Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Lê Bá Trung

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    526
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by Lê Bá Trung

  1. Bạn phong thủy muốn thỉnh tỳ hưu nên xem lại, theo như sư phụ Thiên Sứ nói thì tỳ hưu không nên bày đặt trong nhà. Đồ vật phong thủy chơi lúc nào cũng có 2 mặt nếu không đặt đúng chỗ thì hậu quả sẽ khôn lường. Hình như là tỳ hưu chỉ dành cho những người nào có thế lực thôi, còn bình thường không nên xài, nghe theo chi bảo của sư phụ Thiên Sứ là chắc ăn nhất. Không biết tỳ hưu thì tác dụng như vậy còn Kỳ lân đá thì như thế nào? Có Huynh nào biết về tác dụng của Kỳ lân đá trấn trạch này không? Thân. Lê bá Trung
  2. Cám ơn Gia Nguyễn đã thu thập thêm tài liệu về chủ đề này. Chúc gặp nhiều điều may mắn. Thân. Lê Bá Trung
  3. Cám ơn về sự góp ý của anh Phạm Cương Rất nhiều. :P
  4. Chào chị Châu. Chị có thể bổ sung thêm hướng và tọa đô căn nhà này được không ạ? Như vậy mọi người sẽ đỡ mất thời gian trong quá trình tư vấn cho chị? Theo như chị trình bày như trên thì có lẽ nhà chị đã phạm vào Cung đào hoa của chồng chị? Chị bổ sung thêm vài chi tiết mọi người sẽ hỗ trợ giúp chị. Thân. Lê Bá Trung
  5. Chị Me trau vàng thân mến. Nhà chị hướng Tây. Có thể đặt hồ cá ở phía tây nam, Cừa vận tốt 2009 trở đi ở hướng Tây Nam, cũng ngay cửa chính ra vào của chị, một chút bàn luận nhờ các Sư huynh, tỉ khác tư vấn thêm. Thân. Lê Bá Trung.
  6. Cửa và phong thủy nhà bạn Khái niệm cơ bản của Phong Thủy là: “Khí nương theo gió thì tản mạn, gặp nước giới hạn thì dừng, người xưa làm cho tụ mà không cho tán, làm cho lưu thông mà có chỗ dừng, cho nên gọi là Phong Thủy”. Ở đây chỉ đề cập đến cửa của căn nhà bạn. Cửa trong phong thủy còn gọi là “huyền quan”. Về vấn đề này mỗi phái đều có cách lý giải riêng, nhưng nói chung họ đều công nhận cửa là quan trọng nhất . Đi đôi với cửa chính (huyền quan) còn có một thuật ngữ gọi là ‘Thủ huyền quan’ (trấn giữ của). “ Thủ huyền quan” là phía sau cửa khoảng 1,5mét cho đến 2 mét đặt một tấm bình phong,giống như mộ đơn vị trấn thủ cửa chính. Công dụng của bình phong là để thay đổi hướng đi của dòng khí, không cho khí xung chiếu trực tiếp vào. Bình phong dùng để “thủ huyền quan” có thể dùng bất cứ vật liệu hoặc hình dáng gì,và không cần lớn, chỉ cần cải biến hướng đi của dòng khí là được. Người ta cũng có thể dùng tấm gương làm bình phong, dùng để thủ huyền quan đòng thời vừa dùng để trang trí nội thất. Hoặc dùng một cái bàn tròn để hoá giải dòng khí xung trực tiếp vào. Bình phong dùng để thủ huyền quan có thể dùng bất cứ vật liệu hoặc hình dáng gì, và không cần lớn, chỉ cần cải biến hướng đi của dòng khí là được. Người ta cũng có thể dùng tấm gương làm bình phong để thủ huyền quan đồng thời vừa dùng để trang trí nội thất. Hoặc dùng một cái bàn tròn để hoá giải dòng khí xung chiếu trực tiếp vào. Đó là các biện pháp nhằm tạo luồng khí hòa hoãn để sinh tài. Cửa không được đối nhau Bên trong nhà thường có một số phòng và cửa của nó, các cửa này cần phải tránh đối nhau trực tiếp, vì một khi các cửa thông nhau sẽ làm ảnh hưởng phong thủy bên trong nhà. Lúc ấy dòng khí sẽ thịnh một nơi và yếu đi nơi khác, khó đạt tới sự hài hoà. Do đó nếu như phong thủy của một phòng không được tốt sẽ ảnh hưởng sang phòng khác. Các nhà phong thủy cho rằng nếu phạm vào trường hợp này thì người trong nhà hay cãi vã, xung đột. Nếu không thể sửa đổi lại cách bố trí cửa trong nhà được, người ta có thể đặt bình phong hoặc treo rèm cửa để cải thiện. Cửa phòng không được xuyên suốt từ trước nhà ra sau Trường hợp trong hình là phạm vào cuộc” Môn xung sát” rất có hại cho chủ nhân, hình thành hiện tượng mà các nhà phong thủy goi là “ Xuyên đường phong” ( gió xuyên qua các phòng). Trong trường hợp này, dòng khí sẽ quá mạnh làm ảnh hưởng đến sự ổn định của khí tường, có thể gây tổn thương đến sức khoẻ người ở nhà. Cửa lớn không được đối nhau với cửa sổ Cửa lớn là nơi để người ta ra vào, và cũng là nơi dòng khí vào nhà, nếu cửa lớn được đặt ở hướng tốt, một khi cát khí vào nhà sẽ theo cửa sổ mà đi mất, không tụ được. Cửa của hai nhà không được đối nhau Ngay cả trường hợp cửa của hai nhà khác nhau cũng không được đối nhau. Các nhà phong thủy cho rằng có thể làm những cách sau để hoá giải như dùng bình phong chư chắn phía trong cửa, đặt cặp tượng hình kì lân ở cửa bị xung chiếu, hoặc cặp tượng nhỏ hình con rùa bằng đồng cũng được (tượng này có thể hóa giải những loại vật phong thuỷ xấu khác xung chiếu vào cửa), tạo thành một hành lang để làm hòa hoãn dòng khí… Cửa không được đối với cạnh góc phòng Như trong hình bên, người đứng trong phòng nhìn ra ngoài phòng thấy cạnh góc của phòng đối diện xung chiếu thẳng vào phòng, đây cũng là điều cấm kị. Cửa phòng không được đối thẳng với xà nhà Dù là nhà gỗ, nhà xây hay đúc bê tông đều phải chú ý không thiết kế xà nhà đâm thẳng vào cửa chính. Cửa nẻo dẫn khí và đón vận may Cửa ra vào và cửa sổ là nẻo dẫn khí và đón vận may vào nhà. Khí vận hành ở trong nhà được xem là lý tưởng khi nó thông suốt cũng như sự chuyển vận hài hòa trong một cơ thể khỏe mạnh... Theo đúng cách thì các cửa trong nhà, hành lang và cầu thang sẽ dẫn khí vận chuyển khắp nhà. Sự vận hành phải điều hòa, không quá nhanh cũng như đừng quá chậm. Lối cửa chính phải mở ra chỗ rộng nhất của phòng hay đại sảnh. Đại sảnh là nơi mở ra cho khí và tạo ấn tuợng đầu tiên cho căn nhà nên nó giữ một vai trò khá quan trọng trong thuật phong thủy. Khu vực này rất cần sáng sủa, sự khoan khoái cũng như cảm giác ấm cúng và thân mật... * Một số vấn đề và cách chữa những cấu trúc lệch lạc của ngôi nhà: - Nếu cánh cửa mở ra nghịch chiều sẽ kềm chặt khí và vận may của người cư ngụ. Để hạn chế sự khiếm khuyết, bạn phải đổi cửa ra vào theo chiều thuận, treo gương trên tường để tạo không gian rộng thêm; đặt đèn hay chuông tự động reo khi có người mở cửa. Cửa chính dẫn vào nhà phải luôn rộng mở Cửa phụ cũng cần được bố trí hợp lý tạo sự lưu thông khí tốt trong nhà - Nếu một người về nhà hàng ngày mà chung quanh toàn các bức vách "dàn hàng chào" sẽ làm dội khí. - Cách chữa: Bạn có thể treo gương trên vách tường giúp khí chuyển vào khoảng không gian dội khí. Cửa sổ không chỉ là những con mắt đẹp mà còn là nơi dẫn khí vào nhà - Một lối vào hẹp và tối dẫn vào nhà cũng cản sự vận khí và cản trở may mắn của người cư ngụ. - Cách chữa: Đặt một ngọn đèn sáng trên trần và một tấm gương trên vách cận cửa để tạo chiều sâu. Các lối đi và cửa nẻo trong nhà cần được bố trí hợp lý để vận chuyển khí một cách tốt nhất - Cửa sau nhà cũng quan trọng, nó tượng trưng cho các dịp may đến một cách gián tiếp. Nhà ở hay cửa hàng sẽ gặp may mắn hơn khi có cửa sau mở ra một lối đi rộng rãi vì đó là biểu tượng cơ may sẽ lớn hơn trong sự phát triển tài chính thay vì là một vách tường ngăn chặn. Sảnh rộng... ... và lối sau nhà thoáng mát tốt cho sự vận chuyển lưu thông khí Chữ "An" trong nhà cửa Ngôi nhà làm xong, thảnh thơi nhìn lại thấy thật bình yên khi ta biết chọn mình làm chủ thể để sống an nhiên giữa không gian cư ngụ được sắp xếp cho chính mình, để xung quanh cùng an hòa với mình. Đó cũng là lẽ phong thủy cuối cùng cần đạt tới. Bởi thế mà không có khái niệm về một ngôi nhà sắp xếp phong thủy chung chung. An lành phải có theo cuộc đất cụ thể và những con người cụ thể. Con người ứng xử với môi trường, với xã hội ra sao, hình thế phong thủy sẽ đáp trả như vậy. An cư mới lạc nghiệp Chỉ cần nơi cư ngụ yên ổn, thế là đủ, chuyện rộng rãi hoành tráng hay tiện nghi cao cấp nằm ở mức độ đầu tư nhiều hay ít, bao người xây nhà lâu nay vẫn chỉ mong được một tiếng An Cư. Nhưng bàn về chữ An trong nhà ở quả thật vô chừng, chỉ biết chắc rằng cha ông ta trước nay không hề đi tìm kiếm chữ An ở các giá trị vật chất đơn thuần theo kiểu tòa ngang dãy dọc, kín cổng cao tường, mà chủ yếu thể hiện qua các ứng xử với thiên nhiên và con người. An cư để an hưởng, thiên về Tĩnh. Vì thế, ngôi nhà xưa chỉ được tính là chốn an cư khi nằm trong mối quan hệ tổng thể, thiên nhiên được sử dụng quay vòng và khép kín. Ta ở đâu thì tiểu vũ trụ ở đó, hai bên Long - Hổ, hai mặt Tiền - Hậu đều lấy tâm điểm - Trung Cung là ta, hỗ trợ cho ta trong cái hình thế chung của cả xóm cả làng, thật tĩnh tại mà cũng thật linh động. An khang cho mình - cho người Lời chúc an khang thịnh vượng đầu năm mới cũng là mong cho người yên vui khỏe mạnh, nhà an toàn và phát triển. Nếp nhà xưa chỉ với mấy “hàng giậu mùng tơi xanh rờn” đủ để giảm những bước chân trực diện, nhưng vẫn đủ thấp để ánh mắt láng giềng quyến luyến nhau. Khung cảnh hữu tình, đường nét sắp xếp uốn lượn theo kiểu “đường vô xứ Nghệ" mới chính là cái lý phong thủy của tiền nhân. Bởi thế mà khách nào trước khi vào nhà đều phải qua sân, đến hồ bán nguyệt hay tấm bình phong xây gạch mà có khi đơn giản chỉ là khóm hoa cát tường, bụi cây phát tài, rồi gặp ba bậc thềm nối liền vào hàng hiên. Vùng Dương chói lòa của nắng gió xứ nhiệt đới được làm dịu xuống nhờ khoảng đệm hữu tình ấy, trước khi vào vùng Âm mờ ảo bên trong - một cách xử lý đơn giản mà khéo léo trong nếp nhà xưa. Chỉ đề phòng người ngay, quan điểm phóng khoáng này khiến ngôi nhà Việt xưa chẳng chút vướng bận hoa sắt bảo vệ hay camera chống trộm. Rào giậu thuần chất thiên nhiên, thềm nhà cao, hiên vươn rộng khiến ngôi nhà nhìn từ ngoài như một vệt tối kín đáo, bộ mái phủ bên trên e ấp như chiếc nón lá che khuôn mặt thiếu nữ truớc mọi ánh nhìn, nhưng chủ nhân bên trong vẫn có thể thảnh thơi quan sát, khách đến từ tít tận ngoài cổng đã rõ mười mươi. Trong Tĩnh có Động, trong Am có Dương, nhà trên, vườn dưới tương hỗ nhau khiến ngôi nhà quấn quít gốc mít hàng cau, làm cho vườn Việt lâu nay được tiếng là ít thiên về trang trí thuần túy mà nhiều tính công năng, trong đó việc bảo vệ cũng là yếu tố quan trọng. An tâm để sống an hòa Thời đô thị hóa, nhà ống phân lô hay chung cư ngất trời, chữ An ở đâu? Vẫn đủ cả, chỉ khác biệt về cung cách thể hiện, mà khởi nguồn không thể bỏ qua quan điểm chung cho mỗi gia chủ và người làm nhà. Thiết kế kiến trúc, nội thất, hay xếp đặt... đều “vẽ” nên phần chưa hiển hiện cho đến lúc gia chủ dọn vào cư ngụ, một chữ An không chỉ cho ngôi nhà mà cho các thành viên trong đó. “Trước cau sau chuối” trở nên hiếm hoi, mà rào giậu cổng quê cũng đang dần mai một, ngôi nhà Việt đương đại đi tìm chữ An bắt đầu và kết thúc đều ở một niềm tin. Với mức độ thấp, niềm tin ấy được giao cho các thầy địa lý. Xoay vài cái cửa, chọn ngày khởi công, đếm bước bậc thang đã gọi là đủ An chăng? Có kiêng có lành, nhưng kiêng cữ quá hóa rối tung. Kiến trúc sư lắm lúc buông bút nhìn theo ngôi nhà bị xoay như chong chóng. Những vấn đề gọi là phong thủy hiện đại, thực ra vẫn đang nối dài sợi dây ứng xử từ nếp nhà truyền thống, tìm kiếm chất liệu của hôm nay (và cả ngày mai) trên tinh thần học hỏi giá trị hôm qua. Giai điệu về nếp nhà Việt xưa vẫn có những nốt trầm, khoảng lặng của sự thiếu tiện nghi hay thiếu độ bền chắc, an tâm có lúc thành ra... an phận! Nguon:phongthuyvietnam
  7. Lịch sử phát triển của khoa học Phong thuỷ Thuật Phong Thuỷ hình thành rất sớm,có thể nói gần như cùng với sự ra đời của loài người thì con người từ khi sinh ra đã biết chọn những vị trí cư trú có núi non che chở bao bọc, lại gần sông ngòi, nguồn nước. Từ đời nhà Chu đã có quá trình chọn đất xây nhà tại vùng bình nguyên, đây là vùng đất mầu mỡ, có thể canh tác nông nghiệp thuận lợi. Gần nguồn nước mà vẫn tránh được lụt lội, tai hoạ thời tiết, thiên tai. Vì vậy, thuật Phong Thuỷ nghe có vẻ huyền bí nhưng thực ra lại rất thực tế và gần gũi với đời sống. Trải qua lịch sử phát triển của các triều đại, đời nào cũng có những học giả kế tục và phát triển. Nhưng sự huyền bí của nó thể hiện ở chỗ, có rất nhiều các học phái khác nhau dựa trên những suy luận khác biệt nhau, thậm chí có khi đối lập nhau. Cho đến nay vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Vì vậy người ứng dụng Phong Thuỷ hiện đại đòi hỏi phải biết gạn đục khơi trong. Biết gạn bỏ những gì không hợp lý qua chiêm nghiệm thực tế và phát huy những gì đúng đắn nhất và quan trọng nhất là phù hợp với đời sống xã hội hiện đại ngày nay. Trong lịch sử phát triển, thuật Phong Thuỷ hình thành nên nhiều trường phái khác nhau, mỗi trường phái có phương pháp lý luận và ứng dụng riêng. Có một số trường phái lớn được biết đến như sau : + Phái Bát Trạch : Do Thái Kim Oanh phát triển và hoàn thiện trong tác phẩm Bát Trạch Minh Cảnh. Phái này căn cứ chủ yếu vào sự kết hợp giữa mệnh cung của chủ nhà với các hướng để luận tốt xấu và thiết kế nhà ở. + Phái Huyền Không : căn cứ vào môn Cổ Dịch Huyền Không, dùng Phi Tinh tức là sự vận động các luồng khí khởi nguồn từ Bát Quái để luận đoán tốt xấu. Phái này cũng đặc biệt chú trọng tới vận khí, tức là sự tốt xấu của căn nhà theo thời gian, còn được gọi là Trạch Vận. Qua đó dự đoán được tốt xấu cho căn nhà theo từng thời điểm để có phương án bài trí và sửa chữa hợp lý. + Phái cảm xạ Phong Thuỷ : Nghiên cứu về khí trường Phong Thuỷ và các nguồn năng lượng sinh học. Ngoài 2 trường phái lớn trên còn hình thành nên một số trường phái khác với những đặc trưng về học thuật và công phu nghiên cứu khác nữa, ví dụ : + Phái Dương Trach Tam Yếu : do Triệu Cửu Phong khởi xướng, sau là Lộc Dã Phu phát triển trong hai tác phẩm Dương Trạch Tam Yếu và Dương Cơ Chứng Giải + Phái Huyền Thuật Phong Thuỷ : Là môn Phong Thuỷ bí truyền trong dân gian, được truyền theo lối tâm truyền, không mấy phổ biến. Phái này chuyên nghiên cứu việc phát hiện và trấn yểm các Long Mạch, chủ yếu áp dụng cho mộ phần. Tóm lại, Phong Thuỷ là một nghệ thuật bài trí không gian, rất tinh tuý, tuy nhiều bí ẩn nhưng nếu hiểu được và áp dụng đúng thì sẽ mang lại những hệ quả hết sức lớn lao nằm ngoài những nỗ lực về trí tuệ và sức lực thuần tuý của con người. Nguon:phongthuyvietnam
  8. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH Từ mấy ngàn năm trước, trong quan niệm của nhiều nước Đông phương đã có một Vũ trụ quan thống nhất và tiến bộ. Người xưa đã quan niệm Vũ Trụ có 2 cái không cùng tận đó là KHÔNG GIAN và THỜI GIAN. KHÔNG GIAN là vô cùng. THỜI GIAN thì Vô tận. Người xưa cho rằng tồn tại trong KHÔNG GIAN và THỜI GIAN có 2 " Khí " đó là ÂM và DƯONG. Tương hỗ khắc chế -đồng biến giao thoa xoay chuyển cùng với không gian và thời gian mà sản sinh ra vạn vật hiện hữu . Đông Phương học cho rằng khởi đầu VŨ TRỤ Là " vô cực " hỗn mang hỗn độn rồi chuyển biến dến hiện tượng sơ khai là " THÁI CỰC '. THÁI CỰC vận hành không ngừng tạo ra " LƯỠNG NGHI " LƯỠNG NGHI tưng tác đối lập tạo thnàh " TỨ TƯỢNG. Đó là nguyên lý vận hành tạo thành sơ khởi của tạo hoá . Từ TỨ TƯỢNG lại khắc chế đối lập không ngừng tạo ra 8 hiện tưọng khác la:Trời , Đất , sấm sét ,gió , nước , lửa , núi , đầm. NGười xưa kết hợp và gán cho 8 hiện tựng vào cá quái ( quẻ ) biểu trưng thành BÁT QUÁI là : CÀN ( Trời ) -KHÔN ( Đất ) - CHẤN ( sấm sét ) - TỐN ( gió ) -KHẢM ( nước ) - LY ( hoả )- CẤN ( núi ) - ĐOÀI ( đầm ao ) Như vậy , quá trình hình thành từ ÂM DƯƠNG - TỨ TƯỢNG - BÁT QUÁI được đặt cho là TIÊN THIÊN BÁT QUÁI. Từ TIÊN THIÊN BÁT QUÁI lại giao thoa với HẬU THIÊN BÁT QUÁI sinh ra 64 quái . Trên đây là những khái niệm cơ sơ của người xưa nói về sự hình thành thiên hình vạn trạng theo một quy luật như thế đối với vạn vất trong VŨ TRỤ . Nguon:thuonghylenien
  9. Âm dương điều hòa... Một “Long mạch” tốt sẽ cho Khí tốt. Khí được dịch là “hơi thở” hoặc “năng lượng”, là khái niệm quan trọng nhất trong phong thủy. Một yếu tố quan trọng nữa trong phong thủy, đó là sự hiện diện của các vì sao (Cửu tinh) tác động đến môi trường xung quanh. Tìm “Long mạch” của đất Các chuyên gia phong thủy đã tìm kiếm Khí, để tìm ra mạch của đất, nó cũng giống như các thầy thuốc làm khơi dậy năng lực sống động của vũ trụ. Lý thuyết phong thủy chỉ ra rằng, Khí lưu thông, xoay tròn xoắn ốc trong trái đất. Khí là nhân tố hàng đầu ảnh hưởng đến đời sống con người. Được dịch là “hơi thở”, Khí là năng lượng hoặc sức mạnh để tạo ra núi non và các ngọn lửa, hướng chảy của các sông suối và xác định màu sắc và hình dạng cây cối. Năng lượng này cũng còn được hiểu như là “Long mạch”. Trong phong thủy, các chuyên gia về lĩnh vực này sẽ dự đoán về những mạch tốt để “nuôi dưỡng” Khí và sau đó chỉnh nó để làm giàu cuộc sống và khí của những người cư ngụ. Ở người, Khí là tinh thần hoặc là sức mạnh sống động để nâng đỡ cho cơ thể như: Cách chúng ta xuất hiện và hành động, cách di chuyển, giao dịch. Khí gắn liền với chúng ta từ lúc sinh cho đến lúc chết và nó cũng tồn tại khác nhau trong mỗi người, có thể ảnh hưởng đến vận mệnh của mỗi con người. Các chuyên gia nhìn tư thế của bạn ngồi, di chuyển và nói chuyện để nhận ra dòng khí của mỗi người. Chuyển động của cơ thể, dáng vẻ, nét mặt, sự rạng rỡ của đôi mắt, sự mím chặt của đôi môi, màu da và giọng nói... tất cả sẽ phản ánh lại dòng khí của một người. Phân tích dòng khí, các chuyên gia còn có thể dùng phong thủy để giúp người ấy gỡ rối được các nút ngăn chặn hạnh phúc, để đạt được mục đích và hy vọng cho con người. Khí của con người có thể được tô điểm bằng một số cách như: thiền định, quan hệ tốt giữa con người, và một môi trường lành mạnh – một phong thủy tốt. Khí của nhà và khí của người có những điểm chung. Khí của một căn nhà cũng ảnh hưởng đến không khí và do đó cũng ảnh hưởng đến người cư ngụ trong đó. Trong một vài nơi, chúng ta cảm thấy thoải mái, hạnh phúc và cảm thấy như ở nhà, và một trong vài nơi khác, chúng ta lại cảm thấy bồn chồn hoặc chán nản. Những chỗ khác thì lại lạnh lẽo, âm u và nặng nề... đó là tất cả những đặc tính của Khí của một ngôi nhà. Sự điều tiết và nâng cao dòng khí là mục đích tiềm ẩn của phong thủy. Dòng khí tốt trong một chỗ ở, sẽ cải thiện dòng khí của những người sống trong đó. Khái niệm về Khí chủ yếu là để đánh giá về nhà cửa, văn phòng hoặc đất đai, và tất cả những yếu tố bên trong, bên ngoài của chúng. ở đây, các chuyên gia phong thủy cũng giống như một bác sĩ, tìm ra sự luân chuyển và mạch đập của Khí. Họ tìm kiếm các môi trường êm dịu, cân bằng sự thay đổi các vùng xung quanh. Tác động của Cửu tinh (9 sao) Tất cả các môn phái phong thủy đều chú trọng đến đại hùng tinh do sự quan hệ của nó với sao Bắc Đẩu. Phái phong thủy này là Cửu tinh, rồi bát môn, bát quái (đã được đề cấp trước đây). Trong phong thủy, có thể sử dụng Cửu tinh vào việc phân tích các khu vực tốt, xấu. Trong Đại hùng tinh ở bầu trời đêm chỉ có 7 vì sao (Trường sinh, Diên niên, Họa hại, Lục sát, Ngũ quỷ, Lưu niên, Tuyệt mạng), nhưng trong phong thủy có thêm hai vì sao tưởng tượng ra (Tả phù và Hữu bật) và được biết như các thần sao được thêm vào để tượng trưng hai khuynh hướng chính của Kinh dịch, báo điềm tốt và xấu. Cửu tinh tượng trưng cho những sự định hướng âm dương không gian và cũng là bản đồ phong thủy để phân tích một vị thế: 1. Sao Trường sinh (dương): Tốt cho tất cả các hoạt động, phòng ngủ, phòng khách, nhà bếp. 2. Sao Diên niên (dương): Tốt cho phòng ăn, nhà bếp, phòng ngủ, góc để trò chuyện và những khu vực thường có sự hoạt động. 3. Sao Họa hại (âm): Một vị trí xấu với hoạt động của con người. Có thể đặt đồ vật để hóa giải ảnh hưởng xấu của vị trí này như: tượng sư tử, rồng, cọp, vòi phun nước nhỏ, bể nuôi cá, bình hoa, cây xương rồng... 4. Sao Lục sát (âm): Đừng bao giờ thiết kế nhà bếp, phòng ăn, hay phòng ngủ, phòng khách... trong vị trí xui xẻo (phản bội) này, trừ phi các nhà phong thủy biết cách hóa giải. Có thể đặt kệ sách, ti vi, các đồ vật trang trí vào đây, nhưng không được đặt bàn ghế, bàn làm việc... 5. Sao Ngũ quỷ (âm): Đây cũng là vị trí lắm rắc rối. Phòng ngủ đặt nơi này không tốt, chỉ nên đặt đồ đạc, các vật dụng khác. 6. Sao Lưu niên (dương): Vị trí này tốt và hợp cho công việc của con người, phòng ngủ, phòng ăn, phòng khách, nơi làm việc... Nó được sự hỗ trợ của hai sao tưởng tượng (Tả phù, Hữu bật). 7. Sao Tuyệt mạng (âm): Đây là một vị trí xấu cho hoạt động của con người. Đừng bao giờ đặt phòng làm việc, phòng ăn, phòng ngủ, quầy rượu, nhà chứa xe hoặc bất cứ hoạt động nào ở nơi này. Chỉ nên để các kệ chứa đồ đạc, đồ phế thải... Có thể để một cây xương rồng, treo một đèn trần nhà thật lớn, hay một lá bùa... để hạn chế ảnh hưởng không tốt. 8-9. Sao Tả phù, Hữu bật (trung tính): Là hai sao tưởng tượng đi kèm với sao Lưu niên, giúp cho sao này thu hút những ảnh hưởng vô hình và được xem là những người bạn tốt. Nguon:thuonghylenien
  10. Phong Thuỷ là môn khoa học tổng hợp của các môn khoa học thực nghiệm ; thuyết khác nhân vật ; ðịa cầu, thuỷ vãn địa chất, vũ trụ tinh thể học, khí tượng học, môi trýờng học và kiến trúc. Ngýời vận dụng phải có kiến thức tổng hợp, biết xem xét thiên nhiên môi trường, cải tạo nó thành môi trường tối ưu cho con người sinh sống để phát triển tốt đẹp. Ðích cuối cùng của Phong Thuỷ phải là Thiên Nhân hợp nhất, con người đạt đến cái đích thấu hiểu những quy luật của trời đất và sống hoà hợp với những quy luật ấy. Từ trước đến nay những quy luật của thiên nhiên, của trời đất vũ trụ vẫn vô tý tồn tại, chỉ có con người duy nhất; chí mới cho rằng mình sống không cần phụ thuộc vào nó nên vô tư;nh ðã phạm phải những ðiều gây tai hoạ cho chính bản thân con ngýời. 1. Một hệ thống chỉnh thể : Một môn khoa học hoàn chỉnh phải có một chỉnh thể hệ thống luận thống nhất. Trýớc ðây chúng ta hay bắt gặp những mảnh vụn của một lý thuyết hợp nhất nên có cảm týởng rằng Phong Thuỷ là một môn khoa học phiến diện thiếu tính hệ thống. Kỳ thực nó phải dựa trên một chỉnh thể hệ thống luận, lấy con ngýời làm trung tâm của thiên nhiên, bao quát thiên ðịa vạn vật, hoàn cảnh xung quanh con ngýời có nhiều yếu tố chúng có mối liên hệ týõng hỗ, hạn chế, týõng hỗ tồn tại, týõng hỗ ðối lập và chuyển hoá. Phong Thuỷ học có mục ðích truy tìm những nhân tố này, xem xét ðể tối ýu hoá kết cấu giữa các nhân tố tìm sự tổ hợp tốt ðẹp nhất. Phong Thuỷ luôn quan tâm chú ý ðến tính chất chỉnh thể của hoàn cảnh. Hoàng ðế Trạch Kinh viết : “Lấy hình thế nhý thân thể, lấy sông nýớc nhý huyết mạch, lấy ðất ðai nhý da thịt, lấy thảo mộc nhý lông tóc, lấy ðýờng ốc nhý y phục, lấy cổng cửa nhý ðai mũ, nhýợc ðắc nhý suy nghĩ, xem xét nghiêm túc nhý thế là thýợng cát”. Nhý vậy ứng dụng nguyên tắc này vào môn Phong Thủy là phải xem xét thấu ðáo tất cả các nhân tố xung quanh môi trýờng, phối hợp, loại bỏ và týõng tác chúng theo một hệ thống thống nhất ðặt con ngýời là trung tâm. Phong Thuỷ hiện ðại còn cần lấy con ngýời, mục ðích sinh sống làm việc của con ngýời làm trọng tâm. 2. Nguyên tắc Nhân - Ðịa phù hợp : Nguyên tắc này là cãn cứ tính chất của hoàn cảnh khách quan ðể thích nghi với mục ðích, phýõng thức sinh hoạt của con ngýời. Nýớc ta ðịa hình phức tạp, ðồi núi sông hồ ða dạng, ðịa mạch kéo dài, thổ nhýỡng khí hậu ða dạng, ðịa hình thiếu ðồng nhất. Mỗi vùng mỗi miền có một ðặc trýng riêng về ðất ðai, mạch núi mạch sông, khí hậu, lýợng mýa, rừng nhiều ít. Miền Tây Bắc thì núi non trùng ðiệp, khí hậu lạnh cần tàng phong tụ khí, tránh khí lạnh xâm nhập, tránh lụt lội lở ðất. Miền Nam thì nắng nhiều, mýa ít phòng hoả hoạn, hạn hán. Chính vì thế phải phân hoạch cụ thể mỗi vùng thì phù hợp với Phong Thuỷ nhý thế nào, từ ðó có cách thức hài hoà với ðiều kiện sinh sống và làm việc của con ngýời. 6. Thẩm ðịnh nguồn nýớc : Nýớc vô cùng quan trọng ðối với các sinh vật nói chung và với con ngýời nói riêng. Về Phong Thuỷ, nýớc chính là những dòng mạch ði kèm hộ vệ cho sõn mạch. Chất lýợng của ðất quyết ðịnh chất lýợng của nýớc bởi nýớc sinh từ trong lòng ðất. Các phái Phong Thuỷ kinh ðiển chú trọng “tầm long nhận khí”, nhận khí thuờng thủy”, tức luôn lấy chất lýợng thuỷ làm tiêu chuẩn ðánh giá khí trýờng tốt xấu. Nên lýu ý những kinh nghiệm sau ðây về chất lýợng cuả nýớc : Quý nhất là sắc nýớc trong màu xanh ngọc, vị ngọt hoặc nýớc phát ra mùi thõm không tanh hôi chủ ðại quý. Khí chất nýớc trong màu trắng, vị thanh, ấm áp chủ trung quý. Mạch nýớc cần dài sâu, bốn mùa xuân hạ thu ðông ðều không cạn kiệt. Tránh nýớc có màu sắc ðen, sắc ðỏ, nguồn nýớc hung dữ, nýớc vẩn ðục tanh hôi, hoặc vị ðắng chủ hung khí. Phải lýu ý rằng nếu nýớc xấu sẽ có những nguyên tố có hại cho sức khoẻ con ngýời mà khoa học hiện ðại cũng chỉ ra ðó là những nhân tố có thể gây bệnh nhý ung thý. 7. Toạ bắc hýớng nam : Ðối với các tỉnh phía Bắc, chịu ảnh hýởng chủ yếu của khí hậu nhiệt ðới gió mùa, gió mùa thýờng thổi vào từ phýõng Bắc mang theo khí lạnh nên gọi là âm phong, chủ hại cho sức khoẻ con ngýời và mọi vật. Phýõng nam thýờng có gió ðông nam ấm áp, nhiều hõi nýớc gọi là dýõng phong tốt mang nhiều dýõng khí. Thýờng nhà cửa từ xýa ðều chọn toạ bắc hýớng nam vì vừa tránh ðýợc lạnh, vừa lấy ðýợc gió mát nam mùa hè. Tuy nhiên ðối với các khu vực ở miền nam thì sự suy luận lại ðảo ngýợc, phýõng bắc lại là phýõng tốt ðể lập hýớng. Thông qua việc ngũ hành âm dýõng hoá các phýõng vị ðã phản ánh ðýợc tính chất của khí hậu và sự vận chuyển các luồng khí theo thời gian và không gian. 8. Nguyên tắc hài hoà trung tâm : Xét trong một chỉnh thể thống nhất, Phong Thuỷ tối quan trọng sự hài hoà âm dýõng, thể hiện ở nguyên lý nhà cửa phải hài hoà cân ðối, không cao không thấp, không nghiêng lệch, thýờng ðýợc thiết kế theo nguyên tắc cân ðối, ðối xứng theo hình chữ Tam, chứ Tứ. Nếu hình thế quá cao thì gọi là cô dýõng không tốt chủ sự thái quá. Nếu hình thế quá thấp gọi là cô âm chủ sự bất cập, ðòi hỏi phải cao vừa phải, cân xứng. Sau khi xây dựng nên các công trình sẽ hình thành nên trýờng khí, sự vận chuyển của khí phụ thuộc rất nhiều vào quy hoạch kiến trúc. Phải lấy khí uốn lýợn hữu tình, tụ khí, tránh khí bị trực xạ, tản mát, minh ðýờng cần rộng thoáng vừa với huyệt ðể dừng khí trýớc khi tụ lại huyệt. Lấy một toà nhà trung tâm làm chính, các phýõng tả hữu phải thiết kế phù trợ cho trung tâm, tránh to lớn hoặc cách xa trung tâm ðể tạo thế vua tôi triều củng. 9. Nguyên tắc cải tạo : Ngoài việc thuận theo hình thế tự nhiên của núi sông, tìm ra nõi sinh khí tụ hội ðể xây dýng. Ngoài ra tự nhiên không phải bao giờ cũng tối ýu về mọi mặt. Thông qua sự khảo sát tìm ra khiếm khuyết của huyệt, dùng những cách thức cải sửa Phong Thuỷ thích hợp sẽ hoá giải ðýợc những bất cập. Nếu thiếu sõn thuỷ có thể xây dựng các công trình giả lập, khí không tụ tàng có thể xây dựng ðể hýớng dẫn luồng ði của khí theo hýớng thích hợp tránh ðýợc tản mát. Nếu chất lýợng khí, nýớc không tốt có thể cải sửa thanh lọc dần biến hung thành cát hoặc ít ra cũng ðỡ ðýợc một phần cái xấu. 10. Tiên tích ðức hậu tầm long : Cái ðích cuối cùng cuả thuật Phong Thuỷ là ðạt tới mức Thiên -Ðịa – Nhân týõng hợp. Ðể sử dụng, cảm hoá ðýợc những nguồn nãng lýợng của trời ðất, con ngýời cũng phải có ðýợc những giá trị týõng ứng về tâm linh với cùng một sự ðồng cảm. Ðòi hỏi phải tu nhân tích ðức, chỉ khi có ðức mới tìm ra ðýợc những huyệt vị tốt hài hoà với cãn cõ của mình. Bởi luật nhân quả chi phối rốt ráo mọi hoạt ðộng của con ngýời Nguon:thuonghylenien
  11. Chút lạm bàn về phong thủy Thiết kế phòng khách cũng cần phải chú ý tới phong thủy Thuật Phong thủy đã chia xẻ sự phát triển của nó cùng với khoa Thiên văn và khoa Dự án (quẻ Dịch) của Trung Quốc cổ. Nó đã có từ thời đại truyền thuyết, dù không có những dữ kiện xác thực cho chúng ta biết ai đã hình thành nó và vào thời điểm nào. Tuy thế, nó rất gần gũi với la bàn từ trường của nguời Trung Quốc cổ, làm cho nguời ta liên tuởng đến việc nó có thể bắt đầu ra đời vào khoảng thời gian la bàn đuợc phát minh, và thành quả này đuợc nguời đời tin rằng của Hoàng đế Vàng - Một nhà vua cổ của Trung Quốc đã sống vào khoảng năm 2.700 truớc Công nguyên. Người ta không đưa ra một chứng cứ lịch sử nào về sự đóng góp này, nhưng một điều chắc chắn là việc sử dụng nó thật sự đã có từ thời cổ. Có rất ít tài liệu lịch sử xa xưa liên quan đến môn phong thủy, nhưng trong những vụ khai quật kho cổ hơn 80 năm qua ở Trung Quốc đã tìm thấy những tài liệu dưới lòng đất có ngày tháng vào khoảng thế kỷ thứ 3, thậm chí từ trước Công nguyên với một số thông tin gián tiếp liên quan đến phong thủy. Một số học giả cho rằng, các kiến thức và sự sử dụng nó có thể vào thời kỳ Xuân Thu, hoặc thời kỳ Chiến quốc (770 - 221 trước Công nguyên), khi có khoa Dự đoán, kinh Dịch và Vũ trụ học dựa trên 5 yếu tố Ngũ hành đầu tiên được soạn thảo công phu và viết thành văn bản. Ðây có thể là một hệ thống mà môn phong thủy rất gần gũi, đặc biệt là kinh Dịch, nguời ta cho rằng đuợc biên soạn bởi Lão Tử vào khoảng năm 600 truớc Công nguyên. Nhưng ngoài những dữ kiện mỏng manh này, người ta có rất ít nguồn thông tin liên quan đến phong thủy cũng như sự có mặt của nó. Hy vọng rằng các vụ khai quật trong tuơng lai sẽ có một ít tia sáng. Cả hai ông Hồng Phạm và Thạch Hoàng đều đuợc xem là cha đẻ của thuật phong thủy vào thời cổ Trung Quốc (Dù các sử gia có thể phản bác điều này, họ tin rằng thuật phong thủy đã có truớc đó). Thuật phong thủy của Hồng Phạm đóng góp một phần đặc biệt quan trọng cho chúng ta. Ông đuợc cho là nguời sáng tạo ra phần Cửu tinh (9 sao), Bát môn (8 cửa) và Bát quái phong thủy. Cửu tinh nói đến chòm sao (7 ngôi) được gọi là Ðại hùng tinh, có thêm 2 ngôi sao khác. Bát môn đề cập đến 8 điểm chính của La bàn Bát quái và tám cung cơ bản đuợc sử dụng trong kinh Dịch dự đoán. Trong suốt thời kỳ Tam Quốc, thiên tài chiến lược Gia Cát Lượng (Khổng Minh, 181-234 sau Công nguyên) đã xuất hiện trong lịch sử Trung Quốc. Ông sử dụng các chiến thuật dựa trên bát quái đồ để dụ địch, tiêu diệt quân Tào. Khổng Minh là một nhà chiến luợc quân sự đại tài biết dùng thuật phong thủy và đuợc tôn kính là nguời sáng lập môn phái phong thủy. Các truyền thuyết về 3 vị thầy vĩ đại, Hồng Phạm, Thạch Hoàng và Khổng Minh đã đặt nền tảng cho tất cả những bậc thầy phong thủy của 2.000 năm kế tiếp. Một số người tin rằng Thạch Hoàng cũng là nguời đưa thuật này vào văn hóa dân gian, và do kết quả từ nỗ lực này, khoa phong thủy không còn là một công cụ bí mật và quý giá của một số nguời có đặc quyền và các vị vua có quyến lực trị vì thiên hạ. Ông đã chọn lựa những môn đồ có tài năng để truyền bá kiến thức cho quần chúng. Trong suốt thời kỳ đầu nhà Hán (khoảng năm 200 trước Công nguyên), một tác giả có tên là Oing Wu đã viết 3 tập về phong thủy. Một vị khác tên là Guo Pu (năm 276 - 324 sau Công nguyên) đã xuất hiện suốt thời kỳ Tây Hán. Ông đuợc công nhận là tác giả cuốn sách về phong thuỷ có tên Zang Shu (Bàn về việc chôn cất). Tiếc thay, chỉ còn lại những tựa đề của các tác phẩm đầu tiên về phong thủy truyền lại cho chúng ta, các văn bản đã thất thoát và lẫn lộn vào các tác phẩm khác. Những công cuộc khai quật khảo cổ trong tuơng lai sẽ có thể tìm thấy các tài liệu gốc nhưng hiện nay tất cả các bản còn lại đều là các bản sửa đổi, có lẽ được ghi chép (năm 960 - 1279 sau Công nguyên). Ngay các bản in hiện đại từ các bản sửa chữa đều khó hiểu và đuợc viết bằng loại chữ cổ Trung Quốc mà ngày nay, hiếm nguời có thể đọc đuợc. Vào khoảng thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên, đã có một số văn bản viết về khoa phong thủy. Một lần nữa, chúng chẳng tồn tại đuợc bao nhiêu và một số ít bản sửa đổi sau này lại do những nguời viết không đạt chất luợng. Nghệ thuật phong thủy đã đạt tới đỉnh cao trong triều đại nhà Tang (Tần, năm 618 - 906 sau Công nguyên). Nhiều người hành nghề này đã phát triển cơ ngơi hưng thịnh. Tám người nổi tiếng nhất là Yang Jungsong, You Yanhan, Li Chungfeng, thiếu sư Yi Hang, nhà sư Shima Touto, Riu Baitou, Chen Yahe và Futu cùng là phật tử. Trong những pháp sư đời Tần, Yang Jungsong (Khoảng 650 sau Công nguyên) có ảnh huởng lớn nhất và qua ông, các lý thuyết về phong thủy đáng chú ý đã truyền bá lại cho chúng ta. Sự quan tâm đến phong thủy và cách áp dụng đã đuợc hồi phục vào thời nhà Tống (960 - 1279 sau Công nguyên) và nhiều vị thầy nổi tiếng đã xuất hiện. Trong các vị ấy có Wu Aixian (Thế kỷ 11 sau Công nguyên) và các môn đệ của ông (Liu Qiwan và You Gounghang). Wu Aixian, nguời sáng lập ra môn phái 36 kinh tuyến, đã viết một luận thuyết dùng cho các thế đất về mai táng và nhà ở. Người ta ghi nhận, suốt 500 năm kéo dài từ đời nhà Tần đến nhà Tống, hơn một trăm môn phái phong thủy đã tranh giành ảnh huởng lẫn nhau. Tất cả các môn phái này đều khởi đầu từ cùng một quan niệm về vũ trụ học và các lý thuyết. Ðể rồi sau đó phát triển thành nhiều sự diễn giải khác nhau, mỗi môn phái đặc biệt quan tâm đến hoặc tập trung vào những khuynh huớng nào đó của phong thủy. Sau đó, một số môn phái đã đồng hóa lẫn nhau. Nguời Trung Quốc cổ tin rằng, khi sự kết hợp giữa thiên nhiên và con người được tạo nên, qi (các khí lực) của sự sống chan hòa khắp tất cả sinh vật, vật chất. Sự tắc nghẽn khí lực của sự sống sẽ tạo ra điều đối nghịch: Bất hạnh và tai hoạ. Các lý thuyết kết hợp Trời, Ðất (thiên, địa), con nguời (nhân) là cốt lõi của thuật phong thủy, từ đó nảy sinh ra nhiều truyền thuyết và các câu chuyện dân gian. Nhân (con người) tuy có biểu hiện trí tuệ và tinh thần nhưng phải kết hợp cùng Trời, Ðất, Vật thể sao cho hòa hợp và cân bằng các nhận thức. Ðiều này có thể đạt được qua một mối quan hệ được thiết lập chính xác giữa tất cả các sức mạnh trong thiên nhiên, cho phép chúng trôi chảy và nuôi sống cuộc đời. Nguời Trung Quốc cổ luôn nghĩ rằng con người phải bảo vệ và nuôi duỡng khí lực của cuộc sống để đảm bảo nó liên tục phát triển và trôi chảy. Các quan niệm đặc biệt của "Sức sống/qi" và sự tồn tại của nó xâm nhập vào tất cả các ngành nghệ thuật Trung Quốc từ triết học, thi ca, hội họa cho đến điêu khắc, thiên dịch, dược thảo, võ thuật và phong thủy. Nguồn:thuonghylenien
  12. Định vị nhà trên một vùng đất Theo thuật Phong thủy, vị trí của ta trong vũ trụ ảnh hưởng đến ta. Sự liên hệ của một nhà cao tầng với con đường tạo ra những dịp may, thịnh vượng và sức khỏe đem vào nhà. Khoảng cách từ nhà đến con đường ít nhất bằng nửa chiều sâu toà nhà đó. Cách chữa: dùng đèn chiếu sáng hay một dòng nước ngăn giữa căn nhà và con đường, như thế dòng khí sẽ được nâng lên cao. Cách nữa là đặt trên mái nhà một cái giỏ nhỏ hay treo khánh hoặc gương ở trong nhà, nhưng biện pháp này ít hiệu nghiệm. Trong miếng đất chia ra làm 3 phần ta đặt nhà ở phần giữa là cân bằng nhất. Kế đến đặt trên phần cuối tốt hơn phần đầu. Cách chữa: nếu căn nhà không nằm ở phần giữa lô đất ta hãy trồng cây, trụ đèn hay tảng đá lớn ở cuối lô đất để làm cho vị trí căn nhà được cân đối. Hình dáng của lô đất là: 1. Mảnh đất tròn hứa hẹn nhiều cơ may phát triển trong nghề nghiệp. Nếu căn nhà xây theo hình vuông ngay trọng tâm lỗ đất thì vấn đề tài chính của người ngụ cư rất dồi dào. 2. Thông thường thì miếng đất hình vuông là tốt. Khi nhà nằm tại phía trước của nửa lô đất, người ngụ cư, đất phát tốt trong lúc đầu nhưng về sau lại gặp điều thất bại chua xót. Tốt hơn là xây nhà ngay trong trung tâm để tạo sự cân bằng trong đời sống, sự nghiệp thành công và tiền của dồi dào. Cách chữa nếu nhà bạn đã xây nhà tại phía trước của nửa lô đất đặt một trụ đèn chiếu ở giữa đường ranh đất sau nhà và hai đèn ở hai bên góc trước nhà, các đèn đều chiếu vào mái nhà. 3. Hình chữ nhật: Nếu đã xây nhà ở phía trước của lô đất thì dùng cách chữa như ở lô dất hình vuông. 4. Lô đất với đường vòng cung ở mặt tiền hiển nhiên có vẻ mạnh mẽ, nó sẽ thu hút tiền bạc và thành công trong sự nghiệp cho người ngụ cư. Nếu mảnh đất có hình vòng cung ở sau nhà mà nhà ở giữa trung tâm hoặc nằm ở phía sau của lô đất thì người ngụ cư sống yên lành. Nếu căn nhà lại nằm phía trước lô đất thì nhà này không ổn định trong nghề nghiệp và thường bệnh hoạn ốm đau. 5. Lô đất hình thoi là tốt. Xây nhà tại trung tâm lô đất hay là phần phía trước sẽ giúp cho sự nghiệp phát đạt mau chóng. Nếu nhà nằm ở phần đất phía sau thì nghề nghiệp của người ngụ cư sẽ chắc chắn nhưng không phát triển mau lẹ. 6. Nhà làm trên lô đất có góc cạnh như viên kim cương thì rất tốt nếu có đường song song với cạnh lô đất và cổng vào nhà không mở ra phía góc. Cách chữa: nếu nhà đã xây hướng vào một góc nào của lô đất thì hãy đổi lại bằng cách trồng cây to cao, cột cờ hay đèn pha ở phía sau nhà. 7. Làm nhà trên lô đất hình tam giác có cửa ra vào nhìn ra góc thì không ổn mà nên quay ra phía bên cạnh. Nên xây nhà vào xế của góc như mảnh đất hình con sò thì giữ được tiền bạc. Còn nếu nhà nằm chính giữa lô đất, cửa đối với góc đất thì nguồn thu nhập của người trong nhà sẽ kém. Cách chữa: hãy trồng trụ cờ hay cây để che gió ấy đi. 8. Lô đất hình bán nguyệt rất tốt, thông thường xây nhà ở giữa lô đất nhái hình nữa đồng tiền cổ. 9. Với một lô đất có dạng như lưng lạc đà thì căn nhà nên xây tại trung tâm lô đất nếu đủ chỗ (phía trước lô đất phải rộng gấp hai chiều cao căn nhà). Vị trí xấu là ở hai cái bứu lạc đà. Nếu căn nhà xây nơi bứu trái thì gia đình sẽ gặp nhiều đau thương và nếu bên phải thì con cái gặp trở ngại trong đời sống. Cách chữa: xây thêm phần phụ cho gia đình ( cách giải cho bứu trái) và phần phụ cho con cái và “ tử tức” (cách giải cho bứu phải) phần của chủ phòng – phòng ở của chủ gia đình. 10. Lô đất chữ L hay lô không có góc cạnh có thể kém may mắn cũng như một phần đời của người ngụ cư đã đánh mất. Cách chữa: Nếu nhà chưa xây hãy xây nhà ở vị trí nhìn ra góc chính của mảnh đất, và phải cách xa góc ấy ít nhất bảy mét. Trồng cây to sau nhà hay đèn trụ và trồng thêm dọc theo đất thiếu góc cạnh vài bụi cây. Theo cách chữa này thì sự thành công có thể đạt được dù đó là một dạng thất cách. 12. Đối với lô đất chữ T hãy xem đường vào lô đất ở đâu ở đâu. Nếu đường vào ở đáy chữ thì thăng tiền nghề nghiệp nhưng kém về đường học vấn và không có quý nhân phù trợ. Nếu đường và mảnh đất ở phía trên chữ T thì người ngụ cư đau khổ về đường hôn nhân và tiền bạc. Cách chữa: hãy trồng loại cây leo dọc cánh dưới chữ T Đường sá Đường sá cũng giống như sông ngòi, nó là phương tiện để chuyển khí. Những đường cong và đường viền theo tự nhiên rất phù hợp cho việc vận tải đường khí. Còn những đường lộ thẳng tắp lại vân khí quá mau và trở nên nguy hiểm. Nó giống như mũi tên gọi là “tử” khí. Cách chữa: Treo gương trên cửa ra vào hướng ra đường, làm một lạch nước, một cái cánh gió hình mũi tên ở khoảng cách giữa đường và nhà. Đường lộ cho xe chạy cũng là đường khí vận hành, nó nối liền căn nhà với mạch chính của con đường. Đường này nên làm bằng phẳng, lượn khúc và tương đối cao bằng đường cái thì tốt hơn cả thêm nữa để loại trừ trọc khí bên ngoài. Con đường giống như chĩa ba ở trước cửa nhà là ý nghĩa tình cha con thường xô xát và gia đình bất hoà, mỗi ngưới đi mỗi ngã. Cách chữa: Sơn chấm đỏ hay xây gạch thành chấm gạch ngang đường đi, đường xe. Một hình bát quái xây ở trước nhà làm tổn thương tình họ hàng giữa các dòng tộc con cháu (cửa ra vào là vị trí “thủy” của nhà còn ở cuối đường là cung “hoả” khiến nó khắc chế và hủy hoại liên hệ của nhau. Cách chữa: đặt đèn trụ, trồng cây, vòi phun nước, hoa lá hay quạt gió trong giữa hình bát quái. Đường lộ hẹp lại ở đoạn cuối có nghĩa là nghề nghiệp và tiền bạc bị hao mòn dần đi. Đường có chỗ tệ hại nhất là độ dốc của nó bị chìm mất, không thể nhìn thấy đoạn cuối của nó. Cách chữa: đặt trụ đèn pha ở chỗ hẹp nhất cho chiếu lên chóp mái nhà để làm những cơ may quay vòng lại về nhà. Nếu đường lộ dốc xuống thì hãy xây lại trụ gạch ở gần cuối đường để chuyển khí về. Nếu đường lộ dốc vào nhà hãy đặt đèn đằng sau nhà để vận khí lên chỗ cao nhất của mái nhà. Nếu đường nhỏ hơn bề ngang cửa chính thì khí dẫn vào nhà bị thiếu, dịp may của người ngụ cư sẽ bị nghẽn lại. Cách chữa: mở rộng con đường dẫn khí. Lối ra vào Lối ra vào có thể ảnh hưởng đến gnười ngụ cư. Ngõ vào phải thoáng, dễ đi lại và lối ra phải sáng sủa. Dẹp bỏ những thứ cản trở gần lối ra vào như cây cối, cột, vách tường… làm cản trở khí vận, cản trở dịp may kiếm tài lộc và sức khoẻ. Tuy nhiên cây cối ở khoảng cách an toàn với ngỏ vào lại thuận tiện trong việc bảo vệ nhà cửa. Những lối đi cũng có ảnh hưởng tương tự. Nếu lối đi gần bên nhà cừa rất hẹp nhỏ thì khí người ngụ cưsẽ bị tù túng và mất quân bình. Cách chữa: hoặc mở rộng lối đi hoặc tránh trồng cây lớn, cây rậm và bụi cây gần nó. Treo khánh trước cửa. Sau đây là một số ví dụ: 1-2. Theo thông lệ, lối đi vào tốt tạo cảm giác thoáng, thênh thang. Lối đi tới cao ốc phải rộng. 3. Lối đi hẹp sẽ giới hạn nghề nghiệp và cả triểnvọng tài chính. Nếu nhà nằm trên triền dốc thì ngõ vào nhìn xuống đồi tốt hơn là cửa ra vào nhìn lên đồi. 4-5. Nếu có bậc cấp thì nó phải lên xuống dần chứ không quá dốc. Cửa ra vào phải mở ra trên thềm rộng. Bậc cấp hẹp và dốc không giữ được tiền bạc. Bậc thang từ trên đu xuống nhà thì xấu, làm người ngụ cư phải tanh đấu vất vả trong nghề nghiệp. Để giải quyết trường hợp xấu, người ta đặt đèn pha chiếu từ sau nhà chiếu lên mái. 6. Bụi cây trồng làm vinh không khí trong nhà, cây côi tươi tốt và lối đi cần thông thoáng, nếu cây mọc râm quá thì phải cắt xén. 7. Cổng ngỏ (mặt tiền) tạo cho nhà một vẻ thoáng và nối vào nhà, để ý đến cột chống mái. Cột chống không quá lớn và gần sát cửa ra vào. Cột tròn tốt hơn vuông, vì vuuông có thể là nguyên do gây bại sản. Để giải quyết cho cột vuông, trồng nho leo cột. Đối với cột to lớn sừng sững ta treo gương ngang tầm mắt hay hàng chữ “xuất nhập an bình” trên cột đó. 8. Lối đi dẫn đến cửa ra vào có tể cong vòng nhu cánh cung và có cây trồng gần đó đều được cả. Nguon:TuViGLOBAL
  13. Phong Thuỷ là môn khoa học tổng hợp của các môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết khác như vật lý địa cầu, thuỷ văn địa chất, vũ trụ tinh thể học, khí tượng học, môi trường học và kiến trúc. Người vận dụng phải có kiến thức tổng hợp, biết xem xét thiên nhiên môi trường, cải tạo nó thành môi trường tối ưu cho con người sinh sống để phát triển tốt đẹp. Đích cuối cùng của Phong Thuỷ phải là Thiên - Nhân - Địa hợp nhất, con người đạt đến cái đích thấu hiểu những quy luật của trời đất và sống hoà hợp với những quy luật ấy. Từ trước đến nay những quy luật của thiên nhiên, của trời đất vũ trụ vẫn vô tư tồn tại, chỉ có con người duy ý chí mới cho rằng mình sống không cần phụ thuộc vào nó nên vô tình đã phạm phải những điều gây tai hoạ cho chính bản thân con người. Ngoài ra còn kết hợp với các phương pháp cải biến vận mệnh khác : Làm việc thiện : Có câu “một việc thiện giải trăm việc ác”. Theo quan điểm của Đạo Phật, tích đức hành thiện sẽ thay đổi nghiệp quả ác từ đời trước, tạo nên những nghiệp thiện và nếu làm nhiều có thể báo ứng ngay hiện tại góp phần cải thiện vận mệnh. Các việc thiện có rất nhiều như giúp người khó khăn, chữa bệnh, làm đường xá cầu cống, ủng hộ thiên tai, hiến máu nhân đạo,…Thực tế cho thấy hạnh phúc lớn lao của con người chỉ đạt được khi mà hạnh phúc ấy được chia sẽ với những thành viên khác trong cộng đồng. Đổi danh tính : Danh tính có vai trò rất quan trọng bởi đó là nhân tố thường xuyên tác động đến bản mệnh. Cái tên gọi mỗi ngày sẽ có tác dụng to lớn đến quá trình cải tạo vận mệnh.Vì vậy khoa tính danh học đã phát triển, sử dụng Âm Dương, Ngũ Hành bổ trợ cho vận mệnh. Để biết mệnh của mình thiếu Hành gì phải dùng môn Bát Tự để xem xét, sau đó đặt lại tên để bổ cứu. Y phục và đồ vật đi kèm : Trên cơ sở xem xét bản mệnh thiếu loại ngũ hành gì có thể sử dụng loại màu sắc quần áo, trang phục, xe cộ,… để có Ngũ Hành phù hợp bổ trợ cho chỗ thiếu của mệnh. Ví dụ, mệnh thiếu hành Hoả có thể dùng quần áo nhiều màu hồng, đỏ, xe cũng nên dùng màu đỏ sẽ bổ cứu cho mệnh tốt hơn. Các dụng cụ đồ vật đi kèm cũng nên dùng Ngũ Hành phù hợp, như mệnh cần hành Kim nên dùng nhiều đồ trang sức kim loại, vàng bạc. Mệnh cần hành Thổ nên dùng nhiều loại đá quý, ngọc. Sử dụng phương hướng phù hợp : Căn cứ Ngũ Hành của bản mệnh, xem xét bản mệnh hợp với phương vị nào thì nên sinh sống lập nghiệp ở phương vị đó sẽ tốt hơn là sinh sống lập nghiệp ở phương vị không phù hợp. Ví dụ, mệnh cần hành Hoả thì nên sinh sống ở phương Nam, ở nhà hướng Nam, văn phòng hướng Nam. Mệnh cần hành Kim thì nên sinh sống ở phương Tây, ở nhà hướng Tây, văn phòng hướng Tây. Sử dụng các con số phù hợp : Ngũ Hành của bản mệnh cần bổ cứu hành gì thì sử dụng các con số phù hợp để bổ trợ. Các con số thường sử dụng như số nhà, số điện thoại, biển số xe,…Đại diện ngũ hành của các con số như sau : Số 1,2 thuộc Mộc, số 3-4 thuộc Hoả, số 5-6 thuộc Thổ, số 7,8 thuộc Kim, số 9,0 thuộc Thủy. Chọn nghề nghiệp phù hợp : Căn cứ ngũ hành cần thiết cho bản mệnh mà chọn nghề nghiệp cho phù hợp,. Như mệnh cần hành Thổ nên làm về những ngành nghề thuộc Thổ như sản xuất nông nghiệp, kiến trúc, xây dựng, bất động sản. Chọn vợ chồng và bạn bè, đối tác làm ăn phù hợp : Nên chọn những người có Ngũ Hành bản mệnh phù hợp và bổ trợ tốt cho ngũ hành của bản thân mình. Đặc biệt là người vợ, chồng chung sống suốt đời có vai trò vô cùng quan trọng, vì thế cần phải chọn lựa cẩn thận trước khi tiến đến hôn nhân. Các phương pháp trên sẽ được khảo luận cụ thể ở các mục tương ứng. Nguon: Phong Thủy Việt Nam
  14. Việc chọn tên cho công ty, cho các tổ chức hoặc cơ quan vô cùng quan trọng. Cũng giống như tên người, tên công ty có ảnh hưởng rất lớn tới sự thành bại nhất là vấn đề kinh doanh sau này của công ty. Đặt tên cần có những nguyên tắc nhất định theo luật Âm Dương, Ngũ Hành sẽ mang lại những kết quả tốt đẹp. - Trước hết việc đặt tên cần dựa theo ý nghĩa của tên, phải phản ảnh được những ước vọng tốt đẹp, hoặc phản ánh được quan điểm kinh doanh, tiêu chí hành động của công ty. Ví dụ, “Thành Đạt” biểu hiện sự thành công, may mắn. “Sáng Tạo” biểu hiện ước muốn tiến tới sự sáng tạo, hoàn thiện trong quá trình hoạt động. - Về Âm Dương ten phải có sự cân bằng, tránh thuần Âm hoặc Thuần Dương. Ví dụ tên “Chiến Thắng” có hai vần trắc nên là thuần Dương, tên “Minh Long” thể hiện sự cân bằng về Âm Dương. - Về việc phân định Bát Quái cho tên để dự đoán tương lai của công ty được thành lập theo nguyên tắc như sau. Dựa vào số lượng chữ cái để tính số, thông qua số để lập thành quẻ. Tên được chia làm 2 phần, phần trước nhiều, phần sau ít. Ví dụ “Chiến Thắng” chia làm 2 phần là “Chiến” và “Thắng”. Nếu tên bao gồm 3 từ thì lấy 2 từ đầu cho phần 1, từ thứ 3 cho phần 2. Ví dụ “Tân Hoàng Minh” thì “Tân Hoàng” là phần 1, “Minh” là phần 2. Sau đó tiến hành đếm số chữ cái cho mỗi phần để lập quẻ, mỗi chữ cái được tính là 1 đơn vị, mỗi dấu cũng được tính là 1, ví dụ “Chiến” tính là 6, “Thắng” tính là 6, chú ý không tính các móc của các chữ. Sau khi có số chữ của 2 phần tiến hành lập quẻ theo số của Tiên Thiên Bát Quái. Trường hợp ”Chiến Thắng” 6/6 được quẻ Thuần Khảm. “Tân Trọng Minh” 9/4 được quẻ Thiên Lôi Vô Vọng “Mai Linh” 3/4 được quẻ Hoả Lôi Phệ Hạp - Bước tiếp theo tiến hành dự đoán trên ý nghĩa quẻ. Các trường hợp trên ta thấy quẻ Vô Vọng xấu nên việc kinh doanh không có lợi về lâu dài. Quẻ Phệ Hạp có lợi cho việc kinh doanh thực dụng trong thời gian ngắn. - Người giám đốc, người làm chủ phải có mệnh cung phù hợp với các Quẻ của tên. Trường hợp Đông Tứ Mệnh thì hợp với các quẻ Khảm, Ly, Chấn, Tốn. Trường hợp Tây Tứ Mệnh thì hợp với các quẻ Càn, Đoài, Cấn, Khôn. Nguon: Phong Thủy Việt Nam
  15. Từ xưa đến nay trên thị trường xây dựng, chúng ta thường thấy thước Lổ-Ban xuất hiện bày bán rất nhiều, trên hình thức thước cuộn từ 3 mét trở lên, trước tiên là thước Lổ-Ban do T.Q sản xuất, chia chiều dọc làm hai phần, phần trên là thước tấc để đo, phần dưới là thước Lổ-Ban. Tất nhiên là ngôn ngữ trên thước cũng toàn là tiếng T.Q, mấy bác thợ nề, thợ mộc cứ thế mà mày mò “khoản đen thì bỏ, khoản đỏ thì dùng”, chứ không hiểu trong thước nói gì ?…Và cách sử dụng cho chính xác ra sao ?… Sau này các nhà sản xuất trong nước chúng ta nắm được thị hiếu người tiêu dùng, nên đã phiên dịch ra tiếng Việt và thước được bán rất chạy.Sự việc chưa dừng lại ở đó, có nhà sản xuất thước cuộn chia chiều dọc của thước làm ba phần, phần trên là thước tấc để đo, phần giửa ghi rỏ sự tốt xấu …,phần dưới cùng cũng ghi rỏ sự tốt xấu… Làm người sử dụng không biết đâu mà phân biệt loại thước nào để mà sử dụng, đành phải mày mò theo kiểu “hai thước cùng song hành, thôi đành chấp nhận gạn lọc “hai đen cùng trùng thì bỏ, hai đỏ cùng trùng thì dùng”!(Phần đen là cung xấu, phần đỏ là cung tốt). Thực chất hai thước cùng song hành đó, phần trên là thước “Khổng Tử”, phấn dưới là thước “Lổ-Ban”, hoặc phần trên là thước “Lổ-Ban”, phần dưới là thước “Khổng-Tử” tùy vào nhà sản xuất, để mọi người tuỳ thích chọn lựa mà sử dụng. Nhưng khi bán thước không có kèm theo hướng dẫn sử dụng, nên người dùng không biết tin vào phần thước nào cho phải, thôi đành chọn hai thước cùng trùng “chổ tốt” cho nó chắc, và cứ gọi nó là thước “Lổ-Ban” cũng chẳng sao ?!…Nhưng trong thực tế xây dựng, chúng ta tận dụng đến từng cm khi cần thiết, thế mà trong thước khi tìm được hai khoản đỏ trùng nhau gọi là được “cung tốt” thì lại hơi bị quá xa…thật là khổ cho người ham mê phong thủy, để cầu mong điều tốt lành ! Trong phong thủy từ xưa đến nay, người ta sử dụng nhiều loại thước “Địa lý” để sử dụng trong việc xây dựng và nhiều việc khác, trong đó có thước LỔ-BAN là được mọi người yêu chuộng nhất, vì tác dụng của nó qua hàng ngàn năm được người ta chiêm nghiệm là đúng thật với những gì trong thước đã nói. Cũng vì được mọi người yêu chuộng sự màu nhiệm của thước Lổ-Ban, nên thước Lổ-Ban sử dụng trong nhân gian đã biến dạng đũ loại kích cở khác nhau, người sử dụng không biết đâu là thật, đâu là giả, để mà chọn lựa khi cần dùng, đôi khi đã lở dùng rồi, rủi khi gặp họa do kích thước gây ra, cũng chẳng ai nghĩ là do cái thước “Lổ-Ban biến dạng” kia gây ra…. Cũng vì vậy đa số các bạn ham mê và yêu chuộng thước Lổ-Ban, đã thắc mắc và nhiều lần hỏi Admin về “Bản gốc của thước Lổ-Ban” sự thật là như thế nào? để chia sẻ cùng với mọi người, để mọi người cùng tin dùng cho nó chắc, để khỏi phập phồng lo âu khi sử dụng “dị bản của thước Lổ-Ban” hiện tràn lan trôi nổi trên thị trường. Cũng chẳng có gì to lớn khi đáp ứng đa số các bạn đã ham mê yêu chuộng thước Lổ-Ban. Nên nhân đây Admin cũng trao tặng đến các bạn có nhân duyên xem Blog này nguyên “Bản gốc thước Lổ-Ban” mà Admin đã có nhân duyên được Sư phụ truyền lại cách đây trên 30 năm. Và đã trên 30 năm nghiên cứu và thực hành phong thủy, trong đó có thước Lổ-Ban, thì thật sự thước Lổ-Ban đã mang lại những điều may mắn cho người sử dụng khi làm mới hoặc sau khi chỉnh sửa. Và khi đem thước Lổ-ban đến đo các cửa của những ngôi nhà củ, thì đến cung tốt hoặc cung xấu, thì các gia chủ đều công nhận là đúng với những gì đã xảy ra cho gia chủ. Qua kiễm chứng việc sử dụng thước Lổ-Ban trên 30 năm, Admin chỉ tin vào một thước Lổ-Ban này thôi, mặc dầu hiện nay trong nhân gian có nhiếu kích cở thước Lổ-Ban… Trước thực tế sự màu nhiệm của thước Lổ-Ban đã qua kinh nghiệm sử dụng, nhân đây Admin cũng xin thành tâm với cả tấm lòng tri ân sâu sắc, kính dâng lên hương hồn Sư phụ cùng các Đai sư phong thủy ở Hồng-Kông và T.Q đã trao tặng cho Sư phụ “Bản gốc thước Lổ-Ban”, khi Sư phụ đến hai nơi này để giao lưu học hỏi về phong thủy, và đã được Sư phụ truyền lại cho Admin. Và bây giờ Admin trao tặng “Bản gốc thước Lổ-Ban” đến các bạn có nhân duyên đọc được Blog này, nếu các bạn tin… Sau đây là nguyên văn “Bản gốc thước Lổ-Ban”: 1- Cung QUÝ NHÂN: NHẤT TÀI MỘC CUỘC. ( TỐT ).Tham lam tấn hoạnh tài.Ưng ý tự nhiên tai.Tác vật hà hội thứ.Phân minh kỳ bất sai. Cung QUÝ NHÂN còn có tên NHẤT TÀI MỘC CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là: Quyền lộc- Trung tín- Xác quan- Phát đạt- Thông minh. Có nghĩa cửa mà đo được cung QUÝ NHÂN thì gia cảnh sẽ được khả quan, có người giúp đỡ, quyền thế, lộc thực tăng, làm ăn luôn phát đạt, người ăn ở bạn bè trung thành, con cái thông minh trên đường học vấn. Nhưng chớ quá tham lam, làm điều bất chánh thì sẽ bị mất hết. 2- Cung HIỂM HỌA: NHỊ BÌNH THỔ CUỘC. ( XẤU ).Cự môn hiếu phục thường.Du ký tẩu tha phương.Nhất thân ly tật bệnh.Dâm loạn nam nử ương.Cung HIỂM HỌA còn có tên NHỊ BÌNH THỔ CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là: Tán thành- Thời nhơn- Thất hiếu- Tai họa- Trường bịnh. Có nghĩa cửa mà đo được cung HIỂM HỌA thì gia cảnh sẽ bị tán tài lộc, trôi giạt tha phương mà sống vẫn thiếu hụt, con cháu dâm ô hư thân mất nết 3- Cung THIÊN TAI: TAM LY THỔ CUỘC. ( XẤU ).Lộc tồn nhân đa lãm.Ly biệt hưu bất tường.Phu thê xung khắc mãnh.Nam nử đại gia ương. Cung THIÊN TAI còn có tên TAM LY THỔ CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là: Hoàn tữ- Quan tài- Thân bệnh- Thối tài- Cô quả. Có nghĩa cửa mà đo được cung THIÊN TAI thì gia cảnh coi chừng đau ốm nặng, chết chóc, mất của, cô độc, vợ chồng cắng đắng, con cái gặp nạn. 4- Cung THIÊN TÀI: TỨ NGHĨA THỦY CUỘC. ( TỐT ).Văn khúc chử vạn chương.Đời đời cận quân vương.Tài lộc tái gia phú.Chấp thằng lục lý xương. Cung THIÊN TÀI còn có tên TỨ NGHĨA THỦY CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là: Thi thơ- Văn học- Thanh quý- Tác lộc- Thiên lộc. Có nghĩa cửa mà đo được cung THIÊN TÀI thì gia cảnh rất tốt, chủ nhà luôn luôn may mắn về tước lộc, con cái được nhờ và hiếu thão. Cuộc sống luôn luôn được ăn ngon mặc đẹp, tiền bạc vô đều 5- Cung NHƠN LỘC: NGŨ QUAN KIM CUỘC. ( TỐT ).Vũ khúc xuân lộc tinh.Phú quý tự an ninh.Tấn bửu an điền trạch.Thông minh trí tuệ sinh. Cung NHƠN LỘC còn có tên NGŨ QUAN KIM CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là: Tử tôn- Phú quý- Tấn bửu- Thập thiện- Văn chương. Có nghĩa cửa mà đo được cung NHƠN LỘC thì gia cảnh có nghề nghiệp luôn luôn phát triển tinh vi đắc lợi, con cái học giõi,gia đạo phú quý,tuổi thọ. 6- Cung CÔ ĐỘC: LỤC CƯỚC HỎA CUỘC. ( XẤU ).Liêm trinh tửu sắc thanh.Lộ vong nhân đánh tranh.Quân sư lâm ly tán.Đao kiếp mãnh tri hoành. Cung CÔ ĐỘC còn có tên LỤC CƯỚC HỎA CUỘC. Gồm có năm cung nhỏ là: Bạo nghịch- Vô vong- Ly tán- Tửu thực- Dâm dục. Có nghĩa cửa mà đo được cung CÔ ĐỘC thì gia cảnh bị hao người, hao của, biệt ly, con cái ngổ nghịch, trác táng, tửu sắc vô độ đến chết. 7- Cung THIÊN TẶC: THẤT TAI HỎA CUỘC. ( XẤU ).Phá quân chủ tung hoành.Thập ác tri nghịch hành.Phá gia tài thối tán.Phiền tất bất an ninh. Cung THIÊN TẶC còn có tên THẤT TAI HỎA CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là: Phòng bịnh- Chiêu ôn- Ôn tai- Ngục tù- Quan tài. Có nghĩa cửa mà đo được cung THIÊN TẶC thì gia cảnh nên đề phòng bịnh đưa đến bất ngờ, tai bay họa gởi, ngục tù, chết chóc.Phải sửa cửa ngay. 8- Cung TỂ TƯỚNG: BÁC BỜI THỔ CUỘC. ( TỐT ).Phụ đồng tể tướng tinh.Kim ngân mẩn thất đinh.Ngũ âm tài đính xuất.Công hầu phú quý kinh. Cung TỂ TƯỚNG còn có tên BÁC BỜI THỔ CUỘC.Gồm có năm cung nhỏ là: Đại tài- Thi thơ- Hoạnh tài- Hiếu tử- Quý nhân. Có nghĩa cửa mà đo được cung TỂ TƯỚNG thì gia cảnh được hanh thông đủ mọi mặt: Con cái, tiền tài, công danh, sanh con quý tử, thông minh, hiếu thảo.Chủ gia luôn được may mắn bất ngờ. CÁCH LÀM THƯỚC LỔ BAN: Các bạn có thể lấy một tấm bìa giấy màu trắng dày, cứng cáp, hoặc nhờ thợ mộc cắt, bào cho bạn cái thước dày 3 mm, rộng60 mm, dài 520 mm, tất nhiên khi cắt chiều dài phải cho thật chính xác: 520 mm. Sau đó các bạn có thể lấy bút bi để kẻ cái thước Lổ-Ban và điền tên các cung LỚN, cung NHỎ vào từng ô theo mẩu dưới đây.Thế là các bạn đã có cái thước Lổ-Ban để sử dụng khi cần. Nguon: Blogphongthuy
  16. Trong phong thủy lấy hướng phạm tam sát là đại kỵ. Câu quyết đả nói : Dần,Ngọ,Tuất: Sát Bắc.Thân,Tý,Thìn : Sát Nam. Hợi,Mẹo,Mùi : Sát Tây. Tỵ,Dậu,Sửu : Sát Đông. Dần,Ngọ,Tuất hợp Hỏa cục, hòa vượng ở phương Nam,phương Bắc (Hợi,Tý,Sửu) và sự xung của nó là tam sát.(Hợi là kiếp sát,Tý là tai sát,Sửu là tuế sát,Tuế sát cũng gọi là mộ khố sát). Thân,Tý,Thìn hợp Thủy cục,thủy vượng ở phương Bắc,phương Nam (Tỵ,Ngọ,Mùi) và sự xung của nó là tam sát.(Tỵ là kiếp sát,Ngọ là tai sát,Mùi là tuế sát). Hợi,Mẹo,Mùi hợp Mộc cục,mộc vượng ở phương Đông,phương Tây (Thân,Dậu,Tuất) và sự xung của nó là tam sát.(Thân là kiếp sát,Dậu là tai sát,Tuất là tuế sát). Tỵ,Dậu,Sửu hợp Kim cục, kim vượng ở phương Tây,phương Đông (Dần,Mẹo,Thìn) và sự xung của nó là tam sát.(Dần là kiếp sát,Mảo là tai sát,Thìn là tuế sát). Lấy năm mà nói,như năm Dần,Ngọ,Tuất,Bắc phương đều nói là năm tam sát.Năm tam sát ở hướng,không thể tọa.Tọa tam sát tức tọa sát, đại kỵ:Năm,tháng,ngày,giờ Dần,Ngọ,Tuất, đều kỵ tu tạo ở Bắc phương.Các phương khác cứ thế mà suy ra. Như vậy tam sát là tên gọi chung của kiếp sát,tai sát và tuế sát,mổi năm chiếm ba hướng tuyệt,thai và dưởng là tam hạp của ngủ hành. Ví dụ: Năm nay là năm TÝ,theo câu quyết : Thân,Tý,Thìn : Sát Nam.Có nghĩa là nhà ta ở hướng Nam là phạm phải tam sát. Nếu gặp phải tam sát,người nhà mắc nhiều bệnh,gặp hạn.Phương pháp hóa giải là đặt 3 con Kỳ lân hoặc 3 con Sư tử. Đầu Kỳ lân hoặc Sư tử hướng ra ngoài cửa,muốn ngăn ngừa tam sát,ta phải xếp liền 3 con Kỳ lân hoặc 3 con Sư tử cùng một chổ. . Về chất liệu của Kỳ lân hoặc Sư tử thì bằng đá,ngọc,gốm,sứ hay kim loại đều sử dụng được. Khi đả có các con vật trên,ta ra tiệm thuốc Bắc mua một ít CHÂU SA ,hòa với rượu hoặc nước nóng để lau mắt cho nó,gọi là KHAI QUANG.Sau đó chọn ngày TRỰC TRỪ để đặt mà hóa giải tam sát. Nguon:Blogphongthuy
  17. Hì . Tại Ngô Dũng Tiên Sinh mới post được có 14 câu ah. Còn mấy câu sau chưa post kịp nên anh hkeikun chưa post lên được mọi người thông cảm. Những câu hỏi thường gặp về Phong thủy Phong thủy là gì?Phong thủy có nghĩa là Gió và Nước. Đây là một môn nghiên cứu có từ rất lâu đời của người Trung Quốc về môi trường thiên nhiên. Phong thủy có thể giúp xác định vị trí tốt nhất hay chỗ yêu thích nhất cho bất cứ ai và còn giúp con người tránh được những địa điểm xấu và kém may mắn. Những nguyên tắc cơ bản của Phong thủy? Âm dương, Ngũ hành, Tám hướng, Hệ mặt trời, và Môi trường. Phong thủy có phải chỉ áp dụng cho nhà cửa? Phong thủy có thể được ứng dụng để phân tích năng lượng của một thành phố, một quốc gia, và cả thế giới. Chuông gió có phải là một thành phần trong Phong thủy? Vâng, nhưng khi chúng được làm bằng kim loại và được sử dụng thận trọng. Nếu chuông gió được đặt không đúng chỗ có thể gây ra những vấn đề tai hại. Phong thủy có liên quan đến đạo Phật hay đạo Khổng? Phong thủy thì không liên quan đến tôn giáo và tâm linh. Nó là môn khoa học dựa trên việc phân tích năng lượng. Phong thủy có thể đem lại sự giàu có cho bạn? Phong thủy có thể tạo ra một môi trường thiên nhiên hoà hợp mà chúng sẽ giúp cho sức khoẻ của bạn, trí óc minh mẫn. Bằng cách này bạn sẽ có được đủ năng lượng và sự sáng suốt để quan tâm đến nhiều thứ trong đó có vấn đề kiếm tiền. Phong thủy tốt không đem lại cho bạn sự giàu có nếu bạn chẳng làm gì nhưng nó sẽ đem lại những thúc đẩy cần thiết cho danh tiếng và may mắn. Cây trong nhà khô héo và chết. Đây có phải là Phong thủy xấu? Vâng, Nếu bạn đặt cây trồng trong nhà tại nơi mà chúng luôn tươi tốt, ánh nắng mặt trời, không khí trong lành, nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, tránh được các tia bức xạ. thì không có lí do gì cây lại không tăng trưởng. Cây trồng nhà bạn trông tệ thế nào thì bạn cũng sẽ trông tệ thế ấy. Hãy tìm ra nguyên nhân và lảm điều gì đó để cứu ngôi nhà của bạn. Cá nuôi trong hồ kiểng chết, nhà của bạn đang bị tấn công của nguồn năng lượng xấu? Cá chết là do môi trường nước. Tìm ra nguyên nhân và chỉnh sửa cho đúng. Phong thủy có thể cứu được một cuộc hôn nhân đổ vỡ hay sự phá sản trong công việc? Có nhưng cũng có thể không. Giải pháp là mọi thứ cần được đạt đúng chỗ. Nếu bạn có thể biến nơi của bạn trong sự hài hoà cân đối, nguồn năng lượng và tình yêu dạt dào thì mọi mong đợi của bạn sẽ có kết quả tốt. Tôi có cần chi nhiều tiền cho việc thực hiện những thay đổi trong văn phòng hay nhà ở? Bạn chỉ cần thay đổi vị trí những vật dụng trong nhà bạn. Đó có thể là những màu sắc đặc thù, hình dáng, hay những vật dụng cần thiết trong nhà bạn. Có rất nhiều cách để làm nổi bật không gian của bạn bằng việc ứng dụng môn Phong thủy. Số 4 có phải là điều xấu trong Phong thủy? Số 4 được xem là điều xấu trong Phong thủy cổ xưa vì âm của nó giống từ “chết” theo tiếng Quảng Đông. Làm thế nào để tìm được nhà cố vấn phong thủy giỏi cho nhà bạn? Lời khuyên là hãy chọn bác sĩ hay nhà thiết kế cảnh quan… Cây trong phòng ngủ là Phong thủy tốt hay xấu? Cây xanh hấp thụ khí O2 vào ban ngày và thải khí CO2 vào ban đêm.Vì vậy việc đặt cây trong phòng ngủ không phải là ý tưởng tốt. Sử dụng Kiếng (Gương) trong Phong thủy? Việc sử dụng kiếng trong trong phòng tắm là điều hiển nhiên không bàn cãi. Nhưng hãy tránh đặt kiếng trong phòng ngủ nếu nó chiếu vào giường của bạn. Kiếng cũng có thể giúp căn phòng hay lối đi có được cảm giác rộng hơn. Lời khuyên là hãy sử dụng Kiếng vào đúng chỗ, nếu không chúng sẽ gây bất lợi qua những hình ảnh phản chiếu trong Kiếng. Nguon;Blogphongthuy Thân. Lê Bá Trung
  18. Vòng đời kỳ bí của các ngôi saoCơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA vừa công bố một số bức ảnh về các giai đoạn trong cuộc đời những ngôi sao, nhân kỷ niệm sinh nhật thứ 18 của kính thiên văn Hubble. Tinh vân Orion. Ảnh: NASA.Bức ảnh đầu tiên ghi hình tinh vân Orion - một đám mây bụi khí dày đặc cách Trái đất khoảng 1.500 năm ánh sáng. Tinh vân này có nhiều ngôi sao đang ở trong quá trình hình thành. Bên trong hình chữ nhật nhỏ hơn là ảnh đĩa bụi khí vây quanh một ngôi sao mới. Theo thời gian đĩa bụi khí này sẽ tạo nên các hành tinh. Các ngôi sao được sinh ra trong những đám bụi khí qua nhiều giai đoạn. Đầu tiên khối vật chất bụi khí co lại khiến khối lượng riêng trung bình của nó tăng lên. Hiện tượng co lại diễn ra mạnh và nhanh dần theo thời gian trong vùng có mật độ cao. Đến một lúc nào đó, tổ hợp bụi khí lạnh tan vỡ thành nhiều đám mây đặc. Các đám mây nhỏ ấy là phôi để hình thành một dạng vật chất gọi là "tiền sao". Đám khí trong thiên hà Large Magellanic Cloud. Ảnh: NASA.Bức ảnh thứ hai chụp những ngôi sao mới hình thành màu xanh dương bị bao quanh bởi các đám khí trong Large Magellanic Cloud - một thiên hà chứa vài tỷ ngôi sao. Tuy nhiên, số lượng sao trong thiên hà này quá nhỏ so với 200-400 tỷ sao trong dải Ngân hà của chúng ta. Sau khi "tiền sao" xuất hiện, quá trình co tiếp diễn với vận tốc rơi tự do và phát ra bức xạ hồng ngoại. Tại vùng trung tâm của nó, chuyển động rơi của các hạt diễn ra nhanh hơn, hình thành nên một nhân đặc mà bức xạ hồng ngoại không thể đi qua. Tình trạng này khiến nhiệt độ nhân của "tiền sao" và áp suất bên trong tăng lên rất cao, nhờ đó quá trình co giảm đột ngột. Bụi và khí rơi lên nhân với khối lượng cực lớn gây nên các sóng chấn động. Khi các sóng chấn động này xuyên qua bề mặt của tiền sao, độ sáng của "tiền sao" sẽ tăng đột ngột và hiện tượng này gọi là "sự bùng phát hồng ngoại". Khi quá trình co hấp dẫn tiếp tục, chất khí được tích tụ không ngừng lên nhân tiền sao, khiến kích thước của nó nhỏ lại và cường độ sáng giảm đi. Nếu khối lượng hoặc cường độ sáng của "tiền sao" đủ lớn, phần lớn bụi khí từ lớp vỏ vật chất của nó bị gió sao (quá trình thất thoát vật chất của sao trong mọi giai đoạn tiến hóa) đẩy vào khoảng không vũ trụ. Sao đang tiến hóa V838 Monocerotis. Ảnh: NASA.Bức ảnh thứ ba chụp một ngôi sao đang tiến hóa có tên V838 Monocerotis. Những tia sáng của nó rọi lên các đám bụi khí bị một con gió sao đẩy ra từ trước đó. Gió sao (với thành phần chủ yếu là các điện tử và proton năng lượng cao) ngăn cản đà tăng trưởng khối lượng nhân của "tiền sao". Điều này giải thích vì sao khối lượng cực đại của các sao quan sát được có giá trị ở khoảng 60 lần khối lượng Mặt trời. Sau thời gian khoảng 10.000 - 100.000 năm, gió sao sẽ khuếch tán toàn bộ vật chất quanh sao. Nhờ đó "tiền sao" trở thành một thiên thể có thể quan sát được. Một ngôi sao đang rũ bỏ lớp vật chất bên ngoài. Ảnh: NASA.Trong bức ảnh thứ tư cho thấy một ngôi sao màu xanh dương đang chết, bỏ đi những lớp vật chất bên ngoài của nó và trở thành một sao lùn trắng, đồng thời thúc đẩy sự hình thành của một tinh vân. Suy sụp hấp dẫn là hiện tượng co nén cực nhanh của các thiên thể có khối lượng lớn gấp 10 lần Mặt trời dưới tác dụng của lực hấp dẫn. Nó thường xuất hiện ở giai đoạn kết thúc của quá trình tiến hóa của thiên thể có khối lượng lớn. Sau khi đốt cạn nguồn nhiên liệu hạt nhân, các sao và các thiên thể nói chung sẽ mất cân bằng cơ học (năng lượng nhằm đẩy vật chất ra khỏi khối tâm bị suy yếu) dẫn đến quá trình co nén vào tâm với tốc độ tăng dần. Quá trình tăng áp suất bên trong sẽ xảy ra song song với quá tình co nén vào tâm. Hai khả năng sau có thể xảy ra. Thứ nhất, nếu áp suất tại tâm tăng đủ lớn để ngừng quá trình suy sụp hấp dẫn thì thiên thể đó sẽ có khối tâm là một sao neutron đặc. Lớp vỏ lúc đó bắn ra ngoài tạo thành tinh vân, độ sáng của thiên thể tăng lên hàng triệu lần trong một thời gian ngắn hình thành sao mới. Thứ hai, nếu áp suất bên trong của thiên thể chỉ đủ làm chậm quá trình suy sụp hấp dẫn nhưng không ngăn được sự co nén vật chất vào trong bán kính hấp dẫn, vật chất sẽ tiếp tục suy sụp vào và khối tâm lúc đó trở thành một hố đen. Hệ thống sao hình cầu. Ảnh: NASA.Bức ảnh thứ năm chụp một hệ thống sao hình cầu có kích thước nhỏ hơn các thiên hà. Chúng thường chứa khoảng 10.000 - 1.000.000 sao và có đường kính vài trăm năm ánh sáng. Các nhà thiên văn học đã tìm thấy khoảng 150 hệ thống sao hình cầu trong dải Ngân hà. Do chúng nằm quá xa hệ Mặt trời nên chúng ta hầu như không thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường. Nguon:vnExpress
  19. Bài viết của chị wild rất hay. Em có đọc sách có nghe nói về tác dụng của hồ lô. Hồ lô là biểu tượng của trời và đất. Người bị bệnh lâu ngày không khói hoặch mệt mỏi trong người có thể treo 3 cái hồ lô bằng gỗ ở đầu giường trong vòng 10 ngày sau sức khỏe sẽ khá hơn. Nếu cửa chính bị phạm xung sát hoặc bị ngũ hoàng đại sát có thể treo 2 hồ lô đồng trên cửa sẽ giảm được sát. Hồ lô cũng giúp cho tình cảm vợ chồng được đầm ấm và yên ổn hơn. Không biết những yếu tố trên có đúng hay không, nhờ chị wild góp ý thêm. Cám ơn chị wild rất nhiều. Thân. Lê Bá Trung.
  20. Bạn có thể lên Quận 5, chỗ đó bán rất nhiều mặt hàng phong thủy khác nhau, hay đường Nguyễn Chí Thanh qua bệnh viện chợ rẫy chút xíu. Chúc vui. Lê Bá Trung
  21. Đê kè thổ đất/ Thương nhớ lòa tròng/Thương nhớ không bật khóc/Làm sao nước mắt xuống thuyền/Để khẳm những khoang cỏ mật/Tấm lòng một người con/Tiễn cha về cực lạc TANG LỄ NGHI THỨC Từ xưa, nhân dân ta chịu ảnh hưởng lễ nghi của người Trung Hoa, cho nên lễ tang được cử hành trong khuôn khổ đó, tuy vậy cũng có khác đi nhiều chỗ. Mọi sự tế lễ của ta căn cứ theo "Thọ Mai Gia Lễ" và "Gia Lễ Chỉ Nam". Thọ Mai cư sĩ, tên chính là Hồ Gia Tân, sinh sống vào thời hậu Lê, đã soạn cuốn gia lễ thành sách, có nhiều chỗ đã phỏng theo nghi thức của Chu Văn Công tức Chu Hi, còn gọi là Chu Tử, đời Nam Tống đặt ra và Thọ Mai cư sĩ cũng đã có sửa đổi ít nhiều. Cho tới ngày nay, nhiều nghi lễ đã được giản tiện, phù hợp với hoàn cảnh sống trong thực tế xã hội, nhất là ở các nơi thành thị. Tuy nhiên một số lễ chính có ý nghĩa quan trọng vẫn còn được áp dụng. Vì tinh thần báo hiếu vẫn luôn là vấn đề thiết yếu trong đời sống con người Việt Nam, được đặt lên hàng đầu, nên khi cha mẹ chết, ai ai cũng muốn lo cho đủ lễ và toàn vẹn. Không những là cha mẹ, những người thân trưởng thượng hay là bất cứ người nào trong quyến thuộc khi từ trần cũng được thân nhân lo lắng chu toàn mọi việc. Sinh hoạt xã hội Á Đông nặng tình cảm, coi trọng huyết thống gia đình thân tộc hơn, nên từ hàng ngàn năm trước, vấn đề tang lễ đã đươc đặt ra một cách có qui cũ. Rất nhiều sách vở, tư tưởng của các triết gia Á Đông đã nói đến bổn phận của người ta trong việc tang ma một cách cẩn thận chu đáo. "Sinh", "lão", "bệnh", "tử" là bốn điều phải có trong một đời người, không ai tránh khỏi. Cái chết còn có ý nghĩa chấm dứt sự sống một cuộc đời. Từ xưa, tang lễ rất nghiêm trọng. Ngay từ giờ hấp hối của một người sẽ phải vĩnh viễn ra đi, không khí trong gia đình trở nên trầm lắng xuống với vẻ thiêng liêng. Con cháu ở xa gần được báo tin vội vã quay về, tuy đông vầy, đều im lặng với nỗi buồn da diết. LỄ NHẬP QUAN Lúc bấy giờ thân nhân phải giữ cho được bình tĩnh. Theo lệ xưa trong giờ phút này, con cháu phải lo thay quần áo mới cho người chết và bỏ hết quần áo cũ đang mặc đi. Thường người ta làm việc này vào lúc sắp tẩm liệm trong đó có việc lau lại cơ thể người chết bằng rượu hay bằng cồn (alcool), có ý nghĩa vệ sinh y tế là khử trùng. Trước khi nhập quan phải qua thủ tục liệm xác, gọi là khâm liệm. Công việc này cần được tiến hành sớm, vì không nên để xác chết nằm lâu ở ngoài. Bởi sau một ngày một đêm, xác sẽ hư, bốc mùi hôi thối. Cho nên người ta phải toan liệu gấp rút. Thường thì tang gia nhờ một ông thầy cúng coi ngày giờ, chọn một giờ tốt gần nhất để tiến hành khâm liệm và nhập quan. Việc coi giờ này, nay vẫn còn nhiều người chú trọng áp dụng. Khi khâm liệm, tất cả đồ liệm này đã có cơ sở mai táng lo liệu cung cấp và vải thường là vải sô, vải mùng. Những thứ vải này cũng có thể được nhà mai táng cung cấp làm quần áo và đồ tang may sẵn. Cổ lễ quy định chi tiết việc khâm liệm, nhập quan như sau: 1. Đại liệm, tiểu liệm: dùng vải trắng hoặc lụa. Tiểu liệm gồm một miếng vải trắng dài 14 thước ta, có ba đoạn vải ngang, mỗi đoạn 6 thước ta đặt thẳng góc với miếng vải chính. Đại liệm cũng có chiều dài tương tự nhưng gồm 5 đoạn ngang. Các đoạn này phải sắp cho vừa với thân người để buộc lại khi liệm thành mảnh thứ nhất ngang đầu và tới mảnh cuối cùng ngang bàn chân người chết. 2. Khâm: Là chăn liệm người chết. Có hai chăn, dùng một cho đại liệm, một dùng cho tiểu liệm. 3. Tạ quan: cần phải có đầy đủ trong quan tài như là gối kê đầu, hai gối lót hai bên tai, một tấm đệm đầu, hai tấm đệm chân, hai tấm đệm dựa về đùi, hai tấm đệm về chân, tấm che mặt. Tất cả những thứ này đều làm bằng giấy bồi, trong có nhồi bấc. 4. Liệm xác: Khi liệm, tang chủ vào khóc quỳ xuống, người chấp sự quỳ theo và khấn: "Được ngày giờ, xin lễ liệm, cẩn cáo." Tang chủ sụp lạy và đứng lên. Những người lo việc liệm xác phải tiến hành những việc: Cởi bỏ buộc hàm, chít đầu và phủ mặt xác chết bằng vải vuông hay vóc nhiễu màu đen lót hàng màu hồng có dải buộc ra đằng sau gáy, lồng bao tay, mang vớ và giày. Trước khi nhập quan, trong áo quan có rải sẵn một lượt trà, bỏng gạo hoặc bất cứ thứ gì có thể hút nước của người chết tiết ra. 5. Lễ nhập quan: Lễ nhập quan được tiến hành ngay sau khi liệm xong. Thân nhân có mặc đứng thứ tự xa gần, trên dưới quanh quan tài. Phải canh đúng "giờ tốt" do thầy cúng hay thầy tu ở chùa coi sách chọn. Những người kỵ tuổi với người chết (trong vòng con cháu ruột), vào giờ nhập quan phải lánh mặt ra chỗ khác, xa hẳn để phòng ngừa tai hại về sau (vì theo cổ tục người ta tin rằng người chết có thể bắt theo). Cổ tục có định cho con trai đứng bên trái, con gái đứng bên phải người chết. Người lo việc nhập quan nâng người chết bằng bốn góc tấm vải tạ quan, và đặt nhẹ nhàng vào áo quan. Chỗ trống trong áo quan được dồn đầy quần áo của người chết khi còn sống mặc thường ngày và giấy cuốn kèn. Xong xuôi, người ta gấp vải tạ quan lên phía trên, phía dưới, trái trước, phải sau. Sau cùng các thủ tục là bôi sơn trên thanh quan tài và đậy nắp, đóng "cá" cho chắc. Quan tài đã được nhập xác gọi là linh cữu. Lúc bấy giờ, những con cháu "kỵ tuổi" phải lánh mặt ra ngoài từ trước đã được phép trở vô để cùng với mọi người sụp lạy. Linh cữu được đặt ở chính giữa nhà. Ngày nay, việc đặt đúng vị trí đã được thực hiện từ trước khi tẩm kiệm và nhập quan. Lệ xưa đã định rằng quan tài bao giờ cũng sơn đỏ, sau khi đã xong mọi thủ tục nhập quan. Cổ lễ còn định rằng, trong trường hợp người chết cha mẹ còn sống thì linh cữu đặt ở gian bên cạnh, trên đầu linh cữu có quàng khăn tang của cha mẹ, quay về hướng Nam. Ngày xưa nhà thường cất ba gian, ngày nay nhà thường chỉ có một căn với khoảng 4 mét (12 ft), không có gian giữa và phải, trái cho nên những gia đình theo tục lệ truyền thống này phải đặt linh cữu lệch sang một bên, tránh đặt ngay giữa nhà. Sau khi linh cữu đã được đặt đúng vị trí, thân nhân phải để một chén cơm lồng chặt và một quả trứng đặt giữa hai chiếc đũa bông cắm đứng thẳng, gọi là cơm bông. Đũa có thể là que tre tước đầu thành như bông hoa cắm vào chén cơm quả trứng. Mục đích là gì? Chưa thấy quyển sách nào giải thích về chén cơm, hai chiếc đũa tách riêng này. Ngày nay, người ta đặt hai chiếc đũa thường không tước đầu, mỗi bên một chiếc và giải thích ngộ nghĩnh rằng đó là "cơm mời Tử thần ăn" (đến rước linh hồn người chết về âm phủ), và vì có một chén cơm và đũa để riêng từng chiếc, tử thần sẽ khó dùng, ăn chậm không hối thúc linh hồn người chết về âm phủ sớm được. Trở lại lúc linh cữu được an vị, con cháu phải trải cơm ngồi ở hai bên, vẫn trai bên tả, gái bên hữu. Cũng xin lưu ý điểm này: tục đặt quan tài đầu quay ra ngoài có ý nghĩa là những người tới phúng điếu sẽ làm lễ lạy ở phía đầu chứ không phải lễ lạy ở phía chân. Trừ những tôn giả ngang hàng bậc cha chú, người đến viếng lớn tuổi hơn hoặc làm vai trên thì cũng lễ lạy trước linh cữu, vì người mình khi xưa đã quan niệm rằng chết rồi thì thành thần (tử giả vi thần). Vào lúc đưa đám, người ta cũng khiêng linh cữu theo cách đầu đi trước, khác với người sống đi cáng đi võng thì được khiêng đàng chân đi trước. Trong trường hợp võng, cán thi hài người chết thì cũng đầu đi trước như đám tang, để cho người đi đường trông thấy, phân biệt được ngay. Cũng như ở trong nhà, lệ thường người sống bao giờ ngủ cũng nằm đầu ở phía trong, chân ra phía ngoài, và người ta rất kiêng kỵ không bao giờ nằm ngủ chân trở vào phía trong như đặt thây người chết. Ngày nay, người ta thường mặc áo tang ngay sau khi cử hành lễ nhập quan. Những gia đình theo Phật giáo mời Thầy trong chùa và một số Tăng ni đến tụng kinh, một số gia đình theo Thiên Chúa giáo mời Đức cha tới làm phép rửa tội và họ hàng thân nhân cùng đều đọc kinh cho người đã qua đời, có khi chuyện đọc kinh này kéo dài vài ngày liền trước khi an táng. Ngay sau khi người bệnh nặng có dấu hiệu sắp trút hơi thở cuối cùng, những nhà có thân nhân đông đã kín đáo kiểm điểm số người phải mặc tang rồi lo may đồ tang trước cho từng người, theo thứ tự quan trọng trước sau. Người lo sắp sẵn đủ tang phục cho con trai, con gái, con dâu, con rể, các cháu nội ngoại, kể cả chút chít, nếu có và anh chị em, các cháu trong họ hàng. Thường thì người ta nhờ thầy cúng làm lễ phát tang. Nếu thầy cúng còn trẻ, chưa có tuổi tác đức độ nhiều thì chính tang chủ phát tang cho từng người. Ở những gia đình thuộc hàng bình dân, mọi người vào lạy trước linh cữu cúng trầu rượu, rồi trở ra lấy quần áo tang mặc vào. Con trai mặc áo sô, đội mũ nùn, ngày nay dùng một cái khăn hình tam giác cùng vải tang, có dây cột, trùm buột lên đầu cho gọn và đặt trên một cái bích cân làm bằng rơm quấn dây vải, hai thứ này được gọi là mũ bạc hay mũ rơm. Thân mình quấn một cái đai làm bằng dây rơm cũng quấn vải, gọi là dây rơm. Con trai còn phải cầm gậy, cha gậy tre mẹ gậy tầm vông. Các cháu trai cũng mặc tang phục như con trai, chỉ khác là có làm dấu đỏ tròn trên mũ ở trước trán để mọi người nhìn vào dễ phân biệt. Con dâu cũng mặc sô gai thắt lưng ra ngoài bằng dây bện bẹ chuối, áo sổ gấu hay không thì tùy trường hợp còn cha hay mẹ ruột, cũng như con gái còn ở nhà khác con gái đã lấy chồng: áo có sổ gấu và không. Mọi người đều xõa tóc đội mũ mấn. Con rể và anh em mặc áo thụng trắng, chị em quấn vặn khăn trắng với tóc. Tất cả thân thuộc đều mặc đồ trắng cả. Kể từ đây tất cả các trai gái dâu rể phải luôn luôn túc trực hai bên linh tọa và linh cữu, vẫn nam tả nữ hữu và phải đáp lễ những khách đến phúng điếu. Linh cữu còn để trong nhà thì khách đến phúng điếu phải lễ hai lạy như đối với người sống, cả gia đình chủ tang mỗi người đáp lại một nữa lễ tức là một lạy. Ngày nay, khách đến viếng mà lạy hai lạy có nghĩa là khi đưa đám, người ấy sẽ đi tiễn đưa người chết đến huyệt mộ hay lò hỏa táng. Còn như người ấy lễ ba lạy thì có nghĩa người ấy bận việc không thể đi tiễn đưa lúc di chuyển linh cữu được. PHÚNG VIẾNG Đám tang nào cũng có người đến phúng viếng. Bạn bè thân thuộc của người chết, con cháu xa gần sau khi được hung tin, và ngay cả những người giao dịch thường ngày quen biết với con cháu, lại phải kể tới các gia đình thông gia, kế tiếp nhau đến chia buồn cùng tang gia và phúng viếng người qua đời. Những đám tang lớn của những nhân vật quan trọng hay các gia đình lớn danh giá, thường có ban nghi lễ chuyên trách việc sắp xếp giờ giấc theo một chương trình nghiên cứu khít khao để tránh sự lộn xộn vì đông người tới cùng một lúc. Xưa, lễ cúng viếng thường là trầu cau trà rượu, nhưng cũng có người viếng những câu đối, những bức trướng trong đó có nhắc lại cách ăn ở hay tính tốt của người vừa qua đời. Nay, người ta lễ với tiền mặc, nhang đèn, giấy tiền vàng bạc, tràng hoa cườm hay hoa tươi... Ngày xưa, những bức trướng và câu đối phúng viếng được treo ngay ở xung quanh tường vách nơi đặt linh cữu để hương hồn người khuất có thể nhận thấy được, và cũng để những khách tới viếng có thể đọc thưởng thức nghệ thuật văn chương với ý hay, lời đẹp. Cùng treo với những câu đối này còn có những đối trướng của con cháu khóc ông bà cha mẹ, viết bằng lơ xanh hoặc chữ đen trên vải trắng. Những câu đối và trướng của các con cháu là những xuất phẩm của những "tay văn tự" có tiếng nghĩ ra và viết, thường được đền ơn công lao xứng đáng, ít nhất cũng là trà, cùng trầu cau là những thứ được coi có là ý nghĩa. Người ta rất trọng văn nho, đối liễn, cho nên những người con trai, con gái đều có câu đối khóc cha, vợ khóc chồng và cả anh em cũng có thể khóc lẫn nhau nữa. Ở thôn quê, người trong cùng thôn xóm khi cúng một số tiền để trực tiếp giúp đỡ tang gia lúc cần thiết. Đây là một việc rất thực tiễn. Mọi món tiền hoặc đồ lễ phúng viếng của đều được ghi rõ ràng và được ghi vào quyển sổ, để về sau tang chủ coi theo mà cảm ơn, trả ơn hoặc khi có người nào lâm vào tình cảnh tang chế như mình thì cúng viếng giúp đỡ lại. Đây là một đặc điểm của tương quan giao tế xã hội mà người Việt đã ý thức có từ lâu trong cuộc sống cộng đồng tập thể. Khách đến viếng lễ trước linh sàng hai lễ rưỡi nếu linh cữu còn quàng tại nhà. Sau khi chôn cất rồi mà khách đến viếng muộn màng thì sẽ lễ bốn lễ rưỡi trước bàn thờ. Khách lễ trước linh sàng, tang chủ hoặc con cháu khác của người chết thay thế tang chủ, phải đứng lên án thờ đáp lễ. Chỉ phải đáp lễ bằng một nữa số lễ khách lễ người khuất. Khách lễ hai lễ, đáp lại một lễ, khách lễ bốn lễ, đáp lại hai lễ. Ngày nay, người ta "lạy trả lễ" cùng lúc và đủ số, hoặc là hai hay ba lạy. Nam trả lễ đối với nam, nữ trả lễ đối với nữ. Nguon:vanhoaviet
  22. Cha không biết mình thuộc chi trứng nào ngày xưa xuống biển/Nhưng đều đặn suốt đời mồng một lịch trăng/Cha thắp ba nén nhang lạy về hướng biển. THỜ CÚNG GIA TIÊN CÚNG GIA TIÊN Ngoài những ngày giỗ kỵ, còn gọi là "Húy nhật", trong một năm có nhiều lễ, theo thời tiết, gọi là "lễ tiết" áp dụng chung cho mọi nhà như là: - Ba ngày Tết Nguyên Đán. - Lễ Thanh Minh hay còn gọi là lễ mộ, lễ dẫy mả (thường ở tháng ba âm lịch). - Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5). - Trung Nguyên, còn gọi là Lễ Vu lan, mùa Vu lan, mùa báo hiếu (vào ngày rằm tháng 7 âm lịch). Ngày nay, người ta coi suốt tháng 7 âm lịch là "mùa" để thể hiện việc báo hiếu qua các nghi thức cúng kiến lễ bái, đi chùa... - Trung Thu (rằm tháng 8). - Gạo mới (tùy theo đồng chiêm tháng tư, đầu mùa tháng 8). - Đầu mùa bánh trái. - Việc hiếu hỉ (trong các lễ hỏi, cưới). - Cuối năm còn có chạp ông bà và lễ Tất niên (vào ngày 12 tháng chạp và Tất niên vào ngày 25 tháng chạp, gọi là lễ đưa ông bà). Ngày xưa, ngoài những nhà nghèo khổ quá thì phải đành, những nhà đủ ăn hay tạm đủ ăn trở lên cũng luôn luôn giữ một mực nền nếp cúng ông bà, đủ mọi lễ trong bốn mùa một năm. Thông thường, người xưa cúng lễ vật như sau: 1. Dâng cúng nhân dịp đầu mùa: Bánh trôi nước, bánh chay, dưa hấu, vải, nhãn, mãng cầu (na), cốm, hồng, cơm gạo mới với chim ngói... 2. Ngày rằm mỗi tháng: Tùy theo gia đình, hoặc là thắp nhang không thôi, chẳng có lễ vật, hoặc là dâng cúng bánh trái, hoặc là trà, trầu, rượu. 3. Những trường hợp bất thường như: - Nhà có việc vui mừng như sinh con, cưới gả, mừng thọ, thi đậu, khao vọng (Ngày nay, kể cả việc trúng số hay là làm ăn thành đạt lớn, được lợi nhuận vào không lường trước). - Gia đình có tang ma cùng với những giai đoạn làm ăn khó khăn, gặp lúc hoạn nạn, thất bại, vấp ngã trên đường đời và tạo dựng sự nghiệp. - Đi công vụ hay đi xa, đi thi cử hay từ xa mới trở về. Ngày nay có thêm việc mở cửa hàng kinh doanh... Trong những trường hợp này, người ta thường làm lễ cáo yết ông bà để tạ ơn hay cầu xin ông bà phù hộ che chở. Ngày xưa, người xưa thường cúng đầu heo, gà luộc, đĩa xôi hoặc hoa trái, và đơn giản hơn nửa là trầu rượu. Trong bất cứ lễ mặn hay lễ chay gì cũng có trầu rượu. Ngày nay, làm lớn thì có tiệc cúng kiến, đơn giản thì thường bánh trái. Cúng lễ trọng thể nhất là vào ba ngày Tết và ngày giỗ. Ngày nay có nhiều nhà thêm ngày Vu lan, mùa báo hiếu. LÒNG HIẾU THÀO & VIỆC PHỤNG DƯỠNGHiếu thảo là đặc tính luân lý của người Việt Nam. Mọi người đều bày tỏ lòng hiếu thảo của mình hằng ngày qua hành vi và tưởng nghĩ. Những người con cháu có hiếu thảo với ông bà cha mẹ đều chú tâm phụng dưỡng lúc còn sống, trong tuổi già và nhớ chừng lo cúng giỗ khi các người đã lần lượt qua đời. Lòng hiếu thảo không căn cứ nơi giá trị của vật chất hay số lượng của thức uống miếng ăn mà đặt trên nền tảng của lòng tưởng nhớ hàng ngày, sự chăm lo chăm sóc hằng bữa nơi con cháu.Phan Kế Bính trong Việt Nam Phong Tục đã viết: "Ta đọc sách Thánh hiền, lấy sự hiếu với cha mẹ là mối luân thường rất lớn, làm đầu trăm nết hay của người. Mà nhất là ta hay lấy chuyện Nhị Thập Tứ Hiếu làm phương châm cho đạo làm con". Hiếu là biết kính trọng thương mến cha mẹ, biết vâng lời cha mẹ, biết phụng dưỡng cha mẹ. Tục thường cho khi cha mẹ còn không nên đi xa, sợ không được thừa hoan ở dưới gối cha mẹ. Cho nên nhiều người phải bỏ đi làm quan xa, hoặc phải đi làm ăn xa xôi thì thường hay từ rằng ở nhà còn chút cha già hay mẹ già. Nhà nào cha mẹ mạnh khỏe, giàu có thì thường ở riêng một mình. Người nào già yếu hoặc không có của thì mới ở với con. Con có thì của ngon vật lạ, cơm dâng nước tiến, nhà nghèo cũng biết lưng cơm lành bát canh ngon để phụng dưỡng cha mẹ. Cũng nhiều người ăn riêng ở riêng, cứ tháng đưa tiền cung dưỡng. Hoặc ở xa xôi cách biệt đôi khi gởi đồng quà tấm bánh về dâng cha mẹ... Nết hiếu vẫn là nết đầu trong luân lý của người ta, nếu cha mẹ là người rất thân mà cư xử đã chẳng ra gì thì ra đến xã hội còn tử tế với ai được nữa. Tuy vậy, hiếu với cha mẹ, chỉ cốt giữ được lòng kính mến là đủ, tưởng không cần phải giữ lễ phép tỉ mỉ nhỏ nhặt từng tí làm gì. Quý hồ phụng dưỡng đâu có đấy đừng để cho cha mẹ phiền lòng. Mình mong cho cha mẹ vẻ vang thì mình lại càng phải nghĩ cách mà lập thân mình. Hoặc học được khoa gì, hoặc làm được một sự nghiệp gì, để có ích cho xã hội mới là làm cho cha mẹ được vẻ vang. Trong cách lối phụng dưỡng cha mẹ già ngày xưa có việc mừng sinh nhật và ăn mừng thượng thọ. Việc mừng sinh nhật và thượng thọ cho cha mẹ chỉ thể hiện trong những gia đình lớn khá giả. Trong ngày sinh nhật của cha hoặc mẹ, con cái làm tế lễ cha mẹ, rồi bày ra một tiệc ăn mừng có mời những người thân thích đến tham dự. Những gia đình nào có cha mẹ già đến bảy, tám mươi tuổi, mà nhà sung túc về tiền của lẫn con cháu, thì làm lễ mừng thọ cho cha mẹ gọi là lễ "Thượng thọ". Lễ thượng thọ có thể bắt đầu từ: - Lúc 60 tuổi, gọi là thượng thọ lục tuần. - Lúc 70 tuổi, gọi là thượng thọ thất tuần. - Lúc 80 tuổi, gọi là thượng thọ bát tuần. - Lúc 90 tuổi, gọi là thượng thọ cửu tuần. - Lúc 100 tuổi, ăn mừng lớn: bách tuế hay bách niên chi lão. Hôm ăn mừng, trước hết người ta làm lễ gà xôi, hoặc tam sinh, hoặc heo bò, đem ra đình lễ thần, gọi là bái tạ thần hưu, có nghĩa là tạ ơn thánh thần đã phù hộ cho cha mẹ sống lâu. Đến lúc lễ, cha hoặc mẹ ăn mặc đẹp ngồi trên ghế đặt chính gian giữa cho con cháu theo thứ tự lễ bái lạy. Con cháu mỗi người dâng chén rượu mừng thọ, hoặc là dâng quả đào, gọi là bàn đào chúc thọ việc này do điển tích bà Tây Vương Mẫu ngày xưa hiến vua Hán Vũ Đế mấy quả đào tiên, có nói rằng ăn quả đào ấy thì được trường thọ. Ngày nay, những gia đình khá giả cũng có con cháu tổ chức mừng thượng thọ cho cha mẹ. Hình thức có thay đổi ít nhiều, nhưng thường là con cháu mua nhiều tặng vật mừng cha mẹ, gọi là đồ dưỡng già như là mền, áo ấm v.v... và tổ chức tiệc ăn mừng trọng thể tại nhà hàng hoặc tại nhà có mời đông đảo những thân bằng quyến thuộc của gia đình đến dự. Ngày xưa, sau khi con cháu làm lễ bái xong, tiệc ăn mừng có mời làng nước đến dự, có nhà ăn mừng đôi ba ngày, cũng có trường hợp tiệc kéo dài đến năm bảy ngày. Khách khứa đem đồ lễ vật đến mừng thọ, cũng như mọi việc ăn mừng khác. Phan Kế Bính có quan điểm như sau: "Mừng thọ và mừng sinh nhật của cha mẹ cũng là một việc để tỏ lòng kính yêu cha mẹ là việc rất hay, người không có thì chẳng kể gì, nhưng giàu có thì nên lắm, có lẽ hơn là làm giỗ ngày húy nhật. Ta không mấy nhà theo lễ ấy mà chỉ phù hoa sau khi cha mẹ đã mất rồi, thực là một việc sai lầm." Nguon: vanhoaviet
  23. Xem phong thủy cần biết hà đồ lạc thư Phong thủy là bộ môn khoa học huyền bí mà từ mấy nàg năm trước các Chân Nhân đã truyền thụ lại cho thế hệ chúng ta qua những bộ cổ thư mà các ngày biên soạn. Nó giúp ta khám phá được những sức mạnh vô thường mà vũ trụ tác động đến đời sống con người, biết thế nào là tốt, là xấu để chúng ta tận dụng hay chế ngự những phần tốt xấu đó. Ngày nay tôi thấy quý vị rất ham mê khám phá bộ môn khoa học huyền bí này tôi cũng rất vui vì có những người cùng chung sở thích với mình nhưng tôi cũng rất buồn vì có một số quý vị vẫn chưa biết hết những cái mà gọi là chi tiết mà chỉ biết cái gọi là chung chung mà lại đem tận dụng vào đời sống một cách vô tội vạ, thật là nguy hiểm vô cùng, vì phong thuỷ cần phải chính xác từng biên độ, từng cung trạch. Ở đây tôi xin góp một vài ý kiến để bạn nào chưa biết thì biết còn biết rồi thì cũng như là cũng cố lại kiến thức của mình về 9 con số trong Hà Đồ Lạc Thư hay còn gọi là Lạc Thư và Lượng Thiên Xích trong Huyền không học để biết đâu là hướng tốt xấu của từng niên, từng vận. Lạc thư Tương truyền vua Đại Vũ khi xưa đi trị thủy trên sông Lạc thì gặp rùa thần nổi lên, trên lưng có hình Cửu tinh. Vua Đại Vũ cho sao chép lại và gọi đó là Lạc thư. Khẩu quyết của Lạc thư là: "Đới Cửu, lý Nhất; tả Tam, hữu Thất; Nhị-Tứ vi kiên; Lục- Bát vi túc; Ngũ cư trung vị". Có nghĩa là: Trên đội 9, dưới đạp 1; bên trái 3, bên phải 7; 2 vai là 2 và 4; 2 chân là 6 và 8; còn 5 nằm chính giữa. Dựa vào Lạc thư, sau này vua Văn Vương nhà Chu mới đặt ra Hậu thiên Bát quái và định phương vị cho Cửu tinh như sau: - Số 9 nằm ở trên tức hướng NAM. Vì phương NAM nóng, thuộc quẻ Ly-Hỏa nên số 9 mang hành Hỏa. - Số 1 nằm ở dưới nên thuộc hướng BẮC. Vì phương Bắc hàn lạnh, thuộc quẻ Khảm-Thủy nên số 1 mang hành Thủy. - Số 3 nằm bên trái thuộc phương ĐÔNG. Vì phương ĐÔNG là quẻ CHẤN-Mộc, nên số 3 mang hành Mộc. - Số 7 nằm bên phải thuộc phương TÂY. Vì phương TÂY là quẻ ĐOÀI-Kim, nên số 7 mang hành Kim. - Số 2 là "vai" bên phải, nên nằm tại phía TÂY NAM. Vì phía TÂY NAM thuộc quẻ KHÔN-Thổ, nên số 2 mang hành Thổ. - Số 4 là "vai" bên trái, nện nằm tại phía ĐÔNG NAM. Vì ĐÔNG NAM thuộc quẻ TỐN-Mộc, nên số 4 mang hành Mộc. - Số 6 là "chân" bên phải, nên nằm tại phía TÂY BẮC. Vì TÂY BẮC thuộc quẻ CÀN-Kim, nên số 6 có hành Kim. - Số 8 là "chân" bên trái, nên nằm tại phía ĐÔNG BẮC. Vì phía ĐÔNG BẮC thuộc quẻ CẤN-Thổ, nên số 8 mang hành Thổ. - Số 5 nằm ở chính giữa (tức trung cung). Vì trung cung là nơi phát sinh và cũng là nơi kết thúc của vạn vật, nên trung cung thuộc hành Thổ. Vì thế nên số 5 cũng mang hành Thổ. Do đó, phương vị của Cửu tinh trong Hậu thiên Bát quái như sau: Đây chính là những phương vị "nguyên thủy" của Cửu tinh trong Lạc thư (hay Hậu thiên bát quái). Nhưng khi có những thay đổi về không gian và thời gian thì Cửu tinh cũng sẽ thay đổi hoặc di động theo 1 qũy đạo nhất định. Quỹ đạo đó được gọi là vòng Lượng thiên Xích. Lượng thiên Xích Còn được gọi là "Cửu tinh đãng quái" là thứ tự di chuyển của Cửu tinh trong Lạc thư hay Hậu thiên Bát quái. Gọi là Lượng thiên xích vì đây được coi như là 1 công cụ (Xích: cây thước) để đo lường (lượng) thiên vận (thiên). Nói 1 cách khác, "Lượng thiên Xích" chính là phương pháp tính toán để tìm thấy những giai đoạn cát, hung, họa phước cho dương trạch và âm trạch. Còn sự di chuyển của Cửu tinh theo vòng Lượng thiên xích là dựa theo thứ tự số trong Lạc thư (hay Hậu thiên Bát quái) mà đi, bắt đầu từ chính giữa (tức trung cung). Cho nên nếu nhìn vào thứ tự các con số trong Hậu thiên bát quái thì chúng ta sẽ thấy số 5 nằm chính giữa, nên bắt đầu từ đó đi xuống lên số 6 ở phía TÂY BẮC, xong lên số 7 nơi phía TÂY. Rồi vòng xuống số 8 nơi phía ĐÔNG BẮC, sau đó lại lên số 9 nơi phía NAM. Từ 9 lại đi ngược xuống số 1 nơi phía BẮC, sau đó lên số 2 nơi phía TÂY NAM, rồi quay ngược qua số 3 nơi phía ĐÔNG, sau đó đi thẳng xuống lên nơi số 4 ở phía ĐÔNG NAM, rồi trở về trung cung là hết 1 vòng. Cho nên quỹ đạo của vòng Lượng thiên xích như sau: (1) Từ trung cung xuống TÂY BẮC. (2) Từ TÂY BẮC lên TÂY. (3) Từ TÂY xuống ĐÔNG BẮC. (4) Từ ĐÔNG BẮC lên NAM. (5) Từ NAM xuống BẮC. (6) Từ BẮC lên TÂY NAM. (7) Từ TÂY NAM sang ĐÔNG. (8) Từ ĐÔNG lên ĐÔNG NAM. (9) Từ ĐÔNG NAM trở về trung cung. Đó chính là bộ pháp (cách di chuyển) của Cửu tinh. Phải biết được nó mới có thể biết cách bài bố tinh bàn cho 1 trạch vận mà luận đoán cát, hung được. Sự vận chuyển thuận,nghịch của cửu tinh Tuy Cửu tinh di chuyển theo 1 quỹ đạo nhất định là từ trung cung xuống TÂY BẮC, rồi từ đó lên TÂY. . ., nhưng khi di chuyển thì chúng sẽ tạo ra 2 tình huống: 1) Di chuyển THUẬN: Theo thứ tự từ số nhỏ lên số lớn, chẳng hạn như từ 5 ở trung cung xuống 6 ở TÂY BẮC, rồi lên 7 ở phía TÂY, xuống 8 phía ĐÔNG BẮC...; 2) Di chuyển NGHỊCH: Theo thứ tự từ số lớn xuống số nhỏ, chẳng hạn như từ 5 ở trung cung xuống 4 ở TÂY BẮC, lên 3 ở phía TÂY, xuống 2 ở phía ĐÔNG BẮC... Sự di chuyển thuận, nghịch của Cửu tinh là hoàn toàn dựa vào nguyên tắc phân định âm-dương của Tam nguyên long sẽ nói trong dịp khác. Nguon:phongthuybnn
  24. BÁT QUÁI 24 PHƯƠNG VỊ,2. Ngũ hành của 24 sơn dược coi là huyệt ngọc xây cất căn nhà cư ngụ, vì theo luận thuyết ngũ hành nó có giá trị to lớn và thiết thực cho việc đánh giá tương quan của người cư ngụ với các hướng trong không gian. Kinh dịch phong thủy truyền thống định lượng hành của các sơn như sau : 1. Nhâm : chứa 1 hỏa + 4 thủy. 2. Tí : chứa 5 thủy. 3. Quý : chứa 1 thổ + 3 thủy. 4. Sửu : chứa 1 kim + 3 thủy. 5. Cấn : chứa 5 thổ. 6. Dần : chứa 1 hỏa + 3 mộc + 2 thổ. 7. Giáp : chứa 1 kim + 3 mộc. 8. Mão : chứa 5 mộc. 9. Ất : chứa 1 thổ + 3 mộc. 10. Thìn : 1 thủy + 3 thổ + 2 mộc. 11. Tốn : 5 mộc. 12. Tỵ : 1 kim + 3 hỏa + 2 mộc. 13. Bính : 1 thổ + 4 hỏa. 14. Ngọ : 5 hỏa. 15. Đinh : 1 kim + 3 hỏa. 16. Mùi : 1 hỏa + 3 thổ + 1 mộc. 17. Khôn : 5 thổ. 18. Thân : 1 thủy + 3 kim + 2 thổ. 19. Canh : 1 mộc + 4 kim. 20. Dậu : 5 kim. 21. Tân : 1 mộc + 3 kim. 22. Tuất : 1 hỏa + 3 thổ + 2 kim. 23. Càn : 5 kim. 24. Hợi : 1 mộc + 3 thủy + 2 kim. Tọa và hướng với nguyên tắc sinh khắc, ít sinh nhiều và nhiều khắc ít. ĐỊNH VỊ CỬA CÁI THEO TRẠCH MỆNH VÀ THEO BÁT QUÁI 24 PHƯƠNG VỊ KHÁC NHAU THẾ NÀO ? Như đã nói ở trên, Bát quái 8 phương vị hay Bát quái 24 phương vị đều là Bát quái công cụ phong thủy, trình bày bản chất của vấn đề dương trạch theo hai cách khác nhau, không phản ngược bản chất và không bài xích nhau. Bát quái 8 phương vị là căn cứ để người chủ cư ngụ tìm và lựa chọn hướng nhà theo tuổi của mình. Phong thủy khuyên rằng, người trạch mệnh đông tứ thì nên cư ngụ trên đất đông tứ và người trạch mệnh tây thì nên cư ngụ trên đất tây tứ, cửa cái theo đó mà định vị. Nhưng trong thực tế khá đông trường hợp cư ngụ ngược trạch, người đông tứ ngụ trên đất tây tứ và ngược lại. Để lý giải mâu thuẫn đó, phong thủy truyền thống xác lập Bát quái 24 phương vị, tức là từ 8 phương vị (8 x 45=360 o) chia thành 24 phương vị (24 x1 5=360 o), rồi từ nguyên lý âm dương, ngũ hành và kinh nghiệm mà xác định cát hung thích hợp với từng phương vị. Xác định này hàm ý nghĩa trong bất kỳ phương vị nào cũng tàng ẩn cát và hung, vấn đề là dụng thế nào để được thuận lý, được lợi ích. Trình bày Bát quái 24 phương vị với hy vọng hóa giải những căng thẳng, lo âu gieo rắc bấy lâu nay là người đông ở đất tây và người tây ngụ đất đông. Nhấn mạnh 1 : Không nên quá quan trọng hướng dương trạch cư ngụ, bởi cửa cái không là nguyên nhân duy nhất của cát hung. Đã gọi là tam môn vượng khí tức là cửa cái nào cũng vượng khí, vấn đề là biết dụng thì được cát, không biết dụng cát cũng hóa hung. Nhấn mạnh 2 : Khi đã định vị được cửa cái, là lúc nên quên chuyện hướng, chỉ nên căn cứ vào cửa cái để xem xét cụ thể những thuận, nghịch của dương trạch mà thay đổi, mà kích hoạt. Đức tin phải có chân lý, chớ tin vào những điều viển vông hoang đường, đó là dị đoan nhảm nhí. Nhấn mạnh 3 : Trình tự xem xét căn nhà cư ngụ, theo phong thủy truyền thống ( dù xây mới hay đang ở ), bắt đầu từ cửa cái, với dụng cụ chủ yếu là la bàn (nhập thế ) và Bát quái đồ đã số hóa ( xuất thế ), với một tinh thần khách quan, khoa học và bất vụ lợi. Nguon:phongthuybnn
  25. Nơi ấy/Đào Nhật Tân vào chấn Cửa Đông/Áo trấn thủ phủ rêu Cửa Bắc/Kèn tầu hừng hực Cửa Nam/Quốc ca hát đỏ sông Hồng/Nơi ấy là Kinh Thành Cố Tích/ Nơi ấy là đời tôi. TẾT NGUYÊN ĐÁN Tết Nguyên Đán hay Tết Cả là lễ hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất, từ Nam Quan đến Cà Mau và cả vùng hải đảo, tưng bừng và nhộn nhịp nhất của dân tộc. Từ những thế kỷ xa xưa thời Lý, Trần, Lê, ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng. Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, mà phần "lễ" cũng như phần "hội" đều rất phong phú cả nội dung cũng như hình thức, mang một giá trị nhân văn sâu sắc và đậm đà. Việc ông cha ta xác định Tết Cả đúng vào thời điểm kết thúc một năm cũ, mở đầu một năm mới theo âm lịch, là một chu kỳ vận hành vũ trụ, đã phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người với thiên nhiên (Đất-Trời-Sinh vật), chữ NGUYÊN có nghĩa là bắt đầu, chữ ĐÁN có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Đồng thời, Tết cũng là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ, thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ tri ơn ông bà, tổ tiên. Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết - do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông - có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính. Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm "Ơn trời mưa nắng phải thì ", người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời... người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này. Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên Đán, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trước hết đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả những người xa xứ cách hàng ngàn kilômét, vẫn mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà, nơi mà gót chân một thời bé dại đã tung tăng và được sống lại với bao kỷ niệm đầy ắp yêu thương ở nơi mình cất tiếng chào đời. "Về quê ăn Tết", đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về nơi cội nguồn, mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội : tình gia đình,tình thấy trò, con bệnh với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri, con nợ và chủ nợ... Tết cũng là dịp "tính sổ" mọi hoạt động của một năm qua, liên hoan vui mừng chào đón một năm với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng. Nhưng rõ nét nhất là không khí chuẩn bị Tết của từng gia đình. Bước vào bất cứ nhà nào trong thời điểm này, cũng có thể nhận thấy ngay không khí chuẩn bị Tết nhộn nhịp và khẩn trương, từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân ở xa về... Đối với các gia đình lớn, họ hàng đông, có quan hệ xã hội rộng, đông con cháu, dâu rể, thì công việc chuẩn bị càng phức tạp hơn. Theo tập tục, đến ngày 23 tháng chạp là ngày đưa tiễn ông Táo về trời để tâu việc trần gian, thì không khí Tết bắt đầu rõ nét. Ngày xưa dưới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức hàng tỉnh, hàng huyện đều nghĩ việc sau lễ "Phất thức" (tức lễ rửa ấn, rửa triện). Ở cấp triều đình, trong lễ nầy có sự hiện diện của nhà vua, các quan đều mặc phẩm phục uy nghiêm. Xem thế đủ biết rằng ngày tết được coi trọng như thế nào. Sau đó, các quan cất vào tủ, niêm phong cẩn thận. Không một văn bản nào được kiềm ấn, mọi pháp đình đều đóng cửa. Con nợ không thể bị sai áp, các tội tiểu hình không bị trừng phạt, tội nặng thì giam chờ đến ngày mồng 7 tháng giêng (lễ khai hạ) mới tiến hành giải quyết. Như vậy, Tết Cả kéo dài từ ngày 23 tháng chạp (một tuần trước giao thừa) đến mồng 7 tháng giêng (một tuần sau giao thừa). Không biết Tết cổ truyền của dân tộc xuất hiện từ bao giờ, nhưng đã trở nên thiêng liêng, gắn bó trong tâm hồn, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam. Những tục lệ trò vui trong dịp Tết, chiếc bánh chưng xanh, mâm ngũ quả trên bàn thờ gia tiên, cành đào, chậu quất khoe sắc trong mỗi gia đình đã trở thành một phần hình ảnh của quê hương để mỗi người Việt Nam dù sống ở nơi đâu mỗi độ xuân về lại bồi hồi nhớ về đất nước với bao tình cảm nhớ nhung tha thiết. Làm sao quên được thuở ấu thơ cùng đám trẻ con ngồi vây quanh nồi bánh chưng sôi sùng sục chờ giờ vớt bánh! Làm sao có thể quên được những phiên chợ Tết rợp trời hoa! Ngày Tết chính thức bắt đầu từ giao thừa. Đây là thời điểm thiêng liêng nhất trong năm, thời điểm giao tiếp giữa năm cũ và năm mới, thời điểm con người giao hòa với thiên nhiên, Tổ tiên trở về sum họp với con cháu. Cúng giao thừa xong cả nhà quây quần quanh mâm cỗ đã chuẩn bị sẵn, uống chén rượu đầu tiên của năm mới, con cái chúc thọ ông bà cha mẹ, người lớn cho trẻ em tiền quà mừng tuổi đựng Trong những bao giấy đỏ. Sau lễ giao thừa còn có tục đi đến đền chùa làm lễ sau đó hái về một nhánh cây đem về gọi là hái Lộc, hoặc đốt một nén hương rồi đem về cắm trên bàn thờ gia tiên gọi là Hương Lộc. Họ tin rằng xin được Lộc của trời đất thần phật ban cho thì sẽ làm ăn phát đạt quanh năm. Sau giao thừa người nào từ ngoài đường bước vào nhà đầu tiên là người "xông nhà", là người "tốt vía" thì cả nhà sẽ ăn nên làm ra, gặp nhiều may mắn, vì vậy người xông nhà thường được chọn trong số những người bạn thân. Tết là dịp để con người trở về cội nguồn. Ai dù có đi đâu xa vào ngày này, cũng cố trở về quê hương để được sum họp với người thân dưới mái ấm gia đình, thăm phần mộ tổ tiên, gặp lại họ hàng, làng xóm. Ngày Tết cũng làm cho con người trở nên vui vẻ hơn, độ lượng hơn. Nếu ai có gì đó không vừa lòng nhau thì dịp này cũng bỏ qua hết để mong năm mới sẽ ăn ở với nhau tốt đẹp hơn, hoà thuận hơn. Có lẽ đó là ý nghĩa nhân bản của Tết Việt Nam. NGUON: VANHOAVIET
×
×
  • Create New...