Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

phoenix

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    1107
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2

Everything posted by phoenix

  1. Nguồn: dactrung.net TIẾNG HÓT LOÀI CHIM DI Từ thời thượng cổ, người Việt thờ chim Thần - Thần điểu. Trong loại chim Thần đó có chim Trĩ Trắng là sứ giả văn hóa Việt. Việt Thường Thị đem cống (trao đổi văn hóa) chim Trĩ Trắng và Rùa Thần. Trên mai rùa có chữ Khoa đẩu của Việt tộc in rõ dấu tích, thần thoại về sự hình thành vũ trụ vạn vật của Thần đạo chính thống Việt Nam. Ngoài ra Việt tộc thờ chim lạc - Thần điểu Việt. Sau này Ðinh Tiên Hoàng lên ngôi lấy Quốc hiệu là Ðại Cồ Việt. Cồ là đôi mắt lửa sáng rực của loài linh điểu. Truyền thuyết linh thiêng đó là tâm linh muôn đời của người Việt tự ngàn xưa. Không phải vô tình mà người Việt ngày nay hay nhắc tới loài Việt điểu. Thời Bách Việt, nước ta giòng Việt tộc đã cư trú gần phân nửa nước Tàu ngày nay. Sau thời chiến quốc, giòng Bách Việt bị Hán đồng hóa, còn lại giòng Lạc Việt anh hùng nhất loài Chim Việt kiêu hùng đó trải qua muôn vàn gian khổ, máu xương giữ nước cho mãi đến ngày nay. Sự tích Chim Việt đậu cành Nam cũng ghi dấu ấn đau buồn của những người phải xa quê hương cội nguồn, tổ quốc. Con Chim Việt khi bị đưa đi về đất Bắc đã chọn cành hướng Nam mà đậu mà hót... Từ trong tiềm thức, thần thức Việt đã có bóng dáng chim linh vì thế mà kẻ tha hương bốn bể không phải vì vô tình mà than mà thốt lên lời ai oán. Tinh thần đó, tâm linh đó lại bắt đầu vọng lên âm hưởng của loài chim Việt cành Nam xưa. Khắc khoải sầu đưa giọng lẳng lơ. Ấy hồn Thục đế thác bao giờ. Năm canh máu chảy đêm hè vắng. Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ (Nguyễn Khuyến). Ðến nay thì giòng lịch sử đen tối của loại ma quỷ ý thức hệ vong thân khiến người Việt lại một lần lưu vong, hằng hà sa số, hằng triệu người Việt lại bỏ quê hương trên những nẻo đường Thủy Mộ Quan (Viên Linh) để đi tìm tự do, lẽ sống nhân đạo hơn, ở đất nước người - Tiếng Hót loài Chim Di - chim Việt của Song Nhị lại một lần lên tiếng u hờn khắc khoải làm động lòng người, chấn động tâm can, tâm linh và nghĩa khí hào kiệt của dân tộc Việt ở bốn phương trời, gợi cho lòng kẻ sĩ phương Nam dấy lên những hoài vọng, hoài bão lớn lao, một ý thức về trách nhiệm của người trí thức về lịch sử của thời đại mình phải làm gì để giành lại quê hương, giữ lại tinh thần và đạo lý Việt, để thể hiện cái tự-do tuyệt đối của đời mình. Và, nói như Khổng Tử “uy vũ bất năng khuất” - nói như Nguyễn đức Quỳnh “tư tưởng bất năng hoặc” trước loại “Cùm Ðỏ” của bạo lực phi nhân tham tàn này. Tiếng Hót của loài Chim Di đã lên tiếng nhiều lắm, rất hàm xúc nhiều điều mà ở tại quê hương này khó lòng người dân nói được. Viết đến đây tôi bồi hồi nhớ đến bao người bạn đã ra đi rời xa tổ quốc. Tôi nhớ đến bao lần nghe những con Chim Việt lên tiếng hót thần kỳ ở khắp mọi nẻo đường tha hương biệt xứ. Và ao ước tất cả những người xa xứ trở về trong bản Anh hùng ca độc lập tự do muôn thuở tại quê hương mình. Những con Thần điểu Việt nay ở phương trời nào? Trên núi cao có con Thần điểu Ba năm thu cánh không tiếng kêu Ngày hận mây mờ che bóng lửa Ðêm hờn thơ lặn rải sườn rêu A ha! Thần điểu còn nương náu Chờ ngày thét nở núi khe sâu.... Con Thần điểu bay về đâu từ ngày núi non thay trời đổi chủ, trở thành hình bóng chim Việt cành Nam ở tận phương trời hải ngoại nào. Tôi có cảm tưởng đầu tiên như vậy khi đọc “Tiếng hót loài chim di” của Song Nhị, có lẽ tập thơ này là tập thơ “gay cấn” nhất của Song Nhị đây - nói như giọng của thi sĩ họ Bùi. Ðối với họ Bùi, chuyện gì ghê gớm lắm đều dùng chữ “gay cấn” này mà diễn tả ra cho nó có vẻ... chịu chơi một chút. Sự điêu linh nào đã tạo cho Song Nhị viết tập thơ gay cấn này đến thế. Ðiêu linh đó thuộc về bi kịch đồi tranh “Hãi hùng bi kịch đồi tranh!” (B.G) của dân tộc Việt. Ai cũng biết là cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa Quốc Gia Tự Do và Ðộc tài đảng trị Cộng Sản. Và điêu linh nhất phe Tự Do thất bại để đất nước rơi vào tay giặc Cộng khiến ta nhớ đến từ Nguyễn thái Học, Nguyễn tường Tam - Ông, trước khi tự vẫn, còn kịp ghi: “Anh em Ngô đình Diệm phải chịu trách nhiệm để nước mất vào tay Cộng Sản” - cho mãi đến ngày nay một bức màn vô hình phủ khắp non sông bằng sự dối trá tham tàn, tội ác và tham nhũng, tất cả đều được tẩy não bằng nhục hình bạo lực cho đến tận vô thức, tiềm thức tim óc của dân tộc. Mà tiếc thay một số người Việt hải ngoại quá vô tình, vô ý không nhìn thấy rõ được. Ðình miếu thần linh đất Việt, chùa chiền, nhà thờ đều sống trong vòng vây ý thức hệ Xã Hội Chủ Nghĩa - đường lối tư tưởng văn hóa, nghệ thuật đều thoát thai từ trường trại Xã Hội Chủ Nghĩa. Và tất cả đều là một lũ văn nô cả đến Hoàng Cầm ngày nay cũng không hơn gì Phạm Duy, hay Trịnh Công Sơn trong chiến lược văn hóa Ðảng cả. Ngày đêm bọn giáo sư Hoàng như Mai, Trần Bạch Ðằng, Trần trọng Ðăng Ðàn và lũ văn nô Bắc Việt ra sức đánh phá văn nghệ miền Nam tự do một cách điên cuồng u mê ám chướng... đến khôi hài! Tất cả chỉ vun hồi cho cái gốc đại thụ tham nhũng ngu dân để bảo vệ cái tổ quốc non sông mà bọn Mông Cổ này mới cướp được để phụng thờ Mác-Lê. Nước mất nhà tan! Xưa nay cũng thế thôi! May ra thân phận và đời người còn được ra khỏi cái màn ma quỷ của Xã Hội Chủ Nghĩa - để sống lưu vong trong sự tự do quí báu nhất của cá nhân mình, dù thế nào đi nữa còn hơn vạn lần anh em mình ở lại, để hằng ngày chạm mặt với kẻ thù luôn khủng bố quanh mình loài chim Việt đó cũng có ngày quay lại. Chờ ngày thét vỡ núi khe sâu. Và anh em ta không có quyền nỉ non than vãn nữa. Tôi còn nhớ mấy vần thơ của ông Lam Giang Nguyễn trang Trứ dịch: Ðại Vương cờ phất ải xa Ngậm ngùi thấy bạn đã là quỷ oan Bừng sôi máu hận muốn tràn Vần thơ mọn có muôn ngàn kiếm đao! Hồ Hữu Tường hay Vũ Khắc Nam hay nhiều vị văn hóa lão thành từng nói. Thời đại chúng ta là thời Tân Xuân Thu - thời Chiến Quốc Mới - những con chiến mã vẫn còn đất tung hoành. Sức kiệt hơi tàn thì chiến đấu bằng văn, có tiền của thì chiến đấu bằng kinh tế tự do, bằng tất cả mọi thứ gì ta có được, thời thế Xuân Thu mà - Gặp thời thế thế thời phải thế! Trong trần ai ai dễ kém ai! Ðừng quên Chim Việt đậu cành Nam, bao giờ chân lý và nhân nghĩa cũng thắng bạo ngược tham tàn, tinh thần dân tộc Ðại Việt còn đó. Bản anh hùng ca bất tử vẫn còn đúng, thì người tự do Quốc gia làm văn hóa đã thắng Cộng từ lâu rồi. Bọn Cộng Sản làm gì có văn hóa mà nói đến chen vai thích cánh với chúng ta được phải không anh em! Bây giờ thì mời quí bạn yêu thơ, cùng tôi đọc những vần thơ, đúng nghĩa chân tình của nhà thơ Song Nhị gởi đến bằng hữu bốn phương và “Quê hương yêu dấu” của chúng ta - chúng ta không khóc lên vì quê hương nữa, như cô gái trong thơ Hoàng Trúc Ly độ nào: Những người xưa đi rồi không trở lại Một mình tôi lại gặp một mình em Chiều lửng lơ nghe nắng rụng bên thềm Em không khóc - mắt buồn ươn ướt đỏ! Hoàng Trúc Ly Ta hãy bắt đầu từ “Tiếng Hót loài Chim Di” để rồi chuyển âm nó thành những âm điệu cuồng phong thác lũ của mối Hờn Chiến Mã trên bãi sa trường vẫn còn đầy đủ khí độ anh hùng của những Chàng Trai Ðất Việt (Nguyễn Vỹ). “Tiếng Hót của loài Chim Di” còn là tiếng hót của thơ, của kỷ niệm êm đềm, của cuộc tình nồng ấm của men tình đầy hoa trái ngọt có thủy có chung! Thời thế này mà con người còn giữ được những thủy chung và kỷ niệm thì thật là hạnh phúc, đó là nhà thơ Song Nhị đấy bạn ạ! Chàng là một Gérar de Nerual của chúng ta đấy. (Trích bài Tiếng Hót Loài Chim Di trang 13, 14, 15, 16) T I Ế N G H Á T L O À I C H I M D I 1. Hỡi bầy chim trên khóm rừng già hỡi đàn ngựa hoang trên cánh đồng khô hãy thức dậy từ giờ nghe tiếng hát và nghe lời giục giã Hãy tiếp tục bước đi đi suốt một ngày một tháng một năm một đời Một đời sống chết không nguôi Hãy mang đi những điều dang dở hãy bước đi trên vô tận con đường sẽ có gì trọn vẹn? một niềm vui mấy nỗi buồn! 2. Hỡi trái tim đời đời là máu đỏ đời đời là yêu thương sao cả trăm năm trên quê cha khốn khổ trên đất mẹ nhục nhằn khổ đau và bội bạc 3. Hỡi thân yêu trăm nghìn lần yêu dấu cuộc biển dâu làm vỡ vụn tinh cầu thời gian qua chưa đủ mờ dĩ vãng nên lòng còn trên chóp đỉnh thương đau nên lòng còn trăm nghìn lời muốn nói nên tình còn trăm nghìn điều mến thương trong nỗi ngây ngất không cùng hãy ném hồn lên đỉnh ngọn sầu đông uống cạn sương mai giữa bầu trời lạnh giá 4. Nếu im lặng như một chấp nhận nếu bước đi như một an bài nói làm gì để một đời không nguôi thao thức thêm nhọc nhằn cho toan tính ngày mai 5. Hãy uống đi uống cạn khối tình sầu nhung nhớ hãy nghĩ về cuộc trùng phùng là giả thuyết ước mơ hãy tạm quên ngày đau thương khổ nạn để được yêu nhau hơn cả bao giờ 6. Trời sẽ nắng cây rừng hoang sẽ dậy Bầy chim di sẽ vỗ cánh bay về Ngày sẽ tới và mặt trời sẽ mọc Hỡi loài người vội vã tỉnh cơn mệ song nhị
  2. Trích: Nguồn: Khoahoc.net CỘNG ĐỒNG BÁCH VIỆT HIỆN THỰC LỊCH SỬ CỦA TRUYỀN THUYẾT “TRĂM TRỨNG NỞ TRĂM CON” Phạm Trần Anh ".....Thật vậy, đã là Tiên thì Mẹ Âu Cơ có thể làm bất cứ điều gì mà người phàm không làm được … đó là đẻ ra “trứng” thuộc phạm trù tín ngưỡng nguyên thủy cũng như phạm trù tôn giáo đòi hỏi phải có niềm tin một cách mặc khải ..v. v… Gạt sang một bên vấn đề tự tình dân tộc để tìm hiểu xem tại sao Mẹ Âu lại đẻ ra “trứng”, chúng ta thấy rõ hàm ý sâu xa của tổ tiên ta. Thật vậy, ý niệm trứng trong huyền thoại biểu trưng Totem vật linh biểu trưng của Việt tộc là tộc người thờ chim (bái điểu tộc) là một con vật đứng đầu trong tứ linh: nhất điểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng. Nguồn thư tịch cổ cũng cho ta biết “Lạc bộ Chuy” là chi tộc Việt đầu tiên từ vùng Cao Nguyên Côn Sơn Hi Malaya tiến xuống Trung Nguyên qua vùng núi Dân, Ba Thục. Lạc bộ Chuy là chi Việt cổ của họ Hồng Bàng có vật biểu là chim Việt (Việt điểu, Lạc điểu), ông cha ta đã theo dấu chim Hồng, chim Lạc thiên cư xuống vùng đất miền núi Dân, Ba Thục cũng được gọi là Châu Phong. Địa danh Phong Châu ở Bắc Việt Nam cũng chỉ là nhắc lại địa danh cư trú ban đầu của Việt tộc nơi mà mẹ Âu dẫn 50 con lên núi rồi suy cử người con trưởng làm vua nước Văn Lang… như truyền thuyết kể lại. “ Âu Cơ và 50 con lên đất Phong Châu, suy phục lẫn nhau cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là VĂN LANG, Đông giáp Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Bắc tới Động Đình Hồ, Nam tới Hồ Tôn (Chiêm Thành)”.
  3. Trích: Hưng Việt - Bài viết của tác giả KIM ĐỊNH (nguồn: catholic.org.tw) "6. Ðiểu tục còn được thực hiện bằng các bà đều mang tên chim. Bà Âu Cơ là chim hải âu. "Vụ" tiên trên ngũ Lĩnh thì "vụ" là cò bể. "Lộ" bàn, lộ bộc thì lộ là cò trắng. Còn các bà khác không mang tên chim thì trong đồ mặc lại có lông chim. Như Mỵ Châu rải lông chim cho Trọng Thủy biết đường là rút lông trong đồ mặc. Rõ nhất là khi tế tự hay ca múa (ca múa để tế tự) thì đều có mang lông chim như ta thấy đầy trên trống đồng. Ðồ mặc đó chữ Nho kêu là "vũ nghi". Tự điển Hán Việt Ðào Duy Anh còn ghi nghĩa là: "lông chim hồng dùng làm đồ nghi sức". Tôi ghi tên sách vì cho đó là một sự may chứ còn hầu hết các sách khác đã đánh mất ý nghĩa nguyên thủy nên không hiểu được ý câu "nghi thường vũ y khúc" chỉ là khúc ca vũ có mang lông chim hồng. Với Hồng Bàng còn trơ trơ ra đó vậy mà để mất ý nghĩa người ta chiếm mất. 7. Tức sau chữ "nghi" cũng là "nghê" thành ra "nghê thường vũ y khúc" chữ "nghê" có nghĩa là màu ráng đỏ hay đỏ màu ráng, màu của mặt trời lúc mới mọc. Và bản "nghê thường vũ y khúc" là bài hát chào mặt trời lúc mới mọc mà Khuất Nguyên gọi là "Ðông Quân" là vì đó. Tục ngữ Việt Nho có câu: "Phượng Minh Triều Dương" "Con Phượng hót (minh) chào mặt trời buổi mai". Sách Quảng Ðông Tân Ngữ ghi là "tùy dương Việt trĩ" = con trĩ của Việt tộc khi bay thì theo hướng mặt trời. Như có ghi lại trong "Vân Ðài Loại Ngữ" bản dịch Phạm Vũ và Lê Hiền nhà xuất bản Miền Nam trang 519. Nên ghi nhận con phượng chính là chim Việt trĩ này đây. (xem ghi chú cuối sách Triết Lý Cái Ðình). Văn tự ghi chép lại rành rẽ vậy thế mà sau có truyện Ðường Minh Hoàng nằm mơ lên chơi Cung Quảng Hàm, được xem tiên múa bài "Nghê thường Vũ y khúc" tức coi khúc hát đó là của tiên. Thế là Việt trơ ra cứ tưởng bài đó là ở cõi tiên hay có dưới trần gian thì cũng mãi ở bên Ấn Ðộ chứ không ai dám nghĩ - dù chỉ có ý nghĩ - đến rằng đó là tên bài vũ của tổ tiên ta hay còn tạc ghi trong trống đồng. Thôi tạm chấm dứt ở đây về chữ Tiên của Mẹ."
  4. Một người dân TP HCM bắt được con rắn 2 chân Thứ sáu, 11/7/2008, 10:06 GMT+7 Ngày 9/7, anh Nguyễn Văn Kỳ, 38 tuổi, quê quán Bắc Ninh, ngụ đường Nguyễn Văn Quá, phường Tân Hưng Thuận, quận 12, TP Hồ Chí Minh đã bắt được một con rắn có 2 chân. Sự việc gây xôn xao dư luận. Theo anh Kỳ, con rắn trên là rắn hổ mang, thuộc dòng hổ Vểnh, chiều dài đo được khoảng 2 mét, nặng 1,3 kg. Anh Nguyễn Văn Kỳ bên con rắn hai chân Quan sát của chúng tôi, vị trí hai chân của con rắn nằm cách đuôi khoảng 40 cm, ước tính diện tích mỗi bàn chân khoảng 1 cm². Ở mỗi bàn chân khoảng hơn chục ngón chân và có móng sắc bén. Ngay sau khi bắt được con rắn trên, do không biết con rắn có chân, anh Kỳ đã rạch bụng con rắn, đến khi gần đến đôi bàn chân mới phát hiện mình đang giữ con rắn quý. Cụ ông Nguyễn Văn Trụ, 80 tuổi, thân sinh của anh Kỳ, khẳng định: “Theo kiến thức về nghề rắn thì đây là con rắn cực độc do những đắc tính của cơ thể con rắn khác thường”. Anh Nguyễn Văn Kỳ là đời thứ 3 trong gia đình theo nghề bắt rắn. Anh cho biết thêm: “Tôi bắt đầu đi giăng lưới bắt rắn từ năm 16 tuổi, đến nay đã hơn 20 năm. Tuy nhiên với những con rắn dị dạng như trên thì chưa lần nào gặp”. Anh Kỳ mong muốn, với tổ chức nghiên cứu về động vật bò sát này có nhu cầu anh sẽ sẵn sàng hợp tác. Có nhiều người ngỏ ý anh bán con rắn trên để phục vụ cho nhu cầu “ẩm thực” nhưng anh không bán.
  5. Thiển ý của Phoenix thì bạn nên đổi nick Nhất Chi Mai hoặc không dùng nó thường xuyên. Một thứ đã trong trắng, tinh khiết lại đơn độc thì dù nỗ lực không ngừng để vươn lên, tỏa ra sắc trắng cũng vẫn trong cảnh khắc nghiệt, căng thẳng và khó khăn. Sống hài hòa dù chỉ là cỏ nhưng gió không đổ, mưa không phiền, nắng không lụi, lúc nào cũng xanh và êm dịu thì có lẽ thư thái và dễ thành công hơn. Thân.
  6. Một lá số chưa đúng cách chưa đáng lo nhưng chán ghét cuộc đời và số mệnh của mình thì sẽ thành đáng e ngại.
  7. Nguồn: http://www.tintuconline.com.vn Tìm thấy 'cỗ máy đẻ sao' hiếm hoi trong vũ trụ Thứ bảy, 12/7/2008, 11:02 GMT+7 Các nhà thiên văn đã khám phá ra một cỗ máy đẻ sao đặc biệt - một thiên hà ở rất xa đang phun ra những vì sao ở tốc độ đáng kinh ngạc, khoảng 1.000 đến 4.000 vì sao mỗi năm. Với tốc độ này, thiên hà nói trên chỉ cần khoảng 50 triệu năm, không phải là quá dài theo thời gian vũ trụ, là đủ để mọc ra một thiên hà tương đương với hầu hết các thiên hà khổng lồ chúng ta thấy ngày nay. Thiên hà "Baby Boom" cách chúng ta 12,3 tỷ năm ánh sáng, được đặt biệt danh này vì đang đẻ hàng loạt vì sao cùng lúc. (Ảnh: Reuters) "Hãy so sánh, Milky Way của chúng ta chỉ sản sinh ra trung bình 10 ngôi sao mỗi năm", phát ngôn viên của Cơ quan Vũ trụ Mỹ cho biết. Phát hiện mới đi ngược lại với giả thuyết phổ biến nhất hiện nay về sự thành tạo của thiên hà. Theo giả thuyết đó, có tên là Mô hình Hierarchical, các thiên hà đẻ sao một cách chậm chạp nhờ hấp thụ những mảnh vụn tí hon của các thiên hà khác, chứ không phải theo cách bùng nổ như quan sát thấy trong thiên hà "Baby Boom" mới được tìm ra. Theo T. An
  8. Nguồn: http://www.tintuconline.com.vn Bi hài chuyện thi đại học Chủ nhật, 13/7/2008, 16:11 GMT+7 Thắp hương, ngồi lần tràng hạt, tìm người hợp "vía" để đón đi thi, kiêng cữ mực, mít, quẩy... là một vài trong vô vàn cách thức được các sĩ tử áp dụng trong mỗi mùa thi. >> Những chuyện "lạ" trong mùa thi Trong kỳ thi đại học vừa qua, bác Quý (Tây Hồ - Hà Nội) vẫn nhớ như in hình ảnh cậu con trai trong ngày đầu tiên đi thi đại học. 3 giờ sáng, đang ngủ, bác Quý chợt choàng tỉnh vì mùi trầm hương thơm ngát. Bác nhủ thầm chắc bà nội dậy sớm thắp hương cầu cho đứa cháu đích tôn gặp nhiều may mắn. "Lên đến nơi, khẽ mở cửa, tôi mới giật mình khi thấy con đang ngồi trước ban thờ lần tràng hạt, đôi mắt nhắm nghiền, đầu cúi nghiêm trang", bác Quý cho biết. Theo lý giải của phụ huynh này, có lẽ do sống từ nhỏ cùng bà nội hay đi chùa, tụng kinh niệm phật nên Tùng cũng quen mùi nhang khói. Mỗi khi nhà có việc, bà vẫn hay thắp hương, lần tràng hạt. Tuy nhiên, lần này, cậu đề nghị được tự tay làm để thấy "tự tin và thanh thản hơn" trước khi bước vào sự kiện trọng đại của đời mình. Con đi thi phòng trong, bố mẹ thi vòng ngoài. (Ảnh: Tiến Dũng) Mùa thi, nhiều sĩ tử quan niệm "phải hợp… 'vía' ngay từ khâu đầu tiên". Tra thông tin trên mạng, biết được mình hợp với tuổi Dần, nữ sinh tên Thương, THPT Việt Đức, quyết tâm lên kế hoạch tìm cho ra người hợp tuổi với mình để đưa đi thi. Lần mò, hỏi han hết người này đến người kia, cuối cùng Thương cũng tìm được chú xe ôm gần nhà đúng với tiêu chuẩn đề ra. Tuy nhiên, sợ hôm đó có gì bất trắc, cô khẩn khoản yêu cầu chú xe ôm phải giữ gìn sức khỏe, ăn uống đầy đủ kẻo "hỏng hết chuyện lớn của cháu". May mắn hơn Thương, Thanh Hòa lại có bà ngoại hợp tuổi nên dù bà đã gần 70 tuổi nhưng cô vẫn nặng nặc đòi chính bà phải đưa đi mới hợp "vía" vì "nếu cháu không làm được bài thì... tại bà hết". Dậy từ 5h sáng, hai người một già một trẻ "lên đường". Trời mưa nặng hạt, không mang áo mưa nhưng Hòa nhất quyết không cho bà quay về lấy vì "đã bước chân đi mà quay đầu lại là… xui lắm". Không chỉ xem tuổi, nhiều sĩ tử còn kiêng khem đủ thứ. Lặn lội từ vùng chiêm trũng Hà Nam lên thành phố, mẹ con chị Hoài ở nhờ được nhà người bác họ. Biết cháu đi thi vất vả, người bác tâm lý đưa chị Hoài vào siêu thị mua mít khô, mực, lạc, kèm bánh trái tẩm bổ cho cháu. Ngờ đâu, mới chỉ nghe mẹ nói cậu con trai đã giãy nảy: "Tất cả những món đó từ nay mẹ loại ra khỏi thực đơn cho con. Mẹ muốn con sẽ mít đặc, lạc đề và đen như mực sao?". Sáng hôm đi thi, cố gắng lắm, chị Hoài mới ép được con ăn bát phở. Gọi thêm đĩa quẩy ăn kèm, chưa kịp gắp vào bát con, cậu đã nhăn mặt: "Thôi, mẹ ăn đi! Con ăn vào thì "xúi quẩy" lắm". Nghe phản ứng của con trai, chị Hoài chỉ biết bấm bụng bỏ qua. Trong lúc chờ con làm bài, phụ huynh này dựng vội chiếc xe cà tàng bên vỉa hè, tranh thủ đánh một giấc ngủ vội. (Ảnh: Tiến Dũng) Sĩ tử đi thi, cả nhà đều "nín thở", "gò lưng" phục vụ tối đa, nhưng từ đó cũng nảy sinh những chuyện dở khóc dở cười. Trằn trọc suốt đêm, mới 3h sáng, bác Nguyễn Tâm (Hà Tây) đã giục vợ dậy thổi xôi đỗ và thịt gà để "các cụ phù hộ độ trì cho con trai thi tốt". Khi mọi việc xong xuôi, bác diện bộ quần áo chỉnh tề, kính cẩn thắp hương, dõng dạc đọc số báo danh của con. Có ngờ đâu mắt mũi kèm nhem, bác đã cầu cho sĩ tử khác khi đọc nhầm số báo danh cho con từ số 1 thành số 7. Thấy con đi thi môn đầu tiên về sắc mặt không vui, gia đình chị Thủy không ai dám hỏi câu nào. Trời nóng nực, chị chỉ dám khẽ đến bên, bật quạt cho con rồi ý tứ: "Đề khó không con?". Con trai chị trả lời lấp lửng rồi tránh lên phòng, còn cả nhà tặc lưỡi: "Thôi, để im cho nó thi xong hết đã". Đến môn thi thứ 2, thấy con tươi tỉnh nên không khí gia đình bớt căng thẳng hơn. Nhưng đang ăn cơm, thấy con trai ngồi thừ người ra buông đũa kêu to: "Ôi thôi chết, nhầm rồi!", cả nhà nín thở không ai hỏi thêm gì. Chờ con thi xong cả 3 môn, biết con hợp với tính ông, bà ngoại nhất, chị Thủy mới nhờ "ông bà hỏi giúp con xem cháu làm bài thế nào". Dò trước, đoán sau, qua một loạt khâu, ông bà mới biết "cháu làm cũng tạm ổn" nhưng không dám nói vì sợ "nói trước bước không qua". Còn trường hợp của Lê lại khá đặc biệt vì có lẽ ít ai gặp được may mắn như cô nữ sinh đến từ Bắc Giang này. Lo lắng, hồi hộp, lại lạ nhà nên cả đêm cô gần như mất ngủ. Cố chợp mắt một chút để mai lấy sức đi thi nhưng chưa đầy một tiếng sau, cô ngồi bật dậy lẩm bẩm: "Chết! Nam Cao". Nghe vậy, người mẹ nằm cạnh lo lắng: "Ngủ đi, cao với thấp gì". Bỏ ngoài tai lời khuyên của mẹ, Lê mang vội sách văn ra ngồi đọc cho đến sáng. "Ai ngờ đâu, sáng hôm sau, đề ra đúng tác phẩm Nam Cao thật. Kể chuyện khoe với mọi người, ai cũng bảo em được "quý nhân phù trợ", Lê cười. Quanh mùa tuyển sinh có biết bao chuyện vui buồn. Trong lúc ngồi chờ con, nhiều phụ huynh tâm sự: "Thi đại học là lúc cả nhà đều vào cuộc. Mệt mỏi vô cùng. Con thi phòng trong, cha mẹ cũng lều chõng vòng ngoài". * Tên nhân vật đã thay đổi Theo Hoàng Lan
  9. Một khái niệm "VĂN HÓA" đẹp: Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) Đất nước Khi ta lớn Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa.." mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc. Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó.. Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc" Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi" Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Khi hai đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm Khi chúng ra cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn, to lớn Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời.. Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha Ôi Đất Nước sau 4.000 năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào 4.000 năm Đất Nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhỏ Nhưng em biết không Có biết bao người con gái, con trai Trong 4.000 lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng Họ chuyển lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm Có nội thù thì vùng lên đánh bại Để Đất Nước là Đất Nước nhân dân Đất Nước của nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại Dạy anh biết "yêu em từ thở trong nôi" Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội Biết trồng tre đợi ngày thành gậy Đi trả thù mà không sợ dài lâu Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi Người dạy ta nghèo ăn cháo ăn rau Biết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡi Cái cuốc, con dao, đánh lừa cái tuổi Chén rượu đánh lừa con mỏi, cơn đau Con nộm nag tre đánh lừa cái chết Đánh lừa cái rét là ăn miếng trầu Đánh lừa thằng giặc là chuyện Trạng Quỳnh Nhưng lạ lùng thay, nhân dân thông minh Không hề lừa ta dù cao dao, cổ tích Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời Dẫu phải cay đắng dập vùi Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu Cây khế chua có đại bàng đến đậu Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơí Em nghe không trái thị đã rơi xuống tay người Trai không chỉ rơi vì sức hút đất đai Trái rơi vì tay người ao ước Khi trái chạm tay người và người ấm ủ Thì lừng hương và cô Tấm bước ra Đi trả thù và sống Tự do Không rơi xuống bùn, ôi trái thị quê ta Để bùn lấm và thành bùn vạn kiếp Rơi vào tay người, đó là định luật Của đấu tranh và nhân nghĩa Việt Nam Tuổi trẻ ơi trong sương gió tháng năm Ta đã lớn rồi, chín đầy hy vọng Hãy ngã xuống tay nhân dân, hỡi sắc vàng của nắng Hỡi hương thơm của nồng mặn mồ hôi.. Hãy ngã vào tay nhân dân, đừng vãi đừng rơi Đừng do dự, đừng hoài nghi nữa Hãy yêu nhân dân và nghe người nhắn nhủ Hãy tìm sức mạnh trên cơ thể nhân dân Nhân dân đang đi lên đội ngũ trùng trùng Thế vô tận của nghìn năm giết giặc Lửa đã cháy hồng hào mặt đất Mùa chín tình yêu, mùa chín hận thù Không bao giờ xương máu phải bơ vơ Ôi sông núi uy nghi ngàn dặm đất Có nghe tiếng chúng con: Xin có mặt Nguyện làm người xung kích của quê hương Đấy tiếng hát chúng con: tiếng hát xuống đường! Nguyễn Khoa Điềm Nơi xuất bản: Trích Trường ca Mặt đường khát vọng - 1974, Nhà xuất bản Giáo dục 2005
  10. Người ta thường hay nói và thừa nhận những khái niệm như "văn hóa Maya", "văn hóa Đông Sơn", "văn hóa Pháp" ..... Nó cho thấy tính tổng hợp của nhiều giá trị khác nhau liên quan đến mọi mặt đời sống của một cộng đồng cụ thể nào đó và nó bao hàm nét đặc trưng, phổ biến, liên tục của các giá trị ấy. Như thế, nếu nói "văn hóa ẩm thực", "văn hóa uống trà", "văn hóa giao tiếp", "văn hóa chửi" chúng ta nhìn thấy nó có vẻ nằm trong nội hàm của hai từ "văn hóa". Nhưng nó có quá hạn hẹp về phạm vi lĩnh vực để ghép với chữ "văn hóa" hay không? Hay là chúng là "văn hóa" cấu thành nên "nền văn hóa"? Nền văn hóa (Việt, Mỹ, Đông A ....) Văn hóa (trà, xe, chửi .....) Phoenix chưa có nhiều thời gian để bàn luận sâu, trích ra một tẹo nghi vấn để "ngâm cứu" :(
  11. Nhất Chi Mai trong tình cảm hay nể và chiều bạn, dẫn đến bị yếm thế, thiệt thòi. Nên lấy chồng xa, hoặc lấy người đến sau. NCM có đeo kính cận không vậy?
  12. Nguồn: http://www.the-fools.net "Trong phần thứ hai của loạt bài “How to become an Internet celebrity”, chúng ta sẽ bàn về “nghệ thuật sử dụng tiếng lóng và chửi” (tất nhiên là trên Internet). Bạn có thể thắc mắc, tại sao chửi có thể tồn tại được trong xã hội văn minh, trong giới quí-xờ-tộc như thế này. Lý do của nó rất đơn giản, hệt như việc bạn có thể ăn những món ngon nhất, chơi những trò thú vị nhất, gặp những người sành điệu nhất thì bạn vẫn cứ phải chui vào toilet để giải quyết một khâu được coi là xấu xa nhất nhưng lại cần thiết nhất trong ngày. Một trong những khả năng kỳ diệu nhất của loài người là khả năng đổi trắng thay đen, ví dụ như nếu phải ngửi một mùi đặc biệt khó chịu nào đó trong vòng 10 phút thì mũi sẽ điếc với mùi đó tức là ko cảm thấy khó chịu nữa (hay diễn giải một cách hình tượng hơn là sống lâu quá trong *** thì sẽ ko thấy khổ nữa, có khi còn khen *** thơm). Nếu gặp một ai tốt đẹp hoàn hảo quá thì họ sẽ nghĩ thầm … à chắc chắn tên này đạo đức giả. Vì vậy, nếu bạn chửi bậy và lại chửi hay thì người ta sẽ tiếp tục suy diễn, hắn ko thể bậy, ko thể suy đồi như vậy được, có lẽ đằng sau con người đó phải có cái gì đó khác, chắc phải tốt đẹp hay ho lắm, trong khi trên thực tế thì … e hèm, trong từ điển Internet của chúng ta ko có từ “thực tế”! Như vậy, biết chửi và chửi có nghệ thuật bây giờ đã trở thành một tiêu chuẩn không thể thiếu được của một con người văn minh trong thời đại Internet. Nhưng nó không chỉ là một thứ đồ trang sức xa xỉ vô dụng, mà còn thực sự trở thành công cụ đắc lực trợ giúp mỗi người trên con đường trở thành “internet celebrity”. Muốn đi lên thì phải bước lên đầu kẻ khác, phải dìm người khác xuống, rất đơn giản phải không? Từ thời thượng cổ, chửi đã được loài người sử dụng để sỉ nhục để đì kẻ khác xuống, cho đến bây giờ, thời đại Internet, khi mà mọi thứ vũ khí (hữu hình) khác trở nên bất lực, thì chửi lại trở nên hiệu quả và quí giá hơn bao giờ hết. Ừ thì không thể không chửi được, nhưng chửi cho đúng kiểu, sành điệu, chửi mà như không chửi thì lại không đơn giản chút nào. Ví dụ như khi đang chat với nàng bạn buông một câu “mẹ nó” thì nàng sẽ … “eo ôi anh ấy vô học!” và thôi ta chia tay nhau từ đây, khi tranh luận với một tên trên forum bạn lại dùng “mẹ mày” thì bạn sẽ nhận được một lời đe dọa tính mạng cộng với một mối thù truyền đời truyền nick. Nhưng nếu bạn chỉ cần thay bằng từ “mịa nó”, hoặc “con bà mày” (tức là nghĩa vẫn như cũ, cách diễn đạt khác đi) thì có khi nàng sẽ … “ôi chao, anh ấy sành điệu ghê, yêu thế!”, còn thằng kia thì vừa thán phục vừa e sợ trong khi không để bụng chút nào. Đám đông và công chúng luôn ngu dốt và ngây thơ, bạn hãy ghi nhớ điều này. Từ ví dụ ở trên ta có thể thấy là chỉ cần thay đổi duy nhất một từ (trong chuyên môn người ta gọi là biện pháp tu từ thì phải) thì đột nhiên những câu chửi truyền thống hàng tôm hàng cá sẽ trở thành câu chửi văn minh, chửi có học liền. Trong hoàn cảnh VN, khi mà chợ cóc len lỏi vào mọi nẻo đường, ngõ phố thì chúng ta lại càng có điều kiện cập nhật thêm “nguyên liệu” để chế biến sao cho vốn từ chửi của mình thêm đa dạng, phong phú. Có những trường hợp ta chỉ cần thêm bớt, hoặc thay đổi một chữ trong từ là được. Ví dụ như “đéo” thành “léo”, “đếch” thành “ếch”, còn “em” thì thành “iem”. Ngoài ra viết ngọng cũng đang ngày càng trở nên phổ thông, ví dụ như “trim”, “ku”, v.v. Phát âm những từ này (nếu bạn là người Hà Nội) thì nói chung là … bậy như nhau, nhưng đọc (text) thì lại khác. Đó là một trong những ưu việt của xã hội chủ nghĩa ảo. Bạn càng dùng nhiều từ chửi bậy, càng ám chỉ nhiều đến tình dục, miễn là không được dùng từ gốc, thì bạn càng tỏ ra là một con người hiểu biết, từng trải, và hài hước trong công chúng. Như vậy bạn có thể thấy, chỉ cần để ý một chút là chúng ta có thể tự động phát hiện và bổ sung được vốn từ chửi, ít nhất cũng là theo kịp thời đại. Tuy nhiên, cũng xuất phát từ khả năng kỳ diệu của loài người, nếu bạn và mọi người chửi cùng một kiểu, ai cũng sành điệu giống ai thì lúc đó câu chửi sẽ được nghe như câu nói bình thường. Mà bình thường thì muôn đời không thể trở thành celebrity được, bạn cần phải đi trước thời đại. Đây là lúc bạn có thể áp dụng chiêu thức cổ xưa (như trái đất) là kết hợp với ngoại ngữ. Dân Việt ta cứ cái gì có chữ “ngoại” là lên giá liền, chắc hẳn bạn vẫn còn nhớ? Rất đơn giản, thay vì câu “mày nói nghe như ***” thì bạn có thể đổi thành “mày nói nghe như shit”, hoặc cao thủ hơn nữa là phiên âm luôn thành “mày nói nghe như xịt”. Ngon liền! Ngoài ra, bạn có thể học tập cách sử dụng những từ “hell”, “fuck” trong tiếng Anh để áp dụng vào tiếng Việt sao cho chửi có bài có bản, có vần có điệu. Ví dụ như nếu nàng hỏi “Anh thấy bộ phim này thế nào?”, thay vì “it’s fuckingly amazing”, bạn có thể trả lời “hay tuyệt con bà nó vời”, đảm bảo nàng ko chết ko lấy tiền! Một chi tiết ko kém phần quan trọng là bạn cần phải nhận biết và sử dụng được một số cụm từ viết tắt trong tiếng Anh như IMO (hoặc IMHO, IMAO), rồi LOL (hoặc LMAO, ROFL), rồi WTF (STFU, RTFM, và tất cả những từ có TF ở giữa). Muốn biết ý nghĩa? Hãy nhớ là chúng ta có Internet, có Google! Chúng cũng dần trở nên quan trọng và sành điệu ko kém gì các từ (tiếng Việt) như 4C, 4`, GATO, v.v. Nếu kết hợp tốt với những câu chửi sành điệu thì bạn sẽ tạo được sự khác biệt và hấp dẫn kinh khủng trong con mắt công chúng. Đặc biệt, những từ viết tắt này rất quan trọng trong ngôn ngữ chat, bạn mà không biết dùng thì … xuống mẫu giáo mà học! Ngay cả giọng cười cũng quan trọng, nếu bạn chỉ có hihi thì sẽ bị kết tội e lệ nữ tính, còn hehe thì … dê, mà haha thì nhạt, trong khi nếu dùng hé hé, há há, hẽ hẽ, hẹ hẹ, hị hị, hí hí, hĩ hĩ, … thì ngay lập tức bạn sẽ trở thành David Beckham hoặc Brad Pitt liền. Túm lại, chửi là một nghệ thuật (tất nhiên là chúng ta phải nói như vậy đối với đám đông ngu dốt dưới kia), nó giúp ta cải tạo thế giới toàn những kitsch (tất nhiên là chúng ta cũng biết rằng nó chỉ là một dạng của kitsch mà thôi) và … “ta chửi, do đó ta tồn tại”!"
  13. NGƯỜI HÀ NỘI ... CHỬI Nguồn: http://truongton.net Chân thành xin lỗi những người Hà Nội lịch thiệp! Sống ở thủ đô 10 năm, tôi chứng kiến nhiều sự đổi thay của thành phố này. Khu Dịch Vọng vốn cây hoang dại - nơi trú ngụ của đám cave già - nay đã mọc lên làng quốc tế hoành tráng. Khu Mỹ Đình, Khu Cổ Nhuế, khu Kim Giang... nay đã hoàn toàn khác xa năm 1997. Sự đổi thay đó ai cũng có thể nhìn thấy. Tôi không muốn bàn nhiều mà chỉ xin nói một vấn đề hết sức là nhạy cảm: VĂN HOÁ CHỬI CỦA NGƯỜI HÀ THÀNH. Tôi hoàn toàn không có ý châm chọc, hạ bệ hay đưa ra bất kỳ một kết luận nào mà chỉ nêu lên một vài chuyện để các blogger tự đánh giá. **** Chuyện thứ nhất Hồi còn là sinh viên, chúng tôi thuê nhà ở khu Dịch Vọng. Căn nhà tồi tàn, huơ hoác. Phía sau là một cửa sổ lớn hướng sang nhà hàng xóm nhưng không có chắn song. Tối tối, mấy thằng sinh viên lười biếng cứ tiện là ghé người ra phía sau tha hồ "tờ e huyền" sang nhà hàng xóm. Buổi trưa thì chơi tá lả. Mà đã chơi thì phải sát phạt, hò hét. Điều đó khiến cho người hàng xóm khó ngủ + khó chịu. Một buổi trưa, bả (bà ấy - theo cách gọi của người nam bộ) rình và bắt quả tang "thằng bé con" anh bạn tôi đang "xả nước". Thế là một bài "trường ca" bắt đầu: Tôi không thuộc nhưng đại khái : Bà bắt được quả tang nhá. Tiên sư chúng mày, toàn những thằng có học mà ngu như... Chúng mày làm cho gà nhà bà ngửi thấy mùi khai mà không đẻ được. Chúng mày không cho bà ngủ ngáy gì cả. Ai dạy chúng mày... Chúng mày là đồ mất dạy! Bà dí... vào chúng mày... "Hát" một lúc, người phụ nữ này bắt đầu thở hổn hển và ngưng lại ... nghỉ. Anh bạn tôi lên tiếng: - Mấy thằng mày mất dạy. Tao đã bảo rồi, đừng có đái sang nhà hàng xóm. Tao mà là bà ấy. Tao còn chửi tiếp. Bà già lại càng điên tiết: - Tiến sư mày trêu bà. Chính mày là thằng hay đái bậy nhất. Mà cũng là thằng to mồm nhất giờ mày lại giở giọng đạo đức với bà. Mày muốn trêu ngươi bà chắc. Điệp khúc cũ lại rền vang. Được một lúc, bà già lại nghỉ. Lúc này, tôi lên tiếng: - Bà ơi. Bà không chửi nữa à. Bà chửi thế bọn cháu thấy cũng đáng. - Tổ sư chúng mày. Sinh viên gì chúng mày. Học cái ... gì mà xử sự ngu như... Việc chửi bới tỏ ra nặng nhọc. Bà già ngồi bệt xuống đất và thở hổn hển. Một thằng bạn khác của tôi nói: - Bà ơi. Bà chửi nữa đi. Chúng cháu đang muốn nghe! - Tổ sư chúng mày. Bà chửi chúng mày có mà chửi cả ngày à. Chỉ tổ mệt xác bà thôi. Chúng mày cũng như con cháu bà. Bà bực lên bà nói thế thôi. Lần sau đừng làm thế nữa nghe các con... Sự thay đổi thái độ của bà làm chúng tôi bật cười là cùng nhau lên tiếng xin lỗi. Từ đó, bà chẳng bao giờ trách móc chúng tôi nữa. Chúng tôi cũng vì thế mà phải "siêng năng" và kiệm lời hơn. *** Chuyện thứ hai: Sau khi đi làm, có tí tiền là lại đú đởn đi sắm đồ. Xưa nay chỉ nghe nói dân chợ Vinh (Nghệ An - quê tôi) hay nói thách và chửi khách mua hàng. Ai dè, chợ Cầu Mới (Ngã Tư Sở còn "kinh khủng khiếp hơn"). Số là hôm ấy tôi định mua cái tai nghe nhạc. Chị bán hàng trạc tuổi U40 đon đả: - Em ơi, mua gì vào đây với chị nào. Chị bán rẻ cho. Hàng cao cấp đấy. Chứ không phải hàng nhái đâu. Chị bảo hành luôn chất lượng và giá cho em. Nghe bùi tai, tôi bước vào quầy. Sau một hồi dở hết cái nọ, cái kia ra nghe nhưng không tìm được cái vừa ý, hơn nữa bị "hét" giá cao quá nên tôi xin lỗi và bước đi... Chị bán hàng trề môi: Thằng mất dạy này. Mới sáng ra chưa ai mở hàng mày đã bới "hàng" tao lên rồi không mua. Mày không có tiền thì nói mẹ nó đi. Đ. mẹ mày. Nhìn thì không đến nỗi nào nhưng lại "ám" bà. Bà dí... vào cái mặt mày (hê hê, nếu dí được đã ... khoái). Bà đốt vía này. Vía lành... Tôi rảo cẳng thật nhanh chuồn ra khỏi khu vực này vì quá nhiều âm thanh của các "đồng nghiệp" của chị ta và nhiều cặp mắt hiếu kỳ của khách hàng khác. Ôi la la. Toát cả mồ hôi hột. **** Chuyện thứ 3 Tôi cùng một anh bạn lang thang ở khu Nghĩa Tân. Ông bạn tôi có chiếc máy ảnh Nikkon gì đó nên hai anh em rủ nhau đi tập toẹ chụp ảnh. Nhìn thấy một đống nilon lù lù trước một góc nhà, anh bạn tôi giơ máy bấm "xoẹt" một cái. Đèn "phờ lát" loé lên. Ngay tức khắc, một ông già xuất hiện với vẻ mặt khó chịu: - Chúng mày chụp cái đ. gì hả. Mày có biết nhà này là nhà của ai không? ĐỊnh đăng báo hả. Bố mày đập mẹ nó máy ảnh này. Mày đi vào đây ... (ông già túm áo ông bạn tôi kéo vào nhà). Dân tình bắt đầu vây đông. Người chỉ trích, kẻ ủng hộ người đàn ông nóng tính này. Ai đó điện cho công an phường, ngay tức khắc, họ xuất hiện và mời tất cả chúng tôi về đồn. Lấy lời khai. Ghi biên bản. Chờ. Và chờ. Tôi khát nước, định chạy ra ngoài mua chai khoáng nhưng một cán bộ ngăn lại và bảo: "Thằng kia, mày định trốn đi đâu". Tôi tiu nghỉu quay lại ngồi... xem Tivi. Hôm ấy, sao chương trình TV tẻ nhạt thế không biết. Một cán bộ khác quay sang bảo: Chúng mày là nhà báo à. Thích oách chứ gì. Muốn chụp gì thì cũng phải ... báo cáo chính quyền địa phương chứ. Tôi bực mình nhưng không nói gì. Người cán bộ không buông tha: Ngựa non háu đá. Cứ thích oách cho lắm vào. Tôi cười nhạt: Dạ, em thường thôi. Nếu thích oách thì em đã đi học làm cảnh sát. Anh ta im lặng. Một lúc sau, ông già lại xuất hiện và định "vồ" lấy chúng tôi. Ông ta nói: Đ.mẹ chúng mày. Chúng mày có biết là có luật bản quyền không. Chúng mày có biết là chụp ảnh phải xin phép không? Lúc nãy mà bố mày giật được máy ảnhthì bố mày đập tan rồi. Rồi chúng tôi cũng được về sau khi bị giữ từ hơn 3giờ chiều đến tận hơn 9 giờ tối. Bụng đói meo. Nhưng cả hai đều thở phào nhẹ nhõm. Thêm một bài học nhớ đời! Sau này mới biết, ông già ấy là một giáo viên của một trường đại học gần đó đã nghỉ hưu. Ông ta đang mở cơ sở sản xuất nhựa phế phẩm gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Thế mới biết, người có học vấn không phải không biết chửi! *** Vài suy nghĩ Tôi cố cắt nghĩa "CHỬI" là gì? Từ điển tiếng Việt ghi: (Chửi là): Dùng lời thô tục mà mắng người nào: Bà cụ lắm điều, suốt buổi chửi con gái 2. Nói hai thứ mâu thuẫn nhau; không hợp với nhau: Hai màu này chửi nhau. Rồi một lần nghe thầy giáo dạy môn cơ sở văn hoá giải thích: Chửi là một nét văn hoá. Nó gắn với con người. Thể hiện tâm trạng bực bội muốn "xả" ra ngoài. Nhiều khi người ta chửi vì yêu quý nhau: Tiên sư thằng ***, mày đi đâu mà mất mặt thế hả. Vào nhà làm cút rượu đi, anh em đang chờ. Người ta chửi vì ghét nhau: Thằng khốn nạn. Mày lừa bà. Mày lúc nào cũng nói lời tử tế. Mày chỉ thích rủ bà vào nhà nghỉ. Bà đã hiến thân cho mày. Bây giờ mày đi với con khác... Tầm bà chỉ có thế thôi. Mày ... mày (đây là một đoạn tôi chép lại lời của một cô gái vừa nói chuyện qua điện thoại vừa khóc ở Hồ Tây). v.v... Còn đây là một số đoạn mà tôi sưu tầm được: "Tiên sư đư’a nào bắt mất con gà nhà bà, gà ở nhà bà con công con phượng, gà về nhà mày thành con cáo con hâu. Bà … bà…bà… U cho con xin chén trà để con chửi tiếp….. bà chửi theo kiểu toán học cho mà nghe nhá…bố mày là A, mẹ mày là B, bà cho vào ngoặc bà khai căn cả họ nhà mày… Bà rủa mày ăn miếng rau mày ói ra miếng thịt, mày tắm trong ao mày chết chìm trong chậu… Bà khai căn cả họ nhà mày, xong rồi bà tích phân n bậc, bà bắt cả hang, cả hốc, ông cụ ông nội, cả tổ tiên nhà mày ra mà đạo hàm n lần. Ái chà chà…mày tưởng à. Mày tưởng nuốt được con gà nhà bà là mày có thể yên ổn mà chơi trò “cộng trừ âm dương” trên giường với nhau à…..Bà là trị cho tuyệt đô’i hết cả họ 9 đời nhà mày, cho chúng mày biết thế nào là vô nghiệm, cho chúng mày không sinh, không đẻ, không duy trì được nòi giống nữa thì thôi…Bà sẽ nguyền rủa cho chúng mày đời đời chìm đắm trong âm vô cùng, sẽ gặp tai ương đến dương vô cùng, cho chúng mày chết rục trong địa ngục, cho chúng mày trượt đến maximum của sự vô hạn tối tăm… ờ nhỉ, thôi, hôm nay thứ 7, bà nghỉ, ngày mai bà chửi tiếp. À, mày chơi toán học với bà à…U cho con xin thêm chén nước ạ ..Thằng khốn ấy nó là tiến sĩ toán lý, không chửi bằng toán học thì không xong với nó u a…....Vâng vâng, u rót cho con đầy đầy vào, nữa đi…để con lấy hơi chửi tiếp, con sẽ chửi từ số học lên tích phân, xuống đại số rồi sang hình học cho u xem… Tiên sư nhà mày, mày tưởng ngày nào mày cũng rình mò tiệm cận hàng rào nhà bà là bà không biết đấy phỏng ? Bà là bà giả thiết mày ăn cắp hơn hai chục con gà nhà bà,…mày về mày vỗ béo để nhồi đường cong cho con vợ mày, à à, mày vẽ nữa đi, mày tô nữa đị. Mày tô, mày vẽ, mày nhồi cho đến khi đường cong con vợ mày nó nứt toát, nó gẫy khúc ra, chọc xiên chọc xẹo đi, rồi đi lên đi xuống nữa vào, rồi có ngày con vợ mày sẽ hạ vuông góc một mạch thẳng xuống nóc tủ....thôi con ạ ….....ái chà chà…mày tưởng mày dùng cả Topo học mày vẽ thòng lọng mày bắt gà nhà bà mà được à ? - Vâng vâng, em về ngay đây, anh chờ em chửi thêm cho nó một chút. Mẹ ca’i thằng …...anh ăn trộm được đâu 2 con gà à …hi hi…chờ em với nào. Chào u con về ạ ..Cho con gửi tiền u mấy chén nước chè…Thằng chồng con chẳng hiểu kiếm được 2 con gà lạc ở đâu…hihi Hoặc là: Chỉ vì mất một con gà Rêu rao bà chửi suốt ba ngày liền Chỉ sang tứ phía láng giềng Réo từ nội ngoại tổ tiên mười đời... VIẾT ĐẾN ĐÂY TỰ NHIÊN CỤT HỨNG (theo Trọng An)
  14. Chú Thiên Sứ kính, Topic này khiến cho mấy vấn đề phải sáng tỏ mới đảm bảo "sự trong sáng của Tiếng Việt" được. - "Văn hóa" là gì? - "Chửi" là gì? - "Chửi" là có phải là một dạng văn hóa hay không? - Nếu "chửi" không phải là một dạng văn hóa thì nó là "cái dạng gì"?? Cuối cùng, khi chưa định nghĩa được chính xác "văn hóa" là gì thì có nên dùng cụm từ "văn hóa chửi" hay không? Phoenix rất thiếu thiện cảm với những người trí thức, viết văn, viết bài, viết tài liệu..... mà dùng từ ngữ tùy tiện. Ngôn ngữ là một yếu tố cấu thành văn hóa và dân tộc. Tùy tiện với ngôn ngữ dân tộc cũng giống như là "chửi" chính mình vậy.
  15. ACE nào quan tâm đến nội dung tranh luận về "văn hóa chửi" có thể tham khảo thêm Tại đây
  16. Chia sẻ đoạn trích trao đổi của hai bạn trong Forum Tiếng Việt - diễn đàn ttvnol.vom (Phần chữ in đậm, gạch chân là do Phoenix thêm vào) Reporter: "Forum Tiếng Việt - Chửi nhau phải chăng cũng là một nét độc đáo? Lâu rồi mới có dịp trở lại với forum Tiếng Việt, thấy forum vẫn phong phú như ngày nào, và thêm rất nhiều mới mẻ. Những đề tài về ngôn ngữ tiếng Việt - thứ ngôn ngữ còn ghê gớm hơn cả "phong ba bão táp", như không bao giờ vơi cạn. Và không chỉ để học, thành viên box Tiếng Việt còn mang đến những điều thật thú vị. Xưa nay, chửi nhau là một cái gì rất xấu, chẳng ai khuyến khích nhau cả. Vật mà xét về mặt ngôn ngữ học, ''''Chửi nhau''''-Phải chăng cũng là một nét độc đáo trong nghệ thuật ngôn từ của người Việt? Trong Cuốn Cơ sở văn hoá Việt nam của Trần ngọc Thêm có đoạn viết: Có thể nói trong việc ''''chửi nhau'''' người Việt cũng chửi một cách rất cân đối, nhịp nhàng, đầy chất thơ, không chỉ là chửi mà cả cách thức chửi, dáng điệu chửi... cũng mang tính nhịp điệu.Với lỗi chửi có vần điệu, cấu trúc chặt chẽ, người Việt có thể chửi từ giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác mà không nhàm chán. Đó là một nghệ thuật độc đáo mà có không dân tộc nào trên thế giới có được. Dân gian còn "lưu truyền" những bài chửi khá "độc" của người nông dân bị mất gà, như một minh họa sinh động cho "văn hóa chửi" của người Việt ta. ......" chuoichabot "..........Bạn Rep à, tôi đã đôi ba lần nghe Tiênsĩ - Viện sĩ Trần Ngọc Thêm nói về vănhóa chửi rồi, đúng nó là một mảng trong đời sống văn hóa người Việt. Nhưng không ai nói đây là một nét có tính văn hóa cả. "Chửi" nó khác với phê phán, phê bình và nhận xét. "Chửi" nó mang tính chủ quan của người thực hiện hành vi chửi , theo lối hành văn và diễn đạt theo ý muốn mà người chửi hướng đến đối tượng. . Nó không khách quan so với phê bình , nhận xét luôn đi theo hướng khách quan dựa trên hiện tượng, sự việc để mà đưa ra nhận xét. Các bộ phim Viêt Nam đôi khi cũng có những cảnh ''chửi'' nhưng htực sự ý phê phán mang đậm nét hơn việc cổ vũ cho hành vi này. Cần phải thấy rằng , việc "chửi" theo đúng nghĩa đen tức là thể hiện sự tức giận , không kìm nén trước một việc nào đó mà phải bộc phát bằng lời dưới dạng ngôn ngữ "mất văn hóa" . Thật xấu hổ khi nghe chửi vì dân ta đã có một kho tàng chửi, các bài chửi , câu chửi , vè chửi, đối đáp chửi . Đây không phải một nét văn hóa mà là sự đáng xấu hổ khi chúng ta có cả một kho tàng "văn hóa" như thế này...."
  17. Giới thiệu bài viết của tác giả Hà Sĩ Phu đăng trên trang Người Việt. (Phần chữ đậm, gạch chân là Phoenix thêm vào) Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi sao chưa có nhà văn hoá nào nghiên cứu về cái sự “Chửi” nhỉ? Hôm nay ngồi buồn tôi mở máy vi tính, thử mở Từ điển Lạc Việt năm 2002, tra hú hoạ chữ Chửi xem sao. Đây là cuốn từ điển Việt Anh, mà lại dùng cho máy vi tính, tôi nghĩ, có lẽ chẳng có chữ ấy đâu, may lắm thì có một chữ Chửi đơn giản là cùng. Tôi nhầm! Các từ về Chửi xếp đầy một trang màn hình! Này là Chửi mắng, Chửi bới, Chửi đổng, Chửi nhau, Chửi rủa, Chửi thầm, Chửi thề, Chửi tục! Lại còn Chửi bâng quơ, Chửi vu vơ, Chửi thậm tệ! Chưa hết, có cả Chửi bóng Chửi gió, Chửi chó mắng mèo, Chửi như tát nước, Chửi như vặt thịt, Chửi vuốt mặt không kịp nữa! Ngần ấy chữ Chửi đều có những động từ hay cụm từ tiếng Anh tương ứng. Hoá ra người Anh người Mỹ họ cũng chua ngoa, cũng điên tiết gớm chứ đâu có vừa (nhưng các “đế quốc to” ấy nhất định thua xa mình về cái khoa Chửi, kể cả Chửi đáng khen và Chửi đáng chê). Cuốn từ điển còn thiếu một khái niệm Chửi tối quan trọng: Chửi như mất gà! Rất may, tìm mãi mới thấy cụm từ Chửi này có trong Từ điển Việt Hoa của Khổng Đức. Nhưng rốt cuộc thì từ điển gì, chữ nghĩa gì cũng thua bà cô tôi hết, một người dân quê không biết một chữ quốc ngữ bẻ làm đôi. Khoan hãy tìm hiểu vì sao Gà lại giữ vị trí quan trọng trong khoa Chửi của dân An Nam mình đến thế. Tôi hãy phác qua vài nét nhân thân bà cô ruột, tức cuốn từ điển sống của tôi về Văn hoá Chửi. Dòng họ nhà tôi, từ bố tôi trở về trước nghèo lắm. Mấy đời chỉ là ông đồ dạy chữ nho, ông chú ruột tôi mới sáu tuổi đã bị đem cho một nhà thờ đạo vì ông bà tôi không sao nuôi nổi. Cô tôi đương nhiên không được học hành gì, sớm được gả cho một anh thợ cày cũng nghèo kiết xác, là ông cậu tôi. Cậu tôi chẳng may mất sớm, để lại cô tôi goá bụa khi chưa đầy hai mươi với một đứa con gái chưa đầy ba tuổi. Chỉ một đôi quang thúng cũ nát, lèo tèo mấy quả na quả bưởi, mấy chiếc bánh đa, bánh gai…, hoặc mấy mớ rau, con cá, bà đèo đẽo đi khắp chợ Hồ, chợ Gôi, chợ Ngo, chợ Dâu, chợ Keo, chợ Cẩm Giàng, chợ Núi (tức núi Thiên Thai)… trên dưới mười cây số. Áo xống nhuộm bùn (hồi trước các cụ gọi chiếc váy là xống), vá chằng vá đụp, làm chỗ cư trú lý tưởng cho lũ chấy rận. Lúc nào nghỉ chợ là bà lại đem áo xống ra bắt rận, tuốt trứng lép bép và cắn rận đôm đốp. Nhưng người cô nghèo khổ ấy thương lũ cháu, thương chúng tôi lắm. Cô cho chúng tôi cái bánh, quả na mà chậm ăn là cô chửi cho mất mặt, à ra đều mày khinh cô nghèo mày không ăn hử? Đến năm tôi đã là giảng viên đại học mà mỗi lần về thăm cô vẫn cho tiền, này thằng T, cô cho mấy đồng cầm đi mà tiêu. Thương cô lắm mà vẫn phải cầm, chứ đợi cô chửi cho rồi mới cầm ư? Nhưng Chửi cũng ba bảy đường Chửi. Bà chửi thương, chửi yêu thì chỉ chửi “nôm” thế thôi, chứ không có bài. Khác hẳn những khi định hướng vào “kẻ thù”, là những kẻ ăn không ăn nảy của bà, vu oan giá họa cho bà, cậy quyền cậy thế chèn ép lấn át bà thì vũ khí Chửi của bà tung ra đầy tính kỹ thuật, bài bản hẳn hoi và đầy sức lôi cuốn. Một ngón võ thật sự. Hôm ấy bà đi chợ về muộn. Chuẩn bị nấu cơm chiều, vét niêu cơm cháy, vừa ngô, vừa khoai được một bát đầy hú hụ, bà cất tiếng “chích chích chích chích”, “pập pập pập pập” gọi mấy con gà mà bà đã chăm chút cả năm để chuẩn bị ăn Tết. Lũ gà quen tín hiệu đã tề tựu ngay tắp lự. Chờ mãi vẫn không thấy con gà mái nâu, đang ghẹ, béo nhất đàn. Bà bổ đi tìm quanh, “điều tra” khắp vườn, khắp xóm. Không thấy. Vẻ mặt bà hằm hằm, mắt bà chợp chợp, tôi biết cơn giận trong bà đã chất chứa đến nhường nào. Nhưng bà lẳng lặng đi nấu cơm. Hai mẹ con bà ăn cơm xong đâu đấy. Mọi nhà đã lên đèn. Tôi nằm chơi trên cái chõng tre giữa sân. Đúng lúc làng xóm đang yên tĩnh, ổn định, thì bài trường ca bắt đầu. Hình như trời phú cho những người nghèo khổ, sống dưới đáy xã hội một cơ quan phát âm, đúng ra là cơ quan phát thanh, có độ vang đủ phủ sóng khắp “địa bàn” cư trú. Phần giao đãi của trường ca mất khoảng mười phút, nhưng cũng đủ cho việc đặt vấn đề. Người nghe đã kịp nhận ra cuộc chửi liên quan đến vụ việc gì, bà nghi ngờ cho ai. Sau khi đã khu trú được vấn đề và đối tượng (tất nhiên bà chẳng cần gọi tên chúng ra), bà vào phần chính của việc chửi bới. Bà mạt sát đối thủ bằng những tư liệu rút ra từ gia phả, án tích, dư luận; bà chứng minh tội phạm bằng những chứng cứ và suy luận mà bà đã quan sát và thu thập được; và cuối cùng là phần hình phạt. Bà phạt kẻ bị tình nghi phạm tội bằng phương pháp rất nhân đạo là cho ăn và cho uống, thực đơn gồm toàn những thứ sống sít từ cơ thể thiên nhiên của bà. Thì bà còn có gì khác ngoài cái vốn tự có ấy? Toàn bộ “cáo trạng” từ việc điều tra, luận tội và xử phạt bà làm độ nửa giờ là xong. “Phiên toà” kiểu này có cái “hay” là không cần mời ai đến dự mà vẫn xử được công khai. Bà “viết” văn xuôi theo lối biền ngẫu, rất nhiều đoạn rập theo một công thức như lối viết báo cáo hoặc xã luận của những anh không chịu đổi mới ngày nay. Văn xuôi nhưng lại có vần như thơ (có thể đây là tiền thân của loại thơ văn xuôi bây giờ đấy nhá!), lại có lên bổng xuống trầm như nhạc. Đặc biệt, vô cùng đặc biệt là đoạn cao trào. Tôi nghe một lần là nhớ suốt đời. Đoạn ấy thế này: “… Nếu mày có trót dại bắt con gà của bà, nghe bà chửi mà không khôn hồn thả nó ra, mà cả nhà cả ổ mày cứ húc đầu vào ăn cho đầy miệng, thì bà cứ cho chúng mày ăn cái máu l…, rớt l… của bà đây này (lúc này bà khẽ rướn người lên, hai đầu ngón tay khẽ nhúm chiếc váy đụp nâng lên phía trước, tuy đứng một mình mà bà làm như đang diễn thuyết trước đám đông người). Mày tưởng mày có quyền có thế, có người làm ông nọ bà kia mà ăn hiếp gái già này à? Cứ ra mặt với bà xem! Bà thì cứ… dứt cái lông l… thứ tám, bà chẻ tạm làm tư, bà trói cổ cái ông tổ năm đời mười đời nhà mày lại, bà vẫn còn thừa cái nút hậu!...”. (Cái sinh lực nữ tính mới đầy uy lực làm sao!) Lạ chưa? Cái lông thứ tám? Vậy là trong cái đám lôm xôm ít được thấy ánh sáng văn minh ấy cũng phải có trật tự, ngôi thứ hẳn hoi ! Không biết cái ngôi thứ này là do chúng cọ xát với nhau mà phân định hay do bà phải đánh số để tiện việc quản lý? Để ra quân, bà chưa cần cử các ngôi vị thứ nhất, thứ hai, thứ ba trang trọng làm gì, mà mới dùng cái “thằng” thứ tám, thậm chí chả cần cả “thằng” thứ tám nữa, nên bà mới tạm chẻ nó làm tư (khiếp thật, xưa nay người chi li lắm cũng chỉ chẻ sợi tóc làm đôi là cùng). Còn ở trận tuyến bên kia thì bà không thèm chấp cái bọn ăn cắp gà, không thèm trói chúng cho bẩn… cái dây trói của bà, mà lôi cổ hẳn cái ông tổ năm đời mười đời nhà nó ra (bọn này về chầu ông… vải từ lâu rồi mà bà vẫn không tha, vì chính chúng đã khai sinh ra cái lũ ăn cắp gà vô liêm sỉ này). Binh lực của bà đã tự giảm đi bấy nhiêu lần, binh lực của địch cho phép tăng lên bấy nhiêu lần, vậy mà vẫn chưa cân sức: cái dây trói vẫn quá dài so với cái cổ bự của những ông tổ năm đời mười đời kia, trói cẩn thận đâu vào đấy rồi mà dây vẫn còn thừa nhiều quá, lại phải buộc thêm một “múi” nữa cho dây đỡ luề thuề, tức là phải buộc thêm cái nút hậu. Như thế, bản trường ca đã dùng một “thi pháp” so sánh, tương phản đầy ấn tượng! Thiết kế một bài Chửi khoa học và tinh tế như thế thì các bậc thâm nho, hay các viện sĩ khoa học mọi thời đều xin bái lạy. Thiên nhiên sinh ra muôn loài vốn đã tài tình, xã hội loài người tự nhiên cũng tài tình như thế. Cứ phải tự cân bằng, cứ phải tạo lấy cái hợp lý để cân bằng lại cái vô lý. Đấu tranh sinh tồn mà sinh ra cả. Bài Chửi độc đáo kia, nghe tưởng cay độc quá, nhưng xem kỹ lại thấy vẫn nhân đạo. Bà vẫn mở đường: nếu mày không sửa chữa thì bà mới làm như thế, như thế! Đấu tranh sinh tồn là cuộc “nội chiến” muôn đời. Đã là cuộc chiến phải có vũ khí, phải có binh pháp. Bọn thống trị khôn ngoan bao giờ cũng lo xa, tước hết vũ khí vật chất và tinh thần của đám bị trị. Nhưng trời sinh voi thì trời sinh cỏ. Bị lột trần trụi thì chính cái trần trụi biến thành vũ khí. Những giá trị thật mà bị dè bỉu (hoặc giả vờ dè bỉu), đẩy xuống dưới cùng, chính là tiền đề để nó bật lên thành vũ khí, xấn vào tận mặt kẻ làm bộ khinh rẻ nó, cái “Yoni” của các bà chính là một phẩm vật như thế. Trong võ cổ truyền hay Judo, chính kẻ ở dưới mới chuyển được sang thế thượng phong để chơi ngón “bốc”, ngón “quật”, ngón “ném”. Cho nên, trong văn hoá, kẻ nào đẩy những giá trị cao quý xuống tận đáy chính là tự chuốc lấy diệt vong. Trong môn Chửi, tên tục của hai “sinh thực khí” có một vị trí độc đáo. Cái Linga và cái Yoni đã sinh ra loài người thì khi con người bị đẩy vào tư thế trần trụi, nguy nan không lối thoát, hai thứ ấy lập tức phải đứng ra đương đầu cứu viện, chiến đấu, với tên thật của nó. Cửa sinh, cửa tử, cũng là cửa thoát. Khi dùng cái phương tiện bề ngoài có vẻ rất giống nhau ấy, người lương thiện và thằng khùng chỉ khác nhau ở cái mục đích, vì lẽ phải hay không vì lẽ phải. Đành rằng có chửi cũng chẳng mấy khi tìm lại được gà, nhưng cái Chửi đánh thức lương tâm, đánh thức và nuôi dưỡng công lý.Ý nghĩa văn hoá của sự Chửi chính là ở đó. Cụ bà Nguyễn thị K., một công dân vô danh trong xã hội, người cô ruột xấu số đáng thương và đáng quý ấy là cuốn từ điển sống của tôi, là một khối văn hoá vừa “vật thể” vừa “phi vật thể”. Trong cuốn từ điển Chửi ấy, nếu thấy cần bổ sung thì có lẽ chỉ cần ghi thêm khái niệm “Chửi Chữ” nữa thôi. Thưa cô, cháu học hành cả đời, hôm nay mới nhận ra cô thì cô không còn nữa. Cháu thèm được cô cho một chiếc bánh gai và lại chửi cho một câu như những ngày nào tấm bé . Trong Cuốn Cơ sở văn hoá Việt nam của Trần ngọc Thêm có đoạn viết: Có thể nói trong việc ''chửi nhau'' người Việt cũng chửi một cách rất cân đối, nhịp nhàng, đầy chất thơ, không chỉ là chửi mà cả cách thức chửi, dáng điệu chửi..cũng mang tính nhịp điệu.Với lỗi chửi có vần điệu, cấu trúc chặt chẽ, người Việt có thể chửi từ giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác mà không nhàm chán. Đó là một nghệ thuật độc đáo mà có không dân tộc nào trên thế giới có được.:"
  18. Anh (chú) Trần Phương dẫn ra vấn đề chỉ có thể nói là "ĐÚNG". Nhưng mà những biểu tượng như con trâu, cây tre, hoa sen ..... phải chăng mới chỉ theo chúng ta trong nền văn hóa "2000 năm"?? Mà những biểu tượng của một quốc gia thì phải là hình tượng điển trưng phổ biến, gắn bó, thân thuộc và là một phần giá trị ý thức tinh thần quan trọng với hầu hết dân cư của một dân tộc từ những ngày cội nguồn dân tộc sơ khai. Với nhiều quốc gia trẻ thì dễ rồi, vài trăm đến "2000 năm" có lẽ sự lưu truyền còn chưa bị mai một. Việt Nam với bề dày lịch sử có thể lên tới 5000 năm hoặc 12000 năm (như tác giả Trương Thái Du nghi vấn) và cả nghìn năm Bắc thuộc có lẽ đã khiến chúng ta thiếu may mắn: mất đi sợi dây lịch sử xuyên suốt để những giá trị văn hóa không bị đứt quãng. Lớp hậu bối vì thế mà lúng túng chăng??? Nếu để tìm hình ảnh biểu tượng của Việt Nam cho ngày hôm nay, để đơn giản hơn thì chắc là chúng ta nên chọn một thời điểm trong lịch sử để xét. Còn biểu tượng cho Việt Nam một cách toàn diện cả truyền thống hiện tại và tương lai sẽ nan giải vô cùng. Chỉ khi lịch sử dân tộc được sáng tỏ đến tận cội nguồn. "Con người có tổ, có tông Như cây có cội, như sông có nguồn" Sẽ còn day dứt trong lòng những người yêu nước Việt cho đến ngày trang sử vàng nước Việt rộng mở giữa năm châu.
  19. Một thông tin về Quốc điểu của Nhật Bản - quốc gia đang được nhiều nhà nghiên cứu đặt vấn đề là "hậu duệ" của người Việt cổ Quốc điểu của Nhật là gì? (http://www.nhatban.net) Pháp luật không quy định rõ quốc điểu. Ở Nhật người ta coi chim trĩ là quốc điểu bởi chim trĩ xanh lục chỉ có ở Nhật, bên cạnh đó chim trĩ lại có mặt trong rất nhiều chuyện dân gian. Có thể nói chim trĩ là một phần của phong thổ nước Nhật. Hình ảnh chim trĩ trong đồng tiền của nước Nhật rất phổ biến: ">
  20. Nguồn: dongtac.net Bản thông điệp 12.000 năm của tổ tiên người Việt Hà văn Thùy Thứ năm 11, Tháng Giêng 2007 Ảnh trên: giáp cốt văn - chữ viết trên mai rùa (Hongkong University) Nhà nghiên cứu Trương Thái Du có bài: “Những con chữ khởi thuỷ và một áng văn rất sớm của loài người” trên mạng vannghesongcuulong.org ngày 3.5.06. Đọc bài điểm báo và đi sâu vào nguồn tư liệu do ông giới thiệu, chúng tôi nhận ra đây là vấn đề rất lớn, cần được tìm hiểu thấu đáo. 1/ Tóm lược tài liệu: Nhờ tác giả bài báo, chúng tôi tìm được những tài liệu sau: 1.a ‘Chữ viết cổ nhất’ tìm thấy ở Trung Quốc (BBC) (1) Trong 24 ngôi mộ được khai quật tại làng Giả Hồ, di chỉ có tuổi 6600 đến 6200 năm TCN thuộc tỉnh Hà Nam, tiến sĩ Garman Harbottle thuộc Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, New York, Hoa Kỳ cùng nhóm khảo cổ Trường Đại học Khoa học và công nghệ tỉnh An Huy Trung Quốc xác định được 11 ký hiệu đặc biệt được khắc trên mai rùa. Harbottle cho biết: Điều rất có ý nghĩa là những ký hiệu trên có sự gần gũi với chữ Trung Quốc cổ. Trong những ký hiệu đó có cả biểu tượng về “mắt’ và “cửa sổ”, số Tám và 20, tương đồng với những ký tự được sử dụng hàng nghìn năm sau vào thời nhà Thương (1700 đến 1100 TCN). Chúng sớm hơn những ký tự được phát hiện tại Mesopotamia hơn 2000 năm. Trong một vài vỏ rùa người ta cũng tìm thấy những hòn sỏi nhỏ. Nhóm nghiên cứu Giả Hồ cho rằng những vỏ rùa chứa đá cuội được dùng làm nhạc cụ phát tiếng kêu lách cách trong nghi lễ Shaman. Trong một ngôi mộ có 8 vỏ rùa cùng bộ xương của người đàn ông bị mất đầu. Những vỏ rùa được phát hiện vào năm 1999, khi nhóm nghiên cứu khai quật những ngôi mộ trong đó có những ống sáo cổ làm bằng xương. Đó là những nhạc cụ sớm nhất được biết tới. Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Antiquity. 1.b ’Ống sáo’ cổ (BBC) (2) Tiến sĩ Garman Harbottle thuộc Phòng thí nghiêm Quốc gia Brookhaven New York cùng đồng nghiệp Trung Quốc phát hiện những ống sáo làm bằng xương chim hạc tại di chỉ Giả Hồ tỉnh Hà Nam Trung Quốc. Những ống sáo 9000 tuổi làm bằng xương chim được khoét từ 5 đến 8 lỗ, chiếc dài nhất đo được 24 cm. Đáng chú ý là một trong những ống sáo đó vẫn còn thổi được. Giả Hồ là di chỉ lớn, có tới 300 ngôi mộ được phát hiện, trong đó có nhiều đồ tuỳ táng. Sưu tập sáo Giả Hồ là những ống sáo sớm nhất của người hiện đại được phát hiện, tuy người ta đã biết đến những ống sáo 45.000 tuổi của người Neanderthal tại Slovenia năm 1995. 1.c ’Khảo cổ chữ viết’ (3) Chúng ta biết nhiều về làng Bán Pha tỉnh Sơn Tây Trung Quốc nơi phát hiện mộ Tần Thuỷ hoàng với hàng nghìn tượng lính đất nung cùng nhiều hiện vật bằng đồng. Ngay dưới làng Bán Pha 3,5 m là di chỉ khảo cổ khác, được gọi là Bán Pha 2, niên đại 12.000 năm. Tại đây người ta tìm được một bình gốm dính ở đáy một chất giống như cặn chè. Đặc biệt là bề mặt bình có một văn bản khắc chữ tượng hình giống chữ Trung Hoa cổ, mang tính biểu tượng cao nhưng không giống với tự dạng chữ Hán hiện đại. Nhóm của tiến sĩ Jeff Schonberg Đại học Angelo bang Texas Hoa Kỳ cố gắng tìm mối liên hệ với tiếng Trung Quốc để giải mã câu chuyện. Một câu chuyện đạo đức như là nghi lễ chữa bệnh. Để hiểu hiệu lực của câu chuyện cần tìm hiểu cảnh quan tinh thần vùng Tây An. Miền quê này có nhiều gò đất thiêng mang tinh thần bái vật giáo, được coi như những ông thày dạy cách canh tác cũng như phép ứng xử… Câu chuyện trên cái bình liên quan đến “hành vi xấu” mà ngôn ngữ ngày nay gọi là “sự kiêu ngạo”. Sự kiêu ngạo này không phải do con người đối xử với nhau mà với thần linh, thể hiện ở chỗ phớt lờ hay không tôn trọng sự khôn ngoan của các vị thần. Câu chuyện trên cho thấy: hành vi xấu làm sa đoạ tinh thần cùng sự cứu rỗi. Có một thời đen tối Thế giới bị đảo lộn. Thời kỳ ảm đạm xảy ra do con người ứng xử tồi tàn và xúc phạm Thuỷ thần. Do vậy con người bị bệnh tật. Quan hệ giữa người và người trở nên rối loạn. Phương thức cứu chữa: Con người đến thưa với Sơn thần. Sơn thần biết lý do khiến Thuỷ thần giận dữ. Thần khuyên con người phải làm cuộc hành hương cứu rỗi. Trên dải núi xa sẽ thấy một loại cây, hãy mang về chế thành chè uống. Sự tha thứ xảy ra, bệnh sẽ khỏi và bóng tối biến thành ánh sáng. Dân địa phương cho biết: câu truyện trên vẫn được truyền miệng trong vùng Tây An. Tiến triển lịch sử cùa Trung Quốc hầu như thúc ép con người hiện nay sống với tâm trạng giận dữ. Có nhiều nguyên nhân nhưng lý do thuyết phục nhất là trẻ con ở đây thường được đưa tới trường rất sớm. Nhà trường giáo dục một lề thói chống lại truyền thống gia đình. Hầu như những đứa trẻ này không trở về làng nữa. <h3 class="spip">2/ Ý kiến các nhà khoa học</h3> 2.a Ý kiến các nhà khoa học Mỹ Phát hiện trên mai rùa đã gây tranh luận mà người cầm đầu cuộc khai quật cho là “một dị thường”. Tiến sĩ Harbottle nói với BBC News: “Nếu bạn nhặt lên một cái chai có hình đầu lâu xương chéo, bạn sẽ biết ngay đó là chất độc, dù không có bất cứ lời giải thích nào. Chúng ta dùng ký hiệu để chuyển tải những khái niệm và tôi không ngạc nhiên về những gì chúng ta thấy nơi đây.” Tuy nhiên, giáo sư David Keightley của Đại học California, Berkeley Hoa kỳ nhấn mạnh đến mối liên hệ của chúng với những nguyên bản đời Thương. Ông nói: “Một khoảng cách 5000 năm mà giữa chúng vẫn có sự liên hệ, thật là điều đáng ngạc nhiên.” “Tuy vậy mối liên hệ cần được chứng minh kỹ lưỡng hơn.” Nhưng Gs Harbottle nhấn mạnh đến sự liên tục của những ký hiệu xuất hiện tại những vị trí khác nhau dọc theo sông Hoàng Hà suốt từ thời kỳ Đồ đá mới đến đời Thương, khi một hệ thống chữ viết phức tạp được phát hiện. Ông không cho là những ký hiệu thời Đá mới có cùng ý nghĩa với những ký hiệu giống với nó ở đời Thương. G.s Keightley nói thêm: “Điều này thật khó hiểu và không bình thường; nó có sớm đến mức kinh ngạc. Chúng ta không thể coi đó là chữ viết khi chưa có bằng chứng thuyết phục hơn.” Ông nhấn mạnh, những chỉ dấu của văn hoá Đá mới Giả Hồ có thể không đủ phức tạp để cần đến hệ thống chữ viết. Nhưng ông cho rằng những ký hiệu đó mang tính biểu tượng hoặc được cách điệu hoá cao. Nó là một dạng đặc biệt của chữ viết Trung Quốc. Chữ “mục” là mắt tương tự với những chữ khắc mới tìm thấy gần đây. W. Boltz, giáo sư tiếng Hoa cổ Đại học Washington, Seattle: “Cách quãng hơn 5000 năm… Sao quá trình phát triển chữ viết của Trung Quốc diễn ra lâu thế? Suy diễn dựa trên tương quan hình thể đơn độc, dọc khoảng thời gian dài như vậy, gần như vô nghĩa. Bằng cách nào người ta biết rằng hình nọ trong thực tế là hình con mắt?” Theo ông, nó có thể giống ‘con mắt’ với ngưới này, mà cũng có thể là cái khác với người kia. “Không có một văn cảnh, bao gồm cà sự am hiểu về ngôn ngữ liên quan, không thể nói những dấu hiệu này là chữ viết.” 2.b Ý kiến các học giả Trung Quốc Tác giả Trương Thái Du cho biết: “Khi tôi liên lạc trực tiếp với giáo sư Trương Cư Trung - người đứng đầu nhóm nghiên cứu- để hỏi về sự chính xác của thông tin mà tiến sĩ Jeff Schonberg đề cập trong một hội thảo tại Mỹ, ông Trương khẳng định: cách nay 12000 năm Trung Quốc chưa thể có chữ viết. Chỉ chắc chắn rằng chiếc bình trà nọ có niên đại từ 5000 năm trở lên.”(bđd) <h3 class="spip">3/ Nhận định của chúng tôi</h3> 3.a Về ý kiến các nhà khoa học Mỹ Đối với sự thận trọng của các học giả Mỹ, tác giả Trương Thái Du đã trả lời khá thoả đáng: “Một người Trung Hoa bình thường nhất cũng có thể giải thích để Keightley hết ngạc nhiên: hơn 3000 năm từ Thương – Ân, tiếng Hoa hiện đại vẫn còn rất nhiều từ không hề thay đổi, chữ “mộc” và chữ “khẩu” là thí dụ rõ nhất. Trong ý nghĩa nào đó của sự tương đối, 5000 năm từ thời Đá mới đến đời Thương chưa chắc đã dài bằng 3000 năm tiếp theo.” (bài đã dẫn) Nhưng sự thận trọng thái quá ở đây lại mang yếu tố mâu thuẫn và nguỵ biện. Nói rằng “những chỉ dấu của văn hoá Đá mới Giả Hồ có thể không đủ phức tạp để cần đến hệ thống chữ viết.” là không có cơ sở. Một di chỉ lớn, có tới 300 ngôi mộ, tại đó phát hiện nhiều ống sáo bằng xương chim, có những vỏ rùa khắc chữ. Vỏ rùa không chỉ khắc chữ mà còn là dụng cụ bói toán. Những hòn sỏi trong đó có khả năng là những vật dùng trong bói dịch… Chứng tỏ một xã hội phát triển cao, chữ viết là nhu cầu tất yếu. Chúng tôi không hiểu vì sao, khi phân tích những mai rùa Giả Hồ, nhóm nghiên cứu không hề liên hệ tới văn bản trên bình Bán Pha 2. Văn bản Bán Pha 2 sẽ soi sáng rất nhiều cho việc giải mã những ký hiệu trên mai rùa Giả Hồ. Không những chỉ sớm hơn 3000 năm, văn bản Bán Pha 2 là tập hợp những ký tự được tổ chức theo quy luật nhất định khiến người ta đọc được. So với văn bản Bán Pha 2, những gì trên mai rùa Giả Hồ không còn ‘quá sớm’ Không hiểu vì sao các tác giả không cho biết chủ nhân của những vỏ rùa hay bình cổ? Khi xác dịnh họ là ai, thì việc giải mã những đồ tuỳ táng sẽ có cơ sở hơn. Chúng tôi nghi rằng đó là những người Indonesien, Melanesien từ Đông Nam Á đi lên. Nếu đúng vậy thì việc phát hiện ra ống sáo và chữ viết không đáng ngạc nhiên. 3.b Về phát biểu của giáo sư Trương Cư Trung Chúng tôi nhận thấy câu trả lời của giáo sư Trương không thuyết phục. Một bình gốm tìm thấy trong di chỉ 12.000 tuổi mà ông lại bảo là có niên đại “từ 5000 năm trở lên” thì tính trung thực khoa học phải hiểu thế nào đây? Tuổi của đồ gốm phụ thuộc tuổi di chỉ kháo cổ. Trong trường hợp bình gốm này, nếu trung thực khoa học thì phải nói: “có tuổi từ 12.000 năm trở lên.” Bởi lẽ ai biết bình được làm từ bao giờ, nó theo con người bao lâu? Chỉ vì được chôn xuống cùng con người nên bị định theo tuổi con người ? Chúng tôi biết, việc hạ thấp tuổi bình Bán Pha 2 và phủ định chữ viết 12000 năm không đáng ngạc nhiên. Tại sao giáo sư Trương lại đưa ra con số 5000 năm mà không phải con số khác? Phải chăng cần bỏ đi 7000 năm để cho chiếc bình nằm trong phạm vi văn minh Trung Hoa? Phải chăng đó là tiếp nối truyền thống của những Sanxingdui?(4) 3.c Tìm về sự thật lịch sử Giáo sư Trương nói: “cách nay 12.000 năm Trung Quốc chưa thể có chữ viết.” Điều này hoàn toàn đúng bởi lúc đó ngay cả Trung Quốc cũng chưa có! Nhưng ít nhất từ 30.000 năm trước vùng này là giang sơn Bách Việt. Tháng 9 năm 1998 B. Su, Y. Chu, J. Ly những tác giả người Hoa của Dự án Đa dạng di truyền người Hán (Chinese Human Genome Diversity Project) được thực hiện bằng tiền của Quỹ phát triển khoa học tự nhiên Trung Quốc đã công bố tư liệu: 70.000 năm trước, người hiện đại Homo Sapiens đã từ Trung Đông tới Việt Nam. Tại đây, hai đại chủng Mongoloid và Austrloid hoà huyết và sinh sôi nhanh. Khoảng 40.000 năm trước, người từ Đông Nam Á - mà sau này sách sử Trung Hoa gọi là Bách Việt - đi lên mở mang miền đất ngày nay có tên là Trung Quốc(5). Trong khoảng 40.000 năm sinh sống từ sông Hoàng Hà tới sông Dương Tử, người Bách Việt trong đó tộc Lạc Việt là chủ thể đã triển khai Văn hoá Hoà Bình, tạo dựng xã hội nông nghiệp lúa nước phát triển nhất thế giới. Trong thời gian dằng dặc ấy, người Bách Việt đã sáng tạo rìu đá cũ, những công cụ đá cuội mài, ra kinh Thi, kinh Dịch, đồ đồng… đã biết kết thừng, biết quan sát vết chân chim làm ra chữ viết! Vì vậy từ lâu nhiều người dự đoán, việc tìm ra chữ viết trên mai rùa hay đồ gốm là tất yếu. Việc phát hiện ra chữ trên mai rùa 9.000 năm ở Giả Hồ, bản văn trên bình gốm 12.000 năm ở Bán Pha là điều không thể khác. Từ bản văn Bán Pha, ta có thể tin là chữ viết có từ trước nữa! Lịch sử cứ trôi đi như thế cho đến năm 2600 TCN, Hiên Viên Hoàng đế từ thảo nguyên Thiểm Tây, Cam Túc đưa quân tràn xuống chiếm đất của Viêm Việt (Bách Việt), mở ra cuộc hoà huyết và hoà nhập văn hoá vĩ đại giữa chủng Mongoloid phương Bắc và Bách Việt để tạo ra chủng mới là Mongoloid phương Nam, tổ tiên trực tiếp của người Hán và người Việt hôm nay. Những chữ viết trên mai rùa, trên bình gốm rõ ràng do người Bách Việt sáng tạo. Nhưng quyền kế thừa không chỉ thuộc người Việt Nam mà cũng thuộc về người Trung Quốc và các dân tộc Đông Á bởi chúng ta ngày nay, như trong cuốn sách cổ Trung Hoa nói rất đúng, đều là Viêm Hoàng tử tôn. Do biến cải của lịch sử, người Trung Hoa sống trên đất cũ nhưng những báu vật của tổ tiên Bách Việt xưa đều là tài sản là niềm tự hào chung của các dân tộc Á Đông. Mọi sự kỳ thị vừa không phù hợp với tinh thần khoa học vừa có tội với vong linh tiên tổ Viêm Hoàng. Trở lại Truyện cổ Bán Pha Đây là thông điệp xưa nhất mà tổ tiên gửi tới con cháu lời cảnh báo về mối hiểm nguy do thái độ kiêu ngạo trong ứng xử với thiên nhiên. Bằng lương tri của mình, chúng ta cần có hành động cứu rỗi để hoá giải tai ương. Chắc chắn đấy là con đường trở về với truyền thống nhân bản của người Việt. Viết đến đây tôi nhớ tới lời nhà văn Nga V. Rasputin: “Không làng quê, chúng ta sẽ mồ côi,” trong bài báo cùng tên đăng trên báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam số ra ngày 1.7.2006. Thiết nghĩ không phải ngẫu nhiên mà vào năm tháng này chúng ta nhận được từ tổ tiên một thông điệp giầu ý nghĩa như vậy. HVT, Sài Gòn 7.2006 Tài liệu tham khảo 1. BBC: ’Earliest writing’ found in China 2. BBC: The bone age ’flute’ 3. Archaeology of Writing 4. Năm 1986 người ta tìm được ở Sanxingdui tỉnh Tứ Xuyên hơn 800 hiện vật trong đó có nhiều đầu người và mặt nạ tuyệt xảo bằng đồng, nổi bật là bức tượng đồng to bằng người thật, cao 1,72 m. Tượng có mắt to và xếch, mũi lớn, lông mày rậm, miệng thật rộng, không thuộc chân dung điển hình của người Hán. Giới khảo cổ Trung Quốc gọi là cổ vật thuộc nhóm dân Ba Thục và xếp chúng vào thời kỳ cuối đời Thương. Tuy nhiên người ta biết rằng nước Thục có từ khoảng 4700 năm trước, sớm hơn nhà Thương 1000 năm, chỉ bị nhà Tần diệt vào thế kỷ III TCN. Đấy chính là sản phẩm của Bách Việt. 5. J.Y. Chu & đồng nghiệp: Genetic relationship of population in China. Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 n. 95 tr. 11763-11768. Hình ảnh kèm theo: H.1 : Vỏ rùa tại Giả Hồ (BBC News) First attempt at writing on a tortoise shell H.2 : Chữ “Mục” ? (BBC News) H.3 : Ống sáo xương chim Giả Hồ (BBC News)
  21. Trong văn hóa Việt của ta có hai hình ảnh cổ xưa về loài chim gắn bó với dân tộc là chim Lạc và chim Việt. Lịch sử đã trải dài và bị mai một đến mức chúng ta còn phải mày mò rất lâu nữa mới có thể viết lại áng sử của dân tộc. Góp chút nhỏ bé trên con đường tìm kiếm, khảo cứu, mời các ACE có tư liệu về hai loài chim Lạc và Việt cùng đưa vào topic này để chúng ta có thêm thông tin phân tích, nghiên cứu. Giới thiệu một bài viết của tác giả Nguyễn Xuân Quang. Riêng đối với Phoenix, bài viết này không thuyết phục nhưng cũng là một cách nhìn. Mời ACE cùng tham khảo. Con Chim Việt Đậu Tại Văn Miếu, Hà Nội Tác giả: BS Nguyễn Xuân Quang Nguồn: trangdenonline.com Suốt một đời, tôi miệt mài đi tìm cái căn cước Việt, cái bản sắc Việt của mình. Từ nhỏ cho tới bây giờ, tôi đã được dậy, đã nghe, đã thấy và đã đọc những điều cho là văn hóa Việt thật là mơ hồ, thật là lẫn lộn với văn hóa Trung Hoa. Nếu chúng ta là Việt khác Trung Hoa thì cái cốt lõi văn hóa Việt phải có sắc thái Việt, khác văn hóa Trung Hoa. Hãy lấy một ví dụ, tại Little Saigon, Orange County, California, đang có dự án xây hai cái cổng chào hình vòm ở hai đầu khu phố Việt trên đường Bolsa, những người thiết kế hai cái cổng này vẽ hình Long, Li, Qui, Phượng và giải thích cho người Mỹ hiểu theo ý nghĩa của tứ linh Trung Hoa. Khi nhìn thấy hình tứ linh này, thì ai ai, nhất là người Tây phương, cũng đều cho đây là biểu tượng của người Trung Hoa. Ngộ nhận là chuyện tất nhiên. Tôi đã lên tiếng và yêu cầu ít ra cũng nên chọn những vật biểu thuần Việt chỉ riêng người Việt có mà người Trung Hoa không có, nhằm mục đích để tránh được lầm lẫn, ngộ nhận, tránh tròng vào cổ cái ách đô hộ của văn hóa Trung Hoa, cũng tránh biến Little Saigon trở thành Little Chợ Lớn (chẳng hạn như thay thế Long, Ly, Qui, Phượng bằng Cò Lang, Chim Việt). Hãy nhìn về diện vật tổ như vừa nói chẳng hạn, thì vật biểu, totem Việt phải thuần Việt. Hôm nay xin nói tới con chim tổ tối cao tối thượng của Đại Tộc Việt là con chim Việt. Chúng ta thường nghe nói tới con Chim Việt đậu cành Nam và nghe bài hát Đàn Chim Việt. Tôi đã tìm thấy hình bóng con chim Việt trong sử sách (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), trong sử miệng (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt) và trong sử đồng (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á) (đang in). Tôi biết khó có thể thuyết phục ngay được những người làm văn hóa Việt hiện nay, nhất là những kẻ đang làm xiếc văn hóa Việt, những tên phù thủy văn hóa Việt. Theo linh tính tôi biết con chim Việt phải còn để lại hình bóng, dấu tích ở đâu đó trong văn hóa Việt Nam ngày nay, nhất là ở những nơi thờ tự, miếu đình nào đó. Vì thế nhằm mục đích thuyết phục thêm nữa các người làm văn hóa Việt và phục vị lại được con chim Việt, chim tổ của Đại Tộc Việt, tôi quyết tâm, quyết chí đi tìm một hình bóng chim tổ Việt thật hết sức đặc thù, thật hết sức dễ nhận diện, còn ở đâu đó, ngay trước mắt mọi người, ai nhìn thấy cũng nhận biết ra ngay là chim Việt. Nhưng tìm kiếm bóng chim Việt trong đời sống hàng ngày hiện nay thật là khó khăn vì tôi sống ở đất Bắc, ở đất tổ, nơi chắc chắn còn nhiều dấu tích hình bóng chim Việt, lúc đó còn quá nhỏ, vào Nam lúc còn học tiểu học và rồi ra hải ngoại. Dĩ nhiên trong Nam và nhất là ở hải ngoại càng khó có cơ may tìm kiếm được. May mắn thay! Eureka! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy! Tôi đã tìm thấy con chim Việt rất đặc thù đang đậu ở Văn Miếu, Hà Nội. Chim Việt là chim gì? Trước hết nên biết Việt là gì? Tôi đã viết rất cặn kẽ Việt Là Gì? trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt và trong Y Học Thường Thức, ở đây chỉ xin nhắc lại vài điểm chính yếu. Việt có nghĩa gốc, nghĩa chính là búa, rìu, có nghĩa chung là vật sắc nhọn. Việt là búa, vật nhọn cũng thấy qua tên vua Việt Câu Tiễn thời Xuân Thu. Câu là chiếc móc cong như lưỡi câu, chiếc liềm (câu liêm), Tiễn là Cắt như tiễn mía, là Tiện (cắt) như thợ tiện, Tiễn là vật nhọn như mũi tên (hỏa tiễn dịch là “tên lửa”). Câu Tiễn là vật, khí giới sắt bén hình nhọn và cong, một thứ việt lưỡi cong. Việt lưỡi cong Câu Tiễn mang hình ảnh của chữ yuè (Việt) khắc trên giáp cốt và kim văn: Từ Việt là một từ Hán Việt. Tên của tộc họ chúng ta không thể là một từ Hán Việt. Hiển nhiên từ Việt chỉ là một từ phiên âm dịch nghĩa của một từ nôm trăm phần trăm nào đó. Từ Việt phiên âm dịch nghĩa từ một từ Nôm nào? Việt phiên âm hay biến âm với các từ nôm: -Vớt là “large knife” (used as weapon): dao lớn dùng làm khí giới (Đặng Chấn Liêu). Cũng nên biết các tộc thù nghịch và những người Việt có “Tây học” trước đây thường xỉ nhục những người gốc Việt quê mùa là bọn “răng đen mã tấu”. Mã tấu là một thứ vớt, thứ việt, chính là khí giới biểu của người Việt và răng đen là nét đặc thù của người Việt thuộc tộc Mặt Trời Nước Lạc Việt Lạc Long Quân (màu đen là màu của nước thái âm). -Việt biến âm với Mường ngữ vác là con dao lớn như chiếc mác, mã tấu. Theo v=m (váng = màng), ta có vác = mác. -Vọt (theo qui luật biến âm ie=o như hiệp = hợp, ta có Việt = vọt). Nghĩa đen vọt là chiếc roi, chiếc que, chiếc nọc. -Việt còn biến âm với vạch (khắc, chạm, viết bằng mũi nhọn), với Hán Việt viết cùng nghĩa với vạch, với diết, diệt, giết (làm cho chết bằng vật nhọn sắc như đâm, chém con thú bằng mũi dao, mác, lao, giáo, mũi tên, rìu búa...). Tóm lại Việt phiên âm hay biến âm với từ vớt, vác (mác), vọt, vạch, viết có nghĩa chính là vật nhọn sắc, nọc nhọn ứng với nghĩa Hán Việt búa, rìu. Dưới diện ý nghĩa biểu tượng, vật nhọn dùng làm biểu tượng cho bộ phận sinh dục (nõ, nọc), đực (nọc), dương, thái dương, mặt trời (dương là đực và cũng có một nghĩa là mặt trời). Vậy Việt mang một ý nghĩa biểu tượng cho mặt trời, mang nghĩa mặt trời nọc, lửa, thái dương có nọc tia sáng tỏa rạng ra như mũi tên, mũi mác (>) như nọc nhọn. Việt hiểu theo nghĩa biểu tượng là MẶT TRỜI TỎA RẠNG, MẶT TRỜI RẠNG NGỜI, HỪNG RẠNG hay muốn dùng theo Hán Việt thì là VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG. Chúng ta thuộc họ Việt mặt trời rạng ngời, Việt mặt trời thái dương dòng thần Mặt Trời Viêm Đế, Viêm Việt. Hiểu rõ Việt như thế rồi, nhìn tổng quát tất cả các tên, hiệu, biểu tượng, vật tổ, vật biểu, chim biểu, thú biểu về ngành Nọc, dương của Đại tộc Việt đều có nghĩa nói chung là vật nhọn (nọc, cọc, que, vọt, búa rìu, dao, giáo, mác…), đực, dương, mặt trời thái dương tức là VIỆT ví dụ như trăm lang (lang biến âm với chàng là con trai, chàng cũng là chiếc đục ‘chisel’), Hùng (có một nghĩa là đực như thư hùng), chim biểu của Lang Hùng, Hùng Vương là chim Lang, chim Hùng, chim Việt là chim Nọc, chim Rìu; thú biểu bốn chân sống trên mặt đất là con thú Việt, là Hươu Việt nôm na gọi là con Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc)... Chim Rìu, Chim Việt Như trên đã nói, con chim tổ tối cao tối thượng của Đại Tộc Việt phải là con chim Việt, chim Rìu. Tôi đã tìm thấy con chim Việt này và đã viết trong ba bộ sử sách, sử miệng, sử đồng, nếu cần các chi tiết xin tham khảo ở đó, ở đây chỉ xin nhắc lại một vài điểm chính yếu để độc giả dễ theo dõi và dễ hiểu bài viết này mà thôi. Hình bóng chim Việt qua: Sử sách Như đã thấy, qua ngôn ngữ, chim Việt là chim Rìu. Đây chính là chim mỏ Cắt còn có tên là chim mỏ rìu như thấy qua bài vè các loài chim: Cũng còn có chú mỏ rìu,Rõ là tay thợ, khẳng khiu chán chường. Chim cắt là chim rìu, chim Việt của đại tộc Việt ở Cõi Trên Tạo Hóa. Cắt liên hệ với Anh ngữ cut (cắt), Phạn ngữ khad, to divide, to break, ta có k(h)ad = khắc = cắt (t=d), Tiền cổ-Ấn Âu ngữ *kès- 'cut' và gốc Ngôn ngữ của chúng ta Nostratic *k'aca. Theo chuyển hóa c=h (cùi = hủi), ta có cắt, cát, các = hac, hache (Pháp ngữ), hacha (Tây Ban Nha ngữ), hack (Anh ngữ) có nghĩa là rìu, búa chim... Chim cắt là chim rìu, chim Việt... Chim Cắt là chim Rìu, chim Việt thấy rõ qua truyện thần thoại Con Chim Torok hay Burong Tebang Rumah Bapok Mentua (Con Chim Bổ Sập Nhà Bố Vợ) của thổ dân Kelantan, Borneo. Chim Torok là chim bổ cắt. Mã ngữ torok là thọc, thục, đục, đực... Con chim bổ sập nhà bố vợ hiển nhiên phải có mỏ là mỏ đục (chisel), mỏ rìu, mỏ cắt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Chim cắt Anh ngữ là hornbill, tên khoa học là Rhinoplax vigil, (Forst., Bucerotidae) có horn là sừng (vật nhọn) và bill là bổ là mỏ. Chim mỏ cắt có tên Hán Việt là chim hồng hoàng. Chúng ta thường nói tới hai từ Lạc Hồng hay Hồng Lạc, chúng ta là con Hồng cháu Lạc. Nhìn dưới diện vật tổ chim thì Lạc Hồng là chim Hồng, chim Lạc. Chim Hồng là chim Đỏ, chim Lửa, chim Lạc là chim Nác, chim Nước. Chim Lạc chim Nước có thể là loài ngỗng trời (con ngỗng chân có màng là một loài chim nước) không phải là loài cò, một loài chim Gió (xem Chim Lạc hay Cò Lang?). Chim Hồng, theo duy dương, là chim hồng hoàng bổ cắt (xem dưới). Như thế chim cắt là chim Rìu, chim Việt, Chim Lửa, chim mặt trời, chim Nọc, hồng hoàng. Sử miệng Ca Dao Tục Ngữ Hình bóng chim rìu, chim cắt còn thấy nhiều trong ca dao như qua bài đồng dao Bổ nông là ông bồ cắt nói về sáu con chim tổ của Đại Tộc Việt ứng với Việt Dịch Chim Nông Cắt ở Cõi Trên, Tạo Hóa. Bổ nông là ông bồ cắt, Bồ cắt là bác chim di, Chim di là dì sáo sậu Sáo sậu là cậu sáo đen Sáo đen là em tu hú Tu hú là chú bồ nông. Sử đồng Hình bóng chim Rìu, Chim Việt bổ cắt cũng thấy rất nhiều trên trống đồng âm dương Đông Sơn. Trên mặt trống đồng Duy Tiên, mặt tuy bị vỡ nhưng còn thấy rõ hình ba con mỏ cắt, mỏ lớn, đầu có mũ sừng. Đây là loài Great hornbill, loài mỏ cắt lớn nhất. Những hình thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ đầu thuyền có hình Rắn-Nước miệng há rộng biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ với hình chim mỏ rìu, biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam đâm vào miệng Rắn Nước. Đây là dạng lưỡng hợp sinh tạo thái âm thái dương ở cõi Đại Vũ Trụ. Đuôi thuyền hình chim nông và ngay sau đuôi thuyền có một hay hai cây nọc hình đầu chim cắt, ở dạng lưỡng hợp bổ nông (thiếu âm) với bồ cắt (thiếu dương) ở cõi trời Tiểu Vũ Trụ. Trên nhiều trống đồng khác như trên trống đồng sông Đà, một đuôi thuyền khắc đầu chim hình chiếc rìu (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Mường Mường Việt cổ có vật tổ chim là chim tráng, chim cháng. Giữa Việt và Mường có qui luật biến âm dấu sắc Mường = dấu huyền Việt như mấn = mần (làm) nên ta có tráng (trai tráng) = Việt ngữ chàng (chàng trai) và cháng = Việt ngữ chàng (đục, chisel). Chim cháng là chim chàng, chim đục, chim rìu, chim mỏ cắt. Theo truyền thuyết Mường hai con chim Kláng, Klao (tương ứng với truyền thuyết khác là chim Ây, cái Ứa) đẻ ra trứng trăm trứng nghìn, nở ra muôn vật muôn loài, đẻ ra người Đáo (tức người Kinh, người Việt) đẻ ra người Mường... Từ Kláng chuyển sang Việt ngữ là Tráng, Chàng (đục) tức chim mỏ cắt (xem chương Nhận Diện Danh Tính Hùng Vương trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt) -Chim Khướng Chim mỏ cắt cũng còn gọi là chim khướng như thấy trong truyện thơ Mường: Khách phương nào tới Mà sao tốt tướng oai nghi Như con chim khướng mấy thuở mấy thì Bay qua lèn đá dựng, Đã đứng nên đứng, Đã ngồi nên ngồi... (Truyện Út Lót - Hồ Liêu, Hoàng Anh Nhân, t.2, tr.99). Tác giả trên giải thích “Chim Khướng: loại chim lớn, mỏ to và trên mỏ có mũ sừng cứng, thường gọi là chim Phượng hoàng đất”. Tác giả đã không nhận diện ra được “chim Phượng hoàng đất ”mỏ to và trên mỏ có mũ sừng" chính là chim cắt. Rõ ràng chim khướng là chim cắt lớn great hornbill. Theo qui luật biến âm dấu sắc Mường = dấu huyền Việt ta có khướng = khường và kh Mường = s Việt như khang = sang, không = sông, nên khướng = khường = sường = sừng. Con chim khướng là con chim sừng (đầu có mũ sừng), tức chim hornbill và ta cũng thấy khướng biến âm với Hán Việt khương (có nghĩa là sừng). Chim khướng là chim sừng, chim khương. Viêm Đế có họ là Khương (sừng) như thế chim Sừng Khướng mỏ cắt là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế họ Khương, của Viêm Việt. Chim cắt cũng được thờ phượng đúc thành tượng vàng thấy trong truyện Út Lót. Nàng Út Lót nói với hai chị rằng: “Đồ vàng đúc hình con chim cắt...”. Ê-Đê Người Ê-đê có chim mling, mlang thấy qua bài hát Anh đến từ nơi xa, Anh mang theo chim mơ-linh từ nhà, Chim mơ-lang từ buôn. Anh nghĩ rằng em là con gái chưa tơ vương... (Vũ Ngọc Phan, Tục Ngữ, Cao Dao, Dân Ca, Việt Nam). Chim mling, mlang này chính là chim cắt. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với Mã Lai ngữ langling: the Southern pied hornbill (chim cắt có lông sặc sỡ, nhiều màu ở miền Nam). Ta cũng thấy rất rõ Mã ngữ lang: a generic name for hauks, kites and eagles (một tên chủng loại chỉ diều hâu và ó, ưng). Như thế chim lang, chim linh chỉ chung loài mãnh cầm, loài chim mang hùng tính biểu tượng cho đực, dương, phái nam, mặt trời. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với hai từ lang và linh trong Việt ngữ. Việt ngữ lang là chàng, con trai. Linh ruột thịt với Ấn ngữ linga (bộ phận sinh dục nam). Linh biến âm với lính (ngày xưa chỉ đàn ông con trai mới phải đil ính), với đinh theo kiểu linh đinh. Đinh là con trai, thanh niên như tráng đinh, lễ thành đinh. Rõ ràng chim mlang, mling là chim langling, chim cắt, chim rìu, loài chim mang biểu tượng cho đực, dương, hùng tính, mặt trời tức chim Việt. Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, địa danh Mê Linh mang tên loài chim Việt này. Ông dựa vào các nghiên cứu tổng hợp các tài liệu lịch sử, ngôn ngữ và truyền thuyết dân gian, Mê (Ma, Minh, Mi) Linh là Mling. Mling, mlang (cặp tên có tính chất lấp láy) theo tiếng của các dân tộc Tây nguyên có nghĩa là một loài chim... Mọi tài liệu đều nói lên một cách thống nhất huyện đó, bộ lạc đó, khi xưa mang tên một loài chim Mling với một thị tộc (bào tộc) gốc thờ chim làm vật tổ. Đó là bộ lạc gốc thời Hùng Vương dựng nước (Hùng Vương Dựng Nước, tập I, tr.154). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, hai Bà Trưng là con cháu, dòng dõi vua Hùng Vương. Hùng Vương đóng đô ở Phong châu. Lê Ngô Các, Phạm Đình Toái, đã ghi lại rành rành trong Đại Nam quốc sử diễn ca: Bà Trưng quê ở châu Phong, Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên. Chị em nặng một lời nguyền, Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân... Hai Bà khi lên ngôi đóng đô ở đất Mê Linh (Ý Nhĩa Ngày Lễ Hai Bà Trưng Mồng 6 Tháng 2 Âm Lịch, khoahoc.net) . Mê-Linh, Mlang, Mling, Langling là chim lang, chim biểu tượng cho Lang Hùng, là chim chàng (chisel), chim đục, chim rìu, chim Việt, chim đực, chim biểu của Hùng Vương (Hùng có một nghĩa là con chim đực). Hùng Vương thế gian có một khuôn mặt chim biểu là chim cắt (có thể là loài chim cắt đất), chim Việt đội lốt chim cắt chim sừng, chim Khướng, chim Khương Great Hornbill, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế dòng Viêm Việt. Người Ao (Âu) Naga ở Assam, miền cực tây Vân Nam Người Ao-Naga tức Âu-Rồng Nác, Âu-Long ruột thịt với Âu Cơ-Long Quân, với Âu-Lạc. Chứng tích thờ chim cắt thấy đi kèm với rắn nước, rồng đất cắc kè, kì nhông, kỳ đà, thằn lằn còn thấy nhiều ở người Ao Naga. Trong nghệ thuật khắc gỗ của họ còn thấy chiếc rìu đầu chim mỏ cắt. Đồ khắc gỗ của người Ao Naga có chiếc rìu đầu chim mỏ cắt (Mills, The Ao Naga). Sắc dân này có tộc Ozukumtzur (bird-became- woman) tự nhận là con cháu của chim Mỏ Cắt có hèm (taboo) là không ăn thịt chim mỏ cắt (William Carson Smith, p.111). Người Katu Người Katu có căn nhà thiêng liêng trên nóc có con chim đực. Nhà của người Katu trên nóc có con chim đực (theo Maurice). Chú ý hình chim này đầu có nọc nhọn hay sừng nhọn biểu tượng cho dương, lửa. Đuôi chim cũng vểnh lên thành hình nọc. Đầu nọc (I), đuôi nọc (I) nghĩa là chim thái dương (II). Lưng chim là đường sống nóc nhà có hình chuỗi chữ viết nòng nọc mũi mác, răng cưa, răng sói (>) biểu tượng cho đực, nọc, dương, thái dương, mặt trời, theo thái dương (Càn) là sóng lửa vũ trụ, ánh sáng, theo thiếu dương (Li) là rặng núi tháp, lửa thế gian. Con chim mang hình ảnh con chim cắt. Người Co Người Co ở Trà Bồng, Trà Mi (miền Trung Việt Nam) có con chim biểu có mỏ rất lớn mang hình bóng chim rìu, chim cắt. Người Ngaju, Dayak Nam Borneo. Giáo sư Kim Định cho họ là Bộc Việt. Hai vật tổ tối cao tối thượng cuả người Ngaju thuộc tộc Dayak, ở miền Nam Borneo là Rắn Nước (Watersnake) và Mỏ Cắt (Hornbill). Chim Cắt gọi là Tingang, trong ngôn ngữ của thầy tế pháp sư gọi là bungai. Vật tổ này thường thấy vẽ, khắc trên hình thuyền Chim Cắt, Thuyền Rắn Nước, những con thuyền mà các thần tổ dùng đi từ thượng giới xuống trần gian. Người Hắc Đảo ở Đại Dương châu. Các Thổ dân Hắc Đảo cũng coi chim cắt là biểu tượng cho đực, dương, lửa, mặt trời. Mỏ bồ cắt là biểu tượng cho cơ quan sinh dục nam như thấy qua hình chim mỏ cắt để trong một miếu âm hồn ở Maprik, Papua, New Guinea. Chim mỏ cắt để trong một miếu âm hồn ở Maprik, Papua, New Guinea (Richard Cavendish, p. 282). Mỏ chim biểu tượng dương vật trong khi mặt trăng ở thân người chim biểu tượng âm hộ. Hình diễn tả nõ nường, nòng nọc, âm dương sinh tạo, giao hợp âm dương. Ở đây ta cũng thấy rõ chim cắt có một khuôn mặt là mặt trời giao hòa với mặt trăng ở thân người chim. Tóm lại vật tổ chim Mặt Trời thuần dương của họ Nọc Việt Mặt trời thái dương là con chim Cắt, chim Rìu, chim Việt, chim Hồng hoàng. Chim Cắt là chim Nọc (Đực), Chim Việt biểu tượng của họ Nọc Mặt trời Viêm Đế, Viêm Việt. Những nét đặc thù của chim cắt, chim rìu, chim Việt. Sau đây là vài đặc tính của chim cắt: 1. Mỏ lớn và dài (prominent bill). Mỏ là yếu tố chủ yếu, nổi bật, đập vào mắt. 2. Có giống cắt có sừng ngà hay “mũ bảo vệ đầu” (bony casque or helmet) nhô ra sau trông như bờm. Chim cắt ngoại trừ hai giống sống dưới đất còn tất cả làm tổ trên chóp ngọn cây cao. Sống trong những rừng cây Đông Nam Á, Ấn Độ, Phi châu, Nam Arabia. Dĩ nhiên Việt Nam cũng có chim này. Trên bìa báo Khoa Học của khoa học gia Nguyễn Công Tiễu số 65 ngày 1er Mars 1934 cũng có vẽ hình con chim “có phong tục lạ” (khi con cái ấp trứng, con đực lấy bùn đắp kín tổ lại, nhốt con cái bên trong, chỉ chừa một lỗ nhỏ để đưa mồi vào nuôi con cái ấp trứng) tên Tây là dichocère và “ta gọi là chim hồng hoàng”. Tại tòa báo Khoa Học ở Ngọc Hà có nuôi một con để độc giả đến xem. Mỏ Cắt Lớn có mỏ lớn dài gần hai tấc rưỡi (25cm) rất đặc biệt. Mũ (casque) con trống có rãnh sâu. Mũ con cái bằng phẳng. Con chim “hồng hoàng” trưng bầy ở tòa báo Khoa Học chính là con Bồ Cắt Lớn, qua lời tả “chim nuôi ở tòa báo dang hai cánh đo được 1 thước 74, từ mỏ đến hết lông đuôi dài 1 thước 25... Mỏ màu vàng trên be ra nom như múi khế...”. 3. Nhưng điểm đặc thù nhất của chim mỏ cắt là cách ăn. Vì mỏ quá to nên khi ăn phải gắp, nhặt lấy quả hay hạt rồi tung cao lên trời và há to mỏ hứng cho hạt rơi vào phần sau của mỏ gần cổ họng thì mới nuốt được thức ăn. Đây là một nét đặc thù thấy trong các biểu tượng chim cắt thái cổ. Con chim mỏ to như mỏ rìu có mũ sừng, ngậm hạt trong mỏ trăm phần trăm là chim cắt. Một vài hình bóng chim mỏ cắt với nét đặc thù là ngậm hạt, quả thức ăn trong mỏ còn thấy trong văn hóa Ngaju, Dayak, Borneo. Họ có quan tài dành cho phái nữ thường đầu có hình chim Bổ Cắt để có dạng âm dương hôn phối và quan tài dành cho phái nam có hình Rắn Nước để có dạng dương âm hôn phối, mong hồn người chết được tái sinh hay về miền hằng cửu. Chim bổ cắt đầu quan tài có nét đặc thù chuyên biệt là mỏ đang ngậm một quả hay một hạt thức ăn. Họ cũng có thuyền vong hình Rắn Nước cho phái nam và thuyền vong hình Chim Cắt cho phái nữ. Chim bổ cắt đầu thuyền có nét đặc thù chuyên biệt là mỏ đang mổ một quả hay hạt thức ăn. Con Chim Cắt Việt Đậu Ở Văn Miếu, Hà Nội Tôi đã tìm thấy con chim tổ bổ cắt ngậm quả hay hạt thức ăn này ở Văn Miếu, Hà Nội. Con chim mỏ to như mỏ rìu, có mũ sừng, ngậm hạt trong mỏ này trăm phần trăm là chim cắt, chim rìu, CHIM VIỆT. Con chim Việt ngậm quả, hột thức ăn trong mỏ tại Văn Miếu, Hà Nội. Con chim cắt Việt này đã linh vật hóa, thần thoại hóa thành linh điểu Việt nên ngày nay không ai nhận ra. Hiển nhiên như đã thấy với điểm đặc thù ngậm quả, hạt trong mỏ đây không phải là con chim phượng của Trung Hoa. Chim phượng biểu tượng cho Lửa, là con chim Lửa có cốt là con chim trĩ, có đuôi rất dài như những dải lụa vì thế còn có tên là chim giải cùi. Con chim ở đây đuôi ngắn. Đây là con chim Việt cũng là chim biểu cho Lửa nhưng có cốt là con chim rìu, chim cắt. Hai con mang ý nghĩa biểu tượng khác nhau. Chim phượng có cốt là chim trĩ, thuộc họ nhà gà, sống nhiều trên mặt đất nên biểu tượng cho Lửa đất, lửa cõi thế gian có một khuôn mặt chính ứng với Li, trong khi chim Việt, chim rìu, chim cắt có loài sống trên cao, làm tổ trên ngọn cây cao như thấy qua bài đồng dao: Bổ cu, bổ cắt, Tha rác lên cây, Gió đánh lung lay, Là ông Cao Tổ... Bài hát này ở thể chơi chữ. Cao tổ là tổ rất cao mà cũng có nghĩa là ông tổ tối cao hay vua Cao Tổ nhà Hán... Chim Cắt sống, làm tổ trên ngọn cây cao biểu tượng cho Lửa trời, lửa vũ trụ ứng với Càn. Lửa vũ trụ sinh ra lửa thế gian. Chim Cắt Việt cõi Tạo Hóa là chim tổ tối cao của Đại tộc Việt. Chim Cắt Việt, chim (mũ) Sừng, chim Khướng, Hornbill là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương (Sừng), là chim biểu của Viêm Việt. Chim Cắt Việt tạo hóa là ông tổ của chim phượng thế gian của Trung Hoa. Văn hóa chim phượng của Trung Hoa là văn hóa thế gian, là di duệ, con cháu của văn hóa chim Cắt Việt vũ trụ. Sau này có lẽ bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa các nhà nho cũng hay nói tới con trĩ Việt tức trĩ lửa thế gian. Cắt Việt vũ trụ là chim tổ của trĩ Việt thế gian, là chim tổ của trĩ phượng Trung Hoa. Chim Việt biểu tượng cho Nọc, đực, dương, lửa, mặt trời nọc rạng ngời, bộ phận sinh dục nam, đối ứng với chim Nông, chim Nước, chim Nòng, hai chim biểu Nọc Nòng tối cao của Đại Tộc Việt. Chim nông, chim cắt là chim nòng nọc, âm dương, chim biểu của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, của Dịch nòng nọc. Vì thế con chim Việt đứng ở Văn Miếu phải mang nghĩa vũ trụ tạo sinh ngành nọc, lửa dương. Thật vậy, trên đầu có hình nọc hơi cong như lưỡi lửa cho biết con chim này là con chim nọc Lửa vũ trụ, chim Việt vũ trụ. Phần mũ trên đầu phía trước gồm có ba nọc nhọn tức ba hào dương, quẻ Càn (III), lửa vũ trụ. Phần mũ sau gáy biến thành mào hình móc cong biểu tượng cho khí, gió lửa (khí gió ngành lửa, dương) Đoài. Phần bờm sau cổ hình sóng lưỡi lửa biểu tượng cho nước lửa (nước ngành lửa, dương) ứng với Chấn và chuỗi hình mũi mác răng cưa, cứ ở giữa hai sóng nước lửa lại có hai nọc mũi mác ghép lại thành hình chữ M. Phân tách M ra ta có /\ V /\, tức hai chữ viết nòng nọc mũi mác chỉ thiên /\ hình núi tháp nhọn là hai hào dương (I...I) kẹp ở giữa một chữ viết nòng nọc V, là một hào âm (O) tức /\V/\ = IOI, quẻ Li, lửa thế gian, núi dương, lửa, đất lửa ngành nọc dương. Mặt khác, nếu ta chồng hai nọc mũi mác này lên nhau, ta có hình tháp vách kép /\ biểu tượng cho núi tháp nhọn giống như hình núi tháp vách kép cũng biểu tượng cho lửa thế gian, đất dương Li thấy ở hoa văn Tứ Tượng trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mà hiện nay các nhà khảo cổ học Việt Nam gọi nhầm là “họa tiết lông công” (xem The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Như thế đầu chim biểu tượng cho Nọc, dương, cho ngành nọc, Việt và Tứ Tượng ngành nọc, lửa, dương... Con chim cắt Việt cho thấy cốt lõi văn hóa Việt là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo và Dịch nòng nọc. Hạnh phúc thay! Tôi đã tìm thấy con chim Việt, chim biểu của Đại Tộc Việt ở Văn Miếu, Hà Nội, nơi biểu trưng cho trí tuệ Việt, đầu óc Việt, tinh hoa Việt, tinh anh Việt. Tôi đã tìm thấy hình bóng tổ Việt, tìm thấy một mấu chốt của căn cước Việt của mình trong đời sống tâm linh hàng ngày hiện nay. Mong các nhà làm văn hóa Việt nhận ra điểm này và giúp cho con chim Việt vỗ cánh bay bổng trở lại trên bầu trời non nước Việt Nam. Giới khoa bảng ưu việt đã bảo tồn, lưu truyền lại hình bóng chim tổ Việt tại Văn Miếu. Để tránh lầm lẫn với văn hóa Trung Hoa, xin hãy thay thế con chim phượng Trung Hoa bằng con chim Việt có cốt là con chim cắt, chim rìu đang ngậm quả, hạt này. Tài Liệu Tham Khảo .Đặng Chấn Liêu, Từ điển Việt Anh, nxb KHXH, 1993. .Hans Scharer, bản dịch Anh ngữ của Rodney Needham, Ngaju Religion. .Hoàng Anh Nhân, Tuyển tập truyện thơ Mường, t.2. .Nguyễn Văn Huyền, Hoàng Vinh, Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện ở Việt Nam, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam xuất bản 1975. .Kim Định, Việt Lý Tố Nguyên; Hùng Việt Sử Ca, Thằng Mõ xuất bản 1984. .Mills, The Ao Naga. .Nguyễn Công Tiễu, báo Khoa Học, số 65 ngày 1er Mars 1934 tr.26. .Nguyễn Xuân Quang: -Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (Y Học Thường Thức, 1999). -Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002). -Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004). -The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, khoahoc.net 18 tháng 11 năm 2007. -Ý Nghĩa Ngày Lễ Hai Bà Trưng Mồng 6 Tháng 2 Âm Lịch, khoahoc. net 15 tháng 03 năm 2007. -Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (Y Học Thường Thức, 2006). -Việt Là Gì? Y Học Thường Thức số 33 bộ IV, tháng 5-6, 1999. -Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (đang in). .Lê Ngô Các, Phạm Đình Toái, Đại Nam quốc sử diễn ca. .Richard Cavendish, An Illustrated Encyclopedia of Mythology. .Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện, Vốn Cổ Văn Hóa Việt Nam, nxb Văn Hóa Thông Tin Hà Nội 1995, tập I, II. .Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 2004. .William Carson Smith, The Ao Naga Tribes of Assam. . R.J. Wilkinson, Malay-English Dictionary.
  22. Trích: Nguồn: Sách Kỹ thuật chăn nuôi một số động vật quý hiếm/Nhà xuất bản Lao động - Xã hội. "Anh Trần Đình Nhơn hiện là một cán bộ ngành lâm nghiệp, công tác tại Trung tâm Phát triển lâm nghiệp thuộc Sở NN&PTNT Lâm Đồng. Anh kể: "Tôi bắt đầu nuôi loại chim cảnh có tên là trĩ này từ năm 2000. Lúc đó, một người bạn đã tặng tôi một cặp trĩ trắng rất đẹp. Tiếp theo, có mấy người đồng bào dân tộc thiểu số ở Đạ Sar (huyện Lạc Dương) mang ra "gạ" bán cho tôi 3 con chim cảnh lạ còn non. Tôi đã mua nó với giá không rẻ nhưng điều quan trọng là vì 3 con này còn non quá không biết nó là trĩ hay chỉ là chim cun cút (chim trĩ với chim cun cút khi còn non khá giống nhau, rất khó phân biệt) nên cảm thấy hơi ngài ngại. Nhưng may quá, vài tháng sau tôi xác định được đó là trĩ đỏ". Anh Nhơn cho biết, điều quan trọng nhất đối với anh lúc đó là làm thế nào để nhân giống loài chim cảnh quý hiếm này. Bắt đầu từ đó, anh đã lục tìm các tài liệu nói về chim trĩ để nghiên cứu và áp dụng vào thực tế. Và kết quả thật bất ngờ cho đến lúc này, anh có thể sản xuất hàng loạt con giống. Mới đây, chúng tôi đã tìm đến nhà anh theo địa chỉ trên. Hôm chúng tôi đến, trong chuồng nuôi nhốt có đến 3 loài trĩ: Đỏ, trắng và xanh với số lượng tổng đàn đã lên đến khoảng 50 con, trong đó có 30 con mái (đa số đã trưởng thành và sắp trưởng thành). Chúng tôi quan sát: Trong chuồng lưới ở phía trước nhà, bầy trĩ có cảm giác như cái không gian ấy đã trở nên quá chật hẹp. Anh Nhơn bảo: "Đến lúc này tôi quả thực là không dám nhân giống nhiều vì chỗ nuôi nhốt không đảm bảo. Cũng đã có người đến "gạ" mua trĩ giống của tôi với giá khá hời nhưng hiện tôi chưa hoàn tất các thủ tục đăng ký nên không bán". Anh Xiêm đã dùng máy ấp trứng nhân giống thành công chim trĩ trong điều kiện nhân tạo Trĩ đỏ (tên khoa học: Phasianus colchicus) là loài động vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng. Từ hai cặp trĩ đỏ mua được ở Đà Lạt, anh Nguyễn Văn Xiêm (ở phường 1, thị xã Bảo Lộc, Lâm Đồng) đã nuôi và nhân giống thành công giống chim này tại nhà. Hiện nay trong chuồng nhà anh có hơn 70 con chim trĩ đủ loại. Giá chim trống 1 tháng tuổi là 500.000 đồng/con, chim lớn đã trưởng thành giá 1,5 triệu đồng/con. Các trung tâm du lịch sinh thái, các khu bảo tồn, vườn quốc gia và nhiều hộ gia đình đặt mua chim trĩ rất nhiều."
  23. Trích: Cỗi nguồn của văn minh đất nước Việt Nam - GS. Cao Thế Dung Nguồn: anviettoancau.net "Theo cổ sử Trung Hoa năm Tân Mão 1100 trước CN, đời vua Thành Vương nhà Chu, nước Việt Thường ở phía nam Giao Chỉ lại sai sứ đem chim Trĩ sang cống Thành Vương ở Hạo Phủ (Thiển Tây). Ðại Nam Quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Ðình Toái (sông Nhị Hà - 1949 - bản dịch của Hoàng Xuân Hãn), chép về nhà Hồng Bàng và sứ Việt Thường qua thăm nhà Chu Trung Hoa: Vừa đời ngang với Chu Thành Bốn phương biển lặng trời xanh một mầu thăm Trung Quốc thế nào? đem Bạch Trĩ dâng vào Chu Vương... Theo Hoàng Việt - Giáp Tý Niên biểu ghi Tân Mão là năm 1110 trước CN. Thư sử ký Tư Mã Thiên, sứ Việt Thường cống Chu Vương 3 con chim trĩ, đây là loại chim Phượng Hoàng ở dọc dẫy Trường Sơn - Trung Bộ Việt Nam, một con đực, 2 con cái, 1 con là Bạch trĩ, một con là Hoàng trĩ, một con Thanh trĩ. Trước đó, Trung Hoa không có loài chim trĩ này. Nhờ có 3 chim trĩ Việt Thường sinh sôi nẩy nở, Tầu mới có trĩ "sào nam", chim gốc từ phương Nam nên khi đậu trên cành, đầu nghoảnh về phương Nam do đó có câu “Chim Bắc đậu cành Nam". Về sứ Việt Thường Cống Chu Thành Vương chim trĩ, Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi chú như sau: "Sứ ta xưng là Việt Thường Thị. Thành Vương là vua thứ tư nhà Chu sau Thái Vương, Văn Vương, Vũ Vương. Truyền thuyết nói Việt Thường Thị ở phương nam hiến chim trĩ trắng được thấy đầu tiên ở sách Thượng Thư đại truyện của Phúc Thắng và truyện Trúc Thư Kỷ niên. Truyện nầy được chép lại ở sách Hậu Hán Thư, Q.116 (Toàn Thư, T.I, tr.62). Về truyện Bạch trĩ, Lĩnh Nam Chính Quái chép như sau: "Về đời Chu Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai bề đôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim bạch trĩ sang hiến cống. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải sai sứ dịch qua nhiều lần mới hiểu nổi nhau. Chu Công hỏi: “Người Giao Chỉ cắt tóc ngắn, để đầu trần nhuộm răng đen là cớ làm sao?" Ðáp: "Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng rú. Xâm mình để giống hình Long quân bơi lội dưới sông loài giao long không phạm tới. Cầy bằng dao, trồng bằng lửa. Ðể đầu trần để tránh lửa bụi. Ăn trầu cau để trừ ô uế cho nên răng đen vậy.” (xem :Vũ Quỳnh - Kiều Phú. Lĩnh Nam Chính Quái, ltđd, tr.48) Nhiều bộ cổ thư Trung Hoa chép về việc sử Việt Thường đến Trung Hoa cống chim trĩ sách Thượng Thư Ðại Truyện. Sách "Kim Bản Kim Chú" chép rằng "Sứ Việt Thường tới cống hiến bạch trĩ một con, hắc trĩ hai con, ngà voi một chiếc. Sứ giả quên mất đường về, Chu Công bèn ban cho bông hoa tấm, biểu xa 5 cỗ điểu chữ bằng tư nam. Khiến sứ giả cỡi xe đi về phương nam. Nối theo miền biển Phù Nam Lâm Ấp đúng một năm mới tới nước đó, sai quan Ðại Phu đưa về. Lại cỡi xe tư nam đi ngược lại hướng do xe chỉ, đầy một năm tới nước Chu. Trục xe và đầu trục xe điều chế bằng sắt, khi về tới nước Chu, sắt đều mòn cả.""
  24. Nguồn: http://www1.agu.edu.vn BẠCH TRĨ TRUYỆN <a name="381.png"> Chu Thành Vương thời, Hùng Vương mệnh kỳ thần xưng Việt Thường thị trì bạch trĩ dĩ hiến vu Chu. Ngôn lộ bất thông, Chu Công sử nhân trùng dịch nhi hậu thủy tri. Chu Công vấn viết: "Giao Chỉ chi nhân đoản phát văn thân, lộ đầu tiển túc, hà do nhược thử?". Việt Thường thị viết: "Giao Chỉ đoản phát dĩ tiện nhập sơn lâm. Văn thân vi Long Phủ chi hình, du vịnh ư thủy, giao xà bất cảm phạm. Tiển túc dĩ tiện duyên mộc. Đao canh hỏa chủng di tị viêm nhiệt. Thực tân lang dĩ trừ ô uế, cố thành hắc xỉ". Chu Công viết: "Hà vi nhi lai?" Sứ giả viết: "Thiên vô liệt phong dàm vũ, hải bất dương ba, kim tam niên hĩ, ý giả Trung Quốc hữu thánh nhân hồ? Cố lai!" Chu Công thán viết: "Chính lệnh bất thi, quân tử bất thần kỳ nhân; đức trạch bất gia, quân tử bất hưởng kỳ vật. Cập ký Hoàng Đế sở ngôn viết: Giao Chỉ phương ngoại, vô đắc xâm phạm". Thưởng dĩ trọng vật, giáo giới phóng hồi. Việt Thường thị vong kỳ quy lộ. Chu Công mệnh tứ biền xa ngũ thặng, giai vi chỉ nam chi chế. Sứ giả tải chi, do Phù Nam, Lâm Ấp hải tế, cơ niên nhi chí kỳ quốc. Cố chỉ nam xa thường vi tiên đạo. Hậu Khổng Tử tác Xuân thu, dĩ Văn Lang quốc bất minh phong hóa, bất quan chính giáo, bất tham vu triều chính trí chi bất khảo yên. (Lĩnh Nam chích quái liệt truyện; Quyển chi nhất) Dịch nghĩa TRUYỆN CHIM TRĨ TRẮNG Vào thời Chu Thành Vương, vua Hùng Vương sai bề tôi xưng là họ Việt Thường đem chim trĩ trắng sang dâng biếu nhà Chu. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải sai người qua mấy lần dịch rồi mới biết. Chu Công hỏi: "Người đất Giao Chỉ cắt tóc ngắn, vẽ trên mình, đầu để trần, đi chân không là tại làm sao vậy?". Họ Việt Thường đáp: "Người Giao Chỉ cắt tóc ngắn để tiện vào rừng núi. Vẽ trên mình thành hình dưới Long Phủ, để khi bơi lội trong nước, giao xà không dám xúc phạm. Đi chân không cho tiện leo cây. Cày bằng dao, trồng bằng lửa, đầu để trần cho khỏi nóng bức. Ăn trầu cau để trừ ô uế, nên thành răng đen". Chu Công nói: "Thế đến đây để làm gì?". Sứ giả đáp: "Trời không mưa dầm gió giật, biển không nổi sống to đã ba năm nay, y chừng Trung Quốc có thánh nhân chăng, vì vây mà đến!".Chu Công than rằng: "Chính lệnh không tỏa tới, kẻ quân tử không được xem người ta như bề tôi mình; đức trạch không gia thêm, kẻ quân tử không được ăn lễ vật của người ta. Còn nhớ lời Hoàng Đế nói rằng: Giao Chỉ là một đất xa lạ, không được xâm phạm họ". Rồi đem vật quí trọng tặng thưởng, dặn dò, chỉ bảo và để cho về. Chu Công sai ban cho năm cỗ biển xa, đều có bộ phận "chỉ nam" làm chuẩn. Sứ giả đi xe ấy, theo miền biển Phù Nam, Lâm Ấp, tròn một năm thì về đến nước. Cho nên xe "chỉ nam" thường dùng để đi trước dẫn đường. Về sau Khổng Tử viết sách Xuân thu, cho nước Văn Lang không được rõ về phong hóa, không liên quan tới chính giáo, không tham dự việc triều chính, nên gác lại mà không khảo cứu. (Lĩnh Nam chích quái liệt truyện; Quyển thứ I) TUẤN NGHI
  25. Sinh viên học gì về "VĂN HÓA"??: (Nguồn: http://www.vanhoahoc.edu.vn) Chương trình đào tạo cử nhân VĂN HÓA HỌC Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh là một hệ thống kiến thức hoàn chỉnh được thiết kế có tính đến nhiều bình diện: Xem nội dung tại đây Nội dung mà sinh viên học về văn hóa học sẽ cho thấy các vấn đề xung quanh khái niệm "văn hóa" chính thức được nước ta công nhận như thế nào. Phoenix rất thích câu nói của chú Thiên Sứ: Một thứ không thể đúng khi tiền đề lập luận (áp dụng) nó chưa chính xác hoặc sai. "Văn hóa chửi" có phải là cụm từ dùng đúng hay không chắc chắn phải xác định văn hóa là gì? phạm vi bao trùm của nó là những gì theo định nghĩa "chuẩn nhất". Vậy thì có thể người Việt Nam ta đang nhìn nhận đúng (theo chương trình chính thống của quốc gia) hoặc là đã nhầm lẫn lung tung, lộn xộn hết mất rồi.
×
×
  • Create New...