-
Số nội dung
1279 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
5
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by yeuphunu
-
'Thành phố khỏa thân' ở Pháp Bạn muốn khỏa thân đi ăn tối? Khỏa thân đi mua sắm? Khỏa thân nằm dài trên bãi biển?... Điều này vô cùng bình thường ở “Thành phố trần truồng” (Naked City) Cap d’Agde, thuộc thị trấn Adge, vùng Languedoc, nước Pháp, cách thủ đô Paris 4 tiếng đồng hồ đi tàu. Cap d"Agde nhìn từ trên cao Với phương châm “nhìn và được nhìn”, Cap d’Agde nổi tiếng với khu bãi tắm khỏa thân dài 2km dọc theo bờ biển Địa Trung Hải. Nơi đây thu hút nhiều du khách đến tận hưởng những ngày nghỉ không quần áo đến độ đã được xếp vị trí đầu trong danh sách các khu nghỉ mát được ưa chuộng ở Pháp. Khi bước vào khu vực khỏa thân ở thị trấn Agde, bạn phải tuân thủ hai nguyên tắc là không mặc quần áo và không quay phim chụp ảnh. Tuy không mặc quần áo nhưng bạn nên lịch sự cầm khăn tắm của mình theo mọi nơi và để lên ghế ngồi trong quán ăn hay bất kì chỗ nào, vừa để giữ vệ sinh cho bạn và cho người ngồi sau. Tạm biệt thế giới của vải vóc, khuynh hướng “về với thiên nhiên” của Cap d’Adge bắt đầu từ những năm 1950 và nở rộ cho đến ngày nay, khi ngay cả trẻ em vài tuổi cho đến cụ già 80 với cây gậy chống tay vẫn thích phơi nắng không mảnh vải che thân trên bãi biển. Một hàng người đứng xếp hàng trước máy ATM để rút tiền, trên người họ chẳng mặc gì. Tại các cửa hàng bán quần áo, người ta thử đồ, mua đồ và bỏ vào giỏ rồi lại trần truồng đi ra. Tại bưu điện, trạm xăng, quán ăn, hay tiệm hớt tóc với tên gọi Adam and Eva, đâu đâu cũng là những người trần truồng đi lại, không ngượng ngùng mắc cỡ… Những hình ảnh này đã quá quen thuộc ở "thành phố khỏa thân". Cap d’Agde còn là một địa điểm lý tưởng cho những cặp đôi mới cưới hay với những đôi thích thích cảm giác… làm chuyện ấy nơi công cộng. Khi đó, hai người không cần phải đau đầu chọn lựa bộ đồ nào quyến rũ hấp dẫn đối phương, cứ “khám phá” nhau mà không cần vòng vo mất thời gian cho việc… cởi quần áo. Người Pháp không ngại ngùng lắm khi phô bày chuyện ân ái cho người khác biết, họ cho rằng đó là chuyện bình thường và tự nhiên. Vào buổi tối, Cap d’Agde nhộn nhịp hơn với các buổi hòa nhạc, lễ hội tưng bừng, và người ta thường diện những bộ đồ lót đủ kiểu khi những cơn gió biển thổi về không còn ấm áp như ban ngày. Bãi tắm khỏa thân Cùng với nắng ấm, cát trắng, biển xanh, thì chủ nghĩa “tự nhiên” và việc khỏa thân một cách hợp lệ nơi công cộng đã khiến cho Cap d’Agde trở thành điểm đến không giống với nơi nào trên thế giới. Trong khi sự phân biệt đẳng cấp xã hội, sự chênh lệch giàu nghèo đang diễn ra mạnh mẽ thì Cap d’Agde lại xóa đi ranh giới ấy, bởi ai cũng như ai khi không còn quần áo trên người. Theo Ione ========================================================= Ước gì ở VietNam cũng có bãi tắm công khai như thế nhỉ
-
Cứ mạnh dạn bốc quẻ và luận thôi. Cảm ứng càng cao, thì tính chính xác cao
-
Gia đình đông nhất thế giới Ziona Chana (67 tuổi) có 39 người vợ, 94 người con, 14 con dâu và 33 người cháu sống trong cùng một mái nhà tại ngọn đồi của ngôi làng Baktawng thuộc bang Mizoram, Ấn Độ. Đó là một ngôi nhà bốn tầng với 100 căn phòng. Đại Gia đình ông Chana (bìa phải) - Ảnh: Reuters Đại gia đình này sống theo kỷ luật quân đội, người nắm quyền điều hành là người vợ cả Zathiangi. Trong khuôn viên căn nhà có trường học, sân chơi, các xưởng mộc, trang trại nuôi heo, gia cầm và một vườn rau. Tất cả đều đủ lớn để cung cấp nhu yếu phẩm cho gia đình ông Chana. Một bữa tối của gia đình thường cần đến 30 con gà, gần 60kg khoai tây và 100kg gạo.“Tôi cảm thấy mình là một người đàn ông may mắn khi là chồng của 39 người phụ nữ và dẫn dắt gia đình lớn nhất thế giới này”. Ông Chana cho biết ông sống hạnh phúc và không đòi hỏi con cháu phải trợ cấp gì cho ông. Nguồn TTO
-
Chuyện có thật: Lễ hội dương vật tại Nhật Bản Lễ hội dương vật tại Nhật Bản 1. Penis Festival Groucho Glasses Number 1 on the list are novelty disguise Groucho Marx glasses that have the nose substituted with a penis. 2. Sausage Sizzle Sausages (symbolising the penis) wrapped in bread (representing the vagina). 3. Handmade Penis and Vagina Candy Handmade phallic and yonic (phallic’s less well-known sister) candy. 4. His and Hers Mochi (Japanese Rice Cake) Mochi is a Japanese rice cake made of glutinous rice pounded into paste and molded into shape. 5. Penis Lollipops Dick or treat? An all day sucker is a must for any matsuri. 6. Penis Prayer Plaques “Ema” are wooden plaques used by Shinto worshippers to write their prayers or wishes. Internet ================================================ Mời quý vị xem Đây cũng là văn hóa dân gian.
-
kết quả: MU-MC là 1-6 Ferguson: 'Đây là ngày kinh khủng nhất cuộc đời tôi'
-
Tối nay, có trận bóng đá ngoại hạng anh giữa Manchester United (MU) và Manchester City (MC) Hấp dẫn Mời anh em cùng dự đoán kết quả Câu hỏi: kết quả trận MU-MC là bao nhiêu Giờ: Dậu Quẻ:Tử - Đại An Kết luận: Kết quả trận MU-MC là 5-1 Ui ui, là Fan MU ra kết quả kinh quá
-
"Kho báu đồng đen" mới phát hiện ở TP. HCM Một số người lúc tập dưỡng sinh tại Công viên Tao Đàn râm ran thông tin về một ngôi cổ tự ở quận Bình Tân, có những cổ vật bằng đồng đen vô cùng giá trị. Người ta rỉ tai nhau rằng những pho tượng bằng thứ kim loại quý hơn vàng ấy là vật báu mà các tổ sư của ngôi cổ tự truyền cho các thế hệ hậu nhân. Có người quả quyết chỉ cần ngắt một mẩu nhỏ trong kho báu thì vị sư trụ trì hiện tại có thể mua hàng trăm lô đất… Nhưng do tiền nhân truyền dặn "không được bán quốc bảo" nên dẫu đang hành đạo tại ngôi chùa cấp 4 xập xệ, vị trụ trì không dám trái lời. Đâu là sự thật? Ông Định, ngụ phường An Lạc (quận Bình Tân) là một trong những người tin chắc chuyện "kho báu đồng đen ở ngôi cổ tự" là có thật. Ông nói: "không có lửa sao có khói", rồi tâm tình: "Tôi biết chuyện báu vật đồng đen này qua một người bạn là phật tử ở chùa. Bạn tôi nói từng được thầy trụ trì cho xem một trong những báu vật là pho tượng cổ bằng chất liệu đồng đen cả ngàn năm tuổi, lên nước bóng loáng. Điều vi diệu là đang lúc mệt mỏi, căng thẳng nhưng khi nhìn thấy pho tượng, mọi ưu phiền trong bạn tan biến, tâm hồn thư thái, tĩnh tại. Thầy Minh Quang bên những mẫu vật tìm thấy trong quá trình đào móng cắm cừ. Hỏi địa chỉ ngôi chùa để đến xem tượng cổ nhưng bạn lắc đầu, bảo thầy trụ trì căn dặn không được tiết lộ vì sợ thông tin lọt ra bên ngoài, bọn xấu biết chuyện sẽ rắp tâm chiếm đoạt". Chắp nối những lời râm ran, đồn thổi, rồi chúng tôi cũng lần ra địa chỉ của ngôi cổ tự được nhiều người rỉ tai đang lưu giữ "kho tượng báu". Bà Huyền, một trong những người rất thích "chuyện lạ có thật" chỉ rõ: "Đó là Minh Quang Tự, ở khu phố 1, phường Tân Tạo, quận Bình Tân". Bà Huyền thở dài nói rằng, biết được chính xác tên và địa chỉ ngôi chùa, bà tìm đến xin thầy trụ trì cho xem nhưng thầy tế nhị khước từ vì sợ nhiều người biết chuyện sẽ ào ạt tìm đến đòi xem gây náo loạn chốn thiền môn. Khi biết ngôi chùa mà thiên hạ râm ran đang ẩn giữ cổ vật là chùa Minh Quang, chúng tôi vội tìm đến, lòng phấn khởi tin rằng sẽ sớm được khám phá bí mật về những pho tượng cổ bằng đồng đen. Vị sư trụ trì là sư ông Minh Quang, có biệt tài bốc mạch kê đơn chuyên khám chữa bệnh cho người nghèo không phân biệt tôn giáo, xuất quán. Khác xa lời đồn, chùa Minh Quang không phải là ngôi cổ tự mà được chính tay thầy Minh Quang kiến tạo vào năm 1992. Chùa nằm sâu trong con hẻm ngoằn ngoèo. "Ngày ấy nơi đây chỉ là khu đất hoang đầy lau sậy, cỏ dại với lắm muỗi mòng, rắn độc. Một tay thầy ôm từng cục đất để đắp chùa, gian nan cực khổ vô cùng" - sư Minh Quang, nhớ lại. - Chùa đang ẩn giữ những pho tượng cổ bằng đồng đen, điều đó có đúng không, thưa thầy? Nghe chúng tôi hỏi thăm về "kho báu", sư ông Minh Quang mỉm cười rồi vào chuyện. Theo lời kể của sư ông, khi đào sâu vào lòng đất, ở độ sâu 3m, thầy tiến hành đóng cừ làm móng và đụng vật cản cứ ngỡ là đá nhưng khi moi lên mới biết đó là chiếc bình tích khắc chữ Tàu dịch tiếng Việt là Minh Mạng Vương. Chiếc bình cao khoảng 11cm, nặng 700gam, màu đồng, khắc cảnh sông nước ôm quanh ngôi cổ tự nằm trên sóng gió lồng lộng, họa tiết đơn sơ nhưng có thần uy, gợi cho người thưởng lãm cảm giác an lành, vững chãi. "Sau khi moi được chiếc bình, thầy tiếp tục đóng cừ và lại đụng chướng ngại vật" - sư ông Minh Quang tiếp tục mạch chuyện: "Đó là cặp gà trống cao 24cm, mỗi con nặng 1,1kg". Dứt lời, sư ông đưa chúng tôi vào chánh điện để diện kiến "báu vật": Đó là cặp gà có đuôi uốn cong như những chiếc lá, dáng đứng ngạo nghễ, ngực ưỡn về phía trước, mắt có thần sắc. Dưới chân mỗi con gà là những đồng tiền với họa tiết sắc sảo, chứng tỏ tay nghề của nghệ nhân rất điêu luyện. Cùng đó là 2 chữ "Sanh tài" bằng chữ Nho. Cặp gà vẫn còn dính những vết tích dưới lòng đất sâu là vệt đất màu bạc. Gà màu đen nhưng những vết trầy trên thân lộ ra những màu vàng, đỏ huyền bí. Sư ông Minh Quang tâm tình: "Thầy sinh năm Ất Dậu, việc gặp cặp gà ứng với năm tuổi nên thầy xem đó như cơ duyên hiếm có trong đời". Cùng với cặp gà, trong quá trình cắm cừ, sư ông Minh Quang còn phát hiện pho tượng Phật cao 12cm, nặng 450gam, ngồi ở thế kiết già, hai tay nâng bình cam lộ, gương mặt thiền định vô ưu, đầu đội lọng là con rắn thần 7 đầu, trên mão có một tượng Phật nhỏ, có 8 vị La Hán làm tòa cho đức Phật ngồi thiền, nhìn như những đài sen. Góc sau của đài tượng là 2 con sư tử ứng với truyền thuyết sư tử hống của đức Phật. Dưới đế tượng Phật đen tróc lộ màu vàng huyền bí. Toàn thân pho tượng gõ nhẹ chỗ nào cũng phát ra âm thanh. Càng gõ lên trên âm thanh càng vang, trong như tiếng chuông. Trong quá trình đào móng cắm cừ, sư ông Minh Quang còn phát hiện những lưỡi tầm sét, những mảnh sứ, gốm vụn vỡ nhưng do thầy không ý thức được đó là "đồ cổ" nên không quan tâm. Thầy tâm tình không nghĩ chiếc bình tích, cặp gà và pho tượng Phật là "báu vật đồng đen", chỉ nghĩ đó là sự trùng phùng ngẫu nhiên, xem đó là kỷ vật gắn bó với chùa Minh Quang như một thuở hàn vi nên cất giữ đến hôm nay. "Không ít người đến tìm hiểu về các pho tượng, nhiều bận thầy cũng định chia sẻ nhưng lại thôi vì không muốn kích thích sự hiếu kỳ, có khi lòng tham của người đời. Chất liệu cặp gà, chiếc bình và pho tượng không phải bằng sắt, thiếc, đồng bởi nếu đúng như vậy thì khi nằm dưới đất sâu các món vật sẽ bị oxy hóa. Có khi đó là tổng hợp của các vật liệu trên!" - sư ông Minh Quang đoán định: "Nhưng nó cũng chẳng phải đồng đen gì đâu bởi trên thực tế, chưa ai thấy đồng đen thật cả. Có thể chất liệu của các pho tượng là tổ hợp của các hợp kim như sắt, đồng, chì, kẽm không chừng". Vietbao
-
Học thuyết thủy hỏa của Hải Thượng Lãn Ông Với Hải Thượng Lãn Ông, y lý của Đông phương với các học thuyết triết học duy vật cổ như âm dương, ngũ hành... được vận dụng vào lĩnh vực y học đã được khai thác một cách sâu sắc và sáng tạo. Tại sao lại gọi là “Học thuyết Thủy hỏa”? Học thuyết thủy hỏa hay còn gọi là học thuyết tâm thận, được Hải Thượng Lãn Ông xây dựng dựa trên cơ sở của các học thuyết âm dương, ngũ hành, tạng tượng của YHCT Đông phương. Với thuyết âm, dương, thủy thuộc nước thuộc âm, hỏa thuộc lửa thuộc dương, với thuyết ngũ hành, thủy hỏa lại là hai hành tương khắc với nhau, với thuyết tạng tượng, hai tạng tâm, thận lại nằm trong phạm vi “ngũ tạng”. Tuy nhiên chúng lại thường xuyên có sự giao nhau trong cuộc sống, hai thứ đó luôn có mối quan hệ hữu cơ, ví như ánh sáng của mặt trời là nguồn gốc tạo ra sức sống của muôn vật, nước thì nuôi sống muôn loài. Cuộc sống không thể thiếu một trong hai thứ đó. Trên cơ sở như vậy, Hải Thượng Lãn Ông lấy sự cân bằng của hai tạng tâm thận trong cơ thể làm gốc với nguyên tắc “Giáng tâm hỏa và ích thận thủy”. Ông cho rằng “Con người cũng như vũ trụ, muốn tồn tại, phải có hỏa”, cái hỏa trong con người trước hết thuộc tạng tâm (quân hỏa), tiếp theo là cái hỏa của thận (tướng hỏa). Hai thứ hỏa này luôn được cân bằng với phần “thủy” của tâm huyết: Phần âm của tâm và thận thủy: thận âm. Hải Thượng cho rằng, bệnh tật phát sinh trong con người là do sự thiên lệch của thủy và hỏa, tức có sự mất cân bằng của hai tạng tâm và thận. Ông cho rằng “chữa bệnh nặng không biết đến thủy, hỏa; chữa bệnh nhẹ không biết đến khí huyết thì chẳng khác chi trèo cây tìm cá”. Hải Thượng Lãn Ông. Vận dụng của thuyết Thủy hỏa! Hải Thượng Lãn Ông cho rằng, đối với người mà chân dương thịnh thì phải bổ âm, người chân âm thịnh thì phải bổ dương; tuy vậy khi bổ âm phải kèm theo vị bổ dương để không ảnh hưởng đến tỳ vị. Thông thường để bổ âm, Hải Thượng khuyên dùng phương lục vị; còn khi bổ nguyên khí củng cố chân hoả của thận thì dùng phương bát vị. Còn người âm dương đều hư thì ông khuyên dùng phương thập toàn đại bổ. Ngoài ra, Hải Thượng đã vận dụng phép biến phương vào hai phương lục vị và bát vị để tạo ra tới hơn 50 phương thuốc khác nhau để trị rất nhiều loại bệnh tật trong cơ thể. Chẳng hạn từ phương “lục vị”, một cổ phương do Trương Trọng Cảnh danh y đời nhà Hán xây dựng, gồm thục địa 8 lạng, phục linh, đan bì, trạch tả, mỗi vị 3 lạng, sơn thù du, hoài sơn, mỗi vị 4 lạng. Các vị luyện mật ong làm hoàn ngày uống 12 -16g, dùng để chữa thận âm hư, tinh khô, huyết kiệt, đau lưng, mỏi gối, hoa mắt ù tai, tiêu khát. Hải Thượng đã gia thêm cúc hoa, kỷ tử mỗi thứ 3 lạng vào phương “lục vị” tạo ra phương Kỷ cúc địa hoàng hoàn, trị thận âm hư gây hoa mắt, thị lực giảm. Cũng với cách làm tương tự, ông gia đương quy, bạch thược, kỷ tử, cúc hoa, thạch quyết minh, bạch tật lê vào Lục vị để có phương Minh mục địa hoàng hoàn, trị mắt khô, quáng gà, giảm thị lực. Đối với cổ phương bát vị hoàn: thục địa 8 lạng, sơn thù du, hoài sơn, mỗi vị 4 lạng, đan bì, trạch tả, phục linh, mỗi vị 3 lạng, phụ tử, nhục quế, mỗi vị 1 lạng. Các vị luyện mật ong làm hoàn ngày uống 12-16g, dùng để bổ thận dương, trị chứng mệnh môn suy, người gầy, lưng gối đau lạnh tiểu không lợi hoặc không kiềm chế được. Tiểu đêm nhiều lần, Hải Thượng đã dùng quế chi thay quế nhục để có phương Kim quỹ thận khí hoàn, trị phù do thận, khí huyết bị ứ trệ. Bát vị hoàn gia ngưu tất, xa tiền thành Tế sinh thận khí hoàn, trị thuỷ thũng, phù nề, bụng đầy trướng. Học thuyết Thủy hỏa của Hải Thượng Lãn Ông không những vừa mang tính sáng tạo, tính thực tiễn mà còn mang tính khoa học của thời đại. GS.TS. Phạm Xuân Sinh
-
Những con vật hai đầu Mặc dù có khiếm khuyết từ khi mới sinh ra nhưng những chú lợn, rùa, rắn hai đầu trông vẫn rất đáng yêu và ngộ nghĩnh.
-
Nghĩa trang hoạn quan duy nhất ở Việt Nam GiadinhNet - Những ngôi mộ cô đơn, lặng lẽ nơi bốn bức tường của nghĩa trang cũng chính là cuộc đời của các hoạn quan khi xưa. Dẫu không có gì là vĩnh cửu và sẽ đi vào quên lãng bởi thời gian nhưng nhìn cảnh tượng 25 nấm mồ của các Thái giám trơ trọi phủ kín rêu phong và ít người lai vãng, vẫn không chút chạnh lòng thầm trách hậu thế đã hững hờ... Những nầm mồ hoang lạnh xanh màu thời gian của các thái giám Cuối đời, các Thái giám triều Nguyễn phải cư trú ở một ngôi nhà phía bắc hoàng thành gọi là Cung Giám viện. Họ không có con nối dõi, do đó không có người chăm lo hương hỏa khi đã chết. Càng trở về già họ càng ý thức rõ về điều đó. Người xưa vốn rất coi trọng nghĩa vụ truyền giống, phê phán, kết tội nặng những kẻ tuyệt chủng: Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại (Có ba điều bất hiếu, lớn nhất là không có con nối dõi tông đường). Vì thế họ bị người đời coi thường, khinh rẻ. Sống với mặc cảm ấy nên họ luôn bị dằn vặt. Đối với tổ tiên, cha mẹ, họ tự coi mình là tội nhân bất hiếu; đối với bản thân, họ không thoát khỏi cái cảnh trăm năm cô đơn, và đến khi nhắm mắt, sẽ trở thành loài ma lang thang, không nơi nương tựa. Vào những đêm trăng đẹp, nhân công việc nhàn rỗi, các Thái giám trải chiếu ngồi trò chuyện với nhau. Câu chuyện của họ trở nên rầu rĩ, thê lương; "là chim thì phải biết bay, qua chiều mới tới tối; là ngựa là phải có bờm, cơn gió thì ắt có trái mùa". Đó là quy luật tự nhiên. Còn các Thái giám triều Nguyễn sau khi chết không có người chăm lo, thờ tự. Họ khóc và nước mắt cứ thế tuôn rơi. Thế là họ cùng tìm cách giải quyết. Các Thái giám chọn chùa Từ Hiếu làm nơi lo hậu sự cho mình. Chùa Từ Hiếu nằm ở thôn Dương Xuân Thượng II (xã Thủy Xuân, TP Huế, Thừa Thiên - Huế), là ngôi chùa cổ vào loại đẹp bậc nhất xứ Huế. Cổng chùa Từ Hiếu Phía trước chùa có dòng suối nhỏ chảy róc rách, núi Ngự Bình trấn phía Đông Nam, phía Tây Bắc có dòng sông Hương uốn quanh. Chùa được dựng năm 1841 do nhà sư Nhất Định làm trụ trì. Các Thái giám triều Nguyễn cùng nhau quyên góp tiền bạc, ruộng đất để tôn tạo, mở rộng chùa Từ Hiếu. Ngoài cúng tiền bạc, ruộng đất vào chùa, họ còn soạn văn, khắc bia chùa và cúng tiền câu đối. Bên cạnh đó các Thái giám triều Nguyễn còn thu hút nhiều khoản công đức khác cúng dâng chùa từ triều đình như Vua, Hoàng thái hậu... Từ đây chùa Từ Hiếu là nơi lo nhang đèn cho họ khi chết, khi sống họ có thể đi lánh mình, ra vào có bầu bạn tâm sự, ốm đau có thể chăm sóc lẫn nhau, chết và táng được đưa tiễn cùng nhau. Cũng từ đây người ta gọi chùa Từ Hiếu là chùa Thái giám, và đây cũng là nghĩa trang Thái giám duy nhất của Viêt Nam. Cách ngôi chính điện của chùa Từ Hiếu khoảng 50 m về phía bên trái là khu mộ của Thái giám triều Nguyễn. Số mộ đếm được là 23 ngôi, có 2 ngôi mộ gió chưa có Thái giám được chôn. Trong đó, 21 ngôi còn nguyên vẹn, có bia khắc tên tuổi, quê quán, pháp danh, chức vụ và ngày mất. Rõ ràng nhất là bia số 22 (ở dãy trong cùng) có khắc: Hoàng triều Cung Giám viện, quảng vụ Nguyễn Hầu, người ở thôn Nhi, xã Hoàng Công, tổng Hoàng Công, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội. Mất ngày 15 tháng giêng năm Khải Định thứ V (1920). Các thái giám phục vụ trong Đại nội. Ảnh chụp lại từ ảnh sưu tập của nhà nghiên cứu Phan Thuận An Các ngôi mộ có 3 dãy, hàng thứ nhất mộ to, hàng thứ ba mộ nhỏ hơn hàng thứ hai vì được xếp theo chức vụ của quan Thái giám xưa. Những ngôi mộ này được bao bọc bởi một dãy tường rào cao 1,78 m, dài 26,3 m, rộng 19,5 m với kiến trúc la thành hình chữ nhật bao ôm xung quang diện tích 1.000 m². Cổng chính giữa có đặt một tấm bia đá được dựng từ năm 1901 do Cao Xuân Dục soạn, ghi lại những tâm sự của Thái giám triều Nguyễn: "Trong khi sống chúng tôi tìm thấy ở đây sự yên lặng, khi đau ốm chúng tôi đến lánh mình và sau khi chết được an táng cùng nhau. Sống hay chết ở đây chúng tôi đều được yên tĩnh”. Ngày giỗ chung cho các Thái giám triều Nguyễn là vào ngày rằm tháng 11 hàng năm. Nhưng có một điều đặc biệt là dù các ngôi mộ vẫn đứng đó bao nhiêu năm tháng theo sự biến đổi của thời gian nhưng rất ít người biết đến sự tồn tại của nghĩa trang này, các ngôi mộ rêu phong phủ kín, không gian vắng lặng không một bóng người qua lại. Mặc dù nằm trong khuôn viên chùa Từ Hiều nhưng khách thập phương chỉ quan tâm đến cúng bái, hành hương và không ai để ý đến các ngôi mộ này. Theo trụ trì bây giờ của chùa Từ Hiếu cho biết, nếu không có các sư của chùa quét dọn và hương khói thì chắc các ngôi mộ này đã bị hủy hoại theo thời gian rồi. Những ngôi mộ mang số kiếp cô đơn, lặng lẽ nơi bốn bức tường của nghĩa trang này cũng chính là cuộc đời của các hoạn quan khi xưa. Đình Văn
-
Bổ sung thêm ít hình ảnh bên trong và thông tin để mọi người cùng tham luận về ngôi nhà này ================================================================================ Ngôi nhà tỷ đô của tỷ phú Ấn Độ Tòa nhà Antilia là ngôi nhà đắt nhất hành tinh và rộng hơn cung điện của vua Louis XIV ở Versailles, nội thất lộng lẫybên trong chỉ có những bậc vương giả mới có Ngôi nhà có tên là Antilia, là tài sản của nhà tỷ phú gốc Mumbai Mukesh Ambani, người đứng đầu tập đoàn dầu khí khổng lồ Reliance Industries. Theo ước tính, giá của nó trên một tỷ đô, nhiều người cho rằng nó là ngôi nhà đắt nhất hành tinh. Ngôi nhà cao tầng này nhìn xuống các khu ổ chuột bám xung quanh, có một rạp chiếu phim, các bể bơi, một sân đáp trực thăng và được đặt tên là Antilia, lấy tên từ một hòn đảo huyền bí ở Đại Tây Dương. Căn nhà được thiết kế bởi 2 công ty kiến trúc là Perkins + Will có trụ sở tại Dallas và công ty Hirsch Bedner Associates ở Los Angeles. Sau khi hoàn thành nó cao khoảng 525 feet ( tương đương 160m) và diện tích trong nội thất vào khoảng 121.920 m2. Antilla được xây dựng dựa trên thuật Vaastu truyền thống của người Ấn Độ (cũng tương tự như thuật Phong Thuỷ của nguời Trung Quốc. Toàn cảnh tòa nhà Căn nhà cao 27 tầng này có thiết kế sử dụng vật liệu chủ yếu là kính với đầy đủ rạp chiếu phim với sức chứa 50 người, câu lạc bộ chăm sóc sức khoẻ với bể bơi cùng đầy đủ các dụng cụ tập luyện, 3 sân đỗ trực thăng, 9 thang máy tốc độ cao, 6 tầng dành cho nơi để xe với sức chứa 168 ô tô, 4 tầng giành cho không gian xanh với nhiều loại cây quý hiếm… Ngôi nhà của Ambani còn được cho là rộng hơn cung điện của vua Louis XIV ở Versailles, nội thất của căn nhà cũng được chau chuốt với những đồ đạc chỉ dùng cho các bậc vương giả. Tiền sảnh Từ tiền sảnh người ta đếm được chín chiếc thang máy: Hai chiếc dành riêng cho khu vực gara, ba chiếc dành cho khách, hai chiếc dành riêng cho gia đình Ambani và hai chiếc nữa dành cho nhân viên phục vụ và các dịch vụ khác. Từ đây có các lối vào các quán bar, khu vực tiếp tân và phòng trang điểm. Hai chiếc cầu thang dẫn từ tiền sảnh xuống khu phòng chiêu đãi, được thiết kế trong một không gian mở có chiều cao của hai tầng. Phòng chiêu đãi Điểm nổi bật nhất của căn phòng này là bộ đèn trần pha lê, nó chiếm đến gần 80 % diện tích của trần. Các bậc tam cấp bằng bạc dẫn lên khu tầng lửng, phía sau hai cánh cửa là phòng trưng bày các kiệt tác nghệ thuật mà ông sưu tầm được. Ngoài ra còn có một sân khấu nhỏ để phục vụ giải trí hoặc cho ai đó muốn phát biểu với một màn chiếu phía sau. Một khu nhà bếp có kích thước không kém gì chính căn phòng có thể phục vụ hàng trăm thực khách cùng lúc. Phòng tắm Một trong những chủ đề thiết kế chủ yếu của Antilla là sự kết hợp của các tính năng xa hoa hiện đại với các phong cách thuần Ấn. Như chiếc bồn rửa hình lá Gingko này là một ví dụ điển hình. Chiếc lá này có nguồn gốc Ấn Độ, và những chiếc bồn hình lá được cấu tạo sao cho nước được chảy theo các cuống lá và đổ vào bể chứa được tạo bởi các giỏ lá. Khu Truyền thống Những chiếc thảm truyền thống, những chiếc gương cùng với các bộ đèn chùm tạo nên một không gian tĩnh lặng cho gia đình và những vị khách quý của Reliance Industries. Khu sinh hoạt chung như thế này không phải là duy nhất trong ngôi nhà. Khu Hiện đại Các không gian trong nhà này đều được sử dụng các vật liệu hoàn thiện hoàn toàn khác nhau, tránh sự lặp lại giữa các tầng dễ gây cảm giác nhàm chán. Ý tưởng trộn các không gian vào nhau, tạo nên cảm giác liên tục và đồng nhất giữa các khu nhưng thực ra lại là một cách để biểu thị rõ sự khác nhau của chúng. Các đồ nội thất, sàn nhà và các đường nét trang trí đậm nét trong phòng này mang đậm tính tối giản (minimalism) hơn các khu vực khác trong toà nhà. Tầng giải trí Các rạp hát tại gia hiện nay rất phổ biến trong cuộc sống hiện đại, nhưng thông thường đó chỉ là một màn LCD hay plasma cỡ lớn với một bộ âm thanh 5.1 và dăm chiếc ghế xinh xắn. Ở đây Ambani cho xây hẳn một rạp chiếu phim cỡ lớn gần hết diện tích của tầng với đầy đủ trang thiết bị như Skywalker Ranch của đạo diễn Star War George Lucas hay Portabello Estate của Frank Pritt’s. Bên ngoài còn có một phòng rượu, một quầy snack bar và không gian giải trí, bao gồm cả những chiếc đi văng và bàn ăn. Tầng chăm sóc sức khoẻ Một khu trị liệu bao gồm bể bơi ngoài trời có view nhìn ra thành phố và bể sục Jacuzzi trong nhà để chăm sóc sức khoẻ cho cả gia đình. Ngoài ra tầng này còn có một phòng tập, phòng Yoga, phòng học khiêu vũ và khu tắm nắng. Đặc biệt còn có một phòng làm mưa tuyết nhân tạo để làm dịu bớt cái nóng nhiệt đới trong những ngày hè oi bức. Garage Sáu tầng đầu tiên của ngôi nhà được dành làm chỗ đỗ xe cho gia đình Ambani, các vị khách và người phục vụ. Những khu vườn treo nho nhỏ được bố trí bên ngoài các tầng này, ngoài nhiệm vụ làm đẹp còn có tác dụng mát cho bên trong còn một ý nghĩa lớn hơn là cung cấp thêm ô xy cho khu vực chỉ toàn khí thải cacbonic và dầu máy này. Các cây trồng này được lựa chọn là những cây sống được trong môi trường nước dinh dưỡng mà không cần đất nhằm hạn chế ô nhiễm cho môi trường phía ngoài. http://camnangxaydung.wordpress.com/2011
-
Nhân ngày 20-10 này, YPN mới nhận ra rằng các chị em phụ nữ nói chung là hơn các đấng mày râu. Lý do: là đã biết lập Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt nam từ ngày 20-10-1930 (ghê chưa) Đến này đã trải qua 71 năm kinh nghiệm. Kính nể và chúc các chị em khỏe và trẻ như có gái hà lan
-
“Gà chín cựa” nhởn nhơ giữa Thủ đô Chúng tôi lò dò đến nhà Quang Lâm ở phố Quán Thánh và đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi tận mắt được chứng kiến đôi "gà chín cựa" đang phởn phơ bới đất tìm giun trên mảnh vườn nhỏ... Nhắc đến "gà chín cựa", chúng ta thường nghĩ đến một sản vật tưởng chừng chỉ có trong truyền thuyết thuở Hùng Vương. Bất ngờ, gần đây, chúng tôi đã được chứng kiến tận mắt "hậu duệ" của những con gà chín cựa đang được nuôi dưỡng trong những ngôi nhà bê tông giữa lòng Hà Nội. Gà chín cựa "hạ sơn" Ngày cuối tuần, diễn viên Quang Lâm (người đóng vai Lường trong phim “Ma làng”, vai Quých thịt trâu trong “Gió làng Kình”) bỗng nhiên gọi điện cho chúng tôi để khoe về một đôi gà chín cựa - loại gà được biết đến lần đầu tiên trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh khi vua Hùng Vương thứ 18 kén chồng cho Mỵ Nương công chúa. Diễn viên Quang Lâm với con gà trống bảy cựa mang về từ Xuân Sơn Bán tin bán nghi, chúng tôi lò dò đến nhà Quang Lâm ở phố Quán Thánh và đã đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi tận mắt được chứng kiến đôi gà chín cựa đang phởn phơ bới đất tìm giun trên mảnh vườn nhỏ nằm tít trên tầng thượng ngôi nhà 5 tầng của gã diễn viên mặt đỏ. Thích thú trước sự ngạc nhiên của tôi, Quang Lâm hào hứng kể lại cơ may mua được đôi gà quý ở một bản người Dao nằm tít ở nơi tận cùng vùng cao Tân Sơn, Phú Thọ. "Vào dịp tháng 5 vừa qua, đoàn chúng tôi phải đi thực hiện một số cảnh quay cho bộ phim mới ở khu vực Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Trong thời gian "đóng quân" tại đó, anh em thường mò vào khu vực làng bản của người Dao để mua gà về thịt ăn. Trong một lần như vậy, chúng tôi được một người đàn ông bản xứ bán cho mấy con gà rất lạ. Chân của những con gà này có đến sáu cựa và giá cũng đắt hơn gấp gần 3 lần so với loại gà bình thường. Thế nhưng khi luộc lên thịt gà ăn rất ngon, ngon hơn cả giống gà ta ở dưới xuôi. Tò mò tìm hiểu thì được người dân cho biết, đây chính là giống gà chín cựa được nhắc đến trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh mà Vua Hùng thứ 18 đã đưa ra thách cưới kén chồng cho công chúa Mỵ Nương". Theo anh Lâm thì chiếc cựa thứ tám ở chân con gà có thể sẽ chồi ra trong ít ngày nữa Đôi gà mà diễn viên Quang Lâm mua được có bảy cựa, tức là còn ít hơn hai cựa so với loại gà được nhắc đến trong truyền thuyết. Vừa ôm con gà quý giới thiệu với tôi, anh Lâm vừa chắt lưỡi tiếc nuối vì không thể tìm nổi một con gà chín cựa hay tám cựa nào ở các bản người Dao. Anh bảo: "Tôi nghe người bản xứ nói là cả Xuân Sơn cũng chỉ còn 1 - 2 con gà đủ chín cựa đang được nuôi dưỡng ở một nơi bí mật trong Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Thế nhưng tôi cùng mấy người bạn đã vào đó hỏi mãi mà cũng chưa có được chút manh mối nào. Có lẽ những vị "vua gà" đó giờ chỉ còn tồn tại trong truyền thuyết mà thôi". Từ ngày mua được đôi gà quý, Quang Lâm bỏ công bỏ sức xây dựng hẳn một khu vực chuồng trại để nuôi gà ở trên tầng 5 ngôi nhà của anh mới xây ở phố Quán Thánh. Dù đã được những người bán cảnh báo về độ hung dữ của đôi gà nhiều cựa nhưng anh Lâm chỉ thực sự thấm thía khi con gà trống bảy cựa phi như tên bắn đuổi con gà chọi của anh chạy chối chết quanh sân. Bình thường, anh Lâm vẫn bê một chậu cát lớn lên cho gà tắm. Thế nhưng từ khi đôi gà bảy cựa hạ sơn, chúng đã chiếm luôn chậu cát đó và đe dọa tất cả những con gà nào dám tới gần. Chính vì thế, anh Lâm đã phải nhốt riêng những kẻ "côn đồ" này để đảm bảo an toàn cho cả đàn gà chọi lẫn gà ta mà anh kỳ công nuôi nấng lâu nay. Hàng ngày, cứ về đến nhà là diễn viên Quang Lâm lại mê mải với đôi gà quý. Dù rất bận rộn với những bộ phim đang quay nhưng anh vẫn dành thời gian ra chợ mua bã cua và đầu cá về trộn vào cám cho chúng ăn. Được cái, đôi gà ăn rất khỏe, hạt ngô to thế chúng cũng có thể nuốt chửng được dễ dàng. Với sự chăm sóc công phu của mình, anh Lâm hồ hởi khoe: "Trong số những người cùng đoàn mua gà nhiều cựa về nuôi thì đôi gà của tôi là lớn nhanh nhất. Chỉ trong vòng 4 tháng, chúng đã tăng trưởng đến hơn 2 kg. Đạo diễn Triệu Tuấn cũng mua một đôi về nuôi và đã ấp nở thành công được một lứa gà con. Đáng tiếc là do không rào chắn cẩn thận nên đàn gà con đã bị chuột ăn mất. Đôi gà của tôi cũng đã đẻ trứng một lần nhưng do vào đợt nắng nóng nên đã bị ung mất. Tôi hy vọng sẽ nhân giống được một đàn gà nhiều cựa có thể sống khỏe với thời tiết Thủ đô để có sản vật quý dành tặng bạn bè". Để tạo một không gian gần gũi với tự nhiên cho đôi gà bảy cựa, Quang Lâm đã kì công trộn đất với mùn và giun rồi đổ ra một góc "vườn treo" cho chúng bới. Mấy ngày qua, trời mưa dầm dề, anh lại chẳng quản gió bão lọ mọ xuống tận đường Trường Chinh mua thuốc nhỏ mũi cho... gà để chống cúm. Ngẫm ra nghề chơi nào cũng lắm công phu! Tìm về cội nguồn truyền thuyết Bị hấp dẫn bởi câu chuyện của gã "ma làng" Quang Lâm, chúng tôi đã tìm lên bản Cỏi, Xuân Sơn - xã xa xôi hẻo lánh nhất của huyện Tân Sơn (Phú Thọ). Xuân Sơn có 4 bản thì bản Cỏi là bản tập trung nhiều gà chín cựa nhất và cũng chính là nơi phát tích giống gà quý này. Ở Xuân Sơn giờ chỉ còn có thể tìm thấy những con gà 7 cựa, gà 8 cựa và 9 cựa đã gần như tuyệt chủng Đón những người khách lạ, ông Chủ tịch UBND xã Bàn Xuân Lâm trịnh trọng kể lại cho chúng tôi nghe câu chuyện nhuốm đầy màu sắc huyền bí về nguồn gốc của loại gà vua này. Theo lời ông Lâm thì mấy chục năm trước, có ông Lý Phúc Lâm - một người dân ở bản Cỏi - đi lấy rễ cây ăn trầu trong rừng mang xuống chợ thị trấn bán. Bán cả ngày trời chẳng có ai đến hỏi mua. Đến chiều muộn, có một bà lão đến đổi một con gà mái lấy toàn bộ số rễ cây. Chuyện trò qua lại, bà lão nói rằng bà ở xóm Lèn bên mãi Tân Sơn. Ông Lý Phúc Lâm mang con gà mái về nuôi. Con gà này đẻ trứng và ấp nở được hai con gà con, kỳ lạ là cả hai con đều có chín cựa. Sau đấy giống gà này được nhân rộng ra cả xóm. Trải qua hàng chục năm, gà chín cựa vẫn phát triển và sinh sôi nhiều ở Xuân Sơn. Theo ông Lý Phúc Lâm, để cho đúng thì nên gọi là gà nhiều cựa, bởi loại gà này không chỉ chín cựa mà nhiều con chỉ có sáu, bảy hoặc tám cựa. "Gà càng nhiều cựa càng khó nuôi lúc nhỏ bởi nó hay bị chết vì vướng chân vào các rễ cây dây dợ dọc đường. Thường một lứa gà, để nuôi đến lúc trưởng thành mà được hai, ba con cũng đã là thành công. Khi đã trưởng thành việc nuôi rất nhàn bởi gà nhiều cựa tính tự lập rất cao, nhiều khi chúng theo đàn đi lên núi kiếm ăn mấy ngày mới trở về". Cũng chính vì gà chín cựa khó nuôi, tăng trưởng chậm, sản lượng ít nên nhiều gia đình đã tính chuyện… đem thịt hết để nuôi gà thường cho năng suất. Thậm chí bà con nói với nhau rằng, nuôi con gì to to như con trâu con bò còn có lãi, chứ nuôi con gà… thì nhỏ quá. Vậy là nhà nhà thi nhau ăn thịt… gà chín cựa. Kết quả là cả xóm Cỏi chẳng còn con gà chín cựa nào, gà tám cựa, bảy cựa chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Tá hỏa, ông Trần Đăng Lâu - Giám đốc Vườn Quốc gia Xuân Sơn lúc đó - liền lặn lội leo ngược mấy cây số đường rừng vào tận những bản làng xa tun hút ấy để… cứu gà. Ông mua tất tật đem về cho anh em cho anh em ở Vườn Quốc gia chăm nuôi. Mỗi người phải nuôi ít nhất một con gà. Từ Giám đốc cho đến nhân viên, tất cả bốn mươi người. Qua giai đoạn khó khăn ấy, giống gà chín cựa ngày càng được coi trọng. Hiện nay, giá gà chín cựa ngày bình thường đã trên 200.000đ/kg, còn dịp cuối năm, Tết nhất lễ lạt thì dứt khoát không dưới 300.000đ/kg. Ở Xuân Sơn, một con gà chín cựa có giá bán trên một triệu không phải là chuyện lạ. Thậm chí con gà trên 5kg của ông Lý Phúc Lâm ngày trước đã có người đã có người trả trên 2 triệu nhưng ông Lâm vẫn không bán. Với những nỗ lực của các cá nhân và bà con thôn bản, năm 2008 tin vui đã đến với Xuân Sơn khi các chuyên gia Đan Mạnh đã quyết định đến tìm hiểu và đầu tư bảo tồn giống gà quý này. Dân bản vui như hội khi mà gà chín cựa đã trở thành một phép màu từ trong truyền thuyết giúp người dân nơi đây thoát khỏi đói nghèo. Đôi gà mà diễn viên Quang Lâm mua được có bảy cựa, tức là còn ít hơn hai cựa so với loại gà được nhắc đến trong truyền thuyết. Vừa ôm con gà quý giới thiệu với tôi, anh Lâm vừa chắt lưỡi tiếc nuối vì không thể tìm nổi một con gà chín cựa hay tám cựa nào ở các bản người Dao. "Tôi nghe người bản xứ nói là cả Xuân Sơn cũng chỉ còn 1 - 2 con gà đủ chín cựa đang được nuôi dưỡng ở một nơi bí mật trong Vườn Quốc gia Xuân Sơn. Thế nhưng tôi cùng mấy người bạn đã vào đó hỏi mãi mà cũng chưa có được chút manh mối nào.” (Theo Phụ nữ Thủ đô) ================================= Vậy không biết có voi 9 ngà không nhỉ?
-
Vợ kiểu nào mới đáng sợ? SGTT.VN - Câu hỏi này đúng ra chỉ nên thầm thì cùng nhau, nhưng nhân ngày Phụ nữ Việt Nam (20.10), xin được mang ra Bàn tròn bàn tán như một thông điệp đầy ẩn ý gửi tới giới chị em! Trong nhiều nỗi sợ trừu tượng như sợ ma, sợ độ cao, sợ tiếng cạo nứa… thì sợ vợ là cụ thể rõ ràng nhất. Nhưng vì sao sợ? Sợ ma dù không thấy con ma nó ra sao, do tưởng tượng mà ra thì cũng được đi, nhưng cô vợ đẹp lộng lẫy thế kia, hiền thục thế kia mà ta cứ sợ là thế nào nhỉ? Chẳng qua cái sợ ấy trước tiên nó tố cáo chính ta, những mày râu thường phạm luật, phạm lỗi nhất chứ còn gì nữa. Cái lỗi thường phạm đầu tiên của những năm son trẻ là quần áo bừa bãi, cứ bày cho vợ dọn dẹp. Lý do đưa ra: ta là trụ cột, bận đi kiếm tiền, sợ vợ cằn nhằn, sợ vợ giận dỗi tối ngủ quay lưng vào tường thì hỏng bét. Cái sợ ấy xem ra cũng dễ thương. Đến tuổi sồn sồn lại sợ vợ vụ khác. Nhậu nhẹt là lý do thường gặp nhất. Quý ông bia bọt tưng bừng về nhà khuya khoắt hay quần áo nhếch nhác (chưa nói có dấu son phấn hay mùi nước hoa lạ) thì sợ càng chí phải. Bà vợ hiền lành thì chỉ giận, im lặng hay thút thít một mình. Bà vợ hung dữ thì xong. Cả xóm lại mất ngủ vì tiếng chửi chồng! Nhân chuyện quý bà dữ dằn xin lưu ý điều này: cái gì cũng thành quen hết. Chửi mãi anh chồng cũng quen nghe chửi. Hắn lờn thuốc, từ lờn thuốc hắn sẽ… so sánh với vợ người khác, tệ hại hơn hắn sẽ sa vào tay một cô gái trẻ nào đấy dịu dàng hơn, trẻ trung hơn. “Bạo lực” không phải lúc nào cũng chiến thắng, đối phương tức anh chồng dần biết cách phòng ngự hay… đánh lạc hướng là chuyện thường tình. Hiếm hoi mới có một vụ dù sợ vợ hơn sợ trời nhưng ông chồng này lại là người thật thà. Ông thường nói với bạn bè thích ép ông uống nhiều để “say thì chả sợ ai” rằng không phải như thế! Ông bảo “uống ít tôi chỉ thấy một bà ấy, say xỉn nhìn ra tới hai, ba bà thì nỗi sợ… tăng gấp mấy lần, hãi lắm!” Hôm làm đám cưới cho con trai, ông cũng chân thành thưa với quan khách hàng chục năm nay, đây là lần đầu tiên ông được uống rượu bia quá 8 giờ tối mà không phải chào anh em, bạn bè về nhà như quy định của bà xã. Ông cảm ơn rồi mới… nâng ly tiếp. Chuyện thật 100% mà người viết vừa chứng kiến. Sợ vợ tốt hay không tốt tuỳ theo quan niệm sống. Như anh bạn nọ mỗi khi có ai hỏi “Có sợ vợ không?”, luôn chắc nịch “Không! Vì vợ tôi dặn ra đường ai hỏi cứ trả lời như thế!” Nghe lời vợ là an toàn số một cho hạnh phúc gia đình. Trường hợp vừa nêu cam đoan gia đình ấy rất hạnh phúc. Vợ dữ đáng sợ hay vợ hiền đáng cho ta sợ? Quan điểm riêng của người viết là “vợ hiền” đáng cho ta sợ nhất. Vợ hiền không mắng, không chửi, không tạt axit ai, vợ hiền chỉ… ngồi khóc một mình mỗi khi ta sai. Mà phụ nữ khóc thì thép cũng chảy, huống chi trái tim ta không phải thép. Đỗ Trung Quân
-
Phát hiện rắn 5 đầu ở Ấn Độ Một con rắn có tới 5 đầu vừa được phát hiện ở gần ngôi đền Kukke Subramanya, làng Subramanya, thuộc Karnataka (Ấn Độ). Ngôi đền nơi phát hiện ra con rắn kỳ dị này là một địa điểm hành hương nổi tiếng ở Ấn Độ. Ngôi đền thuộc làng Subramanya, bang Karnataka (Ấn Độ), cách Mangalore khoảng 105 km. Theo Bưu Điện Việt Nam
-
Hội Khoa học xã hội (KHXH) Thượng Hải đang vận động để bộ môn phong thủy được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể ở Trung Quốc. Ảnh một ngôi nhà được giới thiệu trên trang web của Viện hàn lâm Phong thủy quốc tế ở Đức (Ảnh: TTO) Giáo sư Yu Xixian, một người ủng hộ việc làm của Hội KHXH Thượng Hải, cho rằng “phong thủy là một hệ thống đánh giá môi trường dựa trên triết lý cổ nên phải được xem là một bộ phận quan trọng của văn hóa truyền thống Trung Hoa”. Một nhà nghiên cứu họ Tao cho biết Hàn Quốc, Nhật Bản cũng đã lên kế hoạch xin Liên Hiệp Quốc công nhận môn phong thủy nên Trung Quốc muốn nhanh chân hơn. Một cuộc khảo sát đã được mở ra ở địa chỉ Sohu.com, một trong những trang web lớn ở Trung Quốc, cho thấy 80% người được khảo sát ủng hộ việc này, 16% cho đây chẳng qua chỉ là một sản phẩm của mê tín dị đoan nhằm kiếm tiền. Ông Zhang Liangren, phó chủ tịch Hội KHXH Thượng Hải, nói nhóm của ông gồm 25 học giả đang nghiên cứu phong thủy và họ sẽ không bỏ cuộc để có thể khôi phục danh tiếng cho phong thủy. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn hiện nay là Thượng Hải không phải cái nôi của phong thủy để có thể nộp đơn xin công nhận, nhưng quan trọng nhất là chưa tìm ra được một đại diện thích hợp nào mặc dù phong thủy đã được hồi sinh ở Trung Quốc những năm gần đây. “Hầu hết giáo sư nghiên cứu phong thủy đều đã bước vào tuổi cổ lai hi nên chúng tôi rất lo lắng cho tương lai của bộ môn khoa học có thật và hữu ích này. Đó là lý do vì sao tôi nghiên cứu bộ môn này dù đã 63 tuổi” - ông Zhang bày tỏ. TH.TÙNG Theo Tuổi trẻ ================================================= Trung Quốc muốn phong thủy được công nhận là di sản phi văn hóa. Có nghĩa là trên thế giới này phong thủy là của china . Hiz hiz, còn ở Việt Nam đa số mọi người xem Phong thủy là gì ? có lẽ là mê tín
-
Độc đáo trò chơi 'cờ chiến tranh' của Việt Nam (ĐVO) Đây là trò chơi cờ hoàn toàn "made in Vietnam" với quân cờ là các khí cụ chiến tranh hiện đại như máy bay, xe tăng, tên lửa, tàu chiến… Mới đây, Viện Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (Hà Nội) đã tiếp nhận nhiều hiện vật mới, trong đó có một hiện vật hết rất độc đáo là bộ cờ Tư lệnh. Trờ chơi cờ Tư lệnh (tên khác là cờ Chiến) là một sáng tạo của Đại tá - nhà văn Nguyễn Quý Hải, người từng là tiểu đoàn trưởng pháo 130mm trong chiến dịch tiến công Quảng Trị năm 1972. Sản phẩm trí tuệ này đã được công nhận bản quyền ở Việt Nam vào năm 2010. Trong cờ Tư lệnh, các quân cờ không phải những hình tượng quen thuộc như mã, tốt, sĩ tượng… mà là các khí cụ chiến tranh hiện đại như máy bay, xe tăng, tên lửa, tàu chiến… Quân cờ cao nhất là Tư lệnh, tương tương với Vua trong cờ vua hay Tướng trong cờ tướng. Bởi vậy mới có tên gọi là cờ Tư lệnh. Một bộ quân cờ tư lệnh có 38 quân (19 quân đỏ, 19 quân xanh). Trên đây là một số quân cờ. Ảnh: Trang web của Đại tá Nguyễn Quý Hải. Theo đại tá Nguyễn Quý Hải, cờ Tư lệnh là một bộ cờ mang tính mở. Các quân cờ đều có thể đi thẳng, đi tiến, đi ngang, đi lui, tung hoành dọc ngang. Mỗi quân cờ lại có đặc điểm riêng trong nước đi của mình. Ví dụ, quân pháo binh, không quân được đi và ăn quân đối phương vượt qua khối chắn; được đi chéo ăn chéo như quân tượng (trong cờ tướng) nhưng khác quân tượng là không bị ghìm chân ở bên này chiến tuyến. Quân cao xạ, tên lửa tạo ra được vòng đai hỏa lực trên không mà quân máy bay của đối phương không thể qua. Vì vậy, để máy bay phát huy hỏa lực oanh kích vào các mục tiêu đối phương thì phải tìm mọi cách tiêu diệt được cao xạ và tên lửa… Một điểm độc đáo là bàn cờ Tư lệnh có cả vùng biển, lục địa, sông nước, lực lượng tham chiến có đủ cả hải, lục, không quân và phòng không nên cách chơi rất gần gũi với phương thức huy động sức mạnh tổng hợp trong chiến tranh hiện đại. Cách bố trí quân trên bàn cờ Tư lệnh. Cờ Tư lệnh có hai kiểu chơi là chơi giàn quân theo mẫu hoặc chơi nâng cao. Trong kiểu chơi nâng cao, quân có thể bố trí theo chiến thuật riêng và giấu thế bố trí cho đến lúc bắt đầu cuộc chơi. Cũng như cờ vua, cờ tướng, người chơi sẽ thua nếu bị mất quân Tư lệnh. Điều này xuất phát từ thực tế trong chiến tranh, ở từng trận đánh, chiến dịch, tư lệnh là người chỉ huy trực tiếp, có vai trò quyết định với cuộc chiến. Ngoài ra, còn có cách chơi tính điểm, chấp nước cờ, chấp quân cờ, chấp thế cờ. Với tính mở cùa trò chơi, người chơi thành thạo có thể đúc kết kinh nghiệm và sáng tạo các thế, nước cờ hay. Có thể vận dụng nhiều chiến thuật khác nhau như phòng ngự phản công, tấn công; đánh chính diện hay đánh vu hồi, đánh thọc sâu vào nơi hiểm yếu. Đại tá Nguyễn Quý Hải nhận định: Cờ Tư lệnh vừa mang tính giải trí, vừa mang tính trí tuệ, vừa thư giãn vừa hình thành cho người chơi biết cách tổ chức sử dụng lực lượng hiệu quả tốn ít quân mà giành được thắng lợi. Tác giả bộ cờ Tư lệnh mong muốn bộ cờ sẽ được cộng đồng chấp nhận, tạo nên một sân chơi lành mạnh mang tính thuần Việt, góp phần xây dựng khả năng tư duy, bản lĩnh chỉ huy cho giới trẻ, đặc biệt là những người phục vụ trong quân đội.
-
Cười vỡ bụng với biển báo... gợi 'chỗ hiểm' của người Cầu Xẻo Bướm, Khe Bướm, Tắt Bướm, cầu Cu, cầu Ồ Ồ, đèo Cù Mông... là những biển báo địa danh khiến bất kỳ người nào vừa nghe tên, trông thấy... phải bật cười sảng khoái. Cầu Xẻo Bướm thuộc địa giới xã Đông Thái, tỉnh Kiên Giang, trên đường đi Cà Mau. Tương truyền, cây cầu được dân làng chung quanh hai bên đặt tên Xẻo Bướm nhằm nhắc nhở các cô gái sau này hãy bớt chơi bời sa đọa... Bởi xưa kia, có một gia đình gồm cha già và con gái đang tuổi cập kê sống ở một xóm nghèo bên này cầu - vùng nghèo khó và không có gì vui chơi giải trí; còn ngược lại với bên kia cầu là nơi đông đúc, nhộn nhịp với những màn vui đùa hấp dẫn của các cô cậu nam thanh nữ tú. Cô gái hàng đêm đã trốn cha sang đấy vui chơi thâu đêm suốt sáng, dù người cha đã cố sức ngăn cản để hạn chế con gái yêu của mình, nhưng cô vẫn chứng nào tật đó. Một hôm, người cha quá tức giận, mới phán: "Mày còn sang đấy chơi nữa là tao sẽ xẻo .... mày...". Cô gái nghe vậy, sợ quá và trốn biệt sang bên kia cầu vui chơi, rồi ở lại đó luôn, chẳng dám trở về nữa, khiến người cha ngày đêm trông ngóng và sau đó, chết dần mòn... Tuy nhiên, theo người dân địa phương, địa danh này bắt nguồn từ cây cầu bắc qua con xẻo có tên Bướm. Cầu Khe Bướm thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cầu Tắt Bướm ở Sóc Trăng. Cầu Cu nằm trên địa giới Quốc lộ 32A - là tuyến đường đi qua 4 tỉnh và thành phố: Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Lai Châu. Toàn tuyến dài 417 km. Cầu Ồ Ồ nằm trên quốc lộ 1A đoạn qua huyện Vạn Ninh (Khánh Hòa). Đèo Cù Mông nằm trên Quốc lộ 1A, là một trong những đèo núi hiểm trở nhất Việt Nam; là ranh giới của 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên. Đèo dài 7 km, từ km 1.243 đến km 1.250, độ cao của đỉnh đèo là 245 m, độ dốc 9%. Về địa lý, đèo là tuyến đường bộ đi qua một trong những nhánh đâm ra biển của dãy Trường Sơn Nam. Trước đây, khi chưa có tuyến đường Quy Nhơn - Sông Cầu, đèo là con đường chính để qua lại giữa Bình Định và Phú Yên. Do đường dốc, có nhiều cua gấp, hai bên là núi cao, nên đoạn đèo này rất dễ gây ra tai nạn giao thông.
-
Mời Quý vị xem thêm thông tin ngoài lề về Gia cát Lượng nè ======================================================================== Khổng Minh Gia Cát Lượng thực ra là một người đàn bà! Các bạn còn nhớ hình tượng Gia Cát Lượng không? Dỏng cao thanh thoát, quân tử nho nhã, chẳng có điểm nào chung với đại đa số nam nhi vai u thịt bắp cùng thời như Điển, Hứa, Trương, Lã… Đơn giản là, Gia Cát Lượng vốn là một người con gái. Gia Cát Lượng tuy có tài kinh bang tế thế nhưng rốt cuộc cũng chỉ là phận nữ nhi thường tình, bởi vậy sau khi về sống tại Long Trung, "cô" chọn sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm. Điểm này vốn đã kỳ lạ rồi, nam nhi lứa tuổi ấy đều ra đồng làm ruộng hay thu hoạch, chẳng ai đoái hoài đến những công việc tủn mủn gai gai tằm tằm như vậy. Rõ ràng, khuê các yểu điệu như Gia Cát Lượng không thể làm được những công việc cục súc, người con gái thạo nữ công như cô có thể nuôi nổi mình với đường kim mũi chỉ. Có người sẽ đặt câu hỏi vậy chuyện Gia Cát Lượng với người vợ xấu xí họ Hoàng thì giải thích sao đây? Sự thực thì gia đình Gia Cát và Hoàng Thị vốn có quan hệ từ lâu, hai chị em vốn đã cùng khâm phục tài hoa của nhau, thường xuyên qua lại kết tình thân. Hoàng Thị luôn cảm thấy tủi hổ về dung nhan kém cỏi của mình so với Gia Cát Lượng. Vậy nên Gia Cát Lượng hóa trang giả làm nam nhi để không biến Hoàng Thị thành người làm nền cho mình. Gia Cát Lượng giả trai vốn không phải do chủ ý trước mà chỉ là để qua lại với Từ Thứ. Lúc bấy giờ, Từ Thứ, Thôi Châu Bình, Mạnh Công Uy đều là những lữ hiệp – dùng từ ngữ hiện đại để hình dung thì họ là một đám dài lưng tốn vải, ngày ngày tụ tập bàn những chuyện viển vông rồi ăn no ngủ kỹ. Gia Cát Lượng tất nhiên không thể công khai thân phận nữ lưu của mình đã tham gia cùng đám người ấy nên chỉ còn cách giả trang làm nam nhi. Nữ giả làm nam với kỹ thuật hóa trang thời ấy còn thấp sẽ rất dễ bị phát hiện. Vậy nên Gia Cát Lượng nhớ ra người chị em tốt Hoàng Thị mà “thú kỳ vi thê (cưới cô ấy về làm vợ)”, chẳng phải là để những người như Từ Thứ tin rằng mình là nam nhi, mong dễ bề khăng khít hơn đấy sao? Gia Cát Lượng vì muốn kiếm cho bọn Từ Thứ chỗ lui tới mà hàn huyên đã cam lòng kéo bọn họ về tệ xá chẳng lấy gì làm rộng rãi của mình, nuôi đám công tử này bằng tất cả những gì mình khó nhọc làm ra. Tất cả những gian khổ này có ai hay? Còn may còn có người chị em tốt Hoàng Thị lấy thân phận là thê tử để đỡ đần, gánh vác bớt phần nào những cực nhọc của Gia Cát Lượng. Qua lại tiếp xúc với Đông Ngô, Gia Cát Lượng đã phải lòng Chu Du. Vẻ ngời ngời tuấn tú của Chu Du làm Gia Cát Lượng như trúng phải tình yêu sét đánh. Gia Cát Lượng nghĩ ra kế hoang đường đem Tiểu Kiều đi cống mục đích chính là để biến Chu Du thành thân trai vò võ, mong có cơ hội chen chân. Nhưng Chu Du một lòng một dạ cùng Tiểu Kiều, sự thật đó làm Gia Cát Lượng đau đầu. Có thể nói lần đầu tiên người con gái chủ động bày tỏ tỉnh cảm, chẳng ngờ không những không được tiếp nhận mà Chu Du còn có ý phân tán chủ ý của Gia Cát Lượng qua Lỗ Túc, một bậc tu mi chẳng mấy đẹp mã. Nay đường đường đã là một người con gái tài mạo song toàn, sự nghiệp thành công, Gia Cát Lượng tất tràn đầy tự tin kiêu hãnh. Cũng bởi vì thế, sự lạnh nhạt của Chu Du càng làm tổn thương nàng trầm trọng hơn. Vậy là, Gia Cát Lượng bắt tay vào báo thù Chu Du, mong trừng phạt kẻ coi thường tình cảm của mình. Điều cần nhắc tới là, Gia Cát Lượng trong quá trình xuất sứ sang Đông Ngô đã chọn mang theo Triệu Vân, người theo đuổi nhiệt thành cam tâm tình nguyện hi sinh tính mạng vì Gia Cát Lượng. Có Triệu Vân theo cùng, Gia Cát Lượng dễ dàng được thoả mãn mọi đòi hỏi của bản thân. Mối thâm tình của Triệu Vân với Gia Cát Lượng biến anh ta trở thành người đồng hành son sắt của nàng. Gia Cát Lượng tuy giận Chu Du có mắt mà làm ngơ tình cảm phô bày rờ rỡ của mình nên quyết tâm báo thù Chu Du nhưng không hề muốn Chu Du phải chết. Gia Cát Lượng làm vậy chỉ là vì một lòng một dạ mong trở thành một Tiểu Kiều khác. Nàng dốc sức trổ mọi tài năng và trí tuệ trước Chu Du, dốc lòng thể hiện cho Chu Du thấy mình ưu tú nhường nào, mỹ miều nhường nào! Nhưng người son sắt như Chu Du không những không tiếp nhận mà còn bị nàng làm cho uất mà chết – nói như cách nói ngày nay, là do phiền muộn mà chết. Đấy là điều ân hận nhất trong đời Gia Cát Lượng. Nàng yêu một người đàn ông, gắng hết sức để chứng minh bản thân trong mắt người đàn ông ấy, gắng hết sức để theo đuổi anh ta. Nhưng cuối cùng người đàn ông chẳng những không tiếp nhận mà còn không hiểu mối tình cảm ấy, thậm chí hiểu lầm những hành động của nàng. Bi kịch này quá đau đớn đối với một người con gái như Gia Cát Lượng, ấy nên chẳng có gì kỳ lạ khi tới tế viếng Chu Du nàng mới đau lòng muốn chết làm vậy.
-
6 sai lầm chiến lược của Khổng Minh Giadinh.net - Không ai phủ nhận tài năng kiệt xuất của Gia Cát Khổng Minh về chính trị - ngoại giao, nhưng việc dùng binh của ông có đến mức thần thánh như chúng ta vẫn nghĩ? Chỉ cần đọc “Tam quốc diễn nghĩa” - cuốn sách ca ngợi Gia Cát Lượng hết lời - cũng có thể tìm ra nhưng sai lầm lớn của ông trong lĩnh vực quân sự suốt quãng đời giúp nhà Thục. Sai lầm 1: Thất thủ Kinh Châu Năm 219, Quan Vũ lúc bấy giờ trấn thủ Kinh Châu đã đem quân tấn công quân Tào Tháo và chém Bàng Đức, nhưng lại mất cảnh giác với quân của Tôn Quyền mà không để ý rằng Tôn Quyền đang có âm mưu lấy lại Kinh Châu. Kết quả Kinh Châu bị mất và Quan Vũ, Quan Bình (con Quan Vũ) đã bị chết. Đối với việc này, Quan Vũ chịu trách nhiệm trực tiếp, nhưng Gia Cát Lượng không chỉ đạo cặn kẽ cho Quan Vũ nên gây sai lầm lớn. Ông chưa nhận thức đủ nhược điểm của Quan Vũ là người nóng tính nên đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Tin tức Kinh Châu thất bại báo về, cả Lưu Bị và Gia Cát Lượng hối hận nhưng không kịp. Sai lầm 2: Thất bại bi thảm Hồ Đình, Tỷ Quy Thất bại thứ hai là thất bại Hồ Đình vào năm 222. Mùa hạ năm 221, vừa lên ngôi Lưu Bị đã muốn lấy lại Kinh Châu và năm đó, mượn danh nghĩa trả thù cho Quan Vũ nên đã tuyên bố tuyệt giao với Đông Ngô, đem đại quân tiến đánh Tôn Quyền. Lưu Bị đánh Đông Ngô là vi phạm sách lược “liên Ngô chống Tào” của Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng biết rõ đánh Ngô hại nhiều hơn lợi, nhưng không can ngăn nổi Lưu Bị, nên dẫn đến thất bại bi thảm Hồ Đình, Tỷ Quy. Sai lầm 3: Không theo kế của Nguỵ Diên chiếm Trường An Khi Khổng Minh ra Kì Sơn lần thứ nhất, Nguỵ Diên đã hiến một kế cực hay: đi theo hang Tý Ngọ chỉ một trận là chiếm được toàn bộ Tây Trường An (Hạ Hầu Mậu trấn giữ vốn là tướng Ngụy vô mưu). Nhưng Gia Cát Lượng nhất quyết không nghe. Nếu thực hiện theo kế Ngụy Diên, theo nhiều nhà quân sự, có thể cục diện Tam Quốc sẽ thay đổi lớn theo hướng có lợi cho nhà Thục. Nói về chuyện đối xử với Ngụy Diên, Gia Cát Lượng cũng chứng tỏ sự đố kỵ của mình. Các nhà phân tích cho rằng: Ngụy Diên làm phản, chính vì Gia Cát Lượng gieo vào lòng ông tư tưởng phản trắc mà thôi. Vừa mới gặp Ngụy Diên, Gia Cát Lượng đã thét quân chém đầu vì lý do: thuộc hạ mà phản chủ (trong khi đó, Gia Cát Lượng cũng thu nạp biết bao hàng tướng với lý do: từ bỏ chỗ tối về với chỗ sáng). Rồi sau đó Gia Cát Lượng liên tiếp trù dập Ngụy Diên. Ra quân thì chuyên cho Diên làm tiên phong, nhưng dâng kế nào cũng không nghe. Như vậy thì làm sao Ngụy Diên - một tướng tài - có thể đội trời chung với Gia Cát Lượng?! Sai lầm 4: Làm mất Nhai Đình Nhai Đình là yết hầu của Hán Trung. Hán Trung là địa bàn chiến lược của nước Thục. Gia Cát Lượng hiểu rất rõ tầm quan trọng của Nhai Đình, nên khi cử Mã Tốc trấn giữ, đã bắt ông này phải viết bản quân lệnh, nếu để mất là phải chém đầu. Sự cẩn thận này không thừa, nhưng điều đó phỏng có ích gì khi Gia Cát Lượng đã nhìn người không đúng. Trước khi chết, Lưu Bị từng dặn Khổng Minh rằng: “Mã Tốc là kẻ lẻo mép, không có thực tài, quyết không được trọng dụng”. Vậy nhưng Gia Cát Lượng không nghe, vẫn trao yết hầu vào tay kẻ chỉ biết cúc cung tận tuỵ với mình, mà không có thực tài. Sai lầm 5: Tự làm suy yếu đất nước Với tham vọng lớn thống nhất Trung Nguyên, Gia Cát Lượng 6 lần ra Kỳ Sơn đều thất bại, do nguyên nhân lương thảo không đầy đủ, hoặc sức của địch quá mạnh, hoặc nội tình nước Thục mâu thuẫn mà nửa chừng lui quân. Việc đánh nhau liên miên, không tích trữ được quân lương, của cải, khiến đất nước suy kiệt nhanh chóng và lòng dân ai oán. Sai lầm 6: Phò tá kẻ bất tài hoang dâm vô độ Lưu Bị trước khi chết đã uỷ thác việc nước cho Gia Cát Lượng, nói rằng: “Tài năng của ông cao hơn Tào Tháo gấp 10 lần, nhất định có thể làm cho nước nhà ổn định, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước. Nếu như con tôi không làm được gì, mong ông giúp đỡ, còn như nó bất tài thực sự, ông có thể thay nó”. Lưu Bị còn để lại di chúc bắt Lưu Thiện phải kính nể Gia Cát Lượng như cha đẻ. Lưu Thiện nối ngôi Thục đế mới 17 tuổi không có tài, Gia Cát Lượng phải lo lắng toàn cục, chỉnh đốn nội bộ và chấn chỉnh lực lượng. Sau này Lưu Thiện hoang dâm vô độ, tin dùng nịnh thần, mặc dù có thể lên thay Lưu Thiện nắm quốc gia, đưa Thục lớn mạnh như di huấn của Lưu Bị, nhưng Gia Cát Lượng quyết giữ đạo nghĩa cổ hủ, làm bề tôi đến lúc chết. Kết quả Thục suy yếu rồi sau bị diệt vong. Chính vì thế mới có nhận định: Cơ đồ nhà Thục do một tay Khổng Minh dựng nên và cũng một tay ông hất đổ đi.
-
Mời quý vị xem tiếp thông tin trên internet về Gia cát lượng ====================================================== Gia Cát Lượng đã mượn đao giết Quan Vũ? Gia Cat Luong da muon dao.. Chướng ngại lớn nhất cho việc nắm quyền lực của Gia Cát Lượng là ai? Thực không có gì phải nghi vấn, đó chính là Quan Vũ. Quan Vũ kiêu hùng đã sớm nổi danh. Năm Kiến An thứ 19 (năm 214), Lưu Bị tấn công Ích Châu, Mã Siêu ở Tây Lương tới đầu quân. Mã Siêu vốn là một hổ tướng có tiếng đương thời. Lưu Bị được bèn lập tức phong làm Bình Tây tướng quân, địa vị tương đương với Quan Vũ. Quan Vũ ở Kinh Châu nghe được tin cực kỳ bất mãn, lập tức viết thư cho Gia Cát Lượng “Như Siêu có thể so với ai?”. Gia Cát Lượng viết thư khéo léo đáp lại rằng: “Mạnh Khởi (Mã Siêu) tài kiêm văn vũ, dũng liệt hơn người, là hào kiệt một thời…. nhưng cũng chẳng sánh được với tướng quân…”. Quan Vũ đọc xong thư mà dương dương tự đắc. Năm Kiến An thứ 24 (năm 219) Lưu Bị tự xưng làm Hán Trung vương, muốn trọng dụng Hoàng Trung làm Hậu tướng quân “Gia Cát Lượng bèn nói với tiên chủ: Danh vọng của Trung không thể cùng với Quan, Mã, nay lại tương vi. Mã, Trương ở gần có thể nói tường tận. Quan nay ở xa chỉ e không vui. Có nên hay chăng? Tiên chủ nói: Ta tự có cách giải thích” (Thục thư – Hoàng Trung truyện). Lưu Bị nói “Ta tự có cách giải”, thực ra chỉ là phái Ích châu tiền bộ Tư Mã Phí Thi đi trước. Tam Quốc chí - Phí Thi truyện viết: “Lưu Bị sai Thi tới phong Quan Vũ làm Tiền Tướng Quân, Vũ nghe được Hoàng Trung phong làm Hậu tướng quân bèn đại nộ mà rằng: Đại trượng phu sao có thể cùng sánh ngang với lão binh. Không chịu thụ phong”. Quan Vũ cuồng vọng tới thế, Gia Cát Lượng sao không trừng trị mà người lại còn lựa ý của Vũ để mà lấy lòng? Cô (ta) nay có Khổng Minh, như cá gặp nước, các người chớ nói nhiều. Vũ, Phi bèn thôi” (Thục thư – Gia Cát Lượng truyện). Có thể thấy Quan Vũ, Trương Phi vốn không đặt Gia Cát Lượng vào trong mắt mình, đối với Lưu Bị càng ngày càng thân với Gia Cát thì lòng không vui. Tượng Khổng Minh Năm Kiến An thứ 13 Tào Tháo xuất quân xuống phía nam. Muốn một trận quét sạch Đông nam, Lưu Bị thân cô thế quả, lại không có chốn dung thân, tình hình ngàn cân treo sợi tóc. “Gia Cát Lượng năm đó 27 tuổi, tự dâng sách lược, thân đi sứ Tôn Quyền, cầu viện nơi Ngô hội, Quyền cũng có ý với Bị, lại them thấy Lượng kỳ nhã, càng thêm kính trọng lập tức sai ba vạn quân tới phù trợ Bị. Bị được đắc dụng cùng Vũ đế giao chiến, đại phá được quân địch, thừa thắng ruổi quân, Giang Nam được bình” (Thục thư – Gia Cát Lượng truyện). Trong trận Xích Bích, Gia Cát Lượng lập được đại công, không những củng cố lại địa vị trong tập đoàn Lưu Bị mà còn gây được uy tín. Quan Trương hai người cũng không còn dám xem thường nữa. Nhưng Quan Vũ từ sự khinh thị của quá khứ mà biến thành đố kị Gia Cát Lượng. Vương Phu Chi đối với việc này từng nói: “Chiêu Liệt bại ở Trường Bản mà quân của Vũ toàn vẹn, Tào Tháo qua sông, mà không một tay thi thố được. Mà Gia Cát công đông sứ, Lỗ Túc tây kết, định phân bang giao hai nước, Tôn thị phá Tào. Công không ở Vũ, mà ở Lượng. Lưu Kỳ nói : Triều đình dưỡng binh ba mươi năm mà nay đại công ở tay một nho sinh. Cho nên Vũ càng kị Gia Cát và kị Túc”. Quan Vũ và Trương Phi tính cách vốn không giống nhau “Vũ thiện đối đãi với sĩ tốt nhưng kiêu căng kinh bạc đối với sĩ đại phu, Phi thì yêu kính quân tử nhưng ghét kẻ tiểu nhân” (Thục thư – Trương Phi truyện). Trương Phi đối với những sĩ đại phu có tài năng thì mười phần kính trọng, nhưng Quan Vũ đối với sĩ đại phu thì khó chịu. Gia Cát Lượng lại là sĩ đại phu đứng đầu trong tập đoàn của Lưu Bị, đương nhiên cũng ở trong đó. Gia Cát Lượng đối với việc Quan Vũ coi thường mình cũng thực rõ ràng nhưng vì kị việc Vũ “tình như thủ túc” đối với chủ công, lại thêm rằng thời gian theo Lưu Bị so với Quan Vũ thì muộn hơn nhiều, quan chức cũng kém hơn Quan Vũ, nên không thể không khéo léo mà xử thế. Gia Cát Lượng tính toán không phải là như thế nào để trừng phạt Quan Vũ, mà là giải quyết vấn đề từ căn bản, chờ đợi thời cơ để giết Quan Vũ. Năm Kiến An thứ 24, Quan Vũ phát động chiến dịch Tương Phàn, tuy uy trấn Hoa Hạ, nhưng cuối cùng dẫn tới việc Kinh châu thất thủ, bản thân thì bị Tôn Quyền giết chết. Trong đó có rất nhiều điểm khiến người ta phải nghi ngờ. Trước và sau chiến dịch Tương Phàn, sứ giả hai nước Ngô, Ngụy qua lại không ngừng, cùng bàn mưu tấn công Quan Vũ, có thể nói là không dong trống mở cờ mà lặng lẽ phối hợp với nhau. Lưu Bị và Gia Cát Lượng đối với việc này hòa toàn không biết nên không hề ra một mệnh lệnh nào cho Quan Vũ. Điểm làm người ta nghi ngờ là, Khi Tào Tháo đem quân xuống Ma Bi, không ngừng điều khiển Vu Cấm, Bàng Đức, Từ Hoảng tới viện trợ Phàn thành, hành động quân sự lớn như thế, Thục Hán cũng không hề sử dụng bất cứ một đối sách nào. Cuối cùng Quan Vũ thất bại mà chạy ra Mạch Thành, trước cảnh toàn quân sắp bị tiêu diệt mà viện binh của Thục quân vẫn không thấy đâu. Điều này cũng là một điểm rất đáng nghi ngờ. Quốc học đại sư Chương Thái Viêm có kiến giải độc đáo rằng: “Bại ở Lâm Thư (nơi Quan Vũ bị giết) Gia Cát Lượng không lấy một tốt tới cứu viện. Kẻ ngu muội cười rằng không biết nhìn xa…” Họ Chương luận rằng Gia Cát Lượng bởi thấy “Quan Vũ là một hổ tướng… không trừ đi tất về sau sẽ khó trị được, nên không tiếc Kinh Châu, mượn tay người Ngô, để lấy mạng của Quan Vũ”. Quan Vũ trấn thủ Kinh Châu, tay nắm trọng binh, cực kiêu ngạo cuồng vọng, không những đời sau (Sau khi Lưu Bị chết) khó đối phó, mà ngay khi Lưu Bị còn sống Gia Cát Lượng cũng khó lòng vượt qua được chướng ngại Quan Vũ. Muốn nắm được đại quyền. Gia Cát Lượng tình nguyện đánh đổi Kinh Châu, mượn tay người Ngô để trừ khử Quan Vũ. Kiến giải này của Chương thị thực là gan lớn. Đây đương nhiên chỉ là phỏng đoán. Họ Chương đối với những lí do nêu trên cho là chưa đủ, không lâu sau lại bổ sung thêm rằng: “Việc chính ở tay tiên chủ, Vũ Hầu đương sách hoạch việc an dân, chẳng thể lĩnh hết... Bại ở Kinh châu trước ở chỗ khinh Ngô, sau ở chỗ không có viện quân, đấy cũng chính là lỗi ở tiên chủ”. Đem việc bại ở Kinh Châu mà nói là do Lưu Bị có lòng khinh địch, thực hơi có phần khiên cưỡng. Khi đó thực là Gia Cát Lượng không thể quản hết được việc quân chính đại quyền nhưng rõ ràng Gia Cát Lượng biết việc Quan Vũ tấn công Tương Phàn vào lúc điều kiện chưa đủ chin muồi, hoàn toàn đi ngược lại với Long Trung đối là đợi thiên hạ có biến, và sách lược hai đường cùng bắc phạt Tào Ngụy. Nhưng trong Tam Quốc Chí chính văn và cả bản chú của họ Bùi thì đều không hề thấy ghi chép Gia Cát Lượng khuyên gián. Quan Vũ Hơn nữa, cho dù Lưu Bị có sủng tín, thoải mái với Quan Vũ, không coi Long Trung đối là gì. Nhưng sau khi chiến dịch Tương Phàn chiến thắng, Lưu Bị, Gia Cát Lượng không thể không toàn lực quan sát từng bước của chiến dịch. Cho dù đường đi lối lại giữa Xuyên, Ngạc có cách trở, giao thông không tiện, tin tức truyền bá khó khăn, nhưng cả chiến dịch Tương Phàn từ tháng 7 năm Kiến An thứ 24 tới tháng 12 thì kết thúc, thời gian dài gần một nửa năm. Thục Hán bây giờ là một chính quyền hoàn chỉnh, không thể thiếu những con đường truyền tin. Quan Vũ tiến công Tương Phàn, giữ Kinh Châu binh lực không đủ, lại thêm lúc này liên minh Tôn Lưu đã bị phá vỡ, “bọ ngựa bắt ve, chim sẻ ở sau”, Tôn Ngô lúc nào cũng có thể tới cướp Kinh Châu. Gia Cát Lượng là người hiểu thấu binh pháp, chẳng nhẽ cũng không biết việc này? Ai cũng đều biết Gia Cát Lượng một đời làm việc cẩn thận, không hề có chuyện mạo hiểm. Sao lại không nhắc nhở Lưu Bị đây? Phương Thi Minh tiên sinh trongLưu Bị và Quan Vũ đã làm biến đổi nguyên ý của Chương Thái Viêm tiên sinh, đem “Gia Cát Lượng không trừ Quan Vũ tất đời sau khó trị được” mà đổi thành “Lưu Bị không trừ (Quan Vũ) thì đời sau khó trị được”. Cách “ghép cành” này thực không thể được. Tôi cho rằng chỉ cần Gia Cát Lượng làm đúng chức trách của một quân sư, lúc nào cũng có thể đem tình thế nguy hiểm của Kinh Châu mà nói với Lưu Bị. Lưu Bị cùng Quan Vũ tình thân như thủ túc, không thể nào chỉ có đứng nhìn việc Quan Vũ chiến bại ở Lâm Thư mà không một binh một tốt cứu viện. Cho nên người thực sự đưa Quan Vũ lên đoạn đầu đài không phải ai khác mà là chính là Gia Cát Lượng.Chức thừa tướng, Gia Cát Lượng là lựa chọn cuối cùng? Sau khi Quan Vũ chết, địa vị và quyền lực của Gia Cát Lượng được nâng cao rõ rệt nhưng vẫn chưa tới mức “trên vạn người, dưới một người”. Sau khi vào Thục, Lưu Bị tín nhiệm Pháp Chính hơn hẳn Gia Cát Lượng. Đối với điều này Gia Cát Lượng cũng rất rõ. Lưu Bị Đông Chinh “phục nỗi nhục Quan Vũ”, quần thần thay nhau khuyên gián, Lưu Bị nhất loạt đều không nghe. “Năm Chương Vũ thứ 2 đại quân thất bại, trú ở Bạch Đế, Lượng than rằng: Pháp Hiếu Trực (Pháp Chính) nếu còn, chắc có thể ngăn được chủ công Đông hành, dù có Đông hành cũng không tới nguy địa thay!” (Thục thư – Pháp Chính truyện). Đối với việc Lưu Bị phát động cuộc chiến ở Di Lăng, Gia Cát Lượng có ngăn cản hay không, bởi sử không chép nên không thể biết được. Nhưng từ lời nói trên có thể thấy được rằng Pháp Chính ở trong lòng Lưu Bị thực Gia Cát Lượng không thể bằng! Lưu Bị nhập Xuyên chủ yếu là nhờ công Pháp Chính, Pháp Chính không những trợ giúp Lưu Bị lấy được Ích Châu, định Hán Trung, kiến lập được công lao trác việt, lại “có thừa trí thuật, hiểu ý chủ nhân”. “Tiên chủ cùng với Tào công tranh, thế có bất lợi, nên lui, nhưng tiên chủ đại nộ mà không chịu lui, bèn không dám can gián nữa. Tên bắn như mưa, Chính bèn lên phía trước tiên chủ, tiên chủ nói rằng “Hiếu Trực che tên” Chính nói “Minh công là giường cột sao có thể giống với bọn tiểu nhân được” Tiên chủ bèn nói “Hiếu Trực, ta với ngươi cùng đi”… Từ đó đủ thấy Pháp Chính đối với Lưu Bị có thể nói là lấy thân tương trợ, việc việc đều thủ tín với Bị. Công phá được Thành đô Lưu Bị phong Chính là Thục quận thái thú, Dương Vũ tướng quân, ngoài giữ chốn kinh kỳ, trong làm mưu thần… Pháp Chính thân kiêm chức vụ trọng yếu ở trong ngoài, cũng chính là sự thể hiện của việc Lưu Bị cực kỳ tín nhiệm. Có người nói với Gia Cát Lượng rằng : “Pháp Chính làm thái thú Thục quận mà tung hoàng, tướng quân nên khởi bẩm chủ nhân, giảm bớt uy khí. Lượng đáp rằng: Chủ nhân phía bắc sợ Tào Tháo thế mạnh, đông sợ Tôn Quyền bức hiếp, gần đây lại thêm việc của Tôn phu nhân, tiến thoái khó khăn, Pháp Hiếu Trực lại là người phù trợ, sao có thể ngăn được Pháp chính không làm theo ý mình được” (Thục thư – Pháp Chính truyện) Gia Cát Lượng phản ánh tình hình thực tế đương thời, nhưng cũng có thể thấy đây chính là Gia Cát Lượng tự trào lộng mình. Một mặt là Pháp Chính tung hoành ngang dọc không coi Gia Cát Lượng vào mắt; một mặt chính là Gia Cát Lượng đối với việc Pháp Chính tung hoành, tác uy tác phúc cũng đành bất lực. Pháp Chính tung hoành ngang dọc Gia Cát Lương đương nhiên không vui. Nhưng làm thế nào để làm giảm quyền thế, Gia Cát Lượng tự có sự tính toán. Lưu Bị cùng với Tào Tháo tranh đoạt Hán Trung bởi binh lực không đủ nhưng vẫn “yêu cầu phát binh, Quân sư Gia Cát Lượng bèn hỏi Dương Hồng, Hồng đáp: “Hán trung là yết hầu của Ích Châu, việc tồn vong vốn nằm ở đó, nếu không có Hán Trung ắt không có Thục, đấy cũng chính là cái họa từ cửa vào vậy. Việc như nay, đàn ông đương chiến, đàn bà làm vận lương, phát binh còn nghi ngờ gì?”. Khi đó Thục quận thái thú Pháp Chính theo tiên chủ bắc hành, Lượng trong biểu dâng muốn phong Hồng tạm giữ chức Thục quận thái thú, mọi việc đều được làm tốt thì có thể lĩnh luôn chức vụ” (Thục thư- Dương Hồng truyện). Hán Trung là “yết hầu của Ích Châu”, việc được mất liên quan tới sự tồn vong của chính quyền Thục Hán. Việc này chẳng nhẽ Gia Cát Lượng không hay? Đối với việc yêu cầu phát binh gấp thì chính là mệnh lệnh của Lưu Bị, sao có thể chống lại? Gia Cát Lượng hỏi Dương Hồng mục đích chỉ có một đó chính là mượn cơ hội để tiến cử Dương Hồng vào việc lo phát binh, tiện cho việc thay thế Pháp Chính làm Thục quận thái thú. Trong tình thế Pháp Chính không ở đó Lưu Bị cũng đành chấp nhận. Dương Hồng kịp thời đưa quân dội, lương thảo vật tư tới tiền tuyến là Hán Trung, nếu việc làm tốt có thể giữ nguyên chức Thục quận thái thú. Pháp Chính mất đi vị trí quan trọng là bên ngoài giữ chốn kinh kỳ, quyền thế bị giảm đi phần lớn. Nhưng mâu thuẫn giữa Gia Cát Lượng và Pháp Chính vẫn chưa hết. “Gia Cát Lượng và Chính, tuy tính không giống nhau nhưng lấy công mà hỗ trợ”. Cái gọi là “lấy công mà hỗ trợ” thực ra chỉ là bề mặt, nhưng “tính không giống nhau” mới là bản chất. Đối với sự thông minh tài trí của Pháp Chính, Gia Cát Lượng cũng thực sự kính phục: “Trí thuật của Chính làm Lượng cảm thấy tài lắm” (Thục thư- Pháp Chính truyện). Càng quan trọng hơn nữa Pháp Chính là người duy nhất trong đám mưu thần mà có thể nói Lưu Bị nghe được. Điểm này chính Gia Cát Lượng cũng cho là không bằng. Bởi thế nếu như Pháp Chính sống lâu ắt hẳn mâu thuẫn sẽ còn hơn nữa. May mắn cho Gia Cát Lượng chính là năm thứ 2 khi Lưu Bị xưng Hán Trung Vương, thì Pháp Chính bệnh mà qua đời. Khi Lưu Bị xưng đế thì Quan Vũ, Bàng Thống, Pháp Chính, Hoàng Trung đều đã mất. Trương Phi tuy nhiên là tình thủ túc với Lưu Bị nhưng dẫu sao cũng chỉ là một viên võ tướng. Mã Siêu là tướng hàng, tâm thường mang lòng phản trắc, càng không đáng tín nhiệm. Thái phó Hứa Tĩnh lại là người thanh đạm. Lưu Bị ngó trước sau, ngoài Gia Cát Lượng thì không ai có thể giao được trọng trách lớn. Từ khi tức vị liền phong Gia Cát Lượng làm Thừa tướng, sau khi Trương Phi chết lĩnh chức Tư lệ hiệu úy. Gia Cát Lượng phấn đấu mười lăm năm, cuối cùng cũng leo lên được cái ghế Thừa tướng của mình thực ra cũng chỉ là sự lựa chọn bất đắc dĩ của Lưu Bị? bantinsom.com
-
Phát hiện vũ trụ đang giãn nở với tốc độ ngày càng lớn giúp ba nhà khoa học đoạt giải Nobel Vật lý 2011. Những quan sát của họ cho thấy sau vụ nổ lớn (Big Bang), vũ trụ giãn nở liên tục và nguội dần. Tiến sĩ vật lý thiên văn Adam Riess trong phòng làm việc tại Đại học Johns Hopkins, Mỹ. Ảnh: AP. Telegraph cho biết, tiến sĩ Adam Reiss, một trong ba người đoạt giải thưởng trị giá 1,5 triệu USD, đã nói về nghiên cứu của ông sau khi Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển công bố những người đoạt giải Nobel Vật lý hôm qua. Ông dùng hình ảnh chiếc bánh mỳ kẹp nho khô trong lò nướng để minh họa sự giãn nở của vũ trụ. Mỗi quả nho tượng trưng cho một thiên hà. Địa cầu nằm trong một những quả nho. “Nếu ngồi bên trong một ổ bánh mỳ kẹp nho khô, bạn sẽ thấy những quả nho khô di chuyển ra phía xa. Đó là do vũ trụ giãn nở. Sự kiện gì sẽ xảy ra tiếp theo là một câu hỏi khó. Trước đây chúng ta dự đoán tốc độ giãn của chiếc bánh mỳ, tức vũ trụ, sẽ giảm dần cho đến khi quá trình giãn nở dừng lại. Thế rồi vào năm 1998 chúng tôi phát hiện tốc độ giãn của vũ trụ không hề giảm, mà còn tăng dần theo thời gian. Vũ trụ ngày càng to hơn”, Reiss nói. Chưa ai tìm ra nguyên nhân khiến vũ trụ giãn nở với tốc độ ngày càng lớn, song phát hiện của ba nhà khoa học khiến giới khoa học quan tâm hơn tới lý thuyết về “vật chất tối” – thứ có thể chiếm tới ba phần tư vũ trụ. Hiện tại giới khoa học đang cố gắng tìm ra bằng chứng về sự tồn tại của vật chất tối bằng máy gia tốc hạt lớn của Tổ chức Nghiên cứu Nguyên tử châu Âu. vnexpress.net =================================== Thuyết âm dương ngũ hành đã giải thích vấn đề này từ lâu rồi, mà máy bác khoa học Mỹ vẫn còn loay hoay tìm cách giải thích và lấy được giải Nobel vật lý 2011.
-
Khổng Minh thì là người tài rồi, nhưng mà tài giỏi cỡ nào thì thua, vì qua ngòi bút của tác giả, Khổng Minh cũng giống thần tiên. Mời quý vị xem tiếp 1 đoạn thông tin này ==================================================================== Những phát hiện khoa học kỳ lạ về Khổng Minh Nhung phat hien khoa hoc.. Trong khoa học, kỹ thuật, tạo ra được một chuyển động vĩnh cửu là một công việc dường như không thể. Để một vật chuyển động, nó bắt buộc phải chịu một lực tác động từ bên ngoài. Chính vậy mà vào đầu thế kỷ hai mươi, khi bộ tiểu thuyết lịch sử Tam Quốc Diễn Nghĩa được dịch ra tiếng Anh, nó đã tạo ra một chấn động trong làng khoa học thế giới. Các nhà khoa học đọc đi đọc lại những sáng chế của Khổng Minh nhưng không thể hiểu nổi. Nhiều người nghi ngờ bản dịch nên đã cố công học tiếng Hán để nghiên cứu nguyên tác nhưng vẫn không tìm thấy các bí mật ở trong đó. Những người nản chí thì cho đó là những tưởng tượng của nhà văn. Nhưng có khá nhiều người vẫn còn tin vào khả năng thần kỳ của nền kỹ thuật Trung Quốc và tin vào nhận định: tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa là một tác phẩm lịch sử có tới bảy phần thực. hổng Minh là một nhân vật mưu lược, quyền biến, trung thành và đặc biệt có những khả năng được người dân Trung Quốc tôn sùng như một vị thánh.Trong những trận đánh liên miên từ khi Lưu Bị còn chưa có đất dụng võ cho tới khi thiên hạ (nước Trung Hoa xưa) chia thế chân vạc, Khổng Minh đã thể hiện bản lĩnh của một vị quân sư, một vị tướng hiểu thời, hiểu thế và do vậy, hầu như ông không có đối thủ thực sự trên chiến trường. Cho đến gần cuối đời, Khổng Minh mới gặp một địch thủ thực sự cho dù người này luôn nhận mình kém cỏi so với ông. Đó chính là Tư Mã Ý, người đã đặt nền tảng thống nhất đất nước Trung Hoa cho con trai mình. Trong cuộc đấu sức, đấu trí với Tư Mã Ý, Khổng Minh đã để lại cho hậu thế hai “bí kíp” lớn nhất về sự sáng chế khoa học. Đó là phép “rút đất” và những con trâu ngựa gỗ có thể tự động vận chuyển lương thực. Ngày nay, các nhà nghiên cứu đã chứng minh được nền khoa học kỹ thuật phát triển rất cao của người Trung Hoa cổ. Vậy nếu như khôi phục được hai “bí kíp” kia thì đó là một điều thần kỳ đối với cuộc sống nhân loại. Trong một trận chiến, để dụ tướng giặc, Khổng Minh ngồi trên xe nhỏ bốn bánh được quân lính đẩy ra giữa trận. Tướng giặc thấy vậy, cáu tiết đuổi theo bắt cho kỳ được. Khổng Minh truyền quay xe và chạy. Ba phía khác lần lượt xuất hiện một cái xe y như thế với Khổng Minh khăn áo là lượt.(Đó chính là ba viên tướng đóng thế Khổng Minh) Tướng giặc liền nhằm một cỗ xe và đuổi riết. Chiếc xe do người đẩy chỉ chạy chầm chậm nhưng quân giặc với đàn ngựa chiến không sao đuổi được. Càng đuổi, chiếc xe càng chập chờn trước mắt. Đuổi nhanh, xe chạy nhanh, đuổi chậm, xe chạy chậm lại. Và tất nhiên, tướng giặc không thể bắt nổi chiếc xe đó. Xét về tốc độ thì một chiếc xe bốn bánh do người đẩy không thể chạy nhanh bằng nước phi của một con ngựa chiến được. Hiển nhiên trong chuyện này phải có một yếu tố "kỹ thuật" nào đó. Các nhà khoa học nghiên cứu một hồi cũng không thể đưa ra một giả định hay hơn các nhà nghiên cứu quân sự được. Họ cho rằng, cuộc chiến giữa hai bên diễn ra ở vùng núi Kỳ Sơn rất hiểm trở và rừng rậm um tùm. Khổng Minh lại là một người ưa dùng nghi binh và dùng “tà pháp” đánh vào tâm lý của đối phương nên phép "rút đất” được lý giải như sau: Do chiếc xe bốn bánh dùng sức người đẩy chắc chắn không thể sánh với tốc độ của ngựa chiến được mà ngựa chiến vẫn không đuổi kịp là vì hai điều: thứ nhất; chiếc xe không có thực trên cùng một đường chạy, thứ hai, có nhiều chiếc xe giống nhau tham gia vào phép “rút đất" này. Mặc dù người Trung Hoa đã sử dụng gương hay những mặt đồng tạo hình ảnh từ rất sớm nhưng nếu cho rằng Khổng Minh đã dùng gương tạo ra một ảo ảnh trên đường chạy là một điều hoang đường. Bởi vì nếu Khổng Minh có thể sử dụng kỹ thuật phản chiếu qua gương như vậy thì ông cần gì phải bố trí ba tướng khác đóng giả y hệt mình ở ba góc trận.? Loại trừ khả năng này, chúng ta đến với khả năng thứ hai. Khổng Minh là một người đặc biệt nhạy cảm về địa thế chiến trường. Với ông, nếu tận dụng được địa thế thì một dòng suối cũng nhấn chìm được cả đoàn quân. Chúng ta thử hình dung trận địa diễn ra ở những sườn núi, sườn đồi mấp mô. Do đó, tầm mắt của đối phương bị che lấp liên tục. Khổng Minh đã dùng các tướng đóng giả mình và phục sẵn ở lưng chừng các mỏm núi có rừng bao phủ. Câu chuyện diễn ra từa tựa như truyện cổ tích lũ rùa tinh khôn chạy thi với thỏ. Khi tướng giặc chạy lên điểm cao thì nhìn thấy chiếc xe, nhưng khi chạy xuống lòng chảo (dù rất nhỏ) viên tướng đó cũng sẽ mất tầm nhìn trong một đoạn thời gian. Đoạn thời gian này đủ để chiếc xe ấy lẩn vào rừng cây và chuyển vào một vị trí định sẵn. Khi tầm nhìn của tướng giặc mở ra, viên tướng đó sẽ lại thấy một chiếc xe khác y nhệt như thế xuất hiện. Do đã nắm chắc địa thế và lại là người chủ động khiêu khích giặc nên Khổng Minh đủ sức bố trí phép “rút đất” như vậy. Ở đây có một câu hỏi lớn đặt ra là ông đùa giỡn với tướng giặc thế làm gì khi ông có thể tóm gọn kẻ thù trong lúc viên tướng đó sa vào thế trận của ông. Chúng ta nên nhớ rằng, Khổng Minh chỉ có chưa đến mười vạn quân so với vài chục vạn quân Ngụy. Hơn nữa, trước khi ra Kỳ Sơn đánh Ngụy, Khổng Minh phải để lại một số lượng lớn quân để giữ nước. Lực lượng của Khổng Minh chỉ bằng một phần nhỏ của quân địch. Chính vậy nên Khổng Minh đã dùng cách này để "hù doạ” quân địch. Có lẽ sự thật về phép “rút đất” từng làm bao nhiêu nhà quân sự, nhà khoa học và độc giả phải đau đầu nằm trong câu chuyện cổ tích của người Việt: Rùa chạy thi với thỏ. Trong chiến tranh, lương thực tiếp tế cho các đoàn quân là điều kiện sống còn. Do địa hình vùng núi Kỳ Sơn rất phức tạp, dốc đá hiểm trở nên việc vận chuyển lương thực vô cùng khó khăn. Tư Mã Ý có lý khi cho rằng chỉ cần không ra đánh, cứ cố thủ, quân của Khổng Minh hết lương thực tất phải tự vỡ. Quả nhiên quân Thục gặp những rắc rối về việc vận chuyển lương thực. Do địa hình quá là hiểm trở nên những con ngựa kéo xe rất nặng nề và thường xuyên chết cả đàn vì chướng khí. Khổng Minh gọi thợ lấy gỗ và vẽ mẫu để làm trâu ngựa gỗ. và thật lạ lùng, những con trâu ngựa gỗ ấy kéo xe lương thực đi như không trên những sườn núi cao. Nếu con người hiện đại biết được cách chế tạo trâu ngựa gỗ thì chúng ta sẽ tiết kiệm được bao nhiêu năng lượng. Tuy nhiên nhiều người cho rằng Khổng Minh đã phù phép để cho các con vật bằng gỗ ấy cử động được. Có một “chứng cứ khoa học” rằng khi Tư Mã Ý thấy vậy liền cho quân bắt lấy một con mang về tháo rời ra. Tư Mã Ý cũng là một nhà kỹ thuật đại tài nên ông bắt chước y như đúc các kích thước của con trâu gỗ và tạo ra được cả một bầy dùng để kéo xe. Như vậy cấu tạo đặc biệt của trâu ngựa gỗ đã tạo ra hành động của chúng. Nhưng chúng ta đều biết những con trâu ngựa gỗ đó không thể tự tạo ra một bộ máy chuyển động vĩnh cửu để hoạt động được. Yếu tố ngoại lực chắc chắn phải xuất hiện, nhưng nếu đẩy nó như đẩy xe thì tội gì phải chế tạo trâu ngựa gỗ cho thêm rắc rối. Trâu ngựa gỗ giúp cho quân lính chuyên chở lương thực rất nhẹ nhàng, do đó nó ưu việt hơn nhiều là phải đẩy một cái xe. Các nhà nghiên cứu quân sự trở lại với địa thế hiểm trở của những ngọn núi Kỳ Sơn. Để vận chuyển lương thực, những đoàn xe đó tất nhiên phải đi men theo các sườn núi đá. Những con đường mấp mô, gập ghềnh khi lên cao khi xuống thấp. Đây chính là địa thế dành cho trâu ngựa gỗ. Trong khớp nối ở mỗi ống chân gỗ, người thợ sẽ tiện một đĩa gỗ tròn sao cho cơ thể con trâu có thể trượt về đằng trước hay trượt về đằng sau một khoảng bằng bán kính của đĩa gỗ. Như vậy nếu đứng trên một mặt phẳng thì con trâu hoặc là chúi về phía trước hoặc là trượt về phía sau chứ không thể đứng thẳng được. Tất cả các khớp nối của bốn chân con trâu, con ngựa đều tuân thủ nguyên tắc này. Khi mang các bao lương thực trên lưng, sức nặng ấy sẽ tạo ra một lực đẩy rất mạnh hoặc về phía trước hoặc về phía sau. Trên địa hình mấp mô, gập ghềnh, sau khi trọng lượng lương thực "dúi” phần lưng nó về phía trước, theo con trượt, lưng nó sẽ lại trở lại phía sau theo đà lắc. Nhưng nếu như thế thì chúng vẫn chưa thể đi được, nhất là khi đà dốc chỉ đủ "dúi” nó tới gần đỉnh cao nhất của dốc đá lồi lõm trên đường. Mặc dù có địa thế lồi lõm như thế, để có thể đi được, những con trâu ngựa gỗ đó vẫn cần một ngoại lực nào đó. Điều này một lần nữa được hé mở qua bộ phận lưỡi của chúng. Khi Tư Mã Ý dùng trâu ngựa gỗ chuyển lương thực, Khổng Minh đã cho quân của mình bôi mặt giả làm quỷ để doạ quân Ngụy. Để cướp lương thực, quân Thục chỉ cần tháo lưỡi của trâu ngựa gỗ là chúng không đi được. Như vậy ngoại lực sẽ truyền qua lưỡi và tác động lên các trục tròn qua những thanh sắt "chuyển lực”. Bộ khung sắt lnày nằm kín trong bụng trâu ngựa gỗ và nó được kéo quay tròn như thể một cái guồng nước. Nó có bốn thanh chính. Khi thanh thứ nhất và thanh thứ hai quay làm cho chân trước và chân sau phía bên kia của con trâu “trượt” về phía trước thì hai thanh còn lại "gạt” hai chân còn lại về phía sau, tạo ra một chuyển động nhịp nhàng. Đặc biệt chuyển động này tận dụng tối đa sự "xuống dốc, lên dốc” của mặt đường gập ghềnh. Như vậy, các nhà khoa học hiện đại kết luận, chắc chắn sợi dây "dắt” trâu ngựa gỗ sẽ được buộc vào lưỡi của chúng. Một hoặc hai người lính sẽ “dắt” trâu bằng cách kéo nhẹ vào dây khi đà lăn gần hết, để tiếp tục tạo cho chúng một đà lăn mới. Trên lý thuyết, các nhà phân tích “giải mã” được cấu tạo của những con trâu ngựa gỗ. Tuy nhiên chưa có ai làm thực nghiệm. Điều này có thể vì nhiều lý do nhưng lý do lớn nhất là, những con trâu ngựa gỗ (như trên) nếu có thể chế tạo được thì cũng không mang lại ích lợi cho con người bởi vì hệ thống giao thông hiện nay đã quá hiện đại và rất khó có thể tìm thấy những con đường lồi lõm dù ở cả những miền núi cao./ bantinsom.com
-
Mời quý vị xem tiếp phần viết của tác giả này ============================================================= Trong cuộc sống có khoái lạc, cũng có đau thương, bất tất phải cố ý tu sức cho bản thân mình. Chỉ cần dùng chân tâm, chân tính, chân cảm của bản thân thì có thể đối diện với cuộc sống, lớn tiếng mà khóc, lớn tiếng mà cười. Dùng cái chân tình biểu hiện cho chính mình, ấy mới có thể xem như là một con người… Thuật "rút đất" hay một trò ú tim của trẻ nhỏ? Đối lập với cái gian hùng của Tào Tháo là cái “kiêu hùng” của Lưu Bị, cũng có cách xử lý mà không người nào làm được, ông ta dùng nước mắt để tranh thiên hạ. Lưu Bị thích khóc đến nổi tiếng. Lưu Bị dưới sự trợ giúp của Từ Nguyên Trực, đóng quân Tân Dã, chiêu binh mãi mã, tích trữ lương thảo, khí tượng ngày một thịnh. Nhưng Tào Tháo đã bắt chước bút tích của Từ Mẫu đưa cho Nguyên Trực, khiến cho ông ta phải rời bỏ Lưu Bị. Lưu Bị khóc rằng: “Nguyên Trực đi rồi, ta sẽ không biết làm thế nào?”, rồi ngưng nước mắt mà ngóng theo. Từ Thứ vì điều này mà tâm tư nhiễu loạn, nước mắt lưng tròng, khi sang phía Tào Tháo từ đầu chí cuối không đưa ra một kế sách nào. Lưu Bị ba lần đến lều cỏ, gặp phải lời từ chối khéo của Khổng Minh, khóc rằng: “Tiên sinh không xuất sơn, thiên hạ sẽ sống như thế nào?”. Lưu Bị nói đi nói lại, càng động đến tâm sự sâu kín, tâm tư trăm mối, lúc đó “nước mắt thấm ra tay áo, làm ướt hết cả vạt áo”. Khi Lỗ Túc Đông Ngô đòi Kinh Châu, Lưu Bị lại khóc, dày vò những thủ hạ của Lỗ Túc không biết xử trí thế nào, cuối cùng không hoàn thành được nhiệm vụ. Khi tin Quan Vũ bị sát hại truyền tới, Lưu Bị “thét lên một tiếng lớn, hôn mê ngã vật xuống đất”, lệ thấm ướt vạt áo, ba ngày không ăn. Biểu hiện huynh đệ tình thâm. Lưu Bị từ đầu chí cuối đều dùng nước mắt để cảm động văn thần võ tướng, khóc để giành được một địa bàn lập nghiệp rồi cũng dùng khóc để có được vị trí vua đất Thục. Là thủ hạ của một vị quân vương khóc rất nhiều, việc khóc của Gia Cát Lượng cũng rất có bản lĩnh. Chí ít việc khóc của ông ta cũng có thể cùng Lưu Bị tạo nên công trạng. Nhưng Lưu bị dù nói gì đi nữa, cũng có một chút vì quốc gia mà khóc. Còn việc khóc của Gia Cát Lượng cũng chỉ là kiểu mèo khóc chuột, mượn sự thương xót để giải hiềm nghi mà thôi. Gia Cát Lượng đầu tiên là khóc Chu Du. Năm 36 tuổi, vị đô đốc thủy quân của Đông Ngô Chu Du đã bất hạnh tiêu vong, Gia Cát Lượng mang theo Triệu Tử Long và một số người khác nữa đến phúng viếng. Chỉ thấy Khổng Minh tới trước linh sàng Chu Du, bày lễ vật, tự rót rượu, đổ xuống đất rồi khóc lớn, vừa khóc vừa thuật lại Chu Du sinh thời anh hùng, văn tài võ lược, rộng lượng chí cao như thế nào, rồi giúp Tôn Quyền cát cứ Giang Đông, xây dựng sự nghiệp ra sao. Ông ta cực lực ca ngợi tấm lòng trung nghĩa, khí chất anh hùng của Chu Du. Đứng trước quan tài của Chu Du, ông đau đớn nói: “Hỡi ôi Công Cẩn, sinh tử vĩnh biệt!”. “Hồn phách có linh, xin chứng giám cho tấm lòng của tôi: từ đây trong thiên hạ, sẽ không tìm thấy đâu kẻ tri âm! Than ôi đau đớn thay!”. Ông ta nước mắt như suối, bi thương khóc lóc không dừng, thực là cảm động lòng người. Những người có mặt trong buổi hôm đó không ai là không bị nước mắt của ông ta làm cho cảm động, các tướng lĩnh không có ai không bị tình cảm của ông ta cảm hóa. Gia Cát Lượng giống như đám tang mẹ, khóc lóc kêu gào. Các tướng lĩnh Đông Ngô đều bị tung hỏa mù. Họ nghĩ không ra rằng vì sao Chu Du chết. Không phải là người trước mắt họ, nói lời mà không giữ, chua ngoa cay nghiệt thì Chu Du đâu đã chết nhanh như vậy. Giờ đến đám tang khóc viếng, phân minh là không ai ăn hiếp Giang Đông cả, có ý muốn hạ thấp Chu Du, trình hiện trước thế nhân một giả tượng rằng: không phải là tôi, Gia Cát Lượng, thế này thế nọ mà là ông, Chu Du, nhỏ nhen, việc ông tức khí mà chết hoàn toàn không liên quan tới tôi. Ông xem ông chết mà tôi vẫn còn tới khóc viếng ông, ông phải nói tôi thật rộng lượng mới đúng! Đối với một người đã chết mà ông ta vẫn không từ bỏ, lòng dạ Gia Cát Lượng quả thật còn hơn lang sói. Nghe nói loài cá khi ăn thực vật, có một loài có biểu hiện rất giống con người: chảy nước mắt. Loài cá quả thực là có biết chảy nước mắt, chỉ là chúng hoàn toàn khóc không phải vì thương tâm mà là do lượng muối dư thừa trong cơ thể nó bài tiết ra. Chức năng bài tiết của thận cá không được hoàn thiện như, trong cơ thể dư thừa quá nhiều muối, cần phải dựa vào một tuyến muối đặc thù để bài tiết. Tuyến muối trong cơ thể loài cá nằm rất gần vùng mắt của cá. Tuyến muối này có thể giúp loài cá tiêu giảm bớt lượng muối trong nước biển, từ đó mà nước biển nhạt đi. Vì thế, tuyến muối là dụng cụ làm nhạt nước biển của thiên nhiên. Nước mắt của loài cá này hoàn toàn không phải là do tình cảm mà là một loại giả từ bi, giả thương tâm, giả cảm thông. Loại nước mắt này chỉ là một tuyến ở vùng phụ cận của mắt làm ra một trò đùa quái đản, chỉ cần khi cá ăn, loại tuyến phụ sinh bài tiết ra một loại dung dịch muối của tự nhiên. Trong cuộc sống loại ngụy quân tử giả từ bi này thật đáng mỉa mai! Tiếng khóc “ghi dấu kinh điển” của Gia Cát Lượng chính là lần khóc chém Mã Tốc. Gia Cát Lượng ra Kì Sơn bắc phạt, ban đầu giành thắng lợi, giành được ba quận vùng Lũng Tây, thanh thế làm chấn động Ngụy quân. Đột nhiên có tin báo, Tư Mã Ý xuất quan, hành quân cấp tốc. Gia Cát Lượng liệu định chắc rằng Tư Mã Ý sẽ lấy Nhai Đình, chặn yết hầu của quân Thục. Vì thế muốn phái một thượng tướng danh tiếng đến trấn thủ ở Nhai Đình, không ngờ Mã Tốc muốn được nhận nhiệm vụ, cam kết “nếu như thất bại, chém đầu cả nhà”. Mã Tốc vốn là một thư sinh, bàn việc binh trên giấy còn khả dĩ, không hề có một chút kinh nghiệm thực chiến. Chỉ vì ông ta có sự giao hảo riêng với Gia Cát Lượng, lại là một nhân vật thuộc phái Kinh Tương. Chỉ vì cho ông ta một cơ hội kiến công lập nghiệp, Gia Cát Lượng đã không nghe lời mọi người mà đề bạt Mã Tốc. Kết quả, Mã Tốc sau khi tới Nhai Đình đã chống lệnh, không nghe lời can gián, lập trại ở trên núi, cuối cùng đã bị Tư Mã Ý trước chặn đường thủy, lại phóng hỏa đốt núi, tuy Thục quân mấy lần cứu viện nhưng rốt cục Nhai Đình vẫn mất. Sau khi Nhai Đình thất thủ, Gia Cát Lượng phải sửa chữa cục diện thất bại của mình, thân là chủ tướng ông ta không thể đổ thừa trách nhiệm cho ai. Nhưng là một để bảo toàn danh dự cho bản thân, nên đã đem toàn bộ sai lầm trong cuộc chiến đó đẩy hết cho Mã Tốc, luôn miệng nói là thất bại Nhai Đình là một sự kiện trọng đại trong chiến tranh. Mẫ Tốc không cách gì đã trở thành vật hy sinh của ông ta. Gia Cát Lượng chém khi chém Mã Tốc có ba lần ông ta chảy nước mắt như loài cá. Gia Cát Lượng của những người nghiện games Lần khóc thứ nhất là trách mắng sai lầm của Mã Tốc. Nói Nhai Đình là gốc của quân Thục, ngươi đã lấy sinh mạng cả gia đình để lĩnh trách nhiệm nặng nề đó, nay mất đất mất thành, tất sẽ bị xử chém. Lúc đó Mã Tốc cầu xin rằng sau khi giết chết ông ta có thể ban ân tha chết cho con ông ta, Gia Cát Lượng bị lời khẩn cầu của một người sắp chết làm cho cảm động, ông ta lập tức đáp ứng thỉnh cầu, đổng thời chảy nước mắt nói: “Ta và Nhữ Nghĩa (tên tự của Mã Tốc) là huynh đệ, con của ông cũng chính là con của ta, không cần dặn dò quá nhiều”. Ý là muốn Mã Tốc yên tâm mà đi. Mã Tốc vốn có giao hảo với Gia Cát Lượng, nay vì lợi ích của bản thân, ông ta không thể không giết Mã Tốc. Giờ đối diện với đề xuất cuối cùng của một người cha cho con mình, lương tâm của ông ta cũng không hoàn toàn mất đi. Lần thứ hai khóc là lần can gián của Tưởng Uyển. Trong cách nhìn của Tưởng Uyển: “Nay thiên hạ chưa định, mà giết người mưu trí, chẳng đáng tiếc lắm hay sao?”. Khổng Minh cũng biết rằng Mã Tốc cũng có chỗ khả dụng. Trước đây Mã Tốc đã vì Khổng Minh hiến kế hai lần và cả hai lần đều giành được thắng lợi lớn: Lần thứ nhất là bảy lần bắt Mạnh Hoạch, ông ta kiến nghị lấy công tâm làm đầu. Một lần khác là lợi dụng kế phản gián, gây xích mích trong quan hệ giữa Tào Duệ và Tư Mã Ý, kết quả là Tư Mã Ý bị biếm về quê. Gia Cát Lượng không phải không biết tài năng của Mã Tốc Mã Tốc không chết nhất định trở thành cánh tay đắc lực của ông ta, nhất định có thể giúp ông ta đối phó với một số người như Lý Nghiêm,… Nhưng ngày hôm nay nếu như không chết, rất có thể địa vị của ông ta trong tập đoàn Kinh Tương sẽ bị lung lay. Giết chết Mã Tốc cũng giống như chặt đứt một cánh tay của ông ta. Lúc đó nội tâm của ông ta cực kì phức tạp mâu thuẫn, làm sao ông ta không thương tâm cho được? Lần thứ ba là sau khi nhìn thấy thủ cấp của Mã Tốc, Không Minh lại không nén nổi sự đau đớn nội tâm, khóc lớn không thôi. Lúc này Tưởng Uyển vẫn ngoan cường hỏi: “Nay kẻ ấu trĩ thường mắc tội, đã xử theo quân pháp, thừa tướng hà cớ gì phải khóc?”. Đây là lần đâu tiên Khổng Minh nghĩ tới thất bại do việc mình dùng người không đúng gây ra, và lại sai lầm này là không thể thông cảm được. Gia Cát Luợng từ sau khi Lưu Bị chết, gạt bỏ sự độc chiếm quyền bính của Lý Nghiêm, …. Gia Cát Lượng khóc Chu Du, khóc Mã Tốc là giả nhân nghĩa lấy lòng người, vừa ăn cướp vừa la làng. Là một kẻ đầy mưu mẹo trên chính trường, ông ta rất giỏi vận dụng những biểu tượng để ngụy trang cho chính mình. Tào Tháo ba lần cười cũng có ba lần khóc. Ông ta khóc lần thứ nhất là khóc toàn gia đình mình bị Đào Khiêm giết chết, ai không thương cha thương mẹ, Tào Tháo khóc, có thể nói là khóc một cách thực tâm. Lần thứ hai khóc là khóc Điển Vi. Năm đó, Tào Tháo dẫn quân thảo phạt Trương Tú, bị trúng kế của Trương Tú, thân bị bao vây. Điển Vi sau khi mơ thấy cảnh đó, tỉnh dậy đã “ra sức hướng về hành quân”, đến chết cũng không lui, máu chảy đầy đất mà chết nhờ thế mà Tào Tháo thoát hiểm. Tào Tháo sau khi chỉnh đốn quân đội, đánh lui Trương Tú, lập tức làm lễ tế Điển Vi, tự thân mình khóc tế ông ta. Hai năm sau, Tào Tháo lại dẫn quân tới Uyển Thành tấn công Trương Tú, Tào Tháo đột nhiên khóc lớn, còn nói, ta từng đau đớn mất con trưởng, cháu yêu, nhưng ta chỉ khóc đại tướng Điển Vi của ta. Đây cũng là lần Tào Tháo khóc để lấy lòng người. Lần thứ ba khóc là khóc Quách Gia sau thất bại trong trận Xích Bích, “Nếu có Phụng Hiếu ở đây, ta đã không cô độc đến thế này”. Lần khóc này là để che đậy cho sai lầm của bản thân mình cũng là trách mắng bọn mưu sĩ vô năng, đương nhiên ông ta không quên rẳng Tuân Húc từng nhắc nhở ông ta về kế trá hàng, kế liên hoàn của Đông Ngô và cả chuyện gió Đông nữa nhưng là do Tào Tháo không nghe. Lần khóc này là sự che đây ngụy trang cho sai lầm của bản thân ông ta mà cũng là bộc lộ sự gian xảo giả dối của ông ta. Tập Tạp Xỉ bình Gia Cát Lượng nói: “Vì thiên hạ chủ trì đại cục, muốn đại thu lực vật mà không lượng tài năng mà nhậm trọng trách, theo tài phó nghiệp; biết đó là một lỗi nặng, không tuân sự nhắc nhở của minh chủ, giết người hữu ích, thật khó mà gọi là người có trí được vậy”. Tập Tạp Xỉ cho rằng Gia Cát Lượng không đủ để gọi là người có trí nhưng ông ta không nhìn thấy rằng tuy Gia Cát Lượng tuy không phải là người có trí nhưng mà ông ta là bậc có mưu. Chỉ nhìn mấy lần ông ta dùng nước mắt để tạo ra cái thanh danh hiền thần hiếu tử cũng có thể thấy là đã đạt tới đỉnh cao của kẻ giết người không dao. Trên thế giới vốn không có hận thù vô duyên vô cớ, cũng không có tình yêu vô duyên vô cớ. Là một con người có thất tình lục dục, phải sống trên trên cõi hồng trần tục thế, không cách nào thoát khỏi những hỷ nộ ai lạc do cuộc sống mang lại. Trong cuộc sống có khoái lạc, cũng có đau thương, bất tất phải cố ý tu sức cho bản thân mình chỉ cần dùng chân tâm, chân tính, chân cảm của bản thân thì có thể đối diện với cuộc sống, lớn tiếng mà khóc, lớn tiếng mà cười. Dùng cái chân tình biểu hiện cho chính mình, ấy mới có thể xem như là một con người./. vietimes.com.vn
-
Khổng Minh là một nhân vật rất quen thuộc với độc giả Việt. Đối với nhiều người đọc, Khổng Minh là một nhân vật đầy mưu lược, thông hiểu đạo lý, phù chính nghĩa trong tác phẩm "Tam Quốc diễn nghĩa" lừng danh. Tuy nhiên hiện nay ở Trung Quốc, dư luận có nhiều cách lý giải mới về Khổng Minh. Điều đó có thể do các giá trị cũ thay đổi, hoặc vì một lý do nào đó khác… Chúng ta có thể tự cảm nhận khi đọc bài viết này. Khổng Minh "thần cơ diệu toán" Tác giả của phần trích trong hai chương sách bình về Gia Cát Lượng được trích dưới đây là Mai Triêu Vinh, sinh năm 1970 ở Vũ Hán, Hồ Bắc, gốc là người Nam Xương, Giang Tây. Ông hiện là Tổng Giám đốc Nhà xuất bản Đại học Vũ Hán, chi nhánh Bắc Kinh. Vốn nổi tiếng bởi những cuốn sách gây sốc và bán chạy vào loại nhất. Mai Triêu Vinh đã viết rất nhiều tác phẩm và hầu hết đều gây được sự chú ý của người đọc. Các tác phẩm của ông bao gồm: Tiến hóa luận: câu chuyện mạnh được yếu thua; 12 quy luật suy vong của các triều đại Trung Quốc; Lược sử nhân loại: Chúng tôi có 300 vạn năm; Siêu đế quốc: giải mã những vương triều cường thịnh Trung Quốc; Nhà đại cải cách Ung Chính: thực lục về việc phản đối lợi ích của tập đoàn; Bình luận về 7 đại gian hùng trong lịch sử Trung Quốc;… Hầu hết những tác phẩm của ông đều mang tính chất phản đề, “nói ngược”. Và cũng vì những cuốn sách này, người ta đã coi Mai Triêu Vinh là nhà bình luận lịch sử xã hội sắc sảo. Gần đây, cuốn sách Mai Triêu Vinh bình luận về Gia Cát Lượng đã gây xôn xao dư luận Trung Quốc. Lần đầu tiên một học giả đã trên giấy trắng mực đen công khai tuyên bố Gia Cát Lượng là kẻ ngụy quân tử, đầy thủ đoạn, giả nhân giả nghĩa nhằm đạt bằng được dã tâm chính trị của mình. Cuốn sách thực sự là một cú sốc lớn bởi lẽ lâu nay Gia Cát Lượng vẫn tồn tại như một điển hình về sự mưu trí tuyệt đỉnh. Gia Cát Lượng "diễn trò" trước các mưu sĩ Giang Đông Ý kiến về cuốn sách do vậy rất trái ngược. Người tung hô, cho rằng đây là kiến giải mới mẻ, lập luận thuyết phục, là những phản đề đầy giá trị. Kẻ cho rằng đó chỉ là cách “làm tiền” lộ liễu… Đoạn trích dưới đây thuộc phần 12 chương II và phần thứ nhất chương III trong cuốn sách đó. “Giả thần mượn quỷ” Trong thời kỳ Tam Quốc, Gia Cát Lượng được mọi người công nhận là kẻ “thông hiểu thần thánh”. Trong hồi thứ 49 Tam quốc diễn nghĩa nói đến việc ông mượn gió Đông, hỏa thiêu Xích Bích, đại phá 80 vạn quân Tào Tháo. Gia Cát Lượng tự kể: “Từng gặp đạo nhân, được truyền thụ kỳ môn độn giáp, có thể hô phong hoán vũ”. Nhưng thật ra đây chỉ là một mánh khóe nhằm lừa bịp Chu Du mà thôi. Gia Cát Lượng chẳng qua đã lợi dụng sự mê tín của mọi người đối với thần thánh để giở trò huyễn hoặc. Công bằng mà nói, ông là người cực kỳ thông minh, giỏi nắm bắt cơ hội. Những gì ông làm thường rất giản đơn, nhưng ông ta che che đậy đậy, lúc ẩn lúc hiện khiến cho mọi người không biết đâu mà lần ra đầu mối. Những điều thực ra rất giản đơn, ông biết cách làm cho nó trở nên rắc rối, khó hiểu. Mỗi khi Gia Cát Lượng điều binh khiển tướng, đều có một chút gì đó thần bí. Không phải chỉ đơn giản trao túi gấm cho tướng lĩnh, mà còn sẵn sàng lắng nghe những kháng nghị của họ. Điều này làm cho các tướng lĩnh cũng như binh sĩ không hiểu rõ ràng toàn bộ diễn biến của chiến cục. Thuộc hạ chỉ còn biết “y kế” mà hành sự. Tác dụng của việc làm như thế là khiến cho mọi người có cảm giác thần bí về Gia Cát Lượng, trở thành một quân cờ trong tay ông, không nắm được toàn bộ chiến lược nên thiếu hẳn tinh thần hợp tác. Hai mặt này hiển nhiên sự nguy hại của cái sau lớn hơn so với cái trước rất nhiều. Vô vị nhất là việc mượn gió Đông. Khi mọi người đồng tâm đồng sức kháng Tào, Gia Cát Lượng lại lợi dụng một chút hiểu biết về thiên văn của mình để giở mánh khóe lừa bịp ba quân. Đăng đàn làm phép, làm trò huyễn hoặc, thần thánh hóa bản thân mình để đạt được mục đích chính trị. Khoa trương công lao của bản thân, cướp đoạt công lao to lớn của Hoàng Cái và Chu Du, tựa hồ thắng lợi trong trận hỏa thiêu Xích Bích hoàn toàn là do việc Gia Cát Lượng làm phép mà đem lại. Bao nhiêu khó nhọc vào sinh ra tử của các tướng lĩnh và hàng vạn binh sĩ trở thành một vở kịch trên sân khấu. Một tướng như Gia Cát Lượng đã khiến cho sự nghiệp của Thục Hán gặp rất nhiều gian truân. Trận Đương Dương chính là một ví dụ. Đương nhiên nếu đọc Tam quốc diễn nghĩa mà chỉ thấy miêu tả Triệu Vân xả thân cứu A Đẩu, Trương Phi hét lớn lui quân Tào trước cầu Tràng Bản… Như thế chính là tác giả muốn che giấu sự bất tài của Gia Cát Lượng. Vốn là Tào Tháo truy kích thắng lợi, nhưng trong tác phẩm ngược lại, quân Lưu Bị ở đâu cũng chiếm được thượng phong. Thực tế trong trận Đương Dương, Gia Cát Lượng không hề giành được thắng lợi nào về mặt chính trị. Bởi vì lần này là đánh trực diện ông không có cách nào giở trò bịp bợm ma quỷ được. Cuối cùng không thể không nhắc tới câu nói thẳng thắn trong Tam Quốc chí Gia Cát Lượng truyện: “Tại Hạ Khẩu, Lượng nói: Việc rất gấp, hãy phục mệnh đi cứu Tôn tướng quân”. Gia Cát Lượng giở trò quỷ thần, lừa dối chỉ là nhất thời, ông không thể lừa được cả đời. Gia Cát Lượng gặp Lưu Bị khi Cửu Châu đang hỗn loạn, anh hùng khắp nơi nổi lên. Quân thần tương ngộ, như cá gặp nước. Nhưng không thể cùng quân Tào tranh thiên hạ đành vứt bỏ Kinh Châu, lui về Ba Thục, dụ dỗ cướp nước của Lưu Chương, giả liên minh với quân Ngô, cùng khổ giữ đất Kỳ Sơn, tiếm quyền ở những nơi xa xôi… đó là kế sách của những kẻ hèn mọn. “Nhân giả, nghĩa cũng giả theo” Con người có thất tình lục dục, khóc và cười vốn đối lập. Từ khi con người oa oa chào đời, âm thanh đầu tiên mang đến thế giới là “tiếng khóc”, tới khi con người đi hết cõi đời, âm thanh cuối cùng lưu lại dương gian cũng là “tiếng khóc”. “Khóc”, trên thực tế là một bản năng của con người. Khi buồn thương khóc, khi vui sướng cũng khóc. Khóc đã trở thành cách biểu hiện tình cảm nội tâm, Khóc, thuở bé không phân biệt giới tính, bé trai bé gái đều có thể khóc bất cứ lúc nào, đến khi thành niên, khóc dường như trở thành độc quyền của nữ giới, đàn ông thì nhất định “có nước mắt nhưng không dễ để rơi”, phụ nữ khóc lại là “cành hoa lê mùa xuân điểm chút mưa”. Khi đã thành gia thất, đàn ông có chuyện bực bội, cùng lắm chỉ có thể đạp cửa mà đi, uống say xỉn rồi về. Nhưng tuyệt đối không thể để rơi nước mắt đau khổ. Phụ nữ thì lặng lẽ rớt nước mắt, âm thầm sầu não. Thảo nào có người nói: trẻ con dùng nước mắt để đối phó với người lớn, phụ nữ lấy nước mắt để đối phó với đàn ông, còn đàn ông thì sao? Chỉ có thể dùng nước mắt để đối phó với thế giới! Trong tiếng khóc, họ giải toả áp lực, thách thức số phận. Chuyện thiên hạ đâu chỉ "luận bàn" qua tiệc rượu! Khóc và cười là một cặp biểu tượng tình cảm đối lập. Con người có thể khóc khi vui sướng, cũng có thể cười khi đau đớn. Tào Tháo gặp khó khăn cũng có khóc và cười. Chiến bại Xích Bích là giao lộ của tính mệnh. Nhưng tác giả không tập trung miêu tả vào mưu kế để thoát thân mà lại tập trung miêu tả ba lần họ Tào cười lớn trên đường tháo chạy. Lần thứ nhất, ở “phía tây Ô Lâm”, Tào Tháo ngồi trên ngựa “ngửa mặt cười không dứt”, Tào nói; “Ta không cười người khác, chỉ cười Chu Du vô mưu, Gia Cát Lượng thiểu trí. Nếu là lúc ta dụng binh, ta sẽ cho một đội quân mai phục ở đây, như thế chẳng hơn ư?” Nói chưa dứt, Triệu Tử Long đột nhiên xông ra, khiến cho sự đắc chí của Tào Tháo phải nhanh chóng “hạ mã uy”. Lần thứ hai, ở “Hồ Lô khẩu”, Tào Tháo ngồi dưới một khu rừng thưa, ngửa mặt cười lớn, lại chê Gia Cát Lượng, Chu Du trí mưu chưa đủ, kết quả là Trương Dực Đức xuất hiện làm cho ông ta hồn xiêu phách tán. Không chỉ tổn thất nghiêm trọng, đến cả ngựa xe, quân lương cũng bị cướp. Lần thứ ba, trên “đường nhỏ Hoa Dung”, Tào Tháo lại cười Gia Cát Lượng, Chu Du là “loại vô năng”. Đang cười thì Vân Trường cầm đao đứng sừng sững trước mặt, ông ta cười không thành tiếng, chỉ còn biết cúi đầu cầu xin tha mạng. “Ba lần cười” này trong tiểu thuyết có thể nói là tuyệt bút. Tuy có thể thấy Gia Cát Lượng dụng binh vô cùng kỳ diệu, nhưng Tào Tháo so với những người khác cũng rất đáng nể vì. Thân lâm cảnh hiểm, vẫn có thể cười, chế giễu đối thủ của mình thiếu trí tuệ cơ mưu. Nếu là người khác, chỉ e chạy thoát thân còn chẳng kịp, huống hồ trong những trường hợp như vậy. Đặc biệt là ba lần cười của ông ta, càng khiến cho người ta vỗ bàn mà khen là tuyệt bút. Quân ít ngựa thiếu, bản thân không còn lực để tiếp tục chiến đấu mà Quan Vũ thần dũng vô song, chém Nhan Lương, giết Văn Sú nếu như dùng biện pháp cứng rắn thì hung nhiều hơn cát. Tục ngữ nói, kẻ thức thời mới là tuấn kiệt. Đến bước đường cùng, Tào Tháo đã dùng tình nghĩa để làm mềm lòng Quan Vũ, cầu xin được mở cho một con đường sống. Bởi vì ông ta trong quá khứ đã từng có ân với Quan Vũ mà Quan Vũ lại là con người lấy “nghĩa” làm đầu. Cuối cùng Tào Tháo đã tự mình hóa giải nguy nan. Có thể khuất phục được nhân tài ấy chính là đại trượng phu, cách xử sự với mọi người của Tào Tháo thể hiện điều đó.