Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. Quá tuyệt, chú Lãn Miên. Cảm ơn chú nhiều nhiều.
  2. Tước biện Mũ tước biện trong sách Tam lễ đồ Tượng Lý Thái Tổ ở cạnh hồ Hoàn Kiếm Tước biện có thể coi là một loại mũ miện (mũ bình thiên). Khác với mũ miện, mũ tước biện không có dây tua xâu chuỗi hạt. Theo Trung Quốc y quan phục sức đại từ điển, mũ tước biện còn có tên gọi là "quảng miện". Cũng giống như mũ miện, mũ tước biện là loại mũ dùng trong đại lễ. Tượng Lý Thái Tổ ở hồ Gươm đội mũ tước biện. Tượng Lê Thái Tổ, dựng năm 1888, cũng ở cạnh hồ Gươm, đội mũ miện. Mũ miện này của tượng Lê Thái Tổ có 4 dây tua ở 4 góc. Có thể thấy tạo hình Lê Long Đĩnh trong bộ phim Lý Công Uẩn đã mô phỏng loại mũ miện này, bởi vì các loại mũ miện ở Trung Quốc có 12, 9, 7, 5, 3 dây tua (tính theo một cạnh) chứ không có loại 2 dây tua. Tượng Lê Thái Tổ ở cạnh hồ Hoàn Kiếm Nhân vật Lê Long Đĩnh trong bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long từ: donga01
  3. Xác nhận học viên đóng học phí lớp Phong thủy Lạc Việt cơ bản 11 1. Rio_Rio (Nguyễn Thị Cẩm Huyền) 2.000.000đ (đã cung cấp thông tin cá nhân) 2. Bình Định (Đỗ Bình Định) 2.000.000đ (đã cung cấp thông tin cá nhân) 3. mecutun (Trần Thị Diễm Quỳnh) 2.000.000đ ( chưa cung cấp thông tin cá nhân về email info@lyhocdongphuong.org.vn) 4. dbinh92Nguyễn Đức Bình 2.000.000đ (đã cung cấp thông tin cá nhân) 5. Bánh Mì (Lê Văn Vân) 2.000.000đ (đã cung cấp thông tin cá nhân) 6. tnd (Nguyễn Đình Thái) 2.000.000đ (đã cung cấp thông tin cá nhân) 7. Quanglh (Lục Hồng Quang) 2.000.000đ ( chưa cung cấp thông tin cá nhân về email info@lyhocdongphuong.org.vn) 9. aulac (Phạm Đức Lãng) 2.000.000đ (đã cung cấp thông tin cá nhân) 10. duyen (Nguyễn Văn Lưu) 2.000.000đ ((đã cung cấp thông tin cá nhân)) 11. Sheryl (Nhuyen Kieu Ngoc) 2.000.000đ 12. ???? (Nguyen Manh Thuong) 2.000.000đ
  4. Thành Hoàng Đế, cung điện từng bị chôn vùi Thành Hoàng Đế, cung điện từng bị chôn vùi Thành Hoàng Đế do Nguyễn Nhạc xây dựng năm 1776 trên nền của kinh đô Đồ Bàn, vương quốc Champa. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, những gì liên quan đến nhà Tây Sơn đều bị xóa sạch. Thành Hoàng Đế cách thành... Thành Hoàng Đế, cung điện từng bị chôn vùi Thành Hoàng Đế do Nguyễn Nhạc xây dựng năm 1776 trên nền của kinh đô Đồ Bàn, vương quốc Champa. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, những gì liên quan đến nhà Tây Sơn đều bị xóa sạch. Thành Hoàng Đế cách thành phố Quy Nhơn khoảng 30 km về phía bắc, nay thuộc xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Thành Hoàng Đế cũng như các kinh thành khác gồm 3 vòng thành, với chu vi 25 dặm. Tử Cấm Thành với chu vi 600 m, những đoạn tường của Tử Cấm Thành hiện nay vẫn còn với chiều cao trung bình 1,8 m có đoạn cao đến 3 m, tường xây thẳng bằng đá ong. Qua nhiều lần khai quật đã lộ rõ nhiều công trình kiến trúc chứng tỏ vương triều Thái Đức đã phát triển trên đất này. Đó là nền chính điện, nền điện bát giác với gạch Bát Tràng và đá trắng Champa. Hai hồ bán nguyệt đối xứng qua điện bát giác, với những dãy đá san hô, những bậc đá gắn vào hồ. Ngoài hai hồ bán nguyệt, đợt khai quật còn lộ một hồ hình trái tim. Những cây sung cổ thụ mấy trăm năm tuổi bên hòn giả Sơn. Giếng vuông ở góc thành, lát đá ong mà nước đến bây giờ vẫn trong xanh dù cho thời gian cây cỏ vô tình che lấp. Thành Hoàng Đế còn chứng kiến những trận đánh giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn, trong đó có trận đánh bao vây thành của hai tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng với tướng Võ Tánh vào tháng 5 năm 1801. Biết cầm cự không nổi với quân Tây Sơn, Võ Tánh tự thiêu cùng với quan văn là Ngô Tùng Châu uống thuốc độc tự tử. Sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ, nơi đây làm nơi thờ “song trung” Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Tuy thành Hoàng Đế chỉ còn là di tích lịch sử, nhưng văn hóa, và những làng nghề xung quang thành vẫn còn như từ thuở nào. Không nhiều như “36 phố phường” của thành Thăng Long, nhưng xung quanh thành Hoàng Đế vẫn còn nhiều làng nghề rộn ràng sản xuất như làng gốm Vân Sơn, làng dệt Phương Danh, làng đúc đồng Bằng Châu, làng tiện gỗ, làng nón… cho thấy một kinh thành nhộn nhịp ngựa xe và phồn hoa làm lòng ta thấy nao nao mà nghĩ về một huyền tích kinh xưa. Cổng Thành Hoàng Đế. Một hồ nước trong Tử Cấm Thành đã được khai quật. Giếng hình trái tim. Một góc Tử Cấm Thành. Mộ tướng Võ Tánh trong thành hoàng. Một góc tường Tử Cấm Thành bằng đá. Giếng cổ trong thành hoàng. Nền điện được lát bằng gạch Bát Tràng. Những biểu tượng bằng đá trong thành hoàng đế. Voi đá. Hoàng Tuấn
  5. Thưa Sư Phụ Bức tranh Đông Hồ dưới đây thể hiện nhân vật có phần "phồn thực", cũng thuộc loại ít phổ biến. Bức dưới đây cũng thuộc loại ít thấy trong dòng tranh.
  6. Bài viết đăng báo Thế giới Gia đình, số 22, 13-6-2012 ============================================ Hình tượng linh thú trong Phong thuỷ Lạc Việt Thiên Đồng - Bùi Anh Tuấn - Thành viên nghiên cứu Phong thủy Lạc Việt Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương Phải chăng các vật phẩm phong thủy như tượng sư tử, kỳ lân, tỳ hưu…là những vật khí cát tường đều mang đến tài lộc, giàu sang phú quý? Cuộc trao đổi giữa Thế giới Gia Đình và anh Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, thành viên nghiên cứu Phong thủy Lạc Việt thuộc trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương sau đây làm rỏ hơn vấn đề quan tâm. Hỏi: Theo anh như thế nào gọi là vật khí phong thủy tốt? Đáp: Mọi thứ đều có thể trở thành vật phẩm phong thủy hay còn gọi là vật khí phong thủy, theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt. Vật khí phong thủy phục vụ cho một trong nhiều phương pháp thực hành của phong thủy mà dân gian thường biết đến và gọi là “trấn yểm” hay “trấn yếm”. Điều kiện đầu tiên cho mọi hình tượng, vật thể phục vụ cho việc trấn yểm là vật nào khí đó, hình tượng đó phải là hình tượng tốt lành và tươi đẹp, đầy tính mỹ thuật và nghệ thuật. Mục đích sử dụng của con người là tốt hay xấu, tùy thuộc vào đó mà việc dùng vật khí phong thủy để trấn yểm sẽ có hiệu quả tốt – xấu. Tuy nhiên, đôi lúc cũng là vật khí phong thủy mang hình tượng tốt, cát tường, nhưng do thực hiện không đúng phương pháp chuyên môn nên hiệu quả mang lại là tiêu cực, phản tác dụng. Giống như bệnh đau bụng mà cho uống nhân sâm thì bệnh nhân…hết cứu. Do vậy vật khí phong thủy tốt hay xấu là do mục đích người sử dụng và phải vận dụng đúng phương pháp của chuyên môn. Rồng thời Lý, hình tượng tốt theo Phong thuỷ Lạc Việt Hỏi: Hiện nay có hiện tượng rất phổ biến là nhà riêng cơ quan làm việc đều vận dụng phong thủy bằng cách bố trí tỳ hưu, sư tử…trong nội thất, trước cửa nhà, trước mặt tiền nhà, có phải đây là hình tượng hoàn toàn tốt hay không và anh nghĩ sao về hiện tượng này? Đáp: Không những nhà riêng và cơ quan mà việc để sư tử, tỳ hưu mà đền chùa, miếu mạo cũng để sư tử hay tỳ hưu. Đó là do sự kém hiểu biết về văn hóa Việt hoặc tâm lý sính ngoại chạy theo phong trào như chạy theo mốt, dẫn đến những nét lai căn, bất cập giữa truyền thống và ngoại lai, tạo nên những bi hài cho không gian văn hóa nước nhà. Và cũng như thế, đối với nhà riêng và cơ quan làm việc, do vận dụng không đúng phong thủy mà vẻ mỹ quan kiến trúc trở nên hợm hĩnh, tạp nham và tạo thêm yếu tố tiêu cực tiềm ẩn khi vận dụng không dúng cách đối với những vật khí phong thủy như sư tử, kỳ lân, tỳ hưu, long quy…Rất nhiều cơ quan, công ty luôn gặp những rắc rối, trì trệ hay thậm chí dẫn đến nguy cơ về kinh tế, đều có sử dụng tượng sư tử hay tỳ hưu trấn hai bên cổng chính hay cửa chính của cơ quan. Mặc dù hình tượng sư tử, kỳ lân, tỳ hưu không phải là yếu tố quyết định cho sự thành bại, không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng mà chỉ là yếu tố tham gia trong nhiều yếu tố tương tác còn lại khác nhưng nó cũng mang tiềm ẩn những yếu tố tiêu cực khởi phát. Do vậy tượng sư tử,kỳ lân, tỳ hưu…vẫn chưa phải là hình tượng hoàn toàn tốt theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt. Hỏi: Vậy thì hình tượng sư tử, tỳ hưu được sử dụng trong trường hợp nào? Đáp: Tượng sư tử, kỳ lân và tỳ hưu được dùng làm linh thú trấn đại môn của cung điện, dinh thự nhà vua hay vương quyền hoặc thấp hơn là đại môn dinh phủ của quan cấp phủ, tương đương ngày nay là quan cấp tỉnh thành. Bởi, đây là những hình tượng biểu trưng cho sức mạnh quyền lực, quyền uy thuộc Dương, nhưng hình ảnh dữ dằn, đầy sát khí thuộc Âm nên phù hợp nơi quyền lực và quan trường mà không phải là hình tượng để mong cầu tài lộc hay giàu sang phú quý. Riêng tỳ hưu với quan niệm như một mặc khải rằng, đây là một linh thú chỉ ăn vàng bạc, kim ngân, của cải mà không bao giờ “thải ra” thì đó là một biểu nghĩa trái quy luật Âm Dương, bởi theo quy luật này thì trong thế giới không có gì hoàn toàn thuần Âm hay thuần Dương. Mọi thứ đều phải tuân theo quy luật Âm Dương, có vô tức phải có ra, có đầy thì phải có vơi, do đó hình tượng tỳ hưu là một hình tượng của sự bế tắt, không phát triển, theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt. Tựu chung, tượng sử tử, kỳ lân, tỳ hưu không phù hợp cho việc bố trí theo phong thủy đối với tư gia, cơ quan làm việc, cơ sở kinh doanh tư nhân hay nhà nước nói chung mà chỉ phù hợp cơ quan cấp tỉnh thành trở lên hoặc nếu là dinh thự cá nhân thì gia chủ phải có cấp bậc tướng trở lên, đó gọi là hợp mệnh. Và tỳ hưu, do tính chất bế tắt của hình tượng sẽ không là hình tượng tốt để dùng. Đôi nghê thời Lê, thế kỷ XV Hỏi: Trong văn hóa dân gian Việt Nam có hình tượng nào tương tự như hình tượng sư tử, kỳ lân hay tỳ hưu hay không? Đáp: Có. Đó là con Nghê. Con nghê mang tính chất thuần Việt. người dân thường cũng hay gọi là con chó đá. Con Nghê thuần Việt trông hiền hòa mang đậm tính cách Việt hơn, cũng có bờm, vây, đầu có sừng, lông có xoáy âm dương hoặc vẩy rồng, miệng đôi khi ngậm ngọc, đôi khi đeo lục lạc, chân có mống vuốt và hý cầu…tuy đầy vẽ hùng mạnh uy nghiêm nhưng rất hiền hòa và hình tượng tạo hình cũng rất thanh thoát nhẹ nhàn thân thiện, hình tượng này được trưng ở nơi thờ tự đình chùa hay miếu mạo, ngoài ra không dùng (và cũng không nên dùng) cho trường hợp nào khác. Xin cảm ơn anh về một cuộc trao đổi bổ ích này!
  7. Hai bức tranh Đông Hồ hiếm thấy (TTNC LHDP) Vô tình phát hiện hai bức tranh Đông Hồ với hình tượng xinh động, nhưng ít được thấy trong dòng tranh này. Không biết tranh mang ý nghĩa gì và đủ bộ hay không mà chỉ có hai tấm. Bức tranh đầu thể hiện một trẻ quỳ chân phải, hai tay và cha trái giữ một quả bầu hoặc bí hình tượng to béo tươi tốt. Bức tranh thứ hai, hình trẻ đầu có cột chổm có đuôi và hoa, tay trái cầm hoa sen, tay phải cằm một loại quả mà không biết quả gì. Hai bức tranh đều sáng sủa sống động. Thiên Đồng
  8. Nhanh hơn ánh sáng là không thể Những tin tức gần đây về những neutrino chuyển động nhanh hơn ánh sáng có lẽ đã khiến một số người suy nghĩ sai lệch, nhưng thật ra không cần phải tưởng tượng ra cái gì đó có thể chuyển động nhanh hơn 300 000 km mỗi giây. Thật vậy, toàn bộ quan điểm trên là không lôgic chút nào. Tốc độ ánh sáng, hay 300 000 km/s, có thể trông như một giới hạn tốc độ, nhưng đây chỉ là một thí dụ của kiểu suy nghĩ 3 + 1 – trong đó chúng ta vẫn chưa quen với khái niệm không-thời gian bốn chiều và vì thế chúng ta nghĩ theo không gian có ba chiều và thời gian là một cái gì đó khác nữa. Bạn có thể đi xuyên toàn vũ trụ trong chừng vài ba giờ mà không cần ‘phá vỡ rào cản tốc độ ánh sáng’ – nó không phải là giới hạn tốc độ gì như nó trông như thế đâu. Thí dụ, trong khi chúng ta biết ánh sáng mất khoảng 4,3 năm để đi từ Trái đất đến hệ sao Alpha Centauri, nhưng nếu bạn ngồi vào một phi thuyền vũ trụ bay với tốc độ 99,999% tốc độ ánh sáng thì bạn sẽ đi tới đó trong vòng vài ngày, vài giờ hoặc thậm chí vài phút – tùy thuộc vào bạn đã thêm bao nhiêu cái 0,99 vào tỉ lệ tốc độ ánh sáng. Đây là vì, khi bạn tiếp tục tăng gia tốc của hệ động-lực-sao tưởng tượng của bạn, thì sự dãn nở của thời gian sẽ trở nên càng rõ nét và bạn sẽ tiếp tục hành trình đi tới đích của bạn nhanh hơn nhiều. Với đủ cái 0,999 bạn có thể đi qua toàn vũ trụ trong quãng thời gian bằng cuộc đời của mình thôi – mặc dù người mà bạn để lại phía sau sẽ vẫn chỉ nhìn thấy bạn đang chuyển động ra xa với tốc độ dưới 300 000 km/s một chút. Vì thế, cái thoạt trông như một giới hạn tốc độ thật ra chẳng phải là một giới hạn gì cả. Để hiểu rõ viễn cảnh bốn chiều hoạt động ra sao, hãy xét cái không thể khi bạn đi xuyên một khoảng cách bất kì nào đó mà không đồng thời chuyển động trong thời gian. Thí dụ, đi bộ một km có lẽ mất khoảng thời gian 30 phút – nhưng nếu bạn chạy thì chỉ mất 15 phút thôi. Hiệu ứng dãn nở thời gian là không đáng kể đối với những tốc độ thông thường mà chúng ta đã quen thuộc trên Trái đất, nhưng nó tăng lên bất ngờ và tiệm cận khi bạn tiến gần đến tốc độ ánh sáng. Tốc độ chỉ là một số đo mất bao lâu thời gian để bạn đi tới một điểm ở xa. Vật lí tương đối tính cho bạn chọn bất kì đích đến nào mà bạn thích trong vũ trụ - và với công nghệ thích hợp, bạn có thể giảm thời gian di chuyển của mình đến mục tiêu đó xuống bao nhiêu tùy bạn thích – miễn là thời gian di chuyển của bạn vẫn ở trên mức zero. Đó là sự hạn chế duy nhất mà vũ trụ thật sự ràng buộc đối với chúng ta – và nó mang tính lôgic và nhân quả như trong vật lí học vậy. Bạn có thể đi trong không-thời gian theo những cách khác nhau để giảm thời gian di chuyển của bạn giữa điểm A và điểm B – và bạn có thể tiếp tục giảm như vậy cho đến khi bạn hầu như di chuyển tức thời giữa hai điểm đó. Nhưng bạn không thể di chuyển nhanh hơn tức thời vì bạn sẽ đi tới B trước khi bạn đã rời A. Nếu bạn có thể làm như thế, thì nó mang lại những trở ngại nhân quả không thể có – thí dụ, bạn có thể không chắc chắn mình đã rời điểm A hay chưa, mặc dù bạn đã tới điểm B rồi. Quan điểm đó vừa vô lí vừa là một sự vi phạm của các định luật của nhiệt động lực học, vì vũ trụ sẽ đột ngột chứa tới hai người là bạn – người là bạn phía bên kia đã hiện ra từ hư vô. Cho nên, bạn không thể chuyển động nhanh hơn ánh sáng được – không phải do cái gì đặc biệt với ánh sáng cả, mà vì bạn không thể di chuyển nhanh hơn tức thời giữa hai điểm xa nhau. Ánh sáng về cơ bản thật sự chuyển động tức thời, giống như lực hấp dẫn và có lẽ những hiện tượng khác mà chúng ta chưa khám phá ra – nhưng chúng ta sẽ không bao giờ trông đợi khám phá ra bất cứ cái gì chuyển động nhanh hơn tức thời, vì quan niệm như thế tạo ra sự vô nghĩa. Những sinh vật to nặng như chúng ta trải nghiệm khoảng thời gian khi chuyển động giữa hai điểm ở xa nhau – và vì thế chúng ta còn có thể đo xem mất bao lâu để một tín hiệu tức thời di chuyển giữa hai điểm ở xa nhau, mặc dù chúng ta không bao giờ có thể hi vọng đạt tới một trạng thái chuyển động như thế cho bản thân mình. Chúng ta cứ bám lấy quan niệm 300 000 km mỗi giây là một giới hạn tốc độ, vì trực giác chúng ta tin rằng thời gian trôi qua ở một tốc độ vạn vật không đổi. Tuy nhiên, chúng ta đã chứng minh trong nhiều thử nghiệm thực nghiệm khác nhau rằng thời gian rõ ràng không trôi đi ở một tốc độ không đổi giữa những hệ quy chiếu khác nhau. Vì thế, với công nghệ thích hợp, bạn có thể ngồi vào phi thuyền vũ trụ động-lực-sao của mình và nhâm nhi một tách trà nóng, trong khi cả một thời đại đã trôi qua ở bên ngoài. Đó không phải là tăng tốc độ, mà là giảm thời gian du hành cá nhân của bạn giữa hai điểm ở xa nhau. Và có một giới hạn tự nhiên – đó là thời gian zero. Như Woody Allen từng nói: Thời gian là phương thức của tự nhiên giữ cho mọi thứ diễn ra một lần thôi. Không-thời gian là phương thức của tự nhiên giữ cho mọi thứ không xảy ra ở hai nơi cùng một lúc. Nguồn: Universe Today Nguồn Thuvienvatly.com =================================== Với Lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc nền văn hiến Việt thì 300 000 km/s không phải là tốc độ giới hạn vũ trụ. Lời phát biểu này có thể sai. Tôi nhớ đại khái là trước kia có một thí nghiệm về hạt lượng tử gì đó, khi bắn một hạt, hạt này "nổ" ra thành hai hạt. Hai hạt này chuyển động ra xa nhau trên một phương nhưng hai chiều ngược nhau. Và người ta ngạc nhiên thấy rằng hai hạt này tuy độc lập nhưng chúng dường như "cảm ứng" được với nhau khi có sự tác động cho một hạt thì hạt còn lại cũng đồng thời chuyển động, nghĩa là cùng lúc chuyển động.
  9. Xác nhận học viên đóng học phí lớp Phong thủy Lạc Việt cơ bản 11 1. Rio_Rio (Nguyễn Thị Cẩm Huyền) 2.000.000đ 2. Bình Định (Đỗ Bình Định) 2.000.000đ 3. mecutun (Trần Thị Diễm Quỳnh) 2.000.000đ 4. dbinh92Nguyễn Đức Bình 2.000.000đ 5. banhmi (Lê Văn Vân) 2.000.000đ 6. tnd (Nguyễn Đình Thái) 2.000.000đ 7. Quanglh (Lục Hồng Quang) 2.000.000đ 8. nick? (Pham Duc Lang) 2.000.000đ
  10. Đấu bò tót ở Tây Ban Nha Người và bò đều tranh nhau cái chiến thắng, nhưng bò không phải là kẻ thù của người và người cũng không phải là kẻ thù của bò. Vì một đối tượng là vô thức bản năng, còn một đối tượng kia là cái tôi tôn thượng vô thức huyễn vọng. Thiên Đồng
  11. Nếu chỉ giải thích cho rằng bức tranh muốn ám chỉ hiện tương tham nhũng của mọi thời đại thì thật là thường quá. Mặc dù - theo hiển hình của tranh - tính hình tượng trong tranh bày vẽ khá rõ ràng về việc diễn tả hiện tượng, cho nên hiện tượng đôi khi trùng lấp với vấn đề được liên tưởng để biểu nghĩa theo quan kiến, tuy nhiên giá trị nghệ thuật và tương tưởng - nên nhớ ở đây tác giả của bức tranh có thể không phải là một cá nhân mà là nhiều thế hệ hay là sự tổng hợp của cả một nền tảng tri thức tiền nhân - sẽ dừng lại ở đó và đi vào ngõ cụt của lý sự cùn. Cho nên bức tranh "đám cưới chuột" của làng tranh Đông Hồ, tranh dân gian Việt Nam không thể chỉ mang giá trị tư tưởng rời rạc, cục bộ, hay thời thượng hay kiểu phong trào như thường thấy trong xã hội hiện nay với những trường phái những tư tưởng cá biệt hay khu biệt mà bức tranh, nó, phải là một phần chi tiết nhỏ được thể hiện và giá trị tư tưởng của nó phải nằm trong một hệ thống tư tưởng nhất quán và xuyên suốt, tư tưởng triết lý của nền văn hiến Việt 5000 năm. Thiên Đồng
  12. Tính từ đó đến nay thì cũng 20 tháng, tức hơn 1 năm rưỡi rồi. Nhìn lại hình thấy bồi hồi. Mừng tịnh thất Viên Thông ngày càng phát triển trong con đường xiểng dương đạo pháp. Nam môn A Di Đà Phật Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật Nam mô Di Lạc Tôn Phật
  13. Vậy thì kinh ghi lại như vậy chứ không phải lâu nay hay thấy các câu cho là lời phật dạy :"Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình ". Quả là tam sao bịa bản.
  14. Ồ, sinh nhật Lão Nhị gia hả? Chúc mừng nha!
  15. Võ bùa hay Thất Sơn thần quyền. Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, làng võ Việt xôn xao bởi sự xuất hiện của một phái võ kỳ lạ, gọi là "võ bùa" hay "thần quyền". Người theo môn võ ấy không cần luyện tập quyền cước mà chỉ cần thổi hương, uống bùa, gọi thần chú là có sức mạnh muôn người khôn địch...Bởi cách thức có phần thần bí đó mà nhiều môn phái khác đã tìm các lò dạy võ bùa để tìm hiểu thực hư, phân tài cao thấp. Sự "truy sát" ấy, cùng nhiều lý do khác nữa nên chỉ ít thời gian sau, võ bùa phải lui vào ẩn dật. Gần đây, trước sự nở rộ trở lại của phong trào học võ, lại có lời đồn võ bùa đang "tái xuất giang hồ". Chúng tôi đã đi tìm hiểu thực hư xung quanh môn võ này. Cao nhân ẩn tích Sau màn ra mắt vào những năm 80 của thế kỷ trước, võ bùa bỗng dưng mất hút một cách khó hiểu trên "chốn giang hồ". Không ai biết đệ tử của võ bùa ở đâu, hiện đang sống như thế nào, còn lao tâm khổ tứ tập luyện hay không? Gần đây, một lần lang thang trên mạng, tôi tình cờ đọc được thông tin của một môn sinh "chánh phái" nói rằng, trước đây có hai cao thủ phái Thất Sơn đem võ bùa về dạy ở Hà Nội và chính họ là những sư phụ đầu tiên của môn phái ở đất Kinh kỳ. Thông tin trên mơ hồ, chỉ nói người thứ nhất tên Thành, làng võ vẫn gọi là Thành "vuông", người thứ hai tên là Chín, giang hồ gọi là Chín "cụt". Liên hệ với một số cao thủ võ lâm ngoài Bắc thì được biết, Thành "vuông" tên đầy đủ là Nguyễn Văn Thành, từng sống ở khu vực Ô Chợ Dừa (Hà Nội), giờ đã qua Nga lập nghiệp. Người thứ hai là Chín "cụt", tên đầy đủ là Ngô Xuân Chín, là thương binh, hiện không biết phiêu dạt phương nào. Thông tin trên làm tôi nhớ lại lần trò chuyện với võ sư Chu Há, Chủ nhiệm võ đường Hồng Gia. Võ sư Há cho biết, thủa trước, Chín "cụt" có tham gia một số phong trào thể thao của người khuyết tật và ngay từ buổi đầu tiên ấy, Chín cùng đệ tử đã từng dùng võ bùa để giành huy chương vàng một hội khỏe năm 1986. Nhờ manh mối này, tôi vội tìm đến ông Vũ Thế Phiệt, Tổng Thư ký Hiệp hội Thể thao người khuyết tật Việt Nam. Từ số điện thoại ông Phiệt cho, tôi đã tìm được "cao nhân" ẩn tích bấy lâu nay - ông Chín. Phận duyên tiền định Vợ chồng ông Xuân Chín hiện đang sống ở một khu đô thị yên ả trên đường Lạc Long Quân (Hà Nội). Trò chuyện, Xuân Chín bảo, Thất Sơn thần quyền với ông như có duyên trời định. Thời trai trẻ, Chín là lính trinh sát đóng quân ở tỉnh biên giới Cao Bằng. Khi còn ở quê nhà, bởi hiếu động nên Chín từng theo đám trai làng lăn lộn học quyền cước của mấy võ sư vườn, cũng lận lưng dăm ba miếng phòng thân. Bởi thế, khi hay tin trong trung đoàn có một đồng đội thường diễu quyền, phóng cước sau khi xong xuôi việc nhà binh, Chín muốn tìm đến xem "mặt mũi" thế nào và nhân thể thử tài luôn để phân cao thấp. Sau nhiều lần hò hẹn, "thằng cha" đó cũng nhận lời thách đấu. Thế nhưng sau 2 lần "tỉ thí", Chín đều thua không kịp vuốt mặt. Chín đấm, đá cật lực mà cứ như đánh vào bị bông, đối thủ chẳng hề đổi thay sắc mặt. Đánh nhiều đuối sức, chùn tay, nên đành phải xin thua. Từ sau trận quyết đấu đó, hai người trở thành bạn. Lúc này Chín mới biết người kia theo học Thần quyền của phái Thất Sơn, từ một sư phụ ở quê nhà, xã Văn Khúc, huyện Sông Thao, tỉnh Phú Thọ. Những câu chuyện mà người bạn kể về môn phái lạ lùng đã khiến Chín mê mệt. Anh ước ao có ngày được về quê bạn bái vị sư phụ ấy làm thầy. Và rồi cái ngày anh mong mỏi ấy cũng đến. Được sự giới thiệu, ngay đêm hôm ấy, anh đã được diện kiến kỳ nhân. Người ấy là danh sư Nguyễn Văn Lộc, một nông dân chân chất, cũng chỉ hơn anh cỡ trên chục tuổi. Thế nhưng hôm ấy, ý nguyện, mơ ước của anh đã không thành. Dù đã cố nài nỉ hết nước hết cái nhưng vị danh sư ấy vẫn không chịu thu nạp Chín làm đệ tử. Tuy mưu sự không thành nhưng anh vẫn không thôi hi vọng của mình. Chừng tháng sau, anh lại tay nải từ Cao Bằng tìm về Phú Thọ. Lần này, thứ mà anh nhận được vẫn chỉ là những cái lắc đầu. Thế rồi, một lần (năm 1981), lúc đi làm nhiệm vụ, anh bị thương phải cắt bỏ hoàn toàn chân phải. Khi vết thương liền da, nhớ miền quê Văn Khúc và ông thầy võ... khó tính, anh lại lóc cóc tìm về. Đi cùng anh lần này có cả Thành "vuông", một chàng trai Hà Nội, nghe tiếng vị sư phụ kỳ lạ mà háo hức muốn được tỏ tường. Gặp mặt, vị danh sư nói thẳng thừng: "Anh lành lặn tôi còn không nhận, huống chi nay đã là người tàn phế! Anh không học võ được đâu!". Câu nói đó đã làm ruột gan Chín quặn thắt. "Đau" hơn khi bạn đồng hành với anh, Thành "vuông", lại được sư phụ thu nạp. Uất ức, trước khi ra về anh... thề: "Sư phụ nhận tôi thì 6 tháng tôi xuống một lần! Không nhận thì tháng nào tôi cũng xuống!". Tháng sau, một mình, anh xuống thật. Lần này, thấy anh lóc cóc chống nạng vượt quãng đường hơn 15 cây số, vị danh sư đã động lòng trắc ẩn. Ông đã đồng ý truyền võ cho anh nhưng với điều kiện chờ ngày tốt, về Bắc Giang ông mới dạy. Võ phái kỳ lạ "Ngày tốt" ấy là ngày 9/10/1984. Đã hẹn trước, anh Chín có mặt tại nhà một người quen của sư phụ ở làng Mỹ Độ, sát thị xã Bắc Giang. Đến được ít phút thì sư phụ anh cũng xuất hiện. Ngay chiều hôm ấy, anh đã thành người của phái Thất Sơn. Cũng ngay ngày hôm ấy, anh mới tường tận về môn phái của mình. Theo lời thầy Lộc thì "thủ phủ" của Thất Sơn thần quyền nằm ở Huế, do tông sư Nguyễn Văn Cảo nắm quyền chưởng môn. Sáng tổ Nguyễn Văn Cảo học thần quyền từ một vị cao tăng người Ấn Độ. Cao tăng lưu lạc sang Việt Nam từ khi nào thì đến giờ vẫn không ai biết rõ. Tới Việt Nam, ông chọn vùng Bảy Núi (An Giang) làm chốn tu hành. (Có lẽ bởi bậc thánh nhân tu luyện nơi non thiêng này nên thầy Cảo đã đặt tên môn phái của mình là Thất Sơn). Dựa trên những căn bản mà vị tu sĩ lạ lùng ấy truyền dạy, thầy Cảo đã truyền dạy thần quyền cho nhiều người khác. Thần quyền học nhanh, do vậy chỉ trong thời gian ngắn, ở Huế đã có rất nhiều người trở thành môn đồ của võ phái này. Khi nhập môn, môn đồ của môn phái phải đứng trước ban thờ thề đủ 9 điều (Càng học cao thì số lời thề càng tăng thêm và cao nhất là 16 điều). Sau đó, mỗi người sẽ được sư phụ mình phát cho hai lá bùa hộ thân, một vuông, một dài. Trên những lá bùa ấy có vẽ hình đạo sĩ ngồi thiền và những "thông số", "mật mã" riêng của môn phái. Trước khi truyền thụ những câu thần chú, bí kíp võ công của môn phái thì hai lá bùa ấy được đem đốt, lấy tro hoà vào nước cho người mới nhập môn... uống cạn. Thần chú của môn phái thì có rất nhiều, gồm chú gồng, chú xin quyền, chú chữa thương... Đã được truyền thần chú thì môn sinh cứ tự mình gọi chú mà xin sức mạnh, mà tập quyền cước. Tuy thế, trước khi tập, người luyện thần quyền phải được sư phụ mình khai thông tất cả các huyệt đạo trên cơ thể. Việc ấy, các sư phụ của Thất Sơn thường làm bằng cách dùng nắm nhang đang nghi ngút khói thổi vào huyệt đạo của đệ tử. Với môn sinh là nam giới thì dùng 7 nén nhang thổi 7 lần vào mỗi huyệt đạo. Môn sinh là nữ thì dùng 9 nén, thổi đúng 9 lần. Thần chú vào... võ công ra Anh Chín kể, hôm ấy, xong nghi thức nhập môn, sư phụ Lộc đã kéo anh ra sân và chỉ trong vòng 1 giờ đồng hồ, ông đã truyền thụ xong xuôi cho anh lời chú xin quyền. Theo lời của sư phụ Lộc, lời chú ấy anh không được phép tiết lộ cho bất kỳ ai nếu chưa được phép của những người đứng đầu môn phái. Truyền chú xong, sư phụ anh bảo, cứ nhẩm theo câu chú ấy mà luyện. Chú "nhập" đến đâu thì công phu tự khắc... ra đến đó. Thấy thầy dạy mình quá nhanh, anh hết sức ngạc nhiên. Cứ nghĩ, có lẽ bởi gượng ép khi thu nạp nên thầy Lộc mới dạy anh một cách sơ sài đến vậy. Sau này, khi trình độ bản thân được nâng cao, anh mới biết, với anh cuộc truyền thụ kỹ năng cơ bản của môn phái như vậy là quá lâu. Thường thì khi truyền chú cho đệ tử khác, thầy Lộc chỉ làm trong thời gian vỏn vẹn 15 phút là xong. Anh cũng vậy, khi được phép dạy đệ tử, anh cũng chỉ mất ngần ấy thời gian là đã... hết bài. Còn học như thế nào, luyện như thế nào, trình độ đạt đến đâu là cơ duyên của mỗi người chứ thày không chỉ bảo được. Ngay chiều hôm ấy, thầy Lộc đã kéo anh ra khoảng sân rộng, bắt đầu luyện tập quyền pháp. Trước khi tập, thầy lấy nắm nhang nghi ngút khói thổi vào tất cả những huyệt đạo trên cơ thể anh. Làm xong, thầy bảo anh nhẩm đọc chú để... gọi võ về. Thật ngạc nhiên, khi vừa đọc chú xong, anh bỗng thấy mình lâng lâng như người say rượu. Lúc thì thấy tay mình nhẹ bẫng, lúc thì thấy nặng như đang khuân cả khối sắt trăm cân. Chín kể, khi đã "nhập đồng", cứ thấy nhẹ bên tay nào là "chưởng" đánh ra tay ấy. Trạng thái không kiểm soát ấy đã khiến anh lúc thì lăn lộn trên đất, lúc thì nhảy tưng tưng trên không, lao đầu vào tường, vào bụi gai cũng không hề hay biết. Tỉ thí tranh tài Hết nghỉ phép, Xuân Chín về nơi an dưỡng. Vì đang chờ chế độ nên anh có nhiều cơ hội để luyện tập môn võ mà mình vừa được học. Cứ đêm đến, anh lại một mình chống nạng lên quả đồi ở gần đó luyện tập. Sáu tháng sau, anh quay lại Văn Khúc để thầy Lộc kiểm tra "trình độ". Sau bữa cơm chiều, thầy Lộc bảo ông sẽ không trực tiếp kiểm tra mà nhờ thầy "cao tay" hơn thẩm định. Vị ấy tên Cư, ở bến phà Tình Cương, cách nhà thầy Lộc chừng 25 cây số. Thần quyền ở Văn Khúc chính là do ông Cư mang từ trong Huế ra truyền dạy. Tối hôm đó, hai thầy trò đã đèo nhau đến nhà ông Cư. Biết Chín muốn thử trình độ của mình, ông Cư đã gọi hai đệ tử to như hộ pháp đến. Trước khi đánh, ông Cư giới thiệu, hai đệ tử của ông được gọi là những “cây đấu” của Thất Sơn. Những ai muốn "khẳng định thương hiệu" của riêng mình thì đều phải đánh với hai "cây đấu" ấy. Ngay phút khởi động, một “cây đấu” đã táng thẳng vào mặt Chín cú "thôi sơn" khiến anh nổ đom đóm mắt. Nhưng ngay sau cú đánh ấy, anh thấy mình tự dưng lùi ra, quay hẳn lưng vào đối thủ. Chẳng cần để mắt động tác khó hiểu của anh, người tấn công lại ngay lập tức lao vào. Thế nhưng, vừa vào gần đến nơi thì bỗng nhiên tay phải Chín vung ra một cú đòn cực mạnh. Một tiếng “bốp” chát chúa vang lên, “cây đấu” ấy bị đánh văng ra góc sân và nằm bất động. Thấy đệ tử mình bị hạ nhanh một cách khó hiểu, ông Cư vội vàng chạy đến xem thực hư thế nào. Cậu học trò cưng nằm im, mồm miệng be bét máu. Phần thắng đã thuộc về Chín. Sắp xếp công việc, ít lâu sau, anh Chín lại theo thầy Lộc vào Huế để nhờ tông sư môn phái kiểm tra trình độ thật sự của mình. Chưởng môn phái Nguyễn Văn Cảo (phường Phú Cát) đã đón hai thầy trò anh rất thân tình. Hôm ấy, nhà thầy Cảo có một đệ tử học Thần quyền được 10 năm, từ Quảng Bình vào thăm. Thầy Cảo bảo Chín đấu với người này. Kịch bản của trận đấu ở Phú Thọ đã được lặp lại. Vào trận, ngay màn dạo đầu, Chín dính đòn tới tấp. Thế nhưng, trong lúc nguy nan, tự nhiên anh thấy chân mình mềm oặt. Xoay lưng lại đối thủ, anh quỳ xuống như người bị trúng đòn chí mạng. Đối thủ thấy vậy thừa thắng lao lên... Nhưng, như có phép tiên, dù chỉ còn mỗi chân trái mà anh vẫn bật vút lên, lộn trên không một vòng rồi tung cú "thiết cước" vào thẳng bụng đối thủ. Cú đá ấy đã làm vị kia văng ra, thầy Cảo ngay lập tức cho dừng trận đấu. Sau trận đấu đó, bởi quá khâm phục sự tiến bộ kỳ lạ của anh, thầy Cảo đã cân nhắc để anh được thăng đai vượt cấp. Thế nhưng, điều đó chưa từng có tiền lệ trong môn phái nên thầy đành để anh ở đai đỏ xuất sư. Người đeo đai đó thì đã có thể làm thầy, truyền thụ võ công cho những môn sinh khác. Sáu tháng sau, vào lại Huế, lần này chưởng môn Nguyễn Văn Cảo đích thân ra chợ mua chỉ về se đai tím cho anh. Dựng nghiệp bất thành Rời quân ngũ, anh Chín về quê sinh sống, thỉnh thoảng ra Hà Nội gặp gỡ bạn bè. Những năm ấy, phong trào chấn hưng võ thuật cổ truyền ở thủ đô đang ở cao trào, thấy Thất Sơn thần quyền của mình chưa có một tên tuổi trong làng võ Việt, anh và một số người bạn đã quyết tâm gây dựng môn phái. Để khẳng định sức mạnh của Thần quyền, Hội khoẻ Phù Đổng năm 1986 được tổ chức ở Hà Nội, các bạn anh đã tiến cử anh tham gia. Chuẩn bị cho sự kiện này Chín đã lặn lội lên Cao Bằng, tìm cậu bé mà trước đây anh đã ngẫu hứng truyền thụ võ công, đưa về Hà Nội cùng mình biểu diễn. Cậu bé ấy tên Điệp, khi ấy vừa tròn 6 tuổi. Tại sân vận động Hàng Đẫy, với tiết mục thần quyền của mình, hai thầy trò một tàn phế, một tóc còn để chỏm đã dinh về hai tấm huy chương vàng trước sự trầm trồ, thán phục của mọi người. Sau màn ra mắt, được sự "chỉ đường mách lối" của cố võ sư Đỗ Hoá, anh cùng các bạn đã tìm đến một chức sắc ở Hội Võ thuật cổ truyền Hà Nội nhằm đưa môn phái "phát dương quang đại". Thế nhưng, nhiều người cho rằng Thất Sơn thần quyền là tà thuật, mê tín dị đoan nên mong ước của anh đã không thể thành hiện thực. Dựng phái không thành, anh em tan rã mỗi người một nơi, Xuân Chín đâm nản. Tuy thế, sau này, tham gia phong trào thể thao người khuyết tật, anh vẫn đem thần quyền đi biểu diễn ở khắp nơi. Năm 2004, tại một cuộc liên hoan võ thuật tại Hàn Quốc, anh đã được ban tổ chức trao tặng huy chương vàng cho tiết mục thần quyền độc đáo của mình. Càng hạnh phúc hơn khi ngay sau đó, hình ảnh của anh, một người cụt chân đang thăng hoa cùng quyền thuật đã được ban tổ chức in lên lịch lưu niệm tặng các vận động viên tham gia. Cũng từ dạo ấy, bởi cuộc mưu sinh anh đã thôi không tham gia phong trào thể thao nữa. Thần quyền anh cũng ít tập hơn và cũng không truyền dạy bí kíp võ công này cho bất kỳ ai... sưu tầm
  16. VỊ THẾ CỦA CON MÈO TRONG TRANH ĐÁM CƯỚI CHUỘT Truyện mèo và hổ Rằng đâu như ngày xưa hổ to xác nhưng kém thông minh nên phải cầu đến thày mèo. Mèo đã dạy cho hổ đủ ngón móng vuốt. Sau khi học xong, hổ tưởng như thế là đủ tài khuynh loát thiên hạ. Một hôm đói bụng chưa kiếm được miếng, trông thấy thày mèo, hổ gầm gừ: “Meo mẻo mèo meo/ ta bắt được mèo/ ta nhá cả lông”. Rồi hổ nhào tới. Trong khoảnh khắc, mèo leo tót lên ngọn cây. Dưới gốc cây hổ không làm gì được. Mèo lúc này mới dắng giọng lêu lêu: “Meo mẻo mèo meo/ còn một món trèo/ ta cóc dạy cho”. Hổ nghe thế tức sểu rãi mà không làm gì được. Mèo láu lỉnh không ngoan như thế, luôn giữ ngón đòn cuối cùng để phòng thân, hóa giải được hạn vong thân. Như vậy con mèo ngoài đời và con mèo trong vận số đều có nhiều cái thuận Tử vi năm Tân Mão 2010 thì “công việc làm ăn được nhiều người ủng hộ giúp đỡ và nhờ vào tính toán sáng suốt, lộc tài sẽ hưng vượng. Công việc thường có người phụ nữ bên cạnh (có thể là vợ, có thể là bồ) có khả năng quán xuyến, giúp đỡ quý ông rất nhiều.”. thế là người tuổi Mèo năm nay yên tâm rồi. Tử vi đã đại đoán thế thì quan tham tuổi Mão cứ mà yên tâm tham nhũng tiếp nhưng phải tính toán cho kĩ. Mèo có khi vẫn bị hóc xương !. Tranh dân gian đám cưới chuột Làng Đông Hồ có tranh đám cưới chuột nổi tiếng. Bức tranh quen thuộc với bất cứ người Việt nào. Hàng trên: Góc trái là mèo già đang ngồi nhe nanh múa vuốt oai phong. Đối diện với mèo khung cảnh vui vẻ thanh bình của một đám rước. Đi đầu là chuột dâng chim bồ câu. Đồ cống này giống như thông điệp hòa bình gửi đến với mèo, cái thế cầu xin hòa bình của kẻ dưới. Chữ dưới chân mèo giải thích cho việc này là tống lễ. Sau cái thông điệp xin xỏ kia là chuột dâng cá chép, món khoái khẩu số một của mèo. Để cho sự việc diễn ra cho đẹp mặt, cùng việc dâng cá có tác nhạc, nghĩa là thổi kèn chúc tụng để vui lòng mèo, lại phải vừa dâng lễ vừa nịnh. Tiếp sau là lão thử, nghĩa là chuột già cũng phải tham gia tống lễ với cây kèn chõ xuống đất đến 90 độ, giống như lời chúc tụng khiên cưỡng. Bụng đâu có muốn thế. Nhưng thế tay cầm kèn để nhả âm thanh như vậy có khác nào muốn tố cáo với đất trời việc làm chẳng đặng đừng của mình. Tất cả những hành vi trên chỉ nhằm thủ thân (giữ lấy mạng sống). Đó là hai chữ cuối phía trên bức tranh. Tất cả các việc trên diễn ra nhằm một mục đích để cho đám cưới của nhà chuột được yên lành, chú rể mới có thể nghinh hôn, rước dâu đàng hoàng. Bức tranh giải trình một cách giải quyết đối kháng giữa hai kẻ mạnh yếu để cùng tồn tại, tức là chấp nhận công khai sự thuần phục của mình bằng cống vật. ấy thế mà đám rước dâu vẫn phải ngó trước nhìn sau cảnh giới. Lễ trình tận miệng mèo rồi nhưng đâu chắc đã yên thân! Một bức tranh thật tăm tối về thế sự Giống như câu ca dao xưa: Con mèo mà trèo cây cau/ hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà/ chú chuột đi chợ đồng xa/ mua mắm mua muối giỗ cha con mèo, đây cũng chẳng phải chuyện quan hệ mèo chuột, mà chỉ là gợi ý cho con người một cách ứng xử khi ở cạnh kẻ mạnh bên ta luôn tìm cách ăn hiếp ta. Còn ai nghĩ ra cách gợi ý này, chưa chắc đã là nguời uyên bác, mà có khi đó lại là sản phẩm răn đe của kẻ mạnh. Điều này thường xảy ra trong đời sống khi mạng sống con người được mang ra mặc cả của những thế lực đen tối. Trong chính trường của ta chắc chẳng thiếu gì chuyện mèo chuột như thế giữa bọn tham lam có quyền lực và lũ hèn nhát nhưng nhiều tham vọng. Chính chúng, cả mèo và chuột đã dung dưỡng cho sự tham nhũng bằng cách dùng quan hệ ấy thành chiến lược lâu dài… Bức tranh Đám cưới chuột ra đời đã bao nhiêu năm rồi mà về câu chuyện trong tranh vẫn còn nhiều lời bàn cãi. Có người cho rằng bức tranh Đám cưới chuột là tranh đả kích, tố cáo nạn tham nhũng và hối lộ tràn lan dưới thời thời phong kiến. Nhưng có lẽ cũng không hẳn thế. Dưới chế độ XHCN tốt đẹp của chúng ta sao nạn tham nhũng vẫn tràn lan đến nỗi người ta phải kêu lên “ tham nhũng là quốc nạn”. Thì ra ở chế độ tươi đẹp của chúng ta vẫn có chuyện giống Đám cưới chuột, vẫn còn chuyện mèo-chuột. Vậy thì Đám cưới chuột không thể là tài sản riêng của phong kiến nữa. Và ngó ra thế giới thì tham nhũng cũng đầy ra, chỉ khác ở cấp độ. Vậy có thể thấy tham nhũng là sáng tạo của nhân loại mà người Đông Hồ chỉ tổng kết nó vào trong bức tranh mà thôi. Có người lại cho rằng Đám cưới chuột là tranh tục lệ. Tục lệ này phản ánh một qui luật: là cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu như là sự mặc định. Kẻ yếu phải có trách nhiệm cung phụng và luồn cúi thì được yên thân. Và như thế thì là qui luật của toàn cầu rồi. Nhưng cũng không hẳn như thế. ở biển cả có những loài cá yếu rợt nhưng lại có nọc độc, khiến cá lớn phải kiêng dè, đụng đến thì mất mạng. Trên cạn có con cóc. Để bảo vệ mình thì thân cóc có gai độc, con vật nào lớ xớ dính nhựa cóc sẽ bị nguy hiểm tính mạng. Trứng cóc lại có chất độc ở màng nhầy, kẻ nào ăn sẽ chết. Cho nên cái qui luật kia cũng chỉ mang tính tương đối. Bức tranh Đám cưới chuột xem ra sẽ sống mãi với nhân loại. Hôm nay con mèo bắt chuột cung phụng, nhưng ngày mai con mèo ấy mà gặp mèo to hơn thì nó lại trở thành một thứ chuột, lại phải dâng cá, dâng chim để giữ mạng sống. Nói chung thời tham nhũng thì quan hệ mèo chuột hoán đổi khôn lường. Như thế để thấy chuyện này là của loài người chứ chưa bao giờ ở loài mèo loài chuột cả. Chứng cứ là, cứ thấy chuột là mèo vồ luôn chứ không bao giờ lại chờ chuột đem đồ cống. Xét cho cùng loài vật sòng phẳng và đơn giản và minh bạch hơn nhiều. Chính con người mới là phức tạp. Đỗ Đức
  17. Phát hiện bộ lịch Maya cổ nhất 12/5/2012 14:12 Các nhà khảo cổ học vừa tìm thấy một bộ lịch Maya cổ nhất từ trước đến nay tại di tích Xultun ở Guatemala. Chúng được khắc trên các bức tường của một ngôi nhà Maya có niên đại từ đầu thế kỷ thứ 9, sớm hơn các bộ lịch Maya hàng thế kỷ. Đây được xem là di sản cổ nhất từ trước đến nay, đồng thời đặt dấu chấm hết cho những tin đồn rằng người Maya dự báo ngày 21-12-2012 sẽ là ngày tận thế của thế giới. Các bức vẽ rõ đến đáng ngạc nhiên trên tường ngôi nhà. Nguồn: BBC Tiến sĩ Saturno bên trong ngôi nhà đang được nghiên cứu. Ảnh: Reuters Bộ lịch Maya nói trên được vẽ trên nhiều bức tường của một ngôi nhà cổ tại thành phố Xultun nằm trong khu rừng Peten, miền Bắc Guatemala, gồm Lịch nghi lễ 260 ngày, Lịch Mặt trời 365 ngày, Lịch sao Kim 584 ngày và Lịch sao Hỏa 780 ngày. Ngôi nhà trên được Tiến sĩ William Saturno và các đồng nghiệp ở Đại học Boston (bang Massachusetts - Mỹ) khai quật vào năm 2010. Chủ nhân của nó có thể là một nhân vật cấp cao nhưng không thuộc hoàng tộc. Theo các nhà khảo cổ, bộ lịch này có niên đại cao hơn so với bộ mã Maya viết trên vỏ cây được phát hiện trước đấy và rất cỏ thế ngôi nhà chứa đựng di sản này là tài sản của một "công chứng viên" thời đó. Hiện nay nhóm các nhà khoa học Mỹ và Guatemala mới chỉ khai quật được 1% khu khảo cổ Peten. Họ hy vọng sẽ tìm ra nhiều bí mật quan trọng hơn của nền văn hóa từng phát triển rực rỡ này tại vùng lãnh thổ bao gồm 4 bang miền Nam Mexico, Guatemala, Bêlixê, Ônđurát và En Xanvađo hiện nay. Văn hóa Maya đã để lại cho nhân loại nhiều di sản giá trị về khoa học, thiên văn, văn hóa, đặc biệt là nền văn học trước khi thực dân Tây Ban Nha sang chiếm đóng khu vực này, với 44 ngôn ngữ còn tồn tại đến ngày nay cùng các tác phẩm tiêu biểu như Rabinal Achí, Popol Vuh, và bộ sách Chilam Balam. P.Linh
  18. Minh Mạng đã sai quân vẽ bản đồ Hoàng Sa thế nào? Châu bản triều Minh Mạng ghi việc triều đình nhiều lần sai phái quân đội ra Hoàng Sa đo đạc và vẽ bản đồ, người hoàn thành nhiệm vụ được ban thưởng, kẻ chậm trễ hay làm không tốt bị phạt. Tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Hà Nội có lưu nhiều châu bản triều Nguyễn, gồm các thượng dụ, chiếu chỉ, tấu, sớ, là nguồn thông tin chính thống có giá trị về nội dung. Trong đó có một số châu bản thời Minh Mạng nói về các việc liên quan tới Hoàng Sa. Trong tờ Châu bản số 061, Stt 036, quyển số 043, triều Minh Mạng có ghi chép về sự hoạt động của các thuyền phương tây gặp hoạn nạn trên biển gần đảo Hoàng Sa. “Thủ ngự cửa biển Đà Nẵng, Nguyễn Văn Ngữ tâu: Ngày 20 tháng này năm nay, thuyền buôn Pháp ra khơi đi đến Lữ Tống buôn bán. Sự việc đã báo cáo rõ. Ngày 27 thấy Tài phó và thuỷ thủ gồm 11 tên, đi trên 1 chiếc thuyền tam bản vào bản tấn nói rằng: Ngày 21 tháng này thuyền đi qua phía Tây Hoàng Sa, bỗng nước ngấm vào thuyền, ngập sâu hơn 8 thước đã bàn bạc chọn lấy 2 hòm bạc công quỹ, phân chia 2 thuyền tam bản thuận theo chiều gió quay về. Nhưng chủ thuyền Đô Ô Chi đi trên một chiếc tam bản, đi sau, chưa thấy tới. Thần lập tức sai thuyền tuần tiễu của bản tấn, chở nước ngọt ra khơi tìm kiếm. Giờ ngọ gặp Đô Ô Chi Ly và phái viên cùng thuỷ thủ, gồm 15 viên, hiện đã vào cửa tấn. Người và bạc đều được an toàn. Châu phê: "Đã xem". Tờ Châu bản số 092, Stt 070, quyển 054 triều Minh Mạng ghi việc sai phái quân đội ra Hoàng Sa đo đạc và vẽ bản đồ, nhưng vì chậm trễ nên bị trách tội: “Chúng thần Hà Tôn Quyền, Hoàng Quýnh ở Nội các phụng thượng dụ: Viên được phái ra Hoàng Sa là Cai đội Phạm Văn Nguyên trở về chậm trễ, vừa qua đã có chỉ giao cho Bộ trị tội. Nhưng đã tra chưa thấy rõ có tình tội riêng. Vả lại lần đó phái đi ra biển, đã hoàn thành công việc lẽ ra được dự thưởng, chỉ có quản viên Phạm Văn Nguyên lúc về lại dám tự ý giữ chức thật là không hợp, trước đây đã có chỉ cách chức giam cùm, nay truyền đánh ngay 80 gậy và gia ân khai phục nguyên chức. Vẽ bản đồ chưa được rõ ràng là các Giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện và Nguyễn Văn Hoằng đều đánh 80 gậy chuẩn cho thả tất cả. 2 tên hướng dẫn là Vũ Văn Hùng, Phạm Văn Sinh đều thưởng cho 3 mai tiền bằng bạc hạng nhỏ. Các binh thợ tham gia đều thưởng cho mỗi người 1 quan tiền, rồi cho về đơn vị và cục. Dân phu do tỉnh phái, trừ 2 tên hướng dẫn ra, còn lại đều thưởng cho mỗi người 1 quan tiền”. Trong tờ Châu bản số 245, stt 161, quyển 057 triều Minh Mạng cũng ghi việc sai phái quân đội đi đo đạc Hoàng Sa. “Phạm Văn Sênh, thủy thủ Lưu Đức Trị. Bốn tên ấy đã có chỉ phạt gậy. Ngoài ra binh dân trong hàng ngũ phải xông pha đường biển cũng gian lao nên lượng thưởng cấp... Lại phạm binh Trương Viết Soái thuộc Giám Thành trước can tội sơ ý trong khi đôn đốc làm thuốc súng bị trảm giam hậu. Năm ngoái đã từng phái đi Hoàng Sa và thành Gia Định hiệu lực chuộc tội, nay lại phái theo cùng đi đo đạc. Tuy đã qua 11 nơi, vẽ bản đồ chưa chu đáo nhưng qua nhiều lần khổ sai cũng thuộc loại có chút biết xấu hổ mà phấn đấu. Gia ân cho Trương Viết Soái được lập tức phóng thích, vẫn giao cho vệ giám thành làm lính, để sau sẽ tùy việc sai phái chuộc tội trước. Lại phụng xét binh đinh tại hàng ngũ 22 tên, dân phu 31 tên đều gồm lại trình bày rõ ràng. Châu điểm”. Thần Hà Duy Phiên, Lý Văn Phức vâng Thượng dụ: Trước đã phái xuất Thủy Sư Giám Thành cùng dân binh thuyền bè hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi đảo Hoàng Sa đo đạc nay hiện đã trở về. Trừ những người đi về chậm trễ là các viên do kinh phái thủy sư suất đội Phạm Văn Biện, tỉnh phái hướng dẫn Vũ Văn Hùng, Phạm Văn Sênh, thủy thủ Lưu Đức Trị. Bốn tên ấy đã có chỉ phạt gậy. Ngoài ra binh dân trong hàng ngũ phải xông pha đường biển cũng gian lao nên lượng thưởng cấp... Lại phạm binh Trương Viết Soái thuộc Giám Thành trước can tội sơ ý trong khi đôn đốc làm thuốc súng bị trảm giam hậu. Năm ngoái đã từng phái đi Hoàng Sa và thành Gia Định hiệu lực chuộc tội, nay lại phái theo cùng đi đo đạc. Tuy đã qua 11 nơi, vẽ bản đồ chưa chu đáo nhưng qua nhiều lần khổ sai cũng thuộc loại có chút biết xấu hổ mà phấn đấu. Gia ân cho Trương Viết Soái được lập tức phóng thích, vẫn giao cho vệ giám thành làm lính, để sau sẽ tùy việc sai phái chuộc tội trước. Lại phụng xét binh đinh tại hàng ngũ 22 tên, dân phu 31 tên đều gồm lại trình bày rõ ràng. Châu điểm. Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn, vẽ khoảng năm 1838, có vẽ Hoàng Sa và Trường Sa Trong tờ Châu bản số 244, stt 160, quyển 057 triều Minh Mạng, Bộ Công tâu: “Lần này phái đi đảo Hoàng Sa mà công vụ trở về. Vì việc đi về chậm trễ nên viên do Kinh phái là suất đội Thủy sự Phạm Văn Biện, tỉnh phái các hướng dẫn viên Vũ Văn Hùng, Phạm Văn Sênh, thủy thủ Lưu Đức Trị đã vâng minh chỉ phạt gậy rồi. Tất cả binh dân thuyền bè nguyên phái đi nên cho trở về chỗ cũ đơn vị cũ. Bộ thần đã tra xét, năm ngoái được phái đi đảo Hoàng Sa làm công vụ gồm các quản suất, hướng dẫn, khi trở về không có bản đồ đều bị tội. Còn như các binh đinh được thưởng 1 tháng lương bằng tiền, dân phu được thưởng hai quan tiền. Lần này đi làm công vụ trở về trừ những người đã được phân xử là bọn Phạm Văn Biện gồm 4 người, không cần bàn nữa. Ngoài ra binh dân tại hàng ngũ nên chiểu theo lệ xét thưởng. Lại phạm nhân hiệu lực bị giam Trương Viết Soái thuộc giám thành năm ngoái từng phái đi Hoàng Sa hiệu lực, nhân không có bản đồ đệ về, kính vâng minh chỉ chuẩn y nguyên án trảm giam hậu. Lần này tên đó nên định đoạt thế nào kính cẩn trình bày rõ đợi chỉ. Châu điểm”. Trong tờ Châu bản số 021, stt 013, quyển 068 triều Minh Mạng, Bộ Công tâu: “Vâng xét việc cử đi Hoàng Sa, Bộ thần đã bàn xin hạ tuần tháng 3 ra khơi, tới nơi đo đạc xung quanh xong đến hạ tuần tháng 6 thì quay trở về. Vâng được phê chuẩn ngay tại văn bản. Chúng thần đã sao lục ngay cho các tỉnh Bình Định , Quảng Ngãi thi hành và chọn cử thị vệ ở các Bộ đi Khâm thiên giám cùng binh thuyền Thuỷ sư ra đi rồi. Sau đó theo phái viên trình rõ: Từ ngày 10 đến ngày 26 tháng 4 liên tiếp có gió đông, chưa tiện ra khơi xin đợi đến hôm nào gió Nam thuận tiện, thuyền này ra khơi sẽ tiếp tục báo. Chúng thần vâng xét, thuyền này đến hạ tuần tháng 4 mà vẫn chưa đi là đã quá hạn, vậy dám xin tâu trình rõ. Châu điểm”. Nguyễn Lê Thảo – Nguyễn Huy Khuyến Theo Bee
  19. Thủy quân triều Nguyễn (Tin tuc) - “Chắc chắn rằng người An Nam phải là những kỹ thuật gia về thủy quân và công trình của họ có một vẻ đẹp khéo léo. Tôi bị ấn tượng rất mạnh bởi ngành này ...”. Từ đầu thế kỷ 19, thuyền trưởng người Mỹ John White đã thốt lên khi thăm các xưởng đóng tàu hải quân nhà Nguyễn. Những xưởng đóng tàu chiến Từ biển Vũng Tàu, tôi vào Sài Gòn theo hải trình qua cửa biển Cần Giờ mà tàu Franklin xưa của John White đã đi. Hai trăm năm trôi qua, bến bờ hoang sơ mà viên thuyền trưởng người Mỹ từng mô tả đã đổi thay nhiều, nhưng cặp mắt hàng hải của ông vẫn nhìn đến thời nay khi nó vẫn là thủy lộ huyết mạch nối thế giới bên ngoài với cảng Sài Gòn. Một chiến thuyền nhỏ của thủy quân nhà Nguyễn - Ảnh tư liệu Trong hồi ký Chuyến đi đến “Nam Hà”, John White kể ông đến Sài Gòn vào tháng 10-1819 và rất thích thú các xưởng đóng tàu: “Về phía đông bắc, trên bờ sông sâu, người ta thấy một công trường xây dựng và một xưởng đóng tàu thủy quân. Tại xưởng này, thời loạn lạc, người ta đã đóng những chiếc thuyền chiến to lớn có nhiều buồm ... Chỗ đóng tàu này đã tạo danh dự cho người An Nam hơn bất cứ cái gì hiện có trong xứ sở họ. Nó có thể cạnh tranh với những xưởng đóng tàu tốt nhất của châu Âu ... Xưởng đầy ắp vật liệu có phẩm chất tuyệt vời để đóng nhiều hộ tống hạm. Các thứ gỗ để đóng tàu và những lớp vỏ lòng tàu đều là những thứ đẹp nhất mà tôi chưa bao giờ được thấy ...”. Bị thu hút bởi xưởng đóng tàu thủy quân, John White liệt kê: “Có khoảng 150 chiếc thuyền chiến được đóng rất tốt nằm dưới các nhà chái... Có một vài chiếc được trang bị đến 16 khẩu đại bác bắn đạn nặng ba cân Anh. Nhiều chiếc khác được trang bị từ bốn đến sáu canông bắn đạn nặng từ 4-12 cân Anh. Tất cả đều bằng đồng và đúc rất đẹp. Ngoài ra còn có độ 40 thuyền chiến đang neo đậu trên sông, chuẩn bị tham gia một chuyến tuần thám bất ngờ mà quan tổng trấn sẽ thực hiện ở miền thượng lưu con sông, ngay lúc ông từ Huế trở về... Chắc chắn người An Nam phải là những kỹ thuật gia về hải quân và công trình của họ có một vẻ đẹp khéo léo. Tôi bị ấn tượng rất mạnh bởi ngành này của nền kinh tế chính trị của họ, nên tôi đã đến thăm viếng xưởng đóng tàu rất nhiều lần ...”. Thời điểm năm 1819, những gì John White quan sát là kết quả chiến lược phát triển hải quân hùng mạnh của Nguyễn Ánh để bảo vệ bờ cõi, chủ quyền biển đất nước. Đến nước Việt sớm hơn John White, nam tước John Barrow, người Anh đi biển lừng danh đã sáng lập Hội Địa lý hoàng gia, tường thuật tỉ mỉ nỗ lực của Nguyễn Ánh xây dựng các hạm đội hùng mạnh. Trong du ký A voyage to Cochinchina in the years 1792 - 1793 (Một chuyến du hành tới Nam Hà trong các năm 1792 - 1793), John Barrow kể rằng: “Ông (Nguyễn Ánh - PV) đặc biệt lưu ý về những gì liên quan đến kỹ thuật hàng hải và kỹ nghệ đóng tàu... Để nắm vững kiến thức về thực hành cũng như lý thuyết của kỹ thuật đóng tàu châu Âu, ông đã mua một chiếc tàu Bồ Đào Nha với mục đích chỉ để tháo ra từng bộ phận, từng tấm ván một, rồi tự tay lắp vào một tấm ván mới có hình dáng và kích thước tương tự cái cũ mà ông đã tháo ra, cho tới khi mọi thanh sàn tàu, xà ngang tàu, thanh gỗ khớp nối được thay thế bằng những cái mới, và như vậy con tàu hoàn toàn đổi mới... Nhà vua là người quản đốc các cảng biển và kho quân dụng, thợ cả trong các xưởng đóng tàu, kỹ sư trưởng trong mọi công trình, không có việc gì dự định thực hiện mà không có lời khuyên bảo và chỉ dẫn của ông. Trong việc đóng tàu, không có cái đinh nào được đóng mà không có sự tham vấn ban đầu của ông, không có một khẩu đại bác nào được đưa lên vị trí mà không có lệnh của ông”. Phải khẳng định John Barrow viết rất cẩn trọng, tham khảo, đối chiếu nhiều nguồn tư liệu khác như từ chính ghi chép của Barysi, cố vấn đắc lực cho Nguyễn Ánh. Nhờ đó, John Barrow chân thực kể về Nguyễn Ánh rằng: “Ông đi đến các xưởng quân dụng hải quân, xem xét những công việc được thực hiện khi ông vắng mặt, cho thuyền chèo quanh các hải cảng, kiểm tra những thuyền chiến. Ông đặc biệt chú ý đến các sở quân cụ, các lò đúc được dựng nên trong các sở binh khí, các cỡ súng đại bác đã được đúc ra theo đủ loại kích cỡ ... Ông dùng bữa ngay ở xưởng đóng tàu, gồm một ít cơm ăn với cá khô. Khi đó vua lại trở dậy, hội kiến với các sĩ quan quân đội và hải quân”. Hơn hai vạn thủy quân Chiến lược phát triển hải quân của Nguyễn Ánh đã được John Barrow kể lại kết quả từ chính những gì ông thấy và tư liệu xác thực từ viên thuyền trưởng Barysi, từng là trợ thủ hải quân của Nguyễn Ánh: trong năm 1800, lực lượng hải quân của Nguyễn Ánh đã đến 26.800 người. Trong đó chỉ riêng thợ xưởng hải quân đã có 8.000 người, 8.000 lính trên 100 chiến thuyền chèo tay, 1.200 lính trên chiến thuyền đóng kiểu châu Âu, 1.600 lính phục vụ trên các thuyền mành và 8.000 lính thường trực ở cảng. Thuyền trưởng Mỹ John White bổ sung số liệu hải quân nhà Nguyễn năm ông ta có mặt ở nước này: “Ở Huế, nhà vua cũng có một đội thuyền chiến và vào năm 1819, 200 chiến thuyền khác có trang bị 14 khẩu thần công đang được đóng. Trong số 200 chiến thuyền này, có khoảng 50 chiếc được trang bị buồm chão bằng buồm dọc và có một phần được đóng theo kiểu châu Âu”. Đến triều Minh Mạng, bộ sử Đại Nam hội điển sự lệ ghi rõ số lượng tàu thuyền lúc ấy đã phát triển thêm rất nhiều như năm 1828, chỉ riêng ở kinh sư đã có 379 chiếc thuyền định ngạch, còn các tỉnh thành lớn như Gia Định có 105 chiếc, Nam Định 85 chiếc, Nghệ An 40 chiếc, Quảng Nam 40 chiếc, Quảng Ngãi 25 chiếc ... Những nhà hàng hải nước ngoài cho rằng sự phát triển hải quân nhà Nguyễn đã có bước ngoặt lớn trong thời Nguyễn Ánh. Ngoài tầm nhìn xa trông rộng của vị vua này còn có sự trợ giúp của một số người Pháp. Nhưng họ cũng thừa nhận thời tổ tiên Nguyễn Ánh đã có hải quân hùng mạnh lập nhiều chiến thắng hiển hách. Trong đó lẫy lừng nhất là trận cửa Eo, Thuận An, năm 1644, chúa Nguyễn Phúc Lan với chiến thuyền nhỏ đánh bại đội tàu chiến Hà Lan. Dù dày dạn kinh nghiệm hải chiến với tàu lớn, pháo hạng nặng, nhưng tàu Hà Lan đã bị nhà Nguyễn vô hiệu hóa bằng chiến thuật áp sát thần tốc của chiến thuyền nhỏ. Một chiến hạm Hà Lan bị đắm tại chỗ, một chiếc cùng đường phải cho nổ kho thuốc súng hủy tàu và chiếc còn lại quay đầu chạy. Ngoài hải chiến cửa Eo, hải quân nhà Nguyễn cũng nhiều lần gây khiếp vía cho các tàu cướp phá đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan. (Còn nữa) Theo Quốc Việt (Tuổi Trẻ)
  20. ĐI TÌM Ý NGHĨA HÌNH ẢNH CUỐN THƯ TRONG BỨC TRANH ĐÁNH GHEN Bức tranh Đánh ghen là một trong những bức tranh thuộc thể loại tranh sinh hoạt của dòng tranh Đông Hồ. Bức tranh khắc họa một tình tiết xung đột của một gia đình có một ông mà hai bà trong xã hội phong kiến xưa. Thật đúng là: “chồng riêng riêng những kính yêu, chồng chung ai dễ ai chiều cho ai”. Bức tranh mang dáng dấp như một vở hài kịch hơn là bi kịch, dẫu rằng cũng có chút dao kéo. Phông nền cho màn diễn này là một chiếc bình phong hình cuốn thư. Tại sao bình phong lại có hình cuốn thư? Đồ án cuốn thư có nói lên gì thân phận, gia cảnh của các nhân vật trong tranh không? Đánh ghen, tranh dân gian Đông Hồ Trước hết chúng ta cùng khảo sát sự xuất hiện và những ý nghĩa của đồ án này. Đồ án cuốn thư tượng trưng cho học thức, sự quyền quý sang trọng. ảnh hưởng của đồ án này còn ảnh hưởng tới đầu thế kỷ XX, trên lối vào sảnh chính của tòa nhà Đại học Đông Dương - Hà Nội (khoảng năm 1925), có đắp một cuốn thư nhỏ, trong đề hai chữ Chính Hạt“ ”. Dẫu vậy, khi khảo sát sự phát triển của loại đồ án này ở Việt Nam chúng ta ngờ rằng nó xuất hiện khá muộn. Trên 82 chiếc bia ở Văn Miếu không tìm thấy sự hiện diện của đồ án này. Trong một bức chạm ở chân tảng trong đền vua Đinh có một bức chạm bình phong cuốn thư giống hệt như bức tranh Đánh ghen của Đông Hồ. Nhưng bức chạm này được làm thời Thành Thái thứ 10 ( 1898). Trong quần thể di tích đền vua Đinh vua Lê, đồ án cuốn thư không thấy trước thời Nguyễn. Đồ án cuốn thư xuất hiện chủ yếu vào thời Nguyễn ở dạng bình phong và các bức hoành phi, trên trán nhà. ở Long An Điện, từng là Tân Thư Viện (Huế), trên chính điện, phía bên phải ngai vàng của vua Duy Tân, có một cuốn thư sơn son thếp vàng khá đẹp. Trên tam quan Văn Miếu ở Huế chúng ta lại thấy hình ảnh cuốn thư được đắp nổi một cách trang trọng, như đã nói ở trên, được coi là một biểu tượng văn hiến, nhưng trên văn bia thời Lê, Mạc ở Văn Miếu Hà Nội, chúng ta chưa thấy xuất hiện dạng đồ án này. Đồ án cuốn thư ở đền vua Đinh cũng xuất hiện nhiều dưới dạng bình phong. Trong cuốn thư có khắc chìm hoa văn chữ vạn là ngụ ý sự vĩnh hằng trường cửu. Hoa lá quấn quýt bên cuốn thư cho chúng ta một cảm nhận sang trọng, cao quý mà gần gũi. ở Trung Hoa đồ án cuốn thư không lưu hành rộng khắp như ở Việt Nam thời Nguyễn. Cuốn thư ở Trung Quốc thường thấy ở các ô thoáng trên các bức tường ngăn, đôi khi được thấy trong chạm khắc trên đầu giường. Đồ án cuốn thư xuất hiện trên tam quan cổng nhà chùa, cổng đình cho tới cổng làng, cổng nhà dân vào thời Nguyễn ở Việt Nam từ Bắc vào Nam cho thấy phần nào sự thắng thế của đồ án Nho giáo. * Bình phong hình cuốn thư (đúng ra phải gọi là các ảnh bích hay chiếu bích) là một hiện tượng văn hóa thịnh hành thời Nguyễn có nguồn gốc từ bức tường ngăn phía ngoài cửa của những ngôi nhà tứ hợp viên Trung Hoa truyền thống. Trong kiến trúc truyền thống của người Việt không có thói quen làm các ảnh bích. Từ không gian kiến trúc đình làng tới chùa chiền hay nhà dân đều là những kiến trúc mở, thông thoáng với những hàng rào bằng cây cỏ đơn sơ. Thâm nghiêm kín cổng cao tường vốn rất đặc trưng cho kiến trúc phương Bắc. Sự xuất hiện các tường bao trong các công trình kiến trúc dễ tạo ra sự hút gió rất hại cho sức khỏe những người sống trong những không gian trong đó. Bức tường ảnh bích là vật ngăn gió phía trước cổng ngoài. ở Trung Quốc (nơi khởi nguồn của kiến trúc này) các bức ảnh bích đa phần trông rất nặng nề. Xét về mặt thẩm mỹ, hình các bức ảnh bích hình cuốn thư trên các bức chạm khắc chân tảng đền vua Đinh mềm mại hơn, trữ tình hơn; hoa lá cây cối khi thấp thoáng khi quấn quít. Đó là điều gần hiếm thấy ở Trung Hoa do các bức ảnh bích nằm trong khuôn viên các ngôi nhà Trung Hoa truyền thống. Người Trung Hoa thường tránh trồng cây thân mộc trong sân nhà vì sợ các ngôi nhà theo lối xưa có tường bao quanh, mà cây bị bao bọc bởi các bức tường xung quanh tương ứng với chữ khốn (nghĩa khốn đốn). Các ảnh bích lại thường là một bức tường xây đặc không làm các ô thoáng để có thể nhìn ra ngoài. Nhìn từ góc độ văn hóa, đồ án ảnh bích cuốn thư rõ ràng đề cao vai trò của tri thức. Một lần nữa ta lại thấy sự hưng thịnh của Nho giáo đã ảnh hưởng tới thẩm mỹ kiến trúc thế kỷ 19. Nho giáo đặc biệt đề cao chữ Hòa. Khái niệm Hòa xuất hiện đầu tiên trong Kinh Dịch. Trung tâm của ba tòa bảo điện to lớn ở Tử Cấm Thành Trung Hoa là điện Thái Hòa là thể hiện triết lý của Nho giáo. Câu thành ngữ Trung Quốc Gia hòa vạn sự hưng ( tạm dịch là Gia đình hòa thuận vạn sự hưng thịnh) hay Dĩ hòa vi quý thể hiện quan niệm Nho gia về phương thức giải quyết các mối quan hệ từ gia đình đến xã hội. Nhưng có một sự thực rằng, quan niệm trọng nam khinh nữ, đa thê, đề cao con trai trong cấu trúc gia đình phong kiến xưa luôn tạo ra những mâu thuẫn tiềm ẩn. Lời trong tranh bức tranh Đánh ghen “Thôi thôi bớt giận làm lành, chi điều sinh sự hổ mình hổ ta” cùng với tấm bình phong thể hiện cảnh ghen tuông xảy ra trong một gia đình khá giả, có học thức, coi trọng danh tiếng. Nhưng than ôi, danh tiếng và sắc dục xưa nay thật như nước với lửa, khó giữ được cảnh trong ấm ngoài êm. Trần Hậu Yên Thế http://www.vietnamfineart.com.vn ================================== Tác giả bài viết dựa vào những quan sát thấy được trong thực tế hiện tượng kiến trúc Việt Nam ở một vài thời kỳ lịch sử còn ghi lại dấu ấn hay còn di tích, rồi khẳng định ngay là...có nguồn gốc Tàu. Và Tàu có hay không hoặc có từ khi nào thì không cần dẫn chứng chứng minh, minh họa chứng minh...nghĩa là chắn chắn của Tàu rồi! Sic!!! Cứ theo cái câu thiệu tên thì mâu thuẩn đó chỉ ở cái quan niệm đó hay kiểu gia đình phong kiến đó. Có phải vậy không ta? Và khẳng định ngay rằng "cùng với tấm bình phong thể hiện cảnh ghen tuông xảy ra trong một gia đình khá giả". Biết đâu họ đánh ghen ở trà lầu, tửu điếm, thanh lâu, đình làng, từ đường thì sao nhỉ? Vẫn có khả năng đình làng, từ đường cũng được thiết kế đồ án cuốn thư vậy? Bởi đình làng là nơi hội họp khi làng có việc và cũng như để xử kiện, bàn việc làng việc nước; từ đường (nhà thờ họ) cũng là nơi vẫn có thể lôi nhau ra xử việc nhà. Và trên thực tế đình làng, từ đường đã từng được thiết kế bình phong với đồ án cuốn thư với những cách điệu khác nhau, rất đặc sắc, sinh động nhiều dị bản của cuốn thư chứ không cần giống y như trong tranh. Bình phong tại đình làng Kim Long (phường Kim Long, TP Huế) – Di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia, có hình ảnh cuốn thư.
  21. HỌ HỒNG BÀNG Tục truyền Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm, hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất. Lạc Long Quân dạy dân Việt cày cấy nông trang, đặt ra các đẳng quân, thần, tôn ti, các đạo cha con, vợ chồng, đôi khi trở về thủy phủ mà trăm họ vẫn yên vui...Hễ dân có việc lại lớn tiếng gọi Long Quân rằng: " Bố ơi, sao không lại cứu chúng tôi": Long Quân tới ngay, sự linh hiển cảm ứng của Long Quân, người đời không ai lường nổi...Long Quân lấy Âu Cơ rồi đẻ ra một bọc, cho là điềm bất tường, vứt ra cánh đồng. Qua sáu, bảy ngày bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng nở ra một con trai, mới đem về nuôi. Không phải bú mớm, các con tự lớn lên, người nào cũng trí dũng song toàn, người người đều kính trọng cho là triệu phi thường (1). Long Quân ở lâu dưới thủy quốc, vợ con ít gặp. Một hôm Long Quân trở về, gặp nhau ở đất Tương, Âu Cơ nói: “Thiếp vốn là người đất Bắc, ở với vua sinh hạ được trăm con trai, vua bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi con, làm người vô phu vô phụ, chỉ biết thương mình”. Long Quân nói: “ Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương khắc, dòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia li. Ta đem năm mươi con về thủy phủ, chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi xuống bể, hữu sự thì báo cho nhau biết”… Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu (2) suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đông giáp Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới Động Đình Hồ, nam tới nước Hồ Tôn (nay là Chiêm Thành). Chia nước làm mười lăm bộ (còn gọi là quận) là Việt Thường, Giao Chỉ, Lục Hải, Hoài Hoan, Ninh Hải, Dương Tuyền, Chu Diên, Vũ Ninh, Phú Lộc, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Văn Lang, Quế Lâm, và Tượng Quận. Chia các em ra cai trị, lại đặt các em làm tướng văn, tướng võ: văn là lạc hầu, võ là lạc tướng, con trai vua gọi là quan lang, con gái mua gọi là mỵ nương, trăm quan gọi là bồ chính, thần tộc. Nữ lệ gọi là xảo xứng (còn gọi là nô tỳ). Bề tôi gọi là hồn, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo. Vua đời đời thế tập gọi là Hùng Vương, không hề thay đổi. Lúc ấy, dân sống ở ven rừng xuống nước đánh cá thường bị giống giao long làm hại, lên nói với vua. Vua đáp: “Giống sơn nam và giống thủy tộc có thù với nhau, thường ghét nhau cho nên hại nhau đó”. Khiến người đời lấy mực xăm vào mình theo hình Long Quân, theo dạng thủy quái. Từ đó dân không bị tai họa giao long làm hại nữa. Tục xăm mình của dân Bách Việt cũng bắt đầu từ đây. Hồi quốc sơ, dân không đủ đồ dung, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ gianh làm chiếu, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm, lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm, lấy rễ gừng làm muối, cày bằng dao, trồng bằng lúa, sản xuất nhiều lúa nếp, lấy ống tre mà thổi cơm. Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói, cắt tóc ngắn để dễ đi lại trong rừng núi. Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết thì giã cối làm lệnh, người lân cận nghe tiếng đến cứu. Chưa có trầu, cau, việc hôn thú giữa nam và nữ lấy gói muối làm đầu, sau đó mới giết trâu, dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân. Trăm người con trai chính là tổ tiên của người Bách Việt vậy. (Trích trong :Lĩnh nam chích quát”) ---------o0o--------- (1) Trong truyện này chúng tôi cắt bỏ bớt đoạn nói về Xuy Vưu hiên viên, Hoàng Đế là những nhân vật thần thoại Trung Quốc không liên quan gì tới truyện trăm trứng của ta. (2) Phong Châu: nay là vùng đất thuộc tỉnh Vĩnh Phú và một phần tỉnh Hà Sơn Bình; đúng ra phải gọi là Văn Lang vì tên Phong Châu mới có từ khoảng thế kỷ thứ VII - VIII Khảo dị: Xung quanh truyền thuyết về họ Hồng Bàng, ở Vĩnh Phú còn sưu tầm được những truyện về Lạc Long Quân và bà Âu Cơ: Lạc Long Quân đi thuyền dọc theo sông Đà, đến vùng động Lăng Xương (nay là xã Trung Nghĩa, huyện Tam Thanh) gặp một cô gái xinh đẹp tên là Âu Cơ, đang hái dâu ven sông. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ làm vợ, đưa về núi Nghĩa (nay là xã Hy Cương, huyện Phong Châu). Sau khi lấy Lạc Long Quân, bà Âu Cơ có mang ba năm, ba tháng mười ngày thì sinh ra một bọc trứng. Lúc sinh, trên trời có mây sáng chiếu (nên chỗ sinh bọc trứng sau làm chùa và đặt tên Thiên quang thiền tự), bảy ngày sau bọc trứng nở ra một trăm người con trai. Lạc Long Quân không biết đặt tên mới cầu khẩn thiên địa, được lão tiên hay câu cá ở Việt Trì về đặt tên các con giúp (ở Việt Trì vẫn có hòn đá có dấu chân lão tiên này ngồi câu cá). Lạc Long Quân và Âu Cơ cùng chia đôi con, năm mươi người theo cha xuống biển, sinh ra các dân tộc miền xuôi, bốn mươi chín người lên núi, sinh ra các dân tộc miền núi, để người con trưởng ở lại làm vua là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang. Bà Âu Cơ đưa con lên mạn ngược, khi đến vùng Hiền Lương thấy đất tốt mới để một người con lại, dạy cách đốt cỏ mà trồng lúa, lấy gạo giã nhỏ nhào với mật ong cho vào chõ làm bánh. Rồi bà lại đưa tiếp các con theo ngọn suối mà đi mãi vào các cánh đồng phía trong. Mỗi năm bà lại đi thăm các con vài lần, ở lại mỗi chỗ dăm hôm rồi đi nơi khác. Ở xã Hiền Lương nay còn đền thờ bà Âu Cơ, khi cầu có hèm làm bánh mật, và phải do phụ nữ tế. Trong bản “Ngọc phả Hùng Vương” hiện lưu ở đền Hùng được viết từ thời Trần, viết lại năm 1470, còn bản sao năm 1600 (Hoàng định nguyên niên) ghi: Sau khi lấy Lạc Long Quân, bà Âu Cơ có mang ba năm ba tháng mười ngày mới sinh và cũng sinh ra cái bọc có một trăm quả trứng. Lạc Long Quân thấy sự lạ bèn để lên mâm vàng cầu khẩn thiên địa, bảy ngày sau nở ra một trăm người con trai, không ăn uống, bú mớm, chỉ hương hoa, không biết nói, chỉ cười mỗi ngày ba lần. Bảy tháng sau cùng tự nhiên nói to: “Trời sinh thánh đế, trị nước sinh vua, bốn bể thanh bình, thiên hạ yên mạnh”. Đoạn sau cùng giống như truyện trên. Hiện tên một trăm người con của bà Âu Cơ vẫn còn được ghi lại. Đồng bào Mường có bài mo “Đẻ đất, đẻ nước” cũng có dạng tương tự như vậy.
  22. Truyền thuyết HÙNG VƯƠNG Vài lời bạch Tìm mãi trong đống sách cũ ở nhà, Thiên Đồng mới tìm lại được quyển sách nhỏ trong đó ghi lại những câu chuyện truyền thuyết của dân tộc Việt về thời Hùng Vương. Sách được in vào năm 1984 của thế kỷ XX trước, do Hội văn học nghệ thuật Vĩnh Phú xuất bản . Những câu chuyện trong quyển "Truyền thuyết Hùng Vương" này đa phần là được trích lại từ cuốn "Lĩnh Nam chích quái" hoặc ghi lại từ những câu chuyện truyền khẩu trong dân gian. Tôi cảm thấy đây là phần tư liệu thú vị và quý báu nên giới thiệu và soạn lại vào đây, diễn đàn của website Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, nhằm phổ biến cho mọi người con của Rồng cháu của Tiên được nghe kể hay nhắc nhở về những truyền thuyết đặc sắc của dân tộc với cội nguồn văn hiến 5000 năm huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương tử, nền văn minh Văn Lang rực rỡ. Mong rằng quyển sách nhỏ này góp phần cho mọi người hiểu sâu sắc về văn hóa nước nhà, góp phần phục vụ cho những nghiên cứu về cổ sử Việt, về thời đại Hùng Vương một thời huy hoàng rực rỡ. Ngày 23 tháng 11 năm 2012 Thiên Đồng LỜI NÓI ĐẦU Để góp phần vào việc tìm hiểu, nghiên cứu thời đại Hùng Vương, năm 1974, Chi hội văn nghệ dân gian Vĩnh Phú đã xuất bản tập "Truyền thuyết Hùng Vương" do đồng chí Nguyễn Khắc Xương biên soạn. Năm 1981, thể theo yêu cầu của bạn đọc trong và ngoài tỉnh, Hội văn học nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phú tái bản tập "Truyền thuyết Hùng Vương" do đồng chí Lê Tượng biên soạn, chú thích và khảo dị. Trong tập, ngoài những truyện đã in trong "Lĩnh Nam chích quái" do Trần Thế Pháp biên soạn (?), Vũ Quỳnh - Kiều Phú chỉnh lý và "Truyền thuyết Hùng Vương" do đồng chí Nguyễn Khắc Xương biên soạn, có bổ sung thêm một số truyện mới do các đồng chí Lê Tượng, Nguyễn Lộc và Bùi Quang Thanh sưu tầm. Lần in thứ ba này, chúng tôi có chọn lọc và sửc chữa đôi chỗ, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi sơ xuất. Mong được bạn đọc xa gần góp ý để những lần in sau tập sách sẽ hoàn chỉnh và mĩ mãn hơn. HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VĨNH PHÚ
  23. Thường là thứ 7 hoặc chủ nhật.Thiên Đồng
  24. Xác nhận học viên đóng học phí lớp Phong thủy Lạc Việt nâng cao 05 1. Mộc Bản 3.000.000đ (Học kỳ I) 2. nick??? (Nguyễn Xuân Dũng) 3.000.000đ (Học kỳ I) 3. One_newbie (Nguyễn Anh Tuấn) 3.000.000đ (Học kỳ I)
  25. Binh lính thời xưa. Điệu múa quạt truyền thống chốn cung đình. Quan lại triều đình. Chỉnh tề mũ áo khi vào chầu. Một phụ nữ trong Hoàng thất. Theo Baodatviet.vn.
×
×
  • Create New...