Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Lê Bá Trung

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    526
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by Lê Bá Trung

  1. Gửi anh Hoàng Long. Em cám ơn góp ý của anh Hoàng Long. Vì sơ xuất trong lúc đang làm việc và việc post bài lên mạng nên không ghi rõ nguồn . Chân thành cám ơn anh đã nhắc nhở. Chúc anh nhiều sức khỏe, vạn sự như ý.
  2. Những cách hóa giải trong phong thủy. Nhà ở là một vấn đề quan trọng liên quan đến đời sống của chúng ta, một căn nhà tốt về mặt phong thủy đảm bảo cho gia đình được êm ấm hạnh phúc, tiền bạc làm ra tích lũy được, con cái ngoan hiền hiếu thảo. Trái lại một căn nhà có khuyết điểm về phong thủy thường mang lại nhiều trở ngại và bất ổn trong cuộc sống. Khi mua nhà hay thuê nhà ai ai cũng mong muốn có được một căn nhà hoàn chỉnh về phong thủy. Thế nhưng trên thực tế hiếm khi các bạn có được cơ hội đó bởi nhiều yếu tố sau: - Căn nhà hợp với chủ cũ khác tuổi tác của mình nên vấn đề phong thủy cũng có phần sai biệt. - Sự thiết kế của căn nhà không phù hợp với nhu cầu hạnh phúc của gia đình trong mỗi giai đoạn cuộc đời. Vì thế khi vào ở một căn nhà chúng ta phải biết rõ khuyết điểm của căn nhà và khoa phong thủy có tác dụng điều chỉnh hay hóa giải những khuyết điểm kể trên để cuộc sống ngày càng tươi đẹp hơn. Phương cách hóa giải thì nhiều và đa dạng phong phú. Thế nhưng để chọn lựa phương cách hóa giải phù hợp với mức độ ảnh hưởng xấu để không gây ra những ảnh hưởng phụ khác đó là điều nên thận trọng. Và để hóa giải phong thủy của một căn nhà chúng ta cần phải nghiên cứu từng bước một. - Âm dương: Một căn nhà gặp khuyết điểm về âm dương thường rơi vào trường hợp cô dương hay cô âm: Trường hợp cô dương (hay dương thịnh) như sáng quá, chói lòa, màu sắc rực rỡ, ồn ào, náo nhiệt. Hay cô âm (hay âm thịnh) như u tối, thiếu ánh sáng, trống vắng, thiếu sinh khí, màu sắc ảm đạm, âm u, ẩm mốc bẩn thỉu mang nhiều âm khí đều không tốt cho gia chủ, ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng. - Ngũ hành: Một căn nhà phạm khuyết điểm về ngũ hành thường do việc bố trí phòng ốc hay trang trí không thích hợp như là phối trí màu sắc, bông hoa, cây cỏ, bàn thờ, bếp, bồn cá, lò sưởi không đúng phương vị. Nếu có sự xung khắc thường mang lại sự xung đột bất hòa trong cuộc sống. - Hình thể nhà và đất : Do khuyết điểm của thế đất không bằng phẳng, hình dáng khuyết tật, nhà cửa xây dựng mất cân đối, các cung vị bát quái bị lồi lõm. - Phòng ốc: Sự bố trí phòng ốc trong căn nhà được hài hòa thuận vị là điều tốt đẹp. Thế nhưng nếu bố trí nghịch vị thì cần phải có sự hóa giải đúng mức và kịp thời. Ví dụ như cửa phòng ngủ trực diện với phòng tắm; phòng ngủ nằm ngay trên bếp, bàn thờ; cầu thang trổ ra cửa vv. Phòng tắm nằm ngay trên, phía trước cửa chính; cầu thang đổ ra cửa; ba cửa nhà thông thương; nhà hay phòng có hai lối rẽ; nền nhà cao thấp hay khuyết góc. - Những tác hại xấu do bên ngoài: như là ngã ba đâm vào, đòn dông, cột đèn, cây cổ thụ, biển báo, độ dốc, ao hồ sông rạch, núi đồi cản trở. - Những tác hại xấu từ bên trong: Thường do sự bài trí không đúng phương cách như là kê bàn, ghế, tủ, góc nhà tạo nhiều cạnh đâm vào cửa chính, phòng ngủ, xà nhà chắn ngang đầu… Những yếu tố xấu này thường ảnh hưởng đến sức khỏe của những người sống trong nhà. II/- Nhu cầu hạnh phúc của gia đình: Ðây là bước thứ hai cũng không kém phần quan trọng. Cần biết đâu là nhu cầu hạnh phúc của gia đình trong đại vận hiện tại thì mới có thể đề ra những biện pháp hóa giải hữu hiệu. Ví dụ : Một gia đình lớn tuổi nhu cầu hạnh phúc chính yếu nhất là sức khỏe và tuổi thọ. Nếu có hóa giải khuyết điểm căn nhà thì phải chọn lựa những biểu tượng mang tính hòa hợp tươi vui nhưng trầm mặc như là rùa, hồ lô, sáo trúc, tùng, tượng ngư tiều canh độc. Nhà cửa có cửa chính hay nằm ngủ chọn hướng Thiên Y. Trái lại vợ chồng son trẻ có làm ăn ở nhà, không muốn bị quấy nhiễu hạnh phúc có thể hóa giải phong thủy bằng những biểu tượng mang thể loại mạnh mẽ hơn như thú dữ, xương rồng, thanh kiếm, mũi tên sắc, súng đại bác. Trường hợp vợ chồng gay cấn, xung đột mong muốn có hạnh phúc thì nên chọn những biểu tượng phong thủy như Long Phụng hòa minh, đôi chim tỉa cánh, bông hoa mang màu sắc tươi mát và thích hợp với ngũ hành của hai người. Trở lại ví dụ đầu tiên, nếu căn nhà xấu đối với người lớn tuổi mà dùng các biểu tượng như thú dữ, hay vật dụng hung hãn, chẳng những không có tác dụng tốt lại còn gây thêm áp lực nặng nề hay tạo thêm cảm giác lo ngại cho người lớn tuổi. Chúng ta có thể phân loại nhu cầu hạnh phúc của gia đình như sau : - Tiền tài, - hạnh phúc - sức khỏe, tuổi thọ - con cái . Tùy theo nhu cầu hạnh phúc của gia đình để chọn lựa những biểu tượng hóa giải thích hợp. III/- Phương cách hóa giải: Có nhiều phương cách hóa giải thế nhưng trước khi quyết định chọn lựa một phương cách hóa giải thích hợp cần phải quan tâm đến 2 điểm: 1)- Khi dùng hóa giải tại cung nào nên chú ý đến ngũ hành của cung đó, để sử dụng các biểu tượng phong thủy thích hợp với hành của cung đó. Ví dụ khi muốn thay đổi hay phát triển công việc, thì công việc đầu tiên phải tăng cường cung Quan Lộc tại hướng Bắc căn nhà, thì ta phải chú ý hướng Bắc thuộc hành thủy. Do vậy những vật dụng tăng cường cung này phải tương sinh với hành thủy như màu trắng, vật dụng kim loại, tranh sơn thủy, hồ cá, thác nước. 2)- Khi hóa giải một khuyết điểm của căn nhà nên sử dụng đúng mức biện pháp hóa giải, để tránh những ảnh hưởng phụ do hóa giải quá độ gây ra. Ví dụ: khi hóa giải một phòng tắm xấu ở giữa nhà (trung cung) có thể che kiếng là đủ, chứ không nên vừa dùng kiếng, lại thêm cây kiểng hay dùng súng đại bác để bắn tiêu khuyết điểm này. Ngoài hai yếu tố trên, chúng ta cũng không phải dễ dàng để chọn lựa một biểu tượng thích hợp vì rằng có nhiều biểu tượng hóa giải có cùng tác dụng thì biết chọn biểu tượng nào. Vì thế một biểu tượng hoàn hảo nhất để hóa giải phong thủy phải đạt được các tiêu chuẩn sau đây: • Hợp Phong Thủy: Ðây là tiêu chuẩn quan yếu đầu tiên, cần phải đạt được. Trong trường hợp có nhiều biểu tượng có cùng tác dụng thì biết chọn lựa thứ nào. Ví dụ: để hóa giải một cái đòn dông đâm vào cửa chính chúng ta có thể dùng nhiều biểu tượng như là mũi tên sắt, súng đại bác, bát quái, kính lồi, trụ phun nước, dời cửa chính và chúng ta chỉ nên chọn lựa một biểu tượng thích hợp nhất mà thôi. Do vậy trước khi quyết định chúng ta phải dựa đến tiêu chuẩn thứ hai. • Hợp nhu cầu hạnh phúc gia đình: Như trên đã nói, đối với người lớn tuổi mong muốn bình an dĩ hòa vi quý thì nên chọn lựa những biểu tượng nhẹ nhàng, không gây tác hại cho người khác mà cũng có thể đạt mục đích yêu cầu của mình. Trở lại ví dụ trên, chúng ta có thể chọn lựa biện pháp treo hình bát quái, kính lồi hay trụ phun nước. Thay vì chúng ta chọn những biểu tượng công phá có thể gây hại cho người khác chỉ thích hợp đối với gia đình trẻ tuổi mà thôi. Trường hợp có nhiều biểu tượng đạt được hai tiêu chuẩn trên thì biết chọn biểu tượng nào. Chúng ta nên chọn biểu tượng phù hợp với tiêu chuẩn thứ ba. • Hợp thẩm mỹ, nhu cầu văn hóa gia đình: Ngoài những biểu tượng căn bản chúng ta cũng có thể sáng tạo những biểu tượng khác đạt được mục đích trên lại phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ, hay địa vị gia chủ trong xã hội nữa. Ví dụ : ở khu vực kinh doanh người Mỹ có khi chúng ta dùng hình bát quái không thích hợp bằng kính soi hay những vật dụng phản chiếu đầy thẩm mỹ khác chẳng hạn. CHỐNG LẠI NHỮNG MŨI TÊN ÐỘC TỪ BÊN NGOÀI: 1. Bát quái: Bát quái từ lâu được sử dụng để tiêu trừ hay chống đỡ các ảnh hưởng xấu đi vào nhà. Bát quái có hai loại: Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái. Hình dáng hai loại này tương tự nhau nhưng phương hướng định vị khác nhau. Tám quái được bố trí xung quang hình lưỡng nghi (Âm dương). Hình Tiên Thiên Bát Quái thường được sử dụng trừ tà khí, hữu hiệu hơn hình Hậu Thiên Bát Quái. Hình bát quái chỉ nên treo phía ngoài nhà chứ không treo ở trong nhà. Ngày nay do nhu cầu sử dụng đa dạng, nên hình lưỡng nghi ở giữa tấm bát quái được thay thế bằng tấm kiếng. Trên thương trường hiện nay có bán nhiều loại bát quái, và mỗi loại đều có tác dụng khác nhau cần phải thận trọng khi sử dụng. a)- Loại trơn không có kính: Phía giữa có hình lưỡng nghi âm dương: Chỉ có tác dụng hóa giải hướng xấu của một căn nhà. :P - Loại ở giữa có kính phẳng: Ngoài tác dụng hóa giải hướng xấu, cũng có thể đối kháng lại những tác động xấu nhẹ từ bên ngoài vào cửa chính như biển quảng cáo, tên đường, cây hay trụ che chắn trước cửa. c)- Kính lồi: Ngoài tác dụng chuyển đổi hướng xấu của bát quái, kính lồi có tác dụng phân hóa và phản hồi những mũi tên độc mạnh mẽ vào nhà như bị đòn dông, ngã ba đâm vào nhà, cây cầu, mũi súng, hay các vật bén nhọn mũi tên, đao kiếm. vv d)- Kính lõm: Trước một căn nhà sai hướng nhưng lại có những biểu tượng tốt như hồ nước, tiền án, sa sơn tốt đẹp thì nên dùng bát quái kính lõm để có thể hóa giải hướng xấu mà lại thu hút những biểu tượng tốt vào nhà. 2. Phong linh: Có thể dùng phía trong hay ngoài nhà: Có tác dụng dẫn khí dọc theo hành lang, mời gọi sinh khí đến nhà, xua đuổi tà khí đi nơi khác. Phong linh được chế tạo bằng nhiều loại vật liệu khác như như là những thanh kim loại đặt hay rỗng ruột, đá, vỏ ốc, thủy tinh, gỗ, tre, trúc, vải về hình dáng cũng đa dạng như những hình ống, hình trụ, hình tam giác, tứ giác, nhiều cạnh, chùm chuông, hình con cá, con chim. Khi sử dụng phong linh nhằm tác dụng dẫn sinh khí dọc hành lang thì nên dùng loại rỗng ruột thông khí. Trái lại khi dùng xua đuổi tà khí thì nên dùng loại đặt ruột. Phong linh trước gió thường lay động phát ra những âm thanh, điệu nhạc vui tai, để sử dụng phong linh có hiệu quả các bạn cần phải biết phân loại âm thanh theo ngũ hành Kim Thủy, Mộc Hỏa Thổ tương ứng với các âm trong cổ nhạc là: THƯƠNG - VŨ - DỐC - CHỦY - CUNG dựa trên căn bản âm thanh do phong linh phát ra trước gió. Do vậy khi sử dụng phong linh có tiếng phát ra hợp với hành bản mệnh của mình cũng là điều tốt đẹp mang lại nhiều hiệu quả mong muốn. 3. Ðèn: Có thể dùng bên ngoài và cả bên trong,. • Trường hợp sử dụng bên ngoài nhằm điều chính thế đất thấp lõm hay hóa giải sự khiếm khuyết của một góc nhà thì dùng đèn phải chú ý đến nguyên tắc là đèn càng sáng càng tăng cường hiệu quả. • Trường hợp nhằm hóa giải âm dương, đem lại sinh khí cho gia đình thì khi dùng đèn phải hội đủ các tiêu chuẩn sau: - Nếu dùng đèn màu thì phải thuận hợp với ngũ hành bản mệnh của chủ nhà. - Trường hợp dùng nhiều bóng đèn cùng một lúc thì phải chú ý đến số lượng được tính như sau : sinh, lão, bệnh, tử do vậy chỉ nên dùng những chùm đèn 1, 2, 5, 6, 9, 10 bóng là những loại đèn sinh hay đèn lão mới tốt. Súng Ðại Bác: Trước những mũi tên độc lớn như là cây cầu, trụ ăn ten, tháp nhọn, ngã ba đường thì kính lồi bát quái không đủ sức chống lại thì có thể dùng súng đại bác, đặt trước cửa chỉ ngay những tà khí bắn vào nhà mình. Trên đất nước ta có những cây súng Thần công nổi tiếng, không ai là không biết một khi đã đặt chân đến đất thần kinh Huế. Ðó là những cây súng THẦN CÔNG ở nội thành Huế. Vào thời vua Gia Long sau khi chiến thắng Tây sơn đã cho gom lại những chiến cụ và vật dụng bằng đồng để đúc 9 khẩu súng đại bác vào năm 1804 còn gọi là súng Thần công, được vua phong là THẦN OAI VÔ ÐỊCH THƯỢNG TƯỚNG. Chín (9) cây súng này được đặt trong hai dãy nhà phía ngoài cửa Ngọ Môn mũi súng hướng ra biển nhằm chống ngoại xâm và nội loạn. Súng này thực sự chưa sử dụng đến chỉ có tính cách thiêng liêng và đặt ở vị thế bảo vệ triều đình và đất nước nên còn có tên khác nữa đó là “CỬU VỊ HỘ QUỐC THẦN CÔNG”. Thế nhưng đến thời vua Khải Ðịnh năm 1917 không biết vì lý do gì lại cho dời chín (9) cây súng này vào phía trong thành nội đặt phía trước và hai bên cửa Ngọ Môn gần hai cửa Thể Nhơn và Quảng Ðức. Ðiều đáng nói thay vì chín (9) mũi súng hướng ra phía trước để bảo vệ triều đình như trước, thì lại cho chín (9) cây súng này đối đầu bắn vào nhau. Do vậy cho dù bào chữa lý do nào đi nữa thì vị trí của chín (9) cây súng này gây nhiều tác hại xấu về mặt phong thủy. Sự việc này có thể đem lại nhiều tranh luận và nghi vấn về phong thủy đối với kinh thành Huế nói riêng và đất nước nói chung. Thật vậy, các cây súng được mệnh danh là Hộ Quốc Thần Công mà mũi súng lại không hướng về phía giặc ngoại xâm hay phản loạn, mà lại hướng đối đầu bắn vào nhau là dấu hiệu nội loạn. Thứ nữa sự đối đầu này diễn ra trước cửa Ngọ Môn Triều đình cũng là dấu hiệu an nguy cho triều đình, cũng như mang lại sự ly tán của người dân xứ Huế để tránh vòng lửa đạn. Ðứng tại cửa Ngọ Môn nhìn ra cột cờ bên tay trái, Thanh Long thuộc về dòng nội chỉ có 4 cây súng. Trong khi tay mặt là Bạch Hổ thuộc về dòng ngoại lại đặt 5 cây súng. Ðấu nhau sau lưng cột cờ chính nghĩa, phải chăng đây chính là mầm mống Bắc Nam phân tranh mà ưu thế nghiêng về phía Bạch Hổ? Mũi tên sắt: thường đặt trên mái nhà hướng vào những mũi tên độc bắn vào nhà như đòn dông, cầu cống, ngã ba đường. Cây xương rồng cũng có tác dụng chống lại sha khí, nên chưng phía ngoài nhà, khi chưng bày xương rồng nên chú ý một điều là xương rồng thuộc hành hỏa vì thế những người hành mộc hay hành kim không nên chưng loại xương rồng này. Nhiều người thường đặt hai chậu xương rồng trên hai lưng voi phục trước nhà nhằm chống lại tà khí ngoại xâm. Tượng thú dữ: Theo khoa phong thủy cửa chính là một trong những vị trí quan trọng của căn nhà cần được bảo vệ và ngăn chận những mũi tên độc hay những yếu tố xấu khác xâm nhập vào nhà. Có nhiều phương cách bảo vệ cửa chính, việc đặt thú vật hai bên cửa chính cũng là một trong những phương cách bảo vệ hữu hiệu. Hiện nay trên thị trường có bán rất nhiều loại thú ở những kiểu dáng khác nhau rất đa dạng và phong phú như là long, lân qui, phụng, sư tử, ngựa, voi, nai, gấu, rắn, chim, sóc, chó, mèo, dơi, gà … Vì thế trước khi quyết định chọn lựa một biểu tượng sử dụng cần phải chú ý đến các điểm… Theo Khongtu.
  3. Ngày xưa khi làm ăn phát đạt, ai cũng muốn xây một ngôi nhà thật đẹp, trong khuôn viên ngôi nhà đào một cái ao hoặc để nuôi cá chơi, hoặc tạo ra thế giàu sang. Nhưng về khía cạnh phong thủy, ít ai biết rằng chính những cái ao đó lại mang họa đến nhiều hơn là phúc. Các nhà phong thủy học Trung Quốc và Việt Nam đã tổng kết: Có đến 80% những người sống trong khuôn viên hoa lệ ấy, mấy ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra như bà chủ luôn phải đi bệnh viện lâu ngày, hoặc trong nhà có người mắt kém, trẻ em tinh thần nhu nhược, hoặc gia đình không hòa thuận, tâm trạng mọi thành viên trong gia đình luôn nặng nề… Những hiện tượng đó phần lớn có liên quan đến ao hồ. Ao hồ theo cách nói của phong thủy học bao gồm cả giếng nước, về vị trí và hình dáng có các trường hợp xảy ra như sau: - Nếu có một ở bên Đông, một ở bên Tây, phạm điều đó, trong nhà sẽ không có người phát câm thì phát điên. - Đằng sau nhà có hai cái ao, hoặc bên trái, bên phải hay trước nhà đều có ao, phong thủy cho đó là thế chân rồng chân hổ giẫm lên nhau, dâm dục không nghi ngờ gì nữa. Đây là thế hình sát cho biết không khí dâm dục có đầy trong nhà. - Trước nhà, sau nhà có ao cũng rất hung, người xưa nói: “Tiền đường hạ cấp đường, nhi tôn huyền tiểu vong”, nghĩa là ao trước ao sau nhà, con cháu chết sớm. - Vị trí và hình dạng ao không thống nhất cũng gây họa, như: có cái lồi ra, có cái thụt vào hoặc hình như quả bầu, có cái nhỏ cái to nối liền nhau, bệnh tật và tai họa sẽ đến với nam chủ nhân. Người xưa thường nói “Thượng đường liên hạ đường, quả phụ thủ không phòng, phong tật bất ly sàng”, nghĩa là ao trên liền ao dưới, vợ góa giữ phòng không, ao to nối ao nhỏ, bệnh phong chẳng rời giường. - Hai hoặc ba ao liền nhau, báo chủ nhà nước mắt ròng ròng, nghĩa là thế nào sự cố bi thảm cũng xảy ra. Nếu hình dáng ao trông như hoa mai, thì nhà có ba bốn bà vợ góa. Như vậy, có ao trong khuôn viên trong nhà là mang họa cho người ở, nhưng phong thủy cũng cho rằng ao có thể mang điều tốt đến. Nếu chưa nói đến quy định về khoảng cách, hãy chỉ nói đến hình dáng thì ao có hình bán nguyệt là khá tốt. Trước nhà có ao như vậy thì có tiền của. Người xưa nói: ao bán nguyệt sinh tiền, hàng nghìn kho lúa, trẻ con rớt không chết đuối. Tuy nhiên, cũng nên đề phòng trẻ em về nạn sông nước. Ao có hình vuông như nghiên mực là tốt nhất, người xưa nói: “Tiền đường tự nghiên trì, tử lục đăng cao đệ, đường thanh do như kính, quý sinh minh”, nghĩa là ao trước nhà giống cái nghiên mực, con cháu thi đỗ cao, nước ao mà trong như gương, sinh con quý mà thông minh. Trước nhà có ao như vậy là tốt, nhưng vị trí ao phải xa cửa nhà, sao cho ánh nắng chiều tà không được phản xạ tia nắng chiếu vào nhà. Trường hợp ao hoặc bể bơi gần nhà, để ánh sáng mặt trời phản xạ được vào trong nhà, phong thủy học gọi cái ao hay bể bơi này là “gương soi chậu máu” hoặc “vạn đạo kim quang” chiếu vào nhà. Gặp trường hợp như vậy, người xưa nói không thất vận lúc tiền vận thì hậu vận thất vận, chủ nhà ắt sẽ bị điên cuồng hoặc bệnh nặng. Nếu hướng giường của chủ nhà lại ở phương vị hung sát, không kể già trẻ, hẳn bị tai nạn liên miên, thậm chí mất mạng, trừ phi cát tinh soi chiếu! Có nhà đào ao trước cửa ở thế “gương soi chậu máu”, giữa cửa nhà có treo một cái gương to (hoặc để trấn trạch, hoặc để chơi) thì sát khí càng mạnh, độ hung càng lớn. Để hóa giải tình trạng “gương soi chậu máu”, phong thủy đưa ra phương án thả bèo kín ao để giảm tia nắng khúc xạ vào nhà. Cũng có phương án trồng cây trúc phía bờ ao đối diện ngôi nhà. Trúc dễ trồng, mọc nhanh, sẽ chắn những tia nắng khúc xạ vào nhà khi chiều tà, sát khí giảm hẳn. Trong xã hội hiện đại, đất chật người đông, đối với những nhà có ao tù, nước không lưu thông, bẩn, không có lợi cho sức khỏe, đồng thời theo phong thủy học, nơi đó cũng dễ gây nên hung tướng cho người ở. Gặp trường hợp này, phong thủy học cho rằng tốt nhất là lấp ao, làm vậy sẽ trừ được hết hung tướng. Nhưng lưu ý một điều, để loại trừ hết sát khí miền đất có ao, trước khi lấp ao phải hút hết nước, làm cho ao khô đi, bốc hết bùn ở đáy ao. Nếu thấy làm như thế phiền phức quá thì cứ để vậy mà lấp cũng được, vì nó cũng không gây nên tai họa. Song mọi ống nước dẫn vào ao, dù bằng vật liệu nào, dạng nào… cũng phải gỡ đi, vì chúng gây nên sát khí ảnh hưởng đến ngôi nhà. Nếu khuôn viên khu nhà rộng cần có một ao, thì phải bố trí ở phương vị đông nam, cách nhà từ 18 mét trở lên; nhưng tốt nhất là không có, mà có thì nên lấp. Có loại ao thuộc dạng chảy vòng quanh, xung quanh trồng cây mà không có đông người tụ tập, như khách sạn, nhà hàng, công ty, công xưởng thì không phát sinh vấn đề gì, có khi lại biến thành cát tướng. Vậy những bể bơi tư gia thì sao? Ở những thành phố lớn, các khu nhà ở cao sang… người ta thường bố trí bể bơi gần kề. Nếu quan niệm những bể bơi đó là “gương soi chậu máu” theo thuật phong thủy, thì ắt mọi người sống trong đó sẽ điên cuồng cả hay sao? Trong môi trường thành phố khác với các vùng trống trải, như ở nông thôn hay thị trấn nhỏ, không hẳn là như vậy. Ở nơi thoáng đãng, ánh mặt trời chiếu xuống ao hồ phản xạ vào nhà không có gì che chắn, nên chúng mới nguy hiểm. Ở thành phố, các bể bơi được xây giữa các cụm nhà cao tầng, chỉ chịu ánh mặt trời chiếu vào giữa trưa, nên không có “vạn đạo kim quang” tức là tia nắng phản xạ chiếu vào nhà, nên không có hung khí. Song không phải bể bơi bố trí giữa các nhà cao tầng không thể trở thành “gương soi chậu máu”. Đó là trường hợp một căn nhà ba tầng có bể bơi ở giữa khu nhà cao tầng, bình thường chỉ chịu sự chiếu nắng mặt trời từ 11h trưa đến 2h chiều. Tuy vậy, bể bơi ở đây có vấn đề không hay đứng về mặt phong thủy, nếu như khi thiết kế, xây dựng người ta để ý đến một chút. Thực tế đã có trường hợp người ta làm cửa thông hơi chắn bằng kính để chếch ra ngoài như một mái hiên. Lúc mặt trời từ đỉnh đầu chếch về phía tây, ánh nắng chiếu xuyên thẳng xuống bể bơi, phản xạ lên tấm chắn cửa thông hơi, từ đây ánh nắng lại một lần nữa phản xạ vào nhà tạo các hình lốm đốm. Nếu lúc đó dưới bể bơi có người, hình ánh nắng trong nhà càng lay động. Lúc này, bể bơi của gia đình trở thành “gương soi chậu máu”. Trường hợp này chỉ cần vứt bỏ tấm kính chắn ở cửa thông hơi thì mọi việc tốt đẹp. Trong xã hội nông nghiệp cổ xưa, ao hồ là nơi cấp nước cho cuộc sống con người, do vậy việc đào ao quanh và gần nơi ở là tất yếu. Phong thủy học cũng phát hiện ra mối quan hệ giữa ao hồ với con người và đưa ra những khuyến cáo như nói ở trên, ngoài ra còn có thuyết cho rằng: “ao mà có hình vuông thì hưng vượng (với điều kiện không trở thành “gương soi chậu máu”), ao như cái chảo, phú quý vô cùng; nhà to ao nhỏ, nam cô độc, nữ yểu mạng; nhà nhỏ ao to, tài bạch lưu tán; ao to trước cửa, người không thọ; ao to sau nhà, yểu mạng từ nhỏ. Ngoài ra, những dạng ao sau dù không ở thế “gương soi chậu máu” cũng là hung, như: ao trước nhà thẳng và dài; ao sau nhà hẹp và nhỏ; nhà kẹp ở giữa ao trước và ao sau; ao trước nhà có góc nhọn chĩa mũi vào cửa; trong nhà có bể nước; giữa ao có thủy đình; trong ao có núi giả; nước ao như bùn hoặc màu vàng. Những ao như vậy tốt nhất là san lấp đi. Theo VnExpress
  4. Rất biết ơn ndmph đã thông báo khẩn cấp việc này cho mọi người. Trung cũng có một câu chuyện ngắn kể cho mọi người nghe về việc lạm dụng hóa chất này của Trung Quốc. Trung có bà chị ở dưới quê cũng làm về bên trái cây tươi cho người Đài Loan. Bạn của chị T làm trong khâu rửa trái cây. Theo qui định của ban giám đốc thì khi rửa những trái cây này không được dùng bằng tay để rửa, Nhưng người bạn của chị T muốn rửa cho nhanh nên đã leo vào trong cái bồn rửa đó để rửa. Sau đó ban Giám Đốc biết chuyện đã đuổi việc người này, khi đuổi việc giám đốc đã cho người này một số tiền nhỏ. Đến 1 tuần sau thì 2 đôi chân của người này đã bị mốc lên và có hiện tượng bị loét khá nặng. Trái cây nhiễm những chất này thường là Táo hoặc Lê. Các bác sĩ việt nam cũng khuyên bệnh nhân không nên dùng những loại trái cây này. Thường những người biếu trái cây cho bác sĩ là Táo hoặc Lê thì bác sỉ cũng đem bỏ chứ không ăn. Đây là mẫu chuyện ngắn khuyến cáo mọi người nên cảnh giác với trái cây của Trung Quốc. Thân. Lê Bá Trung
  5. CƠ SỞ LÝ LUẬN TOÁN HỌC CỦA BÁT QUÁI *** (vì không có khả năng trình bày bằng hình vẽ, nên phải diễn tả bằng lời, mong quí huynh đệ thông cảm. Huynh đệ nào có năng lực, xin giúp đỡ biên soạn lại cho dễ nhìn. Đa tạ) * * * I./ - DIỄN DỊCH THEO XƯA:- Trong chúng ta, ai cũng biết trình tự phát triển của bát quái theo diễn dịch xưa là:- -Thái cực sinh Lưỡng Nghi (Âm, Dương). Biểu hiện bắng một vạch liền, một vạch đứt.(hào dương, hào âm) -Lưỡng nghi sinh Tứ Tượng (Thái Dương, Thái Âm, Thiếu dương, Thiếu âm) ,Biểu hiện bằng :-liền liền, đứt đứt, liền đứt. đứt liền) -Tứ tượng sinh Bát quái :- (nét từ trên xuống) *Càn :- liền liền liền *Khảm:- đứt liền đứt. *Cấn:- liền đứt đứt. *Chấn :- đứt đứt liền. *Tốn:- liền liền đứt. *Ly :- liền đứt liền. *Khôn :- đứt đứt đứt. *Đoài :- đứt liền liền. -Bát quái sinh vạn vật , từ căn bản là “64 quẻ” do sự phối hợp giữa tám quái trên với nhau. II./- NHẮC LẠI VÀI CÔNG THỨC TOÁN HỌC CƠ BẢN:- Ta đã học:- (LT = lũy thừa) -Bình phương (a+:P bằng : a bình phương + 2 a.b +b bình phương = aa +ab+ba+bb. -Tam thừa (a+:P bằng :- a tam thừa + 3 a bình x b + 3 a x b bình + b tam thừa = aaa+aab+aba+baa+abb+bab+bba+bbb -Lũy thừa 6 của (a+:( bằng:- = a LT6+ 6 aLT5.b +15 aLT4. b bình + 20 aLT3.bLT3 + 15 a bình. b LT4 + 6 a.b LT5 + bLT6 = aaa.aaa+6aaa.aab+15aaa.abb+20aaa.bbb+15aab.bbb+6abb.bbb+bbb.bbb III/.- LÝ LUẬN:- -Thay hào dương (nét liền) bằng a --- Thay hào âm (nét đứt) bằng b. Ta có:- -Lưỡng nghi = a + b (Dương—Âm) -Tứ tượng :- = aa+ab+ba+bb (tức công thức bình phương (a+:P ) *Thái dương = aa *Thái âm = bb *Thiếu dương = ab *Thiếu âm = ba -Bát quái :- = aaa+aab+aba+baa+abb+bab+bba+bbb (tức công thức tam thừa (a+;) ) *CÀN = aaa *KHẢM = bab *CẤN = abb *CHẤN = bba *TỐN = aab *LY = aba *KHÔN = bbb *ĐOÀI = baa IV/.- SÁU MƯƠI BỐN QUẺ :- Tương tự, ta có 64 quẻ tính theo công thức lũy thừa 6 của (a+:) như sau :- * Hai quẻ thuần Càn thuần Khôn:- 1.- Càn vi thiên :- aaa—aaa 2.- Khôn vi địa :- bbb—bbb *Nhóm 6aLT5.b :- gồm có :- 6 quẻ :- 1.- Thiên phong cấu :- aaa—aab 2.- Phong thiên tiểu súc:- aab—aaa 3.- Hỏa thiên đại hữu :- aba—aaa 4.- Thiên hỏa đồng nhân:- aaa—aba 5.- Thiên trạch lý:- aaa—baa 6.- Trạch thiên quải :- baa—aaa *Nhóm 15aLT4.b bình :- gồm có :- 15 quẻ :- 1.-Tốn vi phong :- aab—aab 2.- Ly vi hỏa :- aba—aba 3.- Đoài vi trạch :- baa—baa 4.- Thiên sơn độn :- aaa—abb 5.- Sơn thiên đại súc :- abb—aaa 6.- Trạch hỏa cách :- baa—aba 7.- Hỏa trạch khuê :- aba—baa 8.- Thiên thủy tụng :- aaa—bab 9.- Thủy thiên nhu :- bab—aaa 10.- Thiên lôi vô vọng :- aaa—bba 11.- Lôi thiên đại tráng :- bba—aaa 12.- Hỏa phong đỉnh :- aba—aab 13.- Phong hỏa gia nhân :- aab—aba 14.- Trạch phong đại quá :- baa—aab 15.- Phong trạch trung phù:- aab—baa *Nhóm 20 aLT3.bLT3 :- gồm 20 quẻ :- 1.- Thiên địa bỉ:- aaa—bbb 2.- Địa thiên thái :- bbb—aaa 3.- Trạch thủy khổn:- baa—bab 4.- Thủy trạch tiết:- bab—baa 5.- Thủy hỏa ký tế:- bab—aba 6.- Hỏa thủy vị tế:- aba—bab 7.- Phong lôi ích :- aab—bba 8.- Lôi phong hằng :- bba—aab 9.- Trạch sơn hàm:- baa—abb 10.- Sơn trạch tổn :- abb—baa 11.- Lôi trạch qui muội :- bba—baa 12.- Trạch lôi tùy:- baa—bba 13.- Sơn phong cổ :- abb—aab 14.- Phong sơn tiệm:- aab—bba 15.- Phong thủy hoán:- aab—bab 16.- Thủy phong tỉnh:- bab—aab 17.- Hỏa lôi phệ hạp :- aba—bba 18.- Lôi hỏa phong :- abb—aba 19.- Sơn hỏa bôn:- abb—aba 20.- Hỏa sơn lữ:- aba—abb *Nhóm 15 a bình. b LT4 :- gồm 15 quẻ :- 1.- Cấn vi sơn :- abb—abb 2.- Chấn vi lôi :- bba—bba 3.- Khảm vi thủy :- bab—bab 4.- Trạch địa tụy:- baa—bbb 5.- Địa trạch lâm :- bbb—baa 6.- Phong địa quán :- aab—bbb 7.- Địa phong thăng :- bbb—aab 8.- Thủy sơn kiển:- bab—abb 9.- Sơn thủy mông:- abb—bab 10.- Lôi thủy giải:- bba—bab 11.- Thủy lôi truân:- bab—bba 12.- Lôi sơn tiểu quá:- bba—abb 13.- Sơn lôi di :- abb—bba 14.- Hỏa địa tấn :- aba—bbb 15.- Địa hỏa minh di:- bbb—aba *Nhóm 6 a.b LT5 :- gồm có 6 quẻ :- 1.- Sơn địa bác :- abb—bbb 2.- Địa sơn khiêm:- bbb—bba 3.- Thủy địa tỷ :- bab—bbb 4.- Địa thủy sư :- bbb—bab 5.- Địa lôi phục:- bbb—bba 6.- Lôi địa dự:- bba—bbb V/.- NHẬN XÉT:- *Cộng:- 1+6+15+20+15+6+1 = 64 quẻ . Trong đó:- -Thuần dương :- aaa—aaa :- 1 quẻ. -Thuần âm :- bbb—bbb :- 1 quẻ. -Bốn quẻ dương Càn, Đoài, Ly, Chấn thì Đoài, Ly nằm trong nhóm dương nhiều ( aLT4) , chỉ có Chấn nằm trong nhóm âm nhiều (bLT4). Càn thì quá dương (aLT6) -Bốn quẻ âm Tốn, Khảm, Cấn, Khôn thì Cấn, Khảm nằm trong nhóm âm nhiều (bLT4) , chỉ có Tốn nằm trong nhóm dương nhiều (aLT4). Khôn thì quá âm (bLT6) -Chấn, Tốn đổi chỗ trong nhóm :- để biểu hiện chuyển dịch, Chấn là Thiếu dương. Càn, Đoài, Ly là Thái dương. Tốn là Thiếu âm. Khôn, Cấn, Khảm là Thái âm. * * * Chúng ta thấy, bát quái phát triển trên cơ sở âm, dương, tạo tác theo qui luật toán học hết sức chặt chẽ. Điều đó, có thể nói lên tính khoa học của Kinh Dịch và phủ định nhận thức võ đoán tính “mê tín dị đoan” của nó. Từ những gợi ý trên, mong quí huynh đệ tư duy thêm và công bố nhiều phát hiện mới. Nguồn:Hoangthantai
  6. Triết học Âm dương Ngũ hành là một hệ lý thuyết đa cấu trúc. Mỗi một cấu trúc là một tập hợp các đối tượng kết hợp với nhau đúng theo nguyên lý Âm dương Ngũ hành. Tính chất Âm dương Ngũ hành của một đối tượng (trong một cấu trúc) được xác định đồng thời 2 yếu tố là tính chất Âm dương và tính chất Ngũ hành, tức là: một đối tượng được xác định tính chất là Âm (hoặc Dương) thì nhất thiết phải có cả tính chất xác định trong Ngũ hành, và ngược lại, một đối tượng được xác định tính chất trong Ngũ hành thì nhất định phải có tính chất xác định là Âm (hoặc Dương). Các cấu trúc cơ bản của Triết học Âm dương Ngũ hành gồm 5 cấu trúc sau: -Cấu trúc thiên can -Cấu trúc địa chi -Cấu trúc nhân thể -Cấu trúc số -Cấu trúc tượng Kết hợp một cấu trúc này với một cấu trúc khác là một nguyên lý Âm dương Ngũ hành hợp nhất trong Triết học Âm dương Ngũ hành. A-Nguyên lý Âm dương Ngũ hành cơ bản của cấu trúc thiên can Thiên can có 10 đối tượng. Tính chất Âm dương Ngũ hành của 10 thiên can được xác định như sau: Giáp có tính chất là Dương mộc. Ất có tính chất là Âm mộc. Bính có tính chất là Dương hỏa. Đinh có tính chất là Âm hỏa. Mậu có tính chất là Dương thổ. Kỷ có tính chất là Âm thổ. Canh có tính chất là Dương kim. Tân có tính chất là Âm kim. Nhâm có tính chất là Dương thủy. Quý có tính chất là Âm thủy. Click this bar to view the full image. Bảng 1. Tính chất Âm dương Ngũ hành của 10 Thiên can B-Nguyên lý Âm dương Ngũ hành cơ bản của cấu trúc địa chi Địa chi có 12 đối tượng. Tính chất Âm dương Ngũ hành của 12 Địa chi được xác định như sau: Tý có tính chất là Dương thủy. Sửu có tính chất là Âm thổ. Dần có tính chất là Dương mộc. Mão có tính chất là Âm mộc. Thìn có tính chất là Dương thổ. Tị có tính chất là Âm hỏa. Ngọ có tính chất là Dương hỏa. Mùi có tính chất là Âm thổ. Thân có tính chất là Dương kim. Dậu có tính chất là Âm kim. Tuất có tính chất là Dương thổ. Hợi có tính chất là Âm thủy. Click this bar to view the full image. Bảng 2. Tính chất Âm dương Ngũ hành của 12 Địa chi C-Nguyên lý Âm dương Ngũ hành cơ bản trong cấu trúc nhân thể (phần Tạng, Phủ và Kinh) Trong hệ thống Kinh Lạc của Nhân thể có 12 Kinh chính, từ mỗi Kinh chính có một nhánh tách ra gọi là Kinh biệt. 12 Kinh biệt đi sâu vào cơ thể liên lạc với Tạng hoặc Phủ cùng tên. 1-Tính chất (mới-theo Rubi) Âm dương Ngũ hành của 12 đường kinh được xác định như sau: Kinh Phế có tính chất là Dương kim. Kinh Đại tràng có tính chất là Âm kim. Kinh Tỳ có tính chất là Dương thổ. Kinh Vị có tính chất là Âm thổ. Kinh Tâm có tính chất là Dương hỏa. Kinh Tiểu tràng có tính chất là Âm hỏa. Kinh Bàng quang có tính chất là Âm thủy. Kinh Thận có tính chất là Dương thủy. Kinh Tâm bào lạc có tính chất là Âm thổ. Kinh Tam tiêu có tính chất là Dương thổ. Kinh Đởm có tính chất là Âm mộc. Kinh Can có tính chất là Dương mộc. 2-Hệ đại chu thiên Đại chu thiên là hiện tượng khí "huyết" chảy trong 12 đường kinh chính 50 vòng mỗi ngày, mỗi vòng theo trình tự sau: Click this bar to view the full image. Bảng 3. Tính chất Âm dương Ngũ hành, giờ vượng và giờ suy của 12 đường kinh Trong bảng trên, "giờ vượng" là giờ mà đường Kinh tương ứng là wợng nhất, "giờ suy" là giờ mà đường Kinh tương ứng là suy nhất.D-Nguyên lý Âm dương Ngũ hành cơ bản trong cấu trúc số 1-Tiền đề Âm dương Ngũ hành của hệ thập phân trong cấu trúc số Thiên nhất sinh Thuỷ, Địa lục thành chi Địa nhị sinh Hỏa, Thiên thất thành chi Thiên tam sinh Mộc, Địa bát thành chi Địa tứ sinh Kim, Thiên cửu thành chi Thiên ngũ sinh Thổ, Địa thập thành chi Trời lấy số 1 mà khởi sinh hành Thuỷ, Đất lấy số 6 mà tạo thành hành Thuỷ. Đất lấy số 2 mà khởi sinh hành Hỏa, Trời lấy số 7 mà tạo thành hành Hỏa. Trời lấy số 3 mà khởi sinh hành Mộc, Đất lấy số 8 mà tạo thành hành Mộc. Đất lấy số 4 mà khởi sinh hành Kim, Trời lấy số 9 mà tạo thành hành Kim. Trời lấy số 5 mà khởi sinh hành Thổ, Đất lấy số 10 mà tạo thành hành Thổ. Các số lẻ 1,3,5,7,9 gọi là số của Trời, số Dương hay số Cơ, trong đó 1,3,5 là số Sinh của Trời, 7,9 gọi là số Thành của Trời. Các số chẵn 2,4,6,8,10 gọi là số của Đất, số Âm hay số Ngẫu, trong đó 2,4 gọi là số Sinh của Đất, còn 6,8,10 gọi là số Thành của Đất. 2-Nguyên lý Âm dương Ngũ hành của hệ thập phân trong cấu trúc số Số 1 có tính chất là Dương thủy, số 6 có tính chất là Âm thuỷ. Số 2 có tính chất là Âm hỏa, số 7 có tính chất là Dương hỏa. Số 3 có tính chất là Dương mộc, số 8 có tính chất là Âm mộc. Số 4 có tính chất là Âm kim, số 9 có tính chất là Dương kim. Số 5 có tính chất là Dương thổ, số 10 có tính chất là Âm thổ. 3-Hệ quả Âm dương Ngũ hành của hệ thập phân trong cấu trúc số Theo luật Ngũ hành sinh, khắc hệ thập phân trong cấu trúc số được sắp xếp thành 2 đồ hình Hà đồ và Lạc thư. Hình Hà đồ và Lạc thư Hình 3. Ngũ hành sinh, khắc Luật Ngũ hành tương sinh là nguyên lý của đồ hình 9 cung Hà đồ: Kim sinh Thuỷ Thuỷ sinh Mộc Mộc sinh Hoả Hoả sinh Thổ Thổ sinh Kim Click this bar to view the full image. Hình 4. 9 cung Hà đồ Luật Ngũ hành tương khắc là nguyên lý của đồ hình 9 cung Lạc thư: Kim khắc Mộc Mộc khắc Thổ Thổ khắc Thủy Thủy khắc Hỏa Hỏa khắc Kim Hình 5. 9 cung Lạc thư Nguon:Hoangthantai
  7. Hai mươi năm trước, Maya Ying Lin, cô sinh viên Khoa Kiến Trúc trường Yale đã thiết kế đố án xây dựng Vietnam Veterans Memorial trên công viên The National Mall tại Trung tâm Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn. Hai bức tường Hỏa hành chữ V giao nhau tạo thành hai mũi nhọn đâm thẳng vào cây bút chì Washington Monument và Lincoln Memorial. Các mũi nhọn nhắm vào các biểu tượng, cho dù vô tình, mà lại không có biện pháp chế hóa, thì lâu ngày chắc chắn sẽ bị hung hiểm. Ngày 11 tháng 9 năm 2001, Pentagon, biểu tượng Sức Mạnh Quân Sự; World Trade, biểu tượng Kinh tế Tài Chánh đã bị xâm phạm. Một góc Pentagon và hai ngôi nhà chọc trời của thành phố NewYork đã bị sụp đổ. May mà Maya Ying Lin không cố ý nhắm đúng vào Đại Mạch của Thủ Đô nước Mỹ là nơi tụ hội của hai giòng Potomac và Anacostia. Nếu như Đại Mạch mà bị xung phạm thì hung họa chắc sẽ phải nhiều hơn. Hơn hai năm trước, bài " Bush và Gore ai sẽ thắng ai ?" có luận Tuổi Mậu Tí của Gore khả năng thống lảnh được quần hùng, nếu như đối thủ không là tuổi Bính Tuất. Gore đã hơn một lần mất cơ hội lên ngôi vì gặp phải Clinton Bính Tuất. Bush tuổi cũng Bính Tuất thì rõ ràng Gore tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa ! Con đường duy nhất Gore có thể thắng được Bush Bính Tuất là phải tìm cho được Tuổi Dậu đứng phó. Chỉ có tuổi Dậu mới có thể làm khó dễ được Bush Bính Tuất. Gore không may gặp người tuổi Ngọ đứng Phó liên danh . Tí Ngọ tương xung, Gore tự hại mình, để thua đau sát nút. Bush Bính Tuất vận số đương Vượng, có thể tung hoành, kỳ vọng thừa thắng thống lãnh thêm nhiệm kỳ 2, nếu như không gặp phải tuổi Dậu đối đầu làm khó dễ. Bin Laden sinh ngày 30 tháng 7 năm 1957, tuổi Đinh Dậu. Bush Bính Tuất ngay năm đầu của nhiệm kỳ Tổng Thống đã gặp ngay Đinh Dậu Bin Laden. Bush long đong, tóc trắng bạc đầu và chắc phải chịu long đong hơn nữa nếu như tương lai lại còn phải đối đầu với các tuổi Dậu khác. Hai mũi nhọn hình chữ V của Vietnam Veterans Memorial tấn kích vào biểu tượng của nước Mỹ và thực tế thì không chỉ Pentagon và World Trade bị xung phạm mà còn kéo theo hàng ngàn người chết không toàn thây. Bush Bính Tuất gặp Đinh Dậu Bin Laden đối đầu thì không những một mình Bush long đong, mà hàng triệu gia đình phải chịu khó khăn vì mất công ăn việc làm. Nhiều Công Ty sập tiệm phá sản. Toàn khắp 50 tiểu bang nuớc Mỹ, thợ thuyền thất nghiệp tràn lan. Nhiều người cho tại vận số của thiên cơ, nhưng dưới tầm nhìn của Khoa Phong Thủy, công ăn việc làm hay là đường Quan vận thì lại còn tùy thuộc vào địa lý trú xứ của mỗi người. Thiên Thời thì khó mà thay đổi. Địa lý trú xứ thì lại có thể cải tạo, đổi thay. Thiên Thời và Địa Lợi mà yếu tố Thiên Thời đã mất, thì yếu tố Địa lợi sẽ trở nên trọng yếu để quyết định được mất, thành bại. Dịch số dạy: Nội Quan Ngoại Quỉ, thì ngoài nhà là Quỉ, trong nhà mới là Quan. Lại còn Vượng mới thành Quan, chứ hưu tù thì Quan cũng thành Quỉ. Ngũ hành phối với Lục Thân thì: Sinh ra ta là Phụ Mẫu. Khắc lại ta lại chính là Quỉ và Quan. Địa Lý trú xứ thì dạy: Hợp là Cửa, xung là Lộ, cho dù trong quẻ có hay không . Từ đó, khoa Phong Thủy có thể toán biết Quan vận cuả mỗi nhà. Biết được hướng của cửa nhà, thì có thể định được hướng của Quan. Nhớ rõ lại là vượng mới thành Quan chứ hưu tù thì Quan cũng thành Quỉ. 1: Các nhà có cửa hướng chính Đông: Hướng Đông, Chấn Cung Dương Mộc. Ngũ hành: âm Kim Khắc chế Dương Mộc, thì trong nhà Phương Đoài chính Tây Aâm Kim, nhất định phải là Cung Quan. Sao Phá Quân hành Kim đang cư tại chốn này. Vận 7 Hạ Nguyên thì Cữu Tử đang tại Đoài cung và Ngũ Hoàng thì đang trấn tại Phương Đông của Cửa . Cửu Tử đến chính Tây thì chỉ làm cho mấy Bà đôi co, sinh chuyện, chứ hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến đường Quan vận. Công ăn việc làm mà bị khó khăn thì xem chừng tại Ngũ Hoàng đang cư tại cung của Cửa nhà, mà gia chủ thì lại nhằm đúng vào các tuổi sau đây: Nam: Nhâm Tuất, Tân Mùi, Canh Thìn, Kỷ Sửu, Mậu Tuất, Đinh Mùi, Bính Thìn. Nữ: Mậu Thìn, Đinh Sửu, Bính Tuất, Aát Mùi, Giáp Thìn, Quý Sửu. Các tuổi này mà nhà ở cửa hướng Đông, thì cách hay nhất là phải mau đổi nhà khác, hoặc sửa chuyển lại hướng cửa nhà may ra đời mới khá hơn được. 2: Các nhà có cửa hướng Đông Nam. Hướng Đông Nam, Tốn cung Âm Mộc. Ngũ hành Dương Kim khắc chế Âm Mộc, thì trong nhà Phương Càn, Tây Bắc Dương Kim, nhất định phải là Cung Quan. Sao Lộc Tồn hành Thổ đang cư tại chốn này và cũng lại là chốn cư của Bát Bạch Vận 7 Hạ Nguyên. Bát Bạch đương Vận đến đâu thì thường cho Lộc, cho Tài đến đó. Vậy thì, Gia chủ nào mất việc làm , bị chủ cho về vườn thì đừng có vội cho là tại Phong Thủy Địa Lý. Trừ trường hợp Phòng ngũ tại Tây Bắc của căn nhà mà giường ngủ lại quay về hướng chính Đông. Biết Tây Bắc kỵ chính Đông thì chịu khó xoay lại cái hướng giường. Để lâu ngày, không những việc làm bị mất mà xem chừng tình cảm rồi cũng sẽ mất theo ! 3: Các nhà có cửa hướng chính Nam Hướng Nam, Ly cung Âm Hỏa. Ngũ hành Dương Thủy khắc chế Âm Hỏa, thì trong nhà Phương Khảm, Chính Bắc nhất định phải là cung Quan. Sao Vũ Khúc hành Kim đang cư tại chốn này thì Phước Đức trong nhà đầy tràn. Như vậy, công ăn việc làm có bị trắc trở thì cũng khoan vội đổ là tại Địa lý của căn nhà. Mặc dù Vận 7 Hạ nguyên Tam Bích đang lân la chốn này. Tam Bích đến cung Khảm chỉ người trong nhà có di chuyển xa, chứ không làm cho người trong nhà khó khăn về công ăn việc làm. Trừ một trường hợp: Gia chủ đang đặt để hồ cá cảnh, hòn non bộ, tranh Thủy Pháp.....ngay tại phương chính Bắc của căn nhà, thì xem chừng vừa bị mất việc làm mà sức khỏe cũng khó mà giữ tốt được. 4: Các nhà có cửa hướng Tây nam. Hướng Tây Nam, Khôn cung Âm Thổ. Ngũ hành Dương Mộc khắc chế Âm Thổ, thì trong nhà Phương Chấn, chính Đông Dương Mộc nhất định phải là cung Quan. Sao Phá Quân hành Kim cùng với Tứ Lục Vận 7 đồng cư tại chốn này. Sao Phá Quân, du niên Tuyệt Mạng, lại thêm Tứ Lục đồng cư mà thân mạng vẫn còn, chỉ bị khó khăn về công ăn việc làm thì kể cũng còn may. Thôi thì chịu khó chuyển hết những Hồ Cá, Tranh Thủy Pháp nhắm hướng chính Đông của căn nhà mà đặt để. Phá Quân hành Kim gặp Thủy thì Kim sẽ tham sinh Thủy. Phá Quân mà hết hung tàn vì bị sinh xuất, mất lực thì công ăn việc làm sẽ thấy dễ chịu ngay. Nhớ qua năm 2004, Vận 8 Hạ Nguyên, Ngũ Hòang sẽ đến ngụ tại cung này, thì cung này càng phải cần thêm nhiều Thủy. Là vì, đặt Thủy sai chổ thì chổ đương Vượng cũng thành Suy ! . Biết đặt Thủy đúng chỗ thì chỗ đương Suy cũng thành Vượng. 5: Các nhà có cửa hướng chính Tây. Hướng chính Tây, Đoài cung Âm Kim. Ngũ hành Hỏa khắc Kim, thì trong nhà Phương Ly chính Nam nhất định phải là cung Quan. Sao Liêm Trinh hành Hỏa, du niên Ngũ Quỉ đang tại cung này. Cung này lại cũng là chốn tọa vị của Nhị Hắc Vận 7 Hạ Nguyên. Cho nên cung này rất cần Thủy Pháp nhằm để khắc chế Hỏa hành Liêm Trinh. Gia chủ nào công ăn ,việc làm gặp khó khăn thì trong nhà có bao nhiêu Thủy hảy dồn hết vào cung này. Nhị Hắc mà đến cung Ly thì xem chừng trong nhà lại thêm có người bị bệnh cao huyết áp. 6: Các nhà có cửa hướng Tây Bắc. Hướng Tây Bắc, Càn cung Dương Kim. Ngũ hành Hỏa khắc Kim, thì trong nhà Phương Ly chính Nam nhất định phải là cung Quan. Sao Phá Quân hành Kim, du niên Tuyệt Mạng đang tại cung này. Thông thường Kim gặp Kim, Ngũ hành Tương ngộ, là giàu sang phú quí. Lại thêm Vận 7 Hạ Nguyên thì Bát Bạch đương vận đang lân la trước cửa nhà. Cho dù gặp phải Nhị Hắc tại phương Nam cũng chỉ làm cho người nhà bệnh hoạn, chứ không thể làm cho công ăn việc làm khó khăn được. Ngoại trừ các tuổi: Ất Sửu, Giáp Tuất, Quý Mùi, Nhâm Thìn, Tân Sửu, Canh Tuất, Kỷ Mùi. Các tuổi này ở trong những căn nhà có cửa hướng Tây Bắc mà chỉ bị khó khăn về công ăn việc làm thì coi như còn quá may mắn. Cách hay nhất là sửa đổi ngay hướng cửa, hoặc mau mau dọn sang nhà khác. Vị nào gặp phải mà mãi cho đến bây giờ cuộc đời vẫn thông dong là tại chưa ở quá 4 năm. Vị nào Đức dày như núi thì cũng khó mà ở qua được năm thứ 9. 7: Các nhà có cửa hướng chính Bắc: Hướng chính Bắc Khảm cung, hành Thủy. Ngũ hành Thổ khắc Thủy. Thổ chính tại Trung cung của ngôi nhà. Trung cung ngôi nhà chỉ Tốt nếu như cửa chính Môn. Nghĩa là tâm cửa trước phải đồng tâm với mặt tiền của căn nhà thì cung Quan Lộc đương Vận, mới luôn được Tốt. Nếu từ tâm căn nhà nhìn về phía trước, cửa ở hai bên dù phải hay trái gọi là cửa Thiên môn thì cung Quan Lộc đều phải chịu xấu. Cửa bên trái thì sao Liêm Trinh tọa vị, du niên Ngũ Quỉ. Cửa bên phải thì sao Văn Khúc, du niên Lục Sát. Hai phương Đông Bắc, Cấn cung Dương Thổ và Tây Nam Khôn Cung Âm Thổ là hai cung Quan Lộc phụ, không đúng nghề. Như vậy, nhà nào có cửa chính Môn mà công ăn việc làm gia chủ gặp khó khăn thì đùng vội cho là tại nhà tại cửa. Ngược lại nhà nào cửa hướng chính Bắc Thiên Môn gặp Vận 7 Hạ Nguyên thì công ăn việc làm mà bị trắc trở là lẽ đương nhiên. 8: Các nhà có cửa hướng Đông Bắc: Hướng Đông Bắc Cấn cung, Dương Thổ. Ngũ hành Âm Mộc khắc Dương Thổ, thì trong nhà phương Tốn Đông Nam , Aâm Mộc nhất định phải là cung Quan. Cho dù Sao Phá Quân, du niên Tuyệt Mạng đang lân la chốn này, cũng lại là nơi Nhất Bạch Vận 7 Hạ Nguyên tọa vị. Nhất Bạch đến Cấn cho tài cho lợi, thuận lợi cho việc dựng cơ, dựng nghiệp. Vậy, nhà nào bị khó khăn về công ăn việc làm thì cũng đừng vội cho là tại nhà tại cửa. Ngoại trừ trường hợp, gia chủ đặt làm cảnh một cái hồ cá, hay hòn non bộ ngay bên trong nhà cạnh cửa ra vào. Cửa đương Vượng mà gặp Thủy thì cửa Vượng cũng thành suy mà gia chủ chỉ mất việc, bị cho về vườn , thân mạng vẫn còn thì kể cũng còn may. Khi đã rõ biết cung Quan Lộc trong nhà, gia chủ cần phải làm sạch sẽ, vệ sinh cho khu vực khang trang, đẹp mắt. Vị nào đã chu đáo rồi mà công ăn việc làm vẫn còn trắc trở khó khăn thì chắc hẳn cung Quan Lộc đang bị những Mũi Nhọn hỏa hành của những căn nhà kề cận tấn kích . Những tấn kích này y như hai mũi nhọn của Vietnam Veterans Memorial chĩa thẳng vào cây bút chì Washington Monument và Lincohn Memorial lâu ngày mà vẫn không được chế hóa. Nguồn:Bài nghiên cứu thầy Quảng Đức.
  8. Cám ơn Artimisia rât nhiều. Bài đánh rất chuẩn và chữ sạch đẹp hihi. Có cả hình ảnh diễn giải nữa. Một lần nữa cám ơn Artimisia. Chúc sức khỏe, vạn sự bình an. Thân. Lê Bá Trung
  9. Thân chào Artemisia . Trung rất vui khi Artemisia đã quan tâm đến topic này :P . Khi Trung post bài này lên đây nhưng không có hình thấy cũng hơi ngại :lol: , vì khi đọc đến đó mọi người sẽ lúng túng vì không có hình giải thích. :P May thay Artemisia ghé ngang thấy như vậy giúp Trung một tay thật là cảm kích. :( Chân thành cám ơn sự nhiệt tình của Artemisia rất nhiều. :P Thân. Lê Bá Trung
  10. Chào chị Châu. Xin phép chị cho Trung góp ý một chút của topic chị. Với góp ý này chỉ mang tính chất tham khào thôi nha. Năm nay năm Kỷ Sửu. Kỷ thuộc Thổ. Sửu thuộc Thổ. Tỵ, Dậu, Sửu tam hợp có thể chọn 3 tuổi này xông nhà đầu năm. Hoặc nếu có người Tuồi khác không phải tam hợp nhưng hành hợp thì chắc cũng có thể gọi là tốt. Mạng Hỏa hoặc mạng Kim.... Một chút bàn luận riêng mang tính chất tham khảo thôi. Mong các Cao Nhân khác góp ý thêm. Thân Lê Bá Trung.
  11. Cháu chào bác Thiên Sứ. Topic này cháu kiếm được ở trên mạng ạ. Nhưng tiếc rằng hình của chủ đề này lại die nên không có hình post lên đây. Cháu đang tìm kiếm hình liên quan đến chủ đề này. Tìm được cháu sẽ post lên ạ. Cám ơn bác Thiên Sứ đã quan tâm. Kính Gửi. Lê Bá Trung.
  12. Chào chị Châu. Chị thông cảm tại vì link die rồi nên không thể pót hình lên trong lúc này được . Trung đang tìm kiếm một số hình về chủ đề này, khi nào có sẽ post lên sau. Thân. Lê Bá TRung
  13. Tìm đúng Chân Long và đúng huyệt , đều nhờ nắm vững minh đường . Minh đường quý ở chỗ tụ khí , tán khí tức là không đáng lấy . Phàm là trước huyệt là chỗ thấp bằng , đó là chỗ minh đường đó . Minh Đường nhất định có 3 thứ , thu dúng nên xem xét cho chọn vẹn . Tiểu Minh Đường tại dưới vòng sáng mặt trời , lập huyệt theo nó là rõ đúng sai . Trung Minh Đường không quan trọng hình thế , sa có thư hùng là vui . Đại Minh Đường cần có thủy khẩu lan , chân khí tụ chỗ đó . Tích Lan như lỗ khóa , móc vòng vào trong . Hoặc là chân núi hay ruộng cày , khóa nhốt thì rất tốt . Nếu có hoành Long đến tác huyệt sau lưng cần bịt lại . Nên xem kỹ cả ba đường , họa phúc theo đó mà luận . Minh Đường rực rỡ chiếu vạn phương , khoan hòa rộng rãi thì thật tốt . Sa tốt Sa Tốt thường tụ lại , các loại tất cả đều xem . Nếu như chật hẹp hỏi sao chứa . Minh đường mà rộng rãi , sinh con cháu tất thông minh , rồi sẽ hiển đạt . Nếu hẹp sẽ sinh con xuẩn ngốc , lo sợ lại càng tham lam bần tiện . Người xưa nói Minh Đường rộng thoáng chứa vạn vật , kỵ nhất là rộng mà không có gì . Ngoài hàng chắn nếu là mờ mịt , tuy lan mà không lan . Vạn sơn lấy rộng rãi làm phép chính , bình dương tất lấy hẹp . Vạn sơn nếu hẹp mà bình dương lại rộng , cách đó chẳng nên xem . Tiên Hiền ở chỗ đó phân công vị , trưởng phòng ở bên trái , nhị phòng ở giữa , tam phòng ở phải , phép này tối ưu tiên trưởng . Thủy ở trái trưởng phòng hưng , tụ giữa các con giàu . Nếu ở phải tiểu phòng phát , kinh chỉ rất rõ ràng . Minh Đường Long Huyệt mà là hung , các đời không khá nổi . Long chân Huyệt chính Đường khí tụ , phú quý tất không nhỏ . Long huyệt mà hung nhưng minh đường tốt , nhị kỷ ( 24 năm ) thường vẫn đủ ăn . Long huyệt mà tốt minh đường xấu , mới táng đã bần cùng . Một kỷ gặp khí minh đường dư , phát phúc tất phải lớn . Tôi nay viết bài ca nhập thức , câu câu đều không sai . Nếu chăm nghiền ngẫm tất là thành danh sư . Nguon:theanh dịch
  14. Mùa Hè đến gắn liền với nó là sự oi bức , nóng nực . Để làm mát cho một ngôi nhà thì có rất nhiều phương pháp , phổ biến nhất là dùng điều hòa không khí . Còn cách làm mát trong Học Thuật Phong Thủy thì sao . Quan Niệm Thủy Khí Trong Phong Thủy : Bản thân thuật ngữ Phong Thủy đã bao gồm hai yếu tố Gió và Nước và hai yếu tố này chính là xương sống của toàn bộ các kiến thức về Học Thuật Phong Thủy . Thường có câu “ Phong năng tán khí , Thủy năng tụ khí .” tức là nói về công dụng của yếu tố này . Gió thổi sẽ mang khí ( Không khí cùng vi ba năng lượng ) đi khắp nơi , gặp nước hấp thu sẽ tàng trữ khí cung cấp cho mọi sinh vật nguồn năng lượng sống , phát triển . Lại có câu : Phong Sinh Thủy Khởi tức là gió đi khắp nơi để mọi vật sinh ra , nước đến đâu thì mọi vật ở đó đâm chồi nảy lộc . Như vậy sơ lược chúng ta có thể nói các Cụ từ xưa đã rất coi trọng việc thông gió và đón nhận luồng gió mang theo hơi nước mát mẻ vào nhà . Trong quan niệm Phong Thủy học nước vốn quản về tài lộc , nếu như căn nhà của bạn có gió vào nhưng gió không mang theo nhiều hơi nước ( Ở mức độ vừa đủ ) thì khả năng ăn lên làm ra là hơi khó , đồng thời người trong nhà dễ mắc phải một số chứng bệnh về lông tóc , họng phổi tính cách của con người cũng trở nên khó chịu và phải chăng điều đó sẽ gây khó khăn cho cuộc sống của chúng ta . Học thuật Phong Thủy khi mở cửa nạp khí ( Đón gió ) luôn phối hợp chặt chẽ với hướng đi của dòng nước . Đắc được cách nạp thủy khí thì nhất định nhà bạn sẽ thịnh vượng . Theo tiêu chuẩn của Phong Thủy Loan Đầu ( Chuyên chú trọng về hình thể ) thì có các tiêu chuẩn sau : 1 . Mở cửa có khoảng không rộng , có nước tụ lại và lưu thông hiền hòa . 2. Nước chảy phải ôm vòng uốn lượn mới tốt ; Nước xung xạ bắn tới thì hung hiểm . 3. Nước phải trong mát có vị ngọt có cây cối xanh tốt xung quanh càng tốt ; Nước ô nhiễm bẩn thỉu thì xấu dẫu có tiền cũng dễ phạm dâm ô thác loạn . 4. Nước nên ở bên Trái của nhà tức là bên Thanh Long ; Nếu ở bên Phải thì phạm vào Bạch Hổ có tiền nhanh nhưng là Kim Thủy Dâm Tình trong nhà dễ sinh ngoại tình . Phái Bát Trạch thì coi trọng hướng gió , hướng có nước thích hợp với mỗi cá nhân , chủ trạch : Nếu hướng nhà mở ra đón gió và có nước thuộc vào bốn cung Sinh Khí , Diên Niên , Thiên Y , Phục Vị thì mọi việc đều tốt . Tiền tài đầy đủ , tình cảm tốt , sự nghiệp vững chắc , quan vận thăng tiến ….. Nếu mở cửa phạm vào các hướng xấu như Tuyệt Mạng , Lục Sát , Ngũ Quỷ , Họa Hại nhẹ thì làm ăn khó khăn , vất vả , tình duyên chắc chở , quan vận bế tắc , sự nghiệp gãy đổ . Nặng thì tuyệt gia bại sản , mất của mất người ……….. Ngoài ra còn các vị trí như Hoàng Tuyền Bát Sát cũng kỵ mở cửa , kỵ nước đến ……… Huyền Không Phi Tinh thì chi tiết hơn . Phái này chia căn nhà của bạn chia làm 24 sơn ( Góc nhỏ ) lập tinh bàn theo quẻ kinh dịch rồi căn cứ sinh , vượng , suy , tử mà mở cửa đón gió , kê đặt bể cá , phun sương , phong thủy luân …….. Nói chung mỗi phái đều có chỗ sở đắc riêng nhưng đều chung một mục đích là làm cho căn nhà của bạn chở nên thoáng mát , có độ ẩm thích hợp . Phái Loan Đầu thì hầu như chỉ mạnh nhất khi dùng cho bên ngoài nhà ( Gọi là Ngoại Loan Đầu ) . Còn hai phái Bát Trạch và Huyền Không Phi Tinh thì ứng dụng tốt cho cả Ngoại Thất và Nội Thất . Một Số Lưu Ý Trong Việc Làm Mát Cho Không Gian Nhà : Ngày nay , đặc biệt trong các Đô thị lớn do cảnh đất chật người đông nên việc bố trí mở cửa đón gió đôi khi rất phức tạp khó khăn . Nhưng bù lại chúng ta có thế khéo sắp đặt các vật phẩm sinh hoạt cho đúng chỗ , đúng lúc thì vẫn có tác dụng tốt . Các vật phẩm đó gồm : Máy Lạnh ( Nên dùng loại có tạo hơi ẩm ) nên đặt ở vị trí cao , trung tâm để không khí mát ẩm có thể tỏa rộng khắp không gian . Quạt ( Quạt nước , Thông gió , Trần ….) có thể đặt tại các góc khuất nơi mà luồng gió khó tác động tới , giúp cho việc lưu thông không khí trong nhà tốt hơn , tránh đặt quạt tại nơi có luồng gió đi vừa vô ích lại không tốt . Máy phun sương nên đặt tại không gian thư giãn như sân vườn , cửa sau . Bể cá , Phong Thủy Luân nên đặt tại các nơi có luồng gió di chuyển sẽ đem đến hơi ẩm đi khắp không gian nhà ( Tuy nhiên cần giữ cho nước ở các vật đó luôn sạch sẽ ) . Bình Phong thường dùng để chặn , lái cho hướng đi của luồng gió đến các chỗ cần thiết cho gia trạch ……..Nói tóm lại chặn lại hay thúc đẩy tăng cường đều một mục đích để tạo ra không gian thoáng mát không quá khô , cũng không quá ẩm . Ngoài ra nên chú ý bố trí các cửa ( Cửa đi , Cửa sổ ) sao cho luồng gió đi vào uốn lượn khắp nhà trước khi thoát ra ngoài , cầu thang cũng có thể tận dụng để đưa gió đi các tầng trong nhà . Tránh bố trí các cửa thông suốt với nhau . Vật liệu làm cửa cũng nên chọn lựa những vật dẫn nhiệt kém , tránh nắp các loại kính có tác dụng khuếch đại ánh sáng tại các cửa có ánh nắng chiếu trực tiếp . Tôi đã có dịp lên tham quan Khu Di Tích Lịch Sử Ngọn Hải Đăng Hòn Khoai ( Kiên Giang ) tại đây có hai khu nhà : Một do Pháp xây dựng ; Một do Mỹ xây dựng . Khu nhà do người Pháp xây bố trí hướng cửa , tạo dựng các cửa bên trong rất chuẩn xác nên vào bên trong có cảm giác mát mẻ , thoải mái rất dễ chịu ( Không người Pháp có biết về Phong Thủy không !? ) . Trái lại khu nhà do người Mỹ xây thì dù áp dụng rất nhiều biện pháp cách nhiệt ( Trên nóc lớp xốp chống nóng dày đến hơn 1 m ) nhưng vào đó vẫn thấy ngột ngạt bí rị . Mùa khô nóng đến rồi ! Việc chống nóng làm mát cho gia đình rất quan trọng , nó không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của mỗi người chúng ta , mà gián tiếp ảnh hưởng đến công việc , tiền tài thu nhập của gia đình . Tìm hiểu một chút , khéo sắp đặt một chút chúng ta sẽ có được một không gian mát mẻ , thoải mái , để thư giãn sau mỗi ngày học tập , làm việc vất vả trong tiết trời nóng bức . Để rồi sinh lực phục hồi cho ngày làm việc hôm sau thật tốt . Nguon:TheAnhdich
  15. Vào Cửa Nên Thấy Ba Điều 1. Mở cửa thấy hồng, đó là mở cửa thấy điều vui. Tức là mỗi khi mở cửa lại thấy được màu đỏ của tường hoặc vật trang trí, vào nhà phóng mắt nhìn cảm thấy có Hỷ Khí đằng đằng, tinh thần mọi người đều cảm thấy ấm áp phấn chấn, tâm tình thư thả. 2. Mở cửa thấy màu lục. Nếu mở cửa mà thấy ngay màu lục của cây cối phát triển xanh tốt trong giò chậu, có thể có công hiệu làm cho dịu mắt. 3. Mở cửa thấy tranh ảnh. Nếu mở cửa ra liền thấy các vật trang trí nhỏ hoặc tranh ảnh, thể hiện sự hiểu biết của chủ nhà, lại có thể tạo ra cảm xúc khoan hòa tránh sự vội vàng không tốt khi vào nhà. Ba Điều Không Nên Thấy Khi Vào Cửa : 1. Mở cửa thấy bếp. “Dương Trạch Tập Thành” nói “ Mở cửa thấy bếp, tiền tài hao lớn.” . Khi vào cửa, thâý ngay bếp, hỏa khí xung mạnh, làm cho tài khí không cách nào tiến nhập. 2. Mở cửa thấy nhà vệ sinh. Khi vừa tiến vào cửa lớn thấy ngay nhà vệ sinh, giống như uế khí đón người, có một điển tích cũ nói về chuyện này : “Án Tử Đi Sứ Nước Sở” Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, Đại Phu nước Tề là Án Bình Trọng phụng mệnh đi sứ nước Sở, Sở vương thấy hình dáng Án tử nhỏ bé, trong lòng muốn lấy ông ra để đùa vui, hạ lệnh rằng không cho vào cửa thành cao lớn mà bên canh cổng thành đào một cái lỗ chó chui rồi bảo ông chui qua đó mà vào thành. Án tử chẳng phải người có trí tuệ tầm thường, ông đứng trước cửa thành hỏi rằng “Nếu như cho rằng tôi đến nước của chó thì tôi vào lỗ chó; Nếu cho rằng tôi vào nước của người thì sao lại bảo tôi qua lỗ chó” . Nghe vậy Sở Vương mười phần tức tối, nhưng cũng đành thán phục mà mời ông qua cửa lớn. Vào cửa mà thấy ngay nhà vệ sinh cũng đồng lý như vậy. 3. Mở cửa thấy kính. Kính gương sẽ đem tài khí phản xạ xuất ra ngoài, nếu như không phải là cửa lớn bị xung xạ bởi đường đi trụ lớn, tất không nên đặt kính chính đối diện cửa lớn. Hai Điều Kỵ Húy Ở Cửa Lớn : 1. Xà ngang, sống mái nhà áp vào cửa, nếu nhà cửa nhà phải chịu sự áp lực đó, tất trong nhà nhân đinh khó mà ngóc đầu lên được, một đời nhìn người mà than thở, luôn luôn bất đắc chí, uất ức một đời, làm sao có được chí lớn. 2. Cửa lớn tạo thành hình chắp tay cung kính, tất hình trạng giống như bia mộ, nhà ở mà giống như âm trạch, thật rất bất lợi, nên khi trang trí nhà cửa cần tránh không để tình trạng này xảy ra. Màu Sắc Cửa Lớn Và Thước Tấc: Màu sắc cửa lớn tốt nhất là hợp với Ngũ Hành của mệnh chủ, như thế thì nhà ở và cửa lớn sẽ hoàn mỹ. Kim mệnh dùng các màu : Trắng, Kim, Bạc, Xanh, Lục, Vàng, Vàng sẫm. Mộc mệnh dùng các màu : Xanh, Lục, vàng, vàng sẫm, tro, lam. Thủy mệnh dùng các màu : Tro, lam, hồng, chanh, trắng, kim, bạc. Hỏa mệnh dùng các màu : Đỏ, chanh, trắng, kim, bạc, xanh, lục. Thổ mệnh dùng các màu : Vàng, vàng sẫm, tro, lam, hồng, chanh, tía. Cửa lớn thước tắc với phòng ốc cần tuân theo tỷ lệ đúng, không thể cửa lớn nhà nhỏ, hoặc nhà nhỏ cửa lớn, đồng thời, cửa lớn là bộ mặt của một ngôi nhà, nên lới không nên cũ, nếu cửa lớn bị hư hỏng cần lập tức sửa ngay. Bên Cửa Bài Trí Nước Có Thể Thôi Tài : Lợi dụng công năng của cửa tốt, ta có thể dùng cửa lớn đề chiêu tài và thôi tài. Có thể nói cửa lớn trước nhà chính là nơi nắm giữ nguồn mạch tiền tài, mà phương pháp rất đơn giản để thúc đẩy tài lộc là bên cạnh cửa bài trí nước, có câu nói “Núi quản nhân đinh thủy quản tài lộc”, nơi có thủy tất có thể phát huy nguồn tài lộc. Ngoài thủy ra thì các loại thực vật cần nhiều nước, bình hoa đều có tác dụng thôi tài, chỉ cần đặt ở vị trí thích hợp nơi cửa lớn tất sẽ có hiệu ứng. Nói Về Ngạch (Bậu) Cửa Lớn Ngạch của cửa lớn nguyên chỉ phần kiến trúc gỗ nằm ngang cửa, nhà ở truyền thống ở Trung Hoa (cũng nhà ở Việt Nam) nơi cổng lớn bao giờ cũng có Ngạch. Chúng ta ra vào qua cửa lớn đều đi qua Ngạch, nó cũng có tác dụng làm chậm lại bước chân, cũng như sự di chuyển của dòng khí, chắn bớt tác dụng của lực bên ngoài tác động vào nhà. Thời cổ Ngạch cửa lớn thường cao hơn cửa lớn khoảng 30 – 40 cm , như hiện nay mái Ngạch cửa lớn thường chỉ cao hơn khoảng trên dưới 10 cm. Ngoài sử dụng gỗ làm ngạch, hiện còn dùng đá, sắt thép đặt ngạch cố định ở cửa lớn. Ngạch cửa trước xác định ranh giới giữa bên ngoài và bên trong nhà, đồng thời Ngạch cửa trước ngăn cản chống lại gió bụi lại cũng chống lại một số loại côn trùng ở bên ngoài, bởi vậy mà nó có giá trị rất lớn, nó ngăn trở các nhân tố độc hại từ bên ngoài đồng thời tránh tiết thoát tài khí từ bên trong ra. Bởi thế Ngạch cửa trước đối với nhà ở mà nói là cực kỳ quan trọng. An định ngạch cửa cần chú ý một số điểm sau : Màu sắc cả ngạch cửa cần phù hợp với màu sắc của cửa. Rất cần tương sinh hoặc ngang hòa, tránh tương khắc, cũng tránh sử dụng hai màu quá tương phản khiến cho cửa lớn trông như bị đứt đoạn, nó cũng như cùng một nhà mà trung đại lương ( Xà mái chính và phụ) phản lẫn nhau, chủ hung dữ. Ngạch cửa đẹp đẽ hoàn chỉnh thì nhà ở khí trường cũng thuận lợi, cắt đứt tất trì trệ, nếu phạm phải tất nên sửa chữa sớm. Nguon:TheAnh dịch
  16. Long Quy : Một Loài Thú Lành - Chủ Cát Tường Chiêu Tài Giải Tam Sát Long ( Rồng ) là một hình tượng Linh Thiêng của Trung Quốc và một số nước Á Đông , đặt nó ở đâu thì nơi đó mang ẩn ý chứa đựng điều cát tường, nó cũng là đứng đầu trong bốn con thú lành của Trung Quốc . Trong truyền thuyết Long Sinh Cửu Phẩm ( Chín đứa con ) , các phẩm không giống nhau phân biệt như sau : Con lớn là Tù Ngưu thích âm nhạc ; tiếp thứ hai là Nhai Tý háo sát ; ba là Triều Phong thích nguy hiểm ; bốn là Bá Hạ thích Mang vật nặng ; năm là Bệ Ngạn thích tranh cãi ; sáu là Xuy Vẫn thích nuốt mọi vật ; bảy là Thao Thiết thích ăn ; tám là Kim Nghê thích khói lửa ; chín là Bồ Lao thích la hét . Trong chín con của Rồng duy có con thứ tư là Bá Hạ thích mang vật nặng , ngoại hình của nó giống con rùa , đầu thì giống rồng , gọi là con thú mang bia ( Có một số người , thậm chí cả các nhà Sử Học có sự nhầm lẫn khi cho rằng các con vật đội bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám là loài Rùa , thật ra đó là Bá Hạ vì ngoài đặc tính thích mang vật nặng nó cũng rất thích văn chương nên người xưa dùng nó để đặt bia Tiến Sĩ - Điều này mang ý nghĩa sâu sắc hơn là một con rùa bình thường ). Trong dân gian thì các con rùa lớn linh thiêng cũng được gọi là Long Quy . Trong truyền thuyết cổ của Trung Quốc cũng có nói đến Nữ Oa Nương Nương dùng bốn chân rùa lớn đề chống bốn góc trời bị Cung Công húc nghiêng lệch. Cũng vì Long Quy thích mang vật nặng , ngụ ý giúp con người chống lại Sát khí giảm tai họa , nên Long Quy thường dùng để trấn trạch hưng gia , nó cũng đem lại Phúc Trạch giúp cho cuộc sống tốt hơn . Long Quy đặt tại tài vị thì thúc đẩy tài lộc , đặt tại vị trí Tam Sát hoặc vị trí nhiều thủy khí thì tác dụng hóa giải rất lớn . Phong Thủy Học có nói : “Yếu khoái phát , đầu Tam Sát – Phát tác nhanh chóng nhất là Tam Sát” . Thủy khí lớn chủ thị phi khẩu thiệt , Long Quy đặt ở đó có thể hóa giải tranh cãi , còn đem lại nhân duyên nữa . Long Quy có thể chiêu tài hóa sát , thêm nữa rùa có hàm nghĩa Nhân Thọ , cho nên Long Quy sử dụng ít khi úy kỵ . Hình dáng nó cũng làm cho nhiều người thích ,nhà nhà ai cũng muốn bày nó . Khi bày Long Quy tốt nhất nên lấy Mệnh Vận của chủ nhà mà tính toán , sẽ không bao giờ bất lợi khi quan hệ với người khác . Muốn dùng chiêu tài thì đặt nó hướng ra cửa như dùng Tỳ Hưu . Long Quy bài trí ở phía hậu nhà thì có tác dụng Trấn Trạch . Long Quy có tác dụng tụ sinh khí làm cho vượng nhân đinh . Long Quy trước tiên mang hàm nghĩa Vinh Quý , ngụ rằng Vinh Hoa Phú Quý hay Áo Gấm Về Làng . Cho nên nói đến Long Quy thì đó là một con vật rất Tốt Lành . Đời Tống có quan niệm cho rằng Long Quy tức là Thần Vật của Bắc Đế Chân Võ ( Một trong các Hóa Thân của Ngọc Hoàng Thượng Đế ) . Click this bar to view the full image. Long Quy đầu đặt quay về cửa sổ ( Bên ngoài cửa sổ có sông , ngòi , biển là tốt nhất ) , đặt tại phòng khách hoặc phòng đọc sách . Cửa sổ đặt ở vị trí phía đông càng tốt vì có câu “ Tử Khí ( Khí Lành) đến từ phương Đông” . Tại phòng làm việc nên bày đối diện cửa phòng hoặc cửa sổ ( bày ngay trên bàn làm việc của mình ) . Sau đuôi Long Quy nên bày Tử Tinh Động ( Động đá tím ) để khí tím đến nhập vào huyệt động . Trước mặt Long Quy nên bày một thủy tinh cầu trong suốt để bổ sung thủy khí cho Long Quy . Click this bar to view the full image. Từ đó tăng cường uy lực cho Long Quy . Nguon:suutam
  17. Bày bố Cục thế cho Huyền Không Phi Tinh là bí mật trong bí mật của họ Từ, nay đem tiết lộ nơi đây mong là cái duyên lưu giữ Dịch Học. Phương vị Nhất Bạch dùng một loại thực vật sắc xanh lục là tốt nhất. Phương vị Nhị Hắc dùng các tấm đồng là tốt nhất. Phương vị Tam Bích dùng gạch ngói lấy từ lò bếp ra là tốt nhất. ( Đồ gốm). Phương vị Tứ Lục dùng thực vật sắc xanh lục là tốt nhất. Phương vị Ngũ Hoàng dùng sáu đồng tiền cổ là tốt nhất. Phương vị Lục Bạch dùng đồng hồ hình vuông là tốt nhất. (Phát tiếng chuông) Phương vị Thất Xích dùng đồng hồ hình tròn là tốt nhất. (Phát tiếng chuông) Phương vị Bát Bạch dùng đồng hồ hình tam giác là tốt nhất. (Phát tiếng chuông) Phương vị Cửu Tử dùng loại thực vật có lá sắc đỏ là tốt nhất. Chú ý : Trên đây là lúc các trạch có chín sao bay vào các phương để bày cục thế, như thế sẽ tăng cao được Trạch Khí có uy mãnh trợ giúp, có thể biến hung trạch thành cát, nếu là cát trạch thì càng thêm hiệu quả ! Lợi Dụng Màu Sắc Ngũ Hành Để Hóa Sát Và Thôi Vận: Màu sắc cũng có phân biệt thành thuộc tính âm dương ngũ hành, có thể dùng vào hóa giải hình trạng, ở phương vị có sát khí hữu hình hoặc vô hình, đều có thể dùng điều phối bổ sung Tứ Trụ Dụng Thần, thường rất hiệu quả. Kim Sát hoặc Kỵ Thần Tứ trụ thuộc Kim: - Dùng màu đỏ, màu tía khắc kim; hoặc dùng màu đen, màu xanh dương tiết thoát nó. Mộc Sát hoặc Kỵ Thần Tứ Trụ thuộc Mộc : - Dùng màu trắng, xám để khắc nó; có thể dùng màu đỏ màu tía để tiết thoát. Thủy Sát hoặc Kỵ Thần Tứ Trụ thuộc Thủy : - Dùng màu vàng, cam để khắc nó; có thể dùng màu xanh màu lục để tiết thoát. Hỏa Sát hoặc Kỵ Thần Tứ Trụ thuộc Hỏa : - Dùng màu đen, xanh dương để khắc nó; có thể dùng màu vàng màu cam để tiết thoát. Thổ Sát hoặc Kỵ Thần Tứ Trụ thuộc Thổ : - Dùng màu xanh, lục để khắc nó; có thể dùng màu trắng, màu xám để tiết thoát. Họ Từ Nói Rằng : Đối với cuộc sống hiện đại, các thành phố công nghiệp, thương nghiệp cư dân tập trung khá đông làm cho bị ô nhiễm ánh sáng, âm thanh, từ trường rất lớn, bệnh viễn thành ra cũng ô nhiễm, khó mà dùng các hóa sát truyền thống, để mà chế hóa. Đối với ô nhiễm ánh sáng, tất nên dùng các vật ngăn cách, làm cho giảm bớt cường độ để giải quyết, như đặt màn che, tấm kính mờ, treo rèm cửa sổ đậm màu ngăn bớt. Đối với ô nhiễm âm thanh, có thể dùng loại rèm hai lớp hoặc các vật liệu cách âm. Đối với các ô nhiễm điện từ trường lớn hoặc ô nhiễm sóng vi ba, có thể dùng các loại tường ngăn hay tấm ngăn cửa sổ bằng tấm lưới kim loại để ngăn cản. Đối với ô nhiễm tia X thì dùng các tấm có tráng chì để ngăn cách. Dùng Hồ Lô, thủy tinh cầu, kính gương phản xạ, la bàn để hóa sát. Song song với các vật phẩm hóa sát thì nên dùng thêm các vật phẩm thúc đẩy trợ giúp. Có một nguyên tắc là đối với các vật hóa sát thì nên đặt trực tiếp tại nơi có sát khí, còn với các vật phẩm thúc đẩy hỗ trợ thì nên đặt theo phương vị tương hợp sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Nguon:Thế Anh Dịch.
  18. “Sơn Hoàn Thủy Bão , Tàng Phong Tụ Khí , Khí Tụ Hữu Tình” là cảnh giới tối cao mà Phong Thủy Học truy cầu , cũng là cái mà phong thủy luôn đề cao và nghiên cứu . Khí , không có gì là Thần Bí hay trừu tượng . Phong Thủy học bắt đầu từ Đại Khí , Không Khí . Không Khí lưu động thì thành ra gió , Trong Phong Thủy , nghiên cứu gió chính là để xem vì sao sản sinh tốt xấu . Vì sao trong lúc lưu động lại nảy sinh tốt xấu ? là vì có sơn xuyên hà nhạc ( Núi đồi sông suối ) . Không khí đí qua núi cao tất bị ngăn trở , thay đổi phương hướng và tốc độ . Gió bắc thì lạnh lẽo , gió nam nóng ẩm , lốc bão thì là quá mạnh mà sinh tai họa , đó là các kiến thức thông thường . Click this bar to view the full image. Toàn Cảnh Thập Tam Lăng ( 13 Lăng Mộ Của Các Hoàng Đế Minh Triều ) Chúng ta sống trong các ngôi nhà cao tầng ( Chung cư ) cũng giống như núi cao , nó làm biến đổi phương hướng và tốc độ của gió , gió mang không khí đi vào theo cửa và cửa sổ ( Phong Thủy Học gọi là khí khẩu ) mà vào trong nhà , tạo ra ảnh hưởng đối với người và động vật trong nhà . Tốt xấu từ đó mà sinh ra .Trong Phong Thủy có hai khái niệm đối lập là “Vượng Khí” và “Suy Khí” , hai cái này cũng không có gì Thần Bí . Vượng Khí là khí tốt , Suy Khí là khí xấu tất cả đều do môi trường , thời gian tạo nên . Xem xong Phong Thủy cần cái biến vị trí cửa , cửa sổ cũng phương hướng , là để đón vượng khí vào mà thôi . Cho nên nghiên cứu phương vị mở cửa , cửa sổ chính là một vấn đề lớn của Phong Thủy Học . “Khí Thừa Phong Tán , Giới Thủy Tắc Chỉ” là một thuật ngữ quan trọng trong Phong Thủy . Ý nghĩa của nó là khi không khí chuyển động mà gặp sông biển thì dừng lại . Sông Biển chính là một nơi không khí ít khi tán rộng . Khí ở chỗ này ngưng tụ lại từ nhiều hướng khác nhau ( Đây cũng chính là nguyên nhân hình thành các vùng khí tập trung sản sinh ra bão , lốc ) . Chọn lựa tựa núi quay ra biển chính là một kinh nghiệm đúc kết trải qua nhiều đời . Nó phù hợp với nguyên tắc : “Sơn Hoàn Thủy Bão , Khí Tụ Hữu Tình” . Đề Có Được Phong Thủy Tốt Nên Theo Bốn Nguyên Tắc Lớn Như Sau : 1.Sảnh ( Phòng Khách ) Nên Lớn , Phòng Ngủ Nên Nhỏ . Phòng khách là nơi cả nhà hoạt động sinh hoạt suốt ban ngày , nên cần rộng rãi , thoáng mát . Còn phòng ngủ lại không nên quá lớn , bày vật không nên quá thưa thớt rời rạc. Không khí đương nhiên cần lưu thông , tuy nhiên nếu như 3 mặt đều có cửa sổ , nên đóng bớt lại . Vì như thế khí sẽ tán rất hại cho người ngủ. Nếu có dịp đến thăm cố cung ở Bắc Kinh, hay Huế chúng ta sẽ thấy trong cung không phải thiếu diện tích nhưng các phòng ngủ đặc biệt làm rất nhỏ ( So vói các phòng khác). Hơn thế các giường nằm đều được quây khá kỹ bằng màn trướng ! 2.Không Nên Chọn Tầng Quá Cao . Không nên sống ở nơi cô lập trên cao , như ngày trước khi còn ít người xây nhà cao , có một số người xây nhà cao vưới xung quanh bốn bên , như thế Phong Thủy Học gọi là Cô Cao ( Cô đơn cao một mình ) . Cô tức là vị trí cô lập , không có chỗ tựa sau , không có chỗ dựa bên cạnh , không có bạn bè , không có sự giúp đỡ . Cao là quá ư nổi trội , chót vót , tất nhiên bị cô lập . Nhà bị Cô Cao sẽ không được che chắn , mưa gió trút vào , lại bị gió dữ . “Khí Thừa Phong Tác Tán – Khí gặp gió thì loãng ra” , mà khí tán sẽ phá tài , tổn thân , người và tài sản đều tổn thất , chỉ còn lại cô đơn , yếu ớt , dần dần biến thành tiêu điều , điêu linh . 3. Mô Thức Đẹp Chuẩn Của Phong Thủy . Khi lựa chọn nên chọn vị trí trung tâm , nơi đó sau lưng phải có núi , gọi là “Kháo Sơn – Tựa núi .” . Ở bên trái gọi là “Thanh Long” ; Bên phải gọi là “Bạch Hổ” . Trước mặt mở ra một khoảng lớn . Tốt nhất là một vùng đất rồi tiếp đến là một vùng nước trong xanh đẹp đẽ hữu tình , như thế gọi là “Minh Đương” . phía sau Minh Đường nến có núi . Gần gọi là “Án Sơn” xa gọi là “Triều Sơn” . Như thế là bốn núi vây quanh , ở giữa là đất bằng hoặc sông hồ , gọi là “Sơn Hoàn Thủy Bão” . Núi bốn bên che chắn , chặn luồng gió quá mạnh , bảo hộ cho những người sống trong nhà . Khí do núi cao đi xuống được vùng đất bằng phẳng hoặc vùng nước trước mặt ngưng tụ lại , trong mát , quyến luyến hữu tình . Chọn lựa một vùng đất như thế để ở tất nhiên sẽ có đủ Phúc Lộc Thọ Khang Ninh , phát Phú Phát Quý . 4 . Kháo Sơn Nên Là Vật Thể To Lớn Vững Chắc . Kháo Sơn ( Núi tựa phía sau nhà hoặc mộ huyệt ), còn có tên là “Tứ Nghĩa – Ban Ơn Nghĩa ” , tức là có vai trò rất lớn . Trong quan hệ giao tiếp với người khác thường là "Tựa trên quản dưới " cho nên đây chính là người đề bạt cho bạn , là người đứng phía sau bạn . Tả Thanh Long , Hữu Bạch Hổ , tức là trợ lực . Tức là thuộc cấp của bạn , hoặc trợ thủ , bạn bè . Minh Đường , đại biểu trước mắt . Án Sơn biểu tượng cho danh tiếng . Triều Sơn biểu tượng cho sự kính phục , cung phụng của người khác đối với bạn . Cũng đại biểu cho quý nhân đến với bạn . Cao một phân là Núi , thấp một phân là thủy . Trong Phong Thủy Học hiện đại lấy nhà cao làm núi, đường đi là thủy từ đó mà xem xét phán đoán . Nguon:TheAnh dịch
      • 1
      • Like
  19. Sông lớn lúc đầy lúc cạn; Đời người khi thịnh khi suy; Nhà ở khi tốt khi xấu. Không ai dám nói mình suốt đời hanh thông, cũng như không ai dám chắc ngôi nhà mình đang ở là hoàn toàn tốt. Tuy nhiên nếu biết sử dụng Bí Quyết "Tạo Mệnh" của Dương Công thì có thể đón lành tránh dữ, thời gian và không gian luôn vận động trong chu trình tốt xấu xen kẽ , liên miên bất tận, hiểu được nó , dùng được nó ấy là Người Trí vậy ! 1. Điều chỉnh toàn bộ phương vị nạp khí của nhà ở , giường , bàn , tủ , bếp là những cái trọng yếu của bố cụ . Phối hợp với mệnh chủ tìm ngày tốt giờ tốt xoay chuyển nạp khí mới . 2. Chọn ngày giờ tốt tại Lưu Niên cát tinh phóng thủy hoặc an thần . 3. Chọn ngày tốt tại tiên thiên Thôi Tài vị an khai quang tụ bảo bồn . 4. Tại nơi tài vị của nhà an Khai Quang Long Ngân . 5 . Ở nơi có lợi cho sự nghiệp hoặc tiền tài , chọn ngày giờ tốt chôn khai quang thủy tinh cầu , phép này kiêm luôn trấn trạch . 6. Chọn ngày tốt vào nhà . 7. Chọn ngày tốt an Khai Quang Kỳ Lân Thần Thú có thể chiêu tài kiêm trấn trạch . 8. Chọn ngày tốt tại Tiên Thiên tài quan cung an Tỳ Hưu thần thú . 9. Chọn ngày tốt tại nơi tài vị an Phù Chiêu Tài Tiến Bảo . 10 . Tại phương vị Tài treo khai quang kim ngân tài bảo đồ . 11. Tại vị trí thôi quan chọn ngày tốt treo tranh tuấn mã đã khai quang . 12. Tại nơi tài vị chọn ngày tốt treo tranh thuyền cập cảng đã khai quang . 13 . Chọn ngày tốt an tài lộc sinh cơ nơi tài vị ( Thần Tài hoạt động được ) . 14. Chọn ngày tốt an quan lộc sinh cơ nơi quan vị ( Tượng Quan Tinh hoạt động được ) . 15 . Chọn ngày tốt nơi lưu niên tốt đặt máy lạnh hoặc quạt mát . Âm trạch là nơi an nghỉ của tổ tiên , cần có được sông núi khí vào đẹp tốt , nếu phối hợp tốt với nhà ở để thôi vượng ( Thúc đẩy cho thịnh vượng ) thì có thể phát phúc lâu dài . Đối với tương lai con cháu sau này rất quan hệ . Sau khi chôn hoặc cải táng mà con cháu sinh ra trong lá số mệnh lý có thấy Trinh Tường Cát Lợi đó thật là điều tốt lành . Nguon:Thế Anh Dịch & Tổng Hợp !
  20. DƯƠNG TRẠCH 30 NGUYÊN TẮC ( theo huyền không phi tinh )1/ Ở thôn quê không khí thông thoáng phép lập trạch phải thu cả sơn lẩn thủy thì mới được tốt, Nơi thành thị khí tụ, tuy không có nước để thu mà có nhà lân cận lồi lõm thấp cao, đường xá quanh co rộng hẹp, thấp lõm uốn khúc rộng là thủy, lồi cao thẳng hẹp là sơn . 2/ Ai tinh, âm dương trạch ai tinh không khác, lấy nguyên vận thụ khí làm chủ, sơn hướng phi tinh với khách tinh gia lâm làm dụng, âm trạch trọng thủy, dương trạch trọng môn hướng, nhưng môn hướng sở dỉ nạp khí, như ngoài cửa có nước óng ánh,thì tốt hơn đường lộ, suy vượng do thủy, cân nhắc do lý của sao, cũng là không khác vậy 3/ Hướng nhà Hướng cửa, phàm nhà mới xây cất thì hướng nhà hướng cửa quan trọng như nhau, trước tiên từ ngoài nhà mà đoán 6 việc được thất, nếu không nghiệm thì lấy hướng cửa mà đoán thêm, như hướng nhà đoán đả nghiệm thì khỏi đoán thêm hướng cửa, ngược lại nếu đoán hướng cửa đả nghiệm thì khỏi đoán thêm hướng nhà, 4/ Hoàn cảnh đường cục, phàm xem dương trạch, trước xem hình thế khí mạch của núi sông có hợp cục không, sau xem lộ đi và chu vi của ngoài 6 việc, nóc nhọn nhà lân cận cột cờ mồ mã chùa chiền cây cối các vật tọa lạc ở tinh cung nào, phân biện suy vượng để đoán cát hung, 5/ Cửa cái mở xê bên ----, phàm dương trạch lấy đầu hướng cửa cái nạp khí mà đoán cát hung, cửa cái mở xê một bên, tức phải dùng hướng cửa và hướng nhà, hợp hai bàn mà xem, ngoại cát nội hung, khó tránh nầy nọ, nội cát ngoại hung, chỉ được khá giả. 6/ Nhà lớn cửa nhỏ, phàm nhà với cửa lớn nhỏ phải tương xứng với nhau, nếu nhà lớn cửa nhỏ sẽ không tốt, nhưng hướng nhà hướng cửa sinh vượng thì không sao, 7/ Thừa vượng khai môn,--- phàm nhà củ muốn mở cửa vượng, phải lấy thời gian từ ngày xây cất, phi tinh của vận đó mà suy luận, như vận nhất bạch lập nhâm sơn bính hướng, vượng tinh đáo tọa, không phải nhà tốt, đến vận tam bích mở cửa tại giáp, thì mới hấp thu được vượng khí, vì lúc xây cất hướng thượng phi tinh tam bích đáo chấn,, giao vận tam thừa thời đắc lệnh, không phải là chấn tam của địa bàn, nếu khai môn tại mão cũng phài kiêm giáp, mới được khí đồng nguyên của sơn hướng vậy, 8/ Tân khai vượng môn, -- phàm nhà củ mở vượng môn sau, phép đoán dùng hướng cửa khỏi dùng hướng nhà, đặt bếp lập phòng cũng dùng hướng cửa mà định vị, tức theo đó trước, là chỉ đại khai vượng môn, nếu như cửa cái bị che lấp, hoặc đóng kín, thì xét phương hướng âm dương thuận nghịch, mà thừa thời lập hướng, như mở cửa nhỏ để thông vượng khí, phải dùng đồng nguyên nhất khí, vẩn theo lúc khởi tạo lập cục hướng nhà mà luận đoán thì được . 9/ Vượng Môn bế tắc,--- phàm sở khai vượng môn, trước mặt có nhà bế tắc, không thể trực đáo, thì mở thêm 1 cửa nhỏ kế bên để thông với vượng môn, tức cửa nhỏ kể như khí con đường thông qua vậy, khỏi cần đặt la bàn xem, 10/ Vượng môn nền cao,--- ngoài cửa vượng môn có nước, vốn là đại cát, nhung nền cửa lại cao hơn nền nhà, tuy có vượng thủy nhưng không thu được, nền cửa cao hơn nội minh đường cũng vậy, như ngoài cửa lộ cao, thì luận cách khác, 11/ Lý đồng,--trong nhà có hành lang hay đường hẽm u tối, không thấy ánh mặt trời, theo âm khí luận, nếu nhị hắc hoặc ngũ hoàng giá lâm, chủ nhà đó thường thấy ma, dù không có hai sao nhị ngũ cũng vẩn là xấu . 12/ Đặt Bếp,--- Bất luận phương sinh vượng suy tử đều đặt được, nhưng phương sinh vượng tránh được thì nên tránh, lấy cửa lò làm trọng trang thờ thần Táo có thể tùy, cửa lò hướng 1 bạch chủ thủy hỏa ký tế, hướng 3 bích 4 lục là mộc sinh hỏa là tốt nhất, hướng 8 bạch hỏa sinh thổ trung cát, hướng 9 tử cũng thứ cát nhưng hiềm hỏa quá vượng, 6 bạch 7 xích không nên hướng vì cửa lò hướng về đó là lúc xây cất nhà hướng thượng phi tinh sống nơi đó, đây là luận về địa bàn 9 tinh mà nói. 13/ Nhà xí, Vũng trâu,--- ô uế hơi thúi không nên để gần, Ngũ hoàng gia lâm sẻ bị ôn dịch, nhị hắc bay đến cũng là bệnh tật, nên đặt phương thối khí nơi xa là thích hợp. 14/ Cách Vận xây cất thêm, phàm nhà đồng vận xây cất, cứ lấy nhà chính làm chủ, như vận sau xây thêm phía trước hay sau hoặc bên hong, mà không mở thêm cửa cái,thì dùng vận ban sơ mà luận,không dùng 2 vận mà luận, bằng nhà xây thêm đó có mở cửa cái ra vô riêng thì mới dùng 2 vận mà luận bày, thảng như hậu vận thêm tạo có sửa dờì cửa cái tức toàn bộ nhà đều dùng hậu vận mà luận vậy. 15/ Phân phòng bài sao,--- phàm nhà xây cất vào 1 vận nào, đến vận sau chia làm 2 phòng, vẩn lấy vận ban đầu làm chủ, lại lấy cửa tư của 2 bên mà làm dụng, bởi tinh vận định lúc khởi tạo, không vì phân phòng mà biến động, sau khi phân phòng, các lấy tinh khí cục bộ nơi ở của từng phòng mà suy đoán cát hung, đồng vận phân phòng thì cũng theo như vậy mà suy. 16/ Nhiều gia đình ở chung một nhà,--- nhiều gia đình hay cả chục gia đình ở chung 1 nhà, phép đoán lấy cửa riêng của mổi gia đình làm chủ , đường các nhà đi qua lại làm dụng, xem đường xa gần suy vượng, tức sẻ biết được thân sơ được mất của khí đó vậy, 17/ Phân chia nhà,--- Nhà qui hoạch thành nội thất, lập cửa riêng tư, thì theo cửa riêng mà tính, nhưng toàn nhà thông nhau liên tiếp, vẩn tính 1 gia đình mà bài, không tính 2 gia đình mà đoán vậy, 18/ Gặp tù mà không tù,------., Vận của hướng tinh nhập trung, như 2, 4, 6, 8 , lớp nhà, tại sao gặp tù mà không tù, bởi trung cung ắt có minh đường, khí trống không có thể luận là nước, hướng tinh nhập thủy nên tù không đặng, nếu 1, 3, 5, 7, lớp nhà trung cung có nhà, nhập trung bèn bị tù, nhưng đầu hướng có nước lóng lánh cũng tù không đặng, 19/ Tiệm buôn,----, Phàm xem tiêm buôn lấy hướng cửa làm chủ, kế đến quầy tiền, thứ nửa là trang thờ thần tài, đều muốn phối hợp sanh vượng, như môn hướng cát, quầy tiền hung, thần tài hung, thì trong cát có tì vết, chủ bạn giúp việc bất hòa hoặc làm trở ngại,cái khí suy hay vượng đều do nơi hướng cửa hấp nạp mà ra. 20/ Phương cát hung cao,----, phương cát của trạch tung cao, khi niên nguyệt phi tinh đến sanh trợ thì càng cát, đến mà khắc tiết thì hung, nếu phương hung cao tung, niên nguyệt phi tinh đến khắc tiết lại thành cát, lai sanh trợ tức hung, đây là nói về sơn thượng long vị , ( là chỉ phi sơn tinh đến phương vị đó 21/ Cây to, tàng tre che khuất,---, phương vượng của nhà có tàng tre cây to che khuất, chủ không tốt, tàng tre không ngại nhưng cũng phải lưa thưa để thông khí, phương suy tử có cây cối to lớn lại cát, 22/ phương suy nhất bạch,----,dương trạch phương suy của nhất bạch nhà lân cận có đòn dông hay nóc nhọn chỉa nhằm chủ uống độc tự vận, nếu là đầu thú vật càng nặng . 23/ Tài đinh vượng tốt,----, Tài khí là do nơi hướng thủy hay bàng thủy của trạch, xem vượng tại phương nào gia thái tuế mà đoán lấy, công danh thì xem nhất bạch tứ lục của hướng thượng phi tinh, xem hòn non hoặc tam xoa thủy nơi lưu thần uốn khúc, gia thái tuế hợp niên mạng mà đoán, đinh khí thì xem đương vận sơn tinh nơi tọa mà đoán rất là ứng nghiệm, 24/ Lưu niên suy tử đồng lâm với vượng tinh đáo hướng,----- Dương trạch suy tử đáo hướng là chữ nào, gặp lưu niên phi tinh đáo hướng là chữ nào, ( tức tuế tinh vận tinh đồng lâm ) chủ thương tổn đinh,vượng tinh không đáo hướng của suy trạch, gặp lưu niên vượng tinh đáo hướng, cũng chuyển chủ phát họa, âm trạch đồng đoán, như sanh khí đáo hướng hoặc có thành môn dùng được thì ngoại lệ, 25/ Quỉ quái,---- Phương suy tử nơi ngoài nhà có núi cao hoặc cạnh nóc hay đòn dông nhà, ở trong nhà không nhìn thấy, thì gọi là ám sát, khi vận nhà suy, quẻ âm hiện quỉ , quẻ dương hiện quái, đến lúc Thái Tuế nhật nguyệt thời gia lâm thì ứng, ban sơ xuất hiện có ảnh không hình, sau thì càng rỏ, hoặc dời chổ đồ đạt, hoặc nhát người, cây khô xung xạ, khi vận nhà suy, quẻ âm chủ quỉ, quẻ dương chủ thần, âm dương lẩn lộn chủ yêu quái. 26/ Lộ Khí,----- Đường lộ là nơi dẩn khí đến, suy vượng là do nơi hấpdẩn, cách xa nhà ảnh hưỡng nhẹ, nhưng vẩn kị xung xạ gọi là xuyên sa, có cát có hung âm dương trạch đồng vậy, nhà sát đường lộ, hoặc hẽm trong nhà lại càng quan hệ cát hung,nên đường hẽm trong nhà nên chọn đầu hướng có sao phi tinh sinh vượng, hợp tam ban là cát, còn ngoại lộ, thì luận một cong của đầu đuôi, xét hai đầu của ba uốn, xem phương vị đó thuộc tinh quái nào, nơi cong uốn là khí đến,chổ ngang thẳng là khí ngừng, đó là xem theo đầu hướng cửa mà bài vậy, Thiên Nguyên Ngũ Ca nói , dấm chua không nên rót vào sữa, ý nói nhà cát lộ hung thì sẽ sanh tai họa,27/ Giếng,---- giếng là nơi nước có nguồn quang khí ngưng tụ mà bốc lên, long thần trong nước sinh vượng phương mà làm văn bút, rơi vào suy tử khắc chủ hung họa, âm trạch cũng luận vậy, 28/ Tháp,---- tháp là hình dựng đẹp, gọi tên văn bút, tại phi tinh nơi phương 1 x 4; 1 x 6, nếu đương vận chủ khoa danh, thất vận cũng chủ văn hay, như tại phi tinh phương 7 x 9; 2 x 5, chủ hung tai tác họa, khắc sát đồng đoán, âm trạch cũng vậy. 29/ Cầu,---- cầu tại sanh phương năng thụ ấm, tọa lạc phương suy tử tức chiêu ương, cầu đá ảnh hưỡng mạnh, cầu cây ảnh hưỡng nhẹ, âm dương trạch đoán như nhau . 30/ Góc ruộng,---- chọn chổ có tình ôm lại, kị quay lưng, nhọn chĩa, âm dương trạch như nhau . Nguon:vietnambuysell
  21. DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG) Triệu Cửu Phong Tự Tự Dương trạch tam yếu là nhà ở dương thế có ba chỗ chính yếu đó là cửa cái, chủ-phòng và bếp. Nói tắt là cửa phòng và bếp. Mồ mả của người chết thuộc âm cơ có ảnh hưởng tốt xấu cho cả dòng họ. Nhà ở của người đang sống trên dương thế gọi là dương trạch cũmg vậy, cũng ảnh hưởng lớn lao tới gia trưởng, liên hệ tới vợ con, với tất cả thân thuộc trong nhà. Ví dụ như trong một quốc gia gốm nhiều tỉnh, quận, xã… phải được lập dựng ở những nơi thuận tiện, và tại mỗi cơ quan đó phải được cự trị bởi các bậc nhân tài có đức hạnh thì guồng máy chính trị mới thông đạt rồi quốc gia mới giàu mạnh, mới hưng lên được. Cũng như vậy tong một ngôi nhà gồm cửa cái, chủ phòng và bếp là ba chỗ chính yếu rất quan trong cần được đặt tại các cung vị tốt thì nhà mới hưng phát, người trong nhà mới sinh sống yên ổn, giàu sang. Trái lại đặt tại những cung vị xấu thì nhà cửa sẽ suy đồi, con người sẽ sa sút, bệnh hoạn nghèo túng. Rất vô ích mà đổ thừa là không biết. Luật thiên nhiên của tạo hóa không thiên vị người sang hay hèn, thuộc Đạo hay giống dân nào. Hễ ai đốt đuốc đi trong mưa ắt đuốc sẽ tắt, ai bắn trúng chim sẽ được thịt. Nước gió xuôi tất thuyền sẽ chèo mau tới mà dễ, nước gió ngược tất thuyền chèo đi lâu mà hay va chạm. “Thuận thiên gia tồn, nghịch thiên gia vong” là như vậy. Nhưng chúng ta cũng nên đặt nghi vấn để làm sáng tỏ môn Bá trạch: Tại sao có những người ở ngôi nhà hung hại (cửc, phòng, bếp đặt cung vị xấu) mà vẫn thịnh vượng, giàu sang? lại có những ngôi nhà kiết lợi (Cửa, phòng, bếp đặt cung vị tốt) mà vẫn không phát đạt – Sự thật có nhiều trường hợp như vậy, song chẳng phải do lý ấy mà môn bát trạch vô dụng, không đúng. Vì nơi đây chỉ luận riêng môn Bát trạch thuộc về phần địa lợi mà thôi. Ngoài phần địa lợi, chúng ta chưa luận đến can số tức là số phận và thời kỳ hung hại đềi là yếu tố quan trọng của sự thịnh suy hy giàu nghèo. Huống chi còn những dữ kiện khác nữa như: Người đạo đức khác người hung ác, người siêng năng khác với người biếng nhác, phóng túng….. Kết luận khái quát: Ngôi nhà kiết lợi hay ngôi nhà hung hại tất nhiên phải có ảnh hưởng tốt xấu tùy theo mnỗi con người như trên đã phân biệt. Đại khái ở ngôi nhà kiết lợi người có can số nghèo hèn hoặc vận đang suy cũng sẽ đủ ăn, người có can số tầm thường hoặc thời vận chưa thông sẽ được khá lên và dư ăn dư để, người có căn số giàu nhỏ hoặc thời vận thông đạt vừa sẽ phát lên giàu có lớn . . . Và tất cả những người đó đều có cuộc sống yên lành, ít bệnh hoạn, ít rủi ro. ít tai nạn, v ...v.... Đại khái ở ngôi nhà hung hại: Người có căn số giàu lớn hoặc đang thời kỳ thông đạt lớn cũng sẽ bị giảm bớt mà chỉ còn giàu có trung bình, người có căn số giàu nhỏ hoặc đang thời kỳ thông đạt vừa tất sẽ chỉ còn đủ ăn, người có căn số vừa đủ ăn hoặc đan thời kỳ không thông đạt ắt sẽ suy vi . . và tất cả những người đó đều có một cuộc sống khó khăn, hay bệnh hoạn, hay gặp rủi ro và tai nạn, v..v.. Tôi vì ba lẽ sau đây mà soạn lục bộ Dương trạch tam yếu này: 1. Một là tôi cố ý mong cho người dùng môn Bát trạch có một lối qui định và sử dụng nó một cách chính xác, có những phương pháp tính toán tường tận cùng sự chỉ dẫn đầy đủ. 2. Hai là vì tôi biết chắc chắn trăm phần trăm có sự ứng nghiệm hưng suy của môn bát trạch, sau nhiều năm đã dùng cho mình và đã giúp nhiều gia đình khác 3. Sau hết, còn một điều này nữa, chúng ta cũng nên biết, cổ nhân đã dạy: Muốn thành công viên mãn một sự việc nào, cần đủ ba điều thiết yếu: thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Như chỉ luận trong phạm vi nhà cửa thì Thiên thời là chọn năm, tháng, ngày, giờ tốt để khởi công xây dựng hay sửa chữa nhà cửa; Địa lợi là chọn phương hướng tốt để đặt nhà và cung vị tốt để an trí Cửa - cái, Chủ - phòng và Bếp; Nhân hòa là được lòng người như: hợp với lệ luật, hòa với thân nhân và lân nhân Tóm lại, trong muôn điều, cái biết là hơn tất cả. Biết cái dở để tránh và biết cái hay để làm theo, thật không còn chi bằng. Vậy nay có bộ Dương - trạch tam yếu, chúng ta hãy cùng học khảo cho biết rồi thực hành để tránh cái dở mà theo điều hay, tức là để khỏi ở một ngôi nhà hung hại mà được ở ngôi nhà kiết lợi. Đó chính là một cách xu kiết tị hung, tức theo lành mà lánh dữ vậy! Nhà khảo cứu môn Bát Trạch NGUYỄN MINH THIẾT Tháng 8 năm 1962 THIÊN I DẪN LỘ Dẫn lộ là dẫn đường. Thiên Dẫn Lộ gồm 25 bài, tuy chưng dùng vào việc xây cất hoặc sửa chữa nhà cửa, nhưng rất cần phải am hiểu trước, bằng không sẽ gặp khó khăn và bỡ ngỡ như người mới đến chốn xa lạ mà không được ai chỉ dẫn đường đi nước bước khi khảo cứu những thiên kế tiếp. Mặc dù ở những thiên kế tiếp vẫn có sự dẫn giải kỹ càng, vẫn có lắm chỗ đã nói rồi còn lập lại hoặc nói lại tương tự hoặc tóm tắt, hoặc thay đổi câu chữ .. nhưng đó chẳng qua vì ngại lời văn chưa sáng nghĩa thì có lời văn khác bổ túc. Tuy nhiên, chẳng thể nào để thiếu, thiên dẫn lộ cần thiết như cái địa bàn chỉ hướng. Bài 1 - TỨ TRẠCH Dương trạch tam yếu phân loại nhà ở làm 4 loại: Tịnh trạch, Động trạch, Biến trạch, Hoá trạch. 1) TỊNH TRẠCH: Nhà xây chỉ có một phòng, trong nhà không có tường ngăn. 2) ĐỘNG TRẠCH: Là từ mặt tiền tới mặt hậu được chia làm từ 2 ngăn tới 5 ngăn bởi tường vách chặn ngang có chừa cửa ra vào. Tủ, bình phong và màn trướng không kể là phòng, ngăn. 3) BIẾN TRẠCH: Là nhà từ mặt tiền tới mặt hậu được phân làm từ 6 ngăn tới 10 ngăn bởi tường vách chặn ngang có chừa cửa ra vào. Tủ, bình phong, màn trướng không được kể là phòng, ngăn. 4) HOÁ TRẠCH: Là nhà từ mặt tiền tới mặt hậu được phân làm từ 11 ngăn tới 15 ngăn bởi những tường vách chặn ngang có chừa cửa ra vào. Tủ, bình phong, màn giăng không được kể là tường vách. BÀI 2: ĐÔNG TÂY TRẠCH, TRÙ, MỆNH. - Năm chữ tựa đề trên là nói: gồm: Đông tứ trạch, Tây tứ trạch, Đông trù, tây trù, Đông Mệnh, Tây Mệnh. Trạch là nhà. Trù là táo, bếp. Mệnh là mệnh cung của chủ nhà tính theo tam nguyên. + Đông Tây: Môn Bát trạch dùng 8 cung nhưng chia làm 2 phe phía: Đông và Tây. Đông thuộc Mộc, Tây thuộc Kim. Đông cũng gọi là Đông tứ cung vì nó gồm 4 cung: Khảm, Ly, Chấn, Tốn. Chấn Tốn thuộc Mộc về Đông đã đành, nhưng thêm Khảm Ly nữa vì Khảm Thuỷ với Mộc tương sanh và Ly Hoả với Mộc cũng tương sanh. Bốn cung này đồng một phe phía với nhau cho nên gặp nhau tất hỗ biến thành những du niên tốt (Xem cách Bát biến du niên bài 8). Tây cũng gọi là Tây tứ cung vì nó gồm 4 cung: Kiền, Khôn, Cấn, Đoài. Kiền Đoài thuộc Kim đã đành, nhưng có thêm Khôn Cấn nữa vì Khôn Cấn Thổ với Kim là tương sanh. Bốn cung này đồng một phe phía với nhau cho nên gặp nhau tất hỗ biến được những kiết du niên tốt (xem bài 8). Nếu Đông tứ cung gặp Tây tứ cung hỗ biến với nhau tất gặp những hung du niên, xấu – vì hai phe khác nhau, phe Đông Mộc với phe Tây Kim tương khắc (xem bài 8). - Chú ý: Tây tứ cung là Kiền Khôn Cấn Đoài so với nhau đều đặng tương sanh hay tỵ hoà chớ không có tương khắc. Nhưng Đông từ cung là Khảm Ly Chấn Tốn so – đối với nhau đa số cũng tương sanh và tỵ hoà, song có Khảm với Ly là tương khắc, mặc dầu hỗ biến cũng được du niên tốt vậy. Đó là chỗ sai biệt vậy. – (Kiết du niên là du niên tốt gồm có: Sinh khí, Diên niên, Thiên y và Phục vị. Hung du niên gọi là du niên xấu gồm có: Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát, Hoạ hại). + Đông tứ trạch: là nhà có Cửa cái và Chủ phòng hay Sơn chủ đều ở trong vòng 4 cung Khảm Ly Chấn Tốn thì nhà ở tất tốt vì cùng một phe với nhau. Nếu có lộn Tây tứ cung thì gọi là Đông Tây tương hỗn (hỗn loạn) nhà ở tất xấu. + Tây tứ trạch: là nhà có Cửa cái và Chủ phòng hay Sơn chủ đều ở trong vòng 4 cung Kiền Khôn Cấn Đoài thì nhà ở tất tốt vì cùng một phe với nhau. Nếu có lộn Đông tứ cung vào thì gọi là Đông Tây tương hỗn, nhà ở tất xấu. + Đông trù: là Bếp đông. Phàm Bếp đặt tại 1 trong 4 cung Khảm Ly Chấn Tốn thì gọi là Đông trù. Đông trù đem thịnh vượng cho Đông tứ trạch nhưng làm suy bại Tây tứ trạch. + Tây trù: là Bếp Tây. Phàm bếp đặt tại một trong 4 cung Kiền Khôn Cấn Đoài thì gọi là tây trù. Tây trù làm thịnh vượng cho Tây tứ trạch, nhưng gây suy bại cho Đông tứ trạch. + Đông mệnh: Mệnh của chủ nhà là 1 trong 4 cung Khảm Ly Chấn Tốn thì gọi là Đông Mệnh (xem cách tính ở bài 21). Đông Mệnh nên ở nhà Đông tứ trạch mới tốt, bằng ở nhà Tây tứ trạch không hợp, bớt tốt. Tóm lại: - Ở Đông tứ trạch phải dùng Đông trù mới tốt. Nếu chủ nhà thuộc Đông mệnh nữa là nhà trọn tốt, bằng chủ nhà thuộc Tây mệnh thì bớt tốt. - Ở Tây tứ trạch phải dùng Tây trù mới tốt. Nếu chủ nhà thuộc Tây mệnh nữa là nhà trọng tốt, bằng chủ nhà Đông mệnh thì bớt tốt. - Ở Đông tứ trạch mà dùng Tây trù là cái nhà bất lợi, không thể thịnh vượng. Nếu chủ nhà Đông mệnh còn khá một ít, bằng chủ nhà Tây mệnh càng suy vi. - Ở Tây tứ trạch mà dùng Đông trù là cái nhà bất lợi, không thịnh vượng được. Nếu chủ nhà thuộc Tây mệnh còn có thể đỡ một chút, bằng Đông mệnh càng suy vi. - Cửa cái thuộc Đông tứ cung mà Chủ phòng hay Sơn chủ thuộc Tây tứ cung là cái nhà Đông Tây hỗn loạn, bất phát. Nếu dùng Đông trù có thể đủ ăn, bằng dùng Tây trù là suy sụp. Nếu dùng Tây trù mà chủ là tây mệnh nữa thì cùng khổ cực điểm. - Cửa cái thuộc Tây tứ cung mà chủ phòng hay Sơn chủ thuộc Đông tứ cung là cái nhà Đông Tây hỗn loạn, chẳng phát lên được. Nếu dùng Tây trù còn có thể đủ ăn, bằng dùng Đông trù ắt suy sụp. Đã dùng Đông trù mà chủ nhà Đông mệnh nữa thì cùng khổ cực điểm. BÀI 3: BẢY CHỖ QUAN HỆ VỚI NHÀ - Một ngôi nhà có 7 chỗ quan hệ tức là có ảnh hưởng tốt xấu: Cửa - ngõ, Cửa - cái, Cửa - phòng, Cửa - bếp, Chủ - phòng hay Sơn - chủ, Bếp và Hướng - bếp. Sở dĩ nói Chủ - phòng hay Sơn - chủ bởi ở Tịnh - trạch dùng Chủ - phòng làm chỗ chủ yếu, còn ở Động - trạch và Biến - Hoá - trạch dùng Sơn - chủ làm chỗ chủ yếu. (Chú ý: tên các chỗ quan hệ luôn luôn có gạch nối.) - Trong 7 chỗ quan hệ có 3 chỗ chính yếu ảnh hưởng trọng đại để quyết định ngôi nhà tốt hay xấu. Còn 4 chỗ kia thuộc hàng thứ yếu (phụ thuộc), ảnh hưởng bình thường, chỉ có thể thêm bớt tốt xấu mà thôi. - Ở Tịnh - trạch, có 3 chỗ chính yếu là Cửa - cái, Chủ – phòng và Bếp. Còn 4 chỗ thứ yếu là Cửa - phòng, Cửa - bếp, Hướng - bếp và Cửa - ngõ. - Ở Động - trạch và Biến - hoá - trạch, 3 chỗ chính yếu là Cửa - cái, Sơn - chủ và Bếp. Còn 4 chỗ thứ yếu cũng như ở Tịnh - trạch là: Cửa - phòng, Cửa - bếp, Hướng bếp và Cửa - ngõ. SỰ SAI BIỆT TRONG BA CHỖ CHÍNH YẾU - Ở Tịnh - trạch dùng Chủ - phòng chỉ thừa một du - niên mà thôi và lấy tên du - niên này mà đặt tên cho nhà, như Sinh - khí - trạch hay Thiên - y - trạch chẳng hạn. Còn ở Động - trạch và biến - hoá - trạch thì dùng một Sơn - chủ đã thừa một du - niên lại còn thêm ảnh hưởng với một “Sao - chúa” rất trọng hệ nữa, vậy lấy tên du – niên và cả Sao – chúa để đặt tên cho nhà, như Diên – niên – trạch, như Tham – lang – trạch, Vũ – khúc – trạch chẳng hạn. - Cửa cái là một nơi chính yếu, vì nó là lối đi vào nhà, nếu dựng trúng tại cung tốt tức như người đi trúng vào chốn may mắn, bằng dựng tại cung xấu tức như người đi vào chốn nguy hiểm, tối – tăm, chông gai. Cửa – cái là mẹ sanh ra các du – niên cho chủ – phòng, cho Sơn – chủ và cho Bếp. Vì vậy, nên hễ Chủ – phòng, Sơn – chủ và bếp thừa du – niên tốt tức Cửa – cái tốt, vì mẹ tốt mới sanh ra các con tốt, bằng thừa du – niên xấu tức Cửa – cái xấu, vì mẹ xấu mới sanh con xấu. - Chủ – phòng hay Sơn – chủ đều là những nơi chính yếu, trụ cột, chủ yếu, làm chủ toàn thể ngôi nhà cho nên gọi là Chủ – phòng, là Sơn – chủ . Nếu có được ở nhằm cung tốt và thừa du – niên tốt hay Sao tốt là nhà ở thịnh vượng và yên lành. Bằng ở nhằm cung xấu và thừa du – niên xấu hay sao xấu là nhà ở suy vi, chẳng yên. - Bếp là chỗ chính yếu vì nơi sinh dưỡng, nuôi sống con người, nếu được an trí nơi cung tốt và thừa du – niên tốt thì sự sinh dưỡng mới đặng lợi ích, ít bệnh hoạn. Bằng an trí tại cung xấu và thừa du – niên xấu khác nào sự sinh dưỡng bị đầu độc gây ra đủ các bệnh chứng cả tai hoạ. Trăm bệnh đa số do nơi ăn uống sinh ra. TÓM LẠI: Ba chỗ chính yếu được đặt vào 3 cung tốt là đối với nhau được tương sinh hay tỵ hoà và 3 cung đều thừa kiết du – niên hay kiết – tinh thì quyết định một ngôi nhà thịnh vượng. Bằng trái lại đặt trúng vào 3 cung xấu là đối với nhau tương khắc và đồng thừa du – niên hay hung tinh thì quyết định ngôi nhà suy bại. Nhan đề quyển sách có hai chữ Tam – yếu đó là 3 chỗ chính yếu nói trong bài vậy. SỰ SAI BIỆT TRONG 4 CHỖ THỨ YẾU - Trong 4 chỗ thứ yếu thì Hướng – bếp có tầm quan trọng hơn cả, kế đó là Cửa – phòng và Cửa – bếp, sau hết là Cửa – ngõ. Người xưa không kể tới Cửa – ngõ, có lẽ vì nó không thuộc về ngôi nhà. - Cửa – phòng và Cửa – bếp ở Tịnh – trạch ít quan trọng, còn ở Động – trạch và Biến – hoá – trạch được quan trọng nhiều hơn. Đó là bởi ở Tịnh – trạch thì Chủ – phòng và Bếp bị lệ thuộc, tất cả các cửa của nó cũng bị lệ thuộc, còn ở Động – trạch và Biến – hoá – trạch thì Phòng – chúa và Bếp chiếm riêng một ngăn nhà độc lập, tức nó có tầm quan trọng hơn trong hàng thứ yếu. ĐO LƯỜNG TỐT XẤU CHO 7 CHỖ - Cái việc đo lường tốt xấu không lấy đâu là quyết định cho đúng từng phân ly như việc trắc lượng bằng toán pháp, nhưng đại khái cũng có thể phân biệt chỗ khinh chỗ trọng, nhiên – hậu mới giảo định được một cái nhà thịnh hay suy, thịnh suy nhiều hay ít. Vả lại còn sự phân lượng tốt xấu cho chỗ chính yếu thì khác, cho những chỗ thứ yếu thì khác. Những chỗ chính yếu và thứ yếu của loại trạch này với loại trạch kia cũng lại không hoàn toàn bằng nhau. Vậy tạm định như sau: - Ở Tịnh – trạch có 3 chỗ chính yếu là Cửa – cái, Chủ – phòng và Bếp. Còn 4 chỗ phụ thuộc kia là Hướng – bếp, Cửa – bếp, Cửa – phòng và Cửa – ngõ. - Động – trạch và Biến – hoá – trạch cũng có 3 chỗ chính yếu là Cửa – cái, Sơn – chủ và Bếp. Lại phải kể Phòng – chúa có Sao – chúa là chỗ thiết yếu nhất hạng. Còn 4 chỗ phụ thuộc kia, cũng như ở Tịnh – trạch, ảnh hưởng tam thường. - Mỗi chỗ chính yếu trọn tốt thì được 30% tốt, trung bình thì được 15% tốt, bằng trọn xấu thì 30% xấu. - Mỗi chỗ phụ thuộc trọn tốt thì được 10% tốt, trung bình thì được 5% tốt, bằng trọn xấu thì định 10% xấu. Ba hạng: trọn tốt, trung bình và trọn xấu là như vầy: * Trọn tốt: là chỗ gặp kiết du –niên hay kiết – tinh mà phải đắc vị hay đăng – diện. Có 3 kiết du – niên là Sinh – khí, Diên – niên và Thiên – y (Phục – vị cũng được gọi là kiết du – niên, nhưng chỉ tốt bằng phân nửa). Có 3 kiết tinh là Tham – lang, Vũ – khúc và Cự – môn (Phụ Bật cũng là kiết tinh nhưng chỉ tốt bằng phân nửa). Trọn tốt là được 30% tốt. Riêng Phục – vị và Phụ Bật trọn tốt là 15%. * Trung bình: là chỗ gặp kiết du – niên hay kiết – tinh nhưng thất vị, được 15% tốt. Riêng Phục – vị và Phụ Bật chỉ được trên dưới 5% tốt. *Trọn xấu: Là chỗ gặp hung du – niên như Tuyệt mệnh, Ngũ quỷ, Lục sát và Hoạ hại. Hoặc gặp hung tinh như Phá quân, Liêm trinh, Văn khúc và Lộc tồn. Phàm hung du – niên hay hung tinh cũng vậy, thì kể là trọn xấu 30%, dù đắc vị hay đăng diện cũng vậy. - Phàm kiết du – nên hay kiết tinh cũng vậy, đối với nó gặp cung tương khắc là thất vị. Gặp cung tương sanh là đắc vị, gặp cung tỵ hoà (đồng loại) là đăng – diện tốt bậc nhất, đắc vị tốt bậc nhì, thất vị tốt bậc ba. Đắc vị mà có sanh cung tốt hơn cung sanh nó. - Riêng kiết tinh đắc vị hay đăng diện mà được ở tại ngăn chót tức ngăn cuối cùng gọi là nhập miếu, không có cách nào tốt hơn nó được. Tính sẵn như sau: * Sinh khí và Phục vị thuộc Mộc: gặp các cung Kiền Đoài Cấn Khôn là thất vị, gặp các cung Khảm Ly là đắc vị, gặp các cung Chấn Tốn là đăng diện. * Thiên y thuộc Thổ: Gặp các cung Chấn Tốn Khảm là thất vị, gặp các cung Ly Đoài Kiền là đắc vị, gặp các cung Cấn Khôn là đăng diện. * Diên niên thuộc Kim: gặp các cung Ly Chấn Tốn là thất vị, gặp các cung Cấn Khôn Khảm là đắc vị, gặp các cung Kiền Đào là đăng diện. * Tham lang và Phụ Bật thuộc Mộc: gặp các Sơn – chủ Kiền Đoài Cấn Khôn là thất vị, gặp các Sơn – chủ Khảm Ly là đắc vị, gặp các Sơn – chủ Chấn Tốn là đăng diện. * Cự môn thuộc Thổ: gặp các sơn – chủ Chấn Tốn Khảm là thất vị, gặp các sơn – chủ Ly Kiền Đoài là đắc vị, gặp các sơn – chủ Cấn Khôn là đăng diện. * Vũ khúc thuộc Kim: gặp các sơn – chủ Ly Chấn Tốn là thất vị, gặp các Sơn – chủ Cấn Khôn Khảm là đắc vị, gặp các sơn – chủ Kiền Đoài là đăng diện. (Chú ý: Những kiết du – niên so đối với cung sở – thừa của nó mà tính. Còn những kiết tinh so đối với sơn – chủ mà tính. VƯỢNG TRẠCH CÁCH VÀ SANH TRẠCH CÁCH - Vượng trạch: phàm kiết tinh hay kiết du – niên đồng một loại với trạch là cách rất tốt, thêm sự thịnh vượng cho nhà. Như Đông – tứ – trạch (thuộc Mộc) mà dùng Tham lang Mộc tinh làm Sao – chúa, hoặc Chủ – phòng hay Sơn – chủ thừa sinh khí Mộc. Như Tây – tứ – trạch (thuộc Kim) mà dùng Vũ khúc Kim tinh làm Sao chúa hoặc Chủ – phòng hay Sơn – chủ thừa Diên – niên Kim. - Sanh – trạch: Phàm kiết tinh hay kiết du – niên sanh trạch là cách tốt, thêm sự phát đạt cho nhà. Như tây – tứ – trạch (thuộc Kim) mà dùng Cự môn Thổ tinh làm Sao – chúa, hoặc Chủ – phòng hay Sơn – chủ thừa Thiên – y Thổ. Phàm được hai cách trên (Vượng – trạch hay Sanh – trạch) mà kiết tinh hay kiết du – niên lại đăng diện hay đắc vị thì sự thịnh vượng, sự phát đạt càng mạnh càng lâu bền. (Còn nữa)
  22. Âm Trạch Phong Thủy Thần Khảo 1. Tổng Luận Tám Sơn . Cái Đạo của khoa Địa Lý đầu tiên là trọng Long , Long chính là xem địa thế vậy . Càn Sơn : Càn Sơn là Thiên Trụ , nên cao lớn , mập mạp , tại sau huyệt chủ người sống thọ , nếu hình như Thiên Mã , thôi qan rất nhanh , nên chủ quý nhân thọ lâu . Khảm Sơn : Khảm Sơn là vùng đất âm dương bắt đầu phân chia , Khảm Sơn cao lớn mập mạp , cả nhà rất thành thực , trung thọ hiền lương , nếu khảm sơn đê hãm , gió bắc khí lạnh thổi mạnh , rất nghèo tiền bạc , chủ chết non . Tại tay Long chủ trưởng phòng , tứ phòng , thất phòng không tiền bạc , tại tay hổ chủ tam phòng , lục , cửu phòng vất vả bất lợi . Ly Sơn : Ly Sơn cũng là vùng đất âm dương bắt đầu chia , Ly là mắt , Ly Sơn cao lớn mập mạp , chủ nhiều bệnh về mắt . Ly sơn là trung nữ , phụ nữ luôn bất lợi . Tọa chính đông hướng chính tây , bảm thủy khí đại lợi . Cấn Sơn : Cấn Sơn là thiếu Nam , Cấn cao lớn mập mạp , chủ giàu ít lắm người , thiếu nam không sinh bện tật , cha dễ phát tài , nếu cấn sơn thấp hãm , chủ sinh nhiều bệnh tật . Chấn Sơn : Chấn Sơn cao lớn mập mạp , sinh nhiều nam ít nữ , trong nhà xuất võ sĩ . Chủ người tính chân thật , nếu nơi đó mà thấp hãm , nhân đinh không vượng , nhiều nữ ít nam , tại tay Long thì 1, 4, 7 yểu . Nhân đinh ít . Tốn Sơn : Phương Tốn cao to đẹp đẽ , xung quanh thanh tú , chủ xuất con rể tốt , phát cháu ngoại . Nếu Tốn Sơn cao lớn đẹp xinh tất phát nữ quý , phát học hành , vì lục tú thôi quan sơn . Nếu nơi đó thấp hãm , chủ phụ nữ yểu . Khôn Sơn : Khôn Sơn là mẹ , nếu Khôn Sơn cao lớn mập mạp , chủ phụ nữ thọ , nhân đinh đại vượng , rất giàu có . Đoài Sơn : Đoài Sơn là thiếu nữ , là phương tam cát rất đẹp , nếu Đoài Sơn cao lớn , chủ xuất văn võ song toàn , học hành rất lợi ! Lại chủ nhà đó có nhiều con gái đẹp , tài mạo vẹn hai , đã phú lại quý . Nếu xứ đó thấp hãm , phụ nữ yểu , nhiều nữ ít nam , nếu tọa chính bắc hướng chính nam , bẩm thủy khí . Đoài sơn cao lớn đè huyệt , lại có thủy triều đến , xuất người què cụt , có tật về đùi chân , tứ duy bát can , sơn nào cũng no tròn cao đầy thì xuất trạng nguyên khoa giáp . 2. Long Mạch Cát Hung Biện : Hình dáng nơi đất chôn , như trâu nằm ngựa phóng , như loan múa phượng bay , như rắn uốn khúc , đều do dùng thủy đến mà phân biệt . Dưới đây là các loại địa hình thuộc ngưu phú , phượng quý xà hung nguy . 1.Long đến khí thế như vạn ngựa phóng lên trời , là đất táng vương hầu . 2.Long đến khí thế như sóng lớn , núi lớp lớp che chắn , hộ vệ trùng trùng , đó là đất đại quan . 3.Long đến khí thế như nhà lớn , cây cỏ tươi tốt , đó là đất của khai quốc công thần . 4.Long đến khí thế như rắn bò uốn lượn , đất táng đó là nước mất nhà tan . 5.Long đến khí thế như rồng giáng xuống , thủy bọc bao quanh , đó là đất của đại quan . 6.Long đến khí thế như giáo mác , đó là có lao ngục tai họa , binh hỏa khó tránh . 7.Long đến khí thế như nước chảy , người thân chôn là đất tượng tử quỷ . 8.Long đến khí thế như bình phong , hai bên núi đối giữ , táng tại chỗ giữa , đó gọi là đất táng phong vương phong hầu . 9.Long đến khí thế như dùng dằng kết oa , tại oa đỉnh hạ táng sau này con cháu phát tài . 10.Long đến khí thế như cái mũ , táng đất ấy cả nhà vui vẻ . 11.Long đến khí thế như ném , đó là đất con cháu trăm sự nghèo . 12.Long đến khí thế như loạn y , đó là đất táng con cháu gái sau này hay đố kị , vợ con tư thông với người khác . 13.Long đến khí thế như cái túi đựng tro , đó là đất chôn con cháu hay bị cháy nhà . 14.Long đến khí thế kết lại như cái thuyền , con cháu nữ sẽ sinh tật , nam thì mang họa lao ngục . 15.Long đến khí thế như nghế bàn bày ngang , đó là đất đoạn tử tuyệt tôn . 16.Long đến khí thế như thanh kiếm , con cháu phản nghịch nên bị tru sát . 17.Long đến khí thế như lưỡi đao giơ lên , con cháu gặp hung họa trốn tránh khắp nơi . Nguon:suutam
  23. Thiên địa vạn vật đều phân thành âm dương. Nam là dương, nữ là âm, sơn là dương, thủy là âm. Mảnh đất đó là đất âm. Nơi hai dòng suối giao nhau là chỗ ngưng tụ âm khí. Vì thế ta chọn là chọn cho ông. Ông thuộc về dương, mệnh lại lớn, dương khí trọng. Ông trăm tuổi mai táng ở đấy, âm dương hòa hợp thì đất ấy mới có linh khí. Còn như chôn cất đàn bà, âm khí trùng hợp, tụ hội lại sẽ thành sát khí, con cháu chẳng những không thịnh vượng, mà ngược lại, như tuyết đổ thêm sương, cả người lẫn của nhất định bị suy kiệt. Long Khê là một thị trấn nhỏ miền núi, nhưng lại là quê hương cả một loại miến nổi tiếng gần xa, được coi là đặc sản của địa phương. Ngô Cát Thủy là người lập ra xưởng sản xuất loại miến đó theo phương pháp cổ truyền, sản phẩm được người tiêu dùng đặc biệt ưa chuộng, hoan nghênh, được mệnh danh là “Vua Miến”. Hôm đó, Ngô Cát Thủy mời nhân viên thu mua của Hợp tác xã cung tiêu huyện đến quán Tứ Quý Hương, quán cơm lớn nhất thị trấn, dùng cơm trưa. Ngô Cát Thủy vốn là khách thường xuyên của Tứ Quý Hương, bao giờ cũng dùng cơm ở phòng chính, nhưng hôm nay thì không thể. “Phòng chính đã có Lưu Trường Canh đặt chỗ rồi!”, ông chủ quán thông báo. Thì ra hôm nay, Lưu Trường Canh mời Cục trưởng Uông ở Cục Quốc thổ, Cục trưởng Lý ở Cục Giao thông và Chủ tịch thị trấn Long Khê dùng cơm tại đây. Vậy Lưu Trường Canh là ai? Chính là đối thủ cạnh tranh việc sản xuất kinh doanh miến của Ngô Cát Thủy. Năm ngoái, Lưu Trường Canh lập ra cơ sở sản xuất, treo biển “Xưởng miến Long Khê”. Ông ta có văn hóa, giỏi kinh doanh, không dùng lạt buộc miến thành bó theo kiểu cũ mà dùng các loại túi nilon to nhỏ khác nhau đựng miến, bên ngoài in hoa màu sắc sặc sỡ. Vì thế sản phẩm của họ Lưu tiêu thụ rất nhanh, làm giảm đáng kể thị phần của miến Ngô Cát Thủy. Hôm nay phòng ăn chính của Tứ Quý Hương bị Lưu Trường Canh chiếm chỗ làm cho Ngô Cát Thủy cụt hứng, đành mời khách ngồi tạm ở chiếc bàn vuông phòng ngoài. Trong khi ăn uống, Ngô Cát Thủy nghe được chuyện quan trọng từ phòng chính vọng ra. Mấy vị lãnh đạo chủ chốt các ngành của huyện hôm nay về đây là vì việc cải tạo và nâng cấp con đường từ huyện lị tới thị trấn Long Khê. Giọng Lưu Trường Canh oang oang trong tiếng ồn ào, ly cốc chạm nhau, cứ như đấm vào tai Ngô Cát Thủy. Lưu Trường Canh liên tục mời các vị lãnh đạo cạn ly, lại oang oang rằng: “Tôi đại diện cho giới kinh doanh của thị trấn xin hứa sẵn sàng hỗ trợ tài chính cho việc cải tạo con đường!”. Ngô Cát Thủy tức lắm, lầm bầm chửi: “Mẹ kiếp! Đồ bọ hung đội hoa, rõ thối!”. Đúng vào lúc đó, người được gọi là Uông Cục trưởng lên tiếng khiến Ngô Cát Thủy hết sức chú ý: “Tại sao ở đây người ta không thông chuyện hỏa táng nhỉ? Trên đất canh tác ở vùng này, hàng năm có thêm bao nhiêu là ngôi mộ mới! Lại còn chuyện xí phần cho người sống nữa, có khác gì bọn địa chủ ngày trước? Thử hỏi người sống có cần ăn cơm không hả? Thế hệ con cháu chúng ta lấy đất đâu mà cày cấy? Chuyện này tôi sẽ thỉnh thị ý kiến lãnh đạo huyện, lập tức ra chỉ thị, trong vòng một tháng phải xóa bỏ hết các phần mộ của người còn sống ở đây mới được, không quyết liệt là không xong!”. Câu nói ấy như một luồng gió lạnh thổi thốc vào đầu Ngô Cát Thủy. Ông ta vội chia tay với anh nhân viên thu mua. Số là, dù mới 50 tuổi, Ngô Cát Thủy đã chuẩn bị sẵn cho mình một “âm trạch” (nhà của người âm). Âm trạch ccủa họ Ngô là mảnh đất “phong thủy bảo địa” mua mất 2.000 tệ, mời cả thầy địa lý nổi tiếng nhất vùng là Thiết Toán Bàn dò tìm long mạch! Thiết Toán Bàn xuất thân con nhà thầy Địa, danh xưng Thiết Toán Bàn chẳng những vì ông ta họ Thiết, mà còn vì khi tìm đất cho người chết, lúc xem giờ mai táng, ông thầy Địa này đều dùng một chiếc bàn tính bằng sắt để tính toán, nghe nói, ông ta đoán cát hung họa phúc chính xác lắm, cấm có sai bao giờ! Để tìm âm trạch cho Ngô Cát Thủy, Thiết Toán Bàn đã đi khắp vùng sông núi xung quanh thị trấn, cuối cùng mới tìm được một mỏm núi nhỏ nơi có hai dòng suối giao nhau. Ông ta nói với Ngô Cát Thủy rằng đấy là đất “nhị long củng bảo” (hai con rồng chầu báu vật). Đây là đất trồng cây ăn quả của nhà họ Trương, Ngô Cát Thủy phải thương lượng mãi, bỏ ra những 5.000 tệ mua đất và dựng bia bằng đá xanh chạm khắc rồng phượng ra vẻ là nghĩa trang của một ông chủ đang ăn nên làm ra. Trên tấm bia Ngô Cát Thủy còn cho khắc hình quả đào để mọi người nhận biết đây là phần mộ của người đang sống. Ông ta ký thác vào đó tất cả hy vọng của dòng họ, cháu con… Vì vậy, hôm nay nghe Cục trưởng Cục Quốc thổ nói, lòng dạ Ngô Cát Thủy rất đỗi hoang mang. Làm sao để giữ cho được mảnh “phong thủy bảo địa” này? Ngô Cát Thủy nghĩ mãi, chợt nhớ ra câu chuyện thời Tây Hán mà trước đây Thiết Toán Bàn đã kể cho ông nghe. Chuyện rằng, Hàn Tín đã tìm cho mẹ mình mảnh “phong thủy bảo địa”, quả nhiên về sau ông được phong chức Hoài âm hầu. Ngô Cát Thủy nghĩ ngay đến mẹ mình đang ốm nặng, vừa truyền dịch vừa phải thở ôxy, nếu lúc này bà nhắm mắt, mai táng vào đất đó thì tốt biết mấy! Dù sao, trên bảy mươi tuổi rồi, cũng coi là phúc thọ song toàn. Nghĩ đến đây, Ngô Cát Thủy chợt đấm vào đầu mình: “Ôi trời! Ta làm thế có phải là bất hiếu không?”. Trở về nhà, nhìn lên tường, Ngô Cát Thủy thấy bức ảnh của cha, liền nảy ra ý định mới. Ông quỳ trước bức ảnh lẩm nhẩm trình với cha những điều vừa nghĩ. Đoạn Ngô Cát Thủy xé hai mảnh giấy, một mảnh viết “được”, một mảnh viết “không”, vo tròn, thả xuống bàn. Ông cầu khấn cha mình chứng giám, phù hộ rồi mở một viên giấy ra, là chữ “được”. Thế là Ngô Cát Thủy hạ quyết tâm luôn! Hôm sau, Ngô Cát Thủy cho người đi mời Thiết Toán Bàn, nói là có việc cần kíp lắm. Bụng nghĩ, chờ Thiết Toán Bàn đến sẽ rút ống thở của mẹ, sau đó cho mai táng ngay. Nhưng đợi những bốn ngày Thiết Toán Bàn mới tới. Ngô Cát Thủy ấp úng nói với ông ta rằng, mẹ mình đang hấp hối, phải tính chuyện hậu sự ngay, sẽ mai táng ở mảnh đất “nhị long củng bảo” kia. Thiết Toán Bàn thoạt nghe đã lắc đầu quầy quậy: “Không được! Không được!”. Ngô Cát Thủy hỏi tại sao, ông thầy địa lý chậm rãi giải thích đạo lý như sau: “Thiên địa vạn vật đều phân thành âm dương. Nam là dương, nữ là âm, sơn là dương, thủy là âm. Mảnh đất đó là đất âm. Nơi hai dòng suối giao nhau là chỗ ngưng tụ âm khí. Vì thế ta chọn là chọn cho ông. Ông thuộc về dương, mệnh lại lớn, dương khí trọng. Ông trăm tuổi mai táng ở đấy, âm dương hòa hợp thì đất ấy mới có linh khí. Còn như chôn cất đàn bà, âm khí trùng hợp, tụ hội lại sẽ thành sát khí, con cháu chẳng những không thịnh vượng, mà ngược lại, như tuyết đổ thêm sương, cả người lẫn của nhất định bị suy kiệt. Sách từng viết rằng “Âm dương điều hợp hỷ phùng xuân/ Lục diệp phồn hoa vạn vật sinh/ Âm khí trung trùng tam cửa hậu/ Chân long địa biến sát nhân khanh” (Đại ý: Âm dương hòa hợp thì vui mừng như gặp mùa xuân, hoa lá vạn vật xanh tươi, còn âm khí mà trùng hợp tích tụ lại thì mảnh đất thiêng sẽ thành mảnh đất giết người). Đến lúc đó sự nghiệp của Thiết Toán Bàn ta bị tiêu tan, đó là chuyện nhỏ, việc làm hại cả con cháu hậu thế của ông mới chính là điều mà lương tâm ta không sao chịu nổi!”. Đây chỉ là những lời nói dối, song Ngô Cát Thủy như bị giội gáo nước lạnh vào đầu. Ông ta vội vàng thuật lại lời Cục trưởng Uông cho Thiết Toán Bàn nghe. Thiết Toán Bàn im lặng hồi lâu mới lên tiếng: “Lời nói trên chiếu rượu hà tất đã là sự thực, dù sao cũng không thể không đề phòng. Ta khuyên ông tạm thời hãy giả vờ ốm để nghe ngóng động tĩnh xem sao. Nếu như tờ công văn kia không đến, thì là vô sự rồi. Còn nếu có công văn thật, người nhà ông cứ bảo ông đang nguy kịch lắm, làm như đang lo việc hậu sự, đồng thời trình báo với lãnh đạo địa phương và kéo dài việc giải tỏa nghĩa địa gia đình một thời gian nữa. Chẳng phải đã có bao nhiêu chuyện lúc đầu như nước sôi lửa bỏng, song chỉ cần khôn khéo tránh gió, dần dà cũng qua đi, chẳng còn ai truy cứu nữa đó sao?”. Thực tình lúc này Ngô Cát Thủy cũng chẳng nghĩ ra được cách gì khác, đành cứ thế mà theo. Ông giả ốm, cố ý bắn tin cho hàng xóm rằng bệnh tình vô cùng trầm trọng rồi đi bệnh viện luôn. Bệnh viện biết họ Ngô là người giàu có nên vừa cho nhập viện vừa cho dùng toàn thuốc tốt, chẳng cần biết có bệnh hay không! Trong thời gian này xưởng sản xuất miến của Ngô Cát Thủy gặp khó khăn, lúng túng cứ như rắn mất đầu, chẳng ai chịu ai. Số thợ giỏi có kinh nghiệm bị Lưu Trường Canh dụ dỗ hứa trả lương cao lần lượt về với xưởng ông ta hết. Công nhân cũng tự động bỏ việc, sản xuất đình đốn. Số nguyên liệu lưu kho dần dần hư hỏng cả, khách hàng rút hợp đồng, rút luôn tiền đặt cọc. Tất cả những chuyện đó khiến ông Ngô cực kỳ lo lắng. Và ông đổ bệnh thật! Điều khiến cho Ngô Cát Thủy càng sốt ruột hơn là, không chờ công văn như Cục trưởng Uông nói, người ta bắt đầu cho xây trụ cầu bắc qua mỏm núi nơi có mảnh đất “nhị long củng bảo” của ông. Sản xuất đình đốn, thương hiệu “Vua Miến” cũng bị mai một dần. Ngô Cát Thủy không thể không xuất viện! Trong khi đó việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của Lưu Trường Canh ngày càng phát đạt làm cho họ Ngô càng tức giận. Trong thời gian Ngô Cát Thủy không ốm mà cứ phải nằm viện, họ Lưu cho in nhãn hiệu “Rồng Vàng” trên bao bì sản phẩm của mình và in luôn dòng chữ đỏ chói “Chính tông Vua Miến, đặc sản nổi tiếng Long Khê” bên dưới. Hôm nay, Ngô Cát Thủy lầm lũi tới quán Tứ Quý Hương uống rượu giải sầu. Ông không còn hào hứng và tự tin vào phòng chính nữa, chỉ ngồi ở phòng ngoài, gọi đĩa thịt thủ và xị rượu đế, tự rót tự uống. Hốt nhiên, từ trong phòng ăn chính lọt ra tiếng hai người đang nói chuyện, giọng rất quen: - Chuyến này thầy đã quá nhọc lòng, kẻ hậu bối này xin đa tạ. Bây giờ, xin kính thầy một ly - Đó là tiếng Lưu Trường Canh. - Không dám! Không dám! Ông Lưu tuy trẻ người mà rất có uy, túc trí đa mưu, mưu sự như thần. Lão đây già nua cũ kỹ rồi, chẳng qua chỉ biết dùng ba tấc lưỡi, nhắc đến làm gì - Thiết Toán Bàn nói. - Thầy quá khen! Hôm đó gặp thầy ở thị trấn, nghe nói ông ta đang vội đi tìm thầy, tôi đoán chắc thế nào lời Cục trưởng Uông cũng đã đến tai ông ta. Ai chẳng biết thầy đã tìm cho ông ta một khoảnh “phong thủy bảo địa”? Bây giờ ông ta rơi vào thế gà bay trứng vỡ, trong lòng chắc là xót xa lắm! Ngô Cát Thủy đang nâng ly rượu chợt sững lại, tức đến phát run, rượu trong ly tràn cả ra bàn. Ông ngơ ngác đứng dậy bước ra khỏi quán, lẩm bẩm: “Sao ta lại thua mưu một kẻ tiểu nhân như vậy nhỉ?”. Nguon:vnthuquan
  24. Đại Nam thế giới du lịch là một khu du lịch tọa lạc tại thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Việt Nam. Đây được xem là công trình du lịch thuộc loại quy mô bậc nhất ở Việt Nam Khu du lịch là một tổ hợp các hạng mục như đền thờ Đại Nam Quốc Tự, khách sạn cao cấp 5.000 phòng, biển nhân tạo, khu trò chơi hiện đại, mê cung thần tiên với ba phương tiện đi bộ, xe và thuyền, vườn thú thiên nhiên, Việt Nam thu nhỏ, thế giới thu nhỏ, làng văn hóa, làng nghề, làng ẩm thực, phòng chiếu phim 3D, 4D,... Khu du lịch được một bức tường thành dài 15 km bao quanh. This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 800x533 and weights 196KB. Công trình có tổng vốn đầu tư 3.000 tỷ đồng, nằm trên khu đất có diện tích 450 ha. This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 800x534 and weights 262KB. Đền thờ Đại Nam Quốc Tự Đây là một công trình kiến trúc Việt cổ có diện tích 5.000 m² với chất liệu chính là gỗ, đá và mạ vàng. Tuy nhiên có nhiều ý kiến cho rằng công trình mang nét lai căng Trung Hoa và có ít đặc điểm kiến trúc Việt. This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 800x505 and weights 128KB. Chính điện gồm ba tầng thờ tượng Đức Phật Tổ, Vua Hùng Vương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều được mạ vàng. Bên dưới có bảng thờ 54 dân tộc và hơn 2.000 dòng họ Việt Nam. Các cánh cửa đền được khắc những câu chuyện lịch sử và dân gian của đất nước. Hai bên hông ngoài đền thờ là hai bức tượng Thánh Gióng và Lý Thường Kiệt cưỡi ngựa, cũng mạ vàng. This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 800x533 and weights 231KB. Các khu vực còn lại đang trong giai đoạn xây dựng đến 2010 Khu vực thành Đại Nam nằm trong quần thể khu du lịch dài 13km, là sự kết hợp những nét đặc trưng của kiến trức Cổ Loa, Huế, cột cờ Hanoi. Cột cờ có hình dáng một đài sen. Trên là trụ cờ cao 9m có hình Long Đầu Trượng, biểu tượng của sự thanh cao và quyền quý! This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 800x533 and weights 93KB. Hệ thống nhà hàng - khách sạn dọc theo dãy trường thành bao quanh khu du lịch mang lại cho du khách sự thoài mái và tiện nghi nhất! (Giá cả khách sạn từ thấp nhất 30K VND - 3k US :P) Khu vực Vietnam thu nhỏ Nơi phản ánh những thành tưu nổi bật của 64 tình thành trên cà nước, với khuôn viên đất dự kiến rộng hơn 30ha, công trình Đất nước Vietnam thu nhỏ thông qua 64 ngôi nhà đặc trưng của mỗi tỉnh thành sẽ giúp du kh1ch biết đến phần nào sự giàu đẹp, phong phú của toàn cõi Vietnam từ bắc chí nam, lồng theo khu này là khách sẽ tiếp cận với những hình ảnh cô đọng giới thiệu về 54 dân tộc Vietnam! Mê cung rồng xanh Lần đầu tiên tại Vietnam, một mê cung rộng 30000m2 được xây dựng mang phong cách Á Đông, đây là nơi kỳ diệu để du khách khám phá khotng chỉ những lối đi bất ngờ, và nhiều sự ngạc nhiên, thú vị: 3 mô hình mê cung chính: đi bộ, bơi thuyền dướii những rừng cây phủ kín (rừng được xây dựng hoàn toàn bằng cây xanh và hoa) Thế giới thu nhỏ Nơi xây dựng những vùng đất, quốc gia nổi tiếng trên thế giới, các ký quan, thắng tích tiêu biểu! Được phục hiện gần như nguyên mầu! (hehe khỏi phải đi nước ngoài chơi) Biển Đại Nam Với diện tích 22ha, thiết bị tạo sóng và nước biển có nồng độ ổn định như nước biền thật! Phục vụ cho hơn 30k khách đến chơi! Hệ thống công viên nước ngọt, suối nước nóng cũng có luôn! Vườn bách thú Với nhiều chủng loại thú quý hiếm sẽ được giới thiệu Khu trò chơi Với nhiều loại hình giải trí và thư giản, từ trò chơi dân gian đến các trò chơi hiện đại mang đến cảm giác mạnh sẽ làm du khách thích thú sau những ngày lao động mệt nhọc Dự tính để có thể tham quan vui chơi hết khu du lịch Đại Nam sẽ mất khoảng 3 ngày 2 đêm! Khai trương giai đoạn 1 dự kiến: cuối năm 2008 (kế hoạch này đã dời 3 lần) Nguồn: suutam
×
×
  • Create New...