Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

yeuphunu

Hội viên
  • Số nội dung

    1279
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    5

Everything posted by yeuphunu

  1. Gần đây Biển Đông dậy sóng, cùng với sự hung hăng ngày một tăng của Trung Quốc sau một thời kỳ dài tích lũy thành công về kinh tế và kèm theo đó là quân sự. Cái đất nước hiếu chiến được sinh tồn dựa trên triết lý "Nhất thống thiên hạ" ấy sẽ không bao giờ dừng lại. Nếu có đủ nguồn lực để thực hiện dã tâm, có lẽ dân Trung Quốc chỉ chịu dừng lại khi họ nhất thống toàn bộ địa cầu. Nói có vẻ hơi hoang đường, nhưng cái đó phản ánh đúng bản chất của người Trung Quốc. Phân tích và ước đoán về các chiến lược của Trung Quốc hoàn toàn không khó. Hầu hết các dự đoán đưa ra từ rất lâu về các bước đi của Trung Quốc đều đã thành hiện thực. Hơn bất cứ dân tộc nào, người Việt Nam, với tư cách một dân tộc phải đánh trả những đợt tấn công xâm lược của người Trung Hoa trong suốt nhiều thế kỷ, hiểu hơn bất cứ ai về bản chất của dân Trung Hoa. Không nên lừa phỉnh nhau dân Trung Hoa phần lớn ưa hòa bình, dã tâm xâm lược chỉ ở một số chóp bu cai trị. Dân tộc nào sẽ dựng lên chính quyền đó, nhất là khi Trung Quốc có truyền thống tiến hành các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau và xâm lược ra bên ngoài trong suốt lịch sử tồn tại của nó. Phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, cái triết lý làm người cốt lõi của dân Trung Quốc, được nhồi nhét trong đầu ngay khi mới sinh ra, là tư tưởng "Nhất thống thiên hạ". Họ sẽ đánh nhau, sẽ xâm lược bất cứ ai, miễn là họ đủ mạnh để làm điều đó. Chúng ta đang đứng ở một kỷ nguyên đầy thử thách, khi số phận dân tộc đang được cân đo. Bất cứ một nỗ lực nào của Việt Nam ngày hôm nay, sẽ quyết định vận mệnh dân tộc trong ngày mai. Tương quan sức mạnh Việt Nam - Trung Quốc là khoảng cách có tính thế hệ, nhưng khi đặt tương quan ấy trong bối cảnh phức tạp của thế giới ngày nay, khoảng cách không còn quá đáng sợ, và cốt yếu hơn, nếu đặt tương quan ấy trước lịch sử đề kháng ngoại xâm trải qua vài chục thế kỷ của người Việt, thì sự chênh lệch ấy không còn là điều mà một dân tộc có lịch sử hiển hách đáng phải cúi đầu. Nếu lịch sử của Trung Quốc là lịch sử xâm lăng, thì chính dân tộc Việt Nam, lại ghi dấu ấn của mình bằng những trang sử chống ngoại xâm oanh liệt. Cố nhiên, giữ đất nước có thể bằng sức mạnh, nhưng hơn hết vẫn phải bằng cái đầu, và cái đầu ấy phải là một cái đầu lạnh nhưng đầy nhiệt huyết. Trung Quốc sẽ bị chặn lại khi mọi dã tâm của nó phơi bày và buộc thế giới phải nhìn nó với đầy sự e dè. Trung Quốc ngày một hung hăng hơn khi nó mạnh lên, điều đó đã được tính toán trước, nhưng đó cũng chính là lúc nó dễ phạm sai lầm. Trên thực tế Trung Quốc đang phạm nhiều sai lầm chiến lược thay vì thành công trên con đường thực hiện dã tâm xâm lăng xuống phía nam của nó. Trung Quốc rất mạnh, với năng lực sản xuất đáng gờm, xuất siêu với hàng loạt quốc gia và vững bước trở thành quốc gia dẫn đầu quy mô GDP trong ít năm tới. Thế nhưng chính đó cũng là điểm yếu chí mạng của TQ, khi nó phụ thuộc quá lớn vào các nguồn tài nguyên bên ngoài. Eo biển Mallaca, sẽ vẫn là một yếu điểm chí mạng của TQ trong ít nhất vài chục năm tới. Mà thật không may, lãnh thổ Việt Nam với bờ biển dài bao trọn biển Đông, với các căn cứ không hải quân ở phần cực Nam lãnh thổ, vốn nằm ngoài tầm với của Không - Hải quân TQ, lại có khả năng khóa chặt eo Mallacca nếu thực sự bị đẩy đến bước đường cùng. Sẽ thế nào nếu toàn bộ đường vận tải dầu khí và hàng hóa của TQ bị chặn lại khi chiến tranh Trung - Việt nổ ra? Đất nước to lớn ấy chắc chắn sẽ cạn kiệt dầu trong không quá 6 tháng đánh nhau, và bước đến giai đoạn suy tàn. Một cuộc chiến với Việt Nam, dù là với bất cứ đối thủ nào, đều sẽ phải kéo dài tới vài thập kỷ, Mỹ, Pháp hiểu điều này hơn bất cứ ai, và Trung Quốc thì lại càng hiểu hơn bất cứ ai trong số đó. Hơn nữa, cái logic rất đơn thuần với các nước xung quanh tại Đông Nam Á: Những gì TQ làm với Việt Nam ngày hôm nay, sẽ là ngày mai đối với họ một khi TQ giải quyết xong câu chuyện Việt Nam. Thậm chí điều này đúng với mọi cường quốc khác trong khu vực gồm Nhật Bản, Ấn Độ và vị trí thống trị của Hoa Kỳ. Ai cũng nhìn thấy một logic tất yếu, giúp Việt Nam trụ vững cũng là giúp chính họ. Chúng ta không lo thiếu bạn khi có quá nhiều giá trị chung để chia sẻ. Hơn bất cứ lúc nào, người Việt Nam cần xiết chặt tay nhau trước hiểm họa chủ quyền, chiến tranh rất khó xảy ra bởi cầm quyền ở Trung Quốc là một đám con bò nhưng cũng đầy nham hiểm, nhưng sự đê tiện chắc chắn nhiều hơn. Đây chính là lúc các ván bài tổng hợp cần được phát huy, mà sự quật cường dân tộc đóng một vai trò không nhỏ. Chiến tranh chắc chắn không xảy ra, nếu người Việt Nam đòan kết, có đủ dũng khí chấp nhận nó và có đủ sức mạnh để lao vào cái địa ngục ấy. ==================================================================================== YPN sưu tầm trên internet bài viết này, có cái nhìn sâu hơn về TQ
  2. Đến bạn Hồ Cẩm Đào mà tuyên bố như trên, thì cũng chẳng ai tin. Huống hồ gì bạn Phó tổng tham mưu trưởng quân đội
  3. Chết cười với dân "nghiền" câu cá Hãy cũng thư giãn với những khoảnh khắc hài hước. Cùng cười nghiêng ngả với các chuyên gia đi câu cá nào! Dân nghiền câu có thể câu cá mọi lúc, mọi nơi và mọi... tư thế. Kỹ thuật câu cá siêu... hài Ôi giời ơi, đi câu cá hay bị cá câu đây? Tay câu cá này có vẻ hơi giống "tác phẩm" của mình Câu cá kiểu này chết chắc rồi Và đây, câu cá... miễn bàn luận!
  4. Thử tài tán gái Một ông bố suốt ngày phàn nàn với con trai: trai tráng ngần này tuổi đầu rồi mà vẫn không tài nào có được con bồ, thằng này kém quá! Kém hơn tao rồi! Anh con trai gân cổ : Bố có giỏi thì tán thử xem, con với bố ra ngoài kia, thi xem ai tán được trước? Bố: Đi thì đi, tao sợ gì! Hai bố con ra ngõ! Thấy 1 cô bé rất xinh đi xe đạp lướt qua, anh con tán tỉnh, "em ơi anh yêu em em có yêu anh không?" Gặp đúng cô đanh đá, cô này ngoái lại : Yêu yêu cái thằng bố anh ý! Ông bố nhảy cẫng lên: Đấy! thấy chưa? mày thua....
  5. Tốt nhất là ăn uống tránh xa thực phẩm có nguồn gốc của anh bạn china,
  6. Teen Việt được Tổng thống Mỹ tặng bằng khen Đây thực sự là một động lực rất lớn cho cá nhân bạn ấy, đồng thời cũng là dấu ấn cho tri thức trẻ Việt Nam mà chàng cựu sinh trường Marie Curie này là một tấm gương tiêu biểu. Được 8 trường đại học top của Mỹ trao tặng học bổng mời nhập học (Saint Johnis University, Universy of Porland, Portland State Universty, Seton Hall University, Universty of Mount Union, Saint Johnis University, Iona College, Arizona State University). Không những thế, với thành tích học tập xuất sắc đặc biệt, cậu học trò sinh năm 1992 này đã được đích thân tổng thống Obama ký tặng bằng khen. Đó chính là Nguyễn Văn Thành Mỹ, chàng trai đất Hà Thành đang theo học chương trình IB (Chương trình THPT Quốc tế) của trường Ef International Academy – tại thành phố New York, Mỹ. Bằng khen cho thành tích xuất sắc của Nguyễn Văn Thành Mỹ được đích thân Tổng thống Mỹ Obama ký tặng. Được biết, Thành Mỹ là một trong số 3 gương mặt học viên xuất sắc nhất của trường được nhận bằng khen do chính Tổng thống Obama ký tặng. Ngay từ đầu năm lớp 12, cậu học trò người Hà Nội đã được 8 trường đại học của Mỹ cấp học bổng đại học, vì yêu thích các môn kinh tế, do đó Thành Mỹ chọn ngành Tài chính - Quản lý trường Saint Johnis University và tháng 8 này bạn ấy bắt đầu cho 4 năm đại học. Thành Mỹ trong Lễ tốt nghiệp đón bằng khen của Tổng thống, Mỹ vinh dự được đeo dây vàng (dành cho học sinh xuất sắc nhất của trường). Ngoài việc học, hè nào Thành Mỹ cũng dành thời gian dạy học cho các em nhỏ của một số trung tâm chăm sóc trẻ mồ côi, tham gia các hoạt động của cộng đồng du học sinh ở Mỹ. Chia sẻ về khó khăn trong những ngày đầu nhập học tại Mỹ, Thành Mỹ cho biết: "Khi mới sang mình rất bỡ ngỡ, mọi thứ đều mới lạ. Sau mấy buổi học trên lớp thầy giao cho viết một bài luận 700 từ. Mình viết mãi cũng chỉ được 400 từ, hôm đó mình đã thức chọn một ngày một đêm để tìm tài liệu viết cho đủ 700 từ và đến sáng hôm sau mình hoàn thành bài luận vào lúc 7h sáng và chỉ kịp ăn sáng nhanh để lên lớp. Kết quả bài luận của mình cũng chỉ được loại C, nhưng mình không buồn vì mình đã làm hết khả năng. Và bài luận ấy là bài duy nhất mình được điểm C, những bài sau mình đều đạt loại A". Thành Mỹ rất thích kết bạn với các bạn du học sinh khác, làm quen với các anh chị đi trước để học hỏi kinh nghiệm. Thành Mỹ chia sẻ: “Mình thấy cách này rất hiệu quả và cũng đúng với sở thích của mình là "thích kết bạn", thích đi du lịch khám phá những chân trời mới”. Thành Mỹ còn rất thích học ngoại ngữ, Mỹ đang học thêm tiếng Tây Ba Nha. Sau khi trải qua “khổ ải” của chương trình học IB, Thành Mỹ đã chọn trường Saint Johnis University nhờ những kiến thức vững chắc và niềm đam mê kinh tế, tự nhiên. Trường Saint Johnis University, ngôi trường đẳng cấp mà Thành Mỹ chọn học. Hy vọng rằng trong tương lai Thành Mỹ sẽ gặt hái được nhiều thành công hơn nữa để làm rạng danh cho đất nước, quê hương nhỏ bé của chúng ta các bạn nhỉ? Theo:Vietnamnet
  7. Xem cách Trung quốc giải quyết chuyện thiếu phụ nữ nè ====================================================================== Do sự chênh lệch quá lớn về giới tính đã buộc nhiều chàng trai Trung Quốc phải sang tận châu Phi tìm bạn đời. Theo báo cáo, kể từ khi Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa cho đến nay, đã có một lượng lớn đàn ông Trung Quốc sang châu Phi kết hôn. Nhiều người đánh giá đây là hiện tượng bất thường, bởi đó là sự hòa trộn giữa 2 phông nền văn hóa quá khác biệt từ ngôn ngữ đến lối sống. Tuy nhiên, theo lí giải đây là cách duy nhất để họ có thể tìm được hạnh phúc. Người đàn ông Trung Quốc kết hôn với một cô gái Angola Một kỹ sư Trung Quốc lấy vợ người Angola chia sẻ: “Vợ tôi là một phụ nữ xinh đẹp với thân hình mảnh khảnh. Da cô ấy nâu mỏng chứ không đen dày như chúng ta thường nghĩ. Hiện chúng tôi đang có một gia đình hạng phúc với 2 cậu nhóc song sinh lên 6 tuổi. Nếu bắt gặp chúng lần đầu, bạn sẽ thấy chúng rất giống bố, ngoại trừ nước da hơi sậm màu được di truyền từ mẹ”. Phần lớn những người đàn ông Trung Quốc lấy vợ châu Phi là do làm việc nhiều năm ở đó, hoặc chỉ làm công nhân ở đó một vài năm nhưng quyết định đi đến hôn nhân với phụ nữ bản địa để… chống ế. Người đàn ông ở Liêu Ninh kết hôn với một phụ nữ đến từ Ethiopia Mới đây, tạp chí Forbes vừa công bố một khảo sát cho thấy, hiện tỉ lệ chênh lệch giới tính của Trung Quốc đang rơi vào top cao nhất thế giới với khoảng 120 bé trai/100 bé gái. Dự tính tới năm 2030, 25% đàn ông Trung Quốc dưới 30 tuổi sẽ không thể lấy được vợ. Vấn đề này có thể còn nghiêm trọng hơn đối với các chàng trai ở nông thôn do nam giới ở những khu vực này thường thất học, nghèo và họ sẽ bị thua thiệt đủ đường trong việc cạnh tranh cô dâu cho mình. Viễn cảnh về việc không tìm được một bạn đời có thể là một trong những nỗi sợ hãi lớn nhất trong cuộc đời của đàn ông Trung Quốc, nhất là khi tỉ lệ giới tính chênh lệch lớn như hiện nay. Đây là con của một người đàn ông Trung Quốc kết hôn với một phụ nữ châu Phi. Thoạt nhìn, ai cũng nghĩ đây là một đứa trẻ người Trung Quốc thuần túy. Mới đây, để cải thiện tình trạng mất cân bằng dân số của quốc gia, tỉnh Quảng Đông – tỉnh đông dân nhất Trung Quốc đã đề xuất chính phủ nới lỏng chính sách 1 con. Trước đó, Trung Quốc cũng đã từng thí điểm chương trình tương tự ở 5 tỉnh Hắc Long Giang, Cát Lâm, Liêu Ninh, Giang Tô và Chiết Giang để xem xét hiệu quả của chính sách nới lỏng. Sau khoảng 5 năm, mô hình này sẽ được đánh giá và nếu được sẽ nhân rộng khắp cả nước. Thiên Thư (Theo Xinhua, Forbes)
  8. Đi tìm Khổng Minh thật trong "Tam quốc diễn nghĩa" Khổng Minh là một nhân vật rất quen thuộc với độc giả Việt. Đối với nhiều người đọc, Khổng Minh là một nhân vật đầy mưu lược, thông hiểu đạo lý, phù chính nghĩa trong tác phẩm "Tam Quốc diễn nghĩa" lừng danh. Tuy nhiên hiện nay ở Trung Quốc, dư luận có nhiều cách lý giải mới về Khổng Minh. Điều đó có thể do các giá trị cũ thay đổi, hoặc vì một lý do nào đó khác… Chúng ta có thể tự cảm nhận khi đọc bài viết này. Khổng Minh "thần cơ diệu toán" Tác giả của phần trích trong hai chương sách bình về Gia Cát Lượng được trích dưới đây là Mai Triêu Vinh, sinh năm 1970 ở Vũ Hán, Hồ Bắc, gốc là người Nam Xương, Giang Tây. Ông hiện là Tổng Giám đốc Nhà xuất bản Đại học Vũ Hán, chi nhánh Bắc Kinh. Vốn nổi tiếng bởi những cuốn sách gây sốc và bán chạy vào loại nhất. Mai Triêu Vinh đã viết rất nhiều tác phẩm và hầu hết đều gây được sự chú ý của người đọc.Các tác phẩm của ông bao gồm: Tiến hóa luận: câu chuyện mạnh được yếu thua; 12 quy luật suy vong của các triều đại Trung Quốc; Lược sử nhân loại: Chúng tôi có 300 vạn năm; Siêu đế quốc: giải mã những vương triều cường thịnh Trung Quốc; Nhà đại cải cách Ung Chính: thực lục về việc phản đối lợi ích của tập đoàn; Bình luận về 7 đại gian hùng trong lịch sử Trung Quốc;… Hầu hết những tác phẩm của ông đều mang tính chất phản đề, “nói ngược”. Và cũng vì những cuốn sách này, người ta đã coi Mai Triêu Vinh là nhà bình luận lịch sử xã hội sắc sảo. Gần đây, cuốn sách Mai Triêu Vinh bình luận về Gia Cát Lượng đã gây xôn xao dư luận Trung Quốc. Lần đầu tiên một học giả đã trên giấy trắng mực đen công khai tuyên bố Gia Cát Lượng là kẻ ngụy quân tử, đầy thủ đoạn, giả nhân giả nghĩa nhằm đạt bằng được dã tâm chính trị của mình. Cuốn sách thực sự là một cú sốc lớn bởi lẽ lâu nay Gia Cát Lượng vẫn tồn tại như một điển hình về sự mưu trí tuyệt đỉnh. Gia Cát Lượng "diễn trò" trước các mưu sĩ Giang Đông Ý kiến về cuốn sách do vậy rất trái ngược. Người tung hô, cho rằng đây là kiến giải mới mẻ, lập luận thuyết phục, là những phản đề đầy giá trị. Kẻ cho rằng đó chỉ là cách “làm tiền” lộ liễu… Đoạn trích dưới đây thuộc phần 12 chương II và phần thứ nhất chương III trong cuốn sách đó.“Giả thần mượn quỷ” Trong thời kỳ Tam Quốc, Gia Cát Lượng được mọi người công nhận là kẻ “thông hiểu thần thánh”. Trong hồi thứ 49 Tam quốc diễn nghĩa nói đến việc ông mượn gió Đông, hỏa thiêu Xích Bích, đại phá 80 vạn quân Tào Tháo. Gia Cát Lượng tự kể: “Từng gặp đạo nhân, được truyền thụ kỳ môn độn giáp, có thể hô phong hoán vũ”. Nhưng thật ra đây chỉ là một mánh khóe nhằm lừa bịp Chu Du mà thôi. Gia Cát Lượng chẳng qua đã lợi dụng sự mê tín của mọi người đối với thần thánh để giở trò huyễn hoặc. Công bằng mà nói, ông là người cực kỳ thông minh, giỏi nắm bắt cơ hội. Những gì ông làm thường rất giản đơn, nhưng ông ta che che đậy đậy, lúc ẩn lúc hiện khiến cho mọi người không biết đâu mà lần ra đầu mối. Những điều thực ra rất giản đơn, ông biết cách làm cho nó trở nên rắc rối, khó hiểu. Mỗi khi Gia Cát Lượng điều binh khiển tướng, đều có một chút gì đó thần bí. Không phải chỉ đơn giản trao túi gấm cho tướng lĩnh, mà còn sẵn sàng lắng nghe những kháng nghị của họ. Điều này làm cho các tướng lĩnh cũng như binh sĩ không hiểu rõ ràng toàn bộ diễn biến của chiến cục. Thuộc hạ chỉ còn biết “y kế” mà hành sự. Tác dụng của việc làm như thế là khiến cho mọi người có cảm giác thần bí về Gia Cát Lượng, trở thành một quân cờ trong tay ông, không nắm được toàn bộ chiến lược nên thiếu hẳn tinh thần hợp tác. Hai mặt này hiển nhiên sự nguy hại của cái sau lớn hơn so với cái trước rất nhiều. Vô vị nhất là việc mượn gió Đông. Khi mọi người đồng tâm đồng sức kháng Tào, Gia Cát Lượng lại lợi dụng một chút hiểu biết về thiên văn của mình để giở mánh khóe lừa bịp ba quân. Đăng đàn làm phép, làm trò huyễn hoặc, thần thánh hóa bản thân mình để đạt được mục đích chính trị. Khoa trương công lao của bản thân, cướp đoạt công lao to lớn của Hoàng Cái và Chu Du, tựa hồ thắng lợi trong trận hỏa thiêu Xích Bích hoàn toàn là do việc Gia Cát Lượng làm phép mà đem lại. Bao nhiêu khó nhọc vào sinh ra tử của các tướng lĩnh và hàng vạn binh sĩ trở thành một vở kịch trên sân khấu. Một tướng như Gia Cát Lượng đã khiến cho sự nghiệp của Thục Hán gặp rất nhiều gian truân. Trận Đương Dương chính là một ví dụ. Đương nhiên nếu đọc Tam quốc diễn nghĩa mà chỉ thấy miêu tả Triệu Vân xả thân cứu A Đẩu, Trương Phi hét lớn lui quân Tào trước cầu Tràng Bản… Như thế chính là tác giả muốn che giấu sự bất tài của Gia Cát Lượng. Vốn là Tào Tháo truy kích thắng lợi, nhưng trong tác phẩm ngược lại, quân Lưu Bị ở đâu cũng chiếm được thượng phong. Thực tế trong trận Đương Dương, Gia Cát Lượng không hề giành được thắng lợi nào về mặt chính trị. Bởi vì lần này là đánh trực diện ông không có cách nào giở trò bịp bợm ma quỷ được. Cuối cùng không thể không nhắc tới câu nói thẳng thắn trong Tam Quốc chí Gia Cát Lượng truyện: “Tại Hạ Khẩu, Lượng nói: Việc rất gấp, hãy phục mệnh đi cứu Tôn tướng quân”. Gia Cát Lượng giở trò quỷ thần, lừa dối chỉ là nhất thời, ông không thể lừa được cả đời. Gia Cát Lượng gặp Lưu Bị khi Cửu Châu đang hỗn loạn, anh hùng khắp nơi nổi lên. Quân thần tương ngộ, như cá gặp nước. Nhưng không thể cùng quân Tào tranh thiên hạ đành vứt bỏ Kinh Châu, lui về Ba Thục, dụ dỗ cướp nước của Lưu Chương, giả liên minh với quân Ngô, cùng khổ giữ đất Kỳ Sơn, tiếm quyền ở những nơi xa xôi… đó là kế sách của những kẻ hèn mọn. “Nhân giả, nghĩa cũng giả theo” Con người có thất tình lục dục, khóc và cười vốn đối lập. Từ khi con người oa oa chào đời, âm thanh đầu tiên mang đến thế giới là “tiếng khóc”, tới khi con người đi hết cõi đời, âm thanh cuối cùng lưu lại dương gian cũng là “tiếng khóc”. “Khóc”, trên thực tế là một bản năng của con người. Khi buồn thương khóc, khi vui sướng cũng khóc. Khóc đã trở thành cách biểu hiện tình cảm nội tâm, Khóc, thuở bé không phân biệt giới tính, bé trai bé gái đều có thể khóc bất cứ lúc nào, đến khi thành niên, khóc dường như trở thành độc quyền của nữ giới, đàn ông thì nhất định “có nước mắt nhưng không dễ để rơi”, phụ nữ khóc lại là “cành hoa lê mùa xuân điểm chút mưa”. Khi đã thành gia thất, đàn ông có chuyện bực bội, cùng lắm chỉ có thể đạp cửa mà đi, uống say xỉn rồi về. Nhưng tuyệt đối không thể để rơi nước mắt đau khổ. Phụ nữ thì lặng lẽ rớt nước mắt, âm thầm sầu não. Thảo nào có người nói: trẻ con dùng nước mắt để đối phó với người lớn, phụ nữ lấy nước mắt để đối phó với đàn ông, còn đàn ông thì sao? Chỉ có thể dùng nước mắt để đối phó với thế giới! Trong tiếng khóc, họ giải toả áp lực, thách thức số phận. Chuyện thiên hạ đâu chỉ "luận bàn" qua tiệc rượu! Khóc và cười là một cặp biểu tượng tình cảm đối lập. Con người có thể khóc khi vui sướng, cũng có thể cười khi đau đớn. Tào Tháo gặp khó khăn cũng có khóc và cười. Chiến bại Xích Bích là giao lộ của tính mệnh. Nhưng tác giả không tập trung miêu tả vào mưu kế để thoát thân mà lại tập trung miêu tả ba lần họ Tào cười lớn trên đường tháo chạy.Lần thứ nhất, ở “phía tây Ô Lâm”, Tào Tháo ngồi trên ngựa “ngửa mặt cười không dứt”, Tào nói; “Ta không cười người khác, chỉ cười Chu Du vô mưu, Gia Cát Lượng thiểu trí. Nếu là lúc ta dụng binh, ta sẽ cho một đội quân mai phục ở đây, như thế chẳng hơn ư?” Nói chưa dứt, Triệu Tử Long đột nhiên xông ra, khiến cho sự đắc chí của Tào Tháo phải nhanh chóng “hạ mã uy”. Lần thứ hai, ở “Hồ Lô khẩu”, Tào Tháo ngồi dưới một khu rừng thưa, ngửa mặt cười lớn, lại chê Gia Cát Lượng, Chu Du trí mưu chưa đủ, kết quả là Trương Dực Đức xuất hiện làm cho ông ta hồn xiêu phách tán. Không chỉ tổn thất nghiêm trọng, đến cả ngựa xe, quân lương cũng bị cướp. Lần thứ ba, trên “đường nhỏ Hoa Dung”, Tào Tháo lại cười Gia Cát Lượng, Chu Du là “loại vô năng”. Đang cười thì Vân Trường cầm đao đứng sừng sững trước mặt, ông ta cười không thành tiếng, chỉ còn biết cúi đầu cầu xin tha mạng. “Ba lần cười” này trong tiểu thuyết có thể nói là tuyệt bút. Tuy có thể thấy Gia Cát Lượng dụng binh vô cùng kỳ diệu, nhưng Tào Tháo so với những người khác cũng rất đáng nể vì. Thân lâm cảnh hiểm, vẫn có thể cười, chế giễu đối thủ của mình thiếu trí tuệ cơ mưu. Nếu là người khác, chỉ e chạy thoát thân còn chẳng kịp, huống hồ trong những trường hợp như vậy. Đặc biệt là ba lần cười của ông ta, càng khiến cho người ta vỗ bàn mà khen là tuyệt bút. Quân ít ngựa thiếu, bản thân không còn lực để tiếp tục chiến đấu mà Quan Vũ thần dũng vô song, chém Nhan Lương, giết Văn Sú nếu như dùng biện pháp cứng rắn thì hung nhiều hơn cát. Tục ngữ nói, kẻ thức thời mới là tuấn kiệt. Đến bước đường cùng, Tào Tháo đã dùng tình nghĩa để làm mềm lòng Quan Vũ, cầu xin được mở cho một con đường sống. Bởi vì ông ta trong quá khứ đã từng có ân với Quan Vũ mà Quan Vũ lại là con người lấy “nghĩa” làm đầu. Cuối cùng Tào Tháo đã tự mình hóa giải nguy nan. Có thể khuất phục được nhân tài ấy chính là đại trượng phu, cách xử sự với mọi người của Tào Tháo thể hiện điều đó. st
  9. Về mặt lý thuyết thì đây cũng là một ý tưởng hay. Trên thực tế, nếu VietNam có ngay 1.200 tỉ USD tiền mặt, thì sau 30 năm có là cường quốc hay không? riêng tôi thì không biết
  10. Chúng ta tham khảo thêm thông tin thú vị này nữa ===================================================================================== Tây Thiên - Chiếc nôi Phật giáo Việt Nam Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên được xây dựng tại khu di tích Danh Thắng Tây Thiên là để góp phần bảo tồn và tôn vinh giá trị của Phật giáo ở Tây Thiên, nó tạo nên những tiền đề cho những công trình nghiên cứu, khảo cổ di tích tiếp theo sau này. Trong bài viết này chúng tôi mời quý vị cùng chúng tôi dở lại trang lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Trên cơ sở đó tìm hiểu về: - Phật giáo Tây Thiên có từ bao giờ và Tây Thiên có phải là chiếc nôi của PGVN không? Trước hết chúng tôi xin được trích những sử liệu có liên quan đến Tây Thiên mà chúng ta có được, từ cơ sở này chúng ta đi đến kết luận … I. Nguồn sử liệu: 1. Theo Jean Filliozat (Giáo sư Đại học pháp) - Trong quyển đạo Phật Việt Nam - Hoà Thượng Thích Đức nghiệp trích dịch ở sách Préence du Boud - dhisme, Asoka et Expansion Bouddhhique của Jean Filliozat trang 369 - 373, saigon, 1959, dựa chương XII sách đại sử ký - Mahavamsa - của Tích Lan,…."Ngay sau đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba " tại thành phố Pataliputra (Hoa Thị) - ấn Độ, trước tây lịch 300 năm, vua Asoka (A Dục) cùng với Đại lão Hoà Thượng Moggaliputta Tissa (Mục Kiền Liên Tử Đế Tu) đã cử và đẩy mạnh các phái đoàn như Lai Sứ giả trên đường truyền bá Phật pháp tới các nước Viễn Đông, Đông Bộ, Địa Trung Hải, Tích Lan và toàn cõi bán đảo Đông Dương, trong đó có Miễn Điện, Thái Lan và Việt Nam. Do hai vi cao tăng Sona và Uttara truyền tới. Hầu hết cácnơi thường có dấu ấn bằng chùa tháp, cột đá hay bia đá để ghi lại công đức của vua Asoka (đạo phật Việt Nam, trang 4). 2. Theo Gs. Edward Conze (Giáo sư Đại học Luân Đôn) - Tác giả cuốn Le Bouddhisme dans son essence et son de'veloppement, trang 70 đã ghi lại các vị cao Tăng của các đoàn Như Lai sứ giả, sau đại hội kết tập kinh điển lần III đến các nước như sau: "1- ngài Majjhantika được gởi đến Kasmir và Gandhara, thuộc vùng Tây Bắc ấn Độ, 2 ngài Mahadeva đến Mahisamandala, thuộc miền nam ấn Độ, 3 Ngài Rakkhita đến Vanavasa, vùng Đa Lâm cũng thuộc miền nam ấn Độ, nhưng ở phía Bắc của sứ Kamada, 4 ngài Dhammarakkita (người Hi Lạp) tới Aparantaka, ở phía tây miền Gujrat. 5 Ngài Mahadhammarakkhita đến xứ Marathe ở miền Tây nam ấn độ. 6 Maharakkhita đến nước Hy Lạp, 7. Ngài Kjjhima tới vùng Hy mã Lạp Sơn, 8 Ngài Sona và ngài Uttara đến vùng Kim Địa (Suvanabhumi) bao gồm các nước Miến Điện, toàn cõi bán đảo Đông Dương (trong đó có Việt Nam, Lào, Campuchia) và một phần bán đảo Mã Lai., 9 - ngài Manhinda, con trai Hoàng đế Asoka, đến Tích Lan (Sri Lanka ngày nay). 3. Theo Maurice Duranr (thành viên trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp) -trong quyển Presence du Bouddhisme, trang 798, trong bài đạo phật truyền vào Việt Nam bằng hai con đường: Con đường thứ nhất bằng đường biển phía Nam, từ ấn độ và các nước có ảnh hưởng ấn độ như bờ biển vịnh Bengale, hải cảng Bom bay và Calcutta, con đường thứ 2 từ Trung Quốc truyền sang …" Ngoài ra còn có con đường thứ 3, rất quan trọng cho việc truyền bá đạo Phật vào Việt Nam, đó là con đường (từ ấn Độ) qua Miến Điện, Vân Nam rồi tới vùng thung lũng Sông Hồng (vùng Trung Du Bắc Bộ, vào thời Hùng Vương là Trung Tâm văn hoá của nước Văn Lang). Đây là con đường mà ngài Sona và Uttara đã đi để đến Việt Nam. 4. Theo HT Thích Đức Nghiệp. - viết trong quyển "Đạo phật Việt Nam " NXB TP Hồ Chí Minh 1995, trang 28, "Biết rằng: Đồ Sơn là một địa danh chỉ cách thành phố Hải Phòng chừng 12km thì chắc chắn vào thế kỷ thứ III trước tây lịch, 2 ngài Sona và Uttara, đã tới đây thuyết pháp, và cùng nhân dân địa phương, đã xây bảo tháp Asoka …" Hoà Thượng trích dẫn lời ông cụ coi chùa Hang - Cốc Sơn Tự kể chuyện "thời xưa vào cuối thời vua Hùng Vương có một nhà sư tên là Sư Bần (Bần tăng)", người ấn Độ, lập bàn thờ phật và tu ở trong hang núi này và sau đó, cũng viên tịch tại hang núi này, bởi vậy dân địa phương gọi là chùa Hang hay Cốc Tự. Biết rằng khi có bình sinh, Sư Bần có giảng đạo Phật cho Chử Đồng Tử. Theo sách Lĩnh Nam Trích Quái, thì Chử Đồng Tử có ghé thuyền vào núi Quỳnh Viên Sơn ….vậy, ngày xưa gọi là Quỳnh Viên Sơn sư Phật Quang; thì nay gọi là Mẫu Sơn và Sư Bần …" 5. Theo Ngô Đăng Lợi - Nhà nghiên cứu khoa học Hải Phòng viết trong sách Phật giáo Văn hoá và dân tộc, Hà Nội 1990, trang 12 "Vùng Đồ Sơn mà có nhà nghiên cứu khẳng định chính là thành Nê Lê, nơi có bảo tháp của vua Asoka. Nếu quả vậy thì trước thể kỷ thứ ba trước tây lịch, đạo Phật đã được trực tiếp truyền vào nước ta". 6. Theo truyện Nhất Đàm Dạ Trạch: Trong Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại việc công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng thứ ba lấy Trử Đồng tử, chuyện kể Trử Đồng Tử được học đạo như sau " ….Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán kính thờ Tiên Dung và Trử Đồng Tử làm chúa, có một khách buôn lớn đến bảo Tiên Dung rằng: 'quý nhân hãy bỏ ra một dật vàng, năm nay cùng thương nhân ra nước ngoài mua vật quý, đến sang năm được lãi mười dật' …Đồng Tử cùng thương nhân đi buôn bán lênh đênh ra khắp nước ngoài, có núi Quỳnh viên (Quỳnh vi) trên núi có am nhỏ. Thương nhân ghé thuyền vào lấy nước. Trử Đôngd Tử lên am dạo chơi. Trong am có một tiểu tăng tên Phật Quang truyền tháp cho Đồng Tử. Đồng Tử ở lại để nghe tháp; đưa vàng cho thương nhân đi mua hàng, đến lúc thương nhân trở về lại tới am đó chở Trử Đồng Tử về nhà. Nhà sư bèn tặng cho Chử Đồng Tử một cây gậy và một cái nón vừa bảo: ' Các việc linh thông đều ở đó rồi" Đồng tử trở về đem đạo phật nói hết với Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ cả quán chợ nghề buôn để cùng Đồng Tử du phương tìm thầy học đạo. 7. Theo GS Lê Mạnh Thát . viết trong quyển lịch phật giáo Việt Nam, quyển I, NXB Thuận Hoá, 1999, trang 31 - "Trước đây, Claude Madrolle căn cứ vào tên thành Nê - Lê, tức là thành Bùn Đen, để giả thiết thành Nê Lê ở chính vùng Đồ Sơn của thành phố Hải Phòng. Nê Lê hiểu như nghĩa bùn đen tất nhiên không phù hợp với văn phạm chữ Hán. Bởi vì nếu hiểu Nê là Bùn và Lê là màu đen, thì thành này phải có tên là Lê Nê, chứ không phải là Nê Lê. Hơn nữa cụm từ Nê Lê trong Hán văn thường được dùng như một phiên âm của chữ naraka của tiếng Phạn. và naraka lại có nghĩa là địa ngục. Tại vùng núi Tam Đảo có ba ngọn cao nhất là Thạch Bàn, Phù Nghĩa và Thiên Thị, trong đó giữa chân ngọn Thạch Bàn tại làng Sơn Đình có ngôi chùa Tây Thiên, chùa này tương truỳên là có liên hệ với vua Hùng và có một bản ngọc phả về vua Hùng thờ tại đây, điểm lôi cuấn là chùa Tây Thiên này lại có tên nôm na là chùa Điạ Ngục, đã là chùa thì thiếu gì tên mà lại có tên là Điạ Ngục, phải chăng là do từ chữ naraka mà ra. Huyện An Định do thế có khả năng nằm tại vùng núi Tam Đảo này chăng? Muốn trả lời rứt khoát câu hỏi này, ta phải đợi một cuọc điều tra khảo cổ thực địa". 8. Theo Lưu Hân Kỳ - Viết trong cuốn Giao Châu ký "thàng Nê Lê ở phía Nam huyện Định An, cách sông 7 dặm, tháp và giảng đường do vua A Dục dựng vẫn còn. Những người đốn hái của gọi là kim tượng" (Nê Lê thành tại An Định huyện, đông nam cách thuỷ thất lý, A Dục vương sở tạo tháp giảng đường thượng tại hữu, thái tân giả vân thị kim tượng). 9. Theo Lê Đạo Nguyên - viết trong Thuỷ Kinh Chú (quyển 37, tờ 6b4-6, Bến đò Quan tắc xuất phát từ đó, song nó từ phía đông huyện đi qua huyện An Định và Trường Giang cảu Bắc Đái. trong sông có nơi vua Việt Vương đúc thuyền đồng, khi nước triều rút, người ta còn thấy dấu vết, Sông lại chảy về phía đông, cách sông có thành Nê Lê, người ta bảo là vua A -Dục dựng". Trong lịch sử PGVN quyển I, trang 30 Gs Lê Mạnh Thát cho biết "tên huyện An Định xuất hiện sớm nhất trong tiền Hán thư 28 hạ, tờ 10b9-11a25; ở đấy nó là motk trong mười huyện thuộc quận Giao Chỉ mà ngoài nó ra, gồm có Luy Lâu, Liên Lâu, Phú Lầu, Mê Linh, Khúc Dương, Khúc Bắc Đái, và Chu Biên …". Nhưng đến thời Tam Quốc đổi thành Định An (Hậu Hán thư 33, tờ 21a8-P5), đến thời Tấn đổi thành An Định (tấn thư 15 tờ 8b 13-9a2), qua đời Lưu Tống An Định được đổi thành An Định (tống thư 38 tờ 40b1) "vậy trong vòng năm thế kỷ danh xưng Định An hay An Định cứ thay đổi nhau để chỉ có một vùng đất, một huyện Giao Chỉ". (lịch sử PGVN, Gs Lê Mạnh Thát, trang 31). \ 10. Theo Tăng Chiêu - Người đã biên tập lại Giao Châu ký từ những đoạn phiến trích dẫn rãi rác trong các tác phẩm Trung Hoa như Hậu Hán Thư, Thuỷ Kinh Chú, Tế Dân yếu thuật, Bắc đường thư sao, Nghệ văn loại tụ, Sơ học ký, Thái Bình Ngự Lãm, ….đã kết luận "Giao Châu Ký viết vào thời Nhà Tấn và Lưu Hân Kỳ là người Đông Tấn, như vậy Lưu Hân Kỳ phải sống và viết vào những năm 236-420." Qua đó chúng ta thấy cho tới những những năm 380 - 420 những người đi hái củi ở nước ta vẫn còn thấy được thành Nê Lê và tháp vua Asoka, ở huyện Định An. 11. Theo Lê Quí Đôn - (nhà sử học thế kỷ XVIII) đã mô tả về cảnh ở Tây Thiên Cổ Tự, tre xanh, thông thốt, cảnh sắc thanh nhã rộng rãi, trên đỉnh núi cao có chùa Đồng cổ, vừa lên vừa xuống mất hai ngày, từ phía tả khe Giải Oan trèo lên núi đến Hồ Sen, nước xanh biếc, trong hồ có đá lạ và thứ sen đỏ, hoa nở bốn mùa, hai bên ngoài hồ, suối từ sườn núi chảy ra, bên trái gọi là suối bạc, phát nguyên từ khe đấ đỉnh núi chảy xuống, trồng như tấm lụa; bên phải gọi là suối vàng, từ chùa bên phải chảy ra, chùa bên phải này vuông vắn phỏng hơn một trượng, tường nhà toàn bằng đá, hai bên cánh cửa khoá chặt lại bằng khoá sắt lớn, trên viên đá khắc chữ Triệu là "Địa Ngục Tự" không biết dựng từ đời nào, suối ở đây từ trong khe cửa chảy ra, sắc nước trông như vàng, suối Bạc và suối vàng hợp lưu ở trước hồ sen, quanh có chảy xuống rồi quanh co chảy xuống rồi hợp lưu với khe Giải Oan …" 12. Theo ngọc phả Hùng Vương - đã ghi "có lần vua Hùng Vương thứ 7 là chiêu Vương lên núi Tam Đảo cầu Tiên thì nghiễm nhiên đã thấy có chùa thờ phật." Và cũng theo sử liệu cổ còn lại thì " từ thời các vua Hùng tại Tây Thiên đã có ba ngôi chùa cổ tên là: Hoa Long Thiền Tự, Thiên Quang Thiền Tự, Thiên ân Thiền Tự …" II. Tổng hợp nhân tích dữ liệu: Qua dữ liệu, chúng ta thấy có ba vấn đề cần làm sáng tỏ: - Phật giáo truyền vào nước ta vào lúc nào? Ai là người đầu tiên đem đạo phật truyền vào Việt Nam? Những nhà truyền giáo đạo phật đầu tiên đến nơi nào trên đất nước ta? Chúng ta hãy lần lượt xét từng vấn đề. 1. Phật giáo truyền vào nước ta từ lúc nào? - Qua ngọc phả Hùng vương chúng ta biết - thời Hùng Vương thứ 7 (Chiêu Vương) trên núi Tam Đảo đã có chùa thờ phật. - Truyện "Nhất Đàm Dạ Trạch" trong Lĩnh Nam Trích Quái thì Tiên Dung là con gái vua Hùng vương thứ ba, qua đó chúng ta biết được Trử Đồng Tử là người phật tử thời Hùng Vương. - Đại Việt Sử ký Toàn thư (trang 178) ghi … Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương, được phong năm nhâm tuất, cùng thời với Đế Nghi (Trung Hoa), truyền đến cuối đời Hùng Vương, ngang với đời Doãn Vương nhà chu năm thứ 57 (258 TCN) là năm quí mão thì hết, tất cả 2622 năm (2879 -258 TCN) …. Hùng Vương cuối đời vì bỏ bê võ bị, chỉ ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính đầu hàng Thục Vương (năm 257) …. Thục phán lên ngôi đóng đô ở Phong Khê (nay là thành cổ loa), ở ngôi được 50 năm …." Theo sách đại sử ký - Mahavamsa - của Tích Lan thì năm 325 TTL đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba diễn ra tại thành Pataliputta (Hoa Thị), nước Maghada (Ma Kiệt Đà), do Hoàng đế Asoka (A-Dục) đề xướng bảo trợ, Đại lão Hoà Thượng Moggaliputta - Tissa (Mục Kiền Liên Tử Đế Tư) làm chủ toạ, sau đại hội này thì có của 9 phái đoàn đi hoằng pháp khắp các nơi trong nước ấn Độ và các nước bên ngoài ấn Độ. Do vậy đoàn hoằng pháp của vua A - Dục đi các nước trong khoảng thời gian (325 TCN - 258 TCN). Thời gian tương ứng với thời Hùng Vương ở nước ta và trùng hợp với câu chuyện ghi trong ngọc phả Hùng Vương, chuyện Trử Đồng Tử và thành Nê Lê, tháp vua A Dục ghi trong Giao Châu ký của Lưu Hân Kỳ và Thuỷ Kinh chú của Lệ Đạo Nguyên. Qua các dữ liệu trong và ngoài nước nêu dẫn ở trên, chúng ta đã thấy quá đủ cơ sở để chứng minh phật giáo truyền vào nước ta vào thời Hùng Vương. 2. Ai là người đầu tiên đem đạo phật truyền vào Việt Nam? Theo sách Đại Sử ký - Mahavamsa - của Tích Lan mà Gs Jean Filliozat và Edward Conze trích dẫn ở trên đã cho chúng ta biết: vào năm 325 TTL, sau khi kết tập kinh điển lẫn thứ ba, lần đầu tiên kinh sách được ghi lại trên lá bối bằng tiếng Maghadi. Sau đó vua A Dục và Đại Lão Hoà Thượng Moggaliputta - Tissa đã tích cực hoằng dương phật pháp, bằng cách cử 9 phái đoàn "như lai sứ giả" đi khắp lãnh thổ ấn độ và đến các nước bên ngoài ấn độ để hoằng dương phật giáo, trong đó đoàn thứ 8 do ngà Sona và Uttara đến Việt Nam và các nước Đông Dương, các đoàn Như Lai Sứ giả" này làm việc có chủ trương, có mục đích rõ ràng và thống nhất ở những nơi họ đến trách nhiệm các ngài là Hoằng dương phật pháp, xây chùa, dựng bia tháp để đánh dấu, ghi lại những nơi thánh tích hay đánh dấu việc làm của đoàn do vua A Dục phái đi, nhờ đó sau này các nhà khảo cổ Anh quốc đi tìm thấy những trụ đá viết do vua A Dục dựng lập ở những nơi thánh tích phật giáo ở ấn Độ, và tháp A Dục ở các nước do các đoàn hoằng pháp của vua A Dục thực hiện. Điều này trùng hợp với A Sử Giao Châu ký và Thuỷ Kinh Chú đã ghi "ở An Định có thành Nê Lê và tháp A Dục". - Theo Lịch sử PGVN (Gs Lê Mạnh Thát), NXB Thuận Hoá - 1999, quyển I, trang 35 ghi "đặc biệt khi ta nghiên cứu tư liệu lịch sử phật giáo Trung Quốc ta thấy vào khoảng hai thế kỷ thứ IV và thứ V sdl, tức là cùng thời niên đại của Lưu Hân Kỳ, nổi bật một phong trào đi tìm chùa của vua A Dục ở Trung Quốc. Thí dụ việc tìm chùa của vua A Dục ở Bành Thạnh, Thạch Lặc và Thạch Hổ, đào chùa của vua A Dục ở Lâm Chi và Đào Khản, tìm cách nghinh tượng phật của vua A Dục từ chùa Hàn Khê …vv. Cả một thời đại đi tìm chùa ở Trung Quốc như thế ắt không thể nào không ảnh hưởng đến việc tìm chùa vua A Dục ở nước ta. Qua các tư liệu đã trích dẫn ở trên, chúngta thâý có sự nhất trí giữa các nhà viết sử (Thích Đức Nghiệp, Lệ Đạo Nguyên) và các nhà nghiên cứu (Claude madrolle, Ngô Đặng Lợi) về việc có thành Nê Lê và tháp A Dục do các đoàn hoằng pháp của vua A Dục phái đến nước ta dựng lập. Vậy thành Nê Lê và tháp A Dục phải chắc chắn là do ngài Sona và Uttara dựng lập, để đánh dấu việc làm, chủ chương của vua A Dục, hay để ghi lại công đức của vua A Dục, nếu không phải là 1 trong 9 đoàn của vua A Dục cử đi thì các ngài chỉ xây chùa (thành Nê Lê), giảng dạy phật giáo, lo tu giải thoát mà thôi, vì các ngài hoằng pháp không có chủ trương của vua A Dục, nên không dựng tháp A Dục. Do đó dựa vào sách Đại Sứ ký - Mahavamse- của Tích Lan và sách giao châu ký của Lưu Hân Kỳghi lại "thành Nê Lê ở phía nam huyện Định An, cách sông bảy rặm, tháp và giảng đường do vua A Dục dựng vẫn còn, những người đốn hái củi gọi là kim tượng", và trách nhiệm do 9 đoàn do vua A Dục và Đại Lão Hoà Thượng Moggaliputta Tissa (Mục Kiền Liên Tử Đế Tu) cử đi hoằng pháp, chúng ta có thể nói: Đoàn do Ngai Sona và Uttara là người đầu tiên đem phật giáo vào nước Văn Lang thời Hùng Vương. 3. Những nhà truyền giáo đạo phật đầu tiên đến nơi nào trên đất nước ta? Qua các sử liệu trích dẫn ở trên, chúng ta thấy có 3 nơi được đề cập đến cần làm sáng tỏ: Đồ Sơn (Hải Phòng), núi Quỳnh Viên (núi Quỳnh Vi) ở Tây Thiên (Tam Đảo - Vĩnh Phúc). a. Đồ Sơn (Hải Phòng) theo Claude Madrolle tác giả sách "Le Tokin Ancien" (Bắc Bộ xưa 1937) hiểu từ ngữ Nê Lê theo nghĩa là Bùn Đen (Nê: bùn, Lê: Đen) từ đó đưa ra giải thiết Nê Lê là vùng Đồ Sơn Hải Phòng, vì từ móng cái đến Bắc Trung Bộ thì bãi biển cát vàng, chỉ có vùng Đồ Sơn có bùn đen, từ đó các nhà viết lịch sử phật giáo, các nhà nghiên cứu như: HT Thích Đức Nghiệp, Ngô Đăng Lợi, ông cụ coi chùa Hang Cốc, … đều cho Đồ Sơn là nơi phái đoàn truyền giáo đầu tiên đến Việt Nam, ông cụ chùa Hang còn nói "…xưa gọi là Quỳnh Viên và sư Phật Quang, thì ngày nay gọi là mẫu sơn và sư Bần (sách đạo phật Việt Nam, HT Thích Đức Nghiệp, TP HCM - 1995, trang 32) . các nhà nghiên cứu này cũng còn dựa vào bài thơ Tháp Sơn Hoài Cổ ghi trong gia phả bằng chữ nho của gia đình ông Hoàng Gia Mỹ "Cổ tháp di hư loạn thảo đôi", Dục Vương khứ hậu uỷ yên đồi ………………………………." Dịch: "Tháp xưa lau cỏ tốt bời bời Dục Vương đi, vua sau cũng đổ rồi! ……………………………………" Những người dựa vào hai câu thơ này, cho rằng "trên núi Thái Sơn có bảo tháp A Dục vương dựng nên vào khoảng 300 năm trước tây lịch; sau khi tháp này tàn phế, tiếp đến tháp này tán phế, tiếp đến tháp Tường Long do vua Lý Thánh Tông xây trên nền tháp cũ " … Chúng ta thấy ý kiến này chưa ổn: "Vùng đồ sơn mà có nhà nghiên cứu khẳng định chính là thành Nê Lê …" (theo Đặng Ngô Lợi)- Đồ Sơn là vùng vùng bãi biển có núi sao lại Chính là thành Nê Lê được. - Về bài thơ "tháp sơn hoài cổ" cũng chưa đủ để gọi là chứng cứ sử liệu, vì không rõ tên tác giả và niên đại của bài thơ này. Nếu là của một thi nhân ở thời cận đại nghe truyền thuyết rồi làm thi thì sao: Sách đạo Phật Việt Nam dòng 20 trang 29 dựa theo bài thơ này ghi " Chính tôi đã trèo lên ngọn mẫu sơn (núi Mẹ, cao chừng 168m so với mặt bể; trên đình núi này, trước hết có một bảo tháp Dục Vương dựng lên vào khoảng 300 năm trước tây lịch; sau khi tháp này tàn phế, tiếp đền tháp tường lòng do vua Lý Thánh Tông xây trên nền tháp cũ, vào khoảng giữa thế kỷ XI sau tây lịch)"… Truyền thuyết cho rằng tháp Tường Long xây trên nền tháp Tường Long, việc xây tháp lại mới trên nền có di tích lớn như tháp A Dục không ai xoá tên tháp cũ để đặt tên tháp mới là Tường long, việc xây tháp lại (mới), thì đó là công tác đại trùng tu nên phải để tên di tích cũ là tháp A Dục. Do vậy tháp tường Long không phải là tháp A Dục, nói khác đi tháp A Dục phải ở vị trí khác, ở nơi khác không phải là đồ sơn . - Từ đó giả thuyết cho rằng Đồ Sơn là thành Nê Lê và tháp Tường Long chính là tháp A Dục không hợp lý. b. Núi Quỳnh Viên ở đâu Ông cụ chùa Hang còn nói với HT Thích Đức Nghiệp " …xưa gọi là Quỳnh Viên và sư phật quang, thì ngày nay gọi là mẫu sơn và Sư Bần" nhận xét này thiếu cơ sở. Theo Gs Lê Mạnh Thát viết trong Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam trang 14 - 15 ghi: "…đọc Minh lương cẩm tú do Lê Thánh Tông viết về 13 cửa biển của đất nước ta trong khi tiến quân chinh phạt Chiên thành vào năm 1470, thì ta gặp bài thơ thứ 7 nói về Nam Giới Môn Lữ Thứ trong đó có 2 câu thơ. "Di miếu nan truyền kim Vũ Mục Danh sơn do thuyết cổ quỳnh viên "". Dịch Di miếu còn truyền nay vũ mục Danh sơn vẫn nhắc cổ quỳnh Viên. Vũ mục đây tức chỉ tướng Lê Khôi, cháu ruột của Lê Lợi, năm Thái Hoà thứ 2 (1444) đi đánh chiêm thành, bắt được vua Chiêm là Bí Cai, khi trở về với cửa biển Nam Giới thì mất. Dân thương nhớ lập đền thờ tại cửa biển này. Cửa biển này còn được gọi nôm na là cửa Sót. Còn núi Quỳnh Viên thì nằm ở phía nam cửa biển này là từ thời Lê Thánh Tông đã được xác nhận là một Danh Sơn, một ngọn núi kia, nó dứt khoát không phải là ngọn núi thần thoại, càng không phải là một ngọn núi không có địa điểm cụ thể trên đất nước ta.. '' Hơn nữa trong Lĩnh Nam Trích Quái ghi " …Đồng Tử cùng thương nhân đi buôn bán lênh đênh ra khắp nước ngoài, có núi Quỳnh Liên (Quỳnh Vi) trên núi có am nhỏ " do đó có thể thời Hùng Vương phần đất này chưa sát nhập vào đất nước ta mà vẫn thuộc Chiêm Thành, nên nói nó thuộc cửa biển Nam Giới (cửa biiển phía nam) . Do vậy ông cụ chùa Hang cho "…xưa gọi là Quỳnh Viên và sư Phật Quang, thì ngày nay gọi là Mẫu Sơn và sư Bần" là điều không hợp lý và không có cơ sở, và truyền thuyết này sai lệch sự thật. Nếu cho rằng núi Quỳnh Viên là nơi các nhà truyền giáo đạo Phật đến đầu tiên trên đất nước ta, thì cũng không đúng, vì căn cứ theo truyện Trử Đồng Tử thì thời Hùng Vương phần đất này thuộc lãnh thổ nước ngoài " …Đồng Tử cùng thương nhân đi buôn bán lênh đênh ra khắp nước ngoài. Có núi Quỳnh Viên (Quỳnh Vi) trên núi có am nhỏ …" nên không thể nói Quỳnh Viên là thuộc lãnh thổ Việt Nam ở thời Hùng Vương được và câu chuyện Chử Đồng Tử chỉ cho chúng ta cứ liệu - Chử Đồng Tử là phật tử đầu tiên mà sử liệu còn ghi lại. c. Tây thiên là cái nôi của Phật giáo? Muốn gọi là cái nôi của Phật giáo thì nơi đó phải là: - nơi chư tăng đầu tiên đến truyền bá Phật Pháp và có nhiều chùa (nhiều tự) nhiều tăng (Ni) tu hành ….. - Như chúng ta đã biết kinh đô (thủ đô) là Trung tâm văn hoá, chính trị kinh tế, quân sự của một quốc gia; là nơi có mật độ dân cư đông nhất, là nơi giao lưu văn hoá kinh tế với các nước, nên có nhiều người biết nước nước ngoài. Do đó, các nhà truyền giáo muốn đạt được mục đích hoằng pháp, thì tất yếu phải đến kinh đô quốc gia, để tìm hiểu quan sát sinh hoạt, phong tục tập quán, căn cơ của nhân dân, sau đó tìm người hữu duyên để gieo duyên, giáo hoá và ngược lại sự giúp đỡ, hướng dẫn của nhân dân tìm nơi tu hành và hành đạo. Đối với những bậc chân tu theo đạo Phật, các ngài thường tìm chốn "Sơn lâm cùng cốc" để tĩnh tụ, để buôn xả thân tâm, sống đời "thiểu dục tri túc", giải thoát …Trong vùng Trung du Bắc Bộ, núi đồng thấp nằm giải giác trên những cánh đồng, chỉ có vùng núi Tam Đảo núi non liên hoàn hùng vĩ, cảnh trí u nhã, có suối chảy nước trong, thác ghềnh, non cao rừng rậm, thâm u tịch tĩnh, thích hợp cho người thu Thiền, nên các ngài tìm đến để tu và hành đạo; hơn nữa vào thời Hùng Vương Tam Đảo là một danh sơn thâm u huyền bí, thiêng liêng ở gần kinh đô nước Văn Lang, nên vua Hùng Vương mới tìm đến Tam Đảo cầu Tiên và phát hiện có chùa trên đó. Có thể nói vì những lẽ trên mà đoàn hoằng pháp của ngài Sona và Uttara chọn Tam Đảo, làm nơi tu hành hoằng Dương Phật pháp, đầu tiên các người cất am thiền, rồi thỉng thoảng đến kinh đô khất thực hoá duyên. Khi tín đồ hướng về đông đảo các Ngài xây thành Nê Lê (chùa Địa ngục) và dựng tháp A Dục. Tại sao gọi là thành Nê Lê mà không gọi là chùa Nê Lê? có lẽ vì thời bấy giờ từ ngữ còn nghèo nàn, vả lại đạo Phật mới truyền sang, người dân chưa biết đặt tên gọi nơi tu hành thờ Phật của các sư là gì, chỉ thấy chùa xây bằng đá giống thành trì nên gọi thành Nê Lê? về sau quen miệng, nên người dân địa phương vẫn gọi là thành Nê Lê, sau này khi Phật giáo từ Trung Quốc truyền sang, nhờ giao lưu văn hoá chúng ta có thêm những từ ngữ mới để gọi nơi thờ phật là Tự và từ ngữ dịch các kinh … Thế nên thành Nê Lê đổi thành "Địa Ngục Tự" là Lê Quí Đôn đã miêu tả trong kiến văn Tiểu Lục. Tiếp nối các ngài Sona và Uttara là những đệ tử của Ngài mở mang Phật pháp, từ đó chùa triền ở Tây thiên phát triển, dần dần lan toả đi các nơi, điều này trùng hợp với sử liệu cổ đã ghi vào thời Hùng Vương tại Tây Thiên có 3 ngôi chùa, Hoa Long Thiền Tự, Thiên Quang Thiền Tự, Thiên Ân Thiền Tự. Sau này khi An Dương Vương dời kinh đô về thành cổ loa, là khu vực đồng bằng Bắc Bộ, đất trù phú lớn và rộng lớn, dan cư quy tụ về mở mang phát triển nông nghiệp (vùng Bắc Ninh Hà Nội ngày nay). Phật giáo đã trở thành một nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, phục vụ đời sống tâm linh của xã hội, nên đã theo dân và phát triển. Từ đó trung tâm Luy Lâu được hình thành. Đến thế kỷ thứ II Ngài Khương Tăng Hội từ Tây Thiên đến đó thuyết giảng, sau đó ngài sang Trung Hoa giảng đạo, lập chùa kiến sơ. Từ đó Luy Lâu trở thành trung tâm sinh hoạt của phật giáo từ thế kỷ II đến thứ VI. Đến thế kỷ IX, thì dãy núi Đông Triều hình thành cái cung, núi non hùng vĩ liên quan, cảnh trí thâm u, có suối chảy nước trong, ghềnh thác,… giống như Tây Thiên, nên các bậc chân tu tìm đến cất am thiền tu hành trên núi Yên Tử. Đạo Hạnh các ngài lan toả khắp nơi, chư tăng nư kéo về, vua quan tìm đến (Trần Thái Tông bỏ ngôi lên Yên Tử tu hành), từ đó Yên Tử trở thành Trung tâm Phật giáo đời nhà Trần ở thế kỷ XIII. Theo thầy chúng tôi từ Tây Thiên phát xuất từ ý nghĩa "nơi các nhà sư Tây Thiên " sư ấn Độ tu hành. Vì theo trong kinh từ Tây Thiên chỉ cho nước ấn Độ, cũng như từ Đông Độ chỉ cho nước Trung Hoa. Do đó, trong khi chờ đợi sự phát hiện mới về khảo cổ học của Tây Thiên, theo chúng tôi, qua sử liệu và lịch sử phát triển của dân tộc, chúng ta có thể nói - Tây thiên là chiếc nôi Phật giáo của Việt Nam. III. Tổng kết. - Qua các sử liệu mà chúng ta nêu dẫn trên, đã cho phép chúng ta dự đoán khá chính xác về: - Đạo Phật truyền bá vào đất nước ta từ thời Hùng Vương. - Đoàn hoằng pháp đầu tiên là ngài Sona và Uttara do vua A Dục và đại lão Hoà Thượng Moggaliputta Tissa phái đi. - Tây Thiên là chiếc nôi của phật giáo Việt Nam. Trong khi chờ đợi các nhà khảo cổ khai quật tìm những chứng tích về thành Nê Lê và tháp A Dục, để xác minh và làm sáng tỏ những vấn đề Phật giáo ở Tây Thiên? chúng tôi thấy những nhận định trên đây của Thiền Viện Trúc Lâm Tây Thiên sẽ tạo điều kiện cho những công trình nghiên cứu, khảo sát sau này … Nguồn: Giacngo online
  11. Tóm lược ý nghĩa hình tượng các con vật trên một số kiến trúc xưa ở Việt Nam Tóm lược ý nghĩa hình tượng các con vật trên một số kiến trúc xưa ở Việt Nam Hình tượng Rồng: Đối với các nước phương Đông, con rồng là kiệt tác sáng tạo nghệ thuật có lịch sử lâu đời. Trên thực tế, rồng chỉ là sản phẩm của nghệ thuật, vì nó không tồn tại trong thế giới tự nhiên mà là sự sáng tạo nghệ thuật siêu tự nhiên. Cùng với sự phát triển của lịch sử, từ lâu các nước phương Đông hình thành nên quan niệm phổ biến về con rồng, tổng hợp trong con vật linh thiêng này là trí tuệ, tín ngưỡng, niềm tin, lý tưởng, nguyện vọng, sức mạnh… Trải qua bao đời, các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ ở mỗi nước phương Đông đã dần tạo cho con rồng trở thành biểu tượng cao quý và sức sống vĩnh hằng, có ảnh hưởng to lớn, ý nghĩa sâu sắc đối với đời sống xã hội ở mỗi nước. Đối với dân tộc Việt Nam, ngoài nét chung nói trên, rồng còn có ý nghĩa riêng, đó là nó chỉ dân tộc Việt Nam có xuất xứ từ con rồng cháu tiên. Từ câu chuyện huyền thoại chàng Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, sau nở thành một trăm người con, hình ảnh con rồng đã dần dần ăn sâu vào tâm thức của người Việt. Hà Nội là thủ đô cả nước, với tên gọi đầu tiên: Thăng Long (rồng bay). Vùng Đông Bắc nước ta có Hạ Long (rồng hạ), một trong những thắng cảnh đẹp nhất nước. Đồng bằng Nam Bộ phì nhiêu được làm nên bởi dòng sông mang tên Cửu Long (chín rồng). Không những là biểu tượng cho xuất xứ nòi giống dân tộc Việt Nam, rồng còn là thần linh, chủ của nguồn nước, mang lại sức sống mãnh liệt, làm cho mùa màng tốt tươi. Rồng là biểu tượng của sức mạnh, chính vì vậy mà các vua chúa đã lấy hình tượng rồng đại diện cho uy lực triều đình. Thời Lê, rồng trở thành bản mệnh của nhà vua. Hình tượng rồng được thêu lên tấm áo vua mặc. Trong thời kỳ đất nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, rồng Việt Nam chịu ảnh hưởng của những con rồng các thời Tần, Hán, Đường, Tống… và được cách điệu hóa dần dần để biến thành rồng hoàn chỉnh, tượng trưng cho uy quyền độc tôn của vua chúa phong kiến và thường được trang trí ở những nơi linh thiêng. Vào thế kỷ XI, dưới triều Lý, chế độ phong kiến Việt Nam bắt đầu được xác lập. Con rồng thật sự của Việt Nam đã được ra đời. Cho đến nay, rồng vẫn được sử dụng trong kiến trúc tôn giáo theo một số nét: mắt quỷ, sừng nai, tai thú, trán lạc đà, miệng lang, cổ rắn, vảy cá chép, chân cá sấu, móng chim ưng. Và con rồng luôn là hình ảnh sâu đậm trong tâm hồn mỗi người Việt Nam. - Hình tượng con Rùa: Về mặt sinh học, rùa là loài bò sát lưỡng cư có tuổi thọ cao và thân hình vững chắc. Nó có thể nhịn ăn uống mà vẫn sống trong một thời gian dài. Rùa không ăn nhiều, nhịn đói tốt nên được coi là một con vật thanh cao, thoát tục. Trên bàn thờ ở các đền chùa, miếu mạo, chúng ta thường thấy rùa đội hạc, rùa đi với hạc trong bộ đỉnh thơm ngát và thanh tịnh. Rùa tượng trưng cho sự trường tồn và bất diệt. Hình ảnh rùa đội bia đá, trên bia đá ghi lại sử sách của dân tộc Việt Nam chứng tỏ rùa là loài vật chuyển tải thông tin và văn hóa. Tuy không phải là con vật của Phật giáo, nhưng rùa cũng là biểu trưng cho sự trường tồn của Phật giáo. Trong một số ngôi chùa thời Lý – Trần, rùa được chạm thành tường bằng đá làm bệ đội bia. Dáng rùa đầu to, mập, vươn ra khỏi mai, mõm thuôn nhọn, mắt nhỏ, bốn chân khép sát vào thân mai. 82 tấm bia đã ghi tên tiến sĩ đỗ đạt được đặt trên lưng rùa, một con vật biểu hiện sự trường tồn, hiện còn lưu giữ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội là bằng chứng hùng hồn biểu hiện nền văn hiến bất diệt của dân tộc Việt Nam. - Hình tượng chim Phượng: Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi phượng ngậm lá đề hoặc ngậm cành hoa đứng trên đài sen, nó biểu hiện là con chim của đất Phật. Tức là có khả năng giảng về đạo pháp, làm nhiệm vụ giống như các nữ thần chim: nhảy múa, hát ca chào mừng Phật pháp. Quan niệm của người Việt Nam cho rằng phượng xuất hiện báo hiệu đất nước được thái bình. Chim phượng là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Nó có thân hình quyến rũ, kết tinh được vẻ đẹp, sự mềm mại, thanh lịch, vẻ duyên dáng của tất cả các loài chim. Chim phượng còn tượng trưng cho nữ tính, cho phái đẹp của tầng lớp quý phái. - Hình tượng con Hạc: ở Việt Nam hạc là con vật của đạo giáo. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu…, hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt. Trong tứ linh ” Long, Lân, Qui, Phụng” , con nghê biểu tượng thuần Việt đã thay thế con Lân do vậy tứ linh thú của người Việt là ” Long, Nghê, Qui, Phụng”.
  12. Tranh thờ Ngũ hổ Hàng Trống Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, con Hổ là con vật đã từ lâu được tôn thờ. Và danh xưng của hổ cũng được thần thánh hóa là Ngài, là Ông. Hổ được dựng thành biểu tượng qua nhiều chất liệu của tạo hình: gỗ, đá, vôi giấy, đất nung, tranh vẽ, tranh cắt giấy… có ở hầu khắp các công trình: đền, miếu, đình, lăng mộ v.v… Nhưng mẫu tranh được biết đến nhất qua nhiều thế hệ đó là tranh Ngũ hổ của phố Hàng Trống (Hà Nội) ngày xưa. Tranh Ngũ hổ Hàng Trống có kích cỡ 0,55m x 0,75m. Tranh vẽ năm con hổ được bố cục đông đầy, cân đối trên mặt giấy. Mỗi con một dáng vẻ: con thì đứng, con thì ngồi, con cưỡi mây lướt gió… Đây là loại tranh khắc gỗ in trên giấy. Nhưng cách thức của dòng tranh Hàng Trống là chỉ in bản nét rồi dùng bút lông tô màu. Trong quá trình tô màu, các nghệ nhân đã vờn chuyển màu, tạo độ đậm, nhạt, sáng, tối. Nên các nhân vật trong tranh không còn là mảng bẹt như cách thể hiện của các dòng tranh đương thời. Với bút pháp diễn tả ấy, các nhân vật đã “nổi khối”. Đồng thời với việc vờn chuyển diễn tả khối này, các nghệ nhân còn đi sâu vào việc phát huy khả năng diễn tả của nét. Cùng với những nét được khắc in qua bản gỗ, khi cần nhấn, đẩy các chi tiết, các nghệ nhân Hàng Trống không ngần ngại dùng bút để nẩy, tỉa. Với cách thức sáng tạo của riêng mình, các nghệ nhân Hàng Trống không chỉ tạo nên nét riêng cho dòng tranh, mà đã làm bật lên sức sống nội tại của nhân vật. Điều này người xem rất dễ dàng nhận thấy thông qua các nhân vật hổ: những khối thân chắc khỏe, những dáng ngồi, thế đứng đường bệ, oai phong đặc biệt những chiếc đuôi như đang ve vẩy hoặc uốn vồng lên để đập xuống đất mà bật chồm lên. Và những con mắt hổ hừng hực nội lực của loài mãnh chúa. Màu sắc trong tranh Ngũ hổ là một thế giới hòa sắc, lộng lẫy, uy linh. Nhưng nó vẫn được khu biệt với năm màu: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen trên năm nhân vật. Lối dùng màu này của các nghệ nhân Hàng Trống thể hiện rõ một hàm ý, mang triết lý sâu xa của quan niệm dân gian truyền thống: * Hoàng hổ: Con hổ ngồi chỉnh trện giữa tranh được vẽ vờn bằng màu vàng, tượng trưng cho hành thổ – ứng với trung ương chính điện. * Thanh hổ: Con hổ được vẽ bằng màu xanh là tượng trưng cho hành Mộc, ứng với phương Đông. * Bạch hổ: Con hổ được vẽ bằng màu trắng là hành Kim ứng với phương Tây. * Xích hổ: Con hổ được vẽ bằng màu đỏ là hành Hỏa ứng với phương Nam. * Hắc hổ: Con hổ được vẽ bằng màu đen là hành Thủy ứng với phương Bắc. Như vậy 5 nhân vật hổ, được thể hiện bằng 5 màu: đỏ, đen, vàng, xanh, trắng, mang một ý nghĩa tượng trưng cho ngũ hành. Quan niệm cách thể hiện hình, màu mang tính ước lệ, tượng trưng này trong nghệ thuật dân gian xưa là rất phổ biến.
  13. Sư phụ ơi Đây là tàu mới tinh do Nga đóng riêng cho Ấn Độ Hơn đứt con tàu ve chai của trung quốc
  14. Ui, toàn là người đẹp trai trở lên, phong độ sáng ngời
  15. YPN chỉ biết rằng tề thiên bị núi ngũ hành sơn đè tại Đà Nẵng đó Đố bạn nào tìm thấy địa danh núi ngũ hành sơn ở china.
  16. Gốm Việt ở Viện Bảo Tàng Anh, Luân Đôn Nguồn: trang web của Philippe Trương 1.- Chén có chân Văn hóa Phùng Nguyên, 3.000 đến 1.500 năm trước Công Nguyên; Đất nung có trang trí hình kỷ hà; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn: tặng vật của ông A. W. Franks, OAF 3100. 2.- Thẩu, thế kỷ thứ X-XII; Gốm, có chạm hình trang trí và vẽ màu nâu gỉ sét; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, OA. 1931.3-20.1 3.- Nai rượu, thế kỷ thứ XIII-XIV; Gốm, trang trí hình vẽ màu nâu gỉ sét; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, OA. 2002.3-26.1 4.- Nai và bôi, thế kỷ thứ XIV; Gốm phủ men ngọc; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2002.3-26.2 và 3. 5.- Nai (gãy vòi) và hai cái bôi, thế kỷ thứ XIII-XIV; Gốm, áo men ngà; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc tiến sĩ Sheila Macroe, OA. 2002. 2-1. 6.- Chén: a) Chén có chân (ở hàng 1) thế kỷ XII-XIV, Gốm tráng men màu nâu gỉ sắt; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2002.2-24. B) Chén hình nón cụt (hàng 2 bên trái), Gốm tráng men lục, Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, OA. 1974.9-17.5. 7.- a) Chén (hàng 1) thế kỷ XII-XIII; gốm tráng men ngọc trắng; do tặng của bà B. Z. Seligman; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, OA. 1973.7-26.404. B) Chén (hàng thứ 2) thế kỷ XIII; gốm tráng men nâu bên ngoài và men màu kem ở bên trong; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2003.7-28.4. 8.- Nai hình chim phụng, thế kỷ XV; Gốm men lục; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2003.7-28.3. 9.- Nai hình Kỳ lân, thế kỷ XV; Gốm tráng có vẽ hình trang trí men lam cobalt (lam Hồi); Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2003.7-28.1. 10.- Nai hình “lý ngư”, thế kỷ 15; Gốm có vẽ trang trí men nâu gỉ sét; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2003.7-28.2. 11.- Chóe, thế kỷ XV-XVI; Gốm trang trí men đa sắc; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, OA. 1967.4-11.1.
  17. Tranh lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ Những bức tranh của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông lấy bố cục và cảm hứng từ tranh dân gian Đông Hồ đã khai mạc chiều ngày 16/6/2009 tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24 Tràng Tiền Hà Nội). Xem triển lãm mới thấy giá trị và sức sống bền lâu của nghệ thuật dân gian khi người nghệ sĩ biết cày xới trên mảnh ruộng của cha ông để lại… 1. Cách đây mấy năm, tôi đưa Gérald Gorridge, một họa sĩ Pháp, thầy giáo của Trường Đại học Angoulême ở Bordeau chuyên vẽ tranh truyện về thăm làng tranh Đông Hồ. Sau khi nghe giải thích về những bức tranh quê, ông đưa ra nhận xét: “Thì ra mỗi bức tranh đều được xuất phát từ một câu chuyện”. Tranh Lợn đàn của Đông Hồ (trái) và tranh của Phạm Huy Thông Sau chuyến đi một ngày ấy, Gérald đã nảy ra ý tưởng sẽ lập một dự án vẽ truyện tranh lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ. Cuốn Kể mới ra đời vào năm 2004 là kết quả của dự án giữa trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và Alliance Francaise (Trung tâm Văn minh Pháp) do ông khởi xướng đã ra đời. Phải nói ý tưởng đó thật tuyệt vời nhưng quá trình thực hiện, các họa sĩ trẻ trong đó có những sinh viên đang theo học tại trường đã không làm được theo ý tưởng của Gérald Gorridge. Cuốn sách giống tranh truyện hành động của Âu châu, tinh thần Đông Hồ bị khuất lấp vì các bạn trẻ chưa kịp đọc được cốt lõi tinh thần của người làng Hồ. Xem các họa sĩ trẻ vẽ hiện đại, học theo tinh thần hội họa phương Tây tôi cứ thấy tiếc tinh thần phương Đông ẩn chứa sau các bức tranh dân gian, tranh thờ cúng khá đặc sắc nhưng không thấy ai tìm hiểu, hoặc tìm hiểu mà chưa thấm để tìm cảm hứng từ đó. Tôi đoán chắc rằng với tinh thần và sức trẻ, một khi đã ngộ ra việc đó thì sẽ có những bức tranh gây biến động đời sống sáng tác trong giới trẻ. Chắc chắn là vậy. 2. Tôi đã không phải chờ lâu. Triển lãm tranh của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông đã làm được điều đó. Lấy cảm hứng từ trong tranh của người xưa để áp vào cuộc sống hôm nay là cách mà Phạm Huy Thông đã khéo léo dùng để tạo ra những bức tranh của mình vừa hóm hỉnh vừa tức cười. Xem đây người ta mới thấy giá trị và sức sống bền lâu của nghệ thuật dân gian khi người nghệ sĩ biết cày xới trên mảnh ruộng của cha ông để lại. Phạm Huy Thông đã nhìn tranh đôi Tiến tài tiến lộc thành một hình ảnh đối xứng cụ thể đầy chất trào lộng: tiến tài bê hộp bột giặt Tide, tiến lộc thì đang bê chiếc giày trên tay để quảng cáo hàng. Tranh Rước trống là lũ trẻ vui nhộn đẩy xe kem, ồn ào như chợ vỡ, chơi đàn thả bóng bay trên đường phố. Tranh nhà nông với con trâu thành ông nông dân ngán ngẩm vì mất đất rao bán trâu và bắn số điện thoại di động lên mình trâu để người mua tiện liên hệ. Khoáy âm dương trên mình tranh Lợn đàn biến thành những chiếc băng cối đồ sộ, mõm lợn thành muôn vàn những chiếc loa loe xoe như đang muốn rống lên thống thiết. Tiến sĩ vinh quy thời nay ngồi trên xe tăng lao rầm rầm trên đường phố với loa phóng thanh giống các loa công cộng chĩa về mọi ngả, hai bên sườn xe là những trung nam bản xã áp sát tiền hô hậu ủng hết cỡ cho cái vẻ vang công thành danh toại. Tranh Phú quý của Phạm Huy Thông Em bé trong tranh Phú quý thì tay cầm micro, tay ôm đài, xung quanh ngổn ngang các thiết bị âm nhạc với đám dây nhợ lằng nhằng cũng đang xả âm thanh chát chúa… Người xem không thể không mỉm cười cách phê phán thời hiện đại được dựng lên từ tinh thần trào lộng của người xưa, quyết liệt hơn người xưa, hài hước hơn người xưa, thật là một sự đồng hành đầy duyên nợ không thể không khiến người xem sau những trận cười vãi nước mắt lại ngậm ngùi về thế sự. Không thể nói hết cái hay, cái dí dỏm hài hước mà họa sĩ đã khéo đắm mình vào cuộc sống dân gian và thế sự tạo dựng lên trong một bài viết ngắn. Các bạn hãy đến với phòng tranh, đắm mình vào đó để sống với hiện tại và nhớ về cha ông ta một thời, để cùng chia sẻ với họa sĩ và cảm nhận về tinh thần văn hóa một thời của người dân đồng quê Việt. Hoạ sĩ Đỗ Đức (TT&VH)
  18. Con kỳ lân và con nghê Trong rất nhiều chi tiết trang trí kiến trúc hiện nay, hình tượng kỳ lân và nghê tạo ra nhiều ngộ nhận hơn cả. Đằng sau hai hình tượng này là câu chuyện về quá trình tiếp nhận văn hóa của người Việt. Mặt Nghê đá đời Trần Con vật báo điềm lành Kỳ lân là một trong 4 linh vật: long, ly, quy, phượng theo tín ngưỡng dân gian Á Đông như tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam… Kỳ lân là một con vật tưởng tượng, có đầu nửa rồng nửa thú, đôi khi chỉ có một sừng, do không húc ai bao giờ nên sừng này (được coi) là hiện thân của từ tâm. Phần nhiều lân có sừng nai, tai chó, trán lạc đà, mắt quỷ, mũi sư tử, miệng rộng, thân ngựa, chân hươu, đuôi bò. Đôi khi nó có hình dáng của một con hưu xạ, với chiếc đuôi bò, trán sói, móng ngựa, da có 5 màu: đỏ, vàng, xanh, trắng, đen, dưới bụng có màu vàng. Con vật này lắm lúc xuất hiện với mình của một con hoẵng, có vảy cá ở thân… Nhưng dù xuất hiện với hình dạng như thế nào thì trong trí tưởng tượng của tín ngưỡng dân gian phương Đông, kỳ lân cũng là con vật báo hiệu điềm lành, là biểu tượng cho sự trường thọ, sự nguy nga đường bệ và niềm hạnh phúc lớn lao. Kỳ lân mang trong mình tất cả những phẩm chất của một con vật nhân từ, nó tránh giẫm lên các loại côn trùng, cũng như không phá hoại cỏ mềm dưới chân mình. Nó không bao giờ ăn thịt hay làm hại bất cứ con vật nào cũng như không bao giờ uống nước bẩn. Kỳ lân xuất hiện đồng nghĩa với việc một vị minh quân, một nhà hiền triết nào đó sắp ra đời. Sử sách Trung Quốc cho rằng trong lịch sử, kỳ lân đã xuất hiện dưới triều vua Nghiêu, Thuấn và sau đó là vào thời điểm Khổng Tử ra đời. Là con vật biểu trưng cho niềm vui và may mắn nên kỳ lân được sử dụng nhiều trong các chi tiết trang trí kiến trúc. Lân được dùng như một kiểu trang trí trên các bức bình phong của chùa, đền, miếu… lắm lúc chuyên chở trên lưng các bức cổ đồ, hình bát quái… với ý niệm thể hiện sự may mắn luôn song hành cùng chữ nghĩa, đạo lý cuộc đời, đó là sự bảo trợ cần thiết mang tính linh thiêng. Thỉnh thoảng, lân cũng được gửi gắm như con vật linh bảo vệ cho các công trình kiến trúc, dinh thự, lăng mộ… từ Trung Quốc, hình tượng kỳ lân với đầy đủ ý nghĩa của nó đã vào Việt Nam theo bước chân xâm lăng và ý muốn đồng hóa dân tộc Việt của người Hán. Sự truyền bá văn hóa đó đã diễn ra có lúc mãnh liệt có lúc tàn bạo với ý muốn hủy diệt. Hình tượng kỳ lân từ đó đã xuất hiện nhiều hơn ở Việt Nam, ngay cả khi đất nước đã giành được độc lập. Tuy nhiên, bên cạnh chi tiết trang trí kỳ lân, trên các công trình kiến trúc, đồ gốm, đồ đồng… ở nước ta còn xuất hiện thêm hình tượng trang trí có hình dáng giống với kỳ lân nhưng không hẳn là kỳ lân. L.Cadiere, vị linh mục người Pháp có tinh thần khách quan trong những công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, đã nêu nghi vấn về chi tiết trang trí này. “Có một con vật rõ ràng không phải là con kỳ lân thực sự, mà nó có vẻ là con sư tử, hay là thuộc một giống vật khác; trong lúc đó nó lại được người Việt Nam gọi là con kỳ lân. Đó là con vật mà chúng ta thấy ở trên đầu các trụ trước các đền chùa. Bộ lông, cái đầu, cái đuôi, nhất là những móng vuốt, thay cho những móng đề, đã làm cho con vật này giống với con sư tử hơn là một con kỳ lân”. Sự nghi ngờ ấy là có cơ sở vì kỳ lân là một con vật tưởng tượng, sẽ hiện diện trên thực tế với ý niệm và tâm hồn của văn hóa đất nước nó đang tồn tại. Con vật được người Việt sử dụng nhiều trong các công trình kiến trúc nhằm chuyển tải ước muốn may mắn hẳn nhiên chịu ảnh hưởng của con kỳ lân Trung Hoa nhưng sẽ sai lầm nếu cho rằng đó là hoàn toàn hình mẫu căn bản từ con kỳ lân đến từ phương Bắc. Linh vật thuần Việt Trong các chi tiết trang trí kiến trúc của văn hóa Việt Nam, vẫn tồn tại hình tượng con nghê với những miêu tả về hình dáng giống với con kỳ lân Trung Quốc. Đó là con vật mình không lớn, không có sừng, chân ngắn và thường có móng vuốt, không có vảy ở thân, đầu, mình và đuôi thường có lông che phủ. Với hình dáng nhỏ nhắn, phần nào thể hiện nét tinh nghịch và vui tươi, nghê là chi tiết trang trí được sử dụng nhiều ở Việt Nam. Tác giả Bùi Ngọc Tuấn trong cuốn Đồ gốm cổ truyền Việt Nam đã cho rằng nếu kỳ lân là hình tượng của văn hóa Trung Hoa thì nghê là hình tượng mang đầy đủ ý niệm và tâm linh của người Việt Nam. “Trong đời sống của người dân Việt, hai con thú được coi như những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó. Trâu để cày ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà, phòng kẻ gian, phòng thú dữ. Đời sống thực tế có chó giữ nhà, còn đời sống tinh thần thì sao? Ông cha ta cũng cần một linh vật để chống lại các tà ma ác quỷ nữa chứ. Chó đá được dựng lên vì thế. Ở làng quên miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng bao giờ cũng có một con chó đá để bảo vệ cả làng, trước cổng đình bao giờ cũng có chó đá, và trước cổng nhà hay ở ngoài đầu hồi, ngoài cửa nhà cũng thường có chó đá ngồi trước canh giữ cho gia chủ. Những con chó đá này hình dạng thay đổi, cao khoảng từ nửa thước tới một thước, thường là những tảng đá được khắc đẽo rõ ràng oai vệ, nhưng có khi chỉ là một khối đá đặt nghiêng theo dáng một con chó đang ở thế ngồi canh giữ (…) Rồi để bày trước điện thờ, hay bàn thờ của những nhà giàu có, ở các đình chùa, đền miếu, chó đá hóa linh. Chó đá được khắc đẽo với những chi tiết oai vệ, đầu chó, mặt chó đầy những nét oai nghiêm. Vì linh thiêng như thế, nên được gọi là con Nghê”. Quả thật, con Nghê còn được dùng để trang trí trong các ngôi đình cổ ở Việt Nam. Nghê được chạm trên cốn (xà ngang từ cột ra để đỡ xà dọc ở mái ngoài), hay được đặt trên đầu đao (sống mái chạy từ đỉnh nóc nhà xuống, cong lên như hình cây đại đao (mã tấu) nên gọi là đầu đao), như trên cốn đình làng An Hòa (Hà Nam), Phất Lộc (Thái Bình), cột đình làng Hội Thống (Hà Tĩnh), đầu đao đình làng Phù Lão (Bắc Giang), làng Trung Cần (Nghệ An), làng Tây Đằng (Sơn Tây)… chẳng hạn. Cho nên, tác giả Bùi Ngọc Tuấn kết luận: “Vậy con Nghê là một linh vật thuần Việt được sáng tạo để bảo vệ đời sống tâm linh của người Việt”. Lý giải của tác giả Bùi Ngọc Tuấn không phải không có cơ sở vì con chó trong văn hóa Việt Nam là một con vật sống gần gũi, gắn bó với con người. Điều đó được minh chứng trong rất nhiều câu chuyện thần thoại, truyền thuyết lưu giữ trong dân gian của dân tộc Việt, Mường… Nhìn lại cụ thể, chi tiết kiến trúc mà L.Cadiere nghi vấn ở trên có thể có hình dạng từ con chó. Tất nhiên, hình tượng đó đã được trí tưởng tượng của người dân đất Việt thêm thắt cho phù hợp với ý muốn và sự cầu mong may mắn của mình. Tuy nhiên, tất cả những lý giải trên đều chỉ là phỏng đoán; và vẫn chưa có cứ liệu cụ thể để khẳng định hình tượng con nghê xuất phát từ hình dạng con chó. Chúng ta đều thừa nhận trong văn hóa Việt, con chó là con vật gần gũi, thân thiết với cuộc sống con người như những lý giải của tác giả Bùi Ngọc Tuấn. Nhưng rõ ràng con chó đối với người Việt vẫn chưa được thiêng hóa đến mức có thể coi là vật linh để được khắc họa trên các trụ biểu, đầu đao hay trấn giữ cổng chùa, đền, miếu… Vẫn còn đó những danh xưng có phần miệt thị và bạc bẽo tồn tại trong dân gian dành cho con chó, đồ con chó, đồ chó đẻ… Trên thực tế, nghê (hay toan nghê) trong tiếng Hán có nghĩa là con sư tử. Điều đó có đồng nghĩa nghê chỉ là con vật mang hình dạng của sư tử? Merher Mc Arthur chỉ rõ: “tại cổng vào của một số đền chùa, nhất là ở Đông Á và Đông Nam Á thường có một cặp nghê, một thứ linh thú tựa như sư tử, từ Hán Việt là Phật sư, trấn giữ”. Nhìn đại thể, văn hóa Việt Nam với cơ tầng vốn có của mình bên cạnh việc tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hóa của người Hán đã tiếp nhận trong hòa đồng một phần văn hóa Ën Độ, cụ thể ở đây là Phật giáo. Nếu văn hóa Hán theo bước chân những đạo quân xâm lăng phương Bắc tràn vào Việt Nam thì văn hóa Phật giáo đến với người Việt một cách nhu mì hơn. Người Việt trong hoàn cảnh phải chống lại thế lực hùng mạnh phía Bắc đã nương nhờ vào triết lý từ bi, khoan dung của Phật giáo để tồn tại suốt thời kỳ Bắc thuộc cũng như thời kỳ đầu độc lập. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà các nhà Lý, Trần chọn Phật giáo làm tôn giáo chính của đất nước dù trên danh nghĩa tôn giáo này không phải là quốc giáo. Các vị sư sãi đã đóng những vai trò quan trọng trong triều đình; chùa chiền, tự viện mọc lên khắp đất nước thời kỳ này (và cả về sau)… Phật giáo đã hòa vào lòng dân tộc Việt Nam; nói đến văn hóa Phật giáo cũng đồng nghĩa với việc đang nói đến văn hóa Việt Nam. Hiểu rõ điều này ta sẽ dễ dàng chấp nhận tượng nghê ở đầu các trụ biểu, đầu đao, cổng chùa, đền, miếu… là hình tượng của Phật sư hay sư tử trong văn hóa Phật giáo. Trong lịch sử Phật giáo, sau khi Đức Phật giác ngộ, người ta thường nhắc đến Ngài như là Con sư tử của dòng họ Shakyas cũng như nói đến nguồn gốc vương giả và thừa nhận uy lực tâm linh vô biên của Ngài. Sư tử trong văn hóa Phật giáo thường biểu thị uy lực của Phật pháp; nhưng trong hình tượng chung, sư tử thể hiện sức mạnh của con vật là chúa tể muôn loài, quyền năng và quý trọng. Hình tượng sư tử ở ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam có những nét không giống nhau tùy theo cách hiểu và vận dụng ý nghĩa ban đầu của con vật này ở mỗi nền văn hóa. Như vậy với văn hóa Việt Nam, hình tượng con nghê rất có thể bắt nguồn từ Phật sư, nhưng hình tượng ấy được thể hiện nhỏ nhắn và linh động hơn. Người Việt Nam đã khôn khéo xây dựng cho riêng mình con nghê không giống với nghê mang hình dáng sư tử, bệ vệ trên các công trình của Phật giáo ấËn Độ (hoặc các nước chịu ảnh hưởng Phật giáo và văn hóa ấn Độ). Nó cũng là một biểu tượng khác với kỳ lân hay sư tử Trung Quốc. Nghê trong hình tượng trang trí ở Việt Nam không có thân hình cao lớn của ngựa như sự tưởng tượng về con kỳ lân, đuôi hẳn nhiên không phải là đuôi bò, thân ít khi có vảy cá. Nghê cũng không có đầu nửa rồng nửa thú và lại không có sừng. Nghê trong mỹ thuật trang trí của người Việt có thân hình vừa phải, không quá to như thân sư tử. Dáng đứng của nghê cũng không quá chú trọng đến việc tạo ra sự hiên ngang, khí phách mà thay vào đó là sự uyển chuyển và nhẹ nhàng. Tựu trung lại, hình tượng nghê và kỳ lân trong nghệ thuật trang trí trên các công trình kiến trúc ở Việt Nam là hai hình tượng khác nhau. Kỳ lân là hình tượng mang phong cách văn hóa Trung Hoa trong khi nghê là linh vật bắt nguồn từ Phật giáo nhưng đã được người Việt cải biến. Đó cũng là một điều dễ hiểu. Trong văn hóa Việt Nam, qua quá trình tiếp xúc với văn hóa bên ngoài, người Việt đã tiếp thu những điều cần thiết và cải biến chúng mang hồn Việt và văn hóa Việt. Trường hợp con kỳ lân và con nghê là ví dụ cụ thể. Nguồn vanhoaphatgiao
  19. Bản sắc Việt vẫn đậm đà trên cổ vật! Suốt ngàn năm bị nội thuộc Trung Quốc, dân tộc Việt không ngừng chống lại sách lược đồng hóa của bọn phong kiến phương Bắc. Năm 43, nhà Đông Hán cử Phục ba tướng quân Mã Viện sang Giao Chỉ đàn áp cuộc nổi dậy giành quyền tự chủ của Hai Bà Trưng. Chiến thắng, Mã Viện quyết tâm tiêu diệt văn hóa bản địa. Ra lệnh tịch thu tất cả vật phẩm của người Việt đúc thành ngựa đồng đem về dâng vua Hán. Đem thợ gốm từ Trung Quốc qua xây lò sản xuất dụng cụ sinh hoạt, thờ cúng mang dấu ấn văn hóa Hán tộc tại Tam Thọ (Đông Sơn - Thanh Hóa, phát triển từ thế kỷ thứ I - thế kỷ thứ IV). Dần dần trên mặt nổi, một hình thái văn hóa, mỹ thuật “Hoa hóa” chi phối giai cấp quan lại thống trị và giới Nho sĩ bản xứ phát triển tại trung tâm Đại La. Rồng Lân Khánh Xuân Thị Tả Bình hoa do nghệ nhân Bùi Thị Hí chế tác Tuy nhiên, rất may cho dân tộc Việt trong thời kỳ đen tối này đạo Phật được các tăng sĩ Ấn Độ truyền bá đến vùng đất Đông Nam Á, trong đó có Giao Châu. Với tinh thần từ bi dung hợp được với truyền thống tín ngưỡng bản xứ, Phật giáo được người Việt chấp nhận dễ dàng. Điều này hình thành dòng chảy văn hóa ngấm ngầm trong làng mạc Việt, có bản sắc riêng gây được lòng tin tưởng để chống lại sách lược “Hoa hóa” lâu dài. Dựa vào sức mạnh này mà các lãnh tụ người Việt tiếp nối nhau phất cờ khởi nghĩa để giành lại nền độc lập cho đất nước, quyền tự chủ cho dân tộc. Đến năm 906, Khúc Thừa Dụ chống lại nhà Đường tự xưng Tiết độ sứ cầm quyền tự trị Giao Châu. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, triều thần tôn làm Đại Thắng Minh hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Vua Đinh và con trưởng bị ám sát, ngai vàng chuyển về tay thập đạo tướng quân Lê Hoàn một cách êm ái nhờ Hoàng hậu Dương Vân Nga. Nhà Tiền Lê truyền được hai đời kéo dài 29 năm do sự bạo ác của Lê Long Đỉnh nên quân dân làm “cách mệnh” tôn Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, mở ra thời đại phục hưng văn hóa Đại Việt. I. Triều Lý (1010-1225) Linh thú chùa Phật Tích Lý Công Uẩn sáng lập, truyền nối được chín đời vua. Đây là triều đại quân chủ Phật giáo rạng rỡ nhất trong lịch sử. Sau khi đăng quang ở Kinh Đô Hoa Lư, vua quyết định dời đô về thành Đại La, đổi tên thành Thăng Long. Nhà Lý phối hợp nhuần nhuyễn hai hệ tư tưởng lớn Phật giáo - Nho giáo với truyền thống dân tộc để xây dựng nền tảng văn hóa vững chắc, đủ sức đề kháng với văn hóa phương Bắc áp đặt trên dân tộc suốt một ngàn năm. Những di sản vật thể còn tồn tại đến nay cho thấy dưới thời Lý, văn hóa Việt giao lưu, tiếp thu nhiều yếu tố Phật giáo Đông Nam Á, được truyền từ Ấn Độ sang. Xã hội chưa bị ràng buộc theo những kỷ cương cứng nhắc của Nho giáo nên tư tưởng phóng khoáng, bao dung dễ hòa hợp. Nhờ đó mỹ thuật phát triển, tiến bộ rất nhanh tạo được những tác phẩm điêu khắc bằng đá tiêu biểu như tượng Phật Thích Ca, tượng Kim Cương Hộ Pháp, tượng các linh thú ở chùa Phật Tích, giếng nước chùa Báo Thiên… Tác phẩm to lớn bằng đồng như tượng Phật Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, vạc Phổ Minh (An Nam tứ đại khí)... Các loại hình trang trí trên nóc chùa tháp, cung điện bằng đất nung rất đa dạng như rồng, kim xí điểu, nhạc thần, lá bồ đề, hoa sen… tuyệt đẹp. Đặc biệt là các loại đồ gốm men ngọc, men xanh lục, men ngà… kiểu thức thanh nhã, khắc họa hoa văn tinh tế, được xem là dấu ấn mỹ thuật của thời Lý, đậm đà bản sắc Đại Việt. II. Triều Trần (1225-1413) Các kiểu lá đề trang trí triều Trần Nhà Trần thay thế nhà Lý diễn ra trong nội bộ hoàng gia, không gây ra những xáo trộn xã hội. Đạo Phật vẫn là quốc giáo, được triều đình, nhân dân sùng mộ, quy ngưỡng nhờ các vị vua đầu triều như Thái Tông, Thánh Tông, và nhất là Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Đầu Kim Sí Điểu và hình rồng thời Trần Tuy nhiên, do phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh giữ nước, tài lực không phong phú như thời Lý, nên ít xây dựng những chùa tháp quy mô. Vật liệu kiến trúc trang trí chuyển sang dùng gỗ thay thế cho đồng, đá nên dễ bị hư hỏng. Thời Trần cổ xúy tinh thần “cư trần lạc đạo”, gần gũi với quần chúng nên hình thành phong cách mỹ thuật hiện thực, mạnh mẽ theo tinh thần thượng võ. Trên đồ gốm nhờ sử dụng men màu nâu nên các đề tài trang trí phong phú gây ấn tượng mạnh mẽ. Biểu tượng “rồng bay” ổn định suốt hơn 200 năm dưới thời Lý, bước sang triều Trần có phần thay đổi. Mặt rồng dữ, toát ra vẻ quyền uy đế vương. Trên đầu có sừng, thân mập ngắn, không uốn lượn uyển chuyển kéo dài như rồng Lý. III. Triều Lê (1428-1527) Tượng phụ nữ quý tộc triều Lê Đầu thời Lê, vẫn còn giữ truyền thống Lý - Trần. Dần dần để củng cố quân quyền theo kỷ cương Nho giáo, triều đình cải cách mô phỏng theo những định chế của triều Minh. Như việc vua Lê Thái Tông đã theo lời tâu của thái giám Lương Đăng cải cách Lễ nhạc, nghi vệ mà không theo ý kiến của Nguyễn Trãi. Do đó, tư tưởng Phật giáo không còn giữ được vai trò quan trọng tại triều đình, lùi về sinh hoạt tín ngưỡng trong dân gian. Luật lệ không cho phép xây dựng chùa chiền mới, hạn chế tăng sĩ. Mỹ thuật Phật giáo thời kỳ này không có dấu ấn đặc biệt. Riêng công nghệ chế tạo đồ gốm, nhờ ứng dụng màu men lam để trang trí nên phát triển rực rỡ. Đồ gốm Việt Nam được các nước trong khu vực quý chuộng, xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Mã Lai, Nam Dương… Ngày nay nhìn ngắm các họa tiết men lam, tam thái (ba màu: lục, đỏ, lam) trên đồ gốm Chu Đậu (Hải Dương) qua những hình ảnh phong cảnh, thú vật, chim hoa, côn trùng sinh động, vui tươi gần gũi với cuộc sống nông thôn Việt Nam, khác hẳn đồ sứ Trung Quốc cùng thời. Điều đó chứng minh rằng, hội họa Việt Nam từ thế kỷ thứ XV đã phát triển, được lưu lại trên đồ gốm Chu Đậu, mang đậm bản sắc truyền thống. IV. Triều Mạc (1527-1592) Lư hương thời Mạc Chân đèn thời Mạc Sau thời đại thịnh trị Hồng Đức (Lê Thánh Tông), triều Lê nhanh chóng suy thoái vì các vua hoang dâm, vô đạo như Uy Mục, Tương Dực. Năm 1526, Mạc Đăng Dung bức tử vua Lê Chiêu Tông để bước lên ngai vàng mở ra triều Mạc. Giới Nho sĩ chống đối quyết liệt, hai họ Nguyễn - Trịnh phất cờ “phù Lê diệt Mạc”. Để đối phó tình thế, nhà Mạc bãi bỏ những quy định hạn chế đối với Phật giáo dưới thời Lê. Ủng hộ việc xây dựng, sửa chữa chùa đền để lấy lòng quần chúng. Khuyến khích thợ thuyền, mở rộng thương nghiệp… nhờ đó mà ngành mỹ nghệ gốm sứ đạt được kết quả tốt đẹp. Nhiều nghệ nhân nổi tiếng xuất hiện, sáng tác nhiều men màu, kiểu mẫu, để lại dấu ấn mỹ thuật của triều Mạc đặc sắc trong kho tàng di sản. V. Triều Lê - Trịnh (1533-1789) Chậu rửa mặt Nội Phủ Thị Nam - thời Lê Trịnh Sau khi diệt được họ Mạc, giành lại ngai vàng đưa vua Lê trở về Thăng Long, họ Trịnh nắm hết quyền hành cai trị ở Bắc hà. Tiếp theo không giải quyết được bằng chiến tranh, hai họ Trịnh - Nguyễn chấp nhận phân chia lãnh thổ để làm chúa hai miền đất nước. Cuộc nội chiến Trịnh - Mạc khiến trung tâm gốm Chu Đậu (Hải Dương) bị tàn phá nặng nề, rồi suy thoái dần mất hẳn thị trường. Kể từ thế kỷ XVIII, ngành công nghệ gốm trong nước chỉ sản xuất đồ vật gia dụng cho giới bình dân. Vua chúa, quyền quý đua nhau gửi kiểu mẫu đặt làm đồ sứ ở Trung Quốc để phục vụ nhu cầu sinh hoạt. Từ giai đoạn này bắt đầu phát sinh “ĐỒ SỨ VIỆT NAM KÝ KIỂU”, dấu ấn của sự giao lưu, hợp tác chế tạo giữa Việt Nam và Trung Quốc. Điểm đặc biệt là trên đồ sứ ký kiểu vẫn đậm đà bản sắc Việt, nghệ nhân Trung Quốc chỉ sử dụng nguyên liệu cao cấp chế tạo sản phẩm theo đúng kiểu mẫu hoa văn trang trí, thơ văn đề vịnh Hán Nôm do chính chủ đặt hàng quyết định. Di sản văn hóa là “của tin” của tổ tiên từ ngàn xưa truyền lại cho con cháu vạn đời sau. Nếu có tấm lòng thì nhìn nó không chỉ là đồ đồng, đá, gỗ, gốm... mà trong đó ẩn dấu hình bóng, tâm tình, của người xưa. Người đời sau có thể hiểu được nếp sống, tư tưởng của ông cha ngàn kiếp trước. Nếu thành tâm còn có thể cảm thông, trao đổi tâm tình với nhau thông qua di sản. Có nhân duyên cầm trên tay một cổ vật ta có thể “hiệp thông” với quá khứ. Nước nào, nhà nào bất hạnh, di sản văn hóa của tổ tiên bị phá hoại, khinh thường thì nước, nhà đó đang đi vào tình trạng “vong bản”. Sống với cái xác không hồn, đúng là: “Hại thay cái họa chết lòng Lòng kia đã chết còn mong nỗi gì”. (Phan Bội Châu) Theo TTO
  20. VTV & HTV là đài truyền hình VN mờ Chúng ta có nhiều cơ quan (cấp địa phương) cùng chung tay quản lý văn hóa mờ : -Sở văn hóa, -Sở Thông tin truyền thông, -An ninh văn hóa công an thành phố -Ban tuyên giáo thành ủy.
  21. Các cổ vật có hình con Nghê của Bảo tàng Guimet (Paris): 1. Chân đèn có tượng Nghê, với ký hiệu cho biết được chế tạo vào năm 1637 tại Bát Tràng. Nghê Bát Tràng 2. Đĩa vẽ hình Nghê, được sản xuất cho thị trường Trung Đông và những nước theo Hồi giáo. Đĩa trang trí hing con nghê Các hiện vật hình con Nghê của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội): 1. Đỉnh có nắp, men trắng xám rạn. Triều Lê Trung Hưng, tháng 4 năm Vĩnh Hựu 2 (1736). Đỉnh có nắp hình vòm, chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, xung quanh trổ thủng bát quái, gờ miệng phẳng, thân phình, 3 chân thú chạm nổi hổ phù, 2 quai hình rồng. Trang trí nổi các băng văn dây lá lật, hồi văn chữ T, lá đề và rồng trong mây. Minh văn khắc dưới đế. Vĩnh Hựu vạn vạn niên chi nhị, tứ nguyệt nhật cung tác). Men rạn trắng xám. 2. Nậm rượu, men nhiều mầu. Triều Mạc – Lê Trung Hưng, thế kỷ 16 – 17. Nậm có cổ cao hình trụ, miệng đứng, thân chia 6 múi nổi hình cánh hoa, chạm nổi hình Nghê và hoa, viền đế tô nâu. Men trắng ngà và xanh rêu. 3. Tượng Nghê, men trắng ngà và xanh rêu. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 17. Tượng Nghê trên bệ chữ nhật, tư thế ngồi chầu, 2 chân trước chống, 2 chân sau khuỵu gập lại, đầu ngẩng, cổ đeo chuỗi nhạc nổi. Xung quanh thân và chân chạm mây. Ðế chữ nhật chạm mây, hoa sen và hồi văn. Men trắng ngà và xanh rêu. 4. Hũ có nắp, men rạn và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802-1819). Nắp hũ hình vòm có chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, vẽ mây xung quanh. Hũ có gờ miệng uốn, cổ ngắn, vai phình, thân cao, đế rộng. Vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng tròn. Vẽ lam đề tài phong cảnh sơn thuỷ, nhà cửa, cây lá, người đội ô, người chèo thuyền. Minh văn viết bằng men lam dưới đế. “Gia Long niên chế” (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long). 5. Hũ có nắp, men nâu trắng và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802-1819). Nắp có chỏm hình Nghê vờn ngọc, vẽ hoa lá men lam. Hũ có gờ miệng phẳng, cổ ngắn, vai phình, đáy lõm. Trên vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng. Xung quanh thân vẽ lam tiêu – tượng, mã – liễu, tùng – lộc. Minh văn viết 4 chữ. “Gia Long niên tạo” (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long). Men nâu, trắng và lam. 6. Đài thờ có nắp, men rạn, ngà. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 18. Đài thờ có 2 phần, miệng hình ô van, nắp trang trí nổi núm hình Nghê, băng lá lật, mai – trúc – cúc – tùng, chữ “vạn”, hổ phù. Men rạn ngà. 7. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê đứng trên bệ chữ nhật, quanh thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu. 8. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê quỳ trên bệ chữ nhật, đuôi xoắn, thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu. Sưu tập tư nhân: Tượng Nghê, bằng sứ. (Nguồn: Bảo tàng Guimet (Paris), Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)
  22. Tranh Đông Hồ – một dòng tranh luôn bám theo thời cuộc Quả thật, cách “nhại” tranh Đông Hồ để “giễu” các vấn đề của cuộc sống đương đại của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông – đang diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Pháp, 24 Tràng Tiền, Hà Nội (kéo dài đến 15/7/2009) có thể để lại nhiều tiếng cười sảng khoái. Song cũng có những ý kiến khắt khe cho rằng, như thế có vẻ làm “tầm thường hóa” dòng tranh cổ kính của cha ông. Vậy tranh Đông Hồ có thể phản ánh cuộc sống đương đại hay không? Để trả lời cho những thắc mắc này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết khám phá những điều thú vị về tranh Đông Hồ – một dòng tranh luôn bám theo thời cuộc. Từ cảnh nhảy đầm đến… nhà chứa! Ai cũng biết trong phong trào Âu hóa, cái món “nhảy đầm” đã được du nhập vào Việt Nam khiến các cụ đồ Nho phải lắc đầu lè lưỡi. Nhảy đầm đã đi vào tranh Đông Hồ với bức tranh cùng tên, và hiện nay vẫn còn ván khắc để in. Bức tranh mô tả một quầy bar, có ly, cốc, có bồi bàn, có rượu vang hoặc champagne, hình vẽ cũng thô mộc thôi, nhưng rất rõ một sinh hoạt thuộc địa, với hai cặp giai thanh gái lịch trong điệu valse uyển chuyển. Nhảy đầm (tranh Đông Hồ) Bức tranh đôi Phong tục cải lương – văn minh tiến bộ vẽ ông Tây – bà đầm đi “picnic”, một bên chú thích là Phong tục cải lương moa tăng phú, còn bên kia: Văn minh tiến bộ, tọa (toa) tăng xương. Theo lý giải của họa sĩ Trần Hậu Yên Thế, thì đây là cách chửi kiểu bồi tiếng Tây của một ông đồ cũng thật hay, Toa tăng xương = Toi attention/ Mày liệu hồn, Moa tăng phú = Moi, je m’enfiche/ Tao mặc kệ. Cả hai câu có nghĩa đầy phẫn nộ: Phong tục thay đổi, thì mày liệu hồn; Văn minh tiến bộ, tao đếch cần. Bức tranh đôi Phong tục cải lương - văn minh tiến bộ Bộ tranh đôi Trai tứ khoái – gái bảy nghề, nghệ nhân đã rất khéo đổi câu vè quen thuộc trong dân gian chê các cô gái hư hỏng: “Ngồi lê là một, dựa cột (lười nhác) là hai/ theo giai là ba/ ăn quà là bốn/ trốn việc là năm/ hay nằm là sáu/ đánh cháu là bảy” thành “đăng sê (nhảy đầm) là một/ theo mốt là hai/ đánh bài là ba/ đàn ca là bốn/ trốn nhà là năm/ đi săm (nhà chứa) là sáu/ Mang cháu (chửa hoang) là bảy. Bộc lộ sự phê phán riết róng cái việc đánh mất thuần phong để đi vào bại tục. Chỉ một góc nhỏ thôi trong tranh Đông Hồ đã cho ta thấy nghệ nhân với trách nhiệm xã hội đã đóng vai trò phê phán quyết liệt những thói xấu từ quan trường đến đời sống dân sự. Họ là nghệ nhân nhưng cũng là những nhà báo trứ danh đó chứ! Tranh Đông Hồ: luôn bám theo thời cuộc Chỉ từ đời sống dân gian, chẳng có ai định hướng mà tranh Đông Hồ cũng có đủ loại từ tranh giáo khoa, phong cảnh, phong tục, sinh hoạt, tín ngưỡng, tranh truyện (dựa theo cổ tích) tranh lịch sử, châm biếm và hài hước, chẳng thiếu thể loại gì. Tranh Gái bảy nghề Có thể nói, một đặc điểm rất đáng nể của tranh Đông Hồ là luôn bám theo thời cuộc. Ta để ý mảng tranh châm biếm, những bức tranh như Trê cóc, Đám cưới chuột, Đánh ghen, Hứng dừa cách nay vài trăm năm đến những tranh Trai tứ khoái, gái bảy nghề vẽ về thói sinh hoạt đàng điếm của đám trai gái thành thị thời thực dân Pháp đến các tranh vẽ người Pháp Văn minh tiến bộ, phong tục cải lương cách đây sáu bảy mươi năm tự nhiên đóng vai trò phản biện xã hội với con mắt phê phán khá sắc cạnh. Thế mới biết nghệ nhân quan sát cuộc sống và hiểu cuộc sống khá kỹ lưỡng. Có thể nói đó là loại tranh biếm xuất hiện rất sớm ở Việt Nam, ở tư thế độc lập, cao cấp in màu tử tế và được xã hội chấp nhận, giữ gìn. Tranh Đám cưới chuột quá nổi tiếng, ai cũng biết nhà chuột trong buổi nghinh hôn phải lo lễ lạt cho bề trên là ông miêu để được vênh vang rước dâu. Nhưng vào thời mua quan bán tước, nghệ nhân ta chế lại hai chữ “nghinh hôn” thành “tiến sĩ”. Cảnh rước dâu thành cảnh rước tiến sĩ vinh quy, cũng lễ lạt cho mèo để được danh phận. Đám cưới chuột (trái) được “chế” lại thành đám rước Tiến sĩ (dưới) với đầy tính thời cuộc Ai cũng biết tranh đôi Đánh ghen chê cười cảnh lẽ mọn, ông chồng rụt rè can ngăn vợ cả: Thôi thôi bớt giận là lành… còn Hứng dừa thì “đấy trèo đây hứng” quả là ngoạn mục của sự phồn thực. Nhưng lại có một dị bản Đánh ghen, Hứng dừa nữa của thế hệ sau gần chúng ta hơn, khá đặc biệt với chú thích mới: Ở tranh Đánh ghen, cảnh ông già đang lộn xộn trong cảnh tranh chấp vợ cả vợ bé, ông tuyên bố gân guốc với bà cả “nhân lão tâm bất lão” (người già nhưng lòng chưa già!), quyết tâm giữ bà hai. Còn Hứng dừa thì đi xa hơn trong phồn thực với chú thích lẩy từ câu Kiều có sửa đi đôi chút: “trong như ngọc, trắng như ngà”, chẳng phải là anh chồng đang nói về cô vợ “nuy” sao? Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (cũ) Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (mới) Hs Đỗ Đức (TT&VH)
  23. Tranh dân gian mất khách, làng giấy dó cũng lụi tàn Giấy dó Phong Khê (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) vốn nổi tiếng vì gắn liền với làng tranh Đông Hồ. Nay tranh Đông Hồ mất khách nên nghề làm giấy dó cũng theo đó lụi tàn. Cả làng 1.800 hộ gia đình thì 600 hộ sản xuất đủ loại giấy và chỉ 4 hộ còn làm giấy dó. Ông Nguyễn Văn Chuyển, cán bộ UBND xã Phong Khê, giải thích nghề làm giấy dó ra đời từ đời Tiền Lê, khi nhu cầu sử dụng giấy xuất hiện, nhất là khi có khoa cử. Giấy dó của làng thực sự nổi tiếng khi gắn liền với tranh Đông Hồ. Hồn giấy là những bức tranh dân gian khắc gỗ làng Đông Hồ, một làng cổ Kinh Bắc khác, cách Phong Khê gần 20 km. Những Đám cưới chuột, Hứng dừa, Đánh ghen, Cá chép… chỉ nổi tiếng khi in trên giấy dó Phong Khê. Cây dó nguyên liệu được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Nhưng người Phong Khê kén chọn, ít khi chọn thứ dó Yên Bái, Lào Cai mà phải là của Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang và cũng chỉ mua dó vào tháng 8 âm lịch. Dó mang về, lột tiếp lớp vỏ đen, lấy lượt vỏ trắng ngâm nước vôi 24 tiếng mùa hè, 36 tiếng mùa đông. Sau đó vớt ra, bó thành từng mớ, ngâm vào nước vôi tôi. Chuyển sang thùng nấu, cứ một thùng là 50 kg dó hết 20 kg than, than tàn dó cũng chín đúng độ. Một ngày sau, dỡ ra lại ngâm nước cho hết vôi, nhặt bỏ từng mấu nhỏ còn sót lại. Dó đem đi rửa tiếp, cho vào bể ngâm 15-20 ngày, rồi vớt ra, cho vào cối giã nhuyễn, đem đãi lấy nước trong, cho vào bể… Tính sơ sơ từ cây dó ra được tờ giấy phải qua 10 công đoạn, tức là gần một tháng. Ông cụ Lưu, một lão nghệ nhân lôi ra xấp giấy chính hiệu Phong Khê khoe với khách: “Giấy dó xịn phải trong, mỏng, mịn, sờ vào mát tay như lụa tơ tằm thế này chứ!”. Cụ tự hào vì mấy hôm trước được Bảo tàng Dân tộc học mời về giới thiệu nghề làm giấy dó Phong Khê. Song đến khi trở về làng, cụ lại buồn. Đông Hồ giờ đã chuyển nghề làm hàng mã. Cả làng tranh dân gian nổi tiếng chỉ còn 2 người gắn bó với nghề: nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam. Nhưng cả hai giờ đã già, làm tranh khắc gỗ không phải để mưu sinh mà chỉ để chơi, để đỡ nhớ nghề. Giấy dó Phong Khê vì thế cũng lay lắt theo. Để tồn tại, Phong Khê chuyển sang làm giấy bản, giấy in, bao bì và cả… giấy vệ sinh. Chị Ngô Thị Thu, một trong số 4 hộ gia đình còn giữ nghề, cho biết, giấy dó bây giờ có dăm bảy loại. Họa hoằn lắm có người đặt hàng, nhà chị mới làm thứ giấy cao cấp từ cây dó Cao Bằng, mỗi lần cũng chỉ dăm ba nghìn tờ. Mỗi tờ giá có 400 đồng, lãi lời chẳng thấm tháp vào đâu so với nhu cầu mưu sinh hằng ngày của hai vợ chồng và cậu con trai đang học ĐH Bách khoa năm cuối. Giấy dó nuôi sống gia đình chị là loại chất lượng kém, pha tạp nhiều. Làng Phong Khê giờ rất giàu. Cụm công nghiệp làng tập hợp hơn 120 xí nghiệp sản xuất giấy, mỗi doanh nghiệp có vốn từ vài tỷ đến 50 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người gần 20 triệu đồng/năm. Anh Phúc, chủ doanh nghiệp sản xuất giấy Phúc Hân, tự hào rằng khu công nghiệp mỗi năm làm ra hơn 40.000 tấn giấy. Chất lượng chỉ kém giấy Bãi Bằng, còn cỡ giấy Tân Mai thì chẳng có gì phải ngại. Chuyển sang chuyện giấy dó, anh Phúc có vẻ bần thần: “Biết sao được, làng tôi không những phải sống mà còn lo chuyện làm giàu. Xã hội không dùng giấy dó thì sản xuất ra bán cho ai?”. Theo dongho.bacninh.com
  24. HÌNH TƯỢNG CON NGHÊ THỂ HIỆN TRÊN GỐM CỔ Hai linh vật đặc thù của văn hóa Việt Nam là chim hạc và con nghê, thế nhưng trong khoảng trăm năm gần đây, ta thường thấy rồng và lân được dùng trang trí trong các đền chùa, dinh thự lớn. Như tượng hai con lân trắng ở ngay trước sân chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn chẳng hạn. Những ngôi nhà lớn của người Việt ở hải ngoại hay ở trong nước cũng trang trí bằng tượng con lân. Chim hạc là linh vật từ thời các vua Hùng dựng nên nước Văn Lang ta, vậy con nghê xuất hiện từ bao giờ ? Phải chăng từ đời Lý, khi nền văn hóa thuần Việt được phục hồi và phát triển sau một ngàn năm Bắc Thuộc ? 3. Bình trầm hình con nghê Con nghê : Trong đời sống của người dân Việt, hai con thú được coi như những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó. Trâu để cầy ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà, phòng kẻ gian, phòng thú dữ. Đời sống thực tế có chó giữ nhà, còn đời sống tinh thần thì sao? Ông cha ta cũng cần một linh vật để chống lại các tà ma ác quỷ nữa chứ. Chó đá được dựng lên vì thế. Ở làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng bao giờ cũng có một con chó đá để bảo vệ cả làng, trước cổng đình bao giờ cũng có chó đá, và trước cổng nhà hay ở ngoài đầu hồi, ngoài cửa nhà cũng thường có chó đá ngồi trước canh giữ cho gia chủ. Những con chó đá này hình dạng thay đổi, cao khoảng từ nửa thước tới một thước, thường là những tảng đá được khắc đẽo rõ ràng oai vệ, nhưng có khi chỉ là một khối đá đặt nghiêng theo dáng một con chó đang ở thế ngồi canh giữ. Rồi để bầy chó đá hoá linh trước điện thờ, hay bàn thờ ở những nhà giàu có, ở các đình chùa đền miếu, chó đá được khắc đẽo với những chi tiết oai vệ, đầu chó, mặt chó đầy những nét uy nghiêm. Vì linh thiêng như thế, nên được gọi là con Nghê. Thủa nhỏ, vào khoảng đầu thập niên 1950 ở Thái Bình, còn thấy ở nhà cụ Hà Ngọc Huyền, ông ngoại chúng tôi có trưng tượng con Nghê cao gần một thước ngay lối vào phòng khách cùng với những bình, những chóe đời Khang Hy nhà Thanh, đời Minh… Con Nghê này không biết nay đã lưu lạc về đâu? Tóm lại con Nghê là một linh vật được sáng tạo để bảo vệ đời sống tâm linh của người Việt. Con Nghê thường được thấy qua các món đồ gốm như: 1. Tượng con Nghê 2. Bình đốt trầm hương trên bàn thờ 3. Nậm rượu hình con Nghê. 1. Tượng con nghê Vài hình tượng con Nghê tiêu biểu 1. Tượng con Nghê: Dựa trên nước men, mầu men, chất đất ta có thể định rằng đây là một tác phẩm đời Lý (thế kỷ 11 –12). Con Nghê này cao độ 36cm, bằng đất nung, phủ men nâu, nét tô đắp cực kỳ tinh xảo, con Nghê trông sống động, oai vệ, tưởng chừng như có thể phóng lên xua đuổi tà ma ngay tức khắc. Mặt Nghê ngắn. Mình Nghê thon dài, rất thanh tú. Cổ Nghê đeo dây lục lạc có tua, cổ ngửng thẳng. Lông trên sống lưng dựng đứng như một hàng kỳ, chạy suốt từ đỉnh đầu xuống đến đuôi. Chân Nghê thanh nhưng thẳng và mạnh, chân sau ở thế ngồi bắp thịt đùi trông rắn chắc mạnh mẽ, hai chân trước chống cao, chỗ đầu gối có lông xoắn cong. Mắt to, miệng lớn, mũi lớn, miệng Nghê hơi hé mở để lộ những răng nanh nhọn hoắt, như sẵn sàng xua đuổi tà ma. Tai Nghê lớn nhưng không dựng lên như tai chó. Lông Nghê mượt sát vào mình với những đường khắc, uốn từ sống lưng xuống phía bụng, trông như vằn chó. 2. Nậm rượu hình con nghê 2. Nậm rượu hình con Nghê: Chúng tôi xin đưa ra hình hai nậm rượu hình con Nghê, một mầu nâu, một mầu đen. Nghê với hình dáng và thế ngồi cũng như mô tả ở trên, tuy rằng các chi tiết không sắc sảo bằng. Nghê ngồi trên một bầu rượu có dáng trên tròn dưới ống. Mình Nghê rỗng, trên lưng Nghê có vòi loe để chuyên rượu vào (nắp đậy chỗ này không còn, cho nên ta không biết nắp cũng làm bằng đất sét nung hay bằng gỗ hoặc lá cuộn). Rượu được rót ra từ vòi dài đi từ thân nậm, tựa như cọc với dây xích buộc Nghê. 3. Bình trầm hương hình Nghê (hình trên cùng): Mầu men, nước men, chất đất, độ nung của các bình hương này cho thấy đây là các tác phẩm làm thời Chu Đậu (thế kỷ 16, 17, 18 ) chứ không phải đồ đời Lý hay đời Trần. Bình hương gồm hai phần, phần dưới là một hộp nhỏ hình chữ nhật. Đây là chỗ bỏ trầm vào đốt. Phần trên là nắp. Nắp là con Nghê ngồi trên một mặt phẳng đậy vừa kín phần dưới. Mình Nghê rỗng, khi đốt, trầm khói từ phần hộp phía dưới luồn trong mình Nghê rồi bay ra từ miệng Nghê đang hơi khẽ mở, trông rất oai nghiêm. Vì trầm được đốt trong hộp kín phía dưới mà chỉ có thể thoát khói ra khỏi miệng Nghê nên cháy rất chậm, vừa toả đủ khói hương để mang đầy vẻ linh thiêng mà vẫn cháy lâu cả buổi. Phân biệt con nghê và con lân: Tượng con lân (kỳ lân) Con Nghê là linh vật đặc biệt của văn hóa Việt Nam, con Lân thuộc văn hóa Trung Hoa. Về hình dạng, con Lân giống sư tử, đầu có 1 sừng, chân ngựa, mình tròn mập có vảy, đuôi ngắn, miệng ngậm quả cầu, hay ngồi chống chân lên quả cầu. Con Nghê có kỳ mà không có sừng, mình thon nhỏ, dáng thanh, đuôi dài, trông rõ ràng dáng chó. Một số bình hương, chân đèn gốm Việt Nam thời Chu Đậu làm vào khoảng thế kỷ 16, 17 cũng có hình con lân, nhìn vào thì thấy rõ ngay là con lân chứ không phải là con nghê. (Trong sách “Vietnamese ceramics – a separate tradition” của John Guy và John Stevensen soạn, có nhiều hình bình hương trầm với con nghê nhưng đồng thời lại có hình con lân mà ghi chú nhầm là con nghê). Thời thịnh đạt của Con Nghê Trong những thế kỷ Bắc Thuộc khi người Trung Hoa làm đủ mọi cách để hủy diệt văn hoá Việt Nam, như: tịch thu, hủy diệt và cấm làm trống đồng, bắt người Việt đổi theo họ Tầu (vì thế những họ cổ Việt Nam như họ Trưng (Trưng Trắc)… không còn nữa….), thì không biết ông cha ta có làm hình tượng chó đá và con Nghê không? Quan sát cách sinh hoạt của người Thượng trên các miền cao nguyên, ta thấy rằng con chó vẫn là con vật rất quan trọng của đời sống thôn dã. Vậy thì ai có thể quả quyết rằng, chó đá, con Nghê không được phát sinh từ thời xa xưa? Tuy nhiên chúng tôi cũng chưa có dịp may được thấy các hình ảnh hay vật tích hình con Nghê của thời đại cổ xưa này. Ước rằng có người với những phương tiện đầy đủ sẽ làm các việc khai quật nghiên cứu và tìm ra di tích con Nghê từ thời xa xưa. Con Nghê tiêu biểu Khi Đinh Bộ Lĩnh dành lại nền tự chủ cho nước Việt, nhà Lý, nhà Trần, rồi nhà Lê nối ngôi dựng lại nền văn hóa thuần Việt phong phú cùng văn học, xã hội, chính trị, nghệ thuật tạo hình của người Việt phát triển rực rỡ. Trong bối cảnh văn hoá ấy, với sự nẩy nở của những nghệ phẩm, tác phẩm Việt Nam, sự phát triển của kiến trúc đình chùa, sự phát triển của giới quý tộc, trưởng giả càng đòi hỏi nhiều hơn nữa những phẩm vật tế tự, sinh hoạt và trưng bày. Khung cảnh và nhu cầu này đưa đến biết bao phát triển của nghệ thuật tạo hình. Nhu cầu tinh thần, nhu cầu vật chất được đáp ứng bởi bàn tay, khối óc của các nghệ nhân Việt lúc nào cũng xông xáo sáng tạo. Biết bao kiến trúc, cung điện, đình chùa với mái cong thuần túy Việt được dựng lên. Đồ gốm Việt Nam bừng lên tổng hợp kỹ thuật và sắc men Trung Hoa với dạng thức, nét vẽ, và phong cách hoàn toàn Việt Nam. Từ đây những bình, ấm, tô, chén, đĩa… những món đồ Lý Trắng, Lý Nâu, Lý Lục, Lý Đen, những món đồ men ngọc, chuyển qua những món men trắng hoa chàm của đời Trần, đời Lê tuyệt vời, được sản xuất mạnh mẽ. Rồi tiếp theo đó, sang thế kỷ 16, 17, 18 là thời của gốm Chu Đậu, thời tuyệt đỉnh của đồ gốm Việt Nam, với biết bao phẩm vật xuất cảng sang vùng Ba Tư, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nhật Bản…. Dựa trên số lượng và phẩm tính của những con Nghê trong các viện bảo tàng và bộ sưu tập của các tư nhân, ta thấy rằng thời thịnh đạt nhất của con Nghê là từ đời Lý cho đến cuối đời Tây Sơn (thế kỷ 11 đến thế kỷ 18). Suốt từ đời Lý, Con Nghê được trọng dụng ở khắp mọi nơi, từ những ngôi nhà dân dã, từ cung đình, cho đến lâu đài, đình chùa, lăng miếu… Đến cuối đời Lê, loạn Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước đi vào 300 năm khói lửa, nhưng không vì thế mà văn hoá Việt điêu tàn mà trái lại càng phát triển mạnh thêm về mọi mặt (thơ văn, kiến trúc, khắc gỗ, gốm sứ …). Trong suốt 8 thế kỷ này, các bình hương trầm, các nậm rượu, và các tượng hình con Nghê là những món không thể thiếu ở nơi tế tự, ở các nhà trưởng giả cho đến nhà bình dân. Tượng Nghê cổ Thời suy tàn của con Nghê Khi Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, triều đình nhà Nguyễn – có lẽ do mặc cảm, do lòng thù ghét các dấu vết văn hóa của đất Bắc, của nhà Trịnh, nhà Tây Sơn – đã quay lưng lại văn hóa Việt Nam mà ưa chuộng văn hóa Trung Hoa. Thế nên, con rồng Việt Nam uyển chuyển của đời Lý Trần Lê, đã bị thay bằng con rồng Tầu thân mập vẩy to, mặt ngắn. Thế nên, thành Thăng Long bị phá đi xây lại nhỏ hơn và biết bao cung điện đời trước (còn lại sau những năm dài chinh chiến) đã bị nhà Nguyễn cho phá đi. Thế nên, trong dù đang chật vật cạnh tranh với đồ gốm Tầu trên thị trường quốc tế, cả một kỹ nghệ đồ gốm Việt nam đã không được triều đình nâng đỡ. Thay vào đó, các món đồ dùng trong cung đình Huế thì được đặt làm từ các lò gốm ở bên Tầu. Thế nên, cả làng Chu Đậu (Hải Dương) phải bỏ nghề gốm mà chuyển qua nghề dệt chiếu (một số nhỏ đã dọn đến Bát Tràng tiếp tục nghề cũ, trong phạm vi rất nhỏ hẹp so với Chu Đậu). Trong các cung điện ở Huế, con Nghê không được dùng, vì đã bị con Lân của Tầu thay thế. Các lư trầm bằng đồng với hình tượng con Lân trên nắp trở nên phổ thông. Các nhà trưởng giả đua theo triều đình chuộng các linh tượng Trung Hoa. Kỹ nghệ đồ gốm tàn lụi, con Nghê chỉ còn sót lại trong những bàn thờ cổ ở chốn thôn dã. Hãy đi đến các ngôi chùa, các kiến trúc ở Việt Nam làm từ thế kỷ 19, ta thấy ngay rằng, con rồng Việt đã biến đổi, con Nghê đã bị thay bằng con Lân, chim Hạc chỉ còn là biểu tượng xưa cũ. Thương thay, các biểu tượng thuần Việt, các nét tạo hình thuần Việt không còn được người Việt biết đến nữa. Lâu nay, khi đi qua cửa các nhà giàu có ở Hoa Kỳ, ta vẫn thấy chủ nhà hãnh diện bầy hai con Lân hai bên cửa, cứ như là chùa Tầu. Ở các lò gốm bên Việt Nam, ở Non Nước, Đà Nẵng-Hội An, các nhà khắc chạm cẩm thạch, đâu đâu cũng chỉ sản xuất toàn con Lân mà không có con Nghê. Buồn thay! Chúng tôi ước ao rằng các nhà làm đồ gốm Việt Nam sẽ làm lại tượng con Nghê, bình hương trầm con Nghê để tất cả chúng ta còn hãnh diện nối theo dòng văn hóa Việt Nam của ông cha thủa trước. Bùi Ngọc Tuấn
  25. Trung Quốc có câu nói ngoại giao này dành cho Việt Nam từ lâu rồi: “thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đấu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, đấu tranh nhưng không đánh nhau) TQ nói thế song luôn luôn lấy thế nước lớn để lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải ta
×
×
  • Create New...