-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
Truyện "sự Tích Chú Cuội" Và Giải Mã Chuyển Đổi Tốn Khôn
Thiên Đồng replied to Thiên Đồng's topic in Lý Học Lạc Việt
Thưa Sư Phụ, Trong một câu lại có hai dị bản. Nhưng may mà người ghi lại có tin thần khách quan tôn trọng nên mới biết có hai dị bản khác nhau. Là: Hễ ai nuôi nó trời cho quan tiền và Hễ ai đánh chết trời cho quan tiền Ngay trong hai dị bản, tức hai trường hợp này cũng là...bí ẩn. Thiên Đồng -
Truyện "sự Tích Chú Cuội" Và Giải Mã Chuyển Đổi Tốn Khôn
Thiên Đồng replied to Thiên Đồng's topic in Lý Học Lạc Việt
Cảm ơn anh Hoangnt đã tin tưởng Thiên Đồng và đưa ra một trường hợp. Để rảnh rỗi Thiên Đồng thử nghiên cứu xem, đôi khi không phải liên quan bát quái thì còn có gì khác thì sao? Chà, khó à. Lại có câu ca dao thế này: Con cóc là cậu ông Trời Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho Con cóc là cậu thầy nho Hễ ai nuôi nó (đánh chết) trời cho quan tiền Thiên Đồng -
Người cho phải cảm ơn Tại sao tiền lại quan trọng thế? Nó là sự bảo vệ của bạn chống lại tình yêu, chống lại cuộc sống, chống lại cái chết, chống lại Thượng đế. Do đó, Mahavira và Phật đã từ bỏ nó. Việc từ bỏ này đơn giản tới từ hiểu biết rằng toàn bộ sự thu xếp này là chống lại cuộc sống, chống lại tình yêu, chống lại Thượng đế. Họ đơn giản từ bỏ! Không phải bởi vì tiền bạc mà họ đang từ bỏ nó, nhưng chỉ bởi vì họ đã đi tới hiểu rằng qua sự bảo vệ này họ đã tự giết mình, đây là chất độc. Cho nên họ đơn giản trốn khỏi cung điện. Thế rồi một cuộc sống mới bắt đầu khi bạn hiểu rằng tiền là loạn thần kinh. An ninh, khao khát được an ninh và an toàn, chỉ ra rằng bạn đã chết, rằng cuộc sống đã rời bỏ bạn. Nỗ lực liên tục để được an ninh nghĩa là bạn vẫn chưa có khả năng yêu; bằng không, tình yêu là vĩnh hằng - không sợ chết, người yêu có thể chết dễ dàng, đáng yêu. Người đó đã biết cuộc sống, người đó biết ơn. Cho dù một khoảnh khắc tình yêu xảy ra... người đó đã biết tới niềm vinh quang của nó, ích lợi, mọi ân huệ đã có cho mình. Người đó có thể cám ơn Thượng đế về khoảnh khắc duy nhất này đã được trao cho người đó - và người đó không xứng đáng. Ai xứng đáng? Không ai xứng đáng cả. Bạn đã bao giờ nghĩ về điều đó chưa - rằng bạn đang sống? Bạn có xứng đáng sống không? Bạn đã kiếm được nó như thế nào? Bạn đã biết hoa và cây và chim tung cánh và mặt trời lên, biết bao nhiêu buổi sáng, biết bao nhiêu buổi tối, và những vì sao. Bạn đã kiếm sống như thế nào? Đó là ân huệ đơn giản. Bạn không xứng đáng, bạn đã không kiếm nó theo bất kì cách nào. Việc bạn hiện hữu đơn giản là ân huệ của Thượng đế. Nhưng khi ai đó đi tới biết một khoảnh khắc của tình yêu, toàn bộ cuộc sống này trở thành chẳng là gì. Thế thì mọi chim chóc mà bạn đã thấy, và mọi bài ca bạn đã nghe, và mọi nhạc sĩ của thế giới - chẳng là gì cả! Thế thì tất cả xanh tươi này của cây cối đều chẳng là gì. Thế thì không có sự toả sáng trong mặt trời và không có âm nhạc trong các vì sao. Nếu bạn đã biết một khoảnh khắc của tình yêu, thế thì toàn thể thế giới này chỉ nhoà đi và là cái bóng; nó chỉ là phản xạ, không phải cái thật. Nếu bạn đã biết chỉ một khoảnh khắc của tình yêu, vĩnh viễn và vĩnh viễn bạn sẽ biết ơn và hát lên bài ca về sự biết ơn với điều thiêng liêng. thế thì không có cái chết - tình yêu không biết đến cái chết, tình yêu chỉ biết cuộc sống. Bạn chỉ biết cái chết. Tình yêu... bạn đã phớt lờ nó, bằng cách nào đó bạn đã không sống qua nó; bạn đã phớt lờ nó, và bây giờ tiền bạc đã trở thành có ý nghĩa. Tiền là biểu tượng của người chết, tiền là tình yêu của người chết. Cho nên nhìn kẻ keo kiệt mà xem. Đấy không đơn giản là tiền khi người đó cầm tờ bạc trong tay. Tôi đã thấy một kẻ keo kiệt - mắt người đó lãng mạn thế khi người đó nhìn vào tờ bạc; chưa bao giờ người yêu nhìn vào mặt người mình yêu lại có vẻ yêu mến thế. Người đó sẽ cảm và chạm... và nhìn vào mắt người đó mà xem! Tia sáng toả ra từ mắt người đó, thơ ca chiếm lĩnh con người người đó. Người đó trở thành một người được biến đổi hoàn toàn. Không, Majnu cũng không hạnh phúc thế khi anh ta nhìn vào Laila. Không, Shiri cũng không hạnh phúc thế khi cô ấy nhìn vào Farhad. Người này là người họ hàng cho nên tôi đã có nhiều cơ hội để nhìn ông ta và hiểu ông ta. Ông ta là con người hoàn hảo về tiền, một phật trên con đường đó. Ông ta chưa bao giờ lấy vợ; ông ta bao giờ cũng nói, "Việc ấy quá tốn kém và tôi không thể nào đảm đương được. Một ngày nào đó tôi sẽ lấy vợ." Ông ta bây giờ chết rồi. Ông ta chưa bao giờ lấy vợ - ông ta vẫn còn là người chưa vợ. Nhưng ông ta sẽ hợp lí hoá điều đó; ông ta sẽ nói, "Đây là brahmacharya"; ông ta sẽ nói, "Đây là vô dục. Trong kinh sách, trong Vedas, cuộc đời vô dục là cuộc đời cao nhất." Nhưng ông ta đơn giản là kẻ keo kiệt, thậm chí keo kiệt cả tinh dịch. Đó là vô dục của ông ta - ông ta không phải là brahmachari. Cho nên khi bạn tìm người vô dục, chín mươi chín trong một trăm người sẽ chỉ là kẻ keo kiệt về tinh dịch. Họ sợ buông bỏ: nếu tinh dịch ra khỏi thân thể họ, số dư ngân hàng của họ...Cái brahmacharya của họ là một loại táo bón. Họ bốc mùi! Bạn chẳng bao giờ có thể thấy hương thơm toả ra từ họ. Họ là những kẻ keo kiệt - nhưng họ hợp lí hoá. Và họ bao giờ cũng sống qua lí luận, chưa bao giờ qua trái tim - bởi vì trái tim là điều nguy hiểm. Lý luận bao giờ cũng nắm bắt mọi thứ còn trái tim bao giờ cũng muốn cho. Trái tim là người cho và trái tim chưa bao giờ là kẻ keo kiệt, cho nên kẻ keo kiệt không bao giờ có thể tin vào trái tim được. Dần dần người đó sẽ giết chết trái tim, người đó trở thành chỉ cái đầu. Không có cảm giác trong người đó - cảm giác là nguy hiểm. Người đó không cảm, người đó trở thành không nhạy cảm. Người đó không cho phép bất kì sự nhạy cảm nào trong bản thể mình, bởi vì kẻ ăn xin tới và người đó hỏi... nếu bạn có cảm giác, sẽ khó nói không. Nhưng nếu bạn chỉ có cái đầu, bạn sẽ hợp lí hoá và bạn sẽ nói, "Tôi không tin vào việc ăn xin; điều này là xấu cho kinh tế, điều này là không tốt cho văn hoá - và anh trông hoàn toàn mạnh khoẻ, cho nên đi và làm việc đi." Bạn sẽ hợp lí hoá, và những lí lẽ này bạn cũng biết chỉ là giả tạo; sâu bên dưới bạn không muốn cho - đó mới là điều cơ bản. Nhưng bạn không thể chấp nhận sự kiện rằng bạn không phải là người cho. Bạn sống trong lời, lí lẽ, hợp lí hoá, và cứ che giấu sự kiện cơ bản là bạn đang giết chết cảm giác của mình. Nếu bạn đang trên con đường của tiền bạc - và gần như mọi người đều đang đi thế, dù ít dù nhiều - thế thì thấy toàn thể hiện tượng về điều đang xảy ra bên trong bạn; bạn đang tự giết chết mình. Và cuộc sống không thể bị ngăn cản không cho chuyển động, cuộc sống sẽ đạt tới cái chết. Bạn không thể ngăn cản được nó, nó không trong kiểm soát của bạn. Nó phải đi - như nó đã tới, nó phải đi. Trước khi nó rời bỏ bạn, bạn chỉ có thể tạo ra lo âu, có vậy thôi. Nếu bạn chấp nhận triều xuống và triều lên của cuộc sống, việc sinh là chết của cuộc sống; nếu bạn chấp nhận, bạn không cần tạo ra bất kì lo âu nào. Bạn có thể yêu. Trong khi việc chết có đó, yêu đi. Và cho phép việc yêu xảy ra. Đừng cố gắng giữ an ninh và đừng sợ chết. Cái chết sẽ tới. Cho cuộc sống cơ hội để nở hoa. Nếu cuộc sống thực sự nở hoa, cái chết sẽ là thượng đỉnh, không phải sự kết thúc. Nó sẽ là cực đỉnh, cao trào. Nó sẽ là đỉnh cao nhất, đỉnh Everest, không phải sự kết thúc. Và vào khoảnh khắc chết, người đã sống đúng, qua tình yêu - và đó là con đường phải để sống - với người đó cái chết tới như niềm cực lạc đẹp nhất. Người đó chết với bài ca trong trái tim. Người đó chết với niềm cực lạc trên khắp thân thể, thổn thức. Người đó đang đi gặp điều thiêng liêng yêu mến. Người đó đã học cách yêu và cách cho. Cho nên trong khoảnh khắc của cái chết nữa người đó cũng có thể cho. Người đó trả lại toàn bộ sự hiện hữu của mình cho tự nhiên; thân thể, khí về với khí, lửa về với lửa, đất về với đất, bầu trời về với bầu trời. Người đó cho, người đó là người cho, và bản thể về với cội nguồn, về với Brahma; người đó không níu bám. Nhưng bạn không thể làm điều đó được nếu bạn đã là kẻ níu bám cả đời mình. Vào khoảnh khắc chết, nếu bạn níu bám mọi thứ trở thành xấu. Nếu bạn đã từng níu bám và níu bám và níu bám, và bao giờ cũng sợ và trong lo sợ và chưa bao giờ được phép yêu, thế thì vào khoảnh khắc chết bạn sẽ bỏ lỡ đỉnh cao nhất, vốn là điều có thể được, điều đã là có thể được. Đây là hai con đường; con đường này đúng, con đường kia sai. Trích Sách Osho Ngô Trung Việt dịch
-
Cái gì còn lại sau chứng ngộ? Hỏi: Thầy đã nói chứng ngộ là có tính cá nhân, nhưng tính cá nhân có còn lại sau chứng ngộ không? Osho: Không. Tính cá nhân không còn lại sau chứng ngộ, nhưng chứng ngộ có tính cá nhân. Bạn sẽ phải hiểu điều đó. Sông rơi vào đại dương. Khi nó đã rơi vào, sông đã biến mất - không có tính cá nhân của sông còn lại, nhưng chỉ riêng một sông rơi vào trongđại dương. Bạn rơi vào trong đại dương của chứng ngộ như một cá nhân: bạn không thể đem vợ bạn đi cùng bạn được hay bạn của bạn đi cùng bạn - không có cách nào. Bạn đi một mình. Không ai có thể đem được bất kì ai. Làm sao bạn có thể đem được bất kì ai? Khi bạn thiền bạn thiền một mình. Khoảnh khắc bạn nhắm mắt lại và bạn trở nên im lặng, mọi người đã biến mất - vợ, bạn, con. Cái gần nhất cũng không còn gần; cái gần nhất bây giờ là xa nhất. Trong im lặng sâu của bạn, bình thản bên trong, bạn tồn tại một mình. Một mình này sẽ rơi vào trong đại dương. Cho nên, chứng ngộ có tính cá nhân. Tất nhiên sau chứng ngộ tính cá nhân biến mất; không có tính cá nhân. Cho nên nhớ điều này: bạn không thể đi theo đám đông được; bạn không thể đi như một tổ chức được; bạn không thể đi như một giáo phái. Bạn không thể nói, "Mọi người Ki tô giáo lại đây," hay "Mọi người Hindus lại đây. Tôi sắp chứng ngộ và tôi sẽ đem mọi người Hindus cùng tôi." Không ai có thể đem được bất kì ai khác. Nó tuyệt đối là một mình. Và đó là cái đẹp của nó, thuần khiết của nó. Trong tính một mình tuyệt đối của bạn, bạn rơi vào trong niết bàn đại dương. Mới khoảnh khắc trước, bạn còn là dòng sông; mới khoảnh khắc trước, bạn còn là một cá nhân - chính đỉnh của tính cá nhân, vị phật - và chỉ một khoảnh khắc sau đó chẳng cái gì tồn tại. Bạn không còn là sông nữa; bạn đã trở thành đại dương. Bây giờ bạn thậm chí không thể nói, "tôi đây." Đại dương hiện hữu; sông đã biến mất. Bạn có thể nói điều đó theo hai cách: rằng sông đã biến mất - một cách, cách của Phật tử; hay bạn có thể nói sông đã trở thành đại dương - cách kia, cách của Vedanta. Nhưng cả hai là một. "Sông đã trở thành đại dương," hay, "Sông đã biến mất; chỉ đại dương hiện hữu," chỉ là các cách nói cho cùng một điều. Trích từ "Yoga: Alpha và Omega - Tập 5"
-
Trích dẫn kinh sách Hỏi: Sao thầy làm nhiều sai lầm khi thầy trích dẫn người khác hay tham chiếu tới các sự kiện Kinh Thánh hay tới các khám phá khoa học thế? Đích thân tôi đã trả lời câu hỏi này nhiều lần theo nhiều cách khác nhau. Bây giờ tôi muốn nghe câu trả lời của thầy. Osho: Vậy cho phép tôi phạm thêm vài sai lầm nữa. Thứ nhất: trí nhớ của tôi là phi thường đấy. Mulla Nasruddin đang nói với một người và anh ta nói 'Vợ tôi có trí nhớ rất tệ.' Và người này hỏi 'Anh ngụ ý cô ấy quên mọi thứ chứ gì?' Mulla Nasruddin nói 'Không, cô ấy nhớ mọi thứ!' Nếu vợ của Mulla Nasruddin có trí nhớ tệ, tôi có trí nhớ phi thường. Tôi quên mọi thứ. Và tôi tận hưởng việc quên lãng này; tôi không lo nghĩ về nó. Thứ hai: Tôi là người dốt. Tôi không là học giả. Tôi thích thú đọc sách, nhưng tôi đọc Kinh Thánh, Gita, Koran chỉ như người ta đọc tiểu thuyết; chúng là những câu chuyện cổ đại, hay. Krishnamurti nói ông ấy chưa bao giờ đọc bất kì kinh sách nào; ông ấy chỉ đọc truyện trinh thám. Tôi đọc kinh sách, nhưng tôi đọc trong kinh sách như tiểu thuyết trinh thám và không gì khác. Và tôi sẽ gợi ý cho Krishnamurti rằng chắc sẽ tốt nếu ông ấy nên nhìn vào Kinh Thánh; bạn không thể tìm được câu chuyện nào hay đầy tình trạng hồi hộp. Mọi thứ đều có đó: yêu, sống, giết hại; mọi thứ đều có đó. Nó là rất giật gân. Kinh sách, với tôi, chẳng có gì đặc biệt. Kinh sách là thiêng liêng như cây và đá và sao - hay như trần tục. Tôi không làm phân biệt cho nên tôi không rất nghiêm chỉnh về kinh sách. Điều duy nhất tôi nghiêm chỉnh là về chuyện đùa. Cho nên khi tôi trích dẫn kinh sách tôi trích dẫn từ trí nhớ, khi tôi trích dẫn chuyện đùa tôi phải viết nó ở đây ngay trước tôi. Tôi chưa bao giờ muốn làm sai lầm gì về chuyện đùa - tôi thực sự nghiêm chỉnh. Về mọi thứ khác tôi tuyệt đối không nghiêm chỉnh. Cho nên nó là rất hiển nhiên. Nghe tôi bạn phải hiểu điều đó, rằng nhấn mạnh của tôi không phải vào điều kinh sách nói - cái đó không phải là vấn đề: nhấn mạnh của tôi là vào điều tôi đang nói. Nếu bạn đi tới linh mục Ki tô giáo, ông ấy trích dẫn kinh sách, nhấn mạnh của ông ấy là vào kinh sách. Ông ấy rất chính xác từng từ, ông ấy phải vậy - bản thân ông ấy là phụ, kinh sách mới là chính. Ông ấy là nhân chứng cho kinh sách. Với tôi chính điều ngược lại: kinh sách chỉ là nhân chứng cho tôi. Bất kì điều gì tôi phải nói, chỉ điều đó tôi phải nói. Nếu tôi cảm thấy kinh sách có thể là nhân chứng cho nó, tôi dùng nó. Và tôi cứ chơi với kinh sách, đôi khi theo cách này, đôi khi theo cách khác. Bao giờ cũng nhớ, tôi không định chứng minh kinh sách đâu - rằng kinh sách là đúng - tôi đơn giản dùng nó như minh hoạ thôi. Nó là phụ, bạn có thể quên về nó: chẳng cái gì sẽ bị mất. Bất kì điều gì tôi đang nói đều là trực tiếp. Chỉ để giúp bạn, bởi vì bạn không có khả năng nghe chân lí trực tiếp, bạn cần vài nhân chứng. Cho nên Jesus, Krishna và Phật và Lão Tử và Liệt Tử - họ chỉ là nhân chứng cho tôi. Tôi không điều chỉnh theo họ, họ phải điều chỉnh theo tôi. Và điều nay bao giờ cũng nên là vậy: người chết nên tồn tại và điều chỉnh theo người sống và vì người sống. Sao người sống phải điều chỉnh theo người chết? Liệt Tử phải điều chỉnh theo tôi chứ, bởi vì chỉ trong điều chỉnh theo tôi Liệt Tử mới lại có thể có cuộc sống chút ít. Jesus phải điều chỉnh theo tôi, tôi không điều chỉnh theo Jesus. Quá khứ phải điều chỉnh theo hiện tại. Cho nên tôi cứ chơi.... Đây toàn là câu chuyện với tôi, sâu bên dưới đây là cách tiếp cận: toàn thể cuộc sống là hư cấu, nó là maya, nó là giấc mơ. Jesus và Phật và Krishna và tôi và bạn đều là một phần của giấc mơ lớn - Thượng đế là mơ. Đừng quá nghiêm chỉnh về nó. Các học giả trở nên quá nghiêm chỉnh. Tôi không phải là học giả và tôi không có kính trọng với học giả. Thực ra thái độ của tôi đích xác là hệt như thái độ của Mulla Nasruddin's.
-
Về OSHO Thế kỉ 20 đã chứng kiến những tiến bộ vượt bậc của khoa học và công nghệ làm nền tảng thúc đẩy sự phát triển của nhân loại trên bình diện vật chất: toàn thế giới đi vào nền kinh tế thông tin và tri thức, xã hội chuyển biến thành xã hội tri thức. Cả trái đất nay đã trở thành như một cái làng, một việc xảy ra ở bất kì ngõ ngách nào trên thế giới thì lập tức toàn thể thế giới đều được biết tới ngay. Nhưng cũng thế kỉ 20 này còn chứng kiến những phát triển vượt bực nữa của tâm thức con người: việc xuất hiện nhiều bậc thầy tâm linh như Gurdjieff, Ramakrishna, J. Krishnamurti, Osho… với những chỉ dẫn phong phú về sự phát triển của con người mới và nhân loại mới. Một trong các bậc thầy tâm linh được nhắc tới nhiều nhất và gây ra nhiều tranh luận nhất vào cuối thế kỉ 20 này chính là Osho. Nhưng điều mà Osho đã giảng giải trong suốt cuộc đời mình, thực sự cũng chính là những điều mà Phật, Mahavira, Lão Tử, Trang Tử, Jesus… những người chứng ngộ trong quá khứ đã nói. Con người hiện đại, tuy có tầm mức trí tuệ và suy diễn cao hơn ngày xưa, nhưng hầu hết tập trung vào những vấn đề cuộc sống vật chất bên ngoài và ít khi chú ý tìm hiểu tâm thức bên trong của mình. Osho là người nêu ra vấn đề phát triển tâm thức của từng người ngay trong thực tế sống động đời thường hàng ngày, lấy việc phát triển tâm thức qua việc sống cuộc sống đời thường là trọng tâm. Về từ nguyên, osho là một từ cổ Nhật Bản, theo nghĩa tiếng Nhật Bản là “Hoà Thượng”, như chúng ta vẫn dùng từ này khi chỉ các nhà sư Phật giáo, mang ngụ ý “Người Hoà hợp với Thượng giới” hay nói cách khác là hoà hợp với toàn thể sự tồn tại. Một nghĩa khác nữa của từ osho này là “tính đại dương” như đã được Willaim James nêu lên. Cái tên Osho đã được bậc thầy tâm linh Bhagwan Shree Raijneesh (1931-1990) người Ấn Độ, chọn làm tên hiệu chính thức cho mình và đã trở thành nổi tiếng trên toàn thế giới. Phát triển tâm thức con người Tâm linh theo Osho không phải là hệ thống đẳng cấp các lực lượng tinh thần chi phối thế giới vật chất. Trái lại, theo Osho, tâm linh đích thực chính là sự phát triển tâm thức của mỗi người, để sống một cách hoàn toàn tỉnh táo, có ý thức trong mọi suy nghĩ, hành động, tư tưởng, tình cảm của mình và tham gia vào các hoạt động sáng tạo trong thế giới vật chất. Sự trưởng thành của con người được đánh dấu bằng việc thoát khỏi rất nhiều tầng đồng nhất tâm thức với thân thể, với tâm trí, với các tục lệ, lề thói xã hội, các ý thức hệ tôn giáo, các mối quan hệ với thế giới xung quanh. Sự phát triển cao nhất của con người, chứng ngộ, không gì khác hơn việc hiểu ra điều đơn giản là không có cái tôi tách biệt để vun vén cho riêng mình, mà chỉ có một cái toàn thể đang vận hành và chúng ta tham gia cùng sự sáng tạo vĩ đại đó để làm cho mọi thứ tốt đẹp nhất có thể được. Sự phát triển tâm thức hiện đại hoàn toàn không mang nghĩa như việc tu tập của các tu sĩ thời xưa, chỉ quay vào bên trong mình để phát triển nội tâm mà không đóng góp gì về vật chất cho xã hội. Theo Osho, con người mới phải là con người sống trong thế giới này, đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội, nhưng đồng thời vẫn quan sát mọi suy nghĩ và hành động của mình để không bị lệ thuộc cả vào những lực ngầm xui khiến bên trong mình lẫn những lực thúc đẩy mù quáng bên ngoài. Con người mới phải là con người có cách nhìn toàn diện, thấu hiểu qui luật phát triển của sự tồn tại và hành động theo qui luật đó mà không bị chi phối bởi những ham muốn, những thúc giục của thói ích kỉ cá nhân. Con người mới phải là con người đã nhìn rõ chân tướng mọi ham muốn của mình và thoát khỏi sự chi phối của nó, để có thể trở thành cây sáo trúc hổng mà tạo hoá thổi qua những điệu nhạc du dương. Sự phát triển tâm thức là nhiệm vụ của riêng từng người, không ai có thể làm thay người khác được, nhưng có những hướng dẫn, có những chia sẻ của những người đã đạt tới dành cho những ai đang khao khát đi tìm cách sống, ý nghĩa của cuộc sống. Những hướng dẫn, chia sẻ đó đã được Osho thuyết giảng trong suốt 30 năm, đều đặn mỗi ngày Osho nói chuyện với các bạn bè và người tìm kiếm trong hai tiềng đồng hồ. Những bài nói đó đã được ghi âm và ghi hình trong quãng 1800 cuộn băng từ, và được dỡ ra, ghi lại thành sách. Cho tới nay, đã có hơn 600 đầu sách được chuyển lại như vậy từ các thiết bị đa phương tiện. Osho không phải là nhà văn. Ông không viết mà đó toàn là những bài nói trực tiếp cho các đối tượng cụ thể, trong hoàn cảnh cụ thể và vấn đề cụ thể. Osho đã nói và bình luận về gần như toàn bộ tất cả các tôn giáo chính trên thế giới. Nhiều kinh sách kinh điển, thường rất khó hiểu với người đọc, lại trở nên cực kì dễ hiểu qua giảng giải của Osho vì ông đã dùng ngôn ngữ đời thường, kinh nghiệm của cuộc sống hiện đại để minh hoạ cho những vấn đề có tầm sâu lắng nhất. Từng bài nói của Osho đều chứa đựng nhiều tầng tri thức và kiến giải, và tuỳ khả năng và trình độ của người đọc, mỗi lần đọc lại sẽ lại thấy ra những vấn đề mới mà lần đọc trước mình chưa thấy ra. Từng bài nói đều là những hình tròn trọn vẹn đưa người đọc từ những bước sơ cấp nhất đi lên tột đỉnh chứng ngộ. Và không chỉ giảng giải, Osho còn cung cấp và giới thiệu cho mọi người những phương pháp thực hành ngay lập tức với chính thân thể, tâm trí và con người mình, để đưa họ từ chỗ họ đang đấy lên tới đỉnh cao nhất. Và phương pháp không có gì khác hơn là quan sát, tỉnh táo và chứng kiến mọi việc xảy ra, cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Osho nhấn mạnh vào tính cá nhân, mỗi người phải sống có ý thức và tự chịu trách nhiệm phát triển tâm thức mình qua việc tham gia vào cuộc sống hàng ngày đang diễn ra. Osho không chủ trương xây dựng tôn giáo có tổ chức dựa theo lời giảng của mình. Ông phê phán tất cả các hình thức tổ chức (tôn giáo, xã hội…), khi xem xét chúng trong chiều phát triển của tâm thức con người. Mọi tổ chức đều có những qui định kỉ luật ràng buộc con người, và tổ chức phải là như vậy thì mới trở thành sức mạnh vật chất. Nhưng sự phát triển sáng tạo của tâm thức con người bao giờ cũng vượt qua mọi giới hạn kỉ luật của tổ chức. Trong phát triển tâm thức, tới một mức độ nào đó, người ta phải có đủ dũng cảm để tự mình đi một mình bằng chính hiểu biết của riêng mình, không dựa vào bất kì ai khác hay bất kì tổ chức nào. Tháo gỡ khỏi cái kính hiểu biết hiện tại Những điều Osho đã nói ra là những giúp đỡ vô cùng quí báu cho những người tìm kiếm, cho những người đang trên con đường phát triển tâm linh. Tuy nhiên đây là những lời giảng cao siêu, rất có ý nghĩa và không phải là tất cả mọi người đều có thể hiểu hay đồng ý với quan điểm của Osho ngay lập tức. Người ta thường hiểu mọi vấn đề qua cặp kính hiểu biết hiện tại của chính mình, vì vậy việc hiểu sai hay ngộ nhận rất thường xảy ra xung quanh những bậc thầy tâm linh, khi mà người ta chưa tháo gỡ cái kính đó ra. Điều này là tất yếu, và bản thân Osho cũng đã phải chịu rất nhiều chỉ trích, phê phán, thậm chí cấm đoán, trù dập và đầu độc bởi sự đố kị thông thường, bởi việc mọi người vẫn hay coi hiểu biết của mình, đôi kính của mình, là duy nhất đúng. Sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu vẫn có những lời chê bai, công kích Osho theo nhiều góc nhìn khác nhau. Nhưng với thời gian và với sự khao khát tìm kiếm chân lí, người tìm kiếm sẽ tìm thấy những điều đích thực trong lời của Osho. Nhưng để nhận ra được những hạt kim cương lấp lánh trong lời của Osho, người đọc cần phải mang một tâm trạng vô tư, không nghi ngại, không thiên kiến, không vồ vập, không dễ dãi. Có thể đọc lời Osho như dòng sông chảy từ mạch nguồn trên thượng du, băng qua đồng bằng, rồi đổ oà vào đại dương. Cũng có thể nhảy bổ ngay vào những chủ đề mình thấy quan tâm nhất, rồi sau mới chuyển sang các vấn đề khác, không cần trật tự nào. Hãy đi theo tiếng gọi của niềm yêu thích bên trong mình, hãy để cho nguồn mạch tuôn chảy, đừng đắp đê, cũng đừng khai thông. Điều cơ bản là khi đọc xong rồi đừng bám vào lời nói, hãy đi sâu vào cái vô lời ẩn giữa các dòng chữ, hãy bắt được cái thần, cái ý được ngụ trong đó. Đừng bị lệ thuộc vào những mô hình, hệ thống, cách giải thích logic mà hãy đi vào cái trực cảm, cái cảm nhận chợt trào ra bên trong chúng ta, cái chẳng lệ thuộc gì vào những giải thích logic cả. Cái còn đọng lại trong người đọc, sau khi đã quên tất cả những lời nói, dù đồng ý hay không, cái làm vỡ ra vô minh để chiếu sáng vào đời sống của chúng ta mới là điều quan trọng nhất. Và hãy dùng nó mà sống, mà ứng xử với đời mình và đồng loại, để tự mình làm biến đổi mình, để sống một cách hồn nhiên, tự phát, không bị lệ thuộc vào bất kì thói quen hay ý tưởng nào. Để làm cho những lời của Osho đi gần hơn nữa với con người hiện đại, một số nhà xuất bản tại Mĩ đã làm công việc biên tập, tuyển chọn trích rút những lời nói của Osho trong rất nhiều bài nói theo từng chủ đề một, cung cấp cho bạn đọc cách nhìn nhận mới theo những vấn đề cụ thể, các chủ đề cụ thể của cuộc sống. Những cuốn sách này đương nhiên không cho độc giả cái nhìn thấu suốt từ sơ cấp tới đỉnh cao nhất như bài nói trọn vẹn của Osho, nhưng nó lại phù hợp với trình độ hiện tại của nhiều người. Các quan niệm về tình yêu, về thiền, về sáng tạo, dũng cảm, trưởng thành, nhận biết, thân thể và tâm trí, theo một góc độ nào đó có thể được xem xét độc lập với các khía cạnh khác và cũng nên được giới thiệu như những bước đi đầu tiên vào việc tìm hiểu chính bản thân chúng ta. Những cuốn sách đó được tập trung lại thành loạt sách “Sự sáng suốt về cách sống mới” như: Trưởng thành – trách nhiệm là chính mình, Tủ thuốc của linh hồn, Sáng tạo: Khơi nguồn sức mạnh bên trong, Dũng cảm: Vui sống hiểm nguy… Chúng ta cũng là một phần của thế giới, nhân loại, cho nên những điều đang là mối quan tâm về văn hoá, cách sống, giá trị con người trên thế giới cũng chính là mối quan tâm của chúng ta. Thông qua việc giới thiệu những cuốn sách này, độc giả sẽ được cung cấp thêm cách nhìn “thoát ra ngoài hộp” để soi rọi vào chính bản thân mình, cách nghĩ đối lập với những quan điểm đã quá quen thuộc của mình. Mọi sáng tạo và cái mới chỉ có thể tới được trên cơ sở cách nhìn nhận mới, cách nghĩ mới, không theo lối mòn cũ. * Lời giới thiệu cuốn “Từ thuốc tới thiền” của Osho, do dịch giả Ngô Trung Việt viết
-
Tự truyện OSHO Biên dịch : Đỗ Tư Nghĩa VÀI NÉT VỀ TƯ TƯỞNG CỦA OSHO Osho (1931-1990) là một vị đạo sư hết sức kỳ lạ của thế kỷ hai mươi. Tên thật của ông là Rajneesh Chandra Mohan Jain. Khoảng trong thập kỷ 70 người ta biết đến ông với tên Bhagwan Shree Raineesh. Tháng 2 năm 1989, ông tự đổi tên là Osho. Osho vốn là danh xưng tiếng Nhật Bản cổ, có nghĩa là "đạo sư" của một dòng Thiền. [1] Tác phẩm bạn đọc đang cầm trên tay, Tự Truyện Osho, kể lại cuộc đời lạ lùng và quan niệm của ông về nhiều vấn đề, thế tục cũng như tâm linh. Osho để lại một số lượng tác phẩm đồ sộ với hàng trăm cuốn sách và vô số các bài thuyết giảng. Ông là một người gây nên rất nhiều tranh cãi trong số những ai quan tâm đến triết học phương đông, trong giới những người tầm cầu tôn giáo và đạo sư. Có thể nói, ông là một trong những người gây phân hóa cùng cực nhất về mặt đạo lý, nhưng cũng là người có sức thu hút mạnh mẽ nhất trong các bài giảng về tôn giáo và triết học. Nhân cách của Osho có một sức thu hút mãnh liệt, nó biểu hiện trong những bài luận giải xuất chúng của ông về mọi vấn đề tôn giáo và triết học, kể cả về các bộ kinh lâu đời nhất mà nhiều vị luận sư đã dày công trình bày. Những ai đã gặp ông đều thừa nhận Osho có một tài hùng biện đầy ma lực, một sự hấp dẫn cá nhân mà người nghe hầu như không thể cưỡng lại. Sự thật về con người Osho nằm ở đâu ? Chính ông cũng nói về triết học của mình là một thứ triết học phi triết học (philosophy of no philosophy). Tuy thế, một khi độc giả đã cầm quyển sách này trong tay, một lời dẫn nhập ngắn nhằm giới thiệu con người và quan niệm của Osho có lẽ sẽ giúp độc giả hiểu được một phần con người kỳ dị này của thế kỷ trước. Đó là mục đích của bài này. [1] Về sau, Osho còn liên hệ danh xưng này với từ oceani của William James. Ocani có nghĩa là đại dương. Như vậy, Osho còn có nghĩa là đại dương. (BT) II Trước hết, trong những năm 60, Osho là giáo sư triết học tại đại học Jabalpur, Ấn Độ. Về bản thể luận, ông là người có một quan niệm Nhất Thể (Monism) về vũ trụ. Đối với ông, Thượng đế nằm trong mọi vật, nằm trong mọi con người. Không hề có sự phân biệt nào giữa "Thượng đế" và "phi Thượng đế". Toàn thể mọi con người, dù là người tồi tệ nhất, đều thiêng liêng cả. Mọi dạng xuất hiện của một thứ năng lượng mang tên là "Thượng đế" đối với ông đều đáng ngưỡng mộ và điều này sẽ thể hiện trong quan niệm hành trì mà ông muốn truyền bá. Đối với đời người, Osho cho rằng giá trị cao cả nhất của cuộc đời là lòng yêu thương, sự vui cười và thiền định. Niềm ân thưởng vô giá nhất của cuộc đời là trải nghiệm được sự giác ngộ tâm linh (spiritual enlightenment). Sự giác ngộ đó được ông miêu tả là nằm yên trong "trạng thái bình thường của sự hiện hữu của tất cả mọi vật đang dựng xây vũ trụ". Con người chúng ta lẽ ra ai cũng có thể trải nghiệm được trạng thái giác ngộ đó, nhưng sự thực là con người bị đánh lạc hướng do hoạt động tư duy cũng như do mong ước và dục vọng sinh ra bởi sự ràng buộc của xã hội. Vì thế, thay vì hưởng được niềm vui cao cả của sự hữu hiện, con người rơi vào một tình trạng của sợ hãi và ức chế. Ông quan niệm rằng, muốn trở lại trạng thái hồn nhiên và an lạc, con người phải tự mình giải thoát khỏi sợ hãi và ức chế. Với nhận thức này Osho hoàn toàn nằm trọn vẹn trong truyền thống của triết học Ấn Độ, nhất là trong Đại thừa Phật giáo. Nếu nhớ đến tư tưởng của Mã Minh trong Đại thừa khởi tín luận, hay Thiền ngữ "Tâm bình thường là đạo" của Nam Tuyền, hay các phép hành trì của Phật giáo Tây Tạng, hay tư tưởng của các vị đạo sư của thời hiện đại như Aurobindo hoặc Krishnamurti, vân vân, ta dễ dàng thấy sự trùng hợp tuyệt đối về nhận thức luận giữa ông và các truyền thống đó. Chỉ có điều khác biệt là, Osho nói về các nhận thức này một cách hùng biện và mới mẻ, và nhất là với tính cách của một giáo sư triết học, trong các luận giải, ông phối hợp một cách tài tình những truyền thống của Phật giáo, Jaina giáo, Hindu giáo, Ky tô giáo, Sufism (một truyền thống của Hồi giáo), và triết học cổ của Hy Lạp. Thế nhưng, cũng như mọi nhà đạo học khác, ông không quên chỉ rõ, không một nền triết học nào có thể diễn bày được chân lý, có thể thay thế được sự chứng thực cá nhân. Do đó sự trải nghiệm, sự chứng thực của trạng thái giác ngộ là cốt tủy của mọi sự. Ông tự nhận mình đã đạt trạng thái này năm 21 tuổi. Phương pháp khả dĩ đưa đến giác ngộ là phép thiền định. Nhưng thiền định là gì và hành trì thiền định như thế nào? Theo Osho thiền định là một trạng thái nằm ngoài tâm. Thiền định không phải là sự tập trung. Thiền định không hề là một dạng của sự tư duy có tính tâm linh mà là một tình trạng vắng bặt tư duy. Mọi triết lý về thiền định có thể ví như to tiếng bàn luận về sự lặng yên, còn thiền định là bản thân sự lặng yên. Đó là một tình trạng có thể xảy ra bất chợt, một tình trạng mà ta có thể ở trong đó, chứ không phải là một sản phẩm do ta tạo ra. Quan niệm này về thiền của Osho không hề khác với các phát biểu xưa nay của các vị Thiền sư của miền Đông Á, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Nhưng cách hành trì thiền định do Osho đề ra thì khác hẳn. Osho cho rằng con người hiện đại, nhất là người phương Tây rất khó áp dụng phép tọa thiền, tìm sự an tĩnh và ngưng bặt tư tưởng bằng cách ngồi yên. Vì thế ông đề xuất những phép thiền tích cực (Active Meditation) và cho rằng những phép hành trì của thiền tích cực sẽ đưa con người vào trạng thái thiền định một cách tự nhiên. Nội dung của các phép thiền tích cực này là cho phép con người rủ bỏ những gì ức chế mình bằng cách để cho chúng được thể hiện một cách tự nhiên. Trong các phép thiền tích cực do Osho đề ra ta có thể kể phép thiền năng động (Dynamic Meditation), thiền Kundalini, Nadabrahma, Natajai, trong đó phép thiền năng động được chú ý nhiều nhất. Trong phép thiền năng động, thường thường thiền sinh bắt đầu với những hoạt động mạnh mẽ về thể chất, sau đó là sự lặng yên và lễ hội“ (celebration). Phép thiền này tin rằng, qua đó con người sẽ vượt thắng sự sợ hãi, giảm bỏ sự ức chế, phát sinh được một dạng của không tính (state of emptiness) và đạt giác ngộ. Đối với Osho, muốn đối trị sự ức chế nào ta phải kích động nó lên, nếm trải, chứng nghiệm nó và cuối cùng trực nhận nó chỉ là "không" thì mới thực sự siêu việt được nó. Theo ông một con người giác ngộ sẽ là "phi quá khứ, phi tương lai, không ràng buộc, không tâm thức, vô ngã, vô bản chất". Đó là những nét cơ bản về quan niệm của Osho về phép hành thiền. Thật ra thì phương pháp chủ động kích thích dục vọng của con người lên để chứng nghiệm, quán chiếu và siêu việt chúng không phải là một điều gì mới lạ. Trong truyền thống Ấn Độ, người ta vẫn còn nhắc đến 84 vị Đại Thành tựu giả (Mahasiddha), các vị được xem là sống trong khoảng thế kỷ thứ 8 đến thứ 12 sau công nguyên [2]. Đó là các vị hành giả lòng còn chất chứa đầy các loại dục vọng khác nhau, nhưng nhờ biết cách quán chiếu chúng chẳng qua đều là những dạng của Không tính mà đạt được thành tựu. Đọc tiểu sử các vị đó, ta sẽ thấy đó toàn là những người mang đầy thói hư tật xấu, thậm chí có kẻ là người chuyên đánh bạc hay ăn trộm, nhất là có rất nhiều vị đam mê tình dục. Thế nhưng, nhờ một cách hành trì thiền định, trong đó họ quán tưởng "đối tượng đam mê" và "người đam mê" đều chỉ là những dạng của "Không", họ đạt giác ngộ ngay trong đời này. Các vị đó là những người tiên phong của một truyền thống được mệnh danh là Kim cương thừa. Trong thời đại gần đây hơn, các vị tu sĩ trong truyền thống Kim cương thừa của Tây Tạng cũng là những người chủ trương "chuyển hóa" năng lực của dục vọng thành động lực của sự giác ngộ. Thậm chí trong nền phân tâm học hiện đại của phương Tây người ta cũng biết đến phép chữa bệnh Gestal Therapy, trong đó bệnh nhân được khuyến khích hãy sống thực với nền tảng tâm lý của mình, hãy tận lực khóc cười hay la hét với những ức chế của mình với mục đích giải thoát ra khỏi sự đè nén của chúng. <br clear="all"> [2] Xem Keith Dowman, Master of Mahamudra, Songs and histories of Eightyfour buddhist Siddhas, NY 1985. Xin xem bản dịch Việt ngữ "Các bậc đạo sư của Đại Thủ Ấn" của Nguyên Thạnh Lê Trung Hưng tại http://www.quangduc....3mahamudra.html III Dĩ nhiên phương pháp của Osho có một tầm cỡ hoàn toàn khác so với phép chữa bệnh tâm lý nói trên vì ở đây nó có tính chất tôn giáo cao độ. Còn so với các truyền thống xưa thì điều kỳ lạ là ông dám đem ra áp dụng cho quảng đại quần chúng. Ở đây ta dễ dàng đoán biết điều gì sẽ xảy ra. Đó là khi con người bình thường được khuyến khích chủ động cho những ức chế của mình được vận hành thì một năng lực thuộc về bản năng sẽ vùng dậy, đó là tình dục. Osho vốn là một con người "nổi loạn", luôn luôn chống lại qui tắc của xã hội. Không những ông không hề sợ bị xã hội lên án, xưa nay ông chuyên khiêu khích sự ổn định của một định chế có sẵn, kể cả một nền đạo lý chung của con người. Nhất quán với quan niệm thiền định tích cực của mình, khoảng cuối những năm 60 ông bắt đầu thuyết giảng một số bài về tình dục, được ghi lại dưới nhan đề Từ tình dục đến ý thức siêu việt [3] (From Sex to Superconsciouness), trong đó ông cho rằng "đối với phép Tantra thì mọi thứ đều thiêng liêng, không có gì không thiêng liêng" và mọi sự đè nén tình dục đều là sự tự hủy vì người ta không thể chuyển hóa tình dục nếu không nếm trải nó "một cách đích thực và đầy ý thức". Quả thực, trong phong trào của ông, môn đệ của ông thực hành lời dạy này một cách đầy hoan lạc. Liệu hành động của họ là "đích thực và đầy ý thức" như ông giảng giải, là một vấn đề khác. Thật ra phần nói về tình dục chỉ là phần nhỏ trong cuộc đời thuyết giảng của ông nhưng kể từ đó người ta gọi chủ trương của ông là “tự do tình dục” và gọi ông là “ đạo sư sex” (sex-guru) - nhưng đó chỉ là sự vu khống buồn cười và đầy ác ý, vì những ai chịu khó theo dõi tư tưởng ông, đều biết rằng ông không phàm tục như họ nghĩ ! Trên quan niệm đạo học phương Đông, tình dục là một dạng vận hành của năng lượng. Năng lượng hàm chứa trong con người biểu hiện dưới nhiều dạng của ái dục mà dạng ái dục quan trọng nhất là hữu ái (bhavatrsna), tức là sự khao khát được tồn tại. Trong sự khao khát đó thì tình dục là dạng ái dục cụ thể nhất, mang nặng tính vật chất nhất. Tình dục do đó là bản năng cơ bản nhất của mọi loài, nó không dính líu gì đến các giá trị do xã hội loài người đặt ra như thiện-ác, xấu-tốt, phải-trái. Sở dĩ tình dục hay bị lên án là vì mọi hoạt động xuất phát từ nó thường sinh ra những hậu quả phiền toái cho đời sống xã hội của con người. Cũng chính vì thế mà con người thường bị ức chế về tình dục, tuy luôn luôn nhớ nghĩ về nó nhưng cũng luôn luôn phải đè nén nó. Do đó tình dục là một trong những ức chế lớn nhất của con người, thật ra là ức chế chủ yếu của đời làm người. Nền tâm lý học phương Tây cũng đã có những phát hiện tương tự. Vì vậy khi Osho chủ trương con đường giải thoát là phải đối diện, nếm trải mọi năng lực bị ức chế để có thể siêu việt và chuyển hóa chúng, thật ra ông không thể không nói đến tình dục, nếu ông thật sự nhất quán với chính mình. Và thực ra mỗi kẻ tầm đạo, một khi đã đi vào con đường tích cực và chuyển hóa, cũng phải tìm cho mình một phương thức riêng để chuyển hóa năng lực của tình dục, một con đường chứa nhiều hiểm nguy. Nhưng muốn "chuyển hóa" thì đó là con đường không thể tránh né, cũng như hoa sen không thể tỏa hương thơm nếu không bám chặt vào bùn đất để rút tỉa tinh hoa của năng lực nằm trong bóng tối. Và đó chính là con đường Kim cương thừa mà từ thế kỷ thứ 8, con người đã thực hành để đạt đến sự thành tựu. Osho chỉ là người muốn thực hiện rộng rãi Kim cương thừa trong thế kỷ 20 tại phương Tây. Tuy là người vô cùng thông minh, nhưng có lẽ ở đây ông đã phạm một sai lầm. Đó là Kim cương thừa chỉ dành cho những bậc thượng căn, không phải cho quần chúng. Nếu xét Kim cương thừa và những vị tu sĩ cao cấp đã tu luyện theo phép này, người ta phát hiện lại một câu nói giản đơn của một người hẳn đã biết mức độ chọn lọc đối với người hành giả có thể theo học phép tu này. "Chỉ những ai đã xả bỏ tâm phân biệt, những ai mà đối với họ một đĩa thực phẩm sang trọng và một đĩa phân là như nhau, thì kẻ đó mới được theo học Kim cương thừa". Đó là lời của Đạt-lai lạt-ma thứ V (1617-1682). Tiếc thay, nhiều môn đệ của ông tìm đến vì tò mò, không ít người phản bội ông. Trong quá khứ người ta cũng chỉ biết vỏn vẹn có 84 vị Thành tựu giả trong số hàng triệu người tu học tại Ấn Độ thì tại sao ngày nay lại có thể khác. Hơn thế nữa, con người của thời đại này lại càng vô cùng khó khăn hơn nữa khi muốn chuyển hóa một năng lực gắn liền với thân vật chất để thăng hoa, tiến gần với cái thiêng liêng. Thời đại này là kỷ nguyên của chủ nghĩa duy vật, những người tưởng như muốn tìm đến cái thiêng liêng thực chất cũng là môn đệ của chủ nghĩa duy vật tâm linh (spiritual materialism) như Chogyam Trungpa đã nói. Thời nào cũng thế, con người chỉ thấy những gì họ muốn thấy, chỉ tìm những gì họ khao khát. <br clear="all"> [3] Superconsciousness: có nhiều cách dịch: 1. Siêu thức. 2. Siêu tâm thức. 3. Ý thức siêu việt. Hiện nay, chưa thống nhất. Cả 3 cách đều chấp nhận được. (BT) IV Trước khi ra đi, Osho đã có nhiều hoài bảo lớn. Chúng có trở thành hiện thực hay không, chỉ thời gian mới có thể trả lời. Sinh thời, ông đã bị chỉ trích nhiều, nhưng công bằng mà nói, đó là điều dễ hiểu, bởi vì ông luôn “gây hấn", chống lại mọi định chế – là cái không bao giờ chấp nhận một sự tấn công nào. Trong chiều kích tâm linh, hẳn là ông đã đạt tới những đỉnh cao, và chắc không mấy ai nghi ngờ điều đó. Trong lãnh vực hình tướng, ông chủ trương nhập thế, và đã có nhiều kế hoạch cụ thể để làm đẹp cuộc đời. Về phương pháp hành thiền, ông cũng đã có nhiều phát minh đáng chú ý. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, việc ông muốn áp dụng Kim cương thừa - cụ thể, việc “chuyển hóa năng lượng sex thành năng lượng tâm linh” - rộng rãi cho quần chúng, có thể nói là một sai lầm đáng tiếc. Bởi vì, lịch sử cho thấy, Kim cương thừa tuyệt đối dành cho những bậc “thượng căn.“ Với sự thận trọng và cảnh giác cần thiết, thì việc đọc tác phẩm của ông có thể là một nguồn cảm hứng vô tận, bởi ông có một tâm hồn không ngừng sáng tạo, và trái tim của một nhà nghệ sĩ. Nhưng, đã mang thân xác con người, thì dù thế nào đi nữa, không thể nói rằng ông không có những sai lầm – nhất là ở chiều kích của thế giới “hình tướng“ Có nhiều người than phiền rằng, sau khi ông ra đi, các “đệ tử” của ông đã làm nhiều điều sai trái, phản bội lại giáo huấn của ông. Thật có như vậy. Nhưng biết làm sao được? Những cuộc thánh chiến thời Trung cổ đâu phải là ý muốn của chúa Jesus, và Quốc xã của Hitler đâu phải là mong đợi của Nietzsche! Sự phản bội này, Osho biết rõ hơn ai hết. Có lần ông nói, “ Khi bạn qua đời, bạn không thể ngăn cản những gì mà hậu thế sẽ làm. Nó nằm ngoài vòng kiểm soát của bạn.” Dĩ nhiên, ta có quyền “phán đoán“ ông về những cái mà ông còn khiếm khuyết. Nhưng, phải thừa nhận rằng, những lời nói đầy minh triết của ông chắc chắn sẽ vẫn mãi còn giá trị, vẫn mãi là nguồn cảm hứng, chừng nào trên mặt đất này vẫn còn có chủng loại người. .
-
Người xuất gia không có chuyện... hôn nhau 08/11/2012 05:22:21 - “Tôi khẳng định, người xuất gia tu hành theo đức Phật khi thể hiện tình cảm với nhau chỉ có chắp tay hình búp sen để bày tỏ. Còn việc hôn nhau ở người tu hành là không hề có”. Hòa thượng Thích Giác Quang, Phó Ban Trị sự kiêm Chánh Thư ký Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai chia sẻ với Kienthuc.net.vn. Người xuất gia tu hành theo đức Phật khi thể hiện tình cảm với nhau chỉ có chắp tay hình búp sen để bày tỏ Cần lấy sự Từ Bi để giáo hóa Thưa Hòa thượng, thầy có ý kiến gì về việc các sư, thầy đến phòng Trà, xem ca hát nhạc để gây quỹ từ thiện? Tôi cho rằng đây có thể là những ý tưởng mới của quý sư, thầy trẻ. Các vị này có thể trong quá trình tu học có chút ít học vấn dẫn tới tâm hồn khá phóng khoáng, từ đó mà đi quá xa giới hạnh, đi ngược với giới luật của nhà Phật. Từ đó họ làm trái quy định của đức Phật định ra về tính kỷ cương, giới luật… Không chỉ có thế, việc các sư thầy này còn được ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng “khóa môi” Hòa thượng có biết không? Tôi có biết. Quả thật, với tôi lâu nay luôn quý các Sư. Họ là những hình ảnh còn lại để nhắc nhở về bóng dáng của đức Phật khi còn sinh thời. Chính vì thế giới luật của quý Sư được chú ý rất nghiêm. Có ai ngờ… Bản thân thầy sau khi xem những hình ảnh này quả thật thầy thấy các vị sư này có vẻ như quên giới luật. Vì thế hình ảnh này rất dễ khiến cho người khác xem thường các nhà sư tu chân chính. Với tư cách là một trong các lãnh đạo cao nhất của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Đồng Nai, Hòa thượng có ý kiến xử lý như thế nào đối với quý sư, thầy này? Tôi đã đề nghị Thượng tọa Thích Bửu Chánh, nếu các vị sư này thuộc về Tăng sự ở Đồng Nai thì cần kiết giới tác pháp Yết Ma để cử tội. Các tội này tuy không phải là trọng tội để tới mức phải tấn xuất nhưng cũng thuộc về thô tội (tội lộ ra bên ngoài - PV), vì thế cần cấm túc để sửa đổi, sám hối. Nếu khuyên 3 lần mà không được thì các vị cứ giải quyết theo giới luật của nhà Phật và có ý kiến báo cáo về Ban Trị sự để Giáo hội có hướng xử lý. Việc xử phạt trong Phật giáo luôn lấy Trí tuệ và sự Từ bi của nhà Phật để xử lý Theo Hòa thượng, Thiền viện Phước Sơn xử phạt như vậy có quá nhẹ không? Dù làm việc gì Phật giáo cũng luôn lấy Trí tuệ và Từ bi đưa vào, giống như việc một khúc gỗ mít nếu đưa vào lửa đốt thì nó sẽ thành tro, than nhưng nếu được người chủ đem đi đục đẽo thành hình tượng đức Phật, chắc chắn những người con Phật sẽ quỳ lạy. Nói như vậy để hiểu, các sư thầy ở đây tuy phạm lỗi nhưng còn có thể sám hối, sửa lỗi, nếu chúng ta biết cách uốn nắn, chỉ dẫn thì các sư có thể trở thành những vị tăng tốt. Trong đời sống cũng nên có sự khoan dung để người biết lỗi cố gắng tu. Không nên quá nặng nề mà cần hỷ xả, hoan hỷ tha thứ cho những lỗi lầm của họ. Người tu không có chuyện hôn nhau Có một số quý thầy cho rằng, việc ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng “khóa môi” nhà sư là chuyện bình thường. Đó không phải là nụ hôn dung tục, phàm trần mà là lòng biết ơn, thầy nghĩ sao về điều này? Sự thật đối với thế gian, cái hôn có nhiều nghĩa. Người dân có việc đi bên ngoài khi về gặp lại có thể ôm hôn để bày tỏ tình cảm nhớ mong, vui mừng… thì xem như bình thường. Nhưng đối với người tu đạo thì lại khác. Người tu để thể hiện tình cảm, sự vui mừng khi gặp nhau… thì chỉ chắp tay hình búp sen, cúi đầu chào. Nếu trái điều này là trật cái hướng của người tu, không đúng với giới luật của nhà Phật. Người xuất gia không thể coi nụ hôn là một chuyện bình thường Những người xuất gia trong đạo Phật chỉ có cách bày tỏ tình cảm ở mức độ như vậy. Còn đối với thầy nào nói việc thể hiện tình cảm, lòng biết ơn… bằng cách hôn nhau là bình thường thì xa lạ đối với giới luật hàng thiên lý (không có giới hạn - PV). Người ở thế gian sống bằng vật dục thì thấy chuyện này là bình thường. Còn người xuất gia xa lìa phàm tục sống đời phạm hạnh tránh việc tiếp xúc xác thịt thì làm sao có thể bày tỏ tình cảm bằng cách đó được. Nhiều người cho rằng, người tu sao có thể đi đấu giá để mua rượu, Hòa thượng có thể chia sẻ về điều này? Tôi cho rằng dù có làm bất cứ cái gì cũng phải thể hiện đúng oai nghi, tác phong của một người tu hành. Người tu cần nói những gì đúng chánh pháp, làm đúng việc và ở đúng nơi. Vì thế đối với vấn đề các sư, thầy tham gia đấu giá mua chai rượu mà các báo nêu có thể dễ khiến người xem, nghe đặt vấn đề: Nhà sư mua rượu để làm gì? Lấy tiền đâu mà mua?... Có thể trong trường hợp này tôi cho rằng các sư, thầy này chưa có tế nhị lắm trong cách làm từ thiện. Sao quý thầy khi mua chai rượu đó không nói ra là chúng tôi không có tiền mà dùng tiền của các Phật tử đóng góp để giúp cho anh gì đó có tiền chữa bệnh, còn chai rượu này chúng tôi gửi lại để quý vị làm những việc khác… Hay có những cách nói khác cho phù hợp mà không mất lòng. Hòa thượng có thể cho lời khuyên đối với các vị Tăng sĩ hiện nay được không? Sau sự việc này tôi cho rằng các thầy bên Thiền viện Phước Sơn hay những thầy liên quan nên nhìn lại chính mình, ăn năn sám hối, nỗ lực tu học. Các sư trụ trì nên xem đây là bài học kinh nghiệm trong việc quản lý, giáo hóa chư tăng khi tiếp xúc với công chúng, cần phải chấn chỉnh oai nghi tu học của các tăng sĩ trẻ và xử lý đúng người đúng tội, làm sao thể hiện được lòng từ bi đúng với tinh thần của nhà Phật. Tôi không phê phán ai hết. Tuy nhiên với người tu hành thì cần phải xem lại tư cách, oai nghi, đạo hạnh... Ngoài ra các Chư Tôn đức cũng nên thường xuyên sách tấn, khuyến cáo, cổ xúy giới luật của tăng già. Nếu vị nào làm trái giới luật thì tự làm mất giới thể, uy tín, tư cách của mình. Còn nếu các vị làm được như vậy, thì chắc chắn những sự cố đáng tiếc vừa qua sẽ khó có thể xảy ra. Xin cảm ơn Hòa thượng! Hoài Lương - Thái Anh (Thực hiện)
-
Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt Nâng Cao 05
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Anh cứ đăng ký theo thông báo, nếu đã học xong hết chương trình PTLV cơ bản và lớp chỉ dành riêng cho học viên PTLV đã học xong lớp cơ bản.Thiên Đồng -
Đừng làm gì cả tác giả: Osho dịch: Ngô Trung Việt "...Câu hỏi thứ sáu: Thưa Thầy kính yêu, Tôi ngồi im lặng không làm gì, và cỏ dại đang mọc khắp quanh tôi. Roderick, cỏ dại là thiêng liêng. Đừng gọi chúng là cỏ dại. Chúng cũng tâm linh như chư phật. Chúng cùng chia sẻ Thượng đế nhiều như hoa hồng. Bỏ con người khỏi trái đất - sẽ có khác biệt gì giữa cỏ dại và hoa hồng không? Tất cả những phân biệt này đều do tâm trí tạo ra. Bạn không thực sự ngồi im lặng đâu; bằng không, ai đang nói với bạn cỏ dại đang mọc? Tâm trí bạn vẫn vận hành, thì thào mọi thứ cho bạn. Nó là tâm trí của bạn đấy! Nếu bạn thực sự im lặng thì không có tâm trí đâu - thế thì dù cỏ dại mọc hay hoa hồng mọc tất cả đều như nhau với bạn. Khác biệt gì có đó? Bạn không thể tận hưởng được cỏ dại sao? Chúng là người đẹp đấy! Nhìn cỏ dại lay động, nhảy múa trong gió, trong ánh mặt trời.... Bạn nghĩ cái gì thiếu trong chúng mà hoa hồng có? Chẳng cái gì thiếu cả. Đây chỉ là ý tưởng, và ý tưởng thay đổi. Có thể một ngày nào đó hoa hồng có thể hết thời thượng, cỏ dại có thể trở thành một thứ "vào trong nhà." Một trăm năm trước không ai đã bao giờ nghĩ rằng xương rồng sẽ được mọi người yêu thích, nhưng bây giờ xương rồng "vào trong" và hoa hồng "ra ngoài." Nói về hoa hồng có vẻ nệ cổ, có vẻ chính thống, theo tục lệ; nói về xương rồng là tiên tiến, nó chứng tỏ rằng bạn là hiện đại, đương đại. Mọi người đang để xương rồng trong phòng ngủ - xương rồng nguy hiểm, xương rồng đầu độc, nó có thể giết chết bạn! Nhưng chúng đã thành thời thượng, và một khi cái gì đó đi vào thời thượng thì có nhiều kẻ ngu bắt đầu tán thưởng nó.Mọi người đơn giản cứ chạy theo bất kì cái gì được làm thành thời thượng bởi vài người láu cá và tinh ranh. Mới một trăm năm trước không ai thích tranh của Picasso, còn bây giờ Picasso là nghệ sĩ vĩ đại nhất - không chỉ của thế kỉ này mà của toàn thể lịch sử. Điều gì đã xảy ra? Chỉ kiểu mốt đã thay đổi. Mọi người phát mệt về thứ này; họ cứ chuyển sang cực đoan đối lập. Roderick, không có gì sai trong cỏ dại cả! Không có gì sai trong bất kì cái gì. Ý tưởng về đúng và sai nghĩa là tâm trí có đó. Bạn không ngồi im lặng đâu và bạn không ngồi mà không làm gì. Bạn đang khu biệt, và đó là hành động. Bạn đang dán nhãn, và đó là suy nghĩ. Và bạn đang phán xét. Vứt mọi phán xét đi, mọi việc dán nhãn, mọi khu biệt... và chỉ quan sát cỏ dại mọc. Vậy thì sao - cứ để chúng mọc! Khi bạn không có tâm trí chút nào, bạn cũng là cỏ dại; cho nên cỏ dại mọc khắp quanh bạn, đó không phải là cái gì đó kì lạ - cỏ dại bao quanh cỏ dại! Tận hưởng đi! Có lần một Thiền sư được vua yêu cầu - vì thầy là hoạ sĩ lớn - vẽ bức tranh trúc. Thầy nói, "Sẽ mất thời gian đấy." "Bao lâu?" vua hỏi. Thầy nói, "Khó nói được, nhưng ít nhất cũng phải hai hay ba năm." Vua nói, "Ông có điên hay cái gì không? Ông là hoạ sĩ lớn nhất. Ta nghĩ ông có thể vẽ nó ngay bây giờ!" Thầy nói, "Chả thành vấn đề, vẽ trúc không phải là vấn đề - nhưng trước hết ta phải là trúc đã; bằng không làm sao ta biết trúc là gì? Ta muốn biết trúc từ bên trong! Cho nên ta sẽ phải đi và sống trong rừng trúc. Bây giờ, người ta chưa bao giờ biết điều đó sẽ mất bao lâu. Chừng nào ta chưa biết trúc từ bên trong ta không thể vẽ nó được. Đó đã từng là thực hành cả đời ta: ta vẽ chỉ cái ta đã biết cốt lõi sâu nhất của nó." Vua nói, "Thôi được, ta sẽ đợi." Một năm trôi qua. Ông ấy phái vài người tới xem điều gì xảy ra, liệu người này còn sống hay chết rồi. Họ quay về và nói, "Người này vẫn sống, nhưng chúng tôi nghĩ rằng người này không còn là người nữa - người này là trúc rồi! Người này lay động cùng trúc trong gió. Chúng tôi đi qua bên cạnh ông ấy; ông ấy chẳng chú ý gì. Chúng tôi nói, 'Xin chào!' Người này không nghe. Chúng tôi muốn nói với người này. Chúng tôi đã nhìn vào mắt ông ta - chúng trống rỗng tới mức chúng tôi trở nên hoảng sợ; hoặc là người này đã điên hay cái gì đó đã xảy ra. Và người này có thể làm bất kì cái gì, cho nên chúng tôi trốn mất. Người này có thể giết hay, ai mà biết được? - người này có thể nhảy lên chúng tôi! Người này không còn là cùng người trước nữa."Đích thân nhà vua tới xem, và thầy đang lay động trong gió, trong mặt trời. Và vua hỏi, "Thưa ngài, bức tranh của tôi thì sao?" Thầy không trả lời. Sau ba năm thầy xuất hiện ở triều đình và thầy nói, "Bây giờ đem vải vẽ và thuốc mầu lại đây, ta đã sẵn sàng. Và tại sao bệ hạ là người quấy rối ta lặp đi lặp lại thế? Nếu bệ hạ mà không quấy rối ta, ta chắc đã tới sớm hơn chút ít rồi. Những kẻ ngu này từ triều đình bệ hạ, họ nói mọi thứ với ta. Họ nói, 'Xin chào!' Bệ hạ có nói chào với trúc không? Họ làm rối loạn toàn thể sự việc. Phải mất nhiều tháng ta mới thu lại được lắng đọng trong việc là trúc và quên rằng ta là người. Và thế rồi bệ hạ tới và bệ hạ nói, 'Thưa ngài.' Đó có phải là cách nói với cây trúc không? 'Khi nào ngài sẽ vẽ?' Có ai đã bao giờ nghe thấy trúc vẽ không? Bệ hạ là kẻ ngu, bệ hạ bị bao quanh toàn kẻ ngu! Ta đã bảo bệ hạ rằng ta sẽ tới bất kì khi nào ta sẵn sàng." Vải vẽ được đưa tới, chổi vẽ và mầu, và trong vài giây thầy đã vẽ xong trúc. Và người ta nói rằng nhà vua khóc vì vui sướng. Ông ấy chưa bao giờ thấy bức tranh như vậy: nó sống động thế! Nó không phải là bức tranh thường. Nó không là từ bên ngoài, nó là từ chính trúc - cứ dường như trúc đã mọc ra trên vải vẽ, không được vẽ ra. Roderick, ngồi im lặng không làm gì, và để mọi sự xảy ra - bất kì cái gì đang xảy ra. Nếu cỏ dại mọc, để chúng mọc. Chúng có quyền mọc nhiều như bạn có quyền trưởng thành. Và nếu bạn cho phép mọi thứ mà không có phán xét, nếu bạn vô phán xét, bạn sẽ trưởng thành tới cực đỉnh của vui vẻ và phúc lành mà bạn không thể nào hình dung ra được ngay bây giờ...."
-
SỰ TÍCH CON CÁ HE Ngày xưa, có một nhà sư trẻ tuổi rất ngoan đạo. Sau hơn ba mươi năm khổ công tu luyện, sư thuộc lòng tất cả kinh kệ nhà Phật, lại giỏi thuyết pháp. Vậy mà lâu rồi vẫn chưa thành chánh quả. Sư bụng bảo dạ: “Phải đến đất Phật một phen mới có hy vọng thành Phật”. Nghĩ vậy, sư ta mới quyết chí tìm đường sang Tây Trúc. Ðường đi từ nước nhà sang Tây Trúc ngày đó chưa có cách nào cho thuận lợi. Việc giao thông hầu hết là đường bộ, mà đi bộ thì thật là muôn vàn nguy hiểm. Nhưng nhà sư trẻ tuổi quả quyết nhằm hướng tây tiến bước. Cuộc hành trình đã được năm mươi ngày. Nhà sư đã nhiều lần lạc đường và mấy lần mê man vì sốt rét, nhưng nhờ được giúp đỡ nên đều qua khỏi, và chàng cứ tiếp tục cuộc hành trình. Một hôm, sư đến một khu rừng thì trời đã chiều. Sư cố bước dồn, hòng tìm một nơi nghỉ vì trong người đã thấy ớn rét. May sao giữa rừng sâu, sư bỗng gặp một ngôi nhà. Nghe tiếng gọi cửa một bà cụ già bước xuống sàn. Sư tỏ ngay ý định của mình là xin ngủ nhờ một đêm. Nhưng bà cụ vừa thấy khách đã xua tay rối rít. -Ði mau lên! Mau Lên! Con ta mà về thì không còn tính mạng. Sư đáp: -Tôi bây giờ thật là kiệt sức, không thể nào bước được bước nữa. Nếu không cho nghỉ thì cũng đành nằm liều trước cửa đây thôi. Bà cụ bảo: -Chao ôi! Con ta vốn là Ác Lai hay ăn thịt người. Có đi nhanh lên, bây giờ nó sắp về rồi đó. Nhưng sư đã vứt tay nải, nằm vật xuống đất. Hai đầu gối va vào nhau chan chát. Bà cụ không biết nói thế nào nữa, đành nắm tay y lôi đến một cái hầm đá lớn. Sau khi đẩy vào, bà cụ bảo y phải cố giữ cho thật im lặng để tránh một cái chết thê thảm. Ðoạn, bà cụ chất củi phủ lá rất kín đáo. Trời tối hẳn thì Ác Lai về đến nhà, tay xách một con mang, hắn dừng lại ở chân thang và khịt mũi mãi. Hắn nói: -Có mùi thịt mẹ ạ! Mẹ hắn đáp: -Thì chả là thịt mày đem về đây là gì? -Không phải. Thịt người. Con biết lắm. Có thịt người. Bà cụ chưa kịp cản thì hắn đã quẳng con mang lên sàn rồi chạy đi tìm. Chả mấy chốc, hắn đã lôi được nhà sư bất tỉnh nhân sự từ dưới hầm về nhà mình. Khi sư tỉnh dậy thì đã thấy Ác Lai đang cầm một mũi mác lăm lăm ở tay. Hắn quát hỏi: -Mày đi đâu thế? Sư nhìn kỹ thấy hắn cũng không khác gì người thường, bèn tỉnh táo đáp : -Tôi đi tìm Phật. -Tìm để làm gì? Sư bây giờ mới nói rõ mục đích của mình. Rồi luôn miệng, sư giảng giải đạo từ bi cho hắn. Sư nói mãi, kể lại bao nhiêu ngày gian khổ của mình dọc đường, và niềm mong muốn cuối cùng là làm sao được nhìn mặt Ðức Phật để được thành đạo. Sư nói khéo quá, đến nỗi mẹ con Ác Lai đều cảm động đến rơi nước mắt. Thấy họ thành thật hối lỗi. Sư cho họ biết là họ cũng sẽ trở nên “vô sinh vô diệt”, sẽ sống một đời sống vô cùng sung sướng trên niết bàn, nếu họ kiên quyết bỏ ác làm thiện. Tự nhiên mũi mác ở tay Ác Lai rơi xuống sàn. Những đường nhăn hung ác lúc nãy bây giờ dịu lại. Sáng hôm sau, khi Sư sắp lên đường thì mẹ con Ác Lai vui vẻ sắp sẵn lương thực cho chàng. Họ lại tiễn đưa Sư đi qua một ngọn núi đá. Khi sắp từ biệt Ác Lai hỏi: -Tôi biết lấy gì mà dâng Phật đây? Sư đáp: -“Tâm tức thị Phật. Phật tức thị tâm”. Chỉ dâng tấm lòng mình là đủ. Sư không ngờ Ác Lai đã rút mũi mác, nhanh như cắt tự rạch bụng mình lôi ra cả một mớ ruột gan đưa cho sư và nói: -Nhờ Hòa thượng đưa hộ dâng lên Ðức Phật. Sư lấy làm bối rối quá. Chỉ vì Ác Lai hiểu nhầm lời nói của mình. Bây giờ còn biết làm thế nào đây. Cuối cùng Sư ta đành nhìn vào cặp mắt của Ác Lai, gật đầu nhận lời rồi gói bộ lòng của người đáng thương đó rồi quảy quả lên đường. Sư vừa đi được mấy ngày thì khu rừng rậm chấm dứt, hiển lộ ra trước mặt mênh mông bát ngát. Nước trời một vẻ trông rất vui mắt, nhưng trong bụng Sư thì chẳng vui một tí nào. Món lễ vật của Ðức Phật đè nặng trên vai. Nếu chỉ có thế thì không có gì là ngại cho lắm. Khổ một nỗi là mùi thối trong bộ lòng kia xông ra khó tả. Sư đã bọc nó ba tầng bốn lớp mà mùi thối vẫn nồng nặc. Sư lẩm bẩm: “Như thế này thì các nhà quán dọc đường còn ai dám chứa mình”. Qua ngày hôm sau, không thể chịu được nữa, Sư bèn vứt bộ lòng Ác Lai xuống biển. Nhà sư đi mãi rồi cũng đến Tây Trúc. Nhưng khi phủ phục trước Phật đài nói lên nỗi thắc mắc của mình vì sao chưa được đắc đạo thì bỗng nhiên trên điện cao có tiếng vọng xuống bảo: “Còn thiếu một vật nữa mới thành chánh quả”. Sư rất đỗi ngạc nhiên, cố ngước mắt nhìn lên một tí. Trên cao vòi vọi, Sư thấy Ðức Phật ngự giữa tòa sen sáng chói, sau lưng có bóng dáng hai người tựa hồ như hai mẹ con Ác Lai. Sư bỗng hiểu hết: Ðức Phật đã rõ sự thiếu thành thực, thiếu tận tâm của mình, còn mẹ con Ác Lai nay đã thành chánh quả chỉ là nhờ sự ngộ đạo đột ngột và chân thành trong phút chốc. Sư nằm phục vị hồi lâu, trong lòng thẹn thò vô kể. Nhà sư ta sau đó trở về chốn cũ để tìm lại bộ lòng. Tuy biển mênh mông và sâu kín, nhưng cũng cố lặn hụp để mong thấy lại món quà dâng Phật mà Ác Lai gửi cho mình. Sư nghĩ chỉ có làm thế mới dám nhìn lại mẹ con Ác Lai và hy vọng gần gũi tòa sen đức Phật. Sư bơi lên lặn xuống mãi. Sau đó sư hóa làm loài cá mà người ta vẫn gọi là cá he, cũng gọi là cá nược hay có nơi gọi là cá ông sư. Vì cho đến ngày nay dòng dõi loài cá đó con nào con nấy có cái đầu trọc như đầu ông sư, và vẫn làm cái việc của nhà sư, nghĩa là chúng đi hàng đàn, cứ lặn xuống nổi lên luôn không chịu nghỉ. Những người đánh cá còn nói loài cá he rất ghét những ai trêu chọc mình. Ai trêu chọc nghĩa là gợi lại chuyện cũ của tổ tiên chúng nó, chúng nó sẽ làm cho đắm thuyền rách lưới. Trái lại, ai khen ngợi reo hò thì chúng nó sẽ lặn xuống nổi lên nhiều lần để tỏ thành ý biết ơn.
-
Trăm nghìn dân Mỹ đòi ly khai vì Obama Hơn 100.000 người dân Mỹ gửi đơn tới Nhà Trắng để yêu cầu chính phủ cho phép bang của họ tách khỏi liên bang, sau khi Tổng thống Barack Obama tái đắc cử. Tổng thống Mỹ Barack Obama. Ảnh: AP. Người dân Mỹ gửi hơn 20 đơn tập thể tới trang "We the People" của chính phủ Mỹ. Phần lớn người gửi đơn sống tại 20 bang ủng hộ ông Mitt Romney, ứng cử viên đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử vừa qua, như Arkansas, Nam Carolina, Michigan, New Jersey, AP đưa tin. Hiến pháp Mỹ không có bất kỳ điều khoản nào cho phép các bang rời khỏi liên bang. Phần lớn đơn chỉ trích dẫn dòng đầu tiên trong Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, theo đó người dân có quyền xóa bỏ các mối liên kết chính trị và lập một quốc gia mới. Lá đơn từ bang Texas có tới hơn 25.000 chữ ký - số lượng chữ ký lớn nhất trong số các đơn. Trong cuộc bầu cử hôm 6/11, ông Romney giành được nhiều hơn Tổng thống Obama 15% số phiếu tại bang Texas. Tình trạng các bang ly khai khỏi Mỹ từng xảy ra sau khi Tổng thống Abraham Lincoln thắng cử vào năm 1860. Nó đã dẫn đến cuộc nội chiến Mỹ vào năm 1861. Việt Linh
-
Ngày xửa xưa ấy, lúc tôi còn nhỏ, nhà bên có ông hàng xóm độ cùng lứa tuổi ông ngoại tôi hoặc nhỏ hơn một chục, ông cũng tỏ ra rất mộ đạo. Ông viết lên vách tường trong nhà câu sau: "Phàm làm việc gì, trước phải xét kỹ hậu quả của việc ấy." Hình như là câu này trong kinh Phật, tôi chẳng biết ở đâu. Đến nay ngẫm lại câu này quả thật...khó. Theo tôi thì tôi viết như sau: "Phàm làm việc gì thì kệ cha hậu quả việc đó." ...cho nó đỡ suy nghĩ! Giống như hồi nhỏ chơi lò cò, đánh đáo, đánh lộn...bọn nít tôi ngày xưa hay nói: - Có sức chơi, có sức chịu à nghen, mậy!? (mầy) Mấy thằng nhóc tụi tôi liền trả lời: -Chơi thì chơi sợ gì! Thế là nhào vô chơi, chơi bắn súng đũa, chơi ném đá nhau, chơi nhảy gù...có đứa trầy tay trật chân, có đứa u đầu sứt trán...khóc hu hu, thằng khác không bị thương hay bị ít hơn lại nhắc: -Có sức chơi thì có sức chịu đi mầy! Vậy là dụi mắt, vuốt mũi, nuốt nước miếng mà nín khóc. Ngẫm lại trẻ nít truyền lại đời này qua đời khác những câu thật đơn giản nhưng minh triết: "Có sức chơi, có sức chịu" Khởi kết đều trong đó, nhân quả được hàm diễn trong đó. Chỉ cần quay về với vốn văn hóa dân gian, văn hóa Việt cũng đủ thấy phật đạo trong đó và minh triết uyên áo. Thiên Đồng
-
Nhờ Anh Thiên Đồng Chọn Giúp Ngày Giờ Cải Táng
Thiên Đồng replied to Hồng Tươi's topic in Phong Thủy
@ Hồng Tươi, Quá lo chọn ngày mà thành ra rối và nhầm lẫn. Vậy thì bỏ ngày - Ngày 28/Một (tức 28/11 theo thường gọi) Việt lịch, Hoàng đạo, giờ cải táng giờ Sữu Hoàng đạo. Như vậy còn lại là các ngày: - Ngày 8/10 Việt lịch, Hoàng đạo, giờ cải táng là giờ Sữu hắc đạo, giờ Tuất hắc đạo. - Ngày 20/10 Việt lịch, Hoàng đạo, giờ cải táng là giờ Sữu hắc đạo, giờ Tuất hắc đạo. - Ngày 9/ Chạp, Việt lịch, Hoàng đạo, giờ cải táng Sữu Hắc đạo. Còn ngày:16/10 Giáp Ngọ thì chắc chắn không dùng cho cải táng, cũng như không dùng để khởi sự cho các việc khác vì không nằm trong ngày tốt. Ngày xưa, chắc cắc cụ ít gì cũng phải nhắm hướng. Theo như anh HT nói thì có thể đoán sơ lượt thử xem rằng có phải những người trong thân tộc của anh đa phần là ly hương, ly tán tứ sứ, tha hương lập nghiệp? Đa số không thành công trong đường làm quan, tức không làm quan to. Nhưng chủ yếu phát về đường thương nghiệp?Theo Phong thủy Lạc Việt thì mộ của cụ ông 1943 nên theo hướng Tây Bắc - Đông Nam hoặc Đông Nam - Tây Bắc. Vài lời trao đổi chưa chắc cho là đúng, anh HT nên tham khảo thêm. Thiên Đồng -
'Truất' quyền Trụ trì nhà sư 'khóa môi' Chiều 9-11, Ban Thường trực Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp đã tác pháp Yết Ma cử tội, đưa ra hình thức kỷ luật 3 tháng biệt chúng và "truất quyền" Trụ trì chùa Quán Âm đối với Đại đức Thích Giác Ân, Trụ trì chùa Quan Âm (thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp). Đại đức Thích Giác Ân chỉ ở tại chùa đọc kinh, sám hối không được đi ra ngoài tiếp xúc với mọi người trong 3 tháng. Trong lễ tác pháp Yết Ma, Đại đức Thích Giác Ân đã tường trình trước Hòa thượng Thích Thiện Huệ, Trưởng Ban Trị sự kiêm Trưởng ban Tăng sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp và Chư Tôn Đức trong Ban Thường trực Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp về việc bị Mr Đàm “khóa môi”. Đại đức Thích Giác Ân đã thành tâm sám hối trước Chư Tôn Đức, nhận rõ những hành vi phản cảm gây hậu quả đáng tiếc của mình trong đêm đấu giá từ thiện tại phòng trà Không Tên, TP.HCM đối với uy tín của Giáo hội Phật giáo và niềm tin đối với đông đảo Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước. Nói về hướng xử lý đối với Đại đức Thích Giác Ân, Thượng tọa Thích Chơn Minh, Phó ban Thường trực Ban Trị Sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp cho biết: Xét thấy Đại đức Thích Giác Ân đã nhận thức được việc làm sai trái của mình, chư tôn đức Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp đã đưa ra hình thức kỷ luật cấm túc Đại đức Thích Giác Ân trong vòng 3 tháng. Ngoài ra do sự việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Giáo hội và tư cách của vị Trụ trì nên chúng tôi quyết định thu hồi quyền trụ trì chùa Quan Âm. “Trong thời gian này, Đại đức Thích Giác Ân chỉ ở tại chùa đọc kinh, sám hối không được đi ra ngoài tiếp xúc với mọi người. Đây là hình thức kỷ luật khá mạnh của Phật giáo đối với Tăng/Ni có lỗi lầm” - Thượng tọa Chơn Minh nhấn mạnh Trước đó vào sáng 7/11, Chư Tăng thiền viện Phước Sơn cũng đã tiến hành lễ Tác pháp Yết-ma, cử tội hai vị sư thầy Thích Pháp Định và Thích Giác Ân (Trong giới luật nhà Phật cho phép Chư Tăng lớn có quyền cử tội đối với Tăng sĩ phạm lỗi, dù khác hệ phái - PV). Trong đó Đại đức Thích Pháp Định là tăng chúng của Thiền viện nên nhận hình thức biệt chúng trong 3 tháng tại chỗ để sám hối. Còn riêng Đại đức Thích Giác Ân là Tăng sự của Tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp nên đến hôm nay mới chính thức nhận mức kỷ luật do Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp đưa ra. Vào tối 4/11, ca sĩ Mr Đàm cùng rất nhiều ca sĩ tham gia đêm nhạc từ thiện tại phòng trà Không Tên (TP.HCM) để lấy tiền ủng hộ ca sĩ Wanbi Tuấn Anh chữa bệnh Tại đây Mr Đàm đã không ngần ngại trao nụ hôn môi cho nhà sư trẻ có pháp danh Thích Pháp Định và hôn tay nhà sư lớn tuổi pháp danh Thích Giác Ân. Theo Hoài Lương Kienthuc.net Sư thầy ‘khóa môi’ với Mr Đàm có thể bị khai trừ khỏi Tăng đoàn "Sau khi tiến hành các biện pháp xử lý thích hợp với giới luật nhà Phật, nếu sư Pháp Định không biết phục thiện, tiếp tục tái phạm, chúng tôi sẽ có văn bản chính thức đề nghị Giáo hội Phật Giáo khai trừ ra khỏi Tăng đoàn", Thượng tọa Thích Bửu Chánh cho biết. Trong đêm nhạc diễn ra ngày 4/11, tại phòng trà Không Tên với mục đích góp tiền giúp ca sỹ Wanbi Tuấn Anh chữa bệnh, ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng đã đem đấu giá từ thiện một chai rượu và tuyên bố sẽ khuyến mãi thêm nụ hôn cho người nào mua chúng. Cuối cùng, 2 nhà sư đã mua được chai rượu này với giá 55 triệu đồng. Sự việc không có gì đáng nói nếu như sư thầy không yêu cầu ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng thực hiện lời hứa và Mr Đàm đã thực hiện màn khóa môi với sư thầy. Tiếp đó, nhà sư còn đứng trên sân khấu nói nhiều chuyện về phòng the, tâm sinh lý yêu đương… Một trong những hình ảnh "khóa môi" làm dậy sóng dư luận. Vụ việc này khiến công chúng một phen "dậy sóng". Trên nhiều diễn đàn mạng, người ta bày tỏ sự kinh ngạc và trỉ chích không tiếc lời vị sự trên. Lai lịch của hai vị sư này cũng được tìm hiểu. Cuối cùng, gần 10h đêm qua, trên một trang web của một thiền viện Phước Sơn, hai vị sư trên đã bày tỏ sự hối tiếc, ân hận bằng một bức thư sám hối. Hai vị sư này đã viết: "Nay chúng con Tỳ kheo Thích Pháp Định và Thích Giác Ân viết tờ sám hối này. Chúng con thành tâm xin sám hối đến quý ngài và quý Phật tử do sự ham vui và bồng bột của tuổi trẻ trong khi chúng con hạnh phúc vì được làm một việc có ích giúp cho anh ca sĩ wanbi Tuấn Anh vượt qua cơn bệnh hiểm nghèo (khối u trong não đã di chứng hư hết một con mắt) vì vậy nên đã có những hình ảnh không đẹp, ảnh hưởng đến uy tín của Giáo hội và của chư Tôn đức cùng quý Phật tử trong và ngoài nước . Nói bao nhiêu chúng con cũng không sám hối hết tội lỗi và lương tâm chúng con đã dằn vặt cắn rứt hai ngày nay vì một tội do sơ ý đã làm ảnh hưởng xấu đến Giáo hội. Thật sự chúng con vô cùng xấu hổ không dám đối diện với chư Tôn đức nữa, chúng con cầu xin với tâm Bồ tát từ bi của chư Tôn đức cùng quý Phật tử trong và ngoài nước cứu vớt tha lỗi cho chúng con trong một kiếp người để còn có cơ hội tu tập đúng theo con đường của Đức Phật với lòng từ bi hỷ xả, cúng dường bố thí. Chúng con xin nguyện sẽ chấm dứt từ đây không còn tái phạm nữa. Một lần nữa chúng con xin sám hối và vô cùng biết lỗi". Cuối thư, hai nhà sư cùng xin Tôn đức, quý Phật tử trong và ngoài nước với tâm Bồ tát tha lỗi cho họ. Trước sự việc này, Thượng tọa Thích Bửu Chánh, Phó Ban trị sự Tỉnh hội PG Đồng Nai, trụ trì thiền viện Phước Sơn cho biết sẽ họp tăng chúng và xử lý nghiêm vụ việc này. Thượng tỏa kể: "Cách đây vài hôm, sư Pháp Định xin phép tôi về TPHCM có việc riêng. Sư không nói rõ là đi dự buổi đấu giá từ thiện do ca sỹ Đàm Vĩnh Hưng tổ chức. Nếu biết thì tôi đã ngăn cản.Vì vậy, tôi vô cùng sửng sốt khi hay tin báo chí phản ánh về những hành vi, lời nói và việc làm không chuẩn mực với tư cách một tu sỹ phật giáo của sư Pháp Định. Việc làm của sư Pháp Định là sai trái nghiêm trọng, không chỉ vi phạm giới luật Phật chế, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Giáo hội, của tăng ni, phật tử". Tỳ kheo Thích Pháp Định vô cùng hối tiếc về hành động của mình. "Ngay sau khi biết tin, tôi đã cho gọi sư Thích Pháp Định trở về thiền viện, yêu cầu nhận khuyết điểm, viết kiểm điểm, tường trình sự việc và phải sám hối, xin lỗi chư tăng ni, Phật tử và bạn đọc”, Thượng Tọa Thích Bửu Chánh chia sẻ. Về hình thức xử lý, theo lời Thượng tọa Thích Bửu Chánh, vào sáng nay đã họp toàn thể tăng chúng thiền viện Phước Sơn để tiến hành kỷ luật theo đúng luật Phật chế. Và "sau khi tiến hành các biện pháp xử lý thích hợp với giới luật nhà Phật, nếu sư Pháp Định không biết phục thiện, tiếp tục tái phạm, chúng tôi sẽ có văn bản chính thức đề nghị Giáo hội Phật Giáo khai trừ ra khỏi Tăng đoàn. Trước mắt, với tư cách là người có trách nhiệm liên đới, chúng tôi xin thành tâm sám hối Chư tôn đức lãnh đạo các cấp Giáo hội PGVN, xin lỗi Chư tăng ni, Phật tử và bạn đọc. Rất mong quý Ngài cũng như quý vị niệm tình hoan hỷ cho sự cố ngoài ý muốn này. Chúng tôi hứa sẽ xử lý thích đáng trường hợp của sư Pháp Định”, Thượng tọa Thích Bửu Chánh nhấn mạnh. Theo Báo Đất Việt
-
Nhờ Anh Thiên Đồng Chọn Giúp Ngày Giờ Cải Táng
Thiên Đồng replied to Hồng Tươi's topic in Phong Thủy
Gửi anh Hồng Tươi, Tính đi tính lại nhiều lần, Thiên Đồng đành phải đưa cho anh những ngày sau đây để anh lựa chọn và tham vấn thêm nhưng người khác. Vì việc cải táng không thể để qua giờ Sữu nhưng các ngày sau đây tuy Hoàng Đạo và là ngày tốt, nhưng giờ Sữu của những ngày này lại không được Hoàng đạo mà là Hắc đạo, cho nên anh Hồng Tươi cứ tham khảo và cân nhắc. Thứ đến, chỉ có thể cải táng vào những ngày Thìn - Tuất - Sửu - Mùi thì không phạm trùng tang liên táng cho nên tôi ưu tiên những ngày này là được chọn, vì vậy anh cũng tham khảo và tham vấn thêm ở nơi tin cậy. Những ngày có thể đào mộ cũ và cải táng mộ mới là những ngày như sau: - Ngày 8/10 Việt lịch, Hoàng đạo, giờ cải táng là giờ Sữu hắc đạo, giờ Tuất hắc đạo. - Ngày 20/10 Việt lịch, Hoàng đạo, giờ cải táng là giờ Sữu hắc đạo, giờ Tuất hắc đạo. - Ngày 28/Một (tức 28/11 theo thường gọi) Việt lịch, Hoàng đạo, giờ cải táng giờ Sữu Hoàng đạo. - Ngày 9/ Chạp, Việt lịch, Hoàng đạo, giờ cải táng Sữu Hắc đạo Như vậy kết lại, may quá là cũng có ngày thỏa mãn điều kiện: - Ngày 28/Một (tức 28/11 theo thường gọi) Việt lịch, Hoàng đạo, giờ cải táng giờ Sữu Hoàng đạo. Như vậy tiếp theo, tôi chọn ngày đào mộ mới trước đó -17/Một Việt lịch, Hòang Đạo, giờ Ngọ Hoàng đạo. Anh chưa cho biết tuổi của cụ tổ và hướng mộ tổ? Anh HT nên tham khảo them nhé. Thiên Đồng -
Tỳ kheo sám hối, ca sĩ thì sao? SGTT.VN - Hai nhà tu bị ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng “khoá môi” (Sài Gòn Tiếp Thị ngày 7.11) đã phải chịu hình phạt từ phía Giáo hội Phật giáo Đồng Nai, nơi họ đang tu hành. Một lần nữa, câu chuyện văn hoá ứng xử của những người – không – bình thường trong mắt công chúng lại rộ lên. Khoảng chục năm gần đây, những lời ta thán cho cái “nghiệp cầm ca” nghèo túng bớt dần, thay vào đó là hình ảnh những người nổi tiếng nhờ vào thị trường giải trí sắm siêu xe, mua nhà dát vàng, mang toàn đồ hiệu trên người… Họ cho rằng, nhờ “thành công trên con đường nghệ thuật” cùng với “tình yêu thương của khán giả” mà họ mới có được những gì đang sở hữu hôm nay. Khoan nói đến “thành công trên con đường nghệ thuật”. Hãy nói đến cụm từ “chỉ cần được khán giả yêu thương” là câu cửa miệng của biết bao ca sĩ, diễn viên đứng trên sân khấu nói xuống với những người mến mộ lời ca, tiếng hát của họ… và dĩ nhiên, trong đó không thiếu những khán giả cuồng tín sẵn lòng được hầu hạ “thần tượng”, được “thần tượng” chiếu cố. Thậm chí còn có những khán giả – vì lòng mến mộ – đã thành tâm bỏ bao nhiêu tiền bạc để mua những món quà đắt tiền chỉ nhằm phục vụ cơn thèm khát đồ hiệu của các “nghệ sĩ”. Thế nhưng, đổi lại, khán giả được gì? Sau bao nhiêu năm, âm nhạc của họ vẫn không có gì thay đổi. Cái hay, cái mới, sự tìm tòi nghệ thuật chỉ là những công thức chiêu trò lố bịch, từ chuyện hở lưng, hở bụng, hở ngực, đến chuyện yêu người này, tố người kia, đưa hình ảnh khiêu dâm lên mạng để tạo scandal… Khán giả bắt đầu nản lòng, bắt đầu nổi giận, bắt đầu nhận ra ẩn trong những con người luôn được trang điểm kỹ càng, ăn mặc đồ hiệu kia là những khoảng trống về văn hoá. Sự việc xảy ra tuần qua của ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng là giọt nước tràn ly. Công chúng có cảm giác mình bị khinh rẻ, khi phải chứng kiến một chiêu trò bất chấp đạo lý và cả những điều răn cơ bản của một tôn giáo đã được xây dựng hàng ngàn năm. Một nhà nghiên cứu về văn hoá, cũng là người đã cống hiến cả đời mình cho những giá trị tâm linh mà ông theo đuổi, đã tâm sự thế này: “Tôi nhớ một câu của một nhà văn Nga mà tôi được đọc thời còn rất trẻ: “Trong mỗi con người có một hứa hẹn cao cả về chất người và một đe doạ khủng khiếp về chất thú. Hãy thực hiện sự hứa hẹn và loại bỏ sự đe doạ để thực sự làm người”. Một số năm sau, tôi ngộ ra rằng người viết câu ấy có lẽ đã hiểu sai về thú vật. Chất thú không xấu xa chút nào, trái hẳn lại. Con người chúng ta có nhiều điều đáng học từ thú vật. Vì vậy, tôi đã xin chữa lại một chút câu của nhà văn Nga: “Trong mỗi con người có một hứa hẹn cao cả về chất người và một đe doạ khủng khiếp về chất phản người”. Hai tỳ kheo trong câu chuyện trên đã nhận hình phạt. Còn hình phạt nào dành cho ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng? Tôi không thể gọi điều gì khác hơn đó là sự đổ vỡ về văn hoá của một xã hội ngày càng lỏng lẻo trong các mối quan hệ ứng xử giữa người với người. Ở bất kỳ góc độ nào, sự bất kính với một đức tin là xúc phạm hàng triệu người đang có trong họ một niềm tin để nương tựa. Chính sự nổi giận của công chúng đã là một hình phạt dù cho đến nay, vẫn chưa có một điều luật nào để xử phạt những người bất kính với tôn giáo bằng những hành động tương tự. Chưa kể, theo giới luật của phái Nam tông mà hai vị sư kia đang tu hành, việc xúc chạm người ngoài giới là điều cấm kỵ. Hy vọng (chỉ là hy vọng thôi), ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng ít nhất cũng sẽ tự sám hối nếu anh ta muốn phục thiện, trước nhất, với văn hoá. Ngân Hà Nền tảng văn hoá không theo kịp sự nổi tiếng SGTT.VN - Những màn cởi áo khoe thân, lên mạng khoe nhà khoe xe hoặc các chiêu tố nhau để cùng nổi tiếng của các nghệ sĩ trong làng giải trí Việt đã phải chào thua trước “sự kiện” gây choáng váng đầu tháng 11: màn khoá môi giữa Đàm Vĩnh Hưng và một... nhà sư! Tối 4.11, ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng cùng nhiều ca sĩ góp mặt trong đêm nhạc từ thiện tại phòng trà Không Tên (TP.HCM) để lấy tiền ủng hộ ca sĩ Wanbi Tuấn Anh phẫu thuật trong thời gian sắp tới. Ngoài việc hát hai ca khúc, Đàm Vĩnh Hưng còn mang đến chương trình một chai rượu để bán đấu giá với giá khởi điểm 20 triệu đồng. Hai nhà sư ngồi ở hàng ghế đầu đã quyết định mua với giá 55 triệu đồng. Khi trao chai rượu, Đàm Vĩnh Hưng và nhà sư đã có màn khoá môi và sau đó, tấm hình này lan truyền với tốc độ chóng mặt trên internet. Những người hâm mộ Đàm Vĩnh Hưng giải thích cho hành động này rằng trước đó, vì Đàm Vĩnh Hưng có hứa sẽ trao một nụ hôn cho người mua nhưng anh không ngờ rằng người thắng cuộc trong màn đấu giá là... sư thầy, nên mới xảy ra cớ sự. Thế nhưng, không cần hiểu trình tự câu chuyện như thế nào, người xem chỉ nhìn tấm ảnh là có câu trả lời! Nụ hôn gây sốc này đã đặt ra rất nhiều lời bàn tán, không chỉ là câu chuyện về giới tính mà đó là thái độ của một người nổi tiếng như Đàm Vĩnh Hưng. Anh nổi tiếng trong giới là một người khôn ngoan, khéo xử trước các tình huống và chắc chắn đây khó là một tai nạn nghề nghiệp khi bàn tay anh còn cố tình vòng qua cổ nhà sư. Nếu là xuất phát từ yêu cầu của nhà sư, Đàm Vĩnh Hưng có thừa bản lĩnh để hành xử một cách phải đạo. Khi ở đỉnh điểm của sự nổi tiếng nhờ không ít chiêu trò, những phát ngôn gây sốc, lượng người hâm mộ ngày càng nhiều, Đàm Vĩnh Hưng lại tiếp tục gây thêm những sóng gió nhằm thể hiện sự tồn tại của một “ông hoàng” trong làng giải trí. Điều gây bức xúc và tạo nên nhiều bàn tán là lần này, câu chuyện còn dính dáng đến vấn đề tôn giáo. Liệu, những phật tử là khán giả hâm mộ của Đàm Vĩnh Hưng có còn yêu mến anh nữa hay không? Liệu Wanbi Tuấn Anh có cảm thấy hạnh phúc hơn khi số tiền mình nhận được lại đến từ một đêm ca nhạc có một trò kỳ cục quá sức như vậy? Đàm Vĩnh Hưng từng tuyên bố đóng cửa báo giới sau cuộc thi Cặp đôi hoàn hảo, liệu lần này, trước những áp lực truyền thông, anh sẽ xài đến chiêu nào đây? Sống trong một đất nước mà nền văn hoá truyền thống mang đặc trưng tôn trọng các giá trị cộng đồng, trước sự phát triển của internet và sự hội nhập của các hình thức văn hoá từ phương Tây, sự giàu lên nhanh chóng so với thu nhập bình quân đầu người, rất nhiều nghệ sĩ Việt không kịp xây dựng cho mình một nền tảng văn hoá vững chắc, một bản lĩnh sống để đối diện với những tình huống khó khăn, và nhất là không hiểu được tầm quan trọng, sự ảnh hưởng từ một người của công chúng. Câu chuyện gây nên sự xúc động trong lòng khán giả khi các nghệ sĩ chung tay chia sẻ những khó khăn của Wanbi Tuấn Anh đã bị mờ nhạt hẳn đi trong lòng công chúng. Cái tốt đẹp tồn tại chưa được bao lâu thì cái phản cảm xuất hiện trong cùng một sự kiện. Từ nam người mẫu khoe người yêu là tỉ phú già khi bê chuyện thầm kín lên mạng, từ ngôi sao ca nhạc một thời khoe mông, đến những vụ tố nhau tống tiền, lừa tình…, làng giải trí Việt cứ như một bức tranh nham nhở. Chẳng lẽ những hình ảnh trong sạch, cao đẹp của nghệ sĩ trong mắt công chúng, rồi sẽ dần là chuyện quá vãng? Phạm Vi
-
Kỳ Môn Tổng Yếu Ca Khôi Việt sưu tầm Âm Dương thuận nghịch diệu nan cùng Nhị chí hòan quy nhất Cửu Cung Nhược năng liểu đạt Âm Dương lí Thiên địa đô lai nhất chưởng trung. Hiên Viên Hòang Đế chiến Xi Vưu Trác Lộc kinh niên chiến vị hưu Mộng trung thiên thần thụ phù quyết Đăng đàn trí tế cẩn kiền tu. Long Thần phụ Đồ xuất Lạc Thủy Thể Phụng hàm Thư Bích Vân lí. Nhân mệnh Phong Hậu diễn thành văn, Kỳ Môn Độn Giáp tùng thử thỉ. Nhất thiên bát thập đương thời chế Thái Công trắc vi thất thập nhị. Đãi ư Hán đại Trương Tử Phòng Nhất thập bát cục vi tinh nghệ. Tiên tu chưởng trung bài Cửu Cung Tung hoành Thập Ngũ Đồ kỳ trung. Thứ tướng (chữ Tướng của đại tướng) Bát Quái phân Bát Tiết, Nhất khí thống tam vi chính tông. Âm Dương nhị Độn phân thuận nghịch, Nhất khí Tam Nguyên nhân mạc trắc. Ngũ nhật đô lai tiếp nhất khí, Tiếp khí siêu thần vị chuẩn tắc. Nhận thủ Cửu Cung vi Cửu Tinh Bát Môn hựu tọai Cửu Tinh hành. Cửu Cung phùng Giáp vi Trực Phù Bát Môn Trực Sử tự phân minh. Phù thượng chi Môn vi Trực Sử, Thập Thời nhất dị kham bằng cứ. Trực Phù thường di gia Thời Can Trực Sử thuận nghịch Độn Cung khứ Lục Giáp nguyên hiệu Lục Nghi danh Tam Kỳ tức thị Ất Bính Đinh Dương Độn thuận Nghi, Kỳ nghịch bố, Âm Độn nghịch Nghi, Kỳ thuận hành. Cát môn ngẫu nhĩ hợp Tam Kỳ Vạn sự khai tam, vạn sự nghi. Cánh hợp tung bàng gia kiểm điểm, Dư cung bất khả hửu vi tỳ (vết) Tam Kỳ đắc Sử thành kham Sử Lục Giáp ngộ chi phi tiểu bổ. Ất phùng Khuyển Mã, Bính, Thử Hầu Lục Đinh Ngọc Nữ kỵ Long Hổ. Hựu hữu Tam Kỳ du Lục Nghi Hiệu vi Ngọc Nữ Thủ Môn My Nhược tác âm tư hòa hợp sự Tùng quân đản hướng thử trung thôi. Lục Hợp, Thái Âm, Thái Thường Quân Tam thần nguyên thị Địa Tư Môn Cánh đắc Kỳ Môn tương chiếu huy Xuất môn bách sự tổng hân hân. Thiên Xung, Thiên Mã tối vi quí Thốt nhiên hữu nạn nghi đào tỵ. Đản năng thừa ngự Thiên Mã hành Kiếm kích như sơn bất túc úy. Tam vi Sinh khí, Ngũ vi Tử Thắng tại Tam hề suy tại Ngũ Năng thức du Tam, tỵ Ngũ thời Tạo hóa kiến cơ tu kí thủ. Tựu trung Phục Ngâm vi tối hung Thiên Bồng gia trứ địa Thiên Bồng Thiên Bồng nhược đáo Thiên Anh thượng Tu tri tức thị Phản Ngâm cung. Bát Môn Phản Phục giai như thử Sinh tại sinh hề tử tại tử. Tựu thị hung tú đắc Kỳ Môn Vạn sự giai hung bất kham sử. Tam Kỳ nhập Mộ nghi tế thôi, Giáp nhật na kham nhập Khôn cung Bính Kỳ thuộc Hỏa, Hỏa mộ Tuất Thử thời chư sự bất nghi vi. Cánh kiêm Ất Kỳ lai lâm Lục Đinh Kỳ lâm Bát diệc đồng thì. Thời can lai khắc nhật can thượng Giáp nhật tu tri, thời kỵ Canh. Kỳ dữ Môn hề cộng Thái Âm Tam bàn nan đắc cộng gia lâm. Nhược hòan đắc Nhị diệc vi cát Cử thố hành tàng tất tọai tâm. Cánh đắc Trực Phù, Trực Sử lợi Binh gia dụng sự tối vi quí Thường tùng thử địa kích kì xung Bách chiến bách thắng, quân tu kí Thiên Ất chi thần sở tại cung, Đại Tướng nghi cư Kích đối Xung. Giả lệnh Trực Phù cư Ly vị Thiên Anh tọa thủ kích Thiên Bồng Giáp Ất Bính Đinh Mậu dương thời Thần nhân thiên thượng báo quân tri. Tọa Kích tu bằng (nhờ cậy) thiên thượng Kỳ Âm thời, địa hạ diệc như thử Nhược kiến Tam Kỳ tại ngũ dương Phiến nghi vi khách thị cao cường. Hốt nhiên phùng trứ ngũ âm vị Hựu nghi vi chủ hảo tài tường. Trực phù tiền tam, Lục Nghi vị Thái Âm chi thần tại tiền nhị. Hậu nhất cung vi Cửu Thiên Hậu nhị cung vi Cửu Địa Cửu Thiên chi thượng hảo dương binh Cửu Địa, tiềm tàng khả lập doanh. Phục binh đản hướng Thái Âm vị Nhược phùng Lục Hợp lợi đào hình Thiên địa nhân, phân tam độn danh Thiên Độn, Nguyệt tinh, Hoa Cái lâm, Địa Độn, nhật khứ Tử Vân tế (che lấp) Nhân Độn, đương tri thị Thái Âm Sinh Môn Lục Bính gia Lục Đinh Thử vi Thiên Độn tự phân minh Khai Môn, Ất Kỳ lâm Kỷ vị Thử vi Địa Độn tự nhiên lâm. Hưu Môn Lục Đinh cộng Thái Âm Dục cầu Nhân Độn tại thử trung. Yếu tri Tam Độn hà sở nghi? Tàng hình độn tích kỳ vi mỹ Canh vi Thái Bạch, Bính vi Huỳnh (sao Huỳnh Hoặc, sao Hỏa) Canh Bính tương gia thùy hội đắc? Lục Canh gia Bính, Bạch nhập Huỳnh Lục Bính gia Canh, Huỳnh nhập Bạch Bạch nhập Huỳnh hề tặc tức lai Huỳnh nhập Bạch hề tặc tức khứ. Bính vi bội hề Canh vi cách Cách tắc bất thông, bội lọan nghịch. Lục Quí gia Đinh, Xà Yêu Kiều Lục Đinh gia Quí, Tước Đầu Giang Lục Ất gia Tân, Long Đào Tẩu Lục Tân gia Ất, Hổ Xướng Cuồng Thỉnh quan tứ giả, thị hung thần, Bách sự phùng chi mạc chỉ thỉ. Bính gia Giáp hề Điểu Điệt Huyệt Giáp gia Bính hề Long Phản Thủ Chỉ thử nhị giả thị cát thần, Vi sự như ý Thập Bát Cửu. Bát Môn nhược ngộ Khai Hưu Sinh Chư sự phùng chi giai sấn tình Thương nghi bộ lạp chung tu hoạch, Đỗ hiếu yêu già (đánh úp) cập ẩn hình Cảnh thượng đầu thư tịnh phá trận Kinh năng cầm tặc hữu thanh danh Nhược vấn Tử Môn hà sở chủ? Chỉ nghi điếu tử dữ hành hình. Bồng, Nhậm, Xung, Phụ, Cầm dương tinh Anh, Nhuế, Trụ, Tâm âm tú danh Phụ, Cầm, Tâm tinh vi thượng cát Xung, Nhậm tiểu cát vị tòan hanh Đại hung phùng Bính bất kham sử Tiểu hung Anh, Trụ bất tinh minh Vạn cử vạn tòan công tất thành. Nhược ngộ hưu tù phùng phế một, Khuyến quân bất tất tẩu tiền trình. Yếu thức Cửu Tinh phối ngũ hành, Tu cầu Bát Quái khảo Nghi Kinh Khảm Bồng thủy tinh Ly Anh hỏa Trung cung Khôn Cấn thổ vi doanh Càn Đòai vi Kim, Chấn Tốn mộc Vượng tướng hưu tù khán trọng khinh Dữ ngã đồng hành tức vi ngã Ngã sanh chi nguyệt thành vi vượng Phế ư phụ mẫu, Hưu ư tài. Tù ư Quỷ hề chân bất vọng (càn bậy) Cấp tùng thần hề hoãn tùng môn Tam Ngũ Phản Phục thiên đạo hanh Thập can gia Phù nhược gia Thác Nhập mộ hưu tù cát sự nguy Khởi cung Thiên Ất vô dụng di Thiên Mục vi khách, Địa Nhĩ chủ Lục Giáp thôi hợp vô sai lí Khuyến quân mạc thất thử huyền cơ Động triệt (thấu suốt) Cửu Tinh phụ minh chủ Quan chế kì Môn tắc bất bách (truy bách) Môn chế kì Cung thị bách hùng Thiên Cương tứ trương vô tẩu lộ Nhất Nhị Võng để hữu lộ Tam chí Tứ cung nan hồi tỵ Bát Cửu cao trươnh nhiệm đông tây Tiết khí thôi di thời hậu định Âm dương thuận nghịch yếu tinh thông Tam Nguyên Tích Số thành Lục Kỷ Thiên địa vị thành hữu nhất lí Thỉnh quan ca lí chân diệu quyết Phi thị chân hiền mạc tương dữ. (Không phải bậc chân hiền thì không nên truyền) Kỳ Môn Tổng Yếu Ca thử chung (maithon) KỲ MÔN TỔNG QUYẾT CA 1/ Âm Dương thuận nghịch diệu nan cùng. Nhị chí hoàn hương nhất cửu cung. Nhược năng liễu đạt âm dương lý. Thiên địa đồ lai nhất chưởng trung. 2/ Tam tài biến hóa tác tam nguyên. Bát quái phân vi bát độn môn. Tinh phù mỗi trục thập can chuyển. Trực sử dương tong Thiên Ất bôn. 3/ Lục Nghi Lục Giáp bản đồng doanh. Tam kỳ tức thị Ất Bính Đinh,. Tam kỳ nhược hợp Khai, Hưu, Sinh. Tiên thị cát môn lợi xuất hành. Vạn sự tòng chi vô bất lợi. Năng tri huyền diệu đắc kỳ tinh. 4/ Trực phù tiền tam Lục Hợp vị. Tiền nhị Thái Ất tự thiết ký. Trực phù hậu nhất vi Cửu Thiên. Hậu nhị chi cung vi Cửu Địa. Đại khả phục nặc, thiên dương binh. Lục Hợp, Thái Âm khả tàng tị. 5/ Cấp tòng thần hề hoãn tòng môn. Tam ngũ phản phục thiên đạo lợi. Dĩ thượng tuy đắc tam kỳ diệu. Bất như cánh đắc Tam kỳ Sứ. 6/ Đắc Sứ do lai vị vi tinh. Ngũ bất ngộ thời tổn quang minh. Dụng sự tu ưu thời khắc nhật. Phản, Phục ngâm cách do bất cát. Yểm tập đào vong tu cách thời. Chiêm kể hành nhân tín khỏi thất. 7/ Đẩu Giáp tam kỳ du Lục Nghi. Thiên Ất hội hợp chủ âm tư. Thảo bộ tu dụng thời hạ khắc. Hành nhân tin túc ngộ Tam kỳ. 8/ Tam kỳ thượng kiến du Lục Nghi. Lục Nghi cánh kiến ngũ dương thì. Kiền hướng Bát môn tam cát vị. Vạn sự khai tam vạn sự nghi. 9/ Ngũ dương tại tiền, ngũ âm hậu. Chủ khách tu tri hữu thịnh suy. Âm hậu ngũ can quân tu trí. Lục Nghi gia trước cánh vô lợi. Lục Nghi hốt nhiên gia tam cung. Tiên nghi kích hình tiên tu ký. 10/ Lục Nghi kích hình, Tam kỳ mộ. Thủ thời cử động khả đạn cụ. Thái Bạch ngập Huỳnh tặc tức lai. Huỳnh nhập Thái Bạch tặc tức khứ. 11/ Bính vi Bột hề, Canh vi cách. Cách tắc bất thông Bột loạn nghịch. Canh gia phục can vi phục can. Nhật gia canh phi can cách. 12/ Canh gia trực phù Thiên Ất Phục. Trực phù gia Canh Thiên Ất phi. Gia Kỷ vi Hình độn thượng cách. Gia Quý lộ trung kiến Đại cách. Gia Nhâm chi thời vi tiểu cách. Hựu hiềm Niên Nguyệt Nhật thời phùng. Đương thử chi thời tối bất cát. Cử động hành sự giai bất nghi. 13/ Bính gia giáp hề Điểu điệt huyệt. Giáp gia Bính hề Long phản thủ. Tân gia Ất hề Hổ xương cuồng. Ất gia tân hề Long đào tẩu. Đinh gia Quý hề Tước đầu giang. Quý gia Đinh hề xà yêu kiều. Phù gia Lục Đinh vi Tướng vị. Thời gia Lục Đinh vi Thủ tinh. Bính Hợp Mậu khai vi Thiên Độn. Địa độn Ất, Hợp nhập Khai cung. Hưu thừa Đinh, Đinh, Ất, Thái Âm: Nhân Thiên cương tứ trương thời gia Quý. 14/ Bồng gia Ương, thượng vi Phản ngâm. Phục ngâm chi thời Bồng gia Bồng. Cát tú phùng cái sự bất cát. Hung tú phùng chi sự dữ hung. Thiên phụ, Xung, Nhậm, Cầm, Tâm: cát. Thiên Bồng, Thiên Nhuế, Ương, Trụ: hung. Âm tú: Thiên Tâm, Ương, Trụ, Nhuế. Dương tinh: Xung, Phụ, Cầm, Nhậm, Bồng. 15/ Thiên cương tứ trương vô tẩu lộ. Âm Dương thuận nghịch diệu vô cùng. Tiết khí suy vi thời hậu định. Nhị chí hoàn hương nhất cửu cung. Tam nguyên siêu tiếp du Lục Nghi. Bát quái thu lưu biến cửu cung. Nhược năng liễu đạt âm dương lý. Thiên địa đồ lai nhất chưởng trung. ****HẾT****
-
- 1
-
-
Quá xịn luôn, Vi tiểu Bảo ơi! Cái allo của TD chỉ 300 ngàn đồng bạc thôi. Nhưng tiện nghi vật chất hay của cải hoặc thanh đạm cơ bần không của cải, không quan trọng, quan trọng là sống và làm việc theo luật nhà tu. Chiếc áo tu không làm nên thầy tu, nhưng khoác chiếc áo rồi, chính quy rồi thì phải theo luật đó. Đừng trích câu "sắc tức thì không, không tức thị sắc" hay "có cũng như không, không cũng như có" mà ngụy biện cho sự việc. Kinh để liễu nghĩa chứ không phải làm cơ sở cho ngụy biện. Cũng như vậy, chữ "từ bi" của cửa phật không phải để cho bất cứ ai lạm dụng để ngụy biện cho hình vi sai trái.
-
Miếng Trầu Kì Diệu Ngày xưa, có một anh học trò tầm thường tên là Hồ Sinh. Gia tư của hắn cũng không lấy gì làm thiếu thốn, nhưng ngày đêm, hắn chỉ những mong muốn một chút danh phận. Vì thế, khi nghe nói ở huyện có khuyết chân thơ lại là hắn vội bán ruộng cố đi lo lót cho được. Sau mấy phen chạy vạy không xong, hắn sực nhớ đến một người bạn học cũ có người thân quen biết với cụ Thương, bèn tìm tới nhờ vả. Người bạn của Hồ Sinh khi nghe hắn bày tỏ ý mình vội bảo: - Người ta có câu " Con trong lờ rưng rưng nước mắt, con người lờ ngúc ngoắc muốn vô". Sao bác không giữ ruộng lại để cày cấy làm ăn, có lợi hơn phải quị luỵ để mua mấy cái lo vào người cho khổ? Nhưng sau mấy lần khuyên dỗ, vẫn thấy nét mặt của bạn quả quyết quá, mới giới thiệu hắn với một người bạn khác của mình, và nói: - Người quen của tôi chả có thế lực gì đâu. Sẵn có quen một nhà đạo sĩ trên núi Ba Vì, ông ấy quen biết rất nhiều vị quyền cao chức trọng có thể cao hơn cả cụ Thượng nữa. Ông ấy có cách làm cho bác nên công danh. Để tôi viết mấy chữ, ông ấy sẽ vì tôi mà giúp bác hết sức. Hồ Sinh cầm thư của bạn tìm đường lên núi Ba Vì. Hắn hỏi thăm mãi, quả đến một cái hang, cửa hang có một phiến đá lớn lấp kín. Theo lời dặn, hắn kêu to: - "Có phải đây là hang đạo sĩ không? Nếu phải xin mở cửa cho vào." Tự nhiên hòn đá xoay mở ra một lối cho hắn vào. Phía trong rất im lặng nhưng sáng sủa. Hắn bước vào chừng chục bước đã thấy vị đạo sĩ đang nằm trên một cái chõng miệng nhai trầu, mắt lim dim nghỉ ngơi. Bên cạnh đó có một cái chõng khác, trên có một cơi trầu chỉ còn hai miếng. Truy có khách mà đạo sĩ cũng không ngồi dậy, chỉ với tay cầm lấy thư đọc, miệng vẫn nhai trầu bỏm bẻm. Một lát, nhìn trừng trừng vào mặt khách nói: - Ta sẽ cho anh được làm quan. Nào anh muốn làm quan to hay nhỏ, như thế nào? Đáp: - Tôi học hành cũng ít ỏi, chỉ muốn làm một chân thơ lại cũng đã mãn nguyện. - Được! Anh hãy ngồi nghỉ, ăn một miếng trầu, ta sẽ liệu. Hồ Sinh rón rén lại ngồi ở giường lấy một miếng trầu trong cơi ra ăn. Miếng trầu rất ngon. Nhưng vừa nhai giập thì hắn đã thiu thiu ngủ. Sau khi trở về nhà mấy ngày, bỗng một hôm có một người lính lệ mang tráp đến đòi. Hắn sợ quá tưởng có việc gì xảy ra. Nhưng khi vào dinh cụ Thượng, hắn được đón tiếp rất niềm nở. Người ta để dành cho hắn không phải là chân thơ lại ở huyện mà là một chân thông biện ở dinh quan Bố tại tỉnh nhà. Công việc chẳng có gì là khó khăn và tốn kém vì có "tay trong" của nhà đạo sĩ, làm cho hắn hết sức sung sướng. Thế là từ đó, Hồ Sinh hằng ngày ra vào công đường, dạ dạ, bẩm bẩm khúm núm trước mặt các quan. Ban đầu hắn cảm thấy nhục, nhưng mỗi lần đứng trước bọn tổng lý và những người dân có việc đến cửa quan thì hắn lại cho là một sự vinh hiển. Ban đầu hắn ngần ngại chối từ cả lễ lạt của những người có việc đưa đến lo lót, nhưng dần dần hắn cũng bạo dạn và khôn ngoan hơn. Chẳng những hắn thành thạo trong nghề bóp nặn mà còn học được nhiều mánh khóe làm tiền kì lạ là tạo ra những vụ án bất ngờ mà kết quả cả nguyên cáo lẫn bị cáo tiền bạc xủng xoẻng dắt nhau đến công đường đút cho hắn và quan trên của hắn. Vì thế sau ba năm, tiền của của hắn bộn bề, hắn làm nhà, tầu ruộng và sống cuộc đời xa xỉ hơn trước, lại được một phú ông trong hạt gả con gái cho. Mười năm sau, vợ hắn sinh được hai trai hai gái và được cất nhắc làm một chức quan nhỏ. Một nhà phấn vua trang điểm, cuộc đời cứ thế lên như diều, không có ai theo kịp. Nhưng một ngày kia, giữa lúc Hồ sinh đang ngồi cho vợ chải đầu thì bỗng có lính lệ cầm trát đến đòi. Hắn không nghi ngờ gì cả. Nhưng khi đến dinh cụ Thượng, hắn liền bị bỏ ngục. Một viên khâm sai đặc phái cải trang đi thanh tra đã tìm ra được rất nhiều chứng cớ về những vụ tham trang hối lộ của bọn quan tỉnh, mà tất cả đều có liên quan đến hắn. Thế rồi, trong lúc chờ đợi án xử thì những người dân bị vu oan giá họa ngày trước đều đổ xô tới quan khâm sai kiện hắn. Đơn kiện cao kể hàng chồng. Ngày xử án hắn là một ngày đông hơn hội. Hắn bị xét tội tử hình, không đợi tâu về triều vì quan khâm sai có quyền “tiền trảm hậu tấu”. Trước khi ra pháp trường chịu tội, hắn hồi tưởng lại chuyện cũ, và ăn năn rằng phải chi mình đừng lên hang đạo sĩ để nhờ lão ấy chạy chọt thì đâu đến nỗi này. Chợt trời tối sầm, Hồ sinh giật mình vì nghe thấy một tiếng động rất dữ dội. Hắn mở mắt thì hóa ra mình vẫn còn nằm trên chiếc giường thứ hai của nhà đạo sĩ, chân đạp phải cơ trầu lăn xuống đá đánh choảng một tiếng, miếng trầu còn lại lăn lóc giữa sàn. Còn đạo sĩ miệng vẫn nhai trầu, mắt lim dim, và hỏi hắn: - Bây giờ chúng ta sẽ bàn một chút. Anh hãy cầm thư của tôi đến cụ Thượng… Nhưng lúc này Hồ sinh không còn đủ can đảm để tính chuyện danh phận nữa. Hắn vội nhả miếng trầu đang ngậm rồi cáo từ ra về. Từ đó, hắn trở nên một tay làm ăn chí thú trên ruộng đất của mình. Nàng Ngón Út Xưa có một nhà nọ, tuy hai vợ chồng tuổi đã ngoài bốn mươi nhưng không con. Hai người rất lấy làm buồn phiền về sự hẩm hiu của mình. Một hôm, hai vợ chống bàn với nhau sắm lễ vật đến tháp cầu con. Họ khấn rằng: - Cúi lạy thánh thần, xin ngài xuống phước cho chúng con, ban cho một đứa con, dù là gái, xấu xí bé nhỏ cũng được, vì chúng con tuổi mỗi ngày một già mà không có tiếng trẻ làm vui. Sau đó mấy hôm thì người vợ quả nhiên có nghén. Bà nói cho người chồng biết. Hai vợ chồng rất lấy làm vui mừng. Họ ngày đêm hy vọng đứa bé sắp ra đời sẽ khôn ngoan, xinh đẹp hơn các đứa bé khác. Nhưng lạ thay, đã mười tháng mà chưa chuyển dạ. Rồi hai năm qua, ba năm trôi qua. Hai vợ chồng rất lo sợ, buồn phiền. Rồi cũng đến ngày bà chuyển dạ. Bà sinh ra một bé gái chỉ bằng ngón tay út. Hai vợ chồng nhìn con mà lòng đau như cắt. Tuy nhiên, họ cũng hy vọng rồi đứa bé sẽ lớn dần. Hai vợ chồng đặt tên cho con gái là Ka Điêng. Từ ngày sinh Ka Điêng, hai vợ chồng ít đi thăm bà con hàng xóm. Họ thấy tủi hổ về đứa con quái dị. Thấm thoắt đã được mười sáu năm, đứa bé vẫn không lớn lên thêm được tí nào, nhưng cũng biết nói, biết đi như người thường. Hai vợ chồng già ngày càng buồn chán và lo sợ. Họ càng than phiền về số phận hẩm hiu của mình. Rồi một hôm, hai vợ chồng to nhỏ bàn với nhau tìm cách bỏ chết đứa bé. Người chồng trước mặt vợ thì thuần tình đem đứa bé bỏ vào rừng sâu, gửi nó cho thú dữ, nhưng khi nhìn lại đứa con ruột thịt thì không nỡ lòng. Đêm hôm ấy, người chồng lén sắp cơm gạo, mắm muối đủ chừng một tháng. Sáng hôm sau ông gạt nước mắt bồng con gái vào rừng, cùng với số lượng đồ dự trữ hồi đêm ông đã dấu ngoài bụi. Vào đến rừng sâu, ông chặt cây làm một cái chòi nhỏ. Dựng xong chiếc chòi thì trời đã quá trưa. Ông lấy gói cơm mở ra rồi hai cha con cùng ăn. Đang ăn. Ka Điêng thấy cha tự dưng nước mắt chảy ròng bèn hỏi: - Ơ kìa, tại sao cha lại khóc, hay cha sợ thú rừng? Người cha nhìn con ngậm ngùi rằng: - Cha không sợ thú rừng đâu con ạ! Cha khóc vì một lát nữa hai cha con sẽ tạm xa nhau. Mẹ con từ khi sinh con đến nay đã mười sáu năm, nhưng không lúc nào được khuây khoả, vì con không được như những đứa con hàng xóm, mặc dù cha mẹ đã hết lòng chăm sóc con. Cha mẹ nghĩ không nở tâm, nhưng không còn cách nào hơn. Nay cha dựng cho con cái chòi này, cùng miếng rẫy kia, để con trồng dưa sống tạm qua ngày. Thỉnh thoảng cha sẽ đến thăm con. Cha cầu trời phù hộ cho con được an lành, thoát khỏi các tai hoạ. Nàng Ka Điêng nghe cha nói vậy cũng mủi lòng. Thế rồi hai cha con ngậm ngùi chia tay. Từ khi đem con vào rừng sâu, thỉnh thoảng cha nàng lại ghé thăm và chăm sóc đám dưa dùm Ka Điêng. Với ngày tháng, Ka Điêng vẫn sống bình thường, rẫy dưa hấu ngày một tốt tươi và ra hoa kết quả. Một hôm, có một hoàng tử dẫn đoàn quân đi săn bắn. Khi trở về, đoàn quân đi qua đám dưa của nàng Ka Điêng. Đoàn quân lấy làm lạ không hiểu tại sao giữa nơi rừng sâu này lại có trơ trọi mỗi rẫy dưa. Họ muốn ghé vào hái ăn. Nhưng thấy vắng chủ, bèn đến trình hoàng tử, và xin vào hái trái ăn đỡ khát. Nghe nói có rẫy dưa hấu tốt quả ở chốn rừng sâu, hoàng tử đích thân vào đám dưa xem thử chủ rẫy là ai. Hoàng tử nhìn thấy những trái dưa to thì làm lạ lắm. Nhưng chưa gặp được chủ dưa nên chưa dám hái. Chàng hái thử một trái bổ ra ăn nếm. Mới ăn được nửa trái, hoàng tử đã thấy no, dưa rất ngọt mà lại nhiều nước. Nửa còn lại hoàng tử đành bỏ đấy. Chờ cho đoàn người lạ đi khỏi, nàng Ka Điêng mới từ chỗ nấp ra thăm dưa. Thấy nửa trái dưa bỏ dở còn đỏ tươi, nàng thấy tiếc, bèn nhặt lên ăn nốt. Từ khi Ka Điêng ăn nửa quả dưa thừa ấy, người nàng tự nhiên trở nên khác thường. Nàng đã thụ thai. Một năm sau, Ka Điêng sinh ra một bé trai mặt mày rất khôi ngô tuấn tú. Nàng không còn quạnh hiu như lúc trước. Mặc dù không biết người cha của đứa bé là ai nhưng nàng vẫn cảm thấy vui sướng. Bẵng đi hơn một năm trời. Một hôm hoàng tử lại đem quân đi săn bắn. Lúc đi ngang rẫy dưa năm trước bỗng chàng nghe có tiếng hát ru con với giọng buồn quyến rũ, mà lại như oán than. Hoàng tử lấy làm lạ, định vào nhưng trời sắp tối, nên chàng lưỡng lự. Tiếng hát não nề cứ cất lên, khiến cho hoàng tử càng mê mẫn không đành rời bước. Hoàng tử quyết ở lại để tìm xem ai mà có tiếng hát quyến rũ lòng người đến thế. Nàng Ka Điêng vừa trông thấy một chàng trai xinh đẹp từ xa đang xăm xăm bước tới chỗ mình, liền liền bỏ con trên nôi mà lẫn trốn. Hoàng tử bước vào chòi tranh thấy đứa bé đang nằm trên nôi một mình. Nhìn đứa bé, hoàng tử tự nhiên thấy mình yêu nó lạ lùng. Không cón do dự, chàng bèn cuối xuống bồng đứa bé lên hôn. Chàng ẵm đứa bé đi quan chòi tìm ngóng tìm xem mẹ đứa bé ở đâu, mà mãi vẫn không thấy. Rồi trời sập tối lúc nào không rõ. Còn về nàng Ka Điêng, khi nhìn thấy chàng trai lạ ẵm con mình thì định ra giành lấy, nhưng lại thôi vì sợ người lạ thấy mặt, xấu hổ. Nàng nhìn lên chàng trai thì rất ngạc nhiên, vì thấy mặt con mình giống chàng như một. Nàng suy nghĩ, nhưng lại cảm thấy vô lí, vì nàng chưa hề chung đụng với chàng cũng như với bất cứ người con trai nào bao giờ. Đang miên man suy nghĩ thì đứa bé khóc ré lên, nàng hốt hoảng bối rối, bèn lên tiếng: - Xin người khách hãy trả đứa bé vào nôi cho tôi. Và xin khách lạ vui lòng đi khỏi chòi tranh xấu xí này. Nghe có tiếng người, hoàng tử đưa mắt tìm tứ phía, nhưng vẫn chẳng thấy ai cả. Hoàng tử bèn lên tiếng: - Hỡi người mẹ đứa bé khôi ngô tuấn tú này, hãy vui lòng cho tôi thấy mặt, dù chỉ một đôi chút cũng cam lòng. Nếu nàng từ chối thì tôi sẽ ở trọn đêm nay lại đây, ngày mai tôi sẽ bắt luôn đứa bé đem về. Nàng Ka Điêng nghe hoàng tử nói vậy bèn từ chỗ nấp bước ra. Hoàng tử hết sức ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà vô cùng bé nhỏ mà lại là mẹ của một đứa bé to lớn như những đứa trẻ con khác. Mãi một lúc sau hoàng tử mới ngẫm nghĩ và nói: - Nói thật cùng em, ý anh đã quyết, dù có gian lao cực nhọc đến đâu anh cũng cam lòng cùng chung sống với em và đứa trẻ khôi ngô này. Mong em đừng từ chối, biết đâu đấy chẳng là duyên trời định. Nàng Ka Điêng lấy làm cảm động bởi những lời lẽ chân tình của chàng, nên bằng lòng chấp nhận cuộc kết nghĩa trăm năm. Hai người nên vợ nên chồng từ đó. Việc hoàng tử lấy một người vợ vô cùng nhỏ bé dần dần đã đến tai vua cha và hoàng hậu, cùng hai người anh. Một hôm, hai người anh vào tâu vua cha để tìm cách ly gián hoàng tử với nàng Ka Điêng, vì cho rằng Ka Điêng là một yêu quái hiện hình, dùng tà thuật mê hoặc em mình, biết đâu chẳng có ngày nó lại làm đổ triều chính gia phong. Nghe hai hoàng tử nói có lý, một hôm nhà vua cho gọi cả ba con trai lại, rồi truyền rằng: - Ta truyền cho các con, nội trong bảy hôm, các con hãy dẫn đến cho ta nhìn mặt ba nàng dâu cùng với lễ vật. Mỗi người con dâu phải mang cho ta một bộ y phục, gồm đầy đủ hia mũ, áo quần, cùng quà bánh. Nếu lễ vật của ai vừa ý ta thì sẽ nhường ngôi, nhưng nếu ai không tuân lệnh thì sẽ bị nghiêm trị không dung thứ. Hoàng tử út nghe lệnh vua ban khắc khe như vậy thì rất lo sợ. Chàng lấy làm chán nản không muốn trở lại chòi tranh, nhưng lại nhớ đến đứa bé và người vợ, nên đành quay gót trở về. Nàng Ka Điêng thấy chồng trở về với bộ mặt lo buồn, thì hỏi: - Hình như chàng có điều gì sầu muộn, chẳng hay tại triều nội có việc gì? Chàng có thể cho em biết được chăng? Hoàng tử bèn thuật lại cho vợ nghe những điều mà vua cha vừa ban. Nghe xong câu chuyện, nàng Ka Điêng mỉm cười với chồng: - Xin chàng đừng buồn, em sẽ lo liệu mọi việc chu toàn. Xin chàng chớ bận tâm về những chuyện nhỏ mọn ấy. Hoàng tử nghe nàng nói mà lòng vẫn hồ nghi, nhưng không còn cách nào khác, nên cũng yên lòng chờ xem. Sắp đến ngày hẹn mà vẫn chưa thấy vợ sắm sửa được gì, hoàng tử càng sốt ruột. Nàng Ka Điêng thấy chồng không được bình tâm chỉ cười mà không nói gì, nên chàng càng thêm lo lắng. Đến ngày hẹn, hoàng tử vô cùng bối rối, lo nghĩ. Chàng định nói với vợ về những lo lắng của mình, thì bỗng trong chớp mắt hiện lên một người con gái vô cùng xinh đẹp đứng mỉm cười trước mặt chàng. Nàng Ka Điêng đã hiện nguyên hình. Nàng cười nói với hoàng tử: - Chàng không nhận ra em ư? Em là Ka Điêng vợ chàng đây. Chúng ta hãy sớm lên đường về kinh kẻo muộn, phiền đến vua cha cùng các anh trông đợi. Lúc bấy giờ hoàng tử vẫn chưa hế ngạc nhiên, nhưng cũng rất sung sướng. Hai vợ chồng vội vàng sắm sửa lễ vật cùng hành trang để lên đường về kinh. Tại triều nội, đức vua và hoàng hậu ngừ trên ngai vàng, hai bên đủ mặt bá quan văn võ. Nhà vua cho gọi từng người con lên dâng lễ. Đầu tiên là hai vợ chồng anh cả, rồi tiếp đến vợ chồng hoàng tử hai. Cả hai đôi vợ chồng người anh đều dâng mũ, áo, quà bánh, nhưng đều bị vua cha và hoàng hậu loại, vì quà bánh thì không có gì lạ và ngon hơn những loại vua và hoàng hậu đã từng ăn, áo mũ thì cũng không có cái nào vừa cả. Đến lượt hoàng tử út, đức vua và hoàng hậu vừa trông thấy vợ chàng thì tưởng như có tiên nga giáng thế. Vua cha và hoàng hậu cùng bá quan phải trầm trồ khen ngợi vì sắc đẹp của nàng. Khi nàng Ka Điêng dân quà bánh lên, vừa mở ra, mùi vị đã bốc lên ngào ngạt. Vua cha và hoàng hậu dùng bánh của nàng rất ngon lành. Đến bộ cẩm bào, món đồ quý giá toàn là trân châu, mã não, vua xỏ thử thì thứ nào cũng vừa như in. Dùng thử xong mọi thứ đâu đấy, vua cha hỏi cô con dâu út: - Con hãy tâu cho cha rõ tên và ý nghĩa của hai loại bánh này? Nàng Ka Điên cúi đầu thưa: - Muôn tâu đức phụ hoàng và mẫu hậu, bánh hình tròn màu đỏ gọi là Sakaya làm bằng trứng gà và đường, chưng cách thuỷ, tượng trưng cho thần thái dương hệ, ví như phụ hoàng, thuộc về dương. Còn loại bánh làm bằng nếp hương, giữa có nhân đậu tên là Pay nung tường trưng mặt đất, thuộc âm ví như mẫu hậu. Ý nghĩa của hai loại bánh trên là tỏ lòng kính biếu bậc sinh thành. Kính mong phụ hoàng cùng mẫu hậu nhận sự biết ơn chân thành của chúng con. Nhà vua cùng hoàng hậu khi nghe vợ hoàn tử út nói vậy lấy làm cảm động, và cùng khen nàng dâu thảo. Nhà vua phán: - Trẫm nay tuổi già sức yếu. Xét hoàng tử út là người trung can, nghĩa khí, một gươn tốt soi chung toàn dân. Vậy trước đông đủ các mặt các khanh, ta truyền cho hoàn tử út được kế vị ngai vàng. Còn hai loại bánh Sakaya và Pay nung phải truyền khắp bàn dân thiên hạ, để từ nay mỗi khi làm lễ cầu hôn, hoặc giỗ tổ tiên, mọi người đều phải dùng hai loại bánh này. Truyền lệnh xong thì nhà vua bãi triều. Hôm sau triều đình tổ chức đại lễ tôn hoàng tử út lên làm vua và nàng Ka Điêng lên làm hoàng hậu. Bàn dân thiên hạ quanh vùng nghe tin cũng tự tổ chức ăn mừng vị tân vương và tân hoàng hậu. Còn hai người anh và hai chị dâu từ lấy hổ thẹn kéo nhau ra về.
-
Nhờ Anh Thiên Đồng Chọn Giúp Ngày Giờ Cải Táng
Thiên Đồng replied to Hồng Tươi's topic in Phong Thủy
@Hồng Tươi, Lưu ý: Khi tham gia bốc mộ cũ, táng mộ mới, những trong dòng họ tham gia công việc này thì kiêng những tuổi sau: - Nữ: Hợi - Mão - Mùi - Ngọ (Không được tham gia) - Nam: Thìn - Tuất - Sửu - Mùi - Tý. (Không được tham gia) Thiên Đồng -
SỰ TÍCH CON CÁ HE Ngày xưa, có một nhà sư trẻ tuổi rất ngoan đạo. Sau hơn ba mươi năm khổ công tu luyện, sư thuộc lòng tất cả kinh kệ nhà Phật, lại giỏi thuyết pháp. Vậy mà lâu rồi vẫn chưa thành chánh quả. Sư bụng bảo dạ: “Phải đến đất Phật một phen mới có hy vọng thành Phật”. Nghĩ vậy, sư ta mới quyết chí tìm đường sang Tây Trúc. Ðường đi từ nước nhà sang Tây Trúc ngày đó chưa có cách nào cho thuận lợi. Việc giao thông hầu hết là đường bộ, mà đi bộ thì thật là muôn vàn nguy hiểm. Nhưng nhà sư trẻ tuổi quả quyết nhằm hướng tây tiến bước. Cuộc hành trình đã được năm mươi ngày. Nhà sư đã nhiều lần lạc đường và mấy lần mê man vì sốt rét, nhưng nhờ được giúp đỡ nên đều qua khỏi, và chàng cứ tiếp tục cuộc hành trình. Một hôm, sư đến một khu rừng thì trời đã chiều. Sư cố bước dồn, hòng tìm một nơi nghỉ vì trong người đã thấy ớn rét. May sao giữa rừng sâu, sư bỗng gặp một ngôi nhà. Nghe tiếng gọi cửa một bà cụ già bước xuống sàn. Sư tỏ ngay ý định của mình là xin ngủ nhờ một đêm. Nhưng bà cụ vừa thấy khách đã xua tay rối rít. -Ði mau lên! Mau Lên! Con ta mà về thì không còn tính mạng. Sư đáp: -Tôi bây giờ thật là kiệt sức, không thể nào bước được bước nữa. Nếu không cho nghỉ thì cũng đành nằm liều trước cửa đây thôi. Bà cụ bảo: -Chao ôi! Con ta vốn là Ác Lai hay ăn thịt người. Có đi nhanh lên, bây giờ nó sắp về rồi đó. Nhưng sư đã vứt tay nải, nằm vật xuống đất. Hai đầu gối va vào nhau chan chát. Bà cụ không biết nói thế nào nữa, đành nắm tay y lôi đến một cái hầm đá lớn. Sau khi đẩy vào, bà cụ bảo y phải cố giữ cho thật im lặng để tránh một cái chết thê thảm. Ðoạn, bà cụ chất củi phủ lá rất kín đáo. Trời tối hẳn thì Ác Lai về đến nhà, tay xách một con mang, hắn dừng lại ở chân thang và khịt mũi mãi. Hắn nói: -Có mùi thịt mẹ ạ! Mẹ hắn đáp: -Thì chả là thịt mày đem về đây là gì? -Không phải. Thịt người. Con biết lắm. Có thịt người. Bà cụ chưa kịp cản thì hắn đã quẳng con mang lên sàn rồi chạy đi tìm. Chả mấy chốc, hắn đã lôi được nhà sư bất tỉnh nhân sự từ dưới hầm về nhà mình. Khi sư tỉnh dậy thì đã thấy Ác Lai đang cầm một mũi mác lăm lăm ở tay. Hắn quát hỏi: -Mày đi đâu thế? Sư nhìn kỹ thấy hắn cũng không khác gì người thường, bèn tỉnh táo đáp : -Tôi đi tìm Phật. -Tìm để làm gì? Sư bây giờ mới nói rõ mục đích của mình. Rồi luôn miệng, sư giảng giải đạo từ bi cho hắn. Sư nói mãi, kể lại bao nhiêu ngày gian khổ của mình dọc đường, và niềm mong muốn cuối cùng là làm sao được nhìn mặt Ðức Phật để được thành đạo. Sư nói khéo quá, đến nỗi mẹ con Ác Lai đều cảm động đến rơi nước mắt. Thấy họ thành thật hối lỗi. Sư cho họ biết là họ cũng sẽ trở nên “vô sinh vô diệt”, sẽ sống một đời sống vô cùng sung sướng trên niết bàn, nếu họ kiên quyết bỏ ác làm thiện. Tự nhiên mũi mác ở tay Ác Lai rơi xuống sàn. Những đường nhăn hung ác lúc nãy bây giờ dịu lại. Sáng hôm sau, khi Sư sắp lên đường thì mẹ con Ác Lai vui vẻ sắp sẵn lương thực cho chàng. Họ lại tiễn đưa Sư đi qua một ngọn núi đá. Khi sắp từ biệt Ác Lai hỏi: -Tôi biết lấy gì mà dâng Phật đây? Sư đáp: -“Tâm tức thị Phật. Phật tức thị tâm”. Chỉ dâng tấm lòng mình là đủ. Sư không ngờ Ác Lai đã rút mũi mác, nhanh như cắt tự rạch bụng mình lôi ra cả một mớ ruột gan đưa cho sư và nói: -Nhờ Hòa thượng đưa hộ dâng lên Ðức Phật. Sư lấy làm bối rối quá. Chỉ vì Ác Lai hiểu nhầm lời nói của mình. Bây giờ còn biết làm thế nào đây. Cuối cùng Sư ta đành nhìn vào cặp mắt của Ác Lai, gật đầu nhận lời rồi gói bộ lòng của người đáng thương đó rồi quảy quả lên đường. Sư vừa đi được mấy ngày thì khu rừng rậm chấm dứt, hiển lộ ra trước mặt mênh mông bát ngát. Nước trời một vẻ trông rất vui mắt, nhưng trong bụng Sư thì chẳng vui một tí nào. Món lễ vật của Ðức Phật đè nặng trên vai. Nếu chỉ có thế thì không có gì là ngại cho lắm. Khổ một nỗi là mùi thối trong bộ lòng kia xông ra khó tả. Sư đã bọc nó ba tầng bốn lớp mà mùi thối vẫn nồng nặc. Sư lẩm bẩm: “Như thế này thì các nhà quán dọc đường còn ai dám chứa mình”. Qua ngày hôm sau, không thể chịu được nữa, Sư bèn vứt bộ lòng Ác Lai xuống biển. Nhà sư đi mãi rồi cũng đến Tây Trúc. Nhưng khi phủ phục trước Phật đài nói lên nỗi thắc mắc của mình vì sao chưa được đắc đạo thì bỗng nhiên trên điện cao có tiếng vọng xuống bảo: “Còn thiếu một vật nữa mới thành chánh quả”. Sư rất đỗi ngạc nhiên, cố ngước mắt nhìn lên một tí. Trên cao vòi vọi, Sư thấy Ðức Phật ngự giữa tòa sen sáng chói, sau lưng có bóng dáng hai người tựa hồ như hai mẹ con Ác Lai. Sư bỗng hiểu hết: Ðức Phật đã rõ sự thiếu thành thực, thiếu tận tâm của mình, còn mẹ con Ác Lai nay đã thành chánh quả chỉ là nhờ sự ngộ đạo đột ngột và chân thành trong phút chốc. Sư nằm phục vị hồi lâu, trong lòng thẹn thò vô kể. Nhà sư ta sau đó trở về chốn cũ để tìm lại bộ lòng. Tuy biển mênh mông và sâu kín, nhưng cũng cố lặn hụp để mong thấy lại món quà dâng Phật mà Ác Lai gửi cho mình. Sư nghĩ chỉ có làm thế mới dám nhìn lại mẹ con Ác Lai và hy vọng gần gũi tòa sen đức Phật. Sư bơi lên lặn xuống mãi. Sau đó sư hóa làm loài cá mà người ta vẫn gọi là cá he, cũng gọi là cá nược hay có nơi gọi là cá ông sư. Vì cho đến ngày nay dòng dõi loài cá đó con nào con nấy có cái đầu trọc như đầu ông sư, và vẫn làm cái việc của nhà sư, nghĩa là chúng đi hàng đàn, cứ lặn xuống nổi lên luôn không chịu nghỉ. Những người đánh cá còn nói loài cá he rất ghét những ai trêu chọc mình. Ai trêu chọc nghĩa là gợi lại chuyện cũ của tổ tiên chúng nó, chúng nó sẽ làm cho đắm thuyền rách lưới. Trái lại, ai khen ngợi reo hò thì chúng nó sẽ lặn xuống nổi lên nhiều lần để tỏ thành ý biết ơn. Sự tích con khỉ Ngày xưa có một người con gái đi ở với một nhà trưởng giả. Nàng phải làm việc quần quật suốt ngày, lại bị chủ đối đãi rất tệ. Cái ăn cái mặc đã chả có gì mà thỉnh thoảng còn bị đánh đập chửi mắng. Vì thế, cô gái tuổi mới đôi mươi mà người cứ quắt lại, trông xấu xí bệ rạc hết chỗ nói. Một hôm nhà trưởng giả có giỗ, cỗ bàn bày linh đình, họ hàng đến ăn uống đông đúc. Trong khi đó thì cô gái phải đi gánh nước luôn vai không nghỉ. Lần gánh nước thứ mười, cô gái mỏi mệt quá ngồi lại ở bờ giếng. Tự nhiên cô thấy tủi thân, ôm mặt khóc. Lúc đó đức Phật bỗng hiện ra với trạng mạo một ông cụ già. ạng cụ có vẻ đâu từ xa lại, dáng điệu mệt nhọc đến xin nước uống. Nàng vội quảy gánh xuống giếng vực nước lên cho ông già giải khát. Ông cụ uống xong lại đòi ăn. Cô gái nhớ tới phần cơm của mình chưa ăn, bèn bảo ông cụ ngồi chờ rồi quảy gánh nước về. Lần sau ra giếng, cô lấy cơm trong thùng đưa cho ông già và nói: - Họ dành phần cho con toàn cơm cháy cả, cụ ăn một bát này cho đỡ đói. Ăn xong, ông cụ bảo nàng: - Hồi nãy làm sao con khóc? Cô gái ngập ngừng, cúi mặt xuống không trả lời. - Ta là đức Phật, - ông cụ nói tiếp, - ta thấy con có lòng tốt. Nếu con muốn gì, ta sẽ làm cho con vui lòng. Cô gái ngạc nhiên mừng rỡ, kể nỗi lòng với đức Phật. Thấy điều ước muốn của người con gái chỉ là làm sao cho bớt xấu xí, ông cụ bảo nàng lội xuống giếng, hễ thấy bông hoa nào đẹp mút lấy thì sẽ được như nguyện. Khi xuống nước, cô gái chỉ mút mấy bông hoa trắng. Tự nhiên lúc lên bờ, nàng trở nên trắng trẻo xinh xắn, đồng thời quần áo cũng biến thành những thứ tốt đẹp. Khi cô gái quảy gánh nước trở về, cả họ nhà trưởng giả vô cùng kinh ngạc. Nàng xinh đẹp đến nỗi họ không thể nào nhận ra. Nghe cô gái kể chuyện, ai nấy cũng muốn cầu may một tí. Họ lập tức đổ xô cả ra bờ giếng mong gặp lại đức Phật để được trẻ lại và đẹp ra. Thấy ông cụ già vẫn còn ngồi ở chỗ cũ, họ sung sướng như người được của. Họ đưa xôi thịt ra mời tới tấp: - Này cụ xơi đi! Cụ xơi đi. Rồi cụ làm phúc giúp cho chúng tôi với! Đức Phật cũng bảo họ lội xuống giếng và dặn họ y như dặn cô gái lần trước. Dưới giếng lúc đó đầy hoa đỏ và hoa trắng. Ai nấy đều cho màu đỏ là đẹp nên khi lội xuống giếng đều tìm hoa đỏ mút lấy mút để. Nhưng không ngờ lúc lên bờ, họ không phải trẻ lại mà già thêm ra: mặt mũi nhăn nheo, người trông quắt lại, lông lá mọc đầy người, đằng sau lưng là cả một cái đuôi. Những người đi gánh nước thấy vậy hoảng hồn: "Kìa trông con quỷ, nó cắn bà con ôi!". Nhưng lại có những tiếng khác: "Đánh cho chết chúng nó đi! Sợ gì". Lập tức mọi người cầm đòn gánh xông lại. Cả họ nhà trưởng giả kinh hoàng bỏ chạy một mạch lên rừng. Từ đó, cô gái cùng với số người nghèo hầu hạ trưởng giả được hưởng những của cải do chúng để lại. Lại nói chuyện trưởng giả và họ hàng đành phải nấp náu trong rừng sâu, ngày ngày kiếm quả cây nuôi thân. Chúng đi lom khom, áo quần rách nát trông rất thiểu não. Nhưng chúng vẫn tiếc của. Cho nên thỉnh thoảng ban đêm chúng lại mò về, hoặc gõ cửa, hoặc ngồi trước nhà kêu léo nhéo suốt đêm, gần sáng mới trở về rừng. Thấy vậy cô gái và mọi người sợ quá, đêm đêm đóng cửa rất chặt. Họ bàn nhau tìm cách đuổi chúng. Họ bôi mắm tôm vào các cánh cửa, lại nung nóng rất nhiều lưỡi cày đặt rải rác ở cổng các nhà. Quả nhiên, một đêm nọ chúng lại mò về. Theo lệ thường, chúng đánh đu vào song cửa kêu rít lên. Nhưng lần này chúng vừa mó đến đã bị mắm tôm vấy đầy tay, rồi từ tay vấy khắp cả người, hôi hám không thể nói hết. Chúng kinh sợ dắt nhau ra ngồi trước cổng quen như thói cũ. Nhưng vừa đặt đít ngồi xuống các lưỡi cày thì chúng đã kêu oai oái, rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy lên rừng. Từ đó chúng kệch không dám về nữa. Trong những khi lên rừng hái củi, người ta thỉnh thoảng vẫn gặp chúng. Thấy bóng người từ đàng xa, chúng liền chuyền theo nhánh cây, lủi nhanh thoăn thoắt. Người ta gọi chúng là những con khỉ. Ngày nay vẫn có nhiều người cho khỉ là thuộc nòi trưởng giả. Còn những con khỉ sở dĩ đỏ đít là vì chúng chịu di truyền dấu vết bỏng đít của tổ tiên.
-
Có mấy cái sau đây cần lưu ý về chánh tả Việt:- Tíu: chữ Tíu trong một món ăn gọi là Hủ Tíu. - Tếu: là cười cũng có nghĩa là hài, nên mới có "Tếu Lâm", và "Niêm hoa vi tếu" là cầm hoa cười nhẹ. Cho nên mới có chữ Tễu, tức chú Tễu, một nhân vật trong các vỡ rối nước, trong cùng nôi âm tiết Tếu =Tễu= Tều=Têu, (đầu têu, chứ không phải đầu tiêu!) Chữ "tiếu" thường hay viết là do viết sai chánh tả. Vài dòng chia sẻ, có gì xin các bác chỉ thêm. Thiên Đồng
-
Nếu con người là tạo vật hoàn hảo nhất thì nó so sánh với cái gì để thấy là hoàn hảo? Nếu là hoàn hảo rồi thì cần gì phấn đấu lên mức Thánh, Thần, Tiên, Chúa, Phật?