-
Số nội dung
1279 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
5
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by yeuphunu
-
Mỗi thế kỷ là 100 năm, nên thế kỷ VII TCN là 700 năm. Từ công nguyên đến nay (thế kỷ 21 - năm 2011) tạm tính là 2.000 năm Theo bài viết này thì văn lang mới thành lập được khoảng 2.700 năm. Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam cũng không ổn rồi.
-
Ý NGHĨA QUỐC HIỆU VĂN LANG Khoảng thế kỉ VII TCN, các vua Hùng đã dựng nên nhà nước đầu tiên trên lãnh thổ nước ta. Đó là nhà nước Văn Lang. Quốc hiệu Văn Lang có ý nghĩa như thế nào? Đó là câu hỏi mà mỗi người con đất Việt muốn tìm hiểu khi nhìn lại cội nguồn dân tộc. Hiện tại, ít nhất có ba cách giải thích khác nhau về ý nghĩa của quốc hiệu Văn Lang: Cách thứ nhất cho rằng: Vì tổ tiên ta có tục xăm mình nên khi lập quốc mới nhân đó mà đặt quốc hiệu là Văn Lang. Cơ sở thực tiễn của cách giải thích này nằm ngay trong tính phổ biến của tục xăm mình từng tồn tại trước và cả sau thời Hùng Vương hàng ngàn năm. Sách Đới Kí của Trung Quốc gọi nước ta thời Hùng Vương là "Điêu Đề” cũng không ngoài ý nghĩa này (Điêu nghĩa là chạm, xăm; đề là cái trán. Điêu Đề là xăm hình vào trán. Thực ra lúc bấy giờ, dân ta không chỉ xăm hình vào trán). Vì tổ tiên ta có tục xăm mình nên khi lập quốc mới nhân đó mà đặt quốc hiệu là Văn Lang. Cơ sở thực tiễn của cách giải thích này nằm ngay trong tính phổ biến của tục xăm mình từng tồn tại trước và cả sau thời Hùng Vương hàng ngàn năm. Sách của Trung Quốc gọi nước ta thời Hùng Vương là cũng không ngoài ý nghĩa này ( nghĩa là chạm, xăm; là cái trán. Điêu Đề là xăm hình vào trán. Thực ra lúc bấy giờ, dân ta không chỉ xăm hình vào trán). Cách thứ hai cho rằng: Vì tổ tiên ta có tục nhuộm răng và ăn trầu nên mới có tên nước là Văn lang. Những người chủ trương theo cách này giải thích: hai chữ "tân lang" (nghĩa là cây cau) nói trại ra thành Văn Lang. Cơ sở thực tiễn của cách giải thích thứ hai này chính là tính phổ biến và sự trường tồn của tục nhuộm răng và ăn trầu. Tuy nhiên, "tân lang" là từ gốc Hán mà từ gốc Hán chỉ mới xuất hiện ở nước ta bắt đầu từ thời Bắc thuộc, tức là sau sự khai sinh của Văn Lang rất nhiều thế kỉ. Vì vậy, cách giải thích này xem ra khó có thể thuyết phục được nhiều người. Cách thứ ba cho rằng: Văn Lang có nghĩa là cộng đồng người lập nghiệp bên lưu vực những con sông. Chỗ dựa chủ yếu của những người chủ trương giải thích theo cách này là kết quả nghiên cứu của ngành Ngữ âm học lịch sử. Theo đó thì: Văn Lang có nghĩa là cộng đồng người lập nghiệp bên lưu vực những con sông. Chỗ dựa chủ yếu của những người chủ trương giải thích theo cách này là kết quả nghiên cứu của ngành. Theo đó thì: 1. Văn là người, nhóm người, tộc người, cộng đồng người,… 2. Lang là sông, đồng nghĩa với giang, với xuyên (trong âm Hán - Việt), với khoảng (trong tiếng Lào) và với kông (trong tiếng Khmer). Ghép lại, Văn Lang có nghĩa là cộng đồng người lập nghiệp bên lưu vực những con sông. Lập luận của những người chủ trương giải thích theo cách thứ ba được củng cố thêm bởi kết quả của hàng loạt những cuộc khai quật khảo cổ dọc theo lưu vực sông Hồng và sông Mã. Bởi lẽ này, cách giải thích thứ ba được nhiều người tán thành nhất. Theo Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam - Tập 1 ============================================ Cách lập luận thứ 3 cũng không ổn lắm Có ai còn cách giải thích khách hay hơn không?
-
Khi nào Trung Quốc sẽ tấn công Việt Nam? Mặc Lâm, biên tập viên RFA - 2011-05-19 Trung quốc ngày càng lộ rõ hơn tính cách nước lớn và không ngại đưa ra những quyết định vi phạm nghiêm trọng công ước quốc tế về luật biển đối với các nước láng giềng nhỏ hơn như Philippines hay Việt Nam. Trong hoàn cảnh bị chèn ép liên tục như vậy liệu Việt Nam có thể ứng phó ra sao và đến bao giờ thì Trung Quốc sẽ tiến thêm bước nữa để thôn tính quần đảo Trường Sa? Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn đặc biệt với nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, để tìm câu trả lời về vấn đề này. Trắng trợn và ngang ngược Mặc Lâm : Thưa ông, vừa qua Trung Quốc đã tiếp tục đưa ra quyết định cấm đánh bắt cá luôn cả đối với khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam, điều này cho thấy là họ vẫn tiếp tục giữ thái độ nước lớn là bất cần những quy định của quốc tế về luật biển. Là người lâu năm nghiên cứu và làm việc với Trung Quốc, ông nhận xét việc này như thế nào? Ông Dương Danh Dy : Nói về Trung Quốc về cái chuyện này thì nói dài hay ngắn bao nhiêu cũng đuợc. Bởi vì ý đồ bất biến của Trung Quốc là gì? Là mặc dù họ không có cơ sở pháp lý, cơ sở thực tế nào ở Biển Đông cả, nhưng từ ngày thành lập nước Công Hòa Nhân Dân Trung Hoa đến nay, đến năm 1988 thôi, họ đã lấy toàn bộ Hoàng Sa của Việt Nam. Họ chiếm 7 đảo và bãi ở Trường Sa của Việt Nam, và đến bây giờ họ còn đòi tất cả, tất cả Trường Sa là thuộc về họ hết! Đó là một điều vô lý. “Việc Trung Quốc không có chủ quyền mà lại cấm đánh cá, họ cho tàu đi vào vùng biển không phải của họ để tuần tra, là những điều ngang ngược, bá đạo, không ai có thể chịu được”. Ông Dương Danh Dy Chuyện về chủ quyền lãnh thổ, đòi hỏi họ có chủ quyền về cấm đánh bắt cá, thậm chí vừa rồi Cục Hải Dương Trung Quốc đã thông qua một quy định là cho phép 176 hòn đảo không có người ở Trung Quốc được đấu thầu để cho người sử dụng đến khai thác những hòn đảo không có người ở. Trong đó chắc chắn sẽ có những đảo mà họ xâm phạm chủ quyền đối với Nhật Bản, với Hàn Quốc, Triều Tiên, và với Việt Nam. Cũng như với các nước còn lại của ASEAN như Philippines, Indonesia. Cho nên, theo tôi nghĩ mục tiêu của họ đã rõ như ban ngày rồi. Đó là một sự ngang ngược, trắng trợn, vô liêm sỉ…. có thể nói thẳng như thế. Đấy là một sự vô liêm sỉ. Mặc Lâm : Thưa, trong nhiều lần trước chúng tôi được ông trả lời phỏng vấn thì ông luôn luôn có thái độ tự chế và đây là lần đầu tiên chúng tôi nhận thấy sự bức xúc nơi ông. Thưa, xin ông cho biết đây có phải là một tín hiệu ông muốn gửi tới các cấp thẩm quyền của Việt Nam đang nhận trọng trách trong vấn đề Trung Quốc hay không? Ông Dương Danh Dy : Tôi xin nói thật là với tư cách một nhà nghiên cứu độc lập. Bây giờ tôi về hưu rồi. Tôi là một nhà nghiên cứu độc lập, chẳng ai quản tôi cả. Tôi phải nói thật như vậy. Bộ Ngoại Giao cũng không quản tôi được đâu, mà bây giờ quản tôi, tôi phải nói thật với ông, với bạn đọc là quản tôi là chi bộ Đảng CSVN, là chỗ mà hiện tôi đang sinh hoạt, và nếu quản về dư luận nữa là bên công an. Nếu tôi nói cái gì mà không đúng, không hợp pháp thì người ta cũng chả để yên cho tôi. Còn Bộ Ngoại Giao không có dính líu gì đến tôi cả. Các cơ quan nghiên cứu khác cũng không dính líu gì đến tôi cả. Đấy, tôi phải nói rõ với bạn đọc và cả cho người Trung Quốc biết rằng Dương Danh Dy bây giờ chỉ là một người nghiên cứu độc lập yêu nước Việt Nam, thế thôi. Đối với cái chuyện Trung Quốc thì tôi nói nhiều rồi, khi tôi đương còn tại chức cho đến khi về hưu. Đến bây giờ trong các cuộc hội thảo, trong những lần mà tôi có tham dự hay trong những bài viết của tôi thì tôi đều nói rõ. Đối với Trung Quốc tôi nói thật thế này: chúng tôi không bao giờ chống nhân dân Trung Quốc, mà chúng tôi chống cái bành trướng bá quyền, chống cái đại ác nước lớn của Trung Quốc thôi. Điều đó là phải khẳng định. Việc Trung Quốc không có chủ quyền mà họ lại cấm đánh cá, họ cho tàu đi vào vùng biển không phải của họ để mà tuần tra, họ đâm tàu Việt Nam thì đấy là những điều ngang ngược, bá đạo, không ai có thể chịu được. Mục đích của TQ Mặc Lâm : Thưa, là một nhà ngoại giao kỳ cựu ông biết rất rõ là trong tình hình thế giới hiện nay không cho phép một nước có hành động xâm lăng nước khác. Tuy nhiên ông có nghĩ rằng với tính cách nước lớn mà nước này thường phô trương thì Trung Quốc có thể phớt lờ đối với dư luận quốc tế để thôn tính Trường Sa như đã từng chiếm đoạt Hoàng Sa trước đây hay không? Ông Dương Danh Dy : Trong vấn đề Biển Đông hiện nay, đặc biệt vấn đề Trường Sa thì có khá nhiều khả năng. Một là khả năng tình hình sẽ tốt hơn trước, tốt hơn hiện nay. Đấy là điều mà cá nhân tôi rất mong muốn. Hai bên đi đến chỗ thỏa thuận, tìm được con đường tiếng nói chung để mà hòa hợp với lợi ích cả hai bên, không xảy ra chiến tranh, hai nước vẫn hòa thuận với nhau. Theo tôi nghĩ khả năng đó không phải là không có. Đấy là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là nó sẽ bắt giữ như là tình hình hiện nay, nhùng nhà nhùng nhằng, thỉnh thoảng anh này phản đối một tí, anh kia phản đối một tí. Thứ ba là nó xấu nữa, và cái xấu nhất là Trung Quốc mang quân ra đánh. Xấu vừa là họ cho lính của họ giả làm dân ra chiếm những đảo không có người ở mà thuộc chủ quyền của Việt Nam, của Philippines hoặc của Indonesia làm cho căng thẳng lên. Và xấu nhất là nổ ra chiến tranh, hoặc là Trung Quốc với Việt Nam hoặc là Trung Quốc với Philippines. Như vừa rồi chúng ta biết chuyện họ mang tàu đến hải phận Philippines khiến nước này cho máy bay ra đuổi họ bỏ chạy đấy. Mặc Lâm : Trong tình hình xấu nhất như ông vừa nói thì liệu chính phủ Việt Nam đã sẵn sàng chưa cho một cuộc chiến không mong muốn này, thưa ông? Ông Dương Danh Dy : Theo tôi nghĩ thì sống bên cạnh anh hàng xóm này, bất cứ người lãnh đạo Việt Nam nào cũng phải tính đến khả năng xấu nhất. Tôi chắc và tôi biết phía Việt Nam chúng ta có chuẩn bị chứ không phải chúng ta khoanh tay ngồi đợi sự cái sự bố thí của phía Trung Quốc đâu, không có đâu. Mặc Lâm : Lịch sử Việt Nam luôn cho thấy là trong hàng ngàn năm qua mỗi lần giặc phương Bắc tràn xuống thì bất cứ triều đại nào cũng đều phải nương vào lòng dân, liệu bài học kinh điển này có được chính phủ áp dụng hay không khi mà thời gian trước đây nhà nước luôn cấm đoán những cơn bức xúc của người dân? “...không nói ra nhưng mọi người Việt Nam đều biết rằng thằng bá quyền Đại Hán Trung Quốc này chưa lấy được Trường Sa của Việt Nam thì hắn chưa thôi...”. Ông Dương Danh Dy Ông Dương Danh Dy : Phải nói thật là có một thời gian dài chúng ta vì nghĩ tới lợi ích lớn cho nên chúng ta nhân nhượng, chúng ta không nói rõ về những bất đồng, nhất là trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta của Trung Quốc năm 1979. Thế nhưng gần đây nếu ông theo dõi báo chí, dư luận Việt Nam thì ông thấy là bắt đầu có những điểm mới rồi. Báo Thanh Niên của Việt Nam đã nói tới chuyện liệt sĩ Lê Đình Chinh, mà nói tới Lê Đình Chinh thì ai cũng biết liệt sĩ hy sinh ở chiến tranh biên giới năm 1979. Báo Thanh Niên Việt Nam cũng đã nói đến chuyện những liệt sĩ hy sinh ngày tháng 3 năm 1988 khi bị hải quân Trung Quốc tấn công chúng ta đấy. Bắt đầu nói tới chuyện ấy rồi! Còn trong dân, tôi xin nói thật với ông là không nói ra thì thôi, nói ra thì người ta biết là đối tượng, đối thủ của chúng ta là Trung Quốc. Trung Quốc là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta. Nhưng Trung Quốc họ cũng không hề giấu giếm, họ nói Việt Nam là đối tượng nguy hiểm nhất của Trung Quốc ở Biển Đông. Thì tôi cũng nói thật rằng là không nói ra nhưng mọi người Việt Nam đều biết rằng thằng bá quyền Đại Hán Trung Quốc này chưa lấy được Trường Sa của Việt Nam thì hắn chưa thôi, thì ai cũng biết cả rồi. Sẽ dùng vũ lực với VN? Mặc Lâm : Xin được một câu hỏi chót với ông. Theo ông thì vì sao cho tới giờ Trung Quốc vẫn chưa dùng vũ lực đối với Việt Nam như đã từng dùng trong cuộc chiến 1979 trước đây? Ông Dương Danh Dy : Không phải là chuyện dễ! Tôi xin nói thật với ông nhé, họ đã nói rồi “đánh Trường Sa thì dễ, giữ được Trường Sa không dễ”. Tôi không phải là nhà quân sự nhưng bằng những kiến thức của tôi thì tôi cũng biết rằng “Chúng tôi không muốn gây sự với các anh, nhưng mà các anh xâm phạm lãnh thổ thiêng liêng của chúng tôi thì các anh sẽ biết nó sẽ nhanh như thế nào." Chắc chắn nếu bây giờ có chuyện xảy ra, tôi xin nói thật, không phải là chuyện như năm 1979 nữa đâu, họ muốn làm mưa làm gió thì họ làm nữa đâu. Bây giờ đụng đến Việt Nam thì có khác. Năm 1979 Việt Nam lúc đó bị cô lập, bị thế nọ thế kia, còn Việt Nam bây giờ với chủ trương đối ngoại đúng đắn của Việt Nam cả thế giới, nhân dân thế giới kết nghĩa đứng với Việt Nam cả. Nhân dân khu vực đứng với Việt Nam, và ngay cả nhân dân Trung Quốc những người có lương tri họ thấy rằng là không thể lại một lần nữa mang quân sang đánh Việt Nam như năm 1979 được đâu. Cho nên tình hình bây giờ nó khác trước rồi, nó khác với năm 1979 rất nhiều, và nhà cầm quyền Trung Quốc thấy rất rõ. Năm 1979 tôi nói thật với ông là năm đó Việt Nam mệt nhọc lắm, phải không? Bây giờ thì khác, chúng ta có bạn bè khắp nơi, quan hệ ngoại giao rất tốt đẹp với các nước lớn ở trên thế giới, với các nước trong khu vực, và với nhân dân Trung Quốc cũng như vậy. Bằng những hành động chính nghĩa, sự chịu đựng, tuyên truyền làm cho nhân dân Trung Quốc dần dần người ta thấy là nhân dân Việt Nam có lý. Mặc Lâm : Xin cám ơn nhà ngoại giao Dương Danh Dy đã giúp cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này.
-
Ngày thông báo có tour đi Trường sa, (Hoàng sa tụi china chiếm mất rồi) thì yeuphunu cũng đăng ký đi.
-
Ứng phó với chiến thuật dùng tàu dân sự quấy nhiễu của Trung Quốc Tác giả: Nguyễn Đức Hùng Bài đã được xuất bản.: 16/06/2011 05:00 GMT+7 Ngay bên lề Hội thảo quốc tế về biển Đông tại Jakarta (Indonesia) và Đối thoại Shang-ri La 10 ở Singapore, Trung Quốc đã liên tiếp cho các tàu hải giám, ngư chính và tàu đánh cá giả dạng vào quấy nhiễu và cắt cáp tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 2 và Viking 2 ngay trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Bài viết này trình bày khái quát về các lực lượng tuần tra và giám sát biển của Trung Quốc và đề xuất một số biện pháp đối phó. Các lực lượng tuần tra và giám sát biển của Trung Quốc Dưới vỏ bọc tàu dân sự, các tàu hải giám, ngư chính, và tàu đánh bắt cá Trung Quốc ngày càng tăng cường hoạt động gây hấn và xâm phạm sâu vào vùng biển chủ quyền của Việt Nam và của các nước khác. Vụ việc tàu Bình Minh 2 (thuộcTập đoàn dầu khí Việt Nam, PVN) đang hoạt động khảo sát địa chấn ở vị trí chỉ cách bờ biển Việt Nam chưa đầy 120 hải lý (khoảng 222 km) bị ba tàu hải giám Trung Quốc quấy nhiễu cắt cáp khảo sát vào ngày 26/5 chưa kịp lắng xuống và Đối thoại Shang-ri La 10 ở Singapore chưa kịp kết thúc thì ngày 9/6 tàu ngư chính và tàu đánh cá giả dạng của Trung Quốc với thiết bị cắt cáp khảo sát chuyên nghiệp đã lại quấy nhiễu và cắt cáp của tàu Viking 2, cũng thuộc PVN, đang khảo sát địa chấn ở vị trí chỉ cách mũi Vũng Tàu về phía đông nam chưa đầy 180 hải lý (khoảng 333 km), nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Cả hai trường hợp này vị trí tàu bị quấy nhiễu không thuộc bất kỳ khu vực biển có tranh chấp theo UNCLOS 1982. Vậy thực chất đội tàu hải giám và ngư chính cũng như các tàu đánh cá liên tục xâm phạm và quấy nhiễu các vùng biển của Việt Nam là những loại tàu gì và chúng hoạt động ra sao? Đội tàu hải quân và các loại tàu tuần tra giám sát biển của Trung Quốc có thể phân chia thành các loại như sau: 1. Lực lượng hải quân Trung Quốc (PLAN, Bộ Quốc phòng): khoảng 740 tàu các loại từ tàu ngầm, tàu sân bay và các loại tàu lớn nhỏ phục vụ cho hải quân; 2. Hải giám (trực thuộc Cục Hải dương Quốc gia, Bộ Quốc thổ và Tài nguyên, (trực thuộc Quốc vụ viện) - thực hiện giám sát các khu vực Trung Quốc cho là vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và các hoạt động khai thác tài nguyên trên biển; 3. Ngư chính (Bộ Nông nghiệp) - quản lý các hoạt động đánh bắt cá và khai thác thủy hải sản; 4. Cảnh sát biển (Bộ Công an) - cảnh sát tuần tra biển (liên quan đến các vấn đề dân sự); 5. Tổng cục An toàn Hàng hải (Bộ Giao thông) - chịu trách nhiệm an toàn hàng hải, tìm kiếm và cứu nạn trên biển; 6. Hải quan (Tổng cục Hải quan) - giám sát ngăn chặn buôn lậu, và giám sát, kiểm tra, theo dõi các vùng biển, hải phận thuộc Trung Quốc; và..... 7. Các lực lượng khác - điều tra khảo sát biển (trực thuộc Bộ Giáo dục và các đại học, viện nghiên cứu). Đội tàu thuộc lực lượng hải quân Trước hết, đội tàu mạnh nhất và dữ tợn nhất của Trung Quốc phải kể đến là đội tàu hải quân, trực thuộc lực lượng Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN), Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Lực lượng hải quân Trung Quốc bao gồm tổng số 250 ngàn binh lính, 26 tàu phá hủy (destroyers), 50 tàu khu trục (frigates), 3 tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo (SSBN), tự đến 7 tàu ngầm hạt nhân không mang tên lửa đạn đạo (SSN, Ship Submersible Nuclear), 56 tàu ngầm hạng K (SSK), 58 tàu quân vụ đổ bộ, 80 tàu quân vụ ven bờ (có tên lửa), 27 tàu đổ bộ cỡ lớn, 31 tàu đổ bộ cỡ trung bình và khoảng 200 xuồng tấn công cao tốc. Ngoài ra còn có một tàu chuyên chở máy bay (airplane carrier). Tổng cộng khoảng chừng 740 tàu các loại. Một số tàu hải quân Trung Quốc được minh họa trong Hình 1. Lực lượng hải quân Trung Quốc được cho là hùng mạnh hàng thứ 2. Căn cứ hải quân (tàu ngầm) Tam Á thuộc hạm đội Nam Hải nằm ở phía đông của đảo Hải Nam [1]. Ngoài lực lượng hải quân, Trung Quốc phái đội tàu tuần tra trên Biển Đông được gọi tên bằng "5 con rồng khuấy động Biển Đông" bao gồm hải giám, ngư chính, cảnh sát biển, an toàn hàng hải và hải quan[2]. Hai đội tàu gây sóng gió cho các tàu thuyền đánh bắt cá và tàu thuyền thăm dò khảo sát khai thác tài nguyên biển Việt Nam là đội tàu hải giám và ngư chính. Đội tàu hải giám Đội tàu hải giám Trung Quốc trực thuộc Cục Hải dương Quốc gia (State Oceanic Adminstration, Bộ Đất đai và Tài nguyên) của Trung Quốc. Cơ quan Giám sát Hàng hải Trung Quốc (China Marine Surveillance) được thành lập vào ngày 19/10/1998. Cơ quan này có các chi nhánh rộng khắp các tỉnh thành phố ven biển Trung Quốc. Các tàu hải giám này là loại tàu bán quân sự nhằm mục đích tuần tra các vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và bờ biển của Trung Quốc. Các tàu này cũng làm nghiệm vụ bảo vệ môi trường biển, các nguồn tài nguyên, các thiết bị dẫn đường và công trình biển, khảo sát biển và trong trường hợp khẩn cấp tham gia việc tìm kiếm và cứu trợ [3]. Nếu đội tàu hải giám này hoạt động trong các vùng nước của Trung Quốc phù hợp với UNCLOS 1982 thì không có gì đáng nói, nhưng đội tàu này hoạt động ra ngoài phạm vị vùng nước phù hợp UNCLOS 1982, quấy nhiễu và cản trở các hoạt động khai thác tài nguyên biển của các nước khác. Tàu hải giám 84, 1 trong 3 tàu đã cắt cáp tàu Bình Minh 2Với sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật đóng tàu ở Trung Quốc và sự đầu tư của chính quyền nhiều cấp, đội tàu hải giám đã tăng thêm số tàu và máy bay. Tính đến năm 2008, sau 10 năm thành lập, đội tàu này đã phát triển thành đội tàu gồm 200 tàu tuần tiễu (patrol vessels) và 9 máy bay. Các tàu hải giám này có tên Trung Quốc Hải Giám + số tàu, ví dụ Trung Quốc Hải Giám 84 là tàu mới được bổ sung cho đội tàu nam hải (đóng năm 2009). Đến thời điểm 2011 đội tàu hải giám có 300 tàu (với 30 tàu có trọng tải hơn 1000 tấn) và 10 máy bay (trong đó có 4 máy bay trực thăng). Năm 2011 đội tàu hải giám này tuyển mộ thêm 1000 nhân viên mới, nâng số nhân viên làm việc lên tới trên 10 nghìn người có kỹ năng sử dụng vũ khí. Cơ quan hải giám tiếp tục tăng số tàu trong những năm tới, nhằm mục tiêu tăng thêm 36 tàu trong năm năm tới[4]. Đội tàu hải giám được phân thành 4 cấp bao gồm 3 đội tàu cấp khu vực, 10 đội tàu cấp tỉnh, 46 đội tàu cấp thành phố, và 142 đội tàu cấp quận huyện. Ba đội tàu cấp khu vực bao gồm: đội tàu bắc hải (hoạt động trong các vùng biển phía đông bắc của Trung Quốc), đội tàu đông hải (hoạt động trong các vùng biển phía đông và đông nam Trung Quốc), và đội tàu nam hải (hoạt động ở vùng biển phía nam Trung Quốc - Biển Đông Việt Nam). Đội tàu hải giám Trung Quốc bao gồm nhiều tàu phân hạng từ 500 tấn đến 4000 tấn, và một số tàu trong đội tàu này có trang bị cả máy bay trực thăng và máy bay quân sự. Đội tàu ngư chính Ngư chính là cơ quan quản lý giám đốc nghề cá thuộc các bộ phận chủ quản hành chính nghề cá của chính quyền các cấp. Cơ quan giám đốc nghề cá của Trung Quốc là Cục Ngư nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp. Cũng có địa phương đặt Ngư chính vào bộ phận thủy sản. Chức trách của Ngư chính trên biển là[7]: Tổ chức quản lý cho phép việc đánh bắt cá trong vùng phụ trách; Bảo hộ nguồn tài nguyên cá; Kiểm tra các hành vi vi phạm pháp luật phá hoại tài nguyên cá và trật tự sản xuất nghề cá; Cứu trợ các động vật dã sinh trong nước; Điều tra xử lý các sự cố gây ô nhiễm vùng nước, vùng biển nuôi đánh bắt cá; Phụ trách quản lý giám sát việc sản xuất sử dụng các loại thuốc dùng trong nuôi trồng thủy sản; và Điều tra xử lý các tranh chấp về đánh bắt cá, duy trì trật tự sản xuất ngư nghiệp. Đội tàu ngư chính có nhiều tàu lớn hoạt động trên nhiều vùng biển khác nhau, vừa làm nhiệm vụ giám sát và bảo vệ tàu đánh cá của Trung Quốc và các nước khác vừa làm nghiệp vụ quấy nhiễu và sử dụng tàu đánh cá trá hình với trang thiết bị phá hoại dùng để phá hoại các công trình khai thác dầu khí. Trong vụ Viking II ngày 9/6/2011, có nhiều tàu ngư chính và tàu đánh cá Trung Quốc tham gia phá rối và cắt cáp ở tọa độ cách mũi Vũng Tàu chưa đầy 200 hải lý. Trong đó có tàu Ngư Chính 311 thuộc hạng tàu 4500 tấn, là tàu hải quân thay đổi hình dáng chuyển sang làm tàu Ngư Chính năm 2006. Vận tốc tàu Ngư Chính 311 đạt tới 22 hải lý/giờ, cự ly hoạt động 8000 hải lý (Hình 3). Cảnh sát biển (Bộ Công an) - cảnh sát tuần tra biển (liên quan đến các vấn đề dân sự); Cảnh sát biển (Hải Cảnh) là lực lượng chấp pháp của Bộ Công an, có nhiệm vụ duy trì trị an trên biển. Trước mắt, cảnh sát biển được trang bị chủ yếu tàu tuần tra cao tốc "Báo Biển" và tàu tuần tra kiểu 218. Tàu 218 dài 41,03m; rộng 6,2m; sâu 3,4m; lượng choán nước 130 tấn, biên chế 23 người, trang bị một bộ súng máy cao xạ hai nòng 14,5mm. Tàu cao tốc "Báo Biển" HP1500 kiểu 22 dài 14,5m, máy chủ do Đức chế tạo, động cơ 1400 mã lực, chạy liên tục 220 hải lý, biên chế 6-8 người, có hệ thống định vị dẫn đường bằng vệ tinh. Cảnh sát biển là lực lượng được chuẩn hóa quân sự nhất trong các lực lượng chấp pháp trên biển của Trung Quốc. Năm 2007, Hải quân Trung Quốc bàn giao cho cảnh sát biển hai tàu lượng choán nước 1.700 tấn: "Hải Cảnh 1002" và "Hải Cảnh 1003". Trước đó đã có "Hải Cảnh 1001" loại 1.000 tấn, những tàu này đã nâng cao năng lực chấp pháp trên biển của Trung Quốc. Cán bộ sĩ quan chỉ huy quản lí, nhân viên kĩ thuật của Cảnh sát Biển Trung Quốc được đào tạo duy nhất tại trường Đại học chuyên ngành Cảnh sát Biển Công an - Triết Giang. Từ tháng 8-1983 trường chuyển từ Tổng bộ Vũ Cảnh về Bộ Công an trực tiếp quản lí và lãnh đạo. Tổng cục An toàn Hàng hải Lực lượng tổng cục An toàn Hàng hải trược thuộc Bộ Giao thông Trung Quốc chịu trách nhiệm an toàn hàng hải, tìm kiếm và cứu nạn trên biển theo quy định của IMO (Tổ chức Hàng hải Thế giới). Lực lượng thuộc Tổng cục An toàn Hàng hải chính là cảnh sát trị an trên biển, và theo tên tiếng Trung Quốc là Hải Tuần. Nhiệm vụ chủ yếu của Hải Tuần là quản lý, giám sát an toàn giao thông trên biển. Công việc chính trên biển của tổ chức này chủ yếu là phụ trách công tác an toàn cứu sinh trên biển, kiểm tra giám sát an toàn trên nước, phòng chống ô nhiễm và kiểm nghiệm tàu bè và các công trình thi công trên biển. Tàu "Hải Tuần 31" lượng choán nước 3.000 tấn là tàu hiện đại nhất thuộc lực lượng này, có nhiều chức năng tác nghiệp trên biển, trang bị máy bay trực thăng hiện đại, sự ra đời của "Hải Tuần 31" đã nâng cao năng lực cứu trợ, tuần tra an toàn giao thông trên vùng lãnh hải và vùng kinh tế đặc quyền của Trung Quốc[10]. Cho dù có nhiệm vụ như trên nhưng các tàu thuộc lực lượng an toàn hàng hải cũng phải hoạt động tuân thủ theo UNCLOS 1982. Hải quan (Tổng cục Hải quan) Tổng cục Hải quan Trung Quốc thuộc Quốc Vụ viện. Theo luật Hải quan, chức năng của Hải quan gồm 4 nhiệm vụ: Giám quản, thu thuế, chống buôn lậu, thống kê hải quan. Trong đó Giám quản là chức năng quan trọng của Hải quan, tiến hành giám sát và quản lý hàng hóa, vật tư, phương tiện trong xuất nhập cảnh. Thu thuế chính là thu thuế xuất nhập khẩu hải quan. Chống buôn lậu là chức năng mà Bộ Công an ủy quyền. Ở Tổng cục Hải quan có Cục Chống buôn lậu. Thống kê hải quan là việc Hải quan tiến hành thống kê tình hình xuất nhập khẩu trong từng khoảng thời gian nhất định, báo cáo các đơn vị liên quan của Nhà nước, để Nhà nước ra quyết sách về xuất nhập khẩu mậu dịch. Đối với Hải quan thì nhiệm vụ chấp pháp trên biển chính là đánh vào các hoạt động buôn lậu trên biển [11]. Các lực lượng khác Ngoài các lực lượng kể trên, ở Trung Quốc còn có các cơ quan có tàu điều tra và nghiên cứu. Đội tàu điều tra nghiên cứu cũng góp phần đáng kể trong việc quấy nhiểu các vùng biển không thuộc Trung Quốc theo UNCLOS 1982 (Hình 6 và 7). Như vậy cho thấy ngoài lực lượng hải quân, 5 lực lượng tuần tra giám sát biển của Trung Quốc tạo thành 5 con rồng quậy phá Biển Đông. Bảng 2 tóm tắt số tàu chính của 5 lực lượng này. Việt Nam nên ứng phó thế nào ? [12] Như trên đã trình bày năm đội tàu tuần tra giám sát của Trung Quốc vẫn tiếp tục được củng cố và phát triển cả về số lượng tàu, nhân viên và chất lượng. Bằng việc sử dụng các tàu thuyền mang vỏ bọc dân sự, người Trung Quốc dùng thủ thuật tạo một bộ mặt hòa bình để phục vụ những mục đích bành trướng của mình đến khắp nơi trên vùng biển đông bắc Thái Bình Dương (Biển Nhật Bản, Biển Hoàng Hải), Biển Đông Việt Nam và sang cả Ấn Độ Dương[13]. Những quốc gia liên quan cần có những đối sách thích hợp để tránh sự bất cân xứng khi Trung Quốc lạm dụng đội tàu tuần tra và giám sát biển cho những mục đích quân sự của mình (trang bị cả AK 59, AK 81 và súng trường tự động 95). Các đội tàu tuần tra giám sát biển (đặc biệt hải giám và ngư chính) của Trung Quốc liên tục xâm phạm các vùng biển Việt Nam và quấy nhiễu các hoạt động khai thác tài nguyên trên biển, gây thiệt hại nhiều cho Việt Nam. Do vậy Việt Nam cần có những biện pháp đối phó bao gồm cả một chiến lược dài hạn và các biện pháp ngắn hạn. Trong phần này, các tác giả đề xuất một số biện pháp đối phó đội tàu hải giám và ngư chính trên Biển Đông nhằm bảo vệ an ninh quốc phòng, bảo vệ các nhà đầu tư và ngư dân Việt Nam hoạt động trên Biển Đông. Tăng cường tuần tra và giám sát trên Biển Đông Vạch ranh giới và vẽ bản đồ ranh giới biển theo UNCLOS 1982 có các vị trí chính xác, nhanh chóng soạn thảo, bàn bạc tại Quốc Hội và nếu cần cho phép tham gia rộng rãi bên ngoài xã hội để thông qua bộ luật biển và công báo với quốc tế về các chủ trương của Việt nam về ranh giới trên biển, các khu đặc quyền kinh tế biển, phổ biến cho ngư dân khi đánh bắt cá xa bờ cũng như cho các cơ quan tổ chức và cá nhân làm kinh doanh trên biển. Việt Nam cần liên tục tăng cường đội tàu tuần tra và giám sát vùng duyên hải và biển xa, đặc biệt các vùng Việt Nam tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và các khu vực Việt Nam đang khảo sát địa chấn và khai thác dầu khí. Đội tàu tuần tra và giám sát biển thực hiện các nhiệm vụ giám sát các hoạt động của tàu thuyền khác trong khu vực chủ quyền của mình cũng như trong các khu vực hợp tác quốc tế khác. Thành lập một đội tàu tuần tra giám sát biển (thuộc Tổng cục biển đảoViệt Nam) tai5 đảo: Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Cù lao Chàm. Và tại các đảo này cần có thêm các tàu tốc độ cao và máy bay trực thăng, và khi cần thiết có thể huy động cả máy bay quân sự từ các sân bay quân sự trực thuộc tỉnh ven biển. Bổ sung thêm tàu tuần tra và giám sát biển thường trực tại các vùng trọng yếu thuộc khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, các khu vực có các công trình khai thác tài nguyên trên biển, ví dụ các đảo nổi và giàn khoan dầu khí dân sự cố định. Song song với việc bố trí tàu tuần tra và giám sát riêng của chính quốc gia mình, Việt Nam cần đề nghị thành lập một lực lượng có vai trò cảnh sát biển quốc tế hoặckhu vực, gồm các nước có bờ biển quanh và nhu cầu hải hành trên Biển Đông để giữ bình an cho khu vực này theo đúng luật quốc tế, và theo đúng các hiệp ước đã ký kết. Việt Nam sẽ có sĩ quan của mình làm việc đồng đẳng với các nước bạn trên những tàu tuần tra giám sát hải dương nàỵ Tăng cường các đội trực thăng tìm kiếm và cứu nạn hiện có ở các tỉnh ven biển và trang bị thêm một số máy bay trực thăng có thêm chức năng giám sát và bảo vệ vùng biển ở quanh các khu vực trọng yếu mà Việt Nam đang tiến hành khảo sát và khai thác dầu khí, các khu vực có nhiều tàu thuyền đánh bắt cá Việt Nam hoạt động. Trong khả năng tài chính có thể được cần tăng cường thêm một số tàu ca nô có tốc độ cao để có thể có mặt nhanh chóng tại hiện trường có ngư thuyền gặp nạn và đang kêu cứu để giải quyết các khó khăn cho ngư dân và các doanh nghiệp đang hoạt động trên biển. Cho các huyện đảo quản lý phạm vi rộng hơn kèm ranh giới tọa độ cùng với các phương tiện thông tin liên lạc đầy đủ. Cần xem xét lại chiến lược phát triển các đảo, bao gồm cả các đảo trong quần đảo Trường Sa, để có thể khuyến khích và hỗ trợ các nhà kinh doanh đầu tư phát triển kinh tế trên các đảo. Việc phát triển kinh doanh trên các đảo mang lại nhiều lợi ích trong đó có lợi ích quan trọng là làm cho người dân gắn liền với đảo và ổn định cuộc sống ở trên đảo hơn, tạo ra mối quan hệ chặt chẽ với đất liền. Thành lập quỹ xây dựng lực lượng giám sát biển Việt Nam. Kêu gọi các cơ quan, tổ chức và cá nhân có các hoạt động kinh doanh trên biển đóng góp thành lập quỹ xây dựng lực lượng giám sát biển Việt Nam. Quỹ này chắc chắn phải lớn vì cần phải dùng cho việc đóng tàu giám sát, thực hiện các đề tài nghiên cứu (kết hợp với việc bảo vệ các công trình trên biển) v.v... Tăng cường hệ thống cảm biến từ xa, hệ thống giám sát vệ tinh, máy bay giám sát vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tàu phải có thiết bị ghi lại các sự xâm phạm vùng biển chủ quyền, quyền tài phán của Việt nam; hồ sơ hóa các vụ xâm phạm của tàu nước ngoài (nhất là các tàu hải giám, ngư chính và hải quân) để dùng cho các công bố quốc tế, đàm phán,tranh cãi, kiện tụng về sau. Ngư dânCần có chính sách khuyến khích và bảo vệ ngư dân, đặc biệt các ngư dân đánh cá xa bờ. Mỗi tàu đánh cá cần được trang bị hải đồ tổng thể có ranh giới biển theo UNCLOS 82, khi đánh cá trên biển cần xác định vị trí tàu liên tục để biết mình đang ở vùng biển nào và giữ liên lạc với các tàu tuần duyên và giám sát biển của Việt Nam. Nếu gặp tàu tuần tra, tàu hải giám và tàu ngư chính của Trung Quốc thì trước hết cần liên lạc và thông báo vị trí của mình cho các tàu tuần duyên và giảm sát biển của Việt Nam, nếu nhân viên các tàu này tràn lên tàu mình thì chỉ cho họ bản đồ ranh giới biển và khẳng định rằng vị trí đánh bắt cá đó vẫn thuộc về Việt Nam. Khi ra biển tập cho ngư dân đi theo từng đội, có tổ chức và có đủ thiết bị vô tuyến liên lạc với nhau và các đội tuần tra biển Việt Nam. Cần tổ chức các đội tàu thuyền đánh cá có một tàu mẹ (tàu lớn) có nhiệm vụ cung cấp kỹ thuật đánh bắt cá, thông báo ngư trường, giữ liên lạc với các tàu thuyển tuần duyên, cảnh sát biển Việt Nam, thông báo thông tin về bão cũng như sự xâm nhập của các tàu thuyền nước ngoài vào khu vực đánh bắt cá thuộc chủ quyền Việt Nam. Cần tăng cường các biện pháp an toàn cho ngư dân Việt Nam. Khuyến khích ngư dân trang bị đồ dùng an toàn cá nhân (áo phao) khi làm việc trên biển, lắp đặt đầy đủ trang thiết bị an toàn và thông tin hàng hải,lắp đặt radar trên các tàu đánh bắt cá, hoặc trong một đội tàu đánh bắt cá cần có một vài tàu có radar quan sát các tàu mục tiêu lạ xuất hiện để có thể thông tin và có biện pháp xử lý kịp thời. Kết luận Ngoài lực lượng hải quân, năm đội tàu tuần tra giám sát biển của Trung Quốc là năm lực lượng hùng hậu hoạt động rộng khắp trên các vùng biển phía tây Thái Bình Dương. Các đội tàu tuần tra giám sát này thuộc dạng tàu bán quân sự giả danh tàu dân sự, có trang bị vũ khí và đội thuyền viên biết sử dụng vũ khí thành thạo nhằm xâm phạm các vùng biển, quấy nhiễu các hoạt động khai thác tài nguyên và phá hoại các công trình thiết bị trên biển của các nước khác. Qua các hoạt động của các đội tàu tuần tra giám sát biển của Trung Quốc, chúng ta thấy rằng Trung Quốc sẽ tiếp sẽ tiếp tục cho nhiều loại tàu giả dạng tàu dân sự xâm phạm sâu vào vùng biển của Việt Nam, gây hấn và gây thiệt hại cho Việt Nam. Việt Nam cần có những biện pháp đối phó phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích cho các công ty khai thác dầu khí, các công ty Việt Nam và nước ngoài đầu tư trên Biển Đông, và bảo vệ ngư dân Việt Nam đánh bắt cá và khai thác thủy hải sản trên Biển Đông. [1] http://giaoduc.net.v...-trung-quc.html [2] Lyle J. Goldstein, L.J. Five Dragons Stirring up the Sea http://www.andreweri...lor-Version.pdf or www.usnwc.edu/Research---Gaming/China-Maritime-Studies-Institute.aspx [3] http://www.chinadail...nt_12429245.htm [4] http://ph.news.yahoo...-082002933.html [5] http://blog.zaq.ne.j...an/article/695/ [6] http://www.seasfound...-bin-phap-i-pho [7] Theo Nguyễn Ngọc Điệp, Báo "Biên Phòng Việt Nam", 2009. [8] Theo Nguyễn Ngọc Điệp, Báo "Biên Phòng Việt Nam", 2009. [9] http://blog.zaq.ne.j...an/article/461/ [10] Theo Nguyễn Ngọc Điệp, Báo "Biên Phòng Việt Nam", 2009. [11] Theo Nguyễn Ngọc Điệp, Báo "Biên Phòng Việt Nam", 2009. [12] http://www.seasfound...-bin-phap-i-pho [13] http://tuanvietnam.v...-tren-bien-dong [14] Lyle J. Goldstein, L.J. Five Dragons Stirring up the Sea Theo TuanVietnam
-
Quốc Huy nước CHXHCN Viet Nam đã được Quốc Hội thông qua và chỉ là 01 mẫu duy nhất Ai có quyền thay đổi Quốc Huy này ? Quý vị đã đứng trên luật, để làm sai
-
Huynh Thiên Đồng ơi Giá như mặc áo thun có logo Trung tâm thì hay biết mấy!
-
Caravat lệch Ở một ngôi chùa nọ, có vị sư chủ trì già, mắt bị mù và các chú tiểu trẻ. Ngoài việc kinh kệ, vị sư chủ trì luôn nhắc các chú tiểu là phải cắt tóc thường xuyên và mỗi tuần sáng thứ 2 sẽ kiểm tra tóc Đến thứ 2 nọ, có 1 chú tiểu vì mãi chơi quên cạo tóc, nên đến lúc kiểm tra thì rất lúng túng, không biết xử lý sao, vì Sư trụ trì rất nghiêm khắc. Từng chú tiểu một, đến trước mặt sư chủ trì đưa đầu ra, để sư phụ dùng tay xoa xoa đầu kiểm tra và đều đươc khen tốt . cuối cùng, đến lượt mình, chú tiểu chưa cắt tóc cũng phải đến trước mặt sư phụ và đột ngột chú tiểu cởi quần ra và đưa mông lại. Sư phụ xoa xoa và nói cắt tóc tốt lắm Sư phụ lại xoa xoa tiếp, rồi nói: chú này ăn uống tốt lại có cả cằm chẻ đôi nữa. Vui tính, sư phụ lại xoa tiếp và nói: Trời ơi, đi tu, mà con đeo caravat làm chi vậy? mà lại đeo lệch nữa chứ
-
Phước phần đến đâu thì hưởng đến đó, cái quan trọng là sống có đức và giúp ích cho đời. Với cá nhân tôi, thì việc nghiên cứu và học khả năng dự báo là niềm đam mê thôi. Hãy xem ví dụ là Nam Cam: cờ gian bạc lận, giang hồ, . . . lúc sống giàu sang cũng nơm nớp lo giang hồ Hải Phòng xử, lo lắng pháp luật sờ gáy và kết cục bi thảm
-
Ui, thông tin này thật là tuyệt vời Chỉ cần 10 phút/ngày thì sống thêm 5 năm vậy thì hy vọng rằng YeuPhuNu sẽ sống thọ lắm đó
-
Sự cố Viking2 và mưu đồ của Bắc Kinh Những sự kiện gần đây tại Biển Đông đang làm cho dư luận đặt câu hỏi: phải chăng Bắc Kinh đang áp dụng binh pháp Tôn Tử cố tình biến cái không thể thành có thể, biến các khu vực không tranh chấp thành các khu vực tranh chấp để đòi hỏi được chia phần tài nguyên trên thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng yếu thế thông qua công thức "gác tranh chấp cùng khai thác". Bắc Kinh đang dụng chiêu biến không thành có Tôn Tử, chiến lược gia đại tài trong lịch sử Trung Quốc, nổi tiếng với thuật dùng binh, biến hư thành thực, thực thành hư, làm đối phương nghi kỵ, chia rẽ lẫn nhau, rơi vào thế bị động, qua đó đạt được mục tiêu khống chế của mình. Những người mê chuyện Tam Quốc, hẳn còn thán phục Khổng Minh trong thành rỗng dùng tiếng đàn đuổi hàng vạn hùng binh của Tư Mã Ý, hay Tào Tháo cố tình tẩy xóa thư gửi Hàn Toại, lấp lửng nửa kín nửa hở, gây nghi ngờ, chia rẽ chú cháu Hàn Toại, Mã Siêu để hai bên tự đánh nhau đi đến chỗ tan rã. Những sự kiện gần đây tại Biển Đông đang làm cho dư luận đặt câu hỏi: phải chăng Bắc Kinh đang áp dụng binh pháp Tôn Tử cố tình biến cái không thể thành có thể, biến các khu vực không tranh chấp thành các khu vực tranh chấp để đòi hỏi được chia phần tài nguyên trên thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng yếu thế thông qua công thức "gác tranh chấp cùng khai thác". Sự kiện tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp địa chấn trên thềm lục địa cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý được dư luận đánh giá là nghiệm trong vì 1) vụ việc xảy ra nằm sâu trong thềm lục địa và đặc quyền kinh tế mà quốc gia ven biển như Việt Nam được hưởng một cách hợp pháp theo Công ước Luật biển của Liên hợp quốc năm 1982; 2) do một lực lượng chấp pháp của một nước tiến hành có chủ ý; 3) xâm phạm tài sản công của một quốc gia độc lập có chủ quyền. Song dưới con mắt của các phát ngôn viên Trung Quốc thì đó là việc làm "bình thường và hợp lý ở khu vực biển thuộc thẩm quyển và quyền tài phán của Trung Quốc". Thậm chí, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn yêu cầu Việt Nam "tránh tạo ra những sự cố mới". Tại Đối thoại Shangri-La ngày 3-5/6/2011, khi bị chất vấn, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc đã dùng tới 27 lần từ hòa bình trong phát biểu của mình và khẳng định "Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc không có hành động can dự nào vào sự việc vừa diễn ra". Trung Quốc đang thực hiện chiến thuật vừa đấm vừa xoa. Họ nhiều lần khẳng định yêu chuộng hòa bình, sẵn sàng cùng các bên đàm phán. Trong khi Việt Nam đang chân thành mong muốn Trung Quốc thể hiện đúng như những gì mà Trung Quốc đã nói và cam kết thì các hoạt động trên biển lại càng trở nên phức tạp. Liên tục các tàu cá của Việt Nam và Philippines bị tấn công. Ngày 9/6/2011, tàu khảo sát địa chấn Viking 02 của Việt Nam lại tiếp tục bị tàu cá và tàu ngư chính của Trung Quốc quấy rối cắt cáp, phá chân vịt tại lô 136 thềm lục địa phía Nam. Vị trí lần này cũng chỉ cách đường cơ sở Việt Nam gần 100 hải lý. Hiện trường nơi xảy ra vụ tàu cá Trung Quốc lao vào phá cáp tàu Viking2 Trước đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi lớn tiếng đổ lỗi cho Việt Nam: "Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi với quần đảo Trường Sa và lãnh hải gần đó. Trung Quốc và Việt Nam nhiều lần đã đạt được sự đồng thuận quan trọng về cách xử lý phù hợp các vấn đề hàng hải và duy trì ổn định ở Biển Đông. Chúng tôi hy vọng phía Việt Nam sẽ có các nỗ lực nghiêm túc để thực hiện những đồng thuận liên quan". Một tuyên bố lấp lửng làm dư luận có thể hiểu nhầm Trung Quốc và Việt Nam đã có những đồng thuận và chính Việt Nam là bên không thực hiện. Rõ ràng Trung Quốc và Việt Nam đang tiến hành đàm phán thỏa thuận nguyên tắc về giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Điều này thể hiện thiện chí của Việt Nam, tuân thủ các nguyên tắc của luật quốc tế giải quyết hòa bình các tranh chấp, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Lập trường của Việt Nam gồm 4 điểm: 1) Việt Nam được quyền có thềm lục địa và đặc quyền kinh tế riêng từ đất liền Việt Nam không có tranh chấp, tách biệt với các vùng biển hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, 2) Hai quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, 3) vùng biển của các đảo trong hai quần đảo được xác định theo Công ước luật biển năm 1982, cụ thể theo điều 121.3. Các đảo thuộc hai quần đảo này nếu có thềm lục địa và đặc quyền kinh tế thì cũng là những vùng biển hạn chế không thể có đầy đủ hiệu lực trong phân định như từ lãnh thổ đất liền, phù hợp nguyên tắc "đất thống trị biển", 4) trong khi tìm kiếm một giải pháp cơ bản lâu dài, các bên tranh chấp ở Biển Đông cần kiềm chế, không mở rộng chiếm đóng mới, không có những hành động làm phức tạp thêm tình hình, hợp tác trong những lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển, phòng chống cướp biển theo đúng tinh thần của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC 2002. Như vậy, đúng như người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trả lời : "Không có nhận thức chung nào nói rằng Trung Quốc có quyền cản trở các hoạt động của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Chính hành động này của Trung Quốc đã đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước". Đường lưỡi bò và lập luận lạ lùng Vậy thực chất đằng sau những lời nói và việc làm trái ngược của Trung Quốc là gì? Tờ Trung Quốc nhật báo (China Daily) ngày 8/6/2011 đã không ngại ngùng bộc lộ. Tranh chấp Biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa) có ý nghĩa chiến lược quan trọng với Trung Quốc bởi hai lý do: Thứ nhất, Trung Quốc là nước lớn nhưng chưa phải là một siêu cường biển. Mặc dù có thềm lục địa và đặc quyền kinh tế rộng, bờ biển đất liền và đảo dài nhưng phần đóng góp của biển với GDP còn nhỏ. Chỉ với một số ít các đảo đang tranh chấp nằm dưới sự kiểm soát của mình, Trung Quốc không có đường để nối biển với đại dương. Thứ hai, không có một lực lương hải quân mạnh và sự chú trọng các quyền lợi biển, Trung Quốc vẫn ở vị thế không thuận lợi. Muốn trở thành một siêu cường có ảnh hưởng, Trung Quốc buộc phải chuyển từ "cường quốc đất liền" sang "siêu cường biển". Và tranh chấp Biển Đông là phép thử thực tế cho việc đạt được mục tiêu đó. Để thực hiện ý đồ độc chiếm Biển Đông, không gì tốt hơn phương thức biến cái của người khác thành của mình, biến vùng biển không tranh chấp thành vùng biển có tranh chấp, đòi chia sẻ tài nguyên và quyền kiểm soát biển trên vùng biển của nước khác dưới chiêu thức 'gác tranh chấp cùng khai thác". Tháng 5/2009 Trung Quốc lần đầu tiên đưa yêu sách đường lưỡi bò ra trước công chúng, trước Liên hợp quốc nhưng lại lớn tiếng cho rằng con đường này là đường lịch sử đã được cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi và toàn bộ các đảo, đá, bãi cạn nửa nổi nửa chìm, thậm chí đến cả các bãi chưa từng nổi lên cũng như các vùng nước liên quan, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trong phạm vi con đường này thuộc quyền quản hạt của Trung Quốc. Có nhẽ chỉ những học giả Trung Quốc quen xem mình là trung tâm của thế giới mới có lập luận lạ lùng như vậy. Tại Hội nghị luật biển lần thứ nhất năm 1958 trong danh sách các vùng nước, vịnh lịch sử của thế giới, đốt đuốc lên cũng chẳng thấy có văn bản nào ghi nhận cái đường lưỡi bò. Một con đường đứt đoạn, vẽ tùy ý, không tọa độ sao có thể là một ranh giới biển được cộng đồng quốc tế thừa nhận. Khái niệm "vùng nước liên quan" cũng chỉ là sản phẩm riêng của Trung Quốc, không có trong Công ước Luật biển của Liên hợp quốc. Ngay sau khi Trung Quốc lưu chiểu tấm bản đồ này lên Liên hợp quốc, Việt Nam, Malaysia và muộn hơn là Philippines đã lên tiếng phản đối. Các nước không liên quan như Indonesia, Mỹ cũng đều phê phán tính vô lý của con đường. Ngày 14/4/2011, Trung Quốc lại đưa ra lập luận mới, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra yêu sách theo ngôn ngữ của luật biển quốc tế. Điều đó không có nghĩa là Trung Quốc từ bỏ đường lưỡi bò. Họ vẫn tiếp tục dùng cả đường lưỡi bò và luật biển khi cần thiết và để bổ trợ cho nhau. Lấy sự không rõ ràng làm cơ sở bào chữa cho các hành động vi phạm luật quốc tế của mình. Thực chất đường lưỡi bò giống như một đường chủ trương yêu sách lớn của Trung Quốc làm thế mặc cả cho những đàm phán giải quyết sau này. Càng mở rộng vùng tranh chấp vào sâu lãnh thổ hay vùng biển đối phương càng có lợi thế để mặc cả. Các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc chẳng lấy gì làm lạ với chiến thuật biến không thành có này của Bắc Kinh. Cạm bẫy "gác tranh chấp, cùng khai thác" Bước thứ hai của chiến lược "biến cái không thể thành có thể" là tạo cớ, gây sức ép với các nước lân cận để khẳng định trên thực tế "đường lưỡi bò" của Trung Quốc. Đây là lý do vi sao gần đây Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động quấy rối. Từ việc đơn phương thiết lập lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông hàng năm từ 15/5 đến 31/8 tới các hoạt động cản trở tàu thuyền Việt Nam và Philippines trong tháng 3-tháng 6/2011, hay hoạt động dùng tàu ngầm đặt quốc huy dưới đáy biển Bãi cạn Tăng Mẫu gần Malaysia đầu năm 2011, các hoạt động này đều có một điểm chung là nằm trên ranh giới của "đường lưỡi bò". Bắc Kinh mong muốn dưới sức ép của cây gậy, các bên hữu quan sẽ phải chấp nhận củ cà rốt họ đưa. Đó là chủ trương "chủ quyền tại ngã, gác tranh chấp cùng khai thác". Chủ trương này theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc gồm 4 yếu tố : 1) Chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc; 2) Khi điều kiện chưa chín muồi để có giải pháp cho tranh chấp chủ quyền, đàm phán về chủ quyền có thể hoãn lại để có thể gác tranh chấp sang một bên. Gác tranh chấp không có nghĩa từ bỏ chủ quyền. Nó chỉ là gác tranh chấp lại chờ thời gian thích hợp; 3) Khai thác chung các vùng lãnh thổ liên quan; 4. Mục đích của khai thác chung là nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau và tạo điều kiện cho giải pháp cuối cùng về chủ quyền lãnh thổ. Như vậy "gác tranh chấp cùng khai thác" của Trung Quốc thực chất chỉ để phục vụ cho điều kiện thứ nhất "Chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc". Chấp nhận "gác tranh chấp cùng khai thác", tức chấp nhận đường yêu sách lưỡi bò của Bắc Kinh. Điều kiện chín muồi ở đây là thời điểm Bắc Kinh đủ sức để kiểm soát toàn bộ các vùng biển và lãnh thổ này trong phạm vi đường lưỡi bò. Trong khi chờ đợi điều kiện chín muồi này thì các bên cùng khai thác, tức Bắc Kinh có quyền ngang hàng với nước chủ nhà trong thăm dò, khai thác và quản lý các tài nguyên của họ. Khu vực gác tranh chấp cùng khai thác chỉ được đề xuất trên thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của nước khác mà Bắc Kinh chưa thể và không thể kiểm soát. Khu vực gác tranh chấp cùng khai thác không được Bắc Kinh chấp nhận ở những nơi họ đã giành được quyền kiểm soát một cách phi pháp như Hoàng Sa và một số khu vực ở Trường Sa. Đã đến lúc đưa vấn đề ra LHQ Đường lưỡi bò và gác tranh chấp cùng khai thác là hai yếu tố cấu thành của một chủ trương lớn độc chiếm Biển Đông. Các hành động mạnh bạo vừa qua là thể hiện ý chí của Trung Quốc áp đặt cho các nước xung quanh Biển Đông chấp nhận công thức đó. Phép thử của Trung Quốc ngày 26/5/2011 muốn nắn gân Việt Nam, Philippin, Hiệp hội các nước ASEAN, Mỹ và các nước khác có lợi ích ở Biển Đông. Phản ứng của Việt Nam, Philippin, Malaysia, Indonesia và Mỹ là tích cực. Các bên đều mong muốn Trung Quốc tôn trọng những gì đã cam kết, cần phải có một lộ trình rõ ràng nếu không sẽ có đụng độ. Tuy nhiên những phản ứng đó có lẽ còn chưa đủ để ngăn cản những bước đi liều lĩnh của Bắc Kinh, tiếp tục xây dựng các công trình trên các bãi đá ngầm gần Philippin và cắt cáp của tàu Viking 02 trên thềm lục địa Việt Nam. Đã đến lúc Việt Nam và Philippin đưa vấn đề ra trước Liên hợp quốc hoặc cả hai nước cùng gửi Công hàm lên Liên hợp quốc. ASEAN dưới sự chủ tọa của Indonesia cần sớm có một Tuyên bố về tình hình Biển Đông như Tuyên bố năm 1992 mở đầu cho quá trình xây dựng Tuyên bố DOC. Các nước có quyền lợi ở Biển Đông và ASEAN cần sớm đưa vấn đề giải thích và áp dụng điều 121.3 của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 về quy chế các đảo đá ra trước Hội nghị các nước thành viên Công ước Luật biển. Một trong những nguồn gốc làm phức tạp vấn đề Biển Đông chính là sự không rõ ràng của điều khoản này. Và tất cả những nước có thềm lục địa và đặc quyền kinh tế hợp pháp bị vi phạm cần kiên quyết thực hiện quyền tự vệ chính đáng của mình trước những hành động quá khích, đe dọa tính mạng và tài sản công. Có như thế điều không thể vẫn chỉ là không thể và công lý không bị xói mòn. Nguon: TuanVietNam
-
Công ty chân đất' của Nguyễn Tử Quảng Từ khi chuyển sang kinh doanh phần mềm diệt virus Bkav, những phát ngôn của Nguyễn Tử Quảng luôn bị soi rất kỹ. Thế nhưng, chàng “Hiệp sĩ” trước đây vẫn tiếp tục làm những việc chẳng giống ai. Khi còn là sinh viên năm thứ ba của trường Đại học Bách khoa Hà Nội (1995), Nguyễn Tử Quảng đã bắt đầu viết phần mềm diệt virus Bkav. Thời điểm đó, số lượng virus ít, có khi nửa tháng mới có một loại mới nên công việc cho phần mềm này cũng không nhiều. Sáng đi học, chiều hoặc tối Quảng về mày mò cùng những dòng virus mới. Sau khi có phiên bản cập nhật, anh đem phân phát cho các bạn của mình thông qua đĩa mềm. Chuyển sang kinh doanh Nguyễn Tử Quảng vẫn tiếp tục làm những việc khác người. Ảnh nhân vật cung cấp Năm 1997, khi Internet bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam, Quảng gửi các bản Bkav mới qua email cho tất cả những người quan tâm. Máy di động của anh cũng kiêm luôn tổng đài giải đáp thắc mắc những vấn đề về virus và được công khai ngay dưới email gửi đi. Lúc đó, Internet của Việt Nam vẫn sử dụng dial up nên rất chậm và hay trục trặc. Mỗi lần Quảng gửi phần mềm diệt virus mới cho mọi người phải mất rất nhiều thời gian bởi cứ phải kết nối đi, kết nối lại nhiều lần. Tốt nghiệp đại học, Quảng làm giảng viên tại trường và đi làm thêm nhiều công việc khác nhau để lấy tiền nuôi đam mê diệt virus. Thế nhưng, càng dấn sâu vào lĩnh vực này, Quảng càng lo lắng hơn khi sức lực của mình quá nhỏ bé. Trước đây, anh chỉ cần bỏ ra một vài giờ mỗi ngày là thừa đủ thời gian cho những loại virus mới. Khi Internet xuất hiện, Quảng bỏ hầu hết thời gian trống để viết phiên bản mới mà vẫn cảm thấy hụt hơi. Từ đó, Quảng nảy ra ý nghĩ tập hợp một số bạn bè, anh em có cùng niềm say mê vào một nhóm, chung tay làm các phiên bản diệt virus mới. Giống như Quảng, những thành viên mới cũng phải đi làm nhiều việc khác nhau để nuôi bản thân và dành tiền, thời gian cho niềm đam mê… không tiền. Chính vì những cống hiến vô điều kiện cho cộng đồng trong nhiều năm mà Quảng được mệnh danh là “Bác sĩ máy tính” hay “Hiệp sĩ Công nghệ Thông tin”. Anh cũng được coi là một chuyên gia máy tính chẳng giống ai bởi những người am hiểu về công nghệ thông tin đều đi làm kinh doanh và kiếm được nhiều tiền, còn Quảng lại hăng hái và nhiệt tình làm những việc miễn phí. Thế nhưng, cùng với việc phổ cập Internet, những dòng virus mới có tốc độ sinh sản chóng mặt khiến Công ty an ninh mạng Bkav của Quảng bị quá tải. Nhóm viết phần mềm diệt virus dù cống hiến gần như toàn bộ thời gian, công sức cũng không đủ đáp ứng nhu cầu của người dùng. “Chúng tôi cần thêm rất nhiều người chung sức nhưng không thể bắt tất cả phải làm miễn phí như mình. Thêm vào đó, nếu chúng tôi đã dành toàn bộ thời gian và công sức cho niềm đam mê phần mềm diệt virus mà không có nguồn thu từ đó thì không thể duy trì cũng như phát triển bền vững được”, Quảng tâm sự. Năm 2005, sau 10 năm cung cấp miễn phí, “Hiệp sĩ Công nghệ Thông tin” chính thức thương mại hóa Bkav. Cùng với việc chuyển sang kinh doanh, Quảng chọn slogan cho công ty của mình là “Hãy làm việc hết mình, những điều tốt đẹp sẽ đến với bạn”. Bản thân Nguyễn Tử Quảng thừa nhận: “Lúc ban đầu, tôi thấy câu mình chọn rất cải lương bởi theo các chuyên gia về thương hiệu, với slogan công ty, không ai chọn một câu dài như vậy. Đây là chưa kể đến việc, khẩu hiệu này không nói gì đến khát vọng phát triển hay định hướng khách hàng của công ty”. Tuy nhiên, anh vẫn quyết định chọn một slogan chẳng giống ai cho công ty của mình với lý do: “Mình tin vào điều đó nên cứ làm thôi”. Quảng cho rằng một công ty mạnh phải xuất phát từ nhân viên, tất cả đều hết mình thì khát vọng sẽ được thực hiện, khách hàng sẽ được phục vụ với cả cái Tâm chứ không chỉ là mối quan hệ trên thị trường. Triết lý này cũng được thể hiện ngay trong việc tuyển người của Bkav. Những người làm việc nhiệt tình, hết mình sẽ được ưu tiên chứ không phải những người thông minh và kỹ năng tốt. “Kinh nghiệm của chúng tôi cũng cho thấy, nếu như cứ làm việc hết mình thì một nhân viên dù ban đầu có hơi kém cũng sẽ phát triển rất nhanh sau đó và cống hiến nhiều hơn cho công ty so với những người thông minh, kỹ năng tốt nhưng kém nhiệt tình”, Quảng chia sẻ. Trong thời kỳ đầu, không có nhiều người để ý đến việc phải bỏ giầy dép ở bên ngoài và đi chân đất vào Công ty an ninh mạng Bkav. Thế nhưng, khi quy mô đã lên tới hơn 800 người và ở khu văn phòng chính có lượng nhân viên tới hơn 600, quy định này vẫn được duy trì. Với số lượng nhân viên đông như vậy, có lẽ Bkav là công ty hiếm hoi ở Việt Nam đi chân đất trong văn phòng. Tất cả nhân viên hay khách khi vào Bkav đều bỏ dép ở bên ngoài. Ảnh: Hoàng Hà Để duy trì được việc đi chân đất trong công ty, các yêu cầu về thảm và vệ sinh ở bên trong văn phòng phải cực kỳ nghiêm ngặt. Bên cạnh đó, hệ thống tủ đựng giày dép phía bên ngoài phải được thiết kế rất kỹ lưỡng để tránh nhầm lẫn, lộn xộn hoặc mất mát cho hàng trăm nhân viên cùng một lúc. Công sức và tiền bạc phải bỏ ra để thực hiện một việc rất nhỏ như thế này là điều rất ít đơn vị muốn làm bởi lợi ích thu được là không rõ ràng. Thế nhưng, với Quảng, việc đi chân đất trong công ty thể hiện một triết lý rất quan trọng mà anh muốn chia sẻ với nhân viên: Coi công ty như ngôi nhà thứ hai của mình. Anh phân tích: “Khi về nhà, ai cũng bỏ giầy dép và đi chân đất. Nếu mình nói với mọi người hãy coi công ty là ngôi nhà thứ hai mà họ không có những điều kiện và cảm giác như vậy thì cũng vô nghĩa”. Ngoài việc đi chân đất trong văn phòng, các toilet của Bkis cũng được bố trí dép chuyên biệt để đi, hệt như ở gia đình. Bên cạnh đó, tất cả các nhân viên của công ty đều được phát gối và chăn miễn phí để ngủ trưa và kéo theo đó là một hệ thống tủ đựng đồ riêng cho nhân viên để tránh tình trạng lộn xộn, bừa bãi của những vật dụng này. Chưa hết, Quảng còn đầu tư xây dựng riêng một bếp ăn cho công ty với các nguồn rau sạch, thịt sạch được nhập từ các nhà cung cấp có thương hiệu để đảm bảo chất lượng bữa ăn trưa cho nhân viên. Toàn bộ quy trình chế biến cũng như đầu bếp đều là người của Bkav chứ không thuê ngoài, giúp công ty chủ động quản lý được chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm. Giá một bữa trưa chất lượng cao tại đây cũng chỉ tương đương với giá cơm bụi văn phòng (17.000 đồng một suất) bởi được công ty tài trợ. Quảng tâm sự: “Bkav cũng muốn cung cấp bữa trưa miễn phí cho nhân viên như Google đang làm nhưng chưa đủ điều kiện. Khi công ty phát triển tốt hơn, chúng tôi cũng sẽ làm điều đó”. Ngoài việc phát chăn, gối, Nguyễn Tử Quảng còn muốn cung cấp bữa trưa miễn phí cho mọi nhân viên khi công ty phát triển hơn. Ảnh: Hoàng Hà Sau hơn 5 năm thương mại hóa sản phẩm diệt virus, Quảng nhận thấy rằng, một năm làm kinh doanh, Bkav có tiến bộ bằng 10 năm cung cấp miễn phí. Nếu như trước đây phần mềm bị lỗi, gặp trục trặc, người dùng không mấy khi phàn nàn về Bkav hoặc cá nhân Quảng trên các diễn đàn. Giờ đây, bất cứ một lỗi nhỏ của sản phẩm hay phát ngôn hơi khác thường nào của Tổng giám đốc Bkav đều nhận được cái nhìn vô cùng khắt khe của cộng đồng mạng cũng như giới truyền thông. Từ danh hiệu “Bác sĩ máy tính”, “Hiệp sĩ Công nghệ Thông tin”, Nguyễn Tử Quảng có thêm biệt danh mới là Quảng “Nổ”, “Quăng bom” vì những phát ngôn của mình. Ban đầu, Tổng giám đốc Bkav bị sốc. Sau những hụt hẫng về cảm giác với biệt danh mới, chàng “Bác sĩ máy tính” năm xưa đã quen dần, thậm chí còn phát hiện ra những điểm tích cực từ sự giám sát khắt khe của công chúng đối với công việc của mình. Giờ đây, người đứng đầu Bkav coi những lời chỉ trích đối với sản phẩm cũng như cá nhân anh là những phản biện cần thiết giúp mình không bị ảo tưởng, luôn cân bằng và tiếp thêm động lực cho mình đi tiếp. Qua mỗi lần bị chỉ trích, Quảng thường cùng đồng nghiệp xem lại sản phẩm và chính bản thân mình để có những thay đổi tốt hơn. Tuy nhiên, anh vẫn tin rằng, người Việt Nam có thể làm ra các sản phẩm công nghệ ngang hàng, thậm chí tốt hơn so với các hãng danh tiếng trên thế giới. Chiếm thị phần áp đảo về thị phần sản phẩm diệt virus ở trong nước, Quảng đặt mục tiêu tiến ra thị trường toàn cầu. Anh cũng bắt đầu với việc cung cấp miễn phí phần mềm Bkav phiên bản quốc tế. Slogan về tiếng Việt được anh đổi sang tiếng Anh là: “Do your best, the rest will come”. Tổng giám đốc của Bkav chia sẻ, anh cảm thấy hài lòng với slogan bằng tiếng Anh bởi nó ngắn hơn và cũng “bớt cải lương hơn với vế thứ hai không cần nhắc tới sự thành công, bởi đơn giản nỗ lực hết mình theo thời gian rồi thành công sẽ tự đến". “Nếu như trước đây tôi nói là sản phẩm công nghệ của Việt Nam có thể sánh ngang, thậm chí tốt hơn của nước ngoài thì nhiều người cho rằng tôi ‘nổ’. Thế nhưng, thông qua kết quả đánh giá độc lập của những tổ chức kiểm định phần mềm diệt virus danh tiếng của thế giới như Virus Bulletin, những người quan tâm đến Bkav sẽ hiểu rõ hơn về công việc của chúng tôi làm. Nếu tôi nói không đúng, sản phẩm không tốt thì kết quả kiểm định độc lập của những tổ chức danh tiếng sẽ khiến những điểm yếu bộc lộ ngay”, anh nói. Rồi Quảng tâm sự, hiện vẫn còn nhiều người chưa tin vào việc một sản phẩm công nghệ Việt Nam có thể tốt hơn của các hãng nổi tiếng trên thế giới. Đây sẽ là một thách thức lớn mà anh cùng những đồng nghiệp tại Bkav phải vượt qua trong thời gian tới. “Nếu chúng tôi tạo ra được niềm tin đó thì nhiều người khác cũng sẽ tự tin hơn vào khả năng cạnh tranh của người Việt Nam và điều đó sẽ thật tuyệt vời. Tất nhiên là làm được điều này sẽ không dễ dàng nhưng nó làm cho chúng tôi thêm phấn khích”, anh chia sẻ.
-
Đệ tử xin tham gia Điều kiện cần và đủ của thành viên câu lạc bộ nhiếp ảnh là có máy ảnh hoặc có khả năng mượn máy ảnh
-
Như năm 1975, ở Huế người ta đã cho đập cái Đàn Nam Giao của vua triều Nguyễn dùng tế trời, vì lý do mê tín dị đoan. Người ta ý thức được chứ, nhưng ý thức theo cách MacKeNo Mấy chục năm sau, lại bỏ tiền ra xây dựng cái Đàn Nam Giao mới. Đàn Nam Giao cũ được thiết kế tảng đá có khả năng vang vọng xa, khi Vua đọc lễ tế trời thì mọi người xung quanh đều có thể nghe được. Còn Đàn Nam Giao mới có thể đẹp, nhưng không thể như xưa
-
Đọc kỹ, người ta mới tá hỏa vì nhiều câu không chỉ sai cơ bản về gieo vần, thanh điệu, rỗng tuếch về nội dung mà còn hỏng về mặt kiến thức một cách nghiêm trọng. Ngộ độc... chữ nghĩa Đến Khu du lịch Đại Nam (Bình Dương) khách du lịch, sau phút hoan hỉ, sẽ thấy ngỡ ngàng, thấy ngợp trước một "biển thơ", "biển chữ nghĩa", đâu đâu cũng thơ, văn, câu đối. Nếu không có thời gian để đọc, để hiểu kỹ thì có thể mua về "nghiên cứu" vì thơ, văn... ở đây đã được in thành sách, chép ra đĩa. Nhưng đọc kỹ, người ta mới tá hỏa vì nhiều câu không chỉ sai cơ bản về gieo vần, thanh điệu, rỗng tuếch về nội dung mà còn hỏng về mặt kiến thức một cách nghiêm trọng. Vậy mà tác giả của nó lại tỏ ra rất uyên bác, làm thơ nói về tất cả các vấn đề tự cổ chí kim... rồi đem trưng bày, quảng bá khắp nơi. Bước vào cổng của Đại Nam đã thấy thơ, câu đối khắc đầy trên các cổng chào. Nhiều nhất là ở khu thờ tự. Hễ mảng tường nào còn trống là có thơ, câu đối. Hầu hết đều ghi tên 2 tác giả là Huỳnh Ngu Công và Huỳnh Uy Dũng. Được biết, Huỳnh Uy Dũng là tên được đổi lại sau của ông chủ khu du lịch này (trước đây là Huỳnh Phi Dũng), còn Huỳnh Ngu Công là ai nhiều người vẫn đang đặt câu hỏi. Có phải là một người họ Huỳnh lấy "bút danh" theo tích "Ngu Công di sơn" ở Trung Quốc? Nhưng điều quan trọng là chữ nghĩa, thơ văn của ông ta như thế nào mà lại được chạm trổ, sơn son thếp vàng, khắc lên các bức tường của một "công trình văn hóa" cho thiên hạ chiêm ngưỡng? Đọc những bài thơ này thì mọi người mới hỡi ơi thất vọng vì "chỉ tổ hại não". Khu du lịch Đại Nam Chưa nói về nội dung, chỉ xét về cấu trúc, từ ngữ thì cũng đã mệt với cách làm thơ, làm câu đối của Huỳnh Ngu Công và Huỳnh Uy Dũng. Các tác giả viết hoa lung tung, rồi chữ Hán, chữ Việt lẫn lộn. Đến những chuyên gia về Hán Nôm cũng đau đầu nhức óc vì không biết tác giả viết bài thơ có nội dung gì? Giảng viên Bộ môn Hán nôm, Đại học KHXH&NV TP HCM, Thạc sĩ Nguyễn Văn Hoài nhận xét về một số bài thơ, câu đối ở Đại Nam như sau: Bài thơ ký tên Huỳnh Ngu Công: "Đại địa phương liên khai trí tuệ Nam thiên hồng nhật chiếu quang minh Văn kinh rạng rỡ phô hằng nguyệt Hiến điểm huy hoàng tỏ đế minh" Đang là bài thơ chữ Hán - Việt lại xen vô những từ thuần Việt là "tỏ, rạng rỡ" Bài thơ "Kính dâng anh linh mười tám đời Vua Hùng" (Huỳnh Uy Dũng) lại là một sự so sánh khập khiễng. 18 đời Vua Hùng lại được so sánh giống như chiếc quạt của Tiên Dung? "Mười tám đời vua một chữ Hùng Y như chiếc quạt phất Tiên Dung" Hoặc những câu như: "Về thăm văn hiến Hàn Thuyên Câu thơ lục bát điệu huyền Nam Ai Về thăm văn hiến Như Lai Khi về chở cả trúc mai Việt Thường". (Huỳnh Ngu Công) Cả bài thơ đang nói về văn hóa Việt Nam đột nhiên lại xen "Như Lai" vào, không ăn nhập gì với những câu khác... Những câu đối được in trên cột ở cổng chào cũng rất lung tung. Cụ thể như câu: "Đại hải thiên tâm phô nguyệt điện/ Nam thiên nhất trụ trổ liên đài". Cả câu đối là từ Hán- Việt lại xen vào từ "trổ" là từ thuần Việt làm hỏng nguyên cả câu đối. Hay một câu khác tương tự là: "Văn tư bút thái kinh long phụng/ Hiến ý chương tình đẹp trúc mai". Cũng đang là từ Hán - Việt lại xen vào chữ "đẹp" là thuần Việt. Tiếp tục câu đối: "Tâm đài nhật nguyệt ân quang chiếu/ Linh địa giang sơn hỷ khí lâm". Vì không có nguyên tác chữ Hán nên không biết từ "lâm" có nghĩa là gì. Nếu "hỷ khí lâm" có nghĩa là "rừng không khí vui vẻ" thì chữ "lâm" là rừng không đối được với chữ "chiếu", vì "lâm" là danh từ còn "chiếu" là động từ. Còn câu: "Đại Việt tứ phương tôn chính khí/ Nam Bang vạn đại niệm công thần". Ở câu này phải đối là "thần công" thì đúng hơn vì "công thần" theo câu đối trên là kết cấu từ vựng tiếng Việt không phải là kết cấu từ Hán - Việt. Nhiều bài thơ có lỗi nghiêm trọng về kiến thức. Hậu sinh mà cứ dựa vào đây để học thì không biết sẽ tai hại đến mức nào. Đơn cử trong bài "Tam" của Huỳnh Uy Dũng có đoạn viết: "Tam hữu tuế hàn": Tùng, Cúc, Mai Ba cây chịu lạnh giữa đêm dài Kết duyên bầu bạn tam quân tử Phản nại sương lăng tuyết ngạo hoài" Hình như có mốt của những người giàu thích khoe chữ. Và có lẽ, ông chủ khu du lịch này cũng đang muốn khẳng định mình "có tài" về văn chương, am hiểu văn hóa Đông Tây kim cổ; để được mọi người nhìn nhận không chỉ là một đại gia mà còn là một người uyên bác. Nhưng có tiền là một chuyện còn văn hóa, học vấn lại là chuyện hoàn toàn khác, mà chưa hẳn cứ có nhiều tiền thì lấp được cái lỗ hổng ấy. Tùng, trúc, mai là 3 loài hoa mộc được mệnh danh là "Tuế hàn tam hữu" (Ba bạn hữu trong gió rét). Là một cách biểu thị tình cảm của người Trung Quốc. Vì ở Trung Quốc trong gió bắc lạnh thấu xương, chỉ có 3 loại này vẫn tươi tốt, nó tượng trưng cho đức tính của người quân tử vượt lên trên nghịch cảnh. Trong thơ của Huỳnh Uy Dũng "Tuế hàn tam hữu" được đổi lại là "Tam hữu tuế hàn" cho nhất quán với cách viết của bài thơ "Tam" mà mở đầu mỗi đoạn thơ đều bắt đầu bằng chữ tam. Nhưng không hiểu vì sao qua thơ của ông Huỳnh Uy Dũng "Tuế hàn tam hữu" lại bị đổi thành 3 loại cây là: Tùng, cúc, mai? Ngoài ra, đây cũng là những câu thơ rất lung tung đang từ Hán chuyển sang Việt rồi từ Việt lại đột ngột chuyển sang chữ Hán. Có lẽ đồng cảm với Đại thi hào Nguyễn Du nên ông Huỳnh Uy Dũng làm 2 tập thơ lục bát cả ngàn câu có tựa đề "Những bước về Tâm" và "Những bước về Linh". Nói vậy, bởi trong ngàn câu thơ đó, có rất nhiều câu trong Truyện Kiều được lấy lại như: "Trăm năm trong cõi người ta - Chữ Trung chữ hiếu ấy là đạo nhân" hay "Một khi lẽ đạo tỏ tường - Tâm linh Việt vượt Đoạn trường Tân Thanh", "Trăm năm trong cõi người ta - Mua vui cũng được một vài trống canh"..., Nhưng đọc 2 tập thơ của ông Huỳnh Uy Dũng thì dám chắc rằng bất cứ ai đã đọc, đều khó chấp nhận được kiểu làm thơ như: "Cây kia ăn quả ai trồng/ Sông kia uống nước hỏi dòng từ đâu", "Đâm đầu vào lỗ Châu Mai!", "Thằng Bờm có cái quạt mo/ Chín trâu không đổi mười bò không trao", "Sơn Tinh đáng mặt đàn anh/ Nước bao cao, núi dướn mình cao hơn". "Truyện trầu cau một tấm lòng/ Hai anh em nọ yêu chung một nàng/ Người anh cưới được hồng nhan/ Người em buồn bã đi lang thang đời", "Vó ngựa Mông Cổ tới đâu/ Nơi ấy chỉ còn đầu lâu hoang tàn"... Ngoài ra, trong 2 tập thơ trên còn trích ca dao và thơ của nhiều tác giả một cách rất tùy tiện chẳng hiểu nhằm mục đích gì và để thể hiện được nội dung gì như: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Quê ta lấy chữ quê hương làm đầu","Chở bao nhiêu Đạo con đò/ Một kho gió biếc, một kho trăng vàng/ Ơi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?"... Những câu thơ chẳng có liên kết gì về nội dung, hết sức vô nghĩa. Chưa kể hàng loạt câu rất lủng củng, chẳng biết phải xếp vào thơ, văn hay thứ gì khác, giống như chỉ đếm cho đủ câu 6, câu 8 như: "Mà văn hóa dựng kỳ công Với những nét đặc thù không tiệp màu ...Vì trong Văn hóa diệu kỳ Luôn có những bước chân đi tới hoài" Kể ra chắc hết giấy cũng chưa nói hết được cái hỗn độn, bát nháo của thơ, văn ở Đại Nam Văn Hiến. Người đọc chỉ có một cảm giác bị ngộ độc...chữ nghĩa. Tiền không lấp được lỗ hổng văn hóa Tiến sĩ Nguyễn Nhã phải thốt lên "ông này chẳng hiểu gì về văn hóa Việt Nam" khi đọc những câu thơ của ông Huỳnh Uy Dũng nói về nước Việt như sau: "Dù không thừa điệu cầm ca/ Dù không dư những tháp ngà văn chương/ Dù chưa lập thuyết, lập ngôn/ Dù nghèo lăng tẩm miếu đường uy nghi...". Mặc dù, những câu sau là khen nhưng những câu "mào đầu" như vậy không đúng với văn hóa Việt Nam. Giáo sư Ngô Văn Lệ cũng bức xúc: Không biết sao thơ như thế mà được xuất bản? Thơ hay hay không là tùy vào khả năng của mỗi người cũng không ai trách, nhưng đưa vào trong thơ những điều không chính xác là rất nguy hiểm, vì thơ thường nằm lòng, tốc độ truyền bá rất nhanh, do đó phải rất thận trọng. Khi truyền tải một nội dung liên quan đến văn hóa, lịch sử đã quá rõ ràng thì không được làm sai. Thạc sĩ Nguyễn Văn Hoài nhận xét: Đọc những bài thơ, câu đối ở Đại Nam thấy "lung ta lung tung" đủ thứ tư tưởng, ca ngợi đất nước, Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo đều có... Giống như cứ nghĩ gì thì bỏ vào mà không cần biết có quan hệ logic nội tại gì. Đây là những thứ thơ phổ thông thứ cấp không có giá trị về nghệ thuật. Mà thơ không đạt nghệ thuật thì chỉ như những câu vè thông tục. Dạng thơ kiểu này thì làm một lúc được cả đống. Thơ như vậy thì nên để trong nhà xem cho vui chứ đem ra cho thiên hạ xem chỉ tổ người ta cười cho. Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, giảng viên Khoa Văn học và Ngôn ngữ Trường ĐH KHXH&NV TP HCM cũng bức xúc: "Tôi thấy Khu du lịch Đại Nam chán lắm. Nó tầm thường và không có gì nổi bật, chỉ được mỗi cái to, nhưng rỗng tuếch. Mớ câu đối, câu thơ được sơn son thếp vàng lộng lẫy in khắc trên các cột và bức tường thì gọi là thơ mà không phải là thơ. Gieo vần, thanh điệu còn sai chứ đừng nói là nội dung. Không có ý nghĩa, không có giá trị. Còn tệ hơn những bài thơ... con cóc". Ở đây, hình như có mốt của những người giàu thích khoe chữ. Và có lẽ, ông chủ khu du lịch này cũng đang muốn khẳng định mình "có tài" về văn chương, am hiểu văn hóa Đông Tây kim cổ; để được mọi người nhìn nhận không chỉ là một đại gia mà còn là một người uyên bác. Nhưng có tiền là một chuyện còn văn hóa, học vấn lại là chuyện hoàn toàn khác, mà chưa hẳn cứ có nhiều tiền thì lấp được cái lỗ hổng ấy. Nhưng dường như cái dụng ý của ông Huỳnh Uy Dũng cũng phần nào đạt được hiệu quả khi gần đây có nhiều bài báo ca ngợi ông không chỉ là một doanh nhân thành đạt mà còn là "tác giả của hàng nghìn câu thơ mang đậm chất giáo lý Phật học, chạm đến chất sử thi oai hùng của dân tộc 4.000 năm dựng nước và giữ nước" làm cho nhiều bạn đọc "phục sát đất"...
-
Khinh nó Nhà nọ có cô con gái lớn đến tuổi cập kê mà vẫn chưa có ong bướm vây quanh, nên cũng rất là lo lắng. Bà Mẹ sau khi mời thầy Phong Thủy Lạc Việt đến nhà tư vấn và lập đào hoa trận, thì Ôi thôi, ong bướm đến đông đúc qua. Làm cho cô gái cũng không biết giải quyết chuyện này như thế nào. Cuối cùng bà Mẹ tư vấn cho con gái chọn 1 anh chàng tư cách đạo đức tốt và hiền lành. Thứ bảy, chàng trai đến nhà, xin phép đưa cô gái đi chơi. Bà Mẹ buộc phải đồng ý, vì từ chối thì không được Nhưng căn dặn đứa con của mình: "Này con, không được để nó hôn đấy nhé" Cô gái: "Sao vậy Mẹ" Bà Mẹ: "Nó mà hôn con, có nghĩa là nó khinh cón đó" Tối mới 8h bà Mẹ đã xách ghế ra cửa ngồi chờ con gái về. Con gái vừa đến cửa, Mẹ hỏi ngay: "Này nó có hôn con không?" Con gái: " Dạ, anh có hôn con 1 cái" Mẹ: "Trời ơi, sao con lại để nó khinh con" Con: "Mẹ ơi, đừng lo, anh khinh con 1 cái, nhưng con khinh lại anh ấy 3 cái lận"
-
Ai Là Ứng Cử Viên Tổng Thống Của Đảng Cộng Hòa Của Hoa Kỳ?
yeuphunu replied to Thiên Sứ's topic in Lạc Việt Độn Toán
Thưa Sư phụ Đang xem chủ đề Lạc Việt Độn toán hấp dẫn về ai là ứng cử viên của Đảng Cộng hòa và có ý tham gia, thì có điện thoại trao đổi về vấn đề công ty Mega Star, cụ thể là về lĩnh vực xây dựng. Đệ tử cảm ứng là thổ, nên nhận định là người thứ 5 Tim Pawlentty sẽ trở thành ứng cử viên. Rất mong các ACE cùng trao đổi. Ths -
Năm 2011 ngân sách của Bộ GD-ĐT tăng 2,9% Theo ông Nguyễn Văn Ngữ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ GD-ĐT, tổng dự toán chi ngân sách năm 2011 của Bộ GD-ĐT là 5.081,6 tỷ đồng, tăng 2,9% so với năm 2010. Trong đó chi quản lý hành chính tăng 5,3%, chi sự nghiệp khoa học công nghệ tăng 8,1%, chi sự nghiệp bảo vệ môi trường tăng 5,3%, chi đầu tư xây dựng cơ bản giảm 11,8%... Ngân sách sẽ được phân bổ theo nguyên tắc đảm bảo toàn bộ cho phí hoạt động thường xuyên cho các trường phổ thông dân tộc, dự bị ĐH dân tộc. Các trường ĐH, CĐ khối sư phạm, khối văn hóa - thể thao, khối nông - lâm - ngư, khối công nghệ - kỹ thuật ngân sách nhà nước đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên. Còn các trường ĐH khối kinh tế - tài chính tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần các hoạt động không thường xuyên... Được biết, năm 2010 nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị tăng so với các năm trước do điều chỉnh về mức thu học phí, lệ phí tuyển sinh, đã giảm bớt khó khăn về kinh phí cho các trường. =========================================================================== Giá sư Văn Như Cương là một nhà giáo đáng kính Với thông tin kiểu như thế này, thì khó mà biết mức độ chính xác hay là gì . . . Vì ngân sách năm 2011 của Bộ GDDT khoảng 5.081 tỉ tức là chỉ chiếm 7,26% của thông tin 70.000 tỉ đồng.
-
(Tiếp theo) Trung Quốc có nguy cơ xung đột với các láng giềng để kiểm soát nguồn năng lượng RFI - Thứ hai 02 Tháng Năm 2011 <br style="mso-special-character:line-break" clear="all"> file:///C:/DOCUME%7E1/ANHTAM%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image002.jpg Tàu tuần tra Trung Quốc tại vùng biển cách quần đảo Okinawa (Nhật Bản) 280 km. Ảnh do Hải quân Nhật chụp ngày 11/09/2010 - Reuters Đức Tâm Trong năm 2011, Trung Quốc sẽ tăng cường nhân sự và phương tiện để "áp dụng luật pháp và bảo vệ quyền lợi trong các vùng biển của Trung Quốc". Theo giới phân tích, Bắc Kinh không chỉ muốn độc chiếm nguồn hải sản, mà còn muốn làm chủ các nguồn dầu lửa và khí đốt trong các vùng từ biển Hoa Đông cho đến Biển Đông. Hành động của Trung Quốc có thể làm xung đột bùng lên. Hôm nay, 02/05/2011, báo chí Trung Quốc đưa tin, Cơ quan Tuần dương nước này sẽ phát triển các phương tiện giám sát vùng biển : Trong năm nay, Trung Quốc có kế hoạch tuyển dụng thêm 1000 người và đưa tổng số nhân viên làm việc trong lĩnh vực này lên đến ít nhất là 10,000. Trong vòng 5 năm tới, Trung Quốc sẽ trang bị thêm 36 tàu tuần tra, bổ xung vào hạm đội tàu ngư chính hiện có là 360 chiếc. Theo đại diện Cơ quan Tuần dương, ngay trong năm 2011, Trung Quốc sẽ ‘tiến hành các hoạt động tuần tra đều đặn và thường xuyên hơn nhằm tăng cường áp dụng luật pháp trong các vùng biển của Trung Quốc, bảo vệ các quyền lợi của Trung Quốc’. Đồng thời, Bắc Kinh cảnh báo là một bộ phận tàu tuần dương sẽ được lắp đặt các thiết bị mới, nhằm cải thiện việc thực thi pháp luật. Qua những yêu sách về lãnh thổ và vùng biển, Trung Quốc không chỉ muốn độc chiếm nguồn hải sản. Một trong những ý đồ chính của Bắc Kinh là muốn làm chủ các nguồn dầu lửa và khí đốt tại đây. Giới phân tích cho rằng, tham vọng này của Trung Quốc có nguy cơ gây ra xung đột với các nước láng giềng. Theo báo trên mạng của Úc, Canberra Times, hiện nay, Trung Quốc là một trong những quốc gia lớn trên thế giới trong lĩnh vực khai thác dầu khí ở ngoài khơi. Thế nhưng, Bắc Kinh vẫn muốn tiếp tục tăng cuờng các hoạt động tìm kiếm và khai thác nhiên liệu trong các vùng biển để giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng này sẽ làm phức tạp thêm mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á, và một số quốc gia khác như Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc bởi vì Biển Đông là nơi có các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng và tự do lưu thông của các tàu bè và máy bay quân sự các nước. Ngày 19/04/2011, Hoàn Cầu Thời báo (Global Times) của Trung Quốc đã đăng một báo cáo đặc biệt coi Biển Đông là “Vùng Vịnh thứ hai” có trữ lượng lên tới hơn 50 tỷ tấn dầu thô, hơn 20 nghìn tỷ mét khối khí đốt, tức là lớn gấp 25 lần các nguồn dầu khí đã được thẩm định của Trung Quốc. Một quan chức cao cấp của bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc nhấn mạnh, việc tăng cường tìm kiếm và khai thác dầu khí ở ngoài khơi đóng vai trò chủ chốt trong việc giải quyết khó khăn về nhiên liệu của nước này. Vào đầu những năm 1990, Trung Quốc tự bảo đảm nguồn cung ứng nhiên liệu, thì đến năm 2010, Bắc Kinh phải nhập khẩu 55% để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và như vậy, theo Hoàng cầu Thời báo, mức độ an ninh năng lượng đã vượt qua ngưỡng báo động thuờng được quốc tế công nhận là 50%. Ngân hàng đầu tư Úc Macquarie dự báo là tỷ lệ tự cung tự cấp về khí đốt của Trung Quốc đã giảm từ 90% xuống còn 65% trong năm 2010. Các tập đoàn năng lượng của Trung Quốc đang chuẩn bị các kế hoạch tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở ngoài khơi, càng ngày càng xa lãnh thổ. Chiến lược mở rộng địa bàn tìm kiếm nhiên liệu được phối hợp chặt chẽ với hoạt động ngoại giao. Ngày 14/04/2011, Bắc Kinh đã cho lưu hành một bức thư, gửi tất cả các thành viên Liên Hiệp Quốc, tái khẳng định 80% diện tích Biển Đông và tất cả các đảo lớn nhỏ, bãi đá nằm trong hình chữ U – mà Việt Nam thường gọi là đường lưỡi bò – thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Trong bức thư này, Bắc Kinh nói rằng từ những năm 1970, Philippines đã bắt đầu xâm chiếm một số hòn đảo và bãi đá trong vùng quần đảo Nam Sa của Trung Quốc, tức Trường Sa – Spratly. Bức thư này còn đi xa hơn văn bản mà Trung Quốc trước đây gửi Liên Hiệp Quốc để phản đối những đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam và Malaysia. Cụ thể là trong bức thư ngày 14/04, Trung Quốc quyết đoán là có chủ quyền đối với toàn bộ vùng quần đảo Trường Sa bao gồm lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho dù phần lớn những hòn đảo ở đây không có người ở và chỉ thấp thoáng nhìn thấy khi thủy triều lên. Điều ngang ngược hơn cả là Trung Quốc dựa trên những luật lệ quốc gia về biển và hàng hải để khẳng định các đòi hỏi của mình, bất chấp Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển 1982 và đây chính là nguy cơ dẫn đến căng thẳng, thậm chí xung đột trong quan hệ giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Tags: Biên giới - Biển Đông - Chủ quyền - Phân tích - Trung Quốc ***** Bắc Kinh gặp rắc rối trong chính sách Biển Đông Tác giả: Michael Richardson Vietnam Net – 5-4-2011 Trung Quốc đã là một trong những nhà sản xuất năng lượng ngoài khơi lớn nhất thế giới. Nhưng họ vẫn mong muốn mở rộng quy mô hơn bằng việc tìm kiếm thêm nhiều tài nguyên dầu khí ở vùng biển nội địa và các khu vực gần với Trung Quốc, để tránh phụ thuộc quá mức vào nguồn năng lượng nhập khẩu. Tuy nhiên, chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng của Trung Quốc có thể làm phức tạp hóa mối quan hệ giữa họ với Đông Nam Á, với các quốc gia khác như Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc vốn quan tâm và coi Biển Đông như một "lộ trình quốc tế" cho thương mại và hoạt động tự do của tàu thuyền và máy bay quân sự. Một trong những tâm điểm của việc nghiên cứu năng lượng ngoài khơi mà Bắc Kinh tiến hành nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh chóng nằm ở Biển Đông, nơi Trung Quốc có những tuyên bố chủ quyền chồng lấn với Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei. Tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc ngày 19/4 đưa ra một báo cáo đặc biệt về Biển Đông, trong đó mệnh danh vùng biển này là "Vịnh Ba Tư thứ hai". Tờ báo cho biết, Biển Đông chứa đựng hơn 50 tỉ tấn dầu thô và hơn 20 nghìn tỉ mét khối khí. Con số này gấp khoảng 25 lần trữ lượng dầu và 8 lần trữ lượng khí của Trung Quốc đã được chứng minh. Thời báo Hoàn cầu không trích dẫn nguồn nào của ước tính trữ lượng dầu và khí tự nhiên nằm dưới đáy Biển Đông. Tuy nhiên, tờ báo dẫn lời Trương Đại Vệ - một quan chức cấp cao thuộc Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc, khi nói rằng, việc tăng cường thăm dò tìm kiếm ngoài khơi là "chìa khó" để giải quyết cơn khát năng lượng của Trung Quốc. Cơn khát dầu của Trung Quốc để phục vụ hệ thống vận chuyển, giao thông và phát triển kinh tế đã thay đổi từ việc tự cung tự cấp dầu vào đầu những năm 1990 sang phụ thuộc tới 55% nguồn dầu nhập khẩu trong tiêu dùng vào năm 2010, vượt quá những gì mà Thời báo Hoàn cầu gọi là: "mức báo động an ninh năng lượng toàn cầu được công nhận ở con số 50%". file:///C:/DOCUME%7E1/ANHTAM%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image004.jpg Không chỉ có tỉ lệ nhập khẩu dầu của Trung Quốc đang gia tăng nhanh chóng, mà sự phụ thuộc vào nguồn khí đốt nước ngoài cũng tăng không kém khi Bắc Kinh khuyến khích việc chuyển sang sử dụng nguồn khí đốt sạch hơn so với than đá để cắt giảm ô nhiễm khong khí và khí thải nhà kính. Than đá là nguyên nhiên liệu chủ yếu của Trung Quốc sử dụng để phát điện. Một báo cáo gần đây của ngân hàng đầu tư Macquarie dự báo rằng, tỉ lệ tự túc khí đốt của Trung Quốc sẽ sụt giảm từ 90% trong năm 2010 xuống 65% trong năm 2020. Các công ty năng lượng nhà nước đang chuẩn bị tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở đáy biển ngoài khơi Trung Quốc và thậm chí là ở những vùng biển sâu hơn, xa hơn kể từ bờ biển nước này. Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc - một nhà sản xuất dầu khí ngoài khơi - nhấn mạnh rằng, các vùng nước sâu của Biển Đông vẫn chưa được "khám phá, thăm dò" và có "tiềm năng to lớn". Tập đoàn này đã phác thảo những kế hoạch để thâm nhập lớn ở khu vực này khi họ học cách vận hành các thiết bị khoan sâu trong vài năm tới. Các lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc đang nhanh chóng phát triển kỹ năng, cải tiến trang bị để phô trương sức mạnh ở Biển Đông và bảo vệ các công ty năng lượng Trung Quốc hoạt động ở đây. Cho tới nay, việc tìm kiếm và sản xuất năng lượng của Trung Quốc vẫn giới hạn tại khu vực phía bắc của Biển Đông gồm ngoài khơi Hong Kong và đảo Hải Nam. Tuy nhiên, trong tháng này, Bắc Kinh nhiều lần quả quyết rằng họ kiểm soát hơn 80% Biển Đông và tất cả các đảo, vỉa đá ngầm trong một bản đồ hình chữ U mà chính họ công bố. Động thái của Trung Quốc lại càng làm nóng thêm những tranh cãi hàng hải. Philippines đã gửi công hàm chính thức đến Liên Hợp Quốc để phản đối Trung Quốc về vấn đề chủ quyền Biển Đông. Philippines cho rằng, việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với các đảo và vùng biển lân cận tại Biển Đông là không có cơ sở luật pháp quốc tế. Hãng tin AP đã thấy bản copy công hàm phản đối Trung Quốc mà Philippines gửi tới LHQ. Sự phản đối của Philipplines xuất hiện sau khi một tàu tìm kiếm thăm dò dầu khí nước này thông tin về việc bị hai tàu tuần tra của Trung Quốc "quấy nhiễu". Quân đội Philippines đã triển khai hai máy bay chiến đấu tới khu vực xảy ra vụ việc và tàu Trung Quốc sau đó rời đi mà không có đụng độ gì. Đáp trả lại, Trung Quốc cũng gửi thư phản đối Philippines lên LHQ. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc làm như vậy. Bắc Kinh khẳng định họ có chủ quyền không thể tranh cãi với quần đảo Trường Sa mà Manila "đã bắt đầu xâm chiếm" từ những năm 1970. Trong lá thư gửi ngày 14/4, Trung Quốc tuyên bố: "Kể từ những năm 1970, Philippines đã bắt đầu xâm lấn và chiếm đóng một số đảo cũng như vỉa đá ngầm tại quần đảo Nam Sa (cách Trung Quốc gọi tên quần đảo Trường Sa) và đưa ra các tuyên bố chủ quyền liên quan, điều mà Trung Quốc mạnh mẽ phản đối". Thư phản đối của Trung Quốc nhấn mạnh: "Sự chiếm đóng của Philippines với một số đảo và vỉa đá ngầm của quần đảo Nam Sa cũng như các hành vi liên quan khác đã cấu thành việc vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc". Tháng 5/2009, một ngày sau khi Trung Quốc đưa ra bản đồ chín đoạn (còn gọi là đường lưỡi bò hay bản đồ hình chữ U) lên một ủy ban của LHQ, Việt Nam và Malaysia đã đệ đơn phản đối. Indonesia, tuy không phải là bên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, cũng phản đối bản đồ của Trung Quốc trong năm ngoái. Tuy nhiên, trong cả bốn thư ngoại giao đệ trình lên LHQ chống lại bản đồ chín đoạn của Trung Quốc, chỉ có thư phản đối của Philippines khiến Bắc Kinh gửi công hàm đáp trả lên Tổng thư ký LHQ Ban Ki-Moon. Lá thư của Bắc Kinh khẳng định quả quyết rằng, quần đảo Trường Sa "hoàn toàn thuộc về" lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ, cho dù nó gồm phần lớn các đảo không người ở và thường không thể nhìn thấy được khi thủy triều lên. Không có cách nào khác ngoài việc Trung Quốc có thể sử dụng luật pháp quốc tế hiện hành để chứng minh cho tuyên bố chủ quyền của họ với vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với các nguồn tài nguyên thủy sản, năng lượng và khoáng sản. Tuy nhiên, trong bức thư gửi LHQ, Trung Quốc lại biện minh cho tuyên bố chủ quyền dựa trên hai đạo luật hàng hải gây tranh cãi của chính họ ngoài Công ước LHQ về Luật biển. Luật pháp nội địa công nhận chủ quyền của Trung Quốc; công ước LHQ lại không như vậy. Và, nếu cuộc vật lộn để giành quyền kiểm soát Biển Đông dựa trên quyền lực chính trị thay vì luật pháp quốc tế hiện hành, thì Bắc Kinh dường như có lợi thế so với các đối thủ yếu hơn. Michael Richardson là nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore. Thụy Phương (Theo Japantimes) (còn nữa)
-
(tiếp theo) Vấn đề các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa Quần đảo Hoàng Sa là quần đảo nhỏ ở Biển Đông, bị Trung Quốc chiếm của Việt Nam năm 1974, ngoài Việt Nam, Đài Loan cũng yêu sách quần đảo này. Quần đảo Trường Sa nằm ở Tây Nam Biển Đông, gồm hơn 100 hòn đảo nhỏ, bãi đá ngầm và đảo san hô vòng, tổng diện tích dưới 5 km². Tổng diện tích khu vực này là hơn 400,000 km². Tranh chấp khu vực này là 6 quốc gia - Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia, Philippines, Brunei. Nguyên nhân xung đột là vị trí quan trọng chiến lược của quần đảo, khu vực này giàu tài nguyên sinh học và có thể có những mỏ dầu và khí đốt trữ lượng lớn. Một phần quần đảo do các đơn vị quân đội Việt Nam đóng giữ, một phần bị chiếm giữ bởi các đơn vị Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan. Thường xuyên xảy ra những cuộc đụng độ nhỏ, năm 2008, Philippines tuyên bố, họ sẽ “chiến đấu đến người thủy binh và lính thủy đánh bộ cuối cùng” vì quần đảo Trường Sa. Có khả năng xảy ra chiến tranh lớn. Cả 6 quốc gia trong những năm gần đây đều tăng cường quân đội, nhất là hải quân, hạm đội tàu ngầm, không lực hải quân được chú ý hơn. Việt Nam “Cựu” địch thủ của Trung Quốc, từng bị Trung Quốc đô hộ 1,000 năm, cho đến thế kỷ X. Là đối thủ của Trung Quốc tranh giành ảnh hưởng đối với các nước láng giềng Đông Nam Á, Việt Nam có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Khi Việt Nam còn là đồng minh của Liên Xô, thì không có nguy cơ lớn đối với Việt Nam, nhưng hiện nay, nguy cơ tăng mạnh. Ban lãnh đạo Việt Nam đang tăng cường quân đội, tìm kiếm các quan hệ với Mỹ (có tin đồn, thậm chí Việt Nam sẵn sàng cho Mỹ sử dụng Cam Ranh làm căn cứ quân sự), cũng cố quan hệ hợp tác với Ấn Độ. Ấn Độ Trung Quốc coi bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ là một phần của Nam Tây Tạng và nghĩa là một phần lãnh thổ của mình. Ấn Độ muốn Trung Quốc trả lại vùng lãnh thổ Aksai Chin. Trung Quốc đang đẩy mạnh hợp tác kinh tế, quân sự với Pakistan, Bangladesh, những nước về lịch sử và văn hóa là một bộ phận của nền văn minh Ấn Độ. Trung Quốc đang tăng cường ảnh hưởng ở các nước giáp giới Ấn Độ mà giới tinh hoa Ấn Độ coi là vùng ảnh hưởng của mình là Nepal, Butan, Sri Lanka. Ấn Độ cũng không thích thú gì việc Trung Quốc chiếm giữ Tây Tạng. Đáp lại, Ấn Độ đang tăng cường sức mạnh quân đội, tăng cường hợp tác với Mỹ, Nga. Khả năng xảy ra chiến tranh lớn bị hạn chế bởi sự hiểm trở của biên giới Trung-Ấn, núi non. Afghanistan Trung Quốc coi tỉnh Badah Shan là lãnh thổ “lâu đời của Trung Quốc”. Nhưng trong khi chiến tranh liên miên diễn ra ở Afghanistan, Trung Quốc chú ý hơn đến bành trướng kinh tế. Rõ ràng là khi Mỹ và các đồng minh rút khỏi Afghanistan, Trung Quốc sẽ là “anh cả” ở khu vực này và sẽ giành được những tài nguyên họ cần mà không cần chiến tranh. Afghanistan bị tàn phá, nước này cần những khoản đầu tư lớn vào hạ tầng, mà Trung Quốc thì có tiền. Tadjikistan Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với 28,000 km² ở khu vực Đông Pamir. Tháng 1.2011, Tadjikistan đã nhượng 1.000 km² lãnh thổ tranh chấp cho Trung Quốc. Xét tới tiềm lực quân sự thực tế là bằng không so với Trung Quốc của Tadjikistanа, thì sớm hay muộn, nước này cũng phải giao nộp toàn bộ các lãnh thổ “tranh chấp” cho Trung Quốc, thậm chí cả các vùng lãnh thổ khác nữa (xét tới khả năng nội chiến ở nước này). Lối thoát duy nhất đối với Tadjikistan là trở lại trong thành phần nước Nga. Kirgyzya Năm 1996 và 1999, Kirgyzya đã cắt cho Trung Quốc gần 12 km² lãnh thổ và tạm thời Trung Quốc bằng lòng với điều đó. Nhưng xét tới tình hình khốn khó của Kirgyzya: các khó khăn kinh tế, quân đội yếu ớt, xung đột sắc tộc (giữa những người dân tộc Kirgyz và Uzbek), khả năng hỗn loạn lan sang từ Afghanistan, Kirgyzya sẽ không tránh khỏi số phận “miếng mồi” của kẻ mạnh. Giống như đối với Tadjikistan, trong hoàn cảnh khủng hoảng thế giới, cách cứu vãn dân tộc duy nhất để khỏi bị “Trung Quốc hóa” hoặc Hồi giáo cực đoan hóa là quay trở lại thành phần nước Nga. Kazakhstan Năm 1992-1999 đã diễn ra một quá trình đàm phán ngoại giao, kết quả là Trung Quốc giành được 407 km² lãnh thổ Kazakhstan. Trung Quốc không còn nêu ra vấn đề lãnh thổ nữa và nó được coi là đã giải quyết xong. Nhưng Kazakhstan dân cư thưa thớt, tiềm lực quân sự yếu, biên giới với Trung Quốc dài (hơn 1.700 km) và cách Trung Quốc ứng xử khi cần sống sót là điều dễ hiểu.[/font] Mông Cổ Nước này được coi là sự tiếp tục của khu vực Nội Mông và tương ứng là sự tiếp tục tự nhiên của Trung Quốc. Trong thế kỷ XX, Trung Quốc đã không nuốt chửng được nước này chỉ là nhờ sự bảo trợ của Liên Xô hùng mạnh. Mông Cổ đáng quan tâm đối với Trung Quốc ở chỗ với diện tích lớn, nước này gần như không có dân cư (2.7 triệu người), không có quân đội thực sự (gần 9,000 quân). Nga Năm 1991, М. Gorbachev ký hiệp ước, theo đó biên giới chạy theo giữa lòng sông Amur. Trước đó, biên giới chạy theo bờ sông Amur, bên phần đất Trung Quốc. Năm 2004-2005, V. Putin đã cắt cho Trung Quốc 337 km² lãnh thổ Nga. Tại đây, vấn đề lãnh thổ dường như đã được giải quyết, nhưng “sự thèm ăn thức tỉnh trong khi ăn”. Trung Quốc đang đứng trước ngã ba đường và nếu như họ chọn bành trướng ra bên ngoài thì Nga sẽ là “đối tượng” có khả năng nhất. Tạm thời, Trung Quốc hạn chế ở việc chiếm lĩnh về kinh tế các vùng lãnh thổ Nga và di dân đến các vùng lãnh thổ hầu như trống rỗng của Siberia và Viễn Đông. Những nạn nhân đầu tiên có khả năng nhất của sự bành trướng của Trung Quốc Những nạn nhân đầu tiên của Trung Quốc rõ ràng sẽ là: - Đài Loan: Theo lập trường nguyên tắc của Trung Quốc thì Đài Loan là bộ phận của nền văn minh Trung Hoa. Nhưng cũng có khả năng cho lối thoát hòa bình nếu như giới tinh hoa Đài Loan kìm nén được các tham vọng của mình. Nếu như xảy ra một chiến dịch quân sự thì nạn nhân sẽ nhiều, nhưng thiết nghĩ Mỹ và phương Tây sẽ chỉ làm ầm ĩ, chứ sẽ không thực sự tham chiến. - Các nước phía Bắc: Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kirgyzya, do đây là những vùng lãnh thổ dân cư thưa thớt, có nguồn tài nguyên lớn và tiềm lực quân sự yếu (các đơn vị quân đội chủ yếu của Nga bố trí ở phía Tây, nên Trung Quốc sẽ kịp giải quyết xontg tất cả các vấn đề nhằm chiếm giữ Siberia và Viễn Đông của Nga trước khi các đơn vị đó kịp tới khu vực chiến sự). - Tấn công Ấn Độ không hấp dẫn Trung Quốc vì chiến trường không thích hợp (vùng núi), về quân số, quân đội Ấn Độ và dự trữ nhân lực của nước này cũng gần như của Trung Quốc. Trung Quốc có thể mở chiến dịch hạn chế chống Ấn Độ để yểm trợ cho đồng minh Pakistan một khi Ấn Độ tấn công Pakistan. - Chiến tranh với Việt Nam hay bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào là bất lợi. Nguồn dự trữ nguyên liệu của các nước này hạn chế, có dân số đông, quân đội mạnh. Bởi vậy, các nước này sẽ được Trung Quốc để lại sau, họ có thể khuất phục mà không cần chiến tranh, một khi thấy số phận của các láng giềng phía Bắc của Trung Quốc, họ sẽ tự nguyện trở thành “chư hầu” của Trung Quốc. - Nhật Bản rõ ràng sẽ là nạn nhân cuối cùng, bởi lẽ tiến hành chiếm đóng bằng đường biển là khá phức tạp. Nhưng xét tới sự thù ghét của người Trung Quốc đối với người Nhật thì số phận của họ sẽ rất bi thảm, dân cư quần đảo Nhật sẽ giảm mạnh. Đặc điểm của sự bành trướng này là giới tinh hoa Trung Quốc sẽ không tiếc lính, tiếc vũ khí trang bị để thực hiện. Trung Quốc đang có cuộc khủng hoảng nhân khẩu nghiêm trọng, “sự già hóa” dân cư và dư thừa thanh niên, thiếu nữ giới. Càng có nhiều người mất mạng trên chiến địa càng tốt, “ung nhọt” căng thẳng xã hội trong nội địa Trung Quốc sẽ xẹp xuống. Còn nhu cầu sản xuất hàng loạt vũ khí trang bị sẽ có lợi cho nền kinh tế. Nga có thể làm gì để tự cứu mình? - Về mặt ngoại giao, ủng hộ việc tái thống nhất hòa bình Hoa lục và đảo Đài Loan. - Tăng khối lượng hợp tác kinh tế. Khủng hoảng và những chấn động xã hội ở Trung Quốc là dấu hiệu cho thấy sự khởi đầu của quá trình bành trướng bằng vũ lực đã rất gần. Nga cần nền hòa bình ở Trung Quốc và sự phát triển kinh tế, văn hóa của dân cư nước này. Cần có sự bành trướng văn hóa Nga - tiếng Nga, điện ảnh, giáo dục, văn hóa. - Liên minh chiến lược với Ấn Độ, thừa nhận các bộ phận của nền văn minh Ấn Độ là Pakistan và Bangladesh là thuộc về Ấn Độ. Tương trợ nhau trong trường hợp bị Trung Quốc xâm lược. - Hợp tác kỹ thuật quân sự và kinh tế rộng lớn với Mông Cổ, hai nước Triều Tiên, các nước Đông Nam Á. Nối lại liên minh với Việt Nam. - Lập tức khôi phục Hạm đội Thái Bình Dương, tăng cường mạnh mẽ lực lượng quân đội đóng tại Viễn Đông. - Có chương trình quy mô lớn tái chinh phục Siberia và Viễn Đông (có thể lấy các kết quả nghiên cứu của Y. Krupnov làm cơ sở), giải quyết sự mất cân bằng nhân khẩu, khi mà phần lớn dân số Nga sống ở phần châu Âu của nước Nga. Có chương trình hỗ trợ sinh đẻ cho người Nga và các dân tộc bản địa ở Siberia và Viễn Đông (không dưới 3-4 con/1 gia đình). - Giới tinh hoa Nga cần phải thể hiện ý chí sinh tồn bằng cách ngầm cảnh cáo Trung Quốc rằng, xâm phạm đất đai và khu vực ảnh hưởng của Nga (Kazakhstan, Kirgyzya, Tadjikistan, Mông Cổ) có thể dẫn tới đòn đánh hạt nhân hạn chế nhằm vào các thành phố duyên hải phồn vinh của Trung Quốc. ***** Trung Quốc thi hành sách lược của Tần Thuỷ Hoàng trong quan hệ với các nước lân bang và Thế giới Ðàn Chim Việt - 21/04/11 | Tác giả: Nguyễn Hoàng Hà file:///C:/DOCUME%7E1/ANHTAM%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image002.jpg Hội nghị thượng đỉnh ASEAN -Trung Quốc ngày 29/10/2010 - Ảnh tư liệu REUTERS/Na Son Nguyen/Pool Trung Quốc thi hành sách lược của Tần Thuỷ Hoàng trong quan hệ với các nước lân bang và Thế giới. Thế giới ít biết đến chuyện những nhà hoạch định chiến lược của Trung Quốc thường áp dụng những sách lược của các bậc tiền bối Trung Hoa xưa vào hoạch định các chính sách hôm nay và đều thành công. Người ta đã từng chứng kiến các nhà hoạch định chính sách thời ông Mao áp dụng đó là sách lược “Phô yếu ẩn mạnh” kết hợp với sách lược “Nhẫn nhục nhu hoà để chờ thời phản công” mà khẩu hiệu xưa chính là “quân tử trả thù mười năm không muộn.” Từ chính sách này Mao Trạch Đông và các nhà lãnh đạo Trung Quốc sau đó, nhất là dưới thời Đặng Tiểu Bình đã thi hành sách lược hoà hoãn bắt tay với Mỹ trong cuộc mặc cả lớn để có Thông cáo chung Thượng hải được ký kết giữa Mỹ và Trung Quốc cuối năm 1975 mà kết quả là Mỹ đã cho Trung Quốc được hưởng “ưu đãi tối huệ quốc” buôn bán vào Mỹ, đổi lại họ dạy kẻ thù của Mỹ là Việt nam một bài học, đó là tấn công xuống phía Nam. Kết quả là dù phải mất 500 ngàn sinh mạng người lính vô tội trong cuộc chinh phạt này nhưng đổi lại có được một nền kinh tế đại nhẩy vọt, tăng trưởng như lên đồng, để rồi hôm nay đã đem về cho đất nước họ với ngân sách dự trữ tài chính khổng lồ là 600 ngàn tỷ đôla và một Trung Quốc đại công trường, xí nghiệp của Thế giới với đủ các sản phẩm từ những cái kim, quần áo đến ti-vi, các hàng điện tử, ô tô và tên lửa, máy bay, tầu thuỷ với giá rất mềm nên dù chất lượng có yếu kém hơn rất nhiều nhưng hợp với túi tiền người tiêu dùng nên đầy sức cạnh tranh Mỹ và thế giới phương Tây. Nay là lúc Trung Quốc thực thi nâng cao chất lượng sản phẩm để lấn át các nước vốn có truyền thống sản xuất các mặt hàng này. Kinh tế thì là vậy nhưng Trung Quốc đã khéo léo dùng kinh tế để làm đòn bẩy về chính trị và tăng cường vị thế ngày càng mạnh của mình trên thế giới. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, quân sự cổ lỗ nay đã vươn lên là cường quốc kinh tế đứng hàng thứ hai và đang rút ngắn lại khoảng cách với nền kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ. Đến lúc này, đối tượng mà họ đang nhắm tới chính là Mỹ. Từ máy bay, tầu chiến loại thường nay tiến đến máy bay, tầu chiến tàng hình và điều khiển qua Sentanit với khoa học chiến tranh hiện đại, các dàn hoả tiễn tàng hình xuyên lục địa đối hãm đối biển kể cả hạ vệ tinh trên không gian. Chính sách của họ lúc này chính là “tiền trảm chi hậu trảm thầu” có nghĩa là cắt tay chân, các rễ nhỏ trước khi đốn gốc chặt đầu kẻ thù. Kế hoạch mà họ nhắm đến chính là tung các khoản đầu tư kinh tế mạnh hay viện trợ để vừa chiếm thị trường các nước lân bang vừa tước đi ảnh hưởng của Hoa Kỳ hay các quốc gia khác đối với nước nào mà họ nhắm đến. Thí dụ như Lào và Campuchia, Thái Lan, Indonexia để cắt tay Mỹ và cả Việt Nam vốn là các quốc gia có ảnh hưởng truyền thống với những quốc gia này. Con đường tầu hoả và xa lộ từ Thượng Hải, Thẩm Quyến xuyên qua Lào, Campuchia, Indonexia, Malaixia, Singapo đã chứng minh hùng hồn điều này. Hiện nay Trung Quốc đang tiến tới lập các công ty sản xuất hỏa tiễn với Indonexia để lôi kéo quốc gia này xa dời ảnh hưởng ngày càng tăng của Hoa Kỳ. Chúng ta nên nhớ Indonexia là chủ tịch khối Aisian năm nay và có vị trí chiến lược ở khu vực Đông Nam Á. Để thắt chặt hơn nữa sự phụ thuộc của các quốc gia này vào Trung Quốc, với Lào họ viện trợ không hoàn lại hàng năm là 20 triệu đô la và tung hàng tỷ đô la vào xây các công trình kinh tế lớn như đập thuỷ điện và xây dựng. Còn Campuchia ngoài số tiền hàng chục triệu đô la viện trợ không hoàn lại, Trung Quốc đã tân trang toàn bộ quân phục, vũ khí cá nhân cho quân đội nước này và nhận đào tạo các sỹ quan và cán bộ cao cấp cho hai nước nói trên. Tháng 10 vừa rồi, Trung Quốc cam kết ủng hộ công trình xây dựng tuyến đường sắt trị giá 600 triệu đô la giữa Phnompenh và Việt Nam. Tuyến đường này sẽ giúp cho Trung Quốc tiến được một bước quan trọng trong việc hòa nhập toàn bộ Đông Nam Á, kể cả Singapore ở xa tận phía Nam, vào mạng lưới xe lửa của họ. Trên khắp Cam Bốt, hàng chục công ty quốc doanh Trung Quốc đang xây dựng 8 đập thủy điện, bao gồm đập thủy điện khổng lồ với công suất 246 megawatt trên sông Tatay ở Koh Kong. Tổng số chi phí cho các con đập sẽ vượt mức 1 tỷ đô la. Theo ông Cheam Yeap, Ủy viên Trung ương Đảng Nhân Dân Cam Bốt đang cầm quyền, tổng cộng Cam Bốt đang nợ Trung Quốc 4 tỷ đô la. “Khả năng (Trung Quốc) chiếm quyền kiểm soát là điều không thể tránh khỏi”, Lak Chee Meng, thông tín viên kỳ cựu của báo Sin Chew Daily tại Phnompenh đã nhận định như vậy. Sin Chew Daily là một trong 4 nhật báo Hoa Ngữ tại Cam Bốt, phục vụ cho 300,000 độc giả người Khmer gốc Hoa và thêm khoảng 250,000 người nhập cư đến từ Trung Quốc bao gồm di dân và các nhà kinh doanh. “Cam Bốt ngả vào Trung Quốc với vòng tay mở rộng. Đó là cách thức trước đây Mỹ dùng để giành quyền kiểm soát các láng giềng. Địa lý chính trị là như vậy”. Tuy nhìn bên ngoài thì người ta vẫn tưởng là Trung Quốc hào hiệp tung tiền phát chẩn cho các nước đàn em nghèo khó nhưng thực ra không phải như vậy mà qua quan hệ đầu tư kinh tế, dựa vào thế mạnh về vốn họ đã bành trướng các công ty, xí nghiệp của Trung Quốc ra nước ngoài một cách dễ dàng và đại thành công, đó là khi kinh tế Trung Quốc tràn vào Campuchia thì kinh tế hai nước mỗi năm buôn bán đạt mức 2 tỷ đô-la nhưng hàng hoá của Campuchia và Trung Quốc chỉ đạt 200 triệu mỗi năm. Như vậy thâm thủng mậu dịch là 1 tỷ 800 triệu đô la. Còn Lào thì con số còn thậm tệ hơn nhiều. Cán cân thương mại hàng năm là 2 tỷ 500 triệu nhưng hàng hoá của Lào vào Trung Quốc chỉ là 200 triệu mà phần lớn là gỗ quý và nông sản. Thâm thủng là trên 2 tỷ đô la. Lào và Campuchia vì những món lợi trước mắt đã dần xa Việt Nam xích gần lại dưới bàn tay điều khiển của thầy phù thủy Trung Quốc hơn. Việt Nam thì con số thương mại báo chí đưa ra năm 2010 là 40 tỷ đô la, trong khi đó hàng hoá Việt Nam vào Trung Quốc là 7 đến 10 tỷ, còn bên kia là 30 tỷ nghiêng về phía Trung Quốc. Như vậy Trung Quốc đã dùng “mỡ cá để rán cá” và càng buôn bán với Trung Quốc thì cán cân thương mại càng thâm thủng mạnh hơn. Trong khi đó người ta thấy tổng kim ngạch buôn bán giữa Hoa Kỳ và Việt Nam năm 2010 là trên 20 tỷ đô la và cán cân thương mại Việt Nam vào Mỹ là 17.5 tỷ đô la. Như vậy rõ ràng kinh tế Việt Nam phát triển là do quan hệ với Mỹ và các nước khác chứ không hề đi lên từ quan hệ với Trung Quốc, trái lại chỉ thâm thủng nặng nề hơn mà thôi. Nếu không duy trì quan hệ buôn bán với Hoa Kỳ và châu Âu thì kinh tế Việt Nam sẽ lại quay về thời kỳ bao cấp khi xưa không hề sai khác và không thể trông vào sự viện trợ của ông bạn láng giềng này. Trung Quốc biết ảnh hưởng của Việt Nam rất lớn với khối Asian và là một vật cản hiệu quả sự bành trướng về biển Đông của họ nên đang có xu hướng uyển chuyển hơn trong việc vận động Việt Nam đi đến ký kết về một hiệp ước biển để giải quyết rốt ráo, phá đi rào cản cuối cùng để làm ông chủ biển Đông. Mọi người đang hồi hộp chờ đợi người hùng Mỹ sẽ làm gì để phá thế trận Trung Quốc đã và đang miệt mài làm nhằm cô lập và cắt đi mọi ảnh hưởng truyền thống của Hoa Kỳ tại khu vực quan trọng này. Tư duy Đông phương nghe lướt qua thì nhẹ nhàng và thâm thuý nhưng khi đi sâu vào trong thực tế mà Trung Quốc áp dụng mới thấy thật là thâm hiểm không như mọi người cứ nghĩ chỉ là “cổ sơ và thâm thuý nhu hòa.” Người ta đã nhìn thấy họ đang chuyển sách lược từ “lấy nhu chống cương” nay lấy cả “nhu và cương chống cương”, đó là sách lược của hảo hán Trung Hoa trên sân khấu chính trị thế giới. (còn nữa) (c
-
Tác giả: Aleksandr Samsonov Đặc điểm phát triển của nền văn minh Trung Hoa là tính chu kỳ. Trong lịch sử các đế chế Trung Hoa thấy rõ 3 chu kỳ: hình thành, hưng thịnh, suy vong và hỗn loạn, trong đó phần lớn hoặc một bộ phận đáng kể dân cư bị chết đi. Hiện nay, Trung Quốc đang ở giai đoạn “hưng thịnh” - kinh tế và nhân khẩu tăng trưởng, mặc dù giới tinh hoa Trung Quốc đã kìm hãm được sự tăng dân số, nhưng đổi lại, đã nhận lấy “sự già hóa” của dân cư và giảm số lượng nữ giới. Kinh tế Trung Quốc (không phải là không có sự giúp đỡ của Mỹ) đang có sự phát triển rất nhanh chóng, đã vượt qua Đức, Nhật và đang đuổi kịp Mỹ. Nhưng trong sự tăng trưởng đó có một cái bẫy chết người, nếu sự tăng trưởng dừng lại, Trung Quốc sẽ đối mặt với những vấn đề kinh tế-xã hội kinh hoàng, chúng chắc chắn sẽ gây ra sự khủng hoảng chính trị nội địa, các cuộc nổi loạn của nông dân và các khu vực Hồi giáo. Kết quả, Trung Quốc sẽ chuyển sang giai đoạn “suy vong”. Giới tinh hoa Trung Quốc hiểu rõ quy luật lịch sử này và hoàn toàn logic khi giả định là họ đã tìm ra được cách để vượt qua, hay ít ra là kéo dài khung thời gian của thời kỳ “tăng trưởng”. Các triết gia Trung Quốc cho rằng, tồn tại khả năng có một giai đoạn “đại hài hòa”. Những dấu hiệu giai đoạn “suy vong” đang đến gần - “Sự quá nóng” của kinh tế Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng quá nhanh đã dẫn tới việc nếu như trong nước bắt đầu sự trì trệ (mà điều đó thì có thể xảy ra do khủng hoảng thế giới, lượng cầu ở Mỹ, châu Âu, Nga… suy giảm, mặc dù người ta đang tìm cách duy trì nó một cách nhân tạo bằng cách bơm tiền không được bảo đảm, nhưng điều đó không thể kéo dài mãi); thì các vấn đề kinh tế-xã hội sẽ bùng phát dữ dội ở Trung Quốc. - Cuộc chạy đua vũ trang ráo riết mà Trung Quốc phát động từ những năm 1990 đã khiến cả Đông Nam Á lao vào chạy đua vũ trang. - Sự bất mãn gia tăng trong các tầng lớp dân chúng nghèo khổ nhất (nông dân), mà đến nay vẫn chiếm đa số dân số. Ví dụ, bộ phim Avatar được yêu thích ở Nga thì ở Trung Quốc người ta cũng rất thích. Người Trung Quốc tự so sánh mình với dân tộc hoang đường “navi”, bởi vì chính quyền tiến hành chính sách xua đuổi dân chúng khỏi các vùng đất quê hương để dành chỗ cho các dự án xây dựng quy mô. Tạm thời sự bất mãn được bù đắp bởi khả năng tìm việc làm ở các thành phố. - Sự gia tăng chủ nghĩa hưởng lạc, sự phân hóa “những người Trung Quốc mới” . Ngày càng nhiều hơn du thuyền, casino, hàng xa xỉ. Trung Quốc đang dần dần để cho các loại vi rus hủy diệt - những người có triệu chứng thoái hóa (chuyển giới, đồng tính nam) nhận được ngày càng nhiều tự do. Tham nhũng gia tăng trong bộ máy đảng và nhà nước, sự thật tạm thời bị kiềm chế bởi các cuộc xử bắn công khai. - Sự gia tăng bạo lực tự phát, nhất là đối với trẻ em (một dấu hiệu rất xấu, khi thái độ đối với trẻ em là rất đáng lo ngại), nói lên sự gia tăng tiêu cực trong thế giới tiềm thức của văn minh Trung Quốc. Những lối thoát - Tìm kiếm những con đường hòa bình để chuyển sang giai đoạn “Đại hài hòa”. Điều đó chỉ có thể với thiện chí của giới tinh hoa Trung Quốc và sự hợp tác rất chặt chẽ với nền văn minh Nga. Nhưng xét tới yếu tố bản thân Nga cũng đang đi tìm kiếm… thì… - Bành trướng ra ngoài, kể cả bành trướng quân sự, để kéo dài quãng thời gian của giai đoạn “tăng trưởng” cần có những vùng lãnh thổ mới và các nguồn tài nguyên - đặc biệt gay gắt là vấn đề nước sạch và đất nông nghiệp. Các dấu hiệu Trung Quốc chuẩn bị bành trướng quân sự - Chạy đua vũ trang: Từ một nước thường thường bậc trung về quân sự, trong vòng 20 năm, Trung Quốc đã trở thành cường quốc số 2 về quân sự. Các chuyên gia quân sự Bắc Mỹ đã lo lắng nói rằng, chẳng bao lâu nữa Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ về sức mạnh và số lượng vũ khí hiện đại. - Trung Quốc đang chuẩn bị cho quân đội của họ thực hiện các cuộc tấn công trên bộ - các binh đoàn lục quân hùng mạnh, với một số lượng lớn binh khí nặng, cũng như cho cuộc xung đột với một địch thủ công nghệ cao - họ đang cấp tốc hoàn thiện hạm đội, đóng các tàu sân bay, phát triển phòng không, vũ khí chống hạm, không quân, vũ khí phòng thủ vũ trụ. - Các nước láng giềng của Trung Quốc đẩy mạnh đột biến hiện đại hóa quân đội - Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ (tất cả các nước này đều có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, điều có thể trở thành cái cớ cho một cuộc chiến tranh lớn). Chỉ có Nga là đang “ngủ”. - Trên báo chí và trong giới quân sự Trung Quốc, người ta đã nói đến sự cần thiết bành trướng để nhà nước sống còn. - Trong những bộ phim Trung Quốc mới đây, thấy rõ hình ảnh kẻ thù là “người da trắng” và ít hơn là người Nhật. file:///C:/DOCUME%7E1/ANHTAM%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image001.jpg Thái độ đối với Mỹ Trung Quốc cho rằng, nước Mỹ ốm yếu và không làm nổi vai trò lãnh đạo và thấy rằng, đang có một “cuộc cải tổ” chờ đợi nước Mỹ. Giới tinh hoa Trung Quốc hiểu rằng, quân đội Mỹ sẽ không “chịu nổi” một cuộc chiến tranh cổ điển và không dám mở một cuộc chiến tranh lớn vì Đài Loan. Mặc dù họ sẽ vẫn ủng hộ “các đồng minh” châu Á (về mặt ngoại giao, có thể là bằng vũ khí, tài chính). Ngoài ra, Trung Quốc còn là “công xưởng” của Mỹ, là chủ nợ trái phiếu lớn nhất của Mỹ, chiến tranh với Trung Quốc, nhất là chiến tranh “thật” sẽ mang lại những tổn thất to lớn cho Mỹ. Bởi vậy, cũng như Anh và Pháp trước Thế chiến II, Mỹ sẽ nín nhịn đến cùng trước sự bành trướng của Trung Quốc sang các nước láng giếng. Hơn nữa, một cuộc chiến tranh ở châu Á cũng sẽ có lợi cho giới tinh hoa Mỹ vì thế giới sẽ quên đi các vấn đề của họ. file:///C:/DOCUME%7E1/ANHTAM%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image003.jpg Các tuyến đường biển vận chuyển nguyên liệu cho công nghiệp Trung Quốc. Giống như nhiều cường quốc công nghiệp, Trung Quốc rất nhạy cảm với hoạt động của các tuyến đường biển này Những yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc Theo quan niệm địa-chính trị cổ Trung Quốc: Trung Quốc là “trung tâm của thế giới, còn vây quanh đế chế Trung Hoa là “man di” và “mọi rợ”, những người phải cống nộp cho thiên triều. Trung Quốc vốn rất bảo thủ ở nhiều vấn đề, quan niệm này đã được xem xét lại và hiện đại hóa ở nước Trung Hoa cộng sản. Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta nhất định phải giành lấy Đông Nam Á, kể cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia, Singapore... Một khu vực như Đông Nam Á rất giàu có, ở đó có nhiều khoáng sản, nó hoàn toàn đáng bỏ công của ra để giành lấy nó. Trong tương lai, nó sẽ rất có lợi để phát triển công nghiệp Trung Quốc. Như vậy, sẽ có thể bù đắp toàn bộ những thiệt hại. Sau khi chúng ta giành được Đông Nam Á, ở khu vực này sẽ có thể tăng cường các lực lượng của chúng ta …” (năm 1965); “Chúng ta phải chinh phục trái đất ... Theo tôi, quan trọng nhất là chinh phục trái đất chúng ta, nơi chúng ta sẽ thiết lập một cường quốc hùng mạnh”. Danh sách “các vùng lãnh thổ Trung Quốc bị mất” rất dài: Miến Điện, Lào, Việt Nam, Nepal, Butan, Bắc Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Triều Tiên, quần đảo Ryukyu, hơn 300 hòn đảo ở Biển Đông, biển Hoa Đông và Hoàng Hải, Kirgyzya, một phần Tadjikistan, Nam Kazakhstan, tỉnh Badah Shan của Afghanistan, Mông Cổ, vùng Ngoại Baikal và Nam Viễn Đông cho đến tận Okhotsk của Nga. “Các vùng lãnh thổ Trung Quốc bị mất” là hơn 10 triệu km². Các vùng lãnh thổ đó lớn hơn lãnh thổ Trung Quốc (9.6 triệu km²) hơn 2 lần. Sau Мао, các nhà lãnh đạo Trung Quốc “nguội đi” và không nêu ra những yêu sách như thế, nhưng quan niệm lịch sử thì họ vẫn giữ. Và không nên nghĩ là Trung Quốc quên lãng những gì mà họ cho là của họ - họ đã lấy lại Hongkong (thuộc Anh đến năm 1997), Macao (thuộc Bồ Đào Nha đến năm 1999), đã nuốt được một phần lãnh thổ Nga (năm 2005 - 337 km²), 1.000 km² của Tadjikistan (tháng 1.2011, Trung Quốc yêu sách 28.000 km²). Trung Quốc càng mạnh và các nước láng giềng càng yếu bao nhiêu thì “sự thèm muốn” càng lớn bấy nhiêu. Niềm tin vào phương cách ngoại giao cũng là đáng ngờ. Trung Quốc đã không chỉ một lần, trước khi trở thành cường quốc số 2, xung đột vũ trang với các nước láng giềng: 2 cuộc xung đột biên giới với Ấn Độ (1962, 1967), xung đột biên giới Trung-Xô (1969), chiến tranh với Việt Nam (1979), 2 cuộc xung đột biên giới với Việt Nam (1984, 1988), 3 cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan. Trung Quốc “đã nuốt chửng” 3 vùng lãnh thổ vốn không phải là bộ phận của nền văn minh Trung Hoa là Đông Turkestan (chiếm vào thế kỷ XVIII), Nội Mông (chiếm hẳn sau Thế chiến II) và Tây Tạng (thập niên 1950). file:///C:/DOCUME%7E1/ANHTAM%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image004.jpg 3 tranh chấp lãnh thổ chủ yếu của Trung Quốc: (1) Biên giới trên bộ với Ấn Độ và Butan; (2) Tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông với Việt Nam; (3) Tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông với Nhật Bản Nhật Bản Ở Trung Quốc, người ta có thái độ rất tiêu cực đối với Nhật Bản, nguyên nhân rất khách quan, cuối thế kỷ XIX-nửa đầu thế kỷ XX, Nhật Bản đã tham gia cướp bóc Trung Quốc cùng với phương Tây. Nhật đã 2 lần tấn công Trung Quốc và trong những năm Thế chiến II đã thực hiện một cuộc diệt chủng thực sự ở miền bắc Trung Quốc, hàng triệu người Trung Quốc bị giết (không có con số chính xác). Hơn nữa, Nhật Bản đến nay vẫn không chính thức xin lỗi về chính sách của chính phủ thời đó. Họ có tranh chấp lãnh thổ về quần đảo Senkaku ở biển Hoa Đông mà Nhật Bản chiếm giữ năm 1895. Trung Quốc cho rằng, Nhật Bản đã đến lúc trả lại các vùng lãnh thổ “lâu đời của Trung Quốc” và công khai tuyên bố về vấn đề này vào năm 1992. Năm 1999, tình hình thêm căng thẳng vì tại thềm lục địa đã tìm thấy các trữ lượng khí đốt lớn và cả hai nước đã chuẩn bị khai thác chúng. Cuối năm 2010, Nhật Bản thậm chí đã xem xét lại chiến lược quân sự, trong đó nguy cơ chủ yếu đối với Nhật được nêu ra không phải là Nga mà là vấn đề CHDCND Triều Tiên và cuộc chạy đua vũ trang do Trung Quốc phát động. Bởi vậy, Nhật Bản dự định tăng cường hạm đội tàu ngầm, hải quân, không quân và củng cố quan hệ hữu nghị với Mỹ. Bán đảo Triều Tiên Triều Tiên từ thời cổ đại bị coi là “thuộc quốc” của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc ủng hộ chế độ CHDCND Triều Tiên và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với cả 2 nước Triều Tiên. Nhưng không biết Trung Quốc sẽ ứng xử thế nào nếu trên bán đảo bùng nổ nội chiến và chế độ Bắc Triều Tiên sụp đổ. Một phương án có khả năng là Trung Quốc chiếm đóng Bắc Triều Tiên. Đài Loan Được coi là một bộ phận không thể chia cắt của Trung Quốc thống nhất. Từ năm 1992-1999, hai bên đã đàm phán tái thống nhất, song đổ vỡ vì lãnh đạo Đài Loan tuyên bố, Trung Quốc và Đài Loan là “2 nước ở 2 bờ eo biển Đài Loan”. Trung Quốc đã bắt đầu chuẩn bị giải pháp quân sự cho vấn đề Đài Loan. Mỹ và Nhật Bản hiện ủng hộ Đài Loan, Mỹ vũ trang cho quân đội Đài Loan. Nhưng điều gì sẽ diễn ra nếu Mỹ đối mặt với một cuộc khủng hoảng nội bộ nghiêm trọng hoặc một cuộc chiến tranh nữa (Iran, Pakistan…). Mỹ sẽ không thể bảo vệ Đài Loan, không đủ nguồn lực, hơn nữa công chúng Mỹ sẽ không hiểu: bảo vệ người Trung Quốc khỏi người Trung Quốc để làm gì. Giới tinh hoa Đài Loan đang tăng cường quân đội: hải quân, phát triển máy bay không người lái, tên lửa chống hạm, phòng không, đề nghị Mỹ bán các máy bay tiêm kích mới. (còn nữa)
-
Việt Nam sắp sản xuất siêu tên lửa Yakhont Quan hệ hợp tác Nga-Việt trong những năm gần đây đã có tính chất đối tác chiến lược. Nga là nhà cung cấp vũ khí lớn nhất của Việt Nam. Trong tương lai, hợp tác kỹ thuật quân sự song phương sẽ còn mở rộng hơn nữa. Nga đang hợp tác với Việt nam về tất cả các loại vũ khí trang bị. Trong quá trình hiện đại hóa hoàn toàn Hải quân, Việt Nam đã trở thành một trong những khách hàng lớn nhất của vũ khí trang bị hải quân Nga. Tổng giá trị các đơn đặt hàng mua vũ khí hải quân của Việt Nam có thể sánh với các hợp đồng hiện tại đang thực hiện cho Hải quân Ấn Độ. Cuối năm 2009, Nga và Việt Nam ký hợp đồng mua bán 6 tàu ngầm diesel Projekt 636 Kilo trị giá gần 1,8 tỷ USD. Ngày 26.8.2010, tại xưởng đóng tàu Admiralteiskye Verfi đã diễn ra lễ khởi đóng tàu ngầm đầu tiên trong 6 chiếc Kilo mà Hải quân Việt Nam đặt hàng. Các tàu ngầm Kilo của Việt Nam sẽ được trang bị hệ thống tên lửa Club-S. Ba tháng sau khi ký hợp đồng, hai bên đã bắt đầu đàm phán về việc xây dựng căn cứ tàu ngầm và hạ tầng liên quan. Dự án này trị giá dự đoán tương đương, hoặc thậm chí lớn hơn giá trị các tàu ngầm. Việt Nam muốn Nga cấp tín dụng xây dựng cả căn cứ tàu ngầm, cũng như các loại tàu khác (kể cả tàu cứu hộ và bảo đảm) và máy bay hải quân. Lực lượng tàu ngầm và không quân hải quân là những đơn vị mới trong quân đội Việt Nam. Dự án lớn thứ hai trong lĩnh vực vũ khí hải quân là chương trình mua sắm và đóng theo giấy phép các tàu tên lửa Molnya, tổng trị giá ước 1 tỷ USD. Trong thập niên 1990, Việt Nam đã nhận được 4 tàu tên lửa Projekt 1241RE Molnya trang bị hệ thống tên lửa chống hạm Termit. Năm 1993, Việt Nam mua giấy phép đóng các tàu tên lửa Projekt 1241.8 Molnya trang bị hệ thống tên lửa Uran Việc chuyển giao các tài liệu kỹ thuật, tiêu chuẩn và công nghệ để đóng các tàu này bắt đầu từ năm 2005. Từ năm 2006, bắt đầu quá trình chuẩn bị đóng tàu. Theo hợp đồng ký năm 2003, 2 tàu Projekt 1241.8 Molnya trang bị hệ thống tên lửa Uran dự định đóng tại Nga và 10 tàu còn lại đóng theo giấy phép tại Việt Nam. Tàu Molnya Projekt 1241.8 với hệ thống Uran-E đầu tiên được chuyển giao cho Việt Nam vào năm 2007, chiếc thứ hai vào năm 2008. Năm 2010, việc đóng theo giấy phép 10 tàu trong giai đoạn đến nă 2016 bắt đầu với việc khởi đóng tàu đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh. Nga vẫn tiếp tục chương trình cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam. Mùa hè năm 2002, 2 tàu tuần tra Projekt 10412 Svetlyak, do Hải quân Việt Nam đặt hàng đã được hạ thủy tại xưởng đóng tàu Almaz (St. Petersburg). Hai tàu này đã được bàn giao cho Việt Nam vào tháng 1.2003. Trị giá mỗi tàu là 10-15 triệu USD. Các tàu này đóng theo hợp đồng ký giữa Việt Nam và Rosoboronoexport vào tháng 11.2001. Tàu lớp Svetlyak dùng để bảo vệ hải phận, các tuyến giao thông ven bờ và chống đánh cá trộm. Vũ khí trên tàu gồm 2 ụ pháo АК-306, 1 bệ phóng tên lửa phòng không Igla-1М. Hồi đó, Việt Nam cũng bày tỏ ý định tiếp tục đóng tàu Svetlyak (tổng số lên tới 10-12 chiếc). Chương trình này tiếp tục vào năm 2009. Mùa hè 2009, 2 xưởng đóng tàu Nga (hãng đóng tàu Almaz và Nhà máy sửa chữa tàu Vostochnaya Verf ở Vladivostok) đã khởi đóng tổng cộng 4 tàu Projekt 10412 Svetlyak (mỗi xưởng đóng 2 tàu) theo đơn đặt hàng của Việt Nam. Projekt 10412 do hãng TsMKB Almaz ở St. Petersburg thiết kế. Tàu có khả năng đi biển tốt, tốc độ gần 30 hải lý/h. Tàu được trang bị 1 khẩu pháo, các súng máy phòng không, thủy thủ đoàn gồm 28 người. Hệ thống tên lửa bờ biển cơ động K-300P Bastion-P Việt Nam là khách hàng đầu tiên mua hệ thống tên lửa bờ biển cơ động К-300P Bastion-P sau khi ký hợp đồng mua 2 hệ thống này vào năm 2006. Nga đang chuẩn bị hợp đồng hỗ trợ Việt Nam sản xuất tên lửa chống hạm Yakhont. Hợp đồng này trị giá ước 300 triệu USD. Tháng 1.2002, công ty Kronshtadt đã cung cấp cho Hải quân Việt Nam hệ thống huấn luyện tổng hợp Laguna-1241RE. Kronshtadt đã sử dụng các công nghệ phần mềm hệ thống huấn luyện của công ty Tranzas để thiết kế hệ thống Laguna. Laguna được sử dụng để huấn luyện các kỹ năng điều khiển các tàu tên lửa lớp Projket 12141RE trang bị hệ thống tên lửa Termit được cung cấp cho Việt Nam trong những năm 1990. Việt Nam cũng bày tỏ ý định mua hệ thống huấn luyện tổng hợp cho 3 tàu Projekt 1241RE, Projekt 1241.8 và cho các frigate mới mua Gepard-3.9. Tháng 9.2006, hãng Rosoboronoexport đã ký hợp đồng với Hải quân Việt Nam nhằm hiện đại hóa hệ thống huấn luyện Laguna-1241RE và cung cấp các hệ thống huấn luyện mới cho các tàu tên lửa Projekt 1241RE và 1241.8 Molnya. Hợp đồng đã được thực hiện vào tháng 12.2007. Nga cũng đang thực hiện các dự án lớn bán máy bay chiến đấu và vũ khí phòng không cho Việt Nam. Theo Vietnamdefence
-
Chiến hạm Việt Nam: Tarantul I Tàu phóng tên lửa lớp Tarantul I (Molniya) đã có mặt tại Việt Nam vào năm 1999. Và Việt Nam mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Hiện Việt Nam có khoảng 4 chiếc Tarantul 1, và 2 chiếc Tarantul 5. Trong tương lai sẽ đóng thêm 20 chiếc Tarantul 1 nữa Tàu chiến Tarantul dùng để tác chiến tại các vùng cửa biển và ven bờ. Tàu Tarantul trang bị nhiều loại vũ khí hiện đại và các khí tài tiên tiến, có khả năng độc lập tác chiến và chiến đấu hiệp đồng trong đội hình biên đội. - Tàu tên lửa Tarantul được phát triển theo dự án số 12421 của Nga, bao gồm: Tàu chiến đấu, tàu bổ trợ và tàu tuần tra tại các vùng cửa biển, ven bờ. Tàu tên lửa Tarantul trang bị đầy đủ các thiết bị trinh sát và truyền tin, các hệ thống ra-đa trinh sát và kiểm soát xạ kích. Ra-đa có tầm bao quát toàn bộ vùng tác chiến trong tầm bắn của tên lửa, bám tín hiệu 15 mục tiêu và khoá tới 6 mục tiêu trong môi trường tác chiến điện tử. Hệ thống ra-đa kiểm soát bắn của pháo và tên lửa trên tàu có khả năng phát hiện các mục tiêu trên không, trên biển, tự động dò tìm các tín hiệu đặc trưng của mục tiêu và xử lý các tín hiệu đó chuyển thành dữ liệu tác xạ trên máy tính.* Vũ khí chính trang bị trên tàu Tarantul gồm: - Trang bị hệ thống tên lửa đối hạm với giàn phóng tên lửa U-ran phóng tên lửa hành trình Kh-35 sắp xếp thành hai hàng, mỗi hàng 8 ống phóng (16 tên lửa). Tên lửa hành trình Kh-35 dẫn bằng ra-đa chủ động giai đoạn cuối. Trên hành trình bay, tên lửa bay cách mặt nước 15 mét, ở giai đoạn cuối chúng hạ thấp độ cao và tiêu diệt mục tiêu chỉ ở độ cao từ 3 mét đến 5 mét. Tên lửa Kh-35 có cự ly tác chiến 130km, tốc độ tối đa khoảng 300 m/s, đầu nổ HE nặng 145 kg - Hoặc tên lửa hành trình đối hạm Moskit – SS-N-22 với 2 giàn phóng (tổng cộng có 4 tên lửa), tầm xa 90 – 120 km, tốc độ siêu âm. Tầm bắn tối đa 250km, tốc độ mach 3, trần bay cách mặt nước biển 20m, đầu nổ 320 kg (Loại ở Việt Nam chủ yếu trang bị loại này) - 12 tên lửa phòng không Igla-1M; - 1 pháo hạm 76mm AK-176M (với 316 viên đạn), tầm xa 15 km - Hai pháo phòng không 30mm AK-630M. Hệ thống ra-đa trên tàu có: Ra-đa trinh sát băng HF, UHF, ra-đa nhận biết mục tiêu không-biển, ra-đa điều khiển, kiểm soát xạ kích cho tên lửa. 2 hệ thống phóng mồi bẫy và mồi bẫy nhiệt PK-10 cỡ 120 mm hoặc PK – 16 dùng để chống ra-đa và hệ thống trinh sát quang học của các hệ thống vũ khí của đối phương. Đạn mồi bẫy PK-16 cỡ 82mm, tầm hoạt động từ 200 mét đến 1800 mét. Tàu tên lửa Tarantul có lượng giãn nước 550 tấn, trang bị máy chính 2 trục, động cơ tua-bin khí 32.000 sức ngựa, 3 động cơ Diesel, công suất 500kW mỗi động cơ. Tàu có tầm hoạt động 2400 hải lý, hoạt động liên tục trong thời gian 10 ngày. Toàn bộ thuỷ thủ đoàn trên tàu 44 người. Tàu còn trang bị các thiết bị điều hoà không khí, hệ thống thông gió tiên tiến nhất, bảo đảm cho tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết. Việt Nam đã mua bản quyền đóng loại tàu này trong nước. Sẽ có khoảng 20 chiếc sẽ ra đời tại Việt Nam Theo một số nguồn tin nước ngoài, 2 tàu Tarantul 5 cũng đã có mặt tại Việt Nam . Đây chính là 2 tàu đầu tiên thuộc Project 1241.8 “Thần Sấm”. Tarantul 5 có tầm hoạt động và hệ thống vũ khí tấn công hơn hẳn Tarantul 1. 2 chiếc này nằm trong hợp đồng mua 12 chiếc Taratul 5 mà VN đã ký với Nga. Số còn lại sẽ do VN tự đóng theo công nghệ được chuyển giao . Theo một số chuyên gia nước ngoài phân tích, Với 2 chiếc Gepard (sẽ về Việt Nam cuối năm 2009) và trên 20 Tarantul hải quân Việt Nam sẽ tiến tới thành lập hạm đội biển Đông với trên dưới 30 chiến hạm hiện đại. Được biết khu trục hạm Gepard dài 102m, trọng tải 1,900 tấn, tốc độ 26 knots, trang bị 8 hỏa tiễn SSN-25, có từ một tới ba đai bác 76 ly, bốn ống phóng thủy lôi và có khả năng tránh radar sẽ là một đối thủ đáng gờm cho các hạm đội các nước khác trong khu vực (theo vndefence.info )
-
Cái lợi của 10 năm nói dối vợ Trong 10 điều cấm của vợ tôi, nghiêm trọng nhất là cấm nói dối. Thế nhưng sự thực là suốt 10 năm sống với nhau, tôi nói dối nàng liên tục. “Trên đời này em ghét nhất là dối trá. Vì thế, dù sự thật khó nhằn thế nào anh cũng phải nói với em, hễ nói dối là tình vợ chồng đứt cái phựt đừng hòng nối lại”, nàng phủ đầu ngay khi tôi cầu hôn. Tôi trịnh trọng hứa trước khi lồng nhẫn vào tay nàng. Kể từ đó, nàng yên tâm là đã trói tôi như đã buộc cổ dề vào con cún. Tôi đi họp thì báo là họp, nhậu thì khai là nhậu, không như mấy gã hư hỏng cứ than họp hành triền miên trong khi mài đũng quần trên chiếu nhậu đến ê cả mông, nhầu cả mặt. Vợ tôi đến giờ vẫn vô cùng tín nhiệm, coi tôi là lão chồng ngoan ngoãn thật thà. Vì thế nên mong các bạn giữ kín hộ những gì tôi chia sẻ hôm nay: Sự thật là tôi nói dối vợ suốt. Tôi không thể không thấy là nói dối vợ nhiều khi rất có lợi, thậm chí siêu lợi. Bao nhiêu năm nay trước mặt vợ, tôi vẫn ra vẻ một thằng chồng cù lần rỗng ví, vợ cho bao nhiêu tiền thì tiêu bấy nhiêu, vì bao nhiêu lương lậu đã nộp cho nàng cả. Thỉnh thoảng tôi còn vờ vịt là lỡ đi nhậu hết cả tiền, xin thêm ít để ăn trưa. Nàng không bao giờ biết là tôi có quỹ đen. Trong các bạn, những ai là đàn ông thì hết thảy phải đồng ý với tôi rằng, phàm đã bị vợ thu hết tiền lương, anh nào bảo không có quỹ đen thì một là hắn nói dối, hai là hắn không phải thằng tử tế với vợ. Tại sao ư? Hãy xem tôi làm được gì với cái quỹ đen của tôi. Mỗi ngày vợ cho tôi 100 nghìn (tính theo giá trị tiền đồng hiện nay nhé). Tôi ăn sáng mất 25 nghìn, ăn trưa mất 40 nghìn. Hôm nào “đi lạc” sang cái quán bên cạnh với mức ăn sáng 35 nghìn, ăn trưa 65 nghìn là hết cả tiền xăng xe. Thế nhưng đàn ông chúng ta, có anh nào không cà phê cà pháo, không rượu bia nhậu nhẹt? Lấy tiền đâu ra? Quý đen chứ đâu. Đó là tiền tôi cặm cụi làm thêm, tiền cơ quan thỉnh thoảng bổ sung quỹ lương… Nhờ nó, ngày 8/3, sinh nhật nàng…, tôi có thể tặng nàng một bó hoa thật sang, bộ đồ lót thật xịn, cái túi xách thật oách, khai giá giảm đến 70% rồi nói dối nàng (lại nói dối) rằng “đó là tiền anh nhịn ăn sáng suốt một tuần”. Vợ tôi cảm động muốn khóc, sau đó lén dúi thêm tiền vào túi chồng. Có quỹ đen, tôi ăn nhậu, tiêu xài… mà vợ chẳng hay biết gì hết. Thử tưởng tượng nếu không có quỹ, kiểu gì tôi cũng phải xin tiền nàng cho những vụ đó chứ không nhịn được. Sĩ diện của thằng đàn ông tôi chẳng màng, tôi chỉ nghĩ nếu vợ thấy phải chi đến mấy triệu đồng một tháng cho những thứ ba lăng nhăng vớ vẩn ấy thì sẽ xót xa đứt ruột, tội cho nàng biết bao. Lập quỹ đen, âu cũng là vì yêu vợ, thương vợ vậy. Thực ra tôi không chỉ nói dối vợ mỗi chuyện tiền. Cả về tình tôi cũng dối nốt. Dĩ nhiên là tôi luôn yêu nàng, nhưng tình yêu sau 10 năm lấy nhau không thể sôi nổi như thuở ban đầu, hễ thấy nhau là “tim đập chân run” được. Mỗi lần phải đi công tác xa vài ngày, tôi không thể cồn cào nhớ nàng vì ngày mải làm việc, đêm nhậu với bạn rồi ngủ tít trong khách sạn. Thế nhưng với thói lãng mạn, nàng không chấp nhận điều đó. Thế nên tôi vẫn luôn nói rằng tôi nhớ nàng phát điên lên được, rằng tôi yêu nàng không khác gì ngày xưa… (sự thật là tôi yêu nàng chẳng kém ngày xưa, nhưng chắc chắn phải khác ngày xưa). Lại còn chuyện nàng hỏi tôi về nhan sắc của nàng nữa, dĩ nhiên tôi lại phải nói dối. “Em già quá rồi phải không anh?”. “Anh xem này, em ngày càng béo”. “Anh thấy bụng em có to quá không?’. Bạn thử nghĩ xem, nàng chẳng nói câu nào sai, nhưng chẳng lẽ tôi lại gật đầu lia lịa? Tôi lập tức cao giọng mắng nàng: “To gì? Em có bụng đâu mà to?”. “Đồ ngốc. Anh cực kỳ ghét loại đàn bà chẳng có tí da thịt nào”. (Tôi nói “da thịt”, tránh đề cập đến khái niệm “mỡ”). “Em dở hơi à? Em ra ngoài đường mà xem cái bọn sinh viên mới ra trường có trẻ được bằng em không?”. Vợ tôi yên tâm ngay. Có thể nàng thấy mình chẳng xinh như tôi ca ngợi, nhưng nàng nghĩ điều quan trọng là chồng thấy mình xinh. Thế là nàng lại đủ tự tin để nhí nhảnh, nũng nịu với chồng như cũ. Và còn vô số điều khác, tôi đã nói dối nàng. Chẳng ngụy biện đâu, tôi nói dối vì thấy… có lợi đã đành, còn vì tôi yêu nàng nữa, dù tình yêu không giống như ngày xưa. Một lần nữa xin nhắc các bạn đừng mách vợ tôi để điều tôi thổ lộ hôm nay vẫn tiếp tục là bí mật với nàng. Mà nếu các bạn có mách cũng chẳng sao, bởi vợ tôi sẽ cho là các bạn nói dối nàng, hoặc nãy giờ tôi đã nói dối các bạn cho vui, vì hôm nay là Ngày Nói dối 1/4 mà. St
-
Những thủ đoạn quân sự của Trung Quốc đối phó với các nước trong vấn đề Biển Đông Nhằm âm mưu độc chiếm Biển Đông của mình, Trung Quốc trong thời gian vừa qua không chỉnh tiến hành nhiều hoạt động kinh tế nhằm tạo dự luận và khẳng định cái gọi là “chủ quyền” trên Biển Đông, thì bên cạnh đó nước này còn phô diễn nhiều thủ đoạn quân sự khác nhau. Để có một cái nhìn tổng quan nhất giúp bạn đọc them hiểu rõ âm mưu thâm độc của Trung Quốc, VIT xin phân tích những nét cơ bản nhất về thủ đoạn quân sự của Trung Quốc nhằm vào các nước đang có cùng mục tiêu tranh chấp tại khu vực biển đầy nhạy cảm này. Hiện nay, đối với vấn đề Biển Đông, Trung Quốc luôn coi Việt Nam, Philippin, Malaixia và Indonexia là những đối thủ trực tiếp uy hiếp và cản trở chính trong âm mưu độc chiếm Biển Đông của mình. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng rất coi trọng và chú đến sự phát triển về hải quân, không quân, khu vực hải cảng, sân bay, căn cứ hậu cần và lực lượng tình báo của các đối tượng nói trên. Do đây là những lực lượng trực tiếp uy hiếp tới khả năng tác chiến của lực lượng vũ trang nước này. Ngoài ra, Trung Quốc cũng hết sức “lưu tâm” đến các nước có khả năng làm đối tác quân sự như cung cấp vũ khí, hậu cần, chi viện tình báo đặc biệt là những nước có tiềm lực quân sự mạnh có ảnh hưởng hoặc tác động tới kết cục cuộc chiến nếu như Trung Quốc gây chiến với các đối thủ nói trên. Do đó, giới chức quân sự nước này nhận định, phương thức tác chiến chủ yếu một khi có hoạt động quân sự nổ ra đó là bao vây các đảo, sau đó tiến hành đột kích, tập kích đánh chiếm. Nguyên nhân là do, hiện nay số đảo thuộc quần đảo Trường Sa nhiều song do diện tích nhỏ hẹp, số lượng quân đóng trên đảo có hạn, chính vì thế trong điều kiện cho phép nên sử dụng phương thức tấn công đột kích qua đó rút ngắn thời gian tác chiến trực tiếp tránh được tổn thương. Giai đoạn 1: Chuẩn bị hậu cần kỹ thuật. Giai đoạn 2: Chia binh lực làm hai hướng, một hướng có nhiệm vụ phong tỏa thu hút sức tập trung của đối phương, gây cản trở, một hướng tiến hành tập kích đánh chiếm đảo. Giai đoạn 3: Tiếp tục gia tăng áp lực, tiêu hao sinh lực chủ yếu của đối phương, qua đó ép đối phương tiếp tục triển khai hành động phản công. Giai đoạn 4: Cố thủ trên đảo, chờ viện quân đến tiếp viện bằng đường thủy hoặc không quân. Giai đoạn 5: Giai đoạn kết thúc cuộc chiến. Từng bước biến khu vực Trường Sa trở lại trạng thái bình thường. Tuy nhiên, nếu như có cuộc chiến đánh chiếm đảo tại khu vực này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của nhiều nước như: Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Nga và Đông Nam Á, chính vì thế giới chức quân sự nước này nhận định có nhiều khả năng một trong số quốc gia có lợi ích nói trên sẽ “phản ứng” bằng cách chi viện vũ khí, hậu cần và tình báo. Theo nhận định, chỉ có Mỹ, Nhật và Ấn Độ là có nhiều khả năng nhất chi viện bằng cách cử quân đội, chi viện đường thủy. Do có sự tham dự của nhiều quốc giai có cùng lợi ích nên có nhiều khả năng cuộc chiến này nếu nổ ra sẽ kéo dài. Đây thực sự là một đòn chí tử đối với ngành công nghiệp trong nước của Trung Quốc. Bởi hầu hết hàng hóa xuất khẩu của quốc gia này đều đi qua Biển Đông, eo Malacca để đến với các đối tác. Bên cạnh đó, sự chi viện còn “bỏ ngỏ” của các cường quốc quân sự như Mỹ, Nga, Ấn Độ…cũng đang là một trở ngại đối với âm mưu độc chiếm Trường Sa của Trung Quốc. Nếu như Trung Quốc cố tình gây chiến thì hâu quả thật khó có thể dự đoán trước. Do đó, bước đầu tiên để thực hiện âm mưu này đó chính là từng bước “hóa giải” các trở lực đến từ các nước bên ngoài. Bằng cách trực tiếp đối phó “ một đối một” với Việt Nam. Song, một trở ngại là Việt Nam luôn đặt việc giải quyết vấn đề Biển Đông bằng phương thức hòa bình, ngoại giao. Đó là một “trở lực” để Trung Quốc không thể tìm ra lý do đơn phương phát động cuộc chiến riêng giữa hai nước. Chính vì thế, thời gain qua Trung Quốc luôn tăng cường một hệ thống các kế hoạch đầy tính “khiêu khích” nhằm “dụ dỗ” Việt Nam nổ súng trước qua đó hợp thức hóa cuộc chiếm trong “mộng tưởng” của mình. Tuy nhiên, khả năng Mỹ có thể nhảy vào cuộc chiến vì lợi ích to lớn của mình tại khu vực này vẫn còn, nên phương thức hữu hiệu nhất hiện này đối với Trung Quốc vẫn là chờ đợi. Vậy câu hỏi đặt ra là: Trung Quốc sẽ phải chờ đợi bao lâu nữa để hoàn thành giấc mơ độc chiếm Biển Đông của mình? Thời điểm đó chính là khi lực lượng hải quân, không quân nước này có đủ khả năng tác chiến tầm xa và có thể thực sự đối trọng được với lực lượng hải, không quân của Mỹ và một số cường quốc quân sự khác. Theo dự đoán, thời điểm đó có thể là năm 2040 – 2050. Theo Báo mới