-
Số nội dung
526 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Lê Bá Trung
-
ĐỊA CHI VÀ PHƯƠNG HUỚNG Dần Mão Thìn phương Đông, Mão thuộc chính Đông Tỵ Ngọ Mùi thuộc phương Nam, Ngọ thuộc chính Nam Thân Dậu Tuất thuộc phương Tây, Dậu thuộc chính Tây Hợi Tị Sửu thuộc phương Bắc, Tị thuộc chính Bắc Các Chi khác tuy vị trí thuộc phương xen kẻ thiên về phương chính gần mình, ví dụ Dần thuộc Đông Bắc thiên Đông ĐỊA CHI LỤC XUNG (TƯƠNG XUNG) Tí và Ngọ tương xung (Dương Thủy khắc Dương Hỏa) Dần và Thân xung (Dương Kim khắc Dương Mộc) Mão và Dậu xung (Âm Kim khắc Âm Mộc) Tỵ và Hợi xung (Am Thủy khắc Âm Hoa) Còn Sửu và Mùi xung, Thìn và Tuất xung trong một số sách đã coi là tương hóa nhau vì đều thuộc hành Thổ, hoặc coi là đồng lọai tương xung hay bằng hữu tương xung Nhận xét: Khi hai Chi xung nhau thì cùng Âm Dương, Phương Hướng đối nhau và hành tương khắc. Địa Chi Tương xung thì Cách 6 giống như thiên can. Như vậy giong như thiên can, phải có sự cùng Âm Dương (vá hành tương khắc) thì mới có tương xung Bất cứ Chi nào khởi đếm theo thứ tự , Chi đó là 1 tới vị trí thứ 7, ta có Chi xung, xung tất khắc nên gọi là Thất Sát (Thất là 7, Sát là hung thần). Người xưa giải thích số 7 này là số tận cùng của Trời Đất, là khí cực Âm Dương Tương xung thực chất là xung khắc nhau, tương khắc nên không tốt Giải Thích: Thiệu Vĩ Hoa cho rằng Lục xung là sự đối địch giữa các ngôi của 12 Đia Chi, cũng tức là sự tương khắc của ngũ hành Tí Ngọ tương xung: Quí Thủy ẩn tàng trong Tị khắc Đinh Hỏa ẩn tàng trong Ngọ. Kỷ Thổ ẩn tàng trong Ngọ phân khắc lại Quí Thủy ẩn tàng trong Tị nên nói Tị Ngọ tương xung Sửu Mùi tương xung: Kỷ Thổ ẩn tàng trong Mùi khắc Quí Thủy ẩn tàng trong Sửu. Đinh Hỏa ẩn tàng trong Mùi khắc Tân Kim ẩn tàng trong Sửu nên nói Sửu Mùi tương xung Dần Thân tương xung: Giáp Mộc ẩn tàng trong Dần khắc Mậu Thổ ẩn tàng trong Thân. Canh Kim ẩn tàng trong Thân phân khắc lại Giáp Mộc ẩn tàng trong Dần nên nói Dần Thân tương xung Mão Dậu tương xung: Tân Kim ẩn tàng trong Dậu khắc Ất Mộc ẩn tàng trong Mão, nhưng Đông xung Tây mà không xung được (nghĩa là Mão Mộc chỉ có thể xung Dậu Kim chứ không thể khắc Dậu Kim) Thìn Tuất tương xung: Quí Thủy ẩn tàng trong Thìn khắc Đinh Hỏa ẩn tàng trong Tuất. Tân Kim ẩn tàng trong Tuất phân khắc lại Ất Mộc ẩn tàng trong Thìn nên nói Thìn Tuất tương xung Tỵ Hợi tương xung: Canh Kim ẩn tàng trong Tỵ khắc Giáp Mộc ẩn tàng trong Hợi. Nhâm Thủy ẩn tàng trong Hợi phân khắc lại Bính Hỏa ẩn tàng trong Tỵ nên nói Tỵ Hợi tương xung ĐỊA CHI NHỊ HỢP (ĐỊA CHI LỤC HỢP, ĐỊA CHI TƯƠNG HỢP) VÀ ĐỊA CHI LỤC HỢP HÓA Tương hợp với nhau thì tốt Tí (+ Thủy) hợp Sửu (- Thổ) Dần (+ Mộc) hợp Hợi (- Thủy) Mão (- Mộc) hợp Tuất (+ Thổ) Thìn (+ Thổ) hợp Dậu (- Kim) Tỵ (- Hỏa) hợp Thân (+ Kim) Ngọ (+ Hỏa) hợp Mùi (- Thổ) Nhận xét: Cung nhị hợp thì đối xứng qua trục tháng đứng, hai cung đối nhau theo hàng ngang trên Địa Bàn Chi Dương thì hợp với chi Âm và ngược lại (khắc khi thì hút nhau). Như vậy thì phải khắc Âm Dương mới có sự hợp nhau (và phải có sự tương sinh hoặc tương khắc về ngũ hành như đã đề cập bên trên ) Chú ý: Thiệu Vĩ Hoa còn chia tương hợp ra thành trong hợp có khắc và trong hợp có sinh. Trong hợp có khắc nghĩa là hai Chi tuy hợp nhau nhưng ngũ hành thì khắc nhau như Tị (Thủy) hợp Sửu (Thổ). Trong hợp có sinh thì hai Chi hợp nhau và ngũ hành tương sinh như Dần (Mộc) hợp Hợi (Thủy). Hợp có khắc thì trước tốt sau xấu, hợp có sinh thì càng ngày càng tốt. Có người giải thích rằng: Theo sự sắp xếp của Địa Chi trong 12 cung thì: Tí Sửu ở dưới làm đất hợp Thổ Ngọ Mùi ở trên làm trời [Ngọ ở trên làm mặt trời (Thái Dương), Mùi làm mặt trăng (Thái Âm)] hợp Hỏa Thiên Khí của trời tỏa xuống, Địa Khí của đất bốc lên tạo ra 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông Dần Hợi ở dưới ngang hợp Xuân Mộc Xuân rồi đến Hạ nên Mão Tuất hợp Hạ Hỏa Hạ đến Thu nên tiến lên Thìn Dậu hợp Thu Kim Thu đến Đông nên Tỵ Thân hợp Đông Thủy Một số người viết: Tí Sửu hợp hóa Thổ Dần Hợi hợp hóa Mộc Mão Tuất hợp hóa Hỏa Thìn Dậu hợp hóa Kim Tỵ Thân hợp hóa Thủy Ngọ Mùi hợp hóa Hỏa Thiệu Khang Tiết thì cho rằng: Tí và Sửu hợp hóa thành Thổ Dần và Hợi hợp hóa Mộc Mão và Tuất hợp hóa Hỏa Thìn và Dậu hợp hóa Kim Tỵ và Thân hợp hóa Thủy Ngọ và Mùi hợp, Ngọ là Thái Dương, Mùi là Thái Âm, hợp với nhau thành Thổ Nhưng đa số các sách cho rằng Địa Chi thì chỉ hợp không có hóa, 6 cặp trên là lục hợp, căn cứ vào hợp với 4 mùa rồi từ đó hợp luôn với ngũ hành của 4 mùa, không có hóa như Thiên Can Nhận xét Theo nguyên tắc đã đề cập trên , khi hợp thì sẽ có hóa, nên Địa Chi khi hợp thì phải có Hỏa) ĐỊA CHI TƯƠNG HÌNH Là cản trở lẩn nhau, không hòa hợp Tí (+ Thủy) Ngọ (+ Hỏa), Mão (- Mộc) Dậu (- Kim) Dần (+ Mộc) Thân (+ Kim) Tỵ (- Hỏa) Hợi (- Thủy) Thìn (+ Thổ) Tuất (+ Thổ) Sửu (- Thổ) Mùi (- Thổ) Nhận định: Ít nhất cần phải có sự cùng Âm Dương mới có sự tượng hình Theo Thiên y thì tượng hình cần phải cùng Âm Dương và ngũ hành khắc nhau, do đó Thìn và Tuất, Sửu và Mùi không tượng hình ĐỊA CHI TƯƠNG HẠI (ĐỊA CHI LỤC HẠI, ĐỊA CHI NHỊ HẠI) Là hại lẫn nhau, là chịu hại, bị hại tức là tương khắc. Tương hại thì không tốt. Trên Địa Bàn thì Nhị hại là hai cung đối nhau theo hàng dọc Tị (+ Thủy) Mùi (- Thổ) tương hại Sửu (- Thổ) Ngọ (+ Hỏa) tương hại Dần (+ Mộc) Tỵ (- Hỏa) tương hại Mão (- Mộc) Thìn (+ Thổ) tương hại Thân (+ Kim) Hợi (- Thủy) tương hại Dậu (- Kim) Tuất (+ Thổ) tương hại Giải thích: Thiệu Vĩ Hoa căn cứ vào sách Khao Nguyên ghi rằng phàm bất cứ việc gì tốt nhất là gặp hợp, kỵ gặp Xung. Lục Hại phát sinh từ Lục hợp Tí hợp với Sửu bị Mùi xung: Sửu bị xung, Tị không còn gì để hợp cho nên Tị Mùi tương hại Sửu hợp với Tị bị Ngọ xung: Tị bị xung, Sửu không còn gì để hợp cho nên Sửu Ngọ tương hại Dần hợp với Hợi bị Tỵ xung: Hợi bị xung, Dần không còn gì để hợp cho nên Dần Tỵ tương hại Mão hợp với Tuất bị Thìn xung: Tuất bị xung, Mão không còn gì để hợp cho nên Mão Thìn tương hại Thìn hợp với Dậu bị Mão xung: Dậu bị xung, Thìn không còn gì để hợp cho nên Thìn Mão tương hại Tỵ hợp với Thân bị Dần xung: Thân bị xung, Tỵ không còn gì để hợp cho nên Tỵ Dần tương hại Ngọ hợp với Mùi bị Sửu xung: Sửu bị xung, Ngọ không còn gì để hợp cho nên Ngọ Sửu tương hại Mùi hợp với Ngọ bị Tị xung: Ngọ bị xung, Mùi không còn gì để hợp cho nên Mùi Tị tương hại Thân hợp với Tỵ bị Hợi xung: Tỵ bị xung, Thân không còn gì để hợp cho nên Thân Hợi tương hại Dậu hợp với Thìn bị Tuất xung: Thìn bị xung, Dậu không còn gì để hợp cho nên Dậu Tuất tương hại Tuất hợp với Mão bị Dậu xung: Mão bị xung, Tuất không còn gì để hợp cho nên Tuất Dậu tương hại Hợi hợp với Dần bị Thân xung: Dần bị xung, Hợi không còn gì để hợp cho nên Hợi Thân tương hại ĐỊA CHI TƯƠNG HÌNH (PHẠT) Hình là do Mãn cực tức đầy quá, đầy quá thì sẽ đưa đến sự tổn hại. Địa Chi có ba hình gọi là Địa Chi tam hình TRÌ THẾ CHI HÌNH Dần hình Tỵ Tỵ hình Thân Thân hình Dần Gọi là trì thế chi hình hay đắc thế chi hình (tức là do có quyền thế, quyền bính, thế lực mà bị phạt) Giải thích: Dần chứa Giáp Mộc, Tỵ chứa Mậu Thổ, Mộc khắc Thổ Tỵ chứa Bính Hỏa, Thân chứa Canh Kim, Hỏa khắc Kim Thân chứa Canh Kim, Dần chứa Giáp Mộc, Kim khắc Mộc Ba chi các hành đó đều ở thời kỳ đắc Lộc (vị trí Lâm Quan), can Dương mãnh liệt, các hành y vào vị trí đắc lộc mạnh mẽ mà ức chế nhau nên gọi là trí thế chi hình VÔ ÂN CHI HÌNH Sửu hình Tuất Tuất hình Mùi Mùi hình Sửu gọi là vô ân chi hình (bị hình phạt vì vô ân, chịu ơn nhưng không báo đáp, lại còn hại ân nhân) Giải thích: Sửu chứa Quí Thủy, Tuất chúa Đinh Hỏa, Thủy khắc Hỏa Tuất chứa Tân Kim, Mùi chứa Ất Mộc, Kim khắc Mộc Mùi chứa Đinh Hỏa, Sửu chứa Tân Kim, Hỏa khắc Kim Ba chi này dùng tòan can Âm ức chế nhau, đặc tính của Âm là tiêu nhận, gia trả vô ân bạc nghĩa nên gọi là vô ân chi hình VÔ LỄ CHI HÌNH Tị hình Mão Mão hình Tị gọi la` vô lễ chi hình (hình phạt do vô lễ) Giải Thích: Mão Mộc vượng, Tị Thủy vượng, nước vượng quá cây úng sẽ chết, cây vượng quá sẽ hút hết nước, nên dù Thủy sinh Mộc nhưng nếu quá thịnh sẽ hình nhau, không biết lễ nghĩa để nhường nhịn để sinh nhau nên gọi là vô lễ chi hình. Ngoài ra hai sao này còn chứa Đào Hoa là một sao chủ tửu sắc dâm dục TỰ HÌNH CHI HÌNH Ngọ hình Ngọ Dậu hình Dậu Thìn hình Thìn Hợi hình Hợi gọi là tự hình chi hình vì tự mình hình mình Nếu xếp vào từng cặp và phương huớng ta có Dần Ngọ Tuất Tỵ Dậu Sửu Thân Tị Thìn Hợi Mão Mùi Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Dần Mão Thìn Hợi Tị Sửu Dần Ngọ Tuất Hỏa cục, Quí với Tỵ Mão Mùi ở Nam Phương thuộc Hỏa, Hỏa mãn cục nên hình. Tỵ Dậu Sửu Kim cục, Quí với Thân Dậu Tuất ở Tây Phương thuộc Kim, Kim mãn cục nên hình. Thân Tị Thìn Thủy cục, nước chảy về Đông thì thịnh, Dần Mão Thìn phương Đông nên Thân Tị Thìn hình với Dần Mão Thìn. Hợi Mão Mùi Mộc cục, Thủy sinh Mộc nhưng nước nhiều làm lở đất hại cây. Hợi Tị Sửu ở dưới thuộc Phương Bắc Thủy, cây đổ ngã xuống dưới, nên Hợi Mão Mùi hình Hợi Tị Sửu. Có sách nói số 10 là số lớn nhất của Hà Đồ, thịnh cực, trừ những chi tự hình, các Chi khác đếm bắt đầu từ Chi đó đến chi thứ 10 là Chi hình. Thí Dụ Mão là cung thứ 1 đếm theo chiều thuận cung thứ 10 là Tí, Mão Tị tương hình. Tị theo chiều nghịch đến cung thứ 10 lại là Mão Nếu chi căn cứ vào cục và Phương, có thuyết cho rằng các Chi sau hình lẫn nhau: Thân Tị Thìn Hợi Mão Mùi Dần Ngọ Tuất Tị Dậu Sửu Hợi Tị Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Thân Tị Thìn thuộc Thủy cục, lại qui về Hợi Tị Sửu ở Phương Bắc thuộc Thủy, Thủy mãn cực nên hình. Lý luận tương tự cho các Chi sau. Thiệu Vĩ Hoa thì giải thích căn cứ vào sách Âm Phù Kinh như sau: Tam hình sinh ở Tam hợp, giống như Lục Hại sinh ở Lục Hợp. Theo đạo Trời mà nói tam hình là số cực, tức tội ác đầy rẫy khắp nơi nên phải dẫn đến sự đổ xập. Thân Tị Thìn tam hợp, thêm ba ngôi Dần Mão Thìn thì Thân hình khắc Dần, Tị hình khắc Mão, Thìn tự hình Thìn Dần Ngọ Tuất tam hợp, thêm ba ngôi Tỵ Ngọ Mùi thì Dần hình Ty, Ngọ tự hình Ngọ, Tuất hình Mùi Tỵ Dậu Sửu tam hợp, thêm ba ngôi Thân Dậu Tuất thì Tỵ hình Thân, Dậu tự hình Dậu, Sửu hình Tuất Hợi Mão Mùi tam hợp, thêm ba ngôi Hợi Tị Sửu thì Hợi tự hình Hợi, Mão hình Tị, Mùi hình Sửu Tượng hình chủ về hung, chủ về các việc như bị tổn hại, bệnh tật, lao tù. Nguyên tắc của tượng hình giống như Tam Hợp Cục. Chổ khắc nhau là ba Tí có thể hình một Mão, một Mão có thể hình ba Tí, còn hai Mão không thể hình một Tí, hoặc một Tí không hình được hai Mão. Ngoài ra có trường hợp tham hợp vong hình, tham sinh vong hình đều là nhũng trường hợp có cừu ĐỊA CHI VÀ TAM HỢP HỢI CỤC (TAM HỢP CỤC) Dần Ngọ Tuất thuộc tam hợp Dương Hỏa (Hỏa cục) (hay Dần Ngọ Tuất hợp thành Hỏa cục) Thân Tị Thìn thuộc tam hợp Dương Thủy (Thủy cục) Tỵ Dậu Sửu thuộc tam hợp Âm Kim (Kim cục) Hợi Mão Mùi thuộc tam hợp Âm Mộc (Mộc cục) Giải thích tam hợp cục theo lý thuyết vận khí: Lục Khí theo Đông Y gồm có Quyết Âm Phong Mộc là sơ khí Thiếu Âm Quân Hỏa là nhị khí Thiếu Dương Tướng Hỏa là tam khí Thái Âm Thấp Thổ là tứ khí Dương mình Táo Kim là ngũ khí Thái Dương Hàn Thủy là lục khí hay chung khí Thân Tị Thìn bắt đầu cùng giờ Dần Hợi Mão Mùi bắt đầu cùng gio Hợi Dần Ngọ Tuất bắt đầu cùng giờ Thân Tỵ Dậu Sửu bắt Dậu cùng giờ Tỵ căn cứ vào đó người ta cho Thân Tị Thìn hợp thành một cục, đó là Thủy cục Hợi Mão Mùi hợp thành một cục, đó là Mộc cục Dần Ngọ Tuất hợp thành một cục, đó là Hỏa cục Tỵ Dậu Sửu hợp thành một cục, đó là Kim cục cục và Phương Huớng đều lấy Tị Ngọ Mão Dậu xếp vào giữa hai chi khắc, nhưng phương là khí thịnh, cục là khí chuyển vào Chú ý: Thiệu Vĩ Hoa cho rằng: Tam hợp cục là lấy Sinh Vượng Mộ để hợp thành cục. Thủy Tràng Sinh tại Thân, để Vượng ở Tí, Mộ ở Thìn nên ba Chi Thân Tị Thìn hợp thành Thủy cục. Mộc Tràng Sinh ở Hợi, để Vượng ở Mão , Mộ ở Mùi nên ba Chi Hợi Mão Mùi hợp thành Mộc cục. Hỏa Tràng Sinh ở Dần, để Vượng ở Ngọ, Mộ ở Tuất nên ba Chi Dần Ngọ Tuất hợp thành Hỏa cục. Kim Tràng Sinh ở Tỵ, Đế Vượng ở Dậu, Mộ ở Sửu nên ba Chi Tỵ Dậu Sửu hợp thành Kim cục. Tam hợp hóa cục có cát có hung tùy theo quan hệ sinh khắc. Nếu bị khắc mà được Tam hợp cục tương sinh cứu giúp thì lại cát, nếu bị khắc mà lại bị tam hợp cục khắc thêm vào thì lại là hung MÙA VÀ ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH ÂM DƯƠNG: Xuân Hạ Dương Khí tăng trưởng, Âm Khí tiêu giảm thuộc Dương Thu Đông Âm Khí tăng gia, Dương Khí tiêu tán, thuộc Âm NGŨ HÀNH Xuân thuộc Mộc vì lúc đó cây cỏ sanh tươi, đang phát triển Hạ thuộc Hoả vì lúc đó khí trời nóng nực Thu thuộc Kim vì lúc đó cây cỏ tàn tạ do Kim khắc Mộc Đông thuộc Thủy vì lúc đó khí trời lạnh lẽo, nước lạnh Tứ Qúi tức 18 ngày cuối giao của 4 mùa thuộc Thổ nên gọi là tạp khí Mùa Vượng (Tràng) Tướng(Sinh) Hữu(Lão) Tử Tuyệt(Tu?) Xuân Mộc Hỏa Thủy Kim Thổ Hạ Hỏa Thổ Mộc Thủy Kim Thu Kim Thuỷ Thổ Hoả Mộc Đông Thuỷ Mộc Kim Thổ Hoả Tứ Quí Thổ Kim Hoả Mộc Thuỷ Mùa Xuân: Mộc Khí thịnh vượng nên Mộc Vượng (Tràng), Mộc sinh Hoả nên Hoả Tướng, Thuỷ Khí già nua vì đã qua mùa Đông, cây rút hết nước, nên Thuỷ Hữu (Lão), Kim Khắc Mộc nên Kim Tử, Mộc khắc Thổ nên Thổ Tuyệt. SỰ SUY VƯỢNG CỦA NGŨ HÀNH TRONG NĂM THEO MÙA Hành Vượng Tướng Hữu Tử Tuyệt Mộc Mùa Xuân Mùa Đông Mùa Hạ Tứ Quí Mùa Thu Hoả Mùa Hạ Mùa Xuân Tứ Quí Mùa Thu Mùa Đông Thổ Tứ Quí Mùa Hạ Mùa Thu Mùa Đông Mùa Xuân Kim Mùa Thu Tứ Quí Mùa Đông Mùa Xuân Mùa Hạ Thuỷ Mùa Đông Mùa Thu Mùa Xuân Mùa Hạ Tứ Quí SỰ SUY VƯỢNG CỦA NGŨ HÀNH THEO THIÊN CAN Sự dụng vòng Tràng Sinh để theo dõi, năm Dương thì Tràng Sinh bắt đầu từ Dần Thân Tỵ Hợi và Địa Chi đi Thuận, năm Âm thì Tràng Sinh bắt đầu từ Tí Ngọ Mão Dậu và Địa Chi đi nghịch để tiếp tục ghi các giai đoạn kế tiếp của vòng Tràng sinh: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng VÒNG TRÀNG SINH Toàn bộ các Hành đều sinh trưởng theo chu kỳ như sau: Thai (Hành khí mới bắt đầu kết tinh, thời kỳ gây mầm mống) Dưỡng (Hành khí đang tăng lên, như con được nuôi trong bụng mẹ) Tràng Sinh (Hành khí được sinh ra, như trẻ con mới sinh, thời kỳ manh nha phát động của Hành) Mộc Dục (Hành khí còn non yếu, như con còn ấu thơ, được tạm gọi cho sạch sẽ, chân tay còn vô lực, không chống đỡ cầm giữ được gì cả, còn non yếu dễ chết, gọi là BẠI ĐỊA) Quan đới (Hành khí đã lớn, như con đã lớn cho đội mũ) Lâm Quan (Hành khí ở trong thời kỳ mạnh mẽ, tràng vượng, con phát triển được, như con trai đã trở thành thanh niên lớn khỏe đi làm quan, nên đương cần vị trí của Lâm Quan còn gọi là LỘC VỊ) Đế Vượng (Hành khí vượng đến cực điểm, sắp sửa đi vào giai đoạn suy, gọi là VƯỢNG ĐỊA) Suy (Hành khí bước vào giai đoạn bắt đầu suy yếu, là dư khí vì lúc đó khí thịnh của đế vượng vẫn còn sót lại) Bệnh (Hành khí suy yếu lắm rồi, như già bị ốm đau) Tử (chết, Hành khí tan) Mộ (chôn vùi, tạo hoá thấu táng, có dư khí, hồi quang phản chiếu) Tuyệt (khí tuyệt, hoàn toàn hết không còn gì cả) Trong chu kỳ trên, Hành khí có sức ảnh huởng đến ngoài đáng kể là Tràng Sinh, Mộc Dục, Lâm Quan, Đế Vượng và Mộ) Phân định ảnh huởng: trong chu kỳ 12 trên thì chỉ có vị trí của Tràng Sinh, Mộc Dục, Lâm Quan, Đế Vượng và Mộ là có khí sức để có thể ảnh hưởng ra bên ngoài Phân định Âm Dương: Thai, Dưỡng, Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan thuộc về Dương, huớng thịnh, theo chiều thuận. Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt thuộc Âm, huớng suy, theo chiều nghịch Giáp Dương Mộc thì Tràng Sinh tại Hợi (Mộc Dục ở Tí vì đi thuận) Ất Âm Mộc thì Tràng Sinh tại Ngọ (Mộc Dục ở Tỵ vì đi nghịch) Bính Dương Hoả thì Tràng Sinh tại Dần Đinh Âm Hoả thì Tràng Sinh tại Dậu Mậu Dương Thổ thì Tràng Sinh tại Dần Kỷ Âm Thổ thì Tràng Sinh tại Dậu Canh Dương Kim thì Tràng Sinh tại Tỵ Tân Âm Kim thì Tràng Sinh tại Tí Nhâm Dương Thuỷ thì Trang Sinh tại Thân Qúi Âm Thuỷ thì Tràng Sinh tại Mão VÒNG VƯỢNG TƯỚNG HỮU TỬ CỦA KHÍ NGŨ HÀNH LƯU CHUYỂN TRÊN 12 CUNG ĐỊA CHI (Giải thích trên cơ sở Mùa trong năm) Mộc Khí: là khí của Mùa Xuân, sẽ bắt đầu sinh vào lúc bắt đầu Mùa Đông, để kịp thịnh vượng vào Mùa Xuân, Thuỷ sinh Mộc nên Mộc sinh ở Hợi (Hợi là tháng 10, tháng bắt đầu Mùa Đông, Hợi thuộc Thuỷ). Theo chiều thuận, Tràng Sinh ở Hợi, Mộc Dục ở Tí...Tử Dậu (Thai) đến Dần thì theo chiều tiến, huớng vượng thuộc Dương là vị trí của Giáp (Dương) Mộc, còn từ Mão đến Thân theo chiều thóai, hướng suy thuộc Âm là vị trí của Ất (Âm) Mộc Hoả Khí: là khí của Mùa Hạ, sinh ở Dần, Tràng sinh ở Dần, Thai ở Tí. Giải thích như trên Tử Tí đến Tỵ (?) là vị trí Bính (Dương) Hoả, từ Ngọ đến Hợi là vị trí Đinh (Âm) Hoả Kim Khí: là khí của Mùa Thu, sinh ở Tỵ, Tràng Sinh ở Tỵ, Thai ở Mão Từ Mão đến Thân là vị trí của Canh (Dương) Kim, từ Dậu đến Dần là vị trí của Tân (Âm) Kim Sự giải thích Kim sinh ở Tỵ không thể đúng tháng bắt đầu cho Mùa mà khi chủ về ngũ Hành tương sinh để giải thích cho vị trí trường sinh, nên một số người giải thích như sau: Kim khí nảy sinh vào tháng Tỵ đầu Mùa Hạ để kịp thịnh vượng vào đầu Mùa Thu, Mùa mà Kim khí làm chủ. Hạ thuộc Hoả, nhưng Hoả sinh Thổ, mà Thổ sinh Kim, qúi Hạ Thổ thịnh nhất trong 4 qúi, vậy Kim khí sinh tại Tỵ Hạ Hoả Thuỷ Khí: là khí của Mùa Đông, giải thích sự bắt đầu sinh như Mộc Khí. Thuỷ khí sinh ở Thân, Tuyệt ở Tỵ, Thai ở Ngọ... Từ Ngọ đến Hợi là vị trí của Nhâm Thuỷ, từ Tí đến Tỵ là vị trí của Qúi Thuỷ Thổ Khí: theo bài Bát Quái thì vượng ở Trung Tâm, tàn ra 4 gốc ở Thìn Tuất Sửu Mùi, vậy Thổ vượng ở Thìn Tuất Sửu Mùi, phù vào Thuỷ và Hoả nên sinh ở Thân Dần SỰ SUY VƯỢNG CỦA NGŨ HÀNH CÁC ĐỊA CHI Hành Mộc Tràng Sinh ở Hợi, Đế Vượng ở Mão, Tử ở Ngọ, Mộ ở Mùi Hành Hoả Tràng Sinh ở Dần, Đế Vượng ở Ngọ, Tử ở Dậu, Mộ ở Tuất Hành Kim Tràng Sinh ở Tỵ, Đế Vượng ở Dậu, Tử ở Tí, Mộ ở Sửu Hành Thuỷ Thổ Tràng Sinh ở Thân, Đế Vượng ở Tí, Tử ở Mão, Mộ ở Thìn SỰ SUY VƯỢNG CỦA NGŨ HÀNH CÁC ĐỊA CHI CĂN CỨ VÀO NGŨ HÀNH BỐN MÙA (Thiệu Vĩ Hoa) Mùa Xuân, Hành Mộc sinh ở Hợi, Vượng ở Mão, Mộ ở Mùi Mùa Hạ, Hành Hoả và Thổ sinh ở Dần, Vượng ở Ngọ, Mộ ở Tuất Mùa Thu, Hành Kim sinh ở Tỵ, Vượng ở Dậu, Mộ ở Sửu Mùa Đông, Hành Thuỷ sinh ở Thân, Vượng ở Tí, Mộ ở Thìn Ngũ Hành của các Địa Chi vượng ở cuối bốn Mùa, và Mộ ở Thìn Tuất Sửu Mùi, nghĩa là sự thịnh suy đều do trật tự của bốn Mùa và thuộc tính của ngũ Hành quyết định, cũng như Xuân đi thì Hạ đến, Hạ đi thì Thu đến PHONG (GIÓ) Phong là gió, tuy ngũ Hành phối hợp phương huớng và 4 Mùa ta suy ra: Xuân: Đông Phong làm chủ Hạ: Nam Phong làm chủ Thu: Tây Phong làm chủ Đông: Bắc Phong làm chủ Đông Xuân giao nhau, Đông Bắc Phong làm chủ Xuân Hạ giao nhau, Đông Nam Phong làm chủ Hạ Thu giao nhau, Tây Nam Phong làm chủ Thu Đông giao nhau, Tây Bắc Phong làm chủ NGŨ KHÍ Mùa Xuân, Phong khí làm thời lệnh Mùa Hạ, Thử khí làm thời lệnh Mùa Thu, Táo khí làm thời lệnh Mùa Đông, Hạn khí làm thời lệnh KHÍ HẬU Mùa Xuân ấm, muôn vật phát sinh Mùa Hạ nóng, muôn vật trưởng thành Mùa Thu mát, muôn vật thu nhóm Mùa Đông lạnh, muôn vật ẩn táng NGŨ HÀNH VÀ TÍNH TÌNH (Theo Thiệu Vĩ Hoa) Mệnh Kim thì nghĩa khí Mệnh Hoả chủ về lễ, trong cư xử thường có lễ. Nếu Hoả nhiều, Hoả vượng thì nóng nảy dễ hỏng việc Mệnh Thổ giữ chữ tín, nói một là một, hai là hai, giữ lời. Thổ vượng thì thích tịnh, không thích động, do đó để mất thời cơ Mệnh Mộc thì hiền từ, tấm lòng tốt. Nhưng Mộc vượng thì tính cách không khuất phục, đặc biệt Tang Đố Mộc thì thà chết chứ không chịu sống quì gối Mệnh Thuỷ thì mưu trí, thông minh ham học, nhưng phải trải qua nhiều gian khổ. Thuỷ vượng thì tính tình gặp nóng, hung bạo dễ gây ra tai họa ĐỊA CHI VÀ TẠNG PHỦ Tí, bàng quang Sửu Mùi, lá lách Dần, mật Mão, gan Thìn Tuất, dạ dày Tỵ, tim Ngọ, ruột non Thân, ruột già Dậu, phổi Hợi, thận CHIA NHÓM CỦA CÁC CUNG Cung Dần Thân Tỵ Hợi gọi la Tứ Sinh Cung Tí Ngọ Mão Dậu gọi là Tứ Tuyệt Cung Thìn Tuất Sửu Mùi gọi là Tứ MộNguon:caydavietnam
-
- 1
-
-
HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG BÁT QUÁI NGŨ HÀNH Trời Đất vạn vật nói chung là một đại vũ trụ và con người là một tiểu vũ trụ và cũng hàm chứa Âm Dương và Ngũ Hành. Khởi đầu là Thái Cực, chưa có sự biến hóa. Thái Cực này vận động biến thành hai khí Âm và Dương. Hai khí Âm Dương luôn luôn chuyễn hóa làm cho Vũ Trụ động và vạn vật sinh tồn. Người ta thường nói: Thái Cực thì sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái. Chủ ý rằng "thì sinh" ở đây không có nghĩa là tu cái "không" mà sinh ra cái "có", mà có nghĩa là đã có sẵn trong đó rồi, và có thể nhận thấy được khi phần hai (sinh) mà họat động. Thái (lớn quá, cao xa quá) Cực (là cho tận cùng, cho chấm dứt, và cũng có nghĩa là rất lạm, quá nhiều, quá lớn) là nguyên lí tạo dựng và chi phối Vũ Trụ. Lí Thái Cực lá li Nhật Nguyên Lưỡng Cực có nghĩa là một nơi (Nhật Nguyên) khi nói chung (khi bất đồng) có hai phần Âm Dương (Lưỡng Cực) khi nói riêng ra (khi họat động). Nói ngược lại thì sự họat động của Âm Dương là cái lí của Thái Cực. Tòan thể cuộc Trời Đất này (Vũ Trụ) sinh tồn là do lí Thái Cực, và mọi vật đều do Âm Dương tác tạo, nên cũng có một lí Thái Cực cho riêng mình. Âm Dương là khí vô hình, có hai phần lạ khác nhau là Dương và Âm để bù đắp cho nhau mà sinh động lực. Hai khí Âm Dương giao tiếp tuần hoàn sinh hóa ra vạn vật theo 4 trạng thái phát triển và suy tận được gọi là Tứ Tượng (Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm). Tứ Tượng lại sinh Bát Quái. Bát Quái là tạm tướng chính của Âm Dương, sinh hóa ra 5 khí chất chính là Ngũ Hành. Theo Động Trong Thư thì "Khi của trời đất, hờp thì lậ mot, chia thì là Âm và Dương, tách ra làm bốn mùa, bày xếp thành Ngũ hành." Âm Dương là một, nhưng Âm Dương thiên biến vận hóa (Bát Trặc) để sinh Ngũ Hành, và với tính cách tương phân tương thành đã sinh hóa vạn vật, muôn lòai, tạo ra một chuỗi nhân qua liên tục không dứt. Vạn vật trong Vũ Trụ này sơ đi có được là do sự Diệu Hợp Nhi Ngung, phối hợp với nhau một cách kỳ diệu mà ngừng đóng lại của nhị ngũ (2, 5) tức Âm Dương Ngũ Hành từ Hình Nhị Thương (khi nang, khi chat vô hình) qua Hình Nhi Ha (Thế Chất, Hữu Hình). Khi biến thì Hình hoa’, ở Trời là Tượng, ở Đất là Hình. Âm Dương chuyển hóa, tiêu trưởng, thuận nghịch, đáp đối cho nhau sinh ra Ngũ Hành, tạo nên vạn vật. Thái Cực động thì sinh Dưỡng, động cực thì Tĩnh, tĩnh thì sinh Âm, tĩnh cực thì lại động, một tĩnh một động cũng làm căn bản cho nhau, đó là trở về cái gốc (Ho Vi Ky Can). CÁC QUI LUẬT BIẾN ĐỘNG CỦA VẠN VẬT Các hiện tượng của Vũ Trụ chỉ là trạng thái khác nhau trong vòng Sinh Tử, Tứ Sinh (tức là Thành Thịnh Suy Hủy, Thành Trụ Họai Không, Sanh Lão Bệnh Tử) của vật thế biển động. Tứ tượng Đông Phương cho rằng Vũ Trụ có một mãnh lực vô hình chu du khắp không gian và thời gian gọi là Thái Cực, tác động do hai trạng thái động tĩnh của chính mình, tức là hai khí Âm Dương, đễ biến hòa muôn lòai, tạo ra một cuộc sống động và vĩnh cữu. Đó là lí Nhật Nguyên Lưỡng Cưc, tức lí Thái Cực, Âm Dương. Khơi thũy, Vua Phục Hi đã vạch và xếp Tiên Thiên Bát Quái va 64 trung quái đễ biểu Tượng cho Âm Dương chuyển hóa, rồi tìm hiểu và sự sinh khắc chế hóa của Ngũ Hành, do tác động của Âm Dương sinh ra, biểu hiện nơi các con Số trên Hà Đồ. Đây cả khỏang Trời Đất này duy chỉ có một cái lí ấy mà thôi, lí ấy là lí tự nhiên, lí của Thái Cực. Lí ấy nằm trong Tượng, nghĩa là trong các hào quái đã được dựng nên để biểu tượng cho sự chuyển hóa của Âm Dương. Sự chuyển hóa của Âm Dương là cái lí của Thái Cực. Âm Dương chuyển hóa tạo ra Ngũ Hành Khí, biểu hiện bởi các con số năm trong Hà Đồ và Lạc Thu. Thái Cực là Lí tự nhiên, Hào Quái là Tượng của Âm Dương, Hà Đồ và Lạc Thu là số của Ngũ Hành. Có lí thì có Tướng, có Tướng thì có Số. Vũ trụ vạn vật chỉ có một cái lí chung và duy nhất nhưng mang nhiều Tướng Số, do đó mà mọi vật có từng nhóm số. Mọi vật đều có một Thái Cực (Các hữu Thái Cực), nghĩa là mọi vật, cũng như con người, đều là một Tiểu Vũ Trụ, Vũ Trụ có tính chất nào, tính cách nào thì mọi vật cũng có như vậy. Vua Phục Hi và các người đời sau đều đã dùng Tướng Số ấy mà tìm hiểu Vũ Trụ trong mọi quan hệ với nhân sinh. Vũ trụ và nhân sinh có mới liên hệ nhat quan, chỉ khác nhau ở chỗ cao thấp, thanh trọc, lớn nhỏ mà thôi. Đo là Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể, đó là Thiên Nhân tướng dữ và tướng hợp. Lệ Trời sao thì lệ người vậy, việc trời sao thì việc người vậy. Vạn vật đều biến động đổi dời tuần theo các qui luật như luật Biến Hóa, luật Tương Sinh Tương Khắc (Tướng Phần tướng Thanh), luật Tiểu Trường, luật Tương Ứng Tương Cầu, luât Tích Tiệm, luật Phần Phúc, luật Biến Dịch. Luật Biến Hóa nghĩa là biến động mãi mãi, chữ lưu khắp chốn, lên xuống không chung, luân phiên thay đổi nhau: cung mềm, nóng lạnh, sinh tử… cho nên không thể lấy cái gì làm chủ yếu điển hình được. Chết (tử) chi là Biến và Hóa, chết mà không mất (Tử nhi bất Vong). Bien la do Cung: Cung tac Bien, Bien tac Thong, Thong tac Cuu, nghĩa là có Cung thì mới có Biến, có Biến mới có Thông, có Thông mới có lâu bền. Một dong, một mo gọi là Bien. Qua rồi lại, lại rồi qua, và qua lại không cùng gọi là Thông. Luật Tương Ứng Tương Cầu (Giao Cảm) nghĩa là hai Khí Âm Dương có giao cảm với nhau thì vạn vật mọi hỏa sinh, vạn vật sinh rồi lại tiếp tục sinh mai đưa đến cuộc biển đời trở thành vô tận. Âm Dương có hòa xuống là cái trạng thái bình, Âm Dương xung khắc là cái trang bĩ lọan. Vạn vật trong Vũ Trụ bao giờ cũng tìm ban Đồng Thành để tương ứng, Dòng Khí để tương cầu. Âm Dương tìm lẫn nhau, hoặc Âm cung tìm Âm, Dương cung tìm Dương nhưng phải là Dong Vong hay Dong Do, nghĩa là Nội Ngọai tương ứng và tùy thuộc vào Thời. Do đó trong một quẻ thì chỉ có hào Duong và hào Âm mới tương ứng, còn nếu toàn Âm hay tòan Dương thì có tượng sinh cũng không sinh được, có tượng khác cũng không khắc được. Bởi vậy Âm Thủy mới sinh Dương Mộc, Dương Mộc mói sinh Âm Hỏa. Về tương khắc cũng theo lẽ ấy (thì mới có sự họa sinh- TMT). (Chú ý để có sự họa sinh thì cần phải khắc âm dương và ngũ hành phải tương sinh hoặc tương khắc. Tương khắc không đưa đến họa sinh mà đưa đến hủy diệt thì đòi hỏi phải cung Âm Dương và ngủ hành tương khắc, ví dụ Dương Kim thì khắc Dương Mộc (ví như kim khí cứng rắn mà gặp cây cứng rắn thì mọi khắc mạnh, mới đưa đến sự hủy diệt), còn Dương Kim tuy co khắc Âm Mộc nhưng không mạnh được, trái lại lại đưa đến sự họa sinh) Luật Tích Tiêm: Tích có nghĩa là chất chua, tích lũy từ lâu dài. Biến và Hóa đều có nghĩa là đổi rồi, nhưng Biến thì đổi từ từ, khó nhận thấy, còn gọi là Tiêm Biến, Họa xảy ra ngay khi cuộc chuyển biến đã hoàn tất, gọi là Đột Biến Luật Phần Phúc: trở lại nơi khởi điễm, trở về cái gốc củ. Sự tiến triễn của vạn vật không đi luôn mà sẽ trở lại. Vật cung tác Phần, nghĩa là khi cùng cục thì trái nghịch trở về cái gốc, cái trước. Nếu không đi thì sẽ không trở lại, đã có đi thì sẽ có lại (Vo^ Va~ng bat Phuc). Lu ật Bất Dịch (Bất Di Bất Dịch): sự biến hóa ở vạn vật diễn biến trong vòng trật tự, theo một qui luật nhất định, không thay đổi, thuờng hằng. Tất cả mọi vật đều rất động, nhưng nhớ qui luật này chỉ phối mà sự động ấy không bị rối lọan, không đổi khác. Tất cả sự vật đều cũng về một nguồn (gọi là Thái Cực), nhưng mọi vật theo con đường riêng của mình, chung về nhà mà đi khắc dương (Dong Qui nhi Thu` Do^`). Luật thuờng hằng do chi phối tất cả mọi cuộc biến hóa trong trời đất, điều hòa mọi trạng thái động tĩnh, không cho sự gì đi đến thái quá hay bất cập, thiếu thì nợ bù vào, thua thì nợ bớt đi, đưa đến quân bình TƯỢNG CỦA ÂM DƯƠNG Dịch lý quan niệm Âm Dương là khí và Ngũ Hành là thể chất Âm Dương tượng trưng cho hai khí thiên nhiên trong vũ trụ. Nguyên lý của vũ trụ thì vô hình, không thể mô tả cụ thể được, mà dù cho có mô tả được đi chăng nữa thì cũng không bao giờ mô tả hêt được. Muốn mô tả nguyên lý của vũ trụ đó ta phải mượn hữu hình để mô tả cho chân lý vô hình đó, gọi là mượn Tướng để mô tả Hình Khí Dương tượng trưng bời nóng, cứng, dai, nhanh, khỏe, Nam, ban ngày, trời, số lẻ, phát triển, trẻ, Mặt Trời, mùa Xuân, Hạ, hướng Đông, hướng Nam, phía trên, phía ngòai, lửa, sáng, năng động, tích cực, cương quyết Khí Âm tượng trưng bởi lạnh, mềm, ngắn, chậm, yếu, Nữ, ban đêm, đất, số chẳn, suy thoái, già, Mặt Trăng, ban đêm, Thụ, Động, hướng Tây, hướng Bắc, phía dưới, phía trong, nước, trầm tỉnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, nhu nhược, tiêu cực. Trong con người, Dương là mé ngòai, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí...Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dươi, ngủ tạng, huyết... Âm Dương không phải là thứ vật chất cụ thể nào mà là thuộc tính nằm trong tất cả mọi sự vật. Nó giải thích sự biến hóa và phát triển của sự vật. Người ta dùng Thái Cực Đồ để tượng trưng cho hai khí Âm Dương năm trong Thái Cực. Người Trung Quốc khi vẻ hình thì Hướng Bắc bên dưới, Nam bên Trên, Đông bên Phải và Tây bên Trái của hình bởi vì Trung Quốc ở Bắc Bán Cầu nên người ta ngồi ơ Phía Bắc mà nhìn lên phía Nam, và theo đó mà đặt phương vị. Như vây trước mặt là Phương Nam, tay trái Phương Đông, bên phải Phương Tây. Trên Thái Cực Đồ thì phần màu trắng là Khí Dương nằm ở Phương Đông nơi Mặt Trời mọc, phần màu đen thì là Khí Âm nằm ở Phương Tây. Trong phần Dương có một chấm đen tượng trưng cho Âm Căn (mầm Âm), trong phần Âm có một chấm trắng tượng trưng cho Dương Căn (mầm Dương). Điều này thể hiện Dương Trung hữu Âm căn, Âm Trung hữu Dương căn, khí Dương cực thí mầm Âm sẻ sinh ra và khì Âm cực thì mầm Dương sẻ sinh ra (Dương cực thì Âm sinh, Âm cực thỉ Dương sinh hay nói khác đi cực Dương sinh Âm và cực Âm sinh Dương, vật Cưc tắc Biến) và nhấn mạnh ý nghĩa không bao giờ có trường hợp Cô Âm hay Cô Dương bởi vì trong Dương có Âm và trong Âm có Dương. Khí Dương nhiều hơn Âm thì gọi là Dương, khí Âm nhiều hơn Dương thì gọi là Âm. Âm Dương vận động chuyển hóa theo qui luật Dương Trưởng thì Âm Tiêu, Âm Trương thỉ Dương Tiêu, Dương Tiêu thì Âm Trưởng, Âm Tiêu thì Dương Trưởng. Dương di ua Âm va Dương đều theo chiều thuận, từ trái qua phải, từ Động sang Tây. Dương sinh ra ở phía Bắc, nóng và nhẹ nên đi lên về Phương Đông. Dương lớn lên ở Phương Đông, cực thịnh ở phía Nam (huớng Nam, giờ Ngọ thì nóng nhất nên Dương cực. Dương cực thì Âm sinh nên Âm sinh ở Ngọ, phía Nam) và tiêu mất ở phía Tây. Âm sinh ở Phương Nam, lạnh và nặng nên đi xuống Phương Tây. Âm lớn lên ở Phương Tây, cực thịnh ở Phương Bắc, giờ Tí thì lạnh nhất nên Âm cực, Âm cực thì Dương sinh nên Dương sinh tại Tí và tiêu mất ở Phương Đông. Khí Dương tiêu mất ở phía Tây thì Âm lớn lên, khí Âm tiêu mất ở phía Đông thì Dương lớn lên. Với bản chất như vậy, Âm Dương chuyển hóa theo qui luật Dương Thăng Âm Giáng và theo qui luật có thứ tự là Doanh (tràn đầy) Hư (hao hụt) Tiêu (mòn dần) Trưởng hay Túc (no ra, sinh ra). Khí Dương Doanh thì Âm Tiêu, Dương Trưởng thì Âm Hư và ngược lại để đáp đối cho nhau sinh hóa luân chuyển không ngừng. Dương có Tiêu thì nhờ cái mầm Dương ở trong Âm mà lại Trưởng, Âm có bị Tiêu thì nhờ cái mầm Âm trong Dương mà Âm lại Trưởng. Có người còn sử dụng qui luật theo thứ tự là Thành (sinh ra) Thịnh (cực độ) Suy Hủy (mất đi) để diển tả sự chuyển hóa của Âm Dương. Khí Dương Thành thì Âm Suy, Dương Thịnh thì Âm Hủy, Dương Suy thì Âm Thành, Dương Hủy thì Âm Thịnh. Tương tự như vậy đối với khí Âm: khí Âm Thịnh thì Dương Suy, khí Dương Thịnh thì Âm Hủy… TIÊN THIÊN BÁT QUÁI Tiên Thiên Bát Quái là 8 quẻ thuộc về Trời, chỉ về Thiên Lí hay Lẻ Trời. Vì lúc đó chưa có chử viết, vua Phục Hi sử dụng các vạch để điển tả. Sử dụng vạch liên tục, vạch liên, tục vạch Lẻ, gọi là Cơ để tượng trưng cho phần Dương Sự dụng vạch đứt đọan, tức vạch Chấn gọi là Ngẩu để tượng trưng cho phần Âm Lưỡng Nghi (Âm Dương) được tượng trưng bằng hai vạch Dương và Âm gọi là Dương Nghi và Âm Nghi TỨ TƯỢNG Đặt một vạch Dương lên trên Dương Nghi thì thành Tòan Dương nên gọi là Thái Dương (Thái có nghĩa là dà lớn). Đặt một vạch Âm lên trên Dương Nghi thì ta có một Dương làm chủ ở dưới nên gọi là Thiếu Dương (Thiếu có nghĩa là còn nhỏ). Đặt một vạch Âm lên trên Âm Nghi thành Toàn Âm gọi là Thái Âm. Đặt một vạch Dương lên trên Âm Nghi thì ta có một Âm làm chủ ở bên dưới gọi là Thiếu Âm Như vậy ta có Tứ Tượng theo đúng thứ tự là Thiếu Dương, Thái Dương, Thiếu Âm, Thái Âm. Thiếu Dương đi trước Thái Âm và Thiếu Âm đi trước Thái Dương thể hiện Âm trung hữu Dương Căn, Dương trung hữu Âm Căn, nghĩa là trong Âm có mầm Dương, trong Dương có mầm Âm. Dương sinh ở Dưới thành ra Thiếu Dương có một vạch Dương mới sinh ở Dưới làm chủ. Dương Trưởng ở Trên thành ra Thái Dương với hai gạch Dương là Dương đả toàn thịnh. Âm sinh ở Trên cho nên Thiếu Âm có một Âm mới sinh ở Dưới làm chủ. Âm trưởng ở Dưới cho nên Thái Âm với hai gạch Âm là Âm đã tòan thịnh. TIÊN THIÊN BÁT QUÁI Bát Quái là tám Quẻ, mổi quẻ gồm có ba vạch (mỗi vạch còn gọi là Hào), còn được gọi là Qủe Độn hay Độn Quái, dùng để diển tả 8 hiện tượng chính của họat động Âm Dương trong Vũ Trụ. Việc xếp đặt các vạch để tạo thành Bát Quái được thực hiện theo một thứ tự hoàn tòan theo tự nhiên: Dương trước, Âm sau, tay Măt trước, tay Trái sau. Thứ tự và tên gọi của Bát Quái như sau: Quẻ Càn: đặt một vạch Dương lên trên Thái Dương thành tòan Dương gọi là qủe Càn (trơi, thiên. Càn vi Thiên). Quẻ này thì Dương đả Thịnh, và Âm đã hủy. Quẻ Đoài: đặt một vạch Âm lên trên Thái Dương ta có qủe Đoài (đầm ao. Đoài vi Trạch). Quẻ này thì Dương đả lớn và Âm sắp tàn Quẻ Ly: đặt một vạch Dương lên trên Thiếu Dương ta có quẻ Ly (lửa, hơi nóng. Ly vi Hỏa). Quẻ này thì Dương đã lớn và Âm sắp tan Quẻ Chấn: đặt một vạch Âm lên trên Thiếu Dương ta có quẻ Chấn (sấm sét, Chấn vi Lôi). Quẻ này thì Dương mới sinh và Âm bắt đầu suy Quẻ Khôn: đặt một vạch Âm lên trên Thái Âm thành tòan Âm gọi là quẻ Khôn (Đất, Địa. Khôn vi Địa). Quẻ này thì Âm đã thịnh và Dương đa hủy Quẻ Cấn: đặt một vạch Dương lên trên Thái Âm ta có quẻ Cấn (núi non. Can vi Sơn). Qủe này thì Âm đã lớn và Dương sắp tàn. Quẻ Khảm: đặt một vạch Âm lên trên Thiếu Âm ta có quẻ Khảm (nước, chất lỏng. Khảm vi Thủy). Quẻ này thì Âm đã lớn và Dương sắp tan. Quẻ Tốn: đặt một vạch Dương lên trên Thiếu Âm ta có quẻ Tốn (gió. Tốn vi Phong). Quẻ này thì Âm mới sinh và Dương bắt đầu suy Trong Bát Quái, có bốn quẻ bất dịch, nghĩa là không doi du đảo lộn, lật lên lật xuống là Càn Khôn Ly Khảm. Bốn qủe này là bốn qủe chính (vì Trời, Đất, Lửa, Nước là bốn yếu tố chính) được đạt vào bốn Phương chính, ở giữa hai trục chính Nam Bắc và Đông Tây: Phía Đông (tay Trái) là hướng Mặt Trời mọc nên thuộc Dương, gồm có Đông Bắc và Đông Nam. Phía Tây (tay Phải) là hướng mặt trởi lặn nên thuộc Âm, gồm có Tây Bắc và Tây Nam. Càn ở Phương Nam vì Càn là tòan Dương nên nóng, Phương Nam là lúc giữa trưa nên nóng nhất Khôn ở Phương Bắc vì Khôn là Đất, toàn Âm nên lạnh, phía Bắc lúc gần nửa đêm thì rất lạnh Ly ở Phương Đông vì Ly là Lửa, thuộc Dương nên âm ấp, Phương Đông là nơi mặt trời mới mọc có hơi ấm Khảm ở Phương Tây vì Khãm là nước thuộc Âm nên mát, ở Phương Tây nơi mặt trởi lặn thì mát. Các nguồn nước cũng từ phương Đông mà ra Bốn qủe còn lại là bốn qủe phụ, là những hiện tượng chính ở trên Trời và dưới Đất, được đặt ở bốn góc Chấn ở Phương Đông Bắc Cấn ở Phương Tây Bắc Đòai ở Phương Đông Nam Tốn ở Phương Tây Nam Tiên Thiên Bát Quái chỉ vẻ lẻ Trời nên lấy Âm Dương làm trọng, do đó Càn Khôn (Trời Đất) ở trục chính Nam Bắc và Ly Khảm (Lửa, Nước) là hai nhân tố chính ở trục Đông Tây. Trục chính Nam Bắc này tạo lực cho trục ngang Đong Tây xoay vần, gây sức sống cho Vũ Trụ mà yếu tố chính của sức sống không gì ngoài Lửa và Nước nên Ly Khãm đất ở Đông Tây. Trong Tiên Thiên thì các quẻ đối xứng với nhau: Càn với Khôn (Cha đoi xung vơi Mẹ), Chấn với Tốn (Trưởng Nam với Trưởng Nữ), Ly với Khảm (trai thứ vơi gái thứ), Cấn vơi Đòai (trai út với gái út) SƯ VẬN ĐỘNG CỦA ÂM DƯƠNG TRONG TIÊN THIÊN BÁT QUÁI Phần Dương gồm có Càn 1, Đoài 2, Li 3, Chấn 4, từ Cha xuống Con là Dương thuận. Phần Âm là Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8, từ Con lên Mẹ là Âm nghịch Nói chung Âm Dương thì Dương từ Bắc đi lên, Dương thăng. Âm từ trên Nam đi xuống, Âm giáng. Trong Tiên Thiên thì Cha sinh gái (Càn sinh Âm quái) và Mẹ sinh trái (Khôn sinh Dương quái) đó là chỉ về cái lý tự nhiên Dương sinh Âm, Âm sinh Dương. Chấn với một hào Dương làm chủ là Nhất Dương Sinh ỏ Phương Bắc đi lên và lớn dần ở Ly. Đoài đã có hai vạch Dương và tới Càn ở phương Nam bên trên đã có đủ ba vạch Dương (toàn Dương). Như vậy Dương đi trong phần Dương mà đi thuần từ trái qua phải, từ dưới Bắc đi lên trên (Dương Thăng). Dương từ Cấn Khảm (1 vạch) qua Tốn (hai vạch) về Càn (3 vạch) nên Dương đi trong phần Âm mà đi nghịch từ phải qua trái. Đi nghịch ở đây là đi rút về. Tốn với một vạch Âm ở dưới làm chủ là Nhất Âm Sinh đi xuống Khảm. Cấn đã có hai vạch Âm và tới Khôn ở dưới Bắc đã có đủ 3 vạch Âm (toan Âm ). Như vậy Âm đi trong phần Âm ma đi thuận từ trái qua phải, từ Nam đi xuống (Âm Giáng). Âm đi từ Đoài Ly (1 vạch) qua Chấn (hai vạch) về Khôn (3 vạch). Âm đi trong phần Dương mà đi nghịch từ phải qua trái bên cạnh Thái Dương đã có 1 Âm xuất hiện ở Tốn, do Âm Càn ở Đoài. Canh Thái Âm đã có 1 Dương xuất hiện ở Chấn, do Dương Càn ở Ca^’n. Sự phối trí các quẻ cho ta thấy Sinh rồi Trưởng, Trưởng quá thì Tiêu, cái này tan thì cái khác lại sinh ra vì đã có mầm sẳn. Vòng Tiêu Trưởng xoay vần không đứt, tạo ra động lực làm cho vạn vật biến hóa không cùng. SÁU MƯƠI BỐN QUẺ KÉP (TRÙNG QUÁI) của TIÊN THIÊN BÁT QUÁI Trùng quái là quẻ kép gồm sáu vạch (còn gọi là 6 Hào), do hai Quẻ Đơn xếp chồng lên nhau. đơn quái ở trên gọi là Ngọai quái hay Thượng quái. đơn quái ở dưới gọi là nội quái hay Hạ quái. Khi viết thì viết quái dưới trươc, quái trên sau. Tên gọi được căn cứ vào tên hai đơn quái, dọc theo thứ tự từ trên xuống dưới. Trung quái là tượng chỉ về sự chuyển hóa của Âm Dương nên gọi là quái Tượng, và mỗi Hào còn được gọi là Hào Tượng. Trung quái do Quẻ Càn sinh ra: đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Càn Trung quái do Quẻ Đoài sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Đoài Trung quái do Quẻ Li sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Li Trung quái do Quẻ Chấn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Chấn Trung quái do Quẻ Tốn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Tốn Trung quái do Quẻ Khảm sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Khảm Trung quái do Quẻ Cấn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Cấn Trung quái do Quẻ Khôn sinh ra: lần lượt đặt 8 đơn quái lên trên Quẻ Khôn Trong sáu mươi bốn quẻ thì có tam trung quái bát dịch, còn lại 58 quẻ, gồm 28 cặp, là điễn dao dịch, nghĩa là khi lật ngược thì quẻ này thành Quẻ kia Trong 64 Trung quái thì có 12 Trung quái chính biểu thị cho qui luật Doanh Hư Tiêu Trưởng, Thành Thịnh Suy Huy, Dương Thăng Âm Giáng, Tiêu Trưởng, thuận nghịch, Tiến Thóai trong sự chuyển hóa của Âm Dương. Mười Hai Quẻ này được đặt trong Thiên Bản, hòa hợp với 12 năm. 12 tháng, 12 giờ, 12 Địa Chi, và bốn phương Tám Huớng, tứ Thời (Xuân Hạ Thu Đông), Bát Tiết: Quẻ Phục (Đia Lôi Phục) ở Tí, một vạch Dương ở dưới (Nhất Dương Sinh). Phục có nghĩa là trở lại, là Dương đã trở lại. đất ở phương Bắc rất lạnh, giờ Tí, tháng 11, tiết Đông Chí giữa Mùa Đông. Quẻ Lam (Địa Trạch Lam) ở Sửu, hai vạch Dương ở dưới. làm có nghĩa là đã tới, ra mặt, Dương đã đủ góp mặt rồi, đó là Dương Tiến Âm Thoái, Dương Thạnh Âm Suy. Quẻ Thái (Đia Thiên Thái) ở Dần, ba vạch Dương ở dưới và ba vạch Âm ở trên, Dương thì nhẹ lại ở dưới nên bọc lên trên, Âm thì nặng ở trên hạ xuống dưới nên Âm Dương tiếp xúc, Âm Dương quân bình. đất ở giờ Dần lúc mặt trời đang lên, tháng 1, đầu mùa Xuân Quẻ Đại Tráng (Lôi Thiên Đại Tráng) ở Mão, bốn vạch Dương ở dưới. Đại Trang là lớn mạnh, Dương lớn mạnh hơn Âm . đặt ở phương Đông, tháng 2, ứng với tiết Xuân phần, giữa mùa Xuân. Quẻ Quái (Trach Thiên quái) ở Thìn, năm vạch Dương ở dưới. quái là quả quyết, dứt bỏ, Dương đã quyết dứt bỏ một Âm nằm một mình ở trên. Quẻ Càn (Càn Vi Thiện) ở Tỵ, sáu vạch Dương, Toàn Dương, phương Nam, tháng 4, dầu Mùa Hạ Quẻ Cấu (Thiên Phong Cấu) ở Ngọ, một vạch Âm ở dưới (Nhất Âm Sinh). Câu có nghĩa là gặp gỡ. Âm đã tới gặp Dương. đặt ở phương Nam, ứng với tiết Hạ Chí Quẻ Độn (Thiên Sơn Độn) ở Mùi, hai vạch Âm ở dưới. đơn là lấn trọn, Dương đã lấn trọn bớt rồi Quẻ Bỉ (Thiện Địa Bỉ) ở Thân, 3 vạch Âm ở dưới và 3 vạch Dương ở trên, tuy Âm Dương quân bình nhưng Dương ở trên cứ bốc lên, Âm ở dưới lại hạ xuống nên Âm Dương không gặp nhau nên bế tắc. Bỉ là bế tắc. Quẻ Quán (Địa Phong Quán) ở Dậu, bốn vạch Âm ở dưới. Quan là xem xét, Dương phải xem xét hoàn cảnh không hay của mình mà lo liệu. đặt ở phương Tây, ứng với tiết Thu phân Quẻ Bác (Sơn Địa Bác) ở Tuất, năm vạch Âm ở dưới, một vạch Dương cheo leo ở trên. Bắc là rơi rụng, Dương nằm ở thế cheo leo sắp sửa rơi rụng hết rồi Quẻ Khôn (Khôn Vi Địa) ở Hợi, sáu vạch Âm , toàn Âm , Âm khí cục đồ. đặt vào tháng 10, đầu mùa Đông, tiết trời trở sang lạnh giá Trên Thiên Ban, các Quẻ đối nhau qua trục Âm Dương thì tính chất cũng đối nhau như Càn và Khôn, Phục và Câu, Thái và Bỉ. Tốt nhất là Quẻ Thái vì Âm Dương quân bình và vào lúc sớm mai. Xấu nhất là Quẻ Bạc vì Dương bị rơi rụng và vào lúc đêm tối. từ Quẻ Phục đến Quẻ Càn thì Dương Trưởng Âm Tiêu. từ Quẻ Câu đến Quẻ Khôn thì Âm Trưởng Dương Tiêu. Âm Dương Tiêu Trưởng, Tiến Thoái nhưng luôn luôn trở về thế quân bính tại Quẻ Thái và Bỉ. Hai quẻ này nằm trên trục Đan Thần là trục đẹp nhất, là Dương đi của Mộc Tinh, tức Thái Tuế.Nhu vậy trong Tiên Thiên Bát Quái thì hào quái là tượng của Âm Dương HÀ ĐỒ Hà Đồ là một bảng về 10 số đếm từ một đến 10, được biểu diển bằng các chấm đen và trắng, xắp sếp thành hai vòng trong (nội) và ngoài (ngoại) theo đúng bốn phương chính là Nam (ở trên), Bắc (ở dưới), Đông (bên trái), Tây (bên phải). các con số trên Hà Đồ chỉ về phương vị của ngũ hành Khí do Âm Dương ở Bát Quái chuyển ra, đây là số chỉ về cái Khí ngũ hành. như vậy Thái Cực thuộc về Lí (Lẽ), Âm Dương thuộc về tượng (Hình) và ngũ hành thuộc về Số. Mười Số đếm trên được chia thành hai loại: Số Dương (Số Cơ) là Số lẻ, còn gọi là Số Trời (Thiện), được ghi bằng các vòng tròn trắng, bao gồm 1, 3, 5, 7, 9. Tổng Số Dương là 25 Số Âm (Số Ngầu) là Số lẻ, còn gọi là Số Đất (Địa), được ghi bằng các vòng tròn màu đen, bao gồm 2, 4, 6, 8, 10. Tổng Số Âm là 30. vì âm lớn hơn Dương (30/25) nên ta nói Âm Dương chủ không nói Dương Âm Mười Số trên lại được chia thành hai thành phần là Số Sinh (1, 2, 3, 4, 5) và Số Thành (6, 7, 8, 9, 10). Số 5 là Số cuối của Số Sinh, là Cực của Vô (Am Dương), Số 10 là Số cuối của Số Thành là Cực của Hưu (Ngũ hành) được đặt ở giữa. Số Sinh được định vị trí trên không gian bằng cách xấp xếp cho: Số 1 ở hướng Bắc Số 2 ở hướng Nam Số 3 hướng Đông Số 4 hướng Tây Số 5 ở Trung Ương hình thành vòng trong của Hà Đồ Với sự sắp xếp này ta nhận thấy trục Bắc Nam tương ứng với chuổi sao Bắc Đẩu nên Số 1 ở hướng Bắc thì Số 2 phải ở hướng Nam. trục Đông Tây là hướng đi của Mặt Trời từ đồng sang Tây nên Số 3 phải ở hướng Đông, và Số 4 ở hướng Tây. như vậy thì sự sắp xếp các Số Sinh theo phương hướng hình thành một hệ trục tọa độ trong không gian mà góc tọa độ ở chinh giữa với trục hoành là trục Đông Tây đi từ phải qua trái và trục tung là Bắc Nam hướng từ trên xuống dưới Số Thành được sắp xếp ở vòng ngoai bằng cách cộng Số Trung Ương (Số 5) với các Số Sinh, và cộng với chính nó thành Số 10 để ở chính giữa. Với sự xắp xếp trên thì Số 1 (Âm) ở trên, Số 2 (Dương) ở dưới nên Hà Đồ được xoay 180 độ để cho Số 2 ở trên, Số 1 ở dưới, Số 3 bên trái, Số 4 bên mặt cho phù hợp với qui luật vận động của tạo hóa là cái trong nhẹ (Dương) bay lên thành Trời, cái đục nặng (Âm) lắng xuống thành Đất (qui luật Dương Thăng, Âm Giáng). Số 5, Số cuối của Số Sinh và Số 10, Số cuối của Số Thành là Số của Trời Đất, là "Thể" thì đặt ở chính giữa, các Số còn lại là "Dụng" thì họat động ở ngòai. Số của Trời Đất (5 và 10) khi cộng lại thì bằng 15, bằng tổng Số của các Số Sinh nên Trời Đất sinh ra vạn vật. ở vòng ngoài, tổng số của các Số Dương bằng tổng số của các Số Âm và bằng 20, nghĩa là Âm Dương quân bình Năm hành chính cũng được định vị cùng với năm cấp Số Sinh và Thành trên Hà Đồ như sau: Số 1 (Trời) sinh hành Thủy, Số 6 (Đất) làm thành hành Thủy Số 2 (Đất) sinh hành Hỏa, Số 7 (Trời) làm thành hành Hỏa Số 3 (Trời) sinh hành Mộc, Số 8 (Đất) làm thành hành Mộc Số 4 (Đất) sinh hành Kim, Số 9 (Trời) làm thành hành Kim Số 5 (Trời) sinh hành Thổ, Số 10 (Đất) làm thành hành Thổ Như vậy mới hành đều được sinh ra và hình thành bởi sự kết hơp giữa Thiên và Địa và trong Hà Đồ ta có: Thủy (Số 1, 6) ở phương Bắc (bởi vì phương Bắc thì nhiều mưa và lạnh thuộc Thủy) Hỏa (Số 2, 7) ở phương Nam (bởi vì phương Nam là nơi nhiều nắng, nắng thuộc Hỏa. có nước rồi phải có hơi nóng thì cuộc sống mới hình thành) Mộc (Số 3, 8) ở phương đông (bởi vì phương đông là nơi Mặt Trời mọc và ấm áp, cây cối xanh tươi, thuộc Mộc) Kim (Số 4, 9) ở phương Tây (bởi vì phương Tây là nơi Mặt Trời lặn và mát mẻ, Kim Khí thì mát mẻ, thuộc Kim) Thổ (Số 5, 10) ở Trung ương (bởi vì ở giữa là Đất, đất nuôi dưỡng và thâu tàng các hành khác, động vật chết thì về Đất) Ở phương Bắc và Đông thì Dương ở trong (Nội), Âm ở ngoài (Ngoại). ở phương Nam và Tây thì Dương ở ngoài, Âm ở trong. ở Trung ương thì Dương ở trong (Số 5) Âm ở ngoài (Số 10). sự chuyển hóa của Âm Dương trong Hà Đồ cũng giống như sự chuyển hóa của Âm Dương trong Bát Quái. Dương (Số 1) sinh ở phía dưới, nằm ở trong, phía Bắc, rồi đi thuận qua trái phía đông (Số 3) rồi ra ngoài (Số 7, 9) và tan dần ở Tây Bắc. các hào Dương của Bát Quái cũng bắt đầu xuất hiện ở phía Bắc, nằm trong, tức ở dưới (Quẻ Chấn), đi thuận lên về phía trái, và lớn mạnh lên ở phía Nam (Quẻ Càn) rồi nằm ở ngoài tức hào trên (Quẻ Tốn) rồi tan dần ở Tây Bắc. Âm (Số 2) sinh ở bên trên, nằm ở trong, phía Nam rồi đi nghịch xuống qua phải, phía Tây (Số 4) rồi choáng ra ngoài (Số 6, 8) và tan dần ở phía Đông Nam. các hào Âm của Bát Quái cũng bắt đầu ở phía Nam (Quẻ Tốn) nằm trong, tức ở dưới, đi ngược xuống phía phải và lớn mạnh lên ở dưới phía Bắc (Quẻ Khôn) rồi nằm ở ngoài, tức hào trên (Quẻ Chấn) và tan dần ở Đông Nam. Cả hai khi mới sinh và còn non yếu thì đi ở phía trong (1, 2, 3, 4, 5), lúc lớn mạnh thì đi ra ngoài để hoạt động (6, 7, 8, 9, 10) nên gọi là nơi hướng Tinh, Ngọai hướng Đông, phù hợp với qui luật Doanh Hư Tiêu Tức. Ở phương đông thì Dương ở Trong, Âm ở Ngoài, Dương làm chủ nên khí hậu ấm áp (mùa Xuân). ở phương Tây thì Âm ở trong, Dương ở ngoài, Âm làm chủ nên khí hậu mát mẻ (mùa Thu) Ở phương đông thì Dương chủ (trong) Âm Khách (ngoại), Dương Trầm (dưới) Âm Phù (trên) nên thông thuận, tượng trưng cho Quẻ Thái ở hướng Đông Bắc. ở phương Tây thì Âm chủ (trong) và Dương Khách (ngoại), Âm Trầm (dưới) Dương phù (trên) nên bế tắc, tượng trưng cho Quẻ Bỉ hướng Tây Nam Số 1, 2, 3, 4 theo thứ tự thì tương ứng với từ Tượng: Thiếu Dương (Dương mới sinh), Thiếu Âm (Âm mới sinh), Thái Dương (Dương lớn), Thái Âm (Âm lớn). Số 5 thì tương ứng với Âm Trung Hữu Dương Cân (vì 1 + 4 = 5 hay Thiếu Dương + Thái Âm ) hoặc Dương Trung Hữu Âm Cân (vì 2 + 3 = 5 hay Thiếu Âm + Thái Dương). Do do Số 5 được coi là Số Thái Cực, của Trời Đất, chi về phần Dương, bao gồm hết từ Tượng, hết các Số sinh 1, 2, 3, 4. Số 5 là Số rất quan trọng vì Số này kết hợp với các Số Sinh khác (1, 2, 3, 4) mà bao trùm chuyển tiếp các Số Thành (6, 7, 8, 9) ở vòng ngoài (ví dụ 6 do 1 + 5, 7 do 2 + 5), không có số 5 ở giữa thì không có cái gì trong Vũ Trụ này cả. Số Thành 6, 7, 8, 9, 10 không những là số do số 5 chuyển tiếp mà ra mà cũng lại là do các số sinh giao hợp mà thành (ví dụ Số 6 do 1 + 5, 2 + 4, 3 + 3, 1 + 2 + 3). Số 6, 7, 8, 9 cũng có từ Tượng, theo thứ tự tương ứng với Lão Âm (Âm già), Suy Dương, Suy Âm , Lão Dương (Dương Già). Số 10 là số Thái Cực, của Trời Đất, chỉ về phần Âm , đất ở giữa, bao lấy số Dương 5. Ta lấy số Thành Âm lớn nhất (Số 10) so với số Sinh Dương nhỏ nhất (Số 1) ta có số 9 (10 - 1). Số 9 là số Dương lớn nhất và có ngậm Âm (Số 10) nên gọi là Lão Dương. So sánh Số Sinh Dương kế tiếp (Số 3) ta có Số 7 (10 - 3). Số 7 là Số Dương đứng liền với Số 9 Lão Dương nên gọi là Suy Dương (Dương đi theo chiều thuận từ 7 đến 9. Lấy Số Thành Âm lớn nhất mà so sánh với Số Sinh Âm lớn nhất (Số 4) ta có Số 6 ( 10 - 4). Số 6 có là do Âm lớn nên ta gọi là Lão Âm . So sánh với Số Sinh Âm kế tiếp (Số 2) ta có Số 8 (10 - 2). Số 8 có Số Sinh Âm nhỏ nên gọi là Suy Âm (Âm đi theo chiều nghịch từ 6 đến 8) Số 1 là Thiếu Dương, Dương mới sinh, là Số khởi đầu của vì thế tạo lập các số khác, khởi đầu công cuộc tạo lập vũ trụ vạn vật (bởi vì Số 2 tạo ra do 1 + 1, Số 3 do 1 + 2, Số 4 do 1 + 3… từ Số 1 ta tạo ra Số 2 rồi lần lượt Số 3, Số 4 và tất cả các Số khác) Số 2 là Thiếu Âm , Âm mới sinh, là Số tạo ra các Số Âm khác (bởi vì Số 4 tạo ra do 2 + 2, Số 6 do 2 + 4…), và Âm cộng Dương mới thành Dương (bởi vì 3 do 2 + 1, Số 5 do 2 + 3, Số 7 do 2 + 5…) Số 3 là Thái Dương, Dương đã lớn, đã có mầm Âm , do Thiếu Dương 1 và Thiếu Âm 2 cộng lại. Dương cộng Dương mới thành Âm )bởi vì Số 4 do 3 + 1, Số 6 do 3 + 3, Số 8 do 3 + 5…) Số 1 được coi là Số Trời (Dương), Số 2 là Đất (Âm), và Số 3 (do 1 + 2) là Số Thái Cực phần Âm Dương: Ta Có, Hữu Ngầu (trái Lẽ, phải Chấn). Số 3 có thể lìa nhau được thì gọi là Tam, không lìa nhau được thì gọi là Tham. Số 2 có thể lìa nhau được thì gọi là Nhị, không lìa nhau được thì gọi là Lương. Trong các Số Sinh thì Dương có 3 Số (1, 3, 5) được gọi là Tham Thiện, Âm có 2 Số (2 và 4) được gọi là Lương đia. Số 3 là Can Số của Dương, Số 2 là Can Số của Âm nên gọi là Tham Thiên Lương Địa. Số 5 là Số của Trời, chia ra thì được 3 và 2 nên cũng gọi là Tham Thiên Lương Địa. Số 4 là Thái Âm , Âm lớn, do do hai Thiếu Âm cộng lai (2 + 2) hoặc do Thiếu Dương (1) và Thái Dương (3) cộng lại mà ra. Cục Dương thì biến thành Âm (bởi vì 4 do 3 + 1) còn cục Âm thì vẫn là Âm ( bởi vì 4 + 2 là 6, vẫn là Âm ), không biến nên ta nói Dương thì Đông mà Âm thì Tinh. Khi Âm Dương sinh hành Khí thì nước (Thủy) có trước nhất nên Thủy đươ.c mang Số 1 Có nước rồi thì cần hơi nóng (Hỏa) thì vạn vật mới sinh nên Hỏa mang Số 2 Có nước và hơi nóng thì thảo Mộc (Mộc) mới sinh ra nên Mộc mang Số 3 tiếp đến Kim khí hình thành nên Kim mang Số 4 vạn vật sinh Hỏa từ đất (Thổ) mà ra và cuối cũng trở về đất nên Thổ mang Số 5 Ngũ hành là khí do Âm Dương tác Hỏa nên cũng sinh Hỏa không ngừng. Năm hành trên tương tác với nhau như sau: Ngũ hành tương sinh: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ Ngũ hành tương khắc: Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ Đông hành thì tị hỏa Sinh khắc là hai trạng thái bù đắp nhau làm cho ngũ hành sinh đồng và trường tồn. Khi thông thuận thì cần Sinh để thăng tiến, khi bế tắc thì đôi khi cần khắc để biến hóa đi đến chổ tốt hơn. Sinh để xây dựng nên, khắc để biến hóa đi, có Sinh thì có hóa, có khắc mới hóa, và có hóa mới lại sinh ra. có vậy thì vạn vật mới trường tồn bất diệt.Như vậy các quẻ trong Tiên Thiên Bát Quái là Tượng của Âm Dương chuyển hóa, các chấm trên Hà Đồ là những con Số của ngũ hành sinh khắc. Âm Dương họat động sinh ngũ hành, như vậy Bát Quái là Thể và Hà Đồ là Dụng. giữa Bát Quái và Hà Đồ có nhiều điểm tương đồng về Âm Dương như Khôn Âm và Thủy Âm đều ở phương Bắc, Càn Dương và Hỏa Dương đều ở phương Nam, Chấn Dương và Mộc Dương ở Đông, Khảm Âm và Kim Âm ở Tây. các quẻ đối đãi nhau ở Bát Quái và các số liền nhau của Hà Đồ đều cũng đối qua trục Bắc Nam và Đông Tây như Càn đối với Khôn thì 1 - 6 đối với 2 - 7. Li đối với Khảm thì 3 - 8 đối với 4 - 9… Nếu xét về có Ngâu thì các Số của Hà Đồ biểu thị cho phần Âm Dương sinh thành ra ngũ hành, nếu xét về phương vị và sự phối hợp giữa các con số thì đó là sự sinh khắc chế Hỏa của ngũ hành NGŨ HÀNH CỦA TIÊN THIÊN BÁT QUÁI Đúng lý ra thì các quẻ phải an theo phương vị tự nhiên, nằm ở phương nào thì có hành khí ở đó, nhưng các sách về Lý Số đều ghi rằng: Khảm thuộc Thủy Chấn Tốn thuộc Mộc Ly thuộc Hoa Khôn Cấn thuộc Thổ Càn và Đoài thuộc Kim LẠC THƯ (SỐ CỦA NGŨ HÀNH HẬU THIÊN) Lạc Thư chỉ về sự sinh hóa của các Số Ngũ Hành (thuộc về vạn vật, con ngươi). Trên Lạc Thư có 9 con số, không có sô 10 và chỉ về việc người (Nhân Sự), thuộc về Đất, nói về Hậu Thiên nên Lạc thư có hình Vương. Tổng số của các con số trên Lạc Thư (Hậu Thiên) là 45, trong khi trong Hà Đồ (Tiên Thiên) là 55. Tuy không có số 10, nhưng trong Lạc Thư số 5 ở giữa vẩn chu tòan công việc lám cho các số 1 và 6, 2 và 7, 3 và 8, 4 và 9 vận dụng cạnh nhau như trong Hà Đồ. Số 5 là số chuyển tiếp, được đất vào giữa để các số Dương 1, 3, 5, 7, 9 đủ cộng hay trừ với số 5 thì cũng thành số Âm thể hiện Dương sinh Âm, và các số Âm 2, 4, 6, 8, 10 đủ cộng hay trừ với số 5 thì cũng thành số Dương thế hiển Âm sinh Dương. Tổng số Dương ở ngoài (tức là không tính số Dương 5 ở giữa) bằng tổng số Âm và bằng 20, nghĩa là Âm Dương quân bình. Các con số trong Lạc Thư hình thành một Ma Phương Trận, trong đó khi cộng dọc, cộng ngang, hay cộng chéo ta luôn luôn được 15. Trong Hà Đồ thì ở giữa có số Sinh (5) và số Thành (10) của hành Thổ, đó là thuộc Tiên Thiên, tư nhiên, chưa hoạt động. Ở Lạc Thư ở giữa không có số Thành (số 10) của Thổ, và sơ đồ đi hoạt động ở bên ngoài, đó là thuộc Hậu Thiên, vạn vật hoạt động. Trên Địa Bàn thuộc Hậu Thiên thì Thổ ở bốn phương Thìn Tuất Sữu Mùi (Tứ Mộ, Tứ Khố) để phụ giúp các hành kia. Trong Lạc Thư thì Âm Dương đã phân tán ra đủ 4 Phương và 4 Hướng: các số Dương (số Lẻ) thì đóng ở bốn phương chính (Chính Phương), số Âm (số Chẳn) thì đóng ở bốn hướng phụ (bằng Phương), làm hộ các số Âm Dương đi xen kẻ với nhau để tác động cho nhau mà sinh hóa. Các số thứ tự đều từ dưới đi lên (1 lên 2,3 lên 4, 5 ở giữa, 6 lên 7,8 lên 9), có nghiã Thái Cực tính ở dưới này đã chuyện động và phần Âm Dương. Ăm trong Ngũ Hành chuyển động mạnh khắp 4 phương, 4 hướng để tạo vật. Trái lại, Hà Ðồ chỉ có bốn Phương chính và Trung Cung, mọi nơi đều cố một số Âm và một số Dương bao bọc lấy nhau. Các số thự tự thì đối xung nhau theo hai trục Bắc Nam và Ðông Tây: 1 qua 2, 3 qua 4, 5 ở giữa, 6 qua 7, 8 qua 9. Trong Hà Ðồ thì Âm Dương Ngũ Hành khi đó chưa sinh hóa, còn giữ cơ số và hợp nhất trong Thái Cực. Trong Lạc Thư thì tổng số tung hoành đều là 15, số 15 đã đi hoạt động ở ngoài, chỉ còn số 5 ở giữa và độ số 5 ấy mà có các số 6, 7, 8, 9 là số thành nên thuộc về Hậu Thiên. Số của Hà Ðồ ở giữa thì tổng số là 15 (10 + 5), bằng tổng số các số Sinh ( 1, 2, 3, 4) nên thuộc Tiên Thiên. Số của Lạc Thư cũng có số 10 (1 + 9, 2 + 8, 3 + 7), thêm số 5 ở giữa thành 15. Ở Hà Ðồ, số của Trời Ðất có 10 (bởi vì 1 + 2 + 3 + 4 = 10), thêm số Sinh kế tiếp (số 5) thì thành 15. Ở Lạc Thư thì lấy số 5 Cơ (số lẻ) thông lanh 4 số Ngẫu (số Chẳn), làm dọc ngang cho nhau, ở liền nhau (1 - 6, 2 - 7, 3 - 8, 4 - 9), gây đến cái Dụng của biển số. Số của Trời Ðất cũng lấy số Sinh 5 thông lanh 5 số Thành mở ra cái Thế của Thường Số. Vạch của Tiên Thiên Bát Quái thì Cơ Ngẫu đối nhau. Ở Lạc Thư thì Số Sinh và Số Thành cũng đối nhau. Tiên Thiên Bát Quái thì lấy thuần Âm, thuần Dương mà đặt ở dưới, còn Lạc Thư thì lấy số lớn nhất (số 9) và số nhỏ nhất (số 1), nghiã là số Sinh và Thành mà đặt ở dưới Trong Lạc Thư, nếu bỏ số 5 ở giữa thì số Sinh 1 sẻ ở giữa hai số Thành 6 và 8. Số Thành 9 sẻ ở giữa hai số Sinh 2 và 4. Hai số Sinh 3 và 4 cũng ở một phía, hai số Thành 6 và 7 thì ở cập bên nhau. Ở Tiên Thiên Bát Quái thì Can là qủe Dương đặt ở giữa hai quẻ Âm là Tốn và Ðoài. Khôn là quẻ Âm đặt ở giữa hai quẻ Dương là Cấn và Chấn. Li Ðoài là hai quẻ Âm cũng ở một chổ. Khảm cấn là hai quẻ Dương cũng ở một chổ. Như vậy là cũng làm biểu lí cho nhau. Trong Lạc Thư thì Số Sinh 1, 3, 4 được xếp thuận, Số Thành 6, 7, 9 được xếp nghịch, số 2 và 8 đối chọi nhau. Ở Hậu Thiên Bát Quái thì Khôn Mẹ cung Trung Nữ, Thiếu Nữ (Li Ðoài) được xếp thuận, còn Càn Cha và Trung Nam, Thiếu Nam (Khảm Cấn) được xếp nghịch. Phần Trưỡng Nam, Trưỡng Nữ (Chấn Tốn) thì đối chọi nhau. Như vậy cũng làm biểu lí cho nhau. Như vậy Tiên Thiên và Hậu Thiên cũng làm biểu lí, thể dụng cho nhau mà làm cho vũ trụ vạn vật sinh động không ngưngNguon:caydavietnam
-
ÂM DƯƠNG VẬN HÀNH TRONG LẠC THƯ: Số Dương thì đi từ dưới lên trên, từ Trái quá Phái: 1 ở Bắc, lên 3 Ðông, vào giữa 5, qua 7 Tây, lên 9 Nam. Dương cục ở số 9 (nên hào Dương được gọi là Hào Cửu, và số 9 được gọi là Lão Dương) Số Âm thì đi từ trên xuống dưới, từ trái qua phải: 2 ở Tây Nam, qua 4 Ðông Nam, xuống 8 Ðông Bắc, qua 6 Tây Bắc. Âm cục ở số 6 (nên hào Âm được gọi là Hào Lục, và số 6 gọi là Lão Âm như trên đã viết) Ở Hà Ðồ thì tất cả các số Sinh Thành đều thuận hành, sự chuyển động của Âm Dương Ngũ Hành mới về cái nguyên lý tự nhiên của Thái Cực. Ở Lạc Thư thì số Dương Sinh (1, 3) thì thuận hành mà số Dương Thành (7, 9) thì nghịch hành, còn số Âm Sinh (2, 4) lại nghịch hành, còn số Âm Thành (6, 8) lại thuận hành. Sự chuyển động của Âm Dương Ngũ Hành ở Lạc Thư nói về cái nguyên lí của Thái Cực đã phân tán và chuyện động rộng rãi để tạo nên các vật NGŨ HÀNH SINH HÓA TRONG LẠC THƯ: hai hành Hoả và Kim thay đổi vị trí với nhau Số 1 - 6 thuộc Thuỷ ở hướng Bắc Số 3 - 8 thuộc Mộc ở Ðông Số 5 thuộc Thổ ở giữa Số 2 - 7 thuộc Hoả ở Nam cuả Hà Ðồ chuyển qua Tây Số 4 - 9 thuộc Kim ở Tây cuả Hà Ðồ được chuyển qua Nam Sự kiện nay làm cho Phương Vị sinh khắc của Ngũ Hành nơi Lạc Thư trái ngược với Ngũ Hành nơi Hà Ðồ: hai hành đối nghịch nhau thì lại tương sinh, còn hai Hành đi theo vòng tròn mà lại đi nghịch (nghịch hành) thì lại tương khắc. Sự thay đổi này thể hiện sự thay đổi từ Tỉnh qua Ðộng, Từ Sinh qua Hoá, từ Thể qua Dụng, từ Lý qua Biểu, từ Thái Cực qua Vũ Trụ. Ở Hà Ðồ, hai nhóm số 2 - 7 thuộc hoả ở Nam và 4 - 9 thuộc Kim ở Tây cung giao nhau ở giữa là Thổ mà tương sinh. Ở Lạc Thư thì hai nhóm số ấy đối chọi cho nhau thành ra Hoả khắc Kim theo chiều nghịch ở vòng ngoài. Ðối là Ngũ Hành đã ra ngoài mà hoạt động nên có khác che. Nếu ta lấy 2 - 7 cộng lại thì là số 9 thuộc Kim vẩn còn an ở đó, và lấy số 9 chia ra thì 2 - 7 thuộc Hoả cũng còn bóng dáng ở đó Hà Ðồ tượng trưng cho Nôi Giới (Thiện), Lạc Thư tương trưng cho Ngoại Giới (Ðiạ), Hà Ðồ thuộc về lí Thái Cực, vô hình. Lạc Thu thuộc về Khí Vũ Trụ, hữu hình. Hà Ðồ là Thể, Lạc Thư là Dụng. Hà Ðồ thuộc về Nội Hướng Tiên Thiên, Lạc Thư thuộc về Ngoại Hướng Hậu Thiên. Hà Ðồ là Ðạo Nội Thánh, nội trị. Lạc Thư là Dạo Ngoại Vương, ngoại trị. HẬU THIÊN BÁT QUÁI Căn cứ vào Hà Ðồ và Lạc Thư, vua Chu Văn Vương đã xếp đặt lại 8 quẻ Tiên Thiên, đặt ra Hậu Thiên Bát Quái, chỉ về hoạt động của Nhân Sự (việc người) và sắp xếp lại 64 Trung Quái cho hợp với cuộc sống con người, rồi viết Hào Từ, Thoán Từ để giáng giải về các vạch và quẻ. Phương vị và thứ tự của Hậu Thiên Bát Quái được sắp xếp theo lí trí của con người. Thứ tự cuả Hậu Thiên Bát Quái là Càn Khảm Cấn Chấn (thuộc Dương Nghi), Tốn Ly, Khôn Ðoài (thuộc Âm Nghi) trong đó Ly ở Nam và Khảm ở Bắc, khác với Tiên Thiên Bát Quái là Cấn ở Nam Khôn ở Bắc. Bát quái này chỉ về nhân sinh, do Thủy Hoả cần thiết cho đời sống con người nên được coi trọng và đặt Khảm Ly ở hai trục chính là trục Bắc Nam. Vật sinh do Thủy mà vật trưởng do Hỏa. Khí động thì Dương sinh và thành Hỏa, khí ngưng thì Âm sinh và thành Thủy. Như vậy Thủy Hỏa là Âm Dương, khi khơi động thì là Khảm Ly trong Hậu Thiân Bát Quái (và là Càn Khôn trong Tiên Thiên Bát Quái). Theo thứ tự sắp xếp thì: Càn là trời, đất ở Tây Bắc nơi đó có núi thấp và có bình nguyên sa mạc nên bầu trời cao sang. Càn ở giữa Khảm và Ðoài là nước trên trời đổ xuống đầm ao. Khảm là Nước, đặt ở chính Bắc, lục nữa đêm vì phiá này lạnh và mưa nhìều Cấn là Núi, đặt ở Ðông Bắc vì nơi này có núi cao nổi tiếng. Cấn ở giữa Khảm và Chấn, núi cao hứng lấy mưa gió và sấm sét và cấn cần dụng giữa nưóc (Khảm) và cây (Chấn) thì cây mới sống được. Chấn là Sấm, đất ở chính Ðông vì nơi đây là biển thường có sấm. Sấm động ở biển Ðông làm cho vạn vật tăng trưởng Tốn là Gió, đất ở Ðông Nam vì gió Ðông Nam nhiều và mát. Ðối diện với Càn là Tốn, gió Ðông Nam là gió mặt trên trời (Càn) thôi xuống. Tốn ở giữa Chấn và Li, sấm sét (Chấn) sinh ra lửa (Li), lửa sinh ra gió (Tốn’) Ly là Lửa, đất ở chính Nam vì hướng này nóng và vào lúc giữa trưa mặt trời chói chang Khôn là Ðất, đất ở Tây Nam vì nơi đây nhiều cao nguyên lớn (Ðất). Khôn ở giữa Li và Ðoài ngăn cách nước ở đầm ao và Hỏa Kim không cho khắc chế nhau. Ðoài là Ðầm Ao, đất ở chính Tây vì nơi đây nhiều núi nên có nhiều đầm hồ, tưới nước nuôi vạn vật. Vì Hậu Thiên Bát Quái chỉ về nhân sinh nên Càn tương Cha, Khôn tương Mẹ. Khảm tượng Thứ Nam, Cấn tượng Thiếu Nam, Chấn tượng Trưởng Nam, Tốn tượng Trưởng Nử, Ly tượng Thứ Nữ, Đoài tượng Thiếu Nữ. Quẻ có một vạch Dương thì là quẻ Dương, tượng là con trai. Quẻ có một gạch Âm thì là quẻ Âm, tượng là con gái. Bốn quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn ở phần Dương Nghi đều là quẻ Dương (1 vạch Dương làm chủ), đó là cha đất ba trai. Bốn quẻ Tốn, Ly, Khôn, Đoài ở phần Âm đều là Âm quái (1 vạch Âm làm chủ), đó là mẹ dịu bà gái. Theo thứ tự của Hậu Thiên Bát Quái thì ta thấy Cha (Càn) đi trước, còn Trưởng Nam (Chấn) thì đọc hau, gái lớn (Trưởng Nữ) thì lấy chồng xuất gia trước, con gái út (Thiếu Nữ) thì nấp bóng mẹ và lấy chồng sau cùng, đúng như tổ chức của gia đinh loài ngươi. Trong Tiên Thiên Bát Quái thì cứ hai quẻ đối nhau thì công bằng 9 (Càn Khôn (1 + 8), Đoài Càn (2 + 7), Li Khảm (3 + 6), Chấn Tốn (4 + 5)) mà số 9 là số của Lão Dương (hào 9 hay hào Cửu), mà Dương chi về Trời. Ở Hậu Thiên thì cụ hai quẻ đối nhau, ngoài trừ Li Khảm là trực chính của Trời thì cộng bằng 9 (3 + 6), đều cộng lại bằng 6 (Càn Tốn (1 + 5), Khôn Cấn (8 + 7 = 15, 1 + 5 = 6), Chấn Đoài (4 + 2)) mà số 6 là số của Lão Âm (hào Lực) mà Âm thì thuộc về Đất (người và vật). NGŨ HÀNH CỦA HẬU THIÊN BÁT QUÁI Ở Tiên Thiên hào quái là Tướng của Âm Dương tự nhiên tự do tạo ra hành khí chứ không mang sang hành khí, còn Ngũ hành của Hậu Thiên Bát quái do con người xếp đặt ra theo thực tế môi trường xung quanh và cùng phụ hợp với hành tự nhiên giống như Hà Đồ: Khảm là nước nên mang hành Thủy, đặt ở Phương Bắc, mùa Đông, nửa đêm, khí hậu lạnh Ly là lửa nên mang hành Hỏa, đặt ở Phương Nam, mùa Hạ, giữa trưa, khí hậu nóng Càn và Đoài ở Phương Tây, có nhiều núi non hầm mỏ kim khí nên thuộc Kim Chấn và Tốn ở Phương Đông, vùng giáp biển cả, cây cỏ xanh tốt nên thuộc Mộ Cấn ở Tây Nam và Khôn ở Đông Bắc là hai nơi có nhiều cao nguyên và núi lớn, đều là đất nên thuộc Thổ Nói rỏ hơn: Can thuộc Kim đối Thủy vì gần Khảm Khảm thuộc Thủy đối Thổ vì gần Cấn Cấn thuộc Thổ đối Mộc vì gần Chấn Chấn thuộc Mộc đối Hỏa vì gần Li Ly thuộc Hỏa đối Thổ vì gần Khôn Khôn thuộc Thổ đối Kim vì gan Đoài Đoài thuộc Kim Riêng hành Thổ của Cấn Khôn thì xuyên qua hành Thổ ở Trung cung của Hà Đồ lại có tác dụng làm thấy đối sự sinh khắc giữa Thủy Mộc và Kim Hỏa: đặt Khôn Thổ giữa Ly Hỏa và Đoài Kim làm cho hai hành này đang tương khắc (Hỏa khắc Kim) lại thành tương sinh (Hỏa Ly sinh Thổ Khôn, Thổ Khôn sinh Kim Đoài). Đặt Cấn Thổ vào giữa Khảm Thủy và Chấn Mộc làm cho hai hành nay đang tướng sinh (Thủy sinh Mộc) lại thành ra tương khắc (Mộc Chấn khắc Thổ Cấn, Thổ Cấn khắc Thủy Khảm). Ở Hậu Thiên Bát Quái thì Khôn Cấn nguyên là Thổ, đối mặt nhau ở Tây Nam Đông Bắc, xuyên qua trung tâm Thổ để điều hòa sự sinh khắc giữa Hỏa Kim và Thủy Mộc của Ly Đoài, Khảm Chấn. Ở Hà Đồ thì Thổ ở trung cung yểm trợ cho các hành khác. Thổ đóng vai trò quan trọng là như vậy.ÂM DƯƠNG TRONG HẬU THIÊN BÁT QUÁI Ở Hậu Thiên Bát Quái thì bên Dương Nghi có đủ bốn quẻ Dương, bên Âm Nghi có đủ bốn quẻ Âm, nghĩa là Âm Dương đã phân tán như Âm Dương phân tán ở Lạc Thư. Âm Dương đã phân rõ lập thành một thế quân bình tuyệt đối để đi tới một thế mất quân bình tạm thời, rồi lại trở về quân bình, và cứ như thế mãi nên mới có sự sinh động và sinh hòa. Trái lại, ở Tiên Thiên thì phần Dương Nghi có hai quẻ Dương và hai quẻ Âm, phần Âm Nghi có hai quẻ Âm và hai quẻ Dương. Đó là sự quân bình Âm Dương và trong Âm có Dương, trong Dương có Âm theo lẽ tự nhiên của lí Thái Cực Đường phân Âm Dương Nghi hơi lệch theo hướng Tây Bắc - Đông Nam tạo ra một thế tạm thời mất quân bình để có thể trở về thế quân bình trong sinh hoạt của vạn vật. Trục Tây Bắc - Đông Nam là trục dọc của địa cầu, hơi lệch so voi thiên câu, như vậy sự sắp xếp hợp với tự nhiên. Ở Tiên Thiên thì Dương phân Âm Dương Nghi theo trục Bắc Nam là theo lẽ tự nhiên của Vũ Trụ (Thiên Lý), là trục chính của bầu trời Vũ Trụ. Ở Hậu Thiên, cả Âm và Dương đều từ trên hạ xuống. Ở Tiên Thiên Âm Dương lưu hành trong Vũ Trụ theo thể tự nhiên theo chiều thuận, từ trái qua phải, từ Đông qua Tây, Dương nhẹ ở dưới bốc lên, Âm nặng từ trên hạ xuống Âm Dương là nguyên lí có bản thì ở Tiên Thiên và Hậu Thiên đều tương tự và cùng hoạt động theo định luật cơ hữu Tiêu Trưởng Tiến Thoái chỉ có một điều khác là ở Hậu Thiên, khi lớn mạnh thì đi ra ngoài hoạt động. Thiếu Dương từ Chấn (1 vạch) qua Li (hai vạch) là Dương sinh tức Thiếu Dương tới Đoài (2 vạch) và Càn (3 vạch) là Dương Trưởng, tức Thái Dương. Trong khi đó thì Âm ở Chấn (2 vạch) qua Li tới Đoài (đều 1 vạch) và chấm dứt ở Càn. Đó là Dương Trưởng, Âm tiêu. Thiếu Âm từ Tốn (1 vạch) qua Khảm (2 vạch) và Khôn (3 vạch) là Âm Trưởng tức Thái Âm. Trong khi đó thì Dương ở Tốn (2 vạch) qua Khảm (1 vạch) qua Cấn (1 vạch) và chấm dứt ở Khôn. Đó là Âm Trưởng Dương Tiêu Đó cũng là Âm cực thì Dương Sinh, Âm Thịnh thì Dương Suy và ngược lại Dương Thăng (đi lên Nam) và Âm Giáng (đi xuống phía Bắc) Ta cũng thấy rằng nếu theo Hào thì Dương từ Chấn dưới đi lên Càn cao (Nam) là Dương đi Thuận (Thăng), còn Âm thì từ Tốn trên đi xuống Khôn dưới (Bắc) là Khôn đi nghịch (Giáng). Theo Quái thì phần Dương có Can 1, Đoài 2, Li 3, Chấn 4, từ Cha đến con là Dương đi thuận. Phần Âm có Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8, từ Con lên Mẹ là Âm đi nghịch. SỰ SINH KHẮC GIỮATHIÊN CAN THIÊN CAN TƯƠNG HỢP (THIÊN CAN NGŨ HỢP): Người ta lấy cấp số sinh thành của ngũ hành hợp nhau trong Hà Đồ phối hợp với vị trí thứ tự của THIÊN CAN tạo ra THIÊN CAN tương hợp. Trong Hà Đồ thì 1 - 6, 2 - 7, 3 - 8, 4 - 9, 5 - 10 đi cặp đôi với nhau. Đối với THIÊN CAN thì Giáp 1, Ất 2, Bính 3,...,Quí 10. Hai Can cùng cấp số thì tương hợp. Như vậy: Giáp (1, +) hợp Kỷ (6, -) Ất (2, -) hợp Canh (7, +) Bính (3, +) hợp Tân (8, -) Đinh (4, -) hợp Nhâm (9, +) Mậu (5, +) hợp Quí (10, -) Giáp hợp Kỷ còn được gọi là Giáp Kỷ tương hợp. Nhận xét: THIÊN CAN tương hợp thì tuân theo luật giao cảm (nguyên tắc Âm Dương gặp nhau thì hút nhau), và ở cùng vị trí (đi cặp với nhau) trên Hà Đồ. Tương hợp thì Cách 5 (5 là số trung cung trên Hà Đồ). Căn cứ vào ngũ hành thì ta nhận thấy rằng THIÊN CAN tương hợp thì phải đủ hai yếu tố là phải ngũ hành tương khắc (nghĩa là khắc nhau để đưa đến sự hòa sinh như trên đã đề cặp), nghĩa là phải có sự trái ngược về Âm Dương thì mới có sự tương hợp. Giáp hợp Kỷ (Dương Mộc khắc Âm Thổ) Ất hợp Canh (Âm Mộc bị Dương Kim khắc) Bính hợp Tân (Dương Hoa khắc Âm Kim) Đinh hợp Nhâm (Âm Hỏa bị Dương Thủy khắc) Mậu hợp Quí (Dương Thổ khắc Âm Thủy) THIÊN CAN TƯƠNG KHẮC (THIÊN CAN XUNG) Giáp phá (còn gọi là khắc hay xung) Mậu (Dương Mộc khắc Dương Thổ) Ất phá Kỷ (Âm Mộc khắc Âm Thổ) Bính phá Canh (Dương Hoa khắc Dương Kim) Đinh phá Tân (Âm Hỏa khắc Âm Kim) Mậu phá Nhâm (Dương Thổ khắc Dương Thủy) Kỷ phá Quí (Âm Thổ khắc Âm Thủy) Canh phá Giáp ( Dương Kim khắc Dương Mộc) Tân phá Ất (Âm Kim khắc Âm Mộc) Nhâm phá Bính (Dương Thủy khắc Dương Hỏa) Quí phá Đinh (Âm Thủy khắc Âm Hỏa) Nhận xét: Khi Hàng Can phá nhau thì cùng Âm Dương (nguyên tắc động khí thì đẩy nhau) và hành tương khắc. Tương khắc thì Cách 4 Như Giáp 1 Mậu 5, cách 4. Như vậy phải cùng Âm Dương và ngũ hành tương khắc thì mới có sự xung nhau (Như vậy xung nhau thì không đưa đến sự hòa sinh) THIÊN CAN TƯƠNG XUNG Giáp (+ Mộc) xung Canh (+ Kim)(1 - 7) Ạt (- Mộc) xung Tân (- Kim)(2 - 8) Bính (+ Hỏa) xung Nhâm (+ Thủy) (3 - 9) Đinh (- Hỏa) xung Quí ( - Thủy)(4 - 10) Mậu ( + Thổ) Kỷ (-, Thổ) bất tương xung Nhận xét: tương xung thì Cách 6, và đòi hỏi cung Âm Dương, hành xung khắc. Nếu khắc Âm Dương hoặc hành không khắc thì không xung) THIÊN CAN NGŨ HỢP HÓA (hóa là biến thành cái khác) Nếu hợp căn cứ theo cấp số của Hà Đồ ghép hai Can tương hợp với nhau thì hóa căn cứ vào ngũ vận của Đông Y, biến đổi tính chất ngũ hành của Thập Can gọi là Can đa biến hóa hay thiên can ngũ hóa. Theo Ngũ Vận của Đông Y thì thiên can ngũ hóa như sau: Giáp Kỷ hợp hóa Thổ Ất Canh hợp hóa Kim Bính Tân hợp hóa Thủy Đinh Nhâm hợp hóa Mộc Mậu Quí hợp hóa Hỏa Giải thích Cụ Hải Thượng Lãn Ông thì căn cứ vào vợ (Can Âm) chồng (Can Dương) phối hợp, con cháu sinh thành để giải thích thiên can ngũ hợp hóa như sau: Giáp (chồng), Kỷ (vợ) Vượng ở Dần, sinh Dương Hỏa là Bính (trưởng nam), Hỏa Bính sinh hóa Thổ (trưởng Tôn). Vậy Giáp Kỷ hợp hóa Thổ Canh (chồng), Ất (vợ), Vượng ở Tỵ, sinh Dương Thổ là Mậu (trưởng nam), Thổ sinh Kim (trưởng tôn). Vậy Ất Canh hợp hóa Kim Bính (chồng), Tân (vợ), Vượng ở Sửu, sinh Dương Kim là Canh (trưởng nam), Kim sinh Thủy (trưởng tôn). Vậy Bính Tân hợp hóa Thủy Nhâm (chồng), Đinh (vợ), Vượng ở Hợi, sinh Dương Mộc là Giáp (trưởng nam), Mộc sinh Hỏa (trưởng tôn). Vậy Đinh Nhâm hợp hóa Mộc Mậu (chồng), Quí (vợ), Vượng ở Mùi, sinh Dương Thủy là Nhâm (trưởng nam), Thủy sinh Mộc (trưởng tôn). Vậy Mậu Quí hợp hóa Hỏa Theo Thiệu Vĩ Hoa thì Thập Can hóa hợp là do phương vị của 28 Thiên thể quyết định theo vận khí học thuyết. Chú ý: khi hợp (tức là khắc Âm Dương, ngũ hành tương sinh hoặc tương khắc) thì sẽ đưa đến hóa như đã đề cặp bên trên THẬP CAN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG: Sử dụng phương vị trên Hà Đồ căn cứ vào ngũ hành Giáp Ất hành Mộc nên ở phương Đông (vì hành Mộc ở phương Đông) Bính Đinh hành Hỏa nên ở phương Nam Mậu Kỷ hành Thổ nên ở trung ương Canh Tân hành Kim nên ở phương Tây Nhâm Quí hành Thủy nên ở phương Bắc THẬP CAN VÀ MÙA Giáp Ất thuộc mùa Xuân Bính Đinh thuộc mùa Hạ Mậu Kỷ thuộc Trưởng Hạ Canh Tân thuộc mùa Thu Nhâm Quí thuộc mùa Đông THẬP CAN VÀ THÂN THỂ Giáp là đầu Ất là vai Bính là trán Đinh là răng lưỡi Mậu Kỷ là mũi mặt Canh là gân Tân là ngực Nhâm là bắp chân Quí là chân THẬP CAN VÀ TẠNG PHỦ Giáp là mật Ất là gan Bính là ruột non Đinh là tim Mậu là dạ dầy Kỷ là lá lách Canh là ruột già Tân là phổi Nhâm là bàng quang Quí là Tạng Số lẻ là phủ, số chẳn là Tạng NGUYÊN TẮC ĐỊNH ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH PHƯƠNG HUỚNG CỦA THẬP NHỊ CHI Thập Nhị Chi bao gồm tên của 12 con vật, mỗi tên được ứng vào một số như sau: Ti'(1), Sửu (2), Dần (3), Mão (4), Thìn (5), Tỵ (6), Ngọ (7), Mùi (8), Thân (9), Dậu (10), Tuất (11), Hợi (12) PHÂN ĐỊNH ÂM DƯƠNG: theo số trên Hà Đồ, Dương là lẻ, Âm là Chẳn nên: Âm Dương Tí Dần Thìn Ngọ Thân Tuất thuộc Dương S& #7919;u Mão Tị Mùi Dậu Hợi thuộc Âm NGŨ HÀNH: Vị trí của 12 Địa Chi là vị trí cố định theo hai trục Bắc Nam (Thủy Hỏa) và Đông Tây (Mộc Kim). Mười hai Chi được viết theo chiều thuận trên một vòng tròn, mỗi Chi cách nhau một góc 30 độ, Tị bắt Dậu từ hướng Bắc. Để xác định hành cho các Chi một cách hợp lý nhất, người xưa đã chọn hành của các cung như sau: Hợi Tị (huớng Bắc) thuộc Thủy Dần Mão (huớng Đông) thuộc Mộc Tỵ Ngọ (huớng Nam) thuộc Hỏa Thân Dậu (hướng Tây) thuộc Kim Còn hành Thổ ở chính giữa thì chia làm 4, nằm ở 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi để điều hòa quá trình sinh khắc giữa các hành (Thìn Tuất Dương Thổ, Sửu Mùi Âm Thổ) Nếu xét về các tiết trong năm thì trục Tí Ngọ tương ứng với hai tiết Đông Chí (Tí) và Hạ Chí (Ngọ), còn trục Mão Dậu thì tương ứng với hai tiết Xuân Phân (Mão) và Thu Phân (Dậu) trong năm. Theo lịch Kiến Đan (lịch sử dụng tháng 11 có tiết Đông Chí) thì tháng Giêng có tiết Lập Xuân là tháng Dần. Như vậy theo lịch này thì 4 cung Thìn Tuất Sửu Mùi là 4 tháng giao mùa. Các tháng nay hành Thổ Có người cho rằng: Dần dương Mộc Mão Âm Mộc Thìn dương Thổ, đất thấp Tỵ Âm Hỏa Ngọ dương Hỏa Mùi Âm Thổ, đất khô ráo Thân dương Kim Dậu Âm Kim Tuất dương Thổ, đất cao Hợi Âm Thủy Tỵ dương Thủy Sửu Âm Thổ đất ướt mềm Nguon:vietnamcayda
-
Ôi quá hay rồi ! Có Sư Huynh vothuong đánh mấy giúp một tay thì còn gì bằng nữa. Hy vọng rằng những tài liệu của sư phụ sẽ sớm có mặt trên diễn đàn. Cám ơn Sư Huynh Vothuong nhieu nha. Thân. Lê bá Trung
-
Chúng ta đã rèn luyện để cùng quen với sự nhẫn tâm ư ?!
Lê Bá Trung replied to wildlavender's topic in Mạn Đàm
Đúng là thật nhẫn tâm và tàn nhẫn. Họ chỉ lợi trước mắt thôi. Những con vật bé nhỏ đó đâu có làm gì nên tội, nó hoàn toàn vô tội. Chỉ do nhận thức của con người quá kém... -
Hay hay. Tối nay em với vợ em phải tập chơi đánh cờ người một phen.
-
Học phong thủy đại khái có thể chia làm hai bộ phận: một phần là “hình cách”, do môi trường địa lý của ngôi nhà, bố trí thiết kế nội thất tổ chức thành; phần thứ hai là “lý khí ” tính từ tọa hướng, thời gian không gian rồi tổng hợp hai bộ phận này lại để đoán định hung cát (tốt xấu) của ngôi nhà hay cát hung của phần mộ đó. Vị trí tốt cần nằm ở phương vị quan trọng Thật ra thì lý luận cơ bản của “lý khí” không hề phức tạp, bốn mặt đông tây nam bắc có thể chia làm 360 độ . Ngôi nhà trong một không gian thời gian, tọa hướng sẽ xuất hiện một hướng cát, một hướng hung cho nên nếu như hướng hung vừa đúng tọa độ ở các phương vị không quan trọng như nhà vệ sinh, còn vị trí tốt nằm ở cửa, phòng ngủ vị trí giường, vị trí bếp thì tự nhiên ngôi nhà sẽ có một phòng khách tốt, nếu như vị trí trong nhà lại ngược lại, thì đây sẽ trở thành ngôi nhà xấu. Trong một vòng 360 độ có một số vị trí là phương hướng không tốt, những phương hướng này trong phong thủy chỉ thích hợp dùng xây chùa, xây đền, khi lựa chọn nhà ở phải cẩn thận, cần phải tránh hung, các hướng tốt còn lại sẽ dễ tìm hơn. Bốn hướng chính Nam, chính Bắc, chính Đông, chính Tây trong 360 độ đều là phương vị đại hung. Ngoài bốn hướng chính ra, chính Đông Bắc, chính Đông Nam, chính Tây Nam, chính Tây Bắc cũng được gọi là “tứ ngung tạp sát”, cũng thuộc đại hung. Ngoài tứ chính và tứ ngung bát tạp sát ra, 360 độ có thể chia làm 8 hướng, mỗi hướng 45 độ, giữa 8 phương này, ví dụ vị trí bắc thiên nam 22.5 độ gọi là “bát quái không vong”, cũng thuộc không tốt. Ngoài ra mỗi phương hướng phối với bát quái, mỗi quái lại chia làm 3 phương hướng gọi là “tam sơn”, tổng cộng là 24 sơn. 24 sơn này lại có một số độ số gọi là phương vị “kiêm quái”, ngôi nhà tọa ở đây cũng xuất hiện hung ứng (hiệu ứng xấu) khác nhau. Những tọa hướng nêu trên, đều là lành ít dữ nhiều, các bạn khi chọn nhà có thể dùng để tham khảo, tránh mua lầm hung trạch, thì cát ứng (hiệu ứng tốt) tự nhiên sẽ đến. Vị trí hung của tứ chính tứ ngung: 0 độ, 45 độ, 90 độ, 180 độ, 270 độ, 135 độ, 225 độ, 315 độ Hung vị của Bát quái không vong: 22.5 độ, 67.5 độ, 112.5 độ, 157.5 độ, 202.5 độ, 247.5 độ, 292.5 độ, 337.5 độ Nguon:NETTRA
-
Một công cụ không thể thiếu được của các nhà Phong Thuỷ là La Kinh. La bàn được phát minh từ rất lâu đời ở Trung Quốc nhờ sự định vị của từ trường trái đất luôn theo phương Nam Bắc. La Kinh chính là sự kết hợp của La Bàn kèm theo các cung số trong Phong Thuỷ và Bát Quái. La Kinh chia làm 2 phần, phần Địa Bàn là phần cố định chính là La Bàn để định vị phương hướng thông qua chỉ số của kim La Bàn. Phần Thiên Bàn bao gồm các tầng khác nhau, mỗi tầng xác định một yếu tố trong Phong Thủy học như Tiên Thiên Bát Quái, Hậu Thiên Bát Quái, Ngũ Hành, 24 Sơn Hướng, Thấu Long, ... Ngũ Hành: Kim Mẹo thuật dân gian: Dùng đo đạc hướng và các yếu tố trong thuật Phong Thuỷ. Nguon:NETTRA
-
Nguyên tắc chính yếu của khoa Phong Thủy là ở quanh ta có những luồng khí lực tốt xấu lẫn lộn di chuyển một cách vô hình. Chúng ta phải biết cách sắp xếp làm sao để có thể làm vượng những khí lực tốt, ếm nhẹm những khí lực xấu, thay đổi hướng đi của chúng nếu cần, để đem lại phúc lợi cho gia đình, tránh bệnh tật và xui xẻo. Sau đây là một vài nguyên tắc cơ bản trong Phong Thủy thực dụng giúp quý vị khi chọn mua một căn nhà xem xét những gì là quan trọng nhất: 1. Địa điểm và hướng nhà “Đất lành chim đậu”, được coi là một quy luật mà tiền nhân ta đã ứng dụng và tin tưởng từ nghìn xưa. Tại sao những thành phố lớn Hà Nội, Huế và Sàigòn được chọn là đô thị ngày một phát triển thịnh vượng có phải do yếu tố Địa lý không? Cách đây trên nửa thế kỷ, chính mắt tôi đã được nhìn thấy một làng giàu có trong tỉnh Hà Nam mà những năm kháng chiến chống Pháp, tôi theo thân phụ là Cụ Phúc Lộc Đường đi chữa bệnh và coi phong thủy tại miền quệ Khi đến làng này, thấy hàng nghìn con chim cốc đậu đen kín trên bụi tre đầu làng, quả vào làng ấy nhà gạch sát bên nhau, giàu có nhất vùng là saỏ Hàng trăm những cảnh tượng lạ lùng khi đi qua đều được Cụ tôi giải thích theo cách nhìn phong thủy huyền bí mà ngày nay được đọc lại trong sách báo càng làm cho tôi không khỏi thắc mắc suy nghĩ vô tận là vậỵ Chọn được địa điểm tốt tùy theo hoàn cảnh là việc quan trọng hàng đầụ Thứ đến là hướng nhà theo Địa lý Bát Trạch dựa vào tuổi của gia chủ theo cung Phi: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài để tìm 4 hướng tốt và tránh 4 hướng xấụ. Thí dụ: Gia chủ là tuổi Nhâm Ngọ (sinh năm 1942), cung Phi coi hướng nhà Nam thuộc cung Tốn được 4 hướng tốt: Chính Bắc được Sinh Khí; Chính Đông được Diên Niên; Chính Nam được Thiên Y và Đông Nam được Phục Vị. Nếu nhà ở mặt tiền, cửa chính quay về một trong 4 hướng tốt này mới hợp hướng thì gia đạo được bình an vô sự. Ngược lại, nhà mặt tiền quay về một trong 4 hướng xấu, thường gây ra nhiều khó khăn về saụ. Tuy nhiên có cách để hóa giải cải sửa gọi là “Địa Lý Yểm Trấn” nhưng phải gặp được Thầy Địa Lý chính tông rất khó tìm kiếm đúng. Coi chừng thầy giả thì nhiều! Cho nên, ca dao chế diễu có câu: Hòn đất mà biết nói năng Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn. 2. Cửa chính ra vào Cửa chính ra vào của một ngôi nhà rất quan trọng, chiếm ảnh hưởng trên 60% về toàn diện phong thủy tốt, xấu cho căn nhà. Kích thước của cửa chính cũng phải tương xứng với nhà. Nhà nhỏ, cửa lớn thì tiền tài khó tụ và nhà lớn mà cửa nhỏ quá thì khó phát đạt. Thước Lỗ ban cũng được dùng ở cửa chính nàỵ Nhưng không tin được kích thước Lỗ ban trong sách báo khác nhau vì chưa kiểm nghiệm đúng sai, rất phức tạp! Cửa chính bị phạm: - Nhà ở ngã ba hoặc con đường chữ Y trước mặt. - Nhà ở có đường xe lửa hoặc “Free-Way” chạy ngang. - Nhà bị cây đòn giông đâm vào cửa hoặc bị một cây to đơn độc án ngữ trước cửa chính. - Nhà bị một con đường thẳng đâm vàọ - Nhà ở đối diện với chùa, nhà thờ, nghĩa địa, nhà quàn, bót cảnh sát, nhà thương… Cũng nên có hai ngọn đèn ở hai bên để soi sáng cửa ra vào lúc đêm tối và nên trang trí hai bên bằng những chậu hoa, chậu kiểng cho đẹp mắt. Nếu vi phạm phong thủy cần đặt một cặp sư tử, kỳ lân hay rồng bằng đá để bảo vệ an ninh vững bền cho căn nhà. Nguon: NETTRA
-
Ngày nay việc sử dụng các pháp khí Phong Thuỷ khá phổ biến. Nhiều người không hiểu biết đầy đủ về Phong Thuỷ thường “tát nước theo mưa”, thấy các pháp khí viết có tác dụng hoá giải này kia vội vã đem về sử dụng. Nhiều khi việc sử dụng không đúng cách lợi ít hại nhiều giống như việc sử dụng thuốc bừa bãi vậy. Phong Thuỷ là một môn khoa học chuyên nghiên cứu sự bài trí, sắp xếp tổ chức nhà cửa theo vận khí âm dương, Ngũ Hành. Cần thận trọng xem xét các vị trí cổng cửa, khu vực sinh hoạt chính như phòng khách, phòng ngủ, nơi thờ cúng, nơi đặt bếp, nhà vệ sinh. Không may phạm phải những bất lợi không thể hoá giải được bằng cách đổi chỗ, đổi vị trí, đổi hướng lúc ấy người ta mới phải sử dụng đến các pháp khí Phong Thuỷ như chuông gió, gương… Việc sử dụng cũng chỉ làm giảm tác hại xấu, chứ không thể thay đổi hoàn toàn tính chất của khí. Cầu thuỷ tinh - một vật khí quan trọng trong Phong thủy giúp mang lại sự thông tuệ, uyên bác, sáng suốt, chôi chảy và mở mang mối quan hệ, giao tiếp cho bạn. Ngoài ra việc sử dụng các pháp khí cần được khai quang - một liệu pháp rất quan trọng để tăng cường năng lượng cho pháp khí. Nếu mua về mà sử dụng ngay thì pháp khí không có tác dụng đáng kể, lợi ít hại nhiều. Người am hiểu luôn cần tham khảo Phong Thuỷ Sư trước khi sử dụng và trấn yểm các pháp khí cho nhà cửa, cơ sở. Ví dụ : - Chuông gió treo ở cung vượng khí như nơi Bát Bạch chiếm đóng sẽ giảm hết vượng khí biến phúc thành hoạ - Thủy cục (đèn Phong Thuỷ, bể cá, Phong Thuỷ luân) đặt nơi sơn tinh đương vượng sẽ phạm phải cách phản ngâm tai hoạ khó lường. - Non bộ đặt nơi Thuỷ thần đương vượng rất hại về tài lộc. - Tượng hộ pháp đặt nơi bếp, gần khu vệ sinh vô cùng độc hại, hao người tốn của Nguon:mangnhadat.vn
-
Phong thủy là học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống hoạ phúc của con người. Về mặt từ nguyên, phong có nghĩa là "gió", là hiện tượng không khí chuyển động và thủy có nghĩa là "nước", là dòng nước, tượng trưng cho địa thế. Phong thủy không phải là yếu tố đơn lẻ mà là tổng hợp hàng loạt yếu tố về địa hình địa thế xung quanh nhà ở, thôn xóm, thành phố hoặc mồ mả, hướng gió, dòng nước cùng tọa hướng, hình dạng, bố cục mặt bằng không gian xây dựng. Phong thủy liên quan đến cát hung, họa phúc, thọ yểu, sự cùng thông của nhân sự. Cát ắt là phong thủy hợp, hung ắt là phong thủy không hợp. Sách Táng thư viết: "Mai táng phải chọn nơi có sinh khí. Kinh viết: Khí gặp gió (phong) ắt tán, gặp nước (thủy) ngăn thì dừng. Cổ nhân làm sao cho khí tụ chứ không tán, nước chảy có chỗ dừng". Do vậy mà có tên là "phong thủy". Hai chữ phong thủy còn chỉ phương pháp tìm kiếm và chọn lựa nơi trú ngụ hoặc mai táng cát tường phú quí, phúc thọ bình yên, tức là thuật Phong thủy. Giống như mọi ngành khoa học kỹ thuật cổ truyền khác ở Á Đông, thuật phong thủy cũng dựa vào dịch lý, thuyết âm dương, ngũ hành. Địa lý phong thủy Hai chữ "địa lý" là danh từ áp dụng chung cho cả hai môn: Địa mạch: Là môn địa lý phong thủy thuộc về địa linh, dùng vào việc đặt mồ mả và nhà cửa; tức thuộc về tinh thần. Địa dư: Là môn địa lý điền thổ, thuộc về địa lợi; thuộc về vấn đề vật chất. Âm trạch và Dương trạch: Phong thủy chia làm hai lĩnh vực: Âm trạch: Là cuộc đất dùng để chôn người chết, còn gọi là mồ mả. Phong thủy cho rằng, nếu người chết được chôn vào một cuộc đất tốt về phong thủy thì sẽ truyền được phúc đức cho con cháu đời sau. Dương trạch: Là cuộc đất được dùng vào mục đích làm nhà cửa, đình, chùa, miếu mạo, thôn xóm, làng mạc, thị trấn, thành phố. Dương trạch phải hài hòa với thiên nhiên, có môi trường tốt đẹp, làm cho con người thấy vui tươi, mạnh khỏe, hạnh phúc. Dương trạch tốt tức là môi trường tốt. Người xưa quan niệm số mệnh của một con người không chỉ phụ thuộc vào bản thân người đó (tức giờ ngày, tháng, năm sinh) mà còn chịu ảnh hưởng của âm phần và dương phần nên có câu "Nhất mộ, nhì phòng, tam bát tự".Phong thủy có vai trò rất to lớn, tuy nhiên nó chỉ hỗ trợ, có tác dụng cải biến chứ không thể làm thay đổi hoàn toàn mệnh vận. Nó là nhân tố quyết định sự thành bại. Nếu phong thủy tốt sẽ giúp giảm thiểu được tai hoạ khi vào vận xấu, giúp gia tăng sự thành công và may mắn khi vào vận tốt. Về dương trạch, tức phong thủy của nhà ở, những vấn đề cần xét có rất nhiều như huyệt vị, làm nhà, hướng nhà, cấu trúc nhà, nội thất, ... Cần phải xét tất cả các yếu tố mới làm thành phong thủy tốt cho ngôi nhà. Xét về nguyện lý cơ bản thì phong thủy âm trạch và phong thủy dương trạch có nhiều điểm tương đồng. Ở khía cạnh mộ phần của người chết và nhà ở của người sống thì âm dương cách biệt, không giống nhau. Vì thế kỷ thuật ứng dụng trong âm trạch và dương trạch cũng khác nhau. Các phái phong thủy: Có hai phái lớn: Phái Hình thế Thuyết này lấy hình thế làm chính, tìm nơi khởi đầu và kết thúc của sơn mạch, thủy lưu; lặn lội phát hiện hình mạo hướng bối của long hổ triều ứng, để định huyệt vị tọa hướng, chú trọng quan sát hình dạng sơn loan thủy đạo, nhấn mạnh sự phối hợp long, huyệt, sa, thủy. Phái này do Dương Quân Tùng đời nhà Đường khởi xướng. Họ Dương về cuối đời sống ở Giang Tây, môn đệ của ông phần lớn là người Giang Tây, nên còn có tên là phái Giang Tây. Phái Hình thế còn gọi là phái Loan đầu, vì học thuyết này chú trọng hình dạng của núi sông, nên có tên như vậy. Thuyết này về sau hình thành nên lý luận Hình pháp. Phái Hình thế (Giang Tây hay Loan đầu) với Dương Quân Tùng là tổ sư, lần lượt truyền cho Tăng Văn Sán, Lại Văn Tuấn, Ngô Cảnh Loan, Mục Vũ. Trước tác của phái này hiện còn rất nhiều, tiêu biểu là Hám long kinh, Nghi long kinh, Thập nhị trượng pháp của Dương Quân Tùng, Táng thư người đời nhà Tống mượn danh Quách Phác, Thôi quan thiên của Lại Văn Tuấn. Lý luận của phái Giang Tây chú trọng quan sát giới tự nhiên, tiến hành tổng kết qui nạp rất nhiều hình thế sông núi, kết tinh nhiều kinh nghiệm hợp lý. Thuyết này lấy âm trạch làm chủ, dương trạch thường mượn dùng các thuyết của âm trạch song vẫn chú trọng đến hình dáng của nhà ở và sự phối hợp về hình thức trong không gian. Phái Giang Tây từ đời Đường, Tống trở đi, lưu truyền khá rộng, đời nhà Minh, nhà Thanh có sút giảm, nhưng vẫn được xã hội tiếp thu rộng rãi, có ảnh hưởng rất sâu rộng. Phái Lý pháp Còn gọi là Lý khí, tức hệ thống lý luận phong thủy do phái Phúc Kiến nêu ra nên còn có tên là phái Phúc Kiến. Thuyết này khởi đầu sớm nhất ở Mân Trung (Phúc Kiến). Đến Vương Cấp thời nhà Nam Tống thì rất thịnh hành. Trường phái này lấy la bàn làm công cụ chính, chủ yếu căn cứ vào cái lý của âm dương, ngũ hành, bát quái, cửu tinh, Hà Lạc mà tính toán. Nhấn mạnh âm sơn âm hướng, dương sơn dương hướng, để xác định quan hệ sinh khắc, phán đoán cát hung. Phái này chú trọng tìm hiểu nguyên lý trạch pháp, dương trạch chia ra 24 lộ, phân biệt âm dương, xác định hưu cữu (cát hung) âm trạch cũng thường luận về cát hung của tọa hướng, chủ yếu sử dụng cách phán đoán trừu tượng là chính, chứ không quan tâm nhiều đến hình dáng cụ thể của nhà, đất, sông núi, cho nên còn gọi là "ốc trạch pháp". Thuyết này về sau phát triển thành học thuyết Lý pháp. Phái Phúc Kiến ít nhân tài, trước tác cũng không nhiều, có chăng thường là mượn tên của người đời trước, khó biết đích xác là của ai. Từ đời Minh, Thanh trở đi, phái này suy dần, chỉ lưu truyền rộng rãi ở vùng Chiết Trung, ảnh hưởng kém hơn hẳn phần Giang Tây. Sơ lược lịch sử phát triển của phong thủy Thuật phong thủy hình thành rất sớm, có thể nói gần như cùng với sự ra đời của loài người. Ngay từ thời thượng cổ con người đã chú ý đến ảnh hưởng của hoàn cảnh tự nhiên đối với nơi cư trú của loài người, nên đã tiến hành lựa chọn một cách có chủ đích. Nguyên sơ của phong thủy là những kinh nghiệm về sinh họat như khoét đá, đào hang, làm nhà... Từ cuộc sống thực tế, phải chống chọi với thú dữ, chống lại cả sự tấn công của đồng lọai, phải chống chọi với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, con người đã biết chọn những vị trí cư trú có núi non che chở bao bọc, lại gần sông ngòi, nguồn nước. Từ thời thượng cổ, con người sống theo lối du canh, du cư, trải qua một quá trình tiến hóa đến định canh, định cư và mới bắt đầu chú ý đến nơi ăn ở sao cho thích hợp, chọn địa điểm cư trú làm sao cho tiện lợi rồi tiến tới kiến tạo phòng ốc để ở cho thật an lành, thoải mái, giàu có... Những kinh nghiệm về cư trú được tích lũy từ đời này qua đời khác đã hình thành nên phong thủy học. Thời sơ kỳ, con người chọn đất làm nhà, chủ yếu là muốn an toàn. Thường phải chọn nợi đất cao ráo vì sợ lũ lụt hoặc thú dữ tấn công. Để tránh mưa to, gió lớn, người ta dần dân biết cách chọn vùng đất hướng về Mặt Trời, khuất gió. Từ đời nhà Chu, con người đã đặc biệt chú trọng nơi cư trú. Con người đã biết chọn đất xây nhà tại vùng bình nguyên, đây là vùng đất mầu mỡ, có thể canh tác nông nghiệp thuận lợi. Gần nguồn nước mà vẫn tránh được lụt lội, tai hoạ thời tiết, thiên tai. Thời kỳ Tiên Tần, do trình độ khoa học còn thấp, các hình thức bói toán dự đoán cát hung thịnh hành trong xã hội gắn liền với hoạt động xây dựng nhà ở và mai táng. Các văn hiến như Bốc trạch, Bốc cư, Bốc lạc phản ánh tình hình đương thời. Đồng thời các học thuyết âm dương, ngũ hành, bát quái Chu Dịch, Thiên văn Hà Lạc cũng phát triển mạnh, áp dụng vào lĩnh vực Bốc trạch, Bốc cư, (bói chọn nhà ở và mồ mả). Phong thủy nhờ đó có được cơ sở tư tưởng triết học cần thiết. Thời Lưỡng Hán, đã xuất hiện các trước tác về phong thủy như Cung trạch địa hình, Kham dư kim quí. Các học thuyết Hình pháp gia, Kham dư gia cũng mang nội dung phong thủy. Mối quan hệ giữa nhà ở và mồ mả với cát hung họa phúc của con người đã trở nên rất mật thiết, đồng thời xuất hiện những người chuyên thực hiện hoạt động phong thủy. Điều này gắn liền với vô số sấm vĩ (câu sấm) và hàng loạt điều cấm kỵ mang tính chất mê tín đang thịnh hành trong xã hội đương thời. Thời kỳ Ngụy Tấn Nam Bắc triều, quan niệm nhà ở và mồ mả gắn với cát hung họa phúc của con người được tầng lớp sĩ đại phu tiếp nhận rộng rãi, thậm chí vua chúa cũng hoàn toàn tin vào thuật phong thủy. Trải qua lịch sử phát triển của các triều đại, đời nào cũng có những học giả kế tục và phát triển thuật phong thủy. Trong lịch sử phát triển, thuật phong thủy hình thành nên nhiều trường phái khác nhau, mỗi trường phái có phương pháp lý luận và ứng dụng riêng, dựa trên những suy luận khác biệt nhau, thậm chí có khi đối lập nhau. Cho đến nay, phong thủy vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng, vẫn còn mang nhiều sự huyền bí. Ngày nay dù ở Phương Tây hay ở Phương Đông khi xây dựng nhà ở đều phải chọn những vị trí hợp với môi trường địa lý xung quanh địa bàn, dù theo một lối kiến trúc nào thì cũng phải căn cứ vào địa thế xung quanh để tạo dựng một kiến trúc đẹp về thẩm mỹ, lợi về sinh hoạt. Phong thủy dù còn vẻ huyền bí nhưng rất thực tế và gần gũi với đời sống con người. Nguon:wikipedia
-
KỳLân: loài thú linh thời xưa, rất hiền lành, thuộc loài nai, ngày nay đã tuyệt chủng. Kỳ là con đực, Lân là con cái, nên gọi chung là Kỳ lân. Tương truyền, Kỳ lân có hình dáng giống như con nai, mình vằn, đuôi trâu, vú ngựa, có một sừng trên đầu, rất hiền lành, không ăn sanh vật, nên được gọi là Nhân thú 仁獸. Kỳ lân có tánh linh, khi nào có chúa Thánh ra cứu đời thì Kỳ lân xuất hiện báo trước điềm lành. Trong cuộc đời của Đức Khổng Tử, Kỳ lân xuất hiện hai lần: Lần thứ nhứt, báo tin có Thánh nhân ra đời. Lần thứ nhì xuất hiện con Kỳ lân què, báo tin Thánh nhân qui Thiên. - Lần thứ nhứt: Kỳ lân đến trước mặt Bà Nhan thị (Trưng Tại) đang mang thai Đức Khổng Tử, nằm phục ngay xuống, nhả ra một cái ngọc xích có chữ viết rằng: Con nhà Thủy Tinh nối đời suy Châu mà làm vua không ngôi. Sau đó Bà Nhan thị sanh ra Đức Khổng Tử. - Lần thứ nhì: Mùa xuân năm Lỗ Ai Công thứ 14, người nước Lỗ đi săn, bắt được con Kỳ lân què một chân. Đức Khổng hay được đến xem, rồi bưng mặt khóc. Về nhà Ngài than với học trò: Đạo ta đến lúc cùng. Ba năm sau, Đức Khổng Tử mất, thọ 73 tuổi. Đức Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sanh ngày 27 tháng 8 âm lịch năm Canh Tuất (551 trước Tây lịch), đời vua Châu Linh Vương năm thứ 21 nhà Châu, tương ứng với đời vua Lỗ Tương Công năm thứ 22, tại làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nước Lỗ, bây giờ là Tỉnh Sơn Đông nước Trung Hoa. Đức Khổng Tử là dòng dõi của Vi Tử Khải và Vi Tử Diễn, hai người nầy là anh ruột của vua Trụ, con của vua Đế Ất nhà Thương (cũng còn gọi là nhà Ân). Sau khi Châu Võ Vương diệt vua Trụ, mở ra nhà Châu, Ông Châu Công Đán cho Vi Tử Khải làm vua nước Tống, gọi là Tống Công, để trông nom việc tế tự các vua nhà Thương. Vi Tử Khải mất, em là Vi Tử Diễn lên thay. Cháu 13 đời của Vi Tử Diễn là Thúc Lương Ngột, làm quan Đại phu nước Lỗ, là thân phụ của Đức Khổng Tử. Ngài lấy họ Khổng, bởi vì Thúc Lương Ngột là dòng dõi của Khổng Phùng Thúc, biệt lập ra họ Khổng kể từ Khổng Phụ Gia, sau 5 đời Công Khanh thế tập ở nước Tống. Thúc Lương Ngột có người vợ cả họ Thi, sanh được 9 người con gái, một người vợ lẽ sanh được một con trai nhưng bị què một chân, tên là Mạnh Bì, tự là Bá Ni. Năm Thúc Lương Ngột 70 tuổi, sợ không có người kế tự, mới sai người đến nhà họ Nhan để cầu hôn. Họ Nhan có năm người con gái đều chưa gả chồng, có ý chê Thúc Lương Ngột quá già, mới bảo với các con gái rằng: - Các con có đứa nào thuận kết duyên với quan Đại phu ở Châu Ấp đó không? Bốn người con gái lớn đều làm thinh, người con gái út là Trưng Tại đứng dậy thưa rằng: - Phép làm con gái, khi còn ở nhà thì theo lời cha, cha đặt đâu con xin ngồi đó. Họ Nhan nghe con gái út nói thế thì lấy làm lạ, liền gả Trưng Tại cho Thúc Lương Ngột. Trưng Tại đã kết duyên với Thúc Lương Ngột rồi, vợ chồng lo về sự hiếm hoi không có con trai nối dõi, nên cùng nhau vào núi Ni Sơn cầu tự. Khi Trưng Tại trèo lên núi Ni sơn, bao nhiêu lá cây đều rung động lên cả. Khi làm lễ cầu tự xong, đi trở xuống thì lá cây lại rủ xuống như cũ. Đêm hôm ấy, Trưng Tại nằm mộng thấy Thần Hắc Đế triệu đến mà bảo rằng: - Sau nầy, nàng sẽ sanh con Thánh, nhưng khi nào lâm sản thì nên vào ở trong hang núi Không Tang. Đến khi nàng thức giấc tỉnh dậy thì biết mình có thai. Một hôm khác, Trưng Tại mơ mơ màng màng như người chiêm bao, chợt thấy một Ông già đến đứng ở sân, tự xưng là Ngũ Tinh, dắt theo một con thú giống như con trâu con mà lại có một sừng, mình có vằn. Con thú ấy trông thấy Trưng Tại thì nằm phục xuống và nhả ra một cái ngọc xích, trên đó có đề chữ "Con nhà Thủy Tinh, nối đời suy Châu mà làm vua không ngôi." Trưng Tại biết là điềm lạ, liền lấy dải lụa buộc vào sừng con thú ấy. Khi tỉnh dậy, Trưng Tại thuật điềm chiêm bao ấy cho chồng nghe. Thúc Lương Ngột nói: - Con thú ấy là con kỳ lân. Gần đến sản kỳ, Trưng Tại hỏi hang núi Không Tang ở đâu? Thúc Lương Ngột nói: - Núi Nam sơn có một cái hang đá, tục gọi là hang Không Tang. Trưng Tại liền sửa soạn đến đó ở và sanh đẻ trong hang Không Tang đúng theo lời Thần nhân mách bảo. Đêm hôm sanh ra Khổng Tử, có hai con rồng xanh từ trên Trời bay xuống nằm phục ở hai bên sườn núi và có hai vị Thần Nữ đem nước hương lộ đến gội đầu cho Trưng Tại. Gội xong thì biến đi. Khi Trưng Tại lâm sản, bỗng thấy trong hang đá có một suối nước nóng chảy ra để Trưng Tại tắm. Tắm xong thì suối cạn ngay. Thúc Lương Ngột nói: - Vì ta cầu tự nơi núi Ni Sơn mà được đứa bé nầy, nên ta đặt tên cho nó là Khâu, tự là Trọng Ni. Trưng Tại biết đứa con nầy sẽ làm nên việc lớn, nên hết sức nuôi nấng và chăm sóc con. Ông Khổng Tử có tướng lạ lắm: Môi như môi trâu, tay như tay hổ, vai như vai chim uyên, lưng rùa, miệng rộng, hầu lộ, trán phẳng và cao, khi lớn, mình cao 9 thước 6 tấc (thước Tàu), có tánh ham học. Năm Khổng Tử lên 3 tuổi thì cha mất. Ngài sống với mẹ trong cảnh nhà nghèo. Khi lớn lên, mẹ cho đi học, Ngài chơi với trẻ hàng xóm, thích bày trò cúng tế. Năm 15 tuổi, lập chí học tập. Năm 19 tuổi, Ngài cưới vợ, vợ của Ngài là con của họ Thượng Quan nước Tống. Năm 20 tuổi, vợ Ngài sanh đặng một con trai. Hôm đó, Lỗ Chiêu Công sai đem đến ban cho Ngài một con cá chép (Lý ngư), nên nhân đó, Ngài đặt tên con là Lý tự là Bá Ngư, để tỏ lòng tôn trọng vật của vua ban tặng. Về sau, Bá Ngư chết lúc 50 tuổi, chết trước Đức Khổng Tử. Con của Bá Ngư tên là Khổng Cấp, tự là Tử Tư, sau theo học với Tăng Sâm, rồi làm ra sách Trung Dung. 1. Đức tánh của Đức Khổng Tử: Đức Khổng Tử là người rất thông minh, luôn luôn ham học. Bất cứ việc gì, Ngài cũng để ý xem xét rất kỹ lưỡng để biết cho cùng tận mới thôi. Tánh Ngài ôn hòa, nghiêm trang, khiêm tốn, làm việc gì cũng hết sức cẩn thận, đề cao lễ nhạc, luôn luôn tin vào Thiên mệnh. 2. Thời kỳ tham chánh và dạy học: Năm 21 tuổi, Đức Khổng Tử được cử làm chức Ủy Lại, một chức quan nhỏ coi việc sổ sách của kho lúa, cùng là cân đo và gạt lúa. Sau đó, qua làm chức Tư Chức Lại, coi việc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong việc tế tự. Năm Ngài 25 tuổi thì chịu tang mẹ. Năm 29 tuổi, Ngài học đàn với Sư Tương, ở nước Lỗ. Tuy làm chức quan nhỏ, nhưng Đức Khổng Tử đã nổi tiếng là người học rộng, biết nhiều, nên quan Đại phu nước Lỗ là Trọng Tôn Cồ, cho hai người con trai là Hà Kỵ và Nam Cung Quát theo Ngài học Lễ. Đức Khổng Tử muốn đến Lạc Dương, kinh đô nhà Châu, để nghiên cứu về nghi lễ, chế độ miếu đường, nhưng vì nhà nghèo, không đủ tiền lộ phí, đành than thở mà thôi. Học trò Ngài là Nam Cung Quát nghe vây, liền về tâu với Lỗ Chiêu Công. Vua liền ban cho Ngài một cổ xe song mã và vài tên quân hầu cận để đưa Ngài và Nam Cung Quát đi Lạc Dương. Đến nơi, Đức Khổng Tử quan sát nhà Tôn miếu, nhà Minh đường, khảo cứu luật lệ và thư tịch đời cổ, đi xem Giao đàn là nơi nhà vua tế Thiên Địa và Tinh tú, rồi đến Xã đàn là nơi vua tế Thần Nông và Thần Hậu Thổ. Nơi nào có quan hệ đến việc tế lễ thì Ngài đến quan sát và hỏi han cho tường tận. Ngài đến gặp Trành Hoành để hỏi về Nhạc. Khi ở Lạc Dương, Đức Khổng Tử còn tìm đến gặp Đức Lão Tử để hỏi về Lễ. Từ đó, sự học của Ngài càng rộng hơn nhiều nên học trò xin theo học càng lúc càng đông. Nhưng vua Lỗ vẫn chưa dùng Ngài vào việc nước. Được mấy năm, trong nước Lỗ, Quý Bình Tử khởi loạn. Ngài theo Lỗ Chiêu Công tạm lánh sang nước Tề. Ở đây Ngài học được Nhạc thiều. Tề Cảnh Công mời Ngài tới để hỏi việc Chánh trị. Vua Tề rất khâm phục, muốn đem đất Ni Khê phong cho Ngài, nhưng quan Tướng Quốc nước Tề là Yến Anh ngăn cản không cho. Năm sau, Ngài trở về nước Lỗ, thấy họ Quý dùng Dương Hổ để chuyên quyền, ý muốn tiếm đoạt. Ngài quay về quê lo việc dạy học, và nghiên cứu cho tường tận Đạo học của Thánh hiền. Lúc đó Ngài được 36 tuổi. Đến năm thứ 9 đời vua Lỗ Định Công, Ngài được 51 tuổi, được vua Lỗ mời ra làm quan, phong cho chức Trung Đô Tể lo việc cai trị ở Ấp Trung Đô, tức là đất Kinh thành. Một năm sau, bốn phương lấy chính sự của Ngài làm khuôn mẫu. Năm Lỗ Định Công thứ 10 (500 năm trước Tây lịch), Ngài phò vua Lỗ đi phó hội với Tề Cảnh Công ở Giáp Cốc. Nhờ tài ngôn luận và ứng đáp kịp thời, vua Tề rất khâm phục và trả lại cho nước Lỗ ba khoảnh đất ở Quy Âm mà Tề đã chiếm của Lỗ từ mấy năm trước. Qua năm sau, Đức Khổng Tử giữ chức Tư Không, rồi thăng lên Đại Tư Khấu (Hình Bộ Thượng Thơ) coi việc hình án. Ngài đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc, định việc tống táng, lớn nhỏ có trật tự, trai gái không lẫn lộn, gian phi trộm cắp không còn nữa, xã hội được an bình thạnh trị. Sau 4 năm, Lỗ Định Công phong Ngài lên làm Nhiếp Tướng Sự (Tướng Quốc), coi việc Chánh trị trong nước. Ngài cầm quyền được 7 ngày thì tâu với vua Lỗ xin giết gian thần Thiếu Chính Mão để chỉnh đốn quốc chính. Đức Khổng Tử giết Thiếu Chính Mão: Thiếu Chính Mão là một nịnh thần rất nguy hiểm dưới trào Lỗ Định Công. Bấy giờ, Đức Khổng Tử đang làm quan Tướng Quốc nước Lỗ. Quý Tôn Tư, một vị Đại Thần quyền thế trong triều, nhưng luôn luôn hỏi ý kiến của Đức Khổng Tử mỗi khi có một quyết định trong công việc trị nước. Nhưng phần Thiếu Chính Mão, khi Đức Khổng Tử nói ra câu gì thì liền gièm pha khiến người nghe phân vân và đôi khi bị mê hoặc. Đức Khổng Tử mật tâu với Lỗ Định Công: - Nước Lỗ không cường thịnh lên được là vì trung nịnh không phân biệt, thưởng phạt không nghiêm minh. Thí dụ như muốn trồng lúa tốt tất phải trừ bỏ cỏ xấu. Xin Chúa công cho đem các đồ phủ việt (dùng vào việc hình) trong nhà Thái miếu bày ra ở dưới Lưỡng quán để dùng vào việc hình. Lỗ Định Công thuận cho. Sáng hôm sau, Lỗ Định Công truyền cho các quan triều đình hội nghị để bàn việc phá thành ấp xem lợi hại thế nào. Các quan người nói nên phá, người nói không nên phá. Thiếu Chính Mão đón ý Đức Khổng Tử, nói rằng: - Phá thành có 6 điều tiện: Để tôn trọng quyền vua không ai bằng. Để tôn trọng cái quyền thế Đô thành. Để ức quyền tư môn. Để khiến cho kẻ gia thần lộng quyền không chỗ nương cậy. Để yên lòng ba nhà: Mạnh, Thúc, Quý. Để khiến cho các nước nghe việc nước Lỗ ta làm mà phải kính phục. Đức Khổng Tử tâu với Lỗ Định Công:- Thành ấp nay đã thế cô còn làm gì được, huống chi Công Liễm Dương vẫn có lòng trung với vua, sao dám bảo là lộng quyền. Thiếu Chính Mão dùng lời nói khéo để làm loạn chánh trị, khiến vua tôi ly gián, cứ theo phép thì nên giết. Các quan trong triều tâu: - Thiếu Chính Mão là người danh giá ở nước Lỗ ta, dầu có nói lầm đi nữa cũng chưa đến tội chết. Đức Khổng Tử lại tâu với Lỗ Định Công: - Thiếu Chính Mão là người dối trá mà lại biện bác, làm người ta mê hoặc. Nếu không giết đi thì việc chánh trị không thi hành nổi. Xin Chúa Công cho đem phủ việt ra để trị tội. Đức Khổng Tử truyền cho lực sĩ trói Thiếu Chính Mão đem đến Lưỡng quán mà giết đi. Các quan trong triều đều sợ hãi, xám xanh cả mặt. Ba nhà: Mạnh, Thúc Quý, trông thấy cũng đều kinh sợ. Từ khi giết xong Thiếu Chính Mão, Lỗ Định Công và ba nhà Mạnh, Thúc, Quý mới một lòng nghe theo lời của Đức Khổng Tử. Nhờ vậy, Đức Khổng Tử chỉnh đốn kỷ cương trong nước, dạy dân những điều lễ, nghĩa, liêm, sĩ, nên dân không còn nhiễu loạn mà chánh trị mỗi ngày một hay. Ba tháng sau, phong tục biến cải cả: Các nhà buôn gà và heo không dám nhồi cám để dối người mua, trong khi ra đường, trai gái đi phân biệt nhau, không hỗn loạn, thấy của rơi ngoài đường thì không ai lượm, người nước khác du lịch đến nước Lỗ được tiếp đãi tử tế, không để cho thiếu thốn. Dân nước Lỗ có làm một bài ca để tán tụng công đức của Khổng Tử. Bài ca ấy được truyền tụng sang nước Tề. Tề Cảnh Công lo ngại nói rằng: - Nước Lỗ biết dùng Khổng Khâu ắt nên nghiệp Bá, tất họa đến nước Tề, ta biết làm thế nào? Quan Đại Phu Lê Di tâu rằng: - Chúa Công lo nước Lỗ biết dùng Khổng Khâu, sao không lập cách ngăn đi. Tề Cảnh Công nói: - Nước Lỗ giao quyền chánh trị cho Khổng Khâu, ta dùng cách gì mà ngăn trở được? Lê Di tâu: - Tính con người ta, hễ được cường thịnh tất sanh lòng kiêu mạn. Xin Chúa Công lập một Bộ Nữ Nhạc mà đem dâng vua Lỗ. Vua Lỗ mà nhận Bộ Nữ Nhạc tất sanh lười biếng mà chán Khổng Khâu. Bấy giờ tất Khổng Khâu phải bỏ nước Lỗ mà đi, Chúa Công mới có thể ngồi yên được. Quả vậy, Lỗ Định Công, không nghe lời can gián của Đức Khổng Tử, nhận Bộ Nữ Nhạc thì mê say theo, bỏ bê việc triều chánh, có khi luôn 3 ngày không ra coi triều, mọi việc đều giao cả cho Họ Quí. Đức Khổng Tử can gián vua Lỗ nhiều lần nhưng không được, lại có thể bị hại vì lời gièm siễm của bọn gian thần. Do đó, trong ngày Lễ Tế Giao, vua Lỗ không nhìn đến, cũng không đem phần thịt tế biếu cho các quan Đại Phu. Đức Khổng Tử nhân việc lỗi nhỏ của vua Lỗ mà xin từ chức, bỏ nước Lỗ đi chu du các nước chư hầu. 3. Thời kỳ chu du các nước chư Hầu: Đức Khổng Tử cùng các học trò đi qua các nước: Vệ, Khuông, Trần, Tống, Thái, Sở, để mong thuyết phục các vua chư Hầu chịu đem cái Đạo của Ngài ra ứng dụng để đem lại thái bình thạnh trị cho dân chúng. Nhưng cái Đạo của Ngài là Vương Đạo nên đi ngược ý đồ Bá Đạo của các vua chư Hầu và quyền lợi của các quan Đại phu nên các vua chư Hầu đều không dám dùng Ngài. Rốt cuộc, sau 14 năm đi chu du các nước không thành công, Ngài phải trở về nước Lỗ, có quan Đại Phu Quý Khang Tử sai Công Hoa ra đón Ngài. Phu nhân của Đức Khổng Tử là bà Thượng Quan đã mất trước đó một năm, nhằm năm Lỗ Ai Công thứ 10. 4. Đức Khổng Tử gặp Thần đồng Hạng Thác. Đức Khổng Tử cùng một số học trò, trên đường qua nước Trần, gặp một đám trẻ nhỏ chơi đùa giữa đường. Ngài ngồi trên xe nhìn đám trẻ, thấy một cậu bé cặm cụi lấy cát đắp một cái thành nhỏ mà không đùa giỡn. Ngài hỏi cậu bé: - Sao cậu không chơi đùa với mấy đứa trẻ kia? Cậu bé đáp: - Đùa giỡn thì vô ích, vì có thể bị rách áo quần, nhọc công mẹ vá, lại buồn lòng cha, nên tôi không giỡn. Nói xong, cậu tiếp tục lo đắp thành. Đức Khổng lại hỏi: - Cậu không tránh cho xe của tôi đi sao? Cậu bé thản nhiên đáp: - Từ xưa đến giờ, xe phải tránh thành, chớ có bao giờ thành tránh xe. Đức Khổng Tử nghe cậu bé trả lời một câu bất ngờ và hay quá, liền xuống xe lại gần cậu hỏi nhiều điều khó khăn, được cậu trả lời thông suốt, sau đó cậu hỏi lại Đức Khổng Tử mấy câu mà Ngài không trả lời được, khiến Ngài rất phục cậu bé, tôn cậu bé làm thầy. Cậu bé ấy là Thần đồng Hạng Thác. "Lúc Khổng Tử dạy về Nhơn đạo thời chưa thông Thiên đạo, còn dùng tửu nhục. Đến khi ngộ đạo cùng Hạng Thác thì trì trai thủ giới, nên mới có câu: Thiên sanh Khổng Tử chơn kỳ trí, tánh mạng công phu thỉ bất minh, vãng Trần lộ ngộ Hạng Thác vi sư, lão tác đồ ty thiếu vi tôn, cùng câu: Trai minh thạnh phục, yết dục dưỡng tinh. Sau ngươi Châu Tử chẳng thông thời vụ, học Trung Dung chưa rồi mà luận đến Thiên đạo, lại chê Khổng Tử, Lão Tử rằng luận thuyết hư vô tịch diệt là dị đoan. Có phải ấy là ếch nằm đáy giếng xem trời nhỏ chăng?" (Đại Thừa Chơn Giáo) Đức Khổng Tử ở Nhơn đạo, nhờ Thần đồng Hạng Thác mà Ngài giác ngộ, tu theo Thiên đạo nên trường trai, tuyệt dục, dưỡng Tinh luyện đạo, đắc phẩm Chí Thánh. 5. Thời kỳ soạn sách và dạy học trò: Khi trở về nước Lỗ, Đức Khổng Tử đã 68 tuổi. Ngài trở lại quê nhà để mở mang việc dạy học và soạn sách. Tổng số môn đệ của Đức Khổng Tử có lúc lên tới 3000 người (Tam thiên đồ đệ), trong đó có 72 người được liệt vào hạng tài giỏi, nên gọi là Thất thập nhị Hiền. Đức Khổng Tử san định lại các kinh sách của Thánh Hiền đời trước như: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch. Ngài ghi chú các lời nói của Thánh Hiền đời trước, xếp đặt lại cho có thứ tự, chú thích những chỗ khó hiểu, nhất là với Kinh Dịch, Ngài chú giải rất kỹ. Sau đó, Đức Khổng Tử viết ra sách Xuân Thu, chép những việc của nước Lỗ và của nhà Châu (Chu) liên hệ với các nước chư Hầu từ đời Lỗ Ẩn Công nguyên niên (721 trước Tây lịch) đến đời Lỗ Ai Công thứ 14 (481 trước Tây lịch), tổng cộng là 242 năm. (Xem chi tiết nơi phần sau: Khổng Tử tác Xuân Thu) Đức Khổng Tử là bậc Chí Nhân Chí Thánh, nhưng Ngài vẫn khiêm tốn không dám nhận mình là Thánh nhân. Đối với các môn đệ, Ngài rất dễ dãi. Hễ ai theo đúng lễ đến xin học thì Ngài không bao giờ từ chối. Ngài thâu nhận học trò, không kể giàu nghèo, con quan hay con dân. Ngài mở ra một nền giáo dục bình dân đại chúng, đào tạo được một lớp người trí thức mới, tài giỏi và có đức hạnh trong giới bình dân. Sự giáo hóa của Ngài chủ yếu là làm sao cho sáng tỏ cái đức sáng của người, chớ không gom vào trong sự truyền thụ kiến thức. Đây là một phương pháp giáo dục rất hay để khai mở cái Tâm của con người vậy. 6. Đức Khổng Tử tạ thế: Mùa Xuân năm Lỗ Ai Công thứ 14 (481 trước Tây lịch), người nước Lỗ đi săn bắt được một con kỳ lân què chân trái phía trước. Đức Khổng Tử đến xem rồi bưng mặt khóc. Khi trở về, Ngài than rằng: Ngô đạo cùng hỹ! (Đạo của ta đến lúc cùng) Sách Xuân Thu chép đến chuyện nầy thì hết, nên đời sau còn gọi sách Xuân Thu là Lân Kinh. Năm Nhâm Tuất đời Lỗ Ai Công thứ 17 (479 trước Tây lịch), một hôm Đức Khổng Tử chống gậy đi tản bộ trước nhà, vừa đi vừa hát: Thái sơn kỳ đồi hồ! Lương mộc kỳ hoại hồ! Triết nhân kỳ nuy hồ! (Núi Thái sơn đổ ư! Cây gỗ tốt hư hoại ư! Triết nhân mòn mỏi ư!) Học trò của Ngài là Tử Cống liền đến hỏi thăm Ngài. Ngài nói: Ta biết mình sắp chết. Đến ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất, Đức Khổng Tử tạ thế, hưởng thọ 73 tuổi. Mộ của Ngài ở bên bờ sông Tứ Thủy, phía Bắc thành nước Lỗ, nay gọi là Khổng Lâm, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông. Ba ngàn đồ đệ của Ngài đều thương tiếc và than khóc, nguyện để tang Thầy 3 năm. Có hơn 100 môn đệ làm nhà chung quanh phần mộ để lo phụng tự trong 3 năm, riêng Tử Cống ở đó hết 6 năm mới thôi. Chu vi đất quanh mộ của Đức Khổng Tử rộng chừng 100 mẫu mà không hề có cây gai và cỏ may mọc. Học trò bảo nhau đi tìm các thứ hoa thơm cỏ lạ ở các nơi đem về trồng khắp chung quanh. 7. Các triều đại phong tặng Đức Khổng Tử: - Năm 739, vua Đường Huyền Tôn phong tặng Đức Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, mặc phẩm phục Hoàng đế, tặng cho các đệ tử các tước: Công, Hầu, Bá. - Năm 1008, vua Tống Chân Tông phong Ngài là: Đại Thánh Văn Tuyên Vương, phong cho thân phụ Ngài là Lỗ Công, thân mẫu Ngài là Lỗ Phu Nhân, vợ là Bà Thượng Quan Thị làm Vân Phu Nhân, và ra lịnh cho các tỉnh lập miếu thờ Ngài. - Năm 1306, vua Minh Thế Tông phong tặng Ngài là Chí Thánh Tiên Sư. - Năm 1645, vua Thanh Thế Tổ phong Ngài là Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương Thánh Sư Khổng Phu Tử. 8. Văn miếu: Văn miếu hay Văn Thánh miếu là tòa nhà dựng lên để làm Đền thờ Đức Khổng Tử và các môn đệ của Ngài cùng với các Tiên hiền, Tiên nho qua các thời đại gồm: a. Tứ Phối: Bốn vị Thánh cùng được phối hưởng cúng tế với Đức Khổng Tử. Tứ Phối gồm: Phục Thánh Nhan Tử (Nhan Hồi) Tông Thánh Tăng Tử (Tăng Sâm) Thuật Thánh Tử Tư (Khổng Cấp) Á Thánh Mạnh Tử (Mạnh Kha) b. Thập Triết: Mười vị Hiền triết, học trò tài giỏi nhứt của Đức Khổng Tử. Thập Triết gồm: Mẫn Tổn (Mẫn Tử Khiên) Bá Ngưu (Nhiễm Canh) Trọng Cung (Nhiễm Ung) Tể Dư (Tử Ngã) Đoan Mộc Tứ (Tử Cống) Nhiễm Cầu (Tử Hữu) Trọng Do (Tử Lộ) Ngôn Yển (Tử Du) Bốc Thương (Tử Hạ) Chuyên Tôn Sư (Tử Trương). c. Thất thập nhị Hiền: 72 vị học trò giỏi của Đức Khổng Tử, nhưng ở dưới Thập Triết một bực.Nói là Thất thập nhị Hiền, chớ thật ra chỉ có 62 vị, vì trong Thất thập nhị Hiền có Thập Triết, nên phải trừ ra 10 vị. d. Tiên Hiền, Tiên Nho: gồm 120 vị, qua các triều đại từ xưa đến nay. 9. Đức Khổng Tử trong Đạo Cao Đài: Đức Khổng Tử là một Đấng Giáo chủ trong Tam giáo thuộc thời Nhị Kỳ Phổ Độ. Nhờ Đức Khổng Tử mà Nho giáo mới được hưng hạnh, và trở thành một học thuyết triết học nhân sinh có hệ thống chặt chẽ và hoàn hảo, chủ yếu dạy về Nhơn Đạo (Đạo làm Người). Không có một giáo thuyết nào dạy Nhơn Đạo hoàn hảo bằng Nho giáo. Trong Kinh Cúng Tứ Thời của Đạo Cao Đài có bài Kinh Nho giáo để xưng tụng công đức của Đức Khổng Tử. Ngày Đại Lễ Vía Đức Khổng Tử được chọn là ngày giáng sanh của Đức Khổng Tử, đó là ngày 27 tháng 8 âm lịch. Hằng năm, khi đến ngày nầy, tại Toà Thánh và các Thánh Thất địa phương đều có thiết lễ Đại Đàn cúng Vía Đức Khổng Tử, có Chức sắc thuyết đạo nhắc lại Tiểu sử của Ngài, và nói về sự ích lợi của Nho giáo đối với sự ổn định trật tự trong gia đình và ngoài xã hội. Do đó, Đức Chí Tôn mới có chủ trương NHO TÔNG CHUYỂN THẾ, tức là dùng tinh hoa của Giáo lý Nho giáo để dạy dỗ người đời, tái lập trật tự và đạo đức trong xã hội. Trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế, Đức Khổng Tử có giáng cơ dạy Đạo. Sau đây, xin chép lại bài Thánh giáo nầy của Ngài: Ngày 17 tháng Giêng năm Nhâm Thân (1932). THI: NGÃ dĩ từ chương giáo nghĩa phương, KHỔNG văn hoằng hóa sự luân thường. PHU thê, phụ tử, quân thần đạo, TỬ đệ phùng thời độ thiện lương. DIỄN DỤ: Các sĩ cùng chư khanh nghe rõ: việc Tam giáo hiệp nhứt. Từ mới mở mang Trời Đất đã có Đại Đạo. Tam giáo vốn một nhà, đời sau chia làm ba, chớ kỳ trung một bổn, kẻ thế không thông hiểu nên tranh luận giành điều chơn giả với nhau hoài. Những người xưng mình là Minh Sư, thọ truyền cho đồ đệ, thì mỗi người cũng muốn khoe tài mình mà truyền khẩu với chúng sanh rằng, đạo mình chánh, đạo khác thì tà: Té ra, mình là manh sư gạt chúng. Nếu Đạo Tiên, Đạo Phật mà không dùng văn chương thì lấy chi mà tả kinh diễn kệ. Còn học Nho mà không học Đạo thì ra người cuồng sĩ kiêu căng. Vậy khuyên mấy sĩ Ba Đạo cũng đồng tìm kiếm gốc cho minh chơn lý, đặng trước độ mình, sau độ chúng. Vậy mới gọi là Chánh kỷ hóa nhơn. Thi rằng: Tam giáo từ xưa vốn một nhà, Người sau lầm tưởng, vọng chia ba. Minh tâm may hiểu đường chơn giả, Mẫn tánh mới thông nẻo chánh tà. Thích, Đạo tỷ như hành bộ khách, Nền Nho ví tợ chiếc đò qua. Muôn ngàn kinh kệ do nơi chữ, Tam giáo từ xưa vốn một nhà. KHỔNG PHU TỬ Nguon:Caodaism.org
-
Bài viết của sư phụ hay quá. Đệ tử xin cám ơn sư phụ đã mở mang tầm mắt cho đệ tử. Chúc sư phụ sức khỏe. Vạn sư an lành. Kính gửi. Lê Bá Trung
-
Hì cái này Chị Châu phải nhờ đến các Cao Nhân khác chỉ rồi. Cái này phước tạp lằm, hình như có liên quan đến môn học Cảm xạ. Trung chỉ nghe nói thôi chứ chưa thử nghiệm con lắc này. Chúc chị vui vẻ. Thân. Lê Bá TRung
-
Chào bạn Châu. Nhà Trung cũng có mấy ông cóc, tác dụng dùng để chiêu tài. Thường thì đúng là người ta thường đặt ông cóc ở bàn thờ Thần Tài để chiêu lộc. Buổi sáng thì quay ông cóc hướng ra đường để chiêu lộc bốn phương ban đêm thì quay vào trong để ông cóc mang tiền vào. Ở nhà Trung thì không đặt ông cóc ở bàn thờ mà tìm cung tốt và hướng tốt để đặt thôi. Ông cóc nhà Trung không có ngậm đồng tiền, mặt hướng ra ngoài cửa buổi tối cũng vậy..và ông cóc nằm trên một cuốn sách theo cách hướng dẫn của sư phụ Thiên Sứ còn nhiều vấn đề khác nữa liên quan đến ông cóc này mà người dân gian xưa đã biết cách sử dụng. Cũng có nhiều người dùng ông cóc để Trấn yếm khi làm, những mẹo đó là mẹo dân gian và hình như trong thời buổi bây giờ ích ai biết và sử dụng. Cóc thì có rất nhiều loại bán rất đại trà. Nếu kết hợp với con lắc có thể kiểm tra được ông cóc có khí hay không? Kính nhờ sư phụ Thiên Sứ và các Cao Nhân khác góp ý kiến thêm. Thân. Lê Bá Trung.
-
Ngoại hình bên ngoài và các yếu tố ảnh hưởng đến ngôi nhà.
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Phong Thủy
Chào anh Châu. Trung cũng có tìm hiểu về những vấn đề này. Theo như Trung được biết thì những nhà bị con hẻm hay đường đâm thẳng vào nhà thì tác hại rất xấu,luồng khí xấu sẽ theo đó vào thẳng trong nhà mang theo bệnh tật, khói bụi làm ảnh hưởng đến những người sống trong nhà này. Cũng giống như anh Châu nói thường thì người ta gắng gương, CD, chuông gió để giảm tác động đó. Anh Châu nói cũng có lý, nhưng thiết nghĩ nếu nhà nảo bị hẻm hoặc đường đâm thẳng vào cũng gắng gương và bát quái thì sẽ ảnh hưởng đến người xung quanh vì khả năng phản chiếu của gương và bát quái, chưa nói đến có khi mọi người sẽ cảm thấy chóng mặt khi bước vào trong nhà đó. Tốt nhất là trồng hàng cây để ngăn cản luồng khí xấu đó lại hoặc nhà rộng có sân có thể ngay Minh Đường xây một hồ nước, vòi phun, Khi vòi nước phun sẽ tạo những hạt nước li ti nhỏ mang theo những luồng khí tốt vào nhà. Cái này là do Trung đọc sách và tìm hiểu thêm, không biết có đúng hay không? Anh Châu có thể hỏi thêm một vài cao nhân trong diễn đàn này, mọi người sẽ giúp thêm cho anh. Chúc sức khỏe. Thân. Lê Bá Trung -
Kỳ Lân Kỳ Lân là một giống thú linh trong hàng Tứ linh (Long, Lân, Qui, Phụng). Lân là con cái, còn con đực gọi là Kỳ, gọi chung là Kỳ Lân. Kỳ lân ở cửa một ngôi chùa Nhật Bản Theo truyền thuyết, Kỳ lân thuộc loài nai, hình dáng giống như con hươu, mình vằn, có một sừng trên đầu, chỉ ăn cỏ, nên gọi nó là Nhân thú (con thú có lòng nhân từ). Đôi Kỳ lân gốm là vật khí mang lại sự bình an thuận hoà, con cái thông minh hiếu thảo, tài lộc dồi dào.Ngũ hành: Thổ Cách trưng bày: Bày ngoài cửa hoặc trong phòng khách, văn phòng làm việc. Dùng bày phía Đông Bắc, Tây Nam, Chính Nam, Đông Nam. Kỳ lân đứng một chân trên quả cầu bát quái Cá chép ngậm ngọc Trong truyền thuyết ai cũng biết câu chuyện cá chép vượt vũ môn hoá rồng, vì thế cá chép được coi là biểu tượng cho sự kiên trì, bền chí, linh thiêng, cao quý. Cá chép là một trong những pháp khí vô cùng tốt cho cả hai phương diện công danh và tài lộc. Ngũ hành: Thuỷ. Trong làm ăn buôn bán thì cá chép đại diện cho Thuỷ khí tức là nguồn tài lộc dồi dào. Cách trưng bày: trong phòng khách, phòng làm việc. Hổ mạ vàng Trong phong thuỷ thường dùng hai khái niệm là "Tả thanh long, hữu bạch hổ" để chỉ hai cục thế bên cạnh huyệt. Hổ là con vật linh thiêng và đầy uy quyền thường được thờ phụng, đại diện cho chư vị tướng quân chuyên phù trợ chánh pháp. Chính vì thế nó là biểu tượng cho quyền lực, cho công danh và sự tăng tiến trong kinh doanh. Hổ dùng tiếp khí cho các cát tinh Lục Bạch, Bát Bạch. Cũng có thể bổ trợ cho bản mệnh người tuổi Dần. Hổ mạ vàng đại diện cho quyền lực Ngũ hành: Kim. Là pháp khí của công danh, tài lộc và quyền lực,chống lại tiểu nhân. Cũng có thể dùng để trấn yểm khi nhà bị phạm vào cấm kỵ hoặc bị Sát tinh chiếu hướng. Cách sử dụng: Đặt nơi phòng khách, trên bàn làm việc, nơi các vượng tinh như Lục Bạch, Bát Bạch phối chiếu. Trấn yểm nơi hung tinh chiếu đến, hỗ trợ cho bản mệnh người Dần, Ngọ, Tuất, Mão,Thìn. Tránh đặt trong phòng ngủ, nơi hung tinh Nhị Hắc, Tam Bích chiếu đến. Hổ trấn yểm nơi đền chùa Nguồn:phapkhiphongthuy
-
Chào chị Long Thùy. Mục này là mục trao đổi học thuật, chị chuyển topic này xuống mục tư vấn sẽ có các Cao Nhân hỗ trợ giúp chị. Chúc chị thành công. Thân. Lê Bá Trung
-
Gia đình tôi có mảnh đất 5 x 20 m, hướng đông nam (hơi chếch đông), mặt ngõ 2,2 m. Gia đình tôi dự định xây nhà từ 75 đến 80 m2, 4 tầng (3 tầng, 1 tum), 5 phòng ngủ. Gia đình gồm bố (sinh năm 1947), mẹ, tôi (1974), em gái và em trai (1979). Yêu cầu: Tầng một có chỗ để xe, garage, phòng khách, bếp, có thể có một phòng ngủ. Tầng hai gồm phòng sinh hoạt chung, phòng ngủ. Tầng ba là hai phòng ngủ. Tầng 4 có phòng thờ, chỗ giặt, phơi... Các phòng đảm bảo độ sáng, có thể thiết kế các tiểu cảnh, cây xanh ở tầng một, sân.. Năm nay (2008) gia đình tôi dự định xây có được không? Rất mong nhận được sự tư vấn thiết kế, phong thủy. Trả lời: Chủ nhà sinh năm 1947 (Đinh Hợi), quẻ mệnh Cấn - Thổ (Sao bát bạch), ngũ hành đại khe thuỷ (nước khe lớn), thuộc Tây tứ mệnh. Chủ nhà nên làm nhà theo Tây tứ trạch để "trạch mệnh tương phối" (đất và người có sự tương hỗ). Người sinh năm 1947 (nam) nên chọn hướng làm nhà như sau: Sơ đồ bát quái: Bốn hướng lành là tây nam (sinh khí), tây bắc (thiên y), tây (diên niên) và đông bắc (phục vị). Bốn hướng dữ gồm nam (họa hại), đông (lục sát), bắc (ngũ quỷ) và đông nam (tuyệt mệnh). Những hướng lành ưu tiên cho cửa chính, phòng ngủ của gia chủ. Hướng cầu thang, hướng bếp… là những hướng dữ. Nếu trùng vào hướng đón gió, bạn hãy dùng thêm chuông gió, mành trúc, một số "vật khí phong thuỷ" để trấn áp. Hướng dữ, không phục vụ việc đón gió, bạn nên bố trí tại đây những vị trí như nhà kho, nhà vệ sinh… Với hướng nhà của anh đông nam (hơi chếch đông) đều là hai hướng không tốt cho tuổi 1947. Tuy nhiên các KTS kết hợp giữa kiến trúc và phong thủy sẽ có những giải pháp hóa giải được. Chủ nhà sinh năm 1947 (Đinh Hợi) rất hợp với những màu vàng đậm. Đây cũng vừa là màu của những bậc quan chức, cũng vừa phù hợp với tính cách mạnh mẽ của những người sinh ra trong năm này. Việc xây nhà năm nay là rất tốt. Năm 2008, tuổi chủ nhà thuộc cung Phúc Đức rất thuận lợi cho việc xây nhà. Chúng tôi không nghiên cứu theo kim lâu hay thái tuế vì có nhiều nguồn tin chưa được chính xác về hai phương pháp này. Về kiến trúc, garage ôtô được ngăn cách với không gian sử dụng của ngôi nhà qua hệ kính chịu lực. Không gian từ tầng một nhìn liên thông tạo cảm giác rộng và khoáng đạt. Thang rộng và dài, tạo ra khoảng thông thoáng từ trên xuống, ánh nắng tự nhiên có thể xuống phòng khách một cách dễ dàng. Mặt bằng tầng 1. (Click vào ảnh) Với phòng ngủ tầng một, được thông thoáng bằng góc giếng trời tại đây sẽ là bức tranh cho kiến trúc sư thể hiện những thiết kế tiểu cảnh của mình, nhằm tạo ra sự hấp dẫn cho căn phòng phía sau nhà, đồng thời tạo cho giếng trời không chỉ đơn thuần là thông thoáng. Bếp ăn được bố trí liên thông với phòng khách, được ngăn cách bởi bệ quầy bar,tại đây gia đình có thể giành cho việc ăn nhanh hay ly cafe trước khi đi làm hoặc khi về nhà. Mặt bằng tầng 2. (Click vào ảnh) Phòng sinh hoạt chung được bố trí tầng hai. Tại đây như một phòng khách thân mật hoặc dùng cho những cuộc liên hoan gia đình vào cuối tuần. Hai phòng ngủ rộng với đầy đủ tiện nghi và cách bài trí hiện đại, ngăn nắp là điều lý tưởng, thích hợp cho cuộc sống căng thẳng. Việc tạo không gian lớn cho phòng ngủ sẽ rất hợp lý nếu đằng sau nhà rộng và có vỉa hè thông thoáng. Mặt bằng tầng 3. (Click vào ảnh) Không gian phòng ngủ của tầng ba rộng. Trong phòng bạn có thể bố trí được bộ bàn ghế của riêng mình. Với diện tích 30 và 40 m2, có thể bài trí như một căn hộ độc lập với đầy đủ những yêu cầu cần thiết của mình. Khu vệ sinh rộng và tiện nghi sẽ giúp gia chủ có thêm tính riêng tư. Mặt bằng tầng tum. (Click vào ảnh) Tầng tum dành cho không gian thưởng thức, tại đây ta có thể thiết kế được một khu sân vườn lý tưởng, tạo những khoảng nghỉ ngơi thư giản sau những vất vả ngày thường. Chúc anh có sự lựa chọn thật chính xác, kết hợp với KTS và phong thuỷ sẽ tạo cho gia đình một ngôi nhà hoàn thiện, như ý. Nguồn:KTS Vũ Quang Định, KTS Bùi Văn Thiệp
-
Một ngôi nhà được coi là thịnh vượng, đem đến sự thoải mái an toàn cho gia chủ không phải chỉ có kiến trúc đẹp, trang thiết bị hiện đại là đủ, mà còn phải có điều kiện môi trường xung quanh tốt. Nếu điều kiện của địa hình bên ngoài không tốt thì kiến trúc bên trong cho dù có chăm chút đến mấy cũng là không đủ, thậm chí khó tránh khỏi sự suy giảm về sức khỏe, tài lộc và công việc. Địa hình bên ngoài ngôi nhà chính là một trong những yếu tố rất quan trọng. Trong khoa học gọi là yếu tố cần cho sự thịnh vượng của những người sống trong nhà. Nhà đâm ngõ Một trong những ảnh hưởng không tốt của địa hình bên ngoài đối với một ngôi nhà là bị đường lộ hoặc ngõ hẻm đâm vào. Cửa nhà nằm trực diện với đường lộ lớn, xe cộ và người qua lại luôn thẳng hướng đi tới, tạo cảm giác luôn có thể xảy ra tai nạn vào bất cứ lúc nào, từ đó sẽ gây tâm lý bất an. Cư trú lâu ngày trong ngôi nhà như thế dễ bị suy giảm sức khỏe, sinh ra bệnh tật, dễ làm nảy sinh những quyết định sai lầm ảnh hưởng tới cuộc sống, sự nghiệp. Đối với trường hợp là ngõ hẻm nhỏ, hoặc khe hở hẹp giữa hai tòa nhà đối diện (gọi là xung thiên sát) mà nhỏ hơn so với cửa nhà hoặc bề mặt đối diện của ngôi nhà thì càng tạo ra xung khí mạnh cuốn theo không khí, gió, bụi, tạp âm tác động đến gia chủ. Sự tác động đó có thể ví như dòng chảy xiết và những ảnh hưởng xấu càng diễn ra nhanh hơn. Trường hợp này, xây cất cửa hàng cửa hiệu để kinh doanh cũng không tốt. Trên đây là 2 trường hợp nên tránh khi xây dựng một ngôi nhà. Vì, nếu chỉ chú trọng đến phương hướng, bố cục, cách bài trí của ngôi nhà mà không quan tâm đến cấu trúc tốt xấu của địa hình bên ngoài, chính là chỉ chăm chút phần ngọn mà bỏ qua phần gốc. Nguon:Camnangkienthuc
-
Để hoàn thiện nơi ăn chốn ở của mình, con người đã trải qua một chặng đường dài tìm tòi thử nghiệm không mệt mỏi. Thế mà cho đến nay, một không gian kiến trúc gần gũi, thân thiện với môi trường tự nhiên hay còn gọi là kiến trúc sinh thái (KTST), kiến trúc xanh, kiến trúc bền vững vẫn còn là ước mơ. Đây là thể loại kiến trúc ra đời trong bối cảnh môi trường toàn cầu đang ngày càng xấu đi. Việc gia tăng dân số cùng với tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh chóng. Việc khai thác vô độ tài nguyên khắp hành tinh đang huỷ hoại môi trường sinh thái. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ làm cho con người ý thức được nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên năng lượng truyền thống và thúc đẩy xu hướng khai thác năng lượng sạch và tái tạo tiềm năng trong thiên nhiên, đồng thời ý thức việc bảo vệ môi trường ngày càng trở nên bức bách. Chính vì vậy, việc tổ chức lại cuộc sống phù hợp với hệ sinh thái toàn cầu và phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu tối thượng trong thế kỷ 21. “Phát triển bền vững là khả năng trong lúc thoả mãn các nhu cầu của con người đương đại, không làm tổn hại đến việc thoả mãn các nhu cầu của con người mai sau”. Nội dung cơ bản của KTST là thể hiện sự kết hợp sinh hoạt của con người với công trình kiến trúc phù hợp với môi trường, giảm chất thải trong cả quá trình từ thi công sử dụng đến loại bỏ, nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, không gây ô nhiễm môi trường. Đây là mô hình thích hợp cho sự hài hoà giữa con người và thiên nhiên. Các kiến trúc sư đã và đang miệt mài tìm kiếm những giải pháp thiết kế KTST dựa trên cơ sở hạn chế tối đa sử dụng các nguồn năng lượng, vật liệu không thể tái sinh, tận dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng nước. Sử dụng thông gió, che chắn tự nhiên, khai thác các yếu tố cây xanh mặt nước để cải tạo vi khí hậu, vừa đáp ứng được cư trú lành mạnh dễ chịu vừa giảm tối đa thiết bị cơ giói, từ đó giảm chi phí đầu tư xây dựng và sử dụng trong suốt vòng đời của công trình. Mục đích của KTST là hướng tới phục vụ con người, vì con người mà sáng tạo môi trường không gian nhỏ (vi khí hậu) dễ chịu, đồng thời bảo vệ môi trường lớn (môi trường vĩ mô) chung quanh. Như vậy, nếu chúng ta đem so sánh KTST phương Tây với phong thuỷ của phương Đông thì có thể thấy nhiều trùng hợp về quan điểm và phương pháp thực hành. Xuất phát từ nền triết học cổ phương Đông, xem con người là tiểu vũ trụ, là hình ảnh thu nhỏ của đất trời - đại vũ trụ, cho nên con ngưòi sống phải hài hoà với tự nhiên, với các quy luật cơ bản của tạo hoá. Phong thuỷ coi trọng việc chọn vị trí xây dựng công trình ở những nơi đất tốt (đất phát), hội tụ rất nhiều yếu tố, trong đó có: Gió - yếu tố được tạo ra bởi khí lực của đất cũng là luồng khí gồm có khí trời và khí đất, là yếu tố sinh ra vũ trụ và vạn vật. Nước - được sinh ra từ mạch đất, chảy theo thớ đất, nuôi đất. Nước rất quan trọng vì là nguồn sống của đất, của động thực vật. Long mạch - là mạch đất trong đó có khí mạch. Long huyệt - là nơi khí mạch của núi sông ngưng kết lại. Minh đường - là khoảng trống phía trước huyệt. Các yếu tố này làm nên cảnh quan môi trường sinh thái tốt, đảm bảo sự phát triển của con người, của một đô thị hay một quốc gia. Một cách tổng quát, phong thuỷ quan niệm phải gắn bó hữu cơ với vũ trụ theo các quy luật tự nhiên và kiến trúc phải có cấu trúc hài hoà với địa hình cảnh quan, tận dụng các ưu thế, hạn chế các tác hại của môi trường một cách sáng suốt. Về phương pháp tổ chức không gian, phải dựa trên cơ sở phân tích kỹ địa hình cảnh quan từng mặt của tổ phần nằm trong mối tương quan chung của tổng thể, hoặc có thể cải tạo một phần để đạt đến cấu trúc không gian tốt nhất. Không gian nội thất phải có cấu trúc phù hợp với địa hình cảnh quan về phương vị và tỷ lệ theo một trật tự quy ước. Như vậy có nghĩa là trước tiên cần xác định vị thế, cục diện địa hình và hướng chủ đạo của nó. Xác lập trục không gian kiến trúc qua vị trí trọng điểm của vùng đất đã chọn theo trục địa hình cảnh quan nằm trong mối tương quan với phương vị của vũ trụ. Thiết kế phong thuỷ theo các nguyên tắc sau đây: – Cấu trúc không gian được phân vùng quy ước, tuân thủ theo một trật tự của vị thế theo không gian chủ đạo. Cách cấu tạo tượng trưng của không gian khác nhau thể hiện một trật tự chung hoà hợp giữa công trình kiến trúc và không gian cảnh quan bao quanh. – Cấu trúc không gian xử lý theo dạng chồng lớp, phân tầng bậc từ lớn tới nhỏ. Không gian lớn bao gồm nhiều không gian nhỏ lồng vào nhau. Các công trình kiến trúc tỷ lệ với không gian nhỏ bao bọc quanh nó rồi mở dần ra không gian lớn hơn. – Phong thuỷ chú ý tới cấu trúc không gian cảm quan trường thị giác và trường lực của vũ trụ. – Địa hình cảnh quan được đánh giá theo cảm quan của con người - chủ thể công trình. Đặt con người vào vị trí điểm mở của công trình (cửa chính) làm đối tượng đánh giá. Phải có tầm mở ra cảnh quan đẹp, có các yếu tố cảnh quan hướng về (ôm ấp bảo vệ một cách hài hoà cân đối). Một cách tổng quát, một cấu trúc phong thuỷ tốt dựa trên tổ chức không gian hữu hiệu, chú ý tới quan niệm cân đối, hài hoà, vững chắc và khoảng trống. Ngôi nhà phải phù hợp với cảnh quan. Không gian nội thất với cách bố trí bên trong phù hợp với cấu trúc ngôi nhà và cảnh quan; đạt được sự lưu thông, điều hoà các luồng khí, lực của trời đất, tác động lên con người sống ở đó theo chiều hướng tốt nhất. Như vậy về căn bản, KTST ra đời ở phương Tây không phải xa lạ mới mẻ mà rất gần gũi quen thuộc, nếu không muốn nói là giống hoặc trùng hợp với phong thuỷ của phương Đông được thể hiện trong các kiến trúc dân gian, truyền thống của các nước Á Đông, trong đó có Việt Nam mà lịch sử phát triển lâu dài của chúng đã minh chứng một sự gắn bó bền chặt giữa con người, kiến trúc và thiên nhiên theo kiểu thiên - địa - nhân, giống KTST bảo đảm sự cân bằng giữa con người - xã hội - thiên nhiên kiểu phương Tây. Rõ ràng ở đây có sự gặp gỡ trùng hợp đến lạ kỳ! Và KTST thật sự tiêu biểu cho xu hướng kiến trúc thân thiện với môi trường của thế kỷ 21, mục tiêu vươn tới của giới kiến trúc sư ngày nay. Nguon:camnangkienthuc
-
Phòng ngủ có góc nhìn ra ngoài với giường kiểu dáng lạCăn nhà này vốn là nơi ở và làm việc của một công ty, được xây dựng cách nay 8 năm nhưng đã xuống cấp. Chủ nhân ngôi nhà trên là một doanh nhân thường đi công tác khắp nơi. Mỗi khi trở về nhà, chị cảm thấy không khí ngột ngạt trong cái tổ ấm cũ kỹ của mình. Thế là chị bàn với kiến trúc sư khoác lại chiếc áo mới cho ngôi nhà theo phong cách đương đại, ấm cúng của vùng nhiệt đới, tương tự như những không gian ở Singapore mà chị đã từng lưu trú. Cuối cùng, kiến trúc sư đã tìm được “cái bầu đựng gió” của ngôi nhà này là ở mặt sau, hướng đông nam, tiếp giáp với khoảng sân trống lớn của một doanh trại. Kiến trúc sư đã điều chỉnh lại công năng trong nhà và mạnh dạn cắt xén một phần đuôi nhà vào 90cm, khoét bỏ sàn và bỏ vách sau cùng. Gió từ sân sau kết hợp với khoảng trống vạt xéo của giếng trời giữa nhà tạo nên một luồng đối lưu khá tốt. Các vách ngăn tường đặt giữa các phòng và cầu thang được tháo bỏ, thay vào đó là các vách thoáng song gỗ và kính cường lực. Sự sang trọng và thiên nhiên cây xanh trong nhà dần dần lộ diện, đứng bất kỳ vị trí nào cũng có được những góc nhìn thú vị. Ngẫu nhiên hay có chủ đích? Ngày rằm, ánh trăng len lỏi vạt xéo trên bức tường sau nhà và gió nhẹ thổi qua khiến cho bữa ăn tối của gia đình lúc ấy thật ấm cúng. Phòng ăn cạnh giếng trời nên thoáng mátNội thất hiện đại nhưng vẫn mang màu sắc Á ĐôngPhòng ngủ có góc nhìn ra ngoài với giường kiểu dáng lạ Phòng khách nhìn ra mặt sau Lấy gió từ mặt sauMặt bằng trệtMặt bằng lầu 1 Nguon:Camnangkienthuc
-
Ngày càng nhiều doanh nhân tin vào thuật phong thủy trong công việc của mình. Phong thủy giúp họ có thêm niềm tin vào kết quả kinh doanh. Như ông bà ta có câu “có kiêng có lành”, rất nhiều doanh nhân trước khi thành lập doanh nghiệp đã cẩn thận nhờ thầy phong thủy xem tuổi của mình và cộng sự đồng thời xem cả các vấn đề như cách bài trí văn phòng, mạng và màu sắc… Chẳng hạn người có mệnh Kim tránh sử dụng các màu màu hồng, màu đỏ, màu tím để trang trí văn phòng và thiết kế thương hiệu; người tuổi Tý không cộng tác với những người tuổi Ngọ…Vậy liệu thuật phong thủy có thực sự hiệu quả và đâu là tiêu chí để đánh giá? Dĩ nhiên nếu nhìn nhận phong thủy dưới góc độ khoa học chứ không phải mê tín thì rõ ràng đây là một việc đáng để đầu tư thời gian.Phong thủy trong hệ thống nhận diện thương hiệu sẽ liên quan đến màu sắc, hình dạng logo, bài trí và sắp xếp văn phòng hoặc cửa hàng.1) Màu sắcTheo phong thủy, các màu như sau sẽ tương ứng với các mạng: Kim = Màu trắng. Mộc = Xanh lục. Thuỷ = Đen. Hoả = Đỏ. Thổ = Vàng. Điểm mấu chốt của chọn màu trong phong thủy không phải là chọn màu hợp với mạng của chủ doanh nghiệp mà phải là màu hợp với đối tượng khách hàng mà doanh nghiệp đó hướng tới. Tuy nhiên, điều này luôn là điều mà đa số doanh nhân lầm lẫn. Chẳng hạn, một doanh nghiệp chuyên về hàng luxury đắt tiền dành cho giới thượng lưu không thể vì mình mạng hỏa mà chọn màu đỏ cho thương hiệu của mình. Ngược lại người mạng Thủy cũng không nên dùng màu xanh hay đen nếu đối tượng khách hàng hướng đến của họ là tuổi teen.Màu sắc cũng phải được chọn phù hợp với lĩnh vực kinh doanh, văn hóa và địa lý. Các màu nóng được cho là thể hiện sự sôi nổi, tuổi trẻ và năng lượng. Trong khi các màu lạnh lại đại diện cho sự thăng bằng ổn định, đáng tin cậy và hài hòa. Đó là vì sao rất nhiều logo ngân hàng có màu xanh dương và logo thức ăn nhanh có màu vàng và đỏ. Người miền nam có khuynh hướng thích các màu rực rỡ trong khi miền bắc lại có khuynh hướng thích những gam màu trầm.Thức ăn và đồ uống phải được chọn màu gần giống tự nhiên, bắt mắt như vàng nâu, đỏ, xanh lá… chứ không phải màu xanh dương hay tím. Đó là lý do vì sao Pepsi không thể bán được loại pepsi xanh của mình vì nó làm người tiêu dùng nghĩ là có độc và không tự nhiên.Chọn lựa tông màu cho doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào màu sắc của đối tượng cạnh tranh. Dĩ nhiên nếu muốn khách hàng ghi nhớ thương hiệu của mình thì bạn không nên bê nguyên xi màu sắc của thương hiệu có trước vào mình. Trừ khi chiến lược của bạn là gây nhầm lẫn cho khách hàng. Kể từ sự xuất hiện của trà xanh không độ, các nhãn trà xanh ra đời sau cũng giữ màu xanh lá trên bao bì. Và kết quả là rất nhiều khách hàng uống trà xanh mà không thể phân biệt được mình đang uống trà thuộc nhãn hiệu nào.Ngoài ra phong thủy trong màu sắc cũng liên quan đến sự kếp hợp một cách hài hòa các màu trong bảng màu doanh nghiệp. Có vô số cách phối hợp màu sắc nhưng một sự kết hợp theo phong thủy phải theo cách tính tương sinh giữa các hành và sự hòa hợp giữa âm và dương. Các hành tương sinh và có thể phối hợp với nhau là:Thủy và Mộc = Đen và Xanh lục. Mộc và Hoả = Xanh lục và Đỏ. Hoả và Thổ = Đỏ và Vàng. Thổ và Kim = Vàng và Trắng. Kim và Thủy = Trắng và Đen. Nguon:Ohha.vn
-
Trong ngôi nhà truyền thống Việt Nam trước đây, khu vệ sinh đã có sự tách bạch khô - ướt, bẩn - sạch, dẫn đến nhà tắm thường không ở chung một chỗ với nhà xí. Một số nơi trên thế giới còn tổ chức thành nhà tắm công cộng (như ở Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc) và nâng việc tắm rửa thành một nghi thức, một thú vui thiết thân chứ không chỉ là tẩy rửa cho cơ thể thanh sạch. Phong thuỷ hiện đại cũng đề ra những đặc thù riêng cho khu vệ sinh, khác với những quan niệm cũ và nêu bật tầm quan trọng hàng đầu của khu vệ sinh tương đương với hệ thống cửa (Môn) và bếp (Táo) trong ngôi nhà đương đại Một ví dụ về trang trí ốp lát phòng vệ sinh theo đặc trưng hành Thuỷ Nhất vị nhị hướngTrong bài trí không gian hợp phong thuỷ, có được vị trí phù hợp thì sẽ dễ dàng xoay chuyển phương hướng và bố cục. Theo nguyên tắc toạ hung thì khu vệ sinh nên đặt vào các hướng xấu, các hướng bất lợi về khí hậu và phối hợp được ngũ hành, âm dương. Ví dụ, hướng bắc thuộc hành Thuỷ, hướng tây và tây bắc thuộc hành Kim, do Kim sinh Thuỷ nên những hướng này phù hợp đặt khu vệ sinh (vốn thuộc Thuỷ). Về mặt khí hậu, các hướng này có nhiều nắng gắt và ở cuối hướng gió (so với hướng gió chủ đạo của nước ta là nam và đông nam) nên phòng tắm đặt tại đây sẽ vừa giúp đón được bức xạ nhiệt giúp luôn khô ráo lại vừa không gặp phải gió đột ngột khi mới tắm xong. Thậm chí khi nhà có mặt tiền là hướng tây nắng gắt, có thể đưa phòng tắm trên lầu ra phía trước nhằm tạo nên không gian đệm che chắn bớt nóng nực cho phòng bên trong cũng như hình thành mảng khối đặc - rỗng (âm - dương) cho mặt tiền nhà. Tất nhiên, cách đặt này cần lưu ý phòng vệ sinh không “đè” lên trục cửa ra vào chính, hay đi đường ống thoát nước xuống cạnh các chỗ ngồi trang trọng tại phòng khách Việc xem xét hướng đặt phòng vệ sinh cũng cần chú ý đến hướng mệnh trạch của gia chủ, dân gian gọi là cách “dĩ độc trị độc” để hung gặp hung hoá cát, đặt khu vệ sinh vào vị trí xấu sẽ hợp hơn là đặt vào vị trí tốt. Vài điều kiêng kỵ Tranh ảnh có tác dụng thư giãn và tạo điểm nhấn cho không gian phòng vệ sinh vừa và nhỏ Một số sách vở và truyền tụng dân gian có thêm những lời khuyên mang tính kiêng kỵ khi bố trí khu vệ sinh, có thể lý giải dưới góc độ khoa học và kiến trúc như sau:a. Tránh đặt khu vệ sinh lên trên đầu bếp hoặc tránh nằm ngủ dưới phòng vệ sinh: khi phòng vệ sinh nằm vào vị trí hung thì dĩ nhiên không gian kề cận cũng nằm trong hệ thống liên quan như đường ống, hộp kỹ thuật, thông thoáng, lối đi… cho nên các phòng vệ sinh trên dưới thẳng hàng nhau thì hợp lý về phương vị hơn. Nếu đưa bếp (Hoả) vào khu có Thuỷ bên trên thì sẽ gặp xung khắc ngũ hành. Còn vị trí giường ngủ luôn cần toạ cát nên không thể trùng phương vị toạ hung của khu vệ sinh được. b. Kiêng kỵ mở cửa phòng vệ sinh thẳng với cửa chính, lối vào chính của nhà: điều này ngoài ý nghĩa về giữ gìn thẩm mỹ, che chắn tầm nhìn, còn liên quan đến trục dẫn truyền khí trong nội thất. Thay vì mở cửa trực xung đối môn như vậy rất dễ gây gió lùa thì có thể đặt bình phong hoặc tạo vách ngăn che chắn nếu như không thể xoay chuyển cửa được. c. Kỵ đặt phòng vệ sinh ngay trung cung của nhà: vì phần trung tâm của mọi cuộc đất - ngôi nhà vốn thuộc Thổ (khắc Thuỷ), là nơi trang trọng và đòi hỏi sự cao ráo, sáng sủa, thoáng đãng và trang nghiêm nhất (nhà xưa luôn đặt bàn thờ tại trung cung). Nếu đặt phòng vệ sinh tại trung cung thì vừa làm hỏng nội khí của nhà, vừa bất lợi cho khu vệ sinh vì rất khó thông thoáng, đồng thời khu vệ sinh cũng gây ảnh hưởng xấu đến toàn bộ các công năng khác. Tiện nghi và kỹ thuật Tuy hiện nay đa số gia đình làm nhập chung cả ba tiện nghi tắm – lavabo – bàn cầu trong một phòng vì những hạn chế về diện tích và kinh phí, nhưng tốt nhất là nên tách riêng chúng ra nếu có thể bằng những cách ngăn chia “cứng” – như xây tường, làm vách kính - hoặc “mềm” như dùng rèm che, cửa lùa… Trong khu vệ sinh, chỗ tắm thường bị tụ ẩm nên cần đánh dốc thoát nước tốt và mở được cửa sổ ra ngoài để thoáng khí và dẫn dương quang (ánh sáng mặt trời) vào nhiều hơn. Nếu muốn tách phần tắm với khu vệ sinh, có thể dùng khung cửa kính, vách di động nhằm tạo một trường khí riêng. Đơn giản hơn chỉ cần dùng tấm vải nhựa không thấm nước với ray kéo trên cao sẽ giúp kín đáo và tránh nước rơi vãi ra sàn. Những màu sắc dịu đem lại cảm giác thư giãn (như tông màu trắng và xanh thuộc các hành Kim, Thuỷ và Mộc là ba hành tương sinh với Thuỷ). Những màu đậm và ấm cũng có thể sử dụng cho phần nền và tường, nhưng hạn chế dùng màu chói lọi hoặc quá tương phản trong khu vệ sinh vì tính thư giãn nhẹ nhàng luôn cần được tôn trọng. Hệ thống nước phòng tắm cần luôn thông suốt, nếu có sự cố phải sửa chữa ngay, tránh tình trạng nước bị rò rỉ, thất thoát, bởi nước sinh hoạt cũng chính là nguồn khí trong nhà. Cửa khu vệ sinh hay chỗ đặt lavabo có thể nhìn thấy từ cửa chính, nhưng chỗ tắm và bàn cầu thì không nên, bởi tính riêng tư và kỵ trực xung của khu vực này. Nếu không tránh được, đặt thêm mành chắn, bình phong gỗ hay cây xanh để ngăn tầm nhìn từ cửa chính vào. Nguồn:Baymau.net
-
Nhà ở là một vấn đề quan trọng liên quan đến đời sống của chúng ta, một căn nhà tốt về mặt phong thủy đảm bảo cho gia đình được êm ấm hạnh phúc, tiền bạc làm ra tích lũy được, con cái ngoan hiền hiếu thảo. Trái lại một căn nhà có khuyết điểm về phong thủy thường mang lại nhiều trở ngại và bất ổn trong cuộc sống. Khi mua nhà hay thuê nhà ai ai cũng mong muốn có được một căn nhà hoàn chỉnh về phong thủy. Thế nhưng trên thực tế hiếm khi các bạn có được cơ hội đó bởi nhiều yếu tố sau: - Căn nhà hợp với chủ cũ khác tuổi tác của mình nên vấn đề phong thủy cũng có phần sai biệt. - Sự thiết kế của căn nhà không phù hợp với nhu cầu hạnh phúc của gia đình trong mỗi giai đoạn cuộc đời. Vì thế khi vào ở một căn nhà chúng ta phải biết rõ khuyết điểm của căn nhà và khoa phong thủy có tác dụng điều chỉnh hay hóa giải những khuyết điểm kể trên để cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn. Phương cách hóa giải thì nhiều và đa dạng phong phú. Thế nhưng để chọn lựa phương cách hóa giải phù hợp với mức độ ảnh hưởng xấu để không gây ra những ảnh hưởng phụ khác đó là điều nên thận trọng. Và để hóa giải phong thủy của một căn nhà chúng ta cần phải nghiên cứu từng bước một. I/- Nghiên cứu toàn bộ khuyết điểm căn nhà: Ðây là bước đầu tiên cũng là bước quan trọng nhất quyết định thành công hay thất bại trong việc hóa giải. Nếu công việc này làm không hiệu quả hay thiếu sót thì việc hóa giải chỉ nửa vời không đạt được kết quả mong muốn. Nhiều người cho rằng gia chủ có một căn nhà hợp hướng là tốt đủ rồi, không cần quan tâm đến những điều khác. Ðây là một điều sai lạc vô cùng. Một căn nhà tốt phải hội đủ và hài hòa tất cả yếu tố phong thủy trong căn nhà chứ không chỉ riêng phương hướng là đủ. Ví dụ một căn nhà đúng hướng nhưng tọa tạc trên một mảnh đất tam giác, đất nghiên trủng, hay là ở trong nhà có bếp lò, nhà cầu, cầu thang nằm ngay giữa nhà thì cũng không tốt. Tóm lại có rất nhiều điều cần phải quan tâm đến khi muốn biết một căn nhà hợp phong thủy hay không. Khi xét phong thủy một căn nhà là phải tổng hợp tất cả các yếu tố trong và ngoài căn nhà chứ không nên dựa vào một vài đặc điểm nào đó mà bỏ quên đặc điểm khác. Tìm biết hết tất cả khuyết điểm của căn nhà là một điều cần thiết, vì có như vậy chúng ta mới có thể hóa giải triệt để những ảnh hưởng xấu đối với căn nhà. Có thể tạm phân loại các khuyết điểm về phong thủy như sau : - Âm dương: Một căn nhà gặp khuyết điểm về âm dương thường rơi vào trường hợp cô dương hay cô âm: Trường hợp cô dương (hay dương thịnh) như sáng quá, chói lòa, màu sắc rực rỡ, ồn ào, náo nhiệt. Hay cô âm (hay âm thịnh) như u tối, thiếu ánh sáng, trống vắng, thiếu sinh khí, màu sắc ảm đạm, âm u, ẩm mốc bẩn thỉu mang nhiều âm khí đều không tốt cho gia chủ, ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng. - Ngũ hành: Một căn nhà phạm khuyết điểm về ngũ hành thường do việc bố trí phòng ốc hay trang trí không thích hợp như là phối trí màu sắc, bông hoa, cây cỏ, bàn thờ, bếp, bồn cá, lò sưởi không đúng phương vị. Nếu có sự xung khắc thường mang lại sự xung đột bất hòa trong cuộc sống. - Hình thể nhà và đất : Do khuyết điểm của thế đất không bằng phẳng, hình dáng khuyết tật, nhà cửa xây dựng mất cân đối, các cung vị bát quái bị lồi lõm. - Phòng ốc: Sự bố trí phòng ốc trong căn nhà được hài hòa thuận vị là điều tốt đẹp. Thế nhưng nếu bố trí nghịch vị thì cần phải có sự hóa giải đúng mức và kịp thời. Ví dụ như cửa phòng ngủ trực diện với phòng tắm; phòng ngủ nằm ngay trên bếp, bàn thờ; cầu thang trổ ra cửa vv. Phòng tắm nằm ngay trên, phía trước cửa chính; cầu thang đổ ra cửa; ba cửa nhà thông thương; nhà hay phòng có hai lối rẽ; nền nhà cao thấp hay khuyết góc. - Những tác hại xấu do bên ngoài: như là ngã ba đâm vào, đòn dông, cột đèn, cây cổ thụ, biển báo, độ dốc, ao hồ sông rạch, núi đồi cản trở. - Những tác hại xấu từ bên trong: Thường do sự bài trí không đúng phương cách như là kê bàn, ghế, tủ, góc nhà tạo nhiều cạnh đâm vào cửa chính, phòng ngủ, xà nhà chắn ngang đầu... Những yếu tố xấu này thường ảnh hưởng đến sức khỏe của những người sống trong nhà. II/- Nhu cầu hạnh phúc của gia đình: Ðây là bước thứ hai cũng không kém phần quan trọng. Cần biết đâu là nhu cầu hạnh phúc của gia đình trong đại vận hiện tại thì mới có thể đề ra những biện pháp hóa giải hữu hiệu. Ví dụ : Một gia đình lớn tuổi nhu cầu hạnh phúc chính yếu nhất là sức khỏe và tuổi thọ. Nếu có hóa giải khuyết điểm căn nhà thì phải chọn lựa những biểu tượng mang tính hòa hợp tươi vui nhưng trầm mặc như là rùa, hồ lô, sáo trúc, tùng, tượng ngư tiều canh độc. Nhà cửa có cửa chính hay nằm ngủ chọn hướng Thiên Y. Trái lại vợ chồng son trẻ có làm ăn ở nhà, không muốn bị quấy nhiễu hạnh phúc có thể hóa giải phong thủy bằng những biểu tượng mang thể loại mạnh mẽ hơn như thú dữ, xương rồng, thanh kiếm, mũi tên sắc, súng đại bác. Trường hợp vợ chồng gay cấn, xung đột mong muốn có hạnh phúc thì nên chọn những biểu tượng phong thủy như Long Phụng hòa minh, đôi chim tỉa cánh, bông hoa mang màu sắc tươi mát và thích hợp với ngũ hành của hai người. Trở lại ví dụ đầu tiên, nếu căn nhà xấu đối với người lớn tuổi mà dùng các biểu tượng như thú dữ, hay vật dụng hung hãn, chẳng những không có tác dụng tốt lại còn gây thêm áp lực nặng nề hay tạo thêm cảm giác lo ngại cho người lớn tuổi. Chúng ta có thể phân loại nhu cầu hạnh phúc của gia đình như sau : - Tiền tài, - hạnh phúc - sức khỏe, tuổi thọ - con cái . Tùy theo nhu cầu hạnh phúc của gia đình để chọn lựa những biểu tượng hóa giải thích hợp. III/- Phương cách hóa giải: Có nhiều phương cách hóa giải thế nhưng trước khi quyết định chọn lựa một phương cách hóa giải thích hợp cần phải quan tâm đến 2 điểm: 1)- Khi dùng hóa giải tại cung nào nên chú ý đến ngũ hành của cung đó, để sử dụng các biểu tượng phong thủy thích hợp với hành của cung đó. Ví dụ khi muốn thay đổi hay phát triển công việc, thì công việc đầu tiên phải tăng cường cung Quan Lộc tại hướng Bắc căn nhà, thì ta phải chú ý hướng Bắc thuộc hành thủy. Do vậy những vật dụng tăng cường cung này phải tương sinh với hành thủy như màu trắng, vật dụng kim loại, tranh sơn thủy, hồ cá, thác nước. 2)- Khi hóa giải một khuyết điểm của căn nhà nên sử dụng đúng mức biện pháp hóa giải, để tránh những ảnh hưởng phụ do hóa giải quá độ gây ra. Ví dụ: khi hóa giải một phòng tắm xấu ở giữa nhà (trung cung) có thể che kiếng là đủ, chứ không nên vừa dùng kiếng, lại thêm cây kiểng hay dùng súng đại bác để bắn tiêu khuyết điểm này. Ngoài hai yếu tố trên, chúng ta cũng không phải dễ dàng để chọn lựa một biểu tượng thích hợp vì rằng có nhiều biểu tượng hóa giải có cùng tác dụng thì biết chọn biểu tượng nào. Vì thế một biểu tượng hoàn hảo nhất để hóa giải phong thủy phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây: · Hợp Phong Thủy: Ðây là tiêu chuẩn quan yếu đầu tiên, cần phải đạt được. Trong trường hợp có nhiều biểu tượng có cùng tác dụng thì biết chọn lựa thứ nào. Ví dụ: để hóa giải một cái đòn dông đâm vào cửa chính chúng ta có thể dùng nhiều biểu tượng như là mũi tên sắt, súng đại bác, bát quái, kính lồi, trụ phun nước, dời cửa chính và chúng ta chỉ nên chọn lựa một biểu tượng thích hợp nhất mà thôi. Do vậy trước khi quyết định chúng ta phải dựa đến tiêu chuẩn thứ hai. · Hợp nhu cầu hạnh phúc gia đình: Như trên đã nói, đối với người lớn tuổi mong muốn bình an dĩ hòa vi quý thì nên chọn lựa những biểu tượng nhẹ nhàng, không gây tác hại cho người khác mà cũng có thể đạt mục đích yêu cầu của mình. Trở lại ví dụ trên, chúng ta có thể chọn lựa biện pháp treo hình bát quái, kính lồi hay trụ phun nước. Thay vì chúng ta chọn những biểu tượng công phá có thể gây hại cho người khác chỉ thích hợp đối với gia đình trẻ tuổi mà thôi. Trường hợp có nhiều biểu tượng đạt được hai tiêu chuẩn trên thì biết chọn biểu tượng nào. Chúng ta nên chọn biểu tượng phù hợp với tiêu chuẩn thứ ba. · Hợp thẩm mỹ, nhu cầu văn hóa gia đình: Ngoài những biểu tượng căn bản chúng ta cũng có thể sáng tạo những biểu tượng khác đạt được mục đích trên lại phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ, hay địa vị gia chủ trong xã hội nữa. Ví dụ : ở khu vực kinh doanh người Mỹ có khi chúng ta dùng hình bát quái không thích hợp bằng kính soi hay những vật dụng phản chiếu đầy thẩm mỹ khác chẳng hạn. Nguồn: Sưu tầm.