Lãn Miên
Hội Viên Ưu Tú-
Số nội dung
595 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
19
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Lãn Miên
-
Bài báo đăng trên Hoàn Cầu thời báo ngày 23-11, tiêu đề: Hộ chiếu mới của Trung Quốc vẽ chủ quyền Nam Hải, Philipin và Việt Nam kháng nghị “chủ quyền” bị xâm phạm. (中国新护照划南海主权 菲越抗议“主权”遭侵犯 2012-11-23 01:17 环球时报 3133 字号:TT ) Hoàn Cầu Thời Báo tổng hợp ngày 23-11 2012 đưa tin, hộ chiếu điện tử mới của TQ có một trang in bản đồ TQ đã làm Philippin và Việt Nam phản đối. Thời báo Tài chính của Anh nói, bản đồ này vẽ ra phạm vi chủ quyền của TQ ở Nam Hải (Biển Đông), là hành động TQ cho đến nay muốn nhấn mạnh chủ quyền của mình ở Biển Đông, “ Khi tiếp công dân TQ nhập cảnh, các nước này phải đóng dấu vào hộ chiếu tức coi như là ngầm thừa nhận chủ trương lãnh thổ của chính phủ TQ”. Theo báo tiết lộ, hai nước Philipin và Việt Nam ngày 22 đã đều tỏ thái độ phản đối, gọi hành vi đó là “xâm phạm chủ quyền”. Bài báo cũng dẫn thuật trả lời của Bộ ngoại giao TQ nói rằng, hộ chiếu mới của TQ phù hợp luật pháp quốc tế, bản đồ trên hộ chiếu không nhằm vào một quốc gia đặc định nào, TQ sẵn sàng tích cực tiến hành đối thoại với các quốc gia liên quan, thúc đẩy giao lưu nhân viên giữa TQ và các nước đó. “Hộ chiếu: phương thức mới của TQ để tuyên bố chủ quyền” , đó là đầu đề bài báo trên ra ngày 22, bài báo nói, Bắc Kinh in bản đồ trên hộ chiếu mới thể hiện đòi hỏi lãnh thổ của họ ở Nam Hải, đem lãnh thổ trong “đường chín đoạn” vẽ thành lãnh thổ của TQ, điều này đã kích nộ các nước láng giềng. Theo báo mạng GMA của Philipin, ngoại trưởng Philippin ngày 22 đã tuyên bố, hành động này của TQ “không thể chấp nhận”, “xâm phạm chủ quyền của Philipin”, Philipin chính thức nêu kháng nghị đối với TQ. Bài báo đưa ra bình luận nói, đây là “hành động trắng trợn nhất” hiện nay của Bắc Kinh. Khi được hỏi liệu có yêu cầu TQ thu hồi lại loại hộ chiếu này không, phát ngôn viên của Bộ ngoại giao Philipin nói: “Chúng tôi hy vọng nó phải được nhanh chóng thu hồi lại”. “Ông ấy còn nói, Philipin không thể nào nhẫn mà nhìn hành động này của TQ, cho phép TQ tiếp tục phát hành hộ chiếu mới này có nghĩa là phục tùng đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh. Ông ấy nói, công dân TQ sẽ sử dụng loại hộ chiếu này, nếu trên hộ chiếu có bản đồ vi phạm bộ phận chủ quyền của nước tôi, chúng tôi cho phép họ nhập cảnh, thì có nghĩa là ngầm cho phép đòi hỏi chủ quyền của TQ đối với Biển Đông. Hiến pháp nước tôi qui định phải kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quốc dân chúng tôi cũng yêu cầu chúng tôi phải làm như vậy”. Bài báo nói, Việt Nam cũng phản đối Bắc Kinh về vấn đề hộ chiếu mới này của TQ. Đại sứ quán VN tại TQ nói: “ Phía Việt Nam đã chú ý đến vấn đề này, hai bên đang triển khai thương thảo vấn đề này, nhưng đến nay thảo luận vẫn chưa đạt được kết quả. Báo nói, phát ngôn viên Bộ ngoại giao VN Lương Thanh Nghị ngày 22 trong cuộc họp báo đã yêu cầu TQ “Sửa đổi ngay sai lầm này”. Báo còn dẫn thuật lời của ông Nguyễn Quang A cố vấn trước đây của chính phủ, nói: “Tôi cho rằng đây là một chiêu thâm độc của Bắc Kinh. Khi người TQ đến Việt Nam, chúng tôi không thể không tiếp nhận hộ chiếu mới, và đóng dấu trên cái hộ chiếu đó”. Từ 15 tháng 5 năm 2012 Công An TQ đã thống nhất bắt đầu phát hộ chiếu phổ thông kiểu hộ chiếu điện tử , phù hợp xu thế phát triển điện tử hóa trên toàn cầu. Hộ chiếu điện tử có tấm lõi điện tử có ảnh và tư liệu cá nhân kèm thêm vào trong hộ chiểu phổ thông truyền thống. Báo “Điện tấn mỗi ngày” của Anh ngày 22 nói, khi làm thủ tục cho thương nhân TQ, ánh mắt sắc như kim của nhân viên Hải quan Việt Nam đã phát hiện ra vấn đề bản đồ. Để phản ứng, cục xuất nhập cảnh Việt Nam đã cự tuyệt đóng dấu vào trang hộ chiếu, mà phát cho một tờ chứng nhận nhập cảnh rời riêng”. Thời báo tài chính Anh dẫn thuật lời một quan chức TQ không nêu tên cụ thể, nói rằng Bộ Công An TQ chịu trách nhiệm thiết kế và phát hành hộ chiếu mới. Ngoài tranh chấp bản đồ ra, trong hộ chiếu mới còn có cả sơ đồ một số danh thắng của TQ, bao gồm phong cảnh hai khu du lịch của Đài Loan. Bài báo còn dẫn lời một cán bộ ngoại giao cao cấp Bắc Kinh nói: “Điều này có nghĩa là sự nghiêm trọng của thế cuộc đã thăng cấp. Trung Quốc đang phát hành vô số các hộ chiếu mới, mà hộ chiếu cho người thành niên có niên hạn 10 năm. Nếu phía Bắc Kinh sau này thay đổi lập trường thì tất phải thu hồi tất cả các loại hộ chiếu mới”. Báo “Pháp tân xã” ngày 22 đăng bài tiêu đề “Bản đồ trong hộ chiếu điện tử của TQ vẽ ra một số đảo và bãi ngầm, đã ẩn tàng một số cái riêng”, bài báo nói, đảo Điếu Ngư đang tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản không hiển hiện trên bản đồ trong hộ chiếu. Nhưng “Thời báo tài chính” lại nói, chính phủ Nhật Bản cũng rất quan tâm đến hộ chiếu mới của TQ. Nhưng vì kích cỡ bản đồ trong hộ chiếu rất nhỏ, đảo Điếu Ngư chưa hiển hiện ra, phía Tokyo cũng chưa nêu vấn đề này với phía Bắc Kinh. Ngoài ra chính phủ khu vực Đài Loan cũng nói chú ý đến vấn đề hộ chiếu mới, nhưng chưa có kháng nghị chính thức với Bắc Kinh. Bái báo nói có quan chức của “Lục ủy hội “ của Đài Loan nói rằng: “ Phía đại lục phải nên đối diện với hiện thực tồn tại Trung Hoa Dân Quốc. Chúng ta nên gác tranh chấp, cùng nỗ lực vì biển đảo Đài Loan hòa bình và phát triển ổn định”. Báo “Điện tấn mỗi ngày” nói, theo lượng xin cấp hộ chiếu mỗi tháng, TQ đã in gần 6 triệu hộ chiếu điện tử, nhiều người TQ oán thán rằng hộ chiếu điện tử mới đã ảnh hưởng đến việc xuất hành của họ, khi nhập cảnh Việt Nam bị thông báo là “chứng nhận vô hiệu”. Một nhân viên làm thuê cho công ty du lịch TQ đã công tác ở VN nhiều năm nói, điều này chỉ tạo cơ hội tốt cho nhân viên xuất nhập cảnh VN có “thu nhập kinh tế”, họ đòi người giữ hộ chiếu phải nạp 30 nhân dân tệ để được đổi lấy “chứng nhận hợp cách”. Ký giả đặc phái tại Thái Lan của Hoàn Cầu thời báo Ký Bội Quyên , ký giả đặc phái của Hoàn Cầu thời báoVương Hiểu Hùng 【环球时报驻泰国特派记者 暨佩娟 环球时报特派记者 王晓雄】
-
Ví dụ về mượn chữ nho để ký âm từ lướt Hán ngữ hiện đại gọi cái nền thùng xe là cái Xa Để Bản 車 底 板 (do người Hán đã mượn các chữ nho của tiếng Việt và ghép theo cú pháp Hán. Còn nếu đọc ba chữ nho đó từ phải sang trái sẽ thấy cú pháp Việt, thì là: Ván Đáy Xe), chứ không gọi là cái Dư 輿, như trong từ điển Hán Việt có chữ Dư 輿, giải thích nghĩa là “sàn xe để chở đồ”. QT Lướt để lướt hai tiếng hay cả câu dài thành một từ, từ cổ xưa đã được nhà nho dùng để tạo ra từ đơn âm tiết nhằm tiết kiệm cho việc viết, chỉ phải viết bằng một chữ. Những chữ “đặt ra” kiểu này của nhà nho không có trong khẩu ngữ Hán ngữ, chỉ có trong từ ghép do đã được dùng từ xưa trong “cổ Hán ngữ” (tức ngôn từ phát âm theo Việt mà cú pháp đã bị đổi ngược theo Hán), nếu tách khỏi từ ghép, chỉ phát âm đơn lập riêng nó thì người Hán sẽ không hiểu (phải hỏi là nó có ở từ ghép nào? Vì có nhiều chữ đồng âm dị nghĩa với nó). Ví dụ phát âm riêng “Dư” thì người ta phải hỏi là “Dư輿” của từ ghép “Dư Luận” hay là “Dư 餘” của từ ghép “Thừa Dư” (là hai chữ “dư” viết biểu ý khác nhau) mới xác định được là chữ “Dư” nào mà họ đã từng học. Cái âm tiết Dư vốn để chỉ cái nền đất, vì khi làm nhà thì người ta phải dùng đất đắp cho cao hơn mặt đất vốn có, gọi là “tôn nền”, cái nền ấy thành một chỗ đất “dư” nhân tạo, âm “dư” này viết bằng chữ “Dư 餘” thừa, vì nó rõ ràng nó “thừa 剩” hơn so với mặt đất xung quanh nó, tức nó Bự hơn (Dư=Bự=Bụ=Nhú=Nhô), cái nền đất gọi là Dư ấy nó Nhô cao hơn mặt đất xung quanh nó. Mặt khác Bự=Bạt nên chữ nho Bạt 拔 có nghĩa là “nâng cho cao hơn”, Hán ngữ dùng từ ghép Đề Bạt 提 拔 có nghĩa là “Nâng Cấp” trong việc phong quan chức. Tiếng Việt còn gọi cái chức “quan cao hơn” là “quan bự” (đến đứa con nít còn biết dùng từ “quan bự”). Hán ngữ còn dùng từ ghép (rất khoa học về mặt ngôn từ) là từ ghép Hải Bạt 海 拔 để chỉ chỗ “nhô cao hơn so với mặt nước biển”, ví dụ nói “Vị trí có Hải Bạt 400 mét” tức là “Vị trí có bình độ nhô cao hơn so với mặt nước biển 400 mét”. Người Việt đã quên mất từ Dư cổ xưa của chính mình, chỉ cái nền đất đắp, và cái QT Tơi-Rỡi là sự diễn biến âm của nó, đó là Dư=Bự=Bụ=Nhú=Nhô, nên ngày xưa dùng từ Hải Bạt của Hán ngữ để chỉ khái niệm “nhô cao hơn so với mặt nước biển”. Thời hiện đại thấy dùng vậy thì “bị Hán hóa quá”, không “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nên lại phải dùng khái niệm “nhô cao hơn so với mặt nước biển” và đến bây giờ vẫn dùng như vậy. Ví dụ câu “Vị trí đó có bình độ nhô cao hơn so với mặt nước biển 400 mét”. Nhưng “nhô cao hơn so với mặt nước biển” là một câu chứ không phải là một từ, như từ ghép Hải Bạt của Hán ngữ dùng. Nếu công nhận rằng trong Tiếng Việt vốn có QT Lướt cả câu để tạo thành một từ mới ( như Hứa Thận 許 慎 đã vận dụng , ông gọi Lướt là “Thiết 切” vì Lướt = Lướt-Thướt = Thiết, cách nay 2000 năm, khi ông viết ra cuốn từ điển đầu tiên của Trung Hoa là cuốn “Thuyết Văn Giải Tự 說 文 解 字”) thì câu “Nhô cao hơn so với mặt nước biển” sẽ được lướt thành “Nhô cao hơn so với mặt nước Biển” = “Nhô… Biển” = Nhiển. Từ Nhiển là một từ mới, cái âm “nhiển” là có sẵn trong Tiếng Việt nhưng chưa được dùng, thì nay lấy ra dùng, phong phú thêm một từ mới mà thực ra là nó vốn ẩn sẵn bên trong cũ). Từ điển sẽ giải thích từ Nhiển: là từ do lướt cả câu “Nhô cao hơn so với mặt nước Biển”, câu này theo QT Lướt thì cái Tơi của từ đầu câu - từ Nhô là “Nh” đã lướt đến chắp với cái Rỡi của từ cuối câu – từ Biển là “iển” để thành từ Nhiển, nghĩa của nó là “nhô cao hơn so với mặt nước biển”, mà về thanh điệu thì vẫn đúng luật ( Thanh điệu “không”, “ngã”, “nặng” thuộc nhóm 0; “sắc”, “hỏi”, “huyền” thuộc nhóm 1): Nhô + Biển = Nhiển = 0 + 1= 1. ( Dùng từ Nhiển chỉ là ý của Lãn Miên nêu, còn làm hay không là do các nhà ngôn ngữ học quyền uy quyết định). Nhưng khi đã có từ Nhiển (tương đương từ Hải Bạt 海 拔 trong Hán ngữ dùng) thì câu “Vị trí đó có bình độ Nhô cao hơn so với mặt nước Biển 400 mét” sẽ được thay bằng câu “Vị trí đó có bình độ Nhiển 400 mét”. Trong câu này vì có từ mới là “Nhiển” thay cho cả câu “Nhô cao hơn so với mặt nước Biển” nên đã tiết kiệm được động tác gõ phím là chỉ có 7 gõ cho từ Nhiển thay cho 28 gõ cho cả câu, tiết kiệm thời gian được 4 lần. [ Trường hợp lướt cả câu để thành từ Nhiển cũng giống như trường hợp của câu “Dài mãi ra đến Biển” các cụ nhà nho ám chỉ “mạch nước ngầm” vì mạch nước ngầm thì cuối cùng nó cũng “Dài mãi ra đến Biển”, các cụ đã lướt “Dài mãi ra đến Biển”= “Dài…Biển” = Diễn 衍, đúng QT Thanh điệu: Dài+Biển=Diễn = 1+1=0 ( đúng như toán học nhị phân) và chỉ viết bằng một chữ Diễn 衍 gồm bộ Hành 行 là Đi có kẹp bộ Thủy 氵ở giữa, biểu ý là “nước nó đi”, nước đi thì cuối cùng cũng ra đến biển, chữ Diễn 衍 chẳng có tá âm “iên” nào mà lại đọc là Diễn, vậy nó chính là do lướt “Dài mãi ra đến Biển” = "Dài...Biển" = Diễn 衍. Chữ Diễn 衍 này còn mang nghĩa là “lấn biển”, trong khi một chữ Diễn khác thì không mang ý đó. Đó là cái địa danh Diễn Châu 衍 州. Về sau người ta viết chỉ chú cái âm “Diễn” nên cũng có văn bản viết Diễn Châu 演 州 bằng chữ Diễn 演 là biểu diễn, sai hết cả biểu ý “lấn biển” của một vùng đất từng một thời “Dài mãi ra đến Biển", nên trong vùng đồng bằng của nó nhiều nơi cách bờ biển ngày nay mấy chục cây số vẫn là “đất sò”, cứ đào lên là thấy từng lớp từng lớp dày vỏ nghêu sò ốc hến vỡ vụn, dùng đúc gạch không nung rất tốt gọi là gạch sò. Từ Diễn 衍 này không có dùng trong khẩu ngữ của Hán ngữ hiện đại, họ phải tra từ điển để hiểu ý nghĩa của nó và gọi nó là từ của “cổ Hán ngữ”. Cũng giống như cánh đồng “Sâu trũng chỉ mọc được toàn cỏ Lác” người ta đã lướt “Sâu trũng chỉ mọc được toàn cỏ Lác”= "Sâu...Lác" = Sác, ( đúng QT Thanh điệu: Sâu+Lác=Sác=0+1=1, như toán học nhị phân), nên có từ “đồng Sác”, chỉ thích hợp trồng cói, có rải rác ở nhiều vùng đồng bằng, thậm chí ở Cần Giờ còn có cả “rừng Sác”, toàn là các loại cây ngập nước ]. Từ Dư lúc đầu chỉ là chỉ cái chỗ đất tôn “dư” lên để làm nền nhà cho cao hơn mặt đất vốn có , đã diễn biến để có “Dư Trải” = Dải và “Dải nối tiếp Dải” = ”Dải…Dải” = Dãy (Thanh điệu: Dải+Dải=Dãy=1+1=0 , theo đúng toán nhị phân), để có các từ trong tiếng Việt là Dải núi và Dãy núi. Về sau người ta mượn ý từ Dư đó để chỉ cái nền thùng xe, viết là chữ Dư 輿. Rồi lại mượn tiếp cái âm “dư” của chữ Dư 輿 để ký âm từ lướt (mà chỉ trên nền tiếng Việt mới thấy ra điều đó) , đó là khi lướt hai từ Dân và Cư, lướt “Dân Cư” = Dư (Nếu dùng phát âm của Hán ngữ hiện đại mà “thiết” thì là “ Mín Chuy” = Muy; Muy là một âm tiết không có trong Hán ngữ, vì Hán ngữ phát âm chữ Dư 輿là “Uý”). (Hán ngữ hiện đại ngày nay dùng ngược là “Chuy Mín 居 民” tức Cư Dân). Chữ Dư = Dân Cư này đương nhiên chỉ là có sau, do vận dụng QT Lướt để tạo từ, và đã mượn âm (đương nhiên phải cả chữ) của chữ Dư 輿 để cho nó một nghĩa khác là “công chúng” (đúng như ý lướt “Dân Cư”). Nguyên gốc chữ Dư 輿 có nghĩa là Đất, do Dư=Doi=Dải=Dãy=Giát=Vạt=Vuông (Tiếng ta có những từ gọi Doi Đất, Vạt Đất, Vuông Đất, Dải Núi, Dãy Núi … phù hợp cho các địa hình khác nhau. Lướt “Dải nối tiếp Dải” = “Dải… Dải”=Dãy, đúng QT Thanh điệu: Dải+Dải=Dãy=1+1=0, theo đúng như toán học nhị phân. Dải núi chỉ có nghĩa là một trái núi liền mạch, còn Dãy núi có nghĩa là nhiều dải núi nối tiếp nhau. Trường hợp biến thanh điệu của Dải+Dải=Dãy cũng giống như trường hợp biến thanh điệu của Không+Không=Khống=0+0=1, theo đúng toán học nhị phân. Từ “cướp không” có nghĩa là cướp lấy mà không có đền bù, còn từ “cướp khống” có nghĩa là chưa cướp được mà tự coi như đã cướp được thành của mình rồi, tự đặt tên cho cái chưa cướp được, coi như là của mình rồi, như “đường lưỡi bò” ở Biển Đông). Dư nghĩa là cái nền đất, bởi vậy có các từ ghép như Dư Đồ 輿 图, Địa Dư; Địa Dư có nghĩa là đất bằng và đất nhô cao, mở rộng thành môn học “Địa Dư” là học về đất đai và dân cư theo hướng kinh tế học). Vì Dư=Giát=Giường nên chữ Dư còn dùng để chỉ cái nền để ngồi như Giát giường, Giát xe, bộ Giát= bộ Vạt (làm bằng tấm gỗ lim hay gỗ gụ quí rất dầy để trong nhà nằm nghỉ ngơi). Vì mượn âm “dư” của chữ Dư 輿 để ký âm từ lướt “Dân Cư”= Dư (nghĩa là “công chúng”, nhưng biểu ý chữ Dư 輿 thì chẳng có dính líu gì nghĩa công chúng cả, chỉ có hiểu như Việt đã lướt thì là cái âm tiết “dân cư” mới có nghĩa là công chúng). Bởi vậy Hán tự mới có từ ghép Dư Luận 輿 論 nghĩa là lời bình của công chúng (Lời=Luận). Vậy chữ Dư 輿 là một từ Việt, còn chữ Dư Luận輿 論 là một từ Việt-Hán vì nó được ghép ngược theo cú pháp Hán (ghép theo Việt thì là Luận Dư tức “Lời của Dân Cư”). Về cấu tạo chữ Dư 輿 thì bên trong phía trên có chữ Xe 車 đặt chèn trong chữ Hưng 興, mà Hưng 興=Hứng=Đựng=Thưng=Thịnh盛 =Thúng=Mủng=Máng=Sàng=Trang 裝 , đều là những đồ để đựng. Người Hán chỉ mượn chữ Thịnh 盛 và chữ Trang 裝 để dùng với ý là “đựng”( Với ý là “đựng” thì khẩu ngữ của Hán ngữ hiện đại thường dùng từ Trang 裝, từ Thịnh ít dùng, coi như từ cổ hơn), Phục Trang là từ để chỉ quần áo, là chỉ cái vỏ (Vỏ=Vải=Váy) đựng thân thể con người. Chữ Hưng 興 thì nghĩa đầu tiên của nó là “đựng” bởi nó có kẹp chữ Đồng 同 nghĩa là ở chung, ý rằng nó là cái Chứa một cái Chửa ở trong nó, tức cái vào ở chung với nó. Hán ngữ có từ phát âm là “thúng vu” cho hai chữ là Đồng Ốc 同 屋 để chỉ người ở chung phòng với nhau (dùng chữ Ốc 屋 cổ xưa mà tiếng Quảng Châu vẫn phát âm là “Ốc” để chỉ cái nhà). Những con vật miền sông nước mang “nhà” theo thân mình là Rùa, Cua, Ốc. Người Việt cổ đại gọi cái nhà là Ốc 屋 do nhìn thấy con ốc trong vỏ Ốc, cũng còn gọi "ở"là "Cư" do nhìn thấy con Cua thu mình cả cẳng, càng và mắt vào trong cái mai của nó . Nói chung là cái để ở thì QT Tơi-Rỡi của Lãn Miên nêu chỉ sự diễn biến âm tiết là : Ở = Ốc = Ấp = Ư 於 = Cư 居 = Cua = Rùa = =Vùa = Vu 於 (Hai từ Ư và Vu viết bằng cùng một chữ nho là chữ 於. Đánh vu hồi nghĩa là đánh vào chỗ ở. Cái bát to bằng đất nung rất mỏng không tráng men dùng để úp đậy đĩa thức ăn gọi là cái bát Vùa. Chữ Cư 居 này người Triều Châu vẫn đọc là “Cua”, còn từ chỉ cái Mái ở là logic với cái Mai cua. Cái Ốc 屋 mà có đông người ở thì thành từ Ấp 邑, là cụm dân cư). Chữ Hưng 興 có ngữ cảnh đọc là Hứng 興, ví dụ khi lấy chậu hứng nước mưa, khi ấy là một niềm vui vì được mát mẻ, về sau nhà nho có các từ Cao Hứng 高 興, Hưng Phấn 興 奮 để chỉ cái vui, tức là “đựng” cái phấn khởi. Hưng 興 và Thịnh 盛 đều có nghĩa là “đựng”, từ Hưng Thịnh 興 盛 chỉ là một từ đôi, từ đôi có tác dụng nhấn mạnh ý chung của hai từ đó, tức là nhấn mạnh sự “đựng” được nhiều, tức giàu có. Tấm cót dựng quây quanh vành trong của cái nong nằm ngửa thành bức vách tròn cao để đựng thóc người ta gọi là cái Thưng, nó khác và to hơn nhiều so với cái Thúng, dù hai thứ đó đều dùng đựng thóc. Hưng Thịnh 興 盛 là từ đôi , ban đầu chỉ là để chỉ cái thưng thóc đầy, về sau dùng với ý hoa mỹ chỉ sự giàu có. (Nền văn minh lúa nước của phương Nam có nhiều tre để làm thẻ viết chữ và chẻ lạt đan lát tạo nhiều đồ đựng đã đẻ ra Việt nho, còn Hán nho về sau chỉ là sự tiếp thu của Việt nho cả chữ lẫn nghĩa). Chữ Dư 輿 bên trong có kẹp chữ Xe 車 vì khi tôn nền làm nhà thì người Việt dùng xe cút kít chở đất đến đựng vào chỗ chỉ định đặt nền nhà. Bởi ý nghĩa là “đựng” đó nên chữ Dư 輿 về sau còn dùng để chỉ cái Giát xe tức cái nền thùng xe (trong ngữ cảnh này người ta sẽ đọc chữ Dư 輿 là Giát ). Chữ Xe 車 có nghĩa là “đưa ra” tức làm ra, như từ Xe Sợi nghĩa là kéo ra sợi. Vì Nôi khái niệm chung của Xe là “đưa ra”, tức cái Nôi : Té=Xe=Xé=Xẻ=Xê=Xa=Tả=Xả=Xổ=Thổ=Thồ=Thở=Chở, đều có nghĩa là đưa ra hay đưa đi. Từ cái Nôi khái niệm này mà có từ đôi dùng làm từ chuyên môn chỉ một loại bệnh là bệnh Thổ Tả 吐 瀉. Đọc là Thổ Tả 吐 瀉là khi viết bằng chữ nho. Khi chưa có chữ nho thì người ta viết bằng chữ khoa đẩu, đó là chữ Té Re (Té Re = Nước Ra = Thổ Tả 吐 瀉). Té=Tức=Đức=Đác=Nác=Nước. Nước luôn luôn làm cái việc của nó là Nở=Nống tức “đưa ra”: thấm, lan tràn, bốc hơi, nở tăng thể tích khi đóng băng. (Tiếng Quảng Châu thì chữ Xa 車 và chữ Tả 瀉 đều đọc là “Xe”, vì Té=Xe). Có nghĩa là người Việt cổ đại biết đi bằng Xe nước – Xuồng (do lướt “Xe Luồng” = Xuồng), đường sông, (Sông=Dòng=Lòng=Luồng=Lạch=Rạch=Rãnh), trước khi biết đi Xe đường bộ. Tất cả các từ như Diễn 衍, Ốc 屋, Ấp 邑,Hưng 興, Thịnh 盛, Dư 輿, Xa 車 nêu trên, từ điển “Yếu tố Hán-Việt thông dụng” của Viện Ngôn Ngữ (NXB KHXH Hà Nội 1991) đều cho là từ gốc Hán.
-
- 4
-
-
Ví dụ về mượn chữ nho để ký âm từ lướt Hán ngữ hiện đại gọi cái nền thùng xe là cái Xa Để Bản 车 底 板 (Ván Đáy Xe), chứ không gọi là cái Dư 舆, như trong từ điển Hán Việt có chữ Dư 舆, giải thích nghĩa là “sàn xe để chở đồ”. QT Lướt để lướt hai tiếng hay cả câu dài thành một từ, từ cổ xưa đã được nhà nho dùng để tạo ra từ đơn âm nhằm tiết kiệm cho việc viết, chỉ phải viết bằng một chữ. Những chữ “đặt ra” kiểu này của nhà nho không có trong khẩu ngữ Hán ngữ, chỉ có trong từ ghép do đã được dùng từ xưa trong “cổ Hán ngữ” (tức ngôn từ phát âm theo Việt mà cú pháp đã bị đổi ngược theo Hán), nếu tách khỏi từ ghép, chỉ phát âm đơn lập riêng nó thì người Hán sẽ không hiểu (phải hỏi là nó có ở từ ghép nào? Vì có nhiều chữ đồng âm dị nghĩa với nó). Ví dụ phát âm riêng “Dư” thì người ta phải hỏi là “Dư” của từ ghép “Dư Luận” hay là “Dư” của từ ghép “Thừa Dư” (là hai chữ “dư” viết biểu ý khác nhau) mới xác định được là chữ “Dư” nào mà họ đã từng học. Chữ Dư 舆 vốn để chỉ cái nền đất, vì khi làm nhà thì người ta phải dùng đất đắp cho cao hơn mặt đất vốn có gọi là “tôn nền”, cái nền ấy thành một chỗ đất “dư” nhân tạo, âm “dư” này viết bằng chữ “Dư” thừa, vì nó rõ ràng nó “thừa” hơn so với mặt đất xung quanh nó, tức nó Bự hơn (Dư = Bự = Bụ = Nhú = Nhô), cái nền đất gọi là Dư ấy nó Nhô cao hơn mặt đất xung quanh nó. Mặt khác Bự = Bạt nên chữ nho Bạt có nghĩa là “nâng cho cao hơn”, Hán ngữ dùng từ ghép Đề Bạt có nghĩa là “Nâng Cấp” trong việc phong quan chức. Tiếng Việt còn gọi cái chức “quan cao hơn” là “quan bự” (đến đứa con nít còn biết dùng từ “quan bự”). Hán ngữ còn dùng từ ghép (rất khoa học về mặt ngôn từ) là từ ghép Hải Bạt để chỉ chỗ “nhô cao hơn mặt nước biển”, ví dụ nói “Vị trí có Hải Bạt 400 mét” tức là “Vị trí có bình độ nhô cao hơn mặt nước biển 400 mét”. Người Việt đã quên mất từ Dư cổ xưa của chính mình, chỉ cái nền đất đắp, và cái QT Tơi-Rỡi là sự diễn biến âm của nó, đó là Dư = Bự = Bụ = Nhú = Nhô, nên ngày xưa dùng từ Hải Bạt của Hán ngữ. Thời hiện đại thấy dùng vậy thì “bị Hán hóa quá”, không “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” nên lại phải dùng khái niệm “nhô cao hơn so với mặt nước biển” và đến bây giờ vẫn dùng như vậy. Ví dụ câu “Vị trí đó có bình độ nhô cao hơn so với mặt nước biển 400 mét”. Nhưng “nhô cao hơn so với mặt nước biển” là một câu chứ không phải là một từ, như từ ghép Hải Bạt của Hán ngữ dùng. Nếu công nhận rằng trong Tiếng Việt vốn có QT Lướt cả câu để tạo thành một từ mới ( như Hứa Thận đã vận dụng , ông gọi Lướt là “Thiết” vì Lướt = Lướt-Thướt = Thiết, cách nay 2000 năm, khi ông viết ra cuốn từ điển đầu tiên của Trung Hoa là cuốn “Thuyết Văn Giải Tự) thì câu “Nhô cao hơn mặt nước biển” sẽ được lướt thành “Nhô cao hơn mặt nước Biển” = “Nhô… Biển” = Nhiển. Từ Nhiển là một từ mới, cái âm “nhiển” là có sẵn trong Tiếng Việt nhưng chưa được dùng, thì nay lấy ra dùng, phong phú thêm một từ mới mà thực ra là nó vốn ẩn sẵn bên trong cũ). Từ điển sẽ giải thích từ Nhiển: là từ do lướt cả câu “Nhô cao hơn so với mặt nước Biển”, câu này theo QT Lướt thì cái Tơi của từ đầu câu - từ Nhô là “Nh” đã lướt đến chắp với cái Rỡi của từ cuối câu – từ Biển là “iển” để thành từ Nhiển, nghĩa của nó là “nhô cao hơn so với mặt nước biển”, mà về thanh điệu thì vẫn đúng luật ( Thanh điệu “không”, “ngã”, “nặng” thuộc nhóm 0; “sắc”, “hỏi”, “huyền” thuộc nhóm 1): Nhô + Biển = Nhiển = 0 +1 = 1. ( Dùng từ Nhiển chỉ là ý của Lãn Miên nêu, còn làm hay không là do các nhà ngôn ngữ học quyền uy quyết định). Nhưng khi đã có từ Nhiển (tương đương từ Hải Bạt trong Hán ngữ dùng) thì câu “Vị trí đó có bình độ Nhô cao hơn so với mặt nước Biển 400 mét” sẽ được thay bằng câu “Vị trí đó có bình độ Nhiển 400 mét”. Trong câu này vì có từ mới là “Nhiển” thay cho cả câu “Nhô cao hơn so với mặt nước Biển” nên đã tiết kiệm được động tác gõ phím là chỉ có 7 gõ thay cho 28 gõ, tiết kiệm thời gian được 4 lần. Từ Dư lúc đầu chỉ là chỉ cái chỗ đất tôn “dư” lên để làm nền nhà cho cao hơn mặt đất vốn có , đã diễn biến để có “Dư Trải” = Dải và “Dải nối tiếp Trải” = Dãy, để có các từ trong tiếng Việt là Dải núi và Dãy núi. Về sau người ta mượn ý từ Dư đó để chỉ cái nền thùng xe, viết là chữ Dư 舆. Rồi lại mượn tiếp cái âm “dư” của chữ Dư 舆 để ký âm từ lướt (mà chỉ trên nền tiếng Việt mới thấy ra điều đó) , đó là khi lướt hai từ Dân và Cư, lướt “Dân Cư” = Dư (Nếu dùng phát âm của Hán ngữ hiện đại mà “thiết” thì là “ Mín Chuy” = Muy, là một âm tiết không có trong Hán ngữ, vì Hán ngữ phát âm chữ Dư 舆 là “Uý”). Chữ Dư = Dân Cư này đương nhiên chỉ là có sau, do vận dụng QT Lướt để tạo từ, và đã mượn âm (đương nhiên phải cả chữ) của chữ Dư 舆 để cho nó một nghĩa khác là “công chúng” (đúng như ý lướt “Dân Cư”). Nguyên gốc chữ Dư 舆 có nghĩa là Đất, do Dư = Dải = Dãy = Giát, trong tiếng Việt có từ Dải Đất, Dãy Núi. (Bởi vậy có các từ ghép như Dư Đồ 舆 图, Địa Dư có nghĩa là đất bằng và đất nhô cao, mở rộng thành môn học “Địa Dư” là học về đất đai và dân cư theo hướng kinh tế học). Vì Dư = Giát nên chữ Dư còn dùng để chỉ cái nền để ngồi như Giát giường, Giát xe, bộ Giát= bộ Vạt (làm bằng gỗ lim hay gỗ gụ quí trong nhà để nằm nghỉ ngơi). Vì mượn âm “dư” của chữ Dư 舆 để ký âm từ lướt “Dân Cư” = Dư (nghĩa là “công chúng” nhưng biểu ý chữ Dư 舆 thì chẳng có dính líu gì nghĩa công chúng cả, chỉ có hiểu như Việt đã lướt thì là cái âm tiết “dân cư” mới có nghĩa là công chúng). Bởi vậy Hán tự mới có từ ghép Dư Luận 舆 论 nghĩa là lời bình của công chúng (Lời=Luận). Vậy chữ Dư là một từ Việt, còn chữ Dư Luận là một từ Việt-Hán vì nó được ghép ngược theo cú pháp Hán (ghép theo Việt thì là Luận Dư tức “Lời của Dân Cư”). Về cấu tạo thì chữ Dư 舆 thì bên trong phía trên có chữ Xe 车 đặt chèn trong chữ Hưng 兴 mà Hưng = Hứng = Đựng (khi tôn nền làm nhà thì người Việt dùng xe cút kít chở đất đến đựng vào chỗ chỉ định đặt nền nhà), nên chữ Dư về sau còn dùng để chỉ cái Giát xe tức cái nền thùng xe (trong ngữ cảnh này người ta sẽ đọc chữ Dư 舆 là "Giát" ). Chữ Xe 车 có nghĩa là “đưa ra” tức làm ra, như từ Xe Sợi nghĩa là kéo ra sợi. Vì Nôi khái niệm chung của Xe là “đưa ra”, tức cái Nôi : Té = Xe = Xé = Xẻ = Xê = Xa = Tả = Xả = Xổ = Thổ = Thồ = Thở = Chở, đều có nghĩa là đưa ra hay đưa đi. Từ cái Nôi khái niệm này mà có từ đôi dùng làm từ chuyên môn chỉ một loại bệnh là bệnh Thổ Tả. 吐 泻. Đọc là Thổ Tả 吐 泻là khi viết bằng chữ nho. Khi chưa có chữ nho thì người ta viết bằng chữ khoa đẩu, đó là chữ Té Re (Té Re = Nước Ra = Thổ Tả 吐 泻). Té = Tức = Đức = Đác = Nác = Nước. Nước luôn luôn làm cái việc của nó là Nở = Nống tức “đưa ra”: thấm, lan tràn, bốc hơi, nở tăng thể tích khi đóng băng. (Tiếng Quảng Châu đọc chữ Xa 车 và chữ Tả 泻 đều là “Xe”, vì Té = Xe). Có nghĩa là người Việt cổ đại biết đi bằng Xe nước – Xuồng = Xe Luồng, đường sông, trước khi biết đi Xe đường bộ). Hai chữ Dư 舆 và Xa 车 nêu trên, từ điển “Yếu tố Hán-Việt thông dụng” của Viện Ngôn Ngữ (NXB KHXH Hà Nội 1991) đều cho là từ gốc Hán.
-
- 1
-
-
Lao động cuối tuần số 43 từ 2-4.11.2012 Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Thử tháo gỡ sự “vô lý ầm ầm” khi điền giải thành ngữ “thắt lưng buộc bụng” Nguyễn Đức Dương Mới đây. LĐCT (số 43) có giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết dài của PGS-TS Phạm Văn Tình, trong đó tác giả dành gần trọn nội dung để diễn giải thành ngữ [TN] Thắt lưng buộc bụng. Nhìn chung nhờ xác định nhanh chóng và đúng đắn thực chất ngữ học của đơn vị ngôn từ đang xét, tác giả đã diễn giải thành công TN vừa nêu. Tuy nhiên, khi thử soi sang cái được tác giả gọi là “nghĩa đen” của nó [Có lẽ nên gọi đó là “nghĩa hiển ngôn”, như nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo từng làm thì hơn] thì ông có phần hơi lướng vướng do bị tình cảnh “vô lý ầm ầm” “bủa vây”, như chính ông công khai thừa nhận, ngay cả khi đã viện tới sự giúp sức của một số cô bác cao tuổi. Sở dĩ tác giả đã lâm vào tình cảnh ngoài ý muốn ấy, theo thiển nghĩ, chắc chỉ vì quĩ thời gian của ông quá eo hẹp, khiến ông quên không để ý tới nghĩa thứ hai của từ lưng được “Từ điển tiếng Việt” của GS Hoàng Phê ( chủ biên), một công trình biên khảo dày công vừa được Nhà Xuất bản Trí thức tặng thưởng “Giải sách hay năm 2012” nêu rõ. Giá có nhiều thì giờ hơn, chắc ông sẽ nhận thấy ngay bộ phận tiếp theo sau đây trong lời diễn giải của từ lưng: “ [Là thứ] dải bao dài bằng vải [mà phụ nữ thời xưa hay buộc ngang lưng cho đẹp] dùng làm chỗ đựng tiền; (thường dùng trong khẩu ngữ) để chỉ tiền riêng, tiền vốn (Người viết nhấn mạnh) […]). Nghĩa này của lưng hiện chúng ta còn có thể bắt gặp trong Kiều ( Chung lưng mở một ngôi hang) […] Nữa khi muôn một thế nào. Bán hùm buôn sói chắc vào lưng đâu?) hoặc trong một số áng thơ văn cổ (Mỏng lưng em cũng chẳng giàu. Nhiều miệng lấy chi cho đủ) [Nguyễn Công Trứ. Hàn nho phong vị phú]. Từ những gì vừa trình bày, chúng ta có thể đi đến nhận định: có thể giảng cụm thắt lưng và cụm buộc bụng đại để như sau: Thắt lưng= Hạn chế các khoản tiền bạc định chi tiêu; và Buộc bụng=Hạn chế ăn uống. Còn toàn bộ TN là: Hạn chế tới mức cao nhất cả chi tiêu lẫn ăn uống (để đồng vốn đỡ bị tham lạm trong thời buổi kinh tế hết sức ngặt nghèo). Tình cảnh “vô lý ầm ầm” có lẽ đã được tháo gỡ xong. Nhân đây chúng tôi xin có đôi lời với tác giả Phan Thị My (xin xem LĐCT số 38) cùng đông đảo bạn đọc chung quanh những lời góp ý của bà khi bàn về cặp tục ngữ [TNg] “Khuất mắt khôn coi” và “Khuất mắt trông coi” được chúng tôi giới thiệu trên LĐCT số 36. Chúng tôi xin thú thật là rất nhiều người đi trước, giàu kinh nghiệm hơn, khuyên tôi nên tránh trả lời bởi, theo họ, khoảng cách giữa ý kiến của đôi bên còn quá rộng. Chẳng hạn hồi còn đi học ở trường, các thầy, các cô dạy tôi đều khuyên nên chia mọi biểu thức ngôn từ cần tìm hiểu thành nhiều hợp phần nhỏ hơn (chảng hạn, âm vị thành nét khu biệt hoặc nghĩa thành nét nghĩa, v.v.) mới hy vọng đi sâu được vào thực chất của nó và phát hiện được các đặc trưng lý thú của nó. Về sau, khi ra trường, hầu như mọi cuốn sách tôi đọc đều dạy tôi điều tương tự, và những lời dạy ấy từ đó trở đi tôi đều cố làm đúng trong bất cứ trường hợp nào. Ấy thế mà tác giả bài góp ý lại khuyên tôi là “không nhất thiết phải suy xét đến tận chân tơ kẽ tóc bất kỳ một thành ngữ nào để xem nó có hợp lý không”. Ngoài ra tôi còn được dạy rằng tần suất sử dụng của của các biểu thức trong lời ăn tiếng nói chẳng phải lúc nào cũng luôn đi đôi với tính đúng đắn của biểu thức ấy, bởi lẽ “tính đúng đắn” ấy lắm khi đã bị cái được nhà ngữ học lỗi lạc F. de Saussure gọi là “từ nguyên học dân gian” làm cho sai lạc đi. Ấy thế nhưng tác giả bài góp ý lại khuyên tôi: “[…] quan trọng hơn, là xem tần số sử dụng nó trong cuộc sống, trong xã hội cao hay thấp, số lượng sử dụng nhiều hay ít mà thôi”. Sự khác biệt quá lớn ấy đã ngăn tôi viết bải trả lời; cho nên ở đây tôi muốn thưa lại cùng độc giả xa gần chỉ vài lời như vậy mà thôi để mong được thông cảm. Lãn Miên viết: Tôi chưa được đọc các bài thảo luận về câu thành ngữ “Thắt lưng buộc bụng” trên các số của LĐCT. Tình cờ tôi đọc LĐCT số 43 có bài trên, nên đưa lên đây. Tôi không phải người nghiên cứu ngôn ngữ nên chẳng dám lạm bàn. Tôi chỉ đưa hiểu của tôi về câu thành ngữ trên để trình bạn đọc tham khảo. Tôi giải thích câu thành ngữ “Thắt lưng buộc bụng” bằng “QT Tạo ngôn từ Việt” của Lãn Miên nêu (nhưng chưa được ai công nhận), cộng với “Qui tắc cấu trúc của câu nói Việt là Đề và Thuyết” của GS Cao Xuân Hạo (nhưng chưa được Bộ GDĐT công nhận) như sau: Câu thành ngữ “Thắt lưng buộc bụng” nếu chỉ giải thích theo những cái vật cụ thể (nhìn sờ thấy được) là Lưng và Bụng thì sẽ chỉ ra một ý nghĩa rất phiến diện là “dè sẻn”, một phản ứng hoàn toàn bị động trước hoàn cảnh ngặt nghèo, không thuộc tư duy năng động như bổn tính vốn có của người Việt là năng động như nước, như GS Cao Xuân Huy nói: “Cái lý của người Việt là nước, ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Nếu hiểu cả từ trừu tượng (không nhìn sờ thấy được) là Lưng và Bụng thì nội dung câu thành ngữ “Thắt lưng buộc bụng” là : Tùy theo hoàn cảnh mà nghĩ ra cách giải quyết, một phản ứng hoàn toàn chủ động, như tư duy thường có của người Việt. Tức câu thành ngữ đó cũng tương tự câu “Cái khó ló cái khôn”. Câu thành ngữ “Thắt lưng buộc bụng” có hai mệnh đề như hai câu con là Thắt Lưng và Buộc Bụng. (1) Trong câu con Thắt Lưng thì Thắt là “Đề” (Đề bao giờ cũng đặt đầu câu) và “Thuyết” cho cái đề đó là Lưng (Thắt cái gì ? Thắt cái Lưng ! ). Nhưng QT Tơi-Rỡi lại chỉ rõ: Thắt=Bắt (Tôi Thắt mõm bao lại không cho gạo đổ ra, tức tôi Bắt gạo nằm im trong bao). Lưng nghĩa là sự thiếu thốn (Đong Lưng hay đong Đầy ? ). Lưng nằm trong nôi khái niệm của một sự biến từ Âm tới Dương như từ 0 tới 1, là cái nôi: Ung=Lủng=Lưng=Lưng-Lửng=Lừng-Lững=Lừng-Lẫy=Đầy, tương ứng là các nghĩa: Không còn ( Ung và Lủng) - Thiếu (Lưng) – Gần đủ (Lưng-Lửng) - Đủ chững (Lừng- Lững)– Tràn (Lừng-Lẫy) – Đầy (Đầy vun có ngọn) Vậy ý nghĩa của câu con “Thắt Lưng” là: Bắt cái thiếu thốn, tức Nắm bắt hoàn cảnh thiếu thốn. (2) Trong câu con Buộc Bụng thì Buộc là “ Đề” và cái “Thuyết” cho cái đề đó là Bụng ( Buộc cái gì ? Buộc cái Bụng ). Theo QT Tơi- Rỡi thì Buộc=Bắt, nên có từ đôi Bắt Buộc. Bụng nghĩa là “cách giải quyết”. Người Việt nói “Tôi đang nghĩ Bụng” tức là “Tôi đang nghĩ Cách giải quyết”. Thế giới còn phải ngạc nhiên là chỉ có người Việt là nghĩ bằng bụng, khi người Việt nói câu “Bụng nó nghĩ là…” mà không hiểu cái ý: “Cách giải quyết của nó là …”. Người ta không hiểu được “Bụng” nghĩa là “Cách giải quyết” bởi do người ta không công nhận QT Lướt trong tạo từ của tiếng Việt (lướt hai tiếng hay cả một câu dài thành một từ). Bụng là kết quả của lướt cả câu “Bước vào tâm thức tận Cùng” = “Bước… Cùng” = Bụng. Theo QT Lướt thì trong cái biến này cái Tơi của từ đầu- từ Bước là “B” sẽ lướt đến chắp với cái Rỡi của từ cuối- từ Cùng là “Ung” để thành Bụng. Tại sao lại thành “dấu nặng Bụng” ? Về thanh điệu thì Lãn Miên đã chia 6 thanh điệu của tiếng Việt thành hai Nhóm là Nhóm Âm (0) gồm “không”, “ngã”,“nặng” và Nhóm Dương (1) gồm “sắc”, “hỏi”, “huyền”; chứ không chia thành hai nhóm Bằng, Trắc như người ta chia. Trong cái biến “Bước… Cùng” thì theo thanh điệu có Bước= “sắc”=1; Cùng= “huyền”=1; đương nhiên theo qui tắc toán nhị phân (hệ quả của khái niệm Âm Dương của người Việt) thì 1+1=0, nên Bụng= “nặng”=0 ( thanh điệu của nó phải là dấu nặng). Bụng là “Cách giải quyết”, nhưng là cách giải quyết kiểu Việt, tức phải “Bước vào tâm thức tận Cùng”, tức phải qua Thiền để tìm được cách giải quyết sáng suốt. Vậy Thiền cũng là một phát minh bản quyền của người Việt. Cả câu lớn “Thắt lưng buộc bụng” thì “Đề” là Thắt Lưng và “Thuyết” cho cái đề ấy là “Buộc Bụng” (Thắt lưng thì phải làm sao ? Thắt lưng thì phải buộc bụng ). Nghĩa là “Nắm bắt hoàn cảnh thiếu thốn thì buộc phải nghĩ ra cách giải quyết sang suốt”. Đó chính là tính nhân văn, là minh triết của câu thành ngữ trên. Đó mới chính là phản ánh đúng tư duy năng động như nước của người Việt. Trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc, trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn ngặt nghèo nào người Việt cũng đều nghĩ tìm ra được ra lối ra, như Nguyễn Trãi từng nói “Hào kiệt đời nào cũng có”. Thành ngữ Việt đơn giản mà không tầm thường. Ví dụ câu “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” không phải là đơn giản mẹ khuyên con nhỏ phải biết cư xử trong bữa cơm, mà là khuyên con phải biết qui hoạch bất cứ việc gì từ việc nhỏ đến việc lớn như qui hoạch vĩ mô, hay qui hoạch hạ tầng một thành phố lớn, cốt lõi của mọi qui hoach đều phải là lấy nhu cầu lợi ích của cộng đồng người làm đầu: Trong câu “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” thì “Trông” nghĩa là trông cậy, trông cậy đáng dựa nhất là trông cậy vào trí tuệ của nhân dân [ Cho nên mới có câu chuyện ông đẽo cày lấy gỗ trong rừng, nhưng đẽo cày thì ra ngồi công khai vệ đường mà đẽo để được nhân dân chỉ vẽ cho] ; “Ăn” nghĩa là mọi nhu cầu hoạt động của Con Người; “Nồi” nghĩa là nguồn lực, gồm tài nguyên của đất nước và trí tuệ của nhân dân (Nồi=Nôi=Nước); “Ngồi” là sự yên ổn lâu dài của cả cộng đồng xã hội (Ngồi=Ngôi=Người=Tươi=Tuổi=Tuế Tuế); “Hướng” là Phong Thủy Lạc Việt ( Hướng là do lướt “Hỗ Tương” = Hướng, thanh điệu là “ngã”+ “không”= “sắc” tức 0+0=1, đúng như toán học nhị phân của người Việt. “Hướng” là Phong Thủy Lạc Việt, “Hỗ Tương” là nói sự tương tác đúng Âm Dương Ngũ Hành, nếu không có Phong Thủy Lạc Việt thì định hướng sai. Định hướng sai thì của dù có cả đống cũng dần dần đội nón ra đi kể cả của quí nhất là chất xám cũng đội nón ra đi(ví dụ lao động xuất khẩu hết hợp đồng lại trốn ở lại Hàn Quốc có đến hàng ngàn). Thành ngữ Việt đơn giản vậy mà không hề tầm thường.
-
Phát Hiện Lại Gốc Của Bài Việt Nhân Ca (Bài Ca Của Người Việt)
Lãn Miên replied to thaochau's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Theo nhóm nghiên cứu thời tiền sử của cụ Đỗ Tòng, cuốn “Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh tuyền” để ở đền Hùng, Phú Thọ, nội dung cho thấy nước Văn Lang tồn tại 2622 năm qua 18 triều đại, đều lấy họ là Hùng, tôn xưng là Lang Vương, Long Quân. (Đỗ Thành phân tích chữ Lệnh Doãn ở nước Sở chính là “Lệnh Doãn ”=Loãn=Lang=Lãnh=Lớn, là một chức Quân). Theo cuốn phả trên cho biết, dưới thời cháu của Triệu Đà là Minh Vương đã cho đem chôn 114 ấn tỷ truyền quốc của nhà Hùng, chứng tỏ nhà Hùng có 114 đời kế tiếp nhau làm vua qua 18 triều đại lớn. Tại sao đang làm vua trên đất Lĩnh Nam xưa của Hùng Vương mà lại phải đem chôn ngọc tỷ đời trước của dòng nhà Hùng? Là vì như sử ghi, nhà Tần chiếm được đất Lĩnh Nam của nhà Hùng, nhưng đến thời Tần mạt, nông dân ở Trung Nguyên nổi lên khởi nghĩa với lãnh tụ Trần Thắng, Triệu Đà thừa cơ đó lãnh đạo Lĩnh Nam giành lại độc lập cho đất Việt, lập nên Nam Việt quốc (204-111BC tồn tại 93 năm), đô ở Phiên Ngung, hoàn toàn độc lập với Tần-Tây Hán quốc, bởi vậy hai đời đầu của nhà Triệu là Triệu Đà xưng Nam Việt Vũ Đế ( 204-137 BC), con Triệu Đà thì Triệu Thủy (Triệu Trọng Thủy ?) chết khi chưa được truyền ngôi, con thứ Triệu Muội tiếp ngôi xưng Nam Việt Văn Đế ( 137-122 BC), xưng đế thể hiện độc lập hoàn toàn với Tây Hán, nhưng vẫn rất mềm mỏng trong quan hệ với nhà Hán. Lại còn cho dân chạy loạn từ Trung Nguyên di cư xuống Lĩnh Nam. Đến đời cháu Triệu Đà là Triệu Anh Tề , nhà Hán lấn lướt càng mạnh, Nam Việt trong quan hệ đối ngoại mềm mỏng chịu nhún chỉ dám xưng là Vương, nên từ đời ba đến đời năm, Nam Việt quốc chỉ có Vương, chịu làm phiên thuộc của Tây Hán. Nam Việt Minh Vương Triệu Anh Tề, như đã lường trước nguy cơ trước sức mạnh xâm lược của nhà Hán, đã cho đem chôn 114 ngọc tỷ các đời của dòng Hùng, là để bảo vệ di sản dòng Hùng khỏi tay Hán. -
Phát Hiện Lại Gốc Của Bài Việt Nhân Ca (Bài Ca Của Người Việt)
Lãn Miên replied to thaochau's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Người chép viết: Việt nhân ôm chèo mà ca, ca từ nói: “…. “ . Đây là bản gốc bài “Việt nhân ca”, nhưng câu chép ngắt đoạn bằng dấu phẩy không đúng: 越人拥楫而 歌,歌辞曰:‘ 滥兮抃草滥予,昌枑泽予昌州州,饣甚州州焉乎秦胥胥,缦予乎昭,澶秦踰渗,惿随河湖 。’ Đỗ Thành sửa lại cho đúng ngắt câu, Đỗ Thành viết: 《 Nay tôi xin thử phục nguyên bài ca Việt trình bạn đọc. Xin trình bày lại và xếp theo ý tôi: 滥 兮 抃 草 滥 予 昌 枑 泽 予 昌 州 州 飠 甚 州 焉 乎 秦 胥 胥 缦 予 乎 昭 澶 秦 踰 渗 惿 随 .. 河 湖。》 [ Hoàn toàn chính xác, nhưng sẽ không thể dịch được đúng nghĩa bài ca nếu cứ theo nghĩa từng chữ Hán như từ điển mà dịch. Ví dụ chữ Xương ở bài “Việt nhân ca” chỉ là mượn âm để ghi chữ Thương, vì biểu ý của chữ Xương nghĩa là Thịnh Vượng . Chữ Xương 昌 là chữ do nhà nho đặt ra, ám chỉ Thịnh Vượng, ghép bằng hai chữ Viết 曰, chẳng tá âm “ương” nào cả, mà lại đọc là Xương. Chữ Viết 曰nghĩa là Nói , hình tượng chữ Viết 曰là cái miệng chữ khẩu 口có cặp môi là nét vạch ngang . Van=Viết=Vân=Và (tiếng Quảng Châu)=Vân Vân=Van Vỉ=Ví Von= Văng, chỉ dùng cho trường hợp “văng tục”. Nói=Na (tiếng Nhật là “ha-Na-xư”) =Nài=Năng, nên có từ đôi Nói Năng, Van Nài. Chữ Viết 曰nhỏ ở trên (ý là số ít, là kẻ trên tức quan nói), chữ Viết 曰to ở dưới ( ý là số đông, là kẻ dưới tức dân nói). Ghép hai cái Nói thành chữ Xương昌, đúng địa vị trên dưới, mà lại mang nghĩa là Thịnh Vượng thì chỉ có là trong trường hợp kẻ trên và kẻ dưới đồng thuận có lý, tức có tự do phản biện cho ra nhẽ để đạt đồng thuận có lý thì mới đạt Thịnh Vượng. Trường hợp bài “Việt nhân ca” cổ xưa này nếu cứ theo nghĩa chữ mà dịch thì khi ấy sẽ là Dịch=Diệt (như Đỗ Thành nói). Diệt nghĩa là mất đi, nhưng lý thú là trong cái mất đi ấy lại có thể phát hiện được “Dấu nét Việt”=Diệt. Nên ta thấy nhiều từ Việt cổ không còn được dùng trong Tiếng Việt nữa, lại vẫn còn dùng ở ngôn ngữ láng giềng.] Đỗ Thành viết tiếp: 《 Ký âm tiếng Việt của bài ca được ghi lại là: 滥 兮 抃 草 滥 予 Lạm hề biện thảo lạm dư Giải tự: Lạm=Nam=Năm, Hề=Hầy=Nầy=Này, “Biện Thảo”=Bảo, Dư=Xừ=Xưa . Giải thích: ví dụ câu trách “kém bỏ xừ !” (nghĩa là kém quá, bỏ đi, vì cách đó quá xưa rồi). 昌 枑 泽 予 昌 州 州 飠 Xương hằng trạch dư xương châu châu thực Giải tự: Xương=Sương (tiếng Hã Tĩnh)=Thương, Hoằng=Hoàng, “Trạch Dư”=Trứ=Tứ=Tó (tiếng Triều Châu)=Tả=Trá=Trở=Trái=Trổ=Tró=Chỏ (tiếng Quảng Châu)=Dó=Dối=Dủa (tiếng Bắc Kinh). Giải thích: Ở Việt có làng Kẻ Trổ, cũng có làng Kẻ Tró. “Chít khăn để Trở” tức là chit khăn tang, nó trái với chit khăn bình thường. Lật Trở cái bánh đa đang nướng tức lật Trái cái bánh đa đang nướng. “Trái Dó Trở Trời” thì sinh bệnh tức trái tự nhiên thì sinh bệnh, chứ không phải gặp gió từ bên trái. Dối Trá là nói trái sự thật. Trứ danh là tên nổi hẳn, trái với những tên bình thường. Giải tự: Châu Châu = Chiều Chiều, Thực= Xực (tiếng Quảng Châu)= Xưa 甚 州 焉 乎 秦 胥 胥 Thầm châu yên hô tần tư tư Giải tự: Thậm=Sẫm=Sớm, Châu=Chiều, Yên=Em, “Hô Tần”=Hận, Tư Tư = Tương Tư 缦 予 乎 昭 澶 秦 踰 渗 惿 随 Mạn dư hồ chiêu thìn tần du sâm, đề tùy hà hồ Giải tự: Mạn=Mà, Dư=Ư=Ai, “Hô Chiêu”=Hiểu, Thìn=Thẳng=Đặng, Tần Du = Tình Duyên, Sâm=Sâu, “Đề Tùy”= Đùy=Đầy .. 河 湖 …hà hồ 。 Giải tự: Hà=Hò, Hố=Hớ. Như vậy, nghĩa Việt của bài ca như sau: Năm nầy bảo nămxưa Thương Hoàng tử thương chiều chiều xưa Sớm chiều em hận tương tư Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy. ...Hò Hớ Theo khảo cứu của tôi thì Việt nhân ca là thơ lục bát của tiếng Việt, phù hợp với câu hò củadân ca Việt. Nếu thể hiện bài ca bằng thể lục bát ngày nay thì sẽ là: Hò... ... hớ... Năm nầy bảo với năm xưa Thương chàng hoàng tử thương chiều chiều xưa Sớm chiều em hận tương tư Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy. 》 [ Tôi xin mạn phép xếp lại cho vần: Hò…hớ… Năm này bảo với năm xưa Thương hoàng tử tự chiều xưa, thương nhiều Tương tư em hận sớm chiều Mà ai hiểu đặng tình yêu sâu đầy ] -
Bách Việt Nguồn: [ www.cqvip.com/qk/80164…] Hội nghiên cứu sử dân tộc Bách Việt Trung Quốc , thành lập năm 1980, mỗi hai năm tổ chức một lần hội thảo trong nước hoặc quốc tế, chuyên đề Bách Việt . Hội do đoàn thể nghiên cứu học thuật có tính toàn quốc thuộc khoa nghiên cứu nhân loại học Học viện nhân văn Đại học Hạ Môn phụ trách, văn phòng tại phòng 303 tầng 3 Bảo tàng nhân loại học Đại học Hạ Môn. Hàm nghĩa “Bách Việt ”: Bách Việt còn gọi là Việt Tộc hoặc Cổ Việt Nhân, là tên gọi dân tộc cổ đại vùng Đông Nam và Nam TQ. Tên Bách Việt có ghi sớm nhất trong sách Lã Thị Xuân Thu, văn viết “Dương Hán chi nam, Bách Việt chi tế” nghĩa là phía nam đất Hán là đất Bách Việt.. Các nhà sử học cho rằng dân tộc Bách Việt không phải đơn thuần là một dân tộc mà là tên chung cho nhiều dân tộc. Nguồn gốc là dân tộc cổ đại bản địa có lịch sử rất lâu đời. Như Nghiêu, Thuấn, Vũ trong truyền thuyết chính là tiên dân Bách Việt mà người đời sau gọi là Man, Miêu. Thời Thương sử thư có ghi lại hoạt động của dân tộc Việt. Cái tên Việt là do lấy tên công cụ và binh khí của họ là “Dương Việt “ là tên chung nhất. Không gian phân bố của họ rất rộng. Bộ phận gần Hoa Hạ nhất gọi là Ư Việt, nhưng họ rõ rang khác hẳn Hoa Hạ. Do Việt Tộc có nhiều chi hệ, lại phân bố rất rộng nên sử thư cuối thời Chiến Quốc gọi chung họ là Bách Việt. [ Đoạn trên nói Dương Việt 扬 越 là tên gọi công cụ đồng thời là binh khí, mệnh danh cho Việt Tộc. Bản thân chữ Dương Việt 扬 越 theo biểu ý của chữ là Giơ Vẹt (QT Tơi-Rỡi: Giơ Vẹt = Dương Việt) . Vẹt là cái rìu đá hình vuông dẹt ( QT Lướt: “Vuông Dẹt” = Vẹt, mà khảo cổ Quảng Tây gọi là cái “xẻng đá”, Tiếng Việt còn có các dụng cụ khác như cái bàn Vét là công cụ làm nông, cái Vá làm bằng miếng vỏ gáo dừa ] Sử thư gọi chung dân phương Nam là Man hoặc Tam Miêu, họ có chung cội nguồn sâu xa với Bách Việt. Đại khái đến đầu thời Thương, dân tộc vùng Bách Việt đã từ Man, Miêu phân chia ra nhiều dân tộc có tên gọi khác nhau, như theo《 Dật Chu thư. Vương Hội giải 逸 周 书• 王 会 解》 là các tên Khu Thâm 沤 深, Việt Khu 越 沤, Đặng 邓, Quế Quốc 桂 国, Tổn Tử 损 子, Sản Lý 产 里, Bách Bộc 百 濮, Cửu Quốc 九 国, Đông Việt 东 越, Âu Nhân 瓯 人, Ư Việt 于 越, Cô Muội 姑 妹, Thả Âu 且 瓯, Cộng Nhân 共 人 v.v. đều nằm ở đất phía Đông hoặc phía Nam vương triều Thương Chu, đại bộ phận tộc xưng trên đều có quan hệ với hệ thống Bách Việt. Thời kỳ Tây Chu, danh xưng Việt 越 đã xuất hiện phổ biến . Ngoài sách trên, sách 《Chu lễ. Đông quan khảo công ký 周 礼• 冬 官 考 工 记》 có danh xưng Ngô Việt “吴 粤”; sách 《Trúc thư kỷ niên 竹 书 纪 年》 ghi Chu Thành Vương năm thứ 24 ( 1040 BC) có “Ư Việt lai tân 于 越 来 宾 khách Ư Việt đến thăm”, trong đó có “吴” tức Ngô Quốc, thuộc một chi của Bách Việt; có “Ư Việt 于 越” tức tộc xưng Việt Quốc. Ngoài đó ra trong sách 《Chu lễ. Chức phương thị 周 礼• 职 方 氏 》 còn nói đến tên gọi “Thất Mân 七 闽 ” . Đến thời Xuân Thu Chiến Quốc lịch sử Việt Tộc tiến vào thời kỳ lịch sử mới, người Việt vùng là Giang Tô, Triết Giang ngày nay kiến lập nên Ngô Quốc và Việt Quốc, quật khởi ở vùng hạ du Trường Giang tiến hành tham gia tranh bá, người Việt ở các vùng khác cũng rất là hoạt bát, bởi vậy lúc này danh xưng Việt Tộc đã đại hiển ư thế, danh xưng này được sử gia dùng phổ biến. Trong sử thư “Bách Việt” ngoài được gọi là “Dương Việt 扬 越 ” cũng còn được gọi là “Di Việt 夷 越 ” . [ QT Tơi-Rỡi thì Giơ= Dương = Dứ = Dí = Di , là một nôi khái niệm “hành động” . Giơ Vẹt = Dương Việt là mệnh danh cho Việt Tộc tức là Bách Việt. Kẻ dính Bách Việt lại để lập nên quốc gia là một người Kinh là Kinh Dương Vương, là kẻ dẫn đầu các chi hệ Bách Việt lập nên quốc gia Văn Lang ở Nam Dương Tử cách nay 5000 năm. Kẻ Dính = Kẻ Dẻo = Cần Keo = = Gắn Kết ( Tiếng Việt “Kẻ” nghĩa là người, tiếng Tày “Cần Keo” nghĩa là người Kinh. “Kẻ Dính” = Kinh .Thành ngữ “dính như bánh chưng” nói ý quyến luyến mãi ngày Tết . Truyền thuyết “Bánh Chưng bánh Dầy” đã nói rõ người Kinh là chủ bản quyền của bánh chưng. “Kẻ Dính” = “Câu Đinh” = Kinh. Sách Thủy Kinh Chú có ghi bốn ngàn năm trước công nguyên có quốc gia cổ đại gọi là Câu Đinh 勾 町 , mà diện tích bao trùm vùng rộng lớn ngày nay thuộc Vân Nam - Điền, Qúi Châu, Quảng Tây - Quế , Quảng Đông và Việt Nam ] Câu Ngô và Ư Việt trong thời Chiến Quốc đã bị diệt quốc. Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc xong tại đất cũ của Ngô Việt đặt thành quận Cối Kê. Tư Mã Thiên trong “Sử Ký” ngoài ghi lại sử của Ngô Việt thời Tiên Tần như các cuốn “Ngô thế gia”, “Việt thế gia” còn ghi các cuốn chuyên là “Nam Việt liệt truyện” và “Đông Việt liệt truyện”. Đến thời kỳ Tần Hán thì trong thư tịch xuất hiện các từ “Mân Việt”, “Đông Âu”, “Nam Hải”, “Nam Việt”, “Tây Âu”, “Lạc Việt”, “Điền Việt” v.v. là quốc danh hoặc tộc danh của người Việt. Những danh xưng này tuy xuất hiện muộn hơn trong lịch sử, nhưng không có nghĩa là những tộc hay nước này của Bách Việt đến đời Hán mới xuất hiện. Họ giống nhau là có một lịch sử phát triển lâu dài, cùng một dân tộc cổ xưa. [ Nhận định này đúng như cái tên chung của “cùng một dân tộc cổ xưa” mà trong Tiếng Việt có thể thấy bằng QT Tơi-Rỡi: Nam Việt = Nậm Việt = Nước Việt = Nác Việt = Lạc Việt = Lắm Việt = Trăm Việt = Bẵm Việt = Bẫm Việt = Bộc Việt = Bách Việt ] Trong Hán Thư 《汉书》 đã đem đổi chữ Việt “越” thành chữ Việt “粤”. Thế nhưng, thời kỳ này từ và chữ “Bách Việt 百 越” đa phần là dùng để chỉ người Việt ở vùng Lĩnh Nam. Ngoài đó ra còn theo phương vị để xưng hô như Đông Việt, Nam Việt, Tây Việt v.v. trong Sử Ký có chỗ dùng từ Đông Việt để chỉ Mân Việt, cũng có dùng để chỉ Đông Âu, nhưng có chỗ dùng chỉ tộc xưng và quốc danh xưng như Nam Việt, thành ra về tộc xưng có nhiều hỗn loạn. Sau khi Hán Vũ Đế thống nhất Tây Nam Di, Nam Việt và Mân Việt thì danh xưng Bách Việt và danh xưng các chi tộc Việt dần dần biến mất, người Việt tụ cư ở ven biển Đông Nam bị cưỡng bức di cư lên vùng Giang Hoài, có bộ phận thì bị Hán Tộc đồng hóa. Nhưng vẫn có bộ phận người Việt tản cư ở Giang Tây, An Huy, Giang Tô, Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, lui vào các vùng núi và bị gọi là Sơn Việt “山 越”. Sơn Việtlà hậu duệ của Bách Việt. Từ thời Đường về sau danh xưng Sơn Việt cũng biến mất.
-
Khảo cổ nói gì Cuốn sách “Nam Man bất man” NXB Bình luận học thuật , Trung Quốc, năm 2009 (nguồn: Mạng tiếng Hoa) Đôi điều về tác giả: Trương Trấn Hồng 张 镇 洪, sinh tháng 12 năm 1938 ở Đông Oản, Quảng Đông. Giáo sư khoa nhân loại học trường Đại học Trung Sơn. Thành viên Viện văn sử tỉnh Quảng Đông, phó hội trưởng Hội nghiên cứu văn hóa Chu Giang tỉnh Quảng Đông, chủ nhiệm ủy ban nghiên cứu khảo cổ Lĩnh Nam. Tháng 7 năm 1963 sau khi tốt nghiệp chuyên khoa động vật học Đại học Trung Sơn, ông được phân công về phòng nghiên cứu cổ nhân loại thuộc Viện nghiên cứu khoa học Trung Quốc tại Bắc Kinh. Tháng 11 năm 1973 ông được điều đến công tác tại đội khảo cổ thuộc Bảo tàng tỉnh Liêu Ninh. Tháng 1 năm 1985 ông được điều về giảng dạy tại khoa nhân loại học Đại học Trung Sơn, Quảng Châu. Lời nói đầu: 珠江是岭南地区一条最大的河流,它覆盖了云南、贵州、广西、广东四省区,其中一些支流的源头可追溯到湖南、江西、福建境内,珠江文化就是指存在于珠江 流域的各种文化。本书介绍的是珠江流域史前时期的文化。 岭南地区一直都被视为蛮荒之地。所谓蛮荒意为与中原地区相比,岭南地区生产落后,经济不发达,民风粗野,不够开化等等。其实不然,大量的考古发现表 明,早在史前时期,岭南地区已经存在丰富的文化,在人类起源、农业和家畜饲养起源、原始宗教和艺术的起源等方面都有过辉煌的成就。数十年来,考古资料日益 丰富,幷且今后还会不断有更新、更重要的发现。虽然目前还不能说珠江流域史前文化的面貌、珠江流域的史前史已经完全清楚,但我们基本可以断言:岭南地区不 是蛮荒之地——南蛮不蛮。正因为史前时期有过灿烂辉煌的文化,珠江流域在各个历史时期,特别是近、现代历史上,在中华民族文化的发展中都起着先锋作用,这 正是文化沉淀深厚的表现。 Châu Giang là con sông lớn nhất khu vực Lĩnh Nam, nó chảy qua bốn tỉnh Vân Nam,Qúi Châu, Quảng Tây, Quảng Đông, các chi lưu của nó thì bắt nguồn từ Hồ Nam, Giang Tây, Phúc Kiến. Văn hóa Châu Giang là nói các văn hóa tồn tại ở lưu vực sông Châu Giang. Cuốn sách này là nói về các văn hóa thời tiền sử ở lưu vực Châu Giang. Khu vực Lĩnh Nam xưa nay bị coi là “man hoang chi địa”. Cái gọi là “hoang man” có nghĩa là so với Trung Nguyên thì khu vực Lĩnh Nam sản xuất lạc hậu, kinh tế không phát đạt, dân phong thô dại, chưa được khai hóa v. v. Kỳ thực thì không phải vậy, số lượng lớn khảo cố đạt được đã chứng tỏ rằng sớm từ thời tiền sử khu vực Lĩnh Nam đã là một nền văn hóa có thành tựu huy hoàng là khởi nguồn của nhân loại, khởi nguồn của nông nghiệp và nuôi gia súc, khởi nguồn của tôn giáo và nghệ thuật v.v. Chục năm trở lại nay, tư liệu khảo cổ ngày càng phong phú với các phát hiện mới và quan trọng.Tuy chưa tả hết được diện mạo văn hóa lưu vực Châu Giang, nhưng, hoàn toàn rõ ràng về sử của thời tiền sử ở lưu vực Châu Giang, nên chúng ta cơ bản quả quyết rằng: khu vực Lĩnh Nam không phải là “man hoang chi địa”. Chính vì thời tiền sử có văn hóa huy hoàng sán lạn, nên lưu vực Châu Giang trong các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là trong lịch sử cận đại và hiện đại phát huy được tác dụng tiên phong trong phát triển văn hóa của dân tộc Trung Hoa, đấy chính là biểu hiện của sự lắng đọng sâu dày của văn hóa. Lời tựa, của giáo sư Dung , khoa nhân loại học Đại học Trung Sơn, chuyên gia đặc thỉnh của Bảo tàng dân tộc học Trung Quốc, có đoạn viết: Địa danh vừa lắng đọng văn hóa của quần thể cư trú vừa truyền lại thông tin nhất định về quần thể cư trú cụ thể, nó giúp cho việc phục nguyên diện mạo lịch sử của quần thể khi thiếu sót văn tự ghi lại. Ví dụ câu “man nhân sở cư viết động” của cổ nhân lưu lại , đến nay thì thấy trong lưu vực Châu Giang có vô cùng nhiều địa danh bắt đầu bằng “động” ( viết bằng chữ 洞 hoặc 峒 ), chỉ lấy riêng ở Hồng Kông vùng cửa sông Châu Giang đã có các địa danh: Mạt động, Cổ động, Sa Loa động, động Tân, Đại động, Hoàng Địa động, Kê Ma động, Nam Sơn động, Quan Âm động v.v. đây là những vùng sâu, xưa người Dao cổ đại từng cư trú. Lại cũng ở Hồng Kông còn rất nhiều địa danh khác mang tên kèm Hẹ, là nơi xưa người Hẹ từng cư trú.Duyên hải Hồng Kông còn có dân sông nước, họ là hậu duệ của người Việt cổ. Cho nên khi trong sách này có nói đến di chỉ Thâm Dõng (Dòng Sâu) ở HK phát hiện cả một công trường lớn khí cụ thời cuối đá cũ thì mọi người bàng hoàng nghi ngờ, đó là do họ không hiểu văn hóa sử thời tiền sử ở lưu vực Châu Giang, rằng thời đó ở đây dân cư đã đông, mật độ khá dày, sản xuất hưng vượng, bởi vậy mới cần chế tác nhiều chủng loại công cụ lao động như vậy, đó là hình thái xã hội, trình độ sản xuất biểu hiện trên thạch khí. [ Nhận xét này logis với tên địa danh là “động” bằng tiếng Việt mà ở Việt Nam cũng vô cùng nhiều địa danh bắt đầu bằng “động” như câu cổ “Đinh Bộ Lĩnh sinh ở động Hoa Lư”. Nhưng có bài của thạc sĩ sử học Việt Nam mới đây giải thích “ở Phú Thọ, Vĩnh Phúc có nhiều địa danh “động” là do thời Hùng Vương dân cư còn sống trong hang đá”. Tôi đã giải thích chữ “động” nghĩa là vùng, nhưng là vùng dân cư . Đó là do người Việt nói lướt ( dẫn đến “thiết” trong Thuyết văn giải tự) cả câu, câu chỉ nơi dân ở “Đông dân mà đất Rộng”= (thì nói lướt) = Động. Cũng còn vô cùng nhiều các địa danh ở Lĩnh Nam kèm chữ Kê ( nghĩa chữ thì là con gà) , là do mượn âm chữ Kê để ghi tên “Kẻ” trong tiếng Việt , Kẻ thường kèm tên các làng Việt cổ.Bởi tiếng Quảng Đông con gà thì gọi là Tu Cáy, y như tiếng Tày, chứ không phải gọi là Kê, ( từ Con Gà của tiếng Việt đã theo QT Tơi-Rỡi mà diễn biến: Con Gà = Con Cà = Con Kê = Cu Qué = Tu Cáy ). Diễn biến ấy của ngôn từ Việt cùng với những văn hóa khảo cổ vô cùng phong phú phát hiện chục năm lại nay ở Lĩnh Nam (Trung Quốc) mà cuốn sách này kể ra và phân tích (từ chương 1 đến chương 4), cùng với 23 chuyện truyền thuyết truyền miệng chỉ tồn tại trong dân gian Việt Nam như “Tấm Cám”, “Phù Đổng Thiên Vương” v.v trong cuốn sách chép lại vào thế kỷ 13 là cuốn “Lĩnh Nam chích quái” đã làm rõ ràng là cách nay hơn 4000 năm người Kinh của Kinh Dương Vương ( “Kẻ Dính” = Kinh, tiếng Tày thì “người Kinh” gọi là “cần Keo”, người gắn kết 15 bộ của Lạc Việt) đã dẫn đầu các dân tộc anh em để thành lập nên quốc gia Văn Lang “bắc giáp Động Đình Hồ, tây giáp Ba Thục, đông giáp Đông Hải, nam giáp Hồ Tôn”, như chính sử ghi, của 18 thời Hùng Vương ]. Chương 5 “Địa vị của văn hóa tiền sử Châu Giang trong văn hóa dân tộc Trung Hoa”, chương cuối của cuốn sách, có đoạn đại ý: Từ những tư liệu đã dẫn, chứng minh rằng cách nay 4 vạn năm vùng Quảng Đông là cái nôi của tiên dân người Việt cổ, rồi họ tỏa đi bốn hướng, nghiên cứu khảo cổ về đầu cốt chứng minh con người đã thiên di từ Nam lên Bắc, đông đúc lên ở lưu vực Hoàng Hà , rồi di cư cho đến khắp miền Hoa Bắc. Đến thời đá mới họ mới hội nhập với tiên dân của người Hoa Bắc hình thành nên dân tộc Hoa Hạ và dân tộc Đông Di, hai dân tộc này đi tiếp lên vùng Đông Bắc hình thành nên các dân tộc anh em khác. Những học giả này cho rằng khởi nguồn nhân chủng người Trung Quốc là ở phương Nam (Hoàng Tượng Hồng 黄 象 洪, năm 1988). [ Nhận định này cùng logic với câu tôi viết khi nhận xét cách đọc Hán tự theo “thiết” của Thuyết Văn Giải Tự là: Thời của Hứa Thận cách nay 2000 năm có lẽ ở Trung Nguyên cư dân toàn nói tiếng Quảng Đông. Và cũng logic với câu tôi viết: Muốn tìm từ nguyên của Hán ngữ thi lui về “cổ Hán ngữ”, muốn tìm từ nguyên của “cổ Hán ngữ” thì lui về Tiếng Việt. Cho nên chỉ tồn tại khái niệm “từ Việt-Hán” (từ nguyên là của Việt, ghép theo cú pháp của Hán, ví dụ như địa danh ở Hồng Kông viết trong đoạn trên có “Kê Ma động” thì từ nguyên của nó là “động Kẻ Ma”) chứ làm gì có khái niệm gọi là “từ Hán-Việt chiếm đến 70% trong Tiếng Việt” (!) ]
-
- 8
-
-
Nguồn gốc dân tộc Choang Bài của tác giả Lan Thiên Minh ở Vân Nam, đăng Văn Sơn nhật báo Tân nông thôn bản(原刊载于2012年2月22日《文山日报.新农村版》兰天明) Đa số các nhà n/c lịch sử và dân tộc học về dân tộc Choang đều cho rằng người Choang bắt nguồn từ người Việt cổ đại 古代的越人. “Hán thư. Địa lý chí” dẫn lời chú của Nhạn Sư Cổ: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê bảy tám nghìn dặm tạp cư Bách Việt, các tộc có họ riêng”. Bách Việt 百 粤 tức Bách Việt 百 越. Sách “Lã thị xuân thu. Thị quân biên” viết: “Vùng Dương Hán, Vân Nam là thế giới Bách Việt”. Đủ thấy là cổ đại vùng nam Trường Giang cư trú toàn là người Việt, có nhiều họ riêng nên sử gọi là “Bách Việt”. Tây Âu 西 鸥, Lạc Việt 骆 越 phân bố ở Quảng Tây và Quảng Đông đều là Bách Việt, là cội nguồn của dân tộc Choang ngày nay. Năm 221 Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất lục quốc tiếp đó là tiến quân vào Lĩnh Nam, từng gặp phải sự chống cự của người Tây Âu, sách “Hoài Nam tử. Nhân gian huấn” của Lưu An thời Hán và “Sử ký. Tần Thủy Hoàng bản kỷ” của Tư Mã Thiên thời Hán đều có ghi lại việc đó. Chứng tỏ thời đó người Tây Âu cư trú tại vùng này, Tây Âu và Lạc Việt ở xen lẫn nhau. Sách “Nguyên Hòa quận huyện đồ” và “Cựu Đường thư. Địa lý chí” có ghi, Qúi Châu thuộc lưu vực Úc Giang (nay là Qúi Huyện), Phiên Châu (nay là Quảng Đông Cao Châu Huyện) là “nơi cư ngụ của cổ Tây Âu và Lạc Việt” (tức Tây Âu và Lạc Việt ở xen lẫn nhau), “từ Tuyên Hóa Huyện trở về phía nam đều là đất của cổ Lạc Việt”. Sách “Cựu Đường thư. Địa lý chí” ghi : “Hoan Thủy tại Huyện Bắc, vốn là Dương Kha Hà, xưa gọi là Úc Tráng Giang tức Lạc Việt Thủy, có tên khác là Ôn Thủy, là đất của cổ Lạc Việt”. Chỗ gọi là “Hoan Thủy”, “Dương Kha Hà” nay là Bắc Bàn Giang, còn chỗ gọi là “Lạc Việt Thủy”, “Ôn Thủy” nay là Nam Bàn Giang, đây không phải là một con sông. Điều này chứng tỏ rằng lưu vực nam và bắc Bàn Giang tự cổ là nơi xuất thân của người cổ Lạc Việt. Sách “Linh ngoại đại đáp” của Chu Khứ Phi thời Tống viết: “Khâm dân có năm loại, một là thổ dân là chủng Lạc Việt tự xưa". Tức thổ dân Khâm Châu là người Lạc Việt cổ đại. Lại viết: “Ngôn ngữ thổ dân Khâm Châu dựa môi lưỡi tạp làm âm thanh, lạ không thể hiểu, vị chi Lâu Ngữ 萎 语”. Theo khảo chứng của các nhà ngôn ngữ học, cái gọi là “Lâu Ngữ 萎 语” có thể chính là Lạc Ngữ, tức là tiếng Choang ngày nay. Về mặt ngôn ngữ, tiếng Choang bảo lưu đặc điểm của ngôn ngữ người Việt cổ đại thể hiện rõ ở kết cấu ngữ pháp và nguồn từ vựng cơ bản. Mặt khác trong tập tục, người Choang cũng bảo lưu nhiều đặc trưng của dân tộc Bách Việt như xăm mình, ở nhà sàn, tôn sùng trống đồng, bói chân gà.
-
Đại từ nhân xưng trong Tiếng Việt xuất phát từ con số Một (ngôi thứ nhât) và con số Hai (Mai, là ngôi thứ hai. Từ ngôi Một có Một=Mỗ=Ngô=Ngộ=Người=Tôi=Tui=Tau=Tao=Ta=Nha=
=Nhà=Gia=Giả=Cả=Cau=Qua=Kẻ=Con=Cu=Kô=Mỗ=Một ( Cau là người Philippin dùng, Kô là người Nhật dùng, Qua là người Quảng Nam dùng). Từ ngôi Hai có Hai=Mai=Mày=Mừ=Mi (Mừ là người Tày-Thái dùng)
-
Zh.wikipedia Năm 40 (Đông Hán Quang Vũ Đế, Kiến Vũ niên 16) Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa công thủ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố v.v. . Man, Di hưởng ứng rầm rầm. Thái thú Hán triều là Tô Định tháo chạy khỏi Nam Hải quận. Hai Bà Trưng tổng cộng nắm giữ được 65 thành trì, rất nhiều quân nhân Lạc Việt thuận tùng Hai Bà, Trưng Trắc được tôn làm Trưng Vương, sử gọi là Trưng triều, phạm vi hoạt động nam tới Trung bộ Việt Nam, bắc tới Khâm Châu, Bắc Hải, Phòng Thành thuộc Quảng Tây v.v. 《 Hậu Hán thư, quyển 24 , Mã Viện liệt truyện và quyển 86, Nam man tây nam di liệt truyện 》 đều có ghi về chiến trận của Hai Bà Trưng chống quân Đông Hán xâm lược, và ghi là Hai Bà tử trận, nhưng không có ghi chuyện Mã Viện trồng cột đồng chia ranh giới đất Hán. Mãi đến thời Đường có Lý Diên Thọ soạn viết cuốn 《 Nam sử 》 mới ghi “Mã Viện sở thực nhị đồng trụ, biểu Hán gia giới sở dã 馬 援 所 植 二 銅 柱,表 漢 家 界 處 也 Mã Viện từng trồng hai cột đồng để ghi ranh đất nhà Hán” . 《 Tân Đường thư 》 lại ghi Mã Viện trồng năm cột đồng. Về sau các sách của VN như 《 Việt sử lược 越 史 略 》,《 Đại Việt sử ký toàn thư 大 越 史 記 全 書 》, 《 Khâm Định Việt sử thông giám cương mục 欽 定 越 史 通 鑑 綱 目》 đều có ghi chuyện Mã Viện trồng cột đồng. Cuốn 《 Việt điện u linh tập 粵 甸 幽 靈 集 》 truy xưng Bà Trưng là Trưng Thánh Vương 徵 聖 王. Có đến mấy chục vị nữ tướng của Hai Bà được tôn thờ làm Thành Hoàng ở các làng VN. Ngày 14-03-1959 (nhằm ngày Giỗ Hai Bà 6 tháng Hai âm lịch) VNDCCH phát hành bộ tem Hai Bà Trưng gồm hai tem hình Hai Bà cưỡi voi thống soái nghĩa quân. Cùng ngày, VNCH phát hành bộ tem Hai Bà gồm bốn tem hình Hai Bà cưỡi voi đánh trận.
-
Khi n/c nhân chủng qua gen phải hiểu một quan niệm khoa học đầu tiên quan trọng là: “Nhiễm sắc thể Y” hàm chứa 78 gen là di truyền từ Bố, công năng chủ yếu của 78 gen này chỉ là khởi động phát dục của Nam tính để chế tạo tinh trùng, sau phát dục thì tính cách Nam, tính khí quan v.v. đều do các nhiễm sắc thể khác (có tới 2-2,5 vạn gen) quyết định, những nhiễm sắc thể này đều đến do Tổ, là sự hỗn hợp của hai bên Bố và Mẹ. [ Ổ là cái chung nhất. Động vật đã tiến hóa từ dưới nước, đến lưỡng cư như Nòng-Nọc, rồi đến sống hẳn trên cạn, rồi mới đến thành chim biết bay. Nôi của các loài có trước chim gọi là Ổ, còn Nôi của loài chim gọi là Tổ, do lướt “Từ Ổ” = Tổ, tức đã đi từ mặt đất rồi mới biết bay thành chim. Do tổ chim thường làm trên Cây = Cao nên Tổ của chim còn được gọi là Sào 巢 và cái que giúp nối dài cánh tay để vói lên Cao cũng gọi là cây Sào. Tổ của chim gọi là Sào đã gợi ý cho người nguyên thủy làm Ổ = Chỗ = Ở = (Ư 於 = Âu 瓯 = Yêu = U = Vu 於, đều chỉ sự Ở như là trong cái để Đựng = Đường 堂) trên chạc cây cao để tránh thú dữ. Cây Sào (thủa ban đầu là một cây đơn có đẽo bậc để dễ bám mà trèo lên) có công năng đầu tiên là dùng để Trào=Trèo=Leo lên Sào mà ở (ngoài tránh thú dữ còn tránh được nước lũ Trào 潮 = Triều 潮 = Tràn lên cao), khi gặp lũ mới biết phát huy công năng thứ sinh của cây Sào là dùng để Trao=Chao==Chèo thuyền. Sào ở của người khác với Sào ở của chim là được làm Dàn=Dang=Ngang rộng ra thành một vuông bằng bặn không dốc, nên gọi lướt là “Sào Dàn” = Sàn. Thổ dân Indonexia gọi nó là “Tan-Ga”, thổ dân Việt gọi nó là “Sàn Nhà”, thổ dân Chăm gọi nó là “Thang-Giơ” và Việt nho viết bằng hai chữ “Đường Gia 堂 家” . Chữ Đường 堂 cụ thể chỉ cái nhà thiên về ý phần trong của nó, về sau Hán nho dùng chữ Đương Huynh Đệ 堂 兄 弟 để chỉ anh em cùng họ đằng nội. Từ đôi Sàn Nhà = Đường Gia là lối ghép từ đôi nguyên thủy, cái Trong có trước thì đứng trước, cái Ngoài có sau thì đứng sau. Khi người ta Dựng nhà bằng cây, tức Dựng cái để Đựng, cho con người, thì bao giờ cũng dựng cột kèo là cái trong trước, rồi mới đến làm mái và phên là cái ngoài, cái thiên ý ngoài gọi là Nhà=Da=Giỏ=Vỏ=Ván=Váy=Quây=Cót=Lót=Lều=Lán, (đều là những cái để Đựng). Thiên ý trong là Sàn=Giàn=Giường=Đường 堂 =(Trướng 帐 = Trong = Trung 中= Phùng 篷). Sau giai đoạn ở Sào làm dựa vào chạc cành có sẵn trên cây thì người nguyên thủy làm Nhà Sàn trên các cọc cắm trên nền đất. Cái Sàn để sinh hoạt trong nhà là làm bằng cách ghép Vỏ cây hoặc cật Nứ a sít lại với nhau gọi là Đan = Nan = “Tan” (trong từ “Tan- Ga” của thổ dân Indonexia) = =Sàn = Ván = Vỉ = Thỉ 屉 = Vì屉 = Vỏ = Giỏ = Giát, giống như những thanh Vì ghép sát nhau đỡ hay đựng cho ngói khi lợp mái nhà. Lúc này công cụ để bước lên Nhà Sàn không còn là một cây Sào nữa mà là cái “Thang” (trong từ “Thang-Giơ” của tiếng Chăm) làm bằng hai cây sào có những thanh ngang để tiện đặt chân bước lên, cái dụng cụ ấy gọi lướt “Thanh Ngang” = =Thang (ngày nay không còn dùng Nan hay Thanh để làm thang nữa nhưng vẫn gọi là Thang Máy). Hàng vạn năm trước khi Việt và Hán chưa gặp nhau, chưa biết nhau, thì do sinh thái phương Nam sông nước và sinh thái phương Bắc đồng cỏ đất khô là khác nhau, người Việt nguyên thủy ở Sào, người Hán nguyên thủy ở Huyệt, là nơi trên đồng cỏ mênh mông bằng phẳng có những rãnh đất khô sâu là vết nứt do động đất từ xa xưa để lại, người Hán nguyên thủy du mục trên đồng cỏ khoét vách rãnh đất khô đó thành hàm ếch làm chỗ ở tránh gió tuyết lạnh, người Việt gọi kiểu ở đó là ở Huyệt. Khi hội nhập hai nền văn hóa Nam với Bắc tại vùng đồng bằng khô Hoàng Hà, lúc đó Việt nho mới có từ đôi Sào Huyệt để nhấn mạnh chỉ chỗ ở của một tổ chức nhiều người (thiên về dùng cho bọn cướp). Gọi là Sào Huyệt 巢 穴 chứ không gọi là Huyệt Sào, vì Tiếng Việt từ Sào có trước, từ Huyệt có sau. Hán nho mượn từ đôi Sào Huyệt 巢 穴và dùng nguyên theo thứ tự ghép như vậy (nếu bạn gõ chữ Hán ngữ đúng thứ tự Sào Huyệt thì sẽ hiện lên hai chữ nho đúng thứ tự Sào Huyệt 巢 穴, còn nếu gõ Huyệt Sào thì máy tính sẽ không hiểu và không hiện lên hai chữ Huyệt Sào). Khi đang còn ở Sào 巢 người nguyên thủy cất xác chết trong hang núi cheo leo chứ chưa có tục đào Huyệt 穴 chôn xuống đất như khi đã chuyển sang sống nghề trồng trọt định cư. Huyệt cũng là cái Ổ, nhưng là Ổ chôn xác chết: Ổ=Hố=Hốc=Hang=Huyệt, “Hố chôn một thây Việt” = Huyệt. Về sau không ở Huyệt nữa thì người Hán nguyên thủy du mục làm nhà ở bằng may các tấm da cừu (về sau lại làm bằng các tấm vải bạt) thành cái lều hình chóp tròn. Việt nho gọi cái lều vải ấy bằng từ đôi theo thiên ý “Trong” là cái Trướng Phùng 帐 篷 (đây là một từ đôi của Việt nho, Hán ngữ hiện đại vẫn dùng y nguyên thứ tự từ đôi Việt này, nếu gõ ngược là Phùng Trướng thì máy sẽ không hiện hai chữ Trướng Phùng 帐 篷 này. Bởi vì từ nguyên của từ “ở Trướng Phùng” chính là từ “ở Trong Phên” của cái nhà tre Việt. Người Việt nguyên thủy đã đem cái từ ở trong nhà tre của Việt là “ở Trong Phên” để gọi cái ở trong lều vải của người Hán nguyên thủy là “ở Trướng Phùng” . Từ này có lẽ xuất hiện sau khi người Việt đã bán Vải cho người Hán, trước khi người Hán học được cách trồng bông dệt vải của kỹ thuật nông nghiệp của người Việt, vải bán theo số lượng từng Bó, từng Bó để dễ chất lên lưng Lừa hay Lạc Đà của người Hán, nên người Hán gọi vải là Bố 布. Và Bố=Bạt. Nhưng thiết kế lều vải hình chóp tròn thì là đúng bản quyền của người Hán, trước đó người Việt chưa từng nhìn thấy kiểu ở như vậy. Người Việt nguyên thủy chỉ biết Nhà Sàn (như ở di chỉ Hà Mẫu Độ thuộc Triết Giang có niên đại một vạn năm đã phục dựng nhà sàn bằng cây , có mái lá cong ) và chỉ biết “Mâu Lô 茅 廬” (lều bằng cỏ lau) mà Lưu Bị ở thủa hàn vi.]
-
- 2
-
-
QT Tơi-Rỡi để tạo ngôn từ cho thấy: Ổ=Hộ=Hệ=Họ=To=Tổ=Tộc. Đông người sinh sống tập trung ở một vùng đất thì vùng đó gọi là “Đất đông Hộ” = Đô, như QT Lướt để tạo ngôn từ cho thấy. Những đất tập trung đông người là Đô 都 = Chỗ = Chạ = Chợ = =Chỉ 址 = Thị 市(Hán ngữ mượn chữ Thị 市 để gọi cái Chợ) là nơi để người ta Giao lưu trao đổi Giữa người với người, là Chỗ Trao = Chỉ Giao (Chỉ Giao 址 交 viết theo ngữ pháp Hán thì là Giao Chỉ 交 址). Từ nguyên của Giao 交 là một từ cổ xưa hơn nữa từ thời nguyên thủy, chỉ động tác giao hợp của sinh thực khí đực và cái (như hình vẽ của giáp cốt văn), đó là từ Lẹo (như hai con bướm tằm hay hai con chó đang Lẹo nhau). Lẹo=Đéo=Chéo=Chập=Vập=Vào=Trao=Giao=Giữa=Gian=Dâm=Giấm ( dương thực khí khi đã vào bên trong âm thực khí thì nó giao cái dịch nó tiết ra cho trứng để giấm trứng cho đến khi trứng nở, như giấm trái cây hườm vài ngày cho đến khi nó chín). Từ Giao Dịch là động tác rất cụ thể của tính dục đã trừu tượng hóa lên thành từ Giao Dịch trong thương mại (chỉ có điều là viết bằng chữ Dịch 易 biểu ý khác chứ không phải là chữ Dịch 液 là nước tinh dịch). Hoạt động mua bán thường có người thứ ba chen vào Trong Giữa bên bán và bên mua, người làm Trong Giữa ấy viết bằng chữ Trung Gian 中 間 cho việc Giao Dịch. Gian 間 là Giữa nên nó ở bên trong, nên phần trong của cái nhà thì phải có nhiều Gian. Từ lướt “Đất đông Hộ” = Đô. Từ ghép Kinh Đô 京 都 là một từ viết tắt từ cái nghĩa đen là “nơi người Kinh quần cư là Đất đông Hộ”. Như vậy từ Kinh Đô là một từ thuần Việt của tiếng Kinh. Người Kinh còn tự xưng mình là Kẻ, nên làng Việt cổ nào cũng có tên đầu là Kẻ (tiếng Tày gọi Kinh là Keo), vì vậy Kinh Đô còn gọi là Kẻ Chợ, do Đô=Chỗ=Chạ=Chợ=Chỉ=Thị. Một người thì gọi là Cha, có khi còn gọi là thằng Cha, đông người thì nặng hơn nên gọi là Chạ, đi lang chạ là đi lang thang với nhiều người (chỉ gái điếm) Đô=Chợ nên chữ Đô 都 (= 者邑) viết bằng ghép chữ Cha 者 và chữ Ở 邑, đọc lướt “Cha Ở” = Chợ. Kẻ=Cả=Cha=Ta=Gia=Giả 者. Ở=Ổ=Ấp 邑. Chợ thì mới là cái từ gốc có trước, tại Chợ thì đương nhiên là có rất đông hộ bán hàng, Chợ là cái “Đất đông Hộ” nên người Việt mới lại phải lướt “Đất đông Hộ” = Đô, như vậy Đô chỉ là một cách gọi khác, có sau, hệ quả của cái Chợ là “Đất đông Hộ”. Hán nho mượn chữ Đô 都 có sẵn này của Việt nho (mà Hán phát âm 都 là “tu”). Vậy rõ ràng là muốn tìm từ nguyên của từ “tu 都” này của Hán ngữ hiện đại thì phải tìm về từ “Đô 都” của cái mà họ gọi là “cổ Hán ngữ”; muốn tìm từ nguyên của Đô 都 trong “cổ Hán ngữ” thì tìm về Tiếng Việt, đó là từ Chợ 都 ( “Cha 者 Ở 邑” = Chợ ). Thuyết Văn Giải Tự hướng dẫn đọc chữ Giả 者 (như “tác giả”, “học giả”) là lướt “ Chi 之 Dã 也”= Cha; đọc chữ Ấp 邑 là lướt “Ư 於 Cấp 汲”= Ấp, nhưng Ấp nghĩa là đất Ở do vua ban, nên chữ Ấp cũng đọc là Ở. Chữ mà về sau Hán nho đọc là “tu 都” (Đô 都) vốn xưa là của người Việt, Việt nho đọc là Chợ 都, do lướt “Cha Ở” = Chợ
-
Hot...hot...bầu Kiên Và Đường Dây Bị Vịn
Lãn Miên replied to HungNguyen's topic in Thông Tin Cập Nhật
http://vn.news.yahoo.com/%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-20-000-usd-nh%E1%BB%9D-ch%E1%BB%89-%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng-cho-044600737.html Câu chuyện đẹp như trong cổ tích xảy ra trên đường phố California, Mỹ, khi một cô gái nghèo mang bệnh nhờ vô tình giúp đỡ một tỷ phú tốt bụng mà đã có đủ tiền để qua cơn hiểm nghèo. Tỷ phú Ty Warner, Jennifer Vasilakos, cô gái bị suy thận đã chỉ đường giúp ông và bức thư ông đính kèm tờ ngân phiếu 20.000 USD. Ảnh: aboutbeanies, The Sideshow The Sideshow mới đây cho hay chuyện xảy ra hồi tháng trước. Tỷ phú Ty Warner dừng lại hỏi đường ở Santa Barbara, California, và gặp Jennifer Vasilakos. Trong khi ông Warner không biết rõ ông phải đi đường nào thì Vasilakos cũng không nhận ra người mình đang giúp đỡ là ông vua sản xuất đồ chơi Mỹ. Vasilakos đang đứng ở ngã tư đường để kêu gọi mọi người quyên tiền giúp cô chữa bệnh. Cô bị suy thận nhưng không kiếm đâu ra đủ 20.000 USD để phẫu thuật cấy ghép tế bào gốc. Vasilakos đã kể lại cuộc gặp gỡ định mệnh giữa hai người trên blog của mình. "Tôi vẫn thường gặp những người lạ ngẫu nhiên hỏi đường. Không bỏ lỡ cơ hội, tôi đưa cho ông ấy tờ giấy giới thiệu về mình và ông ấy ủng hộ tôi 50 USD. Khi ông ấy lái xe đi, tôi tưởng rằng cuộc gặp gỡ đã khép lại. Vậy mà một giờ sau ông ấy quay lại. Kéo kính cửa sổ xe xuống, ông ấy đưa tay ra và giới thiệu bản thân. Tôi rất bất ngờ khi nhận ra tên của ông ấy. Ông ấy rất tốt bụng và chân thành khi nhìn thẳng vào mắt tôi. Ông ấy nhắc đi nhắc lại rằng sẽ giúp đỡ tôi. Và việc gây quỹ của tôi đã thành công. Từ giờ tôi không cần phải lo lắng nữa. Ông ấy nói sẽ gửi cho tôi một tấm ngân phiếu khi trở về văn phòng tuần này". Tỷ phú Warner đã giữ đúng lời hứa. Vasilakos, một người bán thảo dược kiêm giáo viên dạy Reiki, một phương pháp dưỡng sinh và trị bệnh, nhận được một bưu phẩm hôm 16/7 với tờ ngân phiếu 20.000 USD và một lá thư viết tay từ ông Warner. "Tôi chưa bao giờ lạc đường cả nhưng số phận đã khiến tôi đi lạc và nhờ cô dẫn đường. Phần còn lại của câu chuyện, tôi hy vọng sẽ là một cuộc đời mới tươi đẹp dành cho cô", bức thư viết. Vasilakos đã khóc ngay sau khi đọc những dòng nhắn nhủ trên. "Tôi vô cùng biết ơn ông Ty Warner và mọi người đã ủng hộ tôi bằng tình yêu và những lời cầu nguyện", cô nói. Tấm ngân phiếu được sử dụng một vài tuần sau đó. Vasilakos đã chọn một bệnh viện nước ngoài để bắt đầu cấy ghép tế bào gốc tạo huyết hay còn gọi là ghép tủy. Cấy ghép tế bào gốc tạo huyết là lấy một tế bào trong máu hoặc tủy xương có khả năng tái tạo và biệt hoá thành nhiều loại tế bào khác để thay thế cho các tế bào đã bị mất đi. "Sau cuộc gặp gỡ tình cờ với Jenifer, tôi đã tự tìm hiểu thêm về nhu cầu tế bào gốc của cô ấy. Tôi đã rất sốc khi biết rằng cách điều trị đặc biệt này không có ở Mỹ", tỷ phú Warner cho biết trong thông báo đến giới truyền thông. "Tôi hy vọng chúng ta có thể tiếp thu phương pháp chữa bệnh cứu người này để chúng trở nên phổ biến hơn và giúp đỡ những người như Jenifer". Anh Ngọc -
Chỉ có người Việt, Tiếng Việt mới gọi xứ sở của mình là Đất Nước. Người Việt vẽ ra cái bầu biểu tượng Âm Dương khái quát sự hình thành Vũ Trụ, cũng như Đất Nước, cũng như Con Người. Mỗi con người cũng là một tiểu vũ trụ. Trong cái bầu ấy là hình vẽ hai con Nòng Nọc xoắn xuýt nhau. Từ Nòng-Nọc là một từ dính, bởi nó là do QT Nở mà sinh ra từ một cái Nòi tức là từ cái NÔI khái niệm, khi đang trong quá trình tách đôi ở trong bọc thì nó đang là từ dính Nòng-Nọc, vậy Nòng-Nọc là chỉ một con, gọi là con Nòng-Nọc, một con thì trong cấu tạo của nó cũng đã là có hai phần Âm Dương cân bằng, chỉ khi tách hẳn thì mới thành hai con là thành con Nòng (con Đực) và con Nọc (con Cái). Tương quan giữa Đất và Nước cũng giống như tương quan giữa Dương và Âm. Con Nòng-Nọc là nói chung, khi nó chưa ra khỏi bầu nước, khi đứt đuôi nhảy ra khỏi bầu nước thì rõ ràng thành con Cóc Đực và con Cóc Cái. Nhưng về mặt ngôn từ thì từ Nòng Nọc cũng lại là từ nguyên của từ Đất Nước: Đất là nơi ở của con người, nơi con người đậu đến đó, đỗ đến đó, Đất là Chỗ=Chỉ (địa chỉ) của con người. Con chó trước khi nằm nó còn quay thân một vòng tròn xác định cái chỗ nằm của nó rồi mới đặt thân nó nằm xuống, đó là đất ở của nó, cũng như cái ổ. Vì vậy ngôn từ “đất” bắt đầu từ chữ O tròn (chữ O cũng là cái lõi của NÔI), đúng với câu “Mẹ Tròn Con Vuông”, Tròn là dương, có đầu tiên để sinh ra mọi thứ. Nôi khái niệm của “Đất” là trong từ NÒNG, như sau: Đất=Đậu=Âu=Ấp=O=Ở=Ư=Khư=Khu=U=Vu=Ụ=Ổ=Tổ=Thổ=Đỗ=Địa=Đai=Đồng=Nông=NÒNG=Nà=Nương=Ruộng=Vuông=Văn=Vườn=Vùng=Lũng=Lộ=Lục=Lang=Làng=Long=Vòng=Vàng=Hoàng=Hồng=Vồng=Giồng=Rồng=Động=Đàng=Đường=Đê=Đất. (“Nà” tiếng Tày nghĩa là Ruộng. Ở Vân Nam có vùng của người Thái là vùng Xịp Xoong Bản Nà tức Thập Song Bản Ruộng, xưa có mười hai bản làm ruộng lúa nước). Những từ đôi Đồng Đất, Ruộng Đất, Ruộng Nương, Ruộng Vườn, Thổ Địa, Đất Đai, Đàng Lộ , Đường Đê, Lục Địa là ý nói nhiều đất. Thần Long Đỗ cũng hiểu là Thần nhiều đất như là Thần Thổ Địa. Nôi khái niệm của “Nước” là trong từ NỌC, như sau: Nước=Nặm=Nậm=NỌC=Nôi=Nác=Đác=Đầy=Đế=Đức=Tức=Túc=Té=Tế=Lễ=Lã=Lọc==Lạc=Nác=Nước. Những từ đôi Nước Nôi, Nước Đầy, Tức Nước, Nước Lã, Nước Lọc đều chỉ ý nhiều nước. Dẫn hai nôi khái niệm trên thì thấy rõ là từ dính Âm-Dương như từ Nòng-Nọc thì Nòng ở nôi Đất, Nọc ở nôi Nước. Từ dính Nòng-Nọc cũng tương tự như từ dính Hoàng-Đế , như từ dính Đất-Nước hay như từ dính Long-Lạc.Khi tách hẳn ra không dính ở từ dính nữa thì có những cặp từ đối như Âm/Dương, Trời /Đất, Đất/Nước, Nòng/Nọc. Ở tương quanTrời/Đất thì Đất là Âm, nhưng ở tương quan Đất/Nước thì Đất là dương so với Nước là âm (cũng thường thay bằng cặp Non/Sông). Nhưng cái bầu biểu tượng Âm-Dương ấy người Việt gọi là Con Nòng-Nọc, đương nhiên sẽ tương tự như Con Đất-Nước hay Con Long-Lạc. Mà Con ở đây là thay cho cái gọi là Từ trong ngôn ngữ, vì Con=Quân=Quan=Kẻ=Cu=Tu=Tử=Tế=Tố=Từ, một Con chữ như một cái Tế, khi cất tiếng lên thì nó là một cái Tố, nó có ý nghĩa nên nó gọi là một Từ. Con Đất-Nước = Con Nòng-Nọc =Con Long-Lạc. Nhưng Con=Quan=Quân, nên Con Long Lạc = Quân Long Lạc. Đó là khi viết bằng chữ Khoa Đẩu , viết và đọc từ trái sang phải, là Quân Long Lạc. Còn đến khi phát triển lên viết bằng “vuông Chữ Nho nhỏ”, gọi vo theo cái lõi, tức gọi theo kiểu chọn lấy “Giữa Chỗ” tức kiểu “Giao Chỉ” thì còn cái lõi là Chữ Nho , thì khi đó phải đọc từ phải sang trái theo qui định mà các nhà nho bày đặt ra (dù viết một chữ vuông thì các nét viết theo chiều từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, nhưng xếp chữ trên bức hoành phi thì xếp từ phái sang trái nên phải đọc câu là từ phải sang trái. Còn sách thì viết theo dòng dọc, xếp dòng từ phải sang trái nên lật trang sách cũng lật ngược về bên phải), nên phải đọc từ phải sang trái là Lạc Long Quân. Hàng nghìn năm dùng chữ nho, không dùng chữ Khoa Đẩu nữa nên người ta quên hẳn Con Long Lạc, mà chỉ nhớ Lạc Long Quân, để bây giờ viết bằng chữ Quốc Ngữ thì viết từ trái sang phải là Lạc Long Quân. Nhưng cứ thử đọc ba chữ đó bằng từ phải sang trái thì lại là Quân Long Lạc = Con Long Lạc (= Con Nòng Nọc). Đây cũng giống như người ta đọc câu đầu tiên của bài đầu tiên trong nguyên bản của Thi Kinh là câu “quan quan Thư Cưu” thì không hiểu nó là ý gì, phải khổ công tìm các sách xưa từng “chú giải” để mới có thể dịch nổi hay chứng minh nổi nó nghĩa gì. Bởi lẽ “quan quan Thư Cưu” nó là cái âm Việt, là “con con Cù Cu”, “quan quan = con con” bởi chúng là hai con đang đứng cặp kè với nhau, “Thư Cưu = Cù Cu” bởi chúng là nòi chim Cù Cu (gọi chung bằng từ dính Cù-Cu giống như từ dính Nòng-Nọc của nòi cóc), mà trong cái tên chung nòi chim đó thì con Cù là con Mái, vì Cù=Thú=Thư=Nữ=Nái=Cái=Mái=Mợ=Vợ ( Thú là Hôn Thú). Còn con Cu là con Trống, vì Cu=Cặc=Cộc=Chốc=Trốc=Trống=Chồng=Hồng=Hùng (Tiếng Việt “Chốc” là nằm trên, “Trốc” là cái đầu, cũng là kẻ dẫn đầu trong nhà, “Trước Ốc” = Trốc). Loài Chim đơn giản thế mà lại chính là loài gợi ý cho con người biết dệt vải mặc từ cách đan tổ của nó: Chim=Chức=Dực=Dày=Dầy=Dải=Vải=Váy=May. Con người biết Tổ Chức cũng do con Chim biết phân công khi bay cùng bầy hay khi ấp trứng mà gợi ý cho (nên trống đồng mới có nhiều hình chim). Do cái mỏ con Chim là cái công cụ lao động của nó như cái Kìm để mổ và gắp nên người Việt mới biết làm đôi đũa, và có nôi khái niệm ngôn từ là Chim=Kìm=Cầm=Châm=Đâm=Điểu. Hán ngữ có từ “Gia Cầm” chứ không có từ “Gia Điểu” trong khi họ gọi Chim là Điểu, chứng tỏ thuần dưỡng gà vịt là nghề của người Việt đầu tiên chứ không phải của người Hán du mục từ phương Bắc dạy cho mới biết. Từ cái tên gọi nòi chim gần gũi quanh vườn nhà của người Việt là Cù-Cu, mà tính cách của chúng tiêu biểu cho tình yêu chung thủy một vợ một chồng như trong bài “Thư Cưu” của Thi Kinh (Thơ của người Kinh) mà có được các từ nho nhã đẹp đẽ là từ “Anh Thư”, “Anh Hùng” và các từ văn học như “một phen Trống Mái”, “một trận Thư Hùng”. Con Nòng Nọc = Con Long Lạc = Quân Long Lạc là Lạc Long Quân. Bởi vậy người Việt nghe đến Lạc Long Quân thì hiểu ngay đó là Tổ của Đất Nước, và trên ban thờ luôn có hình cái bầu biểu tượng Âm Dương. Ý nghĩa của biểu tượng ấy (ngoài các ý nghĩa vũ trụ cao siêu khác) cũng còn đơn giản là Con Nòng Nọc (= Con Đất Nước = Con Long Lạc) = Lạc Long Quân. Lạc Long Quân là Tổ của Đất Nước. Đất Nước ấy là do người Kinh tạo lập nên, cho nên bố của Lạc Long Quân là Kinh Dương Vương (đọc từ phải sang trái là Vương Dương Kinh = Vua Việt Kinh, ý nghĩa là: Vua của Bách Việt là người Kinh. Dương=Duôn= Duê = Duyệt = Nguyệt = Việt = =Liệt = Nhiệt = Nhật. Chữ Nhật 日 và chữ Nguyệt 月 ghép lại như từ dính Nhật-Nguyệt 明, tương tự Đất-Nước, tương tự Nòng –Nọc. Lướt thì “Nhật Nguyệt” = Nhiệt = Liệt = Việt. Mà tiếng đọc và ý nghĩa của từ dính 明 Nhật-Nguyệt đó là là chữ Minh明. Kinh Dương Vương = Đế Minh. Đế Minh cho một con là Đế Nghi đi làm vua đầu tiên của nước Sở). Đó chính là nội dung của sự thật lịch sử được hình tượng hóa bằng truyền thuyết Trăm Trứng : Cha và Mẹ đem trăm con đi các vùng, lập nên Bách Việt.
-
Người Việt định cư ven các dòng sông để làm ruộng “Lạc” tức ruộng “nước” trồng lúa, nên gọi xứ sở mình là Nước. Nam Việt 南 粤(thời Triệu Đà) chẳng qua là viết bằng chữ nho, nên phải đọc là Nam Việt 南 粤 (theo phát âm của tiếng Kinh hoặc phát âm của “cổ Hán ngữ”), còn nghĩa đen của nó là Nước Việt , vì Nước = Nặm = Nam (“nước” là người Kinh nói, “nặm” là người Tày nói, “nam” là người Thái Lan nói). Nam Việt = Nặm Việt = =Nước Việt, của các tộc người Bách Việt. Người Việt chỉ cần nhìn chữ Nam Việt 南 粤 mà đọc là Nam Việt hoặc đọc là Nước Việt. Chỉ có Hán thư thì mới phải ghi là Nam Việt Quốc 南 越 国, bởi họ quan niệm Quốc mới là Nước, họ còn gọi là Quốc Gia. Nhưng Hứa Thận thời Đông Tấn viết Thuyết Văn Giải Tự cách nay 2000 năm giải thích: “Quốc- Bang dã 國 邦 也” tức Quốc chỉ là Bang mà thôi, tức là Nước phải là Liên Bang. Quốc là Bang tức là cái âm tiết “Quốc” chỉ là từ lướt “Của Nước” = Quốc, một khi coi Nước là Liên Bang, chẳng thế mà thời Vua Hùng phải thống nhất cả 15 bộ ở một địa bàn rộng mênh mông gọi là Họ Hồng Bàng, bổn nghĩa chữ thì Hồng 鴻 và Bàng 龐 đều là rộng mênh mông, mà cái âm tiết của chúng lại cũng nói lên là vùng sông nước, theo QT Tơi-Rỡi thì: Hồng = =Sông, Bàng = Giang, Hồng Bàng 鴻 龐 là vùng của cư dân nông nghiệp lúa nước thuộc đại tộc Việt. Cư dân là người đặt tên cho dòng sông và chính cư dân lại lấy lấy tên sông nơi mình sinh sống làm Họ . Dòng sông lớn nhất của bất cứ vùng nào người Việt ở đều được gọi là Sông Cả. Cả=Cái=Cơ=Cu=Tu=Tử. Sông=Công=Kinh=Kang=Giang=Dòng=Dương=Trường. Sông Cả = Sông Cái = Sông Cơ = Dòng Cả = Dương Tử. Dương Giang = Trường Giang, đều là những từ đôi để nhấn mạnh một ý “sông”, rằng con sông này rất rộng lớn. QT Lướt để tạo ngôn từ Việt đã có Hứa Thận chứng minh, vì cách nay 2000 năm ông đã vận dụng qui tắc đó để hướng dẫn cách đọc đúng âm một từ đơn âm tiết bằng cách “thiết” (tức lướt) hai âm tiết khác (mà cứ phải phát âm như Tiếng Việt hiện đại thì mới trúng chứ còn phát âm như Hán ngữ hiện đại thì trật). QT Tơi-Rỡi tôi nêu trong tạo ngôn từ Việt, có thể vận dụng để tìm từ nguyên (theo nguyên tắc: của Hán ngữ hiện đại thì tìm trong “cổ Hán ngữ”, của “cổ Hán ngữ” thì tìm trong Tiếng Việt), nghe cái tên tôi đặt là QT Tơi-Rỡi thật là quê mùa, vậy mà hóa ra tính đúng của QT ấy lại được đại danh nhân Tư Mã Thiên chứng minh giùm, khi tôi tình cờ đọc được trong Sử Ký có đoạn ghi: 夫差取番者,番首姿,又音蒲。还音烦,音盘者即潘氏 - Phù Sai thủ Phan giả, Phan Thủ Tư, hựu âm Bồ. Hoàn âm Phàn, âm Bàn giả tức Phan thị - Phù Sai (vua nước Ngô, đánh nhau với Câu Tiễn vua nước Việt) lấy vợ họ Phan, Phan Thủ Tư, lại có âm là Bồ. Còn âm Phàn, âm Bàn là tức họ Phan. Như vậy rõ ràng là thời Hán Vũ Đế (đánh nhau với Hai Bà Trưng), thời của Tư Mã Thiên, trong Tiếng Việt có tồn tại qui tắc Tơi-Rỡi trong hình thành ngôn từ, cho nên mới có như viết ở đoạn trên, tức: Phan=(Phiên)=Phàn=Bàn=Bồ=(Đỗ=Cổ=Cố=Cơ), tức các họ này đều có cùng một gốc từ họ Cơ, ở dòng sông Cơ, từ họ của một mẹ chung là U Cơ = Âu Cơ (mẹ chung là “Mẹ Âu” = Mẫu). Cổ thư có ghi xuất xứ họ Phan (cũng như xuất xứ của nhiều họ khác) là từ họ Cơ. Bởi lẽ thời cổ đại dân số còn ít, đương nhiên ít họ. Đông dần lên, họ sinh nhiều chi, chi biến thành họ khác khi đến sống ở dòng sông khác, ngôn từ để đặt cho họ cứ vậy theo QT Tơi- Rỡi mà sinh ra nhiều, đều cùng từ một Nôi khái niệm mà ra cả. Người Việt cổ đại làm lúa nước đã theo đường biển từ Nam lên Bắc vào các cửa sông bãi bùn để trồng lúa nước, ngược dòng sông Tây tiến khai thác các đồng bằng hai bên bờ sông. Trong khi lịch sử của người Hán cổ đại là từ Tây sang Đông giai đoạn một, rồi từ Bắc xuống Nam giai đoạn hai.
-
- 3
-
-
Sông Khương ở đâu ? Nó chính là Mê Kông. Từ đôi Mẹ Sông chỉ ra rằng nó vừa là Mẹ, vừa là Sông, là nguồn nuôi sự sống. Tiếng Việt dùng lượng từ “con” cho Sông, gọi là con Sông, cũng như là con Người, con Vật, vì Sông cũng sống động, phát triển, biến hóa, do bản chất nó là Nước, là Âm, tính động (không như lượng từ hòn Núi, trái Núi, vì Núi biểu tượng Dương, tính tĩnh). Lượng từ “con” Sông cũng giống như lượng từ “con” Rồng, dù biểu tượng Rồng đã được phong kiến hàng ngàn năm hình tượng hóa lên thành biểu tượng quyền uy tối cao, như “long thự”, “long đỉnh”, “long sàng”, nhưng lượng từ cho Rồng trong Tiếng Việt hàng vạn năm qua vẫn là “con” thân thiết gần gũi như con sông, gọi là con Rồng, bởi vì thực chất từ nguyên của Rồng là: Krông=Sông=Rồng=Tông=Dòng=Long=Lòng=Luồng=Khuông=Khoỏng=Khương, là một Luồng nước chảy ngàn năm nuôi sự sống, giống như Dòng lịch sử chảy mãi.( Thời cổ đại dưới sông còn có loài Thuồng Luồng sinh sống). Do từ Mẹ Sông = Mê Kông mà có Tông là Dòng, đó là Tông Lê Sáp (Biển Hồ) ở Campuchia; do từ Mẹ Sông = Mê Kông mà có Khoỏng là Dòng, đó là Mè Khoỏng ở Lào, còn gọi là Mè Nặm Khoỏng (Mẹ-Nước-Sông), tiếng Thái Lan thì gọi là Mê Nam. Do từ Mẹ Sông = Mê Kông mà có chữ nho Công 公 nghĩa là của chung (bởi lướt “Của Đông” = Công , và nhấn mạnh ý “của chung” ấy bằng từ đôi Công Cộng 公 共), nên mọi sắc tộc sống bên mọi dòng Sông đều tôn quí Sông là Mẹ, là nguồn nuôi sự sống, là mẹ của chung, không ai dám làm hại Sông, đầu độc Sông, thần Sông chính là thần Rồng (điệu múa rước Rồng quanh co như dòng sông, gắn với Lễ Tế Nước), Lòng Sông cũng là Dòng Sông, nó là ruột thịt với con người như là bộ lòng đem dinh dưỡng nuôi cơ thể. (“Lòng của Nôi” = “Dòng Nôi” = Dồi, món “dồi trường” còn gọi là món “lòng xe điếu”, là món nhậu ngon nhất khi làm thịt heo). Tộc Việt coi dòng nước nuôi sự sống là Mẹ. Mẹ là Nước ( nho viết là chữ Mẫu Quốc 母 國 – Mẹ Của Nước = Mẹ Cơ Nước [ Của=Có=Cơ=Kỳ 其=Cả=Ạ=Dạ=Dã 也=Là=Đà=Đấy=Đích 的, đều là những phó từ chỉ sự sở hữu, thường đặt cuối câu khẳng định, ví dụ câu “Tôi Có ! ” = “Tôi Cơ ! ” = “Tôi Ạ ! ” = “Tôi Đấy” . Tiếng Quảng Đông dùng từ “Cơ 的”, cổ Hán ngữ và tiếng Hàn Quốc dùng từ Dã 也 mà phát âm là “Yể 也” (đều giống “Yes” của tiếng Anh), Hán ngữ dùng từ Đích 的 mà phát âm là “Tơ 的”, tiếng Nhật dùng từ Đấy mà phát âm là “Đê-xư” ]. Mẹ chính là cái Ổ ( là cái lõi Ô của NÔI=Nước) cho ra sự sống, bởi vì Mẹ=Đẻ=Độ=Ô=U=Âu=Yêu (Tiếng Việt thì Ổ, Âu, Yêu đều là những dụng cụ để đựng, như tình Âu Yếm, tình Yêu Thương đựng trong Lòng Mẹ để đem té tưới tắm mát cho con. Mẹ Âu Cơ là Nước đựng tất cả chúng ta, nên người Việt Nam ai ai cũng yêu Nước. Mẹ là Nước, nhưng Mẹ là Người, vì : Mẹ = Mọi = Man = Mằn = Mân = Cần(tiếngTày)= Nhân = Dân = Dằn = Duôn = Nguồn = = Người = Ngài= Ai = Âu. Muốn diễn đạt khái niệm "nhiều người" thì dùng từ đôi như Mọi Người, Ai Ai, Nhân Dân, Dằn Mằn (tiếng Quảng Đông). Mẹ = Âu, nhấn mạnh ý nghĩa Mẹ thì lướt từ đôi “Mẹ Âu” = Mẫu, Mẫu là mẹ chung của tất cả, nên người Việt có tục thờ Mẫu. Lạc Việt là Các Nước Việt tức Bách Việt, nên Âu Lạc có nghĩa là “Mẹ của Bách Việt”. Câu “Dân là Dân Nước, Nước là Nước Dân” của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu trở thành như là một câu thành ngữ cách rất hiển nhiên. Té=Tế=Túc=Tức (tiếng Khơme)=Đức=Đầy=Đắc(tiếng Tây Nguyên)=Đác (tiếng Choang)=Nác=Nước=Nặm (tiếng Lào)=Nam (tiếng Thái Lan)=Lam=Lầm (màu ngũ hành của nước, ví dụ từ “lầm than”, “vải đồng lầm” là vải nâu nhuộm thâm bằng bùn)=Thâm (màu ngũ hành của nước)=Thủy 水. Lễ tế Nước của người Lạc Việt là phong tục đã có từ thời Kinh Dương Vương cách nay 5000 năm: Đọc bài “Nam Bang thủy tổ thờ ở nơi này” của Nguyễn Đình Soạn, xin trích lược một đoạn: Dọc bờ nam sông Đuống (sông Thiên Đức) có làng Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh) nơi có lăng mộ và đền thờ Thủy Tổ Nước Nam – Kinh Dương Vương, là bố của Lạc Long Quân. Lăng có câu đối: “Vạn cổ giang sơn tự tụy Tổ 萬 古 江山 自 萃 祖. Nhất khâu phong vũ ngật Hồng bi 壹 丘 風 雨 兀 鴻 碑” (Từ vạn cổ cả nước Nam suy nghĩ về ngọn nguồn Tiên Tổ. Một nấm mồ nhỏ trải qua mưa gió vẫn sừng sững tấm bia Hồng Lạc”. Trong đền có bức đại tự “Nam Bang Thủy Tổ 南 邦 始 祖” với các câu đối là câu “Việt Nam sơ đầu xuất 越 南 初 頭 出. Hồng Bàng vạn đại xương 鴻 龐 萬 代 昌” (Vị Tổ đầu tiên của nước Nam. Họ Hồng Bàng muôn đời thịnh vượng) và câu “ Việt Nam hoành đồ vạn lịch giang sơn để tạo thủy 越 南 宏 圖 萬 曆 江 山 底 造 始. Hồng Bàng đế trụ thiên thu Hà Lạc tứ linh thanh 鴻 龐 帝 柱 千 秋 霞 嗠 四 靈 聲” (Cương vực Việt Nam núi sông vạn dặm vốn đã tạo lập tự ngàn xưa quốc gia đầu tiên. Đế vương họ Hồng Bàng chung đúc khí thiêng tiếng thơm còn mãi mãi) [ Việt Nam ở đây hiểu là người Lạc Việt họ Hồng Bàng chủ nhân của nền văn minh lúa nước phương Nam, khẳng định là chủ nhân của Hà-Lạc, lập quốc gia Văn Lang là quốc gia đầu tiên (“thủy 始”) cách nay 5000 năm]. Ngày giỗ Thủy Tổ là ngày 18 tháng Giêng (âm lịch) hàng năm. Đặc sắc nhất trong nghi thức Tế là tục rước Nước (nước được múc ở giữa dòng sông Thiên Đức, phía mặt tiền lăng mộ, đổ vào thạp đồng, rồi đưa lên kiệu, rước về đền) mang ý nghĩa triết lý nhân văn: “Nước” là giang sơn xã tắc, và “nước” cũng là gốc của sự sống muôn loài.
-
Thổ dân Nhật Bản (có thể cả thổ dân Hàn Quốc) và thổ dân Đài Loan là đã có ở đó hàng vạn năm trước. Họ thuộc chủng Lạc Việt (nhuộm răng đen, ăn trầu, xăm mình và canh tác lúa nước). Tác phẩm “Hoài Nam tử 淮 南 子” còn có tên là “Hoài Nam Hồng Liệt 淮 南 鸿 烈” là do một nhóm học giả thời Tây Hán do Lưu An 刘 安 triệu tập lại cùng nhau ghi chép các chuyện truyền thuyết xưa thành một cuốn sách. Theo “Hán thư. Nghệ văn chí” viết: “Hoài Nam, nội có 21 thiên, ngoại có 33 thiên”. Nay chỉ còn 21 thiên. Nội dung rất rộng, hội tụ tư tưởng của Đạo gia, Âm Dương gia, Mặc gia, Pháp gia và một bộ phận Nho gia, nhưng tông chỉ chủ yếu là khuynh hướng Đạo gia, mà tư tưởng của Đạo gia là sống “thuận thiên”, dựa vào sinh thái, hòa hợp với thiên nhiên. Đó là tư tưởng Việt, chưa hề có yếu tố Hán. Tên sách là “Hoài Nam Hồng Liệt 淮 南 鴻 烈”. Theo Cao Dụ Tự 高 诱 序 nói thì: “「鸿」 是 广 大 的 意 思,「烈」 是 光 明 的 意 思 Hồng 鴻 nghĩa là quảng đại tức rất rộng lớn, Liệt 烈 nghĩa là quang minh”. Chữ Hồng 鴻 (“nghĩa là quảng đại”) gồm chữ Giang 江 và chữ Điểu 鳥, chữ Giang 江 phải đọc như từ nguyên cổ là Sông = Dòng = Giang = Kang = Kinh , thì chữ Hồng 鴻 đọc từ phải sang trái là lướt “Điểu 鳥 Sông江” = Đông = Đồng = Hồng 鴻, chỉ cư dân đông đúc làm nông nghiệp ở một vùng rộng lớn phía nam sông Hoài 淮 (sông Hoài 淮 ở tỉnh An Huy ven biển), mới có chữ Hồng 鴻 mang nghĩa rộng lớn đồng âm đồng nghĩa với chữ Hồng 洪 trong từ “hồng 洪 thủy水”, mà dân đó có totem Điểu 鳥 là dân dòng Chim = Chiêm = Tiên, là chim Lạc trên trống đồng. Chữ Liệt 烈 (“nghĩa là quang minh”) tức sáng, sáng thì chỉ có Lửa mới sáng, bản thân chữ Liệt 烈 là bộ Hỏa 灬 ở dưới, trên là chữ Liệt 列 để tá âm, nên nội hàm của chữ Liệt 烈 chính là Lửa, chỉ dân Kẻ Lửa = Quẻ Ly = Cửu Lê, là dân phương Nam xứ nóng của Đế Viêm –Thần Nông (kiểu nhà sàn bằng gỗ, tre, lá, có bếp lửa đặt ở giữa sàn nhà, đồng bào Tày vẫn quen gọi là “nhà Quẻ Ly”). Vậy Hồng Liệt 鴻 烈 chẳng qua là Hồng Lạc 鴻 洛, là dân Lạc Việt họ Hồng Bàng 鴻 龐 của Đế Viêm = Đế Việt = Nước Việt (Đế = Tế = Tức = Đức = Đác = Nác = Nước). Chữ Việt 粵 theo Đỗ Thành giải thích, bên dưới là hình cái Cày 亏, bên trên gồm chữ Thái 采 (nghĩa là sáng, viết 采 hoặc 彩 ) đặt trong Vuông 口, nghĩa là Văn 文 khi viết lệch chữ Vuông (như “Thuyết Văn Giải Tự” giải thích) của Văn Lang, mà Thái = Chái (phát âm Nam Bộ) = Cháy, cũng nghĩa là lửa, là nóng, là viêm. Cháy = =Cày, diễn biến âm thì ngắn tày gang như vậy, nhưng là cả một sự tiến bộ trải hàng nghìn năm của nghề trồng trọt, từ “hỏa chủng” ( đốt cháy đầu cọc gỗ để mài cho nhọn làm nông cụ chọc lỗ trỉa hạt, đến cày xới đất bằng lưỡi cày bằng đồng thau, rồi đến lưỡi cày bằng sắt). Ngày nay người ta chỉ quen tên sách là “Hoài Nam tử”. nghĩa là Kẻ ở vùng nam sông Hoài, mà hầu như quên sách ấy xưa tên là “Hoài Nam Hồng Liệt” nghĩa là Dân Hồng Lạc ở nam sông Hoài. Có lẽ là do tư liệu mà có thể đọc ngày nay đều là từ “Tứ Khố Toàn Thư” đời Càn Long thời nhà Thanh. Thuyết Văn Giải Tự thời Đông Tấn thì có nhắc đến một cuốn sách khác là “Hoài Nam Hồng Liệt giải cô 淮 南 鸿 烈 解 估” là một cuốn cân nhắc chú giải các từ ngữ dùng trong “Hoài Nam Hồng Liệt” [ Trên một trang mạng, một học giả TQ nói đã dành thời gian 8 năm đọc rất nhiều cổ thư để rồi nhặt ra những điều sự thật lịch sử mà 90% người dân TQ không biết. Sau đây là điều thứ 28 học giả đó nói: 28.清 朝乾 隆 时 期 修 《四 库 全 书》,总 计 存 书 3457 部,79070 卷,禁 毁 6766 部,93556 卷。 评 价: 真 不 知 道 这 是 修 书 还 是 毁 书 - Thanh triều thời kỳ Càn Long tu “Tứ Khố Toàn Thư”, tổng kê tồn thư 3457 bộ, 79070 quyển, cấm và hủy 6766 bộ, 93556 quyển. Bình giá: thật hết biết đây gọi là tu thư hay là hủy thư.] Trong sách “Hoài Nam Hồng Liệt” có chép chuyện “Hạ Vũ trị thủy“ đại ý: Vũ lo trị thủy khắp nơi, bắc đến tận Kinh Sơn 荆 山 (An Huy), tây đến…, nam đến Giao Chỉ, Đông đến Hắc Xỉ quốc 黑 齿 国 (“Hắc Xỉ quốc” nghĩa là “nước Răng Đen”, mà ở phía Đông thì chỉ có thể là Đài Loan và Nhật Bản), Vũ mải mê công việc đến quên cả đời tư, ba mươi tuổi chưa có vợ, nhân đi trị thủy ở Đồ Sơn 涂 山(thuộc Triết Giang) lấy được vợ ở đó. Sau Vũ có hai lần hội minh chư hầu, lần đầu ở Đồ Sơn quê vợ, lần hai ở Cối Kê (thuộc Triết Giang). Các học giả ngày nay nghe đến từ Trị Thủy thì cứ theo cái nhìn ngày nay mà mường tượng là phải có đê , đập hoành tráng (bất kể tác động môi trường) nên cứ thắc mắc là “thời cổ đại làm gì có sức đông và công cụ hiện đại để Vũ có thể đi khắp nơi trị thủy tới 9 dòng sông lớn như sử thư ghi, quá lắm chỉ được một hai dòng mà thôi”. Thực ra phải hiểu là Vũ là hậu duệ của Thần Nông (Thần Nông là thời đại cư dân nông nghiệp lúa nước Lạc Việt). “Vũ đi trị thủy” chẳng qua là nói Vũ đi truyền bá văn minh lúa nước, hướng dẫn canh tác lúa nước bằng “dẫn thủy nhập điền” mà thôi. Trị = Chỉ = Chữa, là đi chỉ vẽ hướng dẫn kiểu cầm tay chỉ việc cho các tộc người để biết làm lúa nước mà ăn. Thời đó con người canh tác thuận theo tự nhiên, nên mới giỏi làm lịch nắm bắt thời cơ, không tác động mấy vào môi trường sinh thái. Thời cận đại, Nguyễn Trường Tộ cực lực chê cách làm đắp đê, đập, chặn dòng sông, “người ta đã bóp chết non con sông Hồng, để rồi khi muốn cứu nguy cho Hà Nội, phải xả lũ ngập chịu hy sinh vài tỉnh vùng đồng chiêm trũng, trong khi phù sa màu mỡ của sông Hồng đổ hết ra biển và bồi lắng đáy sông có nơi còn cao hơn mặt đồng ruộng”. Sông Hoàng Hà đã bị “Trị Thủy” hàng ngàn năm nhưng đến ngày nay vẫn còn nổi giận, sông Trường Giang chắc cũng chẳng vừa lòng.
-
Tiếp tục phát hiện nhiều bản đồ sai sự thật do Trung Quốc sản xuất Thanh Niên Online – 7 giờ trước Ngay sau khi các cơ quan chức năng tỉnh Lạng Sơn phát hiện những tấm bản đồ Trung Quốc xuất bản có nội dung sai sự thật về biên giới do người Trung Quốc mang lậu vào VN, hôm qua, Hải quan và Biên phòng tỉnh Lạng Sơn tiếp tục phát hiện nhiều quả địa cầu hành chính thẩm lậu vào VN có nội dung sai sự thật. Theo Chi cục Hải quan Tân Thanh, trong những ngày gần đây, lực lượng Hải quan phối hợp với bộ đội biên phòng kiểm tra tại một số khu chợ trên địa bàn tỉnh đã phát hiện, tịch thu một số hành chính có kích thước lớn như mũ bảo hiểm do Trung Quốc sản xuất, có chú giải bằng tiếng Anh và tiếng Trung. Kiểm tra về nội dung trên những quả địa cầu này cho thấy, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN bị in đồng màu với địa phận Trung Quốc. Loại bản đồ sai trái do Trung Quốc sản xuất để tuyên truyền về “đường lưỡi bò” Theo một lãnh đạo của Chi cục Hải quan Tân Thanh, có rất nhiều nội dung sai trái được cố tình in trên những quả địa cầu này như 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN thành Nam Sa và Tây Sa của Trung Quốc. Mặt khác, “đường lưỡi bò” cũng lờ mờ được thể hiện bằng nét đứt trên vùng biển của VN. Cũng theo lực lượng Hải quan tỉnh Lạng Sơn, ngay sau khi phát hiện, lực lượng chức năng đã lập biên bản tịch thu. Trao đổi với Thanh Niên hôm qua, một cán bộ có trách nhiệm của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn khẳng định trong thời gian tới sẽ phối hợp với lực lượng hải quan tăng cường kiểm soát chặt chẽ, tránh để xảy ra những trường hợp tương tự. Cảnh giác với tiểu xảo của Trung Quốc Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân cho biết từ nhiều năm qua Trung Quốc có một chủ trương nhất quán trong việc thể hiện chủ quyền “đường lưỡi bò” trên các loại bản đồ. Mỗi ấn phẩm của Trung Quốc, nếu có phần thể hiện bản đồ thì chắc chắn “đường lưỡi bò” sẽ có, dù đó là một quyển sách địa lý phổ thông hay một biên khảo về lịch sử văn hóa. Thậm chí trong một cuốn sách về khảo cổ các tỉnh Thiểm Tây, Tứ Xuyên (miền trung Trung Quốc) mặc dù không có liên quan gì đến Quảng Đông (phía nam, giáp biển) họ cũng cho in một bản đồ tổng quát thể hiện “đường lưỡi bò”. Điều đó cho thấy họ tuyên truyền cho “đường lưỡi bò” phi pháp này một cách rất có hệ thống. Tương tự, đối với các ấn phẩm bằng các thứ tiếng khác, ví dụ tiếng Anh, Pháp do nhà xuất bản ngoại văn của Trung Quốc ấn hành thì các bản đồ cũng được thể hiện. Chủ trương này được thực hiện cặn kẽ, chi tiết và nhất quán, tạo sự ngộ nhận cho người dân Trung Quốc cũng như các quốc gia khác khi tiếp cận với các ấn phẩm đó rằng: toàn bộ vùng biển nằm trong “đường lưỡi bò” đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Ông Phạm Hoàng Quân cũng cảnh báo trong tương lai không loại trừ khả năng sẽ có những bản đồ do Trung Quốc in ấn bằng tiếng Việt nhưng lại có “đường lưỡi bò” hay các địa danh thể hiện theo cách của Trung Quốc được đưa vào VN theo cả con đường hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Đặc biệt, khi những bản đồ đó lại được in bằng tiếng Việt thì dễ làm mọi người nghĩ rằng do VN sản xuất. Chính vì vậy, nếu để những sản phẩm kiểu này lọt vào VN sẽ tạo ra những hậu quả rất nghiêm trọng. Thái Sơn - Trường Sơn - Lê Quân
-
(VEF.VN)- Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn vừa bắt giữ một số bản đồ Việt Nam do Trung Quốc sản xuất bày bán trên địa bản tỉnh có nội dung về gianh giới quốc gia sai sự thật. Theo công văn gửi Tổng cục Hải quan mới đây, Cục Hải quan Lạng Sơn cho hay, từ nguồn tin nhân dân phản ánh, ngày 1/8, Chi cục Hải quan Tân Thanh đã phối hợp với lực lượng công an tỉnh tiến hành kiểm tra khách sạn Kim Lệ Hoa, địa chỉ tại đường nhánh Bắc, xã Tân Thanh, huyện Văn Lãng. Qua đó, đoàn kiểm tra đã phát hiện và tịch thu một số bản đồ phân giới quốc tế Việt Nam- Lào- Campuchia- Trung Quốc có nội dung sai sự thật. Toàn bộ số bản đồ này đều mới 100%, do Trung Quốc xuất bản. Cụ thể, trong số này có 1 bìa bao bọc bản đồ phân giới quốc tế Việt Nam- Lào- Campuchia chú giải song ngữ Anh- Trung, kích thước 13 x 20cm, 6 tấm bản đổ phân giới Việt Nam- Lào- Campuchia chú giải song ngữ Anh- Trung, loại in màu, kích thước 52 x 75cm. Tại các tấm bản đồ này có phân giới quốc tế sai sự thật. Ngoài ra còn có 5 tấm bản đồ du lịch Trung- Việt, chú giải bằng chữ Trung Quốc, khổ 52 x 75cm. Đại diện của khách sạn là người đàn ông ở Quảng Đông- Trung Quốc tên là Chung Thành, hiện giữ chức danh Phó giám đốc. Ông này khai báo, toàn bộ số bản đồ trên được mua tại Trung Quốc, sau đó mang về Việt Nam qua cửa khẩu Tân Thanh dưới dạng hành lý xách tay cá nhân, không khai báo hải quan nhằm mục đích bán cho khách du lịch ở Việt Nam. Kể từ tháng 4/2012 cho đến khi bị phát hiện, khách sạn Kim Lệ Hoa đã bán được 3 tấm bản đồ cho du khách. Ông Thành đã thừa nhận hành vi trên là sai quy định của pháp luật Việt Nam, nhưng cam kết khách sạn không dùng bản đồ vào mục đích khác. Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn nhận định, hành vi vi phạm của ông Chung Thành là nhập lậu, tàng trữ, lưu hành ấn phẩm bản đồ có nội dung sai sự thật do Trung Quốc xuất bản là vụ việc liên quan đến chính trị, an ninh quốc gia. Đặc biệt, vụ việc này bị phát hiện trong bối cảnh có nhiều diễn biến phực tạp về tranh chấp chủ quyền biển Đông hiện nay. Do đó, cơ quan hải quan đã chuyển vụ việc sang công an tỉnh Lạng Sơn để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật. Phạm Huyền
-
Bạn nào có thấy cuốn An Nam Chí Lược và cuốn Hải Ngoại Ký Sự bản dịch tiếng Việt ( do Viện Hán Nôm hay Hội Sử Học hoặc Ai đó dịch rồi xuất bản tại Việt Nam) mách giùm cho tôi kiếm đọc với. Dò trên mạng thấy Trung Hoa Thư Cục xuất bản cuốn An Nam Chí Lược. Hải Ngoại Ký Sự ( http://www.anobii.com/books/01d99a2389425cf51e/ 中華書局出版 ) 安南志略 ( 黎崱著)An Nam Chí Lược ( Lê Tắc trước). Cuốn sử thư An Nam Chí Lược, tác giả Lê Tắc là một trạng nguyên đại thần nhà Trần, viết về cuộc đấu tranh ngoại giao không khoan nhượng giữa nhà Trần của Việt Nam với nhà Nguyên của thiên triều Trung Quốc, mà nội dung là nhà Nguyên đòi nhà Trần cho mượn đường qua Việt Nam để đi xâm lược Chiêm Thành. 忽必烈(和他的使臣) Hốt Tất Liệt (và các sứ thần của ông ta) dùng mọi thủ đoạn ve vãn, dụ dỗ, dọa dẫm mà vẫn không thuyết phục được nhà Trần cho mượn đường qua Việt Nam để họ đi xâm lược Chiêm Thành. Nhà Trần đã chặn đứng mưu đồ nhà Nguyên xâm lược Đông Nam Á. Nhà Trần đã lãnh đạo dân Việt Nam ba lần đánh tan quân Nguyên xâm lược, giữ vững độc lập và toàn vẹn của Việt Nam. [ Đại cục chống quân Nguyên Mông xâm lược thời đó gồm: Đại Việt, Chiêm Thành, Đại Lý quốc ở Vân Nam từng tồn tại độc lập 400 năm, nhân dân Lĩnh Nam dưới sự lãnh đạo của Văn Thiên Tường tể tướng nhà Tống ]. Một bạn đọc đã ghi lên mạng cảm tưởng sau khi đọc cuốn An Nam Chí Lược như sau: “…高來高去兩方其實都不退讓不過最後還是讓陳朝撐住了. 所以越南才會到處都是興道大王路 đấu tranh ngoại giao bàn tới bàn lui hai bên kỳ thực đều không nhượng bộ, nhưng cuối cùng thì vẫn là nhà Trần đã chặn đứng được. Bởi vậy Việt Nam mới có chỗ nào cũng đều là Hưng Đạo Đại Vương lộ”. [ Sài Gòn vì quá rộng nên có tới mấy quận có tên đường phố Trần Hưng Đạo hay Trần Quốc Tuấn ] 海外記事 ( 釋大汕著)Hải ngoại ký sự (Thích Đại Sán trước). Một bạn đọc ghi lên mạng cảm tưởng sau khi đọc như sau: “ 本來想多了解一點阮氏廣南,不過看到後來都是大汕在嘴砲,真的很會說...但是我還是不懂大汕在中國為什麼會被當妖僧.雖然大話講很多,但是大部分都挺有道理的啊? 以上是認識越南的一部分(雖然看過就忘的差不多了... Vốn định tìm hiểu nhiều một chút mảnh đất Quảng Nam của nhà Nguyễn, nhưng xem rồi toàn là Đại Sán kể lể như tép nhảy, thật là rất biết thuyết… Nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao Đại Sán ở Trung Quốc được gọi là Yêu Tăng. Tuy nhiên ông kể khá nhiều và hơi phô trương, nhưng đại bộ phận vẫn là có đạo lý đấy thôi? Ở trên là phần tôi nhận thức về Việt Nam (tuy nhiên xem xong lại quên mất khá nhiều rồi…”
-
Ảnh 0744 là thư kêu gọi các chí sĩ các tiên sơn các động phủ vì một công việc của nhà chùa năm phật lịch 2585. Ảnh 0749-0752 là những hình vẽ, thực sự không hiểu là gì cả.
-
Ảnh 0696-0699 là thư ủy nhiệm của Tưởng Trung Chính chủ tịch Quốc Dân đảng giao cho cô Trần Ngọc Quỳnh tức Trinh là phụ trách tổ chức 535 có nhiệm vụ chuyển tiền của các tổ chức tài chính vào NH Mỹ, đồng thời đề nghị NH đổi hết số tiền đó thành mênh giá 1oo se ri năm 1934 có âm ảnh cho an toàn. Kèm theo là các hướng dẫn NH nhận biết cô Trần và các việc giao cô Trần làm.
Ảnh 0744 là thư nhà...
-
Lạc Việt nghĩa là Nước Viêt (2) Sông Cơ ở đâu? Thuyết Văn hướng dẫn đọc chữ Cơ 姬 bằng lướt Cư 居 Chi 之, giải thích đó là nơi sinh Hoàng Đế nên Hoàng Đế lấy họ là Cơ 姬. Nhưng Đế là Nước, Nước Văn Lang thì lướt “Văn Lang” = Vàng, mà màu Vàng = Hoàng 黄,皇 , nên Đế 帝 Hoàng皇 = Nước Văn Lang. Màu Vàng=Hoàng 黄 là màu ở Trong Cung = Trung 中 Cung 宫 tức ở Giữa, mà Giữa=Giao, Giữa Chỗ = Giao 交Chỉ 址 (chữ Giao 交 thì Thuyết Văn giải thích nó là một sự viết lệch đi của chữ Vuông 口, cũng giống như trường hợp chữ Văn 文) Chữ Chi 之 có ba cách đọc: là 之 Chi như câu “Phải Chi 之 anh bán giá đó thì đẩy đi được rồi”, là 之 Chứ như câu “Cái giá đó là phải rồi Chứ 之”, là 之 Chớ như câu “Thì cũng là giá vừa phải Chớ 之 sao nữa”. Chữ Cơ 姬 theo Thuyết Văn mà lướt thì “Cư 居 Chớ 之” =Cơ 姬 Sông Cơ 姬 với sông Khương 姜, nó là hai con sông hay một con sông ? nó nằm ở đâu mà trong cổ thư như 《Thượng Thư》 hay 《Thủy Kinh Chú》 có viết, mà đến nay các học giả TQ vẫn chỉ là đoán, vì nó chẳng có trên bản đồ TQ từ cổ đến nay, mà sông Cơ 姬 lại là “nơi sinh ra Hoàng Đế”. Quách Mạt Nhược thì cho rằng Cơ Thủy 姬 水có thể là ở huyện Tân Trịnh tỉnh Hà Nam (tức vùng Trung Nguyên), thuyết khác lại cho rằng Khương Thủy 姜 水có thể là ở Thiểm Tây. Tất cả các thuyết đoán đều vẫn chỉ là mơ hồ, và đến tận năm nay cư dân mạng tiếng Hoa vẫn đang hỏi mà chưa có câu trả lời xác đáng. Căn cứ vào chữ Cơ 姬 thì nghĩa đen của nó là “Nữ Thần Xứ Nóng”, tức “Nữ Thần Mặt Trời” như thấy thờ Mặt Trời trên trống đồng Lạc Việt (cùng với tục thờ Mẫu là Mẹ Âu, do lướt “Mẹ Âu” = Mẫu, Mẹ Ở sông Cái gọi là Mẹ Âu Cơ, Ở=Âu, Cái=Cơ ). Chữ Cơ 姬 đọc từ trái sang phải là Nữ 女 Thần 臣, mà lướt “Nữ 女 Thần 臣” = Nần, Nần=Nôm=Nam=Nặm=Nước (Nam tiếng Thái Lan, Nặm tiếng Lào, đều có nghĩa là Nước; tiếng Việt thì "Nợ Nần" có chung nôi khái niệm với "Nợ Nước", chỉ khác sắc thái là Nợ Nần thì lo mà trả cho xong trong đời, còn Nợ Nước thì phải trả bằng mạng của mình). Vậy Sông Cơ 姬( tương truyền là “nơi sinh ra Hoàng Đế” ) nó là Sông Cơ = Sông Cả = Sông Cái = Sông Mẹ, cũng gọi theo từ đôi, nó vừa là Mẹ vừa là Sông, là Mẹ Sông = =Mê Kông = Mè Khoỏng (Khoỏng tiếng Lào, lại là từ nguyên của Khương 姜, vậy Sông Cơ 姬 水 với Sông Khương 姜 水là một, là loại Sông Cái). Chữ Cơ 姬 nếu đọc từ phải sang trái thì là Thần 臣 Nữ 女, mà lướt thì “Thần 臣 Nữ 女” = Thử 署, có nghĩa là nóng (mùa hè có ngày nóng nhất là Đại Thử 大 暑). Như vậy sông Cơ 姬 là ở xứ nóng, xứ nóng ấy là xứ Việt chứ không phải xứ Hán mà có thể nằm ở Thiểm Tây. Chữ Lạc 洛 nếu đọc từ phải sang trái cũng còn đọc là “Các 各 Thủy氵”= Qủi 鬼, điều đó có nghĩa: Lạc 洛 cũng là tên nước Xích Qủi 赤 鬼 國. Bản thân chữ Xích 赤 cũng nghĩa là nóng, cũng có nghĩa là màu đỏ, màu ngũ hành của phương Nam, mà nóng tức là viêm nhiệt ( Viêm = Chiêm = Xiêm = Xích, lại là nôi khái niệm chỉ vị trí lãnh thổ). Cái khái niệm “nóng” là: NÔI = Nắng = Nóng = Bỏng = Róng-Rát = Róng-Riết = Liệt 烈 = Nhiệt 熱 = Nhực 日 = Rực = Bức = Thức = Thự 曙 =Thử 署 (từ Thức và Thự 曙 là chỉ lúc mặt trời ló ra ấm áp, còn gọi là bình minh). Người Lạc Việt canh tác nông nghiệp lúa nước, nên định cư ở đâu thì con sông lớn ở vùng đó đều được gọi ngay là Sông Cả = Sông Cái, rồi sau mới đặt tên chữ cho nó, như sông Cả có chữ là sông Lam, sông Cái có chữ là sông Hồng, Chúa Dòng có chữ là Châu Giang 珠 江, Dòng Cả có chữ là Dương Tử 楊 子. Như vậy Sông Cơ cổ đại là có nhiều Sông Cơ, nhưng tất cả những con Sông Cơ ấy đều ở xứ nóng, đều là trên đất Văn Lang Lạc Việt. Quốc gia Văn Lang ấy như sử thư ghi: Bắc giáp Động Đình Hồ, đông giáp Đông Hải, tây giáp Ba Thục, nam giáp Hồ Tôn. Cái nước Hồ Tôn này cũng không ai biết ở đâu trên bản đồ, chỉ có thể căn cứ từ nguyên mà xác định nó là tận cùng của Đông Nam Á lục địa: Hồ là cái đựng nước, từ trong NÔI khái niệm là Ổ = Hố = Hồ = Hái 海 =Bái沛 = =Bái 霈 = Biển, biển đây là biển phương nam, nơi có nhiều mưa (chữ nho cổ: Bái 沛 là “đầy tràn trề”, mà Đầy = Đức = Tức = =Té = Tế = Đế, nghĩa là nước; Bái 霈 là “nhiều mưa” vì cũng là âm tiết “bái” thêm vào bộ mây 雲 trên đầu để chữ Bái 霈này mang nghĩa là mưa nhiều). Tốn = Tôn = Nồm = Nam ( quẻ tốn còn được tượng trưng là gió, xứ này có mùa Gió Nồm). Hồ Tôn nghĩa đen là biển ở tận cùng của ĐNÁ lục địa, vẫn là vùng của dân lúa nước, nhuộm răng đen và có trống đồng.
-
Trung Quốc bối rối trước tấm bản đồ cổ Thanh Niên Online – 22 giờ trước Thông tin về tấm bản đồ đời nhà Thanh không có Hoàng Sa, Trường Sa do truyền thông Trung Quốc đăng tải thu hút chú ý của dư luận nước này. Mấy ngày qua, trên các diễn đàn mạng Trung Quốc liên tục nổ ra tranh luận về Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ do nhà Thanh xuất bản năm 1905. Như các báo Việt Nam đã đưa tin, tấm bản đồ thể hiện rõ biên giới phía nam Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam là hết. Đây là một bằng chứng không thể chối cãi, có giá trị lịch sử, pháp lý để phản bác các tuyên bố sai trái lâu nay của Trung Quốc về 2 quần đảo của Việt Nam. Mới đây, tấm bản đồ vừa được TS Mai Hồng, nguyên Trưởng phòng Tư liệu Viện Hán Nôm, trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia. Sau đó, hàng loạt cơ quan truyền thông Trung Quốc, lớn có Đài Phượng Hoàng, mạng tin Sina, nhỏ có báo mạng Stockstar, mạng Tân Lãng, đều đăng lại thông tin về Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ. Theo thống kê, bản tin kèm video của Đài Phượng Hoàng và Sina tường thuật quang cảnh buổi lễ trao tặng nói trên đã thu hút gần nửa triệu lượt xem chỉ sau 2 ngày. Các báo đài này còn giới thiệu tỉ mỉ về tấm bản đồ cũng như dẫn lời TS Mai Hồng và các chuyên gia, học giả Việt Nam về giá trị, ý nghĩa của nó. Trong bản tin, Stockstar dùng cả tên Hoàng Sa và Trường Sa thay vì những cách gọi ngụy xưng Tây Sa, Nam Sa. Đến nay, chính quyền và giới học giả Trung Quốc vẫn im lặng về vấn đề trên nhưng các cư dân mạng nước này bàn luận rất sôi nổi. Trên diễn đàn Lt.cjdby.net/thread-1425902-1-1.html, một số người Trung Quốc thừa nhận rằng với nội dung bản đồ như vậy thì đúng là Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Một số khác vẫn còn ngờ vực và đề nghị tìm kiếm thêm các bản đồ cũ hơn nữa của Trung Quốc để đối chiếu. Tuy nhiên cũng có một bộ phận ngạo mạn thách thức: “Trên thế giới này có ai dám cùng Trung Quốc chơi lịch sử nào?”. Một số khác cho rằng việc Việt Nam đòi chứng minh chủ quyền bằng bản đồ là “ngụy tạo bắt chước những gì Hàn Quốc từng làm đối với tranh chấp đảo đá Ieodo/Tô Nham Tiêu”… Bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ - Ảnh: Ngô Vương Anh Bản tin về bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ trên Đài Phượng Hoàng - Ảnh: chụp từ website Phượng Hoàng Đủ cách “đầu độc” Sở dĩ vẫn còn những ý kiến mù quáng phản bác một bằng chứng rõ ràng như Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ là do chính quyền Trung Quốc trong một thời gian dài đã tiêm nhiễm dư luận về “chủ quyền không thể chối cãi” ở biển Đông. Điều này đã được học giả Lý Lệnh Hoa, chuyên viên Trung tâm thông tin hải dương Trung Quốc, nhiều lần chỉ rõ khi khẳng định giáo trình và truyền thông đã khiến người dân hiểu sai về chủ quyền ở biển Đông. Ngoài tài liệu ngụy tạo, tuyên bố của nhà nước, phát biểu của các học giả, nước này còn tuyên truyền thông qua những phương tiện thu hút rất đông thanh niên, cư dân mạng thiếu hiểu biết như tiểu thuyết trên mạng, trò chơi trực tuyến… Trong đó có tiểu thuyết Chiến tranh biển Đông Trung - Việt của tác giả giấu mặt có nickname Văn Võ 428 đăng trên Readnovel.com và được nhiều diễn đàn khác lấy lại. Hồi tháng 6, Trung Quốc lợi dụng trò chơi trực tuyến World of Tanks để kêu gọi “liên hiệp hành động Nam Hải, bảo vệ chủ quyền” tại biển Đông, quyên tiền của người chơi để tặng cho binh lính đang chiếm đóng phi pháp ở Hoàng Sa và một số đảo thuộc Trường Sa. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn tung ra trò chơi Bảo vệ đảo Điếu Ngư để kích động về tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Nhật Bản. Lời lẽ trong đó vô cùng hung hăng, hiếu chiến khi quảng cáo là người chơi sẽ “tận hưởng cảm giác tiêu diệt lũ quỷ Nhật xâm lược”. Lập trang web Tam Sa sai trái Bất chấp những phản đối gay gắt của quốc tế về việc thành lập phi pháp cái gọi là TP.Tam Sa, Trung Quốc còn leo thang trắng trợn trong việc lập ra vô số trang web thông tin riêng về Tam Sa như Sansha.hinews.cn (thuộc Tập đoàn nhật báo Hải Nam), Hq.xinhuanet.com/sansha (thuộc Tân Hoa xã). Với hình ảnh đảo Phú Lâm, nằm trong quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, làm hình nền trang chủ, trang Tam Sa của Tân Hoa xã có nhiều mục như: tin nóng, văn hóa, du lịch, cuộc sống, quan sát, quan điểm, phỏng vấn chuyên đề… Đây là nơi những thông tin tuyên truyền sai trái, những hành động phi pháp của Trung Quốc được phát tán, càng khiến người dân nước này bị “đầu độc” về vấn đề biển Đông. Ngọc Bi Tokyo đăng quảng cáo về đảo tranh chấp Chính quyền thủ đô Tokyo của Nhật Bản vừa tìm ra một kênh mới để quảng bá, tuyên truyền cho chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp với Trung Quốc: quảng cáo. Ngày 27.7, giới chức cho đăng quảng cáo chiếm 2/3 trang trên tờ báo nổi tiếng Wall Street Journal của Mỹ với tựa To the American people from Tokyo, Japan (tạm dịch: Gửi đến người Mỹ từ Tokyo, Nhật Bản). Trong đó, nội dung cho rằng Trung Quốc đang gia tăng áp lực ở Senkaku/Điếu Ngư và cảnh báo “Mỹ mất cả Thái Bình Dương nếu không ủng hộ các quốc gia châu Á ứng phó Trung Quốc”. Bài quảng cáo cũng kêu gọi Mỹ ủng hộ kế hoạch của chính quyền Tokyo mua lại 4 đảo thuộc Senkaku/Điếu Ngư. Hồi tháng 4, Thị trưởng Tokyo Shintaro Ishihara lập quỹ góp tiền mua đảo và tính đến đầu tháng 7, quỹ này đã thu được 16,3 triệu USD, theo AFP. Bắc Kinh chưa có phản ứng về bài quảng cáo trên Wall Street Journal. Minh Trung Dưới đây là nguyên văn bài trên mạng Lt.cjdby.net/thread1425902-1-1.html Với tiêu đề: Hầu Thông Xã công nhiên khiêu khích chủ quyền của Trung Quốc đối với Tây Tạng [chữ Hầu 猴 nghĩa là con khỉ] 猴通社公然挑衅中国对西藏主权 [复制链接] 发表于 2012-7-28 08:07:33 |只看该作者 |倒序浏览 7月25日上午在河内,越南国家历史博物馆(河内市长钱街1号)接受了由河内古董协会、升龙文物协会、联合国教科文组织中心等组织会员赠送的许多宝贵实物。 上述实物包括:有关 潘佩珠、潘朱桢 和 东游 运动 爱国学人等历史人物的书籍;十三世纪和十四世纪的陶瓷器;李朝与陈朝代陶瓷器和李朝的赤土塔等。 这些宝贵实物中,最引人注目的是由越南应用法学研究中心主任梅宏博士收集保存并送给越南国家历史博物馆的一张中国古地图。这是由中国清朝于1904年出版的“皇朝直省地舆全图”古地图。地图上明确标志中国领土南极是海南岛,完全没有包括黄沙和长沙两个群岛在内。 梅宏博士介绍,这张地图是由中国清朝出版的,是中国直省地舆全图,里面明确划分中国与越南、西藏和高丽等国的边界线。地图上明确标志中国领土南极是海南岛,这意味着没有包括黄沙和长沙两个群岛在内.(*) 诸位专家学者评论说,中国清朝于1904年出版的“皇朝直省地舆全图”是中国人绘制的,是中国清朝对中国领土主权范围的划分。值得一提的是,中国清朝出版 的“皇朝直省地舆全图”是1904年的,即是100年前的。因此“皇朝直省地舆全图”本身很有价值,其是中华地图科学的产品。 另一个方面,越南阮朝时代 19 世纪已绘制了“大南一统全图”,明确标志越南领土范围包括黄沙和长沙两个群岛,肯定了越南对黄沙和长沙两个群岛的主权。(**) (越通社) vietnamplus.vn/Home/.../20127/18498.vnpl Có đoạn (*): Tiến sĩ Nguyễn Mai Hồng giới thiệu, tầm bản đồ này do Trung Quốc Thanh Triều xuất bản là bản đồ địa dư toàn bộ các tỉnh thuộc Trung Quốc, trong đó vạch chia minh xác đường biên giới giữa Trung Quốc với Việt Nam, đường biên giới giữa Trung Quốc với Tây Tạng, đường biên giới giữa Trung Quốc với Cao Ly và đường biên giới giữa Trung Quốc với các nước khác. Trên bản đồ đánh dấu minh xác cực nam lãnh thổ của Trung Quốc là đảo Hải Nam, điều đó có nghĩa là không bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đoạn cuối (* *): Mặt khác, Triều Nguyễn của Việt Nam thế kỷ 19 đã vẽ chế “Đại Nam nhất thống toàn đồ”, đánh dấu minh xác phạm vi lãnh thổ Việt Nam bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền của Viêtj Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. ( Việt Thông Xã) vietnamplus.vn/Home/.../20127/18498.vnpl