng với kẻ thập phương đến đất Giữa. Từ cặp từ đối nguyên thủy Ù/U mang nghĩa Đi/Ở, theo QT: U=Vu=Vợ=Vũ=Việt (nói về dòng Mẹ). Phát âm tiếng Kinh chữ Vũ, nghĩa nguyên thủy của nó là hình ảnh cái “ Chợ bán dáo” (thời đồ đồng), các nhà nho gọi nó là chợ “Việt Cũ”=(lướt)= “Vũ”. Sôi động của cái chợ Việt cũ của người Giao Chỉ diễn tả trong nôi khái niệm lớn: Dáo=Giao=Chào=Trao=Ồn-Ào=Nhốn-Nháo=Xôn-Xao=Tào-Lao=Lạo-Xạo=Rào-Rào=Thao-Thao=Bát-Nháo=Rộn -Rạo=Lảo-Đảo, là khung cảnh trao đổi, giao lưu, chơi bời đến say sưa mới chia tay. Về sau mới có từ Vũ Khí là chỉ cái khí cụ của người Việt cũ, rồi sau mới thành từ hàn lâm là “vũ khí”, “vũ trang”. Cái dáo bằng đồng ấy không phải là dùng để đâm nhau, nó chỉ là đồ trang sức cho trai tráng, người ta biểu diễn, chào nhau, trao nhau, đều coi nhau là chúng ta. Chợ là chỗ đứng, chỗ dừng, chỗ chứa của mọi người, là chỗ người ta đừng nghĩ gì khác ngoài trao đổi và vui chơi với nhau. Chợ là Chơi nên có Hội, từ Hội Chợ là một từ đôi, ở hội chợ trai tráng thi thố với nhau kỹ năng thể lực, gọi là “Việt Đọ”=‘Vật Đọ”=(lướt)=Võ, trai ra Đọ gọi là Đô. 2/ Chữ Việt 越 mà tôi gọi là chữ “Việt 越 đi” (khi người Việt 越 đò qua Trường Giang ra khai phá vùng Hoàng Hà). Chữ Việt 越 gồm bộ Tẩu 走, bộ Cổn 丨và bộ Qua 戈, Hán ngữ phát âm tương ứng “Yue 越”, “Zou 走”, “ Gun 丨”, “Ge 戈”. “Zou 走” và “Gun丨” với “Ge 戈” làm sao lại đọc là “Yue” hay là “Việt” được?. Nhưng trong tiếng Việt thì chữ nho ấy có nghĩa là Nhảy Qua, Nhảy Qua tức là Vượt, mà Vượt=Việt. Nó là do QT: Ù=Vù=Việt=Vượt. Cổn=Cuồn-Cuộn (sóng nước). “Vù qua sông bằng cách dùng đò mà Lướt”=(lướt)= “Vượt”. < Nguyên từ cặp từ đối nguyên thủy Ù/U của nghĩa Đi/Ở >. Chạy=Nhảy=Nhanh=Nhẩu=Tẩu走. Vậy chữ Việt 越 này là đã được đọc nguyên thủy là “Việt”, là một âm tiếng của người Kinh, và chữ nho ấy của người Việt nói lên lịch sử của người Việt. 3/ Chữ Việt 粤 mà tôi gọi là chữ “Việt 粤 ở” (dân bản địa). Chữ Việt 粤 này gồm bộ Thái 采, Hán ngữ phát âm là “xai” (Lửa=Lả=Tá=Thá=Thái=Chái=Chá=Cháy=Chói: là dân mặt trời), bộ Vi 囗 , Hán ngữ phát âm là “wei”, (“Vuông Li”= “Vi”), và hình cái cày thêm dưới. Không có âm nào để nó thành “yue” như Hán ngữ đọc chữ Việt粤 ở. Nhưng vì là của tiếng Việt nên theo QT: U=Ư于=Ở=Vợ=Vu于=Vũ 武=Việt 粤 (là dân của dòng Mẹ = dòng Lửa = dòng Chim = dòng Tiên). Tiếp, U=Ư于=Ở=Ổ=Đỗ=Đậu逗=Đứng=Đình停=Đừng=Dừng=Giao交= =Giữa=Chứa=Chợ=Chỗ=Chỉ止=Chơi=Bời=Bội=Hội=Họp (hình thành những từ đôi như Chỗ Giữa, Chỗ Chứa, Ổ Chứa, Chỗ Đỗ, Chỗ Dừng, Chơi Bời, Giao Chỉ , Ở Chợ, Họp Chợ,Hội Họp, từ ghép Hát Bội là hát ở chợ). Người “Việt 粤 ở” này cũng chính là người Giao Chỉ . < Hát biểu diễn Việt Kịch có từ xưa ở vùng Lĩnh Nam TQ, còn ở Việt Nam gọi là Hát Bội. Hát Bội thường lấy nội dung những chuyện xưa, tức Tích Chương 昔 章là văn chương cổ tích, “Tích Chương”(lướt)= “Tuồng”, người không thấu từ Việt lại gọi là “tuồng cổ” thành ra thừa chữ cổ. > < Vũ 武 cũng nghĩa là Giao Chỉ. Việt 粤 cũng nghĩa là Giao Chỉ. Vậy ông Hạ Vũ là ai ? Hạ là cái ông Hời Ạ=Hời Dã=Hời Là, “Hời Ạ”=(lướt)= “Hạ”. Vũ là “Việt Cũ”=(lướt)= “Vũ”. Ông Hạ Vũ là ông “Hời Việt cũ”. Người Hời là người Việt cũ ở Quảng Bình, địa danh Động Hời=Đồng Hới=Vùng Huế, gọi là Huế (giọng người Đồng Hới là giọng vùng sông Ròn, Ròn=Dòn=Dinh=Gianh, nghe cũng đài các như giọng Huế, khác giọng các vùng quê xung quanh). Những nhánh nhỏ người Hời như người Rục, Kháng, Mày, Nguồn,Sách ở trong rừng sâu Trường Sơn là những nhánh nhỏ lẻ người Hời thoái hóa do hoàn cảnh lịch sử đưa đẩy bị sống biệt lập trong rừng sâu> 《Tham khảo chữ khoa đẩu viết về Hạ Vũ ở bia thờ: Chữ Khoa Đẩu ở đầm Nhật Nguyệt: Ngày 1-9-1959 ông Hoắc Bồi Hoa trước trú ở thị trấn Vĩnh Hòa Đài Bắc cùng vài người bạn đi thăm danh thắng đầm Nhật Nguyệt, phát hiện một số mảnh đá vỡ cạnh lều cỏ. Sau khi tìm hỏi và ngả giá xong ông mua hai tấm lớn nhất đem về cất ở nhà. Khoảng 1966 có tiệm “đặc sản Đài Loan”ở đầm Nhật Nguyệt thu mua văn vật miền núi, từng có dân miền núi đem những hòn đá có khắc chữ vằn vện đến ký gửi. Lâu không thấy ai mua, họ lại đến lấy về, từ đó mất tăm luôn. Hai tảng đá mà ông Hoắc Bồi Hoa mua về có khắc chìm chữ Khoa Đẩu. Sau nhiều nghiên cứu mà cũng chưa ai giải mã được. Sau đó trong buổi nói chuyện của giáo sư Vệ Tụ Hiền giới thiệu cuốn sách của ông “Quan hệ đồng bào miền núi Đài Loan và Việt Mân” trong đó có một tiêu bản điêu khắc chữ Khoa Đẩu ở bia đá Vũ Vương trong lục địa mà chữ tương tự như chữ ở đầm Nhật Nguyệt, mà bia Vũ Vương thì đã có cách nay 4200 năm. Chữ trên bia Vũ Vương là loại chữ đặc hữu của Hoành Sơn nên người ta lấy tên đỉnh cao nhất của Hoành Sơn là Câu Lâu để gọi loại chữ này là Câu Lâu văn 》 4/ Chữ Phong 封. Từ điển giải thích: 1. Ban cấp đất đai, bổng lộc 2. Tặng danh hiệu 3. Bịt kín, gói kín Nghĩa nguyên thủy của nó theo “hội ý” là gồm hai bộ Thổ 土 viết chồng lên nhau, ý là nhiều đất (vì theo QT: hai thành phần thì như 0+1=1=nhiều, hay 1+0=1 nhiều), bộ Thốn 寸(tấc) ý là có đo đạc, Hán ngữ phát âm tương ứng “thủ 土”, “xun寸” làm sao thành “phâng 封” như họ phát âm được?. Vậy âm “Phong封” là do tiếng Kinh, có nghĩa là Vùng, tiếng Choang thì “Phong 封” cũng có nghĩa là Vùng (xem mạng zhuangzu zai xian 壮 族 在 线), người Hán về sau mượn chữ đó và phát âm lơ lớ là “phâng”. Vì theo QT: “Phát cho nhiều đất trong cái Vòng”=(lướt)= “Phong” (giải thích xong 1 và 2 của Từ điển), vòng đây là cái vòng biên giới, và phải có đo đạc từng tấc đất (bộ Thốn寸). “Phải ở bên Trong”=(lướt)= “Phong”, nghĩa là bịt kín, như phong bánh khảo (giải thích xong 3 của Từ điển). Tuy nhiên Từ điển thì cho rằng cứ từ nào có viết băng chữ nho thì đó là “từ Hán Việt”. < Từ chữ Phong 封 này thử hỏi Vua Chu xưa từng phong đất cho những thần tướng có công, để mở mang mãi ra phía bắc thành Bách Việt, ông Vua Chu ấy là người ở đâu ? Chưa kể những cấp bậc của cái chức được phong đều có tên bằng tiếng Việt là Công 公, Hầu 侯, Bá 伯, Tử 子, Nam 男, mà Hán thư về sau dùng chữ nho để ký âm (kiểu “giả tá”), nghĩa chữ không logic tí nào, chỉ có cái âm là còn na ná tiếng Kinh: Công=Rộng (“công chúng” tức quần chúng rộng rải) là cấp chức được phong đất rộng nhất. Hầu=Hai, Bá=Ba, Tử=Tư, Nam= Năm. (Nghĩa của chữ nho mà Hán thư dùng ký âm không logic với nghĩa của âm tiếng Việt: Công 公 là ông, Hầu 侯 là đợi, Bá 伯 là bác, Tử 子là con, Nam 男 là trai (theo nghĩa chữ). Có thứ tự nào lại là “Ông, Đợi, Bác, Con, Trai” như vậy không?. Các nước Chư Hầu 諸 侯 đều là những nước thứ Hai (Thứ Hai=Chư Hầu) hình thành nên xung quanh vùng đất của Ông Chúa (Chu 周 Công 公, ở Việt Nam đền thờ Chu Công 周 公 có ở nhiều nơi), Vùng Chúa từng gọi là Phong Chậu=Phong 封 Châu 州 (Chậu=Chúa=Chủ=Chu 周=Châu 珠,州. Đồng bằng Châu Giang 珠 江 ở Quảng Tây 廣 西 và đồng bằng Chu Giang 周 江 ở Quảng Đông 廣 東cổ xưa là địa bàn của người Giao Chỉ, sau Hán thư gọi là xứ Lưỡng Việt 两 粤, ngôn ngữ của dân bản địa ở đó gọi là Việt ngữ 粵 語, đến thời Tần, Hán thì bắt đầu bị Hán hóa) >. 5,, 6, 7, 8/ Chữ Sơn 山 (từ điển giải thích là Núi), chữ Đồng 同 (từ điển giải thích là Cùng Như nhau), chữ Nhục 肉( từ điển giải thích là Thịt), chữ Bằng 朋 (từ điển giải thích là Bằng Hữu 朋 友 là Bạn) .Tôi giải thích nguồn gốc Việt của các chữ này qua bài viết “Bài sử vỡ lòng ngoại khóa” : Kỳ thi tuyển vào đại học, điểm sử không đạt yêu cầu, nhiều thí sinh vì không thích sử nên bỏ bài, thà lãnh điểm 0, tin vào điểm các môn khác sẽ gánh bù. Nếu học sử Việt 5000 năm văn hiến chắc học sinh sẽ không chán môn sử. Hãy nghe bài sử (kể chuyện) ngoại khóa cho học sinh cấp một trường làng: Các dân tộc trên đất nước Việt Nam gọi chung là người Việt, là con từ trăm trứng của Cha Rồng Mẹ Tiên. Hàng vạn năm trước người Việt viết chữ bằng Kẻ những vạch thẳng, như các con chơi bó Que đánh chắt, cũng có lúc lấy que xếp thành hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật, hình ông sao v.v. Đếm thì từ 1 đến 10. Phép tính cộng thì 0+1=1 hay 1+0=1, thành 1 thì là Nhiều hơn 0, hay 1+1=2, có 2 cũng đã là Nhiều. Có từ 2 trở lên là càng nhiều. Có nhiều người cùng nhau thì như một bó đũa, khó mà bẻ gãy được. Như một cái Bè kết bằng nhiều cây nứa, càng nổi hơn, chở được nhiều hơn. Nên mới có câu ca dao : “Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Một cây nứa thì cũng thẳng như một cái Que. Người xưa viết bằng một Kẻ đứng, thêm hai Kẻ đứng hai bên nữa thành ba, giống hình ngọn núi rồi, nhưng chưa vững vì chưa có đế. Thêm một nét kẻ ngang bên dười nữa như mặt đất bằng, thế là có đế rồi, vững rồi, đó là chữ Núi 山 Núi=Non=Son=San=Sơn. Núi có nhiều thứ quí tặng cho con người, gọi là “San sẻ cho Con”=(lướt)=Son. Nhiều thứ quặng quí trong núi như đá đỏ, rồi nhiều thứ đất có màu nâu , đỏ, vàng, tím v.v.người ta lấy về nghiền làm màu ve, màu sơn, gọi là Son, như thỏi son cũng làm thành hình nhọn như trái núi, có thỏi son màu đỏ, có thỏi màu hồng, màu nâu, màu thâm v.v. Vậy là Núi luôn làm ơn cho người, gọi là San tức san sẻ. “Sẻ Ơn”=(lướt)=Sơn. Năm chữ Núi=Non=Son=San=Sơn, xưa chỉ viết bằng một chữ Sơn山. Có hai cái cộng với nhau mới sinh ra nhiều. Người cũng vậy, có hai là cha và mẹ mới sinh ra được người. Người Việt lấy hai Kẻ thẳng xếp lại thành chữ Người人, đó là chữ Nhân人, vì Người=Ngài=Ngôi (cũng như là một ngôi sao)=Nối=Dõi=Dân=Nhân. Có hai thì thành nhiều nên Người Dân là nhiều người, Nhân Dân là nhiều người, Nối Dõi là nhiều người của nhiều đời. Thiên nhiên rất rộng rãi với con người, cho con người nhiều thứ cần thiết, người Việt gọi đó là trời Ban cho (Ban là cho không, nếu có dấu sắc thì thành Bán, và Sắc=Mắc, tức là còn Bán Mắc nữa). Người Việt đi tìm chỗ đất bằng phẳng để trồng lúa. Chỗ đất bằng phẳng thuận lợi cho trồng trọt đó là trời Ban cho. Nên người Việt lấy tên Ban đặt cho loài hoa trắng muốt nở đẹp nhất rừng là hoa Ban. Nơi đất bằng người Việt xúm lại ở để làm ruộng gọi là Xóm Bản. Mọi người trong Bản thân thiết nhau như Bạn, gắn bó nhau như nứa cùng Bè nên gọi là Bạn Bè. Đã là Bạn Bè thì kết nhau thành một Băng, cả làng cả nước gắn bó nhau thành một Bang. Mỗi khi có việc làm ăn hay gặp thiên tai thì dân Bản đem việc ra Bàn. Bàn kỹ cho mọi nhẽ trắng ra, phẳng ra, không còn vướng gợn gì nữa, gọi là Bàn Bạc. Bạc là màu trắng sạch sẽ của vôi, “bạc như vôi”. Kim loại quí nhất có Vàng là màu vàng, Bạc là màu bạc, dùng để làm đồ trang sức và làm đồng tiền. Người Việt hay đeo vòng Bạc từ nhỏ đến già để tránh gió. Bàn Bạc là để cho phẳng mọi việc nên cái để ngồi viết, ngồi uống nước chè và Bàn Bạc gọi là cái Bàn, cái ghế dài để cho cả Bang ngồi hai bên cái bàn gọi là ghế Băng, chữ Bàn thêm “g” của ghế thì thành Băng. Mọi việc Bàn Bạc phăng phăng cho phẳng rồi thì ai cũng gật đầu. Thêm “g”của gật đầu vào chữ Bàn của Bàn Bạc thì được chữ Bằng là Bằng lòng. Ai cũng bằng lòng như mình thì có “Bằng lòng như Mình”=(lướt)=Bình. Ai cũng lòng Đồng bụng Bằng như mình cả rồi thì “Đồng Bằng”=(lướt)=Đẳng. Thế là có từ Bình Đẳng, là ai ai trong Bang cũng có quyền như nhau. Ai ai cũng Bình Đẳng. <Ban=Bản=Bạn=Bè=Bàn=Bình=Bang=Băng=Đẳng > Có đất bằng để dựng Bản, có đất bằng để làm ruộng, đời sống no ấm, Tết đến người Việt vui chơi. Người Việt lấy Đồng làm ra nhạc cụ gõ gọi là Cồng. Gọi là Cồng vì phải “Cặm cụi gò Đồng”=(lướt)=Cồng. Gõ Cồng là để mời Ông trời, Ông trăng về dự lễ hội nên người Việt coi Cồng là vật linh thiêng của chung như Trời, gọi là “Của Ông”=(lướt)=Công, Công thành từ chỉ của chung. Cồng ấy nặng tình nặng nghĩa nên thay dấu nặng thành Cộng, nên có từ Công Cộng cũng là của chung. Còn nếu Cồng để đem biếu thì thay dấu sắc của biếu thành Cống, Cống tức là biếu cho < Ban là cho không, Biếu là “Ban để tỏ lòng Hiếu”=(lướt)=Biếu, người lớn tuổi cho người nhỏ tuổi gọi là Ban, người nhỏ tuổi cho người lớn tuổi gọi là Biếu) >.Hễ gõ Cồng là dân bản đều “Đến coi Cồng”=(lướt)=Đông. Đông người thì chỗ ấy nặng nên có Đông nặng Động, là chỗ ấy rất sôi động. Mọi người đụng tay nhau múa hát, đụng Cồng cho nó vang, “Đụng Cồng”=(lướt)=Đồng, “Cồng Đụng”=(lướt)=Cùng, “Đụng Cồng Rung” = (lướt)=Đùng là tiếng vang to , nên hay nói là to đùng. Về sau người Việt còn giỏi hơn biết gò là biết đúc để làm ra nhạc cụ treo để gõ, cũng là của chung nên gọi là cái Chung, nó treo úp xuống Vuông = xuống Ruộng, tức xuống đất, nên “ Chung úp xuống Vuông”=(lướt)=Chuông. Rồi lại làm cái giống Cồng nhưng có núm nhỏ ở giữa như cái chuông con, nhưng gõ thì treo nghiêng chứ không treo úp như chuông, gọi là cái “Chuông Nghiêng”= (lướt)=Chiêng. Cồng Chiêng thành một bộ nhạc cụ tuyệt vời của người Việt. Người Việt sống trong Bản Làng, cùng làm, cùng chơi, gọi là Cùng Chung. Điệu múa Quay Chung quanh đống lửa được người Việt dùng các Kẻ thẳng viết thành “Quay Chung”=(lướt)=Cung, nghĩa của chữ Cung là “Xòe Ra”=(lướt)=Xa. Bên trong có một Kẻ ngang bên trên như đường chân trời, ý rằng đó là Trời tức ngọn Lửa; bên dưới có bốn Kẻ thẳng xếp thành hình vuông như cái bánh chưng, ý rằng đó là Đất. Điệu múa Xòe ấy mọi người cùng đụng tay nhau vừa quay tròn vừa hát vừa Đụng Cồng cho vang thành “Đụng Cồng”=(lướt)=Đồng 同, “Cồng Đụng”=Cùng, đó là chữ Đồng 同. <Đồng=Cồng=Công=Cống=Cộng=Cùng=Chung=Chuông=Chiêng=Chiềng=Chạ=Chợ > Là con từ bọc trăm trứng của Lạc Long Quân và Âu Cơ, người Việt sống thân thiết với nhau như ruột thịt. Khi còn trong bụng mẹ đó là cái Thai, Thai là Thịt, Thịt ấy lớn dần có hình dáng gọi là Thể, rồi thành hẳn Thân, lớn được trong bụng mẹ nhờ ruột nó nối liền với ruột của mẹ để lấy thức ăn, cái cuống “Ruột nối với Nhau”=(lướt)=Rau=Nhau, nên cái Thân đang trong bụng mẹ gọi là “Thân Ruột”=(lướt)=Thuộc. Ta có từ Thân Thuộc là Cùng Bọc=Đồng Bào. Thịt là Thuộc ấy trong bụng mẹ nó mềm, ấn vào thì nó Thụt, nên gọi là Thục. (Đất đã cày sâu bừa kỹ cho nhuyễn để gieo mạ gọi là đất thục). Cái cuống Rau=Nhau, “Nhau Thục”=(lướt)=Nhục, nó cũng là Thịt, nhưng là Thịt của Thai đang trong bụng mẹ, tức cái cuống Nhau ấy là cuống chung của cả hai mẹ con đang dính nhau, “Cuống Chung”=(lướt)=Cung. Nên người Việt viết chữ Nhục 肉 bằng chữ Cung bên trong có hai chữ nhân tức là của hai mẹ con cùng chung nhau, một chữ Nhân thò cả ra ngoài đó là mẹ, một chữ Nhân ở hẳn bên trong đó là con thai. Người Việt dùng chữ Nhục 肉 này để chỉ cái Rau thai, phát âm là Rau=Nhau=Nhục. Người Hán mượn chữ Rau 肉 này, phát âm là “râu” và dùng để chỉ Thịt. Khi Thai đã ra đời thì dù là anh hay chị hay em thì cũng cùng với các trẻ khác là bà con trong Bản Làng đều là Bạn Bè , vì cùng là đồng bào. Người Việt lấy hai chữ Nhục 肉肉 ghép lại với nhau thành chữ Bạn Bè, ý nói gắn kết nhau như cuống Rau nối hai mẹ con, Bạn Bè thì luôn Bằng lòng với nhau, nên sau viết đẹp lại thành chữ Bằng 朋. Những chữ viết bằng các Kẻ thẳng người Việt viết xếp trong một ô vuông cho đẹp, gọi là Vuông Chữ Nho Nhỏ. Người Việt lại hay nói vo, nên dần dần vo rụng “Vuông” ở đầu và “Nhỏ” đuôi thành còn hai chữ giữa là “Chữ Nho”, nên thứ chữ vuông ấy gọi là Chữ Nho. Đây là việc cách nay 5000 năm. Lúc đó người Hán còn du mục lang thang trên đồng cỏ. Họ chưa có chữ viết. Gặp gỡ người Việt, thấy người Việt làm ruộng, làm ra vải vóc và nhiều đồ trang sức đẹp , lại có chữ nho cũng đẹp, nên họ xin kết bạn, họ mượn chữ nho của người Việt để dùng. Sống chụng với người Việt họ hiểu rằng Bạn Bè thì phải hữu nghị với nhau. Nên về sau họ ghép thêm chữ Hữu 友 vào sau chữ Bằng 朋, và họ gọi Bạn Bè là Bằng Hữu 朋 友. Nếu có người Việt nào nói với các con rằng, những chữ Sơn 山, Nhân 人, Dân 民, Đồng 同 , Công 公 , Cộng 共 , Cống 贡 , Chung 鐘, Thể 體 , Thân 身, Thục 屬, Nhục 肉, Bàn 盤, Bằng 朋, Bình 平, Đẳng 等 v.v. là từ Hán Việt thì đừng có tin. Những người ấy chẳng qua là đã quên mất gốc Việt. 9/ Chữ Thể 體 (từ điển giải thích là toàn bộ con người). Chữ này ghép “hội ý” bằng chữ Cốt 骨(Hán ngữ phát âm là “củ”) và chữ Phong 豐 (Hán ngữ phát âm là “phâng”). Chữ Cốt骨nghĩa là Xương, nó rõ ràng cả âm cả ý đều là của tiếng Việt, vì Xương=Cương=Cứng=Cột=Cốt, “Cái cọc Một”=(lướt)= “Cột”, “Cứng làm Cột”=(lướt)= “Cốt” cũng như “Cột Lót”= (lướt)= “Cốt”, Cột bằng Sắt (tức Cột dấu nặng đổi dấu Sắc, Sắt=Sắc nên mới dùng nó để rèn dao) thì nó cũng làm cái Cốt. Chữ Phong 豐 cũng hoàn toàn là cái âm nói ra cái ý là của tiếng Việt, “Phải bọc cái bên Trong”=(lướt)=Phong. Chữ Thể 體biểu ý từ cái âm Việt là: phải bọc cái xương bên trong, thì đó là chức năng củaThịt (người Việt gọi con thú săn được là Con Thịt, gọi con người không có trí tuệ là Bị Thịt), thịt của Kẻ (Kẻ tức con người) thì “Thịt của Kẻ”=(lướt)= “Thể”. Chữ Thể là một chữ cả âm cả ý là của tiếng Việt. Người Hán mượn chữ Thể 體 này của người Việt, phát âm bắt chước lơ lớ là “thỉ”, chứ bản thân âm “ củ” và âm “phâng” của họ không thể cho ra âm “thỉ” được, còn nếu họ dựa theo biểu ý của chữ càng sai tợn, vì ở đây dùng chữ Cốt là xương và chữ Phong là phong phú tức nhiều, ghép lại thành ý xương nhiều thì làm sao ra ý là “toàn bộ con người” như Thể biểu ý được?con người thì phải có cả phần xương cả phần thịt. Chỉ có dựa vào âm của tiếng Việt thì mới đúng là Thể được. Vậy chữ ấy là chữ của người Kinh. Chữ giản thể của Hán ngữ viết Thể 体 gồm Nhân 亻 (phát âm là “rấn”) và Bổn 本 (phát âm là “pẩn”) cũng không thể cho ra âm “thỉ” được. Chữ Phong 豐 để ghép tạo nên chữ Thể ở đây là chữ “Phần thịt bọc cái xương bên Trong”=(lướt)= “Phong” < nó khác với chữ “Phong đất” là “Phát cho nhiều đất trong một Vòng”=(lướt)= “Phong 封”. Hai chữ Phong 豐và Phong 封đồng âm dị nghĩa nhưng viết thì chữ nho viết khác nhau >. Chữ Phong 豐 là “Phần thịt bọc phần xương bên Trong”, nó mang nghĩa là Phong Phú vì phần thịt là nhiều thứ gồm cơ bắp, lục phủ, ngũ tạng . Chữ Phú nghĩa là giàu vì nó cũng là do trong cùng một nôi khái niệm từ chữ Ổ mà ra. Ổ là cái đầu tiên chứa đựng tất cả, đương nhiên là phong phú (kể cả cái Ổ là vũ trụ hay cái Ổ là Chỗ Ở của động vật hay con người), đối với động vật hay đối với con người thì đều là cứ về đến Ổ là đỏ nhất, là may mắn nhất: Ổ=Ở=Ư 於 =Nư=No=Đỏ=Đủ=Phú 富 =Dụ 裕 =Dư 余 =Giàu, chỉ có vài chữ là được viết bằng chữ nho. > 10/ Chữ Bình 平 (Từ điển giải thích là bằng, ngang, thường, vừa phải, yên ổn). Chữ Bình này là “Bằng với Mình”=(lướt)= “Bình”. Người Việt trồng lúa nước nên sau khi cày sâu bừa kỹ rồi còn phải trang đất cho nó bằng như mặt nước, cho nó “Bằng như ý Mình”=(lướt)= “Bình”, nên đã cách điệu hóa năm nét Kẻ của Quẻ Khảm nghĩa là nước thành năm nét tạo nên chữ Bình 平, nếu công nhận quẻ Khảm là của tiếng Việt thì chữ Bình 平 này cũng là của tiếng Việt mà thôi. 11/ Chữ Đẳng 等 (từ điển giải thích là “số lượng, trình độ tương đương, ngang bằng nhau). Chữ này của người Việt, do “Đồng Bằng”=(lướt)=Đẳng. Đồng=Cồng=Cùng=Bụng=Bằng (chức năng của “bụng” thì ở ai cũng như nhau, nên có câu thành ngữ “suy bụng ta ra bụng người”). Đồng và Bằng là đồng nghĩa nhau nên có từ đôi Đồng Bằng. Hai người Đồng nhau, hay Bằng nhau, hay Đồng Bằng nhau tức Cùng Đẳng nhau. Người Việt đã viết chữ Đẳng là một chữ biểu ý gồm chữ Trúc 竹 <“Tre giống ngắn Khúc”=(lướt)= “Trúc” > và chữ Tự 寺 là cái chùa, ý là lên chùa thì ai cũng bình đẳng như nhau. Âm “đẳng” trong tiếng Việt còn có nghĩa là “lâu dài từ xa xưa”. (Như cây tre và mái chùa là gắn bó với người Việt từ xa xưa. Thủa xa xưa con người sinh ra đều là có quyền bình đẳng như nhau). < Đẳng 等 =Đằng-Đẵng=Đợi=Đãi 待 =Đời=Đại 代 =Dài=Dằng-Dặc=Lắc=Lâu=Lão 老 =Luôn=Lâu-Lắc=Luôn-Luôn, chỉ có vài chữ được viết bằng chữ nho >