-
Số nội dung
526 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Lê Bá Trung
-
Kính gửi bác Thiên Sứ. Bác cho cháu hỏi một vấn đề nhỏ. Nhà cháu hướng Tây Bắc động thổ làm nhà năm 2006 Bính Tuất, năm đó nhà cháu phạm phải Thái Tuế, làm như vậy là động thổ ngay trên đầu của Thái Tuế, cháu nghe nói nếu phạm phải Thái tuế như vậy thì rất xấu, thời hạn của Thái Tuế nếu phạm như vậy thì hết phạm là bao nhiêu năm? Và bác cho cháu hỏi nếu nhà cháu thất cách như vậy nhưng khi phân cung ra thì bị khuyết hai góc cung xấu như vậy là cát hay là hung ạ. Hôm đó bác đến nhà cháu, cháu quên mất hỏi bác về việc đặt bàn thờ tổ tiên. Hiện giờ bàn thờ tổ tiên của cháu đang tọa tại Thiên Y góc Tây của nhà, bác có thể hướng dẫn cho cháu có thể đặt bàn thờ ở đâu trong nhà. Và năm sau 2009 tháng nào cháu có thể sửa nhà được vì sửa nhà có liên quan đến bếp rất quan trọng nên xin bác cho cháu biết cụ thể về thời gian, tháng, ngày, giờ tốt ....Thành thật cám ơn bác rất nhiều.Chúc bác vạn sự như ý và nhiều sức khỏe. Kính gửi. Lê Bá Trung.
-
ChÚc Mùa Giáng Sinh An Lành VÀ NĂm MỚi May MẮn !
Lê Bá Trung replied to laviedt's topic in Tâm Sự - Giao Lưu
Kính chúc bác Thiên Sứ và tất cả hội viên gần xa trong diễn đàn một mùa noel thật ấm áp và an bình :( .Gởi đến mọi người những lời tốt đẹp và yêu thương nhất. :( MERRY CHIRSTMAS AND HAPPY NEW YEAR..... :( Kính chúc. LÊ BÁ TRUNG -
Người sinh năm Sửu,(Sửu nào cũng vậy) tên cần có những bộ :- ĐIỀN (田), bộ HÒA (禾), bộ THẢO (艹) để được cuộc sống an ổn, có đủ cơm ăn áo mặc. Còn về công danh sự nghiệp thì còn tùy theo phúc đức và khảo sát Bát Tự (Tứ trụ của năm tháng ngày giờ sinh) mới biết được. Huynh đệ có thể tham khảo quyển “HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN” của Thiều Chửu để có chi tiết đầy đủ hơn. Tôi xin lược nêu ra đây một số chữ thông dụng để bạn nào không có sách , có thể dùng tạm. Đặt tên bằng cách chọn một trong các chữ nêu sau, hoặc có thể ghép hai, ba chữ lại thành tên cũng được, tùy theo sở thích và tập quán gia đình. (cử trùng tên) 1.-BỘ ĐIỀN:- 田 chỉ về ruộng, nền tảng cơ bản cuộc sống. Các chữ:- -ĐIỆN (甸) :- khu đất, cõi đất -GIỚI (界) :- ranh đất, biên giới -CHẨN(畛):- bờ ruộng, giới hạn -LƯỢC(略):- mưu lược, tài tháo vát -HUỀ(畦):- khu đất rộng -HỌA (畫):- vẽ (họa sĩ) -DƯ (畬):- đất khai khẩn trên 2 năm -TUẤN (畯):- chức quan khuyến nông ngày xưa -LƯU (留):- giữ lại -ĐƯƠNG (ĐANG) (當) :- hiện giờ, ngay tại -UYỂN (畹) :- 2 mẫu đất, họ ngoại -THOẢN (疃):- đồn điền -KỲ (畿):- chốn kinh đô -LÂN (疄):- ruộng đất cao -CƯƠNG (彊) :- bờ cõi -TRÙ (疇) :- ruộng đã cấy lúa, hai đôi (đồ, con vật) -ĐIỆP (疊):- chồng chất -DO (由):- từ chỗ đó 2.-BỘ HÒA:- 禾chỉ về ruộng, nghề nghiệp trong cuộc sống. Các chữ:- -HÒA(禾):- cây lúa -TÚ(秀):- lúa đã trổ, đẹp đẽ -TƯ(私):- riêng tư -TIÊN(秈):- lúa sớm -BỈNH (秉):- cầm nắm -THU(秋):- mùa Thu -KHOA(科) :- trình độ, môn học -TẦN(秦):- nước Tần, họ Tần -THUẬT(秫):- lúa nếp -TỈ(秭):- mười ức (là 1 triệu ngày nay) -XỨNG(稱):- cái cân -CÁT (KIẾT) (秸):- lõi của cộng rơm -ĐỀ (稊):- cỏ mọc chung với lúa (lồng vực) -TRÌNH(程):- khuôn phép, trình độ -ĐỒ(稌):- lúa nếp -NHẪM(稔):- lúa chín, được mùa -LĂNG(稜) :-nơi oai linh -TRÙ(稠):- nhiều, đông đúc -XƯNG(稱):- đề cao, nói lên -ĐẠO(稻):- lúa hai vụ -ỔN(穩):- yên, bền vững -TẾ(穄):- lúa không có nhựa -TÔ(穌):- tươi , sống lại -DĨNH(穎):- bông lúa, hơn người khác -MỤC(穆):-hòa mục -NHƯƠNG (穰):- lúa trĩu hạt, trúng mùa -TUỆ (穗):- bông lúa -LANG(稂):-một loại cỏ 3.-BỘ THẢO:- 艸 / 艹 phương tiện vật chất trong cuộc sống. Các chữ:- -GIAO(艽):- cỏ giao -THIÊN(芊):- cỏ tốt um tùm -CHI(芝):- cỏ Chi (rất thơm) -HOA(花):- bông hoa -PHƯƠNG(芳):- thơm tho -VÂN(芸):- vân hương 芸香:- tên loại cỏ vân hương -UYỂN(苑):- vườn -LINH(苓):- cây phục linh 茯苓 -ANH(英):- hoa các loài cây -BÌNH(苹):- cỏ Bình -BẬT(苾):- thơm tho tiếng tốt -MẬU(茂):- tươi tốt, xanh tươi -GIA(茄):- cuống sen -MÍNH(茗):- đọt chè (trà) Mính Viên茗園 -CHI(芰):- lệ chi 荔芰= cây vải -TƯ(茲):- thêm vào, bồi bổ -TRÀ(茶):- cây trà (để uống) -NHUNG(茸):- sừng non của nai -TUÂN(荀):- tên nước, họ, loại cỏ -THUYÊN(荃):- cỏ thơm -HẠNH(荇):- rau hạnh -TIẾN(荐):- gấp hai lần -HÀ(荷):- cây sen -PHỦ(莆):- loại cỏ báo điềm lành -TRANG(莊):- trại, vườn nhà -UYỂN(菀):- tốt tươi -DU(萸):- cây thù du -CÚC(菊):- hoa cúc -XƯƠNG(菖):- cỏ xương bồ -THÁI(菜):- rau cải -HOA(華):- nước Trung Hoa -ĐIỀM(菾):- tên rau điềm -THỤC(菽):- tên loại đậu -ĐÀO(萄):- bồ đào蔔萄: dây nho -LAI(萊):- tên cỏ Lai -VẠN(萬):- mười ngàn (10.000) -HUYÊN(萱):- loại cỏ thơm -BẢO(葆):- cỏ mọc um tùm -PHONG(葑):- rau phong -TRỨ(著):- sáng rõ (cũng đọc TRƯỚC) -ĐỔNG(董):- phụ trách -QUỲ(葵):- hoa quỳ -BỒ(蒲):- cỏ bồ (làm nệm lót xe vua quan ngày xưa)-KIÊM(蒹):-tên cỏ Kiêm -THƯƠNG(蒼):- màu xanh đậm -SÂM(蔘):- cỏ sâm, củ sâm -BỒNG(芃 / 蓬 ):- cỏ bồng, bồng lai -LIÊN(蓮):- hoa sen -THUẦN(蓴):- rau nhút -GIÁ(蔗):- cây mía -TÂN(莘):- đông đúc, cây tế tân -TƯỞNG(蔣):- họ Tưởng -DU(萸):- cỏ du -HUỆ(蕙):- hoa huệ -VI(薇):- rau vi -DĨ(苡):- hạt ý dĩ 薏苡 -KHƯƠNG (CƯƠNG): 薑- gừng -TIẾN(薦):- dâng lên, đề bạt ,cử người -THỰ(薯):- củ hoài sơn -HUÂN(薰):- loại cỏ thơm -NHU(薷):- cây hương nhu -LAM(藍):- cây chàm -TÀNG(藏):- cất chứa, giấu -ÁI(藹):- cây cối rậm rạp -TÔ(蘇):- sống lại -TẦN(蘋):- cỏ tần -LAN(蘭):- hoa lan -MI (蘼):- cỏ Mi Vu蘼芋 có hoa thơm 4.- KỴ DÙNG NHỮNG TÊN CÓ BỘ THỦ HOẶC Ý NGHĨA LIÊN QUAN ĐẾN:- -Kỵ có liên quan đến Mùi (các chữ chứa bộ Vị (未), và Dê (các chữ chứa bộ Dương 羊 )-TĐHV-tr.500 -Kỵ có bộ Tâm, chữ Tâm (忄, 心)—TĐHV-tr.196 -Kỵ bộ NGỌC(玉) (trang 386) bộ VƯƠNG (王) (trang 389 ) Nguồn: Hoangthantai.com
-
Kính gừi bác Phúc Anh ! Lời đầu tiên cháu xin gửi đến lời chúc sức khỏe đến bác Phúc Anh và gia đình. Cám ơn bác Phúc Anh đã quan tâm đến topic này cùa cháu. Nói về phong thủy thì cháu chỉ biết đôi chút chủ yếu là tìm hiểu trên diễn đàn Phong Thủy Lạc Việt lyhocdongphuong.org.vn . Cháu có tìm một số loại tên liên quan đến năm Kỷ Sửu trong bộ tên Điền- Thảo- Hòa. Nhưng cháu rất quan tâm đến ngũ cách và vận mệnh mà cháu đặt cho con. Cái tên này sẽ mang suốt đời người của bé. Xin nhờ bác Phúc Anh bỏ chút ít thời gian phân tích dùm cháu vài tên mà cháu chọn được. 1. Lê Thanh Tú. 2. lê Thanh Phong. 3. Lê Minh Thái. 4. Lê Dương Lân. Chân thành cám ơn Bác Phúc Anh rất nhiều. Chúc bác nhiều sức khỏe vạn sự anh lành.. Kính gửi. Lê Bá Trung
-
Địa Lý Phong Thủy Năm Mậu Tí Theo phái Huyền Không Những năm gần đây, Cổ Dịch Huyền Không bỗng rộ phát tại Việt nam, các nhà xuất bản quốc doanh liên tục cho phát hành khá nhiều sách dịch thuật. Sách nào cũng cho là được dịch từ nguyên tác của chánh phái cổ học Huyền Không. Người đọc không thể nào phân biệt đâu thật, đâu giả. Đọc kỷ vài cuốn, học thuộc đường đi chính xác 81 bộ vị Lường Thiên Xích mà các nhà Huyền Không Học rất coi trọng, rồi hãy cầm La bàn đo thử, mới thấy thực tế không đơn giản như các con tính vạch vẽ trên giấy. Độ lệch La Bàn, độ lệch Từ Thiên và độ lệch Từ Trường đã vượt xa ra khỏi ngoài phạm vi của các đường vạch phân ô quy định Vì vậy, độ chính xác chắc chắn sẽ thấp và các con số thịnh suy, quyết định thành bại, được thua sẽ trở thành như con dao hai lưỡi. Các nhà Huyền Không học cho rằng : Nó là khí vô hình, không thể thấy bằng mắt, rờ bằng tay, nhưng có thể dựa vào thời tiết mà biết được đường đi cụ thể, có con số để làm căn cứ, có thành bại sinh diệt, mừng giận, lo buồn, điều đó được kiểm chứng trong thiên biến vạn hóa của sự vật. Nó trở thành khoa học lưu truyền lâu đời của phương Đông, không thể nghi ngờ, không thể bị xóa mất mà được đánh giá rất cao. Thật vậy, mỗi con số là mỗi SAO vận hành ngược xuôi từng năm, đều phải đi vào đúng phương vị do quỹ tích quy định bởi Lường Thiên Xích, hình thành nên Tinh bàn. Nhờ vậy xưa nay thiên hạ hàng năm mới có căn cứ, luận biết các phương hướng xấu tốt để quyết định đến đi, dời hay ở. Các nhà Dịch học cũng đã phối quẻ Dịch với các con số vận hành này, để dự toán phương nào bị kiếp nạn, phương nào thì bình an. Ngay cả bản Phi Tinh tính sẳn cho nam nữ các tuổi, mà khoa Bát Trạch, cũng như Dương Trạch Tam yếu hay Địa Lý Ngũ quyết sử dụng để phân loại Mệnh Đông hay Mệnh Tây cũng đều phải dựa vào quỹ tích vận hành của các sao này. Thế nhưng, khi áp dụng Huyền Không cổ học để tính cho từng nhà, cho dù không lý đến các độ Lệch khách quan, người đo cũng khó xác định chính xác được Sơn và Hướng. Vì vậy, bài này chỉ viết riêng cho các ngôi nhà đã có thể xác định được rõ Hướng và Sơn. Mong sao năm mới 2008, Mậu Tí, thuộc Vận 8 Hạ Nguyên này, tất cả được an khang và thịnh vượng. 1/ Nhà hướng Chính Bắc ( Thiên Nguyên Long - Sơn Ngọ Hướng Tí ) Phối tinh Vận 8, Huyền Không cổ học cho rằng, Vận này ( 2004 - 2023 ) nhà nào có hướng chính Bắc, quẻ hướng bị khắc xuất cho nên làm ăn, tiền bạc khó khăn. May mà quẻ Sơn ngang hòa cho nên sức khỏe người trong gia đình vẫn được bình an vô sự. Riêng Mậu tí ( 2008), so với các năm trước, tiền bạc tương đối khả quan hơn. Công ăn việc làm thuận lợi, gia đình sẽ được vui vẽ nhờ sao Cửu tử đến phương Khảm. Đề nghị : Những nhà có hướng Chính Bắc, mặc dù Vận 8 Hạ Nguyên này không tốt, nhưng riêng Mậu tí lại khá, cho nên năm nay không được sửa chữa, cải tạo lại nhà cửa, chờ hết năm hẳn hay. 2/ Nhà hướng Chính Nam ( Thiên Nguyên Long - Sơn Tí Hướng Ngọ ) Ngược với Sơn Ngọ hướng Tí, nhà hướng Chính Nam có quẻ hướng ngang hòa cho nên vận 8 ( 2004 - 2023 ) làm ăn khá giả. Duy quẻ Sơn bị khắc xuất cho nên hung, người trong nhà hay đau yếu. Năm nay Mậu Tí ( 2008 ): Sao Bát Bạch đương Vận đến hướng, cho nên tiền bạc sẽ dồi dào. Công việc làm ăn trong năm sẽ có nhiều thuận lợi. Tại Sơn hướng, sao Cửu Tử sinh khí đầy tràn đến Khảm cung, năm nay người trong nhà sẽ bình an, sức khỏe tốt, cho dù tính nguyên Vận thì xấu Đề nghị : Những nhà có hướng Chính Nam năm nay làm ăn khá giả. Trong năm Mậu Tí, nhà cửa không nên sữa chửa, cải tạo. 3/ Nhà hướng Chính Tây ( Thiên Nguyên Long - Sơn Mão Hướng Dậụ ) Mặc dù vận 8 Hạ Nguyên ( 2004 - 2023 ) Nhất Bạch hướng tinh nhập giữa : phạm hạ thủy, thế nhưng hai quẻ Sơn và hướng ngang hòa, cho nên vận này những căn nhà có hướng này đều được tốt. Riêng năm Mậu Tí 2008, Nhị hắc đến Chấn cung, tạo thành quẻ Tam ban liền số tại Sơn, chắc chắn người trong gia đình năm nay sẽ được an lành. Chỉ hơi ngại sao Lục Bạch hành Kim đến Dậu hướng cũng hành Kim. Kim gặp Kim thì giàu sang phú quý, lại thêm Sơn và hướng tinh đều Bát bạch hành Thổ. Thổ Kim tương sinh Kim vượng càng thêm vượng. Cái gì hễ thái quá thì cũng phải nên dè. Đề nghị : Góc Tây Bắc, bên Phải của căn nhà, gia chủ nên đặt nơi đây một hồ cá nhỏ hoặc một tranh Thủy Pháp để giãm bớt hành Kim đến từ Càn cung. 4/ Nhà hướng Chính Đông ( Thiên Nguyên Long - Sơn Dậu Hướng Mão ) Sơn Tinh Nhất Bạch nhập giữa bay ngược : Phạm Thượng Sơn May quẻ Sơn và hướng đều ngang hòa Tốt, cho nên vận 8 ( 2004 - 2023 ) những căn nhà có hướng này đều được tốt. Năm Mậu Tí ( 2008 ) nhà hướng này làm ăn sẽ khá hơn các năm trước nhờ sao Nhị Hắc đến cùng Sơn Tam, Hướng Tứ tạo thành quẻ Tam ban liền số, nghĩa là tốt càng thêm tốt. Đặc biệt các tuổi : Nam : Nhâm Tuất, Tân Mùi, Canh Thìn, Kỷ Sửu, Mậu Tuất, Đinh Mùi, Bính Thìn, Ất Sửu. Nữ : Mậu Thìn, Đinh Sửu, Bính Tuất, Ất Mùi, Giáp Thìn, Quý Sửu, Nhâm Tuất, và những người ngủ đầu quay về phía sau nhà thì thường 4 năm, 4 tháng hay 9 năm,9 tháng có chuyện không may vì ảnh hưởng của Phục Ngâm. Nếu tìm không ra người khá biết về Phục ngâm để giãi trừ thì nên mau dọn ra khỏi những căn nhà có hướng này vậy. Đề nghị : Năm nay những nhà hướng này tốt không nên sửa chữa hay xây dựng gì thêm. 5/ Nhà hướng Đông Nam ( Thiên nguyên long - Sơn Càn Hướng Tốn ) Xưa nay ông bà ta thường khuyên nên chọn nhà hướng Đông Nam mà ở. Thế nhưng theo phái Huyền Không cổ học, những căn nhà hướng này bước vào vận 8 Hạ Nguyên, dù Hướng và Sơn đều Vượng, nhưng vì quẻ Sơn và quẻ Hướng đều bị sinh xuất nên đành phải chịu Hung ! Qua năm Mậu Tí sao Tam Bích đến Hướng và Ngũ Hoàng đến Sơn thì Vận khí tráo trở, suốt năm sẽ không yên. Đề nghị : Đặt 1 hồ cá cảnh hoặc treo 1 bức Thủy Mạc ngay phần sau của căn nhà, càng giữa càng tốt. 6/ Nhà hướng Tây Bắc ( Thiên nguyên long - Sơn Tốn Hướng Càn ) Luận y như Sơn Càn hướng Tốn của Vận 8 Hạ Nguyên Mặc dù Vượng Sơn Vượng Hướng, nhưng vì quẻ Sơn quẻ Hướng đều hung, cho nên qua năm Mậu Tí 2008 nên đặt 1 hồ cá cảnh hoặc treo 1 bức tranh Thủy Mạc ngay cạnh cửa ra vào. Đặc biệt các tuổi : Nam Nữ Giáp Tuất- Quý Mùi, Nhâm Thìn, Tân Sửu, Canh Tuất, Kỷ Mùi, Mậu Thìn : mấy năm nay làm ăn không ra, gia đình lục đục thì nên tìm nhà hướng khác mà ở, vì những tuổi này không hạp với hướng nhà Tây Bắc. 7/ Nhà hướng Tây Nam ( Thiên nguyên long - Sơn Cấn Hướng Khôn ) Theo Huyền Không cổ học, những nhà hướng này mặc dù bị Phạm Thượng sơn hạ thủy, nhưng bước qua vận 8 ( 2004 2023) quẻ sơn và quẻ hướng đều tốt cho nên gia đình bình an vô sự. Qua năm Mậu Tí 2008 sao Nhất Bach đến Khôn, người nữ trong nhà dễ bị bệnh về đường tiêu hóa, bù lại năm nay lại dễ ù phát tài. 8/ Nhà hướng Đông Bắc ( Thiên Nguyên Long - Sơn Khôn Hướng Cấn ) Đây là hướng Nguyên Vận Nhà hướng này Tốt từ 2004 cho đến hết năm 2023 Năm nay Mậu Tí 2008 Thất Xích tới Cấn thêm tiền thêm của, tốt càng thêm Tốt. Đề nghị :Chủ nhân những căn nhà hướng này, những năm vừa qua làm ăn khấm khá, nhớ phải thường giúp người nghèo, kẻ khó, tạo thêm đức thì tiền mới giữ được dài lâu. Năm nay nhớ đừng nên sửa chữa hay cải tạo gì thêm. Phái Huyền Không cổ học dạy nếu thấy kim la bàn chỉ trùng lên vạch chia ô thành 24 quẻ Sơn, Hướng thì gọi là Tuyến bất khả lập. Trong đó, phân ra Đại không Vong, Tiểu Không Vong hay còn gọi bị phạm vào Ngũ hành lẫn lộn mà khoa Dương Trạch tam yếu gọi chung là bị Hỗn Hướng. Chỉ cần ít kinh nghiệm thực tế khi áp dụng Dương Trạch tam yếu, Bát Trạch Minh Cảnh hay Bát Trạch chính tông cũng biết mới phân nhà thành 8 loại mà đã gặp nhiều Hỗn Hướng rồi. Chứ nếu phân thành 24 thì chắc nhà nào cũng đều phải bị hung sát, gia đình nào cũng bất ổn, hao tổn tiền tài vì sẽ bị rơi hết vào Không Vong hay Tuyến bất khả lập nghĩa là sẽ không có căn nhà nào ở được cả ! Người xưa thường nói : Thiên Địa Nhân. Như vậy, rõ ràng thành bại, được mất trong một thời đoạn hay ngay cả đời người thì Phong Thủy Địa Lý trú xứ là phần Địa, chiếm chỉ một phần ba. Năm Mậu Tí thật ra không phải là năm tốt lành là vì ngay cả Thiên Can, Địa chi cũng đã tự khắc chế nhau. Coi như yếu tố Thiên thời đã mất thì hai yếu tố còn lại Địa lợi với Nhân Hòa sẽ là 2 yếu tố quyết định thành bại trong năm 2008. Vì vậy cho dù gặp phải căn nhà thuộc Tuyến bất khả lập hay bị Không Vong theo phái Huyền Không cổ học hoặc bị Hỗn Hướng theo phái Dương Trạch đi nữa thì ít ra cũng vẫn còn yếu tố Nhân Hòa. Mời quý vị đo lại hướng nhà mình đương ngụ, cho dù có xấu cũng đã có cách để chữa. Nếu yếu tố Nhân Hòa đã có, thì năm Mậu tí 2008 chắc chắn sẽ là năm tốt lành ! Nguồn : Blog Bằng Hữu
-
Vụ mất tích kỳ lạ ở đèo Lang Biang
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cám ơn bài viết của Thiên Huy rất nhiều,đến bây giờ giữa khoa học và Tâm linh chưa bên nào thắng bên nào nó có rất nhiều mặt khác nhau chưa bên nào giải thích triệt để được. Những bài viết trên chỉ mang tính tham khảo giải trí trong những thời gian rảnh. Thành thật cám ơn Thiên Huy đã góp ý cho topic này . Lê Bá Trung. -
Vụ mất tích kỳ lạ ở đèo Lang Biang
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cám ơn Thiên Huy đã cho mọi người một kinh nghiệm quí bái. Chúc sức khỏe vạn sự an lành. -
Theo lời các ông già bà cả kể lại thì tại một thành phố nhỏ ở miền Trung có một nghĩa trang cổ, nơi nhiều thanh niên thiếu nữ đã bị một con ma “hớp hồn” sau mỗi đám tang. Chữ “hớp hồn” mà các cụ xử dụng thực ra là việc các thanh niên thiếu nữ nạn nhân bị một hồn ma hiện thành người khác phái dụ dỗ, hẹn hò đưa tới cái chết. Tuy nhiên, có lẽ đó là chữ đúng nhất để mô tả những trường hợp... hớp hồn của con ma này, nếu quí vị theo dõi câu chuyện dưới đây. Người ta không rõ con ma này là ma đực hay ma cái vì đối với các thiếu nữ, nó hiện thành một thanh niên mặt mày khôi ngô tuấn tú, nói năng từ tốn ngọt ngào, hai điều kiện ắt và đủ để thu phục con tim của các nàng. Đối với các chàng trai, nó lại biến thành một thiếu nữ với mái tóc dài tha thướt, với đôi mắt lá răm, với đôi môi chín mọng, với khuôn mặt yêu kiều. Đi kèm với những yếu tố chết người này, nó còn có một giọng nói êm như nhung, mềm như lụa, ngọt như đường cát mát như đường phèn khiến các chàng chỉ nghe không thôi là hồn vía đã lên mây. Sau đây là trường hợp một thanh niên bị ma “hớp hồn” theo lời kể lại của cụ Nguyễn Văn M. Thanh niên này, sau khi tới dự đám tang của người bạn gái, dù đã được vị linh mục cảnh cáo, một việc làm thường lệ của tất cả các linh mục sau mỗi đám táng, sau khi mọi người đã ra về hết, đã ở lại nghĩa trang, ngồi bên mộ người yêu cả tiếng đồng hồ trước khi đứng dậy đi thơ thẩn giữa những ngôi mộ. Đột nhiên chàng trai thấy một thiếu nữ duyên dáng từ phía xa tiến lại. Tuy con tim chàng thanh niên còn đang thổn thức trước cái chết của người yêu, đột nhiên nó như chùng xuống trước vẻ đẹp dịu dàng của thiếu nữ. Khi còn cách chàng trai chừng vài thước, cô gái e lệ cúi đầu chào, miệng nở nụ cười tươi như hoa khiến chàng trai hồn xiêu phách lạc, quên cả những lời cảnh cáo của vị linh mục. Không bỏ lỡ cơ hội ngàn năm một thuở, chàng lên tiếng làm quen: - Cô vừa dự đám táng của Thủy phải không? - Dạ không, em đến thăm mộ một người thân. Thủy là ai? Khi được biết Thủy là bạn gái của chàng trai, thiếu nữ lạ mặt bèn ngỏ lời an ủi và nói rằng chắc chắn bây giờ người quá cố cảm thấy hạnh phúc hơn khi còn sống, đồng thời khuyên nhủ chàng trai đừng buồn vì đời còn dài, thế nào chàng cũng tìm được một người bạn gái khác. Trước những lời an ủi ngọt ngào của cô gái, chàng thanh niên cảm thấy ấm lòng và câu chuyện giữa hai người nổ như pháo Tết. Rồi cả hai ngồi xuống bên nhau trên một hàng rào thấp bằng gạch và chàng trai mỗi lúc một say sưa trước khuôn mặt tươi mát và giọng nói êm như ru của cô gái. Trong đời chàng, ngay cả trong những giấc mơ, chưa bao giờ chàng được thấy một cô gái nào xinh đẹp và quyến rũ như vậy. Mê mẩn vì những gì đang được hưởng, chàng trai không hề nghĩ tới việc hỏi thăm lý lịch của nàng. Đến khi không còn dằn được cơn sóng lòng, chàng trai bạo dạn nắm tay cô gái tỏ tình. Thoạt tiên cô gái còn tỏ vẻ rụt rè e lệ, nhưng rồi cũng ngập ngừng đáp lại những nhịp đập cuồng nhiệt trong tim của chàng trai và hẹn gặp lại chàng cũng tại nơi này bốn tuần sau đó. Chàng trai nhất định đòi gặp cô gái sớm hơn nhưng nàng không chịu và cương quyết đòi chàng phải hứa sẽ trở lại gặp nàng đúng bốn tuần sau. Khi chàng trai ưng thuận, cô gái mỉm cười rồi bất chợt ôm lấy chàng trai, đặt nhẹ đôi môi chín mọng lên môi chàng. Chàng trai ngây ngất ôm chặt người đẹp trong tay, đôi mắt lim dim thụ hưởng giây phút thần tiên... Nhưng đột nhiên chàng thấy đôi tay mình như ôm vào khoảng không... Chàng vội vã mở bừng đôi mắt và... người đẹp đã biến mất như một... hồn ma! Tới lúc đó chàng trai mới bừng tỉnh, nhớ lại câu chuyện mà các ông già bà cả kể lại, nhớ lại lời cảnh cáo của vị linh mục, và hoảng hốt nhận ra rằng người đẹp mà chàng vừa hẹn hò, ôm ấp có thể chính là con ma chuyên hớp hồn người. Hồn vía lên mây, chân tay rụng rời, chàng thanh niên gắng gượng lê gót về nhà thuật lại những gì vừa xẩy ra cho cha mẹ. Cha mẹ cậu vội vã chạy tới nhà thờ năn nỉ vị linh mục tới làm phép để cứu cậu. Nhưng vô ích! Những lời cầu nguyện không cứu mạng được chàng trai! Sự kinh hoàng đã khiến chàng nằm liệt giường, và bốn tuần sau, đúng ngày hẹn với cô gái, chàng thanh niên đã giữ lời hứa, trở lại nghĩa trang... trong chiếc quan tài! KissFromRose 06-09-2005, 07:42 AM Điều đáng nói là con ma này không phải chỉ hiện lên hớp hồn người tại nghĩa trang mà còn xuất hiện cả trong những buổi họp mặt, đám cưới, tiệc tùng, khiêu vũ và không bao giờ thất bại trong việc thu hút nạn nhân. Nó luôn luôn nhận được lời hứa và luôn luôn ghi nhận bằng một nụ hôn lên môi kẻ xấu số trước khi biến mất. Bị ám ảnh bởi những câu chuyện như trên, nhà văn Không quân N.Đ.T. đã tới thăm ngôi nghiã trang cổ kể trên. Sau đó ông thuật lại: - Tôi được đưa tới thăm mộ một thanh niên mới mười tám tuổi, người đã hò hẹn với con ma khoảng bốn tháng trước đó. Điều đáng nói là ngày thanh niên này gặp con ma chỉ chưa đầy mười tuần lễ sau khi một thanh niên khác cũng gặp con ma tại nghiã trang này, cũng cùng ma hò hẹn và cũng được tặng nụ hôn... hớp hồn! Trở về nhà, thanh niên này lên cơn mê sảng, rồi nằm liệt giường liệt chiếu trước khi trở lại nghĩa trang trong một cỗ quan tài đúng bốn tuần lễ sau ngày hò hẹn với hồn ma. Điều đáng ghi nhận là theo lời bạn bè của cả hai nạn nhân, chi tiết hai cuộc gặp gỡ của cả hai với con ma đều giống nhau như hệt. Sau hai cái chết sau cùng này, kể từ đó, sau mỗi đám táng, người gác nghĩa trang đều đi kiểm soát thật kỹ lưỡng toàn thể khu mộ địa, và hễ thấy thanh niên thiếu nữ nào còn lảng vảng một mình vì bất cứ lý do gì, ông yêu cầu họ phải lập tức rời khỏi nghĩa trang, rồi theo chân họ ra tận cổng trước khi... khoá cổng. Có lẽ nhờ thế mà trong một thời gian khá lâu không còn ai bị ma hớp hồn trong nghiã trang này nữa. Có điều người ta không rõ là trong số các thanh niên thiếu nữ bị người gác nghĩa trang đưa ra khỏi cổng, có người nào chính là hồn ma giả dạng thường dân hay không. Và cũng từ dạo đó, các thanh niên thiếu nữ tại thành phố này đã hết sức thận trọng trong việc giao dịch với người lạ mặt khác phái trong những buổi họp mặt. Dù cảm thấy con tim rung động, họ cũng tự kiềm chế, tránh hành động hớp... hơi nhau. Thay vào đó, họ đã làm công việc cổ điển nhưng chắc ăn hơn là xin địa chỉ để tới thăm nhau, dĩ nhiên không phải trong thời hạn bốn tuần. Những năm sau đó, những vụ bị ma hớp hồn đã không còn xẩy ra tại thành phố này nữa, có lẽ vì con ma hết mối nên đã tìm đi nơi khác làm ăn. Dù sao thì... cẩn tắc vô ưu, kẻ viết bài này đề nghị quí độc giả nên dặn dò con cái - hoặc chính quí vị - khi gặp người khác phái mà cảm thấy con tim nhảy loạn cào cào, nhảy vô trật tự thì cũng đừng túm vội lấy người ta, đè cổ ra mà làm cái việc... hớp hồn, vì trên cõi đời ô trọc này, lũ ma quỉ thường sống lẫn với loài người, và nếu vô phúc gặp phải con ma chuyên hớp hồn thứ thiệt ở trên là bỏ mạng chốn sa trường ngay lập tức! Cũng tại thành phố này, sau khi những câu chuyện về con ma chuyên hớp hồn vừa tạm lắng xuống thì thiên hạ lại bàn tán về một bệnh viện nổi tiếng vì bị ma ám, nhất là sau vụ một bệnh nhân tên là T.V.Bằng được đưa vào đây. Anh Bằng, sau một tai nạn xe cộ đã được đưa tới bệnh viện điều trị tại khu D. Đêm thứ ba ở đây, trong lúc nửa mơ nửa tỉnh, anh thấy hai nhân viên y tá đẩy một cái giường có bánh xe vào phòng. Người y tá lớn tuổi hơn chích vào vai anh một mũi thuốc trước khi hai người lăn anh qua cái giường có bánh xe và đẩy anh vào một căn phòng - mà anh nghĩ là phòng giải phẫu - nơi có hai bác sĩ đội mũ trắng, mặc áo choàng trắng, mặt che kín mít. Một trong hai người cúi xuống quan sát anh. Bằng có cảm giác đó là một người đàn ông râu rậm, đôi mắt như đầy lửa hận thù, đang toan tính làm một việc gì đó. Đột nhiên anh thấy mình cất tiếng hỏi: - Sao bác sĩ chưa khởi sự? Một giọng nói đáp lại: - Yên chí. Anh Bằng chợt cảm thấy ngực anh đau khủng khiếp như bị cắt bởi một lưỡi dao. Anh cất tiếng xin một cái gì giúp anh dịu bớt cơn đau. Một nữ y tá cho anh một viên thuốc. Anh hỏi xin thêm một viên nữa nhưng cô ta lắc đầu: - Tôi không thể cho ông thêm nữa. Bằng rên rỉ: - Trời đất ơi! Đau quá chịu không nổi! Người y tá nói: - Ông hãy kiên nhẫn vì ông sẽ được đánh thuốc mê ngay bây giờ. Cô y tá vừa dứt lời thì người đàn ông thứ hai bước tới, chụp một cái gì lên mũi Bằng trước khi cất tiếng cười ằng ặc trong cổ họng nghe thật ghê rợn. Rồi tiếng cười có vẻ xa lần trước khi tan biến. Đầu óc Bằng dần dần tỉnh táo. Anh nhận ra những gì xung quanh: Anh vẫn nằm yên ở chỗ cũ trong khu D! Cơn đau tuy đã hết nhưng anh vẫn nhớ thật rõ cái cảm giác đau đớn đó. Sau đó, khi được đưa qua khu khác, Bằng thuật lại những gì xẩy ra cho anh cho một cô y tá. Cô hỏi: - Việc đó xẩy ra ở khu D phải không? - Dạ đúng. - Tôi đoán như vậy. Khi Bằng hỏi tại sao, cô không chịu nói. Mãi tới sau khi rời khỏi bệnh viện Bằng mới biết khu D của bệnh viện này bị ma ám. Anh khám phá ra rằng khoảng mười hai năm về trước, tại đây có một bác sĩ tên là Mạch và một chuyên viên đánh thuốc mê tên là Tân. Hai người từng là đôi bạn chí thân nhưng khi cả hai cùng phải lòng một cô y tá trẻ đẹp, duyên dáng tên là Lan Anh thì hai người đột nhiên trở thành hai kẻ thù không đội trời chung và nhất định không chịu làm việc chung với nhau nữa. Cô y tá Lan Anh tuy có cảm tình với cả hai người, nhưng đối với cô, chức vụ bác sĩ nặng ký hơn chức vụ chuyên viên đánh thuốc mê nên lần lần Mạch có vẻ chiếm ưu thế. Một hôm bác sĩ Mạch bị xe đụng bị thương trầm trọng. Ông được đưa vào khu D. Một cuộc giải phẫu khẩn cấp được thực hiện và Tân là người phụ trách việc đánh thuốc mê. Trong khi tình địch hoàn toàn nằm dưới quyền sinh sát, vì bị tình yêu làm cho mù quáng, Tân đã cố tình đánh thuốc mê quá liều khiến Mạch không bao giờ tỉnh dậy. Hậu quả cái chết của Mạch là Tân cưới Lan Anh. Tuy nhiên chỉ mấy ngày sau ngày cưới, Tân đã bị thương trong một tai nạn xe hơi và được đưa vào khu D. Trong khi đang được điều trị, bỗng một đêm Tân đột nhiên gào lên đau đớn trước khi tắt thở. Trong cuộc giảo nghiệm, người ta nhận thấy Tân bị một vết dao thật bén như loại dao giải phẫu cắt đứt động mạch tim. Điều đáng nói là vết thương trong tai nạn xe cộ của Tân không liên hệ gì tới khu vực gần tim hoặc có ảnh hưởng gì tới hoạt động của tim. Thiên hạ đồn rằng Tân đã bị hồn ma của Mạch báo thù, và từ đó, khu D của bệnh viện này khởi sự bị ma ám. Cũng như Bằng, nhiều bệnh nhân nằm tại đây thấy bị đưa sang phòng mổ, và hai người đàn ông mặc áo choàng trắng, đội nón trắng, mặt mũi che kín mít chờ sẵn và làm họ đau đớn. Người ta cho rằng hai người này, hai hồn ma thì đúng hơn, chính là Mạch và Tân, sau khi chết, vì còn quyến luyến nghề nghiệp cũ nên đã quyết định “xoá bỏ hận thù” để trở Nguồn: thegioivohinh.net
-
Có thể câu chuyện tôi kể ra dưới đây, sẽ không làm các bạn ngạc nhiên cho lắm, nhưng đối với tôi, đó là một trong những câu chuyện kinh dị xác thực nhất tôi đã từng nghe. Vì sao ư? Vì đó là sự thực, đó là một hiện tượng xảy ra cho những bạn trẻ hư không biết nghe lời.. Có thể, bạn đã nhiều lần từng đặt chân tới Đà Lạt, nơi đây không chỉ có những cảnh vật đẹp tuyệt vời mà còn có những lời đồn đại về oan hồn ma quỷ - đó chính là những đặc trưng thuộc về Đà Lạt. Tôi sẽ không để các bạn sốt ruột, tôi sẽ đi ngay vào câu chuyện chính sau đây: Thứ sáu vừa rồi, trường mẹ tôi tổ chức đi Đà Lạt dành cho khối 12, coi như đó là một kỉ niệm cuối cấp đáng nhớ cho các học sinh. Tôi thì không đi, vì tôi nghĩ đi với “tụi lóc ***c” chẳng có gì vui, thế là nằm vùi ở nhà. Và tôi đã được nghe diễn biến câu chuyện từ mẹ tôi – Giáo viên cấp III, vì thế, đừng nói là tôi thổi phồng mọi chuyện. Ngày đầu tiên, mọi việc diễn ra suôn sẻ, tụi học sinh đi chơi và ngắm cảnh. Đến ngày thứ hai, trường Tổ chức cho đi leo núi Lang Biang. Học sinh nào lên đỉnh núi đầu tiên sẽ giựt được giải “Chinh phục” của trường trị giá 300.000đ. Ai cũng hăng hái leo cật lực để về đích đầu tiên, và cũng không có ít học sinh ham tiền cố gắng suy nghĩ cách lên nhanh nhất, nhưng cũng chẳng có ai liều bằng 1 cậu học sinh A1, lớp cô Hoàn chủ nhiệm. Cậu ta cũng leo núi bình thường như các bạn, đến gần đích đột nhiên cậu ta nổi hứng rủ các bạn leo lên núi dốcc bằng đường tắt, “Lối này tuy dốc và nhiều đá nhưng chúng mày yân tâm đi, lên đích nhanh lắm”. Thế nhưng, 3 đứa bạn còn lại đi cùng nhóm không ai tán thành. Chàng ta bỏ mặc sự can ngăn của bạn bè và tự tiếp tục “mở lối đi riêng”??! Cậu bé cứng đầu ấy tên là Hà Trung, hiện đang học lớp 12A1. Nói riêng 1 chút, chắc có lẽ bị sự mặc cảm anh trai cậu học hệ B nên cậu có vẻ không thích đi chung với nhóm ( 1 nhóm 3 người, trong đó có anh trai Trung - đứa anh tuy quậy, nhưg có lẽ nó cũng biết nên chỉ biết đi khúm núm sau lưng thằng em). Tách ra riêng rồi…Trung tiếp tục leo mãi theo hướng thẳng đứng, với dốc đá và độ cao khá nguy hiểm. Trong đầu đinh ninh 1 ý nghĩ rất trẻ con, là mình sẽ tới trước nhất. Dĩ nhiên sẽ chẳng có gì đáng nói nếu như Trung đi với 1 người bản xứ thông biết lối đi, đàng này cậu ta muốn tự thân, xunh quanh chẳng có ai đi cùng, tiếng í ới đùa giỡn của các học sinh dần xa tầm tai của Trung, cậu ta cho rằng đó là chuyện bình thường, vì chắc mẩm mình đả leo cao lắm rồi (??!), vì Trung sẽ đi đúng hướng cần đi. Lúc này những ánh nắng đã chiếu rọi, Trung cảm thấy nóng, nóng vì leo núi và cũng nóng vì hừng hực khí thế, cậu ta bỏ chiếc áo lạnh ra và chỉ mặc duy nhất mổi 1 chiếc áo cộc tay. Càng leo, càng mệt và Trung càng thở dốc. Khi cả đoàn đã lên tới đỉnh núi và cũng đã xác định được người thắng cuộc, nhưng winer không phải là Trung. Những đứa bạn vô tư cười khẩy với nhau định bụng sẽ chọc tức Trung 1 trận ra trò khi gặp Trung tại đỉnh núi này, chúng hồn nhiên đâu biết rằng Trung đang dần lạc lối và đang chuẩn bị rơi vào cuôc chiến đấu với tử thần và Rừng thiêng nước độc… Càng leo, Trung càng mệt. Có lẽ, Trung cũng sẽ leo lên được đỉnh Lang Biang đúng hướng, nhưng cũng có lẽ 1 âm lực ma quỷ nào đó đã điều khiển tầm mắt của Trung và bẻ ngoặt hướng đi của Trung qua ngọn đồi bên cạnh. Mà nghe nói rằng ngọn đồi này cây cối chằng chịt và rất âm u ghê rợn, thú dữ luôn chực chờ và những cái bẫy thú nếu dẫm nhầm phải là chết ngay tức khắc (bẩy thú của người dân tộc rất sâu và ngã xuống thì không có đường lên, 2- 3 ngày người ta mới đi thăm bẫy thú 1 lần). Trung mất hồn, trời càng nắng Trung càng cố leo để mong gặp được 1 ai đó quen mặt trong đoàn mình. …. Gần 12 giờ trưa, mọi người chuẩn bị xuống núi để dùng cơm, vẫn chưa thấy Trung đâu. Một số thầy cô đã nghi ngờ và điểm danh có mặt và xác định ngay sự vắng mặt của Trung. Trưa chiều, cả trường sốt ruột, bắt đầu tá hoả vì không thấy Trung. Sẩm tối, cả Đoàn hoảng hồn lên vì Trung lạc ngay núi Lang Biang. Khí hậu đã bắt đầu se lạnh thêm, ánh sáng dần nhường chỗ cho những bóng đèn, cột đèn neon ở ngoài đường. Một kế hoạch truy tìm người bị lạc đã huy động cả Công An toàn Thành phố, mặt các thầy cô lo lắng vì sự mất tích của cậu học trò, còn những đứa con gái thì nhăn mặt rú rít lên vì sợ, còn các đứa con trai xì xầm 1 cách thất thần với nhau cái gì đó. Riêng ba đứa bạn cùng nhóm với Trung bắt đầu run rẩy và xám ngoét, nói gì thì nói, 3 đứa này cũng có 1 phần trách nhiệm trong đó. Mẹ tôi thấy sót cả ruột khi biết được Trung chỉ mặc độc nhất chiếc áo cộc tay, bữa trưa và bữa tối nó cũng chưa ăn gì. Một thày giáo vội tìm đến 1 ngôi làng của người dân tộc bản xứ, đưa tiền cho họ để hỏi thăm tung tích của Trung và các Thầy cô rợn hết cả tóc gáy khi nghe người dân tộc nói: 1 là, chỉ có 5% nó đi lạc, 2 là, 85% nó đã chết bị sẩy chân té vực hoặc thú dữ ăn thịt, 10% còn lại, nó đã bị MA GIẤU- không thể nào tìm được. … Càng leo, Trung càng kiệt sức, vừa đói lại vừa lạnh, Trung tủi thân rất nhiều. Chỉ mới 7g mà trong rừng tối đen như mực, Trung cố sức kêu gọi khản cổ mà đáp lại chỉ là tiếng vọng của núi rừng. Xung quanh Trung bây giờ chỉ còn tiếng cú, tiếng côn trùng kêu và tiếng Trung đi đạp lên lá khô loạt xoạt. Đột nhiên Trung cảm thấy ớn lạnh, Trung ngồi xuống 1 đám lá nghỉ mệt 1 chút rồi lại mò lối để đi tiếp.. ..9g tối, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống khu rừng làm cho cây cối mang những hình thù quái dị và ghê rợn, Trung bắt đầu tự nhát mình, Trung nhìn cây nào cũng tưởng như nó đang nhìn lại Trung, cười khanh khách và hươ tay vẫy Trung. Cũng trong thời gian này, cả Trường vẫn đang náo loạn, các thầy cô, CA và cả người dân tộc đang bủa vào rừng tìm cậu ta. Mọi người cũng có những suy nghĩ tiêu cực nhưng không dám nói (nếu Trung chết thì cũng phải tìm bằng được xác cậu ta mới về TP). Cô Hoàn chủ nhiệm lớp Trung rất tội, cô lo cho cậu học sinh của mình, cô bỏ ăn, bỏ nghỉ ngơi, trên tay thường trực chiếc di động, cũng không thể nào nhớ được hôm đó cô đã gọi đi bao nhiêu cuôc điện thoại. Cô đã khóc rất nhiều, người tiều tuỵ hẳn đi.. Một số thầy cô được giao ở lại trông nom và trấn an lũ học sinh, số còn lại cùng CA và người thiểu số leo tiếp lên núi để tìm Trung trong những ngọn đèn pin leo lét. Rừng về đêm thật khủng khiếp, nó âm u và nó đáng sợ, cộng thêm cái lạnh trên dưới 5 độ C làm cho mọi người đều sởn gai ốc. Những người dân tộc sống ở vùng núi rất hay, họ có thể nhìn trên những đám lá khô mà thấy được có dấu chân người hay dấu chân thú đi qua lối nào. Vì thế họ đã nhìn và khẳng định Trung leo hẳn sang ngọn đồi bên kia (đứng trên đỉnh Lang Biang có thể nhìn thấy). Cả đoàn người lại hới hải chạy đi tìm Trung, tiếng nói chuyện, tiếng gọi vang cả khu rừng, nhưng.. vẫn không nghe thấy tiếng trả lời dù là lời thều thào nhỏ nhất. Riêng cô Nga tổ Văn ráng sức đâm thẳng qua đỉnh ngọn đồi ấy, nhưng không hiểu sao cô không thể nào đi tiếp được, dưới những đám lá chi chít đầy những gai và hố. Vì thế không hiểu bằng cách nào Trung vẫn băng qua được những đám hố gai này và hướng thẳng lên đỉnh núi (theo dấu chân cậu ta đã để lại). Cả Đoàn không đi tiếp được nữa đành ở vị trí đó mà ráng sức gọi…hơn 11g đêm , mọi chuyện vẫn chưa đâu vào đâu, vẫn rối tinh rối mù. Về phần Trung, sau khi nghỉ mệt và cố gằng lết đi tiếp, Trung quá đuối sức rồi. Trời quá tối Trung mò mẫm đi mà không xác định được phương hướng, Trung kéo lê từng bước mệt nhọc. Trung đã từng nghĩ đến cái chết và hình ảnh thân thuơng đầu tiên hiện lên trong tâm trí cậu là mẹ mình và toàn bộ gia đình, Trung thấy hối hận, thấy sợ hãi và hoảng loạn.. Trung đã khóc rất nhiều và ngất đi không còn biết gì nữa.. ..Tỉnh dậy, trăng đã lên đỉnh đầu. Hàm răng run lập cập vì quá lạnh, mặt mũi Trung tái mét, lờ đờ, hốc hác, không hơn được 1 người bị bỏ đói lâu ngày. Trung cố gắng lê thêm mấy bước, dưới ánh trăng lờ mờ cậu ta thấy 1 chấm tròn màu trắng ở xa xa.. Mất ý thức, Trung vội vã leo ngay lên đó, không cần biết nó là cái gì và nó ra sao, mặc kệ cho đôi môi tím tái vì lạnh cùng với đôi chân đầy những vết trầy xước tứa máu.. ..Trung thấy như in trong mắt cậu ta là một ngôi miếu nhỏ, Trung thấy trong ngôi miếu này có chăn, có chiếu, có gối – như là có ai đã sắp đặt đề “chờ đón” Trung vậy. Nhưng cái lạ là ở chỗ, trước thềm tam cấp có treo một tấm bảng loè loẹt nét chữ màu đỏ: “CẤM VÀO, NẾU KHÔNG SẼ BỊ BẮN CHẾT”, nét chữ xiên xiên vẹo vẹo cùng với màu sơn đó khiến Trung có cảm tưởng như ai đó lấy máu quết bằng ngón tay mà thành tấm bảng này vậy. Trung thấy lành lạnh sau gáy, cậu bước thụt lùi, chỉ dám đứng ngó cái chiếu có bày sẵn chăn mền ngay ở cửa miếu dưới ánh trăng ma quái. Được 1 lúc thật lâu, với cái rét căm căm và những đốm sáng lập loè của mắt thú rừng xa xa, Trung đánh liều chui vào đại để trú qua đêm nay. Trung đói bụng quá, lại vừa mệt, định bụng sẽ ngủ nhưng không hiểu sao chăn chiếu lúc nãy biến đâu mất hết? Trung ảo giác ư, chắc chắn không phải, Trung không mệt đến độ không nhìn được vật ngay sát mắt? Ma ư? Không, lại càng không, Trung vốn là người theo Đạo Thiên chúa, Trung không tin vào mấy chuyện ma miếc gì vớ vẩn ở đây cả. Thây kệ, Trung ngả lưng và co quắp để cố chống trọi với cái lạnh. Trung bắt đầu thiếp đi, là chiếc đồng hồ đeo trên tay Trung chỉ đúng… 12g đêm! …Cả đoàn người đêm ấy bị một phen mất ngủ, một số người hồi hộp lẩm bẩm cầu nguyện điều gì đó. Ai cũng loé lên suy nghĩ Trung bị té vực, nhưng cũng không ai dám mạnh miệng để nêu lên trường hợp ấy… Những câu trò chuyện, những sự hoạt động của mọi người cũng chỉ để cho có, chỉ để xua đi những ý nghĩ quái quỉ đeo bám, mọi người như vô hồn, thẫn thờ ngồi chờ đợi tin tức của Trung, mong 1 điều gì đó kì lạ có thể xảy ra… … Thiếp đi trong cơn mê, Trung nghe thoang thoảng thất rất nhiều tiếng người í ới gọi cậu, nhưng vì Trung quá mệt và quá đuối rồi, Trung không gượng dậy nổi nữa. Trung cố hết sức nhưng chỉ nghe được những tiếng kêu âm ỉ phát ra từ họng mình – như là có một bàn tay vô hình nào đó chắn ngang trước miệng Trung, cản tiếng gọi của Trung. Ngoài kia, ánh đèn pin rọi qua rọi lại, các thầy cô đi qua lại gần ngay trước mặt Trung, Trung đó thể nhìn thấy bóng họ nhưng tuyệt nhiên họ không nhìn thấy cậu ta. Đoàn người ra về trong sự mệt mỏi, các Thầy không tránh khỏi lo lắng, còn các cô thì mắt trũng lại vì khóc và vì thất vọng. Các thầy cô định bụng rằng về sẽ nghỉ 1 giấc rồi 2-3 tiếng sau (lúc trời sáng) sẽ vào rừng tìm Trung tiếp, về đến nơi, đồng hồ chỉ 2h 30… Trời gần sáng, khu rừng có chút ánh mặt trời thì lại thấy đỡ ghê sợ hẳn. Tiếng lá khô lại loạt xoạt vì những bước chân của mọi người bủa đi tìm. Chợt thầy Long bảo vệ không tin vào mắt mình khi thấy thấp thoáng đằng xa Trung đang từ từ bước xuống, khuôn mặt Trung tái nhợt vì lạnh, hai chân run rẩy không vững. Không chần chừ một giây, thầy bước tới đỡ Trung, quá xúc động, 2 thầy trò ôm nhau khóc ròng, ngay cả những người khác cũng quá vui mừng mà không cầm được nước mắt. Dẫn Trung về Khách sạn, không khí nặng nề bao trùm trên những khuôn mặt lo sợ dần tan biến, mọi người đều thở phào tạ ơn Bề trên đã giúp đỡ. . . Các bạn thấy đấy, cậu bé Trung này thoắt ẩn, rồi lại thoắt hiện, người dân tộc nói đây là hiện tượng “ma đưa lối, quỷ dẫn đường”, nghĩa là ma quỷ chỉ muốn hù con người và cảnh cáo họ khi họ lọt vào địa phận cấm mà không xin phép, chứ không hề làm hại một ai, khoảng vài ngày sau ma quỷ sẽ trả người về địa thế. Ngay cả những người theo đạo Thiên chúa dưới chân núi cho biết: họ vốn không tin vào những chuyện này, nhưng khi sinh sống ở đây, chứng kiến hàng chục trường hợp tương tự ở đây, họ không tin cũng phải tin! Bên cạnh đó, họ còn cho biết thêm là thường thì ma giấu người rất lâu (khoảng >3ngày), nhưng chắc vừa rồi quá đông người tìm kiếm đã đánh động cả khu rừng, vì không muốn phiền đến địa phận thiêng nên ma quỷ đã trả Trung về sớm. Tôi cũng xin nhấn mạnh lại các chi tiết: -Trung leo đúng đường, nhưng không hiểu sao bị bẻ ngoặt hướng sang ngọn đồi bên cạnh. -Trung điềm nhiên băng qua được các bẫy thú dưới đám lá khô, mà cũng là con đường đó thì không ai qua được. -Giữa chốn núi rừng hoang vu lại xuất hiện 1 ngôi miếu ở tút gần đỉnh, ai rảnh đi xây nó? Và để làm gì?vì dưới chân núi đã có miếu rồi? -1 điều lạ nữa trong miếu lại để sẵn chăn mền chờ Trung, để Trung chui vào rồi thì lại biến mất? -1 cậu trai lạc giữa rừng với khí lạnh -2 độ C duy nhất 1 chiếc áo cộc, không ăn không uống vẫn có sức lết xuống núi? Tôi không biết suy nghĩ của bạn thế nào, nhưng riêng tôi thì tôi thấy quá sợ khi kể lại câu chuyện này, và tôi tin: “Ma giấu” là có thực.__________________ Nguồn thegioivohinh.net
-
Nhắc đến Khám Chí Hòa chắc hẳng ai ai cũng biết đến , nói thông thường thì có từ thời Pháp. Tuy nhiên Khám Chí Hòa không chỉ thông thường là một trai giam mà mọi người từng nghĩ mà nó là một Trận đồ triệt để về Âm Dương, Ngũ Hành và theo Kỳ Môn Trận Pháp. Nếu ai đã tìm hiểu về dịch lý, dịch thuật, Tam thức, nếu có cơ hội chứng kiến tận cảnh xây cất, sắp đặt của Khám Chí Hòa, nó là một trận đồ vô cùng màu nhiệm. Kỳ môn Độn Giáp nếu muốn đi đến tuyệt đỉnh của môn học này thì phải có thiên, địa giao lưu. Phải có cái lực trong cõi giới vô hình thì trận đồ mới hoàn toàn phát được cái lực uy vũ, vô cùng tận của nó. trận đồ này được bày ra do một vị thầy rất là cao tay ấn. Những vị thầy như thế này, thật sự không phải lúc nào cũng có thể gặp. Trong trận đồ này đã được 8 cô gái đồng trinh trấn giữ , cho nên, trong Khám Chí Hoà, trên nguyên tắc là những ai mà bị vô “sỗ bì đen” rồi, thì đừng bao giờ mà mong có thể thoát khỏi Khám Chí Hoá. Tuy nhiên, nếu nói theo ngôn ngữ của bên Tiên Gia thì vì ông trời có luôn có đức hiều sanh, cho nên trận đồ Kỳ Môn phải có cửa “Sanh”. Vị thầy này khi sắp đặt trần đồ này, vì phải làm theo tụi sự yêu cầu của Thực Dân Pháp, có thể ông ta biết, mà cũng có thể ông ta không biết cho nên trong 8 vị đồng trinh này, có một vị không còn là gái đồng trinh nửa. Khi trận pháp đã được dàn ra, trên nguyên lý là không có gì có thể thoát ra được trần đồ này, nhưng cũng vì có một ngưới con gái không còn là động trinh nửa, cho nên, Khám Chí Hoá, tuy bị giam nhưng cũng có người có thể thoát ngục được. Nếu có thoát đi chăng nửa, trước sau cũng bị bắt trở về. Trận Bát Quái đồ này rất sát, nếu như có một tù nhân nào chết trong đó thì linh hồn cũng không được siêu thoátlinh hồn của họ phần cũng bị giữ lại, không thể nào thoát được. Vị vậy ở đây, âm khí, lẫn oán khí rất là nặng, và cũng vì lý do này mà Khám Chí Hoà thường hay có Lôi Công, Lôi Mẫu đến thăm viếng luôn. Vì có duyên nên được vào tham quan trong trại vì nhà Trung cũng có người Bác làm trong trại giam ăn ở sinh hoạt ngay trong trại. Trại giam khi đi vào thì rất ngộp ngạt âm khí rất nhiều bao trùm xung quanh trại giam này. Khi vào nhà giam còn thấy một thanh kiếm rất to nghe nói là "Tru Tiên Kiếm" trấn hình như là ngay giữa Trại Giam này, nghe kể lại thanh kiếm này là toàn bộ kiến trúc trong trại này ,mà khi nghe kể lại thì tác dụng của thanh kiếm này dùng để trấn yếm những kẻ cao tay ấn khi bị bắt vào trong trai này, khi bị bắt vào đây mọi công lực sẽ bị mất hết không làm bất cứ thủ đoạn gì trong trại này được, nếu nhìn từ trên vệ tinh chụp hình lại thì quả thật đúng là một trận đồ khổng lồ ngay thành phố. Hình này chụp được từ vệ tinh google map. Lê Bá Trung
-
Dạ em cám ơn anh Phạm Cương nhà em đằng trước hàng rào em sơn màu vàng đậm ah! Nhưng nhà đối diện làm như vậy có ảnh hưởng gì đến nhà em không anh Phạm Cương. cám ơn anh Phạm Cương rất nhiều.Hiện tại em đang treo 1 cái bát quái bằng kim loại hình như bát quái để đỡ cái cột sọt vào nhà em như vậy có được không vậy anh ? Lê Bá Trung
-
Trước khi đọc bài này, bạn phải cân nhắc kỹ. Vì muốn chuyển tải những thông điệp cảnh báo về tai nạn giao thông có hiệu quả, tác giả buộc lòng phải kể những chi tiết tương đối nhạy cảm. Mặc dù có gia giảm mức độ mang tính kinh dị nhưng sẽ ảnh hưởng đối với những người dễ xúc động. Hầu như dọc các tuyến đường bộ, đường trên khắp đất nước, nơi nào cũng có những ngôi miếu nhỏ. Bình thường, ít ai chú ý đến những ngôi miếu nhỏ xíu, cất đơn sơ, nằm khiêm tốn bên vệ đường hoặc bờ sông, mép rạch. Thế nhưng thử hỏi thăm lai lịch những ngôi miếu ấy, khi nghe kể xong, chắc chắc ai cũng phải rùng mình. Ngoại trừ một số tín đồ tôn giáo xây miếu trước cửa nhà đề thờ thổ thần, còn lại, hầu hết những nơi khác, người ta cất miếu để nhang khói cho những người chết oan, chết thảm khốc giữa đường. Vì vậy những ngôi miếu ấy được gọi lả “miếu oan hồn”, “miếu cô hồn” hoặc “miếu vong hồn”. Những cái chết rùng rợn, chết oan giữa đường chiếm số ít là do ngã bệnh, đột quị, số đông còn lại thuộc về tai nạn giao thông. Mà đã chết tại chỗ do tai nạn giao thông thì hiếm có cái chết “hiền”. Chuyện nạn nhân bị phanh thây, tay một nơi, đầu một nẻo đã ám ảnh tâm trí những cư dân sống ven quốc lộ thường xuyên. Có lẽ do chứng kiến và bị ám ảnh những cái chết thảm khốc ấy, người ta thường thấy ma, quỉ. Và khi có người bị ma nhát, quỉ ghẹo, những nơi ấy, người ta lập ngay miếu thờ. Về mặt tâm linh, người ta cho rằng những ngôi miếu ấy sẽ giúp vong hồn người chết sẽ được siêu thoát, không quấy rầy người sống. Về mặt xã hội, những cái miếu ấy xem như “biển báo” cho những người điều khiển xe trên đường biết rằng “nơi đây thường xảy ra tai nạn chết người rùng rợn”. Tại cây số thứ 25, Bàu Cỏ, xã Tân Hung, huyện Tân Châu, Tây Ninh có một ngôi miếu nhỏ. Theo lời người dân nơi đây kể lại, cái chết đầu tiên xảy ra nơi đây vào nằm 1975 là một cô gái. Thời điểm đó, con đường này chưa tráng nhựa, nhà cửa thưa thớt. Đó là con đường của cánh xe “be” tải gỗ đại thụ nặng hàng chục tấn từ rừng già Campuchia về. Hàng đêm từng đoàn xe “be” chạy rung rinh mặt đất cho đến sáng. Để trốn thuế kiểm lâm đặt chốt tại Tân Trung, mỗi đoàn xe chỉ mở đèn chiếc đầu tiên và chiếc cuối cùng. Những chiếc chạy giữa chỉ mở đèn gầm. Một buổi sáng sớm, người dân địa phương rúng động khi phát hiện xác chết của một cô gái nát bấy nằm giữa đường. Có lẽ, tai nạn xảy ra từ lúc nửa đêm và từng chiếc xe nằng hàng chục tấn cứ liên tiếp nghiền xác cô gái cho đến khi phát hiện. Người dân địa phương phải nhặt từng mẩu xương và chút thịt vương vãi lẫn với đất cát để mai táng. Không hiểu vì sao, cái đầu cô gái còn nguyên vẹn nằm lăn lốc trong một vạt cỏ hôi cao quá đầu người. Bẳng một thời gian, đêm nọ, bà Hai là người mẹ chiến sỹ đã từng bám trụ vùng đất cách mạng từ thưở kháng chiến đến lúc đất nước thống nhất, có chuyện cần phải đi ngang qua nơi xảy ra tai nạn vào ban đêm. Bỗng nhiên bà trông thấy một mái tóc đen, dài xõa xuống từ ngọn cây xay xuống đến mặt đường. Bà không thuộc loại yếu bóng vía nên bình tĩnh bước đến gần để xem đó là chuyện gì. Qua ánh sáng nhập nhoạng của ánh trăng non bà trông thấy một cái đầu không có thân hình. Cái đầu mang gương mặt đầy máu đang lơ lửng trên cành cây xay đang nhe răng cười. Bà quét lia ánh đèn bình ac quy soi vào thẳng gương mặt kia. Ngay lập tức gương mặt biến mất. Không tin dị đoan, bà quay trở về nhà báo với Chính quyền Cách mạng Lâm Thời rồi xách súng AR15 huy động mấy đứa con đang là du lích xã ra bao vây khu vực đó. Bà nghĩ một phần tử nào đó đang mượn chuyện ma quỉ nhát bà với mục đích quấy rối trị an. Thế nhưng lùng sục suốt đêm vẫn chẳng thấy dấu vết gì. Ngày hôm sau, chính anh con trai út của bà đi ngang chổ cây xay lại bị “ai đó” nắm tóc giật. Anh ngước nhìn lên và trông thấy những gì hôm qua mẹ anh trông thấy. Một tháng sau, người con rể thứ năm của bà Hai sử dụng chiếc xe hon da 67 đi công việc. Khoảng 12 giờ trưa, anh về đến ngỏ nhưng không quẹo vào mà đâm thẳng vào gốc cây xay chấn thương sọ. Khi người nhà chạy ra sơ cứu, mặc cho mồm, khóe mắt lẫn lỗ tai ứa máu, anh vẫn cố thều thào nói đứt quãng: “Nó ở trên cây xay…”. Chỉ nói có vậy, anh tắt thở. Sau này, rất nhiều người dân đi ngang qua đó vào ban đếm hoặc trưa vắng thỉnh thoảng lại thấy cái đầu có mái tóc dài lơ lửng trên ngọn cây xay. Sự việc được báo cáo về Công an huyện. Lúc đó, ông Sáu M. là trưởng Công an huyện đã ghi nhận sự việc vào sổ tay để đặc biệt quan tâm theo dõi hiện tượng nhưng không có kết luận. Người dân đã tự nguyện đem cây, lá đến gốc cây xay lẳng lặng cất ngôi miểu nhỏ đốt nhang khấn vái, cầu xin cô gái đừng quấy phá để họ yên tâm đi thăm đồng khuya sớm. Từ đó, cái đầu không còn thấy xuất hiện nữa. Cho đến tận bây giờ, khi con đường đã được tráng nhựa khang trang, rộng rãi, thoáng đãng nhưng thỉnh thoảng nơi đó vẫn xảy ra tai nạn giao thông. Ven quốc lộ I A đoạn Bình Thuận có ngôi miếu được người dân cho là thờ Hông Hài Nhi. Cánh tài xế Bắc Nam truyền miệng nhau rằng, đó là ngôi miếu linh thiêng nhất tuyến đường vạn lý này. Và bất cứ tài xế nào đi ngang qua đều phải nhấn còi chào “cậu”. Họ kể rằng, cách nay khoảng 20 năm, mẹ con người ăn xin đi bộ dọc từ miền Trung hướng về Sài Gòn, khi đến đoạn đường này thì quá nửa đêm. Hai mẹ con chui vào sau một tảng đá ngủ chờ sáng đi tiếp. Gần sáng, khi mẹ còn ngủ đứa bé chỉ mới 5 tuổi đi ra đường và bị một chiếc xe tải cán chết. Sáng dậy, bà mẹ vùi tạm xác đứa con sau tảng đá rồi tiếp tục hành trình. Từ đó, cánh tài xế đi đêm ngang đoạn đường này thường trông thấy bất ngờ một đứa bé đứng giữa đường ngay trước mũi xe. Phãn xạ tự nhiên, họ thắng thật gấp thế là xe lật nghiêng. Hầu hết những vụ tai nạn giao thông xảy ra nơi đây, khi tài xế thoát chết đều khẳng định đã lâm vào tình huống y như vậy. Ông Chiêu, cư ngụ ở xã Khánh Hậu, Long An, có thâm niên 40 năm lái xe, nay đã giải nghệ kể, chính ông đã từng “vướng tay lái” một lần tại đoạn miếu “cậu Hồng Hài Nhi”. Lần đó ông chở trái cây từ Tiền Giang ra cửa khẩu Móng Cái. Trên xe ngoài ông còn 1 lái phụ và bà chủ hàng. Xe đang ngon trớn với tốc độ khoảng 80 km/giờ. Chợt lái phụ hét: “Có đứa con nít nhà ai đứng đón xe kìa”. Ông nhìn theo ánh đèn pha dài ra phía trước nhưng chẳng thấy gì cả. Đột nhiên, ngay trước đầu xe khoảng 5 mét, ông chợt thấy một đứa bé trần truồng đứng giữa đường. Bà chủ hàng thét hoảng: “Coi chừng con nít!”. Ông đạp thắng sát sàn xe. Chiếc xe bị thắng đột ngột quay ngang rồi lộn 2 vòng. Giây phút kinh hoàng trôi qua, ông chui ra khỏi chiếc xe bẹp dúm để quan sát xem đứa bé có bị chiếc xe cán trúng không. Không có đứa bé nào cả. Bà chủ lẫn anh phụ xế cũng thoát chết nhưng bị xây xát, máu me đầy người đã cùng ông dùng đèn pin rọi nát mặt đất vẫn không thấy đứa bé nào cả. Qua cánh tài xế dừng xe chia buồn, ông mới hay đoạn đường này có ngôi miếu của “cậu”. Đến sáng, bà chủ hàng kinh sợ bỏ tiền nhờ người xây sửa ngôi miếu bằng cây đã mục thành ngôi miếu xi măng. Từ đó, ông bắt chước cánh tài xế khác, cứ đến đoạn đường này là bóp còi “chào”. Những chuyến hàng đi ngang miếu “cậu” nhằm ngày mùng 1 hoặc 15 âm lịch, ông đều dừng xe đốt nén nhang van vái “cậu” độ trì tay lái. Đoạn đường kinh hoàng thứ hai đối với cánh tài xế Nam Bắc là cung đường cũ qua đèo Hải Vân. Cung đường dài 25 km này có hơn 42 ngôi miếu. Theo anh Dũng, cư dân địa phương cho biết: “Con số 42 là bề nỗi. Nếu tính luôn những ngôi miếu đã mục nát tự hủy thì có hơn 60 cái. Một số miếu không còn tồn tại nhưng người ta vẫn cứ thắp nhang dưới các gốc cây ven đường”. Mỗi ngôi miếu ở đây đều gắn liền đến “sự tích” của ít nhất 10 vụ tai nạn giao thông thảm khốc. Ngôi miếu ở cung đường cuối trước đi lên đỉnh đèo là nơi xảy ra vụ đổ xe vận tải hành khách làm chết 50 người vào năm 1998. Chiêc xe chở hành khách từ tp, Hồ Chí Minh đi Hà Nội đang rặn ga bò chậm rãi lên đỉnh đèo. Bất ngờ từ phía ngược chiều, nơi đầu khúc cua, một chiếc xe tải xuất hiện lao nhanh xuống. Chiếc xe tải đã mất thắng. Ông Hải - Tài xế xe khách, cư ngụ ở phường I, quận 8, tp. HCM chỉ còn biết nép xe ven mép thung lũng sâu hun hút nhắm mắt chờ đợi thảm họa. Bị chiếc xe tải lao thẳng vào, chiếc xe khách văng ra khỏi thanh chắn bảo vệ và lao vụt xuống thung lũng. Không ai còn sống, chỉ mỗi người tài xế vướng người vào một nhánh cây nhô ra lưng chừng thung lũng. Người tài xế ôm nhánh cây chịu trận suốt một ngày mới được những người cứu hộ tìm thấy. Người tài xế bị khủng hoảnh tinh thần, suốt ngày lơ ngơ như người đã mất hồn. Hơn 10 năm sau ông mới quên được thảm họa và trở lại bình thường nhưng vẫn chưa đủ can đảm đặt tay vào vô lăng. Vụ tai nạn giao thông thảm khốc của đoàn từ thiện một phường thuộc quận Phú Nhuận đi cứu trợ Nha Trang đã tạo cú sốc đối với dư luận cả nước vài tháng sau đó. Những người chứng kiến vụ tai nạn vẫn cứ bị ám ảnh mãi. Sau này, đoạn đường đó cứ liên tiếp xảy ra những vụ tai nạn chết người. Một số thân nhân của đoàn từ thiện bị tử vong đã thuê thầy cúng đến hiện trường “trục hồn” người chết về tp. Hồ Chí Minh cho con cháu đốt nhang. Chị N.Th. A. – có mặt trong nhóm cúng trục hồn kể, khi đang cúng, đột nhiên một bà đi cùng đột nhiên ngã lăn ra đất, sùi bọt mép, mắt trợn ngược. Sau đó, bà ta ngồi dậy quơ chân múa tay cho biết bà là một trong những vong hồn của đoàn từ thiện bị chết oan đang nhập xác. Thầy cúng đọc kinh, chú liên tục để “mời” vong hồn theo lá phướng về tp. Hồ Chí Minh gần gũi gia đình để được nhang khói. Vong hồn trong xác bà cốt trả lời: “Không về. Ở lại đây.. xô xe vui hơn”. Một số tài xế đường dài còn truyền miệng nhau nhiều chuyện ly kỳ, huyền bí xảy ra ở cung đường đó. Bây giờ, ngay nơi xảy ra tai nạn, một ngôi miếu nhỏ mọc lên nhưng thỉnh thoảng vẫn xảy ra tai nạn giao đến nỗi địa phương phải cắm một biển báo: “Nơi đây thường xảy ra tai nạn giao thông”. Ven đường xuyên Á, từ cầu vượt An Sương đến Củ Chi có 25 cái miếu mọc ven đường. Từ Bình Chánh đến thị xã Tân An, Long An có 16 cái miếu. Miếu ven đường nhiều nhất có lẽ thuộc đoạn đường từ Ngã ba Trung Lươnh đến Vĩnh Long. Cứ vài km là có một ngôi miếu. Khi giải tỏa mở rộng đường một số ngôi miêu đã bị phá bỏ dẹp đi, nhưng sau đó xảy ra liên tiếp những vụ tai nạn giao thong, thế là người ta lại xây mới. Thông thường, một ngôi miếu oan hồn “cất” theo kiểu nhà ngói ba gian có diện tích khoảng 160 cm vuông. Nhưng tại Bến Lức có một ngôi miếu lớn hơn gấp 10 lần ngôi miếu thông thường. Một người dân sống lâu năm gần đó nhẩm tính theo trí nhớ cho biết, từ khoảng năm 1975 trở lại đây có hơn 100 vụ tai nạn giao thông xảy tại nơi đây, trong đó có ít nhất 30 người tử vong. Đặc biệt có vụ tai nạn xảy ra rất thảm khốc. Một người phụ nữ dắt bò đi trên đường. Do con bò thấy xe thường nhảy hoảng, bà ngoáy dây mũi bò vào bàn tay để tránh tuột tay khi bò nhảy. Bất ngờ một chiếc xe tải chạy ngang qua bóp kèn. Con bò hoảng hốt lồng lên chạy băng qua đường. Sợi dây mũi xiết chặt bàn tay người phụ nữ kéo bà ngã xoãi xuống đất rồi lê ra giữa đường vào ngay đầu xe tải. Tài xế bị bất ngờ đã đạp xiết thắng. Bánh xe bị thắng bắt dừng quay nhưng quán tính đẩy toàn thân chiếc xe lao tới. Vì vậy, thân hình người phụ nữ bị bánh xe nghiến dài dưới mặt đường hơn 10 mét. Từ đó, cứ đến đoạn đường này, những tài xế hành nghề lâu năm đều giảm tốc độ, chạy xe hết sức thận trọng và không quên bóp 3 tiếng còi “xin” oan hồn đừng xô tay lái. Tuy vậy, thỉnh thoảng một vài chiếc xe gắn máy vẫn cứ đâm vào nhau. Ngôi miếu này được xem là một trong những ngôi miếu xảy ra nhiều chuyện kỳ bí. Vì vậy, rất nhiều người đến đây cúng vái, cầu xin mua may, bán đắt lẫn xin…số đề. Nhiều người ở nhiều tín ngưỡng khác nhau đến cúng vái, riết rồi ngôi miếu trở thành nơi thờ đủ loại thần như Quan Công, Bà Chúa Ngũ hành, Thổ địa, Thần tài…chứ không còn thờ oan hồn như lúc ban đầu. Dần dà, ngôi miếu này sắp được “nâng cấp” lên thành miểu. CHUYỆN KỂ DỰNG TÓC GÁY Nếu đề cập đến những ngôi miếu oan hồn mà không đề cập đến những câu chuyện huyễn hoặc gắn liền với ngôi miếu, xem như chưa biết gì về miếu. Bởi không có những mẫu chuyện mang tính tâm linh thì chẳng ai cất công xây miếu. Bà Đặng Thị Mười, 70 tuổi, cư ngụ ấp Long Hòa, phường Thới Long, quận Ô Môn, tp. Cần Thơ, kể: “Quốc lộ 91B, đoạn gần Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (thuộc quận Ô Môn) có một cái miếu oan hồn. Nhiều người đã từng bị những oan hồn này trêu ghẹo. Tôi cũng bị một lần”. Rất nhiều ô lão sống tại nơi đây đều xác nhận những câu chuyện kể của bà Mười. Họ cho biết, cách nay khoảng 50 năm, một chiếc xe lam 3 bánh chở khách đi chợ khuya bị vướng trái nổ khiến 14 người trên xe đầu chết tan xác. Trong đó có 2 người phụ nữ mang thai. 1 tuần lễ sau, những người đi bộ ra chợ khuya ngang qua chỗ ấy thường bị ai đó xô té ngã trặc chân. Chính bà Mười trông thấy tận mắt hai lần một người phụ nữ mặc đồ trắng, tóc xõa dài, tay bế một đứa trẻ bay là là trên ngọn gió theo hướng gió thổi. Bà Mười không sợ ma nên đứng quan sát rất lâu cho đến khi bóng ma khuất sau ngọn cây. Bà Thế, cùng chứng kiến vụ việc với bà Mười đã xác nhận: “Tôi vừa trông thấy đã hoảng hốt bỏ chạy thục mạng về nhà. Riêng bà Mười vẫn đứng lại xem”. Người ta đã hùn tiền cất cho 14 oan hồn người lớn và 2 oan hồn sơ sinh một ngôi miếu ven đường, sơ sài để hồn ma không quấy nhiễu nữa. Bẵng một thời gian dài, cách nay 3 năm, một cô gái trẻ chạy xe đạp đến nơi đó bị một chiếc xe tải cán… đứt đầu. Gia đình cô gái nhờ người lên đồng nhập xác. Cô gái nhập xác bà đồng cho biết, có lần cô và đám bạn gái đi ngang miếu, bảo với nhau rằng, chuyện ngôi miếu linh thiêng là chuyện tầm phơ tầm phào. Vì vậy, ma “mẹ bồng con” cư ngụ ngôi miếu bắt cô phải thế chỗ. Cô phải bắt đủ 9 người cà nam lẫn nữ mới được siêu thoát. Không biết chuyện lên đồng là có thật hay mê tín dị đoan, mà vài tháng sau, một cô gái trẻ khác chạy xe đạp đến nơi đó lại bị xe tải cán đứt hai người. Liên tục trong 5 năm, tại nơi này xảy ra hàng chục vụ tai nạn, làm cả chục người bị thương và đã có 8 người tử vong thảm khốc. Ông Lê Th. C., cư ngụ gần ngôi miếu khẳng định: “Còn một mạng người nữa mới đủ số 9. Tôi luôn dặn dò con cháu, khi đi đến đoạn đường đó phải thận trọng hết mức. Nhiều người cho là chuyện dị đoan, mê tín nhưng hầu hết những người sống quanh khu vực này đều tin chuyện đó có thật”. Ông kể thêm rằng, mẹ cô gái bị đứt người làm hai khẳng định, đêm trước tai nạn, cô gái có kể cho bà biết rằng, cô nằm mơ gặp cô gái đứt đầu rủ đi xô xe chơi. Nghe xong gai61c mơ, bà mẹ rầy con gái rằng, đó là chuyện nhảm nhí. Vì vậy, ngay sau khi cô con gái bị tai nạn, bà đã thuê ngay thầy cùng “trục” vong linh nhưng thất bại. Bà Cẩm H., 42 tuổi cư ngụ gần ngôi miếu khẳng định: “Tôi chạy xe trước con nhỏ bị cán đứt hai. Trước khi xảy ra tai nạn vài giây, tôi nghe thoảng trong gió tiếng một người phụ nữ hét: Xô nó té đi! Tôi ngoãnh lại để xem ai nói, nhờ vậy tôi chứng kiến trọn vẹn cảnh tai nạn. Ngay khi đó, tôi mất hồn mất vía, phải xuống xe ngồi xuống vạt cỏ một hồi lâu mới tỉnh hồn”. Ở ngay cung đường này, đã từng xảy ra một vụ tai nạn làm chết tại chỗ 3 học sinh cấp 3 nhưng cách ngôi miếu khoảng 1 km nên người dân không tính tai nạn đó là do các oan hồn ngôi miếu xô đấy. Ba cô cậu học sinh đi học ngoại khóa môn thể dục. Tan học, cả ba gồm 2 cậu một cô, chất nhau lên một chiếc xe dream, chạy thật nhanh. Họ vừa chạy vừa cười giỡn. Họ đâm thẳng vào bánh trái chiếc xe vận tải hành khách chạy ngược chiều từ hướng Cần Thơ về Ngã ba Lộ Tẻ. Chiếc xe dream bị cuốn vào bánh xe vận tải hành khách. Cả ba cô cậu đập mặt vào ca pô xe khách rồi cũng bị cuốn vào bánh xe. Mỗi thi thể bị ném văng xa cách nhau hơn 10 mét. Tất cả đều biến dạng, trông rất gớm ghiếc. Các cơ quan chức năng điều tra đều nhận định chung về các vụ tai nạn xảy ra tại cung đường này: Đường hẹp do mép lề ven song bị sạt lở, các nạn nhân hoặc người gây tai nạn phóng nhanh vượt ẩu, vi phạm lậut giao thông. Để hạn chế tai nạn, một biển báo “đoạn đường thường xảy ra tai nạn” được UB An toàn Giao thông địa phương cắm ven đường. Tuy vậy, thỉnh thoảng, một vài người tham gia giao thông vẫn cứ tạo điều kiện cho ngôi miếu oan hồn có thêm… “uy tín”. Chuyện hồn xô đẩy dẫn đến tai nạn giao thông chết người, có thể là chuyện hoang đường do một số người chứng kiến tai nạn bị ám ảnh. Tuy nhiên, nếu tham gia giao thông đến đoạn đường có cất miếu oan hồn ven đường, bạn cần tin rằng, nơi ấy đã từng xảy ra những vụ tai nạn giao thông thảm khốc. Nếu không tin vào những chuyện huyền bí, hoang đường, bạn cũng nên tin rằng, đoạn đường ấy có vần đề về độ an toàn như: Tán cây che khuất tầm nhìn, mặt đường có ổ gà, chiều ngang đường bị hẹp, mặt đường trơn… Đó là môi trường tạo nên những vụ tai nạn giao thông chết người. Hãy cẩn thận tay lái và giảm tốc độ khi trông thấy miếu oan hồn. Một vài UB An toàn Giao thông của vài địa phương đã từng đặt những tấm bảng in hình ảnh những thi thể kinh dị, biến dạng vì tai nạn giao thông để nhắc nhở mọi người cẩn thận khi tham gia giao thông ở những cung đường nguy hiểm thường xày ra tai nạn. Tuy nhiên, vẫn không hiệu quả bằng những ngôi miếu ven đường. Điều này, tất cả những tay lái lụa xe tải đường dài đều thuộc nằm lòng. Nguồn : Blog dienbatn
-
Xung phạm Địa Sư – Cảnh Giác Với Âm Khí, Tà Khí ! Thầy Địa Lý ( Phong Thủy Sư – Địa Sư ) mỗi khi đi tới một nơi nào đó để xem xét Phong Thủy, tất nên đề cao cảnh giác, đặc biệt những vùng đất thuộc vào hạng “Phong Thủy Bảo Địa” rất dễ dẫn đến Xung Sư Phạm Sư. Ngoài ra các vùng đất thuộc bại tuyệt đặc biệt, do âm khí, tà khí quá nặng hoặc có tà tinh dị linh nằm bên dưới cũng dễ xung sư phạm sư. Ba là các mộ mà chôn dưới đó là những người bị chết hung, chết dữ cũng dễ xung sư phạm sư. Bốn là khi bản thân Địa Sư thân thể bất ổn, tâm tình không yên lại gặp nơi tuyệt địa dễ xung phạm Địa Sư. Năm là dùng ngày xung sư phạm sư mệnh của Địa Sư, nếu là xung Nhật Trụ càng nên tránh thì hơn. Sáu là điểm huyệt phạm vào độ số xung sư phạm sư. Bảy là người chết có mệnh chủ không hợp với Thầy thành ra xung sư phạm sư. Tám là khi sắp ra khỏi cửa hoặc lúc ra mới ra khỏi cửa, gặp phải điềm hung hoặc vật không cát tường, cũng dễ xung phạm Địa Sư. Xung phạm Địa Sư có một vài biểu hiện. Nhẹ nhất và trực tiếp là tại hiện trường La Kinh bị đảo lộn hướng chỉ của kim nam châm, hoặc bổng lên, chìm xuống ( Đây gọi là Kỳ Châm Bát Pháp ). Các biểu hiện lâu dài gồm : Một là bỗng nhiên họa đến, đại nạn giáng xuống đầu, bênh tai bất ngờ. Hai là mắt mù tai điếc, đầu óc không minh mẫn, bệnh nhanh khó lường. Ba là bệnh đến từ từ , chữa lâu không khỏi , lại không tìm ra nguyên nhân. Bốn là ảnh hưởng đến sức khỏe người trong nhà, nhà cửa ngày càng suy, bệnh tật không ngừng, hay phạm quan tư khẩu thiệt. Năm là tự mình và người nhà đột nhiên ăn nói hay suy nghĩ hay bất đồng, mặt mũi biểu hiện tình cảm kỳ quái. Đó là một số hiện tượng phát sinh sau khi xem xét âm trạch, đó chính từ căn nguyên xung sư phạm sư mà ra. Đã biết nguyên nhân như vậy ! Rất cần có các vật hộ thân, chống lại tà tinh dị linh, tà khí, sát khí. Các bảo vật hộ thân này thường do những người trải qua Tu Luyện Huyền Thuật, Mật Tông luyện thành bằng các Bí Pháp mật truyền. Nếu Địa Sư chưa từng trải qua Tu Luyện thì nên nhờ người có công phu tu luyện lâu dài giúp cho. Tuy nhiên bản thân cũng tu tập rèn luyện hoặc Khí Công, hoặc Thiền Quán để phòng hộ thân mình thì tốt hơn ! Nguồn thegioivohinh.net
-
Tìm được một ngôi nhà mà mắt ta cảm nhận thấy nó có hình thức đẹp, diện tích thích hợp với nhu cầu sử dụng, màu sắc trang trí và thiết kế nội thất vừa ý, ánh sáng đủ đầy, thông (thoáng) gió và hệ thống thoát nước tốt, môi trường đẹp, giao thông việc mua bán, việc học tập của con trẻ thuận tiện... có lẽ chẳng còn gì để nói. Điều này cũng trùng hợp với nội dungcảm xạ phong thủy học (CXPTH) về nhà cửa. Có điều, hầu như không phải ai cũng biết hướng nhà như thế nào thì phù hợp và đưa lại lợi ích nhiều mặt (sức khỏe, tài lộc, công danh, sự nghiệp, hạnh phúc, tương lai) với mình. Còn như hướng mà ta thích cũng như phương vị mà ta quen thuộc, thì CXPTH coi đó chính là hướng và phương vị phù hợp với ta hơn cả. Linh cảm, ý thức và trực giác của con người có vai trò quan trọng giúp cho sự lựa chọn được thích hợp. Thực tế gần 20 năm nay, nhiều người mua nhà (đất) có sự tư vấn của chúng tôi thì chưa hề thấy trường hợp nào chệch ra khỏi hay đảo ngược lại với quan điểm nêu trên. Nghĩa là, khi bước vào ngôi nhà định mua, trong 3 thời điểm gồm sáng, trưa/chiều và tối, người muốn mua chỉ cần ở lại trong ngôi nhà ấy một lát, mà linh cảm, ý thức và trực giác (nói đúng hơn là Trí tuệ cảm xúc -L'intélligence émotionelle) của người muốn mua nhà sẽ mách bảo cho ta cảm ứng về ngôi nhà ấy có thích hợp hay không thích hợp. Và bấy giờ, con lắc hay đũa cảm xạ được hỏi và trả lời hoàn toàn tương ứng. Nếu thích hợp, người mua sẽ cảm thấy dễ chịu và muốn ở lại thêm một lát nữa, chứ không hề muốn rời bỏ đi ngay. Trái lại, nếu người mua thấy khó chịu, thì ngay lập tức chỉ muốn ra khỏi ngôi nhà ấy. Nhược bằng ráng mà nán lại, ở thêm một lúc sẽ tự thấy trong người đứng ngồi bồn chồn không yên hoặc tâm và thần của ta sẽ hơi bối rối. Đấy là trường hợp "chống lại chỉ định", đồng nghĩa với việc phải đi tìm ngôi nhà khác. CXPTH có thể giải thích hiện tượng này: trái đất có từ trường, sức hút và những sóng hình thức khác. Trong máu con người có thành tố sắt, tuần hoàn máu chịu ảnh hưởng của địa từ trường và cả những sóng hình thể khác trong phạm vi không gian, môi trường cụ thể tác động mà sinh ra cảm ứng. Cảm ứng này bao giờ cũng thực hiện trong thời gian và không gian nhất định. Và nó hướng tác động vào cơ thể con người. Lý thuyết CXPTH giúp đỡ tích cực cho chúng ta, nhằm đánh giá từ trường + các sóng hình thể hiện hữu của ngôi nhà có thích hợp với cảm ứng của con người ở trong đó hay không. Nếu thích hợp thì tuần hoàn máu của người ở trong ngôi nhà đó sẽ hoạt động bình thường, cảm giác thấy khỏe mạnh, phấn khởi, sinh hoạt, làm ăn tốt đẹp. Ngược lại, nếu không thích hợp mà cứ ở ngôi nhà đó, sẽ ngày càng cảm thấy nhiều triệu chứng bất ổn, không an toàn, thoạt đầu chỉ mới cảm thấy yếu ớt, dần dần thấy rõ hơn, nặng nề hơn và cuối cùng có thể tai họa không mong muốn cứ ập tới. Ví dụ điển hình: + Cằm con người ứng với nền móng nhà. Nếu có nước ngấm dưới nền móng nhà trầm trọng, mà nền móng lại làm ẩu hay không được tốt thì hậu quả không tránh khỏi, ngôi nhà sẽ phải chịu đựng độ ẩm rất cao. Người chủ ở lâu trong đó, cái cằm sẽ chẳng chóng thì chầy sẽ xuất hiện một thứ khí hắc ám. Nội tạng sẽ trục trặc, thường bị đau bụng, đau bão, bụng kêu và đi đại tiện lỏng./tiêu chảy... Quần áo, đồ dùng trong nhà ấy dễ bị ẩm mốc, có mùi hôi khó chịu. Giữa lông mày và mắt nổi gân xanh, rất có thể đó là ám thị cho biết nóc/mái nhà bị thẩm lậu, giột nát. Nếu vẫn bình chân như vại trong tình trạng như vậy, mà lao vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tư vấn về nhà đấthay đứng ra nhận công trình kiến trúc, thiết kế xây dựng dù lớn hay nhỏ, hoặc mua nhà đất với giá hời đi nữa cũng không đưa lại lợi ích, thậm chí sẽ dẫn tới hậu quả đáng tiếc có thể hại người thiệt của và dĩ nhiên mối quan hệ làm ăn giữa mình với mọi người chắc chắn không tốt đẹp lắm. Nguồn thegioivohinh.net
-
La bàn , có nhiều vòng khác nhau , có vòng thì phối bát quái , âm dương , ngũ hành , đối với khí trường thì cảm ứng chỉ bắc đối nam rất nhạy , Thánh Hiền xưa chiếu theo thiên trì mà làm việc , lấy đó mà suy luận sự phát sinh biến hóa của khí trường , tức là Kỳ Châm Bát Pháp . 1.Đường Châm: Khi kim cứ lay động không yên , không quy về trung tuyến . Đoán rằng nơi đó có quái thạch sâu bên dưới , ở đó tất có họa , nếu kim tại Tốn Tỵ Bính vị mà bồng bềnh , thì rất dễ phía dưới 9 thước có vật dụng xưa , ở đó dễ xuất người nam nữ tửu sắc , thầy bà , cô quả bần hàn . 2.Đoái Châm : Đầu châm bỗng ngóc lên , cũng gọi là phù châm , đó là vì âm khí giới nhập , nếu chẳng phải tổ tiên nhà đó cũng là , phúc thần hộ pháp . 3.Trầm Châm : Đầu châm bỗng hạ xuống , . Đó là do âm khí giới nhập , đó là âm mà không ác âm , cũng là oan hồn uổng tử , hoặc chết không bình thường , là do họ cảm mà ra như vậy . 4.Chuyển Châm : Chỉ châm chuyển mà không dừng . Ác âm giới nhập , đó là khí oán hận liên tục không dừng , ở đó tất gặp tai họa . 5.Đầu Châm : Chỉ châm nửa nổi nửa chìm , hoặc nửa nổi mà không đến đỉnh , chìm cũng không đến đáy . Dưới đất có mộ phần , ở đó tất hay khóc nhiều , nên đề phòng quan tư khẩu thiệt . 6.Nghịch Châm : Châm quy trung tuyến nhưng không thuận , hoặc châm tà phi . Đất đó tất xuất hiện người ngỗ nghịch , bại cả người lẫn tiền bạc , phong thủy nói không được . 7.Trắc Châm : Châm mà dừng yên tĩnh , nhưng không quy về trung tuyến . Đất đó vốn là Thần Đàn Cổ Tháp , nhà ở không được . 8.Chính Châm : Không dị dạng , không nghiêng không lệch , đất đó là đất chính thường , đất đó có thể đắn đo châm chước mà dùng . Kỳ Châm Bát Pháp là giải thích rõ ràng các lực khí quái dị , nên Phong Thủy Địa Sư khi thăm khám đất không thể không biết . Nguồn thegioivohinh.net
-
Xin được gửi tới bạn đọc một chuyện mà theo chúng tôi là chuyện lạ đời hay là chuyện kỳ cục về ông. Ông Nguyễn Công Đức và bộ bàn ghế làm từ một phần của gốc cây gù hương Ông Nguyễn Công Đức có biệt danh Đức “gấu”, bởi không những ông từng là một lãng tử có tiếng ở Hà thành mà còn là người cung cấp mật gấu cho hàng trăm quán nhậu. Người dân ở Lương Sơn (Hòa Bình) biết đến ông, bởi ông có hai cái trang trại đẹp nhất và đắt nhất Hòa Bình. Thậm chí, giới nghiên cứu về gấu trên thế giới cũng biết tiếng ông vì ông nuôi được cả đàn gấu đẻ. Nhưng, ít ai biết rằng, trong cái trang trại rộng 10 ha, được vây bọc bởi rừng rậm, núi cao cuối xã Lâm Sơn này, ông còn là người của những câu chuyện kỳ bí. Ông vỗ ngực tự hào: “Đời tôi giờ đây có 3 cái nhất: thứ nhất là có bộ bàn ghế, giường nằm, bàn thờ, bằng gỗ lũa gù hương; thứ hai là tôi đang tự xây cho mình ngôi mộ và thứ ba là tôi nuôi được nhiều gấu đẻ nhất Việt Nam”. Lúc này, tôi mới để ý đến bộ bàn ghế bằng gỗ lũa của ông. Nó là một phần của gốc cây gù hương, tỏa mùi thơm thoang thoảng. Ông Đức kể về cái đận vớ đậm gốc cây này. Cách đây 5 năm, khi lang thang trên sườn một ngọn núi đá hùng vĩ vùng rừng Kim Bôi thì giẫm chân lên một “tảng đá” to như cái sân nhà, bề mặt “tảng đá” phẳng lỳ. Ông băn khoăn không hiểu thiên nhiên kiến tạo thế nào mà tài tình, kỳ lạ đến vậy. Mặt “tảng đá” rêu phong xanh rì, trơn chuồi chuội. Giữa lúc ấy, một ông già người Mường đi qua bảo: “Gốc cây gù hương đấy, nếu mày thích tao bán cho?”. Tận mắt thấy những cái rễ cây to như cột đình, chuồi ra ở khe núi ông mới tin đó là gốc cây thật. Ông băn khoăn: “Mang thế nào xuống núi được?”. “Cứ bỏ 25 triệu đây, tao cho người và trâu vần xuống chân núi cho”. Tường bao của khu mộ. Hôm sau, ông Đức mang tiền và hơn tạ dây thừng đến, ông già người Mường gọi 20 thanh niên trong bản vác xẻng và xà beng lên núi. Tốp người này phải đào bới hì hụi suốt nửa tháng trời mới xong. Lúc gốc cây gù hương lộ ra, mọi người lấy thước đo, đường kính của gốc cây lên tới... 7m (gốc cây gù hương này có hình dẹt). Dây thừng buộc vào hệ thống rễ, 30 con trâu mộng được huy động trong bản kéo vẹo mông mới lật được gốc cây lên. Tuy nhiên, khi gốc cây đổ ập xuống thì vỡ làm ba mảnh. Ông Đức tiếc đứt ruột, giá như cả gốc cây với đường kính 7m còn nguyên vẹn thì có thể đây sẽ là bộ lũa lớn nhất Việt Nam. Giờ đây, một mảnh làm bàn, một mảnh làm giường nằm, một mảnh của nó làm bàn thờ. Bộ ghế 15 chiếc được cắt từ các đoạn rễ. Đồ dùng bằng gỗ đều được chế tác từ những đoạn rễ của gốc cây gù hương. Đến cả tượng nhà thơ Lý Bạch, đầu đội lá sen, tay nâng chén múc trăng dưới nước uống cũng được chạm bằng gỗ cây gù hương, tỏa mùi thoang thoảng, êm ái. Theo ông lão người Mường kể lại, vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước, người Pháp đã khai thác cây gù hương này ròng rã trong suốt một tháng rồi đóng vào hàng chục côngtenơ chở về nước để ép dầu. Gốc cây chìm sâu trong lòng núi, khó đào nên họ bỏ lại. Mấy năm nay, những tay chơi gỗ lũa nghe tin ông Đức có bộ lũa gù hương khổng lồ mà thèm thuồng, thi thoảng họ lại kéo đến ngắm nghía cho thỏa lòng. Có bộ lũa này, dù đêm, dù ngày cũng chẳng có con muỗi nào bén mảng đến. Ngửi thấy mùi dầu gù hương tiết ra, tinh thần con người luôn phấn chấn, vui vẻ. Quý như vậy nên đã có đại gia mang 500 triệu đồng đến mặc cả, nhưng ông Đức chỉ lắc đầu quầy quậy. Nói về cái chuyện tự xây mộ và ướp xác mình trên đỉnh núi thì đúng là có một không hai. Ông Đức “gấu” bảo, cả tháng, cả năm một mình vò võ trông đàn gấu giữa bốn bề núi hoang, rừng thẳm nên đã nghĩ ra đủ các chuyện trên trời dưới biển, trong đó, có một chuyện mà đến bản thân ông đôi lúc cũng cho là kỳ quặc, đó là lo hậu sự bằng cách tự xây mộ cho mình và cho vợ trên đỉnh núi, mặc dù ông mới ở tuổi 65, dáng dấp còn khỏe khoắn, đôi mắt tinh tường, bắp tay, bắp chân vạm vỡ và cuộc sống khá no đủ, thừa thãi. Ông Đức đã mua rất nhiều sách, báo, tài liệu nói về kỹ thuật xây những ngôi mộ lớn, phức tạp để bảo quản xác khỏi phân hủy và chống lại sự tàn phá của thiên nhiên, con người. Ông đã lang thang trong Huế cả tháng trời để nghiên cứu các lăng tẩm những mong làm cho mình một ngôi mộ mà không sợ mang tiếng là “ăn cắp bản quyền”. Nghiên cứu mãi mà vẫn không nghĩ ra một thiết kế ưng ý nên năm 2001, ông “vi hành” sang tận Côn Minh (Trung Quốc) để tham khảo mộ chí, lăng tẩm ở đây. Hồi ở Côn Minh, mỗi khi tham quan đền đài, mộ phần, lăng tẩm ông đều thuê riêng một hướng dẫn viên du lịch và hỏi cặn kẽ về kỹ thuật xây lăng mộ. Qua đây, ông nhận thấy rằng, đình chùa, miếu mạo, lăng tẩm ở Trung Quốc đều được đặt theo hướng nhất định, tuân theo thuật phong thủy mới bền vững với thời gian. Việc đầu tiên khi xây lăng mộ là phải xác định được hướng và thế đất, do đó cần phải có thầy địa lý giỏi xem hướng, trấn trạch các long mạch. Hiểu được vấn đề, ông liền dò hỏi tất cả các hướng dẫn viên du lịch về những ông thầy địa lý ở Trung Quốc. Một cô hướng dẫn viên đã cho ông địa chỉ của một thầy địa lý có tên Voòng A Sao. Ngôi nhà của thầy địa lý này nằm sâu trong rừng, trên sườn một ngọn núi, phải trèo bộ suốt một ngày mới tới. Lạ ở chỗ, ông thầy địa lý Voòng A Sao lại nói trôi chảy tiếng Việt. Ông ta đã thuyết trình cặn kẽ về những bí quyết xây lăng mộ của các vua chúa thời phong kiến Trung Quốc ngày xưa. Nghe ông Đức tâm sự về nguyện vọng của mình là muốn xây mộ và bảo quản xác, thầy địa lý Voòng A Sao đã nhận lời sang tận Việt Nam để tư vấn giúp ông. Một tháng sau thì ông thầy địa lý người Trung Quốc tìm sang Việt Nam thật. Sau khi sống ở trang trại của ông Đức một tuần và đi thực địa từng mét vuông đất, trèo lên từng vách đá, ông ta đã cắm cọc ở trên sườn ngọn núi đá vôi, nơi mà giờ đây ông Đức đã cho xây mộ của mình. Như vậy, ngôi mộ sẽ quay về hướng tây bắc, nơi có ánh mặt trời lặn xuống sau những dãy núi phía huyện Kỳ Sơn mỗi buổi chiều. Theo ông thầy địa lý người Trung Quốc, dãy núi trùng điệp phía huyện Kỳ Sơn có hình thù như một con rùa, và theo thuật phong thủy thì ngôi mộ chỉ nhìn về hướng này mới bền vững được. Mặc dù rất tin vào những điều mà ông thầy địa lý người Trung Quốc đã chỉ dẫn, song ông Đức vẫn cẩn thận thuê thêm hai ông thầy địa lý nữa, một ông tên là Cỏn ở Quảng Ninh và một ông tên là Ơm ở Yên Bái. Điều lạ là mặc dù ông Đức không nói gì về chuyện đã thuê ông thầy địa lý ở tận Trung Quốc, song hai ông thầy trong nước này sau vài ngày xem xét địa hình cũng cắm chiếc cọc đúng chỗ mà ông thầy Trung Quốc kia đã cắm. Xác định được địa điểm rồi, ông Đức tiến hành xây mộ. Ông Đức đã thuê 10 nhân công, suốt ngày đêm khoan núi, nổ mìn tạo ra được một mặt bằng có diện tích khá rộng. Để công việc xây mộ diễn ra thuận lợi, ông đã làm hàng trăm bậc thang bằng đá từ chỗ chân núi lên đến khu trung tâm. Ngôi mộ hiện đã được xây thô, gồm 3 phần: cảnh quan vòng ngoài, khu trung tâm và hầm mộ. Cảnh quan vòng ngoài là một chiếc sân rộng chừng 80m2, cùng các con đường nhỏ chạy quanh mộ. Giữa sân trồi lên những tảng đá rêu phong. Xung quanh hệ thống mộ, cả trên sườn núi, đỉnh núi đá vôi là những hàng cây lim, nghiến, sến, táu, thông... mà ông Đức mới trồng, cao trên dưới chục mét. Ngoài ra, còn có hệ thống cau vua và một số loại cây cảnh khác được tỉa tót rất đẹp mắt. Từ mảnh sân này, có 9 bậc đá dẫn qua cổng chính vào mảnh sân hình bán nguyệt. Từ sân hình bán nguyệt, lại có hai lối lên khu trung tâm mộ, mỗi lối gồm 14 bậc. Khu vực trung tâm mộ được bao bọc bởi hệ thống tường xây kiên cố bằng gạch hoặc đá. Cổng vào trung tâm mộ rộng 5m, cao 5m. Khu trung tâm mộ có chiều dài 12m, rộng 7,5m, đã đổ bêtông kín bề mặt, bằng phẳng. Vị trí 2 hầm mộ. Giữa khu trung tâm là hai hầm mộ xây bằng gạch và ximăng chắc chắn nằm cạnh nhau, chiều dài mỗi hầm mộ là 2,4m, rộng 1,8m, đào sâu xuống lòng núi tới 4,2m. Kích thước này hoàn toàn khớp với phần lớn những ngôi mộ cổ, lăng tẩm ở bên Trung Quốc. Nắp hai hầm mộ này là phiến bêtông nặng 2,2 tấn. Theo ông Đức, sau này, khi đã đưa xác vào mộ, sẽ tiếp tục cẩu một phiến đá hình vòm nặng 3 tấn đè lên lớp bêtông để cố định chặt hầm mộ. Phiến đá này phải có độ bền cao, được đẽo gọt, chạm trổ hoa văn đẹp mắt. Ông đã đặt hàng làm hai phiến đá cho đám thợ ở mãi Ngũ Hành Sơn, tận trong Quảng Nam. Khi nào họ làm xong thì ông sẽ thuê ôtô chở ra. Hiện tại, ngôi mộ mới xây xong phần thô nhưng cũng đã ngốn của ông gần tỉ đồng. Tất nhiên, để hoàn thiện ngôi mộ như ý ông còn phải tốn kém nhiều tiền của và công sức trong nhiều năm nữa. Theo tính toán của ông Đức, để hoàn thành cả ngoại thất và nội thất như ý muốn sẽ phải đầu tư vào ngôi mộ từ 1,6 đến 1,8 tỉ đồng nữa. Việc xây mộ tuy tốn kém song lại không phức tạp bằng công đoạn ướp xác. Để bảo quản được xác mình và xác vợ vĩnh viễn với thời gian, ông đã đọc những cuốn sách, tài liệu nghiên cứu về kỹ thuật ướp xác của người xưa để tìm cho mình một phương án phù hợp. Hiện tại, ông đang nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp ướp xác kết hợp cả Đông lẫn Tây. Theo ông để bảo quản xác được tốt, dưới đáy mỗi hầm mộ, ông sẽ đổ 2 tấn than củi. Đây là than của gỗ trai. Gỗ này rắn chẳng khác gì đá, dao bổ vào quằn lưỡi. Gỗ trai được cho vào hầm kín để đốt cháy từ từ. Than gỗ trai hút ẩm rất tốt và được người Trung Quốc thời xưa dùng phổ biến để ướp xác. Hiện tại, ông Đức đã đổ 4 tấn than gỗ trai xuống đáy hai hầm mộ. Tiếp đó, để giữ được xác khô, bền, thì trong quan tài phải được lót một lớp gạo nếp rang. Phía trên quan tài được phủ một lớp than nữa, trên cùng là lớp vôi bột. Nước từ xác chảy ra sẽ bị than, gạo rang, vôi bột hút sạch. Tất nhiên, để xác không bị phân hủy sẽ phải dùng một số loại hương liệu, hóa chất diệt trùng đặc biệt khác nữa. Ông thầy địa lý người Trung Quốc cũng đã hứa với ông Đức là sẽ cung ứng cho ông một loại lá cây rừng được phơi khô, tán nhỏ thành bột mà người Trung Quốc xưa kia thường dùng để ướp xác. Loại lá cây này không những là một loại hương liệu cao cấp mà còn có tác dụng hút ẩm, diệt khuẩn, khử mùi hôi rất hiệu quả. Việc tìm gỗ làm quan tài cũng đã được ông Đức tính đến. Loại gỗ này phải vừa bền, vừa thơm, lại có chức năng diệt khuẩn. Để ngôi mộ của vợ chồng vững bền với thời gian, không những phải tuân theo thuật phong thủy mà còn phải dặn dò con cái không được chôn theo bất cứ một thứ tài sản gì có giá trị như vàng bạc, trang sức... Bởi vì, nếu chôn theo những thứ quý giá, bọn trộm sẽ không ngại ngần mà tìm cách phá mộ. Tôi hỏi ông Nguyễn Công Đức: “Việc xây mộ và ướp xác của ông có phải là cách chơi ngông?”. Ông bảo, kỹ thuật ướp xác là một kỳ công của con người và đó cũng là một phần của văn minh nhân loại. Ông muốn nghiên cứu và thực hiện chỉ đơn giản thế thôi. Con người ông Đức thật lạ, thật đặc biệt. Không biết rồi xác ướp của vợ chồng ông Nguyễn Công Đức có nằm trong hầm mộ hay lại nằm một nơi nào đó trong hệ thống hang động phức tạp trong lòng những dãy đồi núi đá hùng vĩ này? Trở lại Hà Nội, tôi cứ băn khoăn về chuyện ông Đức xây mộ, ướp xác ông và vợ. Việc xây mộ, ướp xác ở ta không cấm, nhưng xây mộ, ướp xác thế nào để người đời không hiểu lầm về mục đích, động cơ của người bỏ tiền ra xây, là điều cần cân nhắc cặn kẽ để bảo đảm tiết kiệm, tránh lãng phí và theo những phong tục tập quán của dân tộc Một đại gia bỏ 15 tỷ đồng xây hầm mộ Chuẩn bị nơi yên nghỉ sau khi về cõi vĩnh hằng, ông Vũ Kha ở Hải Phòng đầu tư hơn 15 tỷ đồng để xây hầm mộ dưới hồ. Dù đang lâm vào thế phá sản, song ước vọng biến khu mộ của ông thành công trình của trăm, nghìn năm sau, để con cháu được chiêm ngưỡng vẫn nung nấu. Mộ phần của vợ chồng ông Vũ Kha nằm dưới hồ nước này. Ảnh: Công An Nhân Dân. Ngay khi thu gom xong mảnh đất rộng 3.000 m2 giữa trung tâm một quận ngoại thành với giá 9 tỷ đồng, ông Vũ Kha khăn gói quả mướp vào tận khu vực Núi Nhồi ở Thanh Hóa để tự tay chọn những khối đá đẹp nhất, đắt nhất. Đá xanh, đá đen đủ tiêu chuẩn phải là nguyên khối, nguyên tảng, không có đường vân dù chỉ nhỏ bằng sợi tóc, không có màu sắc pha tạp. Những khối đá này phải được khai thác thủ công, tức là dùng sức người đục đẽo tách ra khỏi núi, sau đó vận chuyển nhẹ nhàng xuống chân núi. Ông Kha không dùng đá khai thác bằng nổ mìn, bởi theo ông, những loại đá này sẽ om, sức bền không tốt. Chính việc chọn lựa, khai thác, tìm kiếm những loại đá đặc biệt này rất khó khăn nên giá cả của chúng rất đắt. Mỗi mét khối đá ông Kha mua ở khu vực núi Nhồi, tùy loại trắng, xanh, đen mà có giá từ 10 đến 30 triệu đồng. Đặc biệt, khối đá đen nặng 10 tấn làm tháp mộ, đối với ông Kha giờ đây là vô giá. Dù ai trả tiền tỷ cho khối đá này ông cũng lắc đầu. Trên cùng tháp đá đặt tượng bán thân ông Kha. Bức tượng này được đẽo chạm từ một khối đá đen tuyệt đẹp. Ông Kha kể rằng, để tượng đá của mình linh thiêng, ngày nào ông cũng yểm tâm vào đó. Mặt trước tháp đá là những dòng chữ khắc nội dung kể về tài năng cũng như những đóng góp của ông cho xã hội. Cách đây 5 năm, để mua được khối đá đen cực lớn, không có đường vân, không nứt nẻ, không pha tạp màu khác để làm tháp mộ này, ông phải bỏ ra 10 cây vàng, cộng với 15 cây vàng thuê mấy chục người cả tháng trời đục đẽo, trục khối đá ra khỏi núi rồi dùng xe tải hạng nặng chở từ Thanh Hóa ra Hải Phòng. Mộ phần của vợ chồng ông Vũ Kha nằm dưới hồ nước này. Ảnh: Công An Nhân Dân. Khối đá làm tháp mộ mà ông Kha đang sở hữu giá trị như vậy là vì loại đá đen chất lượng cao nhất chỉ có ở khu vực núi Nhồi, Thanh Hóa. Tuy nhiên, từ mấy năm nay chính quyền tỉnh Thanh Hóa đã cấm khai thác, nên các đại gia khác có tiền cũng không mua được. Sau khi vận chuyển được mấy trăm khối đá xanh, đá đen, đá trắng về Hải Phòng, ông Kha lên Hà Nội tuyển mộ những họa sĩ tài ba, những chuyên gia chạm khắc, tốt nghiệp ĐH Mỹ thuật, trong đó có 3 anh em họa sĩ Trần Minh Tuấn về nhà ông ăn ở, ngày đêm kẻ vẽ, chạm khắc, mài giũa tỷ mẩn từng viên đá theo ý tưởng của ông. Suốt 5 năm trời cần mẫn làm việc, khu trung tâm mộ mới hoàn thành. Đứng trong khuôn viên, nhìn lăng mộ không thấy sự hoành tráng, song ẩn sâu trong lòng đất là cả một sự kỳ công đầy nghệ thuật. Khu trung tâm phần mộ rộng chừng 200 m2, lẩn khuất sau những hàng cau vua rợp bóng. Cổng vào giản dị là hai cột đá đen. Mái cổng cũng là một tấm đá đen bóng. Toàn bộ phần diện tích khuôn viên trung tâm phần mộ đều được xếp bằng những khối đá trắng lớn, được mài giũa rất khít. Hầm mộ nằm sâu trong lòng đất 4 m, được bao bọc bởi những khối đá khổng lồ, mỗi khối nặng 2,6 tấn. Hầm mộ gồm hai ngăn, nơi sau này sẽ đặt hài cốt của vợ chồng ông Kha. Sau nhiều năm nghiên cứu các kỹ thuật ướp xác, bảo quản xương cốt, ông Kha nhận thấy rằng, nếu đem đốt xương cháy xém phần ngoài sẽ sinh cácbon. Mà cácbon là chất vĩnh cửu, do vậy sẽ có tác dụng bảo vệ xương rất tốt (chẳng hạn, những khúc củi cháy dở nằm trong lòng đất hàng vạn năm không phân hủy). Ông Kha là nhà khoa học nên hiểu biết rất kỹ về lĩnh vực này. Khi nào vợ chồng ông tạ thế, đám con cháu sẽ đốt xác bố mẹ theo hướng dẫn của ông, sau đó sẽ đặt xương cốt xuống hầm mộ. Muốn đặt xương cốt xuống, phải rút hết nước trong hồ. Dưới đáy hồ lộ ra những phiến đá lớn. Nhấc những phiến đá này lên sẽ lộ ra nắp hầm mộ. Những phiến đá và nắp hầm mộ bằng đá xanh nguyên khối này được các chuyên gia mài giũa chi tiết đến nỗi khi đặt khít vào nhau, không cần chất kết dính gì, vậy mà bơm nước ngập vào mấy năm nay vẫn không thấm một giọt nước nào. Vị đại gia này muốn xương cốt của mình nằm vĩnh hằng dưới một lớp nước để tạo sự kín đáo, yên tĩnh và cũng để con cháu đời sau được tự hào về khả năng của cha ông mình. Ông Kha khẳng định, ngôi mộ này là sáng tạo của ông, không “đụng hàng” bất cứ ngôi mộ nào trên thế giới. Ngoài trung tâm mộ phần thì những thiết kế bằng đá trong quần thể lăng mộ cũng là những kiệt tác. Đáng kể nhất phải kể đến công trình mà ông gọi là “vườn treo Babylon”. “Vườn treo” gồm 3 bậc sàn bằng đá, 24 cột đá và một mái đá rất lớn. Tất cả được chạm khắc tinh tế, chi tiết, đầy tính nghệ thuật và mang tính cách điệu cao. “Vườn treo Babylon” là nơi nghỉ ngơi, thưởng trà, bàn luận sau khi du khách tham quan “Cụm văn hóa đồ đá” đặc biệt này. Ông Kha còn lấp lửng kể rằng dưới lòng đất có một hệ thống đường hầm dẫn đến hầm mộ. Tuy nhiên, đây là bí mật mà ông chưa muốn tiết lộ. Theo ông Kha, toàn bộ đầu tư cho khu vực lăng mộ mà ông gọi là “Cụm văn hóa đồ đá” này, tính cả tiền mua đất, đã lên đến gần 1 triệu USD. Còn vô vàn những ý tưởng, những công trình ông ấp ủ, như xây dựng đôi rồng đá, mỗi con nặng chừng 10 tấn, đầu chầu cổng mộ phần, đuôi vẫy sau tháp mộ. Ông Kha còn muốn xây dựng một tháp đá giống như tháp bút trước đền Ngọc Sơn (Hà Nội), một cổng đá như cổng di tích Ngọ Môn ở Huế. Tại ngôi tháp đá khổng lồ sẽ có một đầu rồng bằng đá được lắp môtơ để liên tục quay bên nọ, ngó bên kia, đuôi cũng phải vẫy vẫy và mắt rồng luôn chớp chớp trong bóng đêm. Ông Kha là một nhà khoa học, từng sáng tạo nhiều công trình khoa học có giá trị trong lĩnh vực kỹ thuật nên việc đó đối với ông không có gì khó. Theo ông, để biến ngôi mộ thành “Cụm văn hóa đồ đá” hoàn chỉnh như ý muốn của ông, ước chừng ngốn thêm khoảng 5 tỷ đồng nữa. Tuy nhiên, công việc đang triển khai thì công ty của ông lâm vào cảnh phá sản. Vì mặt hàng ông sản xuất không đấu lại được với hàng hóa Trung Quốc tràn vào Việt Nam. Hơn nữa toàn bộ trụ sở doanh nghiệp rộng mấy nghìn mét vuông giữa trung tâm thành phố bị thu hồi do nằm vào khu vực quy hoạch. Mặc dù đang lâm vào cảnh khó khăn về kinh tế, song ước vọng biến khu mộ của ông thành công trình của trăm, nghìn năm sau, để con cháu được chiêm ngưỡng vẫn nung nấu và ông quyết tâm hoàn thành trước khi rời xa thế giới này. Ông cho biết, một người con là doanh nhân ở nước ngoài sẽ quyết tâm hỗ trợ tiền bạc để ông hoàn thành tâm nguyện cả đời của mình, đó là xây dựng lăng mộ với cái tên gọi “Cụm văn hóa đồ đá” độc đáo nhất Việt Nam. Những ngôi mộ bạc tỷ Mảnh đất rộng gần 50.000m2, có giá nhiều tỉ đồng, nằm giữa trung tâm làng Phương La (xã Thái Phương, Hưng Hà, Thái Bình), được đại gia Trần Văn Sen mua... để xây lăng mộ. Theo thiết kế, lăng mộ này cao 23,39m, gồm 3 tầng chính và một tầng áp mái, ngoài ra còn có tầng hầm sâu 4,2m. Lăng mộ đang xây dở của họ Trần ở làng Phương La. Làng Phương La, hay còn có tên làng Mẹo (xã Thái Phương, Hưng Hà, Thái Bình), nổi tiếng cả nước với nghề dệt đũi lâu đời. Dọc làng là những biệt thự xây đủ kiểu cách, màu sắc. Những nhà xưởng ngày đêm ầm ầm tiếng máy dệt, công nhân tấp nập đi về. Ngôi mộ cụ Tổ họ Trần Mảnh đất đẹp nhất, rộng gần bằng 7 lần mặt cỏ sân vận động tiêu chuẩn quốc tế, nằm giữa trung tâm làng, ngay cạnh chợ có giá nhiều tỉ đồng được đại gia Trần Văn Sen mua lại từ nhiều gia đình trong làng. Người dân thấy sự lạ thì đặt câu hỏi: Sao ông Sen không xây dựng công ty trong khu công nghiệp của làng, lại đi mua tới 50.000m2 đất giữa làng, tốn kém bao nhiêu tỉ bạc? Nhưng rồi, tại khu đất rộng 50.000m2 đã mọc lên một công trình lăng mộ khổng lồ. Mặc dù công trình mới chỉ xây thô được một tầng, song những người được chứng kiến đều khẳng định: công trình lăng mộ này sẽ lớn nhất Việt Nam! Tôi về làng Phương La vào lúc trưa nắng chang chang, thế nhưng, mấy chục thợ xây vẫn miệt mài làm việc để đạt tiến độ công trình mà dòng họ này giao. Trên các bức tường treo rất nhiều tấm biển lớn với những dòng chữ: “Xây dựng di tích phải tuyệt đối an toàn”; “Những cán bộ công nhân viên, ai có thành tích được khen thưởng, ai có lỗi phải xử lý nghiêm minh”; “Cán bộ công nhân viên xây dựng phải chấp hành nghiêm các quy trình quy phạm và an toàn lao động”... Rồi thì khẩu hiệu thường thấy ở những công trường xây dựng lớn: “An toàn là bạn, tai nạn là thù” treo khắp nơi. Tôi không biết phải gọi công trình này là đền hay lăng mộ, bởi mỗi người dân nơi đây gọi một kiểu, nói một cách. Ngày xưa, tại địa điểm này có một ngôi đền nhỏ có tên Đền Nhà Ông thờ tổ họ Trần, giờ người trong dòng họ này phá đi xây lại nên vẫn tôn trọng gọi là Đền Nhà Ông. Còn theo lý giải của người dân, trong công trình này sẽ chứa hài cốt của các bậc tổ tiên và những người trong dòng họ, mỗi ông tổ, người chết đều có một khu thờ tự riêng nên nó có hơi hướng giống một khu lăng mộ. Tóm lại, công trình này là sự kết hợp của cả hai thể loại đền và mộ nên gọi thế nào cũng được. Tác giả xin tạm gọi là lăng mộ. Mặc dù lăng mộ mới xây thô được một tầng, song đã rất hoành tráng. Phần móng của lăng mộ ăn sâu xuống lòng đất 4,2m, được đổ bêtông kín đặc tạo thành tầng hầm rất rộng. Phần móng nổi lên mặt đất của lăng mộ cao 2,5m. Tiếp theo phần móng là đến thân lăng mộ thu hẹp lại một chút. Đứng từ dưới nhìn lên, thấy mái lăng mộ gồm ba lớp bêtông xếp chồng lên nhau, đua ra ngoài phủ thân lăng mộ. Lớp bêtông trên cùng dày 1m, hai lớp dưới mỗi lớp dày chừng 0,5m. Đứng bên ngoài trông tưởng rằng mái của công trình lăng mộ này là để chống lại bom tấn, kỳ thực, mái bêtông đó được đổ rỗng ruột để giảm trọng lượng. Phía trước lăng mộ có hai lối lên, mỗi lối gồm 12 bậc thềm dẫn lên hiên mộ. Riêng phần hiên này có thể dùng làm sân khấu hoành tráng. Đường vào lăng mộ gồm 3 cửa chính rất lớn, theo cánh thợ xây, sẽ có những tấm cửa nặng nhiều tấn để bảo vệ công trình. Toàn bộ công trình lăng mộ này là một khối bêtông sắt thép đồ sộ. Những phần xây gạch chỉ có tác dụng kết nối các mảng bêtông cốt thép dày cả mét. Anh Trần Văn Thanh, người giám sát xây dựng dẫn tôi đi tham quan phía trong lăng mộ. Không gian tầng trệt lăng mộ rộng mênh mông. Để đỡ khối bêtông có lẽ đến gần ngàn tấn, tôi đếm có đến 6 dãy cột trụ bêtông, mỗi dãy gồm 7 cột. Tổng cộng có 42 cột to lừng lững. Trong phòng lại có 3 cầu thang dẫn lên tầng trên. Tại tầng trệt có hầm mộ lưu trữ hài cốt của cụ tổ dòng họ. Ngay trên hầm mộ đó sẽ là bàn thờ chính, còn hai bên hông của căn phòng được xây thành những ô nhỏ, mỗi ô rộng khoảng 6m2, xây chồng lên nhau từ đáy phòng lên tận áp mái. Mấy chục ô này sẽ là những bàn thờ, thờ những người đã khuất. Tầng hầm lăng mộ như một lô cốt khổng lồ ẩn sâu trong lòng đất với 25 căn phòng, gồm 20 phòng thông nhau, 4 phòng xây kín và một phòng hội trường rộng mênh mông. Những kỹ sư, thợ xây và cả chị Trần Thị Lý, là người trong họ được phân công trông coi lăng mộ cũng không biết 20 phòng thông nhau để làm gì, chỉ biết 4 phòng kín là kho chứa vật dụng, tài sản, còn phòng lớn nhất để hội họp. Tổng diện tích sàn một của lăng mộ rộng tới 740m2. Theo câu chuyện vui của đám thợ xây, nếu có chiến tranh, bom rải thảm ở làng Phương La thì các cụ họ Trần vẫn đàng hoàng ngồi họp hành bàn việc họ! Anh Thanh, người giám sát lăng mộ lôi hai tập hồ sơ thiết kế dày cả trăm trang khổ giấy Ao cho tôi xem. Theo anh, đây chỉ là hồ sơ tổng thể, còn hồ sơ chi tiết phải dày hơn ngàn trang. Nói về việc ông chủ đầu tư của dòng họ này cất công đi tìm thiết kế cho công trình lăng mộ tâm huyết của mình cũng thật lắm gian nan. Đại gia Trần Văn Sen trong một chuyến đi tham quan các công trình kiến trúc lịch sử của Trung Quốc chợt nhận ra rằng, dòng họ Trần ở Trung Quốc làm đền thờ, lăng mộ to quá, vĩ đại quá, ông thấy tủi cho họ Trần của mình ở quê nhà chỉ có cái Đền Nhà Ông thờ tổ Trần Hoàng Nghị bé tẹo. Đại gia này về nhà bàn bạc với dòng họ và cả họ đều sôi nổi khẳng định: “Có cụ tổ Nghị thì mới có cụ Trần Thủ Độ, mà cụ Độ là người sáng lập triều Trần, cụ có vai trò rất quan trọng trong việc lãnh đạo dân tộc đánh tan quân Nguyên - Mông lần thứ nhất. Công của cụ Nghị, cụ Độ với đất nước này to lắm, nên phải làm cho ra trò để con cháu trông vào tấm gương lớn mà noi theo”. Cũng xin nói thêm rằng, lăng mộ đang xây dựng này là của con cháu họ Trần mà cụ tổ là Trần Hoàng Nghị. Theo sử cũ ghi lại, cụ Nghị có công lập ra làng Phương La, đem nghề dệt đũi về làng và sinh ra 3 người con là Trần An Bang, Trần An Quốc và Trần An Hạ. Cụ Bang chính là Thái sư Trần Thủ Độ, người có câu nói nổi tiếng: “Đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo”, khi vua tôi nhà Trần lo lắng về sự xâm lược của quân Nguyên. Việc con cháu họ Trần ở làng Phương La có đích xác là con cháu của cụ tổ Trần Hoàng Nghị, người sinh ra Thái sư Trần Thủ Độ hay không tác giả không dám khẳng định. Nhưng việc họ Trần đang xây lăng mộ để chứa hài cốt và thờ phụng cụ Nghị cùng tổ tiên họ Trần là rõ ràng. Để dòng họ được rạng rỡ, con cháu đời sau không quên công lao của các cụ tổ, đại gia Trần Văn Sen đã bỏ công tham khảo rất nhiều công trình lăng mộ trên thế giới. Ông thuê chuyên gia nước ngoài thiết kế công trình lăng mộ của dòng họ cao tới 51m, gồm 6 tầng chính và một tầng hầm, một tầng áp mái, theo những hình thức, kiến trúc Trung Quốc và có cải tiến cho hợp với văn hóa Việt Nam. Tham vọng của ông và dòng họ là xây lăng mộ thật to, thật cao, để người đứng bên kia sông Hồng, thuộc đất Hà Nam và các xã xung quanh cũng phải nhìn thấy rõ mồn một Bản thiết kế lăng mộ do các chuyên gia Pháp thiết kế Công trình lăng mộ là những khối bêtông đồ sộ, rất nặng, hơn nữa nền đất ở khu vực này yếu nên mới chỉ xây được một tầng thì đã có biểu hiện lún. Ông Sen mời các chuyên gia của Pháp về tận nơi thực địa, nghiên cứu và khuyên chỉ nên làm 3 tầng cho hài hòa với cảnh vật xung quanh. Vả lại, việc xây dựng lăng mộ quá cao trên nền đất yếu sẽ không được bền vững lại rất nguy hiểm. Vậy là, việc thiết kế lại được giao cho các chuyên gia Pháp của Công ty Thiết kế kiến trúc và Thương mại Việt Pháp T - GROUP, trụ sở 34, Láng Hạ, Hà Nội. Theo hồ sơ thiết kế của công ty này thì lăng mộ sẽ cao 23,39m, gồm 3 tầng chính và một tầng áp mái, trong đó tầng trệt cao 10,69m, tầng hai 5,5m, tầng ba cao 4,5m và tầng áp mái cao 2,7m, ngoài ra còn có tầng hầm sâu 4,2m. Qua hồ sơ thiết kế có thể hình dung được bề ngoài của lăng mộ. Mái tầng một của lăng mộ sẽ có đôi rồng khổng lồ chầu vào chiếc “bánh xe lịch sử” ở trung tâm mặt trước lăng mộ. Những tầng trên, các mái dốc đều có rồng chầu mặt nguyệt. Hình thù rồng, mặt nguyệt cùng các hình vẽ, hình khắc đều được sự tư vấn của các nhà sử học để cho phù hợp với văn hóa đời Lý và đời Trần (vì cụ Nghị lập làng thời Lý, còn cụ Độ làm rạng danh dòng họ thời Trần). Bề mặt lăng mộ sẽ được ốp đá cẩm thạch tạo sự cổ kính, linh thiêng. Hiện tại, không ai biết để hoàn thiện lăng mộ này sẽ tốn kém bao nhiêu tiền của. Ngay cả cụ Trần Văn Thoan, chú ruột của đại gia Trần Văn Sen, là người có vai vế nhất trong dòng họ, được phân công chỉ đạo công trình cũng không nắm được chi phí cho việc xây dựng lăng mộ này là bao nhiêu. Tất cả ximăng, sắt thép đều do đại gia Sen chỉ đạo mua ở tận đẩu tận đâu, rồi từng đoàn xe tải rầm rập chở về. Các kỹ sư, thợ xây cứ việc trộn vật liệu, ghép sắt thép vào mà đổ bêtông, mà xây như thiết kế, xây thật chắc chắn. Công việc xây dựng cũng vô cùng kỳ công. Từ tháng 6/2002 công trình khởi công, vậy mà đến nay, đã 4 năm trôi qua, 40 công nhân, kỹ sư ăn ngủ trong 6 gian nhà tạm dựng lên gần đó, làm việc chăm chỉ mà mới chỉ xong được một tầng hầm và một tầng trệt xây thô. Không biết bao giờ mới xong 2 tầng còn lại, rồi hoàn thiện nội thất, ngoại thất, rồi còn quần thể các công trình xung quanh lăng mộ trên diện tích 50.000m2. Để hoàn thiện công trình đặc biệt này, chắc cũng phải tính thời gian bằng thập niên. Tuy nhiên, theo anh Thanh, riêng tiền công trả cho thợ xây (mà xây mới xong phần thô của tầng hầm và tầng trệt) đã là 1 tỉ đồng. Cứ theo cách tính toán thông thường của những thợ xây nghiệp dư qua 1 tỉ đồng tiền công, thì tổng đầu tư bước đầu cho công trình lăng mộ này đã phải là nhiều tỉ đồng. Theo chị Trần Thị Lý, ngoài lăng mộ chính thì trên diện tích 10.000m2 của tổng khu đất 50.000m2 sẽ xây dựng vô vàn công trình kiến trúc khác nữa, có thể là quần thể đền mộ nhỏ hơn của từng gia đình, công viên, các khu sinh hoạt văn hóa, các công trình kiến trúc mô tả đời sống thời Lý - Trần... Cụ Trần Văn Thoan thì cho biết, việc mở rộng xây dựng quần thể lăng mộ ra diện tích 50.000m2 cũng đã bàn tới. Có thể sẽ đào một cái hồ lớn để tạo phong thủy cho quần thể lăng mộ. Những thông tin chính về quy hoạch cũng như đầu tư tài chính cho quần thể lăng mộ họ Trần thì đại gia Trần Văn Sen giấu kín, không ai được biết, kể cả người trong dòng họ. Ngoài công trình đại lăng mộ này ra thì làng Phương La cũng đã có một số công trình cho người âm trị giá bạc tỉ. Khỏi phải nói đâu xa, cách lăng mộ họ Trần độ 100m, cũng giữa ngôi làng của những tỉ phú mà đất đắt như vàng, công trình lăng mộ hoành tráng của họ Lê cũng đang mọc lên. Cấu trúc của lăng mộ này cũng nhiều phần giống lăng mộ họ Trần, cũng có tầng hầm kín đáo, vững chãi sâu dưới lòng đất. Theo người dân, khi hoàn thiện nó cũng tốn cỡ 2,5 tỉ đồng. Việc đầu tư tài chính vào công trình lăng mộ đều từ các đại gia, cán bộ, quan chức đang công tác ở nơi khác, do vậy họ không muốn tiết lộ nên cũng chẳng ai biết, thậm chí, ông Trần Duy Đông, Chủ tịch xã Thái Phương cũng không nắm được bất cứ thông tin gì (ngoài việc nhìn thấy bằng mắt) về việc xây lăng mộ của họ, họ có tiền thì họ cứ làm, ông không bình luận. Tôi đã chịu khó tìm hiểu về chuyện xây dựng lăng mộ của các tỉ phú, các đại gia và cho đến nay vẫn chưa được chứng kiến một công trình lăng mộ nào mà quy mô và mức độ tốn kém có thể so sánh với công trình lăng mộ của họ Trần ở làng Phương La. Ở Bình Dương, có ông Huỳnh Phi Dũng đang xây dựng một khu nhà thờ đặt tên là Đại Nam Quốc Tự quy mô còn lớn hơn nhiều. Nhưng đó không phải là lăng mộ. Hai ngôi mộ dòng họ Vũ Ngôi mộ tổ dòng họ Vũ ở Chí Linh, Hải Dương được xây toàn đá xanh, đá trắng nguyên khối. Các đại gia họ Vũ đặt mua những loại đá này tận trong Thanh Hóa, rồi thuê 37 thợ chạm Ninh Bình ngày đêm đục đẽo để biến những khối đá thành các hình khắc, hoặc vuông vức, xếp khít với nhau. Toàn cảnh khuôn viên mộ cụ bà Nguyễn Thị Đức, mộ tổ của dòng họ Vũ ở Chí Linh, Hải Dương Một dòng họ cũng rất nổi tiếng trong việc xây mộ, đó là họ Vũ, mà thủy tổ ở đất Hải Dương. Người trong họ này xây dựng mộ không khoa trương, không tầng nọ, tầng kia, không lòe loẹt xanh đỏ, song nói về mức độ tốn kém thì cũng thuộc "tốp" những ngôi mộ tiền tỉ. Nhắc đến cái tên Trần Văn Khá thì người dân khắp huyện Chí Linh, Hải Dương đều biết. Anh Khá nổi tiếng không phải giàu có, tài năng đặc biệt gì, mà vì đã phát hiện ra ngôi mộ tổ họ Vũ, rồi bị “ma” hành làm cho khốn khổ một thời gian dài. Giờ đây, anh lại càng nổi tiếng hơn vì là người trông coi ngôi mộ đắt tiền nhất tỉnh Hải Dương. Người dân xung quanh thường tò mò tìm đến xem ngôi mộ, họ phải nhờ anh mở cổng, hỏi anh những câu chuyện xung quanh ngôi mộ này nên ai cũng biết đến anh. Ngôi làng Kiệt Thượng (Văn An, huyện Chí Linh, Hải Dương) nằm ngay chân đê, với những ngôi nhà mái ngói lúp xúp, mái bằng thấp lè tè lẫn trong những rặng tre. Ngôi mộ tổ họ Vũ nằm ngay đầu làng, cạnh cánh đồng, không cao to lừng lững, nhưng sáng choang màu đá, rất sang trọng. Anh Trần Văn Khá dáng người gầy còm, hay chuyện. Nhưng khi hỏi về chuyện đào thấy ngôi mộ tổ họ Vũ ra sao thì cứ chối đây đẩy, không muốn nhắc đến nữa. Theo anh, ngôi mộ là sự ám ảnh suốt đời anh và gia đình anh cũng như cả làng Kiệt Thượng. Nó làm anh nổi tiếng, song cũng làm anh khốn đốn suốt mấy năm trời. Cha mẹ mất đi, chỉ để lại cho anh Trần Văn Khá túp lều tranh xơ xác bên cánh đồng. Lấy vợ, anh Khá tự đóng gạch, ước nguyện xây cho mình một ngôi nhà bằng bạn bằng bè. Tuy nhiên, 7 năm trời hì hục nhào đất đóng gạch, 7 lần dựng lò đốt gạch trên mảnh vườn nhà mình thì 7 lần giông bão, sấm chớp nổi lên đùng đùng, mưa như trút nước, làm sập lò, nát hết gạch. Năm 1993, chán đốt gạch, anh Khá quyết tâm đào mảnh vườn đó làm ao thả cá. Bữa ấy, có 5 người nữa là anh em trong nhà tập trung đào hộ. Đang đào đất thì chạm phải vật cứng, màu trắng như phiến đá lớn. Thế nhưng, bổ ra thì thấy không phải đá mà là một loại hợp chất vôi và mật. Nghĩ vớ được mộ cổ của người Trung Quốc, bên trong sẽ có nhiều vàng bạc nên mấy người bàn tính lấp lại, để đêm ra bới sau, chứ bới ngay lên, thấy nhiều vàng quá dân xúm lại đòi chia thì chẳng ăn thua gì. 12h đêm hôm đó, 6 người hì hục đào bới, phá lớp hợp chất vôi và mật, bẩy tung nắp hầm mộ. Tuy nhiên, một sự kiện lạ diễn ra, 6 người hì hục dùng xà beng bẩy, dùng dây thừng và đòn ráng sức khiêng, song chiếc quách vẫn không nhúc nhích, nặng như khối bêtông, chân tay ai cũng có cảm giác bủn rủn. Sợ quá, anh Khá liền thắp hương khấn: “Cụ cho con đưa cụ về mả của làng để cụ được siêu thoát”. Không ngờ, khấn xong, mọi người xúm vào khiêng thấy không nặng như trước nữa. Bật nắp áo quan, thấy nước trong vắt, thi thể cụ bà vẫn nguyên vẹn, mùi hương lan tỏa, nhưng mò mẫm mãi chỉ thấy mấy đồng trinh bằng đồng, chiếc bát con và vài món đồ tùy táng không mấy giá trị. Sáng ra, anh Khá báo cáo chính quyền. Từ bấy, nhà anh Khá lúc nào cũng đông như hội, người dân khắp nơi kéo đến xem ngôi mộ hợp chất. Các nhà khoa học từ các cơ quan chuyên môn trên Hà Nội cũng về tìm hiểu cặn kẽ ngôi mộ 1.200 năm tuổi này. Anh Khá khẳng định, anh là người bạo dạn nhất làng, từ bé đã không biết sợ tối, sợ ma. Anh kể: Hồi thanh niên, đêm nào anh cũng úp cá, soi ếch ngoài đồng, trong nghĩa địa làng. Có lần, nửa đêm ngồi trên nóc ngôi mộ mới chôn xem mặt mũi con ma thế nào, nhưng tuyệt nhiên không gặp. Anh không tin trên đời lại có ma. Thế nhưng, sau ngày đào phải ngôi mộ hợp chất, suốt 3 tháng 10 ngày, đêm nào cũng vậy, cứ rùng mình một cái, tỉnh dậy, lại thấy hình người mặc áo trắng đứng ở đầu giường. Tay chân nhìn rõ mồn một, nhưng khuôn mặt không nhìn thấy đâu. Từ rất xa văng vẳng vọng đến câu nói: “Mày phá nhà tao, mày trả lại nhà tao...”. Lần nào anh Khá cũng kêu vợ cứu, nhưng chị vợ sợ "vãi linh hồn", cứ trùm chăn kín mít. Cô con gái và người chị gái cũng mấy lần sợ chết khiếp khi mơ thấy hình người mặc áo trắng lướt đi ngoài sân. Câu chuyện này là anh Khá kể, tôi thì chẳng tin chuyện có ma, vì tôi chưa gặp ma bao giờ, chỉ biết rằng, sau đó anh Khá trở nên lơ nga lơ ngơ, không biết gì suốt mấy tháng trời. Cả ngày anh chỉ ngồi như một khúc gỗ, hiền như củ khoai, đôi mắt vô hồn, không tự ăn uống, không tự vệ sinh được. Chị vợ phải chăm sóc cho anh như một đứa trẻ. Có thời gian anh Khá tỉnh táo, sợ quá bỏ vào Bình Dương sinh sống. Tuy nhiên, đêm nào anh cũng dựng tóc gáy vì... thấy "ma" (?!). Không trốn được “ma”, anh lại trở về, rồi nghe thầy cúng, thầy bói hướng dẫn, anh vay nóng 5 triệu đồng với lãi suất 5%/tháng để xây lại mộ, xây miếu cho bà cụ. Thế nhưng, xây xong rồi mà đêm vẫn gặp “ma”, thầy bói lại bảo phải đập ra xây lại, anh Khá tiếp tục làm theo. Anh Khá kể, suốt 2 năm trời sau đó, ngày đêm anh thắp hương, cúng khấn ngoài mộ nên mới được yên thân. Tất cả tài sản của bà cụ, từ những tấm quách (mà có người trả 5 triệu anh Khá chưa bán vì chê rẻ, sau khi gặp “ma” thì không dám bán nữa), đến những đồng trinh, mẩu gỗ nhỏ xíu bằng ngón tay của bà cụ anh cũng đem ra mộ chôn tất. Năm 2003, hai đại gia là Vũ H. và Võ Văn H. tìm về nhà anh Khá và bảo người dưới mộ là bà Nguyễn Thị Đức, thân mẫu của cụ Vũ Hồn, tổ nhà các anh, hiện đang thờ ở làng Mộ Trạch (Tân Hồng, Bình Giang, Hải Dương). Hai đại gia cũng đề nghị anh Khá ra giá mảnh đất 306m2, nơi có ngôi mộ của cụ Đức. Anh Khá bảo, lúc đó đòi cả trăm triệu hai đại gia này cũng mua, nhưng nghĩ đến ngôi mộ anh đã lạnh sống lưng nên chỉ ra giá 25 triệu đồng. Tất nhiên, hai đại gia này đồng ý ngay, không một lời bớt xén. Sau ngày hôm đó, anh Khá trở thành người giám sát việc xây mộ giúp hai đại gia, nấu nướng, phục vụ 37 thợ xây, thợ chạm khắc đá từ mãi Ninh Bình ra ăn ở, làm việc suốt 1 năm trời. Thỉnh thoảng cũng có từng đoàn người với xe lớn, xe bé sang trọng kéo về chật làng, song anh cũng chỉ biết họ là con cháu họ Vũ. Ngôi mộ được xây bởi những chất liệu vĩnh cửu, gồm toàn đá xanh, đá trắng nguyên khối. Để có được loại đá đặc biệt này, các đại gia phải đặt mua tận trong Thanh Hóa, rồi từng đoàn xe trọng tải lớn rầm rập chở về Chí Linh. 37 thợ chạm khắc lành nghề ở Ninh Bình dựng lều, ngày đêm đục đẽo chan chát để biến những khối đá thành các hình khắc, hoặc vuông vức, xếp khít với nhau. Công trình này được xây dựng chắc chắn, cẩn thận đến nỗi tường bao xung quanh cũng được đổ toàn bằng bêtông cốt thép. Riêng 4 bức tường đã ngốn hơn 1.000 bao ximăng cùng với hàng chục tấn sắt phi 16. Tuy nhiên, chi phí xây cả 4 bức tường đó cũng chỉ bằng cái lư hương bằng đá, hoặc một cái cột đá nguyên khối chạm trổ tinh tế nặng vài tấn. Toàn bộ khu sinh phần là một khối đá khổng lồ, chôn xuống lòng đất 1,7m, bề mặt rộng 30m2. Để chống lún, người ta đã đào sâu xuống lòng đất, đầm nện chắc chắn, sau đó đổ một lớp bêtông rộng vài chục mét vuông, rất dày làm móng, sau đó mới xây khuôn đặt hài cốt và xếp các khối đá, mỗi khối nặng 1,3 tấn khít vào nhau. Các khối đá được mài giũa kỳ công đến nỗi khi xếp vào khít chặt với nhau. Những khối đá này được phết chất kết dính là liền luôn thành một khối đá lớn. Cả khu sinh phần đã biến thành một khối đá khổng lồ nặng cả trăm tấn. Đứng bên ngoài trông vào, thấy ngôi mộ cụ bà Nguyễn Thị Đức có vẻ giản dị, song anh Khá bảo, chỉ nhẩm tính đơn giản cũng thấy ngôi mộ này phải tốn hàng tỉ đồng. Con số chi phí xây dựng ngôi mộ này là bao nhiêu, hai tỉ phú Vũ H. và Võ Văn H. không tiết lộ, song theo ông Vũ Hồng Khánh (Hải Phòng), một người họ Vũ đã theo sát việc xây ngôi mộ tổ này thì riêng hai đại gia trên đây đã quyên góp 1,5 tỉ đồng, chưa kể nhiều người khác nữa, vì thế ngôi mộ phải tốn chừng 2 tỉ đồng (?!). Việc xây dựng ngôi mộ hiện vẫn chưa dừng ở đó. Theo anh Trần Văn Khá, mấy cụ già họ Vũ đã nhiều lần về gặp anh để bàn bạc, thỏa thuận việc mua lại toàn bộ diện tích đất ở và đất ruộng xung quanh ngôi mộ tổ này, kể cả ngôi nhà anh đang ở, với tổng diện tích 3.000m2. Theo mấy cụ già họ Vũ bàn bạc thì họ đang tính toán sẽ xây dựng tiếp miếu thờ, nhà khách, phòng họp cùng hàng loạt công trình nữa phía ngoài khuôn viên ngôi mộ, trên diện tích đất mua lại của anh Khá để trông nom, bảo quản và hương khói cho cụ tổ. Việc bàn bạc còn chưa được ngã ngũ vì anh Khá muốn có khoản tiền đủ mua đất rồi xây nhà ra mặt đường hoặc thị trấn để buôn bán, còn những người trong họ Vũ thì muốn đập ngôi nhà khang trang anh vừa xây cạnh mộ ra để xây lại cho hài hòa hơn với cảnh vật xung quanh, rồi muốn gia đình anh tiếp tục sinh sống ở đây để trông nom mộ, vì họ chỉ tin tưởng anh. Anh Khá không thích thế vì anh đã quá mệt mỏi với cảnh nơm nớp lo sợ kẻ trộm lẻn vào mộ đào mất cục đá, hay bê mất cái đầu rồng, cái lư hương thì đến là mệt, bởi mỗi cục đá ở đây cũng có giá cả triệu đồng. Hơn nữa, bán hết ruộng đất mà vẫn sống ở đây thì không biết lấy gì mà ăn. Mộ tổ họ Vũ quả thực độc đáo và tốn kém khủng khiếp, song vẫn chưa thấm vào đâu so với ngôi mộ của một chút chít của tổ Vũ Hồn, đó là ngôi mộ của đại gia Vũ Kha, một đại tỉ phú nổi danh một thời của Hải Phòng. Tôi quen biết với đại gia Kha từ mấy năm nay, song cũng phải bỏ công thuyết phục mãi đại gia này mới cho tận mắt nhìn thấy khu mộ mà ông đã xây sẵn cho mình. Theo ông Kha, tôi là người bạn duy nhất mà ông cho xem mộ, còn ngoài những người trong gia đình, kể cả đồng nghiệp, những người sống gần đó, những cán bộ quản lý văn hóa cũng không biết công trình mộ kỳ công, tốn kém gần triệu USD của ông. Vòng vèo qua những con ngõ lớn vùng ngoại ô thành phố Hải Phòng, chiếc cổng sắt cực lớn, có hai tay cầm là chiếc vòng sắt, xỏ vào hai lỗ mũi sư tử hiện ra trước mắt ở cuối ngõ. Hai bên ngõ là hai bức tường dài, cao, bao quanh những dãy nhà quay mặt về hướng khác, do vậy, khu vực này là đường cụt, hoàn toàn yên tĩnh, không có bóng người qua lại. Chiếc Ford cáu cạnh vừa lọt vào cổng, người giúp việc chạy ra đóng ngay lại và khóa chặt. Tôi không có cảm giác ớn lạnh như khi đi vào những khu mộ, nghĩa địa khác, ngược lại có cảm giác như đi vào một khu vực thanh tịnh với những công trình văn hóa hết sức đặc sắc, thể hiện một tâm hồn tài hoa, rất đặc biệt của gia chủ. Ông Kha không muốn gọi nơi đây là ngôi mộ, lăng mộ hay quần thể mộ mà ông muốn gọi là “Cụm văn hóa đồ đá”. Theo lời giải thích của ông, nếu gọi là ngôi mộ thì trong tương lai không xa có thể người ta sẽ đập phá không thương tiếc vì một ngôi mộ của một cá nhân mà tốn kém đất đai, tiền bạc như thế là không cần thiết, vả lại nếu gọi là mộ sẽ tạo không khí nặng nề, u ám cho người sống xung quanh và cho người đến tham quan sau này. Nếu gọi là “Cụm văn hóa đồ đá” sẽ tạo sự gần gũi và có giá trị quần chúng, giá trị xã hội hơn. Ước vọng của đại gia này là 100 năm sau, công trình lăng mộ của ông sẽ biến thành một công trình văn hóa đặc sắc được con cháu trong dòng họ, nhân dân địa phương bảo vệ, các nhà khoa học, các nhà văn hóa thường xuyên lui tới để khám phá, nghiên cứu, học hỏi. Tôi bảo: “Liệu xây mộ tốn kém quá mức như vậy có cần thiết không? Có lãng phí quá không?”, thì đại gia này lý luận: “Nếu các vị vua của Ai Cập không xây mộ cho mình thì con cháu ngàn đời sau sao có công trình Kim Tự Tháp kỳ vĩ mà ngắm”. Cách đây chục năm, người dân Hải Phòng không ai không biết đến đại gia Vũ Kha. Ông không những là một nhà khoa học với hàng trăm công trình có giá trị mà còn là giám đốc một doanh nghiệp hàng đầu của Hải Phòng thời bấy giờ. Trong căn phòng làm việc rộng mênh mông của ông ở trung tâm thành phố, tôi thấy treo khắp nơi toàn là bằng khen, mười mấy cái huy chương vàng cho các loại sản phẩm mà ông sáng tạo, sản xuất cung ứng cho thị trường. Công việc thuận lợi, tiền nhiều không kể xiết, mà lại đã tuổi ngoài 60, không biết tiêu tiền thế nào cho hết, nên ông nghĩ ra chuyện xây lăng mộ cho hai vợ chồng yên nghỉ sau này. Ông Kha đã xem khắp khu vực thành phố Hải Phòng suốt mấy năm trời mới chọn được mảnh đất này, vì theo ông, ngoài việc có phong thủy tốt, nó còn rất yên tĩnh. Năm 2003, ông gặp tất cả những hộ dân xung quanh mảnh đất thỏa thuận, ngã giá mua lại để mảnh đất được rộng rãi, vuông vức. Ông Kha cho các hộ dân ra giá và dù họ có đòi đắt cỡ nào, ông cũng vui vẻ mua. Mảnh đất rộng 3.000m2 nằm giữa một quận ngoại thành được tỉ phú Vũ Kha mua với giá 9 tỉ đồng.^:lol:^ Nguồn: bao cong an nhan dan
-
Trong địa lý dương trạch, rất hiếm sách đề cập đến những căn nhà bị phục ngâm hoặc những căn nhà bị phản ngâm, ngoại trừ tập Địa lý toàn thư và Trạch vận tân án có đề cập đến, nhưng lại không rỏ ràng vì các tác giả nghĩ rằng các người nghiên cứu địa lý dương trạch đều đã thông suốt Dịch Lý, cho nên đã tường tận thế nào là phục ngâm, thế nào là phản ngâm rồi. Phần này hết sức quan trọng vì có thể một căn nhà đã trọn 3 tốt rồi mà vẫn bị phản hay bị phục ngâm. Một số các nhà phong thủy ngay trên các nước Á đông và ngay như Việt Nam, Trung Hoa chẳng hạn cũng không nắm vững được phần Dịch học trước khi đi vào nghiên cứu khoa phong thủy. Điều nầy hoàn toàn không thể xãy ra được ở thời điểm năm bảy chục năm trước đây. Vì Kinh Dịch là cội nguồn. Người biết kinh Dịch chưa hẳn là đã biết y lý hay địa lý... nhưng người biết y lý hay biết địa lý thì chắc hẳn phải biết rành về Dịch lý. A) PHẢN NGÂM Đại thể trong dịch lý, phản ngâm có 2 loại: - Phản ngâm của quẻ là quái biến cùng xung. - Phản ngâm của hào là hào biến cùng xung hay hào biến tương xung cũng vậy. Quý vị lật lại Hậu thiên bát quái đồ hình, quý vị sẽ thấy rỏ: - Các cặp Tốn Khôn Chấn Đoài Càn Cấn là 3 cặp bố trí đối xứng qua trục Khảm Ly - Các cặp Khảm Ly Cấn Khôn Càn Tốn là 3 cặp bố trí đối xứng qua tâm của bát quái đồ hình. Hình vẽ: Trong các cặp phản ngâm có 3 cặp tác động tương xung rất mạnh là: - Càn Tốn hay Tây bắc(bên trái là tuất bên phải là hợi) và Đông nam( bên trái là thìn bên phải là tỵ) Hay Thìn tuất tỵ hợi tương xung. - Khảm Ly hay chính bắc(tí), chính nam(ngọ) hay tí ngọ tương xung. - Đoài Chấn hay chính tây (dậu), chính đông ( mão) hay mão dậu tương xung. Tóm lại: Có 6 cặp tương xung: Tí ngọ. Sửu mùi. Dần thân. Mão dậu. Thìn tuất. Tỵ hợi. Hay thường gọi là lục xung. Một căn nhà bị phản ngâm, nôm na là bị tác động ngược lại ( Xung) là một căn nhà có hướng của cửa cái và hướng đến của giòng nước chảy hay giòng sông hoặc hướng của con đường dẫn đến nhà tương xung. Ví dụ: Nhà có cửa cái mở hướng Đông mà giòng sông hay con đường từ hướng Tây đến. Đông Tây hay Chấn Đoài hay Mão Dậu tương xung. Ví dụ: Nhà có cửa cái mở hướng Tây bắc, con đường dẫn đến nhà hay giòng sông chảy từ hướng Đông nam đến thì quả thật nhà này đã bị phản ngâm rồi vậy. Phản ngâm là vì KHÍ bị tương xung. Cho nên những nhà bị phản ngâm tính toán gì cũng bị tác động ngược lại. Dự tính ra đi thì phải ở lại. Muốn ở lại thì có việc phải ra đi. Muốn nghĩ ngơi hưu trí thì việc làm lại đến tới tấp. Muốn cầu tài thì tật bệnh đến. Muốn bán nhà thì nhà không bán được nhưng khi không muốn bán nữa thì lại có người lại hỏi mua........Như vậy phản ngâm cũng có xấu có tốt. Nhưng đa phần xấu lại nhiều hơn vì việc làm không tính toán, dự phòng để chủ động được. Nguon: thegioivohinh.net
-
Từ hàng ngàn năm trước, con người đã ý thức được rằng các yếu tố thiên nhiên ảnh hưỡng rất lớn đến họa phúc và có thể quyết định vận mạng con người. Ngay từ thời kỳ hang động, con người đã phải biết phục tùng, thích ứng với thiên nhiên để có thể sinh tồn và phát triển. Con người đã nhận thấy chỗ cư trú cần phải được che chắn để có thể tránh được gió từ phương Bắc. Đồng thời, hai bên hông cũng cần che chắn đủ để nơi cư trú được ấm hơn. Theo quan niệm của Khoa Phong Thủy, từ nguyên thủy, con người phát sinh từ phương Bắc, cho nên một số tài liệu lưu truyền lại đều cho rằng nhà cửa phải hướng về phương Nam mới tốt. Quan niệm này chỉ đúng một phần, là vì, quả thật gió từ phương Bắc quá lạnh. Con người đã biết phải dựa vào núi làm nơi cư trú, cho nên nhà cửa phải chọn hướng Nam. Đồng thời cũng theo truyền thuyết, ngày xưa những dân tộc ở phương Nam, người Trung Hoa thường gọi là rợ Nam cần phải được khai hóa. Các đền đài vua chúa đều quay về hướng Nam là chỉ để tiêu biểu cho sự mong ước thống trị toàn phương Nam của các triều đại ngày xưa. Càng ngày con người càng biết thích ứng với thiên nhiên, càng biết cải tạo những điều kiện hiện có của thiên nhiên để có thể tồn tại. Những kinh nghiệm thực tế được lưu truyền, tích lũy từ đời này sang đời khác, khắc sâu vào lòng người, ảnh hưỡng rộng khắp trong cuộc sống, tác động vào tâm lý và hành động của con người và đó mới là tiền đồ căn bản của Thuật Phong Thủy. Phong chính là gió và Thủy chính là nước . Gió và nước là hai yếu tố thiên nhiên vốn luôn luôn động. Đồi núi đất đai thì vốn luôn luôn tĩnh. Sự chuyển động không ngừng của hai yếu tố gió và nước đã làm thay đổi, ảnh hưỡng đến hình thể vốn cố định của đồi núi đất đai. Con người đã biết dựa lưng vào núi để tránh gió là vì kinh nghiệm cho thấy hể đâu có gió thổi vào y rằng chỗ đó xấu, nhiều tai họa sẽ đến. Chỗ nào tốt, có sinh khí là những chỗ có nước tụ lại hoặc những chỗ có núi ôm vòng bao bọc trước sau để có thể che chắn được gió. Thế nhưng, hai thể gió và nước lại không thể tách rời được nhau là vì chỗ nào có gió mà không có nước thì chỗ đó lại bị cằn khô. Chỗ nào có nước mà gió đến thì chỗ đó sinh khí bị tiêu tán và nơi đó sẽ bị lạnh lẽo. Chỗ nào có nước tụ lại mà gió tán đi thì chỗ đó có sinh khí, đất đai màu mỡ, ấm áp, cây cỏ tốt tươi. Nước và núi thì hữu hình nhưng gió thì lại vô hình cho nên phải nhìn vào thế đi của nước và núi mới có thể biết được gió đi hay tán. Quả thật trong thiên nhiên, hai yếu tố gió và nước ảnh hưỡng thật lớn lao . Gió có thể đem phấn hoa để cây cối đơm bông kết nụ. Nước có thể đem sức sống, nuôi dưỡng cho vạn vật và con ngưởi. Nhưng gió có thể giận dũ trở thành những cơn bão gào thét tàn phá núi rừng. Nước có thể trở thành những cơn lũ san bằng làng xóm thành bình địa. - Phía sau là núi, gọi là Huyền Võ. - Bên trái là Thanh Long. - Bên phải là Bạch Hổ. - Trước mặt là Chu Tước. Huyền Võ cần phải cao và dày để ngăn chận được gió. Phải và trái cần đủ kín để che chắn hai bên hông. Nghĩa là: Chổ cư trú cần vững chắc gần y như ghế dựa. Thế nhưng, một nơi được gọi là tốt lành cho con người xây dựng nhà cửa để cư trú, yếu tố chắn Gió chỉ là thứ yếu. Yếu tố Nước mới là quan trọng, vì ở đâu có Nước, ở đó mơí có Khí. Hoặc ở đâu Nước dừng thì ở đó Khí mới Tụ. Nhất Tụ Khí, Nhì mới Tàng Phong là vậy. Vô Tình Nước có 5 dạng xấu . Gọi là Ngũ Hung của nước: - Bạo là nước chảy ào ạt. - Liêu là nước chảy lênh láng. - Trọc là nước đục ngầu. - Lại là nước chảy xiết. - Than là nước chảy xối xã. Núi cũng có 5 dạng xấu của núi. Gọi là Ngũ Hung của núi: - Đồng là núi trọc. - Đoạn là núi đứt. - Thạch là núi đá. - Quá là núi vượt quá hình thể - Độc là núi đơn côi. Núi dẩn nước mà Khí là mẹ của nước. Khí chuyển động cho nên nước chuyển động theo. Theo quan niệm của khoa Phong Thủy, ban đầu chỉ có Khí, đầu tiên hóa thành nước, nước tích tụ tạp chất hóa thành núi . Vậy là: Nổi lên mặt đất mà trông thấy vết tích đó là nước, chuyển động trong lòng đất mà không thấy hình đó là khí, cho nên xem nước từ đâu đến là biết khí bắt nguồn từ đâu là vậy. Ngoài quan niệm Khí, nước chính là hình ảnh của các dòng sông. Ngày xưa, nước uống nuôi sống con người, tạo thức ăn thủy sản và sông ngòi thì còn là phương tiện chính để di chuyển .Bởi thế, sau này các nhà phong thủy đã xem con đường mang một phần tính chất của giòng sông trong sự chuyển động của khí là vì vậy. Những nơi cư trú tốt là những nơi có núi ôm vòng trở lại, có nước bao quanh. Lớn thì xây dựng Quốc Gia, vừa thì làm đô thị, nhỏ thì xây dựng xóm làng, nhỏ nữa thì làm nơi an táng, nghĩa địa. Nhà cửa đất đai lớn nhỏ có khác nhau nhưng hung họa thì lại giống nhau. Nên chọn cư ngụ những nơi núi lớn , sông lớn giao hội. Những nơi nhiều núi thì tìm những chổ bằng phẳng. Ở bình nguyên thì tìm nơi có sông, có nước. Nơi sơn lâm thì tìm chổ kín gió. Những nơi núi bỗng dưng nghiêng chệch hướng ra phía khác thì rõ ràng đó không phải là nơi tốt lành. Các nhà Phong Thủy chuộng những nơi long mạch phải dài, chổ phải thoáng rộng, thủy lưu phải uốn lượn vòng vèo và phải giao hội. Những nơi có núi như hộ vệ hai bên chắp tay vái chào nhau là những nơi nhất định được bình yên, tốt lành. Lưu Ý những nơi cần tránh làm chổ cư trú: Nơi quá cận núi Nơi núi đâm thẳng Nơi núi đứt đoạn Nơi núi vô tình quay lưng lại Nơi nước đâm thẳng Nơi nước chảy ào ạt: Nơi nước vô tình: Nơi nước chảy đi (Tán): Nước chảy đi là nước tẻ làm đôi. Nước đến là nước 2 giòng nhập lại một (Tụ) Hãy dùng nhản giới mà quan sát, hãy dùng tâm mà định nhận. Bình nguyên thì cao hơn một chút cũng là chân long. Chổ cao thì nhìn núi, chổ bằng phẳng thì nhìn sông. ÂM DƯƠNG Âm dương là biểu hiện của tỉnh và động. Trời dương thì động, đất âm thì tỉnh. Âm dương tỉnh động, đầy vơi, lên xuống, sáng tối, lạnh nóng. . . . . . hai thể không tách rời được nhau. Con người là do khí âm dương sinh ra, do đó con người phải biết thuận theo âm dương: thuận thì sống, chống lại thì chết. Thuật phong thủy căn bản từ Dịch Lý, cho rằng Âm Dương vốn để biễu hiện sáng và tối. Phía mặt trời là ánh Sáng (dương). Quay lưng lại phía mặt trời là bóng tối (âm). Mặt trời khởi từ Tý, lớn ở Mão và Vượng ở Ngọ. Tý làø giữa đêm, Ngọ là giữa trưa. Từ giờ ngọ, bóng tối bắt đầu xuất hiện, lớn ở Dậu và vượng ở Tý. Bởi thế, âm cực thì sinh dương, dương cực thì sinh âm hay dương sinh từ Tý, Âm sinh từ Ngọ là vậy. Thái Cực Lưỡng Nghi Âm Dương Tứ Tượng Biểu hiện trong âm có dương, trong dương có âm. Hay Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Theo chiều thuận kim đồng hồ, Dương sinh ở bên trái, Âm sinh từ bên phải. Nét liền ( ) biểu thị cho Dương. Nét đứt ( ) biểu thị cho Âm. Dương là đàn ông bên tay trái. Âm là đàn bà bên tay phải. Như vậy: Thanh Long thuộc dương. Bạch Hổ thuộc âm. Âm Dương sáng tối sinh ra ngày đêm. Ngày đến đêm, đêm đến ngày sinh ra bốn mùa xuân hạ thu đông không bao giờ dứt. Âm Dương đầy khắp trong vũ trụ, luôn luôn tác động, ảnh hưởng hết mọi loài. Hình và Khí: Hoàng Công Tổ Sư dạy phép dương trạch trong Thiên tinh tâm pháp có nhắc : Một âm một dương gọi là đạo.Một động một tỉnh gọi là khí. Một đến một đi gọi là vận. như vậy người chỉ mới nhắc về khí chứ chưa nói về hình. Vì hình và khí thì hoàn toàn khác biệt. Khí âm thì tỉnh mà hình lại cương cường. Khí dương thì động mà hình lại nhu mì, không cương mãnh. Bởi thế các nhà Phong thủy đã căn cứ vào hình để luận về khí vì khí đã được thể hiện bởi hình. Hãy nhìn vào dạng của Nước thì rõ biết. Khí âm càng nhiều thì nước càng vón cục, đặc cứng. Khí dương càng lớn thì nước lõng chảy nhu mì, uyển chuyển. Cho nên, càng về phía Bắc, âm khí càng nhiều núi càng cao càng cương mảnh. Càng dần về phía Nam, khí dương lấn át khí âm, cho nên đất đai bằng phẳng ít núi ít đồi. Trời dương thì có mây có gió, đất âm thì có núi có sông. Con người ỏ giữa trời và dất nên cũng phải có cửa có nhà. Dù to nhỏ khác nhau, hình dạng có khác nhau và ngay cả những người ngụ cùng chung một nhà cũng có thiện ác khác nhau. Con người phải biết những quy luật biến hóa của âm dương để thuận theo. Thuận thì yên, nghịch thì không yên, suy thoái. Cao thì Khí Âm Bằng phẳng thì Khí Dương NGŨ HÀNH: Trong vũ trụ, không gì ngoài năm thể là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ gọi là ngũ hành. Kim là kim loại - màu trắng - hình tròn. Mộc là cây cối - màu xanh - hình thẳng. Thủy là nước lỏng - màu đen - hình uốn lượn. Hỏa là lửa - màu đỏ - hình nhọn. Thổ là đất đai – màu vàng - hình vuông. Kim sinh thủy – Thủy sinh mộc – Mộc sinh hỏa – Hỏa sinh thổ – Thổ sinh kim, gọi là vòng tương sinh. Kim khắc mộc – Mộc khắc thổ – Thổ khắc thủy – Thủy khắc hỏa – Hỏa khắc kim, gọi là vòng tương khắc. Ngũ hành quý ở sự hài hòa, tương hợp, vì vậy luật THAM SINH KỴ KHẮC luôn luôn được tận dụng trong khoa Dịch Lý nói chung, Địa lý nói riêng. Ví dụ: Kim đang khắc Mộc, nhưng nếu có Thủy xen vào thì Kim sẽ thích đi sinh Thủy, không còn đi khắc Mộc nữa. Đồng thời khi đó Thủy đủ lực để đi sinh Mộc. Mộc không còn bị Kim khắc. Đặc biệt, trường hợp hai khí cùng một hành mà gặp nhau thì gọi là ngũ hành tương ngộ. Ví dụ: Phương nam mà có hỏa hình. Hay hỏa gặp hỏa lắm điều kiện tụng. Phương bắc mà có thủy hình. Hay thủy gặp thủy thì tính sẽ dâm. Phương mộc mà có mộc hình. Hay mộc gặp mộc thì phú quý,yên lành. Phương kim mà gặp kim hình. Hay kim gặp kim thì giàu sang. Phương thổ mà gặp thổ hình. Hay thổ gặp thổ thì tính sẽ ngu. Ngũ hành tương ngộ thường gặp trong đia lý dương trạch, cho nên cần phải lưu ý rất nhiều. Thuật phong thủy cho rằng Ngũ Hành là Cương Lĩnh của âm dương, là quyền năng của tạo hóa. Tất cả đều phải dựa vào ngũ hành mới có thể biện phương lập hướng. Như vậy, ngay sau khi chọn được địa điểm xây dựng nhà, điều trước tiên phải nhận định cho đúng khu vực thuộc hành gì bằng cách xem xét núi non, cảnh vật chung quanh để sao cho được ngũ hành tương sinh. Ví dụ: Núi hành kim, kim sẽ đi sinh thủy. Kiểu nhà hành thủy sẽ được đại lợi. Ví dụ: Núi hành mộc, mộc sẽ sinh hỏa. Kiểu nhà hành hỏa sẽ được đại lợi. Theo quan niệm của đông phương, Người thì có tóc, nhà thì có nóc. Căn cứ vào hình dạng của nóc hay mái nhà dể định ngũ hành. BÁT QUÁI và PHƯƠNG HƯỚNG: La Bàn: Muốn biết chính xác phương hướng, Ngoài cách nhìn tính phương hướng của SAO trên trời, cách này đòi hỏi nhiều kinh nghiệm thực tế. Cách đơn giản và thực dụng nhất hiện nay là cách sử dụng la bàn. Trên mặt của la bàn, mủi tên luôn luôn chỉ về hướng Bắc. Cho dù ở vị trí nào, hướng bắc phải được xác định trước rồi lần lượt theo chiều kim đồng hồ để xác định hướng Đông, tiếp theo là hai hướng Nam và Tây. Giữa Bắc và Đông là hướng Đông Bắc. Giữa Đông và Nam là hướng Đông Nam. Giữa Nam và Tây là hướng Tây Nam. Giữa Tây và Bắc là hướng Tây Bắc. Tám hướng theo La bàn ứng với 8 quẻ gọi là Bát quái: Quẻ Càn: Ba vạch liền: Hướng Tây Bắc ( Tuất-hợi) Quẻ Khảm: Vạch giữa liền: Hướng chính Bắc ( Tý ) Quẻ Cấn: Vạch trên liền: Hướng Đông Bắc ( Sửu–Dần ) Quẻ Chấn: Vạch dưới liền: Hướng chính đông ( Mão ) Quẻ Tốn: Vạch dưới đứt: Hướng Đông Nam ( Thìn-Tỵ ) Quẻ Ly: Vạch giữa đứt: Hướng chính Nam ( Ngọ ) Quẻ Khôn: Ba vạch đứt: Hướng Tây Nam ( Mùi-Thân ) Quẻ Đoài : Vạch trên đứt: Hướng chính Tây ( Dậu ) Cần phân biệt rỏ 2 loại bát quái: Bát quái Tiên Thiên và Bát quái Hậu Thiên. Bát quái Tiên thiên hay gọi là Phục Hy Tiên thiên Bát quái đồ thứ tự theo tám quẻ: 1 Càn - 2 Đoài - 3 Ly - 4 Chấn - 5 Tốn - 6 Khảm - 7 Cấn - 8 Khôn Bát quái Hậu thiên hay goị là Văn Vương Hậu Thiên Bát quái đồ. Thứ tự theo tám quẻ: 1 Càn - 2 Khảm - 3 Cấn - 4 Chấn - 5 Tốn - 6 Ly - 7 Khôn - 8 Đoài Trong khoa địa lý phong thủy, Bát Quái Hậu Thiên được sử dụng phù hợp với vạn vật đã sinh. Phương hướng thực tế, la bàn hoàn toàn phù hợp với cách bố trí các quẻ trong hậu thiên bát quái. Một số ý nghĩa của các quẻ liên quan về phương hướng và người: Quẻ Càn ba vạch toàn dương, hành KIM, tượng trưng cho Cha, phương tây bắc tuất hợi. Quẻ Khảm vạch giữa liền, hành THỦY tượng trưng cho con trai giữa, phương chính bắc, Tý. Quẻ Cấn vạch trên liền, hành THỔ tượng trưng cho con trai út, phương đông bắc, sửu dần. Quẻ Chấn vạch dưới liền, hành MỘC tượng trưng cho con trai trưởng, phương chính đông, mão. Quẻ Tốn vạch dưới đứt, hành MỘC tượng trưng cho con gái trưởng, phương đông nam, thìn tỵ. Quẻ Ly vạch giữa đứt, hành HỎA tượng trưng cho con gái giữa, phương chính nam, ngọ. Quẻ Khôn ba vạch đều đứt, hành THỔ tượng trưng cho Mẹ, phương tây nam, mùi thân. Quẻ Đoài vạch trên liền, hành KIM tượng trưng cho con gái út, phương chính tây, dậu. Lưu ý: Phần căn bản về Bát Quái, cần học đi học lại nhiều lần mới nhớ được. Phần nầy không thuộc được thì sẽ gặp nhiều khó khăn ở các phần sau. Một số kinh nghiệm tồn động từ đời này sang đời khác, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống hàng ngày: 1) Đất Cao/Thấp: Nhà ở trong một khu vực phía cao, phía thấp thì cần phân biệt các trường hợp: - Phía đông cao, phía tây thấp là vị trí tốt lành, không cần phân biệt trước hay sau nhà. Gọi là có nhiều sinh khí. - Phía tây cao, phía đông thấp là vị trí xấu, không tốt cho việc xây dựng nhà ở, kinh doanh. Gọi là đất không có sinh khí. - Phía bắc cao, phía nam thấp là vị trí tốt lành cho việc xây nhà ở. Ngược lại,ø phía bắc thấp , phía nam cao là vị trí không tốt lành cho việc xây dựng nhà ở, kinh doanh. Những hướng còn lại đều cần phần đất phía sau nhà phải cao hơn phía trước mới gọi là tốt lành. 2) Rộng/Hẹp: Phía đằng sau nhà, đất đai rộng hơn phía trước là tốt lành. Phía sau đất đai hẹp hơn phía trước là tiền kiết hậu hung, xấu. 3) Lồi/Khuyết: Hướng Bắc hay là hướng tý cần cao và hướng nam hay hướng ngọ cần thấp, nhưng cả hai hướng đều không được khuyết. Khuyết thì nhà cửa sẽ đơn cô. Các hướng đông, tây dù cho bị khuyết cũng không sao. Chỉ cần phía đông cao hơn phía tây là đủ. Tuy nhiên không gì tốt hơn một vị trí đất đai bằng phẳng, phía đằng sau có núi, phía đằng trước có sông. Sinh khí sẽ đầy tràn. 4) Trái/Phải: Khi xây dựng nhà cửa, sau khi xem xét kỷ vị trí, đất đai cao thấp không đều thì nên chọn phía bên trái cần cao hơn phía bên phải. Vì bên trái là tay long, hành mộc thuộc Dương. Bên tay phải là tay hổ, hành kim thuộc Âm. Dương càng nhiều thì sinh khí càng lớn, phước lộc càng dồi dào. Tuy nhiên, trong phong thủy địa lý rất cẩn trọng sự hài hòa. Dương hay âm thái quá đều không tốt. Trong dương cần có âm, trong âm cần có dương là vậy Đường Cái: Những ngôi nhà sát cạnh sông hồ sẽ nhận trực tiếp KHÍ THỦY của sông hồ, nhưng những con đường dẫn đến nhà cũng ảnh hưởng đến ngôi nhà không ít. Kinh nghiệm cho thấy những ngôi nhà bị đường đâm thẳng vào thường bị nhiều bất ổn, không yên. Tuy nhiên, không phải người nào cũng bị ảnh hưởng mà tùy phương hướng nào cuả ngôi nhà bị đường đâm vào thì phương đó mới bị tổn thương. Đường đâm vào phương Càn Tây Bắc - Tuất Hợi thì người cha trong gia đình sẽ bị tổn hại. Đường đâm vào phương Khảm Bắc - Tý, thì tổn hại cho người con trai giữa. Đường đâm vào phương Cấn Đông Bắc - Sửu Dần, thì tổn hại cho người con trai út. Đường đâm vào phương Chấn Chính Đông - Mão thì tổn hại cho người con trai trưởng. Đường đâm vào phương Tốn Đông Nam- Thìn Tỵ thì tổn hại cho người con gái đầu. Đường đâm vào phương Ly Chính Nam – Ngọ thì tổn hại cho người con gái giữa. Đường đâm vào phương Khôn Tây Nam - Mùi Thân thì sẽ tổn hại cho người Mẹ. Đường đâm vào phương Đoài Chính Tây - Dậu thì sẽ tổn hại cho người con gái út. Đường cần ôm vòng lấy ngôi nhà nhưng không được ôm quá siết, quá chặt. Phía Nam của ngôi nhà mà có đường là ngôi nhà đại lợi. Phía đông, bắc có đường thì không được tốt. Riêng tại hướng đông nam của nhà ở mà có ngã ba đường cái thì được sinh khí dồi dào, làm ăn thịnh vượng. Phía đông có sông có biển thì lại tốt hơn nữa. HÌNH và KHÍ Khí thì dựa vào tượng để thành hình và Hình thì để thể hiện Khí. Hình và Khí hoàn toàn khác biệt nhưng lại không thể tách rời được nhau. Muốn biết Khí thì phải dựa vào Hình. Thế nhưng mấy ai rõ biết? Hãy quan sát núi non trùng trùng, điệp điệp ở phương Bắc và bình nguyên rộng lớn trải dài ở phương Nam. Phương Bắc lạnh lẽo, âm khí thì nhiều. Phương Nam nắng ấm dương khí cùng khắp. Âm thì lạnh, tỉnh. Dương thì nóng, động. Khí Âm thì Trầm, Khí Dương thì Phù. ÂM DƯƠNG Bắc Nam Lạnh Nóng Tĩnh Động Trầm Phù Càng về Phương Bắc Âm khí càng lớn thì núi non càng hùng vĩ, càng về Phương Nam, Dương khí càng nhiều thì núi non càng hiếm, đất đai bằng phẳng. Khí âm thì nhu, trầm nhưng Hình thì cương cường bạo liệt. Khí Dương thì cương, phù, nhưng Hình thì nhu mì bằng phẳng. Phong là Gió, là nộ khí của trời đất. Gió càng lớn thí Âm khí càng nhiều. Sấm thuộc Dương khí cho nên mổi khi thấy Sấm động thì Bảo sắp dứt. Có phải là Âm khí của Bảo bị Dương đánh tan hay không? Bởi thế, càng ở chổ cao, thì gió càng lớn. Ởû Phương Bắc, Âm khí thì nhiều mà khí Dương thì thường yếu kém không đủ, cho nên hình thể là núi non trùng điệp, cương cường. Ở phương Nam khí Dương thì nhiều, khí Âm thì yếu kém không đủ, cho nên hình thể bằng phẳng nhu mì. Lê quý Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ thêm: Ở Phương Bắc, trời tiết chưa rét lắm mà Nước đã đông đặc thành băng, bởi lẽ khí Dương qúa yếu kém không đủ để lấn át khí Âm. Ở phương Nam, Dương khí thì nhiều lấn át khí Âm, khí âm thường tan biến phía dưới, cho nên nước không thể đông đặc đóng thành băng được. Hình và Khí như vậy là đã rõ Những nơi Âm khí nhiều thì Hình cương cường bạo liệt. Những nơi Dương khí nhiều thì Hình nhu mì bằng phẳng. Trời thuộc Dương cho nên Hình thì động mà Khí thì tỉnh. Đất thuộc Âm cho nên Hình thì tĩnh mà Khí thì động. Dịch lấy Âm Dương hai khí làm trọng. Trong Âm phải có Dương, trong Dương phải có Âm. Có Âm hay có Dương thì không thể tồn tại. Phong Thủy thì coi trọng Hình thể. Núi non cương mãnh thì Dụng là Dương nhưng cái Thể là Âm. Bình nguyên rộng khắp, nhu mì thì Dụng là Âm nhưng cái Thể là Dương. Rõ ràng Âm Dương, Hình và Khí hoàn toàn vẫn không thể tách rời được nhau. Hãy nhìn kỹ bàn tay xấp ngửa để hình dung. Bàn tay xấp thuộc Âm nhưng Hình thì gồ ghề, dáng cương mãnh hiển lộ, rõ ràng không chút ẩn giấu. Bàn tay ngửa thuộc Dương nhưng Hình thì bằng phẳng nhu mì, mềm mại. . . . . . Hoặc cũng có thể hình dung trạng thái của Nước. Âm khí nhiều thì nước vón cục thành đá cứng nhắc, Dương khí nhiều thì nước nhu mì, uyển động. A Lý Toàn Thư của Lê Bá Ôn có ghi lại phần giải đáp giữa Dương Quân Tùng và Sư Nhất Hạnh. Tăng hỏi: Âm là gì? Dương là gì? Dương công đáp: Hai chữ Âm Dương là cốt lõi của phong thủy, là Hình và Khí được tạo rồi hóa mà thành. Dương khí có hình dạng lõm (OA ), Âm Khí cò hình dạng lồi (ĐỘT). Âm biến thì hóa thành Dương, Dương biến thì hóa thành Âm. Nếu Dương long đến thì Âm thụ huyệt. Nếu Âm long đến thì Dương thụ huyệt hay Âm lai thì Dương thụ, Dương lai thì âm thụ. Âm Dương, Hình, Khí, đạo lý của tạo hóa là như vậy. Lại hỏi: Âm lai Dương thụ là gì? Dương công đáp: Mạch có sóng lưng, khi tiến nhập vào chổ huyệt có chổ lõm thì gọi là Âm lai Dương thụ. Lại hỏi: Dương lai Âm thụ là gì? Dương công đáp: Thế đến của Mạch tương đối bình hòa, chổ lồi chính là chổ nhập huyệt. Thì gọi là Dương lai Âm thụ. Họ Trúc giãi thích thêm: Phàm là địa hình có thể thụ huyệt, nếu giống OA (lõm), KIỀM (kẹp), PHỆ (mở ra) tinh khí xuất ra bên ngoài ắt thành Dương. Nếu giống NHŨ ( lồi), PHỦ ( vòng lên), ĐỘT ( nhô lên), tinh khí đọng lại bên trong ắt thành ÂM. Trong OA (lõm) có chổ ĐỘT (nhô lên) như vậy gọi là Dương lai Âm thụ. Phần đầu của NHỦ (chỗ lồi) có OA (chỗ lõm) như vậy gọi là Âm lai Dương thụ. Dương Mậu Thúc trong Thai Phục Luận viết: Thai Phục là thư, hùng song long. Thai sinh trước hòa hợp với Dương mà sinh Thư. Tinh thần của nó chiếu lên trên. Phục sinh sau, hòa hợp với ÂM mà thành Hùng. Tinh thần của nó chiếu xuống. Nghênh lên cao thì thành Dương. Phủ xuống dưới thấp thì thành Âm. Lưu Đôn Tố viết: Âm là cường, Dương là nhược. Nhược gần Cường mà sinh thành vạn vật. Âm tính thì cương kình, Dương tính thì nhu hòa. Lại viết: Dương lấy Âm làm bản tính. Âm lấy Dương làm hình thể. Chủ của Động là Tỉnh, chủ của Tỉnh là Thể. Ở trên trời thì Dương động mà Âm thì tỉnh. Ở dưới đất thì Dương tỉnh mà Âm thì động. Bản tính vì có hình thể mới Tỉnh. Hình thể vì có bản tính mới động. Núi non hùng vĩ cương cường tính Âm thì lấy chỗ Dương làm trọng. Đồng bằng nhu mì bằng phẳng tính Dương thì lấy Âm làm trọng. Chỗ nhỏ thì làm nơi mộ táng, lớn hơn thì làm nhà ở, lớn hơn nửa thì làm châu quận, tỉnh thành....Biết như thế để có thể giải thích tại sao người xưa ví Núi như Long là con Rồng trong thần thoại. Núi bản chất yên tĩnh thì trọng ở chổ Động. Ví Núi như Long là nhìn núi như con Rồng đang sống, nghĩa là đang có sinh lực dồi dào. Cũng từ quan niệm đó mà các nhà Phong Thủy phân biệt đâu là Sinh Long, đâu là Tử Long. Tử Long là dãy núi thẳng đơ, cứng nhắc như chết. Sinh Long là dãy núi uốn khúc nhấp nhô, lên xuống, sống động....... Nước thì bắt nguồn từ trên Núi cao cho nên nói. Núi là mẹ của Nước hay nói ở đâu có Nước, ở đó có Khí là vì muốn đề cập đến Sinh Long là vậy. (Một số nhà Phong Thủy cho rằng những nơi ruộng lúa bao la, xanh ngát, chỉ cần một cơn gió nhẹ cũng có thể thấy rõ những làn sóng nhấp nhô sống động tạo thành lườn y như những vẩy Rồng sinh động.) Khí cũng chính là Nước, vì Nước là Mạch máu của Long. Nhưng để có thể phân biệt rõ thì Khí là sinh lực của Địa thế mà mắt thường không thấy được, ngược lại sinh lực của địa thế có thể thấy được thì đó chính lá Nước vậy. Tạ Giác Trai trong Đảo Trượng Thi giải thích tiếp: Hai chữ Âm Dương rất khó làm rõ. Mấy ai hay biết cái tính của tạo hóa trong đó ! Âm nhũ giống như dương vật của người nam. Dương oa giống như sản môn của người nữ. Nếu giống như Âm nhũû của người nam thì không được làm tổn thương phần đầu. Nếu giống như Dương oa của người nữ thì không được làm hỏng hai môi....... Một không thể sinh ra sự vật mà cần phải có hai. Trường hợp hình thể và khí thế của Long Mạch chạy đến giống như sóng kiếm, như lưng bàn tay úp thì gọi là cô Âm, nếu như bàn tay ngửa thì gọi là độc Dương. Âm Dương cần tương giao với nhau (Giao hợp) nêú không thì y như người Nam không vợ, người Nữ không chồng thì làm sao sinh sôi nảy nở? Trong Âm phải cầu Dương, trong Dương phải cầu Âm. Âm và Dương cầu giao với nhau mới không bị tuyệt diệt, đất lớn do đó mới được sản sinh. Cùng một cách nhìn khác của các nhàPhong Thủy thì cao là Âm, thấp là Dương. Địa thế cao vút là Âm. Bằng phẳng, tròn trịa là Dương. Phủ xuống là Âm, ngưỡng diện là Dương. Vật có Mũi Nhọn là Âm, vật có chổ Lõm xuống là Dương. Trường hợp địa thế trải dài bằng phẳng, không thấy xuất hiện chổ nhô lên nghĩa là không thấy có Âm, nhưng lại thấy xuất hiện các dòng nước hội hợp, tức là đã có Âm tồn tại. Trường hợp này được gọi là trường hợp xảo diệu, địa thế quý vô cùng. Quan sát thực tế ánh sáng, bóng tối hay ngày và đêm. Chính giữa đêm giờ Tý, Âm hoàn toàn làm chủ thì Dương bắt đầu xuất hiện. Giữa trưa đứng bóng giờ Ngọ, Dương hoàn toàn làm chủ thì Âm bắt đầu xuất hiện. Vì lẽ thế Dịch cho rằng Dương xuất từ Tý, Âm xuất từ Ngọ. Hoặc nói: Gốc của Âm ở trong Dương, gốc của Dương ở trong Âm là vậy. Âm Mạch thì phải trên nhỏ mà dưới lớn. Dương Mạch thì phải trên lớn dưới nhỏ. Do vậy mỗi khi Dương thở ra khí, vạn vật sinh ra. Một khi Âm hít khí vào thì vạn vật sinh thành. Đọc lại Địa Lý Bí Truyền của Tả Ao: . . . . . . . . . . Mạch có Mạch Âm Mạch Dương, Mạch nhược, Mạch cường, Mạch tử, Mạch sinh, Sơn cước Mạch đi rành rành, Bình dương Mạch lẩn, nhân tình không thông Có Mạch qua ao, qua sông Qua đầm, qua núi, qua đồng, qua non. . . . . . . Đồng bằng Mạch đị thấp nên gọi là Mạch Dương. Sơn cước Mạch đi theo đồi núi cao lớn nên gọi là Mạch Âm. Lại thêm 4 yếu tố để phân định: - Mạch Cường: Là thế mạch hùng vĩ, cương cường. - Mạch Nhược: Là thế Mạch thanh nhã, dịu dàng. - Mạch Sinh: Thế Mạch đi rất sống động như con thú đang quay đầu, vẫy đuôi. - Mạch Tử: Thế Mạch đi ngay đơ như cán cuốc Về Cao Thấp thì trên sơn cước thấp một thước cũng gọi là thấp. Ở bình dương cao một tấc cũng gọi là cao. Âm Dương Hình Khí, Cụ Tả Ao tóm gọn trong hai câu dễ nhớ: Âm là gò đóng, đất ghềnh Dương là ruộng phẳng, đất bằng như lai. NGŨ HÀNH cũng phân biện Âm Dương, Hình và Thể. Ngoài hành Thổ trung ương, 4 hành khác là Kim, Mộc, Thủy và Hỏa. Mỗi vị trí gọi là mỗi Cuộc Long. Đứng trên vị trí xây dựng, nhà ở hoặc mộ táng, nhìn thẳng góc với dòng nước chảy gần nhất, quan sát thấy dòng chảy của Nước từ TRÁI sang PHẢI, thuận theo kim đồng hồ thì KHÍ ở đó là KHÍ DƯƠNG. Ngược lại nếu dòng chảy của Nước từ PHẢI sang TRÁI thì Khí ở đó là KHÍ ÂM. (Cũng cần nhắc lại Âm Khí thì tìm Dương. Dương khí thì tìm Âm. Bình nguyên thấp một tấc cũng có thể là Dương, cao một tấc cũng có thể là Âm) 1/ KIM cuộc: Nhìn thấy giòng nước chảy về hướng ĐÔNG. Nghĩa là giòng chảy từ hướng TÂY đến. Hướng TÂY hành KIM nên gọi là: TÂY LONG hay KIM CUỘC LONG. Nếu thấy giòng nước chảy từ TRÁI sang PHẢI thì Khí thuộc DƯƠNG. Ngược lại thì Khí thuộc ÂM. Nếu tính từ Vòng Tràng Sinh, Dương KIM trường sinh tại TỴ (Đông Nam). Vượng tại Dậu (Tây) và Mộ tại SỬU ( Đông Bắc). Tràng Sinh,Vượng và Mộ luôn luôn tại 3 vị trí TAM HỢP Tỵ Dậu Sửu tao thành Kim cuộc. Âm Kim trường sinh tại DẬU (Tây), Vượng tại TỴ (Đông Nam) và Mộ tại SỬU (Đông Bắc). Nước chảy về Phương nào thì phương đó là phương Mộ khố. Hình KIM thì TRÒN. Âm Kim phải có dạng TRÒN, đứng, cao hoặc LỒI. Dương Kim phải có dạng TRÒN nằm, phẳng hoặc LÕM. Nếu thấy Hình và Khí không được chính, thì phải quan sát thêm vì KIM vượng có thể Sinh THỦY. Thủy thì có Hình nhấp nhô sóng nước. Nhớ lại là Nơi Âm thì đi tìm Dương. Nơi Dương thì đi tìm Âm. Hình củaÂm thì Lồi, Hình của Dương thì Lõm. Vị trí Tốt thường được chọn để xây nhà cửa là Vị trí Trường Sinh hoặc Đế Vượng. Trường Sinh như cây mới nụ, cần thời gian mới trổ trái ra hoa. Đế Vượng thì như Hoa nỡ rộ, sau đế vượng thì SUY, BỆNH, TỬ. . . . . Vì thế về lâu dài thì trọng Trường Sinh. Mau chóng thì chọn Đế vượng. 2/ MỘC cuộc: Nhìn thấy giòng nước chảy về hướng TÂY. Nghĩa là giòng chảy từ hướng ĐÔNG đến. Hướng ĐÔNG hành MỘC nên gọi là: ĐÔNG LONG hay MỘC CUỘC LONG. Nếu thấy giòng nước chảy từ TRÁI sang PHẢI thì Khí thuộc DƯƠNG. Ngược lại thì Khí thuộc ÂM. Nếu tính từ vòng Tràng Sinh, Dương Mộc tràng sinh tại HỢI ( Tây Bắc). Vượng tai MÃO ( Đông) và Mộ tại MÙI ( Tây Nam ). Tràng Sinh, Vượng và Mộ luôn luôn tại 3 vị trí tam hợp Hợi Mão Mùi tạo thành Mộc cuộc. Âm Mộc tràng sinh tại Mão. Vượng tại Hợi và Mộ tại Mùi. Hình Mộc thì DÀI. Âm Mộc phải có dạng Dài, Đứng, Cao. Dương Mộc phải có dạng Nằm, Dài và thẳng. Nếu thấy Hình và Khí không được chính, thì phải quan sát thêm vì Mộc vượng có thể đi sinh Hỏa. Hỏa thì có hình Nhọn nhấp nhô. 3/ THỦY cuộc: Nhìn thấy giòng nước chảy về hướng NAM. Nghĩa là giòng chảy từ hướng BẮC đến. Hướng BẮC hành THỦY nên gọi là: BẮC LONG hay THỦY CUỘC LONG. Nếu thấy giòng nước chảy từ TRÁI sang PHẢI thì Khí thuộc DƯƠNG. Ngược lại thì Khí thuộc ÂM. Nếu tính từ Vòng Tràng Sinh, Dương THỦY trường sinh tại THÂN (Tây Nam),Vượng tại TÝ ( Bắc) và Mộ tại THÌN ( Đông Nam). Tràng Sinh, Vượng và Mộ luôn luôn ở vị trí TAM HỢP Thân Tý Thìn tạo thành Thủy cuộc. Âm thủy tràng sinh tại Tý ( Bắc). Vượng tại Thân ( Tây Nam ) và Mộ tại Thìn ( Đông Nam). Hình THỦY thì nhấp nhô sóng nước. Âm Thủy phải có dạng Đứng, cao. Dương Thủy phải có dạng Nằm hoặc Lõm. Nếu thấy hình và khí không được chính, thì phải quan sát thêm là vì Thủy Vượng có thể đi sinh Mộc. Mộc thì có Hình thẳng và dài. 4/ HỎA cuộc: Nhìn thấy giòng nước chảy về hướng BẮC. Nghĩa là giòng chảy từ hướng NAM đến. Hướng Nam hành HỎA nên gọi là: NAM LONG hay HỎA CUỘC LONG. Nếu thấy giòng nước chảy từ TRÁI sang PHẢI thì Khí thuộc DƯƠNG. Ngược lại thì Khí thuộc ÂM. Nếu tính từ vòng Tràng sinh, Dương HỎA tràng sinh tại Dần ( Đông Bắc). Vượng tại NGỌ ( Nam ) và Mộ tại Tuất ( Tây Bắc). Tràng sinh, Vượng và Mộ luôn luôn tại 3 vị trí tam hợp Dần Ngọ Tuất tạo thành Hỏa cuộc Âm Hỏa tràng sinh tại Ngọ ( Nam ), vượng tại Dần ( Đông Bắc) và Mộ tại Tuất ( Tây Bắc). Nước chảy về phương nào thì phương đó là Mộ khố. Hình Hỏa thì Nhọn, nhấp nhô. Âm hỏa phải Cao, nhọn. Đương Hỏa nằm phẳng và góc cạnh. Nếu thấy Hình và Khí không được chính, thì phải quan sát thêm vì Hỏa vượng có thể đi sinh Thổ. Thổ thì có hình Vuông vức. Nguồn :thegioivohinh.net
-
Kính chào anh Phạm Cương và bác Thiên Sứ. Em thành thật cám ơn nhận xét của anh. Sau khi post bài lên đã sơ sót quên mất Nguồn trích dẫn bài trên em sưu tập được ở trang web thegioivohinh.net. Chúc bác Thiên Sứ và Anh Phạm Cương sức khỏe .Vạn sư bình an Kính gửi. Lê Bá Trung.
-
Ngôi nhà và chiếc hố chôn tội ác ....
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
Chào bác Thiên Sứ. Xin lỗi mọi người vì cháu không ghi tên Nguồn ở dưới. Nguồn của bài viết này cháu tham khào được ở trang web thegioivohinh.net . Nhân tiện đây cháu cám ơn bác Thiên Sứ đã dành thời gian đến nhà cháu. Xây khi làm theo những lời của bác chuyển một số vật dụng trong nhà lại tâm trạng và sức khỏe tốt hẳng lên, cháu không còn cảm thấy nhức đầu chóng mặt nữa sau khi chuyển cái tủ xuống dưới chân. Thành thật cám ơn bác Thiên Sứ rất nhiều :lol: -
Thường theo phong tục hay thói quen vào dịp đầu năm, đa số người Việt thích tìm hiểu vận mạng cho mỗi cá nhân và người thân trong năm mới như thế nào qua các bộ môn tử vi, bói bài, xin xăm v.v, hay nói chung các môn khoa học huyền bí. Đi xa hơn và có tính cao cấp hơn nữa là một số ít các “Tử Vi Gia”, lại dùng phương tiện đó để đoán chơi vận mệnh cho cả nước! Đúng sai lành dữ như thế nào thì ít có ai chứng nghiệm được liền, vì đa số chắc sẽ quên đi và coi như là những chuyện đọc cho vui trong mấy ngày xuân lai rai. Không ngoài thông lệ nói trên, người viết cũng muốn nhân dịp năm mới sắp tới, gởi đến quýđọc giả một vài dòng đặc biệt về khoa Điạ Lý Phong Thuỷ cho Việt Nam, với hy vọng rằng mọi chuyện sẽ xảy ra tốt đẹp cho tương lai cuả đất nước và dân tộc. Trong tất cả các loại khoa học “huyền bí “ còn sót lại cho đến hiện tại cuả văn minh Trung Hoa, có lẽ khoa Phong Thủy (Feng Shui) là còn được ưa chuộng một cách rộng rải, không những phổ biến ở nhiều nơi trong vùng châu Á mà còn lan truyền sang cả những nơi chốn văn minh nhất phương Tây. Đa số chúng ta chắc sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe nói, có những ông chủ cơ sở hàng trăm triệu đô ở Cali hay New York, đã mời những ông “Thầy Địa Lý” tận bên Hồng Kông hay Đài Loan làm cố vấn về “Phong Thuỷ” cho các công trình sắp xây dựng! Mặc dù được phổ biến rộng rãi như vậy, nhưng có một ứng dụng nhỏ trong khoa phong thuỷ liên hệ đến bộ môn hình tượng học, thì lại có thể coi như là bị thất truyền, vì không thấy có sách vở nào ghi chép lại rõ ràng mạch lạc cho có phương pháp theo khoa học. Điều nghịch lý ở đây là trong các câu chuyện truyền miệng cuả dân gian về khoa Điạ lý âm phần, bộ môn chuyên đi tìm các thế đất tốt để an táng cho thân nhân qua đời, với hy vọng là con cháu sẽ hưởng được hồng phúc cuả tổ tiên, thì đa số lại đều có nhắc tới. Cụ thể như thế đất hình cái “Yên Ngựa” thì có nhiều con cháu ra làm quan, thế đất có hình “Bút Nghiên” thì con cháu thi cử đỗ đạt cao, hay thô tục bình dân hơn là: “ Thế đất làng giống như ...cuả đàn ông, nên con gái làng thường bị chửa hoang!” v.v. Thắc mắc lớn ở đây là bằng cách nào, các nhà Điạ lý Phong Thủy có thể liên tưởng và nghiệm ra được những kết quả như vậy? Thú thật là không có câu trả lời và phải nhìn nhận là rất “siêu hình”, nếu không nói là “Phi khoa học”, vì không ai có thể giải thích được. Nhưng không phải là hoàn toàn vô lý. Ai có thể giải thích được hiện tượng tại sao nước Ý (Italy) có hình dáng giống y hệt như một chiếc giày bốt, đã là quốc gia đoạt giải vô địch bóng đá (world cup) nhiều nhất thế giới với tất cả là bốn (4) lần? Nếu cho là tình cờ ngẫu nhiên thì tại sao nước thứ hai sắp hạng sau đó là Ba Tây (Brazil) với cầu vương Pélé và hai lần đoạt giải vô địch thế giới, cùng có bản đồ quốc gia giống như chiếc giày(tennis) thể thao! Cũng đừng quên chuyện dân Ý ở các vùng đảo Sicily ngay trước cái chân, vốn nổi tiếng là tay anh chị giang hồ về “đấm đá” nhất thế giới. Nếu còn chưa đủ để thuyết phục thì hãy nhìn cả Châu Âu giống như một con khủng long với cái chân là nước Ý muốn đá Phi Châu, và Tây Ban Nha (Spain) là cái đầu (giống đầu bò tót) như đang muốn húc Phi Châu. Trong khi nước Anh (Britain) thì giống như đang ngồi cỡi trên lưng (Pháp) và bụng (Đức) cuả con khủng long. Kết quả thật sự là nước Anh đã từng làm bá chủ trên chính trường Châu Âu, và cuối cùng là Âu Châu đã “đá và húc” cho tan nát cả lục địa Phi Châu . Ngoài ra, Tây Ban Nha cũng đã tiên phong dẫn đầu Âu châu trong việc thám hiểm thế giới và chiếm đất làm thuộc địa. Chưa nói đến tại sao dân Tây Ban Nha lại có trò chơi đấu bò rừng độc đáo nhất thế giới! Cũng tương tự, không biết có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa truyền thuyết “con Rồng” và hình dạng cuả nước Việt Nam? Nếu khách quan nhìn vào hình thể bản đồ điạ lý, thì quả thật là hình thể nước Việt Nam trông giống như con “Rồng” đang uốn lượn thân mình bên bờ Thái Bình dương. Những gì mô tả sau đây hoàn toàn là do kết quả tổng hợp từ nhiều nhà Điạ Lý Phong Thuỷ nghiệp dư và chuyên gia người Việt, trong đó thân thể con “Rồng Đại Việt ” gồm có ba phần Đầu, Mình, và Đuôi (hay chân tay): Đầu con Rồng ở miền Bắc với Hà Nội là con mắt, nhìn ra mũi rồng nằm ngay cảng Hải Phòng. Râu Rồng là tập hợp cuả những hòn đảo ở vịnh Hạ long (Có người cho mấy ngàn hòn đảo nhỏ là do rồng “nhả ngọc phun châu”). Miệng Rồng chính là vùng tam giác đồng bằng trù phú gồm có Thái Bình, Hải Dương và Nam Định, dùng để nuôi ăn hay cung cấp luá gạo cho miền Bắc. Theo luật thiên nhiên, bao giờ phần đầu cũng phải nắm giữ vai trò lãnh đạo chỉ huy tất cả các bộ phận khác còn lại cuả thân thể. Bởi vậy cho nên gần 800 năm lịch sử của Đại Việt, Thăng Long (Hà Nội) luôn đóng vai trò là kinh đô, nơi ngự trị sinh sống cuả các bậc Vua Chúa, quan lại và tầng lớp trí thức khoa bảng của cả nước Đại Việt. Khuyết điểm nếu có là tầm nhìn xa của Rồng Đại Việt ra Thái Bình Dương bị che khuất mất bởi đảo Hải Nam. Theo phong thuỷ thì ví như là Rồng bị bịt mắt! Nhưng trầm trọng nhất chính là những gì đang nằm ở phiá trên cuả cái đầu Rồng. Nếu nhìn thật kỷ thì từ vùng Cao Bắc Lạng qua tận Lào Cai và Lai Châu trông giống như cái sừng hay cái chóp đỉnh đầu bị kềm kẹp lại bởi đại lục Trung Hoa và xứ Lào. Còn nói theo cách Phong Thuỷ là con Rồng VN bị đè đầu, giống như câu chuyện “Tề Thiên Đại Thánh” bị núi Ngũ Hành nặng cả ngàn (tỷ) cân đè nhốt xuống, ngóc đầu lên thoát ra không nổi! Suốt gần 800 năm, tuy bề ngoài có vẻ như tự chủ độc lập, nhưng thực tế cho thấy là Đại Việt bị chi phối và khống chế toàn diện về văn hoá lẫn chính trị từ Trung Quốc. Cứ mỗi ba năm là phải làm lễ triều cống. Mỗi lần muốn lập Vua mới lên ngôi đều phải xin phép, và sau đó đích thân Vua phải làm lễ quỳ lạy về phương Bắc để nhận lãnh “Sắc Phong Vương” từ Thiên Triều. Không vị vua Đại Việt nào dám xưng Đế, cho mãi đến đời vua Quang Trung hay Nguyễn Huệ (nên bị giảm thọ chết một cách bất ngờ?) và các đời Vua nhà Nguyễn sau này, do nhờ có bảo hộ của thực dân Pháp. Tuy nhiên cũng có lập luận cho rằng đó là khôn khéo cuả các bậc Vua Chúa Đại Việt nhằm xoa dịu tự ái Bắc Triều, hầu tránh khỏi cảnh chiến tranh và để giữ vững bờ cõi đất nước. Dù đúng sai như thế nào thì kết quả cũng cho thấy hiển nhiên là trong quá khứ, Đại Việt luôn luôn phải chịu ảnh hưởng, nếu không muốn nói là chịu sự bảo hộ từ các triều đại Trung Hoa. Miền Bắc Trung Phần coi như thuộc về nữa trên thân mình gồm có phần ngực bao gồm từ Nghệ An, Hà Tỉnh cho tới Quảng Trị. Ưu điểm chính là sông núi nơi đây có khí thế mãnh liệt, biểu tượng giống như “trái tim và hơi thở” cuả tổ quốc, nên dân cư vùng này thường có tinh thần quốc gia và lòng ái quốc cao độ. Trong gần cả ngàn năm với bao nhiêu cuộc chiến tranh chống xâm lăng, con dân sinh ra từ các vùng này đã đóng góp và hy sinh xương máu nhiều nhất cho đất nước. Ngược lại, khuyết điểm chính là vùng lãnh thổ nơi đây có bề ngang rất hẹp, nên cũng có hình dạng của “Bộ ngực lép, hơi thở yếu, không được khoẻ mạnh và không có nhiều sữa nên khó nuôi con!”. Tuy những nhà lãnh đạo cai trị đất nước xuất thân từ các miền đất này thì rất là tài giỏi đảm lược trong thời chiến tranh chống xâm lăng, nhưng lại quá bảo thủ và thường gặp khó khăn về quản lý kinh tế đất nước trong thời bình. Miền Nam Trung Phần từ Quảng Nam cho đến Khánh Hoà coi như thuộc phần bụng, hơi phình to ra ở Bình Định, Phú yên và Khánh Hoà giống như cái bụng cuả người đàn bà có thai nghén sắp sinh. Theo khoa phong thủy nếu nằm ngay bụng Rồng thì số rất nhàn và sung sướng, hưởng được lộc trời cho. Nhưng cũng chính vì vậy nên người dân có khuynh hướng sống cầu an và thích hưởng nhàn. Đại đa số không muốn tranh đấu để đạt tới đỉnh cao cuả quyền lực, danh vọng hay tột đỉnh cuả sự giàu sang. Có thể nói đây là vùng đất “rừng vàng biển bạc”, tài nguyên thiên nhiên dồi dào nhất nước. Những nhận xét nói trên, nếu nghiệm lại thì thấy khá đúng. Không kể đến nguồn tài nguyên thiên nhiên trên rừng dưới biển có khá nhiều và những mỏ dầu nằm dưới lòng đất ở ngoài biển khơi, số dân sinh sống trong những vùng này đã di cư (hay vượt biên sau 1975) ra hải ngoại nhiều nhất so với cả nước, vì nhờ có điạ hình rất thuận lợi. Chính nhờ số cư dân sống ở nước ngoài đông nên số ngoại tệ gởi về VN khá nhiều, giúp cho đời sống ở những vùng này thêm phần thoải mái. Hiện tại cho thấy tiềm năng phát triển du lịch quốc tế tại các vùng ven biển này rất lớn, hứa hẹn chắc chắn sẽ tạo ra nguồn lợi tức dồi dào không khác gì được hưởng lộc trời cho. Tất cả cũng vì nhờ nằm trên cái bụng Rồng! Dĩ nhiên là trong cái may bao giờ cũng có rủi vì một số những chuyện không hay. Vịnh Cam Ranh nổi tiếng là tốt nhất trong vùng Đông Nam Á, vị trí nằm dưới bụng Rồng lại có hình dáng giống như bộ phận sinh lý phái nữ, đắc địa hoàn toàn nên hổ trợ thêm cho cách “Hồng Nhan Bạc Phận” cuả Rồng Việt Nam. Có thể kiểm chứng lại bằng các dữ kiện lịch sử. Khu vực vịnh Cam Ranh trong thời chiến tranh đã trở thành một nơi chốn có kỹ nghệ ăn chơi công khai và nỗi tiếng cả nước, chỉ dành riêng cho quân đội đồng minh giải trí. Nhưng trên hết vẫn là một câu chuyện thuộc vào loại "huyền bí sử“ cuả đất nước Việt nam. Vịnh Cam Ranh đã đóng vai trò như một “Mỹ Nữ Giai Nhân” làm cho điêu đứng biết bao nhiêu là đấng anh hùng trong thiên hạ, nếu đụng vào! Sử thế giới ghi chép là hạm đội Nga Hoàng chỉ ghé tạm vài ngày để nghĩ ngơi, thì liền sau đó đã bị hạm đội Nhật chận đánh cho tan hàng ở eo bể Đối Mã (?)! Các hạm đội Pháp, Nhật, Mỹ, và sau cùng là Liên Sô cũng đều phải chịu rút lui, trong khi các tai họa lớn nhỏ theo sau xảy đến cho cả nước! Nghe nói xa hơn nữa là Thuỷ Sư Đô đốc Trịnh Hòa cuả nhà Minh cũng có ghé qua Cam Ranh để tiếp tế hay tránh bão gì đó, rồi cuối cùng cũng “thân bại danh liệt”! Bởi vậy nếu khách quan đem ra so sánh thì Vịnh Cam Ranh còn “kinh khủng” hơn là cô Thuý Kiều cuả ông Nguyễn Du gấp bội phần. Có lẽ cũng chính vì thế mà dù có dư sức để thuê bao “giai nhân” hoàn toàn vĩnh viễn, nhưng “anh hùng” Bắc Kinh vẫn còn lo ngại trước viễn cảnh “khuynh thành đổ nước” cuả vịnh Cam Ranh, nên chưa dám nhào vô (!?) Dù sao, theo các nhà Phong Thủy thì cũng có cách hoá giải để biến vịnh Cam Ranh thành một nơi thu hút tiền bạc vô cùng tận cuả cả thế giới. Bằng cách là trồng thật nhiều cây xanh để che phủ hết các vùng đồi cát, nhất là cần nên biến Cam Ranh thành vùng kinh tế với tự do mậu dịch, hay trở thành khu vực quốc tế hoá và cho tự do ra vào buôn bán như ở Hồng Kông hay Tân Gia Ba (Singapore) trước kia. Sau cùng là từ Bình Thuận vào tới mũi Cà Mau coi như cái đuôi hay tứ chi (Chân Tay) cuả Rồng. Đặc điểm cuả miền Nam là sông nước thì nhiều nhưng thiếu núi non cao lớn và hùng vĩ. Đất sao thì người vậy, các nhà Phong Thuỷ dựa vào đó để cho rằng cuộc đất miền Nam tuy cũng có nhiều nhân tài, nhưng đa số lại thiếu bản lãnh, nên không có được những nhà lãnh đạo xuất chúng hay nhân tài có tầm vóc quốc tế. Nhìn lại quá khứ từ thời miền Nam được khai sinh ra cho đến hiện tại thì thấy cũng ăn khớp. Suốt hơn mấy trăm năm, miền Nam chỉ có thể cho ra những ông “Phó Vương” hay bà “Hoàng Hậu” mà thôi. Kể luôn trong các lãnh vực khác cũng vậy, từ Văn Chương Nghệ Thuật cho đến Khoa Học Kỹ Thuật, không thấy có những nhân tài nổi trội vượt bực với tầm cở đứng đầu cả nước hay thế giới. Ưu điểm nếu có là ăn vào cách “Tay Chân” của Rồng. Từ thời xa xưa mới tới, đồng bào miền Nam chuyên cần làm việc, khai khẩn đất hoang thành những cánh đồng ruộng lúa cò bay thẳng cánh, biến miền nam thành vựa lúa gạo khổng lồ, không chỉ nuôi ăn cho cả nước mà còn sản xuất bán ra khắp thế giới. Ngoài ra còn có thêm một điều trùng hợp kỳ lạ nhất đã xảy ra mà chỉ khoa học huyền bí may ra mới có thể giải thích được. Cư dân miền nam Việt Nam nhờ có nguồn gốc nằm ở phần chân tay cuả rồng, nên có năng khiếu sở trường về dịch vụ làm đẹp móng tay móng chân! Hiện nay ai cũng biết là Việt kiều, nhiều nhất là ở Mỹ, chiếm hầu hết đa số thị trường làm về nghề móng tay. Đáng ngạc nhiên hơn cả là tuy Việt kiều ở Mỹ sinh ra từ miền Trung hay Bắc Việt Nam cũng có khá đông, nhưng đa số lại chỉ chuyên về làm tóc (!?) Đến đây, dám chắc là đa số đọc giả sẽ thắc mắc: Liệu như vậy thì tương lai sẽ ra làm sao, con Rồng Việt Nam có bị chèn ép và đè đầu mãi mãi không? Câu trả lời khách quan sẽ là: Không! Xin đừng thất vọng! Sông có khúc, thì người cũng có lúc. Trong vũ trụ này không có gì là cố định mãi mãi cả. Tất cả đều thay đổi (Dịch) theo đúng quy luật tuần hoàn cuả vũ trụ. Vận may mắn của dân tộc Việt đã và đang tới trong thiên niên kỷ này vì “đại địa cuộc “ đất đã chuyển mình, thay đổi hẳn từ trục Bắc-Nam sang trục Đông-Tây. Có thể giải thích một cách ngắn gọn như sau: Các nền văn minh nhân loại đầu tiên khởi động theo trục Bắc-Nam. Bắt đầu từ vùng xích đạo, văn minh Phi Châu mà đại diện cuối cùng là Ai Cập (Egypt) với những Kim Tự Tháp còn lưu dấu vết lại, đã từ phương Nam theo dần lên phương Bắc. Lần lượt sau đó, nền văn minh Ai Cập đã được chuyển giao qua hai nhóm chính về phương Bắc. Một nhóm các nền văn minh Trung Đông qua Hy Lạp (Greek), La Mã (Rome) thuộc Điạ Trung Hải v.v. Nhóm thứ hai qua Ấn Độ, đi dọc theo Vịnh Thái Lan vào Việt Nam lên phương Bắc, rồi cuối cùng đã dừng lại và phát triển ra tột đỉnh ở Trung Hoa. Đỉnh cao cuả nền văn minh Trung Hoa được đánh dấu bằng những đoàn kỵ mã thần tốc cuả Thành Cát Tư Hãn, đã “dẫm nát khắp Âu Châu làm cho cỏ cũng không mọc nổi!”. Nhưng đồng thời theo sau vó ngựa cuả các đoàn quân Mông Cổ, cũng tình cờ là những chuyển giao về Khoa Học và Kỹ Thuật cho các nền văn minh khác. Các nền văn minh sau đó lần lượt qua hết Châu Âu rồi dừng lại ở Anh Quốc, trước khi tiếp tục cuộc hành trình băng qua Đại Tây Dương và ghé vào Bắc Mỹ, theo phong trào tìm vàng về miền Viễn Tây và cuối cùng thì dừng lại ở California. Chẳng có gì lạ khi biết nền kinh tế cuả riêng California không những đứng hạng thứ 5 trên thế giới, còn là nơi dẫn đầu cuộc cách mạng về công nghiệp thông tin cho cả nước Mỹ và thế giới! Nhưng hành trình cuả trục văn minh Đông-Tây chắc sẽ không ngừng ở California mà còn tiếp tục hoàn tất nhiệm vụ sau cùng là vượt qua Thái Bình Dương để đi đúng một chu kỳ vòng tròn. Điều đó đã được nói tới như một lời tiên tri cuả cố Tổng Thống Reagan trong diễn văn đọc trước quốc hội là: “Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của Thái Bình Dương”. Trong quá khứ, đa số đều bị nhầm lẫn cho rằng chỉ có Thăng Long (Hà Nội) mới xứng đáng làm kinh đô cuả nước Việt Nam! Dĩ nhiên là không sai, nếu cuộc diện thề giới còn chịu ảnh hưởng theo trục văn minh Bắc-Nam và nếu chỉ tính có riêng một mình nước Việt Nam thôi. Nhưng vật đổi sao dời, biển rộng mênh mông còn biến thành ruộng dâu, thì có cái gì là bất diệt mãi mãi! Ngày nay nhân loại đang đi vào thế toàn cầu hóa, trục văn minh Đông-Tây đang thành hình rõ rệt trên thế giới khi xuất hiện các tổ chức liên hiệp Âu Châu (EU), Liên Minh Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Châu Á –Thái Bình Dương (APEC), v.v. Và gần đây nhất là sự kiện khai thông “Hành Lang Kinh Tế Đông-Tây” qua 4 nước Việt, Lào, Thái và Miến, tới tận Ấn Độ. Do đó, nếu nhìn lại vào bản đồ theo hướng Đông-Tây thì chắc chắn nhiều người sẽ rất ngạc nhiên vì thấy Việt Nam không còn là con Rồng bị kềm kẹp nữa, mà đã xuất tướng nhập tướng, biến hoá tài tình thành ra”Phượng Hoàng” (Phoenix), với con mắt nằm ngay tại Sài Gòn, cái mỏ bén nhọn tại Mũi Cà Mau và cái đỉnh đầu cong vòng rất đẹp (chính là cái bụng phệ cuả con rồng trước kia). Trong khi đó thì Thăng Long (Hà Nội) và miền Trung Bắc lại trở thành cái cổ để bảo vệ yết hầu, Campuchia biến thành cái miệng (với biển Hồ như là tuyến dịch vị) và Thái Lan trở thành cái “Bọc Diều” khổng lồ để dự trử thức ăn mới nuốt vô, như bức địa đồ chụp từ không ảnh sau đây cuả Google: Nhìn kỹ hơn vào tấm hình chụp không ảnh trên còn cho thấy, đây là một con Phượng Hoàng khổng lồ với cái lưng gồ lên là Trung Quốc, cái bụng và đuôi là Nga Sô, đang xoè cánh (bán đảo Thái Lan) như muốn bay ra xuống Nam Dương hay lục địa Châu Úc. Vấn nạn làm đa số vẫn còn thắc mắc là phong thủy miền Nam về cơ bản vẫn thiếu núi non cao lớn hùng vĩ (?). Thắc mắc này sẽ được giải quyết dễ dàng bằng số cao ốc chọc trời với nhiều hình dáng đẹp mắt sẽ mọc lên khắp nơi trong vùng Sài Gòn và phụ cận, thay thế cho núi cao. Điều kỳ lạ nhấn mạnh ở đây không phải chỉ là hình dạng điạ lý mà còn có những tín hiệu hay “ẩn ngữ” đã được báo trước từ lâu như là những lời tiên tri chứng nghiệm cho sự việc đã xảy ra. Theo sách sử có ghi lại, ngoài sự tích “Rồng Tiên”, còn có nói đến biểu tượng cuả dân Việt là các loài chim Hồng chim Lạc, hay nói vắn tắt là thuộc dòng giống Lạc Hồng. Như vậy, sự việc đó không phải chỉ là một huyền thoại đã có trước từ ngàn xưa về biểu tượng của dân Việt là chim thần ưng Phượng Hoàng, đã được vẽ trên mặt trống đồng để lưu truyền lại cho hậu thế, mà còn là một sự kiện hiển nhiên nhìn thấy rất đúng thực tế, không phải là vô tình hay do một sự trùng hợp ngẫu nhiên nào. Sự kiện bắt đầu từ Vua Quang Trung và tiếp theo sau đó là các vị Vua nhà Nguyễn. Tuy vẫn biết chọn kinh đô ở Huế không phải là chỗ vượng điạ hơn nếu so với đất Thăng Long, nhưng là một sự lựa chọn chiến lược khôn khéo, nhằm tránh khỏi áp lực trực tiếp quá mạnh từ phương Bắc, cho đến khi thực dân Pháp qua cai trị Việt Nam. Kế đến là trong cái rủi bao giờ cũng có cái may, xương máu của dân Việt đã phải trả trong hơn 80 năm thuộc địa đó, cũng chỉ để thay đổi thế đất rồng bị vòng kim cô niền đầu, bằng thế đất Phượng Hoàng tung cánh gió ở phương Nam. Và cho đến khi người Pháp rời khỏi Việt Nam, thì Sài Gòn đã là “hòn ngọc Viễn Đông” (chính là con mắt cuả phượng hoàng!). Điều đáng nói là trong lúc tháo lui ở VN, người Pháp đã vô tình hay cố ý làm hồi sức mạnh lại cho Rồng phương Bắc. Trong khi đó thì Phượng Hoàng ở miền Nam còn non trẻ, lại bị làm suy yếu thêm do bởi liên minh Đông Dương (Việt Miên Lào) tan rã theo chân Pháp, nên đã xảy ra thảm cảnh “Sơn Tinh Thuỷ Tinh” kéo dài trong hơn 20 năm. Sau cùng và trên hết tất cả, là một sự kiện trùng hợp rất hy hữu gần như rất siêu hình, gắn liền với định mệnh cuả đất nước Việt. Từ ngày lập quốc hơn 200 năm, nước Mỹ đã chọn chim ưng làm biểu tượng cho quốc gia, còn gọi là quốc huy hay quốc hồn. Nhìn lại lịch sử chiến tranh cho thấy, khi Mỹ thay chân Pháp ở VN sau 1954, thật sự đó là một cuộc gặp gỡ kỳ diệu đầy may mắn cho cả hai về sau này trong tương lai, tượng trưng cho một cặp thần ưng hoà nhập vào nhau để biến thành Phượng Hoàng. Đúng là duyên nợ tiền định cho hậu duệ cuả hai nhóm tách ra từ một nền văn minh, sau mấy ngàn năm lưu lạc bây giờ mới gặp lại nhau. Một bên là tinh hoa của Châu Á (nhóm thứ hai), thuộc dòng dõi của vua chúa Đại Hán từ Trung Hoa còn sót lại, bởi thất thế chạy giặc lánh nạn qua đất Việt nên được các Vua Lê Chúa Nguyễn cho khẩn hoang các vùng từ Bình Định Quy Nhơn vào tới tận trong Nam, theo trục văn minh Bắc Nam. Còn một bên là tinh hoa của Châu Âu (nhóm thứ nhất) đã vượt Đại Tây Dương qua Bắc Mỹ để lánh nạn, theo trục văn minh Đông-Tây. Nhóm dân tị nạn Âu Châu này có đủ mọi thành phần, bao gồm hậu duệ cuả các vương quyền bị thất sủng, các tín đồ tôn giáo bị khai trừ ra ngoài xã hội, và sau cùng là các nhóm sắc dân (như dân Do Thái) bị kỳ thị chủng tộc. Tuy nhiên, sự kết hợp tiền định giữa hai giống thần ưng đã gặp nhiều thữ thách ban đầu cuả định mệnh, do bởi lòng ganh tức và giận dữ cuả những Rồng mẹ ở mãi tận phương Bắc. Một cuộc chiến tranh khốc liệt đã xảy ra giữa Rồng phương Bắc và Phượng Hoàng phương Nam. Kết quả là cả hai đều bị trọng thương. Nhưng trong lúc Rồng phương Bắc đang cố hàn gắn vết thương để phục hồi sinh lực, thì những gì đã xảy ra sau đây ở phương Nam mới chính thật là “huyền thoại” cuả Phượng Hoàng: Theo huyền thoại sử của văn minh Ai Cập, thì giống chim thần ưng Phượng Hoàng (Phoenix) khi bị trọng thương hay biết mình già yếu sắp chết, bèn tự nổi lửa thiêu đốt thân xác cuả mình cháy ra tro. Để rồi từ đó gom lại bụi tro trong đống lửa tàn, một Phượng Hoàng sơ sinh sẽ sống lại và bay lên với một năng lực sống động và mãnh liệt hơn trước rất nhiều. Nghĩ a là Phượng Hoàng luôn luôn bất tử và sống hùng sống mạnh với thời gian! Phượng Hoàng Việt Nam đã làm đúng theo huyền thoại của chính mình. Sau cơn binh lửa oan nghiệt đã tự thiêu đốt mình ra tro, để rồi từ trong đống tro tàn cuả cuộc chiến tranh đó, một Phượng Hoàng đổi mới tươi trẻ vùng lên, với sức sống sinh động mãnh liệt hơn, đã chuẩn bị và sẽ vươn mình bay vút lên cao mang theo vòng nguyệt quế. Một phần đám tro tàn cuả thân xác Phượng Hoàng miền Nam sau cơn bão lửa cũng đã bay theo ra khắp năm châu để biến thành những Phượng Hoàng mới cuả các nền văn minh tột đỉnh trên thế giới. Và, cũng chính nhờ vậy mà trong vài thế hệ nữa, nơi chốn sinh ra những thiên tài cuả nền văn minh “Siêu Linh” sẽ nằm rải rác đâu đó trên đầu con Phượng Hoàng phương Nam này. Thăng Long Đất Bắc, Phượng Hoàng Trời Nam.
-
Ngồi chung chuyến bay chúng tôi một già một trẻ không hiểu thân nhau tự lúc nào. Chúng tôi trao đổi cho nhau từ chuyện này qua chuyện khác. Tôi là một kỷ sư điện toán phần mềm còn ông lại không ngờ là một Thầy Ðịa lý. Tôi vốn thích Tử Vi và cũng có dịp đọc qua các sách Phong Thủy nhưng thực tình sự hiểu biết còn ở bậc sơ học. Còn ông cũng đã có dịp may học Tử Vi với một chân sư nhưng nay ông chỉ chuyên về Bát Quái Cửu Cung Hà Ðồ Lạc Thư. Trong đó ông nghiêng hẳn về Phong Thủy Ðịa Lý trên hai khía cạnh Dương Trạch-Âm phần để nhằm tạo sự hài hòa giữa con người và các vũ trụ tuyến. Ông cho biết gốc của Tử Vi là Bát Quái Cửu Cung nhưng nay các sách Tử Vi lại chỉ nói đến phần ngọn là an sao đoán số. Ông nghĩ rằng Tử Vi luận số mạng của một người và có tính cách tiêu cực vì ít ai thay đổi được số mạng cả còn Ðịa lý nếu làm được có thể thay đổi số mạng cả một gia đình hay cả một giòng họ. Do đó Ðịa Lý có tầm quan trọng lớn và thiết thực hơn. Tôi được biết ông là học trò cụ Dương Thái Ban, một danh sư Ðịa Lý và ngoài ra ông cũng đã có dịp qua Ðài Loan tham khảo thêm về môn này. Tôi rất thích nghe chuyện Ðịa lý của ông nên cố gắng khơi chuyện về mồ mả kết phát. Ông bảo các tài liệu về mồ mả kết phát có nhiều trong “Nam Hải Dị nhân” hay “Công Dự tiệp ký”. Tuy nhiên ông cũng không ngại kể cho nghe một câu chuyện mới về Ðịa lý mồ mả do chính ông thực hiện. Một ngôi mả mà ông nghĩ con cháu của phúc chủ sau này sẽ hơn cha mẹ vì chính ông khi làm nhận thấy như được Thần linh dẫn dắt nên mọi việc êm xuôi như trở bàn tay. Tôi xin ghi lại câu chuyện theo lời kể của ông. Sau nhiều ngày dong duổi tầm long tróc mạch tuy đã tìm ra một số cuộc đất với những huyệt kết rõ ràng minh bạch. Nhưng tiếc thay có huyệt vận thời chưa đến lúc dùng được như được Hướng mà không được Sơn gây ra cảnh tổn đinh tuyệt tự; sơn thủy đảo điên chỗ nên có sơn thì lại có thủy và chỗ nên có thủy thì lại có sơn rất nguy hại cho tiền tài và con cái; có nơi huyệt quá gần nơi dân cư đã cất nhà không tiện cho việc đặt mồ mả. Trước khi nhận giúp gia đình này tôi đã khấn trước bàn thờ chư Tổ và được các ngài tiết lộ “Ðịa hữu Thần, Thậm uy linh …” nên trong lòng chắc chắn gia chủ thuộc cảnh “Tiền Nan hậu dị” do đó vẫn yên trí tìm thêm. Một hôm vào buổi chiều trời đã xế nắng sau khi lội bì bõm qua một cánh đồng lúa xanh vì và phập phồng vin tay qua cầu khỉ cheo leo chúng tôi đặt chân lên một cuộc đất với giòng nước ôm quanh. Nơi đây là một cái gò nằm giữa cánh đồng cây cối um tùm xum xê, nào vườn táo, nào luống bắp, nương ngô, kia rặng chôm chôm, nọ luống xoài cát v.v… Cũng may chúng tôi gặp ngay người chủ vườn và sau khi trò truyện khoảng 1 giờ thì trời sắp tối. Chúng tôi xin hẹn ngày mai sẽ trở lại và được họ chỉ cho về bằng lối bờ ruộng trước mặt để tránh lầy lội. Chúng tôi vừa đi vừa ngoái trông lại cái gò đất mới phát hiện lòng như lưu luyến chẳng muốn về. Bất giác một tia sáng lóe ra tíc tắc trong đầu ngay lúc đấy chúng tôi tự nhiên biết được huyệt nằm ở đâu và hướng của huyệt quay về đâu. Trực giác bén nhậy này chúng tôi chưa từng cảm thấy trong các lần tìm huyệt trước trong chuyến đi. Hôm sau trở lại khi đứng tại huyệt trường chúng tôi ngạc nhiên các chứng ứng của huyệt rất phù hợp một cách toàn thể như được đúc khuôn. Minh đường là cánh đồng lúa mênh mông xa mãi đến bờ sông; Án gồm cận án là đám ruộng cao trông tựa lưng con rùa phơi mình trên cánh đồng, viễn án là hai ngọn đồi sát nhau hình như lưng con lạc đà hay gọi là thiên mã. Tay long là một dẫy núi dài bên tay trái hình cong cong như lưỡi liềm mà đầu lưỡi liềm lại có một ngọn núi trông như một kim tự tháp nhỏ thường gọi là bút đứng hay bút lập. Tay hổ là dẫy núi hình móc câu trông như cổ con vịt quay đầu vùng vẫy trong giòng nước. Nơi đây cũng chính là Nhập Thủ Long để dẫn khí mạch đến vùng đất kết. Nhập thủ sinh động như thế thật là hiếm thấy. Bên cạnh phía ngoài tay hổ cũng có một ngọn núi nhọn và như thế hai bên tay lòng tay hổ đều có bút đứng. Cụ Tả Ao có câu “Bút lập là bút Trạng Nguyên. Bút thích giác điền là bút Thám hoa.” Chúng tôi rất ngạc nhiên vì cuộc đất có một bút đứng hay văn phong (núi chủ về văn học) đã là hiếm mà ngôi đất này lại có cả hai. Ngoài ra còn có nào là Thiên mã và gò đồng rất nhiều trên tay long tay hổ cũng như chẩm phía sau huyệt. Có thể áp dụng những câu thơ của cụ Tả Ao vào trường hợp này. “Muốn cho con cháu nên quan Thì tìm Thiên mã phương Nam đứng chầu Muốn cho kế thế công hầu Thì tìm chiên trống dàn chầu hai bên” Nhưng hình thể dù có đẹp đến đâu đi nữa cũng còn phải dùng đến phép Lý khí Huyền Không để phối hợp xem có thật phù hợp hay không. Ðiều lạ là ngôi đất lấy cánh đồng trước mặt làm Minh đường nhưng sau huyệt và tả hữu huyệt là một lạch nước bao quanh rồi mới đến hậu chẩm cũng là một rặng núi nhấp nhô có thể gọi là Tam thai Ngũ nhạc. Như thế là huyệt có đầy đủ những chứng ứng cần thiết Long Hổ án chẩm. Hành long thuộc dạng Văn Khúc Thủy kéo dài cả hơn 20 cây số qua cá quận huyện. Khi kết huyệt lại phù hợp với cách thức diễn tả trong Hám long kinh một chân thư về Loan đầu. “Văn Khúc kết huyệt Chưởng tâm lạc” hay thủy long thường kết huyệt ở giữa như lòng bàn tay và do đó lấy núi non của Long của mình làm Long Hổ Án Chẩm. Chúng tôi dùng tay bấm quẻ Huyền không Lý khí thì lạ thay các nơi đặc biệt như bút hai bên, Thiên mã Án, Tam thai ngũ nhạc chẩn đều phù hợp với sự biến động của khí vô hình trong vận đầu của Hạ nguyên hay 60 cuối của chu kỳ tam nguyên 180 năm. Thông thường với các môn phái khác như Tam Hợp Cửu tinh không khi nào dám lập huyệt mà lại dựa lưng vào nước gần như thế vì họ luôn luôn trông vào nước trước mặt để làm minh đường. Ðối với môn phái Chính tông thì không nhất thiết phải như thế. Chúng tôi khi lập huyệt này đã gối đầu vào lạch nước phía sau mà theo Huyền Không lý khí hóa ra lại hay vì thu được cả hình thể hữu tình cũng như khí vô hình luân lưu trong cuộc đất qua chu kỳ Tam Nguyên Cửu Vận. Cái lạch ôm quanh và rặng núi Tam thai Ngũ nhạc đều hợp thời hợp vận. Do đó sau khi học được lý khí Chánh tông thì lập huyệt định hướng cũng trở nên dễ dàng vì không còn e ngại những “kỳ hình quái huyệt” đã làm điên đầu bao nhà nghiên cứu chẳng biết xoay sở làm sao mà điểm cho đúng với Lý Khí cả. Ngoài ra khi lập huyệt định hướng phải phối hợp với Nhập thủ mạch theo một phương pháp nhất định. Về điểm này chúng tôi may được dân địa phương dẫn đi chung quanh quan sát từng khóm cây ngọn cỏ mới nhận rõ mạch thổi vào huyệt từ đâu. Sau đó đem phương pháp hình thể Chánh Tông vào phối hợp thì quả là phải như thế. Chúng tôi hồi tưởng lại lời khẩu truyền tâm thụ của Thầy không khỏi khâm phục và nhớ mãi “...nếu không như thế thì là giả huyệt”. Lý khí chân truyền thật là giản dị đúng như các chân sư thường nhắc nhở. “Ðộc thư vạn bộ bất như khẩu quyết nhất chiêu” xin tạm dịch “Ðọc hàng ngàn quyển sách không bằng hiểu thấu đáo một câu quyết qua sự khẩu truyền”. Quan sát hình thế và so sánh với các huyệt quanh vùng chúng tôi nghĩ rằng đây là huyệt chính của cuộc long. Long đình khí chỉ thủy tụ khi hành long buông mình phân ra long hổ kết huyệt trước khi ra đến bờ sông. Huyệt nằm giữa lòng bàn tay nhưng được tay hổ quay đầu thổi khí vào trông ngoạn mục như đầu con cò trong tư thế quay đầu rỉa lông. Dân địa phương cũng nhận biết đây là thế đất hình con chim. Nếu nói theo kiểu hát hình ta có thể gọi là cách “Ðại bàng ẩm thủy” hay “Bạch nhạn ẩm tuyền” co dễ hình dung. Huyệt kết ở dạng Đột là một cái gò với dư khí thè ra như cái môi trước khi thoái khí dần vào Minh đường đúng như các sách Ðịa lý thường căn dặn Long Huyệt phải có chiên thần. Cụ Tả Ao có câu” “Kết thoái dư khí còn xa Phải đi trăm dặm mới ra chiên thần” Khi đào huyệt qua hai lớp đất phía trên độ 2 tấc chúng tôi gặp lớp đất thứ ba dầy sâu độ 1 thước. Ðất đầy sinh khí tươi nhuận với đầy đủ ngũ sắc năm mầu: Trắng, Vàng, Ðỏ mầu gạch, Hồng, Xanh. Khi dùng tay rò thì đất biến thành bột tựa như cát mịn. Người không biết cũng trầm trồ khen là đất đẹp. Riêng chúng tôi cũng mừng thầm cho phúc chủ được đất đầy đủ ngũ hành. Huyệt tọa Cấn hướng Khôn hơi nghiêng về Dần Thân để hóa đi sát khí nếu có tại các phương Ðông và Ðông Nam. Huyệt nhằm thâu lấy khí tốt tại phương Tây Nam có án lưng rùa và Thiên mã, phương Nam và Tây với Long Hổ và bút lập hay văn phong, phương Ðông Bắc với lạch nước ôm quanh và rặng núi Tam Thai Ngũ nhạc. Cách phát thế nào thì gồm Ðinh Tài, văn học, vũ chức hay công danh thành đạt khác thường. Khi nào phát thì chúng tôi luận theo lý khí chân truyền được biết sẽ phát ngay trong vận này và sẽ kéo dài hết cho đến năm 2044. Cũng nên biết thêm năm 1995 thuộc vận thứ 7 của Hạ Nguyên dùng huyệt này thì thu được khí tốt ở những chứng ứng trên. Nhưng nếu sang đến Thượng Nguyên thì không những không thu được sinh vượng khí mà còn bị sát khí làm hại. Do đó chữ Thời có một ảnh hưởng tối quan trọng trong sự thực hiện Ðịa lý. Gia đình phúc chủ thuộc hậu duệ của một bậc Trạng Nguyên ngày xưa cũng do mồ mả kết phát nên vẫn còn duy trì được truyền thống Ðịa Linh Nhân Kiệt. Các con cố gắng thực hiện Ðịa lý trong hoàn cảnh không mấy thuận lợi nhưng cuối cùng mọi việc đều thu xếp được vẹn toàn. Cụ ông lúc còn sống trọng tình nghĩa hơi tiền tài. Suốt đời luôn luôn đứng về phe kẻ yếu; một mình can đảm dám chống lại cả một phong trào a dua theo thời thế. Cụ ông mất trong lúc không thuận lợi cho việc thực hiện “Tầm long tróc mạch” nhưng 6 năm sau các con ai cũng đồng tâm nhất trí lo cho cụ ông được toại nguyện theo truyền thống tổ tiên “sống có nhà thác có mồ”. Người con trưởng cho chúng tôi biết gia đình đã làm lễ và cụ ông đã đồng ý một cách không ngần ngại, gieo quẻ âm dương được ngay lần đầu, cho phép cải táng. Hôm bốc mộ chúng tôi thấy quả là linh nghiệm và đúng lúc vì nắp áo quan đã mục. Gia đình làm lễ rước cụ về nơi huyệt mới đầy sinh khí phong cảnh hữu tình. Thông thường ở địa phương này vào thời gian đó hầu như ngày nào cũng mưa vào buổi chiều. Chúng tôi chỉ nhắm chọn ngày giờ theo cho được ngày lành giờ tốt nhưng lại được cả ngày nắng đến mãi nửa đêm trời mới đổ mưa. Lúc hạ huyệt khi đọc điếu văn trời có nổi cơn giông tưởng chừng sắp mưa nhưng chỉ có vẻ tỏ dấu hiệu hài lòng cho mọi việc đã được vẹn toàn. Lễ cải táng cụ là một ngày đẹp trời. Mây trắng trời xanh làn gió mát như báo hiệu điềm lành cho sự chuyển mình của một giòng họ qua giai đoạn mới. Ngay hôm đó chúng tôi và gia đình phúc chủ không định đến thăm khu nhà người chủ đất vì mọi sự đã có sự bằng lòng giữa đôi bên. Nhưng nhờ một sự tình cờ chúng tôi và con cháu của cụ đã đến thăm người chủ đất. Từ đây họ coi nhau như anh em trong một nhà. Chúng tôi chợt nghĩ thoáng trong đầu có lẽ nào cụ ông “sống không thác thiêng” đã bảo cho gia đình biết sống theo đạo lý nên tỏ sự biết ơn kẻ đã giúp mình trong ngày cải táng. Làm xong cuộc đất một cách tươm tất phần chúng tôi cũng như phía gia đình phúc chủ cảm thấy như là mọi việc đã được sắp đặt từ trước và chúng tôi đôi bên chỉ là những kẻ theo đó mà làm. Riêng chúng tôi trực giác nhận ra huyệt và sau đó dùng lý khí Chính tông phối hợp giữa loan đầu hình thể và khí vô hình lại phù hợp được nhiều nơi. Lúc đào đất lại được đất ngũ sắc năm màu hiếm quý. Khi chọn ngày hạ huyệt lại được ngày không mưa. Chúng tôi trộm nghĩ rằng quả là đất này có Sơn thần Thổ địa trấn giữ từ lâu và ngày nay mách cho chúng tôi để tặng cho phúc chủ. Người con trưởng cũng không ngần ngại tiết lộ cùng chúng tôi gia đình cũng có nhờ người xem quẻ dịch về cuộc đất này và quẻ ra rất tốt với lời bàn “Quả đào ngàn năm mới chín để đãi cho gia đình có phúc. Có thể thực hiện mà chờ kết quả”. Quả đào ngàn năm đây muốn nói đến huyệt kết rất qúy và hiếm như là phải cần đến ngàn năm mới có một lần. Cho nên thực hiện Ðịa lý nói khó cũng được mà nói dễ cũng được. Khó cho những ai chưa bắt tay vào việc, nào là Chân sư có mấy ai, thời gian eo hẹp và tiền bạc tốn kém. Dễ cho những ai có Phúc Duyên và nếu thành tâm thì thường được Thần linh giúp đỡ chỉ đường biến mọi việc tưởng như khó mà lại hóa dễ như không. Nghe xong câu chuyện tôi nhớ lại một bài báo tại Mỹ của tờ San Jose Mercury News trong năm 1995 có nói đến một nghĩa trang do người Trung Hoa sáng lập với những huyệt giá từ 200,000 đến 300,000 dollars. Nghĩa trang này nếu tôi nhớ không lầm thì tại thành phố Colma gần phía Nam của thành phố San Francisco. Tôi định hỏi thêm về các chi phí tại nơi ông làm nhưng phi cơ đã bắt đầu hạ cánh sắp sửa đáp. Qua khung cửa con rồng Á Châu, quê hương tôi đã hiện ra trên các đám ruộng xanh, giòng sông với phù sa mầu hồng vờn lượn, những rặng núi vòng quanh ôm ấp ruộng đồng làng mạc như một bức tranh thủy mạc. Tự nhiên tôi thấy như có một luồng sinh khí đang thổi vào óc não châu thân và lòng lâng lâng rộn rã khi sắp đặt chân trở lại vùng đất quê hương yêu dấu. Nơi đây Ðịa lý Phong thủy hay hiện tượng Ðịa linh Nhân kiệt vẫn còn duy trì và thực hiện như một truyền thống khó phai nhòa theo giòng lịch sử. Thật kỳ diệu và huyền ảo thay! con người một linh vật sinh ra giữa trời đất rồi lại trở về với đất trời. Trong bối cảnh con người tuy có chết nhưng lại luôn được tái sinh. Ðịa lý thật đã đóng một vai trò quan trọng. Không những luôn vun bồi cho cuộc sống, mà lại còn tái tạo và nâng cao cuộc sống cho thế hệ mai sau. Và hình như hiện tượng Ðịa linh Nhân kiệt vẫn hằng luôn ở trong mọi người chúng ta, vào mỗi khi tâm hồn và trái tim rung cảm hòa nhịp cùng Hồn thiêng sông núi, như một Cộng hưởng tích lũy sức sống triền miên luôn tồn tại chẳng bao giờ mất của những trang Anh Hùng Liệt Nữ qua bao ngàn năm. Tôi hẹn xin đến thăm ông để tìm hiểu thêm về bộ môn Ðịa lý Phong thủy, một môn Khoa học Nhân văn thiết thực tuy xưa cổ nhưng tràn đầy nhân tính trong mục đích báo hiếu tổ tiên và gây dựng tương lai cho con cháu. Bác sĩ Phạm văn An. Nguồn: Thegioivohinh.net
-
trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người Công ty cổ phần phong thủy ******* Báo cáo nghiên cứu khoa học CHUYÊN ĐỀ TIA ĐẤT Ngày 20/1/2008 Phần I Tia đất-định nghĩa-sự hiện diện tia đất-nguồn gốc-bản chất- Trường Vong cũng là dạng tia đất-tia đất dị thường . Phần II Tia đất ảnh hưởng tới sức khỏe con người-tích cực và tiêu cực- Cơ chế gây bệnh -cách nhận biết-khai thác tia đất tốt-phòng tránh và xử lí tia đất xấu . Phần III Dùng nguyên lí tia đất giải mã một số nội dung chính của phong thủy cổ Trung hoa và phát hiện các đối tượng cần tìm dưới mặt đất. Phần IV Ngững kết quả thu được ở Việt nam thời gian qua . Phần V Trình diễn thực hành đo tia đất ,xác định mồ mả hài cốt tại hội trường. Phần VI Trao đổi . ********* BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHUYÊN ĐỀ TIA ĐẤT Ngày 20/01/2008-TS Vũ văn Bằng BÁO CÁO TÓM TẮT Nhân chuyến về nước và dự đai hội nghành Địa chất Công trình toàn Quốc năm 2001 .Tại hội nghị ,tác giả báo cáo này đã phát biểu :"Thực tế phản ánh rằng :ngày nay ,rất nhiều nhà ở ,công trình xây dựng với các kiểu dáng kiến trúc hiện đại đa dạng đẹp mắt ,kết cấu bền chắc ,nền móng ổn định vững vàng. Thế nhưng trớ trêu thay ,nhiều trường hộp con người sống và làm việc ở trong đó không hề thấy dễ chịu thoải mái ,khỏe khoắn ,mà ngược lại luôn đau đầu ,mất ngủ, ốm yếu bệnh tật,thậm chí tai nạn ,chết chóc ,khuynh gia bại sản...Nguyên nhân do đâu ?Trước hết ,đây hoàn toàn không phải do lỗi của các nhà thiết kế ,kiến trúc ,xây dựng .Mà chính là do các nhà thăm dò,khảo sát địa chất công trình ;lâu nay khi khoan khảo sát cho xây dựng công trình chỉ nghiên cứu tìm hiểu về địa hình,địa mạo ,cấu tạo địa chất và tính chất cơ lý của đất ,tính chất hóa học của nước ngầm mà đã bỏ quên một thông số vô cùng quan trọng đó là "Hồn của đất" -Một thông số không có trong qui trình qui phạm kỹ thuật khảo sát ,tính toán cơ học đất nền móng hiện hành . Vậy cái "Hồn của đất" ở đây là gì ?,lợi hại của nó ?cũng như cách nhận biết và giải pháp xử lý ...?Thực chất không có gì xa lạ, huyền bí .Đó chính là "Tia Đất" -đến nay giới khoa hoch vẫn còn bỏ ngỏ .Ngoài các thông số kỹ thuật chuyên nghành vừa kể trên ,ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới "Tia Đất" được coi là thông số không thể thiếu để chọn "Đất lành" ,tránh "Đất dữ",kể cả việc bảo tồn phát huy những vùng gọi là "Địa linh nhân kiệt". Ví dụ ở nước Đức đã có luật bổ xung là khi mua bán hay chuyển nhượng nhà đất ,người bán ,chuyển nhượng phải trao cho người mua giấy chứng nhận không có tia đất . Trong mấy năm qua ,trên các phương tiện thông tin đại chúng đã đề cập nhiều tới Tia đất như :"Tia đất hóa giải hành vi thầy địa lý"-Tiền phong số 8 năm 2006."Người xử lí tia đất" www.nguoiduongthoi.com.vn ."Tia đất và các hiện tượng kỳ bí"-Báo Quân đội nhân dân " tháng 1/2007."Tia đất và cách nhận diện"-Khoa học và công nghệ TTXVN chuyên đề 3/2006 .Và trên các báo :Công an nhân dân ,Khoa học và đời sống,Gia đình và tiếp thị,Môi trường và sức khỏe,Thế giới phụ nữ,Nông nghiệp ,Dân trí...cũng đều có bài viết về "Tia đất" .Đặc biệt phải kể đến cuốn sách "Đất lành -đất dữ -nhận biết và hóa giải tia đất"do Nhà xuất bản Thanh niên mới ấn hành.Ở đó có thể tìm thấy những nội dung chính xung quanh về tia đất.Vì vậy ,ở đây không đề cập chi tiết(nhắc lại) mà chỉ đề cập tới những nét chính và tập trung vào hai vấn đề thiết thực,đó là :tia đất -phân loại và sự cần thiết phải tiến hành nghiên cứu để chọn "Đất lành" tránh "Đất dữ" . Phân loại tia đất .Phân theo nguồn gốc có nhiều loại tia đất như trình bày ở trong báo cáo chính .Phân theo sự tác động tới sức khỏe con người có hai loại tia đất -Tia có lợi (tia tích cực) và tia có hại (tia tiêu cực) -Tia đất tích cực : Là những tia phát ra từ những khoáng vật quí như khoáng thạch anh không màu (quartz),amethyst(thạch anh tím)German,kim cương (diamond),corindon,granet,aquamarine(ngọc xanh biển),emerald(lục bảo ngọc),ruby,,saphia(bích ngọc),opal(mã não),topaz(hoàng ngọc)... Đất đá ,đá quí có thành phần khoáng vật khác nhau sẽ bức xạ trường điện từ với sóng và mức năng lượng khác nhau.Tia đất tích cực bức xạ có mức năng lượng cao hơn(trên 100%)thường xảy ra ở các khoáng thạch anh .Các nhà nghiên cứu Nhật Bản cho biết đá chứa nguyên tố German bức xạ có năng lượng rất cao.Nên không lạ gì nhà thờ xưa thường được chọn xây dựng trên những khu đất có tia đất tích cực với mức năng lượng từ 150-200%như nhà thờ thánh Lourd miền Nam nước Pháp,tượng Đức Mẹ đặt ở vị trí có mức năng lượng tới 380% .Nên rất được tôn kính bởi sự "linh thiêng"nổi tiếng truyền qua nhiều đời chính là nhờ vào mảnh đất có tia đất tốt bức xạ với mức năng lượng cao này . -Tia đất tiêu cực: Trong hơn hai năm khảo sát đo đạc nền đất của trên 2000 gia đình và nhiều công sở ,truờng học,xí nghiệp từ khắp các tỉnh từ Bắc vào Nam,thống kê lại cho thấy có tới trên 90% bắt gặp tia đất tiêu cực và khoảng 60%có vong và hài cốt. Tia đất tiêu cực phân bố tập trung nhiều ở các đồng bằng và ven biển-nơi có cấu trúc địa chất lỏng lẻo,thành phần đất hỗn tạp ,đặc biệt chỗ nào cũng hiện diện tầng đất yếu (bùn đen)dầy ,chứa nhiều xác động thực vật đang phân hủy .Nước đưới đất thường nằm nông ,hoạt động và giao động mạnh theo mùa .Tầng đất trầm tích này bị chi phối bởi sự hoạt động của các đứt gãy dưới sâu ,phần trên mặt bị chia cắt bởi nhiều sông suối ,kênh rạch ,ao hồ ...Đã vậy ,quanh năm còn phải gánh chịu lũ lụt,bồi lở dọc sông ,ven biển ,lũ quét ,lũ bùn đá trên các triền núi cao bao quanh dồn về ...Sự biến đổi mặt đất còn do con người tác động .Tác động theo chiều hướng tiêu cực nhất phải kể đến tình trạng lấn chiếm san lấp ao hồ ngòi lạch một cách bừa bãi ,đổ xuống đó với mọi thứ vật liệu không sạch ,thậm chí rác rưởi ,xác động thực vật ,như bãi rác khổng lồ Thành Công ,Thanh Nhàn ,Hà nội trước đây không lâu là một ví dụ...tạo nên những lớp đất mới -đất lấp ,còn lại là "tầng văn hóa" để xây dựng nhà ở và các công trình ,bất chấp ô nhiễm .Chưa hết ,con người còn chôn vùi dưới mặt đất một loạt cônh trình ngầm :hầm ngầm ,cống thải ,đường ống cấp thoát nước ,cáp điện ...Điều đáng nói ở đây là do không có qui hoạch ngay từ đầu ,đào xới lắp đặt tùy tiện chắp vá mang tính chất đối phó nên các hệ thống ngầm đó nằm chen chúc ,ngổn ngang dưới mặt đất ,điển hình là thành phố Hà nội .Nhiều ngôi nhà ,thậm chí cả khu phố xây trên chúng .Tất cả những điều trình bày trên đều là cội nguồn sản sinh tia đất xấu . Ngày nay ,mồ mả hài cốt ,gọi tắt là trường vong cũng được xem là nguồn sinh ra tia đất tiêu cực không thua kém tia đất có nguồn gốc khác mạnh như phóng xạ,hóa chất độc...tức là tác hại của nó tới sức khỏe con người không hề nhỏ .Kết quả khảo sát trên diện rộng cho thấy hiện mồ mả hài cốt vong gần như nằm rải rác khắp nơi ,đặc biệt nhiều ở các thành phố ven sông ,ven biển ,trong đó phải kể đến là Hà nội ,Quảng Bình,Quảng Trị.Thực ra không có gì lạ,bởi vì đồng bằng là nơi tập trung dân cư sinh sống ,trải qua bao thăng trầm của lịch sử-trận mạc Tây ,Tàu ,thiên tai -bão tố ,lũ lụt dịch bệnh .Thảm họa hông bao giờ quên la nạn đói năm 1945,đã biết bao nhiêu người nằm xuống không mồ mả ,hình thành rất nhiều nghĩa địa không những không tên mà còn vô hình nữa (chôn vùi dưới mặt đất chỉ khi đào móng xây dựng công trình mới lộ ra ) Riêng Hà nội có thể kể ra rất nhiều vùng như vậy ..Ví dụ như ở Chính Sài,Hồ Tây có mảnh đất vẻn vẹn 44m2 trước khi xây dựng ,đo đạc đã phát hiện gần 50 hài cốt... Vậy tia đất độc hại nói chung và tia đất có nguồn gốc mồ mả hài cốt nói riêng ảnh hưởng xấu tới sức khỏe những con người sinh sống và làm việc trên mảnh đất đó như thế nào ? Kết quả đã công bố của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều chứng minh rằng ,tia đất xấu đều ảnh hưởng tới sức khỏe con người dưới dạng bệnh lý như đau đầu ,,khó thở ,thần kinh,huyết áp tăng,rối loạn tuần hoàn máu ,đau cơ bắp ,giảm sức đề kháng ,lâu dần dẫn tới ung thư .Trạng thaí thường gặp nhất là giấc ngủ không sâu ,không ngon ,trằn trọc ,đứt quãng ,chập chờn ,hồi hộp ,khó thở ,ác mộng ...Trên 90%trường hợp là do giường ngủ đặt trong vùng có tia đất .Một nhận biết khác không kém phần quan trọng là trong nhà có người luôn luôn có người ở trạng thái mệt mỏi ,khó chịu,đứng ngồi không yên ,bứt rứt ,không thoải mái ,tính tình cáu gắt .Trong đa số trường hợp bệnh lý không rõ ràng (ốm không ra ốm ,khỏe không ra khỏe),khó khăn cho bác sĩ chẩn đoán bệnh .Đặc biệt khi rơi vào trường mạnh và thời gian đủ lâu ,con người có thể bị ngất (trạng thái say và bất tỉnh).TS.V.Khaxnulin đã phát hiện ra rằng ,bán cầu não phải của con người là bộ phận nhạy cảm từ trường có tác dụng điều chỉnh và đối phó với các biến đổi của ngoại lực như lực hấp dẫn ,địa từ.Nhưng một khi vượt quá mức thụ cảm của nó,bộ phận này phát tín hiệu cho tuyến thượng thận tiết ra chất adrenalin làm nồng độ hoocmon này tăng đột ngột trong máu ,dẫn dến các mao mạch trong các tế bào máu co cụm lại thành các quần tụ ngưng kết làm máu lưu thông chậm lại .Do đó máu không đủ oxy cung cấp cho não .Não rơi vào trạng thái gần như hôn mê ,bất tỉnh. Kathe Bachler ngươì Đức công bố ,ông đã khảo sát trên 11 ngàn giường ngủ của trên 3 ngàn nhà ở 14 nước khác nhau đều tồn tại tia đất ,và khẳng định rằng tia đất có mặt ở khắp nơi và rất có hại .Cũng tương tự ,bác sĩ Hager thuộc hội khoa học y tế Đức cùng với các đồng nghiệp Ba Lan đã tiến hành khảo sát những căn nhà của 5348 người bị chết vì căn bệnh ung thư ở thành phố Stettin Ba Lan cho kết quả :hầu hết họ đã sống và ngủ ở nơi có tia đất xấu rất mạnh.Ở đó có các hạt neutron được giải phóng và dễ dàng xuyên qua đất đá ,bê tông ,nhựa đường .khi vào cơ thể của sinh vật ,thì những hạt neutron vô hại trước đó biến thành các proton rất nguy hiểm cho các tế bào sống .Các hạt nhỏ bé này sẽ tạo ra cái được gọi là "tia alpha" trong cơ thể .Như vậy ,tia đất xấu rất có hại ,gây nên tình trạng giảm sức khỏe cộng đồng mà bấy lâu nay không hay biết .Để giải quyết vấn đề này ,một mặt cần triển khai tuyên truyền rộng rãi ,nâng cao trình độ nhận thức của mọi tầng lớp xã hội về một lĩnh vực mới nhưng vô cùng quan trọng vì nó gắn liền với sức khỏe cộng đồng -đó là TIA ĐẤT . Mặt khác ,dưới góc độ khoa học chuyên nghành -Địa chất công trình cần đưa thêm vào qui trình kỹ thuật một công việc mới là khảo sát đo đạc xác định tia đất và mồ mả hài cốt trước khi thiết kế kiến trúc xây dựng cho một khu đất nào đó . Ngày nay ,việc xác định tia đất ,mồ mả ,hài cốt cho bất kỳ một khu vực nào đó dù là miền núi ,trung du hay đồng bằng không khó .Kể cả khi phát hiện ra sự có mặt của chúng cũng đã có những giải pháp hiệu quả xử lý triệt để biến "Đất dữ" thành "Đất lành" ,hướng tới "Địa linh nhân kiệt" phục vụ cho qui hoạch phát triển kinh tế,dân sinh . BÀN TIẾP VỀ BẢN CHẤT CỦA TRƯỜNG VONG-LINH HỒN TS.Vũ Văn Bằng ( Báo Khoa học và công nghệ) Cách đây 40 năm ,mảnh đất Quảng Trị từng là nơi diễn ra những trận chiến dữ dội ,ác liệt và câu hỏi có bao nhiêu chiến sĩ giải phóng quân nằm xuống nơi đây đến nay vẫn còn là điều nhức nhối . May mắn thay ,có một thông tin ngắn ngủi của Hội cựu chiến binh Mỹ cung cấp cho phía Việt nam tháng sáu /2006 cho biết :trong một trận chiến năm 1967 tại cứ điểm Cồn Tiên (xã Gio An ,huyện Gio Linh),toàn bộ 173 chiến sĩ giải phóng quân tấn công cứ điểm đã hy sinh và được chôn chung trong một hố rộng .Từ đó đến nay ,với trên 10 điểm đào bới qui mô lớn ,độ sâu từ 2-3 m trên một vùng đồi cao su rộng hàng ha,lực lượng tìm kiếm ,qui tập mộ của Ban chỉ huy quân sự Gio Linh mới tìm được 4 bộ hài cốt nằm rải rác . Được biết thông tin này ,TS.Vũ Văn Bằng đã tình nguyện vào Gio Linh tham gia công việc tìm kiếm .Căn cứ vào bản đồ vẽ tay của Hội CCB Mỹ cung cấp ,với khả năng dò tìm tia đất bằng một phương pháp khoa học ,trong vòng một tháng vừa qua ,TS. Vũ Văn Bằng đã xác định được vị trí chôn tập thể 173 chiến sĩ và bước đầu đã tìm được 5 hài cốt .Khi bài này chuẩn bị lên trang cũng là lúc 5 bộ hài cốt vô danh này đã được qui tập và an táng về nghĩa trang của huyện Gio Linh .(KHCN 20/9/2007) . Nhân đây ,chúng tôi xin giới thiệu tiếp bài viết thứ hai của tác giả Vũ Văn Bằng xung quanh chủ đề "Những giả thuyết mới về bản chất của linh hồn -vong" (đã đăng trên tuần báo khoa học và công nghệ-TTXVNsố 17+18,ngày 26/4/2007) . Trở lại với những giả thuyết cơ bản (tóm tắt) : GIẢ THUYẾT THỨ NHẤT-Cơ chế hình thành cái gọi là linh hồn -trường vong của con người sau khi chết. Cái chết của con người tựa cái chết của những siêu sao hình thành lỗ đen-tuân theo luật "Thiên nhân tương ứng và hình thành trường lực hấp dẫn mạnh từ hiện tượng đối áp xuất khiến cho cấu trúc vật chất của nó (siêu sao -thi hài và linh hồn người chết ) đổ sụp vào trong biến thành khoảng hư vô trống rỗng (Einstein đã hình dung ra hiện tượng suy sụp hấp dẫn này ).Dấu vết còn lại chi toàn là "lực vô hình",thực chất đó chính là "trường lực hấp dẫn mạnh" (sẽ chứng minh ở phần dưới) . GIẢ THUYẾT THỨ HAI-Bản chất linh hồn-vong ,một trường vật lý đa hệ. Trong vong là một trường vật chất -trường vật lý đa hệ ,tương tự như trường trong vật lý bao gồm :trường hấp dẫn ,điện từ,tương tác ,tương tác yếu (sự phân rã các hạt cơ bản notrino)và tương tác mạnh ,tương ứng với nó là 4 dạng tương tác :hấp dẫn ,điện từ, yêú và mạnh.Các nhà khoa học trong đó có Einstein đã có cố gắng thống nhất chúng thành một trường duy nhất ,thể hiện sự thống nhất của vũ trụ.Hiện nay ,Salam và Weinberg đã thống nhất được trường điện từ và trường tương tác yếu .Còn Trường Vong ? Một lần nữa lại sử dụng thuyết "tương nhân tương ứng"ta sẽ có linh hồn-vong là trường vật lý đa hệ gồm :trường hấp dẫn mạnh,trường từ (hài cốt tựa một nam châm vĩnh cửu) và trường điên từ sinh học.Các trường này tương tác ,ràng buộc lẫn nhau tạo nên trường thế -khung cốt của trường vong (hình dáng của chủ thể)mà không thể nhận biết bằng các giác quan thông thường . GIẢ THUYẾT THỨ BA-linh hồn-vong là trường điện từ sinh học chứa thông tin-trường vốn có của cơ thể sống lưu lại và chừa thông tin sau khi thể xác ngừng hoạt động .trường này tồn tại được là nhờ có giao động điện từ và bức xạ ra môi trường xung quanh lan truyền với tốc độ ánh sáng.Nhà vật lý học người Ba Lan Slawinski phát hiện ra khả năng bức xạ photon cuả cơ thể với cường độ cỡ 10-1000 photon/s/cm2 Khi chết bức xạ này tăng lên gấp 1000 lần.Sự lóe sáng này chính là để tăng năng lượng cho sự "suy sụp hấp dẫn" nói trên ,tăng cường độ Cho trường điện từ tổng của cơ thể con người khi chết .Đó là trường điện từ dạng lưới (khối rỗng)mang hình dáng của chủ thể .Các trường điện từ riêng rẽ sản sinh từ trường tế bào ,mô,màng,gân cơ,lục phủ ngũ tạng ,đặc biệt trường điện từ của hệ thần kinh và bộ não .Tất cả những trường này khi con người còn sống đã là hệ dao động điện trong hệ thống nhất của trường khung .khi chết ,chúng không mất đi mà mà tạo thành những nút của trương tổng(khung) dưới dạng các "hộp đen".Trong đó đáng chú ý là hộp đen của trường điện từ hệ thần kinh,não bộ kịp lưu giữ thông tin của chủ thể qua bộ nhớ của ý thức và tiềm thức trước lúc chết .Đó chính là hình ảnh cấu trúc của "Linh hồn".Vậy linh hồn -vong là một trường vật chất cấu trúc gồm hai phần cơ bản :lol: hần xác-phần cứng chính là lỗ đen với lực hấp dẫn cực lớn và từ trường mạnh .Phần hồn -Phần mềm chính là trường địên từ sinh học mang thông tin.Từ đây ,gọi tắt là trường vong ,tuyệt nhiên không có ý thức như người sống -hiểu như vậy là hoàn toàn mêtín . NHỮNG TÍNH CHẤT CỦA TRƯỜNG VONG Trường vong tuy vô hình với người sống ,nhưng bản chất là trường vật chất ,nên cũng mang tính chất của vật chất . Tính bức xạ điện từ yếu ,mang thông tin của chủ thể (lan truyền với tốc độ ánh sáng ) ,đây chính là phần hồn của hài cốt tồn tại sau khi chết .Nhờ tính chất này mà các nhà ngoại cảm có thể nhận biết và giải mã được một số thông tin từ trường vong (chỉ có được khi cộng hưởng ,không phải là tất cả) . -Tính hấp dẫn cực mạnh ,không phụ thuộc vào không gian thời gian và một số qui luật vật lý khác như tiêu hao ,dẫn truyền ...đây là tính chất tiêu cực ,có hại ảnh hưởng tới sức khỏe người sống khi tiếp cận mồ mả hài cốt . -Tính chất từ ,như giả thuyết 2,trường vong còn là một nam châm vĩnh cửu .Nhờ bản chất này mà có thể nhận biết vị trí mồ mả ,hài cốt ,vong bằng thiết bị cảm ứng mà tác giả thường dùng.với thiết bị đó từ cự li xa 200m hoặc hơn có thể nhận biết vị trí nghĩa địa.Với cự li30-50m có thể nhận biết vị trí có mồ mả,hài cốt ,vong .Nên hai năm qua ,tác giả bài viết này đã xác định được nhiều mồ mả hài cốt ,giúp di rời ,phục vụ xây dựng nhà ở,công trường ,xí nghiệp ... -Tính thống nhất và có thể phân chia :hài cốt là một "nam châm vĩnh cửu" ,một cục nam châm khi đập nhỏ ra ,những mảnh nhỏ vẫn là nam châm và chỉ nam châm mới có tính chất này .Hài cốt cũng tương tự .Nên nếu một bộ phận nào đó của hài cốt bị thất lạc như đốt ngón tay ,ngón chân ,mảnh xương sườn ...thì nó vẫn thể hiệ tính chất từ cuả hài cốt mà thiết bị cảm ứng có thể nhận biết ..Nhờ tính chất này ,tác giả cũng đã tìm cho nhiều gia đình những mẩu xương còn sót lại khi cải táng. -Tính lưu giữ hoặc nhiễm, một tính chất đặc biệt khác của trường vong là tính "nhiễm từ" ra môi trường xung quanh .Thiết bị cảm ứng có thể nhận biết trường vong của người chết tại những vị trí xáy ra sự cố như tai nạn giao thông chết đuối ,treo cổ ...Sau nhiều năm đã trôi qua ,thậm chí kể cả tiểu sành ,ván thôi sau cải táng vẫn lưu giữ một phần trường vong -"trường từ" . -Tính tiêu cực có hại cho sức khỏe người sống,Trường vong được xếp vào loại trường dị thường tiêu cực ,tức là có hại tới sức khỏe con người .Lực hấp dẫn ,từ trường xoáy với với trường lực đủ lớn bức xạ lên mặt đất với phạm vi rộng .Đã là trường hấp dẫn từ trường dị thương cũng tương tự bão từ sẽ tác động có hại nhiều tới hệ thần kinh và hệ tim mạch như đã được cảnh báo . NHỮNG HIỆN TƯỢNG ĐÃ GẶP Ở NƠI CÓ HÀI CỐT -Trong chuyến đi tìm mộ liệt sĩ tập thể của 173 quân giải phóng hy sinh khi tiến đánh cứ điểm Cồn Tiên năm 1967(Theo thông báo của Hội CCB Mỹ) ,khi xác định chính xác vị trí khu mộ ,đồng chí Trần Lương Thanh huyện đội trương huyện đội Gio Linh thắp hương xong vì xúc động đã nằm ôm chặt lấy mặt đất -nơi phía dưới có thi hài các liệt sĩ .Hồi lâu ,không thấy đồng chí Thanh dậy,đồng đội đến vực lên thấy người cứng đơ lạnh toát .Từ đấy về ốm mất nửa tháng . -Đưa địa bàn vào khu vực có hài cốt ,kim chỉ lệch so với trục địa từ và luôn dao động . -khi tiến hành đào kiếm đợt 1 đã gặp 4 hài cốt nằm cách mặt đất từ 0,8 đên 1,2m.Xương màu trắng ẩm mục hiện dần lên trong nền đất màu nâu sẫm .Từ những tấm ảnh chụp có thể nhận ra sự tương tác giữa cơ thể sống và hài cốt trong không gian hẹp-môi trường chứa hài cốt . -Nhiều thử nghiệm chứng tỏ rằng quả trứng có thể đứng vững trên đầu đũa theo hai chiều nằm ngang hoặc đứng ,ở bất kỳ nơi nào ,trong nhà ,ngoài sân ,không nhất thiể phải là nơi có hài cốt .Việc thắp hương khấn trước khi tiến hành cắm đũa đặt trứng cũng không liên qua tới hiện tượng quả trứng đứng được . Giải mã "lưc hút vô hình": "lực hút vô hình chính là "Trường hấp dẫn mạnh" của trường vong theo giả thuyết thứ nhất . Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng một đối tượng quan trọng khi nghiên cứu sự thống nhất giữa lượng tử và hấp dẫn là "lỗ đen" ,vì trong lỗ đen các điều kiện hấp dẫn và lượng tử đều là những điều kiện tới hạn .Quanh lỗ đen có ngững vùng không gian với những tính chất riêng .Vùng ngoài cùng là danh giới tĩnh .Tức là nếu một khối vật chất nào đó lọt vào vùng này thì còn có hy vọng thoát khỏi lực hấp dẫn của lỗ đen và vượt ra ngoài quay theo chiều quay của lỗ đen .Tiếp theo là danh giới có tên là 'chân trời" .Nếu một khối vật chất nào đó rơi vào vùng không gian nằm phía dưới "chân trời" thì lập tức bị hút vĩnh viễn bởi lỗ đen.Tức là mất mọi hy vọng thoát khỏi tai biến này.Lý thuyết này có thể vận dụng vào xem xét cho trường hợp hấp dẫn cùa hài cốt-lỗ đen chứa trường vong. Hiện tượng con người tiếp cận -nằm trên hài cốt (trường hợp đồng chí huyện đội nói trên )trường điện từ sinh học nội thể và trường hỗn hợp ngoại thể (hào quang krilian),trong đó có bức xạ hồng ngoại đã bị lực hấp dẫn của hài cốt hút làm suy giàm sinh khí ,sinh ra cảm lạnh. Mặt khác ,khi nhìn vào đôi tay và bàn chân trong tấm ảnh đang đào hài cốt thấy rất rõ có "luồng sáng"nổi giữa phần cơ thể sống (dương) Với hài cốt dưới mặt đất(âm)-hiện tượng phóng điện trong không gian.Đó chính là sự tương tác giữa lượng tử và hấp dẫn .Tức là một bên là hài cốt -linh hồn(lỗ đen)-trường hấp dẫn ,một bên là lượng tử -số photon(ánh sáng-sóng và hạt của trường điện từ sinh học và bưc xạ hồng ngoại (bước sóng điển hình 0,05mmvới công suất 10-12 w/cm2 ở các đầu ngón tay ngón chân ) cơ thể người sống bức xạ ra . Khi tiếp cận với hài cốt ,các trường này đã bị lực hấp dẫn của hài cốt hút kéo dài ra thành "luồng sáng"(đây là sự lan truyền của của ánh sáng trong không gian cong -vùng chân trời của lỗ đen .lúc này bước sóng bị kéo dãn ra ,tần số giảm đi .Có nghĩa là các trường phát ra từ đôi bàn tay ,chân trong bức ảnh đã rơi vào vùng chân trời của lỗ đen-hài cốt. Tương tự ,hiện tượng quả trứng đứng trên đầu đũa chỉ là hiện tượng bình thường theo qui lụt vật lý cơ học ,miễn là đặt sao cho thăng băng ,đúng trọng tâm (giống như đi xiếc trên dây)...nhưng có hai vấn đề khác nảy sinh đáng quan tam là thời gian là thời gian đặt quả trứng hay các vật khác trên đầu đũa ở vị trí có hài cốt và không có hài cốt diễn ra khác nhau .Tất cả người tham gia thử nghiệm đều có nhận xét chung là "hình như có một lực hút vô hình nào đó hút và kéo tay cùng quả trứng xuống phía đưới khi đũa cắm đúng vị trí có hài cốt .Nếu không phải vị trí có hài cốt ,tuy trứng đứng được nhưng thao tác có cảm giác lỏng lẻo.Đây là điều thực sự có ý nghĩa và giá trị của phương pháp cũng như cần được nghiên cứu tiếp ,bởi "cảm giác có lực hút "và thời gian đặt nhanh hơn chính là dấu hiệu mách bảo ở dưới có hài cốt . Trên đây là những hiện tượng mà tác giả đã gặp trong thực tế ,hoàn toàn phù hợp với các giả thuyết mới về bản chất của trường vong -linh hồn do chính tác giả nghiên cứu ,nhìn nhận dưới góc độ khoa học ,xin được cung cấp để bạn đọc cùng tham khảo và suy ngẫm . Nguồn : Thegioivohinh.net
-
Ngôi nhà và chiếc hố chôn tội ác .... Nguồn: thegioivohinh.net Đó là ngôi nhà nhỏ, chỉ khoảng 40m2 nằm trong một con hẻm hẹp và thấp, thuộc khu xóm nghèo ở quận Tân Bình, cư dân đa phần là người lao động và dân nhập cư. Sẽ chẳng có gì đặc biệt nếu nơi đây không từng xảy ra một vụ án mạng nghiêm trọng, khiến dư luận bàng hoàng, phẫn nộ… Ngôi nhà dán bùa và những nữ sinh bỏ chạy Người vừa đến thuê chưa được 1 tuần đã dọn đi. Cửa lại được sơn mới và dán thêm bùa. (Ảnh chụp sáng ngày 29-5-2007. S.P.) Bao nhiêu năm qua, những thông tin về ngôi nhà luôn được cập nhật, là đề tài thời sự tại các quán cà phê quanh khu vực này. Câu chuyện về các nữ sinh viên đến trọ học, rồi lần lượt kẻ trước người sau… bỏ chạy luôn luôn được người ta kể đi, kể lại không biết bao nhiêu lần. “Người ở lâu nhất chưa được đầy tháng, còn người mau nhất chưa tới 1 tuần” – những người hàng xóm kể. “Nửa đêm, chợt thấy một cô sinh viên tung cửa lao bắn ra khỏi nhà, vừa chạy vừa khóc” – một người dân phụ họa. “Buổi trưa có anh sinh viên đến tìm bạn gái. Gõ, gọi rồi đập cửa mãi một lúc sau mới thấy cô bạn xuất hiện, mặt mũi thất thần, cô ấy nói không ra mở cửa được vì bị đến… 3 cái bóng đè” - một người khác thêm. Được biết, cách đây 1 tuần lại có người dọn đến rồi cũng vội vã dọn đi. Ngôi nhà lại được quét sơn mới và cửa lại dán thêm lá bùa mới chờ người kế tiếp đến thuê. Cú điện thoại khẩn của anh thợ hồ Vào một buổi trưa cuối năm 2000, khi người người tất bật, nhà nhà nô nức chuẩn bị đón tết Canh Thìn thì anh trực ban Công an phường 13, quận Tân Bình, bất ngờ nhận được một cú điện thoại lạ lùng của một người thợ hồ ngụ cùng phường, giọng rụt rè, nghi hoặc: “Tôi được thuê đào một cái hố vừa to, vừa sâu, lại gần như ngay giữa nhà, cạnh lối cửa ra vào, chủ nhà nói là đào hầm phân tự hoại. Vừa bước vào nhà tôi đã nghe mùi tanh hôi rất khó chịu, chủ nhà bảo do cống nghẹt nhưng tôi quan sát thấy phía chiếc giường được che chắn nhiều mùng màn, có một vệt nước đen chảy ra… Tôi ngờ có một vụ giết người và hình như người ta đang định thủ tiêu xác, các anh cho người tới đào chiếc hố này lên coi thử”. Thông tin lập tức được báo cáo, xác minh. Tại khu vực trên, nhiều bà con cũng phản ánh rằng vài ngày qua nghe có mùi khăn khẳn mà không biết xuất phát từ đâu. Đến gần căn nhà “có chiếc hố lạ lùng”, mùi hôi càng nồng. Nhà vắng. Công an phường phối hợp với cảnh sát hình sự, ban điều hành khu phố và tổ dân phố phá khóa bước vào. Trên nền gạch có dấu vết một chiếc hố to, hình chữ nhật vừa mới tráng xi-măng. Căn nhà lập tức được niêm phong chờ quyết định. Sáng sớm hôm sau, một thanh niên đến công an phường cự nự: “Tại sao niêm phong nhà có chủ?”. Anh ta lập tức bị giữ lại. Tra vấn đến hết ngày, anh ta cũng chỉ loanh quanh “không biết”, cho đến khi một cảnh sát hình sự nói thẳng: “Chúng tôi sẽ cho đào chiếc hố ở nhà anh lên xem có gì”. Anh thanh niên liền tái mặt… Mâu thuẫn từ anh em Thuận, Hòa Chủ nhân ngôi nhà đó là ông bà Nguyễn Thiếp, Nguyễn Thị Tuyết Lan - cán bộ hưu trí, quê quán Quy Nhơn, Bình Định, tạm trú TPHCM, diện KT3 - và 2 con trai “trên Thuận, dưới Hòa”. Anh con trưởng Nguyễn Minh Thuận được cha mẹ cho ăn học đến nơi đến chốn, tốt nghiệp ĐH Tài chính-Kế toán nhưng chưa tìm được việc làm. Nguyễn Minh Hòa chỉ học hết lớp 12 và đã đi làm vệ sĩ tại Công ty Bảo vệ Long Hải. “Hòa người cao, to nhưng tính tình hiền lành, chịu khó, siêng năng. Dạo đó, Hòa đang được phân công bảo vệ tòa nhà Sun Wah thì được tin anh bị giết” - Giám đốc Kế hoạch Công ty Bảo vệ Long Hải, bà Bùi Thị Hòa, nhớ lại. “Cả nhà chỉ trông cậy vào đồng lương của Hòa, bà Lan bị tai biến mạch máu não nên thường xuyên ra vào bệnh viện. Không có việc làm, Thuận lại là người thích ăn chơi, tiêu xài, nên thường “thó” tiền trong túi của em trai, vì thế anh em Thuận, Hòa liên tục cãi vã. Ông Thiếp, bà Lan thường bênh vực Hòa hơn. Với chút tiền hưu trí, ông bà có lần tiết lộ với hàng xóm “để dành lo cho thằng út lấy vợ”. Thuận biết được điều đó nên càng nuôi lòng thù ghét em” – anh Q., người hàng xóm nhà ở ngay đầu hẻm, kể. Lời khai ban đầu Thuận khai Hòa để mẹ té nên la mắng, Hòa cãi lại, Thuận lấy thanh ma trắc vụt vào mặt Hòa, Hòa quỵ xuống, tưởng Hòa giả bộ, Thuận đánh tiếp vào đầu cho đến khi Hòa chết. Bà Lan trông thấy cảnh ấy nên ngã bật ngửa đập đầu vào cạnh bếp, tắt thở. Ông Thiếp từ quê vào hỏi mẹ và em đâu, Thuận thú nhận đã lỡ tay giết và quỳ lạy, xin cha đừng tố giác, ông Thiếp nghe thế đập đầu vào cạnh giường, máu ra nhiều nên cũng chết ngay… Kết quả khám nghiệm tử thi Cả 3 người đều bị đánh vào vùng đầu nhiều nhát bằng ma trắc và côn nhị khúc đến lún, nứt, vỡ sọ. Tại hiện trường, công an tìm thấy 2 hung khí này với những vệt máu khô đen. Các nạn nhân bị vùi xuống hố ngay giữa nhà, lấp cát và tráng xi-măng, xác chảy nước, phân hủy, mùi hôi phủ trùm lên cả khu xóm… Tội ác trời không dung Trước khi xảy ra vụ án vài ngày, bà Lan xuất viện về trông nhà, còn ông Thiếp trở về quê để “chuyển hồ sơ bảo hiểm y tế cho bà Lan và chuyển sinh hoạt Đảng” - ông cho bạn bè biết. Vào một buổi tối, Thuận và Hòa lại tiếp tục cãi vã chuyện tiền bạc, máu nóng bốc lên cùng với bao nhiêu tỵ hiềm chất chứa, Thuận dùng thanh ma trắc bất ngờ đánh vào đầu Hòa từ phía sau. Bà Lan thấy thế bổ nhào vô ôm lấy Thuận, Thuận dùng côn nhị khúc vụt vào đầu bà, Hòa mất khả năng chống cự nên cả hai tiếp tục bị Thuận đánh cho đến chết trong cơn cuồng sát. Ông Thiếp từ quê lên cũng bị Thuận xô vào trong, giết nốt nhằm bịt đầu mối. Thuận chất xác cả gia đình mình lên chiếc giường, lấy mùng mền đậy lại. Vài hôm, xác bốc mùi, Thuận thuê người đến đào chiếc hố… Sự trừng phạt nghiêm minh Tháng 9-2000, phiên sơ thẩm Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC) tuyên Nguyễn Minh Thuận tội giết người: Tử hình. Đương sự làm đơn thú tội, xin Nhà nước khoan hồng, cho được sống để… thờ cúng cha mẹ (!). Tháng 2-2001, phiên phúc thẩm TANDTC tuyên Nguyễn Minh Thuận phạm tội giết người dã man, động cơ đê hèn, không còn nhân tính, tuyên y án sơ thẩm: Tử hình. Ngôi nhà… 0 người Vắng chủ nhân, không người thừa kế, ngôi nhà hoang tàn với chiếc hố được khai quật, đào xới lở lói, cát đá vương vãi… tiếp tục gây kinh hãi cho bà con lối xóm rất lâu sau đó. Một hôm, có người bà con đến lấp hố, quét vôi, sơn sửa, đổi số nhà. Tuy nhiên, nhà không có giấy chủ quyền nên không sang bán được, chỉ có người xa lạ đến thuê. Ám ảnh vì những lời đồn đãi, lần lượt hết người này, kẻ nọ đến rồi đi. Hiện ngôi nhà vẫn tiếp tục hoang vắng, lại chìm nổi trong những câu chuyện buồn về cả một gia đình trong phút chốc chẳng còn ai.