Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Lãn Miên

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    595
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    19

Everything posted by Lãn Miên

  1. Lạc Việt nghĩa là Nước Việt và cũng nghĩa là Bách Việt Hãy xem từ cái Nôi khái niệm “Sông”: Krông = Kông = Sông = Tông 宗 = Dòng = Dõng 涌 = Giang 江 = Kang = Kênh = Kinh 泾= Linh 泠 = Lối = Lộ 潞 = Lạc 洛= Lạch = =Rạch = Mạch 脈 = Ngách = Ngòi = Hói = Hà 河 = Hẻm = Hạng 巷 = Cảng 港 =Máng = Mương = Mai 脈 = Phai = Khai 開 = Khơi = =Khe = Khê 溪 = Khoỏng = Khuổi = Suối = Xuôi = Xuyên 川= Quyến 圳 = Tuyền 泉 Chú thích: Kông là Sông, Mê Kông bổn nghĩa là Mẹ Sông.Tông 宗 bổn nghĩa là một nhánh chảy, sau dùng cho từ Tông Tộc là Dòng Họ. Dõng 涌 thường dùng chỉ dòng chảy bao quanh làm bảo vệ, như Dõng quanh thành Phiên Ngung. Kang 江 là tiếng Triều Châu đọc chữ Giang 江. Lộ 潞 là dòng nước, từ Lộ Thủy 潞 水, Lộ Giang 潞 江 sau thành tên riêng của hai con sông ở TQ. Kinh Lạc là những dòng chảy, được dùng thành từ chuyên môn chỉ hệ Kinh Lạc trong cơ thể. Linh 泠 sau được dùng riêng với ý là mát rượi. Mai 脈 là tiếng Hán đọc chữ Mạch 脈. Phai là tiếng Tày chỉ con mương, từ đôi Mương Phai, Mương Máng chỉ hệ thống thủy lợi. Khoỏng là tiếng Lào chỉ con Sông, Mè Khoỏng là Mê Kông, là Mẹ Sông, cũng còn gọi là Mè Nặm Khoỏng. Quyến 圳 bổn nghĩa là dòng nước (giải thích của học giả TQ), Thâm Quyến 深 圳 ở tỉnh Quảng Đông vốn là một làng chài, ở đó có dòng nước sâu nên mang tên Thâm Quyến. Lạc 洛 là dòng sông, nên nội dung của nó là Lắm Nác, QT Lướt thì “Lắm Nác” = Lạc, QT Tơi-Rỡi thì Nác = Lạc, đều đúng cả. Chữ nho biểu ý viết chữ Lạc 洛 bằng chữ Nước (bộ Thủy氵) và chữ Các 各 ghép lại. Thủa xưa chữ nho viết dòng dọc thì thứ tự chữ viết từ trên xuống dưới còn thứ tự dòng xếp từ phải sang trái, nếu viết dòng ngang thì thứ tự chữ cũng xếp từ phải sang trái. Nhìn vào chữ Lạc 洛 xếp bằng chữ Các 各 bên phải, chữ Nước 氵 bên trái, đọc từ phải sang trái thì phải đọc là Các Nước. Còn nếu nhìn từ trái sang phải thì là nhìn lướt “Nước 氵 Các 各” = Nác = Lạc 洛. Như vậy đúng như nội dung của nó là Lạc 洛. Cho nên từ ghép “Lạc” Việt = “Lắm Nác” Việt = “Trăm Nác” Việt = Bách 百 Việt 越. Từ Bách mang nghĩa là nhiều, dùng cho số học thì nó chỉ con số cụ thể 100. Bách mang nghĩa là nhiều vì từ nguyên của nó là do từ Prăm của ngôn ngữ Môn - Khơ Me: Prăm = Năm = Lắm = Trăm = Bẵm = Bẫm = Bách 百 ( Trăm Bẵm = Chăm Bẵm nghĩa là lo vun vén cho nhiều, Vớ Bẫm nghĩa là vơ vét được nhiều). Sở dĩ từ Prăm diễn biến ý thành “nhiều” vì nó là con sô 5, là số lớn nhất trong hệ đếm ngũ phân của tiếng Khơ Me ( 1-2-3-4-5 là “Muôi” – “Tê” – “Pây” – “Buôn” – “Prăm”, sau đó đếm quay lại “Prăm Muôi” là 6 ). Lạc 洛 Việt 越 nghĩa là Bách 百 Việt 越. Riêng chữ Lạc 洛 còn có nghĩa là Sông. Cũng có chữ Lạc 駱 gồm ghép Mã 馬 và Các 各, đọc từ phải sang trái là lướt “Các 各 Mã 馬” = Cả, để chỉ cụ thể dòng sông, dòng sông đó là dòng Sông Cả, nho viết chữ Cả này là chữ Cơ 姬 . Sông Cả = Sông Cái = Sông Cơ. (Chữ Cơ 姬 này hoàn toàn biểu ý, không tá âm nào cả mà lại đọc là Cơ. Chữ Cơ 姬 này ghép bằng chữ Nữ 女 và chữ Thần 臣, mang nghĩa là Nữ Thần, đọc lướt thì “Nữ Thần” = Nôm = Nam. Mê Kông còn gọi là Mê Nam hay Mè Nặm . Thuyết Văn Giải Tự hướng dẫn đọc chữ Cơ là lướt “Cư 居 Chi 之” = Kỳ ; giải nghĩa: Hoàng Đế cư Cơ thủy, dĩ vi tính 黃 帝 居 姬 水,以 爲 姓 nghĩa là Hoàng Đế sống ở sông Cơ nên lấy Cơ làm họ. Đế là Nước, chữ Hoàng Đế tức là Đế Vàng = Nước Vuông = Nước Văn, tức nước Văn Lang). Sông là Mẹ. Mẹ = U. U Cơ = Âu Cơ 歐 姬. Đó là nguồn gốc của từ Mẹ Âu Cơ, là từ nền nông nghiệp lúa nước ven các dòng sông. Thời nguyên sơ là mẫu hệ nên có tục thờ “Mẹ Âu” = Mẫu 母.
      • 1
      • Like
  2. Con cờ làm bằng cách tiện con gỗ hình tròn dẹt có khắc chữ là tên của “quân chủng” lên trên mặt. Có thuyết giải thích rằng do con cờ tiện bằng ngà voi nên gọi là Tượng Kỳ 象 棋, rõ là ngớ ngẩn, có con cờ làm bằng ngà voi thật thì cũng chỉ là của hiếm dùng bán cho quí tộc để moi tiền mà thôi, chữ Kỳ 棋 ghép bằng chữ Cây 木 với chữ Kỳ 其, còn cái âm tiết Kỳ hay Cờ thì từ nguyên của nó là từ Của trong Tiếng Việt, ở con cờ thì nó là “Của Nghĩ” = Kỳ, là cái tư duy, cái để đưa ra một “Cách Đi” = Kỳ (các cú đi là “Mã nhật, Tượng điền, Xe liền, Pháo cách”), người ta còn ghép chữ Kỳ 其 với chữ Nguyệt 月 để cũng đọc là “kỳ 期” và hiểu là một Của Trăng hay một Con Trăng là một chu kỳ. Về chữ thì những chữ đơn thể thường là những chữ cổ nhất, có từ hình vẽ giáp cốt văn. Màu của chữ trên con cờ chỉ là qui định để phân biệt con cờ của hai bên mà thôi, nó không có ý nghĩa gì Nam hay Bắc, thông thường thì chia một bên là chữ màu đen, một bên là chữ màu đỏ để dễ nhìn cho nổi trên nền gỗ màu trắng hay vàng nhạt. Chỉ có điều chú ý là bên chữ màu đen bao giờ con cờ có chữ Tượng 象 đều là chữ Tượng 象 nguyên thủy từ giáp cốt văn có nghĩa là con Voi, bên chữ đen ấy các chữ con cờ đều là chữ cổ hơn, tức không có thêm thắt gì vào, chứng tỏ chúng là những chữ có trước các chữ của bên màu đỏ. Thời nước Sở còn mạnh, bình định hết các nước Việt phía Nam (bình định là vỗ yên chứ Vua Sở vẫn giữ nguyên đền thờ miếu mạo của các nước Việt và dùng quí tộc Việt làm quan), chiếm cả Trung Nguyên và rất nhiều tỉnh, rồi mới đến thời khá dài gọi là thời “Hán Sở tranh hùng”, trước khi Sở bị Tần diệt. Ta có thể tạm coi trên bàn cờ tướng là con cờ bên Sở viết chữ màu đen, con cờ bên Hán viết bằng chữ màu đỏ; sẽ thấy chữ khác nhau: Bên Sở con Tướng viết chữ Tướng 將, bên Hán con ấy lại viết bằng chữ Soái 帥; bên Sở con “quân chủng” Tượng viết bằng chữ Tượng 象, bên Hán con ấy lại viết bằng chữ Tương 相 (là chữ cùng đồng âm “xieng” như Hán gọi, nhưng nơi Hán không có Voi, đương nhiên là đánh trận không có “quân chủng” Voi, nên thay bằng chữ Tương 相 đồng âm với Tượng, chứ không phải là Voi, để làm con tương đương, cũng mang nghĩa Tương 相 là tương đương. ( Nếu phát âm Hán ngữ mà lướt như Thuyết Văn hướng dẫn thì không thể ra được “xieng” là Tượng, chẳng qua là bắt chước phát âm “tượng” của Tiếng Việt mà phát âm lơ lớ là “xieng” mà thôi. Hán ngữ lướt hai chữ Từ 徐 Vũ 雨 sẽ thành là “Xúy 徐 Uỷ 雨” = Xủy, chứ không thể thành “Tu” , nghĩa là “con vật”, như tiếng Tày hay tiếng Quảng Đông, được. Nêu lại phần này để thấy rằng thời viết ra “Thuyết Văn Giải Tự” của Hứa Thận đời Đông Tấn cách nay 2000 năm, ở Trung Nguyên cư dân vẫn còn nói là nói Tiếng Việt). Bên Sở con Sĩ viết bằng chữ Sĩ士, nhưng bên Hán chữ Sĩ 仕có thêm bộ nhân亻 đứng (các chữ Mã 傌, Xa 俥 cũng vậy, có thêm nhân đứng). Bên Sở chữ Pháo 砲là bộ thạch 石, bên Hán chữ Pháo 炮 lại là bộ hỏa 火. Bên Sở là con Tốt 卒, còn bên Hán là con Binh 兵. Con Tốt vì nó là của bên Ta, và bản chất của nó là “tốt” thật, chữ Binh 兵 thì là của bên thường hay phá “bĩnh”. Con Tốt 卒 là đông nhất nhưng cấp thấp nhất, tuy vậy “gặp thời một Tốt 卒 cũng thành công” vì Tốt 卒 là Lính, mà Lính là do cái Linh 靈 ở trong, nên rất biết tự chủ và độc lập sáng tạo. Tu Lình là con khỉ (tiếng Tày) nhưng Tên Lính là con người chân chính.
  3. Chữ Tượng 象 theo Thuyết Văn viết: chữ tượng hình loài thú bốn chân, trên giáp cốt văn, đọc : lướt “Từ 徐 Vũ 雨” = Tu (tiếng Tày thì “Tu” nghĩa là con vật), giải thích: trường tỵ nha, Nam Việt đại súc, …nhất nhũ 長 鼻 牙,南 越 大 獸 ,…一乳– loài thú lớn của Nam Việt có mũi và nanh dài,…một nhũ. Ở đây chữ Nhũ 乳 với âm tiết “nhũ” như là cái nhũ đá rủ trong hang, ý nói là nói cái vòi của con voi. Vậy có thể hiểu con vật đại súc mà chỉ Nam Việt mới có này , Thuyết Văn muốn giải thích là con Tu mà có đặc điểm Tu = Nhũ = Rủ = Vú = Vòi = Voi. Nghĩa là tên gọi nó là con Voi, như hình vẽ giáp cốt văn. Nó là đại súc nhưng đã được người Việt thuần hóa, hiền lành sống với người, Lành=Lương, và lướt con “Tu Lương” = Tượng, thành ra một chữ Tượng 象 mà có hai cách gọi, là con Voi hoặc con Tượng. Con Tượng 象 là loài thú lớn nhất trong muôn loài, nên cá nhân lớn nhất trong muôn quân thì gọi là Tướng 將, và lại lướt “To Tướng” = Tượng, nên chữ Tượng cũng còn mang nghĩa là Lớn, như xoài tượng là xoài lớn trái, và sự an bài không nhìn thấy, rất khó hình dung, của tạo hóa hay của tư duy đều được coi là cái Lớn, nên cũng gọi là Tượng 象, như khí tượng, trừu tượng, tưởng tượng. Chữ Tượng 象 vốn là cái hình vẽ, chỉ cụ thể con Voi, đã được mượn và nâng ý lên để gọi cái tư duy là Tượng 象, và cái tác phẩm nghệ thuật để cho nhập vong để thờ trong đền chùa cũng gọi là Tượng 像. Theo QT Nhóm thanh điệu định hướng khái niệm thì Tượng là tư duy tĩnh tại, hướng trong; đương nhiên Tưởng sẽ là tư duy hành động, hướng ngoài của từ đôi đối Tượng//Tưởng. Ta gọi là Cờ Tướng, là để nhấn cái ý hành động, sự năng động, quyết đoán của người chỉ huy là quyết định thắng lợi của cuộc cờ. Nhưng người xưa viết bằng hai chữ Tượng Kỳ 象 棋, là nhấn cái ý là cái nước đi, đã luôn được trừu tượng trong óc, cũng có thể gọi là cái âm mưu để giành chiến thắng trên chiến trường, tức là cái nôi khái niệm Nghĩ = Kỳ = Cờ = Vờ = Vờn = Vật = Quật = Quả, từ suy nghĩ (Nghĩ, Kỳ, Cờ) đến chiến thuật (Vờ, Vờn) đến hành động dứt khoát (Vật, Quật) đế đạt thành công (Quả). Do cờ tướng là có xuất xứ từ phương Nam, tương truyền là có từ thời Thần Nông, nên chỗ ranh hai bên trên bàn cờ gọi là Sở Hà 楚 河- Hán Giới 漢 界.
  4. Đế là Nước, là Gốc của sự sống. Nếu lấy chữ Đế từ cái nôi khái niệm “Nước”, để đem sang xét nó trong cái nôi khái niệm khác như bản thân nó định nghĩa là cái nôi “Gốc của sự sống” thì ta có trong tư duy Việt theo QT Tơi –Rỡi: Đế=Rễ=Lễ=Lẽ=Lý=Kỹ=Tỉ-Mỉ=Kỳ=Cờ. Từ đời Tần trở đi thì “Hán nho không hiểu được chữ Đế” (đấy là nhận xét của học giả TQ: “Hán nho bất tri thử nghĩa: 汉 儒 不 知 此 义- Hán nho không biết nghĩa đó). Vậy thì chỉ có Việt nho trước đời Tần là hiểu được nghĩa của chữ Đế 帝. Nhưng Tần Thủy Hoàng diệt lục quốc, đốt sách chôn nho, nên bây giờ muốn hiểu Việt nho phải khôi phục. Còn lúc diệt xong lục quốc, Tần không hiểu chữ Đế 帝 nên xưng là Tần Thủy Hoàng Đế một cách ngạo mạn ( đức kiêm tam Hoàng, công cao ngũ Đế “德 兼 三 皇,功 高 五 帝”), đòi đứng trước cả Đế là chữ Thủy 始 (nghĩa là đầu tiên). Dù ngạo mạn tự coi mình là đầu tiên, dù mạnh tới mức diệt được cả lục quốc, nhưng do không hiểu chữ Đế 帝 mà xưng Hoàng Đế nên Tần Thủy Hoàng đoản mệnh, nhà Tần chỉ tồn tại có 24 năm. Chữ Đế 帝 là của Việt nho, trong cái nôi khái niệm “Gốc của sự sống” đã dẫn ở trên, thì các chữ nho tương ứng như sau (với phát âm khi đọc chữ nho, thể hiện trong ngoặc đơn) : Đế 帝 = Rễ 蒂(đế)= Lễ 禘(đế)= Lẽ = Lý 諦(đế)= Kỹ = Tỉ-Mỉ (đế 諦)= Kỳ 奇(kỳ)= Cờ 棋(kỳ); những từ trong Phật giáo dùng như Chân Đế 真 諦, Diệu Đế 耀 諦 (nghĩa là cái Lý kỳ diệu duy nhất đúng chiếu rọi). Cái gốc của sự sống thì đúng là nó kỳ diệu, nó rất tỉ mỉ tức không còn kẽ hở nào để có thể “lách pháp luật” được, nhưng nó là một cuộc cờ tức đã an bài sẵn hay là “lập trình sẵn” cái thế tương tác của nhiều tố mà chúng đòi hỏi phải ở trạng thái cân bằng mới phát triển ổn định được. (Cuộc cờ ấy chính là thuyết Âm Dương Ngũ Hành, là Lý thuyết thống nhất vũ trụ). Bộ rễ cây nếu bón nhiều phân đạm quá nó cũng thúi chết vì mất cân bằng dinh dưỡng. Kẻ giữ cho cân bằng (như cân bằng Âm Dương) cái gốc của sự sống chính là kẻ nắm trọn cái nôi khái niệm dẫn ở trên, là kẻ “Đầu Nước cờ” tức “Đầu Tế” = Đế 帝. Và Đế là cân bằng nhất, tức công bằng nhất. Chữ Đế 帝 vốn xưa trên giáp cốt văn là một hình vẽ tuyệt đối cân bằng phải trái, sau đến vẽ thành kim văn , triện văn cũng hoàn toàn cân bằng, rồi đến lệ thư, khải thư, hành thư và tống thư như đang dùng đều là con chữ cân bằng hai nửa chia dọc (như là Âm Dương cân bằng). Chữ Đế 帝 nếu tháo tung ra sẽ được trên là chữ Lập 立 cũng rất cân bằng hai nửa phải trái, dưới là chữ Cân 巾 cũng rất cân bằng phải trái (chữ Cân 巾 này sau lấy ký âm cho chữ Khăn). Đế là công bằng nhất, Đế lại là Nước, Nước cân bằng (phép Nước công bằng) thì Nước đứng được(chữ Lập), còn không thì trước sau gì Nước cũng đổ (để Nước vào chỗ dốc thử xem Nước có còn không ?). Đế là Nước, bản chất của Nước là Trong 中 , chữ Trong 中tượng hình nãy cũng rất Cân 巾 Bằng 平 (Trong 中 như nước nguyên chất là công bằng nhất, nước biển hòa như vậy mà vẫn chỗ mặn chỗ nhạt). Sau người ta viết thành chữ Trọng 仲 là trọng tài, và cũng đọc chữ Trong 中là Trung 中 nghĩa là ở giữa (“Tôi là người Giữa tôi chữa đôi bên”, nhưng Chỗ Giữa trong Hán thư lại viết ngược bằng hai chữ Giao Chỉ 交 址 đấy, bởi vậy dân Giao Chỉ 交 址 đâu có bao giờ cực đoan) , ở nhiều văn bản của “cổ Hán ngữ” còn phải đọc chữ Trung 中 là Trũng để hợp ngữ cảnh của nó trong bài viết, là “nước chảy chỗ Trũng” như đang diễn tả, chứ không thể đọc là nước chảy chỗ Trung hay nước chảy chỗ Trong được, chữ Trung 中 nó là chữ của Việt nho, về sau gọi là Hán tự. Theo thuyết ADNH thì Trời và Đất đều do một sinh ra, cái chung của Trời và Đất là Giới 界 mà Hán nho chia ra Thượng Giới 上 界 và Hạ Giới 下 界, chữ Giới 界 này cũng rất cân bằng, âm tiết “giới” là chỉ cái “Nơi”, cũng là do NÔI mà ra: NÔI = Nơi = Giới 界; NÔI = Trồi = Trời = Giời = Giới 界; NÔI = Bồi = Đồi = Đất = Dật (nghĩa là đầy) = Giới 界. Vì Giới 界 là Nơi ( “Thượng Giới 上 界” chính là Nước Trên và “Hạ Giới 下 界” chính là Nước Dưới, do NÔI=Nước=Nơi) nên Giới = Đới 带 = Đái 带 = Đế 帝, như vậy Đế là nước, Đế cũng là Nơi, cũng logis ấy của Việt: Nước là nước, Nước cũng là Nơi quần cư của người Việt. Chữ Đái 带 cũng rất cân bằng, nó là tiền thân của chữ Đế 帝(chỉ sửa trên một chút, còn bên dưới vẫn là chữ Cân 巾). Tiếng Quảng Đông phát âm chữ Đế 帝 là “Đái” (Tiếng Việt thì “té nước” hay “té đái” cũng đều ra nhiều nước hết). Đục thì đục mà trong thì trong, cũng như tục thì tục mà thanh thì thanh. Đế = Đới 带 = Cở i解, Đế = Đái 带 = Giải 解. Cuộc cờ thế gian chỉ có Đế 帝 mới cởi giải được mà thôi. Nhân loại có thể cởi giải được nếu nắm hiểu được cái Lý 諦 của Đế 帝, đó là Chân Đế 真 諦,là Diệu Đế 耀 諦,đó là cái Lý thuyết thống nhất vũ trụ.
  5. Hoàng Đế, Quân Vương Hai chữ ghép Hoàng Đế (tương đương “the Empire”), dùng trong Hán ngữ phát âm là “hoáng ti”, hai chữ Hoàng 皇 và Đế 帝được “Từ Điển Yếu Tố Hán Việt Thông Dụng” Viện Ngôn Ngữ Học NXB KHXH HN 1991 coi là “từ Hán Việt” (trang 121 và 176), nhưng kỳ thực cả hai chữ đó đều là từ gốc Việt : Chữ Đế 帝 vốn là một trong những từ thuộc nôi khái niệm “Nước” do QT Tơi-Rỡi: Té = Tế = Túc= Tức = Đức = Đầy = Đủ = Đế = Đác = Nác = Nước, nên Đế nó có nghĩa là Nước, nhưng sắc thái của nó là Đầy Nước, tức nắm toàn bộ Nước. Vì QT Lướt: “Đầy Tế” = Đế, “Đầy Tức” = Đức, đều có nghĩa là đứng đầu Nước (“Tức” tiếng Khơ Me có nghĩa là “nước”, từ đôi Tức Nước nhấn mạnh ý là quá đầy nước, “Tức nước vỡ bờ”). Vì bản chất của Nước là “Đầy” (xu hướng nống ra mọi phía: thấm, tràn, bốc hơi, nở khi đóng băng), nên đầy nước tức là ngọn sóng, ngọn sóng tức là đầu nước, và người Việt đã gọi cái khái niệm “đứng đầu nước” ấy là Đế hay Đức, đúng như chúng hình thành bằng QT Tơi-Rỡi, bởi vậy người Việt gọi người đứng đầu Nước là Đức Vua hay Đế Vương. Từ cái hình ảnh cụ thể là “đầy nước” = ”ngọn sóng” mà hai từ Đế và Đức được dùng để chỉ người lãnh đạo cao nhất của một nước. Khi tôi giải thích nguồn gốc chữ Đế 帝, là do tôi nhìn thấy nó trong qui tắc tạo ngôn từ Việt mà tôi nêu ra là QT Tơi-Rỡi. Nhưng chính các học giả Trung Quốc lại vô tình chứng minh giùm tôi khi họ phải sao lục trong cổ thư chữ Hán những giải thích xưa. Thì đây: “Đế giả sinh vật chi chủ, vạn vật hưng ích chi tông, sinh vật sinh dục chi công vị chi đế 帝 者 生 物 之 主,萬 物 興 益之 宗,生 物 生 育 之 功 謂 之 帝 - Đế là chủ của sinh vật, là dòng đem hưng ích cho vạn vật, là công năng cho phát dục của sinh vật gọi là đế”. Vậy thì đúng người xưa đã giải thích Đế là nước, là dòng nước, nguồn gốc của sự sống. Chữ Dòng là dòng nước trong Tiếng Việt, nó là từ nguyên cho nhiều chữ khác mà trong “cổ Hán ngữ” hay trong Hán ngữ sử dụng , như Sông = Tông 宗(“zong”: dung)= Dòng = Dõng 涌(“yong”: dủng)= Giang 江(“jiang”: cheng)= Kang (tiếng Triều Châu)= Kênh. [Phát âm trong ngoặc kép là pinyin của Hán ngữ, có chú cách đọc bên cạnh. Tông 宗 là dòng, chữ Tông 宗 này còn dùng cho từ dòng họ mà “cổ Hán ngữ” vẫn ghép theo cú pháp Việt là tông tộc. Từ đôi Họ Tộc cho thấy từ Họ là dùng trước, Họ = To = Tổ 祖 = Tộc 族, Hán ngữ phát âm chữ Tổ祖 là “zủ” chữ Tộc 族 là “zú”. Dõng 涌 là dòng, chỉ riêng dòng nước bao quanh để bảo vệ thành, như kênh bao quanh thành Phiên Ngung là Dõng 涌…chứ không gọi là Hào hay Giang] Chữ Hoàng 皇(“huáng”) có từ nguyên là chữ Lang, Lang là người lãnh đạo của một cộng đồng, do lướt “Lớn Làng” = Lang. Lang=Hoàng=Vàng=Vương=Vua=Chúa=Chủ=Chậu=Chiếu. Như vậy từ nguyên của từ Lang là từ Lớn, nên “quan Lang” cũng còn gọi là “quan Lớn”. Hoàng có nghĩa nguyên thủy là Lớn thì cũng đúng như nó là một từ trong những từ thuộc nôi khái niệm “Rộng”: Hoàng 皇 = Hoằng 宏 = Hùng 雄 = Hồng 洪, 鴻 = Rộng = Bồng = Bàng 龐 = Quảng 廣.(Trong cái nôi khái niệm có bảy chữ này, chữ Rộng ở giữa thể hiện cái gốc ngôn ngữ phương Đông là từ đất Giao Chỉ, là cái nơi Ruột, nơi chôn Rau). Từ đôi Hồng Bàng 鴻 龐 nghĩa là “rộng” của dân Tiên Rồng. Từ đôi Bàng Hoàng nghĩa là “rộng” nhưng đã biến ý thành cái rộng của tư duy không tập trung được mà bị vỡ òa rộng ra thành mơ hồ, viết bằng hai chữ Bàng Hoàng 彷 徨 khác, mang nghĩa là “ở trạng thái không giữ được chủ định”, mà Từ Điển trên (trang 29) cho là “từ Hán Việt”, do không thấy được cái từ nguyên của nó là từ “Lớn” của Tiếng Việt, mà Tiếng Việt còn có từ đôi Rộng Lớn. Người Việt xưa quan niệm ba thể Lớn nhất là Trời, Người, Đất. Do đó Trời Lớn viết là Thiên Hoàng 天 皇, Người Lớn viết là Nhân Hoàng 人 皇, Đất Lớn viết là Địa Hoàng 地 皇. Đó là khái niệm Tam Hoàng, từ nguyên của Hoàng là Lớn, nên “tam Hoàng” có nghĩa là ba cái lớn. Nhưng ba cái lớn ấy không phải tự sinh ra, mà chúng có chung một chủ tể ban đầu, tức là cái kẻ Đầu Nước của chúng. Nước ở đây đã thành là một Nước cờ, tức là một sự tương tác, tức sự xếp đặt trò chơi của tạo hóa. Kẻ Đầu Nước hay Đầu Tế đó là Đế (lướt “Đầu Tế” = Đế). Kẻ Đầu Tế đó là kẻ Nêu ra mọi sự phát triển về sau cho vũ trụ và muôn vật, nên người Việt có tục trồng cây Nêu ngày Tết, vì kẻ “Đầu Tế Nêu” chính là kẻ “Đầu Têu” ra mọi sự biến đổi trong thiên nhiên và trong xã hội hoặc trong cuộc đời mỗi con người (mà LHĐP có thể tiên đoán được). Kẻ chủ tể ấy là Đế, chính là Đế Trên, mà về sau Hán ngữ viết ngược là Thượng Đế. QT Tơi-Rỡi đã tạo ra: Trời = Trên = Lên = Then = Thiên = =Thượng, (Đế Trên = Thượng Đế); Đế = Tế = Tể, dẫn ngược lại thì thấy rõ cái phong tục cổ xưa: người ta giết con vật là Tể (Tể 宰 của từ đồ tể) để Tế (Tế 祭 = Tự 祀 = Tế 济 là hiến cho) thượng Đế 帝. Cái từ Têu (với từ Đầu Têu) rất dân dã của trẻ con người Việt thường nói, hóa ra lại cực kỳ quan trọng khi thấy ra từ nguyên của nó: do lướt “Tế Nêu” = =Têu; Tế Nêu là một cái Lễ rất trang nghiêm và thiêng liêng trong một thời khắc đầu năm ở chỗ trồng cây Nêu. Nhưng Têu lại là nguyên nhân cho mọi biến đổi hay còn gọi là họa phúc về sau. Vì theo từ nguyên, Tế là Nước nên Tế Nêu = =Nước Nêu. Nước Nêu có nghĩa là Nước là nguyên nhân của mọi sự biến trên thế giới này. Ngày xưa chiến tranh xâm lược chỉ vì muốn mở rộng Nước. Ngày nay kẻ đầu têu muốn chiếm trọn Biển Đông cũng chỉ vì Nước. Thế giới sẽ xảy ra đại chiến khi nguồn nước cạn kiệt do bị ô nhiễm, người ta tranh nhau từng giọt nước uống. Như vậy Hoàng 皇 là Lớn, ba cái lớn nhất gọi là tam Hoàng, chủ tể của tam Hoàng là Đế, nên Đế Hoàng tức Đế Lớn , gọi theo kiểu Hán là Hoàng Đế 皇 帝 tức Thượng Đế, lại còn tôn xưng là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Vì Hoàng 皇 nghĩa là Lớn nên về sau nói về người lớn đã khuất có từ Hoàng Khảo 皇 考(từ nguyên là “Lớn Khuất”) ý là người Cha đã khuất , ví dụ trong “Ly Tao《离 骚》” viết: “朕 皇 考 曰 伯 庸 – Quan hoàng khảo viết Bá Dung” nghĩa là “Cha đã khuất của Ta gọi là Bá Dung”. Âm tiết Quan 朕 này dùng phổ biến trước thời Tần trên khắp đất Trung Hoa, “quan” có nghĩa là “của Ta”, do lướt “Của Con” = Quan 朕, mà Con là đại từ nhân xưng ngôi một, Con = Cả = Ta = Ngã 我 = Ngộ 我 = Ngô 吾, chỉ có là từ gốc Việt thì mới có lướt “Của Con” = Quan mà thôi. Chứng tỏ thời trước Tần, trên khắp đất Trung Hoa, rõ ràng là cư dân nói bằng tiếng Việt, ví dụ sách “Đại vu đỉnh 《大 盂 鼎》“ viết bằng kim văn(金 文)câu:“勿 废 朕 令”- vật phế “quan” lệnh, có nghĩa là đừng có phế bỏ huấn lệnh “của ta”. Hứa Thận trong Thuyết Văn Giải Tự thì giải thích chữ Quan 朕 nghĩa là Tôi (我 也 Ngộ dã ), tất nhiên là không chính xác lắm vì Hứa Thận thời Đông Tấn, còn phát âm ấy là thời Tiên Tần, có thể đó là như chữ Quan 官 hay Quân 君,軍 đều trong nôi khái niệm Ta = Cả = Con … Cứ theo Hán sử thì: cách nay 5000 năm ông Hoàng Đế 黃 帝 đẻ ra ông Đế Viêm 帝 炎 tức Đế Thần Nông 帝 神 農, ông Đế Viêm 帝 炎đẻ ra ông Đế Chuyên Húc, ông Đế Chuyên Húc đẻ ra ông Cổn, ông Cổn đẻ ra ông Vũ là Hạ Vũ là tổ của người Hạ tức người Hoa Hạ. Nghe cứ như là một gia phả liền mạch, nhưng rõ thật là ngớ ngẩn. Lịch sử từ thời Đế Thần Nông đến thời Hạ Vũ là cả mấy ngàn năm. Thời văn minh nông nghiệp trồng trọt cách nay hàng vạn năm là thời của Đế Viêm tức Đế Thần Nông, là thời người Việt canh tác nông nghiệp trồng trọt trên mảnh đất Trung Hoa, có thuyết Âm Dương Ngũ Hành, vận dụng làm nên nền Đông Y và biết làm thuốc bằng cây cỏ. Có danh y mà người đời tôn xưng là Đức Lớn = Đức Lang = Đế Vàng = Đế Hoàng viết nên cuốn sách thuốc là “Nội kinh tố vấn”, người đời sau chép lại là cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”. Đó là cuốn sách thuốc cổ xưa nhất của người Việt, có từ thời Đế Thần Nông, của đại y sư khuyết danh sưu tầm biên soạn lại, người đó được tôn xưng là Đức Lớn = Đức Lang = Đế Hoàng. Về sau người Việt gọi các ông bà thầy thuốc là Ông Lang, Bà Lang. Quyển sách của Đức Lang ấy người đời sau chép lại là cuốn “Hoàng Đế nội kinh tố vấn”. Đừng nhầm Đức Lang = Đế Hoàng này với ông Hoàng Đế 黄 帝 mà Hán sử phong làm ông Tổ của người Hán. Chẳng qua là khi đã giành được địa vị thống trị thiên hạ rồi thì người ta xào xáo sử Việt và phải đặt ra một ông còn ngồi cả trên ngọn nguồn của cả sử Việt để làm ông Tổ của người ta. Truyền thuyết xưa kể khi trong vũ trụ và thế gian hình thành tam Hoàng rồi thì xã hội nguyên thủy lần lượt là do những người Đầu Nước tức “Đầu Tế” = Đế lãnh đạo cộng đồng, lần lượt trải qua năm Đế, nên có câu thành ngữ Tam Hoàng Ngũ Đế. Đến khi họ Triệu tiêu diệt lục quốc, thâu tóm thiên hạ vào một, kiêu ngạo vỗ ngực, chẳng Tam Hoàng với lại Ngũ Đế cái đinh gì, Ta đây mới là người đầu tiên thống nhất được cả thiên hạ “德 兼 三 皇,功 高 五 帝”(đức kiêm tam Hoàng, công cao ngũ Đế) nên tự phong là Thủy Hoàng Đế, và gọi là Tần Thủy Hoàng Đế hay Tần Thủy Hoàng. Từ thời Tần về sau hai từ Hoàng 皇 (Lớn, Lang) và Đế 帝(Đầu Nước) luôn viết gắn ghép với nhau là Hoàng Đế 皇 帝 tức Đế Lớn để chỉ vua nhưng ý là vua của các vua, còn các từ Vương 王, Quân 君 hay Quân Vương 君 王 chỉ là vua của vùng thuộc quốc tức vùng của Nước (tương đương “the King”). Nhà Tần sau khi đã diệt hết các nước của Bách Việt ở vùng Trường Giang, thì vùng Lĩnh Nam vẫn còn giữ được độc lập là nước Nam Việt, vua vẫn xưng là Đế (tức Đầu Nước, ngang hàng như Nước của nhà Tần. Đến thời Hai Bà Trưng kháng chiến chống Hán xâm lăng Lĩnh Nam, Bà xưng là Lĩnh Nam Hoàng Đế, tức là Đầu Nước Lớn Nam Ngũ Lĩnh, độc lập ngang hàng nước Hán. Những đời sau từ Mai Hắc Đế, Đinh Tiên Hoàng Đế cho đến Quang Trung Hoàng Đế đều là xưng Đế hết, như từ Đế của người Việt xuất hiện trước tiên trên đất Trung Hoa cách hàng vạn năm.Thời Nguyễn Trãi viết “Từ Triệu, Đinh, Lý , Trần xây nền độc lập. Cùng Hán , Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”, tức đều xưng Đế, độc lập và ngang bằng nhau. Thời nhà Lý câu thơ “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư” cũng khẳng định xưng Đế. Chỉ có hồi đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thì tôi đi khắp Hà Nội chẳng thấy đâu có bích họa hay khẩu hiệu có bài thơ “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư” (?), hay là do sợ phạm húy vì hồn Lý Công Uẩn trong bộ phim “Về thành Thăng Long” đã được trùm quần áo Tàu, và ở nhà Tàu rồi.
  6. Hạ Vũ Sự ra đời của Vũ có nhiều thuyết: 1.Truyền thuyết kể rằng sau khi Cổn 鯀 chết thì Vũ 禹 mới ra đời. Cổn do lấy trộm (Trộm = Triệt = Thiết 竊 , trộm nghĩ = thiết nghĩ) đất thu tô của thượng đế để lấp hồng thủy nên bị thượng đế xử tội, lệnh cho thần Chúc Dung giết chết (theo sách 《Sơn hải kinh. Hải nội kinh 山 海 經.海 內 經》). Cổn chết ba năm mà xác không rữa nát , mổ xác Cổn ra thì lấy được Vũ sinh ra. 《山 海 經.海內 經》 : Hoàng Đế sinh Lạc Minh 駱 明, Lạc Minh sinh Bạch Mã 白 馬. Bạch Mã thị vi Cổn 鯀. … Đế lệnh Chúc Dung giết Cổn ở Vũ Giao. Cổn phục sinh Vũ) 2. Cổn 鯀 là người đàn bà, sinh ra Vũ. Sách 《Sở giản.Tử Cao biên 楚 簡.子 羔 篇 》 ghi Khổng Tử luận Vũ sinh ra do mổ ở lưng mẹ mà lấy ra, mẹ Vũ mang thai đến ba năm, Vũ sinh ra đã biết nói ngay. “ Hoàng Đế đẻ Xương Ý, Xương Ý đẻ Cao Dương thị vi Đế Chuyên Húc, Chuyên Húc đẻ Cổn, Cổn đẻ Văn Mệnh thị vi Vũ”. 3.Từ thời nhà Hán về sau, thư tịch ghi lại truyền thuyết, và cho rằng Vũ 禹 là một người đàn ông, ghi theo phả hệ dòng bố như kiểu đích tôn cha truyền con trai nối, rằng Cổn 鯀 là bố của Vũ 禹 (Tư Mã Thiên viết về sử nhà Tây Hán trong “Sử ký. Hạ bổn kỷ 史 記.夏 本 紀”: Bố của Vũ là Cổn, bố của Cổn là “đế Chuyên Húc 帝 顓 頊”, bố của Chuyên Húc là Xương Ý, bố của Xương Ý là “Hoàng đế 黃 帝”, “ Vũ giả, Hoàng đế chi huyền tôn nhi đế Chuyên Húc chi tôn dã 禹者,黃帝之玄孫而帝顓頊之孫也” - Kẻ Vũ là cháu 5 đời của Hoàng đế, còn Chuyên Húc là cháu 3 đời của Hoàng đế” [ Đọc trong nguyên bản hành văn trên, thấy cú pháp lẫn lộn khi Hán, khi Việt. Tất cả dựa vào truyền thuyết, nhưng lại muốn qui cho ông Tổ đầu tiên là Hoàng đế, gọi theo cú pháp Hán, nhưng cháu nội đích tôn của ông ấy lại không gọi là Chuyên Húc đế mà lại gọi là “đế Chuyên Húc”, gọi theo cú pháp Việt; đến hàng mấy ngàn năm sau (theo như sử này nói Hoàng Đế là Tổ của người Hán cách nay 5000 năm), cái ông vua đang chỉ đạo viết sử này, chính ông ấy lại được gọi là Hán Vũ đế, gọi theo cú pháp Hán. Vậy chứng tỏ là sử cổ đại (truyền thuyết) trên Hán thư ghi lại là do người Hán chép lại và có xào nấu lại sử cổ đại của Việt. Cổn 鯀 được cho là bố của Vũ 禹. Vậy mà chữ Vũ 禹là chữ đơn thể, tự nó gốc gác là từ tượng hình trên giáp cốt văn, diễn tả hình người bắt rắn (Thuyết Văn đọc: lướt “Vương 王 Cụ 矩 = Vũ 禹, giải thích là loài 蟲 Trùng; Trùng=Trùn=Tròn=Trăn=Rắn (loài không có chân); nếu Hán ngữ mà lướt thì thành “Váng 王Chuy 矩”= = Vuy, không thành Uỷ như pinyin “Yu 禹” được). Trong khi chữ Cổn 鯀 là chữ ghép biểu ý, là kiểu chỉ có từ khi có qui tắc lục thư do soạn ra từ thời nhà Tần, chữ Cổn này gồm chữ Hệ 系( từ nguyên là Họ) và chữ Ngư 魚là cá, ám chỉ dân sông nước, giải thích là một loài cá, ( Ngư 魚 Hệ 系 thì có thể hiểu là con Cá Hô . Thuyết Văn đọc: lướt. “Cổ 古 Bổn 本” = Cổn 鯀, nếu Hán ngữ mà lướt thì thành “Củ 古 Pẩn 本” = Cẩn, không thành Cun như pinyin “Gun 鯀” được). Chữ Cổn 鯀phát âm Hán là “Cun” (pinyin “gun”), nó có từ nguyên chính là từ Con của Tiếng Việt mà thôi, nhưng Con ở đây là Con Mẹ hay Con Mụ, tức là một Bà, vì thời cổ đại hàng vạn năm trước ấy vẫn còn là thời mẫu hệ gọi là Thị Tộc; U=Vú=Vũ=Mụ=Mẹ=Mẫu. QT Tơi-Rỡi: Cả = Con = Quan = Quân = Cun = Khun = Khôn = Khuông = Vuông = Vua = Văn = Vũ = Vương = = Tướng = Hường = Hoàng = Voòng = Vàng = Lang = Lớn = Cổn = Cả. Pò Khun là Bố Cả hay Bố Cái. Sông Cả cũng gọi là sông Cái. Tên thường gọi trong truyền thuyết chuyện kể là “Đại Vũ” là do những cái tên Lang Vũ, Lớn Vũ, Cổn Vũ, Cả Vũ, Đà Vũ (chuyện cổ tích “ông Đùng bà Đà”), nên khi viết lại sử từ truyền thuyết dân gian, nghe tiếng Cổn Vũ thì dễ coi như bố Vũ là Cổn, hay nghe thấy tên Đà Vũ thì dễ coi như mẹ Vũ là bà Đà hay bà nữ Oa. Những từ có sau như Chu Văn Vương là ông Vua họ Chu, Chu Vũ Vương cũng là ông Vua họ Chu, Lưu Hướng là ông Vua họ Lưu, Hán Vũ Đế là ông “Đứa Vua nước Hán” hay “Đức Vương nước Hán” cũng là một. Ngôn ngữ dân gian thì nó là như vậy, dù là Vua hay Quân hay Vương hay Tướng thì cũng là Con, tức là từ đẻ cái chửa mà ra, mà lướt “Đẻ cái Chửa” = Đứa. Từ nguyên của chữ Đế là Nước, do Té = Tức = Tế = Đế = Đức = Đác = Nác = Nước. Người đứng đầu Vùng gọi là Vua hay Vương thì người đứng đầu Nước gọi là Đế hay Đức (tiếng Khơ Me gọi là Xăm Đéc). Thời Văn Lang lập Nước cách nay gần 5000 năm, đó là thời Đế Minh. Căn theo cái âm tiết, thì nguyên thủy từ Đế Minh chưa có nghĩa là Vua Sáng, nó có nghĩa là “Đức của Mẹ Kinh”, tức người đứng đầu quốc gia của người Kinh, Đầu Nước = Đầu Tức = Đức; Mẹ Kinh = Minh; chế độ là mẫu hệ; người đứng đầu nước là do cộng đồng bầu lên, là đàn bà hoặc đàn ông, thay đổi cũng là do bầu, gọi là Thiền nhượng (Thay Hiền = Thiền). Khái niệm “Sáng” khởi thủy là do từ Trời và từ Trăng. Trời = Rọi = Chói = Chiếu 照 = Triêu 朝 = Diệu 耀 (Hán ngữ phát âm khái niệm Rọi là “Rừ” viết là chữ Nhật 日; phát âm chữ Nhiệt 热 có bộ hỏa là “Rừa”, do từ lướt của tiếng Việt là “Rực Lửa” = “Rừa”, nghĩa là nóng, mà Nóng = Nắng = Dàng = Dương = “Yáng 阳” ); Trăng = Rạng = Sáng = Láng = =Lượng 亮. Rọi sáng là một câu, nhưng Sáng Soi là một từ đôi, do lướt Sáng + Sáng Rọi = Sáng Soi, lướt “Sáng Rọi” = Soi. Do người Kinh, cũng tức là người Việt, nên từ Mẹ Kinh = Minh người ta viết bằng hai chữ Việt ghép lại với nhau (để mang ý là nhiều, theo kiểu có âm có dương thì đẻ ra nhiều), hai chữ Việt đó là chữ Nhiệt 日 và chữ Nguyệt 月( QT Tơi-Rỡi: Việt = Nguyệt 月= Nhiệt = Nhật 日, để nói là dân xứ nóng, dân mặt trời), thành ra chữ Minh 明.Chữ này chẳng có tá âm "inh" gì cả mà lại gọi là Minh, vậy nó chỉ có thể là do "Mẹ Kinh" = Minh , thiết mà thôi. Do ghép như vậy nên chữ Minh 明 gồm Nhật 日và Nguyệt 月 mới đại diện cho cái nghĩa do biểu ý của chữ, nghĩa là Sáng, nó là cái khái niệm có sau từ Sáng, chỉ có nghĩa trên mặt chữ, tức là dùng chữ Minh 明 nghĩa là sáng cho ý văn học như từ minh chứng, minh bạch. Khẩu ngữ Hán ngữ chỉ dùng chữ Lượng 亮 (“liang”), khẩu ngữ Tiếng Việt chỉ dùng chữ Sáng]. Mẹ của Vũ là Nữ Hỉ 女 嬉 (theo “Ngô Việt Xuân Thu. Việt vương Vô Dư ngoại truyện 吳 越 春 秋.越 王 無 余 外 傳”, soạn giả là Triệu Hoa 趙 曄 thời Đông Hán 25-220 ) : Vũ phụ Cổn giả, đế Chuyên Húc chi hậu 禹父鯀者,帝顓頊之後 Cha Vũ là Cổn, con của đế Chuyên Húc. Cổn 鯀 lấy con gái họ Tân 莘 tên là Nữ Hỉ 女 嬉 . ( Có vùng đất thuộc Thượng Hải tên Tân 莘, cũng có vùng đất thuộc Sơn Đông tên Tân 莘). [ Nguyên văn: “hữu Tân thị 有 莘 氏”, hữu Tân nghĩa là họ Tân, chữ Thị 氏 sau thì sách nói là do ý tôn kính đối với họ quí tộc, ví dụ như viết “hữu Hùng thị 有 熊 氏” nghĩa là "họ Hùng quí tộc". Chú ý lối ghép này là cú pháp Việt, mà chữ Hữu 有, (hoặc có thể dùng chữ Hệ 系), chỉ là tá âm cho chữ Họ, tức là dùng chữ nho đang sử dụng thời người soạn, có âm na ná để phiên dịch âm tiết Họ được viết bằng chữ khoa đẩu dùng trước đó; nếu là lối ghép cú pháp Hán thì phải viết là “Tân tính 莘 姓”, “Hùng tính 熊 姓,雄 姓”. Vì ghép là theo cú pháp Việt, nên từ nguyên lại phải đẩy lùi về đến Tiếng Việt mà tìm: “hữu Tân thị” có từ nguyên là “họ Tân chị”, tức là họ Tân, mà lấy theo họ mẹ, chứng tỏ thời đó là thời mẫu hệ, người ta lấy họ theo họ Mẹ (nhiều nhóm người Hoa ở Việt Nam đến ngày nay vẫn còn lấy họ theo họ Mẹ). Thời Hùng Vương chắc là vẫn còn dùng chế độ mẫu hệ, lấy họ theo họ Mẹ, nên người Việt có tục thờ Mẫu. Phật giáo truyền vào thì Phật một mặt giữ nguyên, mặt khác Phật còn bị Việt hoá mà hóa thân thành Phật Bà Quan Âm. Chế độ mẫu hệ có lẽ còn kéo dài đến tận thời Hai Bà Trưng, nên người Hoa Nam có tục thờ Vua Bà. Địa danh trên đất nước thì Bà nhiều hơn là Ông, đền thờ Bà Chúa thì thấy nhiều chứ đền thờ ông Hoàng Tử thì nghe hiếm. Tuy nhiên chế độ mẫu hệ nhưng Vua có thể là đàn bà hoặc đàn ông, bình đẳng chọn theo “thiền nhượng” để kén hiền tài. Tiếng Việt thì cá nhân mỗi con người là Kẻ. Kẻ = Cả = Cha = Giả 者 = Gia 家, chỉ người đàn ông. Kẻ = Mẹ = Đẻ = Đĩ = Chị = Kỹ 妓 = Thị 氏 = Thư 姐, chỉ người đàn bà. Những từ như Đĩ hay Kỹ Nữ 妓 女 cổ xưa nó chưa biến nghĩa thành nghĩa xấu, chẳng qua là về sau do xã hội qui định. Nhiều nơi người Việt vẫn gọi Mẹ là Đẻ hoặc là Chị. Từ đôi là hai từ đồng nghĩa ghép với nhau để nhấn mạnh ý. Khi chửi “Mẹ mày !”, để nhấn mạnh ý người ta còn dùng từ đôi là “Đĩ Mẹ mày !”. Chế độ mẫu hệ lấy họ Mẹ, chế độ phụ hệ lấy họ Cha, là do qui định của cộng đồng xã hội, chẳng phản ánh gì về sự tiến bộ hay thoái hóa xã hội, miễn là không cận hôn. Thông thường xã hội qui định sau năm đời thì hết cận hôn. Ở Việt Nam có họ còn qui định riêng là muôn đời cùng họ không được lấy nhau, mà vẫn được mọi người trong họ đó chấp hành nghiêm, hoặc như liền anh liền chị của quan họ Bắc Ninh dù khác họ, dù yêu nhau say đắm đến mấy vẫn chấp hành nghiêm lệ của quan họ là không được lấy nhau, vẫn coi nhau là bạn và vui mừng cho hạnh phúc riêng của nhau. Thế mới thấy cái ứng xử văn hóa “phép Vua còn thua lệ Làng” nó có uy lực đến nhường nào. Ngày nay có kẻ đến phép Quốc Tế nó còn chẳng coi là cái đinh gì, muốn chiếm biển, cướp đảo của người ta là chiếm, cho nên nó bị “mất mặt”, Hán ngữ gọi là “tiu liẻn 丟 臉”; Mất = Thất 失 (“sư”) = Tốt 卒 (“zú”) = Toi = Tiêu 消(“xieo”) = Điệu 掉 (“tieo”) = Đu = Đéo = Đểu = “丟 Tiu”; Mặt = Miện 冕 (“mien”) = Diện 面(“mian”) = Liễn 臉 = “Liẻn 臉”. ( Các phát âm có ngoặc kép trong ngoặc đơn là phát âm của Hán ngữ , không hoàn toàn thể hiện được QT Tơi-Rỡi của một nôi khái niệm, nếu đọc theo âm Việt thì nó liền một mạch theo QT Tơi-Rỡi của một nôi khái niệm, chứng tỏ chúng đều có gốc là từ Việt , có những từ được viết bằng chữ nho. Qua đó cũng thấy rõ: Muốn tìm từ nguyên của Hán ngữ thì lui về “cổ Hán ngữ” mà tìm, muốn tìm từ nguyên của “cổ Hán ngữ thì lùi nữa về Tiếng Việt mà tìm, ngôn ngữ Việt là nền tảng của Hán ngữ). Đi từ Âm Dương thì cặp đối nghịch 0/1 = Mô/Một, Mô=Mất, Một=Mãi=Mai=Lai; giữ Một nguyên tắc Quốc Tế thì còn trong tương lai Mãi Mãi, chứ “mất mặt” thì Mất hẳn, bằng Mô=Vô là con số 0. Mặt, Mắt, Mũi, Môi, Mồm, Mép đều ở trên cái Mặt và làm nên cái Mặt của con người.] Nữ Hỉ 女 嬉 đến tuổi chững (niên tráng 年 壯, chứ chưa đến tuổi chiều) rồi mà vẫn không có chửa, một hôm ở Để Sơn 砥 山 (núi toàn những hòn đá mài nhỏ) nhặt được cây ý dĩ 薏 苡, nhai nuốt vào thế là có thai, phải mổ đẻ ra Cao Mật 高 密. Nhà ở Tây Dương 西 羌, đất ấy là Thạch Nữu 石 紐. Thạch Nữu tại Thục Tây Xuyên ạ 石 紐 在 蜀 西 川 也. Nơi sinh của Vũ thì nhiếu sách viết khác nhau. Sách “Đế Vương thế kỷ” của Hoàng Phó Bật 皇 甫 謐 thời Tây Tấn viết: Chuyên Húc 顓 頊 sinh Cổn 鯀, Cổn được Nghiêu 堯 phong làm Sùng Bá 崇 伯 [tước ưu huệ thứ ba], Cổn 鯀 lấy vợ họ Tân tên là Chí 志, thị vi Tu Kỷ 修 己 [ “Tu Kỷ” = Tý = Chí = Hỉ ]. Chí 志 lên núi ngửa mặt thấy sao bay, mà cảm hứng, rồi nuốt thần châu ý dĩ, chuyển dạ đẻ ra Vũ 禹 ở Thạch Nữu 石 紐. Sách “Sử ký. Lục quốc niên biểu tự” của Tư Mã Thiên thời Tây Hán viết Vũ sinh ở Tây Dương. Sách thời Nam Tống 《Thế thuyết tân ngữ. Ngữ ngôn biên 世 說 新 語‧語 言 篇》 viết: Vũ sinh ở Đông Di. Sách 《Tùy sào tử 隋 巢 子》 viết: Vũ lấy vợ Đồ Sơn, trị hồng thủy.
  7. Hạ Vũ Từ thời nhà Hán về sau, thư tịch ghi lại truyền thuyết, và cho rằng Vũ 禹 là một người đàn ông, ghi theo phả hệ dòng bố như kiểu đích tôn cha truyền con trai nối, rằng Cổn 鯀 là bố của Vũ 禹 (Tư Mã Thiên viết về sử nhà Tây Hán trong “Sử ký. Hạ bổn kỷ 史 記.夏 本 紀”: Bố của Vũ là Cổn, bố của Cổn là “đế Chuyên Húc 帝 顓 頊”, bố của Chuyên Húc là Xương Ý, bố của Xương Ý là “Hoàng đế 黃 帝”, “ Vũ giả, Hoàng đế chi huyền tôn nhi đế Chuyên Húc chi tôn dã 禹 者,黃 帝 之 玄 孫而 帝 顓 頊 之 孫 也” - Kẻ Vũ là cháu 5 đời của Hoàng đế, còn Chuyên Húc là cháu 3 đời của Hoàng đế” [ Đọc trong nguyên bản hành văn trên, thấy cú pháp lẫn lộn khi Hán, khi Việt. Tất cả dựa vào truyền thuyết, nhưng lại muốn qui cho ông Tổ đầu tiên là Hoàng đế, gọi theo cú pháp Hán, nhưng cháu nội đích tôn của ông ấy lại không gọi là Chuyên Húc đế mà lại gọi là “đế Chuyên Húc”, gọi theo cú pháp Việt; đến hàng mấy ngàn năm sau (theo như sử này nói Hoàng Đế là Tổ của người Hán cách nay 5000 năm), cái ông vua đang chỉ đạo viết sử này, chính ông ấy lại được gọi là Hán Vũ đế, gọi theo cú pháp Hán. Vậy chứng tỏ là sử cổ đại (truyền thuyết) trên Hán thư ghi lại là do người Hán chép lại và có xào nấu lại sử cổ đại của Việt. Cổn 鯀 được cho là bố của Vũ 禹. Vậy mà chữ Vũ 禹là chữ đơn thể, tự nó gốc gác là từ tượng hình trên giáp cốt văn, diễn tả hình người bắt rắn (Thuyết Văn đọc: lướt “Vương 王 Cụ 矩 = Vũ 禹, giải thích là loài 蟲 Trùng; Trùng = Trùn = Tròn = Trăn = Rắn (loài không có chân); nếu Hán ngữ mà lướt thì thành “Váng 王Chuy 矩” = Vuy, không thành Uỷ như pinyin “ Yu 禹 ” được). Trong khi chữ Cổn 鯀 là chữ ghép biểu ý, là kiểu chỉ có từ khi có qui tắc lục thư do soạn ra từ thời nhà Tần, chữ Cổn 鯀 này gồm chữ Hệ 系( từ nguyên là Họ) và chữ Ngư 魚là cá, ám chỉ dân sông nước, giải thích là một loài cá, ( Ngư 魚 Hệ 系 thì có thể hiểu là con Cá Hô . Thuyết Văn đọc: lướt. “Cổ 古 Bổn 本” = Cổn 鯀, nếu Hán ngữ mà lướt thì thành “Củ 古 Pẩn 本” = Cẩn, không thành Cun như pinyin “ Gun 鯀 ” được). Chữ Cổn 鯀 phát âm Hán là “Cun” (pinyin “gun”), nó có từ nguyên chính là từ Con của Tiếng Việt mà thôi, nhưng Con ở đây là Con Mẹ hay Con Mụ, tức là một Bà, vì thời cổ đại hàng vạn năm trước ấy vẫn còn là thời mẫu hệ gọi là Thị Tộc; U = Vú = Vũ = Mụ = Mẹ = Mẫu. QT Tơi-Rỡi: Cả = Con = Quan = Quân = Cun = Khun = Khôn = Khuông = Vuông = Vua = Văn = Vũ = Vương = Tướng = Hường = Hoàng = Voòng = Vàng = Lang = Lớn = Cổn = Cả. Pò Khun là Bố Cả hay Bố Cái. Sông Cả cũng gọi là sông Cái. Tên thường gọi trong truyền thuyết chuyện kể là “Đại Vũ” là do những cái tên Lang Vũ, Lớn Vũ, Cổn Vũ, Cả Vũ, Đà Vũ (chuyện cổ tích “ông Đùng bà Đà”), nên khi viết lại sử từ truyền thuyết dân gian, nghe tiếng Cổn Vũ thì dễ coi như bố Vũ là Cổn, hay nghe thấy tên Đà Vũ thì dễ coi như mẹ Vũ là bà Đà hay bà nữ Oa. Những từ có sau như Chu Văn Vương là ông Vua họ Chu, Chu Vũ Vương cũng là ông Vua họ Chu, Lưu Hướng là ông Vua họ Lưu, Hán Vũ Đế là ông “Đứa Vua nước Hán” hay “Đức Vương nước Hán” cũng là một. Ngôn ngữ dân gian thì nó là như vậy, dù là Vua hay Quân hay Vương hay Tướng thì cũng là Con, tức là từ đẻ cái chửa mà ra, mà lướt “Đẻ cái Chửa” = Đứa. Từ nguyên của chữ Đế là Nước, do Té = Tức = Tế = Đế = Đức = Đác = Nác = Nước. Người đứng đầu Vùng gọi là Vua hay Vương thì người đứng đầu Nước gọi là Đế hay Đức (tiếng Khơ Me gọi là Xăm Đéc). Thời Văn Lang lập Nước cách nay gần 5000 năm, đó là thời Đế Minh. Căn theo cái âm tiết, thì nguyên thủy từ Đế Minh chưa có nghĩa là Vua Sáng, nó có nghĩa là “Đức của Mẹ Kinh”, tức người đứng đầu quốc gia của người Kinh, Đầu Nước = Đầu Tức = Đức; Mẹ Kinh = Minh; chế độ là mẫu hệ; người đứng đầu nước là do cộng đồng bầu lên, là đàn bà hoặc đàn ông, thay đổi cũng là do bầu, gọi là Thiền nhượng (Thay Hiền = Thiền). Khái niệm “Sáng” khởi thủy là do từ Trời và từ Trăng. Trời = Rọi = Chói = Chiếu 照 = Triêu朝 = Diệu 耀 (Hán ngữ phát âm khái niệm Rọi là “Rừ” viết là chữ Nhật 日; phát âm chữ Nhiệt 热 có bộ hỏa là “Rừa”, do từ lướt của tiếng Việt là “Rực Lửa” = “Rừa”, nghĩa là nóng, mà Nóng = Nắng = Dàng = Dương = “ Yáng 阳 ” ); Trăng = =Rạng = Sáng = Láng = =Lượng 亮. Do người Kinh, cũng tức là người Việt, nên từ Mẹ Kinh = Minh người ta viết bằng hai chữ Việt ghép lại với nhau (để mang ý là nhiều, theo kiểu có âm có dương thì đẻ ra nhiều), hai chữ Việt đó là chữ Nhiệt 日 và chữ Nguyệt 月( QT Tơi-Rỡi: Việt = Nguyệt 月= Nhiệt = Nhật 日, để nói là dân xứ nóng, dân mặt trời), thành ra chữ Minh 明. Do ghép như vậy nên chữ Minh 明 gồm Nhật 日 và Nguyệt 月 mới đại diện cho cái nghĩa do biểu ý của chữ, nghĩa là Sáng, nó là có sau từ Sáng, chỉ có nghĩa trên mặt chữ, tức là dùng chữ Minh 明 cho ý văn học như từ minh chứng, minh bạch. Khẩu ngữ Hán ngữ chỉ dùng chữ Lượng 亮 (“liang”), khẩu ngữ Tiếng Việt chỉ dùng chữ Sáng]. Tham khảo thêm đoạn dưới đây,( nguồn: Viện Việt học): -Hồ Động Đình và Đại Hàn Khi nghe chúng tôi nói Long Vương Động Đình Quân là ông ngoại của Lạc Long Quân Lạc Việt, người hướng dẫn viên rất ngạc nhiên. Chị cho biết một số du khách Đại Hàn đến đây cũng bảo là Long Vương liên hệ với vua tổ của họ. Đúng vậy, Việt Nam và một vài tộc Đại Hàn có một tổ chung. Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt tôi đã chứng minh rõ điểm này. Xin tóm lược vài điểm chính ở đây. “Đời Tây Chu các sử gia nhà Chu gọi người Korea là Lai Di. Sử ấy cũng cho biết Lai Di là rợ Tam Hàn trước kia” (Bình Nguyên Lộc, sđd). Ở chỗ khác Bình Nguyên Lộc viết “Sử đời Chu cho biết rợ Tam Hàn vốn là dân Lạc viết với bộ trãi, tức là dân Đông Di, gốc ở cực đông bắc Trung Hoa thời thượng cổ”. Ta thấy dân Đại Hàn có chi Lạc viết với bộ trãi y hệt chữ Lạc trong tên Lạc Long Quân cũng viết với bộ trãi. Trãi là con sâu không có chân tức thuộc dòng rắn. Theo tr=d (tràn = dàn) ta có trãi = dải, con vật giống như dải dây là con rắn. Cổ sử Đại Hàn và cổ sử của chúng ta cũng gặp nhau ở cái bọc Trứng Thế Gian. Các tộc phía nam của Tam Hàn cũng có huyền thoại cho rằng vua tổ của họ do trứng nở ra y hệt truyện Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng nở ra các vua tổ Hùng vương. Cổ sử Đại Hàn có nói tới vị vua huyền sử đầu tiên là Tankun hay Thankun đẻ ra vị vua đầu tiên là Ki-ja, vị tổ lập quốc của triều đại thứ nhất. Không có tài liệu nào nói rõ về thời vua huyền sử (legendary king) Tankun hoặc ngay cả giai đoạn Kija sau đó. Korea chỉ còn các tài liệu về ngôn ngữ trong và sau thời đại Samhan (Three Han States, Tam Hàn). Ta thấy -kun liên hệ với Mường ngữ Cun. Cun, kun, khun, cổ ngữ Việt khuấn và với Mông Cổ ngữ khan (Gengis Khan), Anh ngữ king… có nghĩa là người cầm đầu, người số một, vua. Tankun, Thankun là vua Tan, vua Than. Theo chuyển hóa t=s, th=s (thẹo = sẹo), ta có Tan, Than = San, Sáng. Vị vua tổ huyền sử của Đại Hàn là Tankun, Thankun là Cun Sáng, vua Sáng tương đương với Đế Minh. Ta có thể thấy rõ điều này qua cái tên Triều Tiên có nghĩa là ánh Chiêu Dương đầu tiên của ngày, tức ánh bình minh. Ngày nay người Đại Hàn dịch chữ Triều Tiên ra Anh ngữ là “Morning Calm” cho thấy còn mang dấu tích vua tổ của họ là vua Sáng Tankun liên hệ với Vua Ánh Sáng Đế Minh. Bình Nguyên Lộc cũng đã nhận ra sự liên hệ này: ”Nhưng người Tầu đã sai lầm mà phân biệt Đông Di và Nam Man vì cứ theo lời họ tả thì Đông Di giống hệt Nam Man cũng xâm mình và nhuộm răng đen và ta sẽ thấy… rằng rợ Đông Di, đích thị là Việt” (Bình Nguyên Lộc, sđd tr.136). Đại Hàn có một cái gốc chung với Việt Nam chúng ta. Tên nước Triều Tiên, ánh Chiêu dương gần cận với Hừng rạng. Họ cũng có Kinh Dương vương. Tankun tương đương với Đế Minh sinh ra vị vua đầu tiên là Ki-ja, vị tổ lập quốc của triều đại thứ nhất. Ki-ja chính là Ki-jang, Kì Dương! Kinh Dương vương, vua đầu tiên của Việt Nam và Ki-ja là vua đầu tiên của Đại Hàn. Như thế Tam Hàn Lạc bộ trãi và Lạc Việt Lạc Long Quân có Lạc bộ trãi có cùng vua Ánh Sáng Tankun-Đế Minh, cùng vua Ki-Ja, Kì Dương, có cùng bọc Trứng Thế Gian sinh ra các vua tổ Đại Hàn-Hùng Vương thì cùng có gốc tổ ở hồ Động Đình là chuyện tất nhiên. Đại Hàn có các tộc có gốc Bách Việt. Điểm này là điểm hết sức quan trọng vì nó chứng thực, xác quyết là nguồn cội của Bách Việt là ở hồ Động Đình không phải chỉ có trong truyền thuyết Việt mà còn thấy ở Đại Hàn.
      • 3
      • Like
  8. Chữ Thị: Họ: Thị 氏, Là: Thị 是, Cậy: Thị 恃. QT Tơi-Rỡi: Chị 姐 = Chi 支 = Thị 氏 = Thư 姐 Chỉ kể từ khi có chữ nho thì thời cổ đại chữ Tính 姓 nghĩa là họ nói chung, chữ Thị 氏 chỉ là nói chi họ (điều này đúng với chế độ mẫu hệ, người con gái lớn lên lập ra gia đình riêng, Thị 氏 mới thành ra Chi 支), về sau dùng hỗn độn, Tính 姓 cũng là họ và Thị 氏 cũng là họ, nên Họ Tộc có khi gọi là Tính Tộc, có khi gọi là Thị Tộc. Nhưng chữ Thị 氏 vốn có trước, mang một ý nghĩa kính trọng nên những bậc đế vương, danh nhân, chuyên gia thường được ghép chữ Thị 氏vào, ghép theo kiểu Hán thì đứng sau, ví dụ viết Thần Nông Thị 神 农 氏 (ghép theo kiểu Việt là Thị Thần Nông, bởi chữ Thần Nông đã là vốn ghép theo kiểu Việt, nếu đã là ghép theo kiểu Hán thì là Nông Thần). Thần Nông Thị hay chính xác như Việt là Thị Thần Nông có ý là kính trọng gọi Đức Thần Nông chứ không có nghĩa là họ Thần Nông. Thị Thần Nông thì cũng như là cách gọị “Thị Mầu lên chùa” vậy thôi. Do xã hội Việt cổ đại là mẫu hệ, người đàn bà là chủ đạo trong gia đình, nên trước tên người đàn bà có chữ kính trọng là chữ Thị 氏 đứng trước tên, như Thị Mầu, Thị Nở. Vì chữ Thị 氏 này quá cổ, người ta bị Hán hóa hàng ngàn năm trên đất Hoa Nam nên bị áp đặt coi cái cổ xưa là xấu, nên lại gọi tội nhân đàn bà khi bị đưa ra xét xử là “Thị nọ, Thị kia” ; và cái Hán hóa cũng gây nên thói trọng nam kinh nữ, nên đẻ con một bề là gái thì gọi là “thị mẹt”. Vì chữ Thị 氏 lại đồng âm với chữ Thị 是 (nghĩa là Là = Dạ = Dã 也) nên trong thư tịch cũng hay lấy để dùng thay, ví dụ câu khen “Món nhậu này ngon ngon Là !” cũng sẽ gặp viết “Món … ngon ngon Dã 也”, “M … ngon ngon Thị 是” hoặc “M … ngon ngon Thị 氏”. Thực ra từ nguyên của chữ Thị 氏 là tiếng Chị (chỉ người đàn bà) mà chữ nho viết là chữ Thư 姐(QT Tơi-Rỡi thì Chị = Thị = Thư), nhưng Hán ngữ phát âm chữ Thư 姐 là “Chỉa” (jie), nên khó tìm ra từ nguyên, nếu chịu khó tôn trọng tiếng Thượng Hải thì thấy âm Thượng Hải vẫn đọc chữ Thư 姐 là “Chị”. Trong “cổ Hán ngữ” có một chữ khác thường dùng cũng đọc là Thị 恃 có nghĩa là cậy nhờ (bởi di tích mẫu hệ là nhờ cậy toàn là nhờ cậy Mẹ, tức Chị). Nhiều vùng Việt, trẻ con vẫn gọi Mẹ là Chị, đúng nghĩa với cặp đối nguyên thủy Chị/Cha = Âm/Dương. Dân nông nghiệp Cậy nhất là cậy cái Cây, do họ trồng ra để thu hoạch Quả. Trong chuyện Tấm Cám, bà lão linh cảm được cái Quả ấy có thể Cậy được nên bà không ăn mà cứ để dành trong nhà, quả ấy gọi là quả Cậy hay quả Thị. Trong văn Việt cổ vẫn có gặp từ Thị Cậy, Thị Cạnh và Cầu Cạnh. Tìm từ nguyên mà tìm đến Hán tự cổ thì mới được nửa chừng, tìm tận gốc chắc phải tìm về đến sinh thái nơi cư dân cổ sinh sống. Con Sông Ba gợi liên tưởng đến từ Ông Bà (“cổ Hán ngữ” phát âm chữ Công 公 là “Cung” và chữ Bà 婆 là “Púa”. Hán ngữ hiện đại gọi “ông”, “bà” là “Ye ye”, “Nải nai”). Thời cổ đại mẫu hệ thì Ông như là Con Sông, Bà như là Cái Bờ. Chức năng của Ông là Ông = Chồng = Chống = Chèo. Chức năng của Bà là Bà = Bờ = Ở = Nhờ ( “Con hư tại Mẹ, cháu hư tại Bà” nghĩa là không có Bà có mẹ để mà được Ở, được Nhờ thì con cháu sẽ bị hư hết). Bờ = Cơ = Có = Cố, Bờ = Bến = =Bền = Kiên. Có Bến Bờ rồi mới có Kiên Cố 堅 固, đó là cái logic có sinh thái sinh sống làm nông nghiệp rồi mới có chữ nho là cái xuất hiện sau. Cái nôi khái niệm về người đàn bà và chức năng của nó là như sau: Bà = Gia = Già =(Là=Dạ=Dã=Ạ)= Ả =(Ổ=Ấp=Ủ)= U = Bu = (Vu于) = Vợ = (Ở 于 = Nhờ = Cớ 據 = Có = Cố 固= Cậy = Dậy 教= Dựa = Dĩ 以 = Ỷ 依 = Thị 恃) = Chị 姐 =(Chứa=Chở=Che)= Mẹ =(Đẻ=Dè=E)= Em
  9. Tìm từ nguyên ( 6 ) Học giả Nguyễn Cung Thông nêu, trong Tiếng Việt sử dụng rất nhiểu “từ Hán Việt” ví dụ như Quốc Gia, Tân Lang, Văn Hóa, Lịch Sử, Tân Giang. Tôi dựa QT Lướt, QT Tơi-Rỡi và sử dụng công cụ “Thuyết văn giải tự” của Hứa Thận để xem nhưng từ ấy là gốc Hán hay gốc Việt. Quốc Gia là “từ Hán Việt” ,Tân Lang (cây cau) là từ Hán Việt Chữ QUỐC 國, cách đọc: “古 惑 切 cổ hoặc thiết”, dịch là: lướt “Cổ Hoặc” = Quắc; giải thích: “邦 也 bang dã” , dịch là “bang ạ”. Tức là, như Hứa Thận hướng dẫn cách đọc và giải thích, chữ Quốc 國 thì nó đọc là: Quắc = Quốc và có nghĩa là Bang. Vậy Quốc đâu phải là Nước, Quốc chỉ mới là Bang thôi, tức còn là cấp dưới của Nước, tức là Quốc thì thuộc Nước, hay Quốc là một đơn vị hành chính của Nước. Mà từ ghép “của Nước” trong Tiếng Việt đã lướt “Của Nước” = Quốc. Thời của Hứa Thận cách nay 2000 năm trở về trước, nếu mà trong thư tịch có gặp chữ Trung Quốc 中 國 thì hai chữ đó là ghép theo kiểu Việt và chỉ có nghĩa là Trong Của Nước hay là Trong Nước [ chính lối viết tắt không còn chữ “của” này mà người ta coi Quốc đồng nghĩa Nước. Hán ngữ phát âm chữ Quốc 國 là “cúa” (chữ piyin là “guó”), còn lại bóng dáng chữ “của”, đáng lý phát âm đủ là “của nước” thì bị bỏ mất chữ “nước” vì khó phát âm, nếu người Hán phát âm chữ “nước” họ sẽ phải phát âm thành hai tiếng là “nưa khưa”, Hán không có âm vận “ước” ]. Bởi thời đó chưa có nước Trung Quốc, thời Chu chỉ có hàng trăm Quốc của nhà Chu = Chúa mà thôi. Khi nhà vua phong đất cho một công thần nào đó thì lấy họ của người đó đặt thành tên cho Bang, nên mới có hàng trăm Quốc như Trần Quốc, Trịnh Quốc, Nguyễn Quốc…đó là những Bang nhỏ của Nước, mà tước vị thì là theo thứ bậc là Công 公, Hầu 侯, Bá 伯, Tử 子, Nam 男, những tên “tước” đó là dựa theo từ “Nước” mà đặt ra cái phần thưởng từ Nước cấp cho, gọi lướt là “Từ Nước” = Tước (cũng như nhân xưng ngôi một là lướt “Từ NÔI” = Tôi, đứa con nít cũng vụt lớn lên từ cái nôi và vỗ ngực tự xưng là Tôi) , thứ bậc của “tước” là những từ gốc Việt: CÔNG 公 là Rộng (tức được đất rộng nhất), HẦU 侯 là Hai, BÁ 伯 là Ba (tiếng Triều Châu gọi Ba là “Sa”), các vùng khác diễn biến thành Sa = Sam = Xam (vùng Tày-Thái) = Tam (vùng Hải Nam), Hán ngữ lại phát âm là “xan” (pinyin “san”) vì Hán không có âm vận ngậm môi như am, âm, om…, TỬ 子 là Tư, NAM 男 là Năm, những con chữ nho được dùng chỉ bậc “tước” ở đây chỉ là tá âm, dùng những chữ nho có âm na ná để biểu đạt cái âm tiết Việt, đây là do sử đời sau viết, không phải chữ của thời nhà Chu, thời nhà Chu có lẽ còn dùng loại chữ khoa đẩu ký âm. Những chữ nho dùng để tá âm này không hề mang ý con số, như biểu ý của chúng chỉ rõ, còn nếu hiểu theo biểu ý như Hán tự thì vô lý vì những bậc “tước” là Ông 公, Hậu 侯, Bác 伯, Con 子, Trai 男. Những Bang là “Của Nước” = Quốc ấy còn gọi chung là các Chư Hầu 诸侯 (từ nguyên của Chư Hầu là Thứ Hai, tức là hạng hai so với Nước trung ương là hạng nhất). Còn Bang thì đương nhiên là do rất nhiều Bản Làng ghép lại mà thành, Bang là một từ gốc Việt, do lướt “Bản Làng” = Bang. Bản hay Làng là đơn vị hành chính như nhau, nên từ đôi Bản Làng có nghĩa là rất nhiều đơn vị cấp Thôn. Phong đất ngày xưa viết băng chữ 封Phong = Vòng = Vùng = Vuông = Văn, do lướt “Phát cho một Vòng” = Phong 封, viết bằng hai chữ Thổ ý là nhiều đất và chữ Thốn 寸 là đơn vị đo chiều dài, không hề có một biểu âm nào mà lại gọi là Phong, vậy chỉ có thể là vua chia đất “Phát cho một Vòng” = Phong 封, còn có từ Lân Phong 鄰 封 ghép theo kiểu Hán, nghĩa là Vùng Láng giềng. Đã là Phong tất phải kín như một Phong bánh khảo, nên chữ Phong 封 được nâng ý là “kín” nên mới có từ Việt Hán là Phong Bì , tức cái da để bọc kín, Hán ngữ gọi là Tín Phong, tức cái để bọc kín thư tín, còn không thể có cái khái niệm gọi là “văn hóa phong bì”, đó chỉ là do ngày nay lạm dụng từ Văn Hóa, do không hiểu gốc gác nghĩa đen của từ Văn Hóa là gì. Chữ GIA 家, cách đọc: “ 古 牙 切 cổ nha thiết”, dịch là: lướt “Cổ Nha” = Cả; giải thích: “ 居 也 cư dã”, dịch là: “cư ạ” . Tức là như Hứa Thận hướng dẫn cách đọc và giải thích, chữ Gia 家 thì nó đọc là Cả và có nghĩa là Ở. Nếu Hán ngữ lướt thì là “ Củ 古 Yá 牙” = Cả, không thể thành “Chi-a” (jia) như Hán ngữ phát âm được. Vậy chữ Gia đọc là Cả là hoàn toàn là gốc Việt, vì theo QT Tơi-Rỡi có: Ổ = Ở = Ủ = Ư 于 = Cư 居 = Quê = Cả = Nhà = Gia 家 trong cái nôi khái niệm “nơi trú ngụ của con người”, từ đôi Quê Nhà chỉ nơi con người sinh ra, từ đôi Nhà Ở là chỉ cái vật cho mình trú ngụ. Người Việt nguyên thủy hình dung cái nhà của mình cũng giống như cái vỏ của con Ốc, nên cũng còn gọi nhà ở là Ốc 屋, tiếng Quảng Đông (hệ Việt ngữ) vẫn đọc chữ Ốc 屋 này là “Ốc”; người Việt cũng hình dung cái nhà của mình giống như cái mai con Cua, nên cũng còn gọi nhà ở là Cư 居, tiếng Triều Châu (hệ Mân ngữ) đọc chữ Cư 居 này là “Kua”. Chữ Gia 家 có cái mái trên gọi là bộ Miên 宀, tức do lướt “Mái Hiên” = Miên. Hứa Thận hướng dẫn cách đọc bộ Miên 宀 là lướt “ Vũ 武Diên 延” = Viền; giải thích: “交 覆 深 屋 也 giao phủ thâm ốc dã”, dịch là “che phủ sâu nhà ạ”. Hóa ra thời Hứa Thận cách nay 2000 năm, người Việt cũng còn một từ nữa gọi cái mái nhà là cái “Vỏ Liền” = Viền, vỏ liền tức vỏ lành thì mới không dột. Còn cái “Vỏ Ủ” = Vũ 宇 là Vũ Trụ, cũng có trên là bộ Miên 宀 là cái Vỏ Liền = Viền, dưới là chữ Ủ = Ư于 , cũng là từ gốc Việt mà ra, làm gì có chuyện nó là “từ Hán Việt” được. Vỏ = Mo. Nên từ Mo Nang ( tức là cái mo cau), đã cho thấy là người Việt đã vo từ Pênang nghĩa là cây cau của tiếng Mã Lai thành một tiếng Nang để chỉ cây cau. Hán ngữ phiên âm từ Pênang là “Bin Láng”, viết bằng hai chữ nho Tân 檳 Lang 郎, nên cái từ Tân Lang này thì đúng là từ Hán Việt (do người Hán mượn chữ nho để phiên âm một từ phi Hán, tức là “Hán phiên âm bằng chữ nho Việt” thì gọi là từ Hán Việt). Từ Cau chỉ là từ ra đời sau từ Nang, do người Việt đặt ra, để chỉ cái quả của cây Nang, thứ quả ấy là thứ “Quà trao cho Nhau” = Cau, vì hễ ăn trầu là mời nhau “miếng trầu là đầu câu chuyện”, và buồng cau mớ trầu là trao nhau khi ăn hỏi. Rồi cũng dùng từ Cau, hàm ý hay ho hơn, để gọi cây Nang là cây Cau, chỉ có cái mo của nó thì vẫn còn gọi là mo nang. Từ ghép Quốc Gia là ghép ngược kiểu Hán, có nghĩa là cái nhà của nước, nên trong Tiếng Việt ghép xuôi kiểu Việt là Nhà Nước. Vậy trong Tiếng Việt từ Nhà Nước và từ Quốc Gia đồng nghĩa nhau, đều có nghĩa là “nhà của Nước”, chữ “nhà” ở cụm từ này có nghĩa là một cơ quan. Nhưng “nhà nước”, hoặc “quốc gia” và hay gọi tắt là “quốc”, đều không đồng nghĩa với “Nước”. Do trong Hán ngữ dùng từ Quốc Gia để chỉ Nước, nhiều khi nói tắt chữ Quốc Gia là Quốc, nên người VN dùng cũng hay bị lầm lẫn, và coi từ Quốc Gia như một từ Hán-Việt. Lịch Sử là “từ Hán Việt” : Chữ SỬ 史, theo Hứa Thận, đọc: lướt “ Sơ 疏 Sĩ 士 ” = Sỉ (Tiếng Hán, Tiếng Việt đều phát âm là “sử”); nghĩa: “記 事 者 也,中, 正 也 ký sự giả dã, trung, chính dã”, dịch: là kẻ ghi sự việc ạ, phải trung lập và ghi chính xác ạ. Chữ LỊCH 歷, theo Hứa Thận, đọc: lướt “ Lang Kích 郎 撃 ” = Lịch; nghĩa: “过 也 qua dã”, dịch: đã qua ạ. Theo nghĩa này thì Lịch đúng là một từ gốc Việt, đã trôi qua thì tức là như mặt trời đã lặn dịch đi rồi, mà lướt “Lặn Dịch” = Lịch. Từ ghép Lịch Sử 歷 史 là ghép ngược kiểu Hán, có nghĩa là “kẻ ghi những sự việc đã lặn dịch qua đi, nhưng phải ghi cách trung lập và chính xác”. Theo vậy, như Hứa Thận giải thích, thì nếu ghi sự việc đã qua mà ghi cách theo một chỉ đạo của ai đó thì không thể gọi là Sử được. Văn Hóa là “từ Hán Việt” : Chữ VĂN 文, theo Hứa Thận, đọc: lướt “Vô 無 Phân 分” = Vân; giải thích: “ 錯 畫 也 Thác họa dã. 象 交 文 Tượng Giao, Văn”, ý nói Văn 文 cũng như Giao 交 là sự vẽ sai (của cái hình vuông 口). Chữ Văn 文 này tiếng Triều Châu (hệ Mân ngữ) đọc là Vuông, tiếng Quảng Đông (hệ Việt ngữ) đọc là Mảnh (văn bằng tốt nghiệp thì cũng như là mảnh bằng tốt nghiệp), nghĩa là vuông chữ nho nhỏ. Chữ Văn là một từ gốc Việt. Chữ HÓA 化, theo Hứa Thận, đọc: lướt “Hô 呼 Khoa 跨” = Hóa; nghĩa: “ 教 行 也 giáo hạnh dã ”, dịch: dạy dỗ đức hạnh ạ. Từ Hóa 化 là một từ gốc Việt, như hạt muối có Hòa mới có Hóa, có Hóa mới có Hết (ở trạng thái cũ). Người Việt đã đem cái khái niệm cụ thể nhìn thấy được ấy, nâng ý lên, thành cái vô hình là nói “sự thay đổi tính tình”, như Hứa Thận giải thích “giáo hạnh ạ”. Từ ghép Văn Hóa 文 化 là từ ghép xuôi kiểu Việt, có nghĩa là “lấy chữ mà dạy cho con người trở nên đức hạnh”. Trong Tiếng Việt hay nói “trình độ văn hóa” là nói cái ý này. Tân Giang là “từ Hán Việt”: Chữ TÂN 濱, chữ này trong Thuyết Văn Giải Tự chưa có. Hán ngữ phát âm chữ Tân này là “bin”, đây là chữ giả tá, mượn âm “bin 賓” là phát âm lơ lớ chữ “Bến” của Tiếng Việt, ghép cạnh bộ thủy 氵, để chỉ cái bến tắm 濱, Hán ngữ đổi ngược lại là Tắm Bến, rồi chữ này có khi đọc là Tân ( do âm tiết “tắm”), có khi đọc là “bin” (do âm tiết “bến”). Chữ Tân 濱 này là một từ gốc Việt. Chữ GIANG 江, theo Hứa Thận, đọc: lướt “Cổ 古 Song 雙 ” = Công; nghĩa: Thủy 水. Rõ ràng là chữ Giang 江 là một từ gốc Việt, do QT Tơi-Rỡi: Krông = Dòng = Sông = Công = Kang (tiếng Triều Châu) = Giang = “Chi-ang” (Hán ngữ: jiang). Vùng Hoa Bắc đều gọi Sông là Thủy hoặc Hà, chỉ có vùng Hoa Nam mới gọi Sông là Giang. Từ Tân Giang 濱 江 là một từ gốc Việt, ghép kiểu Việt, nghĩa là Bến Sông. Tóm lại, muốn tìm từ nguyên của Hán ngữ hiện đại thì quay về “cổ Hán ngữ” mà tìm, muốn tìm từ nguyên của “cổ Hán ngữ” thì quay về Tiếng Việt mà tìm, đó là đi vào chiều sâu quá khứ của lịch sử.
  10. Mạng Hoàn Cầu Tác giả: Lý Lượng Người dịch: Quốc Thanh 【Tin từ Hoàn cầu thời báo, phóng viên Lý Lượng】Tháng 6, vấn đề Nam Hải vốn đã như sóng cồn lại dâng lên từng đợt sóng lớn chỉ vì sự làm bậy làm càn của Việt Nam. Xung quanh các vấn đề khai thác dầu khí, điều chỉnh quy hoạch phát triển, tuần tra bằng máy bay chiến đấu…, giữa Trung Quốc và Việt Nam đã nổ ra nhiều đợt phản đối. Trước việc Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa và tiến hành đấu thầu quốc tế ở vùng dầu khí Nam Hải, Việt Nam trên là chính phủ trung ương, dưới là những trang web bình dân, đã đồng thanh lên tiếng “phản đối mạnh mẽ” tới 3 lần trong vòng 10 ngày qua. Phía Trung Quốc thì đấu tranh bằng lí lẽ, cũng đã 3 lần phản hồi nghiêm khắc về những hành vi như “lập pháp khoanh vùng”, tuần tra bằng máy bay chiến đấu, phủ quốc kỳ… của Việt Nam ở Nam Hải. Chuyên gia cho biết, Luật biển do Việt Nam đưa ra sẽ không cấu thành sự ràng buộc về mặt luật pháp, còn Trung Quốc thì cần phải từ các việc đấu thầu các mỏ dầu khí, thành lập các đặc khu, đặt tàu sân bay thứ 4 ở Nam Hải để thúc đẩy Việt Nam có sự giải quyết cuối cùng về vấn đề Nam Hải… Việt Nam liên tục có những cử chỉ: Tuần tra bằng máy bay chiến đấu, lập pháp khoanh biển, phủ quốc kỳ Đợt “đại chiến phản đối” Trung-Việt này được bắt đầu từ một bản tin ngày 18.6 của “Trung ương xã” Đài Loan. Theo “Trung ương xã” trích dẫn từ báo “An ninh Thủ đô” của Việt Nam cho biết, liên đội máy bay chiến đấu Su-27 gồm 940 chiếc của không quân Việt Nam vào ngày trước đó lần đầu tiên đã từ căn cứ không quân Miền Trung bay ra quần đảo Nam Sa (phía Việt Nam gọi là Trường Sa) để thực hành nhiệm vụ tuần tiễu, trinh sát và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Ngày 16.9, trước lần “tuần tiễu trinh sát” này của máy bay chiến đấu Việt Nam, người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi đã bày tỏ sự “bất bình mạnh mẽ” trong cuộc họp báo thường kỳ. Hồng Lỗi nói, Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa cùng các vùng biển phụ cận. Những hành động có liên quan từ phía Việt Nam đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Trung Quốc, phía Trung Quốc biểu thị sự bất bình mạnh mẽ đối với việc này. Phía Trung Quốc yêu cầu Việt Nam tuân thủ nghiêm túc sự đồng thuận giữa hai bên Trung-Việt và tinh thần của bản “Tuyên bố về ứng xử các bên ở Nam Hải”, không dùng bất cứ hành động nào khiến cho tình hình trở nên phức tạp và loang rộng, có những nỗ lực cần thiết để bảo vệ hòa bình ổn định trong khu vực. Phía Trung Quốc phản đối đồng thời không để cho Việt Nam thấy khó xử khi thoái lui. Ngày 21.6, Quốc hội Việt Nam đã biểu quyết thông qua “Luật biển Việt Nam”, ra những quy định về đường đáy lãnh hải, nội hải, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, hải đảo…, trong đó đã đưa các quần đảo Tây Sa[ii] và quần đảo Nam Sa vào cái gọi là phạm vi “chủ quyền” và “quản lý” của Việt Nam. Với hành động lập pháp “khoanh biển” này của Việt Nam, Bộ ngoại giao Trung Quốc vào ngày 21 đã ra tuyên bố, nhắc lại quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa là lãnh thổ của Trung Quốc. Thứ trưởng Bộ ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân đã triệu gặp đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc, yêu cầu phía Việt Nam lập tức ngừng và sửa chữa lại mọi cách làm sai lầm. Ủy ban đối ngoại Đại hội đại biểu toàn quốc cũng lại một lần nữa đề xuất thương lượng giải quyết nghiêm túc, phản đối những hành vi xâm phạm chủ quyền Trung Quốc của Việt Nam. Ngoài việc sử dụng những thủ đoạn quân sự, luật pháp để tước đoạt chủ quyền Nam Hải ra, chính phủ Việt Nam còn huy động phụ nữ và trẻ em phủ một lá quốc kỳ Việt Nam cực lớn bằng gốm trên đảo Nam Uy[iii], đồng thời tổ chức nghi thức khánh thành long trọng. Đêm ngày 26, Văn phòng người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc nêu rõ, Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa cùng các vùng biển phụ cận. Những cử chỉ này của Việt Nam là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc, là phi pháp, là vô hiệu quả, đồng thời cũng vi phạm cả bản “Tuyên bố về ứng xử các bên ở Nam Hải”. Phía Trung Quốc kiên quyết phản đối những việc này. Phía Trung Quốc yêu cầu phía liên quan có những hành động thực tế để bảo vệ hòa bình ổn định ở Nam Hải. Trung Quốc lập thành phố Tam Sa khiến cho chính phủ Việt Nam cùng báo chí chính thức và không chính thức đồng thanh phản đối Thực sự, ngoài việc phản đối nghiêm khắc những cử chỉ của Việt Nam ra, các kế sách ứng phó thực tế của Trung Quốc cũng đã lần lượt ra lò. Vào đúng ngày cái gọi là “Luật biển” của Việt Nam ra đời, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn thành lập thành phố Tam Sa cấp địa phương, hủy bỏ 3 văn phòng quần đảo Tây Sa, quần đảo Nam Sa, quần đảo Trung Sa của tỉnh Nam Hải, trên cơ sở đó thành lập chính quyền nhân dân thành phố Tam Sa của tỉnh Nam Hải. Việc này vốn là sự điều chỉnh và hoàn thiện thể chế quản lý hành chính cho các quần đảo Tây Sa, quần đảo Nam Sa, quần đảo Trung Sa, cùng các vùng biển phụ cận, thuộc tỉnh Nam Hải của nước ta, hoàn toàn thuộc về phạm vi chủ quyền của Trung Quốc, song đã lại khiến cho nội tình Việt Nam náo động. Ngày 22, trong bài nói về việc “Trung Quốc không nên tiến hành liên tục chỉ trích việc Quốc hội Việt Nam thông qua Luật biển Việt Nam” của người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam đã phản đối Trung Quốc lập thành phố Tam Sa. Người phát ngôn này nói: “Trung Quốc phê chuẩn lập thành phố Tam Sa, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Việt Nam phản đối mạnh mẽ thành phố Tam Sa do Trung Quốc lập ra.” Ngoài ra, ngày 23, Thông tấn xã Việt Nam đã cho công bố bản Thông cáo về thành phố Đà Nẵng, tỉnh Khánh Hòa của Việt Nam tiến hành phản đối bằng văn bản việc Trung Quốc lập thành phố Tam Sa. Thông cáo nêu rõ, Trung Quốc công bố lập thành phố Tam Sa, phạm vi quản lý bao gồm cả huyện đảo Trường Sa tỉnh Khánh Hòa (quần đảo Nam Sa Trung Quốc) và huyện đảo Hoàng Sa thành phố Đà Nẵng (quần đảo Tây Sa Trung Quốc) của Việt Nam, vì thế, tỉnh Khánh Hòa và thành phố Đà Nẵng bày tỏ sự phản đối trước quyết định này của Trung Quốc. Và các báo chí không chính thức như các trang “Dân trí”, trang “Vnexpress”, trang “Vietnamnews” có số lượng truy cập[hết sức lớn của Việt Nam cũng đều đưa bản Kháng nghị này lên vị trí nổi bật ở trang nhất. Không ít báo chí nước ngoài đã coi đợt phản đối này của Việt Nam là dấu hiệu cho thấy cuộc đấu tranh Nam Hải đang gay gắt thêm. Báo “Tinh Đảo nhật báo” của Hongkong ngày 22 bình luận, việc công bố quyết định lập thành phố Tam Sa của chính phủ Trung Quốc vào lúc này là hành động ứng phó với rất nhiều tuyên bố về “chủ quyền” Nam Hải của Việt Nam, Philippines gần đây, đồng thời cũng đáp lại lời lên tiếng mạnh mẽ của người dân Trung Quốc. Đài truyền hình Asahi của Nhật Bản ngày 23 bình luận, cùng với sự không ngừng leo thang của “cuộc chiến khiển trách”giữa hai bên, cuộc đấu tranh về chủ quyền Nam Hải sẽ ngày càng gay gắt. Tổng công ty dầu mỏ biển Trung Quốc đấu thầu dầu khí ở Nam Hải, Việt Nam giơ luật quốc tế ra làm công cụ phản đối Ngòai việc lập thành phố Tam Sa về mặt cấp độ hành chính, giới doanh nghiệp của nước ta cũng mở rộng kinh doanh ở Nam Hải. Ngày 25.6, Tổng công ty dầu mỏ biển Trung Quốc đã công bố trên trang mạng của mình, tuyên bố tiến hành liên doanh khai thác tài nguyên dầu khí với nước ngoài ở khu vực biển Nam Hải, đồng thời công khai hồ sơ đấu thầu. Bộ Ngoại giao Trung Quốc hồi ứng lại vào ngày 26 nói rằng, hành vi này là hành vi kinh doanh hợp pháp, bình thường, đồng thời một lần nữa hối thúc phía Việt Nam lập tức ngừng ngay những hoạt động xâm phạm quyền lợi dầu khí ở Nam Hải. Lần này, Việt Nam giơ luật quốc tế mà mình luôn vi phạm ra để làm là công cụ phản đối. Ngày 26, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã tuyên bố trên trang web của Bộ Ngoại giao rằng, căn cứ theo bản “Công ước về luật biển của Liên hợp quốc năm 1982”, khu vực mà Tổng công ty dầu mỏ biển Trung Quốc ra thông báo đấu thầu quốc tế là hoàn toàn thuộc về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam, đây “hoàn toàn không phải là khu vực có tranh chấp”. Ông ta còn tuyên bố, phía Trung Quốc ngang nhiên ra thông báo đấu thầu quốc tế ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là hành vi phi pháp và không có giá trị, đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền quản lý cùng những lợi ích quốc gia chính đáng của Việt Nam, đã vi phạm “Công ước về luật biển của Liên hợp quốc năm 1982” mà Trung Quốc đã ký kết, khiến cho cục diện Biển Đông (Việt Nam gọi Nam Hải là Biển Đông) trở nên phức tạp. Việt Nam phản đối mạnh mẽ đồng thời yêu cầu Trung Quốc lập tức hủy bỏ hành vi đấu thầu phạm pháp nói trên, không sử dụng bất cứ hành động nào làm cho cục diện Biển Đông càng thêm phức tạp và mở rộng tranh chấp, tuân thủ “Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung”, cần đặc biệt tôn trọng là tinh thần của luật pháp quốc tế như “Công ước về luật biển của Liên hợp quốc năm 1982” và “Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông”. Chuyên gia: Trung Quốc cần đặt “tàu sân bay thứ 4” ở Nam Hải Trước việc Việt Nam chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng đã 3 lần khuấy động chuyện Nam Hải, 3 lần phản đối, Viện trưởng Viện nghiên cứu Nam Á - Trung Á, thuộc Trung tâm nghiên cứu các vấn đề quốc tế Thượng Hải, là Vương Đức Hoa đã nhận lời mời trả lời phỏng vấn riêng của phóng viên trang mạng huanqiu.com vào ngày 27.6. Ông ta cho rằng, tính ràng buộc của “Luật biển Việt Nam” không hề lớn, bởi vì luật quốc nội của Việt Nam không thể quản nổi vấn đề Nam Hải, còn khi phê chuẩn Luật biển của Liên hợp quốc vào năm 1982, Trung Quốc cũng đã bảo lưu rất nhiều về vấn đề Nam Hải, chẳng hạn như chủ trương các nguyên tắc về thềm lục địa, vùng tiếp giáp không thích hợp với vấn đề Nam Hải... “Cả Việt Nam và Philippines đều tuyên bố các đảo ở Nam Hải gần với họ hơn, nên thuộc về chủ quyền quản lý của họ. Song đây không phải là quyết định theo khoảng cách. Từ đời Hán, muộn nhất đến đời Tống, Trung Quốc đã đưa Nam Hải vào trong phạm vi quản lý của mình. Các đảo được đặt tên theo tiếng Trung, và cũng có cả di dân Trung Quốc. Theo khảo chứng, hoàng đế Đoan Tông đời Nam Tống tùng đáp theo hơn 30 chiếc tàu chạy trốn ra quần đảo Tây Sa”. Vương Đức Hoa nói, “tôi từng đưa ra trong tác phẩm của mình, dù là trên các bản đồ hay trên các sách bách khoa toàn thư do Mỹ, Anh, Nhật xuất bản, đều vẽ nam Hải thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Trung Quốc có lý do để đưa ra tuyên bố đòi lại Nam Hải”. Còn về việc Tổng công ty dầu mỏ biển Trung Quốc tiến hành đấu thầu quốc tế ở lô số 9 Nam Hải, Vương Đức Hoa cho rằng, một số hãng dầu khí quốc tế có thể sẽ có phản ứng về việc này. Ông ta nói, rất nhiều hãng ở Phương Tây luôn tỏ ra rất hào hứng với dầu khí ở Nam Hải. Nhất là gần đây, ở vịnh Mexico của Mỹ đã xảy ra sự cố rò rỉ, khiến cho rất nhiều hãng dầu khí của Mỹ hướng mắt ra nước ngoài. Ngoài các công ty mang tính trục lợi của Mỹ, Anh...ra, Nga và Ấn Độ có khả năng dựa trên lợi ích địa-chính trị mà hợp tác với Trung Quốc hơn. Tuy Ấn Độ hiện đang có hợp đồng với Việt Nam, nhưng có khả năng là do bị Trung Quốc phản đối, nên mới đây họ tuyên bố có ý rút về vì vấn đề kỹ thuật. Nếu như Trung Quốc đấu thầu, thì khả năng các công ty của Ấn Độ sẽ tới hợp tác không phải là không có. “Nếu như Trung-Ấn mà hình thành được một mô hình hợp tác về mặt này, thì cũng có thể sẽ tạo ra được một bầu không khí rất tốt cho việc giải quyết vấn đề biên giới...”. Vương Đức Hoa nói. Vương Đức Hoa còn đưa ra quan điểm của mình về sự giải quyết cuối cùng cho vấn đề Nam Hải. Ông ta nói, ngoài chuyện lập đức, lập ngôn, lập pháp ở Nam Hải ra, Trung Quốc còn cần gia nhập một chiến lược “khai thác biển” ngoài việc phát triển ra phía đông, đại phát triển ra phía tây, trỗi dậy ở miền trung, đồng thời định ra chiến thuật cụ thể cho các lĩnh vực ngoại giao biển, khai thác kinh tế biển... Có những người từng đề xuất lập một binh đoàn xây dựng ở Nam Hải, Vương Đức Hoa cho rằng, cần thoát ra khỏi cái khuôn khổ kinh tế có kế hoạch mà thành lập ở Nam Hải một đơn vị hành chính tương tự như kiểu đặc khu, vận dụng sức mạnh thị trường, dùng lợi nhuận để thu hút các công ty Phương Tây tham dự vào việc khai thác dải biển này. Ngoài ra, ông ta cho rằng, Trung Quốc còn cần có mối quảng giao bạn bè với quốc tế, bởi vì Mỹ đang tích cực tìm kiếm để tham gia vào Luật biển của Liên hợp quốc, mũi nhọn không chỉ chĩa về Trung Quốc, mà cả những nước có liên quan đến vấn đề Bắc Cực như Nga, Canada cũng đều có khả năng sẽ bị ảnh hưởng, cho nên “Trung Quốc cần làm nhiều việc hơn về mặt quốc tế”. “Trung Quốc đã có tàu sân bay thứ 3 ở Nam Hải, tàu thứ nhất là Varyag mang ý nghĩa quân sự, tàu thứ 2 là tàu sân bay dầu mỏ mang ý nghĩa kinh tế, tàu thứ 3 là tàu sân bay ngư nghiệp, tôi cho rằng chúng ta còn cần phải đặt thêm tàu thứ 4, tức tàu sân bay tư tưởng”. Vương Đức Hoa nói, “nước ta từng đưa ra quan điểm ‘biển hài hòa’, chúng ta giương cao ngọn cờ khai thác hợp tác hòa bình, rồi triển khai các kiểu hợp tung liên hoành dưới nó, thì cuối cùng sẽ nhanh chóng giải quyết được vấn đề Nam Hải. ________________________________________ Tức Biển Đông. [ii] Tức Hoàng Sa. [iii] Tức đảo Trường Sa; tiếng Anh: Spratly Island. Nguồn: Mạng Hoàn Cầu Tổng thống Philippin ngày 5/7/2012 khuyến cáo đương cục TQ nên nói chân ngôn. Trong ngày, chính phủ Philippin tuyên bố đã gửi kháng nghị ngoại giao phản đối TQ thành lập thành phố Tam Sa trên vùng tranh chấp ở Biển Đông. Hoàn cầu báo đưa tin Hải Nam hy vọng trong năm nay khai thông tua du lịch du thuyền từ Hải Khẩu đến tp Tam Sa. Hành trình một chiều sẽ mất 16 tiếng đồng hồ. Tam Sa sẽ thành một khu du lịch biển trong bản đồ TQ.
  11. Sách mới Nguồn [ diendantheky.net, 29/06/2012 , Tu Thuc ] Nhu cầu phẫn nộ Cuốn sách mỏng của S.Hessel, do một nhà xuất bản bỏ túi, Indigènes, ở Montpellier, miền Nam nước Pháp (trong khi sinh hoạt văn hóa tập trung ở Paris), không một dòng quảng cáo, mới đầu bán ở những tiệm sách tỉnh lẻ, dần dần nhờ truyền miệng, trở thành một hiện tượng văn hoá xã hội, được dịch trên 30 thứ tiếng trên khắp thế giới từ Arhentina đến Hàn Quốc, bán chạy nhất trong hơn một năm qua 3,5 triệu bản ( ở Tây Ban Nha 500 ngàn bản, ở Đức 500 ngàn bản, ở Ý 150 ngàn bản…giá 5 đến 8 usd tùy nơi). Hessel từ chối nhận bản quyền, và nhà xuất bản hứa sẽ dùng số tiền bán sách để in những tác phẩm có thể giúp cải thiện xã hội. Những tay nhà nghề trong giới ấn loát lắc đầu chịu thua : cuốn sách đứng đầu các danh sách best sellers từ gần một năm nay không phải là tác phẩm của những nhà văn ăn khách như Houellebecq, Jardin, Delerm, không phải là tiểu sử tài tử show biz, không phải sách dạy cách ăn uống cho khỏi mập, không phải là một chuyện tình ướt át, hay một tiết lộ động trời, thật hay bịa, không nói về cuộc đời tình ái náo nhiệt của DSK. Đó là cuốn sách rất khô khan của một ông già gần trăm tuổi hô hào dân chúng nổi giận, hô hào thanh niên đừng thụ động như những ông cụ non. Hessel không phải là triết gia, không phải là nhà văn, cuốn sách rất mỏng của ông không phải là một tác phẩm lớn, nhưng cuốn “Indignez-vous” bán chạy như bánh mì, vì nó đáp ứng một nhu cầu người ta tưởng là thứ yếu: nhu cầu phẫn nộ Người ta mua tặng quà cho nhau nhân ngày Giáng sinh, ngày sinh nhật, trong đó nhiều người chưa hề mua, chưa từng mở một cuốn sách. Những phong trào phẫn nộ (les indignés) đã lan sang nhiều nước Âu Châu, như Hy Lạp, Tây Ban Nha (les indignalos) , hay phong trào Occupy Wall Street ở New-York, trước cửa những ngân hàng thủ phạm của cuộc khủng hoảng kinh tế làm thế giới điêu đứng. Hessel là người suốt đời nổi giận. Sinh năm 1917 ở Đức, gốc Do Thái, quốc tịch Pháp đã tham gia kháng chiến chống phát xít Đức. Bị bắt giam ở nhà tù phát xít nổi tiếng Buchenwald, bị kết án tử hình, ông tráo căn cước của một người tù vừa chết bị án nhẹ hơn và vượt ngục. Sau chiến tranh, ông trở thành đại sứ của Pháp ở Liên Hiệp Quốc và tham dự việc soạn thảo bản Tuyên ngôn Nhân quyền. Về hưu, ông già Hessel là một khuôn mặt quen thuộc trong những cuộc biểu tình cho nhân quyền, biểu tình bênh vực người di dân, bênh vực Palestine mặc dầu ông gốc Do Thái. Ở đâu có phẫn nộ, có bất công, ở đó có ông già Hessel. Sau khi cuốn Indignez-vous! trở thành một hiện tương xã hội, người ta trách tác giả chỉ xúi thiên hạ nổi giận mà không có đề nghị gì cụ thể, Hessel viết một cuốn sách mỏng khác : Engagez-vous (2) (Hãy tham gia hành động!), trong đó ông đề nghị tranh đấu đòi thành lập Tổ chức Thế giới về môi sinh, và một Chính phủ toàn cầu (gouvernement mondial ). Một mơ ước hão huyền ( utopie )? Tất cả những thay đổi lớn trong lịch sử, theo Hessel, đều là những utopie khi khởi sự. Cuốn thứ ba, le Chemin de l’Espérance (Con đường của hy vọng) (3), viết chung với nhà xã hội học hàng đầu của Pháp, Edgar Morin, trong đó hai ông già, tổng cộng 184 tuổi vạch ra con đường hy vọng để đi đến một tương lai tốt đẹp hơn. Il faut vivre indigne Hessel nối tiếp truyền thống của trí thức Zola, Camus. Emile Zola viết : Il faut vivre indigné! (phải sống phẫn nộ). Từ Zola, trí thức đích thưc là trí thức tham dự sinh hoạt xã hội, chính trị để cải thiện xã hội, không phải chỉ là những người có kiến thức. Ở Việt Nam, ngay cả kiến thức cũng không cần thiết. Trí thức chỉ cần có bằng cấp. Học gạo, học tủ, chong đèn học thuộc lòng, có xong cái bằng là trở thành trí thức, là khuôn vàng thước ngọc. Có bằng vừa vừa là trí thức vừa vừa, có bằng to hơn là đại trí thức… Trí thức vừa vừa được kính trọng vừa vừa, đại trí thức được kính cẩn tối đa. Albert Camus nói trí thức cũng như mọi người, hơn mọi người chính bởi vì anh là trí thức, phải ghé vai gánh vác như mọi người, phải đổ mồ hôi chèo thuyền như mọi người. Khác hẳn hình ảnh trí thức ‘võng anh đi trước, võng nàng theo sau’ của người Việt Nam, có cái bằng bỏ túi là vinh hiển suốt đời, phó mặc chuyện đời cho thiên hạ. Nguồn [ dailynews.sina.com , 17/06/2011 ] Cuốn sách “Bạn nên phẫn nộ như thế nào” của Stephane Hesel do NXB Indigen xuất bản tháng 10/2010 là cuốn sách bán chạy nhất. Trả lời phỏng vấn mới đây, ông Hessel nói mục đích ông viết là để: “Cổ vũ thanh niên phải biết tự tin, phải có năng lực đổi mới thế giới. Thế giới đang cần phải cải cách lớn. Cổ vũ thanh niên hãy tìm ra nguyên nhân gì làm cho mình nổi giận. Hãy biểu đạt hành động phẫn nộ của mình bằng kháng nghị hòa bình đó mới là điều quan trọng”. Ông Hessel đã từng 5 lần đi nghiên cứu xã hội ở Gaza. Ông nói: “ Đi một vòng Gaza, bất kỳ ai cũng thấy được sâu sắc sự bất công bất nghĩa, toàn dân Palestin là những người bị hại”. Khi ký giả hỏi đề cập đến Trung Quốc, ông Hessel nói: “Nội bộ Trung Quốc đã xuất hiện những tiếng nói phẫn nộ từ nhân dân, ví dụ ở Tân Cương, Tây Tạng, v.v. Toàn bộ phát triển liên tục 30 năm qua thể hiện rõ rằng cách sống đã không còn như 30 năm trước. Nên hy vọng manh nha ở tầng lớp trí thức một lực lượng phản kháng”. Ông nói, sách của ông đã được dịch sang Trung Văn. Một NXB dũng cảm của TQ muốn xuất bản cuốn sách này, đang còn chờ thái độ của nhà đương cục. Một công ty truyền thông ở Bắc Kinh đã ký bản quyền với NXB Indigene. Nhà xuất bản Indigene cho biết, bản Trung Văn dự tính bán với giá 20 Tệ (tương đương 89 Đài Tệ), phía TQ dự định ấn hành 300 ngàn bản. Một nhóm trí thức và chính giới Châu Âu vào tháng 04/2011 công khai tuyên bố ủng hộ Ông Stephen Hesel đoạt giải hòa bình Nobel. Biết được thông tin nhờ nguồn: Nguồn [ diendantheky.net, 29/06/2012 , Tu Thuc ] Nguồn [ dailynews.sina.com , 17/06/2011 ] Mặt Trời ngày nửa bên Đông Nửa sau nó đã ở vòng bên Tây Trao đổi chậm lắm một ngày Cớ sao sách mới chậm tày hai năm ? Từ mạng, tôi đã chép xong Bạn khi bức xúc, nghỉ nằm đọc chơi Thư dãn cũng được một hồi Lại còn hữu ích trau dồi tiếng Anh Mua sách ngoại ngữ bực mình Quyển gốc nó xé ra thành nhiều phên Nhiều đầu sách, bán lắm tiền Chẳng nghĩ tốn giấy, người tìm tốn công. Làm sách phải kẻ có tâm Như “Chữ Việt cổ” ghi công Cụ Xuyền. Indignez-vous ! By Stephane Hessel, 93 Page 1 Much the very last step. The end is not far away. What chance to take this opportunity to recall what has served as base for my political engagement: the years of resistance and the sixty-six years program developed by the National Council of Resistance! It was Jean Moulin that we owe, through this Council, the meeting of all parts of occupied France, movements, parties, trade unions, to proclaim their adherence of the Fighting France and the only leader that it is recognized: General de Gaulle. In London, where I had joined General de Gaulle in March 1941, I learn that this Council had developed a program, which was adopted in March 1944 and which porposed to Liberated France a set up principles and values which supported the democracy of our modern country. Of these principles and values, is that we need today more than ever. It behooves us all together to ensure that our society in whichs we are proud of: not of this society of undocumented papers, expulsions, suspisions against immigrants, not this society that challenges pensions, the achievements of Social Security, not this society where the media are in the hands of the moneyed classes, all things that we would have refused to endorse if we were he the true heirs of the National Council of Resistance. From 1945, after a terrible tragedy, it was an ambitions resurrection which engaged the forces present in the Council of Resistance. Remember, then they created Social Security as the Resistance Wished, as the program stated: “ A comprehensive plan for Social Security, to ensure livelihoods for all citizens, in all cases or if they are unable to obtain them through work”, “ a pension to the old workers to assure a dignified end of their days”. The energy sourses, electricity and gas, coal, the major banks were nationalized. Page 2 That is what this program was still stating: “ the return to the nation of the major means of production, produced by common sourses of energy, wealth of the subsoil, insurance companies and large banks”, “ the establishment of genutre economic and social democracy involving the eriction of large feudal economic and financial that directed the economy”. The public interest must prevail over the interest individual, the fain shuring of the wealth created by the world of work ovrride the power of money. The Resistance said “ a rational organization of the economy to ensure the subordination of special individual interests to the public interest and free from the dictatorship introduced to the professional image of fascist states. A real democracy needs a free press, and the Resistance knows this and states “ The press freedom it is honor and indeprndence againts the power of the States, the power of money and foreign influences”. That is what turns further order on the press in 1944. Yet that is what is now in danger. The Resistance was calling for “an effective opportunity for all French children to benefit from the most developed education” without discimination, yet the reforms proposed in 2008 go against this projest. Young teachers, which actions I support, were up to refuse to apply them and they saw their wages cut as a punishment. “They were outraged, have disobeyed” and found these reforms too far from the ideal of the republical school, too much in the service of the money society and not enough developing the creactive and critical thinking. It is just the base of the social conquest of the Resistance which is now in question (2) Page 3 The reason of the Resistance was outrage We dare say that the State was no longer covering the cost of these civic action. But how can it lack today the money to maintain and extend these achievements while production of wealth has increased considerably since the liberation period when Europe was ruined ? If not because the power of money, so fought by the Resistance, has never been greeter, insolent, selfish, with his own servants into the highest echelons of the State. Banks are now privatized and first show of their conscious of their leaders, not the general interest. The gap between the poorest and richest has never been so important, and the race for money, the competition has never been so encouraged. The basic pattern of resistance was indignation. We, veterans of resistance movements and fighting forces of Liberated France, we call the younger generations to stand up, to transmit the heritage of Resistance and its ideals, we say take over, cry out ! The political and economic responsibles, the intelectuals and all society shall not resign or be intimidated by the current international dictatorship of finalcial makers that threatens the peace and democracy. I wish you all, to each of you to have your design indignation. Is invaluable. When something get you outraged, as I was outraged by the Naziz, then you have to become an activist, strong and committed. We joined the streem of history and the mainstreem of the history must continue through each. Sand this trend is towards more justice, more freedom but not this freedom of uncontrolled fox in the henhouse. These rights, including the Universal Declaration drafted the program in 1948, are Universal, if you meet someone who doesnot benefit of these, help him to conquer them. Page 4 Two visions of History When I try to understand what coused fascism, what coused the invasion by it and by Vichy, I tell myself that the wealthy, with their selfishness, have been terribly afraid of the Bolshevik revolution.They have been guided by their fears. But if today as then, a vocal minority stands, this will suffice, we will leaven so that the dough rises. Admittedly, the experience of young people today. I often asks colleage teachers the opportunity to intervene to their students, and I tell them: You don’t have some obvious reasons for committing. For us to resist, was not accept the German occupation, the defeat. It was relatively simple. Simple as what followed, decolonization. Then the war of Algeria. It was that Algeria become independent, it was obvious. As for Stalin, we all applauded the victory of the Red Army againts the Naziz in 1943. But even if we had knowledge of the great Stalinist trails of 1935, and even whether to keep an ear open counterbalance to communism of American capitalism, the need to oppose this intolerable form of totalitarianism was an obvious move. My long life has given me a succession of reasons to be indignant. These reasons are born less from an emotion and more from a consious commitment. Being young and very marked by Sartre, a senior classmate. Nausea, The Wall, Being and Nothingness were very important in shaping my thinking. Sartre taught us to say: “You are responsible as individuals”. It was a libertarian messaage. The responsibility of man who can not rely on a power or a god. Instead, we must engage on behalf of its responsibility as a human. Page 5 When I went to the École normale, in 1939, I intered it was a fervent discrible of the Hegel, and I followed the Maurice Merleau-Party Seminar. His teaching explored concrete experience, that of the body and its relationship with the senses. But my natural optimism, which means that everything is desirable or possible, I was rather from Hegel. The Hegelianism interprets the long history of humanity as having a meaning: mans freedom is progressing step by step. History is made of successive shocks. The history of society progress, and then, man having reached its full freedom, has democratic stale for ideal form. There are of course other concepts of history. Progress made by freedom, competition, the race “of more”, this may be experienced as a destructive hurricane. Thus represents a friend of my father, the man who shared with him the task to translate into German In Seach of Lost Time by Marcel Proust. He is the German philosopher Walter Benjamin. He pulled a pessimistic message out of Paul Klees Angelus Norus painting where the figure of angel opens his arms as if to contain and repel a storm that he identified with progress. For Benjamin who committied suicide in September 1940 to escape Nazism, the sense of history is the irresistible path of disaster into disaster. In difference: the worst attitude True, the reasons for outrage today may seem less net or the world too complex. Who controls who decides? It is not always easy to distinguish between all the currents that govern us. We are no longer dealing with a small elite whos actions we clearly understand. It is a vast world, we feel that it is inderpendent. Page 6 We live in an inter connectivity that has never existed. But in this world, some things are unbearable. To see this, we must look, search. I tell young people: Look for a bit, you will find. The worst attitude is indifference, saying “I can not do enything, I am doing my job”. By having this, you lose one of the components which is essenting in humans. One of the essential components: the faculty of outrage and its consequence-commitment. We can already identify two major challenges=1. The huge gap between the very poor anh very rich and which continues to grow. This is an innovation of the twentieth and twenty first century. The very poor in the world today earn just two dollars per day. We can not let that gap widen further. This statement alone should generate commitment. Human rights and the stale of the planet. I had the chance after Liberation of being involved in drafting the Universal Declaration of Human Rightsn adopted by the United Nations, 10 December 1948 in Paris at the Palais de Chaillot. It is under Chief Henri Laugier, Assistant Secretary General of UN, and Secretary of the Commission on Human Rights that together with others we were to participate in the drafting of the declaration. I can not forget, in its development, the role of René Cassin, curator National Justice and Education. Government of Free France, in London 1941, which was awarded the Nobel peace in 1968, nor that of Pierre Mendes France in the Economic and Social Council to whom the texts that we developed were subjected before being cosidered by the Third Committee of the General Assembly, responsible for matters Social, Humanitarian and Cultural Committee. The UN has fifty-four Member States at the time, and I assured the secretariat. René Cassin was the one whom we owe the term “universal rights and not” international as suggested by our Anglo-Saxon frieds. Page 7 For there is much at stake at the end of the War World: emancipate from the threats posed to humanity by Totalitarialism. To emancipate we must ensure that each Member State of United Nations undertakes to respect these universal rights. It is a way to defeat the argument of full suvereignty that a State may asset while engaging in crimes againts humanity on its soil. This was the case of Hitler who considered himself his own master and allowed to cause genocide. The Universal Declaration owes much to the univesal revoluion againts Nazism, fascism, totalitarianism, and even, by our presence, the spirit of the Resistance. I can not resist the urge to quote Article 15 of the Universal Declaration of Human Rights: “Every one has the right to a nationality” and Article 22: “ Every one as a member of the society has the right to social society and is entitled to the satisfaction of economic, social and cultural rights indispensable for dignity and the free develop mount of his personality, thanks to the national efforts and international cooperation, taking into account the organization and resources of each country”. And if this statmen has a diclarative scope, and not legal, it has neverthless played a powerfull role since 1948; we saw colonized peope in their grasp struggle for independence, and stocked their minds in battle for freedom. I note with pleasure that in recent decades have increased the number of non-governmental organizations, social movements as ATTAC (Association for the Taxation of Financial Transactions), FIDH (International Federation of Human Rights), Amnesty… who are acting and performing. It is obvious that to be effective today, we must act in a network, take adventage for all means of mordern commuication. For young people, I say look aroud you, if you will find themes that justyfy your outrage- the treatmen made to immigrants, undocumented migrants, Roma. You will find concrete situations that lead you to give play strong citizen action. Seek and you shall find ! Page 8 My indignation about Palestine Today, my biggets outrage is for Palestine, Gaza, Cisjordania. This conflict is the source of indignation. You must read report of September 2009 of Richart Goldstone on Gaza, in which the South African Judge, Jewish, accuses Israel of committing “acts amounting to war crimes and perhaps in some circumstances, crimes againt humanity” during its operation “Cast Lead” which lasted three weeks. I myself returned to Gaza in 2009, where I was able to enter with my wife through out diplommatic pasports in order to “Study firsthand what the report said”. The people who accompanied us have not been allowed into the Gaza Strip. There and in the Cisjordania. We also visited the Palestinian refugee camps set up in 1948 by UN agency, UNRWA, where more than three million Palestinians hunted from the land by Israel are waiting for a Return that is increasingly problematie. As for Gaza, in a under the sky prison for a million an half Palestinians. A prison where they survice. More than the material destructions like the Red Cross hospital in Cast Lead, is the behavior of Gazans, their patriotism. Their love of the sea and beaches, their consultant concern for the welfare of their children, countless, laughing, that haunt our memory. Page 9 We were impressed by their clever way to deal with all shortages imposed on them. We saw them make the fault cement bricks to rebild thausands of houses destroed by tanks. We confiened that there had been one thousands and four hundred dead-women, children and old included, in the Palstinian Camp-during this operation “Cast Lead” by Israeli Army againts only fifty wounded Israelis. I shared the findings with the South African Judge. That Jews could commit themselves to war crimes, it is unberable. Alas, history gives litle exambles of people who learn from their owe history. I know that Hamas who won the recent parleamentary elections wan unable to avoid being sent rockets on Israeli towns in response to the situation of isolation and blockade in which Gazans are. I abviously think that when you are bysy with military means infinitely superior to yours, the popular reaction can not be nonviolent. It is what its for the Hamas to send rockets into the city Sderot ? The answer is no. It does not help its cause, but we can explain this gesture by the exasperation of Gazans. In the concept of exasperation one needs to understand violence as a regrettable conclusion to an unacceptable situation for those affected. So we can say that terrorism is a form of exasperation. And that exasperation is a negative term. It should not be ex-asperation, it must be es-perer (hope). The exasperation is a denial of hope. It is understanable, I would almost say it is natural, but so far is not accceptable. Because that It does not provide the results that may eventually produce hope. Page 10 Non violence, the path we mút learn to follow I am convinced that future belongs to non-violence, to reconcili action of different cultures. This is the way that humanity must cross the next step. And I agree with Sartre, we can not excurse torrorist who throw bombs, they can be understood. Sartre wrote in 1947: “I accept that violence manifested in any form is a failure. But it is an inevitable failure because we are in a world of violence. And it is true that the use of violence is violence that is likely to perpetuate, it is true that only way is to stop. What we would add is that non-violence is a sefe way to stop it. We can not support terrorist as Sartre did on behalf of this principle during the Algeria war or during the attact on the Munich game in 1972, committed against Israeli athletes. This is not efficient and Sartre himself eventually wonder at the end of his life on the meaning of terrorism and questioned its reason. “Violence is not effective”, is far more important than whether we should condemn or not those who deliver it. Terrorism is not effective. In the concept of efficiency, I choose a non-violence hope. If there is a violent hope is in the poetry of Guillaume Apollinaire: “That hope is violent” not politics. Sartre in March 1980, three weeks before his death, said: “We must try explain why the world today, which is horrible, is only one moment in a long historical development, that Hope has always been one of the dominant forces of revolutions and in surections, and how I still feel that hope is my conception for the future. We must understand that violence turns his back on hope. And that he preferred hope, the hope of non-violence. This is the path we must learn to follow. From either side of the oppressors or of the oppressed, we must come to a negotiation to remove the oppression; it is thereby to no longer have terrorist violence. Page 11 Therefore we must not let accumulate too much hate. The message of Mandela, of Martin Luther King finds its relevance in a world which has exceeded the comparition of ideologies and totalitarism conqueror. This is a message of hope in modern societies capacity to overcome coflicts by mutual understanding and vigilant patience. If so, if besed on rights, the violation of them should provoke our indignation. There is not compromise on these rights. Foe a peacefull uprising I have noted- and I am not the only- the Israeli government respose to the fact that every Friday citizens of Bil id will come, without throwing stones without using force, to the wall in protest. The Israeli authorities have called the march of “non-violent terrorism”. Not bad… It was Israel to called the terrorist nonviolent. They were especially embarrased by the efficiency of non-violence that is committed to ensuring it raises the support, understanding, support of all those who in the world are the enemies of oppression. Productivist thinking, driven by the West, led the world in a crisis that we must avoid a radical break with the headlong rash of “ growing” in the financial field but also in sciense and technology. It is high time for the sake of ethics, justice, sustainable balance prevalut for the most serious risks we face. They can put an end to the human adventure on a planet that it can make it uninhabitable for man. Page 12 But it remains true that important progress has been made since 1948: decolonization, the end of apartheid, the distruction of the Soviet empire, the fall of the Berlin Wall. On the contracy, the first decade of the twenty first century was a period of decline. This fale, I explained it in part by the U.S. President Gorge Bush, September 11, and disastrous consequences as “have drawn the United States in this militaty intervention in Iraq”. We had this economic crisis, but we did not futher initiated a new policy development. Similarly the Copenhagen Summit against global warming did not permited to engage in a genuine policy for protecting the planet. We are at a threshold between the horros of the first decade and opportynities in the following decades. But hopefull, there is always hope. The previous decade, the 1990s, had been of great progress. The UN has been able to convence conferences like those of Rio on Environment in 1992, that of Beijing on Women in 1995 and in September 2000, at the initiation of Secretary General Unites Nations, Kofi Annan, the 191 member countries adopted the statement on the “Eight Millennium Development Goals” by which they undertake to halve poverty in the world by 2015. My great regret, is that neither Obama nor the EU has so far been manifested with what should be their contribution to a constructive phase, pressing the fundamental values. How to conclude the call to outrage ? Recalling further that, on the occasion of the sixtieth anniversary of the National Programme Resistance, we said March 8, 2004, we veterans Resistance movements and fighting forces of Free France (1940-1945), although that “Nazism was defeated, thanks to the sacrifice of our brothers and sisters of the Resistance and the UN against Fascist barbarism. Page 13 But this threats not disappeared totally and our anger against Injustice is still infact. No, this threat has not disappeared completely. Also we call today to a real peaseful insurrection against the means of mass communication that do not offer a harizon for our youth, mass consumption, the contempt for the weakest, and culture, generalized amnisia and excessive competition of all against all. To those who will make the twenty-first century, we say with our affection: “CREATE is to resist. RESIST IS TO CREATE”.
  12. Mọi nôi khái niệm khi truy từ nguyên đều có thể về đến Trời, vì theo QT Tơi-Rỡi có: Trời=Trồi=NÔI, mà NÔI thì ra Nói là sẽ ra mọi khái niệm, tư duy của con người là do Trời phú cho, tục ngữ “Cha mẹ sinh con , trời sinh tính”, người xưa giải thích về sự hình thành vũ trụ là “Khí trong nhẹ nổi thành Thiên, khí trọc nặng lắng đọng nên Địa mà” (Câu trong “Ấu học quỳnh lâm” là văn học dân gian cổ xưa, đến thời Tùy thì được ghi chép lại: 氣之輕清上浮者為天,氣之重濁下凝者為地 Khí chi khinh thanh thượng phù giả vi thiên, Khí chi trọng trọc hạ ninh giả vi địa). Blơi = Trời = Tròn = Trên = Trồi =Côi= Nổi = Nắng = Dàng = Dương 陽 = Thượng 上 = Thiên 天 = Viên 圓 = Then = Lên = Lời = Blơi. Từ đôi Trên Trời = = Côi Lời, từ ghép Cấp Côi = Cấp Trên. Ngắn nhất thì NÔI = Nước nên có từ đôi Nước Nôi là nhiều nước, NÔI = Nắng nên có từ đôi Nắng Nôi là nhiều nắng. Về từ mặt vựng mà nói thì cái lý Việt nó là như thế đấy. Đơn giản thì là vì con người tiền sử: dân nông nghiệp trồng trọt họ phải động tay động chân nhiều hơn, “Trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm, trông cho chân cứng, đá mềm, trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng, Coi sóc hết thảy côn trùng, trên cây, dưới đất, mới mong được mùa” cho nên từ vựng của họ có phong phú hơn. Dân du mục khỏe re hơn, rong ruổi theo bầy cừu, thả hồn nghe gió thổi vi vu trên đồng cỏ, ít phải giao tiếp với người khác, cho nên họ cũng chẳng cần phải có nhiều từ, từ vựng của họ không thể nhiều hơn được. Sự khác nhau duy nhất trong ngữ pháp Tiếng Việt và ngữ pháp Tiếng Hán là ở cái qui tắc của ngữ pháp Tiếng Hán gọi là “định ngữ”. Ngôn ngữ phương Nam thì nói theo lối xuôi, ngôn ngữ phương Bắc thì nói theo lối ngược, do xuất xứ là khác nhau giữa dân Nam trồng trọt và dân Bắc du mục. Đơn giản là vì dân trồng trọt gắn với đất đai hơn , có cách nhìn gần, nên đối với một vật thì từ cái mắt thấy tay sờ rồi mới xác định tính chất của vật, cầm được cái Hoa rồi mới xác định cái màu của nó là Hồng, nên gọi xuôi là Hoa Hồng 花 紅. Dân du mục trên đồng cỏ mênh mông, có cách nhìn xa, thấy cái vật màu Hồng phía trước rồi còn phải phóng ngựa chạy cả cây số đến tận nơi mong săn bắt được cái gì, đến nơi mới ờ cái Hồng đó hóa ra là cái Hoa, nên gọi ngược là Hồng Hoa 紅 花 (Tiếng Hán phát âm là “húng hoa”). Tư duy ấy là từ chi tiết rồi mới đến tổng thể ( như logic loài người từ lang thang rồi mới đến định cư, giống như xu hướng “đô thị hóa” đang diễn ra ngày nay trên toàn thế giới. Nhờ Tiếng Việt lướt mới có “Đông Hộ” = Đô, “Đông To” = Họ). Tư duy Việt lại nhìn tổng thể rồi mới ra chi tiết, nói xuôi, có Hoa rồi mới có màu của nó là Hồng, gọi xuôi là Hoa Hồng, có Họ rồi mới có Tên , tức có Tổ rồi mới có Tên, nên viết là họ trước tên sau (như họ và tên là Hò Văn Tèn). Thời cổ đại khi dân du mục chiếm được vùng Hoàng Hà của dân trồng trọt (như truyền thuyết “Hoàng Đế thắng Xuy Vưu” trong vụ chiến tranh “Trác Lộc quần hùng”) thì tộc du mục thống trị làm quan, nhưng văn hóa của tộc quan quá thấp nên quan phải theo ngôn ngữ văn hóa cao hơn của số đông là dân, mà bỏ dần đến mất gốc tiếng mẹ đẻ của quan, tức nói và ngữ pháp hoàn toàn theo Việt. Họ và Tên cũng đổi lại theo Việt là Họ trước Tên sau (như Hò Văn Tèn) chứ không như ngữ pháp Bắc là tên trước họ sau. Chỉ còn giữ lại cái quán tính của tên trước họ sau là khi gọi một cá nhân thì người Hán gọi bằng Họ, trong khi người Việt khi gọi một cá nhân thì gọi bằng Tên. Nhưng quan là thống trị nên giành phần lãnh đạo cả về văn hóa, cố đưa cái ngữ pháp ngược của ngôn ngữ “quan” áp đặt dần dần (bằng chế độ thi cử), vì vậy mà ở “cổ Hán ngữ” càng về sau dấu vết của lối nói xuôi của ngữ pháp Việt càng mất dần đi trong văn viết (bởi thầy chấm điểm là người quan tộc), nhưng ngữ pháp Việt vẫn còn đậm trong khẩu ngữ ở các địa phương. Khi tra mạng TQ mục “bách tính tộc phổ” tôi đã dẫn trường hợp ở mạng trên nói về họ Đinh, rằng có một nguồn họ Đinh, cũng mang họ Đinh mà gen không phải là bản địa, đó là do thời cổ đại, tộc du mục Trung Á có lối tên trước họ sau, mà đuôi kết của Họ là “- Stan” ( như kiểu tên các nước Kirgistan, Ydơbekistan). Vào Trung Nguyên được thư lại (thư lại là công chức cấp thấp, toàn là người Việt) dùng chữ nho thế âm tiếng đa âm của họ, “stan” tá bằng chữ Đinh. Khi người của lý trưởng cử đi “kiểm tra hộ khẩu” hỏi Đinh này là Tên hay là Họ ? Thưa là Họ. Vậy thì Họ phải viết vào đằng trước cho giống toàn dân đi. Vậy là từ đó người ta mang họ là “Đinh” (thực ra là “…Stan”). Nhiều đời sau cộng đồng đó cũng không còn giữ ngôn ngữ mẹ đẻ của họ nữa, trở thành người họ Đinh thực sự. (Đinh thật thì là một họ của người Việt bản địa, “Đẻ ra người Kinh” = Đinh, Đinh còn có nghĩa là nhân khẩu, “Đàn ông Kinh” = Đinh, “Đàn bà Kinh” = Đinh). Bà Từ Hy (người Mãn Thanh, tộc Nữ Chân) nếu viết tên thật của bà ta thì là một cái tên họ đa âm tiết, là “Ye-He-Na-La-Xing-Zhen”. Mãn Thanh thống trị Trung Hoa mấy trăm năm, cuối cùng người Mãn Thanh nay chỉ còn có 200 người là còn nói được tiếng Mãn (theo Dương Danh Dy). Chữ viết của người Mãn có từ năm 1561, giống chữ Mông Cổ. Dùng các QT Lướt, QT Nở, QT Tơi-Rỡi đã nêu sẽ thấy rõ bất cứ từ nào đang dùng trong tiếng Việt hiện đại, truy từ nguyên đến cùng thì vẫn là gốc Việt. Còn muốn tìm từ nguyên của Hán ngữ hiện đại thì phải truy về “cổ Hán ngữ” mà từ nguyên của “cổ Hán ngữ” thì lại là Tiếng Việt. Ví dụ từ Cao thì trong các phương ngữ TQ cũng như trong Hán ngữ hiện đại đều phát âm là “cao” và có nghĩa là cao. Nhưng từ nguyên của Cao là nằm trong Tiếng Việt ở từ Côi, do chỉ có Trời là cao nhất, mà Trời = Trồi = Côi = Cao 高. Côi Lời nghĩa là Trên Trời, cấp Côi nghĩa là cấp Cao. Từ Thấp thì Hán ngữ dùng là từ Đê 低, nhưng từ Đê 低 này có từ nguyên là từ Đất của Tiếng Việt, quan niệm con người là đứng giữa, cao nhất là Trời thì thấp nhất là Đất, QT Tơi-Rỡi chỉ rõ Đất = Địa = Đê (Hán ngữ dùng chữ Đê 低, phát âm là “ti”). Chữ Địa 地 có viết bằng chữ nho, nên những người không ngộ ra cái hồn Việt của nó thì cho rằng nó là “từ Hán-Việt”, như "Từ Điển Yếu Tố Hán Việt Thông Dụng" của Viện Ngôn Ngữ Học NXB KHXH HN 1991, Hoàng Văn Hành giải thích một cách khẳng định: “Chúng là những từ gốc Hán đã Việt hóa hoàn toàn, nghĩa là cả về ngữ âm lẫn ngữ pháp, chúng đã nhiễm được các đặc tính ngữ âm và đặc tính ngữ pháp của Tiếng Việt” (!). Từ Dân cũng được Từ Điển trên giải thích như vậy “Chúng là những từ gốc Hán đã Việt hóa hoàn toàn…”. Nhưng tôi theo QT Tơi-Rỡi đã dẫn ra rằng: Mọi = Man = Mằn (tiếng Quảng Đông)= Dằn (tiếng Quảng Đông)= Mân = Cần (tiếng Tày)= Dân = Nhân = “Rấn” (tiếng Hán-“ren”). Những từ đôi như Mọi Người, Nhân Dân đều có nghĩa là nhiều người. Từ nguyên cốt lõi nhất của “Người” là con số “1”, là một sự khẳng định làm “Người” (khác với con số “0” là 0 = Mô = Vô là chưa xuất hiện; từ Vô theo QT Nở sinh ra từ dính là Vớ-Vẩn, cứ chịu dính mãi như vậy từ thời cổ đại đến bây giờ, là từ mang khái niệm Lấp-Lửng). Người là số 1, đó là từ 1 = Muôi (tiếng Khơme)= Người = Ngài = Ngôi = Mỗi 每 = Mọi = Mùi 位 = Vui = Vị 位( Hán ngữ mượn dùng chữ Vị 位, phát âm là “vây”) = Vị = Hi-Tô (tiếng Nhật). Người xưa ví một con người như là một cái cây (dụng nhân như dụng mộc) nên cũng lấy chữ Mọc 木 để tá con người, ví như mặt trời mọc (Việt = Vóc = Mọc = Mắt = Mặt, dân Việt là dân Mặt Trời). “Thuyết Văn Giải Tự” cũng giải thích chữ Mộc 木 nghĩa là chui từ đất lên, tức là Mọc (tục ngữ “Người Ta là hoa của đất”). Chữ Mọc木 cũng đọc là Một Cây, chữ này tiếng Nhật có ngữ cảnh đọc là Ki 木 nghĩa theo Nhật ngữ là Cây, có ngữ cảnh đọc là Mô-Cư, (tức là Một Cây), Mô-Cư tiếng Mỹ đọc là Ô-KÊ, người Sài Gòn vẫn nói “Một Cây” nghĩa là hạng nhất. Vậy tại sao trong Tiếng Hán chỉ có một từ Địa, còn trong Tiếng Việt có hai từ Đất và Địa, dùng cho những ngữ cảnh khác nhau. Đó là bởi vì từ nguyên của Địa là Đất. QT Tơi-Rỡi chỉ rõ Đất = Thật = Thổ nên mới có câu thành ngữ “hiền như đất, thật như ruộng”. Đất là chỉ cái ở thấp nhất, so với Trời là chỉ cái ở cao nhất. Đất = Thật = Thấp = Thổ 土, Đất = Đáy = Địa地 = Đê 低 = Để 底. Về từ thì Tiếng Việt đã sinh ra Đất, sao còn sinh ra Địa ? Bởi vì người Việt dùng Địa cho những ngữ cảnh khác, người Việt đi tìm Đất là để làm ruộng, nhưng tìm Địa là để làm nhà vì nó quan trọng hơn, phải kén chọn “đất để làm nhà kia ạ ! “ và đã lướt cả câu “Đất để làm nhà Kia Ạ” = Địa. Cái cách nói đặt từ Ạ = Dạ = Dã 也 = Là = =Mà = Cà = Kia = Cơ = Có = Co (tiếng Quảng Đông)= Đó = Đấy = Đês (tiếng Nhật )= Đích 的 = “Đơ 的” (tiếng Hán, phát âm là “tơ”) ở cuối câu là thông dụng trong Tiếng Việt từ cổ đại đến nay, mà ở “cổ Hán ngữ” còn thấy trong các câu giải thích trong “Thuyết Văn Giải Tự” của Hứa Thận (2000 năm trước), câu nào cũng có chữ Dã 也 ở cuối câu. (Hán ngữ hiện đại chỉ dùng có một từ “Đích 的” phát âm là “tơ”, còn từ “Dã 也” phát âm là “dể” rất ít dùng và chỉ dùng trong văn viết, không dùng trong khẩu ngữ). Người Việt ngày nay vẫn nói như vậy. Ví dụ câu thán “Trái ớt này cay cay Là !” và câu phụ họa “Thì nó đúng Là giống ớt cay Mà !”. Từ Đất trong nôi khái niệm rộng hơn của nó còn có Đấ = Đìa = Địa = =Đai = Đầm chỉ các loại đất có thể canh tác được; từ đôi Đất Đai là nhiều loại đất; Đìa là đất trũng nước, diện tích nhỏ; Đầm = Đàm 潭 là đất trũng nước, diện tích lớn hơn, Đìa và Đầm là đất canh tác trồng loài thủy sinh như sen, súng, bèo, rau muống kết hợp nuôi cua cá thả tự nhiên. Đầm Đìa là một từ đôi, nghĩa là nhiều nước ,được nâng ý lên thành từ văn học, như câu “nước mắt đầm đìa”, Đìa// Địa là một từ đôi đối , một bên là còn có nước, một bên là khô. Những kẻ phủ nhận Văn hiến Lạc Việt 5000 năm thì mặc nhiên coi chữ Địa là “từ Hán Việt”. Dùng các QT đã nêu sẽ thấy rõ bất cứ từ nào đang dùng trong tiếng Việt hiện đại, truy từ nguyên đến cùng thì vẫn là gốc Việt. Còn muốn tìm từ nguyên của Hán ngữ hiện đại thì phải truy về “cổ Hán ngữ”, mà từ nguyên của “cổ Hán ngữ” thì lại là Tiếng Việt.
  13. Tìm từ nguyên (4), chữ Bái và chữ Nột Theo nghiên cứu của ngành khảo cổ và nhân loại học, di chỉ văn hóa Trường Tân 長 濱 ở Đài Loan có niên đại hơn 3 vạn năm, nền văn hóa này của thổ dân Đài Loan đến cách nay 5000 năm thì dần dần biến mất. Họ đã có kỹ thuật luyện thép rất cao siêu. Ba nghìn năm trước họ đã có kỹ thuật chế vỏ Bối, bán cho vương triều Trung Quốc để làm tiền. Đặc điểm người Việt là ăn nhiều loài nhuyễn thể. Các di chỉ ven biển Đông niên đại 6000-5000 năm trước đều có những đống vỏ Bối hơn 20 chủng loại đã hóa thạch. Nhiều đồ trang sức xưa làm bằng vỏ Bối. Từ thời Thương đến thời Tần vỏ Bối mài rồi xuyên lỗ làm thành tiền trao đổi. Đồ trang sức bằng vỏ Trai phổ biến thời Xuân Thu Chiến Quốc, trang sức trên thắt lưng, trên ngựa của quân nhân. Từ Bối là một từ Việt, gọi chung vỏ loài nhuyễn thể. Khi ở Bếp ngồi ăn nhuyễn thể nướng, người ta ăn cái Lõi thịt của nó, còn cái vỏ tức cái Bọc Lõi thì gọi lướt “Bọc Lõi” = Bối , là một cái tên chung chỉ vỏ loài nhuyễn thể; cũng như vỏ trấu vùi bếp giữ lửa, là cái bọc lõi gạo, cũng gọi trấu là "Bọc Lõi" = Bổi. Bối=Bái=Trai, Trai là loài nhuyễn thể có hai mảnh vỏ có vân xà cừ, được coi là loại Bối đẹp nhất, người ta mài làm đồ trang sức và dui lỗ làm đồng tiền. Trong vịnh Hạ Long còn có vụng nhỏ tên là vụng Bái Tử Long. Vì loài Trai hay loài Bối nói chung có hai mảnh vỏ úp vào nhau như hai bàn tay úp vào nhau, nên cái động tác úp hai bàn tay vào nhau khi gặp gỡ tỏ ý kính trọng, người ta gọi là Bái, Bái=Vái, cũng như Bối=Vôi. Động tác Bái này cùng lúc lặp lại nhiều cái, nên Bái=Vái=Lại=Lạy, và có câu thành ngữ “lạy Thánh mớ bái”, câu này hoàn toàn đồng nghĩa với câu “lạy Thánh mớ lạy” hay “vái Thánh mớ vái” hoặc “bái Thánh mớ bái”, nhưng trong Tiếng Việt những từ cùng nôi khái niệm Bái=Vái=Lại=Lạy đã vô tình như được phân công, Bái chỉ được dùng theo chức năng danh từ, trong khi Vái hay Lạy được dùng theo chức năng động từ (nho viết chữ Bái 拜 là hai tay, ý là hai bàn tay, nhưng nó là cái âm Việt do lướt “Bàn tay chắp Lại” = Bái, đã nói là chắp thì phải có hai cái rời nhau mới chắp được, một từ chắp đã nói thay cho “hai” là hai bàn tay, lướt “Bàn tay chắp Lại” = Bái ). Hán ngữ chỉ dùng một từ Bái 拜 này, phát âm là “bài”, mang nghĩa là lạy. Hán ngữ không dùng từ bàn tay, mà gọi bàn tay là “thủ chưởng 手 掌”, vậy từ Bái và cái động tác chắp tay Lạy là hoàn toàn gốc Việt; chỉ có những người làm từ điển là cho rằng“chữ Bái là một từ Hán-Việt”. Thuyết Văn Giải Tự hướng dẫn đọc chữ Bối 貝là lướt “Bác Cái 博 蓋” = Bái (Hán ngữ đọc chữ Bối 貝 là “bây”), giải thích nó là loài trùng biển “tại thủy danh Han 在 水 名 蜬” tức nó là loài Hến, “cổ giả hóa bối nhi bảo qui 古 者 貨 貝 而 寶 龜” tức kẻ cũ (người xưa) lấy bối làm hàng hóa coi là báu cũng như rùa, “chu nhi hữu tuyền 周 而 有 泉” tức theo đường thủy đưa đến các vùng xung quanh, “chí Tần phế bối hành tiền 至 秦 廢 貝 行 錢” tức đến thời Tần thì bỏ dùng bối,lưu hành bằng tiền đồng. Vỏ Bối do ăn rồi bỏ quanh bếp lửa, bị nung nóng, khi xúc đổ đi xuống ao vô tình người ta thấy nó sủi bọt rồi nhũn ra như bùn, đó chính gọi là Vôi. Về sau ở vùng biển người ta xúc vỏ sò vụn để nung Vôi (nơi khác thì dùng đá), dùng nước để Tôi cho Vôi nhũn. Từ đó mới có tục têm vôi với trầu để ăn cho có nước trầu đỏ môi. Bình vôi khi không dùng nữa người ta để ở gốc đa, gọi là ông bình vôi, cũng vái ông bình vôi. Vôi viết chữ nho là chữ Khôi 灰 (có bộ thủ Hỏa 火). Người Hán chỉ biết đến Vôi khi người Việt bán cho họ Vôi nung bằng đá, nên Hán ngữ gọi vôi bằng hai chữ Thạch Khôi 石 灰 phát âm là “sứ huây”, Hán ngữ phải dùng hai chữ Thạch Khôi 石 灰, hoặc Bạch Khôi 白 灰 thì mới có nghĩa là Vôi, còn tiếng “huây” riêng thì trong Hán ngữ có nghĩa là màu xám hoặc chỉ tro bếp. Vôi xuất xứ từ Bối, nên màu của Vôi gọi là màu Bạc, nho viết là chữ Bạch 白, có thành ngữ “bạc như vôi”, và đồng tiền làm từ vỏ Bối người ta gọi là đồng Bạc, sau làm bằng Bạc kim loại cũng gọi là đồng Bạc (giống như Thái Lan gọi là đồng Bạt). Thời đồ đồng mới làm tiền bằng đồng kim loại hình tròn lỗ vuông tượng trưng trời đất “mẹ Tròn con Vuông”, khi đó mới gọi là đồng Tiền (Campuchia gọi là đồng Riên). Hán ngữ gọi con trai có vỏ xà cừ là ngọc loa 玉 螺. Nhưng Loa lại có xuất xứ từ Ốc, Ốc = Lốc nha lốc nhốc, ý nói rất nhiều, lướt “Lốc Nha” = Loa. Lốc nha là “Lấy vỏ ốc nung vôi làm Nhà” = Lốc Nha, rồi mới lướt “Lốc Nha” = Loa螺. Hán ngữ mượn chữ Loa 螺 này, gọi con ốc là “lúa”. Trong khi người Quảng Đông vẫn gọi cái nhà là “Ốc 屋” viết bằng chữ Ốc 屋 của địa ốc. Và người Việt do hình dung cái vỏ con Ốc chính là cái nhà của nó, nên cái che của nhà gọi là Nóc, dân giang hồ thì ở trên thuyền có Mui che lum khum như Mu con rùa, và gọi loại thuyền đó là cái Nốc (từ dùng phổ biến ở bắc Trung Bộ, tiếng Nhật lại gọi thuyền là Nô-Ê, không biết có liên quan gì đến con thuyền No-e trong cổ tích đại hồng thủy ?); người Việt hình dung cái Mai cua như cái nhà của nó nên cũng gọi cái che của nhà là Mái (người Triều Châu lại gọi cái cư xá để ở là Kua). “Lạy Thánh mớ bái”. Mớ là một từ phiếm chỉ, biểu thị một số lượng ít, nó đối nghịch với Muôn, biểu thị một số lượng nhiều, khi dùng với nghĩa số lượng cụ thể thì Muôn của Tiếng Việt có nghĩa là một Vạn, nên có từ đôi Muôn Vạn hay Muôn Vàn, bản thân cách ghép tự nhiên từ đôi Muôn Vàn cho thấy tính lịch sử là Muôn có trước Vạn có sau (Tiếng Tày lại dùng từ Muôn phát âm là “Mưn” mang nghĩa là một ngàn, Tiếng Nhật dùng từ Muôn phát âm là “Màn” mang nghĩa là một Vạn. Vậy cái lịch sử từ nguyên là đã đi từ Muôn = Mưn = Màn = Vàn = Vạn 萬, Hán ngữ phát âm chữ Vạn 萬 là “wàn”). Hai từ phiếm chỉ Mớ và Muôn này là do từ Một (một số lượng) trong QT Nở mà sinh ra hai từ đối nghịch về nghĩa làm thành từ đối Mớ/Muôn. Như vậy truy từ nguyên từ “Vạn 萬” của Hán ngữ hiện đại thì quay về “cổ Hán ngữ” là chữ nho Vạn 萬. Từ nguyên của chữ nho Vạn 萬 là từ Muôn của Tiếng Việt. Từ nguyên của Muôn lại là từ Một, mà từ Một là do QT Nở đã làm cho cái tế Mỗi tự tách đôi ra, sinh ra trứng Âm và trứng Dương là Mô và Một , tạo thành từ đối Mô/Một = 0/1. Cái từ Mỗi này Hán ngữ mượn của Tiếng Việt và phát âm chữ nho Mỗi 每 là “mẩy” (mei). Từ Mỗi có liên quan với số đếm Một của Tiếng Việt, còn từ “mẩy” chẳng liên quan gì đến số đếm của Hán ngữ là “Yi”- “Er”-“San”- “Si” (1-2-3-4). Nếu lấy từ của Hán ngữ “Yi” là 1 và “Líng” là 0 mà chiếu theo QT Nở thì hai từ ấy chẳng có liên quan Âm Dương gì với nhau, chỉ có nhìn con số Ả Rập 0 và 1 thì hiểu như là Âm và Dương, đó là do qui định về sau theo số học. Do vậy khẳng định là từ Mỗi 每 dùng trong Hán ngữ là từ mượn của Tiếng Việt. Từ nguyên của Mỗi lại là cái NÔI (QT Tơi-Rỡi: Nôi=Mỗi). Chỉ có Tiếng Việt mới có NÔI là cái Nôi của mọi khái niệm của sự Nói, lại cũng là cái Nôi đựng trẻ sơ sinh mà cái Miệng của đứa trẻ sơ sinh là khởi nguồn của sự nói thành Tiếng (điều này thì trong Hán ngữ không thể nào có được, bởi Hán ngữ bói không ra một âm tiết “nôi”, còn cái đựng đứa trẻ sơ sinh thì Hán ngữ gọi bằng cách ghép hai chữ nho Dao Làn 摇 篮 , là cái “làn lắc”, phát âm là “yáo lán”. Từ Mỗi có gốc hệ Môn-Khơme, tiếng Khơme “muôi” nghĩa là Một=1.Trong Hán ngữ cũng không có âm tiết “nói”. Cái gọi là “cổ Hán ngữ” tức ngôn ngữ của chữ nho Việt có chữ Nột 訥 (vì Hán ngữ không có âm tiết “nột”, phải phiên âm bằng một âm tiết là “nưa” (ne), nếu không thì phải tách thành hai âm “nô-tờ” để phiên bằng hai chữ là “nú thừa” (nú tè). Từ Điển Trung Việt NXB KHXH HN 1997 trang 869 giải thích chữ Nột 訥: [sách], là từ viết ở sách cổ [ tức cái thời “cổ Hán ngữ” là cái thời Tiên Tần, toàn Trung Hoa đang dùng Tiếng Việt ]; Nột 訥, giải thích nghĩa là “nói chậm rãi”, lại có từ đôi Nột Nột 訥 訥 nghĩa là “nói chẳng nên lời” . Nếu hỏi những nhà làm Từ Điển này, cái từ Nột 訥 ấy ở đâu ra mà có, họ sẽ trả lời là “đó là một từ gốc Hán, ta gọi là từ Hán-Việt, tiếng ta không có cái âm tiết Nột ấy”, đảm bảo 100% họ sẽ trả lời như vậy, chứng cớ rõ ràng là người ta đã không đưa cái âm tiết Nột này vào từ điển tiếng việt, như trong Từ Điển Tiếng Việt NXB KHXH HN 1977 cũng do các nhà từ điển ấy làm ra đã không có từ Nột, trang 594 chỉ có từ Nốt. Còn cái từ dùng trong từ điển và nay phổ biến trong thông tin là từ “tiếng Trung” thì tôi không hiểu nổi, có chủng tộc nào gọi là chủng tộc Trung hay không mà lại có ngôn ngữ gọi là “tiếng Trung”. Chữ Nột 訥 ấy ở cái thời vẫn còn là “cổ Hán ngữ” người ta phát âm là “nột”, đến mấy nghìn năm sau thì “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” nên vẫn phát âm là Nột. Hai nghìn năm trước Hứa Thận trong “Thuyết Văn Giải Tự” giải thích nghĩa chữ Nột là “ngôn nan dã 言 難 也 tức là nói khó ạ”,nói khó thì phải “nói chậm rãi”, nói chậm rãi tức là nói tiếng một, người Việt đã lướt “Nói tiếng Một” = Nột và viết chữ nho là chữ Nột 訥, từ nguyên của khái niệm “nói chậm rãi” là Nói Nột, đó là một từ đôi, sắc thái của từ đôi này là diễn đạt ý là cái người nói đó diễn đạt ý tứ không trôi chảy, tiếng chảy tiếng chột, “Nói chảy nói Chột” thì cũng lướt thành Nói Nột. Chột là do lướt “Chỉ còn Một” = Chột, nên mới có từ ghép Chột Mắt tức là chỉ còn một mắt. Nói không trôi chảy tức “nói khó ạ” thì ví dụ: đáng lẽ từ dính có hai tiếng, chỉ nói rõ được một tiếng, tiếng kia không phát âm ra rõ được, tức là “Nói Chột” = Nột. Cũng như từ Nói Năng là một từ đôi, sắc thái của nó là nói nhiều chuyện, ví dụ kể chuyện ma chẳng hạn, trong đó có cái thật có cái do tưởng tượng hư cấu, nên nó là câu “Nói chắc nói chăng” và đã lướt “Nói Chăng” = Năng, như là lướt cả câu “Nói chắc Nói Chăng” = Nói Năng (tiết kiệm được 50% âm tiết và cả ký tự). Các nhà ngôn ngữ học Tiếng Việt giải thích là những từ hai âm tiết kiểu như từ Nói Năng là “chỉ có một tiếng có nghĩa, còn tiếng kia chưa rõ nghĩa, gọi là từ ở trạng thái chờ, chưa được đem dùng” (!). Hán ngữ không có âm tiết “nột” và từ Nột 訥 là họ mượn của Tiếng Việt thời cổ đại nên nó có chữ trong “cổ Hán ngữ”, mà cả ngàn năm nay họ cũng không dùng nữa. Bản thân cái Tơi “N” của từ Nột đã cho thấy nó có gốc với từ Nói cũng có Tơi “N” của Tiếng Việt. Trong Hán ngữ không có âm tiết nào có Tơi “N” mà liên quan đến cái ý nghĩa là nói. Những chữ nho cổ như Ngôn 言 (“yán” ), Ngữ 語(“yu” ), Viết 曰(“yue” ) đều có nghĩa là nói, nhưng phát âm trong ngoặc đơn là phát âm của Hán ngữ, về âm vận đã bị lơ lớ, rất xa với âm vận của “cổ Hán ngữ”, âm vận của “cổ Hán ngữ” còn tương đồng với âm vận của Tiếng Việt. “Thuyết Văn Giải Tự” hướng dẫn đọc chữ Nột 訥 bằng cách lướt “Nội 内 Cốt 骨”= = Nột, chỉ đúng khi đọc bằng âm vận Việt , nếu lướt tức “thiết” bằng âm vận của Hán ngữ thì là lướt “Nây 内 Củ 骨”= =Nủ, làm sao ra âm “Nưa” như Hán ngữ phát âm được (?). Tiếng Quảng Đông và Tiếng Đài Loan thì khái niệm “nói” phát âm là “Coỏng”, nhưng gốc từ nguyên của nó là Kêu, trong cái nôi khái niệm Kêu = Ca = Kể = Coỏng. Tiếng Việt cớ từ đôi Kêu Ca, sắc thái nó khác với Kêu hay Nói bình thường. Tiếng Việt có từ lướt “Lời Kể” = Lể, tức còn phải lựa lời khi kể chứ không phải kể bình thường nghĩ sao nói vậy, do đó từ đôi Kể Lể là có sắc thái khác với Kể. Tiếng Việt tuy không dùng từ Coỏng nhưng còn có từ lướt “Lời Coỏng” = Lóng, và có từ đôi Nói Lóng, sắc thái của nó khác với Nói Lời bình thường. Coỏng=Lóng=Rống=Giọng=Gióng=Giảng. Gióng trống là làm cho cái trống nó nói. Lên Giọng cũng có nghĩa là Nói, nhưng gần gũi sắc thái với Giảng hơn. Tuy Giảng thì thường phải Lên Giọng như vậy, nhưng do lướt “Lời Giảng” = Lảng , và có từ đôi Nói Lảng (người giảng cũng thường hay nói lảng khi bị hỏi vặn), nên người Việt nghe kể chuyện hay nghe nói chuyện thì tin lắm, chú ý như nuốt từng lời, còn nghe Giảng thì thường ít chú ý hơn, tiếp thu nội dung bài giảng chỉ khoảng 10% là nhiều lắm rồi. Nhưng Tiếng Đài Loan cũng còn có La nghĩa là nói, mà Tiếng Việt còn có từ đôi La Lối, như cái lõi Na trong từ nói của Tiếng Nhật là Ha-Na-Xư. Nhưng ngữ pháp Tiếng Nhật thì từ đa âm tiết này bị biến theo các cách (giống ngữ pháp Tiếng Nga): Ha-Na- Xi-Ma-Xư là “đang nói”, Ha-Na-Xi-Ma-Xi-Ta là “đã nói”, Ha-Na-Xi-Tê là “khi nói” (như tiếng Anh dùng “speaking”). Từ Điển Yếu Tố Hán Việt Thông Dụng (viện Ngôn Ngữ học) NXB KHXH HN 1991, Lời nói đầu có viết: “Các tài liệu nghiên cứu cho biết, khoảng 60% vốn từ Tiếng Việt hiện đại có nguồn gốc từ Tiếng Hán. Ở nhiều lĩnh vực khác… tỉ lệ này còn cao hơn (70-80%). Toàn bộ vốn từ ngữ Hán-Việt nói trên đều được tạo thành từ một lượng hữu hạn các yếu tố gốc Hán đơn tiết gọi là yếu tố Hán-Việt.” Qua giải thích từ nguyên của hai chữ Hán tự diễn đạt hai từ thuộc tầng đáy của Tiếng Việt, cũng là thuộc tầng đáy của “cổ Hán ngữ”, là từ Bái (thuộc về lễ nghi), Hán ngữ hiện đại phát âm lơ lớ là “bài”, và từ Nột (thuộc về lời nói), Hán ngữ hiện đại phát âm lơ lớ là “nưa” (đều không khác phát âm của tiếng Việt hiện đại là bao nhiêu). Hai từ này đều thuộc trong nhóm mà các nhà từ điển VN cho là “yếu tố gốc Hán đơn tiết gọi là yếu tố Hán-Việt”, nhưng như tôi đã chứng minh ở trên, hai từ Bái và Nột đều 100% là gốc Việt. Cái chuyện gạt bỏ những từ cổ khỏi Từ Điển Tiếng Việt (vì cho rằng nó là từ Hán-Việt do nó có viết bằng chữ nho) chẳng khác gì gạt bỏ 60-80% âm vận Tiếng Việt sang cho người khác (vì Tiếng Việt có 15.000 âm vận, trong khi Hán ngữ hiện đại có 1.300 âm vận, như có học giả đã tổng kết).
  14. Lĩnh Nam xưa là đất của người Việt. Ngôn ngữ Việt là chủ đạo ở nam Dương Tử. Nó may mắn còn lại nguyên bản là ở Tiếng Việt của Việt Nam ngày nay. Nó còn trong các cộng đồng ngôn ngữ ở Lĩnh Nam ngày nay như Tiếng Quảng Châu (hệ Quảng Phủ), Tiếng Triều Châu (hệ Mân Ngữ) v.v. Triều Châu là một huyện ven biển bắc Quảng Đông, giáp Phúc Kiến. So sánh các từ tầng đáy của Tiếng Việt với Tiếng Triều Châu( Tr.C) và Tiếng Quảng Châu( Q.C), ví dụ: 3 = Ba =Sa(Tr.C)= Sam (Q.C)= Tam (Hải Nam). Múa = Vúa(Tr.C) = Vũ = Múa Vũ. Mắt = Mắt (Tr.C)= Mục. Krông = Khoỏng = =Dòng = Giang = Kang (Tr.C) = Kênh = Kenh (Tr. C)= Kinh. Vua = Chúa = Chủ = Chiêu (Tr. C)= Triệu. Trời = Trồi = Trội = Côi = Chôi (Tr.C). Lúa = Ló = Lo (Tr.C)= Lạc. Hố = Ho (Tr .C) = Hồ = Hà. Cả = Gia = Giả = Cha = Chiéa (Tr. C)= Tía =Tia (Hoa). Mọi = Man = Mằn(Q.C) = Mân = Dân = Dín (Tr.C) = Dằn (Q.C) = Nhân. In = Ín(Tr.C) = Ấn = Nhấn = Dận = Dằn. Núi = Non = Ngọn = Ngàn = San (Hoa)= Sơn = Soa (Tr.C) = Tòa. Yêu = Yêu (Tr.C)= Ái = Ái (Tr.C).Nghĩa = Nghĩa (Tr.C). Tim = Tim (Tr.C) = Tim (Choang). Chùa = Chùa (Tr.C). Kém = Kém (Tr.C). Buồn = Buồn (Q.C).v.v. Thời cổ đại của văn minh lúa nước, người Việt lấy vỏ loài nhuyễn thể sống ở Bãi Bùn Bồi gọi là vỏ Bối 貝 để làm tiền trao đổi gọi là đồng Bạc (giống như ở Thái Lan gọi là đồng Bạt), vì màu nó trắng, về sau trao đổi làm bằng Bạc kim loại vì màu nó cũng trắng như Bối , khi ấy người Việt không dùng vỏ Bối để trao đổi nữa mà dùng nó để nung Vôi . Bối = Bạc = Báu = Bảo 寶 nên mới có từ đôi Bảo Bối 寶 貝 và coi cái Báu nhất trong căn nhà sàn là cái Bếp ở giữa sàn nhà. Bếp làm bằng ba cục đất sét nặn được coi là cái thân thuộc nhất với gia đình nên gọi ba cục đó là cái Ruột Báu, lướt “Ruột Báu” = Rau, nên gọi là ba ông Đầu Rau. Vỏ trấu của hạt thóc dùng để đun giữ lửa cho Bếp đỏ suốt ngày đêm, gọi là vỏ Bổi. Thịt ưa ăn nhất là thịt Rùa, để còn lấy mu Rùa dành để khắc chữ. Con Rùa động tác nó chậm chạp nên động tác ấy cũng thành tên gọi nó: Rùa = Rù-Rà = Rù-Rì = Qui 龜 = Qúi 貴 . Bởi vậy từ cái Bếp Việt mà sau bữa nhậu hàng ngày còn thu nhặt lại được hai cái giá trị từ hai con Qui 龜 Bối 貝là hai cái Qúi 貴 Báu 寶 là Mu Rùa để viết chữ và vỏ Bối để làm đồng Bạc trao đổi (giống như ở Thái Lan gọi là đồng Bạt). Vì Rùa đối với người Việt là quí báu như vậy nên người Viêt yêu thương nhất nó “Thương thay thân phận con Rùa, ở đền đội hạc lên chùa đội bia”, tôn Rùa là thần Kim Qui . Người Việt coi vỏ các loài nhuyễn thể là cái nhà của chúng: Rùa = Rù-Rà = Rù-Rì = Rù-Rù = Mu (rùa) = Mai (cua) = =Mái(nhà)= Đội Mái = Đồi Mồi, Ốc = Ốc 屋 (Tiếng Quảng Châu, trong từ địa ốc, gọi cái nhà là cái Ốc 屋), Cua = Cáy =Cư 居 = Kua (Tiếng Triều Châu trong từ cư xá, gọi cái cư xá là Kua 居)= Khua = Khía (ba khía, một loài cua ở Nam Bộ thường làm mắm). Ốc = Lốc Nha Lốc Nhốc = “Lấy vỏ ốc làm Nhà” = Loa 螺 (Hán ngữ dùng chữ Loa , phát âm là “lúa”, chỉ con Ốc). Cư Ốc = Cổ Loa, vậy thời cổ đại , khắp nam Dương Tử, nơi người Việt sinh sống, đều có nhiều Cổ Loa, chẳng riêng gì ở vùng ven Hà Nội. Dựa thanh điệu cũng giúp tìm từ nguyên. Xét về 6 thanh điệu của tiếng Việt, tôi chia ra hai Nhóm: -Nhóm 0 = Âm, gồm: “Không” – “Nặng” – “Ngã”, định hướng ý cho Trong, cũng gọi là “tư duy tĩnh tại” -Nhóm 1 = Dương, gồm : “Huyền” – “Sắc” – “Hỏi” – , định hướng ý cho Ngoài, cũng gọi là “tư duy hành động” Ngã-Nặng-Không // Huyền-Sắc-Hỏi. Chia thành hai Nhóm như vầy, cái dấu hai xẹt // ở giữa như là cái mặt gương chia ra thế giới Trong và thế giới Ngoài. Càng vào Trong càng nặng và càng sâu thăm thẳm đến chưa biết gì là “ngã”, Ngã là Ta, nhưng khi nói “Ngã” tức Ta, nghĩa là Ta còn chưa hiểu được Ta là ai ?; càng ra Ngoài càng rộng mênh mông, càng nghiên cứu rộng thì càng sắc, nhưng rồi vẫn đến “hỏi” là chưa biết gì, vì vậy nghiên cứu vũ trụ vẫn còn là chưa biết gì nên vẫn sẽ đến cuối cùng là Hỏi? Theo ranh giới như cái mặt gương là dấu hai xẹt // này, ta như đi nghiên cứu theo hai chiều hướng là Quá Khứ (vào Trong) và Tương Lai (ra Ngoài), hai chiều hướng này hỗ trợ cho nhau: Trong có Loi kỹ thì Ngoài mới Lòi, Trong càng Lọi tốt thì Ngoài càng Lói, Trong đã đến được tận Lõi thì Ngoài nhất định là Lỏi tức đỉnh cao hàng đầu chứ không thể cào bằng “xấu đều hơn tốt lỏi” được. [ Chiều Hướng là một từ đôi của Việt. Chiều có từ nguyên là Góc (thường ký hiệu bằng mũi tên hoặc vạch thẳng khi độ góc bằng không), Góc=Gác=Giác角 = Gạc = Chạc = =Chiều = Triều 朝 = Siêu = Sang = Hạng = Hướng 向. Sừng nai làm thành nhiều góc nên còn gọi là Gạc Nai, cành cây làm thành góc nên gọi là Chạc Cây, rẽ Sang trái nghĩa là rẽ Hướng trái. Siêu = Sính = Khuynh, Sính ngoại là Hướng ngoại, từ đôi Chiều Hướng cũng như từ đôi Khuynh Hướng]. Ta có ví dụ: Lõi-Lọi-Loi // Lòi-Lói-Lỏi. Lõi là Trong tận cùng rồi, nên Lõi=Lý ( “Lõi tận cùng Ý” = Lý), muốn tìm được cái Lý đúng, thì phải tìm sâu đến tận cùng. Muốn vậy phải Lọi tức tìm sâu vào bên Trong, mới gọi là Lục Lọi (kiếm bên Ngoài chỉ gọi là Tìm Tòi). Mà muốn Lọi được thì tư duy của cái người đi Lọi đó phải là tư duy Loi, tức là tư duy độc lập, là lẻ loi, thì mới làm được [ Đây chính là cái đi của sư phụ THIÊN SỨ để tìm ra được cái Lý đúng, là thuyết Âm Dương Ngũ Hành đúng nguyên bản Lạc Việt, thể hiện ở dựng lên được Hậu Thiên Lạc Việt Phối Hà Đồ ]. Tư duy tìm tòi bên Ngoài thì nó là Lòi, càng lòi rộng ra thì nó càng Lói tức chói sáng, biết rộng tức biết nhiều thứ gọi là “Biết Các” = Bác, là bác học. Khi đã từ một cái Lý đúng để đi nghiên cứu ứng dụng rộng rãi cho mọi vấn đề của tương lai thì nhất định sẽ đạt đến Lỏi là hàng đầu đỉnh cao [ Đây chính là cái đi của TT LHĐP hiện nay trong nghiên cứu rộng nhiều vấn đề từ Thuyết Âm Dương Ngũ Hành của Văn hiến Lạc Việt 5000 năm lịch sử]. Dấu hai xẹt // như là ranh giới giữa “tư duy tĩnh tại” (Trong) và “tư duy hành động” (Ngoài), hay như giữa Ảo và Thật. Từ đôi đối có dấu hai xẹt giữa như nói một thể gồm hai nửa đối nhau là Âm/Dương nhưng cân bằng nhau. Ví dụ Linh//Hồn là từ đôi đối, đôi về ý nghĩa vì Linh = Hồn, đối về Nhóm thanh điệu, gốc nguyên thủy của nó phải là Hôn//Hồn, Hôn là nửa Trong, thế giới đen (tĩnh lặng, thế giới ảo, như từ đôi Hôn Mê, vẫn là thể sống nhưng tĩnh lặng), Hồn là nửa Ngoài (sống động, thế giới thật, như câu gọi “hú hồn hú vía ở đâu thì về”, là thể sống động đang lang thang, người ta nói “thả hồn”, “gọi hồn” chứ không nói thả hôn hay thả linh, gọi linh). Nguyên thủy thì có nhiều từ đôi đối đồng nghĩa nhau nói về cái hồn người ở cả hai thế giới ảo và thật là Hôn//Hồn , Linh//Lình, Thinh//Thình, Thiêng//Thiềng, Thân//Thần, nó thể hiện rất rõ tư duy Trong và Ngoài. Nhiều tiếng trong những từ đôi đối đó dần dần ít được dùng, có thể mất đi hoặc chỉ thấy nó trong những từ ghép khác, người ta không để ý để tìm lại qui luật gốc của nó. Ví dụ Linh//Lình = Thinh//Thình là hoàn toàn đồng nghĩa nhau (dấu = ở đây là hoàn toàn bằng nhau về nghĩa chứ không đơn giản là biểu thị cùng nôi khái niệm). Nhưng chúng cũng đúng theo QT Tơi-Rỡi là Linh=Lình=Thinh=Thình=Thiêng=Thiềng=Thân=Thần đều là cùng một cái nôi khái niệm là “trạng thái tâm thần”. Linh là ở bên Trong, tĩnh, nhưng nó vẫn lang thang được, chỉ trong thế giới ảo, Linh=Lặng=Lăn=Lặn. Bàn thờ người chết nếu chưa có ảnh, người ta viết hai chữ Linh Vị có nghĩa là Hồn Người, nhưng Linh Vị là cái hồn người đã sang thế giới Âm, chứ không phải là còn ở thế giới Dương của người đang sống để được gọi là Hồn Người. Chữ Vị nghĩa là Người, thưa các Ngài hay thưa các Vị thì cũng đồng nghĩa nhau, chẳng qua là thích chữ thì người ta dùng quen là thưa quí vị. Lình là ở bên Ngoài, sống, người ta ít dùng nên quên dần, nhưng vẫn tìm thấy nó ở trạng thái Thình Lình và thường được dùng trong cụm từ “bất thình lình”. Lình là cái tư duy hành động nên nó còn dẫn ra Lình=Lính=Lỉnh=Lánh=Đánh=Đấu, Lính là ra chiến trường, Binh là nghĩa vụ, do lướt “Bắt đi Lính” = Binh, từ đôi đối Binh//Lính thể hiện rõ Trong/Ngoài, khi là từ đôi Binh Lính tức nhiều lính, cũng hàm cái ý có lúc là luyện tập (bài Binh bố trận) có lúc là Lính đánh ngoài chiến trường (“luyện Binh ba năm, đấu Lính một giờ”). [ Từ Điển Tiếng Việt NXB KHXH HN 1977 do Văn Tân, Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý và bổ sung, in lần thứ hai, giả thích (trang 63) cụm từ “bất thình lình” là: ”chợt, bỗng, không ngờ”, và đưa câu ví dụ là: “Dân quân bất thình lình tấn công quân địch”. Nhận xét: (1) Giải thích như vậy cho thấy là làm từ điển mà chưa được công phu cho lắm, dù đã chỉnh lý bổ sung in lần thứ hai. Vì chưa giải thích cho đến từ nguyên, để học sinh từ cấp một có thể thấy gốc gác hồn Việt trong mỗi từ. Còn giả dụ nếu giải thích thêm từ “bất” trong cụm từ “bất thình lình” chắc họ sẽ giải thích rằng từ “bất” là một “từ Hán Việt”. Vậy hãy lấy “tư duy là do Trời phú” ra mà giải thích để thấy từ nguyên của Hán ngữ hiện đại là trong “cổ Hán ngữ”, từ nguyên của “cổ Hán ngữ” lại là trong Tiếng Việt : Trời=Trồi=NÔI, Nôi theo QT Nở chia đôi ra Nỏ=0 và Nói=1, Nỏ=0 vẫn dùng trong khẩu ngữ Việt ở miền trung, theo QT Tơi-Rỡi thì Nỏ=Bỏ, Bỏ là khẳng định “không”, Nỏ=Bỏ=Bố (Bố là tiếng Tày dùng, “bố chắc” là “không biết”), Nỏ=Bỏ=Bố=Bộ (Bộ là tiếng Nam Bộ dùng thường xuyên trong khẩu ngữ, “chớ bộ ?” nghĩa là “chứ không à ?”, “chớ bộ” nho viết là chữ “chi bất 之 不), Nỏ = Bỏ = Bố = Bộ = Bất = Thất 失 = Mất = Mô = Vô 無 = Vù. Sách “Thuyết Văn Giải Tự” của Hứa Thận 2000 năm trước giải thích chữ Bất là một chữ tượng hình (có từ giáp cốt văn, tức của người Việt viết trên mu rùa)) ý nghĩa là “con chim bay liệng trên trời không hạ xuống nữa”: “điểu phi thượng tường bất hạ lai dã 鳥 飛 上 翔 不 下 來 也” (tức là nó Vù mất tiêu luôn rồi không quay về nữa). Vù = Phủ ( phủ định), Phủ = Pu, Pu là Hán ngữ hiện đại dùng, viết bằng chữ Bất 不. Hứa Thận hướng dẫn đọc chữ Bất 不 bằng cách “thiết” tức lướt hai chữ Phương Cửu 方 久, nếu theo âm của Hán ngữ hiện đại mà lướt thì là lướt “Fang Chỉu” = Phỉu, thì được một cái âm “Phỉu” không hề có trong Hán ngữ hiện đại, cũng không có ở ngôn ngữ nào. Nếu đọc lướt theo âm cổ của Tiếng Việt hay Triều Châu thì là lướt “Vuông Lâu” = Vầu, Già =Dai = Dãn = Dão = Lão = Lâu = “Cẩu” (Quảng Đông)= Cửu, Vầu với Vù thì như nhau, kiểu trái Bầu cũng là trái Bù (phát âm Trung Bộ), đúng là bay Vù mất rồi như nghĩa mà Hứa Thận giải thích. Hoặc lướt theo tiếng Quảng Châu hai chữ 方 久 là lướt “Mảnh Cẩu” = Mẩu thì đúng với âm Tiếng Quảng Phủ, “Mẩu” nghĩa là “không”, như Mô của Tiếng Việt. Từ “Mẩu” này của Tiếng Quảng Phủ thì Hán ngữ hiện đại phải phiên thành hai tiếng là “Mấy Dẩu”( mei you) nghĩa là “không có”. Toàn bộ cuốn Thuyết Văn Giải Tự cứ phải đọc lướt như Tiếng Việt hay Tiếng Quảng Phủ đọc thì mới lướt ra đúng, còn đọc theo âm Hán thì trật hết. Chứng tỏ thời Hứa Thận cách nay 2000 năm vùng Hoàng Hà (Trung Nguyên) vẫn còn là nói tiếng Việt, ngôn ngữ của Lĩnh Nam chiếm ưu thế. (2) Câu ví dụ mà từ điển nêu “Dân quân bất thình lình tấn công quân địch” cũng cho thấy là mấy cha nội làm Từ Điển (đề tài nhà nước cấp) mà vẫn bị ảnh hưởng tư duy chính trị thời sự, nên cũng giống các nhà viết sử. Đưa vào từ điển câu ví dụ thì phải chọn là câu có tính văn học, để nó còn lưu cả ngàn năm như câu Kiều của Nguyễn Du hay câu ca từ của Trịnh Công Sơn. Câu chính trị thời sự, thì như Phidel Castro trong cuốn hồi ký “Đời tôi” nói với ký giả người Pháp: “Một trăm năm sau thế hệ trẻ có làm khảo cổ sẽ nói thế hệ chúng ta là một nhân loại ngu xuẩn”. ] Thinh//Thình thì Thinh là tư duy hướng Trong, ít dùng nên mờ dần trong ngôn ngữ , giống như từ Đanh Long ít được dùng hơn từ Đành Lòng, Long hầu như bị quên hẳn, Đanh còn trong ý nghĩa lặng lẽ “như chùa bà Đanh” hay “ý chí Đanh thép” không đổi trong tâm. Thinh còn trong ý “tư duy tĩnh tại” như Lặng Thinh, Nín Thinh, Im Thin Thít, Thình còn trong “tư duy hành động” là hoạt động phản xạ rất nhanh Thình Lình. Thân//Thần thì tác động ra Ngoài là cái Thần thường được sử dụng nhiều. Thân chỉ còn ẩn bên Trong, như ở từ Thân Thuộc, hoặc lang thang trong tư duy cho đến già, Thân = Dẫn = Dãn = Diên = Già. Thiêng//Thiềng thì Thiêng dùng nhiều trong đơn tiếng hay ghép từ đôi Thiêng Liêng = Thinh Linh, Thiềng bị mờ trong ngôn ngữ, do nó bị phát âm là Thiền, Thiềng = Thiền, Thiền là một trạng thái tâm linh “tư duy hành động”, đang chuyển cái tư duy vào trong tâm cho đến tận cùng là trạng thái trống rỗng, tức mênh mông vô tận, lúc đó sẽ đạt trạng thái Thiêng.
  15. CÁC BẠN ĐỪNG NGHE AI SUI KHÔN, SUI DẠI ....... Tuyệt đối không uống : 1 /- TRÀ ĐINH . 2/- TRÀ TIM SEN . 3/- TRÀ ĐẮNG . 4/- XUYÊN TÂM LIÊN . XIN ĐỌC TÀI LIỆU DƯỚI ĐÂY VÀ XIN PHỔ BIẾN ... .Dược thảo độc hại. Nhiều người bệnh Tiểu Đường lâu năm, thuốc tây dần dần không thể control như ý, nên tìm các thứ dược thảo uống phụ thêm (uống thử khi nghe quá nhiều người khen ngợi). Thấy cho phép bán trên thị trường, chắc ít ra cũng có sự kiểm tra của bộ y tế mới cho giấy phép bán. Một sản phẩm liên hệ đến sức khoẻ, phải được nghiên cứu kỷ về dược tính và độc hại trước khi cho phép, nhưng chuyện này không như mọi người nghĩ, nên cần phải đề cao cảnh giác hơn nữa. Tôi đã chỉ uống thử hơn 1/2 ly hơi đậm 1 chút của Trà Đinh (trà Đắng). Đường xuống nhanh thấy rõ, nhưng tức thì sau vài tiếng bổng đi xiểng niểng, nhủi về bên trái, gần té và ngày sau (không uống thêm chút nào), đầu óc 1 thoáng (vài giây) không biết gì cả và mất thăng bằng. Có nhiều người uống hơi lợt 1 chút không thấy ngay tác dụng độc hại của nó, nên tiếp tục uống để rồi bị ngộ độc tính loại kinh niên, xáo trộn nhiều cơ quan đến sinh tử vong vì nó mà không hay biết như trường hợp bác sĩ VN ở Âu Châu đã có lần báo động. Hãy ngừng uống Trà Đinh ngay Lá cuộn nhỏ lại như cái đinh, còn gọi là trà đinh Trong đại hội Y khoa châu Âu ngày 16 tháng 10, tại Hotel Novotel Paris 14, mà chủ đề là bệnh Tiểu đường. Giáo sư Trần Đại Sỹ diễn giảng đề tài về khả năng Y khoa Trung quốc, Việt Nam trong trị tiểu đường có đoạn : « Tại Trung quốc, sau khi Hồng quân chiếm được Hoa lục (tháng 9-1949), họ đã thiết lập mỗi tỉnh đều có một viện nghiên cứu, giáo dục y học cổ truyền mang tên Trung y học viện. Tại Việt Nam thì cấp quốc gia có Viện Đông Y, rồi Viện Y Học Dân Tộc, rồi Viện Châm Cứu. Ấy là chưa kể bên cạnh còn những hội nghiên cứu từng loại bệnh, từng loại thảo dược. Việt Nam là một quốc gia có nền y học dân gian, khác hẳn với y học Trung quốc. Trong suốt chiều dài chiến tranh (1945-1985, kể cả chiến tranh Hoa-Việt, Miên-Việt) hoàn cảnh khó khăn, người ta khai thác cùng kỳ cực y học dân gian. Sau chiến tranh, các kinh nghiệm đó được chỉnh đốn lại, rồi khai triển, xử dụng. Kết quả không thua nền y khoa bác học và Tây y. Đó là nói về những nét chung chung sự quan tâm của giới cầm quyền, lưu tâm đến kinh nghiệm dân gian. Thế nhưng trong dân gian, người biết cùng kỳ cực thì ít, mà người chỉ nghe qua, biết qua thì nhiều. Họ không tự hiểu rằng họ chỉ nghe truyền khẩu chút ít mà thôi. Thế nhưng họ rồi khăng khăng cho rằng điều mình biết là thuốc tiên thuốc thánh. Bỏ qua những phong trào chỉ xuất hiện trong một làng, một huyện hay một tỉnh. Tôi xin nói qua về ba phong trào lớn, khắp quốc gia, lan ra thế giới do làn sóng Việt kiều. Xuyên tâm liên Hình minh họa Sau 1975, Tây dược khan hiếm toàn miền Nam Việt Nam. Thảo dược không đủ đáp ứng nhu cầu. Dân chúng một vài nơi có kinh nghiệm dùng cây Xuyên tâm liên để trị sốt, viêm. Sau khi một ký giả đăng tin có thầy lang dùng Xuyên tâm liên trị được bệnh viêm phổi, sưng khớp. Thế là cả nước cùng dùng Xuyên tâm liên trị đủ thứ bệnh. Xuyên tâm liên được rút nước cốt chế thành viên, dùng trong hầu hết các bệnh xá, bệnh viện. Mà trên thực tế Xuyên tâm liên chỉ có tác dụng làm hạ nhiệt mà thôi. Xuyên tâm liên còn có tên là Công cộng, Nguyên cộng, Lam khái liên. Thời Pháp thuộc tại Pondichery có tên Roi des amers. Tại Anh là Green chireta. Tên khoa học là Andrographis paniculata (Burm). Còn có tên là Justicia paliculata Burm. Thuộc họ Ô rô (Acanthaceae) Cái nguy hiểm là Xuyên tâm liên có độc tố phá vỡ các tế bào não, tâm, thận. Sau một thời gian, Xuyên tâm liên cướp đi cuộc sống không biết bao nhiêu người, phong trào này mới dứt. Tim sen Hình minh họa Tim sen vị đắng, nhập tâm, tâm bào kinh . Tác dụng của nó là hạ nhiệt. Hạ nhiệt tim, thận, tỳ, phế. Vì vậy những người bị thực nhiệt uống vào thì hỏa hạ xuống; trong người cảm thấy sảng khoái, ngủ được. Những người bị âm hư, uống vào cũng ngủ được, nhưng ít lâu sau sẽ bị mệt mỏi, mất trí nhớ, tim đập thất thường, tắc tĩnh động mạch. Nam thì bất lực sinh lý (Dysfonction Érectille), nữ thì kinh nguyệt xáo trộn. Ngoài ra tim sen tim sen có độc tố. Độc tố này làm hủy hoại tế bào óc, thận và tim. Trà đắng (trà đinh) Hình minh họa Gần đây trong nước rộ lên phong trào uống Trà đắng. Trà đắng có hai loại, một tên là Ilex cornuta Lindl mọc ở Giang tô, Triết giang, Thượng du Bắc Việt. Một loại có tên Ilex latifonia Thund mọc ở Triết giang, Phúc kiến, Quảng Tây và Thượng du Bắc Việt. Sau khi thu thái, người ta cuộn lại giống hình cái đinh, nên gọi là Trà đinh. Trong nội địa Việt Nam rộ lên phong trào dùng trà đinh để trị huyết áp cao, mất ngủ, cholestérol, tiểu dường. Rồi con buôn nhảy ra khai thác : Trà tiên trị bách bệnh. Phong trào đó lan ra hải ngoại. Hầu hết những bà thất học, bất chấp lời can của Bác sĩ gia đình, của thân thuộc là nạn nhân. Họ như bị ma, quỷ nhập, cứ thi nhau uống. Loại trà này dược học Trung quốc gọi là Khổ đinh trà. Có tác dụng tả hỏa, thanh nhiệt rất mạnh vì vậy nó làm cho dễ ngủ, nhất là một vài dạng huyết áp cao, tiểu đường hạ xuống (Huyết áp cao do Can dương thượng thăng. Tiểu đường do Phế âm hư). Tính của nó hàn. Khi dùng từ 5g một ngày : – Khí huyết bị bế tắc. – Thận, tâm, tỳ, phế dương bị tổn hại. – Máu ứ đọng trong các tiểu mạch, tim đập chậm lại. Tại Liên Âu đã xẩy ra rất nhiều tai nạn khi dùng loại trà này. Trà được đưa vào Liên Âu qua đường du lịch, bất hợp pháp. Những nạn nhân hầu hết là phụ nữ lớn tuổi, thất học, khi về thăm Việt Nam, Nam Trung quốc mang sang. Xin thuật hai y án mới nhất: 1. Bà X R, 53 tuổi, thất học, buôn bán, sống tại Berlin (Đức) Có một con gái 18 tuổi, đã cắt tử cung. Tuyệt kinh từ năm 43 tuổi.Thường bị mất ngủ, phong thấp. Tết A^'t Dậu (2005) về thăm quê. Được người nhà khuyên uống Trà đinh. Sau khi uống, thấy ngủ được (do tính hàn), và phong thấp giảm đau (do tính hàn, chống phong là dương tà). Khi rời Việt Nam về Berlin, mang theo 10 kg, chia thành túi nhỏ 5g, tặng cho khách hàng của bà. Riêng bà mỗi ngày uống 5g buổi sáng, 10 buổi chiều. Sau hơn tháng : – Tóc bắt đầu đổi mầu úa vàng, sáng dậy tóc bị gẫy. – Trí nhớ giảm thoái, – Nhịp tim còn 55/ phút, – Bàn chân, tay lạnh, – Lưng lạnh, – Độ kính lão từ 1,5 tăng lên 2,5. – Ăn vào đầy ứ, khó tiêu. Bác sĩ gia đình là người Đức, nên không hề biết gì về Trà đinh, mà cứ cho rằng bà X bị tình trạng lão hóa tăng do làm việc quá độ. Sang tháng thứ 5, đang đi đường bị choáng váng, ngã. Đưa vào bệnh viện. Bệnh viện tìm ra : – 65% tế bào óc không làm việc, – Tâm lực suy yếu. – Bao tử, ruột, gần như không làm việc. – Siêu vi gan B, do độc tố. Bà từ trần tại bệnh viện sau 21 ngày. 2. Bà ZM, 75 tuổi. Không nghề nghiệp, hưởng tiền trợ cấp già. Vì con dâu bà là học trò của tôi. Luật nước Pháp không cho con điều trị cho cha mẹ. Nên con dâu bà nhờ tôi làm y sĩ điều trị cho bà (Médecin traitant) đã 9 năm. Cũng qua liên hệ này tôi nhận thù lao của bà bằng CMU. Suốt 9 năm, tôi săn sóc bà cực tận tình : chích ngừa, kiểm soát ăn uống, dạy Khí công. Cho nên sức khỏe của bà rất tốt. Tới tháng 7-2005 bà chỉ phải dùng 2 loại thuốc là 2 gói (sachets) trà Hao ling trị Cholestérol và Amlor 5 trị huyết áp cao. Giữa tháng 7 bà về Việt Nam thăm quê hư! ơng. Không biết ai khuyến khích, bà bỏ hết 2 loại thuốc trên mà chỉ uống Trà đinh với lượng cao là 10g một ngày, mà lý ra chỉ dùng 5g là đã có tai vạ rồi. Khi về Pháp, bà mang theo 5kg Trà đinh. Bà có hẹn với tôi định kỳ hằng tháng vào ngày 5 tháng 9 năm 2005, để kiểm soát sức khỏe. Khi bà trình diện, nhìn sắc diện bà, tôi kinh hãi : – Tóc, lông mi, lông mày hóa ra mầu úa thay vì muối tiêu, – Da mặt ủng vàng, – Tứ chi lạnh, – Huyết áp 13-7 (trước kia là 16-8). – Tim đập 50/ phút. – Kiểm soát đường tại chỗ 8,5 g/l. Vì buổi sáng bà không ăn gì, tôi gửi thẳng bà tới laboratoire, hai ngày sau tôi được kết quả : – Hồng cầu còn 3.5 triệu, – Créatinine tăng tới 54 – Bà bị Hépatite B+C. Tôi gửi bà tới một đồng nghiệp nội khoa, và báo cho con dâu bà biết. Tôi khẩn thiết yêu cầu bà ngừng Trà đinh ngay. Bà cự nự rằng chết thì chết, chứ bà không bỏ thuốc tiên đó. Con trai bà biết không cản được mẹ, anh ta dấu hết Trà đinh của bà. Bà đứng trước balcon đe dọa : Nếu không trả thuốc tiên cho bà thì bà nhảy lầu tự tử ngay. Bà được toại nguyện. Ngay lập tức ngày 9-9-2005 tôi nhận được thư bảo đảm có báo nhận. Trong thư bà rút lại không nhận tôi là y sĩ điều trị của bà. Thông thường muốn đổi y sĩ điều trị, thì bệnh nhân chỉ viết thư báo cho cơ quan bảo hiểm y tế biết, và điện thoại cho y sĩ điều trị là đủ. Đây bà muốn trả ơn 9 năm chăm sóc bà bằng hành động làm nhục trên. Tôi vội fax thư của bà cho văn phòng bảo hiểm y tế của bà và con dâu bà. Tôi xoa tay, hết trách nhiệm. Ngày 14 -9-2005, con dâu bà báo cho tôi biết, bà bị hôn mê, phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Bệnh viện kết luận bì bị hôn mê vì trúng độc. Hiện (11-10-2005) bà bị liệt 2 chân, tay phải, một mắt mù 100%, một mắt thị lực còn 40%. Trong cơn hôn mê bà réo tên tôi cầu cứu. Nhưng tôi vô thẩm quyền, chỉ có thể vào nhà thương thăm bà vì bà là mẹ chồng của một người học trò tôi, chứ tôi không còn quyền y sĩ điều trị ». Dr. Bùi Kim Loan (Gyneco-Obst) Hopital Bietighiem, Universitat Heidelberg, Germany Posted Yesterday, 09:52 PM Tác hại của Trà Đinh Một số bác sĩ y khoa tại Hoa kỳ và Âu châu vừa lên tiếng báo dộng về tác hại của việc dùng loại trà dược thảo mang tên "Khổ đinh trà" thường được gọi là trà Đinh hay trà Đắng mà thời gian gần đây được rất nhiều người uống và tin tưởng là có công dụng trị bệnh, đến độ hầu như trở thành một phong trào lan tràn khắp thế giới. Tại vùng Hoa Thịnh Đốn, Bs.Trần Văn Sáng có hai bệnh nhân của ông chỉ vì uống Trà Đinh mà gặp những phản ứng bất thường rất đáng ngại: Trường hợp thứ nhất bị viêm gan cấp tính do độc chất của loại trà này, trường hợp thứ hai bị phản ứng nổi ngứa cả người do bị dị ứng nặng. TRÀ ĐINH CÓ NHỮNG PHẢN ỨNG HẠI GAN VÀ CHẾT NGƯỜI Bác sĩ Trần Văn Sáng. Tôi vội vã viết bài tài liệu về y học này, sau khi nhận thấy có những phản ứng bất thường xảy ra cho chính những bệnh nhân của tôi đang chữa trị và săn sóc khi họ xử dụng một loại trà có tên là Trà Đinh: Một trường hợp bị viêm gan cấp tính do độc chất từ trà Đinh, một trường hợp thứ hai bị phản ứng nổi ngứa cả người do bị dị ứng nặng. Gần đây nhất đã có một bài đăng trên mạng lưới internet nói về sự nguy hiểm của loại trà nầy từ Bs Bùi Kim Loan ở bệnh viện Bietighiem tại Đức về trường hợp của một phụ nữ Việt Nam chết do xử dụng loại trà này. Tôi chỉ có ý muốn trình bày về loại trà này theo quan điểm của một thầy thuốc và dựa trên những tài liệu y học tôi có thể tìm được để quý độc giả có thể tìm hiểu thêm trong khi xử dụng loại trà này. Trà Đinh hay còn gọi là trà Đắng có tên khoa học (Genus) ILEX thuộc họ (family) Aquifoliacae. Trà Đinh có những tên khác nhau tùy vùng đất nào cây được tìm ra và được xử dụng ở nhiều nơi trên thế giới. Riêng ở Trung quốc và Việt Nam, cây mang tên là Ilex Cornula Lindl. Cũng loại cây này trên thế giới có các tên khác như sau : Ilex aquifolium, Chrismast Holly tại Mỹ, cây này dùng để trang trí trong ngày lễ Chúa Giáng Sinh, English Holly hay European Holly tại Châu âu, Oriental Holly (linh dược) tại Á châu. Ilex Paraguariensis hay trà Paraquay tìm thấy ở các nước như Ba Tây, Paraguay, Uruguay, người thổ dân da đỏ gọi là trà Đen (Indian black drink), ngoài ra còn một số tên nữa như Ilex Asperlla, Ilex cassene, Ilex chinesis, Mate, Maodongquing. Điều này có nghĩa là loại cây này đã được xử dụng tại hầu hết các nơi trên thế giới dưới các mục đích khác nhau. Sau đây tóm lược các công dụng của loại cây này dựa theo kinh nghiệm từng vùng, hay của một nhóm các nhà xử dụng dược thảo. Tại Trung Quốc theo tài liệu của hội Dược thảo Trung quốc, trà Đinh được xử dụng để chữa các bệnh về tim và mạch máu như nghẽn mạch tim hay nghẽn các mạch máu trong cơ thể. Một vài tài liệu khác cho thấy trà được xử dụng để chữa cảm lạnh, đau nhức. Một tài liệu khác cho thấy trà được xử dụng như một loại thuốc ngừa thai (contraceptive) và cả ngay trong xử dụng trong việc phá thai nữa (theo tài liệu của Li Shin-Chen trong Chinese Medicine herbe). Riêng tại Việt Nam trà Đinh được quảng cáo trong vấn đề giúp giảm cân, an thần, ngủ ngon, giúp hạ Cholesterol. Riêng cây Ilex aqiufolim hay Holly đã được xử dụng tại Châu Âu từ hơn ngàn năm trong các ngày lễ tôn giáo của các Cơ đốc nhân (Christian) bằng cách trao đổi các cành cây và hoa này trong ngày lễ, và hiện nay chúng ta vẫn còn thấy xử dụng trong ngày lễ Giáng Sinh. Cây này được dùng từ xưa để làm một loại thuốc xổ và hiện nay không còn thấy xử dụng tại Châu Âu. Tuy nhiên điều quan trọng mà người xử dụng trà không được biết là phản ứng của nó ra sao, khi dùng lâu ngày thì có gây phản ứng độc hại gì không ? Theo quan niệm thông thường của dân chúng thì chỉ là trà mà thôi thì chắc không có hại gì. Sự thật thì trà Đinh hay phần lớc các loại trà nào khi xử dụng nhiều và lâu dài đều có đưa đến những phản ứng bất lợi cho cơ thể. Trà Đinh thuộc nhóm dược thảo có chứa chất PYRROLIZIDINE ALKALOIDS, chất này cũng được tìm thấy trong số khoảng 230 loại cây cỏ khác nhau. Chất Pyrrolizidine được tìm thấy là nguyên nhân chính của một số trường hợp gây độc hại cho gan (veno-occlusive liver disaese) đưa đến sự xáo trộn cung cấp máu cho gan, làm sưng gan, vàng da, bụng có nưóc, chân phù và nặng hơn hết là chết do suy gan cấp tính (theo tài liệu của Subhuti Dharmananda. Ph.D, Giám Đốc trung tâm nghiên cứu về y học cổ truyền tại Portland, Oregon trong bài tường trình cho tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) 1988. Ngoài ra trà Đinh còn có thể gây ra các triệu chứng ói mửa, đau bụng, tiêu chảy do phản ứng phụ của chất Saponin. Chất Saponin cũng có thể gây ra bệnh vỡ các hồng huyết cầu ( hermolysis) gây ra bệnh thiếu máu. Nghiên cứu của DeStefani và các cộng sự viên tại Paraguay cho thấy ở những người xử dụng nhiều trà Mate tea (thuộc nhóm cây Ilex) tỉ lệ ung thư bọng đái cao hơn 7 lần bình thường. Trà Đinh cũng có tác dụng làm chậm nhịp tim giống như chất Digitalis là một loại thuốc đang được xử dụng để chữa các bệnh xáo trộn nhịp tim. Trà Đinh cũng có tác dụng phụ làm hạ huyết áp theo các thí nghiệm trên thú vật và trên người, vì thế trà có thể gây phản ứng làm giảm áp xuất máu ở những người không triệu chứng cao máu. Trong nhóm trà Ilex này cũng có chứa các chất như caffein 0,56%, theobromine 0,03% và Theophyline 0,02% vì vậy trà cũng được dùng để giúp cho người uống được kích thích và làm cho tỉnh táo nhờ chất caffein (là chất chính trong cà phê); chất Theobromine giúp nở các phế quản làm cho dễ thở nhất là ở người bệnh suyễn. Trà Đinh có chứa chất Ilicin là chất gây ra vị đắng (theo tài liệu của Encyclopedia of herbal medicine của Andrew Chevalier) Tóm lại với các hiểu biết hiện có về trà Đinh : Trà Đinh có một số dược tính có giá trị trong việc kích thích cơ thể, làm giảm huyết áp, làm dễ thở, tuy nhiên trà Đinh lại được xử dụng cho những trường hợp bệnh lý khác như hạ Cholesterol, hạ cân, ngừa thai mà chưa có những bằng chứng khoa học nào rõ rệt về các tác dụng của nó, bên cạnh đó phản ứng phụ quá nhiều làm hư hoại gan đã được tìm thấy trong quá khứ cũng như trong các trường hợp gần đây kể cả tử vong, làm cho việc xử dụng trà trong việc chữa bệnh trở nên nguy hiểm. Vì vậy xin độc giả phải thật cẩn thận trong việc xử dụng trà Đinh nầy. Các người đang uống nên ngưng và nên được khám bệnh, thử nghiệm máu để xem có dấu hiệu tổn thương gan không, nếu chưa bao giờ uống thì đừng nên thử, đặc biệt những người đã có bệnh gan từ trước. Quý độc giả nếu có câu hỏi hay đóng góp xin liên lạc với bác sĩ Trần Văn Sáng 6319 Castle Place, Suite 2A, Falls Church . VA 22044. (703) 241-8811 DH
      • 2
      • Like
  16. [5] QT Nhóm thanh điệu định hướng ý nghĩa cho từ: Xét về 6 thanh điệu của tiếng Việt, tôi chia ra hai Nhóm: -Nhóm 0 = Âm, gồm: “Không” – “Ngã” – “Nặng”, định hướng ý cho Trong, cũng gọi là “tư duy tĩnh tại” -Nhóm 1 = Dương, gồm : “Sắc – “Hỏi” – “Huyền”, định hướng ý cho Ngoài, cũng gọi là “tư duy hành động” QT Nhóm thanh điệu tạo ra được từ đôi đối là hai tiếng đồng nghĩa nhưng đối nhau về Nhóm thanh điệu, viết có hai xẹt giữa hai tiếng. Ví dụ: Như trên [3] nêu hai từ là Cùng và Đồng. Trong tư duy là từ đôi đối Cung//Cùng vì lướt “Của Chung”=Cung, lướt “Của Chung”=Cùng, nên có từ đôi đối Cung//Cùng. Cái tử cung cũng là của chung của tất cả các con cùng một mẹ, cái cung điện cũng là của chung, cái cung đình cũng là của chung, đó là tư duy Việt cổ đại. Trong tư duy là từ đôi đối Đông//Đồng, vì lướt “Đúng Giống”=Đông, lướt “Đúng Giống”=Đồng, nên có từ đôi đối Đông//Đồng. Một ruộng lúa phải đồng tức thuần một giống mới phát triển được thành đông, một bầy vịt phải đồng tức thuần một giống mới phát triển được thành đông. Như vậy nêu thành qui tắc “Nhóm thanh điệu định hướng cho ý nghĩa của từ” . Và theo qui tắc này sẽ thấy là mỗi âm tiết của tiếng Việt tạo ra ít nhất là ba từ đồng nghĩa nhưng sắc thái khác nhau, mà ở Hán ngữ chỉ có tương ứng bằng một từ. Ví dụ: Tiếng Việt có ba từ không đồng sắc thái nhau là Qụi = Qùi = Qụi//Qùi ( Hán chỉ dùng một từ Qụi 跪 “quây”). [ Giải thích thêm là thời cổ đại của văn minh lúa nước, người Việt lấy vỏ loài nhuyễn thể sống ở Bãi Bùn Bồi gọi là vỏ Bối 貝 để làm tiền trao đổi gọi là đồng Bạc (giống như ở Thái Lan gọi là đồng Bạt), vì màu nó trắng, về sau trao đổi làm bằng Bạc kim loại vì màu nó cũng trắng như Bối , khi ấy người Việt không dùng vỏ Bối để trao đổi nữa mà dùng nó để nung Vôi . Bối=Bạc=Báu=Bảo 寶 nên mới có từ đôi Bảo Bối 寶 貝 và coi cái Báu nhất trong căn nhà sàn là cái Bếp ở giữa sàn nhà. Bếp làm bằng ba cục đất sét nặn được coi là cái thân thuộc nhất với gia đình nên gọi ba cục đó là cái Ruột Báu, lướt “Ruột Báu” = Rau, nên gọi là ba ông Đầu Rau. Vỏ trấu của hạt thóc dùng để đun giữ lửa cho Bếp đỏ suốt ngày đêm, gọi là vỏ Bổi. Thịt ưa ăn nhất là thịt Rùa, để còn lấy mu Rùa dành để khắc chữ. Con Rùa động tác nó chậm chạp nên động tác ấy cũng thành tên gọi nó: Rùa = Rù-Rà = Rù-Rì = Qui 龜 = Qúi 貴 . Bởi vậy từ cái Bếp Việt mà sau bữa nhậu hàng ngày còn thu nhặt lại được hai cái giá trị từ hai con Qui 龜 Bối 貝 là hai cái Qúi 貴 Báu 寶 là Mu Rùa để viết chữ và vỏ Bối để làm đồng Bạc trao đổi (giống như ở Thái Lan gọi là đồng Bạt). Vì Rùa đối với người Việt là quí báu như vậy nên người Viêt yêu thương nhất nó “Thương thay thân phận con Rùa, ở đền đội hạc lên chùa đội bia”, tôn Rùa là thần Kim Qui . Đến thời đồ đồng mới làm ra đồng Tiền (Campuchia gọi là đồng Riên)]. Tiếng Việt có ba từ không đồng sắc thái nhau Ngoại= Ngoài = Ngoại//Ngoài (Hán chỉ dùng một từ Ngoại 外“wài”). Trung=Trúng=Trung//Trúng (Hán chỉ dùng một từ Trung 中 “trung”). Trong=Tróng=Trong//Tróng (Hán chỉ dùng một từ Trung 中 “trung”). Trụng=Trùng = Trụng//Trùng (Hán chỉ dùng một từ Trùng 重 “súng”). Thệ=Thề=Thệ//Thề (Hán chỉ dùng một từ Thệ 誓 “sừ”). Thệ=Thế=Thệ//Thế ( Hán có dùng cả hai từ Thệ 逝 và Thế 世 nhưng phát âm đều là “sừ” không phân biệt Nhóm thanh điệu , nếu chịu khó khi tìm từ nguyên lùi về đến “cổ Hán ngữ” rồi lui nữa đến Tiếng Việt sẽ có được phát âm đúng Thệ//Thế. Đây là hai từ đối về Nhóm thanh điệu nhưng đồng nghĩa trong khái niệm “trôi đi theo thời gian cho đến mất”, vì vậy chúng là từ đôi đối: Thệ 逝 nghĩa là trôi mất, chữ có bộ thủ “đi 辶”, như trong câu “ Cổn cổn Trường Giang đông thệ du thủy 滾 滾 長 江 東 逝 游 水” (Cuồn cuộn Trường Giang nước cuốn trôi đi về phía đông). Thế 世 là một đời, cũng là một sự trôi đi cho đến mất, có từ ghép “thế hệ”. Hãy xem nôi khái niệm “sự trôi đi cho đến mất”( chú ý mẫu số chung của chúng là sự trôi đi cho đến hết sự tồn tại của nó, còn khoảng thời mà nó trôi qua dài ngắn không kể): Blơi = Trời = Thời = Thì = Đi = Đời = Đại = Thái= Thế = Kế = Kiếp = Khiếp = Khuất = Khứ . Trong cái nôi khái niệm này, Hán ngữ hiện đại dùng (phát âm có ngoặc kép trong ngoặc đơn) các từ: Khứ 去 (“xùy”) với nghĩa là “đi”; Khiếp 怯( “xìa”) trong từ ghép Khiếp Đảm 怯 胆 nghĩa là quá trình đánh mất đi cái sự gan dạ, Khiếp Đảm là từ Tiếng Việt, ghép theo kiểu Việt, Gan = Đản = Đởm = Đảm, còn từ Khiếp Nhược 怯 懦là ghép tắt hai từ Khiếp Đảm và Nhút Nhát, đều là từ của Việt, Hán ngữ hiện đại hầu như rất ít dùng, họ gọi là từ của “cổ Hán ngữ”; khi sợ, người Việt thường hay thán tắt bằng một từ “Khiếp!” (từ đôi đối trong tư duy từ “tĩnh tại” sang “hành động” là Than//Thán, cũng như Van Vãn//Vân Vấn, van vãn hoặc than vãn là trong tâm đang lo mà chưa hiểu gì, nhưng nhảy sang Vấn là đã nói ra do sợ mà chưa biết nguyên nhân vì sao, nên thán là “Khiếp!” , Hiệp=Hợp trong từ ghép giao hợp thì quá đẹp vì nó là trong tâm, hiệp thông nhau, nhưng để nhảy sang hành động ăn Hiếp, như trích ở từ đối Hiệp/Hiếp, thì người ta Khiếp Nhược là phải thôi); Kế 繼(“chì”) là trôi đi, từ ghép kế tục là tiếp tục cho cái đã bị trôi đi , Thế 世 (“sừ”) là đời người, cũng là một sự trôi đi cho đến mất; Thái 太(“thài”) là sự trôi đi cho đến mất khỏi cái ranh giới của nó, như từ đôi Thái Quá, thái âm thành dương, thái dương thành âm; Đại 代( “tài”) là đời người, Tiếng Việt có từ đôi Đời Kiếp là nhiều đời và láy “đời đời kiếp kiếp”, Tiếng Hán có từ đôi Thế Đại là nhiều đời và láy “thế thế đại đại” (“sừ sừ tài tài”); Thì 時( “sứ”) nghĩa là giờ, giờ là một khoảng thời trôi đi, lấy một thời điểm làm mốc (điểm mốc ấy Tiếng Hán gọi là Thì 時 “sứ” hoặc gọi là Điểm 點 “tiẻn”) đại diện cho khoảng đó khi chia ngày thành 12 giờ. Tiếng Việt gọi cái điểm mốc đó là của khoảng “Giữa Chờ” = Giờ (do QT Lướt), bởi cái điểm mốc đó phải chờ cho thời trôi đi để tiếp đến điểm mốc tiếp theo . Tiếng Việt gọi cái sự trôi đi của Trời là Thời, cái đó nó cứ vậy trôi đi mãi mà không có trôi ngược lại, cho nên gọi là Thời Mãi, mà QT Lướt là lướt “Thời Mãi” = Thai (tiếng Anh chẳng phát âm là “thai” và viết là “Time” đấy thôi, thì thử hỏi từ nguyên của nó không là gốc Việt thì gốc ở đâu?, chưa kể Tiếng Việt có Nỏ=0 thì Tiếng Anh phát âm là “Nâu”=0 và viết là “No”, Tiếng Việt có Cắt = Ngắt = Xắt = Vặt = Chặt =… thì Tiếng Anh phát âm là “Cắt” và viết là “Cut”. Phiên âm Latin thì chỉ có chữ Quốc Ngữ là viết sao đọc vậy, hay nhất và dễ học nhất thế giới, nên đem phổ biến toàn cầu để giúp giữ gìn các phương ngữ của nhân loại) . Thời Mãi (Tiếng Việt thường chỉ gọi tắt là Thời) thì Hán ngữ hiện đại dùng hai chữ Thời Gian 时 间(“sứ chen” viết phiên âm là “shi jian”) là do lấy hai chữ có sẵn để phiên âm cái âm tiết Ti-me . Việt Nam thì cứ bưng nguyên của Hán tự về dùng ( do một nghìn năm tư tưởng “Bụt chùa nhà không thiêng”), nên cũng gọi là Thời Gian, nên mới bị trùng âm, vì cái Thời Gian nghĩa đối nghịch với cái Thời Thật. Và cái bọn Gian mới ngồi tính bằng đầu ngón tay “18 thời Hùng Vương kéo dài 3000 năm trước công nguyên là của 18 ông vua cha truyền con nối, vậy mỗi ông sống hơn 166 tuổi” 【Cái chuyện bưng nguyên của người ta về dùng thì TQ cũng bị mắc lỡm ở cái từ Quản Lý, do bưng nguyên của người Nhật dùng hai chữ kanji (hán tự) để dịch nghĩa cái từ management là hai chữ Quản Lý 管 理 (Nhật phát âm là “Can Ri” nhưng kết cấu ấy theo ngữ pháp Nhật có nghĩa là “lấy cái lý mà quản”), bưng nguyên xi Quản Lý 管 理 thì theo ngữ pháp Tiếng TQ hay Tiếng VN đều có nghĩa là “quản cái lý” thì thành sai, làm sao quản được cái lý, chỉ có dùng cái lý mà quản thì mới trôi chảy công việc (đây là phát hiện của tiến sĩ kinh tế học Khương Nhữ Tường ở Bắc Kinh). Chỉ riêng căn cứ vào cách phát âm của người Nhật là: mọi “từ Hán-Việt” có phát âm là “L” đều được họ phát âm là “R” như Lý 理 là “ri”, Lễ 禮 cũng là “ri” mới thấy tính lịch sử có cội rễ gốc Nam Á trong ngôn ngữ. Cái Tơi “R” chắc chắn là có trước Tơi “L”, như trong tiếng Việt: Prăm = Răm = Lắm = Lăm = Năm = 5, Rạng = Sáng = Láng = Lảng 朗 =Lượng 亮, Ruột=Rà=Lã=Lòng=Lõi=Nòi=Nôi=Tôi=Tâm 心 (Lã là quen thuộc vì nó là nước, nước lã uống hàng ngày, ngược với Lã là Lạ, Lạ=Da=Dị là thứ ngoài nên ngày nay mới có từ “nước lạ” để gọi nước ngoài), Rày=Lày=Nay. Không phải như một số học giả giải thích là “người Nhật là người TQ lục địa ra đảo đó vào thời nhà Đường”, mà người Nhật chính là dân bản địa đã ở đó hàng chục vạn năm trước, di chỉ đồ gốm của họ có cách nay một vạn năm. R=L cũng rõ trong Tiếng Việt là có Rễ cây cụ thể là cái đầu tiên cho Cây có “nhân cách” mà lớn lên có ích cho cuộc sống, rồi mới có Lễ, nghĩa trừu tượng, là cái đầu tiên cho Con có nhân cách mà lớn lên thành người, “ Cây” và “Con”, Tiếng Nhật phát âm là “Ki” nghĩa là Cây và “Kô-Đô-Mô” nghĩa là Con khi viết bằng chữ ký âm Hiragana,còn nếu viết bằng chữ Kanji một chữ Tử 子 thì họ đọc là Kô. Chữ “ Ki” họ viết bằng một chữ ghi âm vận “ki” (chữ Hiragana) hoặc viết bằng chữ Mọc 木 (chữ kanji), mà chữ Mọc 木 của Việt nho này có ngữ cảnh thì họ đọc là “ki” có ngữ cảnh khác thì họ đọc là “mô-kư” tức là “một cây” của Tiếng Việt. Chữ “Kô-Đô-Mô” nghĩa là Con thì nhìn thấy ngay từ nguyên của Kô là “Con”, từ nguyên của Kô-Đô là “con đỏ” = dân đen, cũng là Con, từ nguyên của Mô là “Mọi” cũng là Con, vì Mọi=Người, các từ đôi Mọi Người = Nhân Dân đều nghĩa là nhiều người. Rễ=Lễ chỉ là từ một tư duy cụ thể lên thành tư duy trừu tượng. Cái động tác cụ thể của dân nông nghiệp trồng trọt là Té Rễ hay Tè Rễ là tưới nước cho cây lớn, mong sự no đủ, thành ra cái trừu tượng thiêng liêng là Tế Lễ cầu trời mưa cho được mùa. Lễ Té Nước thì Tiếng Lào gọi là “Bun Hốt Nặm”, vì Lễ=Bệ=Bùa=“Bun”, Té=Tưới=Tát=Tặt=Hắt=“Hốt”=Ngột=Ngộp=Ngập, Nước=Nam=“Nặm”】. Trong nôi khái niệm Blơi = Trời = Thời = Thì = Đi = Đời = Đại = Thái= Thế = Kế = Kiếp = Khiếp = Khuất = Khứ vừa nêu trên, nếu lấy những từ được dùng trong Tiếng Hán mà xếp lại, theo phát âm của Hán, là: Xùy, Xìa, Sừ, Thài, Tài, Sứ thì chưa xếp được đúng như QT Tơi-Rỡi. Còn để truy tra từ nguyên thì cứ việc là từ Hán ngữ hiện đại lùi về “cổ Hán ngữ” rồi lui tiếp về Tiếng Việt, lui nữa đến ngôn ngữ đa âm tiết là đúng trình tự ngược về cội nguồn của ngôn ngữ. Chẳng riêng gì các từ trong nôi khái niệm “sự trôi đi cho đến mất” này là cứ truy từ nguyên thì cuối cùng là về đến Trời, mà mọi nôi khái niệm khác khi truy từ nguyên đều về đến Trời, vì theo QT Tơi-Rỡi có: Trời=Trồi=NÔI, mà NÔI thì ra Nói là sẽ ra mọi khái niệm, tư duy của con người là do Trời phú cho, tục ngữ “Cha mẹ sinh con , trời sinh tính”, người xưa giải thích về sự hình thành vũ trụ là “Khí trong nhẹ nổi thành Thiên, khí trọc nặng lắng đọng nên Địa mà” . Blơi = Trời = Tròn = Trên = Trồi = Nổi = Nắng = Dàng = Dương 陽 = Thượng 上 = Thiên 天 = Viên 圓 = Then = Lên = Lời = =Blơi. Về từ mặt vựng mà nói thì cái lý Việt nó là như thế đấy. (Đơn giản thì là vì con người tiền sử: dân nông nghiệp trồng trọt họ phải động tay động chân nhiều hơn, “Trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm, trông cho chân cứng, đá mềm, trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng, Coi sóc hết thảy côn trùng, trên cây, dưới đất, mới mong được mùa” cho nên từ vựng của họ có phong phú hơn. Dân du mục khỏe re hơn, rong ruổi theo bầy cừu, thả hồn nghe gió thổi vi vu trên đồng cỏ, ít phải giao tiếp với người khác, cho nên họ cũng chẳng cần phải có nhiều từ, từ vựng của họ không thể nhiều hơn được).
  17. Tìm từ nguyên Danh từ “Tiếng Việt” là một từ ghép để chỉ tên riêng “ngôn ngữ phổ thông của Việt Nam”, vậy từ Tiếng Việt nên viết hoa cả hai chữ. Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết mà mỗi âm tiết phát ra đều có ý nghĩa nên “một âm tiết” của Tiếng Việt nó là một từ (theo Cao Xuân Hạo thì một âm nói ra không nên gọi nó là “một âm tiết” hay “một tiết”, mà gọi nó là “một tiếng”), vậy thống nhất gọi là “tiếng”, không viết hoa, tiếng=từ, Tiếng Việt=ngôn ngữ của người Việt nói chung. “Từ nguyên” là cái tiếng đó nguyên gốc xa xưa đã phát âm như thế nào. Do vậy tìm từ nguyên của một từ cụ thể sẽ có ích cho việc xác định lịch sử của vùng đang dùng nó. Tìm từ nguyên cho mỗi từ của Tiếng Việt thì tôi căn cứ trước tiên vào cái Việt của nó, nhờ gợi ý của câu ca dao “Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” và câu tục ngữ “Nôm na là cha mách qué”. Các nhà nghiên cứu Tiếng Việt nhận định: (1) Tiếng Việt vốn là ngôn ngữ đa âm tiết (còn gọi là “chắp dính”, theo Cao Xuân Hạo) đã diễn biến thành ngôn ngữ đơn âm tiết, (2) Tiếng Việt vốn là ngôn ngữ không có thanh điệu đã diễn biến thành ngôn ngữ có thanh điệu (nhận định này là hệ quả của nhận định 1, vì khi biến thành đơn âm tiết đương nhiên xuất hiện thanh điệu). Nhận định (1) đúng, vì còn thấy rõ trong nhiều ngôn ngữ hệ Môn-Khơme nhiều từ còn phụ âm kép ở đầu như pr, bl…nhưng cái tiền tố thường không được phát ra thành tiếng, nó được môi và răng đặt vào vị trí phát âm nhưng lại không phát ra thành tiếng. Ví dụ: Tiếng Mường “Blơi” là “trời”, tiền tố “B” được cặp môi ngậm đặt vị trí phát âm nhưng không phát thành tiếng “bờ” riêng, chỉ nghe một tiếng “lơi”, là Lời hay Trời của Tiếng Việt. Tiếng Khơme “Pro pro”, tiền tố “P” có đặt vào vị trí phát âm ở cặp môi nhưng không phát ra thành tiếng “pờ” riêng, chỉ nghe “ro ro”, là như ở câu “bánh xe quay ro ro” trong Tiếng Việt. Nam Bộ phát âm từ “vô” nghe là “dô”, thực ra chính xác miệng đặt phát âm là “Vzô”, chót răng hàm trên có đặt chạm bờ môi dưới, rất nhanh môi chúm lại phát ra một tiếng “dô”, tiền tố “V” không phát ra thành tiếng “vờ” riêng. Có nhà nghiên cứu còn dám cho rằng “đến thế kỷ 17 Tiếng Việt vẫn còn là đa âm tiết” thì thật là hàm hồ, chẳng qua là do họ lầm khi nhìn vào các văn bản của người phương Tây thời kỳ đầu khi chữ Quốc Ngữ chưa hoàn chỉnh, dấu thanh điệu có khi được ghi bằng một con chữ cái Latin vào sau âm vận (như kiểu ký âm ngày nay bằng ký tự Latin của Tiếng Choang ở Quảng Tây TQ). Nhận định (2) đúng, vì ngày nay vẫn còn ở một số vùng, có những câu nói hầu như hoàn toàn không có thanh điệu. Ví dụ ở Hà Nội có vùng nói câu “Đi lên Ba Vi mua con bo vang” (“Đi lên Ba Vì mua con bò vàng”), hay ở Nghi Lộc Nghệ An có vùng nói câu “ Vê đên Câu Câm thi mưa rọ mưa như trơi câm trịnh ma trút” ( “Về đến Cầu Cấm thì mưa rõ mưa như trời cầm trĩnh mà trút”) Trong các bài viết trước tôi đã nêu ra các “Qui tắc tạo từ của Tiếng Việt” (viết tắt là QT) là: [1] QT Vo, [2] QT Nở, [3] QT Lướt, [4] QT Tơi-Rỡi, [5] QT Nhóm thanh điệu định hướng ý nghĩa cho từ. Một tiếng củaTiếng Việt là một Lời vì nó có nghĩa rõ ràng, nên tôi gọi cái âm vận của tiếng là cái Rỡi (do lướt cụm từ “Ruột do lưỡi đưa ra thành Lời”= “Ruột…Lời”=Rỡi. Trước cái Rỡi thường là có phụ âm hoặc vắng phụ âm, tôi gọi cái “có phụ âm đầu” hoặc cái “vắng phụ âm đầu” ấy là cái Tơi (do lướt cụm từ “Tay Lời”=Tơi), như vậy tiếng có hai phần là Tơi và Rỡi. Giải thích các QT: [1] QT Vo: Người Việt nói kiểu Vo một từ đa âm tiết thành chỉ còn đơn âm tiết, giống như vò rụng tiền tố và hậu tố của từ ấy để chỉ còn giữ lại cái lõi của nó là một đơn âm. Chính QT Vo này là một trong các QT làm cho Tiếng Việt diễn biến thành ngôn ngữ đơn âm. Ví dụ lấy vài từ trong tầng đáy của Tiếng Nhật để thấy đã bị người Việt vo như thế nào: Tiếng Nhật là ngôn ngữ chắp dính nói (1) Xa-Ca-Na nghĩa là Cá, người Việt đã vò rụng đầu “Xa” và đuôi “Na” để còn giữ cái lõi là Ca và gọi đơn âm là Cá, người Thái Lan lại gọi là Pá. Xa-Ca-Na còn để lại âm tiết Ca-Na mà Tiếng Việt vo thành Cần, rồi Cần theo QT Tơi-Rỡi mà có Cần=Cờn=Quèn=Còng, nên có các địa danh vùng sông nước lắm cá ở VN là Cần Giờ, Cần Giuộc, Cần Thơ, cửa Cờn (Quỳnh Lưu Nghệ An), Lạch Quèn (Thanh Hóa), Rạch Quèn (Hóc Môn Sài Gòn), chợ Còng (Thanh Hóa). Tiếng Nhật nói (2) Ha-Na-Xư nghĩa là Nói, người Việt đã vo để còn mỗi lõi là Na, rồi theo QT Tơi-Rỡi có Na=Nói, nôm na là người Nam nói, “Nôm na là cha mách qué” nghĩa là người Nam nói ra thì mách cho biết quẻ trong Bát Quái có ý nghĩa gì, vì phân tích ra sẽ thấy tên của tám quẻ đều là tên Việt, không phải tên Hán. Tiếng Nhật nói (3) Rô-Dư-Đê-Xư nghĩa là giỏi, người Việt đã vo để còn mỗi lõi Dư và gọi là Giỏi, theo QT Tơi-Rỡi thì có Dư=Giỏi (làm ăn có dư mới là giỏi, làm ăn thất thu lấy gì giỏi). Theo kiểu này mà phân tích từ Tiếng Nhật ra thì viết mấy trang chưa hết nên chi dừng lại, chưa kể còn từ các ngôn ngữ khác. [2] QT Nở: Mỗi tiếng của Tiếng Việt như một cái tế, đặt trong nôi khái niệm như một cái bầu thì tế ấy như một cái trứng sẽ nở theo kiểu sinh sản tự tách đôi của tế bào thành hai tiếng dính nhau (viết có gạch nối), từ kiểu đó tôi gọi là từ dính. Từ dính mang nghĩa lấp-lửng, lập-lờ không rõ hẳn đực cái, âm dương và được sử dụng mãi với cái nghĩa như vậy. Chỉ khi nó lớn hẳn ra khỏi bầu mới thành hai từ khác mang nghĩa dứt khoát âm là âm, dương là dương. Kiểu như con nòng-nọc là gọi chung bằng từ dính, khó phân biệt con nào đực con nào cái, chỉ khi nó đứt đuôi nhảy lên bờ mới thành con cóc, lúc đó dễ biết cóc đực cóc cái. Ví dụ tiếng LƠI là mặt trời, tách đôi đang còn dính thì nó là từ dính Lập-Lòe, mang khái niệm trạng thái lập-lờ, lấp-lửng không dứt khoát rõ ràng, chỉ khi đủ lớn tách hẳn mới thành LÓ và LẶN là hai trạng thái dương âm rõ ràng. QT Tơi-Rỡi diễn tả nôi khái niệm trạng thái mặt trời trong ngày là LÓ = Ngỏ = Tỏ = Rõ = NGỌ = Ngả = =Tà =Túi=Lụi=LẶN. Ví dụ kiểu nở và từ dính như thế này nếu dẫn ra trong từ vựng Việt thì viết một cuốn sách cũng không hết, nên chi dừng lại. QT Nở chứng tỏ khái niệm âm dương có từ trong tư duy của người Việt. [3] QT Lướt: Qui tắc này vốn có từ cổ đại trong tiếng Việt, là qui tắc quan trọng làm cho Tiếng Việt diễn biến từ ngôn ngữ đa âm tiết thành ngôn ngữ đơn âm tiết. Đó là lối nói lướt hai tiếng hoặc cả câu dài thành một tiếng. Ví dụ lướt “Trở mình Lăn”=Trăn=Trằn, lướt “Trở mình Nhọc”=Trọc, ghép ba tiếng Trở, Trăn, Trọc thành cụm từ diễn tả sự vật vã khó ngủ là “trăn trở trằn trọc”. ( Cách nay 2000 năm Hứa Thận thời Đông Hán đã vận dụng qui tắc lướt này của Tiếng Việt để hướng dẫn cách đọc đúng âm một tiếng bằng cách lướt hai tiếng đặt liền nhau, gọi là “thiết”, trong cuốn “Thuyết văn giải tự” là cuốn từ điển đầu tiên của Trung Hoa). Chính QT Lướt này cho thấy rõ là những từ được gọi là “từ Hán-Việt” là do Hán mượn của Việt vì nó được viết bằng chữ nho. Khi làm từ điển, người ta cứ thấy từ nào có viết bằng chữ nho thì gọi là “từ Hán Việt”, rồi đứng trên phương diện Tiếng Hán mà giải thích Tiếng Việt nên không tránh khỏi giải thích sai. Ví dụ chữ Đồng, từ điển NXB KHXH giải thích 1: giống nhau (đúng), 2: cùng (sai). Cùng và Đồng đều là của Tiếng Việt và chúng không đồng nghĩa nhau. Người Hán dùng chỉ có một chữ Đồng, và lấy chữ Đồng để dịch chữ Cùng của Tiếng Việt. Nhưng Tiếng Việt có cả hai chữ Cùng và Đồng, đều là bản thổ của Việt và hai chữ ấy không đồng nghĩa nhau. Từ nguyên của Cùng là do lướt “Của Chung”=Cùng. Từ nguyên của Đồng là do lướt “Đúng Giống”=Đồng. Chúng nó là cùng bào tức chúng nó là cùng một mẹ đẻ ra. Chúng nó là đồng bào tức chúng nó là đúng một giống nòi thôi chứ khác mẹ đẻ ra rõ ràng. Tôi với anh là đồng chí tức chí hướng của anh đúng giống chí hướng của tôi, còn hai cơ thể riêng biệt rõ ràng. Tôi với anh là cùng chí thì chắc là hai cơ thể dính nhau chỉ có một cái đầu . [4] QT Tơi-Rỡi: Thay Tơi hoặc thay Rỡi của tiếng sẽ được tiếng khác cùng nôi khái niệm chỉ có sắc thái thì khác đi. QT Tơi-Rỡi giúp tìm ra từ nguyên của các ngôn ngữ láng giềng. Ví dụ nôi khái niệm một con người: Kẻ=Cả=Ta=Gia=Giả= =Cá=Cái=Con=Cau=Cao=Ko=Cu=Tu=Tao=Tau=Tôi=Tí=Tử [5] QT Nhóm thanh điệu định hướng ý nghĩa cho từ: Xét về 6 thanh điệu của tiếng Việt, tôi chia ra hai Nhóm: -Nhóm 0 = Âm, gồm: “Không” – “Ngã” – “Nặng”, định hướng ý cho Trong, cũng gọi là “tư duy tĩnh tại” -Nhóm 1 = Dương, gồm : “Sắc – “Hỏi” – “Huyền”, định hướng ý cho Ngoài, cũng gọi là “tư duy hành động” QT Nhóm thanh điệu tạo ra được từ đôi đối là hai tiếng đồng nghĩa nhưng đối nhau về Nhóm thanh điệu, viết có hai xẹt giữa hai tiếng. Ví dụ: Như trên [3] nêu hai từ Cùng và Đồng. Trong tư duy là từ đôi đối Cung//Cùng vì lướt “Của Chung”=Cung, lướt “Của Chung”=Cùng, nên có từ đôi đối Cung//Cùng. Cái tử cung cũng là của chung của tất cả các con cùng một mẹ, cái cung điện cũng là của chung, cái cung đình cũng là của chung, đó là tư duy Việt cổ đại. Trong tư duy là từ đôi đối Đông//Đồng, vì lướt “Đúng Giống”=Đông, lướt “Đúng Giống”=Đồng, nên có từ đôi đối Đông//Đồng. Một ruộng lúa phải đồng tức thuần một giống mới phát triển được thành đông, một bầy vịt phải đồng tức thuần một giống mới phát triển được thành đông. Như vậy nêu thành qui tắc “Nhóm thanh điệu định hướng cho ý nghĩa của từ” . Và theo qui tắc này sẽ thấy là mỗi âm tiết của tiếng Việt tạo ra ít nhất là ba từ đồng nghĩa nhưng sắc thái khác nhau, mà ở Hán ngữ chỉ có tương ứng bằng một từ. Ví dụ: Việt: Qụi = Qùi = Qụi//Qùi Hán: chỉ dùng một từ Qụi 跪 “quây” Ngoại = Ngoài = Ngoại//Ngoài Ngoại 外“wài” Trung = Trúng =Trung//Trúng Trung 中 “trung" Trụng=Trùng=Trụng//Trùng Thệ=Thề=Thệ//Thề Thệ 誓 “sừ” Thệ=Thế=Thệ//Thế Thế 世“sừ” Liên=Liền=Liên//Liền Liên 连 “lién” Biên=Biền=Biên//Biền Biên边 “bien” Nhiêu=Nhiều=Nhiêu//Nhiều Nhiêu 绕 “ráo” Ven=Vèn=Ven//Vèn=Dèn=Duyên=Viền Duyên沿 “yán” Bên=Bển=Bên//Bển=Bang//Bàng Bàng 旁 “páng” Dùng các QT đã nêu sẽ thấy rõ bất cứ từ nào đang dùng trong tiếng Việt hiện đại, truy từ nguyên đến cùng thì vẫn là gốc Việt. Còn muốn tìm từ nguyên của Hán ngữ hiện đại thì phải truy về “cổ Hán ngữ” mà từ nguyên của “cổ Hán ngữ” thì lại là Tiếng Việt. Từ vựng: Toàn thể các từ thuộc một thứ tiếng xét về các mặt lịch sử, cấu tạo và ngữ nghĩa (giải thích của Từ Điển Tiếng Việt NXB KHXH 1977, trang 826), tiếng Việt , tiếng Đài Loan thường dùng từ “từ vựng 詞 彙”, đọc theo âm Việt, tức cái gọi là “cổ Hán ngữ”. Từ vựng, là từ ghép, theo ngữ pháp Hán, nôm na là nguồn từ, tìm “từ nguyên” sơ bộ của chữ Vựng thì theo qui tắc “Lướt” mà tìm, nó là do lướt “Vựa Đựng”=Vựng, “vựa đựng từ” tức “toàn thể các từ”, tức nguồn từ. Chữ Vựng nghĩa cổ cũng có nghĩa là “tụ họp lại” mà tụ họp lại tức là ở trong cái “Vựa Đựng”=Vựng, nghĩa là chứa rất nhiều, đó là nguồn từ. Nguồn, khi tư duy thì nó là từ đôi đối Nguôn//Nguồn, lấy ra dùng thì có (1) là từ Nguôn=Ngươn (phát âm Nam Bộ)=Nguyên 源, là để chỉ cái bên Trong, tiềm ẩn không nhìn thấy, như chữ Nguyên trong cụm từ “tài nguyên dầu khí”; và (2) là từ Nguồn là để chỉ cái bên Ngoài, nhìn thấy được, như từ “nguồn nước mặt”, “nguồn rừng”. Tiếng Việt khi nói “nguyên nước” (Hán ngữ là “thủy nguyên”) hiểu là tài nguyên nước ngầm, nói “nguồn nước” hiểu là nước mặt, nói “nguyên//nguồn nước” hiểu là cả nước ngầm cả nước mặt. (Hán ngữ chỉ mượn dùng có một chữ Nguyên源, phát âm là “Yuán” để chỉ chung cho cả ba từ không hoàn toàn đồng nghĩa nhau của tiếng Việt là Nguyên, Nguồn và Nguyên//Nguồn). Nhưng “từ nguyên” của từ đôi đối Nguôn//Nguồn lại là khi nó còn ở bên Trong nữa là từ đôi đối Un//Ùn, giống như chưa mọc ra Tơi để mà hành động (giống như cái trứng còn non chưa hình thành những cái Túc của nó, hoặc như nòng nọc chưa mọc chân để thành cóc chạy lên bờ), Tơi=Tê 手(tiếng Nhật)=Túc 足=Tẩu 走=Tay=Chạy=Chi 肢 =Chân (Hán ngữ dùng chữ Chi 肢 phát âm là “Trư”, dùng chữ Túc 足 phát âm là “zú”, dùng chữ Tẩu 走 phát âm là “chẩu”). Ùn=Uồn=Nguồn. Từ đôi Un Ùn của tiếng Việt nghĩa là rất nhiều, như đàn mối. Khi đàn mối làm tổ, chúng đã tạo nên công đoạn công nghệ của chúng là Ùn=Đùn=Đựng để xây nên cái Đựng là cái tổ mối, là cái vỏ đựng tất cả đám Un Ùn ấy. (Hán ngữ hiện đại dùng chữ Nguyên Nguyên 源 源, phát âm là “Yuán Yuán” để diễn tả cái ý Un Ùn ấy của tiếng Việt). Hán ngữ hiện đại không dùng từ “từ vựng 詞 彙” mà dùng từ “từ hội 词 汇”, cái âm tiết “hội” cũng mang nghĩa là sự tụ tập như là chữ Vựng, nhưng ở đây viết bằng chữ Hội 汇 nghĩa là đổi, tức nguồn từ là do có sự trao đổi vay mượn của nhiều tộc người. Vậy “từ vựng” và “từ hội” là không hoàn toàn đồng nghĩa nhau. Tìm “từ nguyên” của chữ Hội 汇 này thì thấy cũng lại là gốc Việt, ở qui tắc Tơi-Rỡi: Đòi=Đoái=Đổi=Hối=Hội=Hỏi=Hoán, có từ đôi Đòi Hỏi, Đổi Hoán, Hối Đoái (từ này chỉ dùng riêng cho đổi tiền, như một từ chuyên môn), từ đôi đối Hội//Hối (hai tiếng này trong Hán ngữ chỉ có một chữ Hội 汇, phát âm là “Huầy”, không như trong tiếng Việt, khi nói về nguồn từ tức cái trong tư duy thì gọi là “từ hội 词 汇”, nhưng khi nói về đổi tiền nong là cái ở ngoài thì dùng từ “ngoại hối 外 汇”, “kiều hối 侨 汇”, “hối đoái 汇 兑”. Khi hai người trao đổi hàng hóa, người ta có thể Đòi Hỏi giá cả, có thể hỏi “mày Đòi bao nhiêu?” đồng nghĩa với “mày Đổi bao nhiêu?”, Hỏi cũng là một sự trao đổi vì đòi đổi bằng cái trả lời, “Hỏi thăm” là sự trao đổi tình cảm bằng lời. Từ điển Yếu Tố Hán Việt Thông Dụng NXB KHXH 1991, trang 471 giải thích: “Vấn là Hỏi, trái với Đáp”, đó là do họ nghĩ chữ Vấn 问 là “từ Hán Việt” nên họ đứng trên cơ sở Hán ngữ mà giải thích như vậy, chưa hoàn toàn đúng, nó chỉ đúng theo Hán ngữ dịch từ Hỏi của tiếng Việt mà thôi, vì Hán ngữ chỉ có mỗi một từ Vấn 问, hỏi cái gì cũng cũng dùng “Vấn”, hỏi tâm mình, hỏi người khác đều dùng “Vấn”, nêu vấn đề cũng dùng “Vấn”. Nếu Vấn=Hỏi như Từ Điển giải thích thì sẽ có Cố Vấn là Cố Hỏi, Vấn Đề là Hỏi Đề (?). Chữ Hỏi và chữ Vấn của tiếng Việt là không đồng nghĩa nhau. Chữ Vấn là một từ gốc Việt trong cái nôi khái niệm Nói=Na=Và (tiếng Quảng Đông)=Van=Vân=Vấn=Văng, mà sắc thái riêng của Vấn là: “Nói cái khúc mắc cần giải quyết”, cho nên Vấn đâu cần trả lời, nó cần là cần cách giải quyết, ví dụ “vấn nạn”, chỉ có Hỏi thì mới cần đổi lại là cái Đáp. Người Việt nói “tự Vấn tâm mình” nhưng lại nói “đi mà Hỏi người ta ấy”, Hỏi là đi hỏi người khác để đòi đổi một cái trả lời. Hoán 换 nghĩa là đổi , trong cái nôi khái niệm trên có từ đôi Đổi Hoán. Nhưng trong tư duy thì nó là của từ đôi đối Hoạn//Hoán. Bởi muốn hành động đổi cái gì thì trước tiên phải cắt bỏ nó ra tức phải Thiến nó ra, Thiến=Thiết=Thoán=Hoạn, Thiến lợn với Hoạn lợn đồng nghĩa nhau, Thiết là cắt, Thoán đoạt là cắt ra cướp về mình. Từ tư duy tĩnh tại (thanh điệu Nhóm 0) sang tư duy hành động (thanh điệu Nhóm 1), khi nghĩ để Đổi thì có từ đôi đối Hoạn//Hoán, khi nghĩ là để Trả thì là từ đôi đối Hoạn//Hoàn. Tất cả đều là từ gốc Việt. Người Việt biết thiến vì là dân đầu tiên biết nuôi thuần dưỡng lợn. Trong chữ Nhà=Gia 家 gồm bộ thủ “Mái Hiên”=Miên宀, dưới có bộ thủ là con Thịt=Thỉ 豕. Chữ 家 (宀+ 豕 = 家) đã nói lên người Việt nuôi gia súc thả rông tự do dưới gầm nhà sàn. Đến thời Hán Vũ Đế thì mới có tục “Hoạn Quan 宦 官” dã man của bọn phong kiến phương Bắc. Đến sử gia như Tư Mã Thiên còn bị Hán Vũ Đế xử hoạn mất hòn vì dám trái ý vua trong viết sự kiện lịch sử.
  18. Văn hóa ngôn ngữ Trích 1: [Nguồn: Mạng Baidu ] Việt ngữ 粤 语 còn gọi là tiếng Quảng Đông, tiếng Quảng Phủ, Bạch thoại [ Bạch Thoại, tiếng Quảng Đông phát âm là “Pạc và”, “và” là nói. QT Tơi-Rỡi: NÔI = Nói = Nài = Na = “Và” = Van = Vân = Văng = Năng = Năn = Nỉ = Ví = Von = Ton = Hón = Hót. Các từ về “nói”: Nôm Na, Nói Năng, Van Nài, Vân Vân, Năn Nỉ, Văng Tục, Ví Von, Ton Hót], Anh gọi là Cantonese, Pháp gọi là Cantonaise, sử dụng phổ biến ở Quảng Đông, trung và nam Quảng Tây, Hồng Kông, Ma Cao và ở cộng đồng người Hoa tại Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Anh, Úc. Tên gọi của ngôn ngữ này bắt nguồn từ thời cổ đại do Trung Quốc gọi vùng Lĩnh Nam là Việt 「越 , thường viết là Việt 「粤」. Việt ngữ 粤 语 là một trong bảy phương ngữ lớn ở TQ, đó là Bắc 北, Ngô 吴(Hồ Bắc), Tương 湘(Hồ Nam), Việt 粤(Quảng Đông), Mân 闽(Phúc Kiến), Khách 客 (Mai Châu) Cán 赣(Giang Tây). Có thuyết cho rằng Việt ngữ 粤 语 là Hán ngữ đã dung hợp với “cổ Việt ngữ 古 越 语”. Có thuyết khác lại cho rằng “cổ Việt ngữ 古 越语” đã dung hợp với thành phần của Hán ngữ mà thành một ngôn ngữ hoàn toàn mới. Việt ngữ 粤 语qua lịch sử phát triển từ thời Tần đến nay đã được hơn 2200 năm. Hiện nay số người sử dụng Việt ngữ trên thế giới là từ 86-130 triệu người, trên địa bàn rộng lớn, không chỉ người Hoa hải ngoại sử dụng mà nó còn giữ gìn cho văn hóa Nam Việt, nó tỏ ra có sức ảnh hưởng lớn, được thế giới đánh giá là một trong những ngôn ngữ có sức sống mạnh mẽ. Hiện tại Việt ngữ 粤 语 đã trở thành ngôn ngữ lớn thứ hai ở Úc, ngôn ngữ lớn thứ ba ở Canada, ngôn ngữ lớn thứ ba ở Mỹ, là ngôn ngữ quan phương của Hồng Kông và Ma Cao. Liên hợp quốc chính thức định nghĩa Việt ngữ 粤 语 là ngôn ngữ và nhận định nó cũng là một trong năm loại ngôn ngữ chủ yếu vận dụng trong sinh hoạt hàng ngày(Leading Languages in daily use). Quốc tế thừa nhận Việt ngữ 粤 语 Cantones là tiếng Quảng Phủ, từ điển đều biên soạn theo khẩu âm Quảng Châu. Việt kịch, Việt khúc truyền thống đều được giữ gìn bằng tiếng Quảng Châu. Từ năm 1970 trở đi ca khúc, Ti Vi, phim ảnh Hồng Kông ảnh hưởng rất mạnh khu vực Quảng Đông và lây lan ảnh hưởng sang các tỉnh phi Việt ngữ, nhưng ở chính bản địa Quảng Châu do cuộc vận động hành chính “mở rộng tiếng phổ thông” nên Việt ngữ bị hạn chế, vì thế Quảng Châu vốn có địa vị là trung tâm lưu hành văn hóa Việt ngữ, đã phải nhường địa vị đó cho Hồng Kông, và trong Việt ngữ hiện đại có thêm lượng lớn những từ vựng mới do Hồng Kông mượn từ Anh ngữ. Lĩnh Nam là vùng phương ngữ phức tạp nhất, khác lạ nhất của TQ. Ngoài Việt ngữ còn có Mân ngữ và Khách Gia ngữ (tiếng Hẹ) là khá lớn. Sự hình thành Việt ngữ cũng rất phức tạp, hiện rõ màu sắc di dân: Ngoài ngôn ngữ “cổ Việt tộc 古 越 族” còn có ngôn ngữ các tộc thiểu số nam phương, thành phần cơ bản của “cố Hán ngữ”, các tiếng Khách Gia, Mân 闽, Tương 湘, Cán 赣, đồng thời có số lượng từ mới từ Hán ngữ hiện đại, tiếng Anh và các tiếng Đông Nam Á. Đặc điểm chủ yếu của Việt ngữ 粤 语: Âm vận phong phú, có 9 thanh điệu, để ngâm vịnh cổ thi thì rất có tác dụng. Bảo lưu nhiều cổ từ, cổ nghĩa mà ở Hán ngữ bắc phương đã bị phế bỏ hoặc rất ít dùng. Ngữ pháp bảo lưu nhiều lối ghép từ ngược với Hán ngữ (đảo trí). Bảo lưu nhiều thành phần gốc của “cổ Nam Việt ngữ 古 南 粤 语”. Thời cổ đại người Hán đã nam thiên vô Lĩnh Nam, tạp cư cùng “Nam Việt tộc bản địa” trường kỳ, nên ngôn ngữ, văn hóa, tập tục hai bên đã không tự giác mà thẩm thấu lẫn nhau. Việt ngữ 粤 语vừa có thành phần của ”cổ Nam Viêt ngữ 古 南 粤 语”, vừa có thành phần của Hán ngữ 汉 语, đó là kết quả dung hợp hai dân tộc. Việt ngữ 粤 语 hiện đại vẫn có thành phần của “cổ Nam Việt ngữ 古 南 粤 语” chủ yếu là ở từ vựng, mà lại là nguồn từ nằm ở tầng trọng yếu của nó, mà nếu rút bỏ tầng từ vựng “cổ Nam Việt ngữ 古 南 粤 语” này đi thì Việt ngữ 粤 语 sẽ thành tàn phế ngay, mất ngay công năng biểu đạt giao tiếp bình thường của nó. Có lượng rất lớn từ vựng bất đồng với Hán ngữ bắc phương, vẫn dùng cho đến ngày nay, đây là điểm đặc sắc của Việt ngữ 粤 语. Phát âm của Việt ngữ 粤 语 rất phức tạp, sai biệt cực kỳ lớn với Hán ngữ bắc phương. Tiếng Quảng Châu nghe rất động thính, rất nhuệ nhĩ. Chín thanh điệu của nó làm cho Việt ngữ ca rất có mị lực, nghe lâu không suy. Nhà ngôn ngữ học trứ danh, giáo sư La Khang Ninh 罗 康 宁 cho rằng: “Việt ngữ 粤语 có nguồn gốc từ “Nhã ngôn 雅 言”, là “hoạt hóa thạch” tiếng phổ thông của nước ta thời cổ đại. Việt ngữ 粤 语 là thứ tiếng phổ thông lâu đời nhất ở nước ta. Đối với vấn đề phiên âm cái phát âm của Việt ngữ, hãy xem xét kỹ càng phương án la tin hóa Việt ngữ (dùng chữ La tin ký âm ) “. Trích 2: [ Nguồn:Nhạn Nam Phi ( Thanh Đỗ ) , người Triều Châu, đỗ thành o6/2012 ] Khi Tần Thủy Hoảng thống Nhất "thiên hạ" thì tiếng Việt-Nhã Ngữ được Triều đình "qui định" để dùng thống nhất hóa về chử viết và tiếng nói... ; nhà Tần ra qui địnḥ thống nhất về chử viết , đơn vị đo lường ...nhưng tồn tại chĩ có 15 năm thì bị người Việt của vùng Sở và vùng Việt Giang Đông liên kết lật đổ ...rồi lập nên Triều Hán . Sách " Thuyết văn"( 説文 ) của Hứa Thận - 許 慎 biên soạn và viết ra thời Hán : phần đánh vần của thuyết văn phải đọc bằng tiếng Việt ... (nếu như ai đọc sách đó mà đọc theo giọng "Quang Thoại-Bắc kinh-Mandarin" thì sẻ không đánh vần được rất nhiều chử ) ; Đó là tiếng Việt cổ đại thời Hán và thời Tần và trở về trước nữa ...; Bỡi hoàng cãnh và điều kiện kịch sử : Tiếng Việt Cổ là tiếng còn lưu lại được ở Quảng Đông và Việt Nam ngày nay , thời Nam Việt Vương Triệu Đà thì Quảng Đông - Việt Nam ngày nay là chung 1 nước và ngôn ngữ rất là tương đồng giữa các vùng bắc và nam , đông và tây dù có khác giọng Âu , Lạc , Mân ...; Còn tiếng Việt gần biễn đông Thái Bình Dương ở phía bắc là Sơn Đông , Tô Châu , Thượng hải sau nầy bị ảnh hưỡng mạnh cuả giọng Bắc -kinh nên trỡ thành 1 nhánh riêng được gọi là NGô-Việt Ngữ ; Phía nam Ngô-Việt ngữ là vùng Phước kiến, Triều Châu lại bị ảnh hưỡng cuả gịọng nói Ngô Việt mà trỡ thành một nhánh riêng gọi là Mân Việt Ngữ ; Laị có riêng 1 nhánh của người Bộc Việt ở Trung Nguyên thời xa xưa qua bao lần loạn lạc vì chiến tranh mà di cư khắp nơi , nhưng vẩn giử được phần cơ bản ngôn ngữ cuả bộ tộc họ , mà lại trộn lẫn ảnh hưỡng các phương ngữ khắp nơi trên đường di cư nên hình thành tiếng Hẹ / khách-Gia -Hakka ngày nay . và Mân Việt Ngữ trên Đảo Hải-Nam thì có qúa nhiều dân cuả bộ tộc Lê /"Cữu-Lê" _Lê -Việt ngày xưa nên hình thành tiếng Hải Nam , và Việt -Nam thì độc lập và tách riêng trở thành tiếng Việt Việt -Nam ; Những Vùng NGô , Sở và phía bắc thì ngày nay đã bị phát âm Bắc-Kinh / Quang thoại /Mandarin ảnh hưỡng gần như là toàn diện bỡi lịch sử xâm chiếm cuả "hung Nô" và vì đa số triều đình của các triều đại đều đặt tại những vùng đất "Trung Nguyên "nầy trong mấy ngàn năm lịch sữ , nên việc sữ dụng quan thoaị trở thành chuyện đương nhiên . Toàn bộ văn hóa Hạ , Thương , CHu , xuân thu- chiến quốc , Ngô , Việt , Sở ,Văn Lang , Mân , Âu , Lạc Việt , Tần , Hán ...là văn Hóa Việt ; Tại sao goị là văn hóa Việt ? vì quốc hồn , quốc túy đã mang tên Việt ! Việt đã là tên của truyền thống dân tộc cho nên các vương triều mới có tên là Việt chiếm đa số như : Sở ,Tần , HÁN, NGÔ VIỆT , MÂN VIỆT , ĐÔNG VIỆT , DƯƠNG VIỆT , NAM VIỆT , ÂU VIỆT , LẠC VIỆT v v... , Triết học và địa danh cuả sử xưa từ xa xưa đã được định hình và lưu laị cho đến ngày nay ... chử viết đã lưu lại là Đế Đoan Hạn , Đế Cảo , Đế Nghiêu , Đế Thuấn ...chứ không phải là Thuấn Đế , Nghiêu Đế v v...,và Địa danh là Sơn Đông chứ không phải Đông Sơn , Hà Nam chứ không phải Nam Hà , Thượng Hải chứ không phải Hãi Thượng , Quảng Đông chứ không phải Đông Quảng và đảo Hải Nam chứ không phải Nam hải V v.... Chỉ đến khi nhà Hán mất , Thời nhà Tấn có nhiều bộ tộc phương bắc tràn xuống chiếm cứ cái nôi văn Hóa Việt vùng Hoàng Hà , Thái Sơn , sông Hoài , sông Lạc , sông Phần v v...thì văn Hóa Việt cổ ở Trung Nguyên mới bị biến đổi và chỉ có phương nam là còn giữ lại được văn hóa Việt gần nguyên vẹn , ...ở phía nam là vùng : sông Trường Giang và Ngủ lỉnh , phương nam ... Từ thời xa xưa đã có người da trắng di cư xuống nam và lập ra Yến Quốc , đến khi thái tử Yên Đan dùng Kinh Kha mưu Sát Tần Thủy Hoàng là Yến Đã bị Việt Hóa lâu rồi , ngành Khảo Cổ ở bán Đảo Sơn Đông cũng đào được mộ của người da trắng ; Loạn thời Tấn cũng là 1 lần nữa làm xảy ra việc văn Hóa Việt Đồng Hóa thêm 1 số nhiều-rất nhiều- người Turky và và nhiều tộc Hung Nô -Siberi , nhưng , vẫn chính là vì vậy mà văn hóa và ngôn ngữ phía Bắc đã đổi khác thật nhiều với sự lai căn mạnh mẽ bởi tiếng Thổ nhị Kỳ , siberia, Hung nô -Chitan / Khiết Đan v v..do đó mà có tiếng "phổ thông-quan thoại" ngày nay khác xa về văn phạm với Việt ngữ bằng cách Đảo ngược văn phạm Việt , nhưng phát âm thì lại tương đương Việt ...ví dụ : Hoa trở thành Hỏa , "Diệt" trở thành "yué" , "to" lớn trở thành "ta" hay lả chỉ đọc giọng cao hơn là "Tá ,Tó" v v... Sau khi nhà Tấn mất phân nửa đất phía bắc , thì phía bắc có qúa nhiều chủng tộc và ngôn ngữ khác nhau , ...những chủng tộc cuả người mới xâm chiếm trung nguyên thành lập nhiều quốc gia với tình trạng đa chủng tộc và đa ngôn ngữ , thì bắt buộc phải chọn và bị đồng hóa bỡi tiếng "Phổ thông " , chứ mạnh ai nấy giữ tiếng Turky , mông Cổ , Nga , Tạng v v thì sẽ qúa nhiều khó khăn khi giao tiếp ..., và sau nhiều đời thì đã bị đồng hóa bỡi văn hóa Việt , Vì Văn hóa Việt nầy thời đó đã mang danh là nhà "Hán" và "Tiền Hán" , thì khi đã bị đồng hóa rồi thì họ cũng xưng là "Hán"... Sau nầy , Khi Dân số phát triễn và cùng Với Sự phức tạp của giọng Việt ở các miền khác nhau như vùng THái Sơn , Sông Hoài , Sở , Dạ Lang , Mân , Lạc , Âu , An Huy , Hà nam , Tô Châu , Hàn châu , Phiên Ngung , Giao Châu V v...đã bắt buộc mỗi 1 triều đại các triều đình các đời sau luôn luôn phải dùng và bổ túc cách nói và cách viết chung "phổ thông " ở triều điǹh , đó là "tiếng Phổ thông" chung cho bá quan văn vỏ mọi miền ...bao gồm luôn nhửng người mới đã bị đồng hóa : cho nên đả điṇh hiǹh và phát triễn thành tiếng "Quan Thoại" , là tiếng nói "mới " của chung cuả những người củ và mới -đã bị đồng hóa ..đễ "phổ thông" , đễ dễ dùng chung cho tất cả các chủng tộc củ và mới của Trung nguyên ...,vì vậy : cho nên đả -hoàn chỉnh dần dần -và- chính thức- sinh ra tiếng "quan Thoại"- "phổ thông"; do đó : Cần chú ý điều nầy : những cổ văn từ Hán , Tần ...trở về trước thì không phải là "Quan Thoại" hay "Phổ Thông" mà là Việt Ngữ-Nhã Ngữ ; Dù "quan-thoại " đã được hình thành dần dần , nhưng chỉ Đến đời nhà Tùy và Đường thì tiếng Phổ Thông mới được đầy mạnh và phát triễn mạnh thêm 1 lần nữa , bỡi vì Tùy và Đường đều là gốc Hung Nô ở Siberia , tuy vậy , thời đó tiếng Phổ thông chưa đủ để thay thế nỗi cho Việt Ngữ , nên Đường thi là đa số phải đọc theo Việt ngữ ... thì mới đúng theo vần đả gieo trong Đường Thi ( Chú ý : Thơ văn từ Tống < Đường trở về trước là Việt , phải đọc theo giọng Việt , nhưng củng có 1 số ít dùng theo tiếng "Phổ thông-Quang Thoại " do những người "mới" đã viết ra ...mà truy nguyên ra sẽ thấy Họ là họ nhà làm quan cha truyền con nối nên đã chỉ rành và chỉ biết "quan thoại " hoặc họ chính là dòng người Hung-Nô , Siberi ...ví dụ như điễn hình là nhà thơ Lý Bạch / lý Bạch gốc Hung Nô-Siberia ) . Sau nhà Đường là nhà Tống ..., Tống -Từ và Đường Thi điều phải đọc theo giọng Việt ...Bởi vì tiếng việt "xưa" tiếp tục vẩn còn mạnh ; Nhưng rồi Nhà Tống bị mất bỡi nhà Nguyên của tộc Mông Cổ ...làm thay đỗi lớn , Tiếng Bắc-kinh / phổ thông lại lớn -và mạnh thêm ... Văn chương xa xưa từ trước là nhà Hán , Tần v v...thì văn phạm Việt rỏ ràng :Ví dụ ... , Người Mân Việt là người Triều châu từ xưa đến nay vẩn dùng từ "CÔI -BÓ 雞 母" ( Gà mẹ ) cho đến ngày nay , -"Côi" là "kê" của tiếng Việt cổ đại mà bên đạo Phật ở Việt Nam ngày nay vẫn còn nhiều người biết ..., ''côi 雞 '' là Kê/Gà , ''Bó 母 '' là ''Po'', là "a-phò" , là "bà" , "bà mẹ" , "mẹ", -"Côi bó" là "gà mẹ" ; Đối chiếu "Côi bó" hay "gà mẹ" với văn chương tiền Tần-Hán thì thấy rỏ văn phạm và phát âm bị gọi là "cổ Hán ngữ" đúng là như vậy và chính là Việt ngữ , và xa xưa thì sách thời tiền Hán đúng là dùng là : 雞 母 . -Côi Bó雞 母= Gà mẹ ; chử Gà là "kê"雞 -viết trước- : Văn Phạm tiếng "Việt" . -ngày nay tiếng Bắc kinh dùng là "Mẩu -kê 母雞 " với chử Gà là "Kê"雞 viết sau : văn phạmBắc kinh/ Phổ-Thông hiện giờ . => rỏ ràng thời Tần , Hán và trở về trước thì ngôn ngữ toàn là Việt. -xưa : tra cổ thư thấy viết là "bộ hành 步行 " : nghiã là Bước Đi ( chử Hành 行 là "Đi"... phải viết phía sau ) ,chứ không phải "hành lộ 行路 " như hiện giờ ( Chử Hành 行 là "Đi"... viết phía trước ) . - Xưa viết là "Mắt" 目 chứ không viết là "nhản tinh"-眼睛 như bây giờ v v.. =>quá nhiều bằng chứng và quá rỏ ràng là trước đây là Hán , Tần , xuân thu-chiến quốc , Chu , Thương , Hạ , Ngủ Đế , Tam Hoàng v v...xa xưa là văn hóa và ngôn ngử là Việt . Đến khi Mông Cổ thôn tính trung nguyên và lập ra nhà Nguyên qúa lâu , thì tiếng Phổ Thông chiếm thượng phong , nhà Minh lật đổ nhà Nguyên , cố khôi phục lại ngôn ngữ , nhưng khi dời thủ đô từ phía nam lên vùng Bắc -Kinh thì quan và triều đình lại phải dùng "quang -Thoại"... , nhưng ...và rồi lại đến 1 nhánh Hung Nô khác là tộc Nữ Chân -của vùng Mản Châu lập nên nhà Thanh , tiếng Phổ Thông -Bắc kinh tiếp tục "lên ngôi" và đồng hóa người tộc Mản/ Kim , Triều đình Mản Thanh bắt buộc thi cử tuyễn "Trạng nguyên" , "tiến-Sĩ" V V...là phải thi tuyễn bằng tiếng Phổ-Thông / Quang Thoại .... , vùng Lưỡng Quảng là Quảng Đông và Quảng -Tây chống đối , vẫn chỉ thi bằng tiếng Việt , Vủng Mân Việt là Phước -Kiến , Triều Châu thì dung hòa thi bằng song ngữ Quan-Thoại và Mân Việt Ngữ ....; Nếu gộp chung lại là "Thương"-Bị ảnh hưỡng bỡi Bạch Địch Siberia , "Chu" , "yến" , Ngụy" , "kim" , "liêu" ,"Tây Hạ" v v...thêm vào nhà "Nguyên" và "Mản Thanh" tính chung cộng lại hàng ngàn năm bắc thuộc "Hung Nô" làm cho vùng Hoàng Hà và bán đảo Sơn Đông -Trung Nguyên đả bị ...trở thành "Văn hóa Việt đồng hóa ngoại tộc " : Trở thành văn hóa "phổ thông" -mà thành phần mới nầy lại rất là mạnh và xưng...là dòng dỏi của "Hạ" ," Hán " , xưng ...là " Hoa Hạ " tộc ! ...xưng là " Hán " tộc với tiếng nói là tiếng Phổ Thông - Quang Thoại ! -Và sau nầy còn có tên là tiếng "Bắc Kinh " hay là "Madarin "- (Mandarin là Do phiên âm từ chử Mản Đại cuả Triều Mản -Thanh bỡi người Tây Phương " ....; Họ đọc chử Hạ夏 là "Xia" ...TRONG KHI SỬ SÁCH CỦA "HẠ 夏" LÀ VIỆT TỘC VỚI VĂN PHẠM Và NGÔN NGỮ RỎ RÀNG ...đọc là " Hạ " . Sau khi nhà Thanh bị Mất bỡi Tôn Dật Tiên làm cách mạng ..., nước "Trung-Hoa" mới được thành lập , Việt ngữ phương nam đã được cân nhắc làm tiếng Phổ thông để dùng thống nhất , nhưng vì trong hàng ngũ tướng lãnh có qúa nhiều người phương bắc sử dụng tiếng Phổ Thông , nên vì đại cuộc mà một lần nữa tiếng Phổ thông-Quang Thoại -Mandarin lại được chọn làm tiếng "Phổ-Thông". _Và điều đó tiếp tục ảnh hươn̉g trở thành hiện traṇg ngày nay... Khi HỨA THẬN Biên soạn "TỰ ĐIỂN" THUYẾT VĂN Thời HÁN Thì chữ ''HẠ'' Vẫn là được ghi phiên âm là : 胡 雅 切= Hồ Nhả Thiết " , hồ nhả thiết...,nghiã là ...Hồ a ha . Hạ 夏 ", đó là tiếg Việt : Khác xa với "phổ thông là "Xia 夏 ". Chú Ý : Xin đón xem bài bài khào cứu " Thuyết Văn " ... Theo Tôi thấy : =>Chỉ khi nào có việc sách THUYẾT VĂN ...để giải tự của Hứa Thận thời nhà Hán mà lại đánh vần chử "HẠ" là " x-i -a -xie =xié ",và toàn bộ những chử khác trong thuyết văn phải đọc theo giọng "Phổ thông-Bắc kinh" thì người ta mới tin được là có 1 nền văn Hóa gọi là "Hoa-Hạ" hay "Hán" có trước văn hóa Việt . =>Chỉ khi nào có việc triều Hán không nói tiếng Việt mà lại có riêng 1 thứ tiếng "Hán !" thì người ta mới nên nghỉ tới những lập luận : Hán ngữ , Hán tộc , Hán hóa những dân tộc khác , v v....; Nhưng chĩ riêng 1 quyển "tự điển"/ "Thuyết Văn" của triều đại mang tên Hán 漢 do Hứa Thận biên soạn cũng đủ chứng minh tất cả Hán là Việt : 越 / 粵 ...bởi phát âm của từ điển , của ngôn ngữ là Việt 越 ; Vậy thật ra là Việt Hóa 越 化...các tộc khác . .=> -Và đặc biệt là nên phải nhấn mạnh và lập lại điều nầy : tất cả NHỮNG CHỬ KHÁC trong TOÀN BỘ SÁCH "THUYẾT VĂN" của Hứa Thận thời nhà Hán PHẢI ĐỌC THEO TIẾNG VIỆT ̣( đã biến thành mấy phương ngôn Việt ngày nay ).../ Nếu như đọc theo tiếng "Mandarin-quang thoại" thì : thứ nhất là đánh vần sẽ sai , thứ hai là đọc được 1 it́ chử trùng hợp thôi , và thứ ba là có chử sẽ không đánh vần phiên âm được : Điều nầy có thể kiểm chứng dễ dàng bằng cách mở sách "thuyết Văn" của Thời Hán ra mà Đọc thử ... =>Và ĐƯỜNG THI Với TỐNG TỪ PHẢI ĐỌC THEO CÁC PHƯƠNG NGÔN VIỆT ...mới đúng vần , mới hay... -...=>Và KHỔNG TỬ DẠY HỌC BẰNG NHÃ NGỮ tiếng VIỆṬ̣( 雅語) , NHÀ CHU VÀ NHỮNG NƯỚC THỜI XUÂN THU -CHIẾN QUỐC PHẢI DÙNG NHÃ NGỮ VIỆT ĐỂ LÀM TIẾNG "PHỔ THÔNG'' KHI GIAO THIỆP...LIÊN LẠC , tất cả những điều nầy được ghi trong nhiều cổ thư , bằng chứng vẫn còn đó và qúa nhiều bằng chứng ... Tất cả sách diển giải sử của từng thời đại đều khó thoát khỏi "tư tưởng sử" của THẾ LỰC Chính Trị của mổi 1 thời đại ! Nhưng hảy dùng khoa học nghiên cứu về NGÔN NGỮ , PHONG TỤC , khảo cổ , di truyền , tôn gíao ,thiên văn , địa lý , toán học v v... để lý giải bằng tinh thần Chân , Thiện , Mỷ thì lịch sử sẻ ̣được sáng tỏ ...; Chúng ta không có máy thu âm thời cổ sử để lưu lại tiếng Việt thời xưa : Nhưng đả có VIỆT TUYỆT THƯ , và có thể tham khảo Chiến Quốc Sách , Ngô Việt -Xuân Thu , Tứ Thư -Ngủ Kinh , Thuỷ kinh chú ,Tiền Hán Ký , Hán Thư , Sử Ký , Tống Sử , Minh Sử , Thanh Sử -Tứ Khố Toàn Thư , Quảng Châu Ký v v...và bên cạnh sách sử của nước Việt-Nam ; Về văn hóa dân giang còn có những bài Đường Thi , Tống Từ , còn Việt Kịch của Giang-Tô , Chiết Giang , những văn hóa , và phong tục dân giang ...và đặc biệt là có sách "Thuyết Văn " với ghi chú cách đánh vần Việt rỏ ràng ở thời nhà Hán của Hứa Thận , cộng thêm có nhiều ngôn ngữ Bách Việt còn tồn tại cho đến ngày nay như Bộc Việt ,Ngô Việt , Mân Việt , Lê Việt ̣( tiếng của người dân sống trên đảo Hải Nam ) ,Lạc Việt , Việt v v..., Tất cả chi tiết trên đã là bằng chứng sống động cho thấy Văn Hóa người Việt đã trải rộng và đồng hóa biết bao dân tộc khác ở Trung Quốc từ ngàn xưa cho đến hiện thời...; Những sự ngộ nhận và diễn giải sai lầm ý nghiã chung quanh chử Hoa và Việt bởi các thế lực chính trị để tranh dành vai trò "chính Thống" và "quyền lực" đã làm gây ra phân ly và chiến tranh và đau khổ cho biết bao muôn dân của đại gia đình Bách Việt. Có 1 thuyết cho rằng nước Việt cuả vua Câu Tiễn không phải là con cháu của vua Vủ nhà Hạ như Việt Tuyệt thư đã ghi chép , vì vua Việt mang họ Mi , sau đổi họ Lạc , trong khi nhà Hạ mang họ 姒-Tự, lập luận nầy rất quang trọng và cần chú ý , Xưa hay đỗi họ do được phong Quan và Đất v v..Các đời tổ tiên trước cuả Vua Vủ cũng thay đổi Họ nhiều lần , THuyết trên không đủ bằng chứng thuyết phục đễ bải bỏ những gì đã được ghi chép trong Việt Tuyệt thư , bỡi vì Việt thư ghi chép qúa rỏ ràng ; muốn phủ nhận Việt thư không phải là dễ . Có thuyết cho rằng người Việt là THổ dân lâu đời ở 1 vùng rộng lớn , lập ra nhiều nước Việt nhỏ và trong đó có nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn , thuyết nầy được các nhà nghiên cứu sử "tin Cậy" hơn , bỡi vì khảo cứu theo thực tế lịch sử thì nhóm Việt cư trú trên địa bàn qúa rộng . Tại sao người ta không nhập 2 thuyết làm 1 ? Và Còn chuyện đỗi họ vẫn đầy vẫy trong lịch sữ xa xưa cũng như sau nầy , họ Mi , họ Lạc cũng đổi làm họ ÂU và Âu_Dương ở vùng Âu giang của Âu Việt , Họ Mi cũng đỗi thành Họ Sỡ ..., Họ Lạc khi chạy loạn cũng đỗi thành họ LA , Họ Lai đễ giữ an toàn ... ; Và từ cổ xưa cũng thế thôi , ở đâu thì gọi theo tên đó lâu ngày thành họ mới , đất Trịnh , đất Triệu , đất Ngụy v v...đều tạo ra họ mới ; xưa có họ Cơ là vì sống ở sông Cơ , lâu ngày thì được gọi là Cơ , Họ Khương là vì ở sông Khương V v....; nên nghĩ đến là nhóm Việt trải rộng trên 1 địa bàn bao la bỡi vì giỏi dùng ghe thuyền , cho nên theo bờ biễn và theo dòng sông di chuyển , di cư rất dễ dàng ? Dù không phải là du mục , nhưng còn phương pháp du canh đốt rừng làm rẩy , đễ tiã lúa khô , trồng kê , bấp , đậu , khoai trên cạn ...cũng đòi hỏi phải di chuyển hoài đễ đốt rẩy mới là có thu hoạch tốt hơn cho mùa trồng tiã kế tiếp , như hiện nay chúng ta vẫn hiểu và thấy rỏ qua lối du canh , du cư , ... Câu "khoai đất lạ , mạ đất nhà " cũng là 1 lý do đễ phải "di cư " ..., hiện nay thì việc trồng lúa và nuôi heo đã được xát định là của Việt tộc biết làm sớm nhất... , gia đình , dòng họ , gia phả , xả hội , đời sống và thực phẩm phong phú , ở đâu có người Việt là ở đó có trái bầu và rau qủa v v..., văn minh nông nghiệp cũng tạo ra âm lịch và quang sát thời tiết , bầu trời , thiên văn-địa lý , sau nầy còn có đoàn quân Hổ và Voi ra trận xông pha chiến trường của Mạnh Hoạch và của Hai bà Trưng , đời sống thực tế cuả người Việt mới thật là lạ và hay cho những sáng kiến và ứng dụng , thuyết nhất nguyên Thái cực sinh lưỡng nghi của vùng đất Sở thật là cao thâm khó lường , vẽ bùa và thần chú của vùng Mao-Sơn (Cối-kê) , yêu tinh hay thần thánh nhập xác người dùng cây nhọn xuyên gò má , xuyên lưỡi , cắt lưỡi lấy máu làm bùa vùng Phước kiến- Triều châu thật lạ lùng đặt biệt , gọi hồn , xem phong thủy địa lý , tử vi , bói toán thuật số , thư-trấn-yếm bùa đối với người và công tr̀inh xây dựng thật là huyền bí , nghiên cứu vỏ công , thế trận-binh thư , nhạc cụ , thi ca , tiên tri , khoa học v v..., chế tạo thuốc pháo , giấy , xe , ghe , nhà sàn , thành quách -cung đình , đền thờ- lăng tẵm , vủ khí , mỷ phẩm , y dược v v...; những người khảo cứu lịch sử Bách- Việt còn hay nhắc lại những phát hiện người Việt giỏi dùng ghe , thuyền di chuyễn trên sông biễn và trồng lúa , cắt tóc ngắn đễ dễ làm việc đồng án ở ruộng lúa nước ... ? có tục xâm mình , vẽ mặt , đội lông chim (điều nầy cũng thấy rỏ ở thổ dân Châu ÚC và Châu Mỹ La-tin), quan niệm sống là "THiên" và "NHân" hợp nhất , khi làm lễ cúng tế thì ca hát và nhảy múa , những từ ngữ "chìa khoá" cuả tiếng Việt có liên hệ với nhóm ngữ hệ nam đảo Thái Bình Dương v v...; người ta ước tính rằng ngày xưa 1 chiếc thuyền bườm (không có́ máy móc cơ khí như hiện nay ) nếu xuất phát từ vùng Cối -kê / Hàn Châu thì chỉ trong vòng 1 tuần lễ là đến nước Nhật hiện giờ... Tiếng Việt thời tiền sử là đa âm , rồi biến dần thành đơn âm , tôi không dám lạm bàn nhiều hơn , không dám đụng đến "chuyên khoa" ngôn ngữ học với mớ kiến thức Lơ-tơ-mơ cuả mình ," lang -thang " và "lênh- đênh" trên 1 biễn taì liệu cổ sử Bách Việt , khảo cứu và đối chiếu với thực tế là sở thích cuả tôi đễ tìm cội nguồn tổ tiên , chuyện nầy rất là bình thường đối với tôi và với biết bao người khác , bài khảo cứu của tôi sẽ chẵng mang lại lợi lộc vất chất gì ! sẽ chẳng có danh hay lợi gì đễ bóp méo sự thật , chỉ là những lời tâm tình và chia sẽ công khai đễ mong những người có tâm huyết nghiên cứu sẽ đưa ra những bằng chứng mà phê phán cho tôi biết là tôi hiểu đúng hay là Sai ...??? Khi qúi vị đọc bài viết nầy : xin phép cho tôi nhắc lại Ca dao Việt ...đễ thấy người Việt Ngày xưa với tiếng Việt đã từng sống ở đâu ... _Gió Động Đình mẹ ru con ngủ Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh ...Bống bồng bông , bống bồng bông Võng Đào mẹ bế con Rồng cháu Tiên ...Và _Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chử hiếu mới là đạo con ( Động Đình Hồ là hồ nước lớn chính giữa 2 tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam ; Thái Sơn là ngọn núi hùng vĩ ở bán đảo Sơn Đông ). Và... Nước đóng băng khi thời tiết băng giá , khi băng tan rồi thì băng lại là nước ..., với thành tựu khoa học và văn hóa khiêm tốn của nhân loaị ngày nay cũng đã bắc đầu vén được bức màn bí mật của DNA và của lịch sử ; trong tương lai thì lịch sử Việt hóa , và lịch sử Việt tiến hóa như thế nào từ xưa cho đến nay ...cùng với những trang sử bị cải biên hay bị ngộ nhận chắc chắn sẽ được làm sáng tỏ rỏ ràng. _Một ngày nào đó ...tất cả tiếng Việt : gồm Hoa ngữ- Phổ Thông -Bắc Kinh của phương bắc ,Bộc Việt-Hakka ,Ngô Việt-Tô Châu , Thượng Hải , Dương Việt-Vùng Kinh Sở và Dương Châu , Giang Tây , Mân Việt-Phước kiến , Triều Châu , Lôi Châu , Lê Việt-Hải Nam , Việt-Quảng Đông, Quảng Tây và Việt Nam ,_một ngày nào đó _Vì lý do "Toàn cầu hóa" , hay vì khoa học vi tính và "bàn phím đánh máy hóa" mà tất cả các tiếng Việt nêu trên được đánh vần chung 1 phương cách và bằng cùng 1 loại mẩu tự La-tinh A B C ...thì tât́ cả Việt ngữ nêu trên sẽ lại quay về 1 gốc Việt thống nhất ;Và đó cũng là cách học và hiểu các Việt Ngữ khác biệt nhau hiện nay của tôi là cứ việc phiên âm tất cả trở thành tiếng Việt A B C... thì sẽ thấy được sự tương đồng hay tương đương với tiếng Việt gốc của cá nhân gia đình mình đang dùng- thì sẽ dễ học và dễ hiếu lắm ! Nhạn Nam Phi ( Thanh Đỗ ) .
      • 1
      • Like
  19. Già kén kẹn hom Khi tìm những từ cùng Nôi khái niệm ta phải xét nôi lớn hay nôi nhỏ, để thấy mẫu số chung của những từ đó, thuộc nôi khái niệm lớn hay nhỏ. Ví dụ: (1) Mẫu số chung các đồ để chứa đựng , dù là đựng cái hữu hình (vật) hay đựng cái vô hình (tư duy), thì chúng đều chung một nôi khái niệm là cái Ruột: Ruột = Rà = Rổ = Rá = Rọ = Lọ = Ly = Lò = Vò = Vỏ = Đó = Đanh = Đành = Đựng = Đồ = Hồ = Ổ = Tổ = Tô = = Tâm = Tấm = Ấm = Am = Cạm = Cam = Cám = Cốc = Cóng = Lòng = Long = Võng = Lọng = Lồng = = Trống = Rỗng = Ruột. (2) Mẫu số chung của những từ cùng Nôi khái niệm Mắt là: cùng một vị trí chung là tại cái đầu của cơ thể. Mắt = Mi = Mày = Mống = Màng = Mặt = Mũi = Mồm = Miệng = Môi. Hầu hết các tộc Nam Á phát âm tiếng “mắt” na ná nhau, ví dụ rút gọn: Mắt (Việt) = Mata (Mã Lai) = Mati (Hy Lạp). Người ta nói tiếng Hy Lạp phát âm na ná tiếng “mắt” là Mati chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên, chứ ngôn ngữ Hy Lap không gần gũi ngôn ngữ Việt Nam, đúng. Cũng như tiếng Anh phát âm “cắt” (chữ Cut) ngẫu nhiên đồng nghĩa từ Cắt của tiếng Việt. Nhưng Nôi khái niệm Cắt của tiếng Việt là Cắt = Ngắt = Vặt = Xắt = Chặt = Chém = Trém = Trảm 斩(zhan) = Trảy = “Trai” 摘(zhai) = Hái = Thái - “Xải ”采(cai)= Tài- “Xái” 裁(cai), có nhiều sắc thái chi ly khác nhau. Nhưng truyện cổ tích Hy Lạp cũng có một chuyện giống VN là Dương sinh ra Âm: Thượng đế “bẻ” một xương sườn của Adam (như một kẻ liền “—“ là ký hiệu Dương) để nặn ra Eva (như một kẻ đứt giữa “- -“ do bị “bẻ” là ký hiệu Âm), nhất nguyên sinh nhị nguyên; VN: “Mẹ Tròn con Vuông”. Ký tự tượng hình vẽ con mắt của các tộc cổ đại đều giống nhau, từ phương Đông, đến Ai Cập , đến người da đỏ ở Mỹ. Mắt và Mặt cùng Nôi khái niệm, nên người Việt gọi con mắt của Trời là Mặt Trời. Mắt của Trời có thể thấy mọi chỗ, lục lọi vào mọi xó xỉnh trên trái đất (Tay nào che nổi mặt trời. Chạy nào thoát khỏi nắng nôi bủa tràn) nên con mắt lục ấy người Việt nói lướt “Mắt Lục” = Mục và viết ra là chữ 目. Người ta nói, tiếng Việt thoạt đầu là không có thanh điệu, đúng, hàng chục vạn năm trước thì nó là như vậy. Sáu thanh điệu mà tôi chia ra hai Nhóm là “Nhóm định hướng cho tư duy tĩnh tại” và “Nhóm định hướng cho tư duy hành động” chỉ rõ như vậy, ví dụ chỉ một từ đối Trong/Ngoài, bằng cái thanh điệu có tính định hướng ý nghĩa của chúng, chứng minh điều đó đúng. Ví dụ khi muốn nói cái Kén tằm, người Việt đã chợt nghĩ là Ken, rồi nói ra là Kén, từ đôi đối Ken//Kén. Sau đó lấy ra dùng là được hai từ Ken và Kén đều có nghĩa là “sự đan dày bằng sợi hoặc nan”. Vậy “từ nguyên” của Ken là gì? Đừng vội đi tìm từ nguyên của nó ở tiếng Tàu hay tiếng Tây. Từ nguyên của Ken đương nhiên là phải ở vị trí sâu hơn tức nặng hơn, như từ đôi Sâu Nặng đã chỉ rõ. Vậy sâu nặng hơn Ken phải là Kẹn. (Còn nở rộng hơn Kén đương nhiên phải là Kèn, nó nở ra rồi thì nó biết kêu to, gọi là Kèn, Kêu = Kèn. Tiếng Kèn vang rộng ra thì đương nhiên nó là Quảng, Kêu = Kèn = Quảng = Roãng = Rộng = Rải = Rãi = Lãi = lớn = Loa. Để dùng cho hợp qui tắc “thanh điệu định hướng ý nghĩa” thì: Khi “thuyết” cho cái “đề” là sự rộng bên Trong thì dùng từ đôi Rộng Rãi. Còn khi “thuyết” cho cái “đề” là sự rộng bên Ngoài thì dùng từ đôi Quảng Lớn đối với vùng đất, và từ đôi Quảng Loa đối với vùng âm thanh. Tất cả đều là từ thuần Việt hết, chẳng có tiếng nào gọi là “từ Hán Việt” cả, trong khi chỉ có mỗi chữ Quảng 廣 là viết bằng chữ nho. Loa là chỉ sự truyền lan rộng của âm thanh “Lớn vỡ Oà” = Loa. Từ thời cổ đại người Việt đã làm ra cái Loa hình thù giống cái Kèn, nhưng to hơn, không thổi thành tiếng nhạc như kèn, chỉ dùng để nói cho âm thanh phóng đại có định hướng hơn, để thông báo cho cộng đồng “Loa…Loa…Loa….đồng bào nghe đây…” Đến khi Pháp sang thì anh mõ làng dù không biết một chữ Pháp nào vẫn thay từ Loa bằng từ Alô, và đi rao gọi “Alô… Alô… Alô… đồng bào nghe đây…”. Không biết trong ngôn ngữ nhân loại thì từ Loa có trước hay từ Alô có trước). Từ nguyên của từ Kẹn là gì? Đương nhiên nó phải sâu hơn nữa vào Trong, tức là nó phải Kín hơn nữa. Mà người Việt khi muốn định nói ra khái niệm Kín đã nghĩ theo diễn biến từ đôi đối Kin//Kín. Rồi lấy ra dùng riêng hai từ Kin và Kín đều có chung nghĩa là “đưa từ Ngoài vào Trong”. Người Thái Lan dùng từ Kin để nói cái động tác “đưa thực phẩm vào trong cơ thể”: Kin Nam là uống nước, Kin Khao là ăn cơm gạo. Người Việt khi vác ống luồng ra Ngoài sông suối lấy nước đem về Trong nhà dùng thì gọi là “đi Kín nước”. Ở đồng bằng Bắc Bộ đi trên đất bằng thì dễ hơn nên không phải vác đeo ống luồng nữa mà dùng đôi Bộng gốm, Bộng = Bồn, với đôi gióng và cái đòn tre, nên động tác đã diễn biến thành Kín = =Gín = Gính = Gánh, tùy theo mỗi vùng người ta phát âm. Từ nguyên của Kin//Kín là gì? Rõ ràng là nó phải nằm sâu hơn nữa, khi trong sâu ấy nó còn chưa có cái Tơi = Tay = Chạy = Chi mọc ra bên ngoài cái Rỡi của nó, đó là từ In. Để hình dung cái Nôi khái niệm của động tác là “đưa sâu vào trong” thì thấy: In = Ấn 印(yin) = Uống = Ăn = Ẩm 飲(yin) = Nhấm = =Phẩm 品(pin) =Thẩm 審 (shen)= Thực 食(shi) =Thôn 吞(tún) = Ngốn = Ngật 吃(chi). Hán ngữ hiện đại dùng chữ Ngật 吃, chứ không dùng chữ Thực 食 như Hán ngữ cổ. (Người Quảng Đông phát âm chữ Thực 食 là “Xực”). Trong ngoặc đơn sau chữ nho là từ của Hán ngữ dùng, viết theo phiên âm của Hán ngữ hiện đại, theo phiên âm của Hán ngữ hiện đại thì không thể xếp đúng qui tắc Tơi-Rỡi tôi nêu. Từ “Thẩm định dự án” dùng ngày nay là một từ chuyên môn khoa học cao siêu, không có trang bị kiến thức kinh tế tài chính thì không thể thẩm định được. Vậy mà nó cũng chỉ bắt đầu từ động tác người nông dân Nhấm một miếng từ củ khoai lang sống, Nhai và Phẩm rồi mới định được là củ khoai ấy có ngon hay không. Từ đôi In Ấn nói rõ nghề in là của người Việt đầu tiên. Đến hình ảnh hay sự việc từ cổ xưa vẫn còn “in sâu trong ký ức” hay “in sâu trong tâm thức” như cái Bánh In đổ vào khuôn. Bánh in là từ bột nếp đã chín rồi, chỉ việc in vào khuôn. Còn nếu là từ gạo nếp sống như bánh chưng thì công đoạn làm bánh vẫn phải là In = Chín = Chưng. Nhìn từ cái Nôi khái niệm In = Ấn = Uống = Ăn = Ẩm = Nhấm = Phẩm = Thẩm = Thực = Thôn = Ngốn = Ngật này đã thấy rõ, như tôi nói là: Muốn tìm từ nguyên của “hiện đại Hán ngữ” thì tìm về “cổ Hán ngữ”; muốn tìm từ nguyên của “cổ Hán ngữ” thì tìm về ngôn ngữ Việt Nam (các nhà ngôn ngữ học thì cứ thấy từ nào có viết bằng chữ nho là giải thích “đó là từ gốc Hán”, vì giải thích kiểu theo sách như vzậy là “phẻ nhứt” rồi. Trong khi chính có người Trung Quốc du lịch sang VN, vào hiệu sách xem, đã nói với tôi: “Nhìn cuốn từ điển Hán-Việt đồ sộ mà thấy hãi, thực ra trong đó chỉ có khoảng 1000 từ là của Hán thôi, còn lại là từ của các tộc phi hán”.) Người Việt cổ đại của nền văn minh lúa nước đã biết trồng dâu nuôi tằm lấy tơ dệt lụa. Vốn là dân sông nước, dòng giống Tiên Rồng, nên đã biết vượt biển làm nên con đường tơ lụa trên biển Đông hàng nghìn năm trước khi có con đường tơ lụa của dân Trung Á qua sa mạc đến Trung Đông. Cái Kén để lấy sợi tơ, tư duy là từ đôi đối Ken//Kén, vào càng sâu là Kẹn//Ken. Muốn dệt tơ loại đẹp phải chọn Kén kỹ càng. Từ Kén từ cái vật cụ thể được nâng ý lên thành nghĩa của từ đôi Kén Chọn. Già Kén là chọn cái Kén càng già càng tốt, vì con tằm sống lâu hơn nó chứa nhiều tơ trong bụng hơn. Rồi nó cũng hóa kiếp, như con người già thì xác gởi vô Hòm, hóa kiếp để cho hồn phiêu du. Khi định nói ra từ Hòm, người Việt đã tư duy từ đôi đối Hom//Hòm. Người Việt chỉ lấy hai từ đôi đối là Kẹn//Kén và Hom//Hòm mà có được câu tục ngữ mang vế so sánh là câu “Già Kén Kẹn Hom” để khuyên người ta đừng có kén chọn quá, cầu toàn quá, lý tưởng quá, vì đó không phải là tư duy hành động, hãy sống với thực tại, suy nghĩ giải quyết cái thực tại, đừng có viển vông với cái chủ nghĩa cao xa không có thực. Người nông dân của nền văn minh lúa nước cổ đại chỉ mong tự do, cơm no, áo ấm. “Quốc dĩ hòa vi quí, Dân dĩ thực vi thiên”. Mọi cái tàn phá con người, tàn phá thiên nhiên sẽ chỉ đưa đến diệt vong. Chỉ có thiên nhiên và nhân loại là còn mãi mãi, như Thi Nại Am trong lời Từ đầu cuốn Tam Quốc Diễn Nghĩa đã viết. (Mong có độc giả dịch sát ý hơn, còn dưới đây là tôi tạm dịch) 滾滾長江東逝遊水 Cổn cổn Trường Giang đông thệ du thủy 浪花淘儘英雄 Lãng hoa đào tận anh hùng 是非成敗轉頭空 Thị phi thành bại chuyển đầu không 青山依旧在 Thanh sơn y cựu tại 幾度夕陽紅 Kỷ độ tịch dương hồng 白髮漁樵江渚上 Bạch phát Ngư Tiều giang đỗ thượng 慣看秋月春風 Quán khán thu nguyệt xuân phong 一壺濁酒囍相逢 Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng 古今多少事 Cổ kim đa thiểu sự 都付笑談中 Đô phụ tiếu đàm trung. Trường Giang nước cuốn trôi đi Anh hùng cũng biến, khác chi bọt bèo Thị phi, thành bại cũng vèo Núi xanh kia mãi giàu nghèo vẫn nguyên Niên hoa bao độ ngày đêm Ngư, Tiều tóc bạc vẫn êm trên bờ Quen nhìn gió sớm, trăng thu Một bình rượu đục tạc thù có nhau Cổ kim muôn sự thế nào Đều làm mồi nhậu lộng trào cười chơi
  20. Mỗi lần [ w: Gặp mẹ trong mơ ] Ru lòng xao động lời ca mượt mà Mẹ hiển linh đến trong mơ… Bao người rưng lệ lời ca nao lòng… Vang trên đồng cỏ mênh mông… Thanh âm độc đáo cánh đồng bao la… Rung lòng hết thảy chúng ta… “ Con đem thánh khiết sương hoa Dâng lên con muốn mời trà mẹ xơi Con nhìn đáy mắt mẹ soi Con mừng, lòng mẹ đang nơi yên lành Con trai mẹ tỉnh thoáng nhanh Mẹ mau lên mẹ, vi hành đến con Giấc mơ con chóng hết liền Mẹ mau lên mẹ, lại gần với con Quanh con mây trắng, mây đen Trong mơ, ơn mẹ cho điềm lành vui Con trai mẹ đến kịp rồi Mẹ chờ con hẵng, đây rồi, con đây Mẹ chờ con hẵng, mẹ ơi…”
  21. Chữ Tương Khi là công nhân hay sinh viên ở chung phòng cùng một người khác dù quốc tịch nào, chỉ cần treo một chữ TƯƠNG 相 để ngắm mà ngẫm, vì đó là chữ do người Việt biết ghép Âm Dương mà tạo ra MỘT MỘT = MỘC 木 MỤC 目 = TƯƠNG 相 = “Tình Thương” = Tương, để biết thẳng thắn, thương yêu, giúp đỡ nhau, tương trợ nhau (như người Mỹ), bởi có Mắt mới có thể Mọc ra cây Măng tre thẳng, vậy là Minh 明, Minh = “Một Kinh” = Mình. Chưa hết, chữ Tương không chỉ nhắc có chừng đó. Về âm tiết nó là hai chữ Một ghép với nhau là Một Một. Về ký tự nó là hai tượng hình là cái cây và con mắt. Tượng hình cây và mắt ở mọi tộc người cổ đại đều vẽ giống nhau, từ phương Đông cho đến Ai Cập, cho đến người da đỏ ở Mỹ. Tượng hình Vẽ cây, sau Viết thành chữ Mộc 木, Hứa Thận giải thích ý nghĩa đó là “Mọc lên từ đất”, mà về sau còn ra đời một chữ khác là chữ Mạo 冒 nghĩa là “đội lên” hay “bốc lên”. Tượng hình Vẽ mắt sau Viết thành chữ Mục 目, rồi thành Mặt 日, là mặt trời. Ánh nắng mặt trời đem đến cho sự mọc lên của cây là một tình thương bao la. Nhưng chỉ trong tiếng Việt mới có lướt “Tình Thương” = Tương. [Trong Hán ngữ chữ Thương 傷 không hề có nghĩa là tình yêu, nó chỉ có nghĩa là vết thương, là sự đau , như dùng từ “thương tâm 傷 心” nghĩa là đau lòng, Hán ngữ chỉ mượn chữ Ái 愛 của tiếng Việt (chữ Ái xuất phát từ cái Nôi khái niệm “con người” của tiếng Việt là: A = Ai = Yêu = Ái = Ngài = Người , trong tư duy là từ đôi đối Yêu//Ái) , Hán ngữ mượn chữ Ái để diễn đạt tình yêu và gọi là “ái tình” hoặc Hán ngữ mượn các biến thái khác của chữ Lòng//Long của tiếng Việt như mượn chữ Luyến 戀 để ghép thành Luyến Ái 戀 愛 (“từ nguyên” của Luyến Ái là “Lòng Yêu”), như mượn chữ Lân 憐 ghép thành Khả Lân 可 憐 để diễn đạt Lòng yêu thương, mà chữ Lòng là của tiếng Việt (Long = Lòng = Luyến = Lân ) , Hán ngữ còn mượn chữ Lâm Ly 淋 漓 để diễn đạt sự đau lòng, mà “từ nguyên” của chữ Lâm Ly là chữ “Ruột”, Ruột = Rầu Rĩ = =Râm Rỉ= Lâm Ly)] Chữ Tương do người Việt đặt ra, mang nghĩa là tình thương như tượng hình biểu ý của nó ghép bằng Cây và Mặt trời. Bản chất hoạt động sinh trưởng của cây là Mọc, nên người Việt gọi cái hình vẽ Cây ấy là chữ Mộc. Bản chất hoạt động của Mặt trời là như con Mắt lục lọi khắp mọi xó xỉnh trên mặt đất, nên người Việt gọi lướt con “Mắt Lục” = Mục, ghép hai vật thể đó lại với nhau là Một Một để đại diện hai người Kinh yêu nhau, mà “Một Kinh” = Mình, nên chữ Tương ấy cũng gọi là chữ Mình, mà hai Mình là cùng nhau nên về sau Hán ngữ sử dụng chữ Tương đó với nghĩa là Nhau. Do vậy trong tiếng Việt có từ Giúp Nhau, lại cũng có từ Tương Trợ là từ Việt-Hán. Bản thân chữ Tương trong tiếng Việt vốn diễn đạt Tình thương, đã là tình thương của hai người cùng nhau “Mình với Ta tuy hai mà một” nên Tương = Giường = Giềng = =Xieng (tiếng Hán), chữ Tương nhắc cảnh giác với chuyện ngoại tình với láng giềng. Bản thân chữ Lòng của tiếng Việt cho ra lòng thiện, Lòng = Long = Lương = Lành. Nhưng cái tư duy bản địa Lương vốn mộc mạc, chỉ thiếu giữ gìn là bị Ngoài nó phá hư thành ra Lường, là từ đối Lương/Lường. Nên chữ Tương cũng nhắc cảnh giác kẻo bị láng giềng nó lường gạt. Ở gần nhau thì Gần = Cận = Lân = Lờn = Láng = Lìn (tiếng Lào)= Chin (tiếng Hán)= Lín (tiếng Hán). Do từ nguyên “Gần” và “Tương” mà có từ ghép chỉ hai người ở cạnh nhau là Láng Giềng. Tiếng Việt có từ Lân Cận, Láng Giềng, Hán ngữ phát âm là Lín Chin, Xieng Lín. Chữ Tương là ghép hai từ “Một Kinh” “Một kinh”, cũng đọc là Mình.Từ “Một Kinh” tiếng Sài Gòn xưa vẫn nói là “Một Kây” để chỉ cái gì tốt nhất, người Mỹ học từ đó, nói là “Ô Kây”, viết là O.K.
  22. Cả từ và cả chữ, "Tương" thể hiện rõ “Ta với Mình tuy hai mà một, Mình với Ta tuy một mà hai”. Cái lý Âm Dương của người Việt là “Âm Dương hài hòa” (nguyên tắc của dưỡng sinh), có Hai, có phản biện để mà phát triển, nhưng hài hòa lợi ích để mà tiến bộ. Vậy mà chỉ có tiếng Việt mới đúng con số 2 gọi là Hai, Hai=Hài=Hòa=Hoa=Hiển=Hách (qui tắc Tơi-Rỡi). Ca dao đã giải thích như vậy: “Thuận vợ thuận chồng, biển Đông tát cạn”, “Khó sao chồng thấp vợ cao, như đôi đũa lệch so sao cho tày”. Hai = Hài Hòa. Chẳng phải đơn giản mà người miền Nam khi hỏi người khác mà chưa quen chưa biết tên, là câu: “Cậu Hai, cô Hai ơi làm ơn chỉ giùm…”, nó như là câu Quan Họ: “ Ới này anh Cả, anh Hai đấy ơi…”. (Tiếng nước ngoài làm sao dịch nổi cái ý của nó ?). Cái văn hóa trọng người và khiêm tốn ấy của người Việt đến bà ve chai không biết chữ vẫn biết ứng xử một cách tự nhiên. Không có lịch sử văn hiến Lạc Việt 5000 năm thì không có được cái câu nói đơn giản đó. Đến con số 3 thì Việt gọi là Ba. Ba = Ta. Ba = Bầu Trời. Ba = Bổn = Vốn = Vùng = Vuông= = Ruộng (cái lợi ích cốt lõi của con người từ thượng cổ đến nay vẫn là Ruộng Đất). Cả cái lý thuyết uyên bác Thiên-Địa-Nhân rồi dẫn đến cái Tam Quyền Phân Lập, nó nằm sẵn ở trong cái số gọi là Ba của người Việt cả. Chẳng phải đơn giản mà người miền Nam từ thủa khai thiên lập địa đã gọi cái Vệ cho mỗi con người được khỏe mạnh và văn minh là cái áo bà Ba (sao không gọi là áo bà Một hay áo bà Nhứt cho nó hàng đầu luôn ?). Mấy trăm năm trước, khi người Mỹ lập nước Hoa Kỳ, họ đã học Hai và Ba của tiếng Việt mà xây dựng nên cái giá trị Mỹ là sức mạnh vô địch vì nó tiên tiến nhất thế giới ngày nay. Chẳng thế mà người phương Đông từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Singapore … cứ ùn ùn qua Mỹ học, rồi lại muốn người Mỹ qua phương Đông đầu tư. Cái ký tự cổ đại khắc trên mu Rùa (Qui) hàng vạn năm trước đã bị con Ngựa (Mã) dẵm nát muôn mảnh tứ tung (vì nó không hiểu nổi) và chìm trong bụi mờ của lịch sử hàng nghìn năm qua. Nhưng nó lại như là run rủi cho “phản thiết” (nói lướt và nói lái) qua lại (như cách đọc trong “Thuyết Văn Giải Tự” của Hứa Thận) về Hai chữ Qui Mã, báo trước thời đại hội nhập văn hóa Đông Tây toàn cầu. Người phương Đông thích treo một con chữ trong nhà để ngắm mà ngẫm. Ở VN thấy nhiều nhất thư pháp chữ TÂM 心, chữ NHẪN忍, ở Nhật Bản lại thấy chữ NẠI 耐, ở Trung Quốc thấy chữ HÒA 和. ( Như chữ HÒA 和 và kèm câu “Nhàn đàm mạc luận tha nhân quá. Tĩnh tọa hy tư tự kỷ phi 闲 谈 莫 伦 他 人 过 。 静 坐 希 思 自 己 非”. Đó là một câu khuyên: Khi “buôn dưa lê” thì đừng nên bàn cái xấu mà mình đã biết của người khác. Và một câu trách: Khi ngồi yên lại ít chịu nghĩ đến cái sai lầm của chính mình ). Vậy mà “từ nguyên” của từ Hòa là là từ Hai (từ trong cái lý Âm Dương của người Việt), mà tư duy cụ thể thì nó là do từ nền văn minh lúa nước: Hòa 和 là lướt “Hột lúa 禾 Ta” Ruộng Vuông 口 giữ Nước phải pha mặt Bằng 平 Ngẫm ra hai chữ Hòa 和 Bình 平 Là trong đạo Hiếu 孝 của mình Việt nêu “Hai Yêu” cũng thể “Hòa Yêu” Trên Lão 老, dưới Tử 子. Lâu 老 đều do Con 子 Người trẻ chỉ cần ngắm một chữ HÒA 和 mà ngẫm trách nhiệm của mình giữ gìn bền lâu (Lâu=Lão=Luôn Luôn) cái sự “Hai Yêu” = “Hòa Yêu” = Hiếu 孝, là cái Nôi văn hóa Việt. Khi là công nhân hay sinh viên ở chung phòng cùng một người khác dù quốc tịch nào, chỉ cần treo một chữ TƯƠNG 相 để ngắm mà ngẫm, vì đó là chữ do người Việt biết ghép Âm Dương mà tạo ra MỘT MỘT = MỘC 木 MỤC 目 = TƯƠNG 相 = “Tình Thương” = Tương, để biết thẳng thắn, thương yêu, giúp đỡ nhau, tương trợ nhau (như người Mỹ), bởi có Mắt mới có thể Mọc ra cây Măng tre thẳng.
      • 1
      • Like
  23. Lời giới thiệu ở mạng tra online “Thuyết Văn Giải Tự” của tác giả Hứa Thận (Đông Tấn) viết: Hứa Thận căn cứ hình thể của văn tự, sáng lập 540 bộ thủ, đem 9353 chữ phân biệt qui vào 540 bộ. 540 bộ lại căn cứ hình hệ qui nạp thành 14 nhóm. Tự điển của Ông dựa 14 nhóm này mà chia thành 14 thiên, mục lục ở quyển cuối riêng thành một thiên, cộng lại toàn sách có 15 thiên. “Thuyết Văn Giải Tự” gồm 15 quyển, trong đó Tự Mục là 1 quyển. Trong cuốn sách, Hứa Thận trình bày 6 qui luật tạo chữ của Hán tự, gọi là lục thư. Đầu tiên “Thuyết Văn Giải Tự” trình bày Tiểu Triện. Nếu Cổ Văn và Tiểu Triện không giống nhau thì liệt ra ở mặt sau. Sau đó giải thích bổn nghĩa của chữ này, rồi giải thích quan hệ giữa hình chữ với nghĩa chữ hoặc âm chữ. Bộ thủ trong “Thuyết Văn Giải Tự” trình bày dựa theo nguyên tắc giống nhau về hình thể hoặc gần nhau về ý nghĩa. “Thuyết Văn Giải Tự” đã khai sáng việc đơn giản hóa bộ thủ, từ điển của hậu thế đa số là áp dụng theo cách này. Đoạn Ngọc Tài nói rằng sách này là “Thử 此 tiền 前 cổ 古 vị 未 hữu 有 chi 之 thư 书, Hứa 许 Quân 君 chi 之 sở 所 độc 独 sáng 创”- Từ cổ chưa có sách nào như vầy, đây là sáng tạo độc đáo của Cả Hứa” Trong câu trên của Đoạn Ngọc Tài, gọi Hứa Thận là “ Ông Hứa”, nhưng viết theo Hán ngữ là “Hứa Quân”, chữ Quân này ở Hán ngữ phát âm lơ lớ là “chuyn”, dùng để (1) là chỉ Vua, (2) là dùng để tôn xưng người đàn ông. Vậy “từ nguyên” của nó là từ “Con” của tiếng Việt. Qui tắc Tơi-Rỡi tôi nêu là: Thay Tơi hoặc thay Rỡi của một từ sẽ tạo ra từ mới đồng nghĩa với từ ấy. Ở đây cái Nôi khái niệm trong đó có từ “Quân” là cái Nôi của một từ gốc là của tiếng Việt. Để giải thích điều này, hãy đi từ dẫn giải sau: Mọi dân tộc đều phát âm chuẩn giống như nhau cái chữ A, nên chữ A được xếp đầu bảng Anphabet, từ A đến Z (chỉ có Bộ GDĐT VN là đã hoàn thành dự án “soạn lại, in, phát hành sách dạy lớp 1 bắt đầu dạy từ chữ E”, từ nhiều năm trước). Bắt đầu bằng chữ A. Vậy mà chỉ có tiếng Việt là chữ A đúng nghĩa của Tiếng và động tác mở Miệng (lướt: “Mồm nói thành Tiếng” = Miệng, con vật chỉ có “mồm”, không phải “miệng”) của đứa bé Việt chào đời: HÁ miệng khóc A...A…A…(Từ “mở” tiếng Anh là “ âu-pờn”, tiếng Nga là “ốt-krứt”, tiếng Hán là “khai”) để đứa bé khẳng định là nó vừa mới từ DẠ mẹ mà RA. Rồi cái dạy đầu tiên mà mẹ nó dạy cho nó ngay cả khi nó còn ẵm ngửa, chưa biết nói, là cách đáp lịch sự là Ạ ở cuối câu, mà Ạ = Dạ = Dã 也. Chữ Dã 也 của “Hán ngữ cổ”, và cũng chỉ có ở “Hán ngữ cổ”, cũng chỉ đặt cuối câu, như ngữ pháp Việt, ví dụ câu đáp: “Nó con gái ạ” hoặc “Dạ, nó con gái ạ” ( “tha nữ nhi dã”. Câu của Hán ngữ là “tha thị nữ nhi”). Ạ = Dạ = Dã = Là, và câu đáp sẽ là: “Dạ, nó là con gái ạ”. A = Ai = Ngài = Người. A = Ai = Ái = Yêu, có con người là có tình yêu (“Nhân chi sơ, tính bổn thiện) A – Cha – Mẹ . A – Cả = Kẻ = Ké = Con = Cái = Cò = Cao = Cau = Quân = Quan = Kô = Cu = Tu = Tí = Tử. Từ chữ Cả đến chữ Tử đó là những từ để chỉ một con người, trong chung một Nôi khái niệm của tiếng Việt mà từ gốc là từ Cả. Trong những từ ấy thì “Cao”, “Cu” là người Vân Kiều dùng, “Cau” là người Philippin dùng, “Ké”, “Tu” là người Tày dùng, “Cò” là người Thái dùng, “Kô” là người Nhật dùng (nói đầy đủ là “Kô-đô-mô”, nhìn cũng thấy bóng dáng từ “Kô-đô…” là “con đỏ …” = dân đen, trong tiếng Việt), “Quân 君”, “Quan 官”, “Tử 子” là người Hán dùng. Người Việt quan niệm bình đẳng nam nữ, tôn xưng một con người, đàn ông hay đàn bà đều gọi là Cả. Ai ở Sài Gòn đều biết quán cơm nổi tiếng từ xưa của bà Cả Đọi ở trung tâm quận Nhứt. Từ cái NÔI của Việt mà có NÓI là “thuyết phục được tất cả”, NÒI là “sáng tạo ra tất cả”. Chính cái NÔI mà tôi chọn gọi là Nôi khái niệm, nó cũng đã là cái Nòi đem lại sự sống trên trái đất, khi theo qui tắc Tơi-Rỡi mà dẫn thì sẽ thấy: Nôi = Côi = Lồi = Lời = Trời = Trên = Lên = Then = Thiên ( tiếng Tày dùng chữ Then, tiếng Hán dùng chữ Thiên 天), là của thế giới Dương. Còn của thế giới Âm thì: Nôi = Cội = Cối = Dội = Dưới = Diêm. ( Từ Thiên Vương và từ Diêm Vương là từ gốc Việt chứ không phải là “từ Hán Việt” ). Tiếng Việt cổ gọi đấng tối cao là Côi Lời (sách dịch Kinh Thánh có câu “Sáng danh Chúa ở côi lời”, có từ “Đức Chúa Lời”, côi lời nghĩa là trên trời, cấp côi nghĩa là cấp trên, do từ đối Cội/Côi như Dưới/Trên). Từ Cả của tiếng Việt còn có nghĩa là người lãnh đạo. Từ Cả của tiếng Việt còn có nghĩa là Thắng, “được ăn Cả, ngã về không” là hình ảnh trong đấu vật. Bởi vậy người có thể sáng tạo ra tất cả,lại thu phục được tất cả, tiếng Việt gọi là Cả Nòi (cái dốc cao hiểm trở nhất ở tỉnh Hòa Bình có tên là dốc Cò Nòi. Con đầu đàn súc vật gọi là Con Nòi). Từ Cả Nòi tiếng Nhật gọi là Ka Nai (nghĩa là cao thủ). Người Đài Loan gọi là Ta Nin (viết chữ là Đạt Nhân 達 人). Nam Bộ gọi Cả Nòi là Cha Nội vì tránh chữ Cả (mặc dù biết rằng “anh Cả, anh Hai, cả hai đều là anh cả”). Người được sùng kính gọi là Cha Cả. Vậy thời xưa thì Lão Tử là Cả Lão, Khổng Tử là Cả Khổng. Như trong văn trên thì Đoạn Ngọc Tài tôn xưng Hứa Thận là “Hứa Quân” tức Cả Hứa. Thi Kinh là Thơ của người Kinh, có câu đầu của bài đầu tiên là “Quan quan thư cưu… “, tôi đã phát hiện nó là tiếng Việt “Con con cù cu…” vì Hán tự “quan 官 quan 官…” là hai ông quan sóng đôi thì chẳng có nghĩa gì cả, rồi họ giải thích “thư cưu” là một “loài chim cổ, giống đại bàng, ăn cá (đại bàng có “bói” cá chăng?). Ở đây nói “con con” là hai con chim sóng đôi với nhau ( Bài thơ nói về tình nghĩa vợ chồng chung thủy như đôi chim cù cu). Do khái niệm Âm Dương là của người Việt, nên ngôn từ theo Qui tắc Nở: một từ như một Trứng trong Nôi sẽ nở ra hai Tiếng, một tiếng Âm có thanh điệu Nhóm 0, và một tiếng Dương có thanh điệu Nhóm 1. Những tên động vật (vì động vật đều nở ra từ trứng) đều có kết cấu là từ đôi đối như vậy. Ví dụ: Cù//Cu, Chiền//Chiện, Se//Sẻ, Cun//Cút, Cồng//Cộc, Cà//Cưỡng, Hồng//Hộc, Kền //Kên, Cà//Cuống, Cân//Cấn, Săn//Sắt, Nòng//Nọc, Niềng//Niễng , Châu//Chấu, Đòng// Đong, Chem//Chép v.v. Gọi chung tên chim là Cù Cu, nhưng một đôi chim Cù//Cu thì con đực là con Cu, Cu = Cưu, con cái là con Cù, Cù = Thủ = Thư (vì nó thủ giữ ấp trứng). Cũng như con gà còn gọi là con Cà//Kê, một đôi thì con Kê là con Mái, Mái = Thái = Thư (sau nâng ý có từ Thư Thái nghĩa là dễ chịu, cũng có nghĩa bóng là con mái nó dễ chịu cho con trống nó đạp), con Cà là con Trống, Trống = Hống = Hồng = Hùng ( núi Hồng Lĩnh còn gọi là núi Ngàn Hống, vì Núi = Non = Ngọn = Ngàn). Từ đó mà Hán ngữ có từ Thư Kê và Hùng Kê là Gà Mái và Gà Trống. Hán ngữ là dựa trên nền của “Hán ngữ cổ”, “Hán ngữ cổ” là dựa trên nền của tiếng Việt. Theo cách đọc như Hứa Thận “thiết” thì “Hán ngữ cổ” là tiếng Việt chỉ có ngữ pháp thì là Hán. Cha=Ta=Tía=Tia (“Tia” là người Hoa Nam dùng). Mẹ = Mệ = Mế = Mợ = Mự = Má. Lướt “Mẹ Âu” = Mẫu, đó là đạo thờ Mẫu của người Việt từ thời Lạc Long Quân - Âu Cơ. Khái niệm Âm Dương là của người Việt. Ở cái miệng phát âm nó chia rõ động tác Ngậm kín miệng và Dang há miệng, nên Ngậm = Âm, Dang = Dương. Hán ngữ phát âm Yin Yang thì miệng đều há hết. Thanh điệu Hán ngữ có 4, chia ra (1) là Âm (như thanh “không” tiếng Việt), (2) là Dương (như thanh “sắc” tiếng Việt, (3) là Thượng (như thanh “hỏi” tiếng Việt), (4) là Khứ (nằm giữa thanh “nặng” và “huyền” của tiếng Việt). Tuy trong 4 thanh điệu có một thanh tên “Âm”, một thanh tên “Dương”, nhưng Hán ngữ chẳng đề cập gì đến ngôn từ Hán có tính Âm tính Dương. Ngay Thuyết Văn Giải Tự của Hứa Thận, ông không đề cập tính Âm Dương của ngôn từ hay của thanh điệu, chỉ có giải thích liên quan của từ với ngũ hành, ví dụ giải thích chữ Thủy thuộc ngũ hành là màu đen. Do khái niệm Âm Dương là của người Việt nên hệ đếm nhị phân là của người Việt, mà hai con số nhị phân là Mô/Một = 0/1. Mô = Vô = Hố = Hư (bị Hố là bị không được gì), từ đó có tư đôi Hư Vô. Chữ Mô này chỉ có trong “Hán ngữ cổ”, nghĩa là không, Hán phát âm là “mua” viết là chữ Mạc 莫, còn Một thì Hán phát âm là “mu” hoặc phải phiên thành hai âm là Mô-Tờ (“mu-thừa”) vì họ không có âm tắc như –ôt, hoặc âm ngậm như -ôp, -ôm, - ông. Do tính Âm Dương mà người Việt chọn gì cũng phải có hai, bài trí đối xứng, ghép Một Một để mong có Âm có Dương mới thành Nôi-Nở-Nhiều. Đó là ý nghĩa khi ghép hai Một là Mộc 木 Mục 目 thành chữ Tương 相, mà nghĩa của tiếng Việt là lướt “Tình Thương” = Tương.
  24. MỘT Không bàn về tư duy, mà bàn về cơ thể. Ở cơ thể con người thì cái Trong và cái Ngoài cho ta từ đối Dạ/Da. Cái Trong của cơ thể là Dạ, là cái chứa đựng lục phủ ngũ tạng, tức nó rỗng mới chứa được. Từ nguyên của Dạ là Ruột, nhưng từ nguyên của Ruột lại là Rô là con zero số 0 vì nó phải trống rỗng như chữ O mới dùng để mà đựng, nó là Rô vì nó là “Ra từ Ô”=Rô của lõi của NÔI: Ô=Rô=Ruột=Rà=Dạ=Dung=Cung=Cọng=Cống=Cuống=Quản, đều là những cái rỗng để có thể đựng. Ruột = Luột = Lòng= Lõi = Lượt = Hướt = Huyết = Tiết = Miết =Mải= Mạch=Máu, là những cái Trong, hoạt động không ngưng nghỉ của cơ thể (trâu bò ăn suốt ngày, đêm còn ợ ra nhai lại). Tiếng Thái thì “Lượt” nghĩa là Máu, tiếng Hán thì “Xuể” nghĩa là Máu. Dạ Con cũng là Cung Tử, từ “Tử Cung” là từ Việt-Hán vì nó có “từ nguyên” của Việt, ngữ pháp ngược của Hán. Cái Ngoài của cơ thể là Da, theo qui tắc Tơi-Rỡi: Da=Giáp=Giác, Giáp là cái để vệ ngoài như từ “áo giáp”, cũng gọi là cái Vè, như vè chắn bùn ở xe máy, “Vỏ Che”=Vè=Vệ; Giác là phần vỏ ngoài của thân cây gỗ, nó non hơn lõi gỗ nên không dùng đóng đồ. NÔI chính là cái dạ con, nó là RUỘT nên nó cũng là MÁU, bởi vậy NÔI=NÒI, là cái hòn máu để sinh ra con người. Nôi=Nõn=Noãn=Nòi là hòn Máu và là “Máu Ủ”= Mủ ở trong Nôi nên có thành ngữ “Máu Mủ Ruột Rà”. Cái “Ruột Máu”= Rau là cái Cuống nối thai với cơ thể mẹ để lấy dinh dưỡng. Dạ con là cái đựng, tức NÔI=Cối, bên trong sự chứa là cái Chửa = = Chày = Chồi = Cồi = Cội = Con. Cái Chày ở trong lòng cái Cối sẽ cho ra sự sinh nở là thành Con. Nhưng Con lại là Kinh, dân tạo nên NÔI, tức khái niệm Âm Dương là của dân Chày Cối (như hình vẽ trên trống đồng). Một người Kinh cổ đại tự xưng mình bằng đại từ “Kinh” (lấy tên tộc người làm đại từ nhân xưng ngôi một, là hiện tượng phổ biến ở các sắc tộc), tự xưng là Kinh bởi do Kinh đẻ ra (truyền thuyết Kinh Dương Vương cũng nói rõ như vậy, do Kinh rồi mới sinh ra trăm trứng, đó là cái Kinh Vựa = Kinh Văn = Cung Vua = Dung Chửa = Dạ Con. Tự xưng là “Kinh” thì cũng như là tự xưng là “Con”). Tiếng Anh lại gọi “King” là Vua. Tiếng Việt: Vua=Chúa=Chủ (“Thằng đó là Vua ý tưởng”, nghĩa là mọi ý tưởng đều từ thằng đó mà ra). Lướt “Kinh Đẻ” = Kẻ = Con = Cu = Cò = Cao = Cau = Tau = Tui= =Tôi. “Con”, “Tau”, “Tui”, “Tôi” là những đại từ nhân xưng ngôi một mà người Kinh tự xưng, “Cò” là người Thái tự xưng, “Cao” là người Vân Kiều tự xưng, “Cau” là người Philippin tự xưng. “Tôi” là do xuất xứ “Từ Nôi” = Tôi. Mà NÔI = = NƯỚC nên Tôi cũng là từ Nước mà ra (khởi nguyên môi trường sinh vật), đó là chữ nước cổ nhất của tiếng Việt là từ Té, trong từ đối Té/Tá = Nước/Lửa. Nước là nguồn Năng nhiều nhất cũng như Nắng, qui tắc Nở trong nôi đã làm cho cái trứng Năng tách đôi Âm Dương thành Nước/Nắng. Qui tắc Tơi-Rỡi thì: Té=Túc=Tức(tiếng Khơ me)=Đức=Đầy=Đủ =(= “Zú” tiếng Hán)=Đắc=Đác(tiếng Tây Nguyên và tiếng Choang)=Lạc=Nác( tiếng Mường)=Nước=Nậm (tiếng Tày)=Nam(tiếng Thái Lan)=Lam (màu phản chiếu bầu trời của nước) = Lầm = Đậm = Đà = Đen = Phèn= = Thẻn = Than = Thâm (màu ngũ hành của nước) = Thủy (=”Suẩy” tiếng Hán). Hán ngữ dùng từ “Zú” nghĩa là đầy (tính nhiều của nước) và “Suẩy” (bản chất của nước) Từ đôi Té Nước nghĩa là nhiều nước (lễ hội cầu mong có nhiều nước của dân văn minh lúa nước phương Nam). Té cũng được dùng như động từ, nghĩa là lấy nhiều nước, Té =Tát = Tạt= Té Tát..Tức Nước cũng nhấn ý đầy nước. Túc nghĩa là đầy , là bản tính của nước luôn xu hướng Đầy=Đẩy về mọi hướng (thấm, lan, bốc hơi, nở khi nóng hoặc đóng băng). Hán ngữ dùng chữ Đức nhưng nâng thành trừu tượng (thực nghĩa của Đức là tính đầy và mát của nước, nâng ý lên thành tính thiện, tính “chu đáo” nghĩa là “vòng ngoài luôn đầy” để nói xử thế bằng tính thiện). Nước Nam cũng còn có nghĩa như từ đôi, nghĩa là vùng nhiều nước. Thời đã chuyển từ giáp cốt văn sang chữ khoa đẩu rồi đến có “vuông Chữ Nho nhỏ” mà qui tắc Vo đã vò rụng đầu ( “vuông” ) và đuôi (“nhỏ”) còn cái lõi giữa là “Chữ Nho”, người Việt gọi thứ chữ vuông ấy là chữ nho, thì người Việt đã có cái nền Rễ=Lễ rất nho nhã, nên thường xưng một cách tự tin và lễ phép là Tôi Ạ, và lướt “Tôi Ạ”=Ta và coi người đối thoại dù thuộc sắc tộc nào khác cũng vẫn là như Ta, là “Một Kinh”= Mình. Mình=Mày=Mừ (tiếng Tày-Thái). Khi Một là ngôi thứ nhất thì Mai là ngôi thứ Hai, Hai=Lai (như Tương Lai)=Lái (như Thương Lái). Mai=Mày=Mới=Mi=Nhì=Nhị [ Người Thái chào chia tay nhau: “Ta đi nghe, Mày cứng nghe !” là: “ Cò dù nư, Mừ còn nư !”. Nghe=Nè=Nê (tiếng Nhật)=Nư (tiếng Thái)=Hử=Hỉ=Nhỉ=Nhé=Nhá=Nhẩy=Hầy (tiếng Nghệ An, Quảng Đông)=Hày (tiếng Nhật). Cứng=Còn=Cường. Đi=Vi (như Hành Vi) = Vô=Dô (tiếng tộc Eve châu Phi)=Dù (tiếng Thái)=Du (như Du Hành)=Do (như Tự Do)]. Ca dao: “Mình về có nhớ Ta chăng, Ta về Ta nhớ hàm răng Mình cười”, đương nhiên là răng ấy “răng đen nhưng nhức hạt huyền” thì mới có Đen=Đẹp, cộng với làn da Trắng=Sắc để có từ đôi Sắc Đẹp theo như quan niệm của người xưa. Khái niệm sắc đẹp khi còn trong tư duy thì nó là từ đôi đối Sọi//Sắc.Trung Bộ dùng từ Sọi để nói người đẹp. (Hán ngữ phát âm từ Sọi này là “Soai” và Sắc là “Xưa”). Cái NÔI khái niệm giống như cái bầu hình cầu biểu tượng Âm Dương, nên còn nằm trong NÔI bao giờ cũng sẵn hai khái niệm 0 và 1: Là Mô rồi thì nó phải biến sang Một, còn ra ngoài NÔI thì đã thành Mai=Hai. Là Nỏ là 0 rồi thì nó phải biến thành Ni là 1, Ni=Nhí=Nhứt=Dứt=Dách (tiếng Quảng Đông nghĩa là 1), bởi vậy “nói Một là một” nghĩa là “nói Dứt khoát”, từ Khoát chẳng qua là một từ do lướt “Khứ mà Thoát” = Khoát, Dứt Khoát nghĩa là “Một cú bỏ quá khứ mà thoát” = “Dứt quá Khứ mà thoát” = Dứt Khoát. Ra ngoài NÔI thì đã thành vỏ nôi là cái Tơi=Tê (là Hai, tiếng Khơme, tiếng Mường). Một-Hai, tiếng Khơme dùng là Muôi-Tê, tiếng Mường dùng là Mọc-Tê, tiếng Việt chỉ dùng khi để chỉ vị trí là Ni-Tê như “bên Ni”, “bên Tê” (tiếng Trung Bộ). Một hệ các số đếm nữa của tiếng Việt là Nhứt-Nhị-Tam-Tứ-Ngũ…Thời kỳ đầu chỉ đếm đến 5 là hết vòng đếm, quay lại, như hệ đếm ngũ phân của người Khơme: Muôi-Tê-Bây-Buôn-Prăm , quay lại “ Prăm Muôi” là sáu (Một-Hai-Ba-Bốn-Năm), đến 5 là nhiều nhất của một vòng đếm nên Prăm là con số nhiều nhất trong một vòng đếm. Prăm=Rậm=Rắm=Dăm=Năm=Lắm=Lạm 濫 =Hám=Hấn 很= Ham = Tham 贪= Lam 婪 = =Lảm=Nhảm=Nhiều=Nhiêu 繞=Nhiên 然. Sau chuyển dần thành hệ đếm thập phân, thì hết con số Lắm tất phải đến con số nhiều hơn là Lâu (mà tiếng Hồ Nam phát âm là Lấu, tiếng Quảng Đông phát âm là Lục, Hán ngữ phát âm là “lìu”). Lâu=Sâu=Sáu. V.v. Hán ngữ mượn từ “Prăm”=Lắm và phát âm Prăm là “rán”, viết bằng chữ Nhiên然; mượn từ Nhiều và phát âm là “ráo”, viết bằng chữ Nhiêu 繞 để dùng trong các từ ghép Phì Nhiêu (“phấy ráo”) là nhiều độ béo, Thiên Nhiên (“thien rán 天 然”) là nhiều thứ của trời, Tự Nhiên (“zư rán 自 然”) là nhiều thứ của tạo hóa. Và bởi từ Lắm nghĩa là nhiều của tiếng Việt đã được mượn sang Hán ngữ thành chữ Nhiên, nên đi với động từ thì Nhiên (tức Lắm) toàn đứng sau động từ như ngữ pháp tiếng Việt, ví dụ: Hiển Lắm viết là Hiển Nhiên 显 然, Mạnh Lắm viết là Mãnh Nhiên 猛 然, những trường hợp khác lại viết theo ngữ pháp Hán thì phải ngược lại, ví dụ Tốt Lắm nói là “Hấn Hảo 很 好”, Hảo nghĩa là tốt. Tiếng Việt có cụm từ “hay gây hấn” tức “hay gây lắm”. Qui tắc Tơi-Rỡi thì: Ta=Ngã. Cái thể hiện lễ phép trong xưng hô là tiếng cuối mang nghĩa khẳng định: Ạ=Dạ=Dã 也= Là = Cà = Đã =Đấy= “Đê” (tiếng Nhật)=Yề (tiếng Hàn)=Tề=Ta=Đà=Đích 的 =Đó=Có=Cơ 的 (tiếng Quảng Đông)= “Tơ 的” (tiếng Hán). Ta là xưng một người. Từ đôi Người Ta là nhiều người. Một con người thì gọi là Người, nhiều con người thì dùng từ đôi Mọi Người hoặc Nhân Dân. Người=Nhân=Dân. Từ đôi Nhân Dân là nhiều người (từ đôi là theo cái lý có Âm có Dương mới Nở ra nhiều). Một người bình thường thì gọi là “Người thường” hay “Dân thường” hoặc dùng từ Việt-Hán là “bình Dân”. (Cái “Thẻ Căn Cước” của riêng cho mỗi công dân, mỗi người có dấu vân tay riêng dùng để căn theo dấu vân tay là cái cước. Hán ngữ cũng gọi chính xác là cái “Thân Phận Chứng”, VN lại gọi là cái “Chứng Minh Nhân Dân”, tức cái chứng minh của nhiều người, chứ không phải riêng ai dùng của người nấy, vì của riêng thì phải gọi là cái “Chứng Minh Công Dân” tức của riêng một công dân. Người ta chỉ dám tự xưng “tôi là một công dân” hoặc nói tắt “tôi là một người dân” là cho câu “tôi là một Người, và là một công Dân” chẳng ai dám tự xưng “tôi là một nhân dân cả”. Cái khái niệm “Chứng Minh Nhân Dân” nhằm trong “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” này đã xuất hiện và tồn tại năm chục năm nay, chẳng thấy các tiến sĩ ở Viện Ngôn Ngữ có ai ý kiến gì. Ba ngôi đại từ nhân xưng trong tiếng Việt đều là ra từ NÔI, và tạo thành các cặp đối ý tương thích 0/1 = Toi/Tôi (ngôi một)= Mô/Mày (ngôi hai)= Nỏ/Nó (ngôi ba). Toi=0, “mất toi” là mất không; Mô=0 (tiếng Trung Bộ, Nam Bộ); Nỏ=0 (tiếng Trung Bộ) = No (tiếng Anh)= không. Còn trong số đếm thì 0/1 = Nỏ/Ni, mà Ni=Nhí=Nhứt=Dứt=Dách (Dách là 1, tiếng Quảng Đông), người Hán mượn cái âm tiết Ni (là từ nguyên của chữ Nhứt) và phát âm là Yi (=1). Vì NÔI là cái dạ con, mà “Ruột Máu” = Rau, nên người Việt đã viết chữ nho biểu ý bằng hai người trong một cái Cung, đó là chữ 肉 Rau=Nhau=Nhục, hiểu nó là cái “rau bà đẻ”, theo nghĩa cụ thể, và là “cùng nhau” theo nghĩa nâng ý, vì có hai người, như chính xác biểu ý của nó. Người Hán mượn chữ Nhục 肉 ấy, phát âm là “râu” và lại hiểu là thịt thực phẩm. Theo biểu ý thì có Một và Một đứng bên nhau thì có nghĩa là cùng nhau. Như trên đã nói, người Kinh tự xưng là Ta, coi người đối thoại dù thuộc sắc tộc nào cũng bình đẳng thân thiện như là Một Kinh khác, nên gọi người đó là Một Kinh và lướt “Một Kinh” = Mình. Thế là có hai ngôi nhân xưng Ta, Mình để đối thoại “Mình về có nhớ Ta chăng, Ta về Ta nhớ hàm răng Mình cười”. Và rồi hai vợ chồng ai cũng nhường từ Mình cho nhau, nên họ gọi nhau là “Mình ơi”, rồi không tự xưng Ta nữa, nhiều khi cũng tự xưng là Mình, thành ra “Mình với Ta tuy hai mà Một, Ta với Mình tuy Một mà hai”, nên người Việt mới ghép hai chữ Một lại gần nhau và gọi đó là chữ Mình. Nhưng chữ khoa đẩu đã chìm sâu hàng ngàn năm trong bụi mờ lịch sử rồi, không còn con chữ cái ký âm nữa, đành phải lấy chữ nho có âm “một” để mà làm “giả tá”, đó là chữ Mộc 木 và chữ Mục 目 ghép với nhau như Một Một 相, nghĩa là Mình và đọc là “mình”. Nhưng cả hai người đều đã gọi đối tượng là “Mình ơi” rồi, nên Mình=Tình=Tình Thương=Tương. Và chữ Mình ấy cũng thành ra đọc là Tương 相, mặc dù hai âm của nó là Một Một chứ không hề có âm nào là “inh” hay “ương” cả . Thuyết Văn Giải Tự của Hứa Thận (部首 目部, 拼音 mu4, 反切 莫六切, 解释 人眼。象形。重童子也。凡目之屬皆从目。部首 木部, 拼音 mu4, 反切 莫卜切, 解释 冒也。冒地而生。東方之行。从屮,下象其根。凡木之屬皆从木。徐鍇曰:“屮者,木始甲拆,萬物皆始於微。故木从屮。)giải thích chữ Mộc 木 nghĩa là Mọc từ đất lên, chữ này là chữ Cây 木 Mọc của tiếng Việt, Cây = Ki (tiếng Nhật). Chữ Mục 目 (chính là chữ Mắt của tiếng Việt) giải thích là Nhãn 眼 (chữ Nhãn này lại là do từ nguyên là Nhìn của tiếng Việt, Nhìn=Nhòm=Dòm=Dán=Nhãn, “dán mắt vào mà nhòm”). Người Việt chọn hai âm Một Một = Mộc 木 Mục 目 ghép thành một chữ lại gọi là Mình, bởi tuy hai mà Một, tuy Một mà hai, có Âm có Dương mới Nở ra nhiều, cũng như lướt “Tình Thương” = Tương 相, tình thương càng cho đi thì nó càng nở ra nhiều. Mà hai chữ ghép chỉ là cái Mắt 目 của Cây 木 tre. “Con gà có mỏ, con chó có lông, cây tre có mắt, nồi đồng có quai” ý là “Dụng Nhân như dụng Mộc” // ”Dùng Người giống dùng Cây”. (Sử xưa: Hôn quân, bạo chúa dùng Cầy. Xuýt chó bụi rậm, đến ngày diệt vong).
  25. Cái Nôi văn hóa (9) Tất cả ngôn từ đều “sinh ra từ trong một”, đó là cái NÔI khái niệm, như tôi đã giải thích chữ NÔI: là cái Ổ, gồm những khái niệm Âm-Negative, và những khái niệm Dương-Innegative, của một NÒI dân tộc, để tạo ra NÓI của riêng mình (Riêng = Rẽ = Lẻ = Loi = Lỏi). Một “Gốc Lên” = Gen chung, lúc ban đầu ở thời tiền sử là có cùng chung một cái NÔI = Nói = Gọi = Gừ = Ngữ = Ngôn. Cái GỐC là cái lõi chữ Ô của NÔI. Chữ Ô, về mặt tư duy thì lõi của Ô là chữ O của ÓC, mà cái sân của chữ o này là “Sân O” = Sọ. SỌ là cái ỐC tức cái nhà của ÓC, giống như cái vỏ của con ốc bảo vệ (“Bao Vỏ Che” = Bảo Vệ) phần mềm của nó. [Khi học sinh lớp mẫu giáo hỏi cô giáo là sao đã nói “giữ gìn” lại còn có khi nói “bảo vệ”. Cô giáo giải thích rằng: Bảo Vệ (như sách của Bộ GDĐT hướng dẫn), gọi là từ Hán-Việt, nó là mượn của tiếng Hán đấy mà, bảo vệ cũng có nghĩa như là giữ gìn (!). Ví dụ: “Từ Điển Yếu tố Hán-Việt thông dụng. Viện Ngôn Ngữ. Hoàng Văn Hành… NXB KHXH Hà Nội 1991” , trang 31: chữ Bảo, trang 472: chữ Vệ, giải thích nghĩa đều là là chăm sóc, giữ gìn (!). Còn “Từ Điển Tiếng Việt NXB KHXH Hà Nội 1971, in lần thứ hai có chỉnh lý và bổ sung” giải thích từ Bảo Vệ (trang 51): “1.Giữ gìn cho khỏi hỏng hay thất lạc: Bảo vệ của công. 2. Người có nhiệm vụ coi sóc một cơ quan hay giữ gìn an toàn cho một nhân vật” (!). Trong tiếng Việt thì Giữ//Gìn không đồng nghĩa hoàn toàn với Bảo//Vệ, sắc thái chúng khác nhau rõ ràng, do điều kiện của chúng là khác nhau. Giữ Gìn là tự mình lo chăm sóc để bền lâu, Bảo Vệ là đối phó với tác động phá hoại từ ngoài. Nói “giữ gìn sắc đẹp (do tự mình ăn uống, tô điểm), nhưng lại nói “bảo vệ da dẻ” (khỏi xâm hại của nắng nước). Hãy nhìn cái hình ảnh bền vững của văn hóa làng của VN thì rõ, qua câu tôi viết ra đây: “Lũy tre Bao Bọc xóm làng. Vỏ Che tên, đạn, chống làn xấu xa”. Bản thân văn hóa làng đã được giữ gìn bền vững nguyên vẹn suốt chiều dài lịch sử, trong khi nó luôn phải chống chọi với cái xấu xa từ ngoài vào muốn phá hoại nó. ( Một từ “làn” đủ hiểu là tác động ngoài vào như Sóng Tràn. Sóng = Lỏng = Lãng, “Lãng tràn” = Làn. Tiên Lãng//Tiến Láng thì Tiên Lãng là mới chỉ mong đứng đầu ngọn sóng, Tiến Láng thì mới là đang Lướt Sóng thật, Lượt//Lướt cũng như Mạu//Máu hay Mau//Máu, Lượt tiếng Thái có nghĩa là Máu. Mau chỉ là mong làm cho mau, Máu là muốn làm thật, rất Máu tức rất Chóng; từ đôi đối Mong//Muốn; gọi là cái Chong//Chóng chẳng qua vì có khi nó “tĩnh” có khi nó quay nhanh đến chóng mặt, tùy theo lúc ấy có gió hay không). Chẳng có cái gì là của gốc Hán cả, trong tiếng Việt. Lũy tre làng nguyện làm “cái Vỏ Che để Bao cho văn hóa làng khỏi lao đao//lảo Đảo” đã lướt thành hai tiếng “Vỏ Che” = Vệ và “Bao…Đảo” = Bảo thành cái vậtgọi là Vệ Bảo, và tạo nên từ đôi đối Vệ//Bảo, thường dùng là Bảo Vệ để nhắc chú ý trước tiên là ứng phó với cái phá hoại từ ngoài vào, rồi mới đến cái do trong gây (Bảo có thanh điệu thuộc Nhóm 1, trong khi Vệ có thành điệu thuộc Nhóm 0) vì cái ngoài vào nó phá văn hóa bản địa lẹ hơn là cái do mình lơ là giữ gìn]. Cái ỐC này ở con người là để chứa cái tư duy trong óc, tư duy của con người lại là do Trời phú, nên “Trời Ốc” = Trốc. (TRỐC nghĩa là cái đầu, là từ dùng chung trong ngôn ngữ Môn Khơme) . Khi đẻ thì Trốc là cái chui ra đầu tiên, là “Trốc Bước” = Trước. Bên ngoài Trốc còn có lông che chi chít nhiều như Tay của con sâu róm hay các loài côn trùng, gọi là “Tay Trốc” = Tóc [ tiếng Nhật Bản gọi Tay là “Tê”. Gốc của từ Tay nghĩa là cái bên ngoài, như là cái “Tay che nắng Trời” = Tơi ]. Tay = Tóc = Túc = Tu = Thủ. Một âm tiết tức một “tiếng” của tiếng Việt là có nghĩa nhất định, nên nó là một Lời. Cấu tạo thì một Lời gồm cái âm vận là cái Lõi, trước cái Lõi ấy có thể có thêm phụ âm, mà các nhà ngôn ngữ học gọi là “tiền tố” hoặc “tiếp đầu ngữ”, hoặc vắng phụ âm. Tôi gọi chung “cái có phụ âm đầu” và “cái vắng phụ âm đầu” là “Tay Lời” = Tơi, còn phần âm vận tức Lõi, tôi không gọi là “âm vận” mà gọi là cái “Ruột Lời” = Rỡi. Tơi và Rỡi đều phải nhờ Lưỡi tác động đưa ra thành Lời, "Lưỡi Nói" = Lời. Cách đặt “từ chuyên môn” này đúng với qui tắc về thanh điệu trong 6 thanh của tôi nêu là “Qui tắc thanh điệu định hướng cho ý nghĩa của từ theo tính Âm Dương” (chứ không chia theo “Bằng, Trắc” như các nhà ngôn ngữ học đã chia). Bởi nó khớp với từ đôi đối “tư duy tĩnh tại” // “tư duy hành động” của qui tắc thanh điệu tôi nêu, đó là Tơi//Tời = Tải (đưa lời ra), cái Tời là cái dụng cụ có dùng ròng rọc để chuyển tải vật nặng; Rỡi//Rời (đưa lời “Ra Đời” = Rời khỏi óc). Một trong những qui tắc của tiếng Việt nhằm tạo ra nhiều từ mới từ một từ gốc ban đầu mà tôi nêu là Qui tắc Tơi-Rỡi : “Khi thay Tơi hoặc Rỡi của một Lời, thì Lời ấy biến sắc thái nhưng ý nghĩa vẫn nằm trong cùng chung một Nôi khái niệm với Lời gốc”. Qui tắc này đúng khi đối chiếu với Qui tắc Lướt vốn có từ xưa trong tiếng Việt cũng nhằm tạo từ mới đơn âm tiết do lướt hai tiếng hay một câu dài, mà Hứa Thận đã vận dụng cách nay 2000 năm để hướng dẫn cách đọc mỗi từ đơn âm tiết . Ví dụ giải thích từ TÓC theo QT Lướt: “Tay Trốc” = Tóc, cũng từ TÓC giải thích theo QT Tơi-Rỡi: Tay = Tê (tiếng Nhật) = Tóc = Túc = Tu = Thủ = Chu = Chân = Chi = Châu = Râu, đều hợp lý như nhau, vì “tất cả đều là trong một”. Tất cả đều có một khái niệm chung là “cái ở bên ngoài của cơ thể”. Chu hay Châu có nghĩa là cái bên ngoài, “chu vi” là vòng ngoài. “Cổ Hán ngữ” dùng chữ Túc chỉ cái chân của côn trùng, chữ Tu chỉ râu, “tu mi” là mày râu, “xúc tu” là râu con mực như là tay để nó cảm xúc. Hán ngữ hiện đại dùng chữ Thủ chỉ cái tay mà phát âm lơ lớ là “sẩu”, dùng chữ Hồ phiên âm cho chữ Tu để chỉ cái râu, chẳng qua do phát âm lơ lớ chữ Tu của “Cổ Hán ngữ” thành “hú” là chữ Hồ; dùng chữ Chân mà phát âm lơ lớ là “chẻo” để chỉ bàn chân, chữ Thủ còn phát âm lơ lớ chệch đi là “thuẩy” để chỉ cẳng chân. Phát âm lơ lớ thì không thể đọc đúng âm luật của thơ Đường xưa để lại. Bởi vậy muốn tìm “từ nguyên” của Hán ngữ hiện đại thì tìm về “Hán ngữ cổ”, nhưng muốn tìm “từ nguyên” của “Hán ngữ cổ” thì tìm về sâu xa hơn tức về tiếng Việt Nam. NÔI khái niệm là một cái chung sinh ra ngôn từ Việt, tương tự, mọi sáng tạo văn minh tương lai của loài người đều từ con số nhị phân 0 và 1, như một nhà khoa học người Đức đã nói từ nhiều thế kỷ trước. Vậy mà chỉ có tiếng Việt là có hệ đếm nhị phân đầu tiên là con số 0 và 1 từ khái niệm Âm/Dương của mình, đó là con số đếm Mô/Một. ( Một là số đếm đầu tiên trong hệ đếm của ngôn ngữ Môn Khơme ). Khái niệm Mô/Một cho thấy hình ảnh của “cây tre Việt Nam”, thân cây tre có đặc điểm là vỏ ngoài cứng, ruột trong rỗng, nhưng mỗi đoạn ruột trong có phần đặc mỏng như màng chắn, chia thân tre thành nhiều Lóng = Tróng, và chỗ đó liền với vỏ thành cái Mố như mố cầu mà phần vỏ là như cái nền cầu, để Mọc ra những cái Mắt ra ngoài vỏ, để rồi Mắt sẽ Mọc lên thành cành tre hoặc Mọc thành cây tre con nếu giâm lóng tre xuống đất ẩm cho ra rễ. Ruột của tre là rỗng , về vị trí thì cái rỗng đó là bên trong , nó tuy rỗng nhưng do vị trí của nó mà nó gây ra cái từ đôi đối Long//Lóng tương tự như Trong//Tróng, mà cho ra cặp đôi đối Trong Long//Tróng Lòng Chính cái “tư duy hành động” của cây tre là ở chữ Tróng Lòng này, cái mà người ta sử dụng nhiều nhất cho tiện ích từ cây tre là Lòng tre (cật tre) mà nó lại nằm vị trí ngoài là cái vỏ ( khác với cây gỗ thì cái gỗ phần vỏ là cái Da = Giáp = Giác, giác gỗ phải rọc bỏ đi vì nó không cứng để làm được vật liệu cho sản xuất đồ dùng). Chính vì vậy người ta mới nhận xét cây tre như là “ruột để ngoài da” để ví với những người tính tình thẳng thắn (rồi bạn đọc sẽ thấy là không gì có thể bịt được cái Nói của con người, khi tìm hiểu cái lý trong từng âm tiết của tiếng Việt . Người ta chỉ có thể phản biện, tranh luận, để cho ra cái đúng mà thôi, nôm na gọi là “làm cho ra nhẽ”). [Ca dao: “Con gà có mỏ, con chó có lông, cây tre có mắt, nồi đồng có quai”. Câu này là tiền đề của câu “Dụng nhân như dụng Mộc”. Cả câu này hoàn toàn thanh điệu Nhóm 0, nói cái suy nghĩ bên trong của người cầm đầu, để sang hành động thì Suy Nghĩ chuyển thành Ý Đồ, và khi đã hành động thật sự thì thành câu thanh điệu hoàn toàn thuộc Nhóm 1, là câu “Dùng người giống dùng Cây” ( Anh ta nghĩ: phải dụng nhân như dụng mộc rồi trong thực tế anh ta đã thực sự dùng người giống dùng Cây). Vậy mà trong câu tư duy hành động “Dùng người như dùng Cây” vẫn còn một từ Cây là thanh điệu thuộc Nhóm 0, bởi vì ý muốn nói là dùng cái tư duy (Nhóm 0) của con người, như Cây (Nhóm 0) , tức dùng cái chất xám của con người. Từ đôi đối nói về chất xám là từ Xam//Xám mà chữ Xam là cái tư duy tĩnh tại, nó chính lại là gốc của từ San trong tiếng Tây có nghĩa là Thánh (Nhà tiên tri ấy Thánh thật. Là nói cái tư duy siêu đẳng của ông ấy). Nhưng nếu kẻ cầm đầu dùng người mà quá “tư duy hành động”, tức là dùng kiểu chụp giựt, thì câu ấy biến thành hoàn toàn thanh điệu Nhóm 1, là câu “Dùng người giống dùng Cầy” thì lại thất bại, như bao hôn quân bạo chúa từng có trong lịch sử. Cái Mắt của cây tre VN thì dù có chiến tranh đàn áp khốc liệt mấy nó vẫn Mọc như Mặt trời vẫn Mọc. Cái Mắt của cây tre VN thì dù người ta có bưng bít, xuyên tạc lịch sử đến mấy nó vẫn thấy được cái đúng của lịch sử, như tám quẻ trong Bát Quái (“quai”) cũng chỉ là cùng (“đồng”) một mà ra, trong câu "Nồi đồng có quai"]. Vỏ = Bó = Mo = Mặt = MỘT = Cột = Cốt = Chốt = CHẮC = Chêm = Chặt = Chật = Cật = CẶC = Đặc = SẮC = Tắc = Tim = Tâm 心 = Tăm = Tức = Thực 實. Đó là tất cả những ứng dụng của thân cây tre nhờ cái cật cứng của nó, từ chức năng lớn như là làm cái Cột đến cái chức năng nhỏ như là làm cái Tăm. Ruột = Rỗ = Mố = Mắt = MÔ = Lỗ = Lóng = LÉP = Lỏng = LỒN = Rốn = Rỗng = KHÔNG = Ống = Cống = Quản 管. Cái rỗng của cây tre cũng có ứng dụng làm ống, cống, quản. Từ cái NÔI làm bằng cây tre Việt Nam, rất đơn giản và cụ thể, đã ra các cặp đối Âm Dương là: (1) MÔ/MỘT của số đếm nhị phân, (2) LÉP/CHẮC của số đếm thập phân từ con số Chắc cho đến con số Chục. [ “Chắc” tiếng Tày nghĩa là Biết, có 1 mới là biết, còn 0 là chưa biết gì. Ở khái niệm này, tiếng Việt có từ đối Bất/Biết như là 0/1. Chục=Chập=Xấp=Xếp=Xập (tiếng Quảng Đông)=Thập, là những từ dùng đếm vật liệu, như một chục trứng, một xấp giấy, một xếp tiền]; (3) LỒN/CẶC của sinh thực khí trong tư duy phồn thực; (4) KHÔNG/SẮC của Phật giáo. Hai cái Nôi khái niệm từ Vỏ tre và Ruột tre, người Hán chỉ mượn có ba chữ là Tâm 心, Thực 實, Quản 管. Nếu ta lấy một khúc ống sắt tròn dài 8 cm, đặt khúc ống ấy nằm quay mặt cắt tròn về phía ta nhìn, và một thanh sắt tròn cũng dài 8 cm để cùng làm “giáo cụ trực quan” dựng đứng bên cạnh, ta sẽ nhìn thấy rõ hình ảnh số 0 và số 1 do ống sắt đặt nằm và thanh sắt đặt đứng tạo nên. [Thanh sắt đặc như thế này thì người Đài Loan gọi là “Thiết Tâm 鐵 心” nghĩa là sắt đặc, kết cấu xuôi như tiếng Việt.; còn người Trung Quốc gọi là “Thực Thiết 实 铁” nghĩa thì cũng là thanh sắt đặc, nhưng kết cấu ngữ pháp ngược, Thực là đặc, Thiết là sắt. Còn từ “Thiết Tâm 铁 心” thì người TQ đặt dùng và hiểu đó là cái “lõi sắt” là cốt của cái biến áp. Tương tự, tiếng Việt có từ đôi đối Cam//Cám. Người Việt nói “Cám ơn”, người Đài Loan nói “Cam un”, người Hàn Quốc nói “Kham xa ham ni đa”, người Trung Quốc nói “Xie xie” (tạ tạ) ]. Từ đôi đối chỉ rõ “tư duy tĩnh tại” // “tư duy hành động” cho thấy rất rõ như Cam Canh//Cám Cánh . Cam Canh là giữ nguyên. Cám Cánh và Cám Cảnh mới là cái suy nghĩ đến cái gì đó bên ngoài. Cũng như Cữu Canh là suy nghĩ giữ bên trong, canh giữ lưu cữu ở bên trong, nhưng Cứu Cánh là “suy nghĩ để hành động” với vấn đề gì đó bên ngoài, như câu hỏi: “Đâu là cứu cánh cho vấn đề đó? “ (đừng lẫn với từ đồng âm dị nghĩa là từ “cứu” trong “giải cứu” và “cánh” trong “tung cánh bay”). Về sau từ Canh của tiếng Việt kết duyên thêm với từ Gác đồng nghĩa của tiếng Pháp để thành từ đôi Canh Gác (như đã nói nguyên tắc từ đôi là: tiếng có dùng trước thì đứng trước, tiếng mượn dùng sau thì đứng sau). Nỗi lo Canh/Cánh là nỗi lo luôn thường trực trong tâm chỉ chực bật ra, ngày nào cũng không rời nên nó cũng là lo Ngay/Ngáy . Ngôn ngữ phương Đông đã từ cái NÔI của tiếng Việt mà ra. Muốn truy tìm “từ nguyên” cho Hán ngữ hiện đại thì tìm về “tiếng Hán cổ” như người ta gọi và cho rằng đó là “những từ Hán-Việt có từ thời Đường” (vậy mà tại sao nó không tồn tại ở TQ, thực tế thì còn tồn tại không nhiều trong tiếng Quảng Đông, mà lại chỉ tồn tại nguyên vẹn ở VN cho đến ngày nay ?). Nhưng muốn tìm “từ nguyên” của “tiếng Hán cổ” thì lại phải truy về cái nguồn còn cổ hơn nó, đó là cái NÔI của tiếng Việt, thì mới ra, đúng và chính xác, còn cứ tìm từ nguồn gốc phương Tây thì sẽ không ra. Khi tôi ngẫm rằng tất cả từ vựng của tiếng Việt đều là bắt đầu từ Một cái NÔI mà ra, là do tôi nhìn vào chữ NÓI. Khái niệm là cái mà con người của mỗi tộc người qui định bằng cái âm tiết do họ phát âm, tức cái “tiếng” nói ra chứ không phải bằng ký tự. Chữ là do con người đặt ra, viết kiểu gì cũng được, cho dù viết bằng ký tự biểu ý thì cũng phải nói ra thành tiếng mới hiểu cái khái niệm đã được qui định để mà giao tiếp với nhau bằng lời. Còn khi ngẫm về 6 thanh điệu của tiếng Việt thì tôi không chia ra Trắc/Bằng như người ta đã chia (và dùng xưa nay để thiên về nghiên cứu thanh nhạc trong Nói); mà tôi chia ra thành Nhóm 0 (có ba thanh điệu: “không”-“Ngã”-“Nặng”) là thuộc tính Âm và Nhóm 1 (có ba thanh điệu: “Sắc”-“Hỏi”- “Huyền”) là thuộc tính Dương. Cái “đối” theo tôi chia không phải là đối theo Bằng/Trắc như người ta chia, mà là đối theo Nhóm 0/Nhóm 1. Từ đôi đối hiểu ngầm là quá trình diễn biến tư duy từ “tư duy tĩnh tại” (thanh điệu Nhóm 0) sang “tư duy hành động” (thanh điệu Nhóm 1). Bởi vậy khi nhìn vào thanh điệu như tôi chia sẽ thấy rất rõ là người Việt khi muốn nói thì trong óc đã hình thành “tư duy tĩnh tại” (Âm) rồi mới chuyển ngay thành “tư duy hành động” (Dương). Quá trình tư duy (suy nghĩ) trước khi nói đó tạo nên từ “đôi đối” (nay ký hiệu bằng hai xẹt // giữa, để dễ phân biệt với từ “đối” chỉ có một xẹt giữa, còn từ “đôi” thì không đánh xẹt). Ví dụ từ đôi: Tâm Long, Tấm Lòng. Ví dụ từ đôi đối: Long//Lòng, Tâm//Tấm. Ví dụ cặp từ đôi đối: Tâm Long//Tấm Lòng (cả bốn tiếng đều đồng nghĩa nhau). Khi người Việt muốn nói ra suy nghĩ của mình, thì sẽ xảy ra những trường hợp sau: (1) NÔI/NÔI=NÔI/Nơi, đây là một từ đôi, thanh điệu chỉ rõ là hoàn toàn tĩnh tại, bởi chảng đâu yên ổn bằng quê hương mình, là cái nơi chôn rau cắt rốn của người Việt. Chẳng thế người Việt gọi dụng cụ đặt trẻ sơ sinh nằm, để ru dạy nó phát triển tư duy, biết nói, là cái NÔI (Hán ngữ gọi từ có ý nghĩa tương ứng là “yáo lán” tức cái làn lắc). Cái NÔI đứa trẻ nằm chính là cái Nơi vào đời, là cái Nước tí hon của nó. Chẳng thế mà khi sơ sinh còn chưa biết gì nhưng hễ người lạ đụng vào vành NÔI của nó là nó khóc ré lên cực lực phản đối. Nơi ấy nó nằm nghe mẹ ru và mơ ước lớn lên tề gia, giữ nước, bình thiên hạ. Bởi đứa bé là “Người trong Nôi”=Ngôi, lớn lên nó sẽ làm vua, vì vua thì cũng là Ai=Ngài=Ngôi=Người. Và cái NÔI thì được đan bằng nan tre nhà, lướt “Nhà Tôi”=NÔI. Người Việt gọi xứ sở mình là Nước. NÔI=Nơi=Nước. (2) NÔI/NỘI là một từ đôi, thanh điệu chỉ rõ là hoàn toàn tĩnh tại, trong cái tĩnh tại đó có động của sự sống mới bắt đầu, đó là NỘI=Nõn=Noãn là cái noãn bào tức cái trứng bắt đầu thành hình và lớn lên trong cái dạ con của mẹ. Về độ quí của nó thì Trứng =Trân= =Nhân, nằm trong dạ con của mẹ là một cái Cung (tất nhiên có cửa hở để còn ra sau khi đủ ngày đủ tháng. Thành ngữ Việt: “Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”. Đó là hòn Máu, “Máu Nội”=Môi=Phôi; đó là cái Thịt để lớn thành người, tức “Thịt Ai”=Thai. Cái NỘI ấy là cái Phôi Thai trong dạ con tức cái tử cung, chữ Nội viết bằng bộ thủ Cung và bộ thủ Nhân bên trong cung ấy 内. Cũng giống như thực vật, cái Gạo của hạt để rồi ra Gốc của cây. Cái Nội này là để hình thành con người trong cái dạ con hay tử cung Nội=Chồi=Chửa, nói “có chửa” hay “có thai” đều là nói tiếng Việt. Cung=Cuống là cái Ruột nối thai với cơ thể mẹ để lấy dinh dưỡng, gọi là cái “Ruột nối con và mẹ cùng Nhau”= “Ruột…Nhau”=Rau. Rau là cái chung giữa mẹ và con nên chữ Rau viết bằng bộ thủ Cung có hai bộ thủ Nhân bên trong, mà một chữ Nhân thò đầu ra ngoài , biểu ý là mẹ. Chữ Rau 肉, Hán ngữ mượn chữ này, phát âm lơ lớ là “râu” nhưng lại dùng để chỉ thịt để ăn tức là thực phẩm. Chữ肉 ấy người Việt chỉ gọi là Rau=Nhau=Nhục, “tình cốt nhục” là để chỉ cái ý nghĩa huyết thống đó. Cái huyết thống này là NỘI=Nòi. NÔI//Nòi (là để xưng về dòng giống. Nòi=Dõi=Dòng=Giống=Trồng=Trủng=Chủng). Tất cả mọi tư duy khi đã ra thành tiếng đều bắt nguồn từ NÔI. (3) NÔI//NỐI, Nối=Nói là để thành tiếng phát ra , tức sự Nối tư duy bên trong với phương tiện phát âm để thành tiếng có nghĩa, nhờ “Lưỡi Nói”=Lời. NÔI//Nối cũng là để giao tiếp giữa hai người đối thoại với nhau. (4) NÔI//NỔI (là để lan tỏa, gọi là “nổi tiếng”). Nổi=Nở. Vì NÔI cũng là Nước. Mà đặc điểm của nước là Nở về mọi hướng: thấm, tràn lan, “chảy chỗ trũng”, bốc hơi, nở thể tích khi đóng băng. Con người đã lợi dụng tính làm Nổi của Nước để làm thuyền bè, lợi dụng tính làm Nở của Nước để làm vỡ lăn tảng đá to từ một khe nứt nhỏ có sẵn. NÔI là Nói, NÔI là Nước do đó theo cái lý của nó thì thấy rằng không gì có thể bịt được cái Nói. Nhưng chỉ tiếng Việt mới có từ NÔI viết là N-Ô-I. Giáo sư triết học Cao Xuân Huy nói rằng: “Cái lý của người Việt là Nước”. Vậy bưng bít, biển thủ cái Nói của người Việt là thủ tiêu ý tưởng hữu ích cho nhân loại. (5) NÔI/NỖI, là một từ đôi, chỉ cái tư duy tĩnh tại trong tâm. Khi muốn đưa cái suy nghĩ ấy ra ngoài để tỉ tê với ai hay để chuyển thành hành động thì gọi là Nỗi//Lòng. (6) NÔI//NỒI, cái Nôi là để đựng, cái Nồi cũng là dụng cụ để đựng, trong khái niệm “đựng” thì có từ đôi đối Nôi//Nồi. Nhưng về quá trình tư duy, khi người Việt định sản xuất cái Nồi, lập tức nảy tư duy tĩnh tại là Nôi, phác họa trong óc một cái Phôi, để có diễn biến tư duy Nôi=Phôi=Khối=Khuôn, mới ra Nôi thành Nồi được. (7) NÔI//Nước. Thường viết theo từ đôi Nước Nôi để nhấn mạnh ý là nhiều nước. Cái từ NÔI đặc biệt này chỉ ở tiếng Việt mới duy nhất có mà thôi, bởi nó là NƠI (Nôi=Nơi) bắt đầu sự sống trên trái đất này, đó là nguyên tố hóa học H2O . Nhìn vào chữ NÔI mà xem, O của H20 là nằm trong chữ Ô, Hydro là nằm trong chữ I do cái âm tiết “hy” của nó, 2 là nằm trong chữ N, nghĩa là Nhị [mà có Một rồi mới đến Mai, tôi đã giải thích rồi, Mai nghĩa là Mới, tiếng Lào gọi là May, tiếng Khơme gọi là Thmây, tiếng Thái Lan gọi là Mai, tiếng nhiều sắc tộc ở Lĩnh Nam gọi là Máy, Mạy; Mai=Hai=Lái=Nhái=Nhị, có người Xuất là Nhất rồi mới có Thương Lái là Hai, có hàng hạng Nhất rồi mới có hàng hạng Nhái]. NÔI=Nơi=Đời=Đại=Loại=Loài=Lòi=Nòi=NÔI, đó là toàn bộ đời sống của muôn loài, đều xuất hiện và tồn tại nhờ Nước. (8) NÔI//Người. “Người trong Nôi” =Ngôi = Ngai = Ai = Ngài = Người. Cho nên tự ngôn từ nó đã nói lên quan niệm của người Việt, hay gọi là văn hóa của người Việt là bình đẳng. “Hơn nhau tấm áo manh quần, Cổi ra bóc trần Ai cũng như Ai”. Hán ngữ đã mượn nhiều từ Việt trong cái Nôi khái niệm bình đẳng về con người của tiếng Việt (ở những từ có chữ nho): Kẻ = Cả = Con = Cái = Quân 君 = Quan 官 = Quân 軍 = Ko (tiếng Nhật) = Cu (tiếng Vân Kiều) = Tu (tiếng Tày) = Tí子 = Tử 子.
×
×
  • Create New...