Lãn Miên
Hội Viên Ưu Tú-
Số nội dung
595 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
19
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Lãn Miên
-
NÔI khái niệm Hãy đọc trên mạng bài báo của Phúc Kiến Nhật Báo ngày 23/02/2012: “Hãy làm cho rừng rậm tiến vào thành phố, Hãy làm cho thành phố rộng tay ôm lấy rừng rậm” 让 森 林 走 进 城 市 让 城 市 拥 抱 森 林 ( 2012-02-23 09:10:42 来 源:福 建 日 报 ) với 6 hình ảnh cực đẹp của các thành phố huyện thị xanh mát mắt bởi rừng cây, đa số là rừng cây vải cho trái, xanh mượt quanh hồ hoặc hai bên bờ sông, mà khung cảnh ấy nằm ở vị trí lọt thỏm ở giữa lòng thành phố, gọi là “thành phố sinh thái”, 58% diện tích khu dân cư là cây xanh, với nguyên tắc thực dụng “bên thân là xanh, xanh cho thu nhập” (giống như cây Me với cây Sấu của phố Hà Nội xưa). Chữ “Dung 拥 Bao 抱” ở trên, tôi dịch là “Rộng Tay Ôm” vì hai chữ đều có bộ “tay 扌” ; mà theo QT: Rộng=Dông, dông dài,=Dung 拥 ; Ôm=Áo=Bao 抱 , trong các âm tiết trên thì âm tiết Rộng là cổ xưa nhất, vì theo logic của QT, nó được phát ra từ Ruột, cho nên tôi mới gọi mỗi âm vận là cái “Rỡi”, tức cái “Ruột nhờ Lưỡi mà đưa ra Lời”=Rỡi , còn cái “Tơi” là cái phụ âm đầu, tức cái “Tay đưa Lời”=Tơi. Có Tơi+có Rỡi thì thành một âm Tiết, mà trong tiếng Việt thì Tiếng=Tiết=Tế=Từ tức phải có nghĩa hoàn chỉnh. Cũng như con Troi=Dòi là khi nó còn ở Nôi một chỗ, khi mọc cánh thì nó Rộng Rong Ruổi mất rồi, nên mới gọi nó là con Ruồi .Tơi cũng là cái vỏ ngoài, tiếng Việt cổ còn gọi cái vỏ rạ của cây lúa là Toóc, đi “bứt Toóc” tức là đi “cắt rạ”, công đoạn hai, sau khi đã gặt cái bông lúa rồi, Toóc = Tơi = Túc 足, như bộ chân nhiều vô số kể ở bên ngoài thân của con sâu cuốn chiếu; ( hay là sau khi Sĩ Nhiếp dạy cho dân Việt biết đọc chữ Túc 足 rồi, dân Việt mới quay ngược lại một vạn năm trước để gọi cái vỏ rạ của cây lúa là Toóc ? ngôn ngữ hàn lâm có trước hay ngôn ngữ dân dã là có trước ?). Cái “Vắng phụ âm đầu” cũng gọi là cái “Tơi”, thực tế thì có thể gọi là cái vắng tơi, vì trong ngôn ngữ thì cái không có vẫn là “có khái niệm” chẳng thế mà cái lỗ trống vẫn có thể đếm được là có bao nhiêu lỗ trống; ở trường hợp này Ôm=Áo là hai từ cùng nôi khái niệm, vì tuy Rỡi của chúng khác nhau do bị thay, nhưng chúng vẫn có cái chung là cùng “Vắng Tơi”, ( QT thay Rỡi hoặc thay Tơi đã giải thích rồi). Trong tiếng Việt, từ đối là hai từ ngược nghĩa về chất, làm thành một cặp, mà tôi ghi bằng cách có một dấu xẹt “ / “ giữa chúng, như Nắng/Nước, Đất/Đầm. Từ đôi là hai từ đồng nghĩa ghép với nhau thành một từ hai âm tiết, mang nghĩa nhấn mạnh cho tiếng đầu, nghĩa là “nhiều” cái đó, như từ Đất Đai, hiểu ngay là nhiều loại đất nói chung, sau người ta hay nói tắt, chỉ có một chữ Đất, để cho bớt ký tự ghi, ví dụ “quyền sử dụng đất” thì trong trường hợp này phải hiểu chữ Đất ở đây ám chỉ Đất Đai, loại đất nào cũng áp dụng quyền như vậy cả. Nhưng khái niệm “chất đất” thì phải cứng nhắc là chất đất, chứ không thể có khái niệm “chất đất đai”. Nhưng cái tính “nhiều” trong nghĩa của từ đôi Đất Đai thì nó bao gồm rất nhiều tính trong đó như Chất đất (thổ nhưỡng), Địa lý, Phong thủy, Dân cư, Văn hóa, Lịch sử (biết bao di chỉ đang nằm trong lòng nó) v.v. Khi qui hoạch xây dựng, thường người ta chỉ chú ý mỗi một nửa từ đôi Đất Đai là Đất (QSDĐ), Đất ấy được tính giá trị bằng Tiền, và giá trị đó sẽ thay đổi theo thời, bởi vậy thường bỏ quên hoặc coi thường các yếu tố khác có trong ý nghĩa của từ đôi Đất Đai (chỉ có luật là sử dụng đúng ngôn từ là: Luật Đất Đai). Ngày xưa đi học phổ thông có môn Địa Dư, tức là Đất Đai+Dân Cư, mà từ Dư 轝 chính là Dân Cư = Dư (QT lướt), từ Dư轝 còn được nâng ý lên, nghĩa là “công luận” (không có dân cư thì làm sao có công luận ?). Ngày nay đi học phổ thông chỉ có môn Địa Lý chứ không có môn Địa Dư, mà địa lý chỉ là một tính trong cái “nhiều” mà khái niệm bằng từ đôi Đất Đai bao hàm (cho nên công luận trong lĩnh vực đất đai sẽ vẫn còn dài dài). Bởi vậy qui hoạch để đô thị hóa quả là cực khó, nhất là với những huyện mà có tên như là huyện Thạch Thất (bây giờ là ngoại thành Hà Nội). Cái NÔI khái niệm của ngôn từ Việt, với các QT đã nêu, đơn giản thế, mà có lẽ cũng không thể coi thường. Thạch Thất = Thật Thật = Thật Nhất = Thật Thách. Cái âm tiết nó tồn tại nguyên vẹn từ hàng nhiều ngàn năm kể từ khi nó có. Bởi vậy Hứa Thận hướng dẫn cách đọc cách nay 2000 năm, mà ngày nay tiếng Việt Nam đọc ra vẫn đúng như thế, vậy cái âm tiết đó nó còn có trước khi Hứa Thận vận dụng ít ra là 3000 năm nữa, tức cách nay 5000 năm (?). Ví dụ con Ốc là nó có cái vỏ là nhà ở của nó (QT thay Rỡi: Ổ = Ở = Ốc), nên con người cũng còn gọi cái nhà của mình là Ốc, chữ nho viết là chữ Ốc 屋, Hứa Thận hướng dẫn đọc là : lướt Ô 烏 Cốc 谷 = Ốc 屋, giải tự nghĩa là: nhà, hộ, chỗ trú ( thì rõ ràng là Ổ = Ốc = Hốc =Hộ 戶 = Chỗ = Chỉ 趾 của người Giao Chỉ 交 趾). Người Quảng Đông đến nay vẫn đọc chữ Ốc屋 là “ốc” chứ không đọc là “vu 屋” như Hán ngữ hiện đại đọc . Mà ốc thì nhiều lắm, dân số ốc cũng ngang ngửa dân số nhân loại, nên Nhiều Ốc = Nhốc ( QT lướt: Nhiều Ốc = Nhốc ) và để nhấn mạnh ý nhiều thì dùng từ đôi Nhốc Nhốc = Lốc Nhốc( bời vì lướt Lắm Ốc = Lốc, lại còn từ láy “Lốc Nha Lốc Nhốc” nữa chứ, làm lộ cái từ Nhà với Nha là nơi làm việc của công chức ). Thời thượng cổ khi buôn bán, người Việt bán ốc cho người Hán ( cổ Hán thư có ghi: “người Việt ăn nhiều loài nhuyễn thể và hải sản”), người Việt bán ốc mới nói rằng: “tôi có Lốc Nhốc” ý rằng rất nhiều ốc, người Hán ghi ký âm, để giản tiện, chỉ ký âm có một nửa từ đôi Lốc Nhốc là Lốc, ghi âm tiết Lốc bằng chữ Loa 螺, sau mới thành cái tên, họ gọi con Loa 螺 là chỉ con Ốc. Người Việt bị Hán hóa lâu đời hàng ngàn năm rồi thì quên mất khái niệm nhà ở vốn là từ con ốc mà ra, cũng quên luôn từ con ốc, mà gọi là con “lúa” của chữ Loa 螺 . Công nhận rằng, thời thượng cổ, khi còn chưa có ký tự trên mui rùa, con người ghi sự bằng thắt gút dây thừng.(Cổ Hán thư cũng có ghi, kiểu ghi sự bằng thắt nút thừng từng có từ thời xưa ở xứ sở của Việt Thường thị). Kiểu ghi sự này các nhà khảo cổ học phát hiện cũng có ở người bản địa Đài Loan tại di chỉ có cách nay cả vạn năm, và đó là một sự Thật. Còn cái NÔI khái niệm của ngôn từ Việt thì: NÔI = Nút = Gút = Chút = Chắc = Chắt = Chặt = Thắt = Thật = Thấy = Thị 示 = Thực 實 = Thị 是 = ý 意 Tí 子 = Tử 子 = Tế 細 = Từ 詞 = Tiết 節 = Tiếng = Thiêng = Liêng = Linh 靈 = Nghinh 迎 = Nghênh 迎 = Nghĩa 義. Nôi khái niệm cho ra nghĩa của ngôn từ. Cái một âm tiết ấy của tiếng Việt, mỗi tiếng chỉ ngắn gọn có một Chút, mà nó Chắc và Chặt và là Thật, trải dài 5000 năm bền bỉ từ nền văn minh Văn Lang Lạc Việt, thì quả thật là rất có Ý Nghĩa và Thiêng Liêng nên nó mới Linh và được nhân loại hoan Nghinh. Sơn bất tại cao, hữu Tiên tắc thanh. Thủy bất tại thâm, hữu Long tắc linh.
-
- 1
-
-
Theo logic ngôn từ Việt thì: Biết=Bác, nghĩa là biết rộng tức “Biết Các”=Bác; còn Bác=Xác, nghĩa là biết sâu, “Xem sâu Các”=Xác, nhưng “biết sâu” là Xác, thì Xác=Chạc=Chắc=Chắt=Thắt=Thật (từ thời còn ký tự bằng nút thừng), mà Chắc là con số 1 của khái niệm khẳng định (người Việt cũng hay dùng tiếng “Chắt” đặt tên người con đầu lòng); Biết Chắc=Chắc Chắn=Chính Xác. Theo “Thuyết văn giải tự” của Hứa Thận thì chữ Chính 正, đọc: lướt Chi 之 Thịnh 盛 =Chính, nghĩa: Thị 是, Chỉ 止 (tức là Thật, Chựng; nhưng QT thì đúng, là: Thật=Thị 是 =Chỉ 止 = Chắ = Chựng =Dừng= =Đứng=Đúng= Đính 订 = Chính 正; đều là sự khẳng định cuối cùng). Theo Hứa Thận, Chữ Xác 确, đọc: Hồ 胡 Giác 角 =Hác ( hoặc Hồ Góc=Học, theo QT thì: Hốc=Hác=Hạc=Học=Xọc= “Xuống Dọc”= “Thuốn Dọc”=Thọc=Thật , nghĩa là đi sâu, cái Thuốn là dụng cụ dò lòng đất của người Việt để đào giếng, cái Thuổng là dụng cụ đào đất của người Việt để moi củ mài). Tất nhiên cái âm mà Hứa Thận hướng dẫn đọc là Hốc=Hác=Hạc=Học cách nay 2000 năm, nó phải có trong tiếng nói dân gian ít ra cũng 3000 năm trước Hứa Thận, tức cách nay 5000 năm, Hứa Thận mới vận dụng được, tìm cách ghi bằng lướt và lái, sao cho mọi người đọc cho đúng âm, chứ không phải là Hứa Thận là nhà ngôn ngữ học tự đặt ra cái âm đọc lạ lùng nào đó để bắt toàn dân đọc theo. Chữ Xác 确 theo Hứa Thận hướng dẫn đọc, nếu mà phát âm theo Hán ngữ thì là “Hú 胡 Chiẻo 确”=Hiểu, sai, Hán ngữ đọc chữ Xác 确 là “Xuê”. Nhưng những âm do đọc tạo thành thì lại đúng QT: Hạc=Học 学 =Hiểu 晓 (người Quảng Nam phát âm “ đi Học” là “đi Hạc”, người Quảng Đông phát âm Học 学 là “Hoọc”, người Phúc Kiến phát âm Học 学 là “Hưa”, Hán ngữ hiện đại phát âm Học 学 là “Xuế”). Hứa Thận giải nghĩa chữ Xác 确 là: “cái góc đá”, (góc đá thì đích thị tức là cái Hốc), mà lại “cùng thanh với Thạch 石 Giác 角”, thì Thạch Giác=Thạc. Vậy thì đích thị nó là từ Thật . (Hóa ra cổ xưa cái âm “Học” có nghĩa là đi sâu vào “Hốc” đá để thám hiểm mà tìm ra sự “Thật”, thì nó cũng giống như các nhà khảo cổ ngày nay đang làm, và đó mới là “Xác”, hay nói như ngày nay thì Học = “Hãy thọc vô cho sâu mà Vọc” thì sẽ đạt được Hiểu, mà nay ta gọi là “ khoa học thực nghiệm”. Vậy theo cái âm phát âm của tiếng Việt, thì nó còn logic hơn là căn cứ vào ký tự, vì cái âm là tự nhiên có từ trong tư duy, còn ký tự, dù là tượng hình hay ký âm, thì cũng chỉ là do người đời sau đặt ra mà thôi. Cái âm “Học Thật” với “Thất Học” thì rõ ràng là trái nghĩa nhau trong tiếng Việt; chỉ có “Học không Thật” thì nó mới có giá trị bằng “Thất Học” mà thôi. Từ đối về trạng thái mặt trời trong ngày là Mọc/Mất, thì cũng tương đương trạng thái làm việc là Vọc/Vất, tương đương trạng thái học hành là Học/Hất, và tương đương trạng thái nghiên cứu là Thật/Thất, chung qui đều là do Làm/Lười. Theo nghĩa cổ xưa của chữ Học như trong tiếng Việt, thì ngày nay bậc đang học phổ thông nên gọi là học sinh (nghĩa đen của “học sinh” là “Vọc sâu để tìm hiểu cái mới lạ”), còn bậc đang học đại học nên gọi là nghiên cứu sinh (nghĩa đen là “nghiên cứu” cái mới lạ, vì QT: Dửng=Dưng=Sửng=Sượng=Sống=Sinh 生), cho nó đúng với nghĩa của từ student mà quốc tế dùng ). Theo QT là: Thạch=Thạc=Thật. Có tên huyện là huyện Thạch Thất tức Thật Thách (nếu lái, hay gọi là “phản thiết” như Hứa Thận), mà theo logic ngôn từ Việt thì Thạch Thất nguyên là từ đôi Thật Thật nghĩa là Thật nhất. Như vậy thì: Biết Chắc = Chắc Chắn = Chính 正 Xác 确 = Đúng Thật = Trúng 中 Thị 是 = Chung 终 Chỉ 止 , đều là sự khẳng định cuối cùng . (Tất nhiên khi mọi nghiên cứu đã đi đến tận cùng tìm ra cái đúng chung thì mới có điểm dừng là “sự khẳng định cuối cùng”). Kết luận: huyện Thạch Thất, mà bây giờ đã là ngoại thành Hà Nội, đang thật sự là Thật Thách các nhà sử học, vì đó là mảnh đất lui về của thời Hùng Vương thứ 18.
-
Trong đoạn phim tư liệu trắng đen quay khoảng năm 1947-1948 gì đó, cảnh cụ Hồ và các chú cảnh vệ cổi trần tập thể dục bằng các động tác võ, Cụ dùng hai tay kẹp cổ quật ngã một chú cảnh vệ. Sau này tôi đọc báo, hình như là báo An Ninh Thế Giới, có bài hồi ký kể lại chuyện đó. Lúc ấy chú cảnh vệ bị ngã nói: “Bác giỏi võ Tàu thật ! “. Cụ Hồ trả lời: “ Bác chơi võ Việt đấy chứ. Trời mưa nước tràn, cá ao nhà mình nhảy sang ao nhà người ta. Người ta nuôi lớn lên, bắt bán lại cho mình, mình lại gọi là “cá người ta”(?). Ai nghiên cứu cổ văn hóa sử thì hãy ngẫm câu ấy thôi. Ngôn từ gốc nhất của mỗi dân tộc là tiếng chỉ con số đếm. Người Khơ Me cổ đại đếm hệ số 5 con số: Muôi, Tê, Pây, Buôn, Prăm. Số đếm ấy ở trong tiếng Kinh là: Một, Hai, Ba, Bốn, Năm. Bởi vậy nó mới là một trong các căn cứ để các nhà ngôn ngữ học thế giới xếp tiếng Việt là thuộc hệ ngữ Môn-Khơ Me (mà người Môn là một sắc tộc bản địa bên Miến Điện). Khi đếm đến con số sáu thì người Khơ Me đếm quay lại: Prăm Muôi là 6, trong khi người Kinh đếm là Sáu chỉ con số 6. Nhưng lên đến Hồ Nam thì người Hồ Nam đếm con số 6 (“Sáu”) là “Lấu” (cũng thanh điệu dấu sắc như vậy), sang Quảng Đông thì người Quảng Đông đếm con số 6 là “Lục” (cũng thanh điệu dấu nặng như vậy). Hán ngữ hiện đại phát âm con số 6 là “Lìu” (thanh điệu không hản dấu huyền, cũng không hẳn dấu nặng, mà nằm giữa hai dấu ấy). Hay là các số đếm từ 1 đến 10 là do Sĩ Nhiếp đem Hán ngữ dạy cho người Giao Chỉ, nhưng người Giao Chỉ lại mượn năm con số đầu từ 1 đến 5 của tiếng Khơ Me (?). Thời các nước Ngô, Sở, Việt “người ta còn có hệ đếm chỉ có bảy con số” (đọc trong bài viết của nhà văn Nhật Bản Shiba Hirotaro). Vậy nước Văn Lang cổ đại của Hồng Bàng thị, mà “bắc giáp Động Đình Hồ, đông giáp Đông Hải, tây giáp Ba Thục, nam giáp Hồ Tôn” như sử ghi có phải là nhà nước từng có cách nay 5000 năm không? Logic của nghiên cứu, chắc chắn là phải từ tù mù để tìm ra chính xác chứ, hay là từ chính xác để tìm ra tù mù, rồi lấy tù mù làm khẳng định? (Logic của ngôn từ Việt là: Mấy=Mù, Chắc=Chính, mà tiếng Tày thì “Chắc” nghĩa là “Biết” đấy).
-
Khoa đẩu, nghĩa Hán ngữ là Nòng nọc, dùng từ “khoa đẩu” để chỉ thứ chữ ký âm thời cổ đại, ngoằn ngoèo như con nòng nọc. Ngày nay dân mạng Hoa ngữ lại dùng từ “khoa đẩu” để chỉ chữ phiên âm bằng ký tự Latin, chứ không gọi là chữ “pinyin” (phiên âm). Một học giả đã đơn thương độc mã mười mấy năm nay nghiên cứu dùng ký tự Latin để ghi Mân ngữ, đã viết hơn hai mươi bài bằng cách đó và cũng gọi đó là “chữ khoa đẩu”. Học giả đó cũng có niềm tin rằng hai mươi năm nữa “chữ khoa đẩu” của ông sẽ phổ biến thành “chữ Mân ngữ”.( Nguồn http://www.tadpolenese.com/ 原帖由 vudik 於 2008-11-26 ) Người Việt Nam may mắn đã có “chữ quốc ngữ” từ thế kỷ 17. Dưới đây là một bài của học giả đó viết song ngữ: Mân ngữ và Anh ngữ: Ge'Aurl 家後 Url jid rid. laln nar laurl, coer voo laang. gar laln yul'hauc, qual eurl buee lyl zeorl diamp yil'liaau, tnia lyl golng siaucleen. e siizurn. lyl url ruar qaau; Jiaq hol. jiaq vail. voo gecgauc, oant tni. oant deor. marl veurl hiaul; Lyl e ciul, qual eurl gar lyl kan diaau'diaau, yinwir qual sirl lyl e Ge'Aurl; Quln. jiong cengcun. gec dirl lyln dau; Quln duic siaucleen. doec lyl doec gah laurl; Riinzeeng. Sec'Sur. yilgeng knuac tauc'tauc, url sniah laang. bil lyl kah diorng'yauc? Quln e yitseng. hent hour lyln dau, jiah zai hernghok. sirl cal'cal-naur'naur; Dalntair dylng`kyc. e siizurn. nar gauc, qual eurl niur lyl seng zaul... yinwir qual eurl m gam-... bank lyl wir qual vagsail. laau; Url jid rid. laln nar laurl, url simbur-gnial'rii. yul'hauc, lyl nar voo liaau, teq laln e sionkpnic, knuac kahzal. gethun. e siizurn. lyl ruar eendaau; Cirng hol. cirng vail. voo gecgauc, guaic'dang-guaic'sai. marl veurl hiaul; Lyl e sim, qual eurl yelng'oaln. gic diaau'diaau; yinwir qual sirl lyl e Ge'Aurl; Quln. jiong cengcun. gec dirl lyln dau; Quln duic siaucleen. dioq doec lyl doec gah laurl; Riinzeeng. Sec'Sur. marl yilgeng knuac tauc'tauc, url sniah laang. bil lyl kah diorng'yauc? Quln e yitseng. hent hour lyln dau, jiah zai hernghok. sirl cal'cal-naur'naur; Dalntair dylng`kyc. e siizurn. nar gauc, Lyl dioq niur qual seng zaul... yinwir qual eurl m gam-... knuac lyl wir qual vagsail. laau; Behind You One day, when we get old, when we can't find people to take care of us, I'll sit next to you on the bench, listen to your endeavors from your younger days. It doesn't matter whether we have fancy meals, neither do we know to blame luck or people. Your hand, I'll hold it tight, because I am always behind you. I spent the best time of my life, married to you in a family. I followed you from young to old. Life's stories, I have seem them all, who else is more important than you? I dedicated my life to a family, only to find out that happiness comes with its ups and downs. When the time of departure comes, I'd let you go first... because I cannot hold the thought that... I'd leave you in tears for me. One day, when we get old, and our children are there for us, if you get bored, let us go over our picture albums, and check out how handsome you were at our wedding. It doesn't matter whether we have fancy clothes, neither do we know to blame anything. Your heart, I'll always keep it on my mind, because I am always behind you. I spent the best time of my life, married to you in a family. I followed you from young to old. Life's stories, I have seem them all, who else is more important than you? I dedicated my life to a family, only to find out that happiness comes with its ups and downs. When the time of departure comes, You should let me go first... because I cannot hold the thought that... I'd see you in tears for me. เวียดใหญ่ (Wiat Yai) Việt Lớn 大粤
-
Theo các qui tắc tạo ngôn từ Việt mà Lãn Miên nêu ra một cách ngớ ngẩn là: QT nở (chia âm dương), QT lướt, QT thay (thay Tơi hoặc thay Rỡi) thì chỉ một cái âm tiết là tiếng “Bùn” cũng thấy được bóng dáng của nước Văn Lang cổ đại, nơi có nền văn minh lúa nước sớm nhất của nhân loại, là nó nằm ở đâu. Mà chính sử từng ghi: “Nước Văn Lang bắc giáp Động Đình Hồ, tây giáp Ba Thục, đông giáp Đông Hải, nam giáp Hồ Tôn”, đó cũng chính là vùng rộng lớn mà khảo cổ học phát hiện ra trống đồng. Đồng tiền bằng kim loại đồng, hình tròn có lỗ nhỏ hình vuông ở giữa là do người Việt làm ra đầu tiên, nó là hình tượng của bầu trời tròn như cái bánh dầy, rộng bao la ôm lấy trái đất vuông như cái bánh chưng. Người Việt gọi đơn vị tiền là “Đồng”, một tiếng “đồng” ấy đã có ý nghĩa rất “rộng” như không gian văn hóa “rồng”, như không gian giao lưu thương mại của cộng đồng các dân tộc phương đông, nơi thời cố đại lan truyền văn hóa “trống” “đồng” bằng vật liệu kim loại “đồng” của “cộng” “đồng” cư dân Bách Việt. Người Việt cũng từng đúc tiền bằng kim loại Bạc và gọi là đồng Bạc, dùng cho đến tận năm 1945 (thời thuộc địa thực dân có đồng Bạc của Đông Dương, cũng đúc bằng hợp kim bạc, dân gian gọi là đồng Bạc hoa xòe vì có đúc nổi hình cánh hoa), cũng như Thái Lan gọi đơn vị tiền là Bạt. Chính vì lấy kim loại Bạc làm đơn vị giá trị nên mới có từ Ngân Hàng. Nhưng để có được những cái trên thì xa xưa nữa hàng vạn năm trước người Việt đã từng dùng Bối 贝 làm tiền, như đã giải thích ở đoạn trên. Từ Bùn là thuần Việt thì Bối cũng là thuần Việt (Hán ngữ không có âm tiết Bùn chỉ đất nhão do nước làm cho bấy nhuyễn, mà gọi là “ní”). Bùn=Bấy=Nhầy=Nhuyễn=Nhão=Lạo=Lầy=Nầy=Nê 泥 = “Ní 泥”. Bùn vì nhão cho nên nó Bám chứ không dính, rửa nước là trôi ngay, nó chỉ là sém dính thôi, cho nên còn gọi là Sình (QT lướt: Sém Dính=Sình). Nếu dân Bùn ở Bản hay ở Buôn (dòng Tiên) quanh năm luôn phải “tay Bùn” thì dân Lầy ở Làng (dòng Rồng) cũng quanh năm luôn phải “chân Lấm” để làm ruộng lúa nước mới có được xã hội Bản Làng = Bang (QT lướt: Bản Làng = Bang), đứng đầu Bang là ông Lớn Bang = Lãnh Bang =Lang(QT lướt: Lãnh Bang = Lang), mới có được đồng Bạc để trao đối khi Buôn Bán, mới tạo được cái quốc gia là Vuông Lang = Văn Lang. Những kẻ “chân Lấm tay Bùn” và những kẻ hàng tôm hàng cá ở chợ là những kẻ làm nên ngôn từ Việt đầu tiên từ những vật cụ thể mắt thấy tay sờ, rồi ngôn từ mới được nâng nghĩa lên thành ngôn từ của văn học dân gian, rồi tiếp đến được trừu tượng hóa thành ngôn từ triết học (ví dụ từ Vũ Trụ, đã từng giải thích). Qui tắc lướt là đã hình thành tự nhiên trong lối nói của người Việt. QT lướt cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tiếng Việt từ ngôn ngữ Nam Á đa âm tiết trở thành ngôn ngữ đơn âm tiết, “đơn âm thành nghĩa”. Lối Lướt ấy đã có hàng vạn năm trước. Ngôn từ Việt chẳng đã có cái nôi khái niệm: Lời=La=Lối=Lái=Láy=Lướt=Lóng=Luyến. Lối lướt ấy là có trước, nên đến đầu công nguyên Hứa Thận mới vận dụng để hướng dẫn đọc cho đúng âm của mỗi từ Việt bằng cách mượn âm của hai từ khác mà lướt lại, gọi là “thiết 切”. Theo QT thay (thay Tơi và thay Rỡi) thì: Cắt=Xắt=Xát=Lát=Liếc=Lướt=Lướt-Thướt=Thiết 切, cũng chỉ là một động tác gọn Lẻm như một lát cắt. Nếu không vận dụng QT lướt như Hứa Thận từng vận dụng (mục đích để đọc đúng âm) thì làm sao giải thích được (mục đích tìm gốc từ), rằng tại sao người Kinh gọi con vật thuần dưỡng đầu tiên của nhân loại tức con chó (khoa học thế giới đã chứng minh, chó là đầu tiên do người ĐNÁ thuần dưỡng) là Chó mà người Tày, Lào, Thái Lan lại gọi là con Má (tiếng Việt, “chó má” là nhiều loại chó nói chung, qui tắc “từ đôi”). Hay là phải lục trích sách Tàu hay sách Pháp thì mới giải thích nổi? Đơn giản: người Kinh khi ăn, thừa thì quẳng cho con vật thuần dưỡng đầu tiên ấy, kèm theo câu “cho nó !” (QT lướt Cho Nó = Chó, “phản thiết 反 切” như Hứa Thận hướng dẫn thì Cho Nó = Chó No, hay Cho Nó = No Chó, theo kiểu lái Bắc Bộ), đều thành cái tên “Chó” để chỉ con vật trung thành ấy. Người Lào khi ăn, thừa thì quẳng cho con vật thuần dưỡng đầu tiên ấy kèm theo câu “mừ ná !” (mày nhá !), (QT lướt: Mừ Ná = Má, hay lái Mừ Ná = Má Nừ), thành cái tên “Má” để chỉ con vật trung thành ấy. “Mừ” là ngôi thứ hai, ( tiếng Tày, Lào, Thái Lan) như “Mày” của tiếng Kinh. Mà “Mày” là do gốc từ “Muôi” là con số Một của tiếng Khơ Me, thứ nhất là Muôi = Một thì phải đến ngôi thứ hai là Mày (QT thay Rỡi và thay Tơi: Mày=May=Mạy=Mới=Mai=Hai) là phải “mới” hơn là “một”, tiếng Lào có Bản Mạy là Bản Mới, tiếng Thái Lan có Bản Mai là Bản Mới. Theo QT nở: “Mỗi” sẽ nở chia âm-dương ra thành Mô/Một, “Một” lại nở chia âm-dương ra thành Mất/Mai). Thời nước Văn Lang của Vua Hùng, Vua Hùng phong đất cho những ai có công ( QT lướt: "Phát cho đất trong một Vòng" = Phong 封) thì người có công lớn nhất gọi là Cả, khi giao đất, Vua phán: “Cả trông !” (QT lướt: Cả Trông = Công, đó là chức Công 公, lo mà trông coi nhá ). Khi giao đất cho người có công thứ hai, Vua phán: “Hai đầu !” (QT lướt: Hai Đầu = Hầu, đó là chức Hầu 侯, lo mà cầm đầu nhá). Khi giao đất cho người có công thứ ba, Vua phán: “Ba nhá !” (QT lướt: Ba Nhá = Bá, đó là chức Bá 伯, lo mà nắm nhá). Khi giao đất cho người có công thứ tư, Vua phán: “Tư giữ !” (QT lướt: Tư Giữ = Tử, đó là chức Tử 子, lo mà giữ nhá). Khi giao đất cho người có công thứ năm, Vua phán: “Năm làm !” (QT lướt: Năm Làm = Nam, đó là chức Nam, lo mà làm tròn trách nhiệm nhá). Nếu cứ căn cứ vào cái chữ nho, do thư lại người Hán đời sau mượn để ký âm, ghi thành chính sử, thì các chữ theo biểu ý của nó chẳng có logic gì cả với 5 cái chức Công 公 (nghĩa là “ông”), Hầu 侯( nghĩa là “đợi”), Bá 伯( nghĩa là “bác”), Tử 子 (nghĩa là “con trai”), Nam 男 (nghĩa là “đàn ông”). Người Việt vẫn lấy thứ tự để đếm con cái trong nhà là: Cả, Hai, Ba, Tư, Năm…, Vua Hùng cũng theo thứ tự ấy của ngôn ngữ dân gian để gọi một cách tự nhiên thành tên riêng của chức hoặc tước mà thôi. Trong bản đồ cổ đại , những Quốc (là Của Nước) nhỏ ly ty, đứng đầu là một trong năm chức trên (gọi là Chư Hầu Quốc = Thứ Hai Của Nước, những Thứ Hai của Nước, tức những Chư Hầu của nước so với Nước là trung ương, là Chỗ Giao tức Giao Chỉ), đều là của người Việt cổ thuộc Nước Văn Lang, của tộc người có Lắm Nác nhỏ ấy nên gọi là Lạc ("Lắm Nác của người Việt" gọi lướt thành Lạc Việt). Đến thời Xuân Thu thì mới thành lập lại thành những quốc gia lớn gọi là Bách Việt.
-
- 1
-
-
Hùng Vương hay Lạc Vương (3) Hùng 雄, nguyên gốc phát âm và nghĩa chữ của nó có nghĩa là Vùng rộng, nhưng là vùng rộng của totem chim, tức của dân Tiên Rồng là dân Lạc Việt =Bách Việt (cũng thấy nhiều câu đối thời Trần viết chữ Tiên Tổ 仙祖 không phải là chữ Tiên 先là đầu tiên, mà là chữ Tiên仙 là rồng tiên, bởi chữ Tổ đã có nghĩa là rồng, kết cấu kiểu Việt, như Vợ Chồng, Mẹ Cha, mẹTiên cha Rồng của dân thờ Bà Trời, có đạo Mẫu). Hàng nghìn năm sau thời Hùng Vương vẫn thấy trong cổ thư chữ Hùng nghĩa là Vùng rộng. Ví dụ “Tam quốc chí. Sĩ Nhiếp truyện 三 国 志 • 士 燮 传” viết: “Nhiếp huynh đệ bỉnh vi liệt quận, hùng trưởng nhất châu, thiên tại vạn lý, uy tôn vô thượng 燮 兄 弟 并 为 列 郡, 雄 长 一 州,偏 在 万 里,威 尊 无 上, hùng trưởng nhất châu nghĩa là làm trưởng vùng rộng là một châu. Thời nhà nước Hùng Vương tức nhà nước Văn Lang ở nam Dương Tử cách nay 5000 năm là của cư dân Việt, trồng lúa nước và có tục ăn trầu. Chữ Việt 粤 ấy viết gồm bộ Vuông 口là vùng, trong có bộ Thái 采 là ánh nắng, nghĩa là dân Cháy thờ mặt trời, và bên dưới là hình cái Cày 亏 (Cày=Cháy=Chài=Thái, nghề đốt rẫy làm nương và nghề sông nước đánh cá). Nhưng nghề buôn bán cũng đã có, thể hiện ở cặp từ đối nảy sinh theo QT nở âm dương của từ Buôn nở ra hai từ Bán/Bối. Bán=Phán=Mạn=Mại=Mai=Mơi. Bối=Mối=Môi=Mua=Mãi. Về sau hay dùng cặp đối Bán/Mua hoặc Mại/Mãi. Chè mạn là chè đã gia công sấy để bán, khác chè xanh thường là vườn nhà có, không phải mua. Người trung gian cho thương vụ bán mua gọi là bà Mai / Mối, mà thường hay gọi tắt là bà Mai hoặc bà Mối. Chữ Phán là chữ viết nho của từ Bán, có nghĩa chỉ là bán nhỏ lẻ, phát triển lên thì dùng từ Thương Mại, Mại tương đương bán sỉ (nghề mại dâm là nói chủ chứa bán sỉ, còn mãi dâm là nói hành vi mua dâm). Ngày nay từ khoa học, từ thương nghiệp viết dài dòng quá, nhức đầu. Ví dụ đọc văn bản thấy có “nghề nuôi trồng “nhuyễn thể hai mảnh vỏ”, rồi giám định xuất khẩu “nhuyễn thể hai mảnh vỏ”. Cái loài ấy người Việt cổ đại chia ra là các loài Ngao (có hai vỏ trắng đục) và các loài Ngán (có hai vỏ màu rêu trong có xà cừ), khác với loài ốc là nó chỉ có một cái ốc làm nhà của nó, mà chữ nho viết Ốc nghĩa là cái nhà. Cái tên chung chỉ loài “nhuyễn thể hai mảnh vỏ” ấy là loài Ngao Ngán, nâng ý lên “ngao ngán” có nghĩa là nhiều vô số kể. Cổ thư viết “Người Việt cổ ăn nhiều nghêu sò ốc hến”. Bởi vậy đồng tiền đầu tiên trong giao dịch buôn bán cũng là của người Việt, đó là cái Bối. Vì “Lạc dân theo nước lên xuống mà làm ruộng” nên quen lội Bùn, Bùn lắng thì Bồi thành Bãi, người ta phải Bới ra mới nhặt được cái loài “nhuyễn thể hai mảnh vỏ” ấy. Vì hai mảnh vỏ nên luộc chín nó tách ra thành cái Bẹ có hai mảnh tách đối nhau. Cái Bẹ Đối ấy người ta gọi là Bối ( QT lướt: Bẹ Đối=Bối). Rồi chọn loại Bối nào đẹp nhất, sặc sỡ nhất làm tiền, nho viết là chữ Bối. Có Bối mới dùng để Đổi hàng ( QT thay tơi: Bối=Đổi). Và “Bối để trao Nhau” (lướt)=Báu, nho viết là chữ Bảo, sau có từ đôi nhấn mạnh ý là Bảo Bối. Kẻ có nhiều Bối tức Báu thì Có Báu=Qúi Báu (QT thay tơi: Có=Qúi). Vỏ Bối xấu không dùng thì rơi vãi ở bếp, vô tình nó bị nung nóng lên, nóng quá bỏng tay, đổ vội xuống nước nó sủi Bọt lên ùng ục rồi nhão ra thành như Bùn, nhưng màu thì Bạc trắng, lúc ấy là lúc Vỏ Bối=Vôi (QT lướt: Vỏ Bối=Vôi). Truyền thuyết trầu cau, và người dân có thói ăn trầu, dân ấy là dân đã lấy Bối làm tiền đầu tiên (cách nay cả vạn năm). Ở đâu có dân ăn trầu là ở đó thời cổ đại thuộc địa vực nước Văn Lang. Cổ thư viết “Lạc tướng có ấn đồng” thì tức là trước đó hàng ngàn năm đã có chữ viết. Có chữ viết, có triện đồng đương nhiên là có kẻ trí thức. Kẻ ấy người Việt chỉ gọi gọn lỏn là Kiệt Hiệt (QT lướt: “Kẻ Việt”=Kiệt, “Hiểu vùng Việt”=Hiệt). Đến đầu công nguyên mới có Hứa Thận giải thích chữ Kiệt 桀là: cái ở trên của mọc. Đó là cái đầu mầm của hạt giống đang mọc, nó có sức sống mạnh vô cùng, mềm nhỏ như vậy mà nó đội bật mọi đè nén là cục đất khô nặng hơn nó cả trăm lần để vươn lên tự do, nhìn cái măng tre mọc là thấy khủng, bởi vậy măng mọc thẳng là huy hiệu của thiếu nhi Việt Nam ( Hứa Thận hướng dẫn đọc đúng: lướt Cừ 渠 Liệt 烈 = Kiệt, lái Cừ Liệt=Kiệt Lừ). Chữ Hiệt 黠, Hứa Thận giải thích: chất xấm tốt vậy, đọc: lướt Hồ 胡 Cát 吉 =Hạt, lái Hồ Cát=Hạt Cồ. Cái hạt cồ nghĩa là hạt giống to ấy lại có nghĩa là “chất xám tốt”, vậy thì đúng trí thức là hạt giống tốt để đưa đất nước phát triển, nhưng phải là “Hiểu vùng Việt” = Hiệt, tức phải hiểu lịch sử Văn Lang 5000 năm văn hiến ở nam Dương Tử thì mới thành hạt giống tốt được.
-
(2) Người Việt không chỉ lấy tên đất làm họ mà còn lấy tên cây cỏ làm họ (Người Nga lại thường lấy tên nghề làm họ, ví dụ họ Tkatrốp, thì tkatrốp vốn nghĩa là thợ rèn; người Nhật hay lấy vị trí nơi ở làm họ, ví dụ họ Yenoda viết chữ là Điền Trung, tức dân trong đồng chứ không phải là dân ngoài bãi). Ví dụ họ Lê 黎, chữ Lê theo Hứa Thận hướng dẫn cách đọc: lướt Lang 郎 Khê 奚 =Lê (hoặc lái Lang Khê = Lê Khang), giải thích nghĩa: dính dựa gạo dính thơm. Vậy nghĩa chữ Lê chính là lúa Nếp. Việt ngữ có các từ Lề Nếp, Lề Thói, Nề Nếp đều là nâng ý của Lê ( lúa nếp), có dã xôi nếp để làm bánh dầy thì mới biết nó dính đến mức nào, nên còn có từ Lề Mề là dính lại rất chậm, lại còn từ Nền Nếp là cái nền bằng bánh chưng đỡ cái bánh dầy bên trên là trời trong trắng, đều là từ do nâng ý của vật cụ thể (Minh triết là: hạ giới có nền nếp tức sống theo luật, tức biết Buộc nhau bằng Lạt Hồng = Luật Rộng, mà Luật là do đã Luộc kỹ bằng hội nghị rồi mới thành Luật Chín = Chính Luật, thì trời mới được bảo vệ trong trắng mãi mãi như cái bánh dầy chứ không bị ô nhiễm đến thủng ô dôn để gây ra “biến đổi khí hậu toàn cầu”). Bản thân chữ Lê 黎 là có bộ Hòa 禾(Hột lúa Ta=Hòa), bộ tia nắng mặt trời, bộ Nhân 人 là người, bộ Thủy 水 là nước, nghĩa là: dân trồng lúa nước (xưa chỗ bộ Thủy 水 là bộ Hắc黑, đều như nhau cả, hoặc là nước, hoặc đại diện bằng màu ngũ hành của nước là màu đen, Đen=Hoẻn=Hắc=Đặc=Đậm=Lầm=Thâm=Thủy, màu đặc, màu lầm, màu thâm là những từ dùng trong nghề nhuộm vải, đàn bà Việt mặc váy vải lầm hoặc vải thâm, Vải Quay = Váy, (nói lái như Hứa Thận thì Vải Quay = Váy Quai, nên còn có câu “xắn váy quai cồng”) Mảnh Quấn = Mấn (nói lái Mảnh Quấn = Mấn Quảnh) đều hình giống như “Cái thúng mà thủng hai đầu, bên Ta thì có bên Tàu thì không”. “Lê tộc phổ” (của Trung Quốc) thì ghi họ Lê là dòng Cửu Lê ( tức Lê rất cổ) thuần chủng là gen phương nam, da ngăm đen, là dân trồng lúa nước đầu tiên. Nếp cũng là giống lúa đầu tiên của văn hóa Hòa Bình cách nay hàng vạn năm. Khi ấy là ở bên Ni, làm Nương, có Nếp, còn gọi là Nếp Nhứt, sau biển rút, khai thác đồng bằng là bên Tê thì mới có giống lúa Tẻ (Tẻ=Tê là số hai, tiếng Khơ Me) năng suất cao hơn. Lúa Nếp là ăn phổ biến ở Tây ĐNÁ lên tận Qúi Châu ( tức Cửu Chân), nơi có rượu nổi tiếng vùng sông Xích Thủy (nơi xưa là nước Xích Qủi). Lê cũng mang nghĩa là đen, màu ngũ hành của nước. Việt ngữ có từ dính âm-dương là Le-Lói tức Tối-Sáng, Le=Lem=Đêm=Đen, Lói=Blời=Rọi=Chói=Cháy=Tày=Thay=Thái… toàn bộ các tộc Bách Việt của dân mặt trời phương nam nóng ẩm trồng lúa nước. Về sau có từ nâng ý là từ Lê Dân tức "dân đen" = "dân đông" để chỉ số đông dân thường không có quyền lực gì trong xã hội. Nhưng cũng giống chữ Lê, ban đầu là chỉ thực vật: Nếp, chữ Dân ban đầu cũng là chỉ thực vật: Mầm, nhưng mầm lúa thì nó rất đông ở ngoài đồng, cũng giống như người rất đông trong xã hội. Chữ Dân 民 theo Hứa Thận: đọc: lướt âm Di彌 Lân 鄰 = Dân, (hoặc lái Di Lân = Dân Li ) , nghĩa: là rất nhiều cái mầm cây, chữ cổ văn , chữ triện . Hóa ra những từ chỉ người: Mân = Mằn = Man cũng là do từ Mầm mà ra, từ Dân là do từ Dâm mà ra, lấy một đoạn mía mà dâm xuống đất thì nó mọc lên rất nhiều mầm. Thế mới hiểu ra là từ tư duy nào mà có câu thành ngữ “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non” từ truyện truyền thuyết “Cao Biền dấm binh”( cắm vào đất khô thì gọi là dâm, cắm vào nước vì có sắc nên gọi là dấm). Chuyện kể rằng Cao Biền dấm đậu xanh cho nó mọc mầm để hô biến thành quân binh vô số kể, nhưng chúng dậy non chết yểu hết, bởi vậy mà không đánh được nước Việt. Dân, nghĩa là đông đúc như mầm lúa sạ ngoài đồng. Mầm ấy đúng là mầm, mầm phúc cũng đó mà mầm họa cũng đó, do chính sách và giáo dục mà sẽ gây nên, nhân nào thì quả nấy. Tư duy Việt, con người là quí trọng nhất. Theo Hứa Thận, chữ Nhân 人 đọc: lướt Như 如 Lân 鄰 = Nhân ( hoặc lái Như Lân = Nhân Lư cũng vậy, nếu Hán ngữ phát âm thì Rú 如 Lín 鄰 = Rín, không đúng với phát âm chữ Nhân 人 của họ là Rấn), nghĩa: kẻ tính quí nhất trong trời đất. Những từ chỉ cá nhân một cách kính trọng trong Việt ngữ là Kẻ = Cả = Gia 家 = Giả 者 = Cha. Kẻ như Kẻ sĩ, Kẻ anh hùng (nhưng câu “Nguyễn Huệ là Kẻ anh hùng…” trên bia ở đền thờ Quang Trung Hoàng Đế tại núi Quyết thì lại bị chúng cho đục mất để thay bằng bài khác). Cả thường dùng đi với chuyên môn, như Cả Kèn là người chuyên thổi kèn, Cả Trống là người chuyên đánh trống, Cả Nề là chuyên làm xây dựng, Cả Chài chuyên đánh cá, Cả Văn chuyên viết văn, Cả Nhạc chuyên viết nhạc. Về sau khi bị đô hộ, những kẻ có học, chịu nô lệ để được làm quan nên viết theo kiểu Hán hóa là Nhạc Gia, Văn Gia… Nhưng Hứa Thận hai ngàn năm trước thì giải thích cách đọc chữ Gia 家 : đọc: lướt Cổ 古 Nha 牙 = Cả ( hoặc lái Cổ Nha = Cả Nhô), nếu theo phát âm Hán ngữ thì lướt Củ 古 Yá 牙= Cả, trong khi họ đọc chữ Gia 家 là Jia, trật lấc, vẫn phải Củ 古 Yá 牙 = Cả (hay lái Củ Yá = Cả Yú), vẫn thành là Cả, của Việt thì trước sau gì cũng trả về cho Việt là vậy. Trong khi các “hàn lâm” thì không gọi ông đánh cá là ông Cả Chài, mà gọi là ông Chài Gia (!). Hứa Thận giải thích chữ Giả 者: đọc lướt Chi 之 Dã 也 = Cha (hay lái Chi Dã = Cha Dĩ), chữ Giả đọc là Cha. Hai từ đồng nghĩa ghép thành từ đôi càng nhấn ý nói lên sự tôn trọng hết mực, nên mới có từ Cha Cả . Qua hướng dẫn cách đọc mà Hứa Thận nêu thì thấy QT (thay Rỡi và thay Tơi để có một nôi khái niệm) là hoàn toàn đúng: Kẻ=Cả=Gia=Giả=Cha. Chỉ có những kẻ phủ nhận văn hiến Lạc Việt 5000 năm ở nam Dương Tử mới cho rằng từ Giả là sang còn từ Kẻ là nhà quê. Hứa Thận là người tỉnh Hà Nam tức vùng Trung Nguyên, viết “Thuyết Văn Giải Tự” hồi đầu công nguyên, giải thích cách đọc chữ nho bằng cách lướt (thiết 切) hai âm của hai chữ khác , hoặc lái (phản thiết 反 切) hai tiếng đó. Vậy mà cứ phải đọc chữ nho như người Việt Nam đọc hay như người Quảng Đông đọc thì mới lướt thành đúng hoặc lái thành đúng, còn đọc như người Hán đọc thì trật. Vậy thì cái âm đọc của người Việt Nam mới đúng là cái ngôn ngữ chân chính ở Trung Nguyên thời cổ đại ? Lại còn kiểu nói lái của Hứa Thận vận dụng lại phải như là kiểu nói lái của người đàng trong mới đúng (ví dụ Độ Hầu = Đầu Hộ, để hướng dẫn cách đọc đúng chữ Đầu), còn nếu như kiểu nói lái của người đàng ngoài thì cũng sai (ví dụ Độ Hầu = Hậu Đồ, chẳng ra được âm Đầu) Chữ Mẫu 母, đọc: lướt Mạc 莫 Hậu 后 = Mậu, (lái: Mạc Hậu = Mậu Hạc), nếu phát âm như Hán lướt: Mua 莫 Hâu 后 = Mâu, (lái: Mua Hâu = Mâu Hua), sai, Hán đọc Mẫu 母 là “Mủ” Chữ Đầu 頭, đọc: lướt Độ 度 Hầu 矦 = Đầu (lái: Độ Hầu = Đầu Hộ), nếu phát âm như Hán lướt: Tu 度 Hấu 矦 =Tấu, (lái: Tu Hấu=Tâu Hú), sai, Hán đọc Đầu 頭 là “Thấu” Chữ Ngưu 牛, đọc: lướt Ngữ 語 Cầu 求 = Ngầu (lái: Ngữ Cầu = Ngầu Cữ), nếu phát âm như Hán lướt: Uỷ Xíu = Uýu (lái: Uỷ Xíu = Uýu Xủy), sai, Hán đọc Ngưu là “Níu” (Ngầu là con trâu, tiếng Quảng Đông. Cái nôi Việt: Tlu=Tru=Trâu=Ngầu=Ngưu=Sửu). Qua chữ Ngầu này của Hứa Thận (cùng vô vàn chữ khác) thì thấy thời Hứa Thận 2000 năm trước người ở Trung Nguyên nói ngôn ngữ là tiếng Quảng Đông ( vậy thì trách gì cái việc người Hồng Kông nói tiếng Hồng Kông ?) Hứa Thận giải thích: “Xuất 出 nghĩa là tiến, giống như tre mọc đầy lên trên”. Chữ Xuất 出 đọc: lướt Xích 尺 Luật律 = Xuất, (lái: Xích Luật = Xuất Lịch), nếu Hán phát âm: Xử 尺 Luy 律 = Xủy, (lái Xử Luy = Xủy Lư), sai, Hán đọc Xuất 出 là “Su” Hứa Thận giải thích: “Mộc 木 là Mạo 冒 , đội đất lên mà sống”. Như vậy nó chính là chữ Mọc của tiếng Việt, cũng giống như là Xuất. Qua giải thích của Hứa Thận thì thấy như QT (thay Rỡi và thay Tơi để tạo được một nôi khái niệm) là đúng: Mầm=Mào=Mão帽 = Mạo 冒 = Mộc 木 = Mọc = Xóc = Xảy = Xuất 出. Tất cả những từ này đều là tạo ra từ sự quan sát nảy mầm hạt giống của dân Việt nông nghiệp trồng trọt: Mầm là cái gạo (Gạo=Đạo=Đầu) của hạt đã nở ló ra, Mào là cái như mọc ra trên đầu con gà, Mão là cái đội như mọc trên đầu, Mạo là đội (mạo danh là đội danh), Mộc là “đội đất lên mà sống” như Hứa Thận giải thích, tức là cái mầm rồi lớn thành cây, chứ không phải mộc là gỗ,( người Nhật Bản đọc chữ Mộc 木 là “ky” theo cái âm thuần Nhật có nghĩa là “cây”), Xóc là cho ra như xóc đĩa, Xảy là nảy ra, Xuất là ra. Tất cả những từ trên đều là từ thuần Việt hết. Vậy mà những từ có viết bằng chữ nho thì người ta lại bảo là “từ Hán Việt” và lớn giọng tuyên bố rằng “Trong tiếng Việt hiện đại có đến 70% là từ Hán Việt, tức từ gốc Hán”( ! )
-
- 2
-
-
Nhà nghiên cứu Lưu Thụy phòng nghiên cứu khảo cổ Tây An trong bài viết đăng kỳ 5 năm 2006 tạp chí Nghiên cứu dân tộc có bài viết khẳng định chữ Hùng Vương 雄 王là viết đúng, còn chữ Lạc Vương 雒 王là viết sai. Các lý do nêu để minh chứng là: Học giả Lưu Thụy viết: 《Đầu năm 2005 tại di chỉ khảo cổ Cung Thự ở Phiên Ngung Quảng Châu có phát hiện một loạt thẻ gỗ Nam Việt ghi sự việc, trong đó thẻ đánh số nghiên cứu 73 có ghi nội dung đóng tô cho quan “dã Hùng kê thất, kỳ lục Thư, nhất Hùng 野 雄 鸡 七,其 六 雌 一 雄”. Các nhà khảo cổ thắc mắc ở hai chữ Hùng trong câu này, vì Hùng Kê là gà trống, Thư Kê là gà mái. Câu trên thẻ viết “dã Hùng kê bảy, trong đó sáu Thư, một Hùng” tức là bảy gà trống rừng (dã 野 = dại), trong đó sáu mái một trống, không làm sao hiểu nổi, đã bảy trống rồi sao lại còn sáu mái》. Lưu Thụy thì cho rằng chữ Hùng đầu không phải là chỉ giới tính con gà mà là chỉ loài gà gọi là gà Hùng 《vì vùng này xưa là đất của Hùng Vương》, còn chữ Hùng kê sau thì có nghĩa là gà trống, tức bảy con gà Hùng, mà là gà rừng, trong đó có sáu mái một trống》. Nhà khảo cổ học Mạch Anh Hào ở Quảng Châu thì lại cho rằng:《 chữ Dã Hùng có thể là tên một địa danh, tức là gà Dã Hùng bảy con, trong đó sáu mái một trống》. [ Vì các nhà khảo cổ chưa học tiếng Việt, nên không hiểu được câu viết trên thẻ trên, một câu hoàn toàn Hán, do người Hán ngày xưa viết. Lãn Miên hiểu câu trên dễ ợt: Người Lĩnh Nam cũng như người Đài Loan, không gọi gà trống là Hùng Kê, mà đến tận bây giờ vẫn gọi xuôi theo kiểu Việt, Gà Trống gọi là Kê Công, Gà Mái gọi là Kê Mẫu, “con gà” thì họ không gọi như kiểu Hán viết ngược là Kê Tử 鸡 子, mà gọi xuôi theo kiểu Việt là “tu cáy”. Chữ viết trên thẻ gỗ ấy đích thị là do nha lại người Hán viết, vì thu tô cho quan là người Hán, còn người đóng tô là dân Việt. (Thời Triệu Đà lập nước Nam Việt là thời người Bách Việt giành lại độc lập ở phía nam, sau khi các nước Việt khác của khối Bách Việt đã bị diệt, Triệu Đà thực thi sách lược hòa hoãn: đoàn kết Bách Việt và dung hòa với người Hán). Chẳng lẽ người đóng tô phải tự viết vào thẻ nộp? người đóng tô nói bảy con ”cáy dừng” ( gà rừng) thì nha lại ghi là bảy con “dừng kê”, nhưng dùng chữ để ký âm từ “dừng” (rừng) bằng hai chữ “dã hùng 野 雄” (Dã Hùng=Dừng). Chữ “Rừng”, hay “Dừng” như người Bắc Bộ phát âm, cũng đã từng được ký âm bằng hai chữ Dã 野 Tùng 叢( nghĩa là Lùm cây Dại, tức Rừng), chữ Dã 野 là âm nho của từ “dại” như cỏ dại, chữ Tùng 叢 là âm nho của từ “lùm” như lùm cây (Dã Tùng=Dừng, Dã Hùng=Dừng, Hán ngữ chỉ có âm “u”, không có âm “ư”), cũng có chữ âm nho của từ “lùm” là chữ Lâm 林 (biểu ý có hai cây 木+ 木 tức nhiều cây thì là “lùm”). Lắm=Lùm=Lớn=Lao=Lãnh. Người Lào Lùm là tộc đa số ở Lào, họ tự xưng là Thay Lao, gọi các tộc thiểu số khác là Khạ Nọi. Ngạn ngữ Lào có câu “Lìn má, má lề nạ. Lìn khạ, khạ nhịp pua” nghĩa là “Lờn chó, chó liếm mặt. Lờn người, người sờ đầu” ( người Lào kiêng xoa đầu người khác). Từ đôi trong Việt ngữ: chó má là nhiều chó, gà qué (cáy) là nhiều gà. Học giả Lưu Thụy viết:《Khi nghiên cứ sử dân tộc thời Tần Hán thì gặp rất nhiều lần từ Hùng Vương 雄 王 và Lạc Vương 雒 王 trong các thư tịch, vậy từ nào là đúng? Nhìn hình chữ thì Hùng 雄 và Lạc 雒 hơi giống nhau nhưng phát âm thì khác xa nhau. Trong một số thư tịch nói rằng Hùng Vương là tên gọi mà dân tộc vùng Giao Chỉ thời Tần Hán tôn xưng thủ lĩnh của mình. “Cựu Đường thư. Địa lý chí”, “An Nam đô đốc phủ. Bình Đạo huyện” có ghi. “Nam Việt chí” ghi: Đất Giao Chỉ cũ có quân trưởng Việt: Hùng Vương 雄 王, tá của ông viết là Hùng Hầu. Sau Thục Vương đem ba vạn quân tướng đánh diệt Hùng Vương. Thục dựng con trai làm An Dương Vương, trị Giao Chỉ. “Lĩnh Nam cổ đại phương chí tập dực” tập “Nam Việt chí” ghi: Đất Giao Chỉ cũ có quân trưởng viết là Hùng Vương, tá của ông viết là Hùng Hầu, đất viết là Hùng Điền, nhất Lạc điền kỳ điền giả viết Lạc Hầu, chư huyện tắc viết Lạc Tướng. (“ Quảng Đông tân ngữ” dẫn). “Thái bình quảng ký” cũng có viết Giao Chỉ có Hùng Vương 雄 王, Hùng dân, Hùng điền, Hùng Hầu, Hùng Tướng. Một số thư tịch khác thì cũng những nội dung tương tự nhưng chữ Hùng 雄 lại viết thành chữ Lạc 雒. Như “Thủy kinh chú. Diệp du thủy chú” ghi : Khi Giao Chỉ chưa có quận huyện, trên đất có Lạc điền, ruộng ấy tùy nước lên xuống, dân làm ruộng ấy ăn vị chi Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc Hầu, làm chúa các quận huyện; huyện nhiều thì là Lạc Tướng, có ấn đồng [ đương nhiên phải có chữ viết thì mới có triện đồng]. Sau con trai Thục Vương đem ba vạn quân tướng đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, chinh phục các Lạc Tướng, lên làm An Dương Vương. Sau, Nam Việt Vương Uý Đà sang đánh An Dương Vương. Con trai là Thủy hàng phục An Dương Vương, xưng làm thần…Thủy thấy nỏ bèn lấy trộm lẫy, chạy về báo Việt Vương. Nam Việt tiến binh đánh. An Dương Vương phát nỏ, nỏ gẫy, thế là bại. Việt chinh phục các Lạc Tướng…Lĩnh Nam chích quái, đoạn Hồng Bàng thị có viết: Âu Cơ với 50 con trai cư ở Phong Châu, tôn Hùng trưởng giả ( kẻ trưởng Hùng=cha trưởng Hùng) làm Chủ, hiệu viết Hùng Vương, quốc hiệu viết Văn Lang quốc. Vân vân và vân vân, tóm lại trong các thư tịch có tới 5 cách viết chữ: Hùng “雄”,Lạc“雒”,Lạc“骆”,Lạc“貉”, Hùng“碓” . Nhưng chữ Hùng Vương 雄 王 là đúng hơn cả, vì trong các truyện truyền miệng của Việt Nam phù hợp với hầu hết các chuyện trong Lĩnh Nam chích quái, đều có bối cảnh là thời Hùng Vương 雄 王》 Thuyết văn giải tự của Hứa Thận thì giải thích: (chú ý thấy là hành văn theo kiểu Việt), 《雄Hùng: 鸟父也điểu phụ dã (chim bố ạ = chim bố dạ = chim bố vzậy), 从 佳 厷 声 tùng giai Hoằng thanh (cùng giống Hoằng ở tiếng), 羽 弓 切 Vũ Cung thiết (Vũ Cung lướt)》 [ Vũ Cung=Vùng ] (nếu theo âm đọc của người Hán mà đọc sách Hứa Thận thì là: “Uỷ 羽 Cung 弓” lướt thành “Uỳùng” chứ không thể thành “xiúng” như họ đọc chữ Hùng 雄 được, rõ ràng là trật lấc). Theo Hứa Thận giải thích cách đọc, thì chữ Hùng 雄 đọc là “Vùng”, theo biểu ý của mặt chữ thì cũng đúng nghĩa đó: bộ Hoằng 厷 nghĩa là rộng (Rộng=Hồng 洪 =Hoằng 宏), bộ Chuy 隹 nghĩa là Chim, Hùng = 厷 + 隹 = 雄 Hùng, nghĩa là “Vùng rộng của cư dân Bách Việt có totem là con chim” ( như hình chim trên trống đồng). Chữ Vương cũng có nghĩa là Vùng ( theo QT: Văn=Vuông=Vương=Vùng, theo chữ: 文 = 口 = 王 = Vùng, người Triều Châu đọc chữ Văn文là “vuông”, người Quảng Đông đọc chữ Văn 文 là “mảnh”, đi học để có “văn bằng” hay “mảnh bằng” thì cũng rứa .Theo QT, thì: Vuông Chứa=Văn Chữ=Văn Tự, Chữ Vuông=Tự Vựng, bởi mỗi chữ là một âm “tiết” là một “tiếng” có nghĩa hoàn chỉnh, Vuông Chứa còn lướt nữa thành Vựa). Chữ Hùng Vương 雄 王 là các thư tịch thời Tần Hán về sau viết. Còn theo hành văn của người Việt thì phải viết là Vương Hùng . Hùng nghĩa là vùng rộng của người Việt, Vương nghĩa là vùng. Ghép hai từ đồng nghĩa vùng thành ra từ đôi thì nghĩa được nhấn mạnh là nhiều vùng, thành vùng rất rộng lớn của người Việt, gọi là Nước. Nước thì có nhiều Vùng tức nhiều Vuông, mỗi Vuông ấy là của Nước, Của Nước=Quốc, nên chữ Quốc 國 có cái áo ngoài là một Vuông 口. Vùng nhỏ trong nước, viết bằng chữ Động 洞 gồm bộ “nước 氵” và bộ “đồng 同”, nghĩa là cùng Nước. Vương Hùng=Vùng Hùng, Vùng Hùng tức Vùng của Hùng (như “cơm tôi” tức “cơm của tôi”, “cơm anh” tức “cơm của anh”). Vùng Của=Vua (QT lướt). Vương Hùng=Vùng của Hùng=Vua Hùng. Theo QT thì: Vua=Chúa=Chậu=Chủ=Cụ=Quân=Quan=Con=Kẻ=KÔ đômô (tiếng Nhật)=Cu=Tu (tiếng Tày)=Tử(chữ nho). (Quân bài còn gọi là con bài; kẻ sĩ; sĩ tử; tu cáy là con gà , tiếng Quảng Đông và Tày Thái, con gà=con cà=con kê; quan Lang=cụ Lớn). “Quân trưởng Hùng Vương” như thư tịch Tần Hán viết, tức là Vua Hùng. Hùng Vương là chữ mà thư tịch Tần Hán viết là chỉ đất nước của người Việt cổ đại (nên ta quen gọi là thời Hùng Vương, tức là thời mà người Việt cổ đại lập quốc ở nam Dương Tử), thủ lĩnh của đất nước ấy cũng mang tên đất nước ấy luôn, là Vua Hùng, quốc gia ấy tồn tại 3000 năm trải qua 18 thời đại, con người cụ thể làm thủ lĩnh quốc gia ấy gọi là Lang. Lắm=Lùm=Lớn=Lao=Lang=Lãnh; lãnh thổ là đất lớn, lãnh hải là biển lớn. Lãnh Đầu=Lãnh Đạo. Vùng Lang , tức vùng của Lang, do Lang quản, Vùng Lang viết chữ nho là Văn Lang. Đó là quốc gia Văn Lang của người Việt cổ đại ở nam Dương Tử. Đó là tổ quốc của Bách Việt. Mà hậu duệ của dân tộc ấy còn thấy trong các từ chỉ “người” trong Việt ngữ, nói về dân mặt trời, thờ Bà Trời (“Ông Trăng mà lấy Bà Trời. Mùng năm hỏi cưới, mùng mười rước dâu”), tức đại tộc Bách Việt: Kẻ=Cả=Ta=Kha=Khơ=Kháng=Khùa=Khạ=Xá=Cả=Kinh=Keo=Lèo=Lào=Lao=Lão=Ly= =Lý=Lê=Lầu=Lửa=Lói=Nòi=Nọi=Chói=Choang=Chái=Ai=Trại=Thái=Thay=Tày=Tao= =Cao=Chao=Cháy=Chiếu=Liêu=Miêu=Mèo=Mông=Man=Mán=Mọi=Mường=Mằn= =Mân=Cần=Nhân=Dân=Duôn=Dương=Duê=Duyệt=Việt=Nhiệt=Nhật=Nhắng=Nắng= =Nùng=Hùng=Họ=Hộ=Ngô=Ngộ=Ngã=Người. Nhiều từ ghép hai từ nêu trên với nhau để chỉ người hay nhiều người: Kinh Kha: tráng sĩ người nước Việt được cử đi thích sát Tần Thủy Hoàng. Thay Lao: tiếng tự xưng của người Lào Lùm, họ gọi các tộc khác là Khạ Nọi. Duôn: tiếng người Khơ Me và người Thái Lan gọi người Kinh. Cần Keo: tiếng người Tày-Nùng gọi người Kinh. Mằn: tiếng người Quảng Đông chỉ người Mọi Người=nhiều người Ai Lao: chỉ cộng đồng Lào Lèo: tiếng nam Trung Bộ gọi người Lào Duê: tiếng người Hán gọi người Việt Nùng Chao: một nhánh cộng đồng Nùng Dương Việt quốc: người Việt của Nước Mân Việt quốc: người Việt của Nước (Từ Kinh Kha cũng hiểu là Kẻ Khạ, là một người Việt, cũng như Kinh Dương Vương, tức Vương Kinh Dương, hiểu là ông Vua người Việt, không phải là ông họ Kinh tên Dương. Người Việt đặt tên địa danh bằng chữ “người” lên đầu, do tư duy coi người là quí nhất, đó là chữ Kẻ, là chung nhất, chỉ dân đất ấy, cụ thể cá nhân thì cũng nhan nhản các tên núi Bà…, chợ Bà…, núi Nàng…, đền Bà…, đền Ông…, cầu Ông…. Nhan nhản các tên làng có chữ Kẻ còn tồn tại ở Lĩnh Nam, mà thư lại đem ký âm trên giấy tờ ghi bằng chữ Kê, dù có nơi viết đảo ngược theo kiểu Hán, chữ Kê đứng sau. Các nhà khảo cổ cứ theo nghĩa chữ Kê là con gà nên đoán sai hết cả. Ví dụ địa danh viết chữ là Kê Tâm Sơn (núi Kê Tâm) ở Quảng Đông, lại đoán là “núi tim gà” rồi mò là do dân cư ở đó có tục bói chân gà. Thực ra nó là “núi Kẻ Tằm” do dân ở đó là kẻ chuyên trồng dâu nuôi tằm. Nếu là tên Núi Gà, hay suối Kênh Gà thì còn có lý. Dân Việt có làm cỗ cúng thì nguyên con gà luộc đặt trên mâm xôi, chẳng có tục cúng rời bằng cái tim con gà, cũng chẳng có logic nào moi tim con gà ra coi để hình dung nó giống trái núi mà đặt tên núi, tim gà hay tim heo thì đều hình dáng giống nhau cả . Nước Sở, sau thời Hùng Vương, còn gọi là nước Kinh Sở, đơn giản thì cũng là Kẻ Sở vậy, nghĩa là dân đất Sở là dân Bách Việt. Các đời vua Sở lấy chữ Hùng làm họ, Hán thư về sau không viết bằng chữ Hùng 雄 (Hồng Vùng=Rộng Vùng, nhưng có totem Chim=Teen=Tiên; Rộng Vùng=Rồng=Rắn Sông, một chữ Hùng 雄 đủ nói lên lịch sử nhờ cả ý cả âm) mà viết bằng chữ Hùng 熊 (nghĩa là con gấu theo Hán ngữ, phát âm là “xiúng”, nhưng biểu chữ thì lại là chữ Năng 能 ở trên và chữ Lửa 灬ở dưới, thì cũng là dân Nắng Lửa tức dân Mặt Trời, vậy chữ này là được mượn để ký âm “xiúng” là con gấu, chữ nó không có tượng hình hay biểu ý gì đến gấu cả) . Nhà văn Nhật Bản Shiba Hirotaro viết: “…Thời các nước Ngô, Sở, Việt ở vùng Trường Giang, ngôn ngữ họ nói là ngôn ngữ Nam Á, khác xa ngôn ngữ ở Trung Nguyên. Thời ấy họ mạnh hơn các nước ở Trung Nguyên nhiều, đơn giản là vì họ đông dân và lắm gạo…”. Cái Nước to rộng ấy là Nước Hùng Vương, hay Nước Văn Lang. Có học giả Trung Quốc (W: xinbang wang) lý luận: 《 Hán thư chẳng thấy có nói đến Văn Lang quốc, nói đến người Văn Lang thì có, như “Lâm Ấp ký” viết thế kỷ thứ 5. Vậy Văn Lang quốc là không có, vì xã hội phải có phân chia giai cấp thì mới hình thành quốc gia. Lại nữa, kết hợp với lý giải chữ Quốc, thì chữ Quốc cổ đại chỉ có ý nghĩa là thành ấp, thành bang, tức thành vực, khu vực 结合古代对国字含议的理解(古代“国”字指城邑、城邦即地域、区域的思)》 . Vậy hóa ra cũng phải công nhận Quốc không phải là Nước. Việt ngữ Nước là địa lý lớn có chủ, Quốc là vùng nhỏ của Nước. Của Nước=Quốc. Phong hầu cho đất Trần thì gọi là Trần Quốc tức xứ Trần của Nước, người được phong lấy tên đất là Trần làm họ v.v. Cổ thư viết hai chữ Trung Quốc thì phải theo kiểu Việt mà hiểu nghĩa của nó là Trong của Nước (thì mới dịch được cổ văn sang Hán ngữ hiện đại), chứ thời cổ đại chưa có nước lớn gọi là nước Trung Quốc ( thời nhà Thanh gọi là nước Đại Thanh), mà chỉ có hàng trăm quốc gia Bách Việt.
-
- 4
-
-
. Trục thời gian Thời gian căn cứ Trời, Trời đang Ủ một cái vô hình, đó là cái Trời Ủ, đọc lướt là Trụ. Trời Ủ=Trụ (QT lướt), chữ nho viết (trụ 宙), tra từ điển: Trụ 宙 nghĩa là Thời Gian. Trục thời gian nếu coi là một đường thẳng thì nó sẽ có hai chiều là Trước và Trễ (cùng tơi “Tr” với chuyển động Trườn và cùng tơi với Trời). Trong QT Nở, nếu đặt cái tế là Trườn (chỉ sự chuyển động) vào trong NÔI khái niệm, thì nó sẽ sinh ra cặp từ đối là Trước/Trễ, trườn về phía quá khứ là Trước, trườn về phía tương lai là Trễ. Trên con đường là trục thời gian ấy nếu ta Xe (tức là Đi, Xe theo QT thay tơi và QT thay rỡi thì có các từ chuyển động là: Xe=Che=Chuyên=Chuyền=Chuyển=Chạy=Chở=Chao=Giao=Giơ=Di=Dê=Dã=D=Day=Sảy=Xay=Xê=Xịch=Dịch=Nhích=Hích=Hành . Che là chạy xe ép mía để làm mật), thì khi xe về phía quá khứ sẽ là Xưa, xe về phía tương lai sẽ là Xuôi. Cặp từ đối Xưa/Xuôi là chỉ hai hướng của trục thời gian. Trên trục thời gian ấy nếu lấy Ngày làm điểm hiện tại thì xe về phía quá khứ là Ngày Xưa, đọc lướt là Ngửa. Ngày Xưa=Ngửa (QT lướt). Ngửa=Ngược (QT thay rỡi). Ngày Trước=Ngược (QT lướt). Xe về phía tương lai là Ngày Xuôi, đọc lướt là Nguôi. Ngày Xuôi=Nguôi (QT lướt). Nguôi là bất tận theo trục thời gian. Nguôi Mãi=Ngoai (QT lướt). Nguôi Nguôi mãi=Nguôi Ngoai. Nguôi Ngoai là từ đôi để nhấn mạnh ý Nguôi. Nếu Nguôi đến Tận thì thành “nguôi nặng nguội”=Nguội. Nguội=Ngỏm (QT lướt). Cặp đối nguyên thủy là Ngược/Nguôi. Cặp Ngược/Xuôi cũng là cặp đối, nhưng gọi là cặp đối lộn nôi. Trên trục thời gian nều ta Đi về phía quá khứ thì là Đầu, về phía tương lai thì là Đuôi. Đầu/Đuôi là cặp từ đối của trục thời gian. Trên trục thời gian nếu ta Tiến về phía quá khứ thì là Tiên, về phía tương lai thì là Tà. Tiên/Tà là cặp từ đối của trục thời gian. Trên trục thời gian nếu ta Chạy về phía quá khứ thì là Chớm, về phía tương lai thì là Chuôi. Chớm/Chuôi là cặp từ đối của trục thời gian. Trên trục thời gian nếu ta Sảy (sảy chân) về phía quá khứ thì là Sớm, về phía tương lai thì là Sau. Sớm/Sau là cặp từ đối của trục thời gian. Trước/Sau cũng là cặp từ đối về thời gian, nhưng là cặp từ đối lộn nôi. Nếu chỉ lấy một khoảng thời gian nhất định để khảo sát sự vật kể từ khi nó xuất hiện đến khi nó kết thúc, ví dụ như ta thấy mặt trời trong ngày từ khi mọc đến khi mất, ta có nhiều cặp từ đối thể hiện cái đó: Mọc/Mất, Thò/Thất, Có/Cùng (Chót Cùng đọc lướt là Chung; Chót Cùng=Chung), Ló/Lặn, Rộ/Rụi, Ra/Rồi, Lộ/Liễu, Trổ/Trốn, Chộ/Chết, Hiện/Hết, Tại/Tắt, Nở/Nấp, Xuất/Xếp, Ngỏ/Ngoẻo, Ngụy/Ngỏm . (Ngụy là sự xuất hiện như quỉ, không chính danh). Thò Ngụy đọc lướt là Thủy, Thò Ngụy=Thủy (QT lướt). Cặp đối Thủy/Chung (Thò Ngụy/Chót Cùng) chỉ là một cặp từ đối hệ quả, và cũng là cặp từ đối lộn nôi. Qua qui tắc sinh ra các từ trên trục thời gian như trên, sẽ hiểu rõ được gốc của từ ghép Vườn Tược và Nhà Cửa. Vườn tược, nhà cửa Ví dụ một bà cụ nông dân VN nói: “Tôi đẻ ra và nuôi lớn mười đứa con, con thứ tôi cho chúng nó đi làm ăn lập nghiệp ở xa hết, chỉ giữ con cả làm ăn ở nhà để trông coi nhà cửa, vườn tược”. Từ điển Tiếng Việt (NXB KHXH Hà Nội 1977) giải thích từ Nhà Cửa là “nhà ở nói chung, ví dụ: nhà cửa sạch sẽ” (trang 562), từ Vườn Tược giải thích là “ vườn nói chung” (trang 868). Ngôn từ Việt đâu có nghèo ý như vậy. Nếu Nhà Cửa là “nhà ở nói chung” thì trong nhà đã có các loại cửa rồi, cần gì phải nói “Nhà Cửa” nữa. Thực ra từ “Cửa” trong từ ghép “Nhà Cửa” không phải là chỉ cái cửa, mà nó là kết quả lướt của cụm từ “của xưa”. Của Xưa=Cửa (QT lướt). Nhà Cửa=nhà của xưa (di sản). Từ “Tược” trong từ ghép “Vườn Tược” không phải là không rõ nghĩa, như các nhà ngôn ngữ học Việt Nam nhận định “trong từ ghép hai tiếng, thông thường chỉ có tiếng đầu rõ nghĩa, còn tiếng sau chưa rõ nghĩa, nó như là một từ chờ, chưa được sử dụng độc lập”. Thực ra Tược là kết quả lướt của cụm từ “từ trước” hay “từ tổ tiên trước”.TừTrước=Tược (QT lướt). Vườn Tược là “vườn từ tổ tiên trước” tức “vườn cũ” (di sản). Bà cụ chỉ nói “Nhà Cửa, Vườn Tược” mà đã như là thành ngữ, có nghĩa là “di sản vật thể của gia đình” như ta nói theo kiểu Hán hóa ngày nay. Từ điển Tiếng Việt cũng giải thích: Quốc Học là “nền văn hóa của nước mình”, vậy thì rõ ràng là đã giải thích từ Quốc là kết quả lướt của cụm từ “của nước”. Của Nước=Quốc (QT lướt). Nhưng lại giải thích Quốc Gia là Nước (1) và Nhà Nước (2). Quốc Gia chỉ có một nghĩa là Nhà Nước, là nhà của nước tức cái chính phủ, là “đại diện của Nước”, như nói “nguyên thủ quốc gia” chứ không nói “nguyên thủ Nước”, phủ là cái nhà công, như “phủ chủ tịch”, chứ “quốc gia” không có nghĩa là Nước được, nếu nói “Các quốc gia họp nhau tại hội nghị…” là đúng, còn nói “Các nước họp nhau tại hội nghị…” là sai ngữ pháp. Nước là Quốc Thổ tức Đất Nước, còn Quốc Gia là Nhà Của Nước, hay Nhà Nước, xếp theo ngữ pháp Việt. Qui tắc Lướt là một trong các QT làm cho ngôn từ Việt đa âm tiết biến thành đơn âm tiết, hàng vạn năm trước. Đến thời đầu công nguyên Hứa Thận còn vận dụng QT Lướt để hướng dẫn cách đọc chữ nho đúng âm Việt trong cuốn “Thuyết văn giải tự”. Theo QT cũng giải thích được nguồn gốc từ Bói Toán. Cứ nhìn vào chữ NÔI, là cái nôi khái niệm thì chữ O ở giữa là chủ yếu của cái Lõi, giữa ruột là bí ẩn nhất. Lịch sử của từ Bói là từ Mo đến Bói rồi đến Bốc. Mo=Moi=Bói=Bốc ( QT thay tơi và QT thay rỡi). Một ông Thầy Mo là một con người cụ thể, nhưng về khái niệm thì “thầy mo” là khái niệm trừu tượng do lấy từ khái niệm cụ thể là cái Mo cau. Mo nang là cái bọc kín buồng nụ cau khi chưa nở ra. Khi ấy thì chỉ có cái Mo ấy là biết được buồng cau có bao nhiêu nụ, bởi người ngoài đều không thể nhìn thấy. Lúc ấy cái Mo giống như nhà ngoại cảm thấy được thế giới âm, những người khác không thấy được, chỉ có thể biết qua truyền đạt của nhà ngoại cảm. Do vậy Mo đã được trừu tượng hóa để thành từ chỉ Thầy Mo. Thầy Mo đương nhiên phải Mò, nhưng thầy đã hiểu một cái nguyên lý mà người khác chưa biết nên thầy mới mò được ra, Mò Coi=Moi ( QT lướt). Moi là có dự đoán trước mới dám moi, moi cua cũng vậy thôi, không dám bạ đâu cũng Moi. Biết Moi=Bói (QT lướt), Bói là từ chỉ khái niệm trừu tượng, “Biết trước nguyên lý để tìm ra sự thật mà Coi”=Bói, nó khác với khái niệm cụ thể như Bới và Bươi chỉ là theo bản năng, như con gà dù đã đứng trên đống thóc mà nó vẫn vừa mổ ăn vừa thỉnh thoảng bươi như trên đất không có tí mồi nào, dù rằng Bươi=Bới=Bói (QT thay rỡi) là cùng nôi khái niệm, nhưng sắc thái các từ là khác nhau. Khi con người biết làm thuốc bằng cây cỏ để chữa bệnh (thời đại Thần Nông của người Việt) thì thầy lang Bốc thuốc. Bốc cũng như Bói, nhưng là “Bói sao cho khỏi Độc”=Bốc (QT lướt) . Việc của Thầy Lang gọi là Bốc thuốc vì Thầy đã biết nguyên lý, loại dược thảo gì, liều lượng bao nhiêu cho đủ một thang có công hiệu chữa chứng bệnh cụ thể. Người đạo Hồi ăn bốc chứ không dùng đũa, nhưng bốc ấy cũng phải có kỹ năng khéo léo của các ngón tay, chứ không phải là hốt vô tội vạ, như thầy Lang mát tay một Bốc là đúng mấy chỉ như Thầy dự định. Xem Bói=Chiêm Bốc là nói việc người ngoài đến nhờ Thầy, việc của Thầy chỉ có là Bói hoặc Bốc. Toán cũng như Bói, Tìm Oan=Toán (QT lướt), tìm oan là tìm cái oan khuất, là cái chưa hiểu thực chất, muốn Tìm Oan=Toán được cũng phải biết trước nguyên lý, như làm toán là dựa công thức của nguyên lý để tìm ra ẩn số. Bói Toán là một từ đôi, chỉ cái công việc đặc thù là Bói Toán. Có nguyên lý đúng thì Bói Toán ra đúng. Bói Toán không thể đồng nghĩa với dự đoán hay tiên tri. Dịch từ Việt cũng chẳng phải dễ.
-
- 1
-
-
Ngày xửa ngày xưa… Sử từng ghi: Nước Văn Lang, bắc giáp Động Đình Hồ, đông giáp Đông Hải, tây giáp Ba Thục, nam giáp Hồ Tôn. Nước Văn Lang có từ thời trước khi sử này ghi. Khi đó biên giới không phải là phân vạch như thời Tần Thủy Hoàng xây vạn lý trường thành, cũng không giống như sau này thời thực dân chia thuộc địa châu Phi và châu Mỹ bằng kẻ những vạch thẳng tắp trên bản đồ. Thời nước Văn Lang, Giáp=Giới=Tới=Tận=Tất. Nên Văn Lang là thể hiện một vùng ảnh hưởng văn hóa bao trùm của một cộng đồng dân tộc rộng lớn đã có nhà nước, có ngôn ngữ riêng, văn hóa riêng. Văn Lang là “Vùng văn hóa của Lang”, đó là văn hóa làng của dân định cư làm nông nghiệp. Văn=Vạn (vạn chài) của dân Biển, dòng Rồng. Rồng=Rộng=Lộng=Long. Rộng=Hồng=Hoằng=HÙNG. Dân vạn chài đi biển cùng Bè nên gọi là Bạn, lên bờ họ quần tụ thành Bản. Lang=Làng ( của dân đất liền), dòng Chim=Teen=Tiên=Viễn, cùng chiếm địa vực rất rộng. Rồng Tiên hợp lại với nhau thành nhiều bản,làng. Bản Làng=Bang. Lang=Làng=Vàng=Vùng=Vuông=VƯƠNG. HÙNG VƯƠNG là một quốc gia gồm dân biển và dân đất liền, đó là quốc gia Văn Lang. Đứng đầu quốc gia Văn Lang là Vua Hùng, truyền 18 thời đại trải dài 3000 năm lịch sử cho đến khi văn minh Văn Lang sụp đổ ở bờ nam Dương Tử. Văn=Vạn=Vuông=Vùng. Lang=Làng=Vàng=Vương=Vuông=Vùng. “ Vùng văn minh Văn Lang” ấy viết bằng một chữ Vuông to 口, bên trong có hình linga, biểu ý bằng một gạch ngang( 一 ) nằm dưới; và yonny, biểu ý bằng một hình vuông nhỏ ( 口 ) nằm trên ( xếp yonny nằm trên do quan niệm mẫu hệ), tất cả là năm kẻ thẳng của quẻ Ly, cũng có thể xếp lại thành chữ Nhật 日 là Mặt Trời, tượng trưng của dân Lửa xứ nóng. Tá=Lả=Lửa=Ly=Liệt 烈 =Việt 越 =Hiệt 黠 =Hỏa. Hiệt 黠 viết bằng ghép Chất Xám (chữ Hắc 黑) và Lòng Thiện ( chữ Cát 吉). Kẻ=Kiệt. Kiệt Hiệt=Kẻ Lửa. Không ít làng Việt cổ có tên là Kẻ Lửa hay Kẻ Lói, Kẻ Chói, Kẻ Cháy (như Bãi Cháy ở Hạ Long). Về sau tên ấy bị phiên âm bằng chữ Cổ Lôi , Cổ Loa hoặc những chữ khác nữa có âm na ná như vậy. Nếu nghiên cứu cứ dựa vào chữ Tàu thì sẽ có hậu quả là “tam sao thất bản”. Bên trong Vuông to 口 còn một chữ nữa là chữ Qua 戈. Qua là của ta. Của Ta=Qua. Chữ Vuông to có các bộ phận vừa nêu chính là chữ Quốc 國. Văn Lang chính là chữ Quốc. Quốc tức là của Nước. Của Nước=Quốc. Biểu ý của chữ Quốc ấy là: “Vùng của Ta là dân Mặt Trời”, tức dân trống đồng. Trống đồng chỉ khảo cổ thấy từ nam Dương Tử trở về nam, nhiều nhất và đẹp nhất là ở Việt Nam. Quốc gia là một từ Việt Hán, có nghĩa là nhà của nước tức chính phủ . (Ngân hàng quốc gia Việt Nam, sau bị đổi là Ngân hàng nhà nước Việt Nam, sau nữa lại thành lập Đại học quốc gia Hà Nội mà không đổi lại là đại học nhà nước Hà Nội cho nó đồng bộ với ngân hàng nhà nước Việt Nam). Thủa xưa, tư duy phồn thực, thì Kẻ “Dính” tức Kẻ truyền “Gen” hay truyền “tinh”. Kẻ Dính=Kinh, là người Kinh. Lạc Long Quân (dòng Rồng) và Âu Cơ (dòng Tiên) chia 50 con trai ra biển và 50 con trai vào lục địa, đó là Tổ Tiên của Bách Việt. Đàn ông Kinh=Đinh, Đàn bà Kinh=Đinh. Chữ Đinh丁 viết cách điệu biểu ý: yonny ở trên là vạch ngang 一, linga ở dưới là vạch dọc丨, vì còn là thời mẫu hệ, mẹ đặt trên. Thờ Mẫu là đạo nguyên thủy của người Việt. Khi tiếp thụ Phật giáo thì Phật cũng còn có hiện thân là Phật bà Quan Âm. Những điều kể trên là từ ngày xửa ngày xưa…Xưa (về thời gian là Trước). Xưa Trước là rất xa về trước. Xưa Trước=Xược. Không được hỗn xược là không được hỗn với xa xưa, không được hỗn với người xưa, không được hỗn với Tổ Tiên. Xưa=Xược=Thước=Tược=Tích. Vườn tược là vườn xưa của Tổ Tiên để lại. Không được để mất một tấc đất của Tổ Tiên. Thời khắc Trước=Thước (chim Hỉ Thước là con chim biết báo trước niềm vui sắp đến, cũng còn gọi là con chim Khẽ Mách=Khách). Chuyện cổ tích có nội dung hấp dẫn thường được biên soạn thành Truyện được Chuộng=Tuồng. Tuồng Cũ=Tuồng Cổ còn gọi là Tích Tuồng (cũng còn gọi là Việt kịch. Người Hàng Châu, đất Cối Kê xưa, ngày nay vẫn thích xem Việt kịch, nhưng không còn hiểu tiếng Quảng Đông, Việt ngữ, nên kịch phải có hàng chữ chạy thuyết minh). Hỗn hào là lời mắng Hỗn Hẳn với Tao. Hỗn Hẳn với Tao=Hỗn Hào. Hỗn hào là hỗn với người đang sống, Hỗn xược là hỗn với người đã khuất. Kẻ phủ nhận lịch sử tức phỉ báng Tổ Tiên là kẻ hỗn xược. Hai đầu của trục thời gian là Xưa/Xuôi, cũng cùng logic Đầu/Đuôi. Nếu lấy Ngày là điểm hiện tại của trục thời gian thì NgàyTrước=Ngược, Ngày Xuôi=Nguôi. Nguôi thì cứ Nguôi mãi bất tận. Nguôi và nguôi Mãi=Ngoai, có từ nhấn mạnh là Nguôi Ngoai. (Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam vẫn đang cãi nhau về từ ghép kiểu như Nguôi Ngoai. Có người cho rằng đó là một từ láy. Có người cho rằng đó không phải là từ láy, nó là từ kiểu gì còn phải tiếp tục nghiên cứu để định nghĩa. Vì họ cho rằng những từ kiểu như Nguôi Ngoai, do ghép hai tiếng, thì trong đó chỉ có một tiếng có nghĩa là Nguôi, còn tiếng kia là Ngoai là chưa có nghĩa, là “từ chờ”, chưa được sử dụng). Nguôi Mãi=Ngoai. Cũng vậy “Người giữ cái gì trong lòng thì nó càng theo thời gian trôi nó càng Phai”=Ngoai. Phai quá độ thì Nguôi=Nguội=Ngỏm chứ Nguôi không còn bất tận nữa. Bởi vậy để khỏi phai mờ bản sắc, người Việt nhắc nhớ con cháu bằng kể chuyện cổ tích.Chuyện cổ tích của người Việt có nội dung là những mật ngữ nhắc nhớ về cội nguồn dân tộc, tính minh triết của nó chứng tỏ nền văn minh Văn Lang rực rỡ. Nguyên bản nội dung và lời kể của những chuyện cổ tích đó tồn tại hàng ngàn năm nay để nuôi tâm hồn Việt. Bởi vậy đừng lấy ný nuận của chủ nghĩa chia giai cấp để đi “phân tích” chuyện cổ tích thời HÙNG VƯƠNG mà phá hỏng mất nó, vì như thế là hỗn xược.
-
- 1
-
-
Đầu năm khai bút viết chữ NÔI Tưởng rẻ, hóa ra chữ tuyệt vời Ngôn từ Tiếng Việt rất chính xác. Mỗi Tiếng phát từ Miệng ra là một Từ, là một cái Tên để chỉ chính xác một Tình là cái Tinh của khái niệm, vì nó vốn là một Tế của cái Tư (là tư duy của một con người). Tất cả các từ có tơi “T” vừa nêu đều là cùng tơi của một cái Ta (cá nhân). Cái NÔI là kẻ làm ra Lời Nói (ngôn ngữ). Bởi vậy tôi gọi NÔI là “cái nôi khái niệm”. Nó là cái Ổ sinh ra mọi khái niệm (xem chữ Ô nằm giữa NÔI), gồm những khái niệm Âm (tức Negative, xem chữ N nằm bên trái NÔI) và những khái niệm Dương ( tức Irnegative- phủ định Âm, xem chữ I nằm bên phải NÔI). NÔI (nhờ lưỡi đưa ra) LỜI=NÔI LỜI=NÓI. Giải thích theo qui tắc lướt: N của “NÓI” là cái gen N của “NÔI”; ÓI là gen ÔI của “NÔI” cộng gen ỜI của “LỜI”, ÓI có gen OI chung của “ÔI” và “ỜI”; còn âm vận thì: [dấu mũ của chữ Ô trong “ÔI”] + [dấu râu của chữ Ơ trong “ỜI”]=1+1=0, cho nên ra OI không có dấu gì (có dấu tức là 1, không dấu tức là 0); còn thanh điệu thì: [dấu không của “ÔI”]+ [dấu huyền của “ỜI”]=0+1=1=dấu sắc của “NÓI”. Qui tắc lướt giải thích như vừa nêu là hoàn toàn đúng qui luật nhị phân của toán kỹ thuật số, bởi vậy mà NÔI LỜI=NÓI. Qui tắc lướt đã từng được Hứa Thận vận dụng và gọi là cách Thiết để hướng dẫn cách đọc chữ nho đúng âm Việt, trong cuốn “Thuyết văn giải tự” viết hồi đầu công nguyên và được coi là cuốn từ điển đầu tiên ở Trung Hoa. Lát=Liếc=Lướt=Lướt-Thướt=Thiết=Chiết=Chặt=Cắt, đều là một lát cắt. Qui tắc lướt là cắt bỏ cái phần giữa của hai từ đang ghép với nhau hay của cả một câu dài, chỉ giữ lại cái tơi (“phụ âm đầu” hoặc “vắng phụ âm đầu”) của từ đầu, rồi ghép với cái rỡi ( âm vận) của từ cuối để thành một Tiếng=Từ mới.[Năm 2003 tôi ngẫu hứng mà viết cuốn “Qui luật nhị phân trong bọc Trứng của Tiếng Việt”(số đăng ký 424 ngày 28/05/2003) gởi NXB Giáo Dục mục đích để tầm sư học đạo vì tôi chưa học gì về ngôn ngữ cả, tiến sĩ ngôn ngữ học là GĐ NXB đọc rồ,i hai tuần sau trả lại tôi, không cho một lời khuyên hay phản biện gì, hì hì ]. Theo qui tắc lướt thì chữ NÔI là kết quả của lướt câu “Nước Tổ Của Tôi”=NÔI (N của “NÔI” là gen N của “Nước”, Ô của “NÔI” là gen Ô của “Tổ”, ÔI của “NÔI” là gen ÔI của “Tôi”). Nhưng Tôi có nghĩa là Con, là Người, vì: Kẻ=Con=Cao (tiếng Vân Kiều)=Cau ( tiếng Philippin)=Tau=Tao=Tui=Tôi=Ta=oa-Ta-xi (tiếng Nhật Bản)=Ta=Ngã=Ngô=Ngộ (tiếng Quảng Đông)=Người. Tôi nghĩa là Con Người. Vậy NÔI=Nước Tổ Của Tôi=Nước Tổ Của Con Người. Cái dụng cụ đơn sơ Đan bằng Nan tre để người mẹ Việt Nam ru con, gọi là cái Nôi, vì nó đúng là, như đứa trẻ sơ sinh “nói”, nó là “Nan đan cho Tôi”=Nôi. Cái Nôi ấy là để đứa trẻ sơ sinh nằm và ước mơ sau sẽ làm vua. “Nằm Ước”=Nước. Cái Nôi ấy là cái Nước cỏn con của đứa trẻ sơ sinh. Nó được mẹ ru quanh vành Nôi là phải làm chủ, phải có cõi bờ riêng. Cái Tư ấy là Tư duy, là Tự do, là Tự chủ , là cái Vốn=Bổn (nên về sau mới có từ Tư Bổn) đã có từ trong máu của người Việt và được mẹ dạy cho từng khái niệm qua lời ru, là lời ruột của U (chứ không phải cầm giấy đọc hay tầm chương trích cú của chủ nghĩa nào cả). “Ruột U”=Ru. Tư duy tự chủ như vậy nên trăm con của Lạc Long Quân và Âu Cơ chia đi các vùng Biển và Lục Địa thì đã thành ra trăm nước Bách Việt, rồi con cháu của họ cứ theo lời ru của chủ nghĩa NÔI thì sẽ thành ra Vạn nước Việt. Tức là cái văn hóa của thuyết Âm Dương Ngũ Hành của Văn Lang Lạc Việt sẽ thành phổ biến toàn cầu. Tại sao người Việt lại chọn từ Nôi đem đặt tên cho cái để ru con ? Trong khi ngôn ngữ láng giềng là Hán ngữ thì lại gọi cái để ru con là cái “yáo lán” tức Dao Lan là cái Làn Lắc. Mà “làn lắc” thì chỉ là một nghĩa cơ học tầm thường, cái làn, để cầm mà lắc. Nhưng: Nan (tre)=Đan=Làn=Lan= “lán”; Lắc=Dắc=Dích-Dắc=Dao=”yáo” (Tây nó mượn trước cái từ Dích-Dắc của Ta, rồi Hán mượn sau cái từ Dao của Ta. Cũng như Tây mượn trước cái tơi “D” trong từ Dính của Ta để gọi là Gen, Hán mượn sau cái rỡi “inh” trong từ Dính=Tinh của Ta để gọi là Jing. Hãy nghe lời ru của mẹ Việt Nam: “Bập bềnh cầu ván đóng đinh.Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi.Khó đi , mẹ dắc con đi. Con thi trường học, mẹ thi trường đời”. Dắt là Dẫn đi thẳng, Dắc là Dẫn di mà phải nghiêng bên nọ nghiêng bên kia. Phải giữ thăng bằng để đi đến đích. Lời ru của mẹ Việt Nam từ xa xưa chính là kim chỉ nom cho “tổ chức lại giáo dục” ngày nay. Dạy cho người ta biết ứng xử với cái trước mắt và cái sẽ xảy ra trong tương lai thì không dạy, thích dạy lý thuyết kinh điển vì thầy khỏi phải nghiên cứu thực tế nên khỏe re vì đã có sách cũ, học thuộc lòng, trả bài , điểm cao, bằng cấp là “vinh” để có thể vênh vênh. (Ngạn ngữ Nga có câu: “Nhà cộng sản là người đọc thuộc lòng cuốn “Tư Bổn” của Mác, nhà tư bản là người đọc hiểu cuốn đó”). Một Tiếng=Từ là Nôi, tưởng vzậy mà không phải vzậy , tiếng Việt thật dễ thương mà chẳng đơn giản tí nào. Chẳng vậy mà từ cổ đại đến giờ người Việt Nam vẫn thế: Hay hát, hay múa, hay cười. Hay nói lấp lửng là người Việt Nam. Lấp lửng còn hơn lập lờ ! Đục trong phải rõ như tờ giấy ngay !
-
Tổ chức (2) Chữ Tổ 組 viết bằng ghép chữ Tơ 糸 với chữ To 且( Tơ To=Tổ), là nói cái tổ của con chim. Con chim tìm rơm rác, cũng giống như là những sợi tơ rất nhỏ nhoi, tập hợp lại kết nối to dần lên thành cái Ổ để chuẩn bị đẻ trứng (Tìm rơm lót Ổ=Tổ), vì vậy của động vật có vú thì gọi là Ổ, của chim thì gọi là Tổ. Chim đan tổ rất khéo léo bằng cách tập hợp có chủ đích những cọng rơm rác: Tổ=Rổ=Dổ=Dệt=Dày (theo chiều mặt phẳng)=Dầy (theo chiều sâu tức chiều hậu, Sâu=Hậu)=Đầy=Đức=Chức, quá trình đan, nối như vậy đến khi hoàn thành mãn ý chim thì Nối đến khi Thôi=Nôi, cái Tổ chim là cái Nôi để chim đẻ trứng. Chính từ Tổ Chức là do con chim (tức dòng Tiên, dòng Mẹ, dậy cho người Việt). Khi có sự tập hợp yếu tố Đực với yếu tố Cái thì sẽ có hậu quả là To, tức cái bụng to dần lên vì chửa. Thô=To, chữ Thô 粗 có cái âm là chữ To 且, thời cổ đọc nó là To. Chữ Tơ 糸 ghép với chữ To 且 thành chữ Tổ 組, người Việt dùng chữ Tổ 組 này để nói cái Tổ chim, mà totem chim - Tiên. Còn Tổ của Rồng viết khác, dù cũng gọi là Tổ祖. Bởi Rồng ở dưới nước tức ở trong cái Ao, dù là Thái Bình Dương hay biển Đông thì cũng là cái Ao nước, nó là cái Ao, Ổ=Ao=Áo (vì nó là nước), người Việt dùng chữ Tổ Tiên là dùng chữ Tổ 祖 này, Tổ của Rồng, nhưng còn kèm thêm chữ Tiên nữa, vì mẹ là Tiên, đó là ý nghĩa từ Tổ Tiên mà mọi người Việt thường nói khi cúng Tổ Tiên. Chữ Tổ 祖 của Rồng gồm chữ Aó 衤 và chữ To 且 (Áo To=Ổ). Aó=Y 衣. Áo 衤 là một chữ tượng hình, giống như cây rơm. Khi xây cây rơm người ta trồng trước tiên một cây cột (Cột=Cốt), xếp rơm dần xung quanh, để nước mưa khỏi thấm theo thân cột thì trên chốc cột người ta úp một cái nồi đất. Aó To=Ổ, nên ta cũng hay gọi là cái ổ rơm ( biết bao cặp nam thanh nữ tú đã từng ngồi dựa cây rơm mà tình tự). Chữ To 且 là cái tượng hình phồn thực: Linhga ở trên, là hình cây cột, còn có cả khấc nữa, mà là hai khấc chứ không phải một; Yonni ở dưới, là một gạch ngang tượng trưng. Đây chính là câu chuyện cổ tích về ba đầu rau, một bà lấy hai ông, cái cột có hai khấc là vẽ lồng hai cái Linga làm một. Đầu Rau vì Đầu là cái đầu tiên, khi đẻ thì Đầu là cái chui ra trước tiên, nó gọi là cái Trốc. “Trước về thời gian mà là cái Ốc”=Trốc. Rau=Nhau , Nhau là cái Nhi của bào thai. Chuyện cổ tích hai ông một bà ( ba đầu rau) thì Tàu không hề có. Trốc là cái Gáo (“Gom bộ óc bên trong bằng cái Áo”=Gáo). Gáo=Gốc, Gốc là sự bắt nguồn (của Người hay của Động vật hay của Cây đều thế cả). “Con gì thì cái trứng của nó cũng phải kêu là vzậy chớ, như con gà thì cái trứng của nó gọi là trứng gà, con vịt thì cái trứng của nó gọi là trứng vịt. Tại sao con đó kêu bẳng vzậy mà cái trứng của nó lại không kêu bằng vzậy?”. Đến nước này thì phải “ný nuận pha học” rồi. Rồng đương nhiên phải đẻ ra trứng Rồng (“Trứng Rồng lại nở ra Rồng, liu điu chỉ nở ra dòng liu điu”, con Rồng cháu Tiên lưu truyền giống mãi mãi, không phai mờ bản sắc được). Vì cha là Rồng nên trứng của nó là trứng Giống (Rồng=Giống). Cái Giống ấy đẻ phát triển mãi thành Dòng (Giống=Dòng). Dòng con cháu ấy là có Dính nhau về huyết thống (Dòng=Dính). Cái Dính ấy vượt biển Thái Bình Dương, cho Tây mượn, họ mượn vội cái tơi “D” (cũng là tơi của chữ Dân tức người Việt) và họ gọi là Den (Dính=Gen), đó chính là sự hình thành người da đỏ ở Mỹ. Còn lại cái rỡi “Inh” thì người Việt phải lấy tơi khác lắp vào cho nó, nhanh nhất là lấy cái tơi “T” của Tổ (của dòng giống Rồng Tiên) mà lắp vào, thành ra Tinh (Dính=Tinh). Cái trứng ấy nó phải ở trong cái Ổ=Ao=Áo=Âu vốn chứa đựng nó. Âu ấy chính là Âu Lạc, cái Âu để đựng Nước. Cái Âu ấy có từ trong rất sâu xa của lịch sử nhân loại, nên nó là Uyên (Ổ=Ao=Áo=Âu=Uyên). Áo Uyên nghĩa là rất sâu xa,vì nó là từ đôi. Hán ngữ mượn từ này, viết ngược lại là Uyên Aó [ Nếu dùng QT tạo từ Việt như Lãn Miên nêu thì cũng có thể tìm ra lịch sử các địa danh. Ví dụ Thuận An thuộc Bình Dương, Đông Nam Bộ là nơi xưa kia có dòng họ Phạm và nhiều họ khác từ An Nhơn Bình Định theo chân các tướng lãnh nhà Nguyễn vào khai hoang lập nghiệp, Theo Chân=Thuận, của các tướng lãnh từ An Nhơn, nên khai phá được vùng đó thì đặt tên là Thuận An, sau đó dân đông lên, khai phá tiếp sâu hơn vào rừng hoang, nên nơi mới khai phá gọi là Tân, sâu vào rừng hơn, gọi là Uyên, thành huyện Tân Uyên liền kề]. Cái Áo là cái Vỏ bọc ngoài, như cái gáo, như cái Ốc, như cái nhà (“Vỏ để bọc Ngoài”=Vải), vì là bọc cái trứng Rồng, là trứng Giống (“Giống trong Vải”=Dái). Vì dái có cấu tạo là cái hột tròn nên gọi là hòn (Hột Tròn=Hòn), và cái hòn giống quí ấy phải được giữ an ( “Hòn giống quí phải giữ An”=Hoàn). Hòn Dính được viết bằng chữ nho Hoàn Tinh, Hán ngữ mượn và đổi ngược lại là Tinh Hoàn. Trứng Rồng thì gọi là trứng Dái, còn cái “công cụ” để có thể thụ tinh lại không gọi là con Dái, vì nó là cái Cọc, mà khi thụ tinh phải cứng chắc mới thụ tinh được, nên nó là cái cọc chắc (Cọc Chắc=Cặc), nên nhớ Chắc là con số 1, là Dương, là cứng; Chăng là con số 0, là Âm, là mềm. Kẻ di truyền giống rộng khắp (Dính=Di) thành ra Bách Việt gọi là Kẻ Dính (Kẻ Dính=Kinh), là người Kinh . Người Việt thờ Mẫu vì mẹ là dòng Tiên. Thời còn mẫu hệ, nam nữ vẫn bình đẳng binh quyền, "Đàn ông Kinh"=Đinh, "Đàn bà Kinh"=Đinh (chỉ sau khi thành phụ hệ người ta mới quan niệm chỉ có đàn ông là Đinh). Chữ Đinh 丁 thời mẫu hệ cũng lại là hình tượng linga-yonny, nhưng yonny được viết là cái gạch ngang đặt trên , còn linga chỉ gọn là cái gạch dọc.Tóm lại nghiên cứu từ Tổ Chức mới càng thấy rõ là khỏi cần chủ nghĩa gì cho nó to tát, muốn bồi dưỡng tình yêu Tổ Quốc bắt đầu từ cho trẻ vỡ lòng , đầu tiên hãy dạy cho nó biết yêu tổ cò. “Con cò lặn lội bờ sông…”.
-
Tổ chức Do giải thích của “số đông” nên người ta mặc nhiên coi từ “tổ chức” là một “từ Hán- Việt”. Thực ra đây là một từ Việt hoàn toàn, đã được nâng nghĩa thành khái niệm trừu tượng, từ một khái niệm cụ thể là động tác rất cụ thể của người thợ dệt thủ công, đó là từ ghép “nối dệt”, cũng giống như vô vàn các từ trừu tượng khác trong tiếng Việt mà xưa nay vẫn được coi là “từ Hán - Việt”. Nhìn vào cái NÔI khái niệm tạo ra ngôn từ Việt, ta thấy rõ khái niệm “sự tập hợp” bắt đầu từ một cái rất cụ thể là cái Ổ. Cái nôi khái niệm “sự tập hợp” là Ổ=Ở=Ư =Áo=Ôm=Ươm=Ương=Yếm=U=Vu=Về=Vô=Tổ=Tệp=Xếp=Xấp=Tấp=Tập=Tóm=Gom=Gập=Go =Gút=Nút=Nối=Mối=Gối=Gồm=Gươm=Cườm=Kiêm=Ken=Kèm=Kiếm.Trong đó Go=Gút=Nút=Nối=Mối đều là những từ chỉ sự tập hợp các sợi tơ bằng các cách nối, bện khác nhau, như vải “chéo go” là do một kiểu dệt thành thứ vải sợi to bền; Tệp là tập hợp của nhiều tờ giấy xếp lại với nhau; Cườm là tập hợp các hạt trang sức có dùi lỗ xâu lại thành chuỗi; Vô chai là tập hợp chất lỏng vào trong chai qua cái họng chai. Công nghệ rèn kiếm thời Việt Vương Câu Tiễn là nung đỏ một Gom hợp kim (không phải đơn thuần chỉ có một nguyên tố sắt Fe), dùng búa đập kéo dài ra rồi Gập lại nung tiếp, nung, gập, đập rất nhiều lần thành ra Gươm, nên nó rất dẻo, không gãy, mài bén mà chém không mẻ. Động tác dệt vải dùng chữ Tổ 組 nghĩa là Nối sợi. Sự tập hợp trong cùng một huyết thống thì dùng chữ Tổ 祖 (nghĩa đen theo biểu ý của chữ là cái Áo衤To且, cũng có từ lướt To Ổ=Tổ. Nhiều người cùng huyết thống ở cùng một nhà thì Tổ ấy thành một Hộ. Nhiều Hộ cùng huyết thống thì Tổ ấy thành một Họ. Nơi tập trung quần cư nhiều Hộ thì là Đông Hộ=Đô, hình thành nên đô thị. Đông họ cùng quần cư bên dòng nước để canh tác nông nghiệp thì gọi là họ chung, Họ Chung=Hùng, hoặc gọi là Họ Hùng (Hán thư viết là Hữu Hùng thị). Nơi có chung họ tức rất đông người quần cư thì ChungHọ=Chõ=Chỗ=Chợ=Chạ=Chỉ=Thị=Thôn=Chốn=Trộn=Trấn. Giao Chỉ là một địa chỉ, nằm ở giữa, tức ở Ô của chữ NÔI. Ô=Ổ=Ao=Âu, cái Âu cũng như cái Ao, cũng như cái Nồi (từ NÔI mà ra) là để đựng Nước. Âu Lạc là cái Âu đựng Lắm Nác, tức nơi chứa tất cả các Nước Bách Việt, nghĩa là nó là cái gốc của Bách Việt, có câu thơ cổ “Muôn thuở vững Âu Vàng”, bản thân chữ Âu Lạc đã nói lên là vùng lúa nước, bởi Ao Ló=Ao Lúa=Âu Lạc. Ươm=Ương cũng là Ổ tức phải làm một cái Hố ở đất để đặt hạt giống xuống cho nó mọc mầm. Trung Ương là một từ hoàn toàn Việt, nó là từ đã nâng ý, do một từ rất cụ thể, chỉ một vị trí cụ thể với một cái vật cụ thể, đó là từ Trong Yếm, Trong Yếm tức là Ổ Giữa là chỗ bộ ngực của con người, nơi có trái tim. Từ Trong Yếm đến Trung Ương là từ cụ thể đến trừu tượng hóa khái niệm mà thôi. Chữ Tổ là động tác Nối của người thợ dệt. Còn một động tác nữa là dệt. Dệt=Dập=Dày=Dầy=Dật=Dực=Chức, (Dày là theo chiều mặt, từ đối Dày/Dãn; Dầy là theo chiều sâu tức độ hậu, từ đối Dầy/Dẹt). Khi dệt thủ công, người thợ đưa sợi ngang rồi thì dập một cái, cứ vậy dần dần cho vuông vải ken đầy lên, Dật=Dực chữ nho đều có nghĩa là Đầy, đầy là một “sự tập hợp”. Khi dệt thủ công nếu người thợ chủ ý ken thưa sợi thì gọi là dệt Mạn (tản mạn) thì sản phẩm thành Màn (để làm Mùng), nếu dệt Mau thì sản phẩm thành Màu=Giàu=Dày=Dải (Vải, “Vải vấn tròn Quay”= “Váy”), đã Dệt thì nó ra sản phẩm là Dải, chứ không phải là người ta nói “ngọng”, Vải phát âm Nam Bộ là “vzải”, (ca dao “Thân em như dải lụa Đào, phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”. Đào nghĩa là dân Hồng Bàng, màu Đào là màu Đỏ của dân Mặt Trời, hình mặt trời trên trống đồng, thành ngữ: “Giọt máu Đào hơn ao nước lã” nói lên dân nước Văn Lang rất quí con người và cố kết cộng đồng). Câu hát “Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm, rượu hồng Đào chưa nhấm đã say” của Phan Huỳnh Điểu). Phường Dệt, chữ nho viết là Phảng 紡 Chức 織. Dệt có nghĩa là làm đầy vuông vải bằng cách tập hợp có thứ tự các sợi dọc ngang. Cho nên Chức 織 cũng chỉ có nghĩa là đầy, từ này được nâng ý và viết bằng một chữ Chức 職 khác để nói chức vụ, Chức 職 ấy cũng chỉ có nghĩa là đầy: đầy quyền lực, đầy trách nhiệm, đầy lương bổng và đầy nghĩa vụ. Chữ Chức nghĩa là đầy ấy cũng là chữ Túc trong từ ghép Sung Túc, cũng là chữ Tức (trong tiếng Khơ Me nghĩa là Nước), nó được nâng nghĩa lên thành chữ Đức, để nói ý đầy đủ hoàn thiện về tinh thần. Nối và Dệt, tức Tổ 組 và Chức 織, sau ghép lại nâng nghĩa lên là “sự tập hợp có mục đích”, là Tổ Chức 組 織, nó được gọi là “từ Hán-Việt” nhưng ông Tổ của nó là từ Việt. Mọi từ ghép mang nghĩa trừu tượng, mà người ta thường gọi là “từ Hán-Việt” đều là có gốc Việt do những từ chỉ vật cụ thể, động tác cụ thể, được nâng nghĩa lên. Nếu là những từ do được ghép về sau thì cách ghép mang ngữ pháp Hán, là do người Hán đã soạn lại. VÍ dụ từ Cự Đầu 巨 頭 trong Hán ngữ là một sự đảo cách ghép của từ Đầu Cự của Việt, Đầu Cự=Đầu Cồ=Đầu To, vì Đầu Cự có gốc là từ Gạo Cội của người Việt: Hãy phân tích từ chữ Ổ (chữ ở giữa của NÔI). Ổ=Áo=Ốc (Áo, Ốc đều là cái nhà ở). Cái tập hợp mà chui ra trước tiên của cơ thể (dù là của Người,của Động vật hay của Cây) là cái Đầu, tiếng Việt cổ gọi là Trước Ốc, là một từ ghép, vì nó ra Trước tiên và nó là cái Ốc, là nhà ở của tập hợp các bộ phận bên trong nó.(Trước/Sau là từ đối nói về thời gian, còn Tiền/Hậu là từ đối nói về vị trí; “trước sau bất nhất” khác nghĩa với “tiền hậu bất nhất”, nói “đến trước” chứ không ai nói là “đến tiền”, nói “mặt tiền nhà” chứ không nói “mặt trước nhà”; còn những người “từ Hán-Việt” thì cho là Trước/Sau đồng nghĩa với Tiền/Hậu và Tiền/Hậu là “từ Hán-Việt). Trước Ốc=Trốc, tập hợp bên trong Trốc là Óc (vì bị bóc mất cái tơi ngoài là “tr” và cả cái mũ đội của chữ “ô”, nên mới nhìn thấy được là Óc), tập hợp bên ngoài Trốc là Tóc (“Tơi ngoài Trốc”= “Tóc”). Cái đầu tiên của Cây là Gốc. Gốc là do từ cái Ruột của hạt cây, là cái đầu tiên trước khi cây nảy mầm là mọc ra cái Rễ. Ruột=Rễ=Rộc=Gốc=Gộc=Cộc=Cùi=Cội=Căn 根. Rễ cây vươn dài và to dần ngầm dưới đất giống như những dòng nước xoi trên bãi bùn bồi để chảy ra biển, dòng xoi nhỏ gọi là con Rộc, dòng xoi lớn gọi là con Rạch (Lạch). Ở cây thì Rễ (cái Căn 根) chắt tinh đất để nuôi cái Ngọn (cái Bổn本), rễ ngầm dưới đất vươn ra rộng đến đâu thì ngọn trên trời tỏa rộng ra đến đấy. Ngọn=Ngộn=Bổn ( “đầy có ngọn” cũng nói là “đầy ngồn ngộn”). Cội Ngọn hay Căn Bổn là từ ghép nói lên tập hợp hoàn chỉnh của một cái cây, nâng ý lên thành từ Căn Bổn 根 本 nghĩa là hoàn chỉnh. (“Vấn đề đã được giải quyết một cách căn bổn” tức là vấn đề đã được giải quyết xong trọn vẹn từ gốc đến ngọn, giải quyết hoàn chỉnh rồi, từ A đến Z rồi). Từ ghép “Tư Bổn”, gọi là từ Việt-Hán cũng được, nghĩa là Vốn đầu Tư. Ngọn cây chắt tinh trời để nuôi gốc. Ngọn=Ngộn=Bổn=Vốn, ngọn là cái vốn của cây, vì không có ngọn thì cây không tiếp thụ oxy được, gốc sẽ thúi. Người xưa viết “Dĩ nhân vi Bổn 以 人 为 本” là “Dựa người là Vốn” tức coi con người là cái Vốn, vốn ấy là sức lực, tài sản đang có, trí tuệ tự do tư duy của người đó. Ngày nay thì có khẩu hiệu là “Lấy dân làm Gốc”,chứ không phải là “Dĩ nhân vi Bổn以 人 为 本”, tức dân không được coi là cái Vốn, mà chỉ được coi là cái Gốc tức cái đòn kê, chỉ việc căm cụi bòn đất nuôi ngọn. Ruột của hạt lúa gọi là Gạo, tức cái Đầu tiên để nẩy mầm ra cây lúa (hạt lúa lép không có Gạo thì không nảy mầm được). Bởi vậy Gạo=Đạo=Đầu, là cái đầu tiên làm mầm cây lúa. Gạo của hạt lúa là cái di thực nên cây lúa, nên câu “Có thực mới vực được đạo” là bắt nguồn từ đây. Ở quả dừa thì Gáo dừa là cái Áo tức cái nhà ở của Gạo dừa bên trong nó, Gạo dừa tức Cơm dừa hay Cùi dừa. Cùi=Cồi=Cội=Cồ=Cự=Cộc=Gốc=Gạo=Đạo=Đầu, đều là cái đầu tiên làm nên mầm cây. Cội và Gạo đồng nghĩa nhau nên từ đôi Gạo Cội là nhấn mạnh ý Đầu, là dẫn đầu, là tiên phong, như “tài tử gạo cội trong làng biểu diến”, “tay đua gạo cội trong làng thể thao”. Hán ngữ mượn từ Gạo Cội=Đầu Cồ của Việt và soạn lại, theo ngữ pháp Hán ngược với ngữ pháp Việt, thành từ Cự Đầu 巨 頭. Đầu sóng, đầu nghĩa là tiên, sóng nghĩa là lãng. Chữ “đầu” có trước, chữ “tiên” có sau, do vậy có từ đôi “đầu tiên” để nhấn mạnh ý đi đầu, (đi đầu=đưa đầu=đương đầu) Tức Nước nghĩa là quá đầy nước (giọt nước tràn ly). Tức Nước là một từ đôi do ghép hai từ đồng nghĩa nhau mà thành, để nhấn mạnh ý là nước đã quá đầy. “Tức” cũng có nghĩa là “nước” (“tức” là tiếng Khơ Me và tiếng Việt cổ. Té=Túc=Tức=Đức=Đắc=Đác=Nác=Nước=Nam=Nặm=Nậm=Đậm=Đen=Phèn=Phẩm=Thâm=Thủy. Đậm, Đen, Phèn, Phẩm, Thâm , nói chung là màu “đen” theo Ngũ Hành của Nước, cho nên mới nói hành Thủy có màu Đen, Đen=Hoẻn=Hắc. Lễ hội Té Nước hay Tế Nước là lễ hội của dân Nam), chữ “tức” có trước, chữ “nước” có sau, do vậy có từ đôi “tức nước”. Chữ “tức” từ xưa đã được nâng nghĩa thành chữ “túc” và chữ “đức”, đều cùng có nghĩa là “đầy” (Thấy Đầy=Thầy; thành ngữ: “Thương nhau như đọi nước đầy”; Phật dạy: “Tri túc, tâm thường lạc”- hiểu đầy đủ thì lòng luôn vui ). Đầy cũng có nghĩa là Đầu. Cái đầu của nước chính là cái mặt nước (mực nước, mực nước=mực thước, như cái “li vô” để đo cân bằng). Khuôn phép như là cái ly, ( khuôn phép quốc tế cũng như là cái ly), nếu đầy quá khuôn phép thì nước sẽ tràn ly nghĩa là “mất mặt” Nước, bản thân người thêm giọt vào cho nó tràn cũng mất mặt, bản thân nước (cũng có nghĩa nữa là dân) cũng mất mặt. Bởi vậy cả hai phải giữ sao cho mực nước đầy, vì đầy là sung túc, là hạnh phúc, mà không được đầy quá để tràn vì làm “tức Nước”. Thương nhau như đọi nước đầy. Tối đèn, tắt lửa đêm ngày có nhau.
-
Nguồn gốc con Rồng Hình tượng Rồng để tôn thờ có trong các dân tộc, cả ở phương Đông và phương Tây, Rồng phương Tây ngắn mình, lại có đôi cánh to rộng như cánh con dơi. Xuất xứ của hình tượng Rồng thì có rất nhiều giả thuyết. Có giả thuyết cho rằng hình tượng con Rồng, lại bay được lên mây, lại phun ra lửa, lại hút được nước, là do con người đã lấy hình tượng của hiện tượng thiên nhiên là lốc xoáy thường hay xảy ra ở Mỹ rồi hình tượng hóa nên thành con Rồng. Cái này chắc ngược với logic tư duy. Con người thường lấy vật cụ thể rồi mới tưởng tượng để thần thoại hóa nó lên thành con vật thần thoại. Nhân năm Rồng,“Bắc Kinh Nhật Báo”(ngày 04/01/2012) cũng có bài giải thích nguồn gốc hình tượng Rồng: “Tám nghìn năm trước đã có hình tượng Rồng. Chữ Rồng đã có từ trong Giáp cốt văn, là hình một cái đầu to với một cái thân uốn khúc. Theo truyền thuyết, thời Đế Thuấn có ông Đổng Phụ thuần dưỡng Rồng rất giỏi, được phong cho cái họ là “Mông Long thị”. Thời nhà Hạ cũng có người thuần dưỡng Rồng tên là Lưu Lụy, được phong họ là “Ngự Long thị”. Từ truyền thuyết này mà xem thì thấy rằng thời Nghiêu-Thuẫn-Vũ giữa người và Rồng đã có quan hệ. Giáo sư Chu Nãi Thành ở viện nghiên cứu khảo cổ TQ nói, tới nay đã phát hiện được 10 di chỉ có Rồng niên đại 3600 năm trước, ở Sơn Tây TQ có di chỉ phát hiện được chậu gốm có vẽ Rồng, niên đại khoảng 4400-4300 năm, đó chính là giai đoạn mà cổ sử nói là thời Nghiêu-Thuấn-Vũ đến nhà Hạ, như vậy quan niệm ý thức về Rồng là hình thành từ thời đó. Sớm hơn nữa ở di chỉ Tây Thủy Pha tỉnh Hà Nam TQ có hình tượng Rồng và Hổ trong một ngôi mộ niên đại cách nay 6000 năm, chôn một người đàn ông đầu quay hướng Nam, chân về hướng Bắc, hình tượng Rồng và Hổ nằm hai bên thì đầu Bắc, chân Nam; Rồng nằm bên Đông, Hổ nàm bên Tây; Rồng dài 1,78 m. Văn hiến thời tiên Tần có ghi về Rồng. “Tả Truyện” ghi năm Lỗ Chiêu Công thứ 29 có Rồng xuất hiện ở ngoại ô kinh thành nước Tấn. Trong “Xuân Thu Phồn Lộ” của Đổng Trọng Thư thời Tây Hán có ghi dân gian có lễ cầu Rồng ban mưa với mong ước được mùa, trong mộ cổ Tây Hán ở Trường Sa Hồ Nam cũng có vẽ Rồng. Như vậy thời Tây Hán ý thức văn hóa Rồng đã là phổ biến trong xã hội…Người Trung Quốc tự xưng là “con của Rồng”, ở đâu có người Trung Quốc thì ở đó có Rồng Trung Quốc”. Tìm trong ngôn ngữ thì nguồn gốc hình tượng Rồng có từ trong cái NÔI khái niệm của ngôn ngữ Việt Nam. Bạn hãy viết một chữ NÔI và viết đủ sáu từ với sáu thanh điệu của tiếng Việt, NÔI-NỒI-NỘI-NỔI-NỐI-NỖI, bạn sẽ tìm ra được rất nhiều thứ để hiểu sâu cội nguồn, sơ lược qua loa thì: -NÔI là cái để ru con, ru con tức tập khái niệm cho con từ khi mới đẻ ra còn đặt nằm ngửa trong nôi. - NỒI là cái để chứa nước, chứa nước kể cả chứa cả Nước Việt Nam (ngạn ngữ “cây tre có mắt, nồi đồng có quai”, có quai = có Quẻ Quái, là có bát quái, trên các trống đồng mà khảo cổ tìm được ở Việt Nam có cả hình quẻ quái và kinh dịch, ở đâu tìm thấy di tích trống đồng thì ở đó là có dấu ấn của nền văn minh Văn Lang Lạc Việt, đó là Đông Nam Á đến nam Dương Tử). - NỘI là cái ở trong (Lõi=Nòi=Nội), là cái mầm (Mầm=Ngầm=Nguồn). Truyền thuyết nói rằng khi hình thành vũ trụ, khí nặng lắng kết thành trái đất, đó là cái Nôi nặng thành Nội. - NỔI là cái ở trên. Truyền thuyết nói rằng khi hình thành vũ trụ, khí nhẹ nâng trôi trồi lên thành trời (Nôi Trồi=Nổi). - NỐI là sự di truyền (Nối=Dồi=Dõi=Di=Dòng=Giống). - NỖI là cái tư duy (Nôi Nghĩ=Nỗi), là cái nỗi niềm (“nỗi khổ”, đó là chẳng qua nghĩ nó là khổ thì nó là khổ, chưa chắc cái đó đã là khổ) Ngôn ngữ của các dân tộc đều bắt đầu bằng chữ A. Đứa trẻ ra đời là HÁ miệng khóc “A…, a…oa…, a…oa…”. Tiếng Việt là ngôn ngữ Nam Á, hệ ngữ Môn-Khơ Me. Ngôn ngữ Việt là NA ( ngạn ngữ “Nôm Na là cha mách quẻ”- người Nam nói ra thì mách cho biết là quẻ tức bát quái có nghĩa gì). Nguồn gốc Nam Đảo thể hiện ở chỗ: Ngôn ngữ Việt là NA, ngôn ngữ Đài Loan là LA, ngôn ngữ Nhật Bản là HANAXƯ, ngôn ngữ Indonexia là HABASA. Ngôn ngữ Việt là NA, còn cái Ổ khái niệm của nó là cái NÔI (Na Nôi=Nói), người Việt mà đã nói thì ra cả ổ khái niệm. Theo nhân chủng học nghiên cứu thì đại tộc Việt đã từ Đông Nam Á ra bắc khai phá nông nghiệp đến tận vùng sông Hoàng Hà. Đọc lại đoạn văn ở trên về di chỉ khảo cổ Tây Thủy Pha: ở di chỉ Tây Thủy Pha tỉnh Hà Nam TQ có hình tượng Rồng và Hổ trong một ngôi mộ niên đại cách nay 6000 năm, chôn một người đàn ông đầu quay hướng Nam, chân về hướng Bắc, hình tượng Rồng và Hổ nằm hai bên thì đầu Bắc, chân Nam; Rồng nằm bên Đông, Hổ nằm bên Tây; Phân tích: Cách nay 6000 năm mà người đàn ông ấy được chôn quay đầu về hướng Nam, bởi vì hướng Nam là quay về quê Tổ (ngạn ngữ “Cóc chết quay đầu về núi”). Còn hình Rồng và Hổ thì ngược lại, đầu bắc chân nam, vì Rồng và Hổ chỉ là ám chỉ hai phương tiện (đường thủy và đường bộ) đưa con người Nam đi bắc tiến khai phá nông nghiệp. Rồng đặt nằm bên Đông là đúng vì Rồng xuất xứ từ biển Đông. Truyền thuyết của tộc Việt nói người Việt là con của Rồng và Tiên, cha Rồng ở biển Đông, mẹ Tiên ở lục địa phía Tây (Chuyện Lạc Long Quân dòng Rồng lấy Âu Cơ dòng Tiên đẻ ra trăm trứng). Về Lý học truyền thuyết này phản ánh quan niệm lưỡng hợp của người Việt, chủ nhân của thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Về nhân chủng học truyền thuyết này phản ánh đại tộc Việt là sự hòa huyết của hai dòng người cùng gen Nam Á là dân biển (Rồng) và dân lục địa (Tiên). Dân dòng Rồng có totem là con Rắn sống dưới nước, dân dòng Tiên có totem là con Chim bay trên trời (Xem hình con cá sấu và con chim trên trống đồng). Xét về ngôn từ: Rồng: Xuất xứ từ một loài động vật sống dưới nước, có thể giống con rắn, lại cũng hơi giống con cá sấu, loài thủy tộc này xưa có con Thuồng Luồng, bơi dưới nước, thân cũng dài như con Xuồng ghép bằng dăm cây Luồng mà người Việt vẫn dùng đi biển. Nó to, khác với các giống rắn khác, Nôm Na gọi nó là con Rắn Lớn. Từ Rắn Lớn này để lại từ DraGon cho tiếng Tây. Con Rắn Lớn ấy nó vào được cả sông, ở sông thì gọi là con Thuồng Luồng vì nó to như cái Xuồng Luồng người dân vẫn đi sông, hoặc gọi là con Rắn Sông (Rắn Sông=Rồng). Từ totem là con Rắn Lớn ấy về sau người ta thần hóa nó lên, tô điểm tạo hình tượng trưng tổng hợp tất cả các loài vật nuôi của nền nông nghiệp định cư vào trong nó, đầu heo, mũi trâu, râu cá, móng gà, vảy tê tê, bốn chân như gia súc v.v. để tượng trưng mong ước đời sống vật chất đầy đủ. Hình tượng Rồng chẳng có gì là quyền uy trong tâm thức dân gian, mà nó là gần gũi thân ái (múa rồng còn đến bây giờ là múa dân gian, do dân tự lập đội múa rồng, không phải là múa cung đình), mái đình , mái chùa là hình tượng “đôi rồng chầu ngọc”, biểu trưng lưỡng hợp của tư duy phồn thực, chầu ngọc là nâng niu sự giàu có vật chất, dùng hình tượng Rồng để cầu mưa cũng là mong cho đời sống vật chất đầy đủ. Vì Rồng tượng trưng cho đời sống vật chất nên thường làm nó màu vàng, là màu thứ kim loại đại diện cho giàu có. Cũng bởi Rồng chỉ tượng trưng cho đời sống vật chất nên chuyện cổ tích chẳng thấy chuyện nào nói Rồng làm hại ai hay Rồng cứu nạn cho ai. Rồng cũng đẻ trứng như Chim (ca dao “Trứng rồng lại nở ra rồng, Liu điu lại nở ra dòng liu điu”), để đẻ trứng thì Rồng cũng làm ổ. Rồng ở biển Đông nhưng ổ để rồng đẻ là cái vịnh Hạ Long, tức vịnh rồng đẻ (sinh hạ). Chữ NÔI của tiếng Việt đã nói rõ nguồn gốc loài thủy tộc này: N là Nước, Ô là chỗ nó làm ổ, I là nó biết bơi, NƯỚC-Ổ-BƠI=NÔI=con Rồng Tiên: Xuất xứ là Chim, con vật biết bay trên trời. Khi Chim đã là totem thì nó được thần hóa là Tiên. (Ngôn ngữ các dân tộc ở Trường Sơn: Chim=Teen=Tiên. Từ Tiên là đã thần hóa, phiên thiết thì Tiên=Tản Viên, ngọn núi thần, nơi thờ Thánh Mẫu của người Việt). Hình tượng của Tiên là con chim Phụng hay đôi chim Hạc thường đặt hai bên bàn thờ gia tiên trong mỗi gia đình Việt, tế là mong ước ở Tiên ban cho cái đời sống tinh thần tốt đẹp. Chỉ thấy cầu Tiên, cầu Thánh Mẫu, tức xin cái tinh thần. Vì là Tiên, đã bay lên trời, nên Tiên chỉ tượng trưng cho ao ước đời sống tinh thần tốt đẹp. Bởi vậy chuyện cổ tích Việt thường có gặp Tiên cứu nạn, giúp giải quyết các khúc mắc, bấn loạn về tinh thần, Tiên hiện hình thành Bà Tiên hay Ông Bụt. Vì có quan niệm là con của Rồng và Tiên nên người Việt có đạo thờ Mẫu từ vạn năm trước khi có Phật giáo. Tại đền Ngọc Sơn ở Hồ Gươm Hà Nội có câu đối: Sơn bất tại cao, hữu Tiên tắc thanh.Thủy bất tại thâm, hữu Long tắc linh (Núi chẳng cứ cao, có Tiên thì có tiếng. Nước chẳng cứ sâu, có Rồng thì có hiệu quả) cũng nói lên ý : Tiên là đời sống tinh thần, Rồng là đời sống vật chất. Cứ nhìn vào một gia đình dân chài vùng biển Việt Nam thì thấy ngay con của Rồng Tiên. Rồng=Chồng đi đánh cá quanh năm suốt tháng ở Rộng=biển Đông, để lo bảo đảm đời sống vật chất. Tiên=Thiếp ở nhà lo đời sống tinh thần, dạy con học ăn, học nói, học gói, học mở cho đến khi lớn đủ sức khỏe theo cha ra biển. Tóm lại Rồng có xuất xứ Việt Nam. Rồng Tiên vừa nói lên nguồn gốc tộc Việt, vừa nói lên thuyết Âm Dương Ngũ Hành là của người Việt, vừa nói lên khát vọng phấn đấu bền bỉ của người Việt để có một đời sống vật chất đầy đủ cùng một đời sống tinh thần phong phú.
-
Lời Tiên Tri Trong Văn Học Dân Gian, Qua Hình Ảnh Con Rồng
Lãn Miên replied to wildlavender's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Mười hai con giáp đã được chứng minh nó đúng nguyên thủy là của người Việt: Chuột = Chút = Chút-Xíu = Tíu = Tí, Tlu (tiếng Mường)= Tru = Trâu (tiếng Kinh)= Ngầu (tiếng Việt ngữ Quảng Đông)= Sẩu = Sửu = Ngưu = Níu (tiếng Hán ngữ hiện đại) v.v. Trong 12 con giáp ấy thì 11 con là những con vật có thật, chỉ có con Rồng là con vật thần thoại, chỉ có tính biểu trưng. Thời phong kiến trải dài hàng ngàn năm trong lịch sử nhân loại, giới thống trị với suy nghĩ hạn hẹp nên đã lấy hình tượng con Rồng, vốn có từ lâu đời trong dân gian, để làm hình tượng của quyền uy. Nhưng cái biểu trưng tổng quát nhất của Rồng là chiều dài thời gian phát triển của nhân loại từ khi có loài người đến mãi mãi mai sau: Rồng = Rộng = Dông-Dài = Dài = Rộng Dài. Trong cái Rộng Dài ấy khát khao lớn nhất của con người mãi mãi vẫn là Tự Do. Mỗi cá nhân phải được Tự Do để sáng tạo và tìm hiểu chính mình. Cái trò chơi “Rồng rắn lên mây” ấy của trẻ con đem lại cái sảng khoái nhất là sau lúc ra câu “Tha hồ thầy đuổi”, đó là lúc sôi động nhất, hồi hộp nhất, hò reo sảng khoái nhất, cười như nắc nẻ của sự tự do hoàn toàn, nhưng lại là rất tự do trong sự cố kết chặt cộng đồng để bảo vệ nhau, che chở cho nhau, (con rồng cộng đồng người ấy tha hồ mà uốn éo linh hoạt như là một sự năng động khôn khéo có tính sách lược), mà kẻ to xác nhất đứng đầu (như là cường quốc) lại là kẻ có trách nhiệm cố gắng nhất để che chở cho kẻ nhỏ nhất dính ở cái đuôi (kẻ yếu nhất) khỏi bị tóm và giật ra khỏi cộng đồng xã hội. Tôi còn nhớ, vì đã chơi trò đó nhiều, lúc nhỏ tuổi. Xếp hàng để dính nhau thành con rồng dài là đứa cao nhất (lớn tuổi nhất) đứng đầu, và thứ tự đến đứa lùn nhất (nhỏ tuổi nhất) là cái đuôi. Về lời thoại theo tôi thuộc cũng đầy đủ như vậy nhưng câu đầu theo tôi vẫn thuộc là: “Rồng rắn lên mây, có cây núc nác, có nhà hộ sinh”. Cây Núc Nác thì quen thuộc vì cũng hay chơi quả núc nác, nhưng Núc Nác = Nước. Nhà hộ sinh thì đúng là nhà của ông Thầy Thuốc vì Hộ Sinh là bảo vệ sự sống, Thầy Thuốc còn là Thầy Trị Nước tức Thượng Đế, không bao giờ Thượng Đế nỡ để cho Nước suy thoái đến mức “hết thuốc chữa”, nên sau trò diễn ra sau câu “Tha hồ Thầy đuổi” là Thượng Đế đã ngầm khuyên cho là “chúng mày hãy cố gắng đoàn kết mà bảo vệ lấy nhau, nếu để một đứa yếu nhất bị xé ra khỏi cộng đồng thì cộng đồng ấy cũng rã luôn” tức là thua Thầy. (Bởi vậy bây giờ UNESCO mới đang cố gắng bảo vệ các giá trị văn hóa phi vật thể cổ truyền, nhất là của các sắc tộc thiểu số bản địa). Có lẽ cái vui vẻ sảng khoái ấy của trò chơi trẻ con đã giúp chúng tôi lớn lên đến tuổi trưởng thành mà chẳng đứa nào bệnh tật gì, dù thời đó, còn đang có chiến tranh, chúng tôi ăn khoai lang, củ mì và rau nhiều hơn là cơm gạo. Trong cái Rồng = Rộng Dài ấy của lịch sử nhân loại cũng chia ra ba thời kỳ. “Khúc Đầu” là thời “Những xương cùng xẩu”, thời mông muội, loài người đã phải chật vật với thiên nhiên trên trái đất để mưu sống, tồn tại và tiến lên. Đó là thời MỘT. Thời “Khúc Giữa” là “Những máu cùng me”, hàng ngàn năm nhân loại không khi nào không có chiến tranh chém giết lẫn nhau, tàn phá nhiều nền văn minh đã có, tàn phá môi trường và giết hại động vật hoang dã. Đó là thời MAI, đã tồn tại thật Dài. Chỉ đến thời thứ ba tức thời MỐT, nó trở về tự nhiên như thời MỘT nhưng Sắc hơn khi loài người đã Ngộ ra như Thượng Đế ngầm khuyên nhủ: Phải đoàn kết thương yêu che chở cho nhau thì mới mong có Thiên Hạ Thái Hòa. (Đó là tính nhân văn trong trò chơi “Rồng rắn lên mây” của trẻ con Việt. Tính minh triết của nó là cái Đạo Việt) Con người chỉ thực sự được tự do khi Giác Ngộ. Giác Ngộ nghĩa là Thấy Tâm Mình (Chứ không phải đọc thuộc lòng một cuốn sách rồi trả bài đúng như vậy cho được điểm cao và thỏa mãn “tôi đã giác ngộ”). Chữ GIÁC 覺 nghĩa là Thấy nhưng với điều kiện là phải có giao lưu trong cộng đồng là mái nhà chung tức xã hội loài người. Muốn Thấy phải Nhìn tức tiếp nhận (Nhìn = Nhận = Nhìn Nhận). Nhìn Thấy gọi là Kiến (Nhìn = Kín = Kin = Kiến. Tiếng Việt thì từ Kín nghĩa là lấy về mình, còn lại trong câu “Kín nước” nghĩa là “lấy nước từ giếng về cho mình”. Từ Kin trong tiếng Thái Lan, “Kin nam” nghĩa là “uống nước”). Chữ nho viết chữ Giác 覺, phần trên nghĩa là giao lưu một mái nhà, phần dưới là chữ Kiến 見. Chữ NGỘ 悟 nghĩa là Tâm Mình, gồm chữ Tâm 忄 và chữ Ngô 吾 (Ngô nghĩa là Người, từ cổ dùng làm ngôi nhân xưng thứ nhất, Ngươi là ngôi nhân xưng thứ hai. Người = Tôi = Ta = Ngã = Ngộ = Ngô). Giác Ngộ 覺 悟 là Thấy Tâm Mình. -
Chữ khoa đẩu Mạng tiếng Hoa [ zhidao.baidu.com] giải thích Chữ Khoa Đẩu: “Là văn tự cổ của Trung Quốc, gọi là “khoa đẩu văn”, “khoa đẩu thư”, “khoa đẩu triện”, là một kiểu viết của Trung Quốc vì có đầu to đuôi nhỏ hình tựa con khoa đẩu 蝌 蚪(con nòng nọc) nên gọi thế. Tên gọi là “khoa đẩu” này sau đời Hán mới xuất hiện, để chỉ thứ cổ văn thời tiên Tần. Ở Hồ Nam tại chân núi Nhạc (岳 麓 山 Nhạc lộc sơn –Nhạc chân núi) có bia Vũ Vương 禹 王, trên bia có bài văn gồm 77 chữ khoa đẩu, cho đến tận ngày nay nội dung 77 chữ đó nghĩa là gì, Trung Quốc vẫn chưa giải mã được”. Mặc dù vậy, từ xưa đến nay các nhà nghiên cứu vẫn thống nhất nhận định rằng kiểu chữ ấy là một loại chữ ký âm thời cổ đại. Ngày nay từ “khoa đẩu” lại được các mạng tiếng Hoa nâng ý nghĩa lên, gọi chữ phiên âm latin là chữ “khoa đẩu” chứ lại không gọi là “phiên âm” (“pinyin”) nữa. Chữ khoa đẩu trên bia Vũ Vương mà đến nay vẫn không giải mã được thì hãy mời Cụ Xuyền sang , Cụ sẽ giải mã cho. 77 chữ ấy chắc là mỗi chữ phải có nhiều nét ký âm, nhưng mỗi chữ đọc lên vẫn là một âm tiết thôi, vì Việt ngữ mỗi tiếng là một từ vì nó có nghĩa. Tại sao chỉ có đúng 77 chữ, hay là bia ấy được lập sau khi Đại Vũ chết được 49 ngày (cúng thất tuần) ? Núi Nhạc ở Hồ Nam, núi Nhạc nghĩa là núi cao to, chữ Nhạc 岳 này Hán ngữ phát âm là “yue”, cũng như chữ Việt 越, Hán ngữ phát âm cũng là “yue”. Nếu chỉ căn cứ vào cái âm thôi, thì Nhã=Nhạc=Nhật=Nhiệt=Việt đều có nghĩa là Mặt Trời (Nhã ngữ thì có từ trước thời Khổng Tử). Nhạc nghĩa là núi cao to, tức núi Mặt Trời, cũng gọi là núi Việt. Còn chữ khoa đẩu thì rõ ràng là của người Việt rồi. Nhưng cái tên gọi là “khoa đẩu” thì như sử viết là “sau đời Hán mới xuất hiện cái tên ấy”, “chữ ấy là thứ cổ văn thời tiên Tần”. Vậy thì tên gọi ấy chỉ là một sự mượn chữ để phiên âm mà thôi, Hán ngữ phát âm là “khưa tâu”, viết phiên âm latin là “ke dou”, nghĩa trong Hán ngữ là con nòng nọc. Cái âm của chữ mang nghĩa là con nòng nọc ấy đã được lấy để phiên âm mà thôi. Vậy thời tiên Tần thì thứ chữ ký âm cổ đại ấy của người Việt gọi là gi? Căn cứ vào cái phiên âm đoán ra thứ văn tự ký âm ấy xưa người Việt gọi là chữ “Kẻ Đậu”. Bởi theo truyền thuyết thì người tiền sử đã dựa vào dấu nét chân thú, chân chim nó đậu để lại trên đất để làm những nét ký hiệu đánh dấu, rồi thành nét ký âm. Bắt chước nét vết chân của “kẻ đậu” để lại để làm nét chữ, nên gọi là chữ Kẻ Đậu. Sau người Hán mượn chữ mang nghĩa là con nòng nọc 蝌 蚪 nhưng người Hán phát âm là “ke dou” để phiên âm hai tiếng Kẻ Đậu, rồi thì thành ra là Khoa Đẩu. (Tần, phát âm theo Hán ngữ là “Chín” (Qín), người Ấn Độ phiên cái âm “Chín” ấy thành China, sau người phương Tây theo đó gọi Trung Quốc là China).
-
Chữ Thờ Ngày nay nghe chữ Thờ người ta cứ liên tưởng tới cái gì thần bí như mê tín. Thực ra chữ Thờ trong tiếng Việt đơn giản là sự tôn trọng. Người Việt hiếu học nên rất tôn trọng Thầy. Muốn khẳng định một Từ người ta chỉ việc thêm vào sau tiếng đó một từ khẳng định. Ví dụ thời tiên Tần, chỗ nguy hiểm không thể đi được, người ta chỉ cần cắm biển để hai chữ “Hiểm Chi 險 之”; chỗ có thể đò qua được, người ta chỉ cần cắm biển đề hai chữ “Độ Chi 渡 之”. Những từ khẳng định trong tiếng Việt là Ờ ! = Ừ ! = Chứ ! = Chi ! = Chớ !.= Đó ! = Đấy ! = Đích ! ( từ "Đích Xác" nguyên gốc nó là từ "Xác Đấy" ! , cái gốc đối nguyên thủy 0/1 là Xạo/Xác, “đứa nói Xạo, kẻ nói Xác, biết tin ai”, 1 = Chắc = Chạc = Xác, Chững Chạc là Đứng Vững Chắc như con 1 là Đinh Đóng Cột). Khẳng định chữ Thầy thì thêm từ khẳng định vào sau: “Thầy Ờ”=Thờ, như vậy chữ Thầy đồng nghĩa với khái niệm tôn trọng (Thầy Ờ là một câu, trong đó “đề” là Thầy, và “thuyết” là Ờ, nhưng Thờ thì đã thành một từ, do lướt một câu mà thành. Bởi vậy nói đến chữ Thờ tức nói sự tôn trọng. Người Việt xưa đã đề ra 5 cái mà mỗi con người trong xã hội phải tôn trọng là 5 cái Thờ là: THIÊN-THỔ-THỂ-THÂN-THẦY là 5 kẻ mà mỗi người đều phải “Thượng Tôn Chớ !”=Thờ. Thượng tôn Thiên (thờ Trời), thượng tôn Thổ (thờ thổ công), thượng tôn cá nhân mình (thờ Thể), thượng tôn ruột rà (thờ Thân), thượng tôn Thầy (thờ Thầy). Tóm lại là thượng tôn toàn thể. Về sau đạo nho viết thành câu trên hoành phi để thờ trong mỗi gia đình Việt là năm chữ (lại cũng 5 chữ như Ngũ Hành) là Thiên-Địa-Quân-Thân-Sư (天 地 君 親 師). Nếu xoay bức hoành phi ấy đi 90 độ để dựng đứng nó lên như con người đứng thẳng (Đứng=Vững=Chững=Chín=Chính) thì sẽ thấy từ trên xuống dưới là THIÊN-ĐỊA-QUÂN-THÂN-SƯ, trong đó đứng giữa là QUÂN tức mỗi con người trong xã hội (Quân=Quan=Con=Cần=Mân=Dân=Nhân=Rấn- “ren”, như phát âm của Hán ngữ, vẫn chỉ là mỗi con người trong xã hội, dù có là Quan hay là Quân tức vua thì cũng là con của dân, là một công dân bình đẳng của xã hội). Theo thành ngữ Việt thì “Kính trên nhường dưới”, “Kính già thương trẻ” nên ở cái bức hoành phi dựng đứng (Chính) này thì mỗi Con chân chính đứng ở giữa, nhìn lên thì nhìn thấy cao nhất là chữ “THIÊN”, tức phải biết “Thượng Tôn Pháp Luật”, là cái Trật Tự mà cả xã hội đã đề ra. Tiếp đến là thấy chữ “ĐỊA”, tức phải “Tôn trọng Thổ” là những cái Thật đang hiện hữu ở địa phương mình sinh sống (Địa chất, Địa lý, Đạo đức, Đạo giáo, Đời sống của nhân dân địa phương mình sinh sống). Nhìn xuống thì thấy chữ “THÂN”, tức phải biết “Tôn trọng ruột rà”, coi mọi người trong cộng đồng như người thân của mình. Tiếp đến thấy chữ SƯ, tức phải biết “Tôn trọng Thầy”, cũng là tôn trọng nhân dân như người thầy vĩ đại của mình ( cụ thể thì mỗi cá nhân trong cộng đồng cũng là một người thầy, bởi đều có sở trường riêng, đều có sáng kiến, bất kể học vấn hay giàu nghèo khác nhau, như câu ngạn ngữ Việt “Con gà có mỏ, con chó có lông, cây tre có mắt, nồi đồng có quai”), ( QT từ Viêt: “Thấy Thật Đầy”=Thầy, “Thấy Thật Thành Mạnh”=Thánh).
-
Con Rồng cháu Tiên chào đón năm Thìn: Thú vị tiếng Việt (Thìn=Thiên=Tiên; Thìn=Thông=Rồng; Thiên Thông=Thìn Rồng) Gặp nhau hay hẹn nhau chỉ cần giơ hai ngón tay hình chữ V và nói một câu ngắn gọn là “Việt !”, là hàm chứa hết mọi ý nghĩa tốt đẹp. Việt là con số 1 Một Chân lý như “Đinh đóng Cột” (“Luôn Nhất”=Luật, tức Hiến Pháp, con người là nhất) Cái Ngay là chân lý rõ như ban Ngày (từ đối Ngược/Ngay) Từ đối : Ngược/Ngay, Nguội/Ngày, Nhược/Nhạy (tốc độ), Nước/Nắng (vật chất). Bởi vậy: Tức Nước ắt đến vỡ bờ Nước là sự sống, bao giờ mà thay Đang toàn cầu hóa ngày nay Chủ nghĩa giữ Nước cho Ngày dài lâu (Môi trường xanh là trên hết của toàn cầu) Cho nên, khuyên rằng: Học thật giỏi tiếng Việt Sẽ Viết nên cái hay Thế giới mãi tồn tại Cũng như Ngày đến Ngày Hãy luôn luôn Vui -Vẻ Công việc càng hăng say Càng thêm nhiều hạnh phúc Vẻ-Vang sẽ đến Ngày Một, Mai, ắt đến Mốt Việt, Vẩn-Vơ, Viết thay (thời đại “kinh tế Trí Thức”) Nhược qua ắt đến Nước “Sắc Nước, hương Trời” ngay Nhật sắc lên là Nhất Việt đứng Nhất đến Ngày.
-
- 2
-
-
Chúc Mừng Năm Mới Sắc=Sạch=0 (Phật: “Sắc Sắc Không Không”). Vũ trụ hình thành từ cái Sạch đó (“Từ Sạch”=Tách). Tách ra ban đầu là Dương/Âm (như sự tự sinh sản bằng cách tách đôi của tế bào) nhờ cái khái niệm NÔI của người Việt, thành ra hai khái niệm đối nhau là Tá/Té (Tách chia ra Tá và Té, đều là cùng “tơi” T). Cái Sạch khi đưa vào trong NÔI của Việt thì nó như là cái Nòi. Cái Nòi trong Ổ của NÔI thì “Nòi Ổ”=Nổ. Sự Nổ ấy của khởi đầu vũ trụ tạo ra cái Năng, Nổ tách ra cặp đối là Nắng/Nước (Nổ chia ra Nắng và Nước, đều là cùng “tơi” N), Nắng và Nước đều là hai loại năng lượng lớn (tiếng cổ nó là “hai loại Năng đều cùng là Nậy cả”). Cho nên tiếng Việt có từ Năng Nổ chỉ cái tư duy Việt luôn luôn sáng tạo để có ý tưởng mới (thành ngữ: “Cái lý của người Việt là Nước”, “Sắc như Nước”). Tá=Lửa, Té=Nước. Trên trái đất thì Nước là bắt đầu của sự sống, và biết dùng lửa là bắt đầu hình thành loài người. Bởi vậy ngọn lửa bếp được coi là nơi thân thuộc nhất. Bốn nét Kẻ của Quẻ Ly ( Lả=Li) được viết cách điệu thành bốn nét của chữ Tâm (Tá=Lả=Lửa=Lý=Lòng=Trong=Tỏng=Tim=Tấm=Tâm), thể hiện ba ông đầu rau và cái vòng kiềng ở trên. Ngọn lửa cũng được dùng để cầu chúc sự an lành (ví dụ ngọn nến), và thể hiện vui mừng bằng điệu múa cộng đồng quanh đống lửa. Đó là sự hình thành của từ Chúc: (Tá=Lả=Ló=Đỏ=Tỏ=Đỏ=Đốt=Đuốc=Thuộc=Thục=Chúc). Mừng là niềm vui, từ Một mà có hai trạng thái tâm lý đối nhau trong cặp Mừng/Mủi. Năm là một chu kỳ thời gian mười hai tháng, gọi là “năm” vì theo logic của hệ đếm ngũ phân cổ xưa, hết “prăm” thì quay lại chu kỳ đếm ( tiếng Khơ Me “prăm” là con số 5, còn “chnăm” là “năm” mười hai tháng). Người Việt đếm ngày theo thời gian là MỘT, rồi đến MAI, rồi đến MỐT. Nếu Một là cái hiện tại thì Mai là cái Mới (Hai=Mai=Mới, “Mới”, tiếng Khơ Me là “Thmây”, tiếng Lào là “Mạy”, tiếng Thái Lan là “Mai”, tiếng Hán là “Xin”). Đó là nguồn gốc của câu CHÚC MỪNG NĂM MỚI. Thần tình là từ “Mới” của tiếng Việt cùng là gen dấu sắc của bắt đầu vũ trụ. Khi còn là 0 tức là chưa có tư duy, khi đã sang 1 tức là bắt đầu có tư duy, mà sự bắt đầu là Một , Một cũng là Việt (các cặp đối 0/1=Mô/Một/=Vô/Việt). 1 là có tư duy, tức là Việt=Biết, và để biết cái Sắc tức khởi đầu của vũ trụ thì “Biết Sắc”= “Bắc” tức phải “có phương tiện”, cái phương tiện để mà “Nom” ông trời (Nom=Dòm=Nhòm=Nhìn=Nhãn), đó là Âm Dương Ngũ Hành Lạc Việt. Thời đó người Việt còn ở nhà sàn, gọi là Thang=Sàng=Sàn, vì lên nhà phải “bắc” thang, tức phải “có phương tiện” là thang. (Cái nhà sàn tiếng Indonexia là “Tangga”=Sàn Nhà, tiếng Chăm là “Thanggiơ”. Thang=Đàng=Đường, từ “Thanggiơ” đã tạo nên từ Gia Đường trong tiếng Hán, phát âm là “chia tháng”. Người Hán khi đó là dân du mục phương Bắc, không có khái niệm nhà sàn). Âm Dương Ngũ Hành Lạc Việt là cái phương tiện để người Việt “Bắc thang lên hỏi ông trời” (thành ngữ Việt). Cái phương tiện để xác định phương hướng đi biển của người Việt là cái Kim “Chỉ Nom” là cái la bàn, chỉ cho người nom lên chòm sao đại hùng tinh trên trời, biết là hướng Bắc (cái hướng xác định được nhờ “có phương tiện” tức là cái “bắc”, như bắc thang, được đặt tên là hướng Bắc. Người phương Tây sử dụng cái Kim Chỉ Nom tức cái la bàn của người Việt, nên hiểu “Nom” là hướng Bắc, phiên âm “Nom” là North, người Hán phiên âm ngược lại là “Chỉ Nam” Châm . “Chỉ Nom” tức chỉ cho mà nom, chỉ cho mà nhìn, cũng được nâng nghĩa lên là “đường lối”. Tiếng Hán không có âm vận “om” và “am”, chỉ có âm vận “an”, nên họ mượn chữ Nam để phiên âm cái âm tiết “Nom”,thành ra chữ “Chỉ Nam” của Hán ngữ, cũng ám chỉ là đường lối, nhưng nó không có nghĩa là “đường lối”, mà thực biểu ý của chữ là “chỉ hướng nam”, thực sự kim la bàn đâu có chỉ hướng Nam, nó chỉ hướng Nom là hướng ngửa mặt lên mà Nom cho thấy Chòm sao Đại Hùng, tức hướng Bắc, nhờ cái “bắc” là cái “có phương tiện” tức cái Kim Chỉ Nom hay còn gọi là cái la bàn. Nếu lấy từ đếm trôi thời gian ba ngày liền nhau của tiếng Việt là MỘT-MAI-MỐT để đếm ba giai đoạn kể từ khi Âm Dương Ngũ Hành nguyên bản của người Lạc Việt làm nên nền văn minh Văn Lang rực rỡ cách nay 5000 năm ở nam Dương Tử, coi như thời MỘT; tiếp đến thời kể từ khi nền văn minh Văn Lang sụp đổ ở nam Dương Tử dài đến hàng ngàn năm tiếp theo, coi như thời MAI; thì thời hiện nay chính là thời MỐT. Thần tình nữa của tiếng Việt là MỐT lại cũng cùng gen dấu sắc với khởi đầu vũ trụ, lại cùng gen với Một. Mà thời của thiên niên kỷ này các nhà khoa học nói rằng là “thời nhân loại khai thác trên trời (năng lượng mặt trời) chứ không khai thác trái đất (nhiên liệu hóa thạch, thủy điện) nữa”, “thời kinh tế Trí Thức”. Trí Thức thì cũng cùng gen dấu sắc với MỐT (mà “mốt” còn là thời thượng). Vậy thì đúng là đến thời MỐT là thời khoa học của nhân loại quay trở về với MỘT (nguyên bản Âm Dương Ngũ Hành), tức quay trở về với Việt, nhưng sắc hơn. Một sắc MỐT là Việt sắc Viết, thời của TRÍ THỨC. ( Chữ Một và Việt chỉ có thể từ nặng rồi đến sắc , đố có dấu nào chen vào được nữa để ra nghĩa khác. MỘT sẽ phải đến MỐT, VIỆT sẽ phải đến VIẾT, là thời của “sắc”, của kinh tế Trí Thức) Chúc Diễn đàn Lý Học Đông Phương một NĂM MỚI CÀNG SẮC !
-
- 2
-
-
Học tiếng Việt 1.Bắt đầu bằng học phát âm đúng 6 thanh điệu: A - À - Ã - Á - Ạ - Ả A (nhìn để nhận dạng chữ A. A là reo mừng: A Má về ! A Má đã về ! ) À ( nhìn để nhận dạng chữ À, nó khác A là có gạch ngang trên đầu, gọi là dấu huyền.) À là nhớ ra: À đây rồi !, À con nhớ rồi ! Ví dụ: Ếch con mải chơi, À nhớ ra rồi, Giờ này đón Má Ã (nhìn để nhận dạng chữ Ã, nó khác A là có gạch uốn trên đầu, gọi là dấu ngã). Ã là đã. Ví dụ: A Má đã về ! Ếch chạy ra hè. Trượt chân ếch ngã. Á (nhìn để nhận dạng chữ Á, nó khác A là có gạch dọc trên đầu, gọi là dấu sắc) Á là kêu đau: Á đau quá xá. Ví dụ: Ếch chạy ra hè, trượt chân Ếch ngã, Á đau quá xá ! Ạ (nhìn để nhận dạng chữ Ạ, nó khác A là có chấm dưới đít, gọi là dấu nặng) Ạ là chào ngoan: Con chào Mẹ Ạ ! Cái gì đây Ạ ? Ả (nhìn để nhạn dạng chữ Ả, nó khác A là có dấu móc trên đầu, gọi là dấu hỏi) Ả là hỏi: Con đau lắm HẢ ? Đọc bài : Ếch con mải chơi. À nhớ ra rồi. Giờ này đón Má. A má đã về. Ếch chạy ra hè. Trượt chân ếch ngã. Á đau quá xá. Con chào Mẹ Ạ !. Con chào Mẹ Ạ ! Mẹ chào con ngoan ! Con đau lắm HẢ ? Cho con cái này. Cái gì đấy Ạ ? Là cái bánh ngon. Ếch con sướng rơn. Cái đau cũng hết. Rửa tay xà phòng . Bóc bánh ăn xong. Lại ngồi chơi tiếp. Bài có sẵn vần, vài lần là thuộc. Nhìn chữ nhớ hết, vì đã thuộc lòng. Nhận dạng mau xong, sau đọc vẫn nhớ. Nhiều bài như thế, biết chữ càng nhiều. Chẳng cần đánh vần , làm chi cho chậm. Mẫu giáo đã thuộc, trăm bài đồng dao. Lớp một mới vào, bài nào cũng vắng. Vậy mà không ngẫm, dạy cho liên thông. Mẫu giáo thuộc lòng, thì nay nhận dạng. Những bài nghe thuộc, nay đọc bằng văn. Thế là rất nhanh, bé biết mặt chữ. Việc gì mà cứ, bắt học đánh vần. Bé cảm bực mình, rờ rờ rận rận. Từ khi còn ẵm, bé đã biết rồi. Chỉ nhận dạng thôi, gọi đúng “bố”, “mẹ”. 2.Học từ bằng Nôi khái niệm Nôi khái niệm của tiếng Việt là cái hình tròn biểu tượng Âm Dương Lạc Việt, với lĩnh vực ngôn ngữ thì cái hình Lạc Việt đó gọi là cái Nòi Nòng-Nọc. Nòi=Nôi=Khối=Khái; Nòng=Nọc=Niệm, nên cái Nòi Nòng- Nọc đó chính là cái Nôi Khái Niệm để tạo ra mọi từ của tiếng Việt. Không phải ngẫu nhiên mà người Việt gọi cái dụng cụ bằng mây đan mềm mại dùng cho trẻ sơ sinh nằm đong đưa là cái Nôi, bên Nôi là Lời ru con của mẹ. Ruột=Ru=U=Ủ=Ấp=Thắp=Thêm=Niệm. Lời ru là thắp lên niềm tin, là dạy khái niệm cho đứa trẻ từ trong Nôi, khi nó còn chưa biết nói. Và cái Nôi Khái Niệm của tiếng Việt, viết bằng chữ phiên âm là NÔI, đã sinh ra mọi khái niệm Âm Dương trong tiếng Việt. Chữ NÔI ấy bên trái là N tức NEGATIVE (Âm), bên phải là chữ I tức IRNEGATIVE hay INNEGATIVE ( phủ định của âm tức là Dương), còn chữ Ô ở giữa chính là cái Ổ, từ Ổ đó của cái Nôi mà cho ra mọi khái niệm, Từ Ổ=TỔ, do Tổ đó mà ra mọi khái niệm. Nôi Lạc Việt là ông Tổ của ngôn từ Việt, từ lời nói cho đến con số. Bản thân một chữ NÔI đã thể hiện ba đại từ nhân xưng là Tôi, Ngươi và Nó ,(Tôi là do lướt “Từ Nôi”=Tôi) . Nguyên thủy là Nòi ngôi thứ nhất; Nải ngôi thứ hai; Nó ngôi thứ ba . (Nòi=Ngòi=Mọi=Mỗi =Một. Nải=Ải=Ai=Ngài=Ngươi; vua Hùng còn gọi vợ là “Ải ơi !”.Nó=Nớ=Nậu= Nấy=Ấy ; trẻ con gọi bạn mới là “Ấy ơi” khi chưa biết tên bạn). Ba ngôi nhân xưng nguyên thủy nữa là Người-Ngươi-Nghỉ (câu Kiều “Gia cơ Nghỉ cũng thường thường bậc trung”=Gia cơ Nó cũng thường thường bậc trung). Người là ngôi nhân xưng thứ nhất nên Người=Nguyên ( là cái đầu tiên)=Ngươn=Duôn ( tên mà người Khơ Me, người Thái Lan gọi người Việt). Người=Nguyên=Ngươn=Duôn= Duê ( tên mà người Hán gọi người Việt, phát âm là “yue”). Nghỉ=Kỳ=Keo=Kinh=Cần=Dân=Nhân là tiếng chỉ người Việt, khi các tộc người khác nói với nhau về người Việt. Ba ngôi nhân xưng nguyên thủy nữa là Mình- Mày-Man ( Mày=Mai=Hai, Man là từ người Việt chỉ tộc thứ ba, khi người hai tộc Việt đang nói với nhau). Câu ca quan họ “Người ơi ngươi ở đừng về” đã thể hiện ngôi một và ngôi hai quyện chặt lấy nhau khó dứt vì cả hai đều từ một mà ra. Dân tộc nào thì cũng tự xưng mình là người như là đại từ nhân xưng ngôi một. Đó là từ Kẻ (lướt “Con Đẻ”=Kẻ, “Con của Mẹ”=Kẻ. Kẻ (tiếng Việt)=Cò (tiếng Thái, Cò là tao, Mừ là mày, tạm biệt nhau thì nói “ Cò dù nư !, Mừ còn nư ! nghĩa là: tao dời nhé, mày còn=cường=kẻ=khỏe ở lại nhé)=Kẻ=Cò=Cau (tiếng Philippin)=Cao (tiếng Vân Kiều)=Tao=Tau=Tui=Tôi. Bởi vậy mới có Kẻ=Keo ( người Tày, Thái gọi “ Dân Kinh” là “Cần Keo”)=Kinh=Kỳ, nên người Việt còn gọi là người Kinh Kỳ, từ Kinh Kỳ sau dùng chỉ xứ văn minh. { Ba đại từ nhân xưng của tiếng Việt đều lấy gen từ NÔI, nhưng NÔI của Việt còn để lại gen cho cả trong ba đại từ nhân xưng của tiếng Nga là I-A (gen I) tức tôi; TI (tiếng Ucren)=TƯ (tiếng Nga, gen I) tức ngươi; và ÔN hay KA-TÔ-RƯI tức nó ( đều gen Ô). KA-TÔ-RƯI dịch đúng và theo kiểu Việt là “MÀ LÀ -NÓ-RỒI”, ví dụ câu tiếng Nga: “[Trelovek] [ ka-tô-rưi] [iđussii]” (ý nghĩa là “người đang đi”), nó là câu tiếng Việt: “[Người] [mà là- nó- rồi] [đang đi] . Hoặc câu tiếng Nhật: “[Ni-Hôn Gô Ga], [bêtô- Namư Gô Ga], [Đế Wa] [Ô-Na-Di] [Đês] [Né] (nghĩa là “ tiếng Nhật Bản, tiếng Việt Nam, là giống nhau đấy nhé”, nó cũng là câu tiếng Việt : “[Nhựt –Bổn Gọi Cả], [Việt-Nam Gọi Cả], [Thế Là], [Nó-Na Ná- Giống] [Đấy] [Nhé]” } Nôi=Nói=Gọi=Gõ=To=Tiếng=Từ=Toán. Khí trong lòng đưa ra Gõ thanh quản trong Mồm để phát ra thành Tiếng, Tiếng ấy là đơn âm thành nghĩa nên nó là một Từ.Lướt “Mồm Tiếng”=Miệng (Mồm và Miệng là hai chức năng hoàn toàn khác nhau, nên nha sĩ khi khám chỉ có thể ra lệnh “há mồm ra” chứ lệnh “há miệng ra” là nói sai khái niệm chứ không phải là nói cho sang). Hán ngữ gọi cái nôi ru con là cái “dao lan” (“yáo lán”) tức cái “làn lắc”. Làn lắc chỉ là khái niệm chức năng cơ học. Còn cái Nôi của tiếng Việt nó súc tích ý nghĩa. Bởi vậy tôi mới nhận xét là mỗi từ trong tiếng Việt đã là một minh triết.Tiếng=Từ=Toán, vậy là đủ cả lời cả con số, mà con số đầu tiên do cái Nôi Khái Niệm của tiếng Việt sinh ra là con số 0 và 1 của Toán và người Việt có hệ đếm đầu tiên là hệ nhị phân. Cứ tìm các từ của tiếng Việt mà xếp cho đúng cặp từ đối (như 0/1) nguyên thủy (tức hai từ tạo nên cặp phải theo QT là cùng “tơi” hoặc cùng “vắng tơi” hoặc cùng “rỡi”) ta sẽ được hàng trăm cặp, vì từ Việt đều sinh ra từ Nôi Lạc Việt. Ví dụ 1/0 là Chắc/Chẳng, Chẳng=Chăng (tiếng Mường là 0); 0/1 là Không/Khắt (khắt-khe là đòi hỏi như một), Mô/Một, Cóc/Cột (Một=Cột=Côi=Cô), Đếch/Độc ( Độc=Đơn), Hết/Hòn (Hòn=Non=Núi=Dùi=Mũi=Một), Vô/Việt Việt=Vọt=Nhọt=Nhọn =Non=Núi=Dùi=Mũi=Một đều là hình tượng con số 1) Xỏ/Xếp (Xếp=Xí, khăn xếp với cờ xí là của người đầu lãnh, người hạng 1, dân thường chỉ vấn khăn đầu rìu, nhưng xếp lại là cheff của tiếng Tây) v.v và v.v. Một=Mỗi=Ngôi=Người=Nguyên (lướt “Nòi đầu tiên”=Nguyên) là cái đầu tiên tức con số đầu tiên của hệ đếm. Hệ đếm nhị phân chỉ dùng để nghiên cứu vũ trụ. Hệ đếm trong làm ăn thì có hệ đếm đến 5 là Muôi đến Prăm (tiếng Khơ Me) là từ Một đến Lắm, rồi hệ đếm đến 6 là Một đến Sáu. Sáu=Lấu( tiếng Hồ Nam)=Lục(tiếng Quảng Đông)=Lâu=Lắm, rồi lại có hệ đếm đến 7 là từ Một đến Bảy (tồn tại ở vùng Sở thời cổ đại, theo viết của Shiba Hirotaro, nhà văn Nhật Bản). Bảy=Bẩy=Bầy=Bừa=Bãi=Lãi=Lắm=Trăm. Rồi mới đến hệ đếm đến Mười là nhiều. Lắm=Mắm=Mười=Muôn=Mưn (tiếng Tày sau dùng chỉ con số một nghìn)=Mưn =Man ( tiếng Nhật Bản, dùng chỉ con số một vạn)=Ngàn (tiếng Việt, sau dùng chỉ con số một nghìn)=Ngàn= Vạn ( tiếng Hán, phát âm “wan”, sau dùng chỉ số một vạn), đều chung là khái niệm nhiều. Khái niệm nhiều là có trước, khái niệm con số cụ thể là có sau, như Tiếng=Từ=Tên=Toán, có Tiếng mới có Từ, có Từ mới đặt Tên cho con số, có con số rồi mới có Toán. Lắm=Mắm vì làm mắm thì phải có muối lắm, lướt “Muối Lắm”=Mắm. Người Việt là dân biển nên biết làm mắm chắc là từ khi còn chưa có hệ đếm đến Mười (Hà Đồ chỉ có đến cửu cung là hết). Mắm chỉ muối đến Chín là ăn được, lúc đó nó đã mất hẳn cái Tanh của cá khi còn Tươi, nên mắm chín gọi là lướt “Mất hết hẳn cái tanh của cá khi còn Tươi”=Mười. Còn theo số học thì khi còn đếm ở hệ 5, hết Prăm thì quay lại Prăm Muôi sẽ là thêm một tức số sáu; logic như vậy, theo hệ thập phân thì hết Chín phải thêm một nữa là “Một Muôi”=Mười (còn quán tính của tiếng Khơ Me, nên mới gọi là hệ ngữ Môn- Khơ Me). Mắm=Minh, biết làm ra mắm và nước mắm từ thời cổ đại đã là Minh( chuyện cổ tích Tấm Cám đã có mắm), ăn mắm lại thông minh vì nó có nhiều đạm. Người Việt cổ tự xưng mình là Kẻ, nên làng Việt nào cũng bắt đầu tên làng bằng chữ Kẻ, ý là Người của làng đó, ví dụ: Kẻ Đăm là người làng Đăm. Có từ Làng Nước, do làng là của nước, mỗi làng đều là của nước. Thời Hùng Vương, vua Hùng thường xuyên phong đất mới mở mang cho người nào có công ( “Phát cho một Vòng”=Phong. Vòng=Vuông=Vùng. Chữ Phong gồm hai chữ Thổ , ý là nhiều đất và chữ Tấc là đã đo đạc. Người Việt vượt sông, đo chiều rộng của sông bằng đơn vị chiều dài của con đò, nên từ Đò Đác=Đo Đạc và có câu thành ngữ “Mấy sông cũng lội, mấy đò cũng qua”, cứ đếm thử xem chiều rộng của con sông được mấy đò. Đác là Nước, bắt nguồn từ tiếng Việt cổ: Té=Túc=Tức=Đức=Đéc=Đầy=Đác=Nác=Nước=Nậm=Lầm=Đậm=Đà=Đen= =Hoẻn=Hắc=Mặc=Mực=Man=Đan=Than =Thâm=Thủy (nhiều từ đã được lấy chỉ màu ngũ hành của nước, gọi chung là màu đen). Từ Tức tiếng Khơ Me nghĩa là Nước, cặp từ đôi Tức Nước để có nghĩa nhấn mạnh là Đầy Nước, và thành ngữ Việt có câu “Tức Nước vỡ bờ”. Cặp từ đôi Lầm Than là để nhấn mạnh ý màu tối, thành từ văn học chỉ cuộc sống tối tăm. Tiếng Việt vẫn lấy màu đặc trưng của vật để làm tên gọi vật, vì nó màu than nên gọi nó là khoáng vật Than, vì nó màu vàng nên gọi nó là kim loại Vàng, vì nó màu bạc nên gọi nó là kim loại Bạc (Bạc tiếng Mường nghĩa là màu trắng, “Bạc Sạch”=Bạch nghĩa là màu trắng không có lẫn tạp chất). Chữ Đức nghĩa nguyên thủy của nó là Nước. “Có Đức thì sẽ có tất cả” nghĩa cụ thể của câu này là “có nước thì sẽ có sự sống”, ý nghĩa trừu tượng của câu ấy chính là tư tưởng của đạo Phật, nên mới có hội té nước, hội tắm nước cho tượng Phật ở khắp Đông Nam Á này. Chữ Đức trở thành cốt lõi của đạo Nho, thờ một chữ Đức là thờ sự sống, là thờ Nước. Lắm Nước=Lạc, người Lạc nghĩa là dân có Lắm Nước, gọi là Bách Việt nhưng không phải là con số 100, thực sự thời cổ đại có hàng mấy trăm Quốc, đều là Của Nước của vua Hùng hết. Phong cho “Con đẻ của Mẹ”=Kẻ mảnh đất nào thì Con=Quan=Quân ấy lấy tên đất ấy làm họ cho mình và làm Con Vùng=Quân Vương ở đó , ví dụ phong cho đất Trần thì lấy họ là Trần và gọi xứ đó là Trần Quốc tức Trần Của Nước, tự quản tự trị lấy theo phép trói buộc của Lạt Hồng ( như sợi lạt màu hồng trói ngoài bánh chưng, chia cái bánh chưng thành cửu cung), Lạt Hồng=Luật Rộng (sau khi đã Luộc Chín=Luật Chính), Luật Rộng là được dân chủ tự do, quản lý lỏng lẻo chứ không bị áp đặt, nhưng vẫn là Quân Quốc tức Con Của Nước, chẳng ly khai đi đâu, bởi vậy văn hóa Văn Lang mới rộng khắp như vậy. Lắm Nác=Lắm Đức=Xăm Đéc, Xăm Đéc là chỉ người có Lắm Nác, tức Lạc. (Xăm Đéc tiếng Khơ Me chỉ người có đất đai rộng lớn, uy quyền cao, được kính trọng). Con nào của vua Hùng có công lớn nhất thì được phong đất rộng nhất, tức được phong “Của Rộng”=Công, tiếp đến là bậc Hai gọi là Hầu ( Hai=Hầu), thấp nữa là thứ Ba gọi là Bá ( Ba=Bá), thấp nữa là thứ Tư gọi là Tử (Tư=Tử), thấp chót là thứ Năm gọi là Nam ( Năm=Nam). Chia như vậy mà cũng chỉ có đến 5 bậc, vì thời đó còn đếm theo hệ ngũ phân như ngũ hành. (Còn tồn tại trong hệ đếm của người Khơ Me bây giờ). Hàng trăm nước lớn nhỏ khác nhau theo diện tích ấy đều là nước của các con, dù là Công, Hầu, Bá, Tử, Nam đều chỉ là hàng Thứ Hai so với nhà nước trung ương của vua Hùng, nên các nước hạng hai ấy đều gọi là Chư Hầu (Thứ Hai=Chư Hầu). Còn nước Mẹ ( nơi vua Hùng, là cái Nôi, Nôi=Nơi=Nước=Nái=Cái. Địa danh Việt như Sông Cái, Cái Nước, Cái Sắn v.v.) thì đó là cái Ổ ( chữ Ô trong chữ NÔI, nơi đẻ ra tất cả). Ổ=Âu (theo QT là cùng “vắng tơi, trong tiếng Việt cái Ổ cũng là để đựng và cái Âu cũng là để đựng). Ổ=Âu nên cái Ổ có Lắm Nác ấy là Ổ Lạc=Âu Lạc . Vua Hùng cho 50 con ra biển, 50 con lên đất liền, còn đất mẹ thì vua Hùng giữ, nên vua nói là “Đất Mẹ thì là Ổ Của Tớ”.( “Của Tớ”=Cơ). Ổ=Âu, Của Tớ=Cơ, nên đất mẹ chính là Âu Cơ . Té/Tá là cặp đối nguyên thủy của Nước/ Lửa, đã giải thích trước đây theo QT rồi. Đo “Từng tí Đất Đác”=Tấc=Tất (đo xong)=Thật (số đo mới là thật)=Thốn (cho mày được Thôn tính chỗ đó) để phong cho Con=Kẻ , nên đất ấy có tên Kẻ kèm theo tên vùng đất, rồi Con=Quan=Quân lấy tên đất ấy đổi làm họ của mình và gọi xứ ấy là Họ Của Nước, ví dụ đất Trần thì gọi là Trần Của Nước=Trần Quốc thay cho tên cũ là Kẻ Trần. (Kẻ=Kỳ=Keo=Kinh; “Con đẻ của Mẹ”=Kẻ. Nên tiếng Việt gọi là “tiếng mẹ đẻ”, như từ “mather tong” của tiếng Anh. Tiếng= “Tong”. Tiếng Anh “tong” nghĩa là cái Lưỡi. Tiếng Việt thì “Lưỡi đưa Rỡi”=Lời. Lời=Ngợi=Ngôn, ngôn ngữ là từ cái lưỡi mà ra, khen ngợi là khen bằng lời chứ không phải khen thưởng bằng tiền). Lời là đã có nghĩa, nhưng nó có thể là một tiếng hay nhiều tiếng, còn Tiếng là một Tiếng có nghĩa tức một Từ (Tiếng=Từ=Tên). Con chó có lưỡi nhưng nó chỉ biết Lu, không ra nghĩa (Lu=Lú, người nói vô nghĩa gọi là Lu La=Lu Loa, còn Lú Thuyết=Lẩn Thẩn) Theo phát âm của tiếng Việt thì vũ trụ ban đầu chỉ là một dấu Sắc, nó là 1 vì nó là Có tức đang tồn tại nhưng chưa có gì cả ( là 0 ) nên nó là Sạch (Sắc=Sạch). Sạch=Tách, thế là bắt đầu tạo nên vũ trụ là một sự Tách. Tiếng Tách ấy trong Nôi Khái Niệm của Việt sẽ chia ra hai “tiếng” là Té và Tá, thành cặp từ đối Âm/Dương là Té/Tá . (Té nghĩa là nước, “té nước”, Té=Tát=Tắm=Tưới=Rưới; Tá nghĩa là lửa, “tá lả”, “tá hỏa”, Tá=Tỏ=Đỏ=Đuốc=Đèn=Đăng). Chính vì là Sắc nên nó có thể phát triển mãi ra mọi hướng (khoa học ngày nay chứng minh vũ trụ vẫn đang tiếp tục dãn nở). Sự Tách ấy là tách từ một cái không có gì ban đầu, tức tách từ cái Nỏ (Nỏ tiếng Việt nghĩa là không, cùng như tiếng Anh nói No là không). Là Nỏ khi ở Nôi Khái Niệm của Việt thì nó phải theo cái gen “N” mà sinh động tác Nổ ( cũng như Sạch đã theo cái gen “ách” mà sinh động tác Tách). Tiếng Nổ ấy tạo ra một sức mạnh vô biên gọi là Năng, trong Nôi Khái Niệm của Việt thì Nổ sẽ chia ra hai “nói” là Nước và Nắng (có cái Nổ nào mà lại không có “tiếng” tức không có “nói”, bởi vậy có từ “tiếng nói” và rồi phát triển thành khái niệm là “ngôn ngữ”. Lời=Ngợi= Ngôn; Nói=Gọi =Ngợi=Ngữ) . Nước và Nắng tạo thành cặp từ đối Âm/Dương là Nước/Nắng, cả hai đều là nguồn năng lượng phong phú ngày nay trên trái đất này. Sự sống bắt đầu từ vũ trụ. Sắc=Sống, có Sắc mới phát triển được , còn cùn thì chỉ có mòn (“Mất dần cái Còn”=Mòn. Mất dần cái đang tồn tại thì càng ngày càng mòn đi cho đến mất hẳn luôn. Thế mới biết tổ tiên ta đã kiên cường giữ gìn văn hóa Việt suốt 5000 năm nay như thế nào). Khoa học phát triển theo chiều sâu và chiều rộng, càng nhiều ngành hẹp tức càng nhiều cái Sắc chen nhau thì đại cục khoa học càng nở rộng ra. Sắc là vũ trụ ấy đã ưu ái để gen “ắc” cho tiếng Việt là từ Nác=Nước. Nước là bắt đầu của sự sống trên trái đất, bắt đầu của sự phát triển, vì nước là Sắc nhất, lan được ra mọi hướng (kể cả lên trời), xuyên được qua mọi thứ. Chẳng phải ngẫu nhiên mà người Việt là duy nhất gọi xứ sở mình là Nước. Bởi vì Việt là số 1 (Vô là số 0, cặp đối Âm/Dương là Vô/Việt), là “number one”, là nơi (cái NÔI, Nơi=Nôi) bắt đầu nền văn minh của nhân loại. Vì Việt là đầu tiên, nên nó Vọt Trước là đúng thôi. [Tiếng Việt xưa cái đầu gọi là cái Trốc, vì nó chứa cái trí tuệ là do Trên Trời ban cho, “Trời ban cho để mà Học”=Trốc, còn của con vật thì chỉ gọi là cái Sỏ hay cái Đầu, không có từ “trốc chó”, “trốc trâu” nhưng có từ “trên chốc” nghĩa là trên đầu, “Trốc Bước”=Trước, vì con vật nào đi cũng đưa đầu ra đầu tiên “ Đưa Đầu”=Đạo, nghĩa là dẫn đường, chữ nho viết biểu ý bằng ghép chữ Dò với chữ Đầu, Dò=Đò=Đi=Độ=Đô. Người ta phải Dò để có Bắc là chỗ phương tiện, chứ không phải sông chỗ nào cũng định vượt được, “Bắc để mà có thể Đến”=Bến, lúc đó mới dùng Đò để mà Đi, “Đi mà Chộ”=Độ tức vượt, đi mà chộ tức đi mà thấy mới vượt được chứ đi mà mù thì chẳng vượt được, “ Đến Chỗ”= “Đóng Chỗ”=Đô, nơi người Kinh đến đông Đóng Chỗ gọi là Kinh Đô. Tiếng Việt có từ Đức Độ, nghĩa vật thể là cái nơi Nước muôn sông Đổ về một Chỗ, nghĩa trừu tượng là nói về người có nhiều đức. Hán ngữ thì dùng từ Đạo Đức]. Kể cả khi đẻ ra đời cũng là đưa đầu ra đầu tiên, còn khi chưa đi, mới chỉ là định đi thì cái đầu nó đã phải Bước rồi, xem sẽ đi hướng nào, Bước là “Bằng ước”, Óc=Ước=Bước=Bắc (tìm ra chỗ phương tiện) =Biết=Việt ( con số một, sự bắt đầu)=Vọt . [ Vọt Trước để lại cái âm cho người Hán bắt chước và đảo ngược ngữ pháp lại gọi là Trác Việt , phát âm lơ lớ là “trúa duê” nghĩa là dẫn đầu, nhưng âm Trác=Trước trong Hán ngữ phát âm là “trúa” không hề có nghĩa là đầu tiên tức Trước, phải dùng nguyên xi từ mượn ghép lại là Trác Việt thì mới có nghĩa, và người ta gọi từ “trác việt” là từ của “cổ Hán ngữ”]. Nếu không tin Nước là Sắc nhất (như câu thành ngữ tiếng Việt “Sắc như Nước”) , thì cứ thử rỏ một giọt nước lên một mặt phẳng và bằng đúng nghĩa bằng phẳng hoàn toàn mà xem, nó sẽ lan hình thật tròn ra mọi hướng cho đến khi nó Sắc (Sắc=Bắc=Biết=Biệt=Bặt=Chặt=Chắc=1) lên tận trời, nhưng nó vẫn còn, nó lỏng nhưng mà chặt, là chắc , là con số 1, sau khi đã qua 0, là không nhìn thấy (bốc hơi, Hơi=Hư=Hỏng=Hổng=Trống=Không, “Hư Vô” là từ đôi để nhấn mạnh ý Không). Người Việt gọi xứ sở mình là Nước, không ít người đã nhận xét là “cái lý của người Việt là nước”. Lý học giải thích “nước Âm, tính Động”, nên nước phải được tự do theo tự nhiên của nó, mọi ý tưởng hại nước (chặn dòng làm thủy điện) của con người, nay đang lãnh quả đắng về môi trường. Tư duy Việt cũng “Sắc như Nước” nên cũng còn câu thành ngữ nữa là “Sắc Nước Hương Trời”, nên mọi ngăn chặn tư duy của người Việt, phủ nhận văn hóa Việt 5000 năm văn hiến chỉ là dại dột. Ngôn ngữ là cái Lưỡi ( tiếng Anh cũng bảo vậy, là “mather tong”, tiếng Nga cũng bảo vậy, là “i-a-dức”). Thời nhà Tần, Tần Thủy Hoàng ra lệnh triệt hạ hết văn hóa Bách Việt để thống nhất một ngôn ngữ Quan Thoại, dã sử ghi có ông Tô Tần ( ông tên Tô thời nhà Tần) mới nói rằng: “Ta mất sạch cả rồi, chỉ còn mỗi cái lưỡi”( nên ngôn ngữ Việt vẫn tồn tại đậm nét cả về phát âm cả về ngữ pháp, là ngữ pháp xuôi của ngôn ngữ Nam Á hệ ngữ Môn-Khơ Me, trong nhiều phương ngôn ở Trung Quốc ngày nay, kể cả trong văn bản thời Tiên Tần, bởi vì nó là tiếng Việt), ông ta trở thành nhà thuyết khách “trứ danh” (tức “danh trước”, tên đứng hàng đầu) vì ông ta đi khắp nơi khuyên các quốc gia không nên gây chiến để tranh giành nhau ( mà hãy thượng tôn cái “giá trị chung nhân loại”), về sau thành ra có câu thành ngữ “cái lưỡi Tô Tần”. Văn minh nhân loại đã bắt đầu từ Văn Lang, đó là thời MỘT (là thời nguyên bản Âm Dương Ngũ Hành mãi cho đến kinh Dịch, kinh Thi.v.v.), rồi đến thời MAI là thời truyền bá cái Minh ấy mênh mông ra toàn cầu, thời thứ hai này MỘT bị tranh giành mất bản quyền, nên còn nhắn lại trong ngôn ngữ Việt là “Một mất hết” vì bị “Hai ăn cả” . Hết mai ắt đến thời MỐT, là thời ngày nay nhân loại đang quay về tìm lại cái “giá trị chung nhân loại”, mọi “đại cục” trong khoa học chỉ là nhỏ so với cái “đại cục” duy nhất tổng quát là Âm Dương Ngũ Hành của người Lạc Việt, nên mới có nhắn lại trong ngôn ngữ Việt là “ Ba vét Nồi”. Vét là quay về cái căn để của nó, mà lại vét của Nồi, Nồi là cái NÔI. Cái NÔI của Việt đã đẻ ra tất cả. “Con gà có mỏ, Con chó có lông, Cây tre có mắt, Nồi đồng có quai”. Cây tre Việt Nam còn có mắt để chứng kiến mọi thăng trầm của lịch sử, chứng kiến mọi sự phủ nhận văn hóa Việt 5000 năm văn hiến. Nồi đồng hay Cối đồng (“đồng cổ”) lại quay về đúng cái NÔI của nó, vì nó có Quai (Kẻ=Quẻ=Kinh=Quái=Quai, Âm Dương Ngũ Hành, Bát Quái, Kinh Dịch). Âm Dương Ngũ Hành của người Lạc Việt cổ đại là cái quai để Xách cái NÔI văn minh nhân loại lên một tầm cao mới (Xách=Xốc). Thời MỐT sẽ thay thế thời MỘT, nhưng ở một tầm cao hơn vì nó Sắc hơn (sự lặp lại đúng qui luật biện chứng của lịch sử, sự “Xách” ấy cũng giống như sự “Tách” của vũ trụ để có Té/Tá), với điều kiện nó phải trở lại với đúng căn để của nguyên gốc (“vét Nồi”) thì nó mới thực hiện được sứ mệnh của MỐT. { Cảm ơn Sư Phụ THIÊN SỨ ở đoạn trích THIÊN SỨ said Song các nhà khảo cổ học và chuyên gia nghiên cứu văn hóa Maya cho rằng, lời tiên tri trên chỉ dự đoán ngày trở về Trái đất của một vị thần hùng mạnh, cùng với sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới mà thôi. Đúng rồi theo Việt lịch thì còn 129 năm nữa mới hết hội Tuất mà. Kết thúc một chu kỳ Kim của ba Hội Thân Dậu Tuất. Sang chu kỳ mới gồm ba Hội mới là Hợi Tý Sửu - thuộc Thủy. Thường trước khi chuyển sang một giai đoạn mới phải có một giai đoạn chuyển hóa. Có thể đây là sự vênh khoảng 129 năm giữa Việt lịch và lịch Maya. Sự khởi đầu của một giai đoạn mới trong nền văn minh nhân loại được hình tượng hóa bằng vị thần hùng mạnh. Thế mà cũng không biết! Tư duy "Ở trần đóng khố" mà! Những nền văn minh cổ xưa nắm giữ những bí ẩn này, gồm: Việt tộc là số 1 về nội dung, thứ nhì về sự chú ý (Trong giai đoạn này). Hậu duệ của nền văn minh Ai Cập và Sumer, Maya, Ấn Độ số 2 về nội dung, thứ nhất về sự chú ý. Văn minh Isarael chỉ là gọi là ké chút để tham khảo, hạng bét. Nhưng các cụ nhà ta đã dặn bọn trẻ con Việt: "Thứ nhất vứt đi. Thứ nhì ăn cả, thứ ba (bét) vét nồi! Bởi vậy, sau này, những nhà khoa học - Khoa học thực sự chứ không phải đám "giả khoa học" với những tri thức "liên minh bộ lạc" - sẽ tìm thấy những kết luận cuối cùng để hoàn chỉnh giá trị của một nền văn minh cổ xưa - vị thần hùng mạnh - chính từ nền văn minh Israel này! } [ Chú ý khi học tiếng Việt: Học tiếng Việt phải bắt đầu bằng phát âm thật chính xác, nên ở trên đã nêu để nhận dạng 6 chữ A với sáu điệu khác nhau trong phát âm. Người Việt vài nơi phát âm cũng lẫn lộn. Ví dụ chuyện một trai cứ dấu ngã thì toàn phát âm thành dấu hỏi, một gái cứ tơi “l” thì phát âm thành tơi “n”. Đêm tân hôn nằm với nhau vẫn để ngọn nến thắp sáng cạnh giường, bất ngờ cây nến đổ ngang, sợ nó cháy lan nên cô vợ vội nói: “Dập “nửa” đi anh ! “. Anh chồng đang say sưa không biết là cây nến đã đổ ngang, nghe vợ nói lại hiểu là “nữa” nên càng dập tới, làm cô vợ hoảng càng nói gấp: “Dập “nửa” đi anh, dập “nửa” đã !” . Anh chồng nghe vợ khen “đã” lại càng cố gắng dập tới ]
-
2012 - Nước nào sẽ hứng được tiền? Vietnamnet – 8 giờ trước Năm 2012 sẽ không giống bất cứ thứ gì chúng ta nghĩ liên quan tới kinh tế, đời sống xã hội và sự tương tác giữa mọi người. 2012 sẽ là một năm thành công với một số quốc gia không liên quan tới các vấn đề chính trị khu vực hoặc những nước khác, ngoại trừ viện trợ nhân đạo. Báo Pravda của Nga đã đăng bài nhận định về năm 2012 của nhà kinh tế học kiêm diễn giả Welinton Santos. Những nhận định đó là: Một vài vấn đề sẽ ảnh hưởng tới mức độ tin tưởng ở các thị trường tài chính và vốn sẽ được chuyển sang các thị trường an toàn hơn, những thị trường ít bị ảnh hưởng bởi các cuộc khủng hoảng tại những nước bị chủ nghĩa tư bản bỏ quên trong thập niên qua. Một số quốc gia ở nam bán cầu sẽ tập trung vào đầu tư sản xuất với quy mô toàn cầu như Brazil, Ấn Độ, Nam Phi, Trung Quốc, Chile, Angola, Mauritania, một số nước ở khu vực Trung Đông và châu Phi. Các quốc gia ở bắc bán cầu như Mỹ và Nga cần thiết lập các chiến lược mới để thu hút thêm đầu tư. Bất ổn chính trị sẽ lấy đầu tư khỏi một số nước Mỹ Latinh, Trung Đông và châu Âu. Bất chấp kế hoạch phục hồi khẩn cấp được tạo lập ở châu Âu, tài nguyên vẫn không đủ cho các khoản nợ tiết kiệm hàng nghìn tỷ đô la ở khu vực đồng euro. Khu vực châu Âu sẽ cần một nỗ lực đồng nhất và tập trung vào những vấn đề khác, các sai sót chắc chắn sẽ là một điểm được chú ý trong cơn khủng hoảng và các cơ quan đánh giá rủi ro sẽ áp đặt các cấp độ, thay vì tìm ra giải pháp cho việc làm và phát triển ở nước họ, ví dụ, tài trợ và phát triển để khôi phục môi trường, một khu vực có thể tạo ra hàng triệu việc làm trên thế giới, thay vì tẩy chay các vấn đề môi trường tại một thế giới đang kêu gọi trợ giúp. Những thất bại trong đàm phán các vấn đề môi trường toàn cầu trong năm 2011 xuất phát từ sự thiếu ý chí chính trị và quyết tâm tài chính trong những vấn đề liên quan tới duy trì, thâm hụt ngân sách công và hỗ trợ phát triển tư cách công dân toàn cầu. Gánh nặng của những dự án xã hội ở châu Âu đi đôi với bất ổn về tín nhiệm tài chính có thể gây ra một trận suy thoái ở một số nước ở lục địa này, tình hình sẽ tệ hơn cả lạm phát. Nga, Mỹ, Nhật, Trung Quốc và Brazil có thể được lợi từ tình hình kinh tế hiện nay, sẽ chiếm lĩnh các không gian chính trị và kinh tế mới. Điều lo lắng nhất về năm 2012 chính là các vấn đề môi trường, với khủng hoảng kinh tế sẽ có rất ít việc được tiến hành để hạn chế việc con người lạm dụng thiên nhiên. Hành tinh này đã phải hứng chịu những tác động mạnh của những sự kiện khí hậu, vốn có thay đổi lớn trong từng năm. Những người chỉ nhìn vào những điểm mấu chốt nên biết rằng việc duy trì những gì đã tồn tại có thể là giải pháp cho khủng hoảng kinh tế hiện nay. Sự gắn kết xã hội được tạo nên trong các vấn đề môi trường sẽ cho phép các cực việc làm nổi lên, tấn công một trong những vấn đề chính của xã hội hiện đại, vấn đề của việc làm. Một trọng tâm khác đó là phát triển các dự án văn hóa, vốn giúp tạo nên sự thấu hiểu về những vấn đề như chính trị, kinh tế và giáo dục. Nuôi dưỡng sáng tạo, tháo gỡ nhãn hiệu công nghiệp mà xã hội thiết lập là cần thiết cho sự phát triển của chúng ta, sự phát triển dựa trên sự công nhận của cuộc sống. • Lê Nguyễn (Theo Pravda)
-
Ngôn ngữ nào có trước? Theo Hà Văn Thùy và Đỗ Thành thì ngôn ngữ Việt có trước ngôn ngữ Hán. Xét ví dụ: Nói về cái nút chai, chai là cái bên ngoài, nút là cái bên trong. Cái bên trong và cái bên ngoài, tiếng Việt có cặp từ đối nguyên thủy là Ngoài/Ngòi. Cái Ngòi đó chính là cái Lõi ở bên trong. Theo QT: Ngòi=Lõi=Lí 里=(“lỉ 里”)=Lắp=Lấp=Nấp=Nắp=Nút=Nội 内= (“nây内”)=Nắc=Ngắc=Ngắt=Tắt=Tắc 塞= “tủ 赌” =Tại 在= “zài 在”=Cài= “cai 盖”= “xai 塞”=Đai 带=( “tai 带”)=Đậy=Đổ 赌= Đình 停= ( “tíng 停”)=Đốn 顿=( “dùn 顿”)=Đóng=Trong=Trung 中( “zhong 中”. Nếu chỉ riêng phát âm Việt thì nó đúng một mạch QT: Ngòi=Lõi=Lí=Lắp=Lấp=Nấp=Nắp=Nút=Nội=Nắc=Ngắc=Ngắt=Tắt=Tắc=Tại=Cài=Đai=Đậy=Đổ=Đình=Đốn=Đóng=Trong=Trung . Trong cái nôi khái niệm ấy chỉ có một số từ có chữ nho thì được dùng trong Hán ngữ. Chú thích một số từ: “Tại 在” là nằm lỳ ở một chỗ. “Nắc” là từ chỉ dùng để nói động tác dương vật đút vào âm đạo.( “ Bực mình với đèn điện, đang thức thì nó tắc, đang nắc thì nó sáng”). “Đổ 赌” còn dùng ghép với từ “Đốn 顿” là “Đổ Đốn 赌 顿” ý nói dừng cứng một chỗ, từ ghép này tuy có chữ nho, nhưng chỉ dùng trong tiếng Việt, còn từ ghép “Đình Đốn 停 顿” thì trong tiếng Việt và tiếng Hán đều dùng. Người Việt cổ đại trên cổ thường đeo vòng bạc chế theo kiểu Cứng Liền nên gọi nó là cái Kiềng ( QT lướt: “Cứng Liền”=Kiềng), nhà giàu thì có của hồi môn cho con gái là cái Kiềng vàng. “Xâu chuỗi gồm các vòng sắt móc nối nhau hình Kiềng”= gọi là cái Xiềng. Chữ Xiềng này đã để cái gen “ X” trong từ Cycle của tiếng Tây. Thời học tiếng Tây người ta gọi luôn cái Xâu chuỗi mà tiếng Tây là Cycle ấy là cái Xích, dần dần ít dùng chữ Xiềng, nhưng vẫn có từ đôi là Xiềng Xích, chứng tỏ từ Xiềng có trước, từ Xích có sau. Thời cái xe đạp truyền từ Tây sang Việt Nam, người Sài Gòn gọi cái Xích xe đạp là cái “Xên” để nói rõ chức năng nó dùng để nối liền hai bánh răng truyền động ( do dùng QT lướt: “Xích nối hai bánh răng truyền động thành một hệ thống Liền” = “Xích Liền” = Xên). Cái Xên thì nó khác hẳn cái Xích chó ( ấy vậy nhưng từ Xên không được ghi vào từ điển, có lẽ do người ta nghĩ rằng nó “nhà quê”). Thời tiếp thu kỹ thuật điện của phương Tây, từ “contact” chỉ cái bộ phận thực thi hai chức năng là nối và ngắt dòng điện. Việt ngữ phiên theo âm đọc, gọi là cái “công tắc”, do vội chạy theo Tây mà không để ý cái gốc Việt, nên không nhìn thấy cái gen Việt đã nằm sẵn ở trong từ tiếng Tây, ở cái lõi “ôn” và “ắc”, ( tiếng Việt vốn có QT Vo để chỉ lấy lại lõi là một âm tiết mà) đó là Thông-Tắc, gọi chính xác nó là cái Thông Tắc theo hai chức năng mà nó thực thi. ( Gọi là cái “công tắc” mới đầu nghe không mường tượng nổi ý gì, chẳng qua dùng lâu rồi thì chấp nhận vậy). Hán ngữ không phiên âm từ “contact” mà dịch ý để gọi là cái Khai Quan (Khai là mở, Quan là đóng). Hán ngữ phát âm chữ Thông 通 là “thung” và chữ Tắc 塞 là “xai”. “Thung Xai” không có cái gen nào chung với “Contact”, còn “Thông Tắc” thì có chung gen “on” và “ac” với “Contact”. Vậy tiếng Việt mới là Tổ của tiếng Tây, còn tiếng Hán thì không phải.
-
- 3
-
-
Cập nhật nguồn: Việt học ĐỗThành Khảo cứu Bách Việt Sử : Những Lớp bụi mờ của lịch sư... ( 1 ) Haǹg hàng lớp lớp bụi mờ phủ lên trên bề dầy lịch sử Bách Việt... Người Việt Nam ngày nay khi viết chử Việt với dần A B C thì người ta gọi là chử Việt , khi người ta gập chử tượng hình 越 (Việt ) thì đa số người ta nói là chử Tàu ! Người Quảng _Đông ngày nay khi viết 2 chữ 越 南 ( Việt Nam ) thì họ đọc là "Duyệt -Nàm" , và khi phát âm đọc lên 2 chử đó theo giọng nói địa phương Quảng Đông thì họ gọi tiếng của họ là Việt Ngữ...; Xin kễ 1 Chuyện xảy ra hiện nay tại 1 trường Đại học ở Califronia -USA : Một sinh viên người Việt Nam biết chút it́ tiếng Quảng Đông , Tự giới thiệu mình với một sinh viên đến từ Tỉnh Quảng đông -Trung Quốc rằng : "Ngọ hầy Duyệt-Nàm dành " (Tôi là người Việt Nam) , Người Sinh Viên kia cũng tự giới Thiệu : "Ngọ hầy Duyệt dành" (Tôi là ngườ Việt) ; thế là người sinh viên Việt Nam ngớ ngẩn !!! ...Hả ?...Uả ? sao kỳ Vậy ??? ...tuổi trẽ ngày nay it́ biết được lịch sử Bách Việt , ...nhiều người lớn tuổi mà còn không biết ! vì không muốn biết , vì không được biết v v...thì nói chi đến lứa tuổi sinh viên hiện giờ ! vì sao ??? đó là vì có sự Ngộ Nhận "Hoa-Hạ"- "Hán" và "Việt" ... Từ khi nào thì có chuyện người ta tự xưng là "Hoa-Hạ" hay "Hán" tộc ??? _Điều nầy khá phức tạp , nếu như thiếu dẩn chứng hoặc trình bài qúa ..."đơn sơ" ! thì khó thuyết phục ! Hôm nay tôi tìm cách trình bài những trường thiên dài lê thê của mấy ngàn năm bằng cách ngắn gọn , nhưng, củng phải kể ra những chi tiết quang trọng theo tuần tự -Những chi tiết sẽ được trình bài rỏ ràng theo từng bài khảo cứu tiếp theo sau nầy ; rất mong qúi vị ...cũng như tôi sẽ cố gắng để khảo cứu thêm chi tiết và viết thành nhiều bài đễ công bố online... 1 cách khoa học và nghiêm túc Khảo Cứu :Những chi tiết quang trọng...thời Cổ sử và Cận đaị -Cổ thư được gọi là "Việt Tuyệt ký" hay "Việt Tuyệt Thư"(*thời Xuân -THu chiến quốc : trước Sử Ký của Tư Mã Thiên ) , Trong đó ghi chép Vua Việt là con cháu của vua Vủ thuộc triều nhà Hạ ; Việt Tuyệt thư viết bằng chữ tượng hình như "Việt cổ Văn" và "Trung Văn" , ngày nay , sách phải dùng bằng bản phiên dịch qua Trung -Văn bởi những học giả Việt Học xưa nay , vì cổ Việt văn có 1 số từ ngữ của Cổ ngữ mà ngày nay người ta sẽ khó hay không hiểu khi đọc ! ...Ví dụ chử "Cuấy" hay "Cuây" là "Hội" , "kây " là "kế"; "cuấy kây" chính là "hội-Kế" , "Cuấy -kây"...mà viết theo chử tượng hình xưa thì mấy ai biết được bây giờ ? Đa số sẽ đọc là "Hội -kế" , (Lại có 1 giọng Cối -kê = Cuấy Kây =Hội-Kê ..là Hàn -Châu ngày nay ) , chử 會計( Hội-Kế ) là : 會稽 ngày xưa , Chử "Hội" với chử " kế "nhưng lại đọc là Cuấy-kây với dần "C-hay K " đó là nét đặc biệt của vùng Giang Đông và Phiên Ngung ( bên bờ biễn đông -Thái Bình Dương ) ; nhờ Việt Tuyệt Thư mà sau nầy "Sử Ký" (Cuả TƯ MẢ THIÊN )và nhiều sách sử khác có tài liệu về nguồn gộ́c Bách Việt bên cạnh những truyền thuyết... Truyền thuyết ...***Đế Nghiêu truyền ngôi cho Đế Thuấn , Đế Thuấn truyền ngôi cho Vua Vủ , Vua Vủ lên ngôi rồi truyền ngôi cho con là "Khải" : lập nên triều "HẠ" , triều Hạ là của Việt tộc : VIỆT TUYỆT THƯ chép rằng bởi vì "Vua Vủ được chôn cất ở Mao Sơn ̣(Cuấy kây- Hội kê ) , con cháu trong nhà phải có người theo ở đó đễ giử đất mộ của Vủ gia cho tròn đạo hiếu , và rồi lập ra Việt Quốc ." ; vậy , theo VIỆT TUYỆT cổ thư : Hạ và Việt là 1 nhà , đả là 1 nhà thì "Hạ " ngữ hay "Việt " ngữ là 1 , Có ai cần tranh luận điều nầy không ? ..chú ý : Nghiêu , Thuấn , Hạ là Truyền Thuyết ..., nhưng "Việt Tuyệt thư" là cổ thư thời Xuân Thu - chiến Quốc được lưu lại cho đến ngày nay mà nội dung được ghi chép thật rỏ ràng , cổ thư nầy mang tên "Việt Chép" và chép lại sử Việt ; sau nầy "Hoa"văn không có chử "chép " nên dùng chử "Choẻ , choé : 絕jue "/ đọc theo Hán -Việt ngày nay là "Tuyệt "... có phát âm na ná đễ thay chử "chép" ; Xin đón đọc : sẽ nói rỏ về VIỆT TUYỆT THƯ ở những bài khảo cứu tiếp theo sau nầy ; Việt Tuyệt Thư và những chử viết được khắc trên xương ( Giáp cốt văn )và những đỉnh bằng kim loại đồ đồng ( Chung Đỉnh Văn ) thời nhà Thương và Chu mà khảo cổ học phát hiện đã bổ sung và minh chứng cho truyền thuyết , và vì vậy Việt Tuyệt thư càng thêm giá trị . Triều Hạ bị lật đỗ bỡi Triều Thương , Thương là con cháu của Đế Nghiêu , lấy họ Chử , người Việt không xa lạ với họ Chử qua câu chuyện "Chử Đồng Tử "...,Thương không phải là Việt tộc ??? hay là Việt tộc ??? ( Xin xem bài tiếp theo )-Đọc giã sẽ tự có câu trã lời : Vì Đế Nghiêu truyền ngôi cho đế Thuấn , Đế Thuấn truyền ngôi cho vua Đại Vủ cuả nhà Hạ ;...Sau nầy nhà Thương của họ Chử ( 子 -đọc là Chử khi là họ , chứ không đọc là Tử . ) lớn mạnh và lật đỗ triều Hạ , và chử viết và văn hóa của Thương đều là kế tục của nhà Hạ : Những chử viết trong chung Đin̉h Văn và Giáp cốt văn cuả Khảo cổ học chứng minh được điều nầy , ...Nhà Thương thôn t́inh và Đồng hóa Người Siberia da trắng là "Trung Sơn Quốc" : gọi là "Bạch-Địch " , nói chung nhà Thương bao gồm Việt tộc và những ngoại tộc ̉ bị Việt tộc đồng Hóa ..., ngay cả tên của Trụ Vương ...cũng được ghi chép lại là Đế Tân theo văn phạm Việt ..chứ không phải là Tân Đế ! Triều nhà CHu củng bị Việt tộc đồng Hoá ; Tộc Chu là Tộc Khương đã liên kết với những tộc khác tiêu diệt nhà Thương , trước khi lật đỗ nhà Thương , thì trên bước đường đông tiến từ cao nguyên phía tây tiến về Trung Nguyên là họ đã bị Việt Đồng Hóa rồi , và họ đỗi tên , xưng là : CHu 周 , Chu : có nghiã là Điền 田-Khẩu 口 , Ráp chử Điền đễ phía trên và Khẩu chung sẽ thành chử 周 -Chu , ...Chu là khẩu sống nhờ Điền-(ruộng lúa)- ..., và triều CHu tự xưng là con cháu đích tôn của vua Vủ nhà Hạ để được "chính Danh"; Chu Tự xưng là "Hạ" hay là "Hoa" -vì lẩn lộn phát âm giữa chử Hoa và Hạ của tiếng Việt , Tiếng Khương của dân tộc Khương vẩn tồn tại cho đến ngày nay , cho nên khi đối chiếu tiếng Khương với cổ sử và Tứ THư , NGủ̉ Kinh v v...thì sẽ thấy rỏ Chu đã Bị văn hóa Việt của nhà Hạ và nhà Thương đồng Hóa...: Bỡi vì Triều Chu đã không còn dùng tiếng Khương như người dân tộc Khương hiện nay vẫn tồn tại và nói tiếng Khương , -và ngay cả việc nhà Chu phải nhâṇ thầy và học hỏi từ nước Sở củng ̣được ghi rõ ràng trong chính sử .(điều nầy ghi rỏ trong Sử Ký của Tư Mả Thiên ) Nhà Hạ được xem là chính danh , là Hoa = hoa nghiã là " hoa lệ " , là "qúi phái " , là tiến bộ- là qúi tộc , là thống lỉnh , là chính thống ở Trung Nguyên. Cho nên khi mà Chu muốn gồm thâu thiên hạ qui phục với Chu thì phải tự xưng là "Hoa-Hạ" , ngay cái tên "hoa-Hạ" đả tự bộc lộ là bị Đồng Hóa rồi....!!! Vì lẫn lộn "Hoa" Và "Hạ" !!! bỡi Vì là bị đồng hóa mà vẫn khó phân biệt phát âm của 1 ngôn ngử "mới " đối với họ , cho nên họ không phân biệt được "Hạ" là tên gọi Hoàng Triều , và "Hoa" là tên gọi của qúi Tộc theo lối phát âm tiếng Viêṭ , cho nên mới có việc tự xưng vừa Hoa lại vưà Hạ ...trong khi lẽ ra chỉ cần xưng là HOA , hoặc chỉ xưng là Hạ ...là được rồi ! ( Hoa = 華 , Hạ=夏 ) -華 - 夏 Tiếng Việt cổ đại Hoa Và Hạ đọc rất là giống nhau ... _ 華 - 夏Tiếng Việt ở Việt Nam ngày nay : đọc "Hoa"-"Hạ". ..Phát âm rất giống nhau , chỉ vì dùng cố định dấu nặng trong chử Hạ theo qui định ngày nay cuả phiên âm a , b , c , theo Latin mà tạo nên khác biệt hơi nhiều . -華 - 夏Tiếng Việt ở Qủang Đông nay : Đọc : "Hoà" -"Hà" ...Phát âm rất giống nhau . _華 - 夏Tiếng Mân-Việt Triều / Phước Kiến : đọc : "Hoe"-"he" ...Phát âm rất giống nhau . ....Mãi cho đến Sau nầy qua nhiều triều đại sau nhà Chu nữa , khi nhiều dân tộc khác tiếp tục bị người Việt đồng hóa nữa thì dần dần mới có sự "Lai Căn" văn hóa khác mà đổi phát âm chử "Hạ" đọc thành "seaé" hay "Xié" , và phiên âm theo tiếng Anh / English ngày nay 夏 là "Xia" ; Ngày nay tiếng Bắc kinh đọc 華 - 夏 là "Hoả-Xié" / ( là "HUA-Xia " khi dùng English phiên âm ). ...Chính vì vậy mà có từ ngữ Hoa- Hạ 華 - 夏 đọc thành "Hỏa -xié" theo tiếng "Quang Thoại" ngày nay để tự cho rằng : ta là "truyền nhân" đích tôn của của nhà Hạ !!! ...Việt Tộc thống lỉnh Trung Nguyên từ xa xưa , mà nổi bật là nhà Hạ , Việt , Bách Việt ... ngày nay xét kỷ thấy rằng : các ngôn ngữ cuả người da trắng vùng SIBERIA đã lập ra "TRUNG SƠN Quốc" rồi bị nhà NHà THương thôn tính , rồi CHu thôn tính THương ; Rồi loạn Hung Nô thời Tấn v v..., Xét kỷ ngôn ngữ Siberi , Turky , KHương , Mông Cổ v v... vẩn tồn tại đến bây giờ , đễ người ta có thễ đối chiếu và thấy khác với các tiếng nói phương ngôn Việt và tiếng Quang thoại- phổ thông : Đó chính là 1 bằng chứng người SiBeri thời nhà Thương và luôn cả nhà CHu đã bị Việt đồng hóa : vì họ đã không còn sữ dụng những ngôn ngữ "hung Nô" nêu trên... Vì đã bị Việt Đồng Hóa .mà họ tự Xưng là dân tộc "Hoa-Hạ" 華夏 !!! là con cháu của nhà "Hạ夏 "...! Vì Văn Hóa và ngôn ngữ Việt đã đồng Hóa Thương , Chu , và Yến , Nguỵ ( Người Siberi Thời xuân thu -chiến quốc) v v...cho nên tiếng Việt có thêm "1 nhánh mới phía bắc" mà ngày nay người ta gọi là tiếng Bắc-Kinh hay Mandarin , khi có thêm tiếng phía bắc thì 2 tiếng việt Nam Bắc khác giọng và biến âm khó thông với nhau nên người ta chọn tiếng Việt phía nam là tiếng xưa - "có sẵn từ trước "và là tiếng "tiêu chuẩn" đễ làm tiếng "phổ thông" dùng cho thời đó ! -và tiếng Việt đễ "phổ thông " thời đó đã được gọi là "Nhã ngữ 雅 語 " : thời Xuân -THu Chiến Quốc đã gọi Việt Ngữ là Nhã NGữ , Nho Giaó thời đó đã phát triễn mạnh , lịch sử đã được ghi lại khá hoàn chỉnh , cho nên người ta có thể kiểm chứng rỏ ràng 100 % chuyện nầy . "nhã ngữ雅語 " Mặc nhiên trở thành tiếng đễ dùng chung "phổ thông" phổ cập vào thời xuân thu-chiến quốc , và được gọi là "Nhã ngữ" vì nghĩa là : -Nhã : là Đẹp , văn nhã...; Khổng Tử Dạy học củng là dùng "nhã Ngữ" (雅語) . - Nhã ngữ là Việt Ngữ 粵 語 ( 粵 hay 越 hoàn toàn giống nhau , xưa dùng chung cả 2 chử nầy là "Việt" ) tồn tại cho đến ngày nay ờ Tỉnh Quảng Đông và nước Việt Nam . ...Nhưng tiếng Việt Nam lại mang giọng nam nhiều hơn vùng PHiên -Ngung / Quảng Châu và sau nầy laị biến giọng khi tiếp xúc nhiều với tiếng Mường , rồi lại biến âm nhiều khi dùng A , B , C đễ phiên âm . ...Tiếng Quảng Đông chỉ biến gịọng rất it́ dù và vì bỡi tiếng Bắc-kinh ngày càng phát triễn mạnh nhưng vì không dùng Latin a , b ,c đễ phiên âm , không có "sắc , huyền , hỏi , ngã , nặng " cố định cho nên giữ được nhiều âm thanh cổ ..., điều nầy có thể kiễm chứng được khi so sánh với phương cách thuyết văn giaĩ tự của thời Hán đã được Hứa Thận biên sọan trong sách "Thuyết -Văn". Người ta có thể phục chế ngôn ngữ bằng cách nắm vững quy luật biến hóa cuả ngôn ngữ , người ta nghiên cứu 1 vùng "Việt" ngày xưa bị "hung nô " xâm chiếm rồi biến âm và trở thành sử dụng ngôn ngữ mới ...khác âm như thế nào , rồi lại đối chiếu với ngôn ngữ của những nhóm Việt chạy xa ...xuống phương nam , người ta lại tổng hợp , rồi phân tích 1 từ ngữ đã biến thành nhiều âm cuả các phương ngôn khác nhau : đễ tìm ra 1 từ gốc gác căn bản nhất đã biến hóa thành nhiều phương ngôn mà lại rất giống nhau vì cùng 1 gốc... Nhưng tiếc thay ...nhóm nghiên cứu phục chế ngôn ngữ còn it́ ...và lại rất "bí Mật" , và không được Công Bố đễ phổ biến !!! ...Trong thế gíới Của Blogger tiếng Hoa ngày nay -thông tin gần như là duy nhất và được rò rỉ một cách vô tình hay cố ý cuả nhóm phục chế CỔ Hán NGỮ thì Từ ngữ "Thén Thỉnh" Cuả Tiếng Bắc Kinh , "Thín thìn" cuả Tiếng Qủang Đông , "Thenn thénn" của tiếng Triều Châu ...là : Với kết qủa cuả "phục chế Cổ Hán Ngữ " thì những chữ đó ngày xưa có phát âm là "THIÊN_ĐÌNH -天庭 " : nếu như có hàng trăm hay hàng ngàn nhóm nghiên cứu "phục chế Cổ Hán Ngữ " thì kết qủa sẽ to lớn và hùng tráng hơn nhiều , và cũng sẽ ...không còn gì là "bí mật" hay lạ lùng nữa ! Khi Tần Thủy Hoảng thống Nhất "thiên hạ" thì tiếng Việt-Nhã Ngữ được Triều đình "qui định" để dùng thống nhất hóa về chử viết và tiếng nói... ; nhà Tần ra qui địnḥ thống nhất về chử viết , đơn vị đo lường ...nhưng tồn tại chĩ có 15 năm thì bị người Việt của vùng Sở và vùng Việt Giang Đông liên kết lật đổ ...rồi lập nên Triều Hán . Sách " Thuyết văn"( 説文 ) của Hứa Thận - 許 慎 biên soạn và viết ra thời Hán : phần đánh vần của thuyết văn phải đọc bằng tiếng Việt ... (nếu như ai đọc sách đó mà đọc theo giọng "Quang Thoại-Bắc kinh-Mandarin" thì sẻ không đánh vần được rất nhiều chử ) ; Đó là tiếng Việt cổ đại thời Hán và thời Tần và trở về trước nữa ...; Bỡi hoàng cãnh và điều kiện kịch sử : Tiếng Việt Cổ là tiếng còn lưu lại được ở Quảng Đông và Việt Nam ngày nay , thời Nam Việt Vương Triệu Đà thì Quảng Đông - Việt Nam ngày nay là chung 1 nước và ngôn ngữ rất là tương đồng giữa các vùng bắc và nam , đông và tây dù có khác giọng Âu , Lạc , Mân ...; Còn tiếng Việt gần biễn đông Thái Bình Dương ở phía bắc là Sơn Đông , Tô Châu , Thượng hải sau nầy bị ảnh hưỡng mạnh cuả giọng Bắc -kinh nên trỡ thành 1 nhánh riêng được gọi là NGô-Việt Ngữ ; Phía nam Ngô-Việt ngữ là vùng Phước kiến, Triều Châu lại bị ảnh hưỡng cuả gịọng nói Ngô Việt mà trỡ thành một nhánh riêng gọi là Mân Việt Ngữ ; Laị có riêng 1 nhánh của người Bộc Việt ở Trung Nguyên thời xa xưa qua bao lần loạn lạc vì chiến tranh mà di cư khắp nơi , nhưng vẩn giử được phần cơ bản ngôn ngữ cuả bộ tộc họ , mà lại trộn lẫn ảnh hưỡng các phương ngữ khắp nơi trên đường di cư nên hình thành tiếng Hẹ / khách-Gia -Hakka ngày nay . và Mân Việt Ngữ trên Đảo Hải-Nam thì có qúa nhiều dân cuả bộ tộc Lê /"Cữu-Lê" _Lê -Việt ngày xưa nên hình thành tiếng Hải Nam , và Việt -Nam thì độc lập và tách riêng trở thành tiếng Việt Việt -Nam ; Những Vùng NGô , Sở và phía bắc thì ngày nay đã bị phát âm Bắc-Kinh / Quang thoại /Mandarin ảnh hưỡng gần như là toàn diện bỡi lịch sử xâm chiếm cuả "hung Nô" và vì đa số triều đình của các triều đại đều đặt tại những vùng đất "Trung Nguyên "nầy trong mấy ngàn năm lịch sữ , nên việc sữ dụng quan thoaị trở thành chuyện đương nhiên . Toàn bộ văn hóa Hạ , Thương , CHu , xuân thu- chiến quốc , Ngô , Việt , Sở ,Văn Lang , Mân , Âu , Lạc Việt , Tần , Hán ...là văn Hóa Việt ; Tại sao goị là văn hóa Việt ? vì quốc hồn , quốc túy đã mang tên Việt ! Việt đã là tên của truyền thống dân tộc cho nên các vương triều mới có tên là Việt chiếm đa số như : Sở ,Tần , HÁN, NGÔ VIỆT , MÂN VIỆT , ĐÔNG VIỆT , DƯƠNG VIỆT , NAM VIỆT , ÂU VIỆT , LẠC VIỆT v v... , Triết học và địa danh cuả sử xưa từ xa xưa đã được định hình và lưu laị cho đến ngày nay ... chử viết đã lưu lại là Đế Đoan Hạn , Đế Cảo , Đế Nghiêu , Đế Thuấn ...chứ không phải là Thuấn Đế , Nghiêu Đế v v...,và Địa danh là Sơn Đông chứ không phải Đông Sơn , Hà Nam chứ không phải Nam Hà , Thượng Hải chứ không phải Hãi Thượng , Quảng Đông chứ không phải Đông Quảng và đảo Hải Nam chứ không phải Nam hải V v.... Chỉ đến khi nhà Hán mất , Thời nhà Tấn có nhiều bộ tộc phương bắc tràn xuống chiếm cứ cái nôi văn Hóa Việt vùng Hoàng Hà , Thái Sơn , sông Hoài , sông Lạc , sông Phần v v...thì văn Hóa Việt cổ ở Trung Nguyên mới bị biến đổi và chỉ có phương nam là còn giữ lại được văn hóa Việt gần nguyên vẹn , ...ở phía nam là vùng : sông Trường Giang và Ngủ lỉnh , phương nam ... Từ thời xa xưa đã có người da trắng di cư xuống nam và lập ra Yến Quốc , đến khi thái tử Yên Đan dùng Kinh Kha mưu Sát Tần Thủy Hoàng là Yến Đã bị Việt Hóa lâu rồi , ngành Khảo Cổ ở bán Đảo Sơn Đông cũng đào được mộ của người da trắng ; Loạn thời Tấn cũng là 1 lần nữa làm xảy ra việc văn Hóa Việt Đồng Hóa thêm 1 số nhiều-rất nhiều- người Turky và và nhiều tộc Hung Nô -Siberi , nhưng , vẫn chính là vì vậy mà văn hóa và ngôn ngữ phía Bắc đã đổi khác thật nhiều với sự lai căn mạnh mẽ bởi tiếng Thổ nhị Kỳ , siberia, Hung nô -Chitan / Khiết Đan v v..do đó mà có tiếng "phổ thông-quan thoại" ngày nay khác xa về văn phạm với Việt ngữ bằng cách Đảo ngược văn phạm Việt , nhưng phát âm thì lại tương đương Việt ...ví dụ : Hoa trở thành Hỏa , "Diệt" trở thành "yué" , "to" lớn trở thành "ta" hay lả chỉ đọc giọng cao hơn là "Tá ,Tó" v v... Sau khi nhà Tấn mất phân nửa đất phía bắc , thì phía bắc có qúa nhiều chủng tộc và ngôn ngữ khác nhau , ...những chủng tộc cuả người mới xâm chiếm trung nguyên thành lập nhiều quốc gia với tình trạng đa chủng tộc và đa ngôn ngữ , thì bắt buộc phải chọn và bị đồng hóa bỡi tiếng "Phổ thông " , chứ mạnh ai nấy giữ tiếng Turky , mông Cổ , Nga , Tạng v v thì sẽ qúa nhiều khó khăn khi giao tiếp ..., và sau nhiều đời thì đã bị đồng hóa bỡi văn hóa Việt , Vì Văn hóa Việt nầy thời đó đã mang danh là nhà "Hán" và "Tiền Hán" , thì khi đã bị đồng hóa rồi thì họ cũng xưng là "Hán"... Sau nầy , Khi Dân số phát triễn và cùng Với Sự phức tạp của giọng Việt ở các miền khác nhau như vùng THái Sơn , Sông Hoài , Sở , Dạ Lang , Mân , Lạc , Âu , An Huy , Hà nam , Tô Châu , Hàn châu , Phiên Ngung , Giao Châu V v...đã bắt buộc mỗi 1 triều đại các triều đình các đời sau luôn luôn phải dùng và bổ túc cách nói và cách viết chung "phổ thông " ở triều điǹh , đó là "tiếng Phổ thông" chung cho bá quan văn vỏ mọi miền ...bao gồm luôn nhửng người mới đã bị đồng hóa : cho nên đả điṇh hiǹh và phát triễn thành tiếng "Quan Thoại" , là tiếng nói "mới " của chung cuả những người củ và mới -đã bị đồng hóa ..đễ "phổ thông" , đễ dễ dùng chung cho tất cả các chủng tộc củ và mới của Trung nguyên ...,vì vậy : cho nên đả -hoàn chỉnh dần dần -và- chính thức- sinh ra tiếng "quan Thoại"- "phổ thông"; do đó : Cần chú ý điều nầy : những cổ văn từ Hán , Tần ...trở về trước thì không phải là "Quan Thoại" hay "Phổ Thông" mà là Việt Ngữ-Nhã Ngữ ; Dù "quan-thoại " đã được hình thành dần dần , nhưng chỉ Đến đời nhà Tùy và Đường thì tiếng Phổ Thông mới được đầy mạnh và phát triễn mạnh thêm 1 lần nữa , bỡi vì Tùy và Đường đều là gốc Hung Nô ở Siberia , tuy vậy , thời đó tiếng Phổ thông chưa đủ để thay thế nỗi cho Việt Ngữ , nên Đường thi là đa số phải đọc theo Việt ngữ ... thì mới đúng theo vần đả gieo trong Đường Thi ( Chú ý : Thơ văn từ Tống < Đường trở về trước là Việt , phải đọc theo giọng Việt , nhưng củng có 1 số ít dùng theo tiếng "Phổ thông-Quang Thoại " do những người "mới" đã viết ra ...mà truy nguyên ra sẽ thấy Họ là họ nhà làm quan cha truyền con nối nên đã chỉ rành và chỉ biết "quan thoại " hoặc họ chính là dòng người Hung-Nô , Siberi ...ví dụ như điễn hình là nhà thơ Lý Bạch / lý Bạch gốc Hung Nô-Siberia ) . Sau nhà Đường là nhà Tống ..., Tống -Từ và Đường Thi điều phải đọc theo giọng Việt ...Bởi vì tiếng việt "xưa" tiếp tục vẩn còn mạnh ; Nhưng rồi Nhà Tống bị mất bỡi nhà Nguyên của tộc Mông Cổ ...làm thay đỗi lớn , Tiếng Bắc-kinh / phổ thông lại lớn -và mạnh thêm ... Văn chương xa xưa từ trước là nhà Hán , Tần v v...thì văn phạm Việt rỏ ràng :Ví dụ ... , Người Mân Việt là người Triều châu từ xưa đến nay vẩn dùng từ "CÔI -BÓ 雞 母" ( Gà mẹ ) cho đến ngày nay , -"Côi" là "kê" của tiếng Việt cổ đại mà bên đạo Phật ở Việt Nam ngày nay vẫn còn nhiều người biết ..., ''côi 雞 '' là Kê/Gà , ''Bó 母 '' là ''Po'', là "a-phò" , là "bà" , "bà mẹ" , "mẹ", -"Côi bó" là "gà mẹ" ; Đối chiếu "Côi bó" hay "gà mẹ" với văn chương tiền Tần-Hán thì thấy rỏ văn phạm và phát âm bị gọi là "cổ Hán ngữ" đúng là như vậy và chính là Việt ngữ , và xa xưa thì sách thời tiền Hán đúng là dùng là : 雞 母 . -Côi Bó雞 母= Gà mẹ ; chử Gà là "kê"雞 -viết trước- : Văn Phạm tiếng "Việt" . -ngày nay tiếng Bắc kinh dùng là "Mẩu -kê 母雞 " với chử Gà là "Kê"雞 viết sau : văn phạmBắc kinh/ Phổ-Thông hiện giờ . => rỏ ràng thời Tần , Hán và trở về trước thì ngôn ngữ toàn là Việt. -xưa : tra cổ thư thấy viết là "bộ hành 步行 " : nghiã là Bước Đi ( chử Hành 行 là "Đi"... phải viết phía sau ) ,chứ không phải "hành lộ 行路 " như hiện giờ ( Chử Hành 行 là "Đi"... viết phía trước ) . - Xưa viết là "Mắt" 目 chứ không viết là "nhản tinh"-眼睛 như bây giờ v v.. =>quá nhiều bằng chứng và quá rỏ ràng là trước đây là Hán , Tần , xuân thu-chiến quốc , Chu , Thương , Hạ , Ngủ Đế , Tam Hoàng v v...xa xưa là văn hóa và ngôn ngử là Việt . Đến khi Mông Cổ thôn tính trung nguyên và lập ra nhà Nguyên qúa lâu , thì tiếng Phổ Thông chiếm thượng phong , nhà Minh lật đổ nhà Nguyên , cố khôi phục lại ngôn ngữ , nhưng khi dời thủ đô từ phía nam lên vùng Bắc -Kinh thì quan và triều đình lại phải dùng "quang -Thoại"... , nhưng ...và rồi lại đến 1 nhánh Hung Nô khác là tộc Nữ Chân -của vùng Mản Châu lập nên nhà Thanh , tiếng Phổ Thông -Bắc kinh tiếp tục "lên ngôi" và đồng hóa người tộc Mản/ Kim , Triều đình Mản Thanh bắt buộc thi cử tuyễn "Trạng nguyên" , "tiến-Sĩ" V V...là phải thi tuyễn bằng tiếng Phổ-Thông / Quang Thoại .... , vùng Lưỡng Quảng là Quảng Đông và Quảng -Tây chống đối , vẫn chỉ thi bằng tiếng Việt , Vủng Mân Việt là Phước -Kiến , Triều Châu thì dung hòa thi bằng song ngữ Quan-Thoại và Mân Việt Ngữ ....; Nếu gộp chung lại là "Thương"-Bị ảnh hưỡng bỡi Bạch Địch Siberia , "Chu" , "yến" , Ngụy" , "kim" , "liêu" ,"Tây Hạ" v v...thêm vào nhà "Nguyên" và "Mản Thanh" tính chung cộng lại hàng ngàn năm bắc thuộc "Hung Nô" làm cho vùng Hoàng Hà và bán đảo Sơn Đông -Trung Nguyên đả bị ...trở thành "Văn hóa Việt đồng hóa ngoại tộc " : Trở thành văn hóa "phổ thông" -mà thành phần mới nầy lại rất là mạnh và xưng...là dòng dỏi của "Hạ" ," Hán " , xưng ...là " Hoa Hạ " tộc ! ...xưng là " Hán " tộc với tiếng nói là tiếng Phổ Thông - Quang Thoại ! -Và sau nầy còn có tên là tiếng "Bắc Kinh " hay là "Madarin "- (Mandarin là Do phiên âm từ chử Mản Đại cuả Triều Mản -Thanh bỡi người Tây Phương " ....; Họ đọc chử Hạ夏 là "Xia" ...TRONG KHI SỬ SÁCH CỦA "HẠ 夏" LÀ VIỆT TỘC VỚI VĂN PHẠM Và NGÔN NGỮ RỎ RÀNG ...đọc là " Hạ " . Sau khi nhà Thanh bị Mất bỡi Tôn Dật Tiên làm cách mạng ..., nước "Trung-Hoa" mới được thành lập , Việt ngữ phương nam đã được cân nhắc làm tiếng Phổ thông để dùng thống nhất , nhưng vì trong hàng ngũ tướng lãnh có qúa nhiều người phương bắc sử dụng tiếng Phổ Thông , nên vì đại cuộc mà một lần nữa tiếng Phổ thông-Quang Thoại -Mandarin lại được chọn làm tiếng "Phổ-Thông". _Và điều đó tiếp tục ảnh hươn̉g trở thành hiện traṇg ngày nay... Khi HỨA THẬN Biên soạn "TỰ ĐIỂN" THUYẾT VĂN Thời HÁN Thì chữ ''HẠ'' Vẫn là được ghi phiên âm là : 胡 雅 切= Hồ Nhả Thiết " , hồ nhả thiết...,nghiã là ...Hồ a ha . Hạ 夏 ", đó là tiếg Việt : Khác xa với "phổ thông là "Xia 夏 ". Chú Ý : Xin đón xem bài bài khào cứu " Thuyết Văn " ... Theo Tôi thấy : =>Chỉ khi nào có việc sách THUYẾT VĂN ...để giải tự của Hứa Thận thời nhà Hán mà lại đánh vần chử "HẠ" là " x-i -a -xie =xié ",và toàn bộ những chử khác trong thuyết văn phải đọc theo giọng "Phổ thông-Bắc kinh" thì người ta mới tin được là có 1 nền văn Hóa gọi là "Hoa-Hạ" hay "Hán" có trước văn hóa Việt . =>Chỉ khi nào có việc triều Hán không nói tiếng Việt mà lại có riêng 1 thứ tiếng "Hán !" thì người ta mới nên nghỉ tới những lập luận : Hán ngữ , Hán tộc , Hán hóa những dân tộc khác , v v....; Nhưng chĩ riêng 1 quyển "tự điển"/ "Thuyết Văn" của triều đại mang tên Hán 漢 do Hứa Thận biên soạn cũng đủ chứng minh tất cả Hán là Việt : 越 / 粵 ...bởi phát âm của từ điển , của ngôn ngữ là Việt 越 ; Vậy thật ra là Việt Hóa 越 化...các tộc khác . .=> -Và đặc biệt là nên phải nhấn mạnh và lập lại điều nầy : tất cả NHỮNG CHỬ KHÁC trong TOÀN BỘ SÁCH "THUYẾT VĂN" của Hứa Thận thời nhà Hán PHẢI ĐỌC THEO TIẾNG VIỆT ̣( đã biến thành mấy phương ngôn Việt ngày nay ).../ Nếu như đọc theo tiếng "Mandarin-quang thoại" thì : thứ nhất là đánh vần sẽ sai , thứ hai là đọc được 1 it́ chử trùng hợp thôi , và thứ ba là có chử sẽ không đánh vần phiên âm được : Điều nầy có thể kiểm chứng dễ dàng bằng cách mở sách "thuyết Văn" của Thời Hán ra mà Đọc thử ... =>Và ĐƯỜNG THI Với TỐNG TỪ PHẢI ĐỌC THEO CÁC PHƯƠNG NGÔN VIỆT ...mới đúng vần , mới hay... -...=>Và KHỔNG TỬ DẠY HỌC BẰNG NHÃ NGỮ tiếng VIỆṬ̣( 雅語) , NHÀ CHU VÀ NHỮNG NƯỚC THỜI XUÂN THU -CHIẾN QUỐC PHẢI DÙNG NHÃ NGỮ VIỆT ĐỂ LÀM TIẾNG "PHỔ THÔNG'' KHI GIAO THIỆP...LIÊN LẠC , tất cả những điều nầy được ghi trong nhiều cổ thư , bằng chứng vẫn còn đó và qúa nhiều bằng chứng ... Tất cả sách diển giải sử của từng thời đại đều khó thoát khỏi "tư tưởng sử" của THẾ LỰC Chính Trị của mổi 1 thời đại ! Nhưng hảy dùng khoa học nghiên cứu về NGÔN NGỮ , PHONG TỤC , khảo cổ , di truyền , tôn gíao ,thiên văn , địa lý , toán học v v... để lý giải bằng tinh thần Chân , Thiện , Mỷ thì lịch sử sẻ ̣được sáng tỏ ...; Chúng ta không có máy thu âm thời cổ sử để lưu lại tiếng Việt thời xưa : Nhưng đả có VIỆT TUYỆT THƯ , và có thể tham khảo Chiến Quốc Sách , Ngô Việt -Xuân Thu , Tứ Thư -Ngủ Kinh , Thuỷ kinh chú ,Tiền Hán Ký , Hán Thư , Sử Ký , Tống Sử , Minh Sử , Thanh Sử -Tứ Khố Toàn Thư , Quảng Châu Ký v v...và bên cạnh sách sử của nước Việt-Nam ; Về văn hóa dân giang còn có những bài Đường Thi , Tống Từ , còn Việt Kịch của Giang-Tô , Chiết Giang , những văn hóa , và phong tục dân giang ...và đặc biệt là có sách "Thuyết Văn " với ghi chú cách đánh vần Việt rỏ ràng ở thời nhà Hán của Hứa Thận , cộng thêm có nhiều ngôn ngữ Bách Việt còn tồn tại cho đến ngày nay như Bộc Việt ,Ngô Việt , Mân Việt , Lê Việt ̣( tiếng của người dân sống trên đảo Hải Nam ) ,Lạc Việt , Việt v v..., Tất cả chi tiết trên đã là bằng chứng sống động cho thấy Văn Hóa người Việt đã trải rộng và đồng hóa biết bao dân tộc khác ở Trung Quốc từ ngàn xưa cho đến hiện thời...; Những sự ngộ nhận và diễn giải sai lầm ý nghiã chung quanh chử Hoa và Việt bởi các thế lực chính trị để tranh dành vai trò "chính Thống" và "quyền lực" đã làm gây ra phân ly và chiến tranh và đau khổ cho biết bao muôn dân của đại gia đình Bách Việt. Có 1 thuyết cho rằng nước Việt cuả vua Câu Tiễn không phải là con cháu của vua Vủ nhà Hạ như Việt Tuyệt thư đã ghi chép , vì vua Việt mang họ Mi , sau đổi họ Lạc , trong khi nhà Hạ mang họ 姒-Tự, lập luận nầy rất quang trọng và cần chú ý , Xưa hay đỗi họ do được phong Quan và Đất v v..Các đời tổ tiên trước cuả Vua Vủ cũng thay đổi Họ nhiều lần , THuyết trên không đủ bằng chứng thuyết phục đễ bải bỏ những gì đã được ghi chép trong Việt Tuyệt thư , bỡi vì Việt thư ghi chép qúa rỏ ràng ; muốn phủ nhận Việt thư không phải là dễ . Có thuyết cho rằng người Việt là THổ dân lâu đời ở 1 vùng rộng lớn , lập ra nhiều nước Việt nhỏ và trong đó có nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn , thuyết nầy được các nhà nghiên cứu sử "tin Cậy" hơn , bỡi vì khảo cứu theo thực tế lịch sử thì nhóm Việt cư trú trên địa bàn qúa rộng . Tại sao người ta không nhập 2 thuyết làm 1 ? Và Còn chuyện đỗi họ vẫn đầy vẫy trong lịch sữ xa xưa cũng như sau nầy , họ Mi , họ Lạc cũng đổi làm họ ÂU và Âu_Dương ở vùng Âu giang của Âu Việt , Họ Mi cũng đỗi thành Họ Sỡ ..., Họ Lạc khi chạy loạn cũng đỗi thành họ LA , Họ Lai đễ giữ an toàn ... ; Và từ cổ xưa cũng thế thôi , ở đâu thì gọi theo tên đó lâu ngày thành họ mới , đất Trịnh , đất Triệu , đất Ngụy v v...đều tạo ra họ mới ; xưa có họ Cơ là vì sống ở sông Cơ , lâu ngày thì được gọi là Cơ , Họ Khương là vì ở sông Khương V v....; nên nghĩ đến là nhóm Việt trải rộng trên 1 địa bàn bao la bỡi vì giỏi dùng ghe thuyền , cho nên theo bờ biễn và theo dòng sông di chuyển , di cư rất dễ dàng ? Dù không phải là du mục , nhưng còn phương pháp du canh đốt rừng làm rẩy , đễ tiã lúa khô , trồng kê , bấp , đậu , khoai trên cạn ...cũng đòi hỏi phải di chuyển hoài đễ đốt rẩy mới là có thu hoạch tốt hơn cho mùa trồng tiã kế tiếp , như hiện nay chúng ta vẫn hiểu và thấy rỏ qua lối du canh , du cư , ... Câu "khoai đất lạ , mạ đất nhà " cũng là 1 lý do đễ phải "di cư " ..., hiện nay thì việc trồng lúa và nuôi heo đã được xát định là của Việt tộc biết làm sớm nhất... , gia đình , dòng họ , gia phả , xả hội , đời sống và thực phẩm phong phú , ở đâu có người Việt là ở đó có trái bầu và rau qủa v v..., văn minh nông nghiệp cũng tạo ra âm lịch và quang sát thời tiết , bầu trời , thiên văn-địa lý , sau nầy còn có đoàn quân Hổ và Voi ra trận xông pha chiến trường của Mạnh Hoạch và của Hai bà Trưng , đời sống thực tế cuả người Việt mới thật là lạ và hay cho những sáng kiến và ứng dụng , thuyết nhất nguyên Thái cực sinh lưỡng nghi của vùng đất Sở thật là cao thâm khó lường , vẽ bùa và thần chú của vùng Mao-Sơn (Cối-kê) , yêu tinh hay thần thánh nhập xác người dùng cây nhọn xuyên gò má , xuyên lưỡi , cắt lưỡi lấy máu làm bùa vùng Phước kiến- Triều châu thật lạ lùng đặt biệt , gọi hồn , xem phong thủy địa lý , tử vi , bói toán thuật số , thư-trấn-yếm bùa đối với người và công tr̀inh xây dựng thật là huyền bí , nghiên cứu vỏ công , thế trận-binh thư , nhạc cụ , thi ca , tiên tri , khoa học v v..., chế tạo thuốc pháo , giấy , xe , ghe , nhà sàn , thành quách -cung đình , đền thờ- lăng tẵm , vủ khí , mỷ phẩm , y dược v v...; những người khảo cứu lịch sử Bách- Việt còn hay nhắc lại những phát hiện người Việt giỏi dùng ghe , thuyền di chuyễn trên sông biễn và trồng lúa , cắt tóc ngắn đễ dễ làm việc đồng án ở ruộng lúa nước ... ? có tục xâm mình , vẽ mặt , đội lông chim (điều nầy cũng thấy rỏ ở thổ dân Châu ÚC và Châu Mỹ La-tin), quan niệm sống là "THiên" và "NHân" hợp nhất , khi làm lễ cúng tế thì ca hát và nhảy múa , những từ ngữ "chìa khoá" cuả tiếng Việt có liên hệ với nhóm ngữ hệ nam đảo Thái Bình Dương v v...; người ta ước tính rằng ngày xưa 1 chiếc thuyền bườm (không có́ máy móc cơ khí như hiện nay ) nếu xuất phát từ vùng Cối -kê / Hàn Châu thì chỉ trong vòng 1 tuần lễ là đến nước Nhật hiện giờ... Tiếng Việt thời tiền sử là đa âm , rồi biến dần thành đơn âm , tôi không dám lạm bàn nhiều hơn , không dám đụng đến "chuyên khoa" ngôn ngữ học với mớ kiến thức Lơ-tơ-mơ cuả mình ," lang -thang " và "lênh- đênh" trên 1 biễn taì liệu cổ sử Bách Việt , khảo cứu và đối chiếu với thực tế là sở thích cuả tôi đễ tìm cội nguồn tổ tiên , chuyện nầy rất là bình thường đối với tôi và với biết bao người khác , bài khảo cứu của tôi sẽ chẵng mang lại lợi lộc vất chất gì ! sẽ chẳng có danh hay lợi gì đễ bóp méo sự thật , chỉ là những lời tâm tình và chia sẽ công khai đễ mong những người có tâm huyết nghiên cứu sẽ đưa ra những bằng chứng mà phê phán cho tôi biết là tôi hiểu đúng hay là Sai ...??? Khi qúi vị đọc bài viết nầy : xin phép cho tôi nhắc lại Ca dao Việt ...đễ thấy người Việt Ngày xưa với tiếng Việt đã từng sống ở đâu ... _Gió Động Đình mẹ ru con ngủ Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh ...Bống bồng bông , bống bồng bông Võng Đào mẹ bế con Rồng cháu Tiên ...Và _Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chử hiếu mới là đạo con ( Động Đình Hồ là hồ nước lớn chính giữa 2 tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam ; Thái Sơn là ngọn núi hùng vĩ ở bán đảo Sơn Đông ). Và... Nước đóng băng khi thời tiết băng giá , khi băng tan rồi thì băng lại là nước ..., với thành tựu khoa học và văn hóa khiêm tốn của nhân loaị ngày nay cũng đã bắc đầu vén được bức màn bí mật của DNA và của lịch sử ; trong tương lai thì lịch sử Việt hóa , và lịch sử Việt tiến hóa như thế nào từ xưa cho đến nay ...cùng với những trang sử bị cải biên hay bị ngộ nhận chắc chắn sẽ được làm sáng tỏ rỏ ràng. _Một ngày nào đó ...tất cả tiếng Việt : gồm Hoa ngữ- Phổ Thông -Bắc Kinh của phương bắc ,Bộc Việt-Hakka ,Ngô Việt-Tô Châu , Thượng Hải , Dương Việt-Vùng Kinh Sở và Dương Châu , Giang Tây , Mân Việt-Phước kiến , Triều Châu , Lôi Châu , Lê Việt-Hải Nam , Việt-Quảng Đông, Quảng Tây và Việt Nam ,_một ngày nào đó _Vì lý do "Toàn cầu hóa" , hay vì khoa học vi tính và "bàn phím đánh máy hóa" mà tất cả các tiếng Việt nêu trên được đánh vần chung 1 phương cách và bằng cùng 1 loại mẩu tự La-tinh A B C ...thì tât́ cả Việt ngữ nêu trên sẽ lại quay về 1 gốc Việt thống nhất ;Và đó cũng là cách học và hiểu các Việt Ngữ khác biệt nhau hiện nay của tôi là cứ việc phiên âm tất cả trở thành tiếng Việt A B C... thì sẽ thấy được sự tương đồng hay tương đương với tiếng Việt gốc của cá nhân gia đình mình đang dùng- thì sẽ dễ học và dễ hiếu lắm ! Kính bút : Cùng qúi vị đọc giã... -Đề tài "đồng hóa" rất dễ trở thành đụng chạm đến tinh thần "tự ái dân tộc" , với tinh thần cầu và xin tìm được sự thật khi khảo cứu lịch sử ..., xin trân trọng gữi lời chào qúi mến -không phân biệt chủng tộc , vì sự thật khoa học -đến qúi vị nào đã lưu tâm và đọc hết bài nầy ; tất cả mọi ý kiến đóng góp thêm hay phê bình hoặc phản biện đều rất đáng qúi ... Kính chào qúi vị và xin bổ túc thêm những chi tiết và ý khác ở những bài khảo cứu sau ... Nhạn Nam Phi ( Thanh Đỗ ) . Lãn Miên: Tiếng Việt đã được giữ gìn nguyên vẹn nhất, từ phát âm đến ngữ pháp, là ở ngôn ngữ của người Việt Nam ngày nay , hậu duệ đích tôn của Lạc Việt=Bách Việt. Lấy một từ Quốc để lý giải. Từ “quốc” làm sao lại giải thích như từ điển tiếng Việt là quốc=nước được. Nước là Land như Scotland, Thailand. Còn “quốc” là “của nước” (do QT lướt, “của nước”= “quốc”, “của nác”= “quấc”, như cụ Hồ ký tên là Nguyễn Ái Quấc). “Lắm Nác” Việt= “Lạc” Việt= “Trăm Nước” Việt= “Bách” Việt. Của nước=Quốc là chỉ cái chính phủ, đại diện cho Nước, Hán ngữ có từ Quốc Gia nghĩa là cái “nhà của nước” tức cái Phủ, chính phủ là cái nhà cơ quan đại diện cho Nước, gia cũng có nghĩa là người, Quốc Gia là người đại diện Của Nước. (Còn từ Tổ Quốc lại chính là một từ Việt hoàn toàn theo ngữ pháp Việt, Tổ Quốc là Tổ Của Nước, vì Của Nước=Quốc. Về sau bị Hán hóa ngữ pháp thì người ta mới gọi cái ông Tổ của Nước ấy là Quốc Tổ). Chữ Quốc 國 viết ra đúng biểu ý là Của Nước: Một Vuông 口 to bên ngoài là Vùng, biểu trưng cương Vực, bên trong gồm có: chữ Qua 戈 là cây dáo (“Cây dáo của Ta”= “Qua”), biểu trưng đã có chính quyền; một Vuông 口 nhỏ, đó là chữ Văn 文 (cũng gồm bốn nét kẻ, xếp lại, mà người Triều Châu vẫn đọc là “vuông”, người Quảng Đông đọc là “mảnh”, vuông lụa với mảnh lụa thì cũng là một, trong tiếng Việt), biểu trưng đã có văn hiến; một gạch ngang đó là chữ Nhất 一 tức mang ý nghĩa là Việt, vì Việt=1 (còn Vô thì là 0, Vô=0, Vô/Việt tương đương 0/1). Của Nước tức chữ Quốc 國 này đồng thời đồng nghĩa là Của Nước của người Việt, bởi các bộ biểu ý của nó đã nói rõ ra như vậy. Gộp các bộ bên trong Vuông lớn của chữ Quốc thì đó là chữ Hoặc 或, Hoặc là một âm lướt của chữ Hồng Lạc (“Hồng Lạc”= “Hoặc”). Hồng nghĩa là Rộng, Lạc nghĩa là Lắm Nác ( “Lắm Nác”= “Lạc”), Lạc cũng là chữ tắt của Lạc Việt . Vuông 口 to bên ngoài và chữ Hoặc 或 bên trong, đó là chữ Quốc 國, đọc rõ biểu ý thành nghĩa của chữ Quốc 國 là: Vùng đất Rộng của dân Lạc Việt. Chữ Hoặc 或 được dùng trong văn, mang nghĩa là “hoặc” ( “or/and” của tiếng Anh) , có nghĩa là hoặc nước Việt này, hoặc nước Việt nọ trong đám Bách Việt thì cũng đều là cùng một gen và nói cùng một ngôn ngữ Việt cả. Chữ Quốc 國 nghĩa là Của Nước, nó không đơn thuần đồng nghĩa với Nước tức Đất Nước (quốc tế gọi là Land), Đất Nước có thể là chưa có chủ hoặc đã có chủ sở hữu, còn Quốc=Của Nước là vùng đất nước đã có chủ sở hữu tức đã thành lập nhà nước. Từ “Của” trong tiếng Việt có nghĩa là “Quyền sở hữu”, “Của tôi”= “Quyền sở hữu thuộc về tôi”, chẳng phải ngẫu nhiên mà Của=Quyền, là cùng “tơi” theo QT, (trong Hán ngữ thì “của” là “tơ”, “quyền” là “xoén”, “tơ” với “xoén” không cùng “tơi” như QT của tiếng Việt). Về sau để xóa nốt dấu vết Việt trong lý giải biểu ý của chữ, người ta đổi thành chữ Quốc 国 với bên trong Vuông 口 to chỉ có một chữ Ngọc玉, lý giải ngụy biện rằng đó là biểu trưng cho “ngọc tỷ của vua”. Thời Hứa Thận viết Thuyết Văn, viết “trung Quốc 中國” phải hiểu theo ngữ pháp Việt là “trong Của Nước”, chứ thời đó chưa có nước gọi là Trung Quốc như bây giờ. [ Một chữ Trung 中 đó thôi nhưng người ta có thể đọc là Trong=Trung=Trũng=Trụng=Nhúng, tùy theo từng ngữ cảnh mà nó được dùng, đều một nghĩa là ở bên trong hay đưa vào trong. Cũng giống như một chữ Hành 行người ta có thể đọc là Hành=Hạnh=Hàng=Hãng=Hạng, tùy theo ngữ cảnh nó dùng). Bởi thời đó các tên địa danh đều theo ngữ pháp Việt hết, như Sơn Đông 山 東= Núi Đông, Sơn Tây 山 西= Núi Tây, Hà Nam 河 南 = Sông Nam, Thượng Hải 上 海 = Trên Biển (chẳng lẽ Thượng Hải thời đó phải hiểu theo ngữ pháp Hán là Biển Trên tức biển trên trời, ai làm đô thị ở biển được, chỉ có ở trên biển tức trên bờ biển mới làm đô thị được mà thôi – Mời tham khảo bài trên của Đỗ Thành). Thời lương y Lê Hữu Trác, cụ đặt bí danh là Hải Thượng Lãn Ông là theo ngữ pháp Hán, vì đó là thời nhà Thanh, văn bản viết theo Hán hóa ngữ pháp hoàn toàn rồi, theo ngữ pháp Việt thì phải viết là Ông Lãn Thượng Hải tức vẫn có thể đọc là Ông Lười Trên Biển. Mỗi âm tiết mà người Việt Nam phát âm ngày nay là một từ Việt, không có âm nào như người ta gọi là “từ Hán-Việt” cả. Cái âm Thiên Đình từ cổ xưa nó là phát âm chính xác như vậy, như Đỗ Thành đã nói ở trên, nó là từ Việt, do Trên Đỉnh=Thiên Đình (đúng theo QT, Blời=Trời=Trên=Lên=Then=Thiên=Thượng)]. Tại sao Việt lại mang nghĩa là 1, ký hiệu biểu ý là chữ Nhất trong chữ Quốc 國 như đã phân tích ở trên. Bởi vì Vô/Việt là một từ đối nguyên thủy (phải cùng “tơi” theo QT), tương đương cặp số nhị phân 0/1. ( Mà Vô là một từ Việt có gốc do Mô=0, Mô đi cặp đối với Một, Mô/Một tương đương 0/1). Việt là một từ Việt có gốc do từ Chắc cổ xưa là con số 1 trong hệ đếm thập phân của người Việt , từ Chắc đến Chục tức từ 1 đến 10 (còn Lép là con số 0, nên người ta hay “dự đoán Chắc/Lép” hoặc “mặc cả Chắc/Lép”) . Hãy xét từ Biết Chắc, đó là một từ đôi, do ghép hai từ đồng nghĩa nhau là Biết và Chắc để nhấn mạnh ý. “Chắc” tiếng Tày đang dùng nghĩa là “biết”, đó là một từ Việt cổ, một từ dùng để khẳng định, tức con số 1 (number one). Ngôn ngữ nào của loài người cũng dùng con số 1 để chỉ sự khẳng định và con số 0 để chỉ sự phủ định, mà khẳng định tức là Biết (hay Có !) và phủ định tức là Không Biết (hay Không !). Vậy từ 0 tiến lên có 1 tức là có tư duy, tức là Biết, và sự tiến bộ bắt đầu từ con số 1. Chắc=Bắc=Biết=Việt=Vượt (theo QT “tơi” và QT “rỡi”). Bắc mạ là đã biết cách, biết phương tiện, quải hạt thóc mầm xuống bùn cho nó Chắc ở đó như một sự khẳng định sự bắt đầu phát dục của cây lúa. Bắc là đã biết phương tiện để vượt, nên tiếng Nam “chỗ biết để mà vượt sông” gọi là “Bắc”, dù phương tiện dùng là đò hay phà hay cầu (ngày nay cầu bắc Mỹ Thuận đã thay cho phà bắc Mỹ Thuận trước đây). Để có thêm tri thức thì “Bắc thang lên mà hỏi ông trời”. Chắc=Bắc=Biết=Việt, nên chữ Việt dù có viết bằng ký tự gì như 粵,hay 越,hay Việt, thì cái âm đọc của nó 5000 năm nay vẫn thế, là “việt”, có nghĩa là con số 1 (nó ngược với con số Vô là 0, từ đối Vô/Việt như là cặp số đối 0/1 của toán học nhị phân), con số 1 tức Số Dách= Số Nhất, như tiếng Sài Gòn, là “ Number One”. Cho nên biểu thị sự thán phục, khen ngợi, chỉ cần giơ hai ngón tay hình chữ V và phát âm một tiếng “Việt !” là trọn mọi ý nghĩa, để chào nhau, hứa hẹn nhau, cũng được, mà không cần phải bắt chước phương Tây giơ một ngón cái và nói “Number One !”. Do số 1= Chắc, là sự khẳng định, nên nó đã sinh ra các từ để khẳng định mà ta thấy rõ: Chắc=Chắt=Chứ=Chi之=Đi=Đó=Có=Cứ=Cơ=Đỡ=Đã=Được= =Đấy=Đắc 得 =Đích 的 (Hán ngữ hiện đại dùng chữ Chi 之 phát âm là “trư”, dùng chữ Cơ 的 của tiếng Quảng Đông, lại phát âm là “tơ” để biểu thị khẳng định. Nhật ngữ dùng chữ Đấy phát âm là “Đês”, và cũng đặt ở cuối câu để chỉ sự khẳng định)
-
Suy ngẫm thời xôi thịt “Thời xôi thịt” gần như đã trở thành một khái niệm trong tiếng Việt, để chỉ cái thời người ta ham chụp giựt để “ăn” được chứ không nghĩ sâu xa về yếu tố văn hóa trong hành vi, mặc dù quảng cáo thì lại rầm rộ về “văn hóa ẩm thực”. Đạo Phật dạy rằng khi ăn phải từ từ, nhai kỹ miếng ăn cả trăm lần cho nhuyễn thành nước rồi mới nuốt, im lặng ngẫm nghĩ món ăn đó từ đâu mà ra, ơn ai làm ra. Đó thật ra cũng là một cách ẩm thực có văn hóa, bởi vậy mà cơ thể hấp thụ tốt, dù đó có thể là ăn chay chỉ gồm “ngọc thực”(cơm gạo) và rau. Các món ăn của Việt Nam quả thực cực kỳ phong phú nội dung văn hóa, bởi mỗi món đều cố gắng “gói ghém” vào trong nó toàn bộ đạo lý Âm Dương Ngũ Hành của người Việt, lành, và đủ dinh dưỡng. Điển hình nhất là cái bánh chưng, như THIÊN SỨ đã phân tích trong “Bánh Chưng Bánh Dầy”, nó là sự tổng hòa tinh khí của đất trời vào trong dinh dưỡng của một cái bánh lá, là một món ăn chậm (chứ không phải “fast foot”) lại dễ mang đi đường mà không có vỏ thải gây ô nhiễm môi trường như bao nilon hay vỏ chai pet. Các loại bánh lá “nhà quê” đều có sự “gói ghém” nội dung văn hóa như vậy cả, như ngày xưa người Việt “gói ghém” mỗi thông điệp vào từng Vuông Chữ gọi là Văn Tự (mà nếu không tháo rời ra để suy luận từng bộ phận của con chữ vuông đó thì không biết nó chính là của Việt, lại ngộ nhận là Hán Tự - Mời tham khảo lý giải của Đỗ Thành blog Nhạn Nam Phi). Ngày nay vẫn sử dụng các loại bánh lá đó trong du lịch ẩm thực, tiếc rằng chưa thấy loại bánh lá nào mới được sáng tạo ra. Tôi thấy món ẩm thực “Trà sữa trân châu” của Đài Loan là một sáng tạo dựa trên đạo lý của cái bánh chưng, và nó có cái mở như cửa mở của hình bộ thủ Cung, đó là ở chỗ hạt trân châu, tùy theo sáng tạo của người đầu bếp. Có hàng trăm loại hạt trân châu, tùy theo các thứ nguyên liệu (tinh khí của đất trời) mà người đầu bếp chọn để vo viên chúng lại thành viên trân châu nhỏ xíu bỏ vô ly trà sữa, đem lại những ly trà với vị và ngon khác nhau. Cái Viên (trân châu) ấy cũng như là cái Vuông (bánh chưng) đều cùng một gốc Vo mà Nở tách đôi ra thành Vuông và Viên mà thôi, đều là “nén” nội dung, “gói ghém” mọi cái tốt đẹp vào trong nó thành một sự gắn kết như tình nghĩa vợ chồng. Nên tôi mới thầm tặng cho những đôi tình nhân lãng mạn uống trà sữa trân châu câu: Đài các thanh cao trà hương nồng hậu Loan phụng duyên tình bách tuế trân châu 臺閣清高茶香濃厚 鸞鳳緣情百歲珍珠 (Trà thơm lịch sự thanh cao. Thắm duyên chồng vợ khác nào trân châu). Bởi người sáng tạo ra món ẩm thực đó đã biết vận dụng cội nguồn văn hóa Việt: Sơn hải phú nguồn mẫn dung chi thắng Huy hoàng nhân hiệt thanh vị tắc linh 山海富源敏容之勝 輝煌仁黠清味則靈 (Non sông nguyên liệu dồi dào. Nhậy nhanh, rộng lượng, nơi nào cũng sang. Nhân từ, trí tuệ là vàng. Vị ngon thanh khiết thế gian vui lòng) [Chú thích: Gọi là “ly” bởi biết chắc nó làm bằng thủy tinh, để còn thấy rõ những viên trân châu trong ly trà, ly=lê, là làm bằng pha lê, không như từ điển giải thích “ly” là “cốc” tiếng miền Nam, ly đâu có đồng nghĩa hoàn toàn với cốc, cốc thì có thể làm bằng thủy tinh, nhôm, sành, sứ, thậm chí bằng cái ống nứa còn mắt, nó là một từ chung, do không hiểu từ “ly” nên để nói “ly” người Bắc phải nói “cốc thủy tinh”, quá rắc rối vì đó không phải là một từ mà là một cụm từ. Cũng như từ “quốc” làm sao lại giải thích như từ điển tiếng Việt là quốc=nước được. Nước là Land như Scotland, Thailand. Còn “quốc” là “của nước” (do QT lướt, của nước=quốc, của nác=quấc, như cụ Hồ ký tên là Nguyễn Ái Quấc). “Lắm Nác” Việt= “Lạc” Việt= “Trăm Nước” Việt= “Bách” Việt. Của nước=Quốc là chỉ cái chính phủ, đại diện cho Nước, Hán ngữ có từ Quốc Gia nghĩa là cái “nhà của nước” tức cái Phủ, chính phủ là cái nhà cơ quan đại diện cho Nước. Còn từ Tổ Quốc lại chính là một từ Việt hoàn toàn theo ngữ pháp Việt, Tổ Quốc là Tổ Của Nước, vì Của Nước=Quốc. Về sau bị Hán hóa ngữ pháp thì người ta mới gọi cái ông Tổ của Nước ấy là Quốc Tổ. Thời Hứa Thận viết Thuyết Văn, viết “trung Quốc 中國” phải hiểu theo ngữ pháp Việt là “trong Của Nước”, chứ thời đó chưa có nước gọi là Trung Quốc như bây giờ. (Một chữ Trung 中 đó thôi nhưng người ta có thể đọc là Trong=Trung=Trũng=Trụng=Nhúng, tùy theo từng ngữ cảnh mà nó được dùng, đều một nghĩa là ở bên trong hay đưa vào trong. Cũng giống như một chữ Hành 行 người ta có thể đọc là Hành=Hạnh=Hàng=Hãng=Hạng, tùy theo ngữ cảnh nó dùng). Bởi thời đó các tên địa danh đều theo ngữ pháp Việt hết, như Sơn Đông 山 東= Núi Đông, Sơn Tây 山 西= Núi Tây, Hà Nam 河 南 = Sông Nam, Thượng Hải上 海 = Trên Biển (chẳng lẽ Thượng Hải thời đó phải hiểu theo ngữ pháp Hán là Biển Trên tức biển trên trời, ai làm đô thị ở biển được, chỉ có ở trên biển tức trên bờ biển mới làm đô thị được mà thôi – Mời tham khảo của Đỗ Thành). Thời lương y Lê Hữu Trác, cụ đặt bí danh là Hải Thượng Lãn Ông là theo ngữ pháp Hán, vì đó là thời nhà Thanh, văn bản viết theo Hán hóa ngữ pháp hoàn toàn rồi, theo ngữ pháp Việt thì phải viết là Ông Lãn Thượng Hải tức vẫn có thể đọc là Ông Lười Trên Biển. Nói “Các Nước họp nhau tại hội nghị quốc tế” liệu có chính xác không? Hay phải nói là “Các Quốc Gia họp nhau tại hội nghị quốc tế”. tức các “nhà của Nước”, là các chính phủ đại diện cho Nước mới đi họp nhau được, chứ Nước thì làm sao mà đi họp được. Một thời do kỳ thị từ “quốc gia” nên người ta đổi “ngân hàng quốc gia Việt Nam” (có in trên tờ giấy bạc Cụ Hồ năm 1946) thành “ngân hàng nhà nước Việt Nam”, bây giờ viện ngôn ngữ lại đặt cho tên “đại học quốc gia Hà Nội” mà không dám đổi lại là “đại học nhà nước Hà Nội”. Ở câu đầu của phần giải thích này có từ ghép Biết Chắc, đó là một từ đôi, do ghép hai từ đồng nghĩa nhau là Biết và Chắc để nhấn mạnh ý. “Chắc” tiếng Tày đang dùng nghĩa là “biết”, đó là một từ Việt cổ, một từ dùng để khẳng định, tức con số 1 (number one), ngôn ngữ nào cũng dùng con số 1 để chỉ sự khẳng định và con số 0 để chỉ sự phủ định, mà khẳng định tức là Biết (hay Có !) và phủ định tức là Không Biết (hay Không !). Hệ đếm thập phân của tiếng Việt là từ Chắc đến Chín rồi Chục tức từ 1 đến 9 rồi 10 (nấu đến chín, tức nóng tới 90 độ là ăn được rồi, nên mới có cồn 90 độ để nướng khô mực, và Luộc Chín = Luật Chính, theo tư duy đi từ cụ thể đến trừu tượng hóa, quá trình luộc nhau gay go trong hội nghị để cho đến thật chín rồi mới thành luật chính được chứ không phải đơn giản mà có ngay được luật chính. Luộc=Luận (là các tham luận) cũng là từ cụ thể đến trừu tượng hóa mà thôi. Vậy từ 0 tiến lên có 1 tức là có tư duy, tức là Biết, và sự tiến bộ bắt đầu từ con số 1. Chắc=Bắc=Biết=Việt=Vượt. Bắc mạ là đã biết cách, biết phương tiện, quải hạt thóc mầm xuống bùn cho nó Chắc ở đó như một sự khẳng định sự bắt đầu phát dục của cây lúa. Bắc là đã biết phương tiện để vượt, nên tiếng Nam chỗ biết để mà vượt sông gọi là “Bắc”, dù phương tiện là đò hay phà hay cầu (ngày nay cầu bắc Mỹ Thuận đã thay cho phà bắc Mỹ Thuận trước đây). Để có thêm tri thức thì “Bắc thang lên mà hỏi ông trời”. Chắc=Bắc=Biết=Việt, nên chữ Việt dù có viết bằng ký tự gì như 粵,hay 越,hay Việt, thì cái âm đọc của nó 5000 năm nay vẫn thế, là “việt”, có nghĩa là con số 1 (nó ngược với con số Vô là 0, từ đối Vô/Việt như là cặp số đối 0/1 của toán học nhị phân), con số 1 tức Số Dách= Số Nhất như tiếng Sài Gòn, là “ Number One”. Cho nên biểu thị sự thán phục, khen ngợi, chỉ cần giơ hai ngón tay hình chữ V và phát âm một tiếng “Việt !” là trọn mọi ý nghĩa, để chào nhau, hứa hẹn nhau, cũng được, mà không cần phải bắt chước phương Tây giơ một ngón cái và nói “Number One !”. Do số 1= Chắc, là sự khẳng định, nên nó đã sinh ra các từ để khẳng định mà ta thấy rõ: Chắc=Chắt=Chứ=Chi之=Đi=Đó=Có=Cứ=Cơ=Đỡ=Đã=Được= =Đấy=Đắc 得 =Đích 的 (Hán ngữ hiện đại dùng chữ Chi 之 phát âm là “trư”, dùng chữ Cơ 的 của tiếng Quảng Đông, lại phát âm là “tơ” để biểu thị khẳng định. Nhật ngữ dùng chữ Đấy phát âm là “Đês”, và cũng đặt ở cuối câu để chỉ sự khẳng định)]
-
- 6
-
-
Ngâm chân nước ấm hơn mua thuốc ẩm. Mỗi tối dùng nước ấm ngâm chân là một biện pháp dưỡng sinh tốt nhất, không chỉ là sự chăm sóc cho lục phủ ngũ tạng sau một ngày mệt mỏi, mà còn giúp ngủ ngon, tăng sức miễn dịch của cơ thể. Song người ta lại quen tắm toàn thân, làm cho đại bộ phận máu chảy xuống tứ chi, khiến nội tạng và não thiếu máu. Điều này đối với những người đang quá mệt hay cơ thể suy nhược sẽ dễ bị choáng đầu, hốt hoảng và các biến chứng khác. Nếu thay bằng ngâm chân vào xô cao đựng nước ấm sẽ làm thư giãn kinh lạc của bàn chân và ống chân, sẽ làm tăng nhanh sự tuần hoàn máu khắp toàn thân, cung cấp tốt máu cho não, tim và các khí quan khác, có tác dụng rõ ràng điều tiết huyết áp. Do tăng ấm, thân thể sẽ ra mồ hôi nhẹ, thải hàn thấp và phế vật trong cơ thể ra, làm thông kinh lạc, điều tiết nhiệt độ cơ thể, hạ hư hỏa. Bởi vậy tôi khuyên mỗi người sau một ngày đằng đẵng nên dành ra 30 phút để ngâm chân nước ấm, 30 phút nhỏ nhặt này nếu kiên trì hàng ngày sẽ giúp bạn ít mắc bệnh, thân thể khỏe mạnh. Công cụ để ngâm chân là xô nhựa cao. Thời khắc ngâm chân là phải từ 30 phút sau khi ăn cơm xong, tốt nhất là trước khi đi ngủ vì ngâm chân xong ngủ sẽ rất ngon giấc. Đối với người già nhàn hạ thì tốt nhất là lúc 3-5 giờ chiều vì lúc đó khí trong đường kinh của bàn chân đang vượng nhất sẽ có hiệu quả bổ thận tốt nhất.Thời gian ngâm dài ngắn đối với mỗi người mỗi khác, thường là ngâm đến khi cơ thể rịn mồ hôi là được. Sau khi ngâm xong phải uống nhiều nước để bổ sung nước kịp thời. Có người ngâm cho đến lúc đổ mồ hôi hột ướt cả áo, như vậy không tốt mà là có hại, lâu như vậy có thể làm cơ thể suy nhược. Nếu là trường hợp đang bị cảm mạo thì vừa ngâm chân vừa uống nước gừng tươi pha đường đỏ để cho cơ thể sản sinh nhiệt bài trừ hàn thấp ra ngoài. Nhiệt độ của nước ngâm chân tùy theo sức chịu nóng của mỗi người, lúc mới bắt đầu ngâm thì thấp một chút, sau tăng ấm dần lên cho đến khi khắp người rịn mồ hôi thì dừng tăng ấm. Có người khi ngâm lại không dễ ra mồ hôi, đó là do trong cơ thể bị hàn thấp quá nặng, chỉ cần kiên trì ngâm thì dần dần tiêu trừ được hàn thấp trong cơ thể, về sau rất dễ rịn mồ hôi. Có người khi ngâm chân cảm thấy khó chịu, ngâm lâu tí cảm thấy tức ngực, choáng đầu, đó là do nhiệt độ nước cao làm cho mạch máu hai bàn chân dãn nở, máu toàn thân chảy xuống chi nhiều hóa ra lại cung cấp cho tim, óc, thận không đủ. Những người này là những người đang bị bệnh máu suy nhược, ngâm chân hay tắm đều bị hiện tượng trên, do vậy họ chỉ nên ngâm không để lâu, đồng thời hàng ngày nên ăn uống đầy đủ các món ăn bổ máu, bổ thận để cải thiện tình trạng thiếu máu một cách cơ bản. Kiên trì làm vậy khoản nửa tháng đến một tháng thì sẽ không còn phản ứng như trên nữa, sau đó từ từ kéo dài thời gian ngâm lâu hơn, tăng thêm độ ấm cho đến khi dễ rịn mồ hôi. Người có bệnh tiểu đường nhiều báo nói ngâm chân dễ làm đường trong máu tăng cao. Kỳ thực người tiểu đường là loại cơ thể thiếu máu, bởi vậy không thích hợp ngâm mỗi lần lâu, chủ yếu là họ phải tích cực ăn bổ máu. Ngoài ra đa số người tiểu đường đều có chứng âm hư hỏa vượng, có thể thực hiện sau khi ngâm chân xong xoa bàn chân 50-100 lần, kiên trì hàng năm sẽ hạ hư hỏa. Nước ngâm chân tốt nhất là không pha thêm thuốc gì cả, vì nước ấm sẽ làm thuốc thẩm thấu vào người có thể gây tác dụng phụ tiêu cực. Tuyệt đối không pha muối vì sẽ làm hại thận, gây toàn thân phù thũng, làm nặng thêm bệnh thận nếu đang bị. Đối với người trong cơ thể bị hàn thấp nặng có thể pha thêm lá ngải nhưng không nên nhiều lần, có thể tuần 1-2 lần với nắm nhỏ lá ngải là vừa. Người bị cước chân có thể pha thêm dấm để tiệt khuẩn. Đối với người trẻ tuổi có thể bỏ hòn đá hình trứng vào xô, vừa ngâm chân vừa lăn mát xa lòng bàn chân càng tốt, nhưng với người già và người bệnh thì không nên làm thế vì sẽ làm máu xuống chân quá nhiều lại thiếu trên não và tim, ngược lại với người già thì vừa ngâm chân vừa xoa bóp hai vai cho máu lên não là tốt. Đối với người đốt sống cổ không tốt thì khi ngâm chân đồng thời ngâm cả tay, nhiệt sẽ làm cho đốt sống cổ cũng như vai ,eo, vận động sẽ cảm thấy dễ chịu, thư dãn, sau đó đi ngủ sẽ cảm thấy đặc biệt dễ chịu. Lâu dần như vậy sức đề kháng miễn dịch của cơ thể dần dần khôi phục, tăng cường. Đối với trẻ em không cẩn thiết ngâm chân, chỉ rửa chân là đủ, vì ngâm chân mục đích là để cho máu tuần hoàn, bổ dương khí, mà trẻ em thì cơ thể chúng là thuần dương rồi. Riêng đối với trẻ em suy nhược, tay chân thường lạnh, thì mùa đông có thể cho ngâm chân; hoặc đối với trẻ em bị cảm lạnh xong cũng cần phải ngâm chân. Tôi đã quan sát nhiều năm, chỉ cần kiên trì ngâm chân đồng thời chú ý trị liệu bằng ăn uống, những người đó rất ít bị mắc chứng mạch máu não hay tim. Bởi vì mỗi ngày ngâm chân nước ấm làm cho máu tuần hoàn nhanh, hàn thấp trong cơ thể bị bài xuất, thêm với đồ ăn bổ máu, người ta không còn lý do gì để mà mắc bệnh. Bài “Ngâm chân nước ấm còn hơn mua thuốc ẩm ” là trích từ bài “Tiến hành đông y đến cùng” của NXB Văn Sử Cát Lâm, ông Hồ Duy Lặc chỉnh lý. Người xưa nói “Người già, bàn chân già trước tiên”. Dưỡng sinh đông y đặc biệt coi trọng bàn chân. Bởi vì trong sự phân bố kinh lạc của cơ thể thì bàn chân chiếm cứ một địa vị quan trọng. Mười hai đường kinh lạc thì có sáu đường hội tụ tại bàn chân, đó là: “Túc thái dương Bàng Quang kinh”, “Túc dương minh Vị kinh”, “Túc thái dương Đởm thuyên” ( ba đường kinh lạc này gọi chung là Túc Tam Dương, kinh khí chảy từ đầu đến bàn chân, từ trên xuống dưới), “Túc thái âm Tỳ kinh”, “Túc quyết âm Can kinh”, “Túc thiếu âm Thận kinh”( ba đường kinh lạc này gọi chung là Túc Tam Âm, kinh khí vận động từ dưới lên trên, từ bàn chân lên đến bụng). Mọi người cảm thấy vận động của kinh lạc phức tạp quá, thật khó hiểu. Vậy thì chúng ta có thể căn cứ vào tên gọi. Người xưa rất trọng thị cái tên. Khổng Tử nói rằng “Danh bất chính tắc ngôn bất thuận”. Danh tự không thể đặt tùy tiện, nó là một sự khái quát cao độ cái nội dung. Sáu đường kinh lạc này có riêng chứa Bàng Quang, Vị, Đởm, Tỳ, Can, Thận. Điều đó nói lên sáu đường kinh lạc này liên hệ mật thiết với sáu khí quan, tức sáu khí quan đó liên hệ mật thiết với bàn chân. Thấy rõ là bàn chân tuy ở vị trí đoạn chót của cơ thể nhưng không hề là “biên thùy tiểu trấn” chẳng quan trọng gì, chúng ta đừng có bao giờ dại dột đánh giá thấp giá trị sức khỏe của nó. Kỳ thực bách bệnh bắt đầu từ chân, rất nhiều bệnh tật đều là từ bàn chân mà bắt đầu. Dân gian có câu “Nam sợ đi giày, Nữ sợ đội mão”, kỳ thực Nam Nữ gì cũng đều sợ bàn chân bị thũng như là mang giày, bởi nó chứng tỏ tạng phủ có vấn đề. Sách Nội Kinh có nói “Duy hiền nhân, thượng phối thiên, dĩ dưỡng đầu, hạ, tượng địa, dĩ dưỡng túc, trong, bàng nhân sự, dĩ dưỡng ngũ tạng”. “Hạ, tượng địa, dĩ dưỡng túc” nghĩa là “Dưới thì giống như đất mà nuôi lấy cái chân”, tức là giống như thủy khí của trái đất mà điều dưỡng bàn chân của mình. Chúng ta đều biết rằng kênh nước ở mặt đất qua chiếu rọi của mặt trời bốc lên thành hơi nước, sau đó biến thành mưa lại rơi xuống đất. Nếu hơi nước giữa trời đất mà ngưng sự tuần hoàn lên trời xuống đất thì làm gì còn mưa, thế giới sẽ bị hạn hán. Muốn hơi nước bốc được lên trời chỉ có cách duy nhất là phải có độ ấm. Tuần hoàn của khí huyết trong nhân thể cũng vậy. Nếu bàn chân của người bị lạnh, khí huyết sẽ ngưng kết ở bàn chân, tuần hoàn lên xuống của khí huyết bị tắc, ắt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của nội tạng, cụ thể là nó ảnh hưởng đến Bàng Quang, Vị, Đởm, Tỳ, Can và Thận. Muốn cho khí huyết tuần hoàn thông sướng, biện pháp tốt nhất là ngâm chân nước ấm, giúp bàn chân giữ được độ ấm nhất định. Bởi vậy dân gian mới có câu “Nước ấm ngâm cái cước, Còn hơn uống bổ dược”. Mùa đông ngâm chân nước ấm giúp cho đan điền ấm. Đan điền là ở phần bụng dưới, là nơi cất chứa dương khí. Mùa đông trước khi đi ngủ ngâm chân nước ấm 48 độ sẽ cảm thấy một luồng ấm từ bàn chân đưa lên bụng. Người xưa có câu “Đông thiên tiến bổ, Xuân thiên đả hổ” ý là mùa đông chú ý bồi dưỡng sức khỏe, sang xuân có thể vật được cả hổ. “Đông thiên tiến bổ” thực tế ở đây là mùa đông phải giữ được dương khí trong con người, mà cách đơn giản nhất nhưng hiệu nghiệm nhất lại là ngâm chân nước ấm. Mọi người đừng có cho là sao cái biện pháp này nó quá đơn giản. Chân lý thường là vậy đấy, vật càng đơn giản thì giá trị của nó lại càng lớn. Tôi từng khám bệnh cho một phụ nữ 40 tuổi, cử chỉ rất nho nhã ,nói năng rất lịch sự, là TGĐ một công ty du lịch, bệnh là cứ đến mùa thu đông là tay chân lạnh buốt như là không có máu tới, cả người cứ như cứng đờ, mà năm nào cũng khám định kỳ, mọi chỉ tiêu sức khỏe đều bình thường. Tôi bắt mạch phát hiện bệnh cô ta là điển hình về thận dương suy tổn, tuy chưa đến mức biến chứng nặng. Tôi khuyên uống một ít bát vị địa hoàng hoàn. Cô ta nói thuốc dù sao cũng là có ba phần độc, có cách nào không dùng thuốc không. Tôi nói vậy thì dùng cách ngâm chân nước ấm, nhưng nấu chút hồng hoa thảo, hồng hoa vị đắng tính ôn, thông kinh hoạt huyết, tốt cho gan kinh và tâm kinh. Nhưng cách này chậm, phải kiên trì, mỗi tối hàng ngày ngâm chân nước ấm. Cô ta đã kiên trì ba năm liền, không những bệnh lạnh tay chân khỏi hẳn mà trong ba năm đó cô ta không hề bị bệnh gì khác phải uống thuốc. Dưỡng sinh chỉ đơn giản là như vậy thôi, quan trọng là bạn có quyết tâm làm một việc đơn giản kiên trì trong ba năm. Nguồn: Mạng Trung Quốc
-
- 4
-