Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

wildlavender

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    6007
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    103

Everything posted by wildlavender

  1. Dịp này Wild cũng đã trao tặng họ những người khốn khó 1 quyển Kinh Cứu Khổ (Wild ko dự trù được số lượng nên chỉ có một số ít người nhận được) Trung Nhân cũng linh hoạt tặng cho căn nhà trọ này 2 Bộ Lịch TRUNG TÂM cho toàn khu vực sử dụng chung. Tổng kết chuyến đi được sơ kết như sau: Quà gồm sữa, xà bông, nước tương v.v...= 2,000,000 đ(hai triệu đồng) Tặng cho người Bác đại diện Mẹ Cháu Vinh: 2,000,000 đ(hai triệu đồng) Mỗi người 100,000 đ cho 40 người : 4,000,000 đ (bốn triệu đồng) Tổng chi : 8,000,000 đ (tám triệu đồng) Xin các ACE hảo tâm có lòng đóng góp thông cảm khi Wild không thể thực hiện chứng từ chứng minh ký nhận tiền ngoài hình ảnh trên đây. Vì điều kiện và tình huống khó vượt xa dự kiến ban đầu và cũng do Wild chưa có kinh nghiệm khi gặp tình cảnh này. Phần lỗi này thuộc về Wild bởi số người đáng được giúp ngoài suy tính.
  2. Cách giải quyết tiếp theo sau khi hội ý cùng ACE, Wild đành tặng mỗi người già neo đơn và gia đình có con em bệnh tật khác 100,000 đ(một trăm ngàn đồng) Người tàn tật cùng trọ. Còn và còn nữa, Wild đưa vài hình ảnh tiêu biểu cho chuyến đi. trộm nghĩ nơi đây những người con miền trung sau lũ đã tập hợp vào thành phố chọn nghề bán vé số.
  3. Chúc mừng BABYWOLF & THỦY TIÊN 1 mùa SINH NHẬT HẠNH PHÚC Và THÀNH ĐẠT.
  4. Cũng không ngoài mục tiêu ban đầu để thăm Cháu Vinh, nhưng Mẹ cháu đã đưa cháu về quê nay người nhà là Bác của Cháu thay mặt nhận nguyên phần quà gồm thùng sữa, 2 hộp bánh, xà bông gội , tắm, nước tương...cùng với hai triệu đồng tiền mặt. Đại diện của chúng ta đã trao 2,000,000 đ tận tay Bác của cháu Vinh. Còn lại những trường hợp khác không thể bỏ qua, đành chia nhỏ những phần quà.
  5. @ Thiên Địa Nhân. Liên hệ với bạn về La Kinh, nhưng hộp thư của TĐN quá đầy!
  6. Tùy thời biến dịch ... cháu nào cũng đáng thương cả.
  7. Từng trường hợp xuất hiện trước chúng tôi đủ cảnh đủ tình đau thương. Chàng trai này tâm thần đã xua khi thấy chúng tôi là người lạ của khu nhà trọ này, Thiên Đồng đã dụ cậu đứng yên chụp một ảnh đưa lên báo, thế là nghiêm chỉnh thần kinh. Đủ tư thế nằm ngồi trên vạt ván, chung quanh chẳng có vật dụng gì ngoài những giỏ quần áo treo ở những nơi có thể.
  8. Những thùng quà dự trù cho 4 cháu bệnh nặng thiểu năng và não úng thủy được ACE đưa vào nhà. Qua liên hệ trước theo số điện thoại, Wild có kế hoạch mua sữa, bánh, xà bông, nước tương, dầu gội. đủ số lượng cho các cháu nhưng... những mãnh đời khốn khó vượt quá số lượng mà Wild đã dự kiến, đành phân bổ thành những phần nhỏ chia đều thôi thì của ít lòng nhiều.
  9. Chiều nay Wild cùng một số ACE trên Diễn Đàn đã tổ chức đi thăm cháu Vinh theo địa chỉ Mẹ cháu để lại, hẻm Cầu Làng đoạn Cầu Sơn đường Xô Viết Nghệ Tĩnh Quận Bình Thạnh. Cuối con hẻm nhỏ đi qua con kênh nước đen là một căn nhà cấp 5 theo nhận định của Wild, không tường hai bên không cửa chỉ có bạt và tôn dựng, phía trước là hàng loạt xe tự chế và xe lăn dành cho người tàn tật làm phương tiện di chuyển bán vé số. Nơi đây gọi đúng tên là trại của những người quê miền trung chạy lũ vào đây kiếm sống. Bao nhiêu con người? bao nhiêu gia cảnh túm tụm 2,3 con người chỉ với 2m2 bằng vạt lót giường phân ranh cho từng hộ. Chúng tôi bước vào khung cảnh thật ngổn ngang người nằm ngủ, trẻ vất vưỡng ngây ngô, các cháu bé thơ hưởng chút gió từ chiếc quạt giấy nhờ tay Mẹ.
  10. Sau khi liên hệ số ĐT xin địa chỉ của trường hợp "Tha con cầu thực của Cháu Vinh" Wild đóng góp số còn lại 1,350,000 đ (một triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng) cho tròn 10,000,000 đ (mười triệu đồng) Quỹ hiện có: 8,650,000 đ + 1,350,000 đ = 10,000,000 đ (mười triệu đồng)
  11. Thầy vì Đại Nguyện mà hành được Pháp này, thế giới từng có các vị Tam Bộ nhất bái nhưng nhất bộ nhất bái thì chưa! Trung bình Thầy đi 1 ngày được 2km5, phải 4 năm cuộc hành trình mơi dừng.
  12. Để Wild post up cho RNU nhé! Hay luận sơ cho anh xã nhé! Vợ chộng khó đạt đến danh hiệu Đại Cự Phú, đại phú là nổ lực lắm rồi vì con trai (kỷ dậu) khắc Mẹ thì hơi vất vả, có nên chăng tìm cách hóa giải xung khắc này để dễ thăng tiến trong sự nghiệp căn bản là từ hòa khí dẫn đến hòa bình v.v...anh xã sẽ thuận lợi hơn !
  13. Có nhận của Chị Đỗ Kim Anh 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) tặng Quỹ Từ Thiện Diễn Đàn. Quỹ hiện có: 8,150,000 đ + 500,000 đ = 8,650,000 đ(Tám triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng)
  14. Xác nhận có 1,000,000 đ (một triệu đồng) của HNT góp Quỹ từ thiện. Quỹ hiện có:7,150,000 đ + 1,000,000 đ = 8,150,000 đ(tám triệu một trăm năm mươi ngàn đồng)
  15. Xác nhận có 500,000 đ(năm trăm ngàn đồng) của Bác Thiên Sứ góp cho trường hợp "Tha con cầu thực..." Quỹ hiện có: 6,650,000 đ + 500,000 đ= 7,150,000 đ(bảy triệu một trăm năm mươi ngàn đồng)
  16. Xác nhận có 500,000 đ(năm trăm ngàn đồng) của Bác Thiên Sứ góp cho trường hợp "Tha con cầu thực..."
  17. Ăn mày cửa Phật. Ngôi chùa Ni ba tầng uy nghi bề thế vừa được trùng tu đã thu hút nhiều khách thập phương tìm đến vãn cảnh, lễ Phật.Chùa xây theo lối kiến trúc vừa cổ kính vừa hiện đại, có sân trồng hoa kiểng, có Đông lang Tây lang làm nhà chúng và có cả tầng hầm làm nhà kho, nhà bếp và nơi để xe của quý cô. Chùa khánh thành xong, mở nhiều khóa tu nên Phật tử lui tới đông đúc. Buổi sáng, khi công việc bếp núc thu dọn xong, quý cô thường rút hết lên lầu. Lúc này khu tầng hầm là nơi vắng vẻ yên tịnh hơn cả. Chùa to Phật lớn nên bọn trộm vặt thường thừa cơ lẻn vào. Để đối phó, nhà chùa buộc phải nuôi chó. Thế là mấy chú chó ta, chó Nhật có mặt trong tầng hầm đủ để hình thành một đội quân hùng mạnh trấn áp kẻ gian. Lại có cả một đàn mèo ung dung chiếm giữ nơi góc bếp. Lũ mèo bị bỏ rơi trước cổng chùa, quý cô thương tình đem vào nuôi cho làm bạn với bầy chó. Đáng ngại nhất là lũ chuột cống kéo tới trú ngụ khắp mọi ngóc ngách nơi tầng hầm. Mèo trở thành khắc tinh, là mối đe dọa trực tiếp làm giảm bớt sự sanh sản thái quá của bầy đoàn nhà chuột chuyên nghề phá phách này. Mấy chú chó cưng được nuôi nấng đàng hoàng nên đối xử cũng có phần biệt đãi hơn. Vả lại nhiệm vụ giữ chùa coi xe cũng rất nặng nề. Thường thì chúng ở tầng hầm và được một cô quản gia chăm sóc tận tình, chu đáo. Cách vài ngày, bầy chó được tắm rửa sạch sẽ, xức dầu thơm. Đêm ngủ được lót chăn, được mặc áo khi trời trở lạnh. Thức ăn ngoài cơm rau, còn có thịt cá. Thỉnh thoảng chúng lại được no nê một bữa với xương heo giò chả của Phật tử mang đến. Nhiệm vụ của chó là canh giữ kẻ gian. Nhưng thường thì chúng sủa toáng lên khi nghe tiếng xe máy của quý cô ra vào. Xem ra chúng không phân biệt được người quen kẻ lạ. Nhưng có lẽ mấy chú cẩu nhà ta cho mình là chủ nhân ở đây, nên thích quấy quá đôi chút cho đỡ phần vắng vẻ, tịch liêu. Quý cô trong chùa thường bảo nhau: "Thong dong như mấy o mèo". Quả là mấy ả mèo suốt ngày chỉ quanh quẩn bên bếp lửa hoặc nằm dài trên đống tro tàn hết sức hồn nhiên, tự tại. Chúng chẳng bận tâm đến điều gì ngoài việc ăn rồi ngủ, nên chẳng làm nên tích sự gì, ngay cả việc thị uy với lũ chuột cũng không thể. Mèo vốn là loài bắt chuột. Nhưng đám mèo của chùa quá nhu mì lại gầy ốm. Còn lũ chuột tinh quái thì to béo như chàng lực sĩ đang sung sức. Mèo không thể làm gì chuột nên lâu ngày nó cũng mất dần bản năng rình mồi. Quý cô bảo mèo ở chùa ăn chay nên không thích sát sanh. Mà quả vậy. Cả ngày mèo cứ nằm lim dim ra chiều tư lự, mặc cho lũ chuột có chạy ngang trước mũi, mèo cũng dửng dưng chẳng thèm để mắt tới. Tầng hầm là nơi ở lý tưởng và an toàn nhất cho cả bầu đoàn thê tử nhà chuột. Ở đây chúng mặc sức lộng hành quậy phá mà chẳng sợ một thế lực nào đe dọa. Chúng không sợ đánh bả, dính keo, không sợ bẫy… vì nhà chùa từ bi có bao giờ sử dụng những món ấy. Còn mấy chị mèo dù có nhởn nhơ qua lại trong bếp, chuột cũng chỉ xem đó là những hình nộm biết đi, chẳng đáng quan ngại. Ở đây chúng lại có cả một kho lương thực dồi dào nên không sợ đói khát. Kho gạo và thức ăn, rau cải lúc nào cũng đầy ắp. Dù quý cô cất giữ cẩn thận cách nào, chuột cũng đánh hơi đục khoét moi ra cho bằng được. Ngay cả mấy thùng rác to tướng cũng được chúng chiếu cố tha hồ tìm kiếm những thức ăn khoái khẩu. … Có nhà văn tu sĩ thích ngao du đây đó để tìm ý tưởng. Một lần viếng chùa, tình cờ nhà văn nhận ra sự chung sống hòa bình thân thiện của bầy gia súc với lũ chuột cống đã phải ngạc nhiên thốt lên: - Quả là khung cảnh yên bình, tịnh lạc! Nhà văn thích thú khi trông thấy chú chó Bắc Kinh trắng trẻo đang vuốt ve ả mèo tam thể xinh xắn. Xưa nay mèo chó vốn chẳng ưa gì nhau, dù sống chung mái nhà, chúng cũng làm mặt lạnh đến nghìn trùng xa cách, có khi còn ẩu đả loạn xị cả lên. Ấy vậy mà, cả bầy chó mèo ở chùa lại tỏ ra hết sức thân mật. Lũ chuột tuy không nhận được thạnh tình này, song cũng mặc nhiên chơi đùa rượt đuổi cắn la chí chóe. Nhưng xem kìa! Nhà văn dỏng hai tai lắng nghe cuộc đấu khẩu giữa ba nhân vật chính đang có mặt tại tầng hầm. Nhà văn vốn có giác quan thứ sáu, nên nghe được cả tiếng nói của loài vật. Mấy chú chó đánh chén no nê những đĩa thức ăn đầy thịt thì ưỡn bụng đi nằm. Một cô mèo từ nhà bếp đi ra. Mèo ta cảm thấy đói bụng. Trong đĩa chỉ còn cơm trộn lẫn với rau xanh. Quý cô vẫn trộn rau vào thức ăn chó để chúng tập quen với việc chay lạt. Mèo vốn ăn chay, nên chẳng lấy gì làm phiền lòng. Cô ả ăn chậm rãi từ tốn vài miếng rồi cũng đi nằm. Lúc này một bầy chuột nối đuôi nhau ra tiếp nhận bàn tiệc. Thật là một lũ háu ăn vô trật tự. Chúng tranh ăn tranh nói làm cơm vương vãi tứ tung. Thỉnh thoảng có bước chân quý cô xuống cầu thang, đàn chuột giựt mình chạy biến một lúc rồi lại trở ra. Chúng cũng phát hiện có người lạ mặt đang dõi nhìn từ xa. Bữa tiệc đã xong. Cơm trắng vãi đầy trên nền gạch. Lũ chuột no nê, nên bắt đầu giở trò ranh mãnh, cắn đuôi rượt đuổi chạy quanh bếp. Cô mèo bị quấy rối liền mở mắt ra quát tháo: - Này, cái lũ chuột gớm ghiếc kia. Tổ tiên ba đời nhà mi trông thấy ta còn phải sợ chết khiếp, chứ đâu có cái hạng nghênh ngang vô lại chẳng xem trời đất ra gì. Ta đã không thèm đếm xỉa tới mà còn không biết thân biết phận. Coi chừng có ngày ta cũng sẽ tóm cổ tiêu diệt bằng hết cái đồ thối tha phách lối đó. Gã chuột cống to lớn có vẻ bất ngờ trước mấy lời gay gắt của chị mèo, nhưng hắn ta vốn lém lỉnh già đời, biết mèo chỉ mạnh miệng nói chứ không làm gì nên điềm tĩnh trả lời: - Ái chà! Chúng tôi chỉ đùa chơi chốc lát cho vui thôi, chị mèo ạ. Họ hàng chuột nhà tôi vốn mang tiếng là bọn sống chui rúc, phá phách quen rồi. Bản chất của chuột là vậy, biết làm thế nào. Nhưng chúng tôi nào dám nghênh ngang xem thường chị. Mèo càng tức khí: - Hừ! Đúng là một lũ lẻo mép láo xược. Hãy cút mau, đừng để ta nổi giận… Chuột lại chu mỏ: - Ôi! Chị làm gì mà dữ thế. Chúng tôi chỉ ăn ít cơm thừa rồi đi ngay, chẳng cần chị phải xua đuổi. Chị bảo tôi là thứ ăn hại. Còn chị suốt ngày cũng chỉ ăn rồi ngủ. Mèo vụt đứng lên, vươn móng vuốt ra hăm dọa: - A! Mi còn dám lên giọng với ta nữa. Cái lũ chuột già mồm này… Lũ chuột con bỏ chạy hết vào kho củi. Chỉ còn gã chuột đầu đàn giương mắt nhìn mèo thách thức: - À! Chị đừng cho là tôi ưa lý sự nhé. Tôi cũng đâu muốn chọc giận chị làm gì để mang họa vào thân. Dòng họ chuột tôi với nhà mèo chị vốn có mối thù truyền kiếp, đời thuở nào mèo lại dung thứ cho chuột. Nhưng ở đây, dưới mái chùa từ bi độ lượng, chúng tôi được sống yên ổn, no đủ. Chuột tôi dù là loài vật cũng biết nghĩ đến ân đức hiếu sanh của mấy chị mèo... Chú chó xám to lớn vạm vỡ nãy giờ vểnh tai nghe chán vội lên tiếng bảo mèo: - Này cô mèo, nói làm chi cho nhọc sức. Cứ dạy cho tên nhãi ranh đó một trận là xong chuyện. Thấy mèo làm thinh, chó nhướng mắt: - Cái lũ mèo nhà cô quả là biếng nhác vô tích sự. Ăn bao nhiêu là cơm chùa mà chẳng bắt nổi một tên chuột nhắt… Mèo vốn tánh hiền lành nên chẳng hứng thú gì ba cái chuyện đấu đá tranh cãi, song chị ta vẫn đáp trả: - Ơ! Thì cũng như bác suốt ngày chỉ biết sủa vang để hù mèo dọa chuột cho có lệ đấy thôi. Chuột lúc này quay sang chó với cặp mắt láo liên: - Anh chó xám ăn ngon vô sự bây giờ lại muốn gây chuyện với tui nữa à? Chó trợn mắt: - Ta mà thèm gây chuyện với lũ chuột hôi hám nhà mày. Ở đây ta là chủ. Cút ngay cho rảnh mắt ta, cái đồ súc sanh ăn hại... Chuột cười khỉnh: - Tụi tui và giống nòi nhà anh cùng một loài súc sanh như nhau cả thôi. Mấy anh được ăn trên ngồi trước, cậy thế hống hách ra oai, rốt cuộc cũng chỉ là những con vật, là một bọn ăn mày nơi cửa Phật... Chó trợn mắt nạt: - Cái gì là ăn mày cửa Phật? Ta được ăn cơm thịt cá ngon lành, chứ có ăn đồ cặn bã cống rãnh như bọn mày! Chuột gật gật đầu: - Là tui nói theo lý nhà Phật. Người nương cửa chùa, ăn cơm chùa người ta gọi là những kẻ ăn mày cửa Phật. Loài vật cũng vậy thôi. Nhưng xét ra thì chúng tôi vẫn có ích hơn mấy anh nhiều. Chúng tôi chỉ ăn cơm cùng thức ăn dư thừa. Còn anh, nhà chùa nuôi tốn biết bao cơm thịt của đàn na mà cứ để xảy ra trộm cắp. Mấy anh chỉ ăn lấy phần ngon, cơm thiu cơm dở thì chừa lại, lũ chuột tui phải lượm ăn cho hết. Như vậy chẳng phải là gánh bớt tội lỗi cho các anh sao? Chị mèo nghe vậy thì cười gằn: - Giống chuột nhà mi thì có lắm trò ma mãnh quỷ quái. Ngay đến bàn Phật, mi cũng dám lên đó cắn phá, ăn sạch trái cây chưng cúng. Vậy mà còn dám đến tội lỗi, dạy đời kẻ khác… Chuột vẫn vênh váo: - Ậy! Chị mèo ơi! Chị thừa hiểu bọn chuột là giống vật ưa phá bĩnh lại tinh quái vào bậc nhất thiên hạ mà. Đến con người còn kiêng nể không dám gọi tên tục của bọn tui ra nữa đấy. Nhờ đi lại khắp nơi nên tui cũng hiểu biết nhiều điều thú vị. Tôi leo lên tới chánh điện nhà Tổ ở tầng ba, nơi chưng cúng toàn trái cây tươi ngon. Và tôi đâu thể bỏ qua cơ hội được hưởng chút lộc Phật. Tui còn được nghe quý thầy giảng pháp. Còn mấy anh chị tối ngày chỉ quanh quẩn nơi xó bếp tầng hầm thì làm sao thấy được trời đất bao la đến nhường nào… Chú chó phóc từ bên ngoài chạy vào, nghe chuột đang khua môi múa mỏ với vẻ dương dương đắc ý liền nổi xung nhảy bổ tới chụp bắt. Chuột thất kinh hồn vía vội chạy biến vào nhà kho. Nhiều tiếng chí chóe kêu inh ỏi một hồi mới im bặt. Nhà văn tu sĩ lúc này như người vừa ra khỏi giấc mơ, ngơ ngẩn nhìn gian nhà bếp vắng lặng trong giờ chỉ tịnh. Thật thú vị. Nhà văn lẩm bẩm: - Mình sẽ viết lại cuộc đấu khẩu lạ lùng giữa ba con vật khắc tinh này. Chúng chung sống hòa bình dưới mái chùa, nhưng thỉnh thoảng cũng xảy ra những cuộc cãi vã to tiếng đấy chứ. Ừ! Chén bát trong chạn còn khua vang nữa là. Mà cái anh chàng Tí thật ranh mãnh, dám múa môi ngay trước miệng mèo. Quả là bọn tếu táo. Hắn ta lại cho mình nằm trong đoàn thể những kẻ ăn mày cửa Phật, có quyền hưởng lộc Phật. Ý tưởng này mới lạ lẫm làm sao. Tâm tư cảm kích, nguồn cảm hứng dâng trào, nhà văn yên lặng suy nghĩ ra chiều tâm đắc. Ờ! Ta cũng là kẻ ăn mày nương nhờ cửa Phật. Kẻ ăn mày tự cho mình có thân tướng trượng phu, có đầy đủ phước đức, có niềm tin và tuệ giác hơn người nên có quyền thụ hưởng tài lộc của người mang tới. Và ta trả nợ người bằng những bài thuyết pháp thao thao bất tận, bằng những lời kinh tụng thuộc lòng như ăn cháo và bằng những bài viết thấm đẫm giáo điển sâu xa. Ta mở tung mọi cánh cửa tu tập giải thoát cho người bước vào, còn mình thì mải mê theo đuổi những chân trời ảo mộng, nắm bắt hư danh. Đến một lúc nào đó, kẻ ăn mày cửa Phật cũng sẽ sớm nhận ra viên minh châu tỏa sáng nơi tự tâm, chấm dứt một đời cùng tử lang thang vào ra cõi tạm. Truyện ngắn của Lam Khê nguồn giacngo.vn
      • 4
      • Like
  18. Tìm thấy xương người khổng lồ cách đây 2500 năm.
  19. Còn một số ACE đã đăng ký La Kinh Việt vui lòng liên hệ 38 48 68 67 gặp Anh Thiên Đồng để nhận. @ Thiên Địa Nhân bạn liên hệ Anh Hoàng Triều Hải ở số 1 Đặng Dung Hà Nội.
  20. Người tù tìm gặp "ác quỷ ghè răng" lao Phú Quốc 08/12/2010 15:46 (GMT +7)Trong phóng sự Nanh vuốt quỷ dữ nơi địa ngục đảo xa đăng ngày 29/05/2010, chúng tôi đã kể về số phận thảm thương của một chiến sĩ cộng sản kiên trung trở về từ “địa ngục trần gian” nhà tù Phú Quốc. Được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi tiếp tục đăng thông tin tiếp theo về cuộc gặp gỡ giữa "người về từ địa phủ" Vũ Minh Tằng và kẻ từng được mệnh danh là "ác quỷ" ở nhà tù Phú Quốc. “Tôi chỉ đi tàu bay hai lần, hai lần đều bị còng tay và bịt mắt” Ngay từ khi đọc những dòng miêu tả hiếm hoi của chúng tôi về cảnh sống hiện tại của viên “thượng sĩ bẻ răng” khét tiếng Bảy Nhu, nhiều độc giả đã bày tỏ mong muốn tổ chức một cuộc gặp “nảy lửa” giữa ông Tằng và “quỷ sống”. Hình ảnh Nhu và thuộc cấp sáng tạo ra “trò chơi” ghè răng hàng chục, hàng trăm người tù, rồi thu gom răng “tươi” lại, để trong những cái ống bơ sắt, đeo trước cổ, mỗi bước đi lại phát ra tiếng kêu lóc xa lóc xóc đó, có lẽ nó còn khiến nhân loại tiến bộ mãi mãi “không tin được dù đó là sự thật”. Ông Vũ Minh Tằng được độc giả về tận xã Vĩnh Hào (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) tặng xe lăn, tặng tiền, quà, trị giá khoảng 80 triệu đồng. Ông Tằng, sau gần 40 năm mới có dịp trở lại nhà tù Phú Quốc, điạ ngục trần gian từng tra tấn mình chết đi sống lại, tàn phế suốt đời. Đặc biệt, hai độc giả ở Quảng Ngãi và TP.Hồ Chí Minh còn “liên kết” với nhau, hùn tiền sắm cho người tù bị bẻ 9 cái răng phải ăn cháo suốt hơn 40 năm kia một bộ răng giả làm bằng chất liệu và công nghệ Nhật Bản, tổng chi phí hơn 30 triệu đồng. Ngôi nhà dột nát của vợ chồng ông Tằng cũng đã được sửa sang, nâng cấp, đổ mái, lát nền. “Bốn mươi năm nay, cái đêm “thằng” Nhu tra tấn tôi đó, lúc nào nó cũng hiện về. Nhu đánh tôi đến mức, không còn cái răng để mà ăn nữa" - ông Tằng nuốt cục uất hận qua yết hầu còm nhom của người bệnh nặng 38kg, tiếp: “Tôi bảo với cái cô tặng răng cho tôi là: Tôi già rồi, sống nay chết mai, cô đừng bỏ tới 30 triệu mà làm răng cho tôi nữa, tôi có được nhai mấy bữa nữa đâu mà các cô phung phí thế”. Khách dò theo địa chỉ bài báo viết đến thăm ông Tằng rất đông, có vị “hàm cấp” như Trung tướng Trần Khoa, có vị chỉ là người bán rau cỏ ở Hà Nội; có lẽ, đặc biệt nhất trong số đó là ông Nguyễn Chí Sỹ - Giám đốc công ty đầu tư xây dựng số 2 Hà Nội. Ông Sỹ và đoàn về tặng 20 triệu đồng, cùng ý tưởng: Đưa người tù có “chín cái răng lưu lạc” vào lại đảo Phú Quốc gặp viên cai ngục đã tra tấn ông. Ông Sỹ xúc động lắm. Vì tổ chức cho 100 anh em tù cộng sản đào hầm vượt ngục, băng qua sóng biển vào đất liền tiếp tục hoạt động, mà ông Tằng bị Bảy Nhu và đám quân cảnh bắt lại, tra tấn bằng những hình thức dã man nhất. Thậm chí bắt ăn cơm, uống nước có trộn máu và... phân người. Dự kiến, mỗi người chúng tôi phải đi mất ít nhất 4 chặng bay trong toàn bộ hành trình đi và về (từ Hà Nội quá cảnh qua TP.Hồ Chí Minh, trước khi bay ra đảo Phú Quốc), ông Tằng nghe lộ trình, cứ thế ngồi bần thần vò đầu bứt tai rồi... dăn deo gương mặt lại, lau nước mắt. “Chú Hoàng ơi. Tính đến giờ, 73 tuổi đầu, đời tôi được đi máy bay đã hai lần, cả hai lần đều tinh có đi máy bay của bọn đế quốc. Nó đều bịt mắt, xiên tay tôi vào tay đồng đội bằng dây thép. Lần đầu đi từ Bệnh viện Quy Nhơn (tỉnh Bình Định) bay thẳng ra nhà tù Phú Quốc. Lúc ấy tôi vừa bị nó bắn, thả hơi cay ở hang Đá Chẹt ngoài Quảng Ngãi, còn chưa tỉnh hẳn. Lần thứ hai nó cũng bịt mắt, ấy là khi nó đem tôi từ nhà tù về Quảng Trị “trao trả tù binh”, theo Hiệp định Paris, nó cũng bịt mắt và còng tay. Bây giờ, đi máy bay có vất vả lắm không hả chú?”. Nghe xong, ai cũng rùng mình, có người bật cười chua xót. Cuối cùng thì viên cai ngục Bảy Nhu đã phải thú nhận toàn bộ tội lỗi, kèm theo lời xin được bao dung. "Văn bản" có thủ bút, chữ ký của Bảy Nhu giờ đã được treo trong bảo tàng (kèm theo chữ ký của một vị Anh hùng từng bị Nhu tra tấn, chữ ký của Bí thư huyện ủy Phú Quôc, lãnh đạo Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc - những người chứng kiến...) “Đợi tôi rủ 8 cái răng đi cùng” Hôm xe về Nam Định đón ông Tằng ra sân bay Nội Bài, cả vùng quê huyên náo với cuộc tiễn đưa, bà vợ già còng gập, chân tay phù nề vì bệnh thấp khớp của ông Tằng thì cứ thảng thốt ra ra vào vào, đã lâu lắm rồi, cặp vợ chồng già hầu như không xa nhau đến 1 ngày. Ông Tằng rủ rỉ: “Bà ở nhà, tôi lên chỗ bảo tàng xin lại 8 cái răng, đem nó vào cho thằng Nhu xem, kẻo vào gặp nó lại cãi bay cãi biến. Cái bọn suốt đời hỏi cung, tra tấn, ép cung người khác như thế, là nó gian manh lắm bà ạ”. Trời tối mịt, cặp mắt bị mờ vì các trò tra tấn của cai ngục, giờ đeo kính 13 đi ốp vẫn chẳng nhìn thấy gì, mà ông vẫn một mực dẫn đường bắt chúng tôi phải ghé qua “Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày” ở huyện Phú Xuyên, Hà Nội để... xin lại “8 cái răng lưu lạc” (một cái có chân đế nhọn hoắt vẫn “nhởn nhơ” mắc lại trong... bụng ông Tằng không chịu “ra”, nay đã siêu âm thấy). Không biết trên thế giới này có ai được người làm bảo tàng vận động hiến răng để trưng bày như ông Tằng không nhỉ? Chùm răng bị Bảy Nhu vặn, bắt nuốt rồi “dị hóa” ra, bí mật giữ 40 năm qua của ông Tằng đang được bày lên mặt một lá thư tay do ông Tằng “thủ bút”, tất cả nằm trong tủ kính bọc vải điều, rất trang trọng. Có khi ông Tằng nổi nóng thọc tay vào miệng rút hàm răng giả ra, nói rằng "lũ quỷ các ông" đã nhổ răng tôi, nhổ hết 9 chiếc trong một đêm rồi bắt tôi phải nuốt cả răng lẫn máu vào bụng. Ông Lâm Văn Bảng - “ông chủ” xây dựng và quản lý bảo tàng nghe trình bày việc ông Tằng xăng xái đi... mượn chùm răng, đem ra đảo Phú Quốc “ném vào mặt Bảy Nhu”, bỗng dưng đau đớn ngồi thụp xuống góc vườn, thở dốc. Ông ngồi như một pho tượng đồng trước ban thờ các tử sĩ của nhà tù Phú Quốc. Ông Bảng cũng là một cựu tù khốn khổ từ cái địa ngục trần gian nhà tù Phú Quốc đó sống sót trở về. Ông Tằng thì vào trò chuyện thủ thỉ với đám răng của mình. “Răng à, tao muốn mang chúng mày ra ngoài đảo, đặt tất cả trước mặt thằng Nhu, rằng, mày đã dùng ống tuýp sắt ghè gẫy từng cái răng của tao, bắt tao uống máu tao, nuốt răng tao, rơi cái gì ra ngoài là mày giết tao. Đống răng của tao đây, mày còn cãi được không, hả thằng Nhu!”. Tôi (người viết bài này) phải góp ý nhiều lần, rằng là chúng tôi tổ chức cuộc gặp gỡ giữa hai người ở đỉnh trời và đáy vực, hai người là thiên thần và quỷ dữ, một bên là sắt son yêu nước, một bên là tận cùng tàn độc với đồng bào máu đỏ da vàng của mình..., chúng tôi tổ chức không phải để khoét sâu hận thù hay để khêu máu hiếu kỳ cho ai đó. Mà để hai bên hiểu nhau, mà để tha thứ, bao dung và để trung thực ghi lại một “bối cảnh” không thể nào tưởng tượng được giữa hai “nhân vật lịch sử” đã gây quá nhiều xúc cảm không giống nhau trong lòng rất rất nhiều người. Tôi nói với ông Tằng: “Bác không thể mày tao với ông Bảy Nhu, dẫu sao thì hai người cũng đã ở cái tuổi lên lão, như chuối chín cây, tuổi mà “các cụ gọi về bất cứ lúc nào” rồi. Dù gì thì tội ác, đau thương đã qua đi, dù gì thì cũng không thể lấy oán mà trả oán để ân oán chập chồng”. Nhà nước ta đã khoan hồng cho Bảy Nhu được cải tạo rồi trở về với gia đình như những người khác, chúng ta phải tự hào vì sự khoan dung đó. Cuối cùng thì ông Tằng cũng đồng ý, sẽ xưng “tôi” và “ông” khi gặp Bảy Nhu, đồng thời không mang theo chùm răng đang gửi ở bảo tàng kia đi ra đảo Phú Quốc. Cái bắt tay, sự thanh thản của ông Vũ Minh Tằng và Bảy Nhu, "người của hai chiến tuyến", sau gần 40 năm... người nọ không tin người kia là còn sống. Bảy Nhu là một người cô độc, lẩn tránh mọi người đến mức, các gã xe ôm gần nhà ông ta, các hướng dẫn viên 15 năm đưa khách du lịch từ Hà Nội vào nhà tù Phú Quốc cũng chưa bao giờ “được” gặp ông ta. Hầu hết mọi người không biết ông ta còn sống. Khi nín thở “trinh sát”, bố trí cho cuộc gặp của ông Tằng với Bảy Nhu, tôi thật sự không một phút nào dám tin mình sẽ thực hiện được lời hứa với một số độc giả, cho đến khi... ông Tằng đi qua đàn chó hung dữ sủa ầm ầm bước vào nhà ông Nhu và Bảy Nhu ngơ ngác, lẩy bẩy, đứng dậy hỏi “Ông là ai?”. Họ đã nhận ra nhau, nặng lời với nhau, khoác vai nhau, bắt tay nhau, khóc thật to rồi cười khe khẽ. Ông Tằng không kiềm chế được, ông đứng dậy, thọc tay vào miệng, móc hai hàm răng giả ra, chỉ tay vào khoang miệng tối om móm mém của mình, nói lớn: “Các ông đã vặn hết răng của tôi đây!”. Ông Nhu vời vợi nhìn ra các cánh rừng ngoài triền đất đỏ: “Tôi nhớ rồi, ông là Bí thư chi bộ. Ông có tài châm cứu, thường châm cứu cho tôi. Ông tổ chức cho anh em ở buồng 13 vượt ngục. Và... Tôi là con chó săn của lũ đế quốc, tôi biết lỗi rồi. Tôi xin lỗi ông. Nếu ông không tha, đầu tôi, ngực tôi đây, ông đấm mấy quả thì cứ đấm”. Cả hai im lặng lâu đến mức, tôi và anh lính biên phòng Lưu Quang Mười phải ý nhị bỏ ra ngoài vườn nghe tiếng chó sủa râm ran khắp vườn điều xanh rợp... (Còn nữa...) Theo Lao Động
  21. Ai cũng qua trạng thái này, ng thân lần lượt ra đi tưởng chừng như mất hết, tưởng chừng như mọi cánh cửa yêu thương đều khép lại mục tiêu sống của đời mình cũng không có cánh cửa cho mặt trời lọt vào tia sáng ấm áp. Bi trí dũng cũng tiêu tan, nghiệp lực nay chống chỏi 1 mình. Bình tâm lại ! nghĩ con đò của kiếp người giữa sóng xô đó đã có 2 người 3 người 5 hay 10 người cùng chung chuyến đi nay hết nghiệp duyên hết ràng buộc phải ly biệt âm dương là lẽ vô thường. Chỉ tiếc rằng ta chẳng sớm NGỘ được để sống tốt với nhau để hết lòng với nhau để gieo mầm thiện nghiệp!
  22. Dịch thuật kinh Phật với văn hiến Việt Nam Ngày 24/11 tới, nhà nghiên cứu, dịch giả Trần Trọng Dương (Viện Nghiên cứu Hán - Nôm) sẽ có buổi thuyết trình "Dịch thuật kinh Phật với văn hiến Việt Nam" trong chương trình phối hợp với Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam. Tamnhin.net xin giới thiệu nội dung chính bài thuyết trình công phu và hữu ích này. Hiện tượng văn hóa quan trọng nhất Thuyết trình của dịch giả Trần Trọng Dương đề cập đến một hiện tượng văn hóa có tầm quan trọng bậc nhất của Việt Nam trong suốt 1.000 năm, từ đời Lý Trần cho đến năm 1945. Đó là việc dịch thuật kinh tạng Phật giáo sang chữ Nôm (tiếng Việt). Kết quả của nó là hàng trăm dịch phẩm cũng như áng văn chương của các nhà sư, quan lại cũng như các hoàng đế còn lại cho đến nay, góp phần tạo nên sự phong phú cho văn hiến của dân tộc. Buổi thuyết trình sẽ chú trọng đề cập đến một số tác phẩm sớm nhất trong lịch sử Việt Nam xuất hiện vào đời Trần. Từ đó, sẽ đề cập đến một số ngôi chùa cổ với tư cách là những trung tâm giáo dục, dịch thuật cũng như xuất bản của Việt Nam trong lịch sử. Nhà nghiên cứu, dịch giả Trần Trọng Dương Dịch thuật nói chung và dịch thuật các kinh điển tôn giáo nói riêng có thể nói là một trong những phương thức truyền tải văn hóa quan trọng hàng đầu của mọi quốc gia ở mọi thời điểm trong lịch sử. Ở Việt Nam, dịch thuật kinh điển Phật giáo có thể nói là hiện tượng sớm nhất, có truyền thống cả ngàn năm, và nó đã có những tác động sâu đậm đến rất nhiều khía cạnh của đời sống văn hóa, trong tâm lý dân tộc, ít nhất khoảng 1.000 năm trở lại đây. Tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi tạm thời chỉ dừng lại ở khía cạnh sự ảnh hưởng của thuật kinh Phật đối với văn hiến Việt Nam qua các tài liệu thư tịch Hán Nôm. Lịch sử dịch thuật kinh Phật ở Việt Nam trước thế kỷ X Sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp đời Trần còn ghi lại câu chuyện họ Việt Thường thời Hùng Vương, đã đến đặt quan hệ ngoại giao với Nhà Chu (Trung Quốc). Trong đó, khi giao tiếp, phải chuyển ngữ đến vài lần (cửu dịch). Chuyện huyền sử ấy chưa xác minh được thực hư, nhưng có thể mường tượng được rằng, nhu cầu thông ngôn, hơn nữa là dịch thuật ít nhiều đã là một sự thực. Có người còn đẩy xa hơn, coi cuộc tiếp xúc lịch sử này ắt hẳn không thể thiếu " tiếng Văn Lang "- ngôn ngữ của thời đại Hùng Vương. Sách Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục (1752) có ghi, Già Ca Đồ Lê (Ksudra) và Ma Ha Kỳ vực (Marajivaca) người Ấn Độ đã từng đến một trung tâm dịch thuật kinh điển ở Giao Châu (Việt Nam thời Bắc Thuộc) vào thế kỷ thứ II. Hai sách Cao tăng truyện (Huệ Hạo (497-554) ở thời nhà Lương biên soạn) và Khai nguyên thích giáo lục (đời Đường, Trí Thăng soạn) còn ghi Khương Tăng Hội đã đến Giao Châu tu hành và dịch sách Phật. Sách này cũng ghi Chi Cường Lương Tiếp (người Trung Á) từng dịch kinh Pháp hoa tam muội tại Giao Châu vào năm 225. PGS Trần Nghĩa cho rằng « công việc dịch thuật của những người nước ngoài trên đây khó lòng thành tựu, nếu không có sự tiếp tay của các dịch giả bản xứ». Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, những thông tin trên chỉ cho phép chúng ta đi đến nhận định rằng, vào thời thuộc Bắc, ở Giao Châu đã có hiện tượng chuyển dịch kinh Phật. Nhưng, khó có thể xác quyết rằng đó là dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Việt, hoặc dễ hiểu hơn ngôn ngữ đích có lẽ là tiếng Hán. Vì thời đó, ngôn ngữ bản địa đang tồn tại ở một trạng thái rất khác so với tiếng Việt sau này. Lê Mạnh Thát trong cuốn “Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta” đã giành hẳn chương IV để viết về “Vấn đề tiếng Việt thời Hùng Vương”. Trong đó, ông trực tiếp đề cập đến vấn đề dịch thuật cuốn Lục độ tập kinh. Cụ thể là, các học giả đã tiến hành dịch thuật cuốn sách này từ tiếng Phạn sang tiếng Việt vào thời Hùng Vương, và quan trọng hơn nữa là sau đó lại dịch từ tiếng Việt sang tiếng Hán. Nhưng, từ những giả thuyết theo kiểu “chồng trứng” , TS Lê Mạnh Thát đã thực hiện một thao tác trước nay chưa từng biết đến: ĐI TÌM DIỆN MẠO TIẾNG VIỆT THỜI HÙNG VƯƠNG QUA “LỤC ĐỘ TẬP KINH” - MỘT BẢN HÁN VĂN. Mặt khác, giới khảo cổ học, thư tịch học đến nay cũng không thể tìm thấy một chút di văn nào, hay một tác phẩm dịch thuật nào từ thế kỷ X đổ về trước. Hai tác phẩm dịch thuật kinh Phật cổ nhất Dịch phẩm được coi là cổ nhất còn lại cho đến nay là bản Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh. Theo GS.TS Nguyễn Quang Hồng, đây là tác phẩm được chuyển ngữ sang tiếng Việt (dưới hình thức chữ Nôm) vào quãng thế kỷ XII. Một trang sách Phật thuyết Dịch phẩm được coi là cổ thứ hai là cuốn Thiền tông khóa hư ngữ lục. Như ta biết, Khóa hư lục là tác phẩm của hoàng đế Trần Thái Tông. Tác phẩm này đã được thiền sư, y sư Tuệ Tĩnh dịch Nôm vào cuối thế kỷ XIV. Hai dịch phẩm này có ý nghĩa như sau: - Khóa hư lục giải nghĩa, cùng với Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh có thể coi là một trong hai bản dịch văn xuôi đầu tiên trong lịch sử dịch thuật của dân tộc. - Đây cũng có thể coi là một trong hai áng văn xuôi bằng tiếng Việt còn lại của thời Lý – Trần. - Dịch phẩm này, cùng với phú Nôm của Phật hoàng Trần Nhân Tông và bản dịch Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, là 3 tư liệu văn hiến sớm nhất mang bản sắc Việt còn lại cho đến nay. - Với bản giải nghĩa sách Khóa hư lục, Tuệ Tĩnh là dịch giả có danh tính sớm nhất trong lịch sử. Dịch thuật kinh tạng Phật giáo đối với tiếng Việt Việc dịch thuật kinh Phật có thể coi là một điều kiện để hoàn thiện tiếng Việt. Chính trong môi trường dịch thuật này, các từ Hán Việt cũng như các thuật ngữ tôn giáo (nhất là của Phật giáo, Nho giáo…) đã được du nhập vào hệ thống từ vựng của tiếng Việt. Đây cũng chính là nhân tố quan trọng nhất để ngôn ngữ bản địa tách khỏi tiếng Việt Mường, để định hình hóa như là một thứ tiếng dân tộc Việt như ngày nay. Ví dụ : có những từ đã gia nhập vào tiếng Việt sâu đến mức người Việt cũng ít khi nhận ra như kiếp, nhân duyên, hằng hà sa số. Đó là trường hợp từ « chùa chiền » vốn được dịch từ chữ « Thiền tự ». Theo ngữ âm học lịch sử, chùa âm đọc của chữ Tự, và chiền là âm đọc cổ của chữ Thiền vào quãng thế kỷ thứ VI. Một ví dụ khác, từ BỤT vốn là âm cổ của từ Phật trước đời Đường. Nhưng khi vào văn hóa Việt Nam, BỤT đã được Việt hóa hoàn toàn trở thành một ông Tiên chuyên cứu giúp người lành. Người Việt có những câu như : lành như Bụt (chữ lành ở đây là một từ Việt cổ dùng để dịch từ TỪ của Phật giáo), ngoài ra tiếng Việt còn có nhiều tên gọi khác như Bụt Ốc, Bụt ướt áo. Dân gian có nhiều câu tục ngữ ca dao có nói đến Bụt, như : Bụt chùa nhà không thiêng, Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy. Hay một từ khác như từ « bến mê » được dịch từ thuật ngữ « mê tân », từ « bể khổ » được dich từ thuật ngữ « khổ hải » của nhà Phật. Trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (tk XVIII) có viết: "Gót danh lợi bùn pha sắc xám Mặt phong trần nắng nám mùi dâu Nghĩ thân phù thế mà đau Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê" Đến nay, các từ ngữ thuật ngữ Phật giáo tối thiều (qua từ điển Phật Học Hán Việt, 1998) đã lên đến khoảng 20.000 từ, và đã gia nhập vào tiếng Việt với số lượng chưa thống kê được hết. Cuốn Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý , 1998) mới chỉ tiếp thu khoảng 390 từ, đây là một trong những bất cập của từ điển này. Có thể nói, việc dịch kinh Phật từ chữ Hán sang chữ Nôm là một đóng góp không nhỏ cho tiếng Việt, trong suốt lịch sử. Nó làm cho tiếng Việt giàu có thêm, phong phú thêm, khiến cho tiếng Việt được tôi luyện để trở thành một thứ ngôn ngữ của triết học và tôn giáo. Nhà chùa với việc dịch thuật, tổ chức in ấn, xuất bản Thiền tự, trước nay, chúng ta thường biết là nơi tu hành của các thiền sư. Nhưng, chức năng của các thiền tự trong xã hội Đại Việt trong suốt lịch sử lại khá đa dạng. Chùa là một đơn vị lao động sản xuất mang tính tự cung tự cấp. Chùa là một kiểu trường học « đặc biệt » để dạy chữ Hán, dạy kinh điển Nho- Phật- Đạo. Chùa là vườn thuốc (dược viên), nơi nghiên cứu y học và chữa bệnh… Và còn nhiều chức năng khác nữa. Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến chức năng dịch thuật và in ấn kinh sách của nhà chùa. Các nơi chùa tổ, là nơi đào tạo trí thức, và cũng là nơi tổ chức dịch thuật, in ấn các kinh sách với số lượng lớn. Kinh sách dịch xong liền được đem khắc ván ngay tại trong chùa. Các bản dịch được in ra phát cho các chùa khác và cho tín chủ. Ở miền Bắc hiện nay còn rất nhiều chùa còn trữ các ván in này. Có thể coi, chùa là « một kiểu nhà xuất bản » thời xưa. Chữ Nôm sản phầm của các thiền sư khi dịch thuật kinh Phật Chữ Nôm là loại văn tự duy nhất trong lịch sử do chính người Việt tạo ra để ghi lại tiếng mẹ đẻ của mình. Chữ Nôm có vai trò quan trọng trong hình thành, phát triển và bảo lưu văn hoá và diễn dịch văn học Việt Nam. Quá trình đó, chữ Nôm có vai trò không nhỏ với việc truyền bá, bảo lưu văn hoá Phật giáo. Thực tế cho thấy, văn học Việt Nam thời phong kiến, những tác phẩm còn đến ngày nay nhiều phần là tác phẩm Phật giáo, trong đó các dịch phẩm chữ Nôm chiếm địa vị không nhỏ, và có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu văn hoá, ngôn ngữ người Việt. Ở một khía cạnh, có thể nói, chữ Nôm là một sản phẩm của giới tăng lữ nhà Chùa, cũng như nhiều văn tự khác trên thế giới là sản phẩm của những người truyền giáo. Việc phát minh ra chữ viết có thể coi là một bước trưởng thành lớn của bất kỳ một dân tộc nào. Bởi chữ viết là một loại vật chất có thể lưu giữ âm thanh, hơn thế hình thức của nó khi đã được cố định hóa (định bản) trên đá, gỗ, gốm, giấy… thì khả năng truyền dẫn của nó đã được kéo dài hơn rất nhiều so với tiếng nói. Chữ Nôm đã trở thành công cụ dịch thuật kinh Phật từ tiếng Hán sang tiếng Việt trong suốt 1000 năm qua. Và quá trình dịch thuật ấy đã nảy sinh nhiều yếu tố ngôn ngữ văn tự ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam. Đức Kế ghi và giới thiệu (Tầm Nhìn) nguồn giacngo.vn
      • 1
      • Like
  23. Xác nhận có 300,000 đ(ba trăm ngàn đồng) của Smile_at_life đóng góp cho Quỹ Từ Thiện. Quỹ hiện có: 6,350,000 đ + 300,000 đ = 6,650,000 đ(sáu triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng)
  24. 06/12/2010 VNCK - 0007295 + 500,000.00 IBVCB.0612100543837001.sunnyday81 uong ho quy tu thien Xác nhận có 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) của sunnyday81 đóng góp cho Từ Thiện. Quỹ hiện có: 5,850,000 đ + 500,000 đ = 6,350,000 đ (sáu triệu ba trăm năm mươi ngàn đồng)
  25. Chuyện “đầu thai” Đêm qua, nhân dịp ghé thăm anh bạn hàng xóm và nghe một câu chuyện mà tôi phải ghi lại đây để gọi là làm chứng từ cho hiện tượng “đầu thai”. Vâng, đúng là chuyện li kì, mà nếu không nghe từ chính miệng anh tôi kể thì chắc tôi sẽ gạt phắt là chuyện tầm phào ... Câu chuyện bắt đầu từ bài báo trên VNN (xem dưới đây) nhưng lại trùng hợp với câu chuyện của anh bạn tôi. Nhân dịp ghé chơi nhà anh bạn, tôi kể cho các bạn bè nghe câu chuyện tôi mới đọc trên Vietnamnet hôm qua, viết về một em bé được tin là đầu thai sau vài năm chết vì một tai nạn. Nghe xong, anh bạn tôi (tên D) thản nhiên hỏi lại “vậy ông có muốn nghe chuyện của tôi không”. Câu chuyện của anh cũng li kì không kém, và có nhiều nét tương đồng với câu chuyện đầu thai trên Vietnamnet ... Nhà anh D ở một làng ven sông thuộc tỉnh Trà Vinh. Gia đình anh có 4 anh chị em, nhưng chỉ có một mình anh đi vượt biên và đã định cư ở Úc gần 30 năm qua. Năm nay anh đã 60 tuổi. Sau ngày anh đi Úc, Ba anh đã qua đời, để lại má và mấy anh em. Gia đình vẫn làm nghề nông và cuộc sống vẫn trôi theo thời gian một cách bình thản, cho đến một ngày câu chuyện “thằng nhỏ hỗn láo” xảy ra: Ở đầu sông có một cậu bé khoảng 7 tuổi, là con đầu lòng của cặp vợ chồng, có những lời nói bất thường. Cứ mỗi lần thấy má anh đi ngang nhà, cậu bé cứ chỉ vào bà và nói “Nó là vợ tao đó”. Thoạt đầu, má anh và mấy người hàng xóm chỉ cười vì nghĩ thằng bé nó tập nói, nên chẳng ai chấp nhứt cả. Nhưng cậu bé nói câu đó rất nhiều lần như thế mỗi khi thấy mặt má anh, làm cho má anh nổi giận và mắng cặp vợ chồng trẻ không biết dạy con. Thế là cậu bé ăn đòn. Nhưng dù ăn đòn thế nào đi nữa, nó vẫn khẳng định điều nó nói. Chẳng những thế, cậu bé còn chỉ mặt những người trong gia đình anh, và nói giọng kẻ cả “thằng này là con tao, nó thứ 3; con kia thứ 4”, và kể ra vanh vách những chuyện và thông tin mà chỉ có gia đình anh mới biết. Đến lúc đó thì không ai có thể xem là thằng bé hỗn láo hay nói bậy. Anh em bên nhà gọi điện sang anh D và kể câu chuyện li kì trên, rồi hỏi anh phải làm gì. Trong một chuyến về thăm nhà anh quyết định tìm hiểu và tự mình chứng kiến mới tin. Ngày đầu tiên về thăm nhà, anh mua một con heo quay và mâm trái cây đem ra mộ để cúng ba anh, như là một việc làm rất thông thường của những người con đi xa mới về quê. Xong việc cúng bái, anh ghé thăm nhà người hàng xóm đầu sông (vốn không phải là chỗ quen biết hay bà con với gia đình anh). Vào nhà, anh gặp thằng bé và hỏi “Con có ăn gì không?” Cậu bé thản nhiên nói “Ăn hết một con heo quay rồi, no lắm rồi”. Anh kể nghe xong câu trả lời mà anh lạnh cả người. Anh thử hỏi thêm “biết tôi là ai không”, cậu bé cũng thản nhiên nói “Mày là thằng Hai chứ ai, mày ở xa mới về”. Lúc anh rời Việt Nam thì cậu bé chưa ra đời (và ba anh vẫn còn sống). Dù đã có vài ý niệm rằng con mình là một trường hợp đặc biệt, nhưng nghe qua cuộc đối thoại, cha mẹ của cậu bé cũng ngạc nhiên. Lại thêm những câu hỏi về những kỉ niệm riêng tư mà chỉ anh và ba anh biết, và cậu bé trả lời vanh vách, không sót một chi tiết nào. Điều đáng nói là cậu bé thản nhiên xưng “tao” và gọi anh là “mày” y như là ba anh lúc sinh tiền, nếu có khác thì giọng nói của một đứa bé! Đến đây thì anh tin rằng đứa bé chính là hiện sinh của ba anh, hay nói theo dân gian là ba anh đã tái “đầu thai”. Sự xuất hiện của đứa bé làm cho gia đình anh khó ứng xử. Má anh không biết gọi cậu bé bằng gì, mấy người anh em cũng không biết gọi nó là “ba” hay không. Ba má cậu bé cũng lúng túng. Cả làng ai cũng biết câu chuyện ba anh đầu thai. Không giống như câu chuyện dưới đây, đứa bé vẫn ở nhà của cha mẹ nó, chứ không về ở nhà anh. Nay thì cậu bé đã lớn và lên thành phố theo học, nên ít ai nhắc lại chuyện xưa, dù ai trong làng cũng biết. Tôi vẫn thường hay nghe người khác kể những câu chuyện đầu thai, và cũng đọc nhiều chuyện như thế trong sách báo phương Tây. Nhiều câu chuyện đầu thai (hay reincarnation) bên Tây còn li kì hơn câu chuyện tôi vừa kể. Nhưng thú thật tôi chỉ nghe và bỏ ngoài tai, chứ chẳng quan tâm. Một phần vì tôi chẳng thấy có bằng chứng khoa học nào nên làm sao tin được; một phần khác tôi nghĩ những câu chuyện đó bạn tôi chỉ nói cho vui hay nghe chuyện “tam sao thất bổn”. Thế nhưng khi đọc phóng sự của Vietnamnet và chính tôi nghe qua câu chuyện của anh bạn thì tôi bắt đầu dao động … Dù quen anh bạn rất lâu năm, nhưng anh chưa bao giờ nói chuyện này cho đến hôm qua tôi thuật lại câu chuyện trong bài báo trên Vietnamnet. Anh nói tôi nên kể cho Vietnamnet biết. Anh bạn tôi thuộc vào nhóm người nghiêm chỉnh, không thích đùa giỡn. Không một ai trong bạn bè đặt dấu hỏi về sự thật của câu chuyện gia đình anh, nhưng không ai giải thích được hiện tượng đầu thai. Trong khi những câu hỏi với mẫu tự w và h (what, when, where, why, how) cứ lởn vởn trong đầu, tôi nghĩ mình nên ghi lại câu chuyện để xem như là một bằng chứng thực tế cho những ai quan tâm và nghiên cứu về hiện tượng đầu thai. NVT
×
×
  • Create New...