-
Số nội dung
1107 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by phoenix
-
An Dương (Giản thể: 安阳, Phồn thể: 安陽; Bính âm: Ānyáng) là một địa cấp thị ở tỉnh Hà Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Là thành phố cực bắc của Hà Nam, An Dương giáp Bộc Dương về phía đông, Hạc Bích và Tân Hương về phía nam, và các tỉnh Sơn Tây và Hà Bắc lần lượt về phía tây và bắc. Hà nam còn có tên gọi khác là Dự, vốn là vì nước Trung quốc cổ được chia làm 9 châu, tỉnh Hà nam chính là vùng đất xưa mang tên gọi Dự Châu. Chữ Dự 豫 bao gồm có Dữ予làm phù âm và Tượng 象ở phía sau. Theo một số tài liệu ghi chép sử và khảo cổ thì ở Hà nam trước kia đã từng có loài voi lớn, đó chính là nguồn gốc cái tên Dự Châu. Dự Châu nằm ở chính giữa của Cửu châu nên nó còn được gọi là Trung Nguyên. Không chỉ về chính trị, lịch sử mà trong tất cả các mặt của đời sống xã hội của Trung Hoa, Trung nguyên luôn chiếm một vai trò vô cùng quan trọng. Đã có câu nói rằng "chiếm được Trung nguyên là chiếm được thiên hạ!". Tính từ thế kỉ 21 trước công nguyên đến thế kỉ 13 sau công nguyên, tức là từ đời nhà Hạ đến triều nhà Kim, tổng cộng đã có hơn 200 vị vua của 20 triều đại (lịch sử Trung quốc mới có hơn 40 triều đại lớn nhỏ) từng lập kinh đô hoặc dời đô về đây. Có thế nói vùng đất này ghi lại nhiều sự kiện lịch sử nhất, có nhiều di tích, thắng cảnh nhất và mang dấu ấn văn hóa sâu đậm nhất của Trung quốc. Mới đây, nhân cuộc triển lãm sách toàn quốc tại Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam đã cho ra mắt bộ sách "Đại từ điển Văn Hóa Trung nguyên", hứa hẹn sẽ là một bộ sách quý cho những người nghiên cứu văn hóa Trung quốc nói chung và văn hóa Hà nam nói riêng. Diện tích của toàn tỉnh là 167 000 km2, dân số khoảng 97,68 triệu người. Thủ phủ là thành phố Trịnh Châu và 17 thành phố trực thuộc như Khai Phong, Lạc Dương, Tiêu Tác, Nam Dương, Tín Dương, Tam Môn Hiệp, Hoài Dương, An Dương, Hứa Xương,... Gọi là Hà nam vì đa phần diện tích của tỉnh nằm về phía nam dòng sông Mẹ - Hoàng Hà. Trong lịch sử đã có khoảng hơn 1600 lần sông Hoàng Hà gây lũ lụt nhưng cũng chính dòng sông này là cái nôi cho những bộ tộc người Trung quốc đầu tiên, nơi thủy tổ của họ là Viêm - Hoàng đặt nền móng cho nên văn minh Hoa Hạ. .... Đến với Hà nam sẽ được thấy sức sống của một thành phố trẻ - Trịnh châu, sẽ cảm nhận được lịch sử của Trung hoa khi đi thăm hai trong 7 đại cố đô của Trung quốc. Đó là thành phố Lạc Dương với 13 triều đại lập kinh đô ở đây,....Một sự tĩnh lặng bình tâm sẽ đưa bạn về với ngôi chùa đầu tiên của Trung quốc - Chùa Bạch Mã. Và còn hơn thế, bạn có thể tới thăm nơi khởi nguồn của thiền tông và võ học Trung Hoa - Thiếu Lâm tự. Bạn có tò mò muốn tới thăm đền thờ vị quan thanh liêm nổi tiếng Thiết diện vô tư Bao thanh thiên không? Ngoài ra đến nơi đây cũng không thể bỏ qua di tích mộ của Võ thánh Quan Vân Trường - Quan Lâm. (st) ........... Trung Quốc: Tìm thấy hóa thạch mai rùa 100 triệu năm Thứ năm, 10/01/2008 Một hóa thạch mai rùa 100 triệu năm đã được tìm thấy ở tỉnh Hà Nam - Trung Quốc bởi 2 cư dân địa phương của thành phố Bình Đình Sơn cách đây không lâu ở cạnh một bờ sông. Hóa thạch này vẫn còn rõ những bờ rìa, cái đuôi vẫn nguyên vẹn nhưng cái đầu đã bị bể khi người ta tìm thấy nó Một chuyên gia về cổ sinh vật học của Viện Nghiên cứu về khoáng chất và địa chất học của tỉnh Hà Nam ước định rằng hóa thạch này có đến 100 triệu năm tuổi. (st) ......... Từ những di chỉ mà ngành khảo cổ mới khai quật được thì bút lông có thể đã xuất hiện trước đời Tần rất lâu. Phân tích những nét vẽ trên các đồ gốm tìm thấy ở Hà Nam mà niên đại khoảng 6000 năm trước (4000 năm trước TL), các học giả cho rằng đã được vẽ bằng một loại bút lông. Tại một mảnh sành đào được ở kinh đô cũ nhà Thương, nay là huyện An Dương có một chữ sơ (nguyên nghĩa là tế tự) nét dày mỏng rõ ràng viết bằng bút lông. Niên đại mảnh gốm này vào khoảng 3500 trước (1500 trước TL). (BÚT, NGHIÊN, GIẤY, MỰC(Nguyễn Duy Chính)) ........ Trong lịch sử, có nhiều tên gọi để chỉ Lạc Dương, chẳng hạn "Lạc Ấp" (洛邑), "Lạc Châu" (洛州) v.v. Nhưng chủ yếu thì Lạc Dương vẫn là tên gọi của thành phố này. Ngoài ra, thành phố này còn có các tên gọi như "Đông Đô" (東都, nghĩa là kinh đô phía đông), "Tây Kinh" (西京, nghĩa là kinh đô phía tây) hay "Kinh Lạc" (京洛, nghĩa là kinh đô chung của cả Trung Quốc). Nằm trên bờ sông Lạc Hà, đây là tên gọi nguyên thủy của "Lạc Dương". ............ http://' target="_blank"> "...Theo sách Đông Kinh Hoa Mộng Lục, thời Hậu Chu (951 - 959), tại Trung Quốccó xây dựng Loa thành h́nh xoáy trôn ốc, có ba ṿng là Thành ngoại,Thành nội và Hoàng thành. Thành này hiện vẫn c̣n di tích tại thành cổKhai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Đó là chưa kể, truyện dân gian Thần cung bảo kiếm của người Choang ở Quảng Tây có mô-tip rất giống "An Dương Vương". (Trích ý kiến xung quanh tuyên bố của GS Lê Mạnh Thát) .............. Sử Trung Hoa không biết vô tình hay hữu ý thường lờ họ Triệu của nhà Tần … thay vào đấy dùng chữ Doanh, như Tần Thủy Hoàng tên là Triệu Chính nhưng sử Trung Hoa thường ghi là Doanh Chính. Thực ra ‘Triệu’ là biến âm của từ ‘Chậu’ trong ngôn ngữ Thái Lào; từ chúa trong tiếng Việt vậy Triệu Chính chỉ có nghĩa là chúa tên Chính chứ không phải họ Triệu tên Chính. Tương tự triều Lý Bôn Hưng Đế cũng thế, theo qui luật về danh xưng các vương triều Trung Hoa thì thời Lý Bôn – Lưu bang phải gọi là triều “Hiếu” mới đúng; tất cả các vua triều này đều có đế hiệu với chữ “Hiếu” đứng đầu như: Hiếu Cao Tổ, Hiếu Vũ Đế, Hiếu Cảnh Đế V.v… nhưng sử Trung Hoa lại gọi là triều Tây Hán hay Tiền Hán, không hiểu vì lẽ gì? Khi lên ngôi dù lòng không muốn nhưng Lý Bôn buộc phải phong cho 1 số tướng lãnh, công thần tước vương và cắt đất cho họ làm chư hầu, trong đó: Hàn Tín được phong ở nước Sở – Hồ Nam. Bành Việt được phong ở đất Long, sở Trung Hoa gọi là Lương Vương (ta nhớ lại: Lạc Long → Lục Lương) tức Quảng Đông ngày nay. Anh Bố được phong là Hoài Nam Vương đất Phong ở nam sông Hoài. Ngoài chuyện mai rùa triều Thương còn có nhiều điều phải suy nghĩ: - Ở bắc Trung Hoa địa bàn gốc cho tới thời Thương không hề có ‘thiếc’ nguyên liệu chính để có nền văn minh đồng thau, vậy làm sao từ đời Hạ theo sử sách Trung Hoa đã bước vào thời đồ đồng tiêu biểu bằng việc vua Vũ đúc 9 cái đỉnh tượng trưng cho Cửu Châu Trung Hoa, ở Biệt Đô Triều Ca người ta còn tìm được mấy cái gương bằng đồng thau, có khắc hình mặt người hoàn toàn không có nét nào của chủng mongoloit, tức chủng người Trung Hoa theo sử sách. - Theo sử cho tới giữa đời Thương dân Trung Hoa mới biết đến con ngựa, trong khi thực tế ngựa đã có mặt lâu đời ở bắc Trung Hoa, thậm chí nó trở thành”tiêu biểu” cho nền văn minh phương bắc Trung Hoa. - Cũng theo sử thì đời Thương, Trung Hoa đã có tượng binh, nhưng ở Bắc Hoàng Hà làm gì có voi ở, voi Châu Á chỉ sống ở miền nhiệt đới. - Tới đời Thương – khảo cổ học xác định lãnh thổ nhà Thương chưa vươn tới biển … thì lấy vỏ sò ở đâu ra để làm tiền hay vật trung gian trao đổi hàng hóa tạo nên bộ “bối” trong Hán ngữ. Tóm lại còn nhiều điều “nghĩ không ra’ hay “không hiểu nổi”. Đặc biệt về nhà Ân Thương ta đặc biệt lưu ý: - Thủ đô nhà Ân Thương ở tỉnh Hà Nam. Biệt Đô Triều Ca cũng chỉ ở ngay bờ Bắc Hoàng Hà, khi bị Chu Vũ Vương diệt thì trung tâm của Trung Hoa chuyển về phía Tây Nam. Như vậy lãnh thổ Trung Hoa tới hết đời Chu chưa vượt Hoàng Hà, xương sống của Trung Hoa cổ đại gắn chặt vời chữ Hà – Hồ – Hải. - Khởi nguyên của dòng giống, từ đất Hời (Champa) ngày nay với Thần Nông Thái Viêm tiến dần về sông Cả, rồi sông Mã, rồi Hồng Hà – Hạ Long. Đời Hạ thành hình ở vùng Nam Hải, Hải Nam, nhà Thương sang Hồ Nam, nhà Thương Ân ở An Huy rồi Hà Nam, tới đây nhà Chu thay nhà Ân Thương, hướng bắc (hiện nay) tiến của dân Trung Hoa ngưng lại, trung tâm chuyển sang Tây Nam (hiện nay); như thế bờ Hoàng Hà là ranh giới phía bắc của người Hoa và Man hay Mông, chữ Hà trong Hà bắc không dính dáng tới quốc thống Trung Hoa cả, xét như trên dân Trung Hoa mới là người Hồ còn người Mongoloit là người Man, vậy mà không biết từ bao giờ … bổng lộn ngược … người Man, Mun = đen xưa gọi là Huyền phương trở thành rợ Ngũ Hồ? còn người Hồ chính gốc lại biến thành Bách Man, sau gọi là Bách Việt. Về sau các vương này đều bị cáo giác làm phản và bị giết, đất đai bị thu hồi. Sau khi diệt Hoài Nam Vương Anh Bố, Hưng Đế về thăm đất Bái, trong 1 bửa tiệc nới đất cũ, nơi có núi Muang Đãng thưở xưa, Lý Bôn có ngâm 4 câu thơ còn ghi trong sử sách trong đó đặc biệt có câu: “Đại phong khởi hề vân phi dương” dịch là ‘gió lớn thổi hề mây bay lên’. Ý nghĩa lịch sử nằm ở chữ ‘phong’ và chữ ‘vân’. Phong chỉ Phong Châu, hay đất Phong nơi sinh ra Lý Bôn, vân là tên cả vùng đất nay là Vân Nam, xưa là đất Văn Lang hay Văn Vương thường được gọi tắt là đất Vân (1 quốc hiệu của Việt) Việc mở rộng cương vực về miền bắc (phương hiện nay) Hoàng Hà đã được bắt đầu từ thời Trụ Vương nhà Ân Thương, rẻo đất giáp bờ bắc Hoàng Hà ngày nay thuộc Hà Nam là nơi xây Biệt Đô Triều Ca, đất xưa có Biệt Đô tên là Hà Nội, trùng với tên thủ đô Việt Nam ngày nay. Sang đời Tần tướng Mông Điềmđã vượt sông chiếm vùng đất từ Hoàng Hà lên đến Trường Thành lập thành 44 huyện; đấy là đất của người Lu (Liêu) thuộc chủng Mongoloit, trong chiến tranh Hưng – Suy (Hán Sở)vì nội chiến vùng này không có người phòng thủ nên rơi vào tay Hung Nô, Hiếu Cao Tổ sau khi lên ngôi đã toan chiếm lại nhưng Hung Nô lúc ấy đã quá mạnh đành chịu thất bại – phải áp dụng chính sách hòa thân không chiến tranh. Hiếu Cao mất, quyền hành thực sự nằm trong tay Lã Hậu, bà là người cứng cỏi và có tham vọng đoạt ngôi vua cho họ Lữ , chúng ta sẽ có 1 chương nói về triều đại họ Lữ mà từ trước đến nay đã bị dấu nhẹm. Sau Hiếu Cao Tổ Lý Bôn, đến đời vua thứ 6 là Hiếu Vũ Đế, Trung Hoa lại phục hưng đánh bại và dồn Hung Nô về tận sa mạc ở tây bắc. Đây là đời thịnh trị huy hoàng của Trung Hoa. Hiếu Vũ Đế Lý Triệt cho lập quận Sóc Phương ở Hà Nam ngày nay; điều này chỉ dẫn: phương nam – bắc bị đảo ngược, từ thời lập quốc phương Sóc hay Xích màu đỏ là phương hướng về xích đạo ngược lại là phương nam, nay Sóc Phương được chỉ định ở Hà Nam, ta hiểu được phương nam là hướng xích đạo, là vùng đất nóng của Trung Hoa. (trích: Nguyễn Quang Nhật - Sử thuyết họ Hùng) ......... "THÀNH PHỐ KHAI PHONG, TỈNH HÀ NAM TRUNG QUỐC NGÀY NAY VÀO THỜI HẬU CHU (TIỀN TRIỀU CỦA TRIỆU KHUÔNG DẪN - TỐNG THÁI TỔ) CÒN ĐƯỢC GỌI LÀ LOA THÀNH. THEO SÁCH "ĐÔNG KINH HOA MỘNG LỤC": THÀNH NÀY ĐƯỢC XÂY DỰNG HÌNH XOÁY TRÔN ỐC, CÓ 3 VÒNG LÀ THÀNH NGOẠI, THÀNH NỘI VÀ HOÀNG THÀNH... CÓ KHÔNG KHẢ NĂNG SỬ GIA VIỆT NAM XƯA ĐÃ LẤY DỮ LIỆU TỪ "ĐÔNG KINH HOA MỘNG LỤC" XÂY DỰNG TRUYỀN THUYẾT AN DƯƠNG VƯƠNG?"(trích: TTDu) ............. "ruyền thuyết An Dương Vương có thể "lắp ghép" từ nhiều nguồn, mà ở trên là một thí dụ, từ trong sách Tàu. "Lục lọi" sơ sơ mấy quyển thuộc lọai "tiểu học gia" (không phải sách dành cho nhà Nho) thì thấy nhiều chi tiết có thể là nguồn cho chuyện An Dương Vương: 1. Dương Hùng "Thục Vương bản kỷ"(dẫn lại theo Tục Bác vật chí, quyển 6 bản năm 2000 của nhà xuất bản Thành phố Trùng Khánh, Trung Quốc): "Trương Nghi xây thành, cứ theo dấu rùa đi mà xây". Tôi (Lý Thạch) có đến chỗ ấy tìm hiểu, nghe đồn nơi này có thứ rượu gọi "Quy xác tửu" (rượu ngâm rùa!); viên coi kho là Vũ Văn Ngộ cho biết từng thấy một con rùa ngâm rựou dài 6 thước! 2. Sưu thần ký, quyển 13 (tác giả Can Ngọc thời Đông Tấn)(bản Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, năm 1999):"Tần Huệ vương năm thứ 27 (320 BC) sai Trương Nghi xây thành định đô, xây nhiều lần đều bị đổ. Bỗng có một con rùa lớn nổi lên mặt sông, đi đến góc đông nam của thành Đông Tử thì mất. Trương nghi bèn hỏi thầy bói, thầy bói nói: "Cứ theo đường rùa đi mà xây". Quả nhiên thành công, nhân thế đặt tên thành là "QUY HÓA THÀNH" (tạm dịch thành do rùa hướng dẫn mà xây; chữ hóa có nhiều nghĩa, tạm lấy nghỉa là chỉ dạy (giáo hóa)). Còn nhiều nữa, từ từ sẽ đăng, vì sách Tàu quả là đọc hòai không hết! Mấy nhà Nho ta vì không thích (không chịu) đọc sách dã sử, phương ngọai (họ chỉ đọc sách học để đi thi mà thôi) nên không bổ sung gì được nhiều khi chép lại chính sử Tàu (để viết thành sử VN)" (trích: Lê Hải Nam VVH Forum)
-
Nhân thể luyện tập Rin86 luyện thêm bài tập này nhé :D Ngày mai Phoenix phải giảng bài. Hôm nay soạn bài giảng mà chưa thấy ưng nên bỏ dở đi ngủ. Hỏi: Buổi giảng của Phoenix có bị ảnh hưởng xấu bởi việc soạn bài giảng chưa xong không? Câu này ngày mai là có kết quả ngay. Rin86 thử luyện để kiểm chứng nhé. See U :lol:
-
Thương âm mộc khắc Vô Vong âm thổ. Lòng mong muốn gặp cuối cùng kết quả không như ý. Khả năng gặp nhưng cuộc nói chuyện cũng chẳng đâu vào đâu. Do mong muốn nhiều nên lòng không vui cũng âm ỉ mới rồi hết được.
-
Nhìn nhà bạn này mà thấy choáng quá. Lo gì kìm hãm chồng, số bạn đủ tiền tài rồi thì vợ chồng chia nhau cùng huỏng. Cả hai cùng lộc tồn, hóa lộc đuề huề thì hết của thiên hạ. Người giàu cứ ham kiếm tiền là người nghèo hết đất sống đó :unsure: Thứ 6 ngày 13, xem ra không phải là xui nhỉ!
-
Bệnh nan y của Việt Nam là giới thiệu văn hóa với người nhưng lại quên dậy văn hóa cho mình.
-
ngocthaohien: "Chú xem giúp cho là vợ chồng cháu có nên sinh con thứ 3 không ạ ? nếu sinh thì sinh vào năm nào thì tốt ạ ?" ... "Chú ơi nếu sinh năm Tân Mão thì có đẹp hơn không hả chú ?" Có hai lựa chọn cho câu trả lời: - Vừa lòng mình hoặc: - Tốt cho mình Nếu chị chọn trước đi thì đỡ mất thời gian hỏi đi, hỏi lại cho cả chị và chú Thiên Sứ. Nhược bằng: KHÔNG THỰC TIN THÌ CHẲNG NÊN VẤN HỎI
-
Hi, không khéo lại nhiều người thêm nghề lo đi bẫy chim kiếm sống. :lol:
-
Qua giải thích này, Phoenix hiểu thêm vài điều. Trân trọng cảm ơn chú Thiên Sứ.
-
Thưa chú Thiên Sứ, phương pháp thả chim phóng sinh này có thể áp dụng cho những việc gì? và đối tượng nào? Lúc trước, Phoenix hay thấy ở chùa Phổ Linh, các ông thầu xây dựng mua chim phóng sinh rồi mang vào chùa thả. Vẫn băn khoăn chưa rõ ý nghĩa mục đích thế nào.
-
"* Gái tuổi Sửu - Mùi Đại lợi ở tháng 5 -11. Tiểu lợi ở tháng 4 -10 Cười xong nên sanh con đầu năm Tân Mão. Con út năm Đinh Dậu. Trai gái đều tốt. Thiên Sứ" Chú Thiên Sứ đã trả lời rất chu đáo, thiết nghĩ bạn đã đủ dữ liệu để cân nhắc. Nếu tất cả mọi người cùng hỏi cặn kẽ chi ly thì e chú Thiên Sứ không còn thời gian để nghiên cứu hay làm gì nữa. Chúc hạnh phúc! CHỈ CÓ BẢN THÂN MỚI CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ CHÍNH MÌNH TỐT NHẤT
-
Nhà Phoenix không thờ ông Địa, cũng chẳng thờ thần tài, thần bếp. Hàng tháng cũng không thờ cúng gì. Trừ dịp lễ trọng. Hình như thấy cũng không ảnh hưởng gì.
-
Phoenix đang muốn tìm một miếng đất để trồng rau. Liệu bao giờ Phoenix được như ý? Lạc tướng mở topic thì luận giùm luôn nhé :lol:
-
Phoenix bị thất lạc 02 cái chứng chỉ? Nhờ ACE luận giùm xem có tìm lại được không ạ?
-
Cho đến nay mục Thư viện của Diễn đàn vẫn chưa được mở. Có vấn đề gì khó khăn không vậy chú Thiên Sứ?
-
Anh Hà Mạnh Hùng viết: "ngày 5/5 Âm lịch khí dương tràn ngập, nên rất nóng bức, thời tiết mùa Hạ oi bức," Phoenix theo dõi thấy thời tiết ngày 5/5 năm nào cũng nắng nóng. Đặc biệt vào giờ Ngọ, nắng chói chang, không khí rất khô dù ở Miền Nam hay Miền Bắc, Miền Trung của Việt Nam. Hôm qua Phoenix mới có dịp được xem đồ cúng 5/5 của người dân trong Nam: - Một cây nhang lớn, quấn 1 tờ "sớ" vàng in chữ đỏ - Một tập lễ tiền vàng có in hình Thiên hoàng (đoán vậy) kèm một số hình thần tiên và các hình nhân - Một tập lễ tiền vàng có hình Phật bà Quan âm (!!!) kèm hình ngưạ chạy. Người bán hàng nói mùng 5/5 phải dùng những thứ này để cúng. Rõ ràng, những đồ lễ này mang bản sắc của người Hoa, và nội dung chẳng ăn nhập gì với ngày lễ 5/5 vốn được người dân Việt coi như ngày lễ nông nghiệp, khởi sự mùa màng. Những tập tục cúng 5/5 không thấy ở Sài Gòn nữa. Người ta mua đồ về cúng để .... cầu tài :lol:
-
Hi, cá nhân Phoenix chưa tôn thờ Phật mặc dù tôn trọng những giá trị nhân sinh mà Phật giáo hướng tới. Sách đọc cũng một số nhưng không cảm thấy thuyết phục lắm. Cảm ơn Lạc Tướng chỉ dẫn. Phoenix dốt mấy môn lý số, thi thoảng loăng quăng mà thôi. Có vắng thì "chợ vẫn vui" mà :lol:
-
Lưu ý: Bài viết đã lược bỏ một số câu chỉ giới thiệu phần ứng dụng của lý học Nguyễn Việt Nho TẢN MẠN BÓI TOÁN ĐẦU XUÂN Đầu Xuân người mình thường muốn biết trước những gì sẽ xảy trong năm mới cho mình, cho gia đình hay cho quốc gia, cho thế giới... Một số người đi đến các ông bà thầy bói để hỏi; một số đến chùa xin xăm, số khac tổ chức cầu cơ, cầu tiên … Còn tôi thì, tôi gieo qủe bói toán và giờ xin trình làng cái việc Bói Toán Đâu Xuân tôi đã làm với lời dẫn gỉang cái “khoa học” lạ kì nầy, dưới chủ đề TẢN MẠN BÓI TOÁN ĐẦU XUÂN: I. ĐÔI HÀNG VỀ BÓI TOÁN: Bói toán còn gọi là bốc chiêm, hay bói dịch, là chiêm nghiệm sự việc, sự vật qua các con toán số Âm Dương Tiên Rồng, gọi là các con Dịch Số hay lý số. I.1. Nền Tảng của Bói Toán: Cũng như Xây Bàn, Cầu Cơ, Cầu Tiên …, Bói Toán dựa trên tác động của hai dòng điện tư tưởng “Cầu” và “Ứng”. Khi cầu, nơi não bộ sẽ có một dòng điện được phóng ra; dòng điện nầy sẽ bắt gặp làn sóng điện bên ngoài của các Đấng (Thần, Thánh, Tiên, Phật, Ông Bà hay người qúa cố…) mà người gieo qủe muốn cầu xin. Hai luồn điện sẽ có tác động trên các đồng tiền qua các lần gieo qủe, để cho ra các hào âm, dương, động hay không (sẽ thấy rõ qua “cách lập qủe” bên dưới). Có vô số dòng điện trong vũ trụ dưới vô số tầng số khác nhau: Điện trong con người được gọi là nhân điện và ngay trong những cơ phận của cơ thể đều có phát ra điện: Điện nơi não được gọi là điện não, nơi tim được gọi là điện tim… Với kỉ thuật tân tiến ngày nay, người ta có thể ghi nhận được những dòng điện nầy bằng máy đo để có được các đồ hình biểu diễn chúng, gọi là điện não đồ, điện tâm đồ… Ngay trong kim thạch hay thảo mộc cũng có điện. Cây cối cũng biết run sợ khi ta phóng ra ý nghĩa sẽ hủy hoại nó… Ta có đặt máy đo để biết sự sợ hãi nầy của thực vật và cơ quan điều tra tội phạm Hoa Kỳ đã ứng dụng sự run sợ của cây bằng cách dẫn nhiều ghi phạm đi những cây có gắn sẵn máy đo trên đó, để biết được kẻ đã gây án. Dòng nhân điện (hay năng lượng), mạnh hay yếu tùy theo từng cơ thể từng loại, người và nó mạnh yếu cũng tùy từng thời gian, thời kì nữa. Có những dòng nhân điện rất mạnh có thể làm cong thanh sắt thép, di dời đồ vật hay có khả năng sai khiến người khác làm theo ý mình như trong thuật thôi miên. Trong thảo mộc, đất, đá, cây cối, muông thú cũng có những dòng năng lượng mà chúng có những tên gọi khác là linh hồn, giác hồn hay hồn. Cao Đài Giáo chia chúng ra là làm nhiều loại hồn như: Kim thạch hồn, thảo mộc hồn, súc vật hồn, nhân hồn… Khi chết đi, các “hồn” không còn ở trong cơ thể nhưng nó cũng không mất mà nằm dưới dạng sóng năng lượng, gọi là hồn ma; điều nầy đúng như lời phát biểu của nhà bác học Lavosier, rằng: “không có gì tự nhiên có, không có gì tự biên mất, nó chỉ biến hóa mà thôi” (Rien ne que se crée, rien ne que se perd, il ne que varie); hoặc như ý diễn đạt thông qua công thức E = m C2; của nhà bác học Robert Einsteistien, trong đó: E là năng lượng C là tốc độ ánh sáng/giây m (trọng khối của vật chất, m nầy không bao giờ bằng 0, nghĩa là không mất hẳn mà là dương (+) hoặc là số âm ( _ ). Ông Einstein nói rằng hai cái gọi là vật chất và năng lượng sẽ đổi dạng thức qua lại, ông nói: “Vật chất là năng lượng tích tụ lại một cách tối đa (extrêmement concentré) và năng lượng là vật chất phân tán ra tối đa (extrêmement dispersé)”; nó chỉ chuyển dạng mà không mất… Có những nhà khoa học “bay bổng” mong muốn chế ra những chiếc máy bắt được các làn sóng hồn (năng lượng phân tán tối đa) để chuyển sang hình ảnh hay âm thanh của người đã chết. Các ông này nói rằng nếu máy thu sóng thu được những làn sóng nhanh hơn tốc độ của ánh sáng thì ta sẽ bắt được hình ảnh và tiếng nói của người qúa cố, như hình ảnh của Chúa Jésus chẳng hạn. .. Việc gieo qủe để bói là phóng làn sóng tư tưởng để tương tác với làn sóng bên ngoài và như vậy bộ não của ta là cái máy mà nhà khoa học muốn chế. Việc ứng của qủe là kết qủa được đáp lại năng kượng từ “điện sóng ý” của “Đấng” ta cầu giúp … I.2. Sự Khả Tín của Khoa Bói Toán: Bói toán có đáng tin cậy không? tôi muốn giành câu trả lời cho người đọc sau khi đọc bài viết nầy. Riêng tôi, tôi thấy những điều tôi băn khoăn mà không biết hỏi ai, đã được giải đáp một cách rất có lý, rất chính xác với điều muốn hỏi, vì thế hôm nay tôi muốn chia xẻ việc "Bói Toán Đầu Xuân" mà tôi đã làm trong đầu năm con Chuột này để mời mọi người cùng chiêm nghiệm. Và cũng muốn mọi người lưu ý cho, rằng: nền tảng của bói toán mang tính khoa học khách quan vì nó được đặt trên căn bản của các con toán số và trên tác dụng của sóng điên. Và, để dẫn vào việc bói toán trước tiên, xin có đôi hàng về cách lập qủe Dịch: II. CÁCH THIẾT LẬP QỦE Thiết lập qủe là mhằm tạo ra con dịch số hay lý số âm dương và để có được các con toán số nầy, có mhiều cách làm: @ _ Lấy giờ, ngày, tháng năm để lập qủe @ _ Hái lộc rồi đếm số lá (lộc) trên cành để có được con số @ _ Rút chân nhang trên bàn thờ Ông Bà sau khi đã thành tâm đốt nhang khấn vái tiên tiền nhân rồi đếm số chân nhang để có được con số dưới dạng số thập phân @ _ Bảo người cầu xin chọn một con số nào đó mà mình ưa thích… Từ con số có được qua các cách trên, hãy đổi nó sang hệ lý số tức ta đã thiết lập được quái dịch để bói toán (Cách thức đổi từ hệ thập phân sang hệ lý số tôi đã nói trong các bài viết trước). @ _ Cách gieo tiền lập qủe: Để có được các qủe (quái số để bói), còn một cách nữa là dùng 3 đồng tiền (hoặc penny, coin, quarter… ) để gieo qủe. Đây là cách lấy qủe người ta thường làm nhất và cho ra câu đáp đầy đủ nhất. Khi gieo 3 đồng tiền, các lần gieo có thể hiện ra 3 đồng cùng sấp (3 mặt đều là dương) hoặc 3 mặt của đồng tiền đều là ngửa (đều âm). Trong trường hợp này các hào âm, dương nầy được gọi là hào động (và nên nhớ khi âm động rẽ thành dương, và khi dương động sẽ thành âm để từ đó ta có được quái biến). Trong lúc gieo, 3 đồng tiền cũng có thể hiện ra: hai mặt ngửa (âm) và một mặt sấp (dương), ta ghi nhận một hào dương (___) (theo luật thiểu vi chủ: ít làm chủ qủe); hoặc cũng có thể 3 đồng tiền sẽ hiện ra là hai mặt sấp và một mặt ngửa, và nếu vậy ta có được hào âm … Gieo sáu lần ta sẽ có 6 hào dịch và ghi các ký hiệu âm (_ _) dương (___) sẽ được ghi từ dưới lên: Dưới cùng là sơ hào hay hào 1, lần gieo qủe hai sẽ được hào 2, lần ba là hào 3… cứ thế tiếp tục gieo 6 lần, sẽ có được con dịch số với sáu hào. Điều đáng lưu ý: Khi thiết lập qủe phải thật thành tâm trong lúc cầu xin, phải “chí thành” mới “thông thánh” (Chí thành thông thánh) III.BÓI QỦE ĐẦU XUÂN: Đây nói về việc tôi bói qủe: Tôi đã lấy qủe theo cách gieo ba đồng tiền. Qủe được lấy vào giờ Thìn, ngày Mồng 4 Tết, tháng Giêng năm Mậu Tý với ba điều cầu hỏi: Thứ nhất hỏi về gia đạo, thứ hai hỏi hỏi về vận nước và thứ ba hỏi về chiều hướng chính trị thế giới trong năm mới. III.1_ Cầu Hỏi Về Gia Đạo: Qua sáu lần gieo, qủe hiện ra nguyên quái là Thuần Phong (Nội và nội quái đều là con Tốn); Phong ngoài nghĩa là gió còn có nghĩa là thuận theo hay nhập vào. Qủe động các hào 1, 2, 3, và 4 nên biến quái là con Thiên Lôi Vô Vọng. Vô Vọng có nghĩa là không càn bậy. Tượng ý: không càn bậy vì thuận theo Thiên lý. Tượng qủe chỉ ra là hành động (nghĩa con Lôi nội quái) thuận theo Đạo Trời (nghĩa con Càn, ngoại quái). Đại khái qủe khuyên nên “thuận thiên tắt tồn”, hành động nên thuận theo qui trình, qui luật hay xu thế tự nhiên của thiên nhiên. Thoán từ Vô Vọng viết rằng: “Vô Vọng: Nguyên hanh lợi trinh. Kỳ phỉ chánh hữu sảnh bất lợi hữu du vãng”. Nghĩa là: Không vọng động: rất thông hanh Hợp với chánh đạo lợi danh vẹn toàn Trái thiên đạo, hẳn không an Tiếp tục hành động hẳn càng thêm nguy Trong Kinh Dịch, qủe Vô Vọng đặt sau qủe Lôi: Lôi có tượng chỉ ra là thời dương khí (điều tốt lành) mới bắt đầu vượng. Nhưng vì mới khởi sự, nên âm khí (tượng trưng cho những điều xấu xa, hung hãn… vẫn còn dày đặt, mà tượng của nó là 2 hào âm (_ _) đè trên một hào dương dưới cùng), nên hành động gì cũng phải đắn đo, dè dặt. Thế nên hào 1 dương (sơ cửu), nhắc: “Vô vọng, vãng cát” (Không càng bậy mà làm thì tốt). Ý là nê thuận theo nhưng không nên nóng nảy, gượng ép: Thời vô vọng bước tiến lên Hợp thời, hợp vị: tốt bền lắm thôi Như ngày Xuân nắng lên rồi Tự nhiên cây cỏ đâm chồi, nở hoa Trong thời Vô Vọng phải làm việc nghĩa và làm vì đại cuộc mà quên bớt cái lợi gần, nếu làm vì vụ lợi cá nhân trước mắt, thì có hại. Cái lợi sẽ đến từ từ sau đó. Đây là ý của hào 2: “Lục nhị: Bất canh hoạch, bất tri dư, tắt lợi hữu du vãng”. Nghĩa là: Cứ cày, đùng nghĩ gặt Khai phá, chớ nói lâu Việc cần cứ xúc tiến Lợi lộc sẽ có hồi… Các hào 3, 4, 5, 6 của qủe Vô vọng đại ý cũng khuyên phải giữ điều thiện lành thì mọi điều tốt lành sẽ đến, tai họa sẽ qua đi (Xin xem Kinh Dịch quái Vô Vọng) Qua đó cũng có thể nói là qủe “ứng” với điều câu hỏi vì nó đã chỉ ra hướng hành xử đúng đắn trước những biến động lớn sẽ có tác động gay gắt cho từng cá nhân, gia đình, quốc gia và thế giới. Thế nên qủe không những có gía trị đối với người gieo cầu mà lời răn của nó cũng có gía trị cho hết thảy mọi người: Trước những biến động lớn đang và sẽ xảy ra, mọi người phải giữ tâm cho bình tĩnh, đừng vọng động làm mất đi cái sáng suốt, dẫn đến hành đông càn bậy ((Vọng có nghĩa là càn bậy), nhất là những người đang nắm giữ vai trò lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo cộng đồng…. Và cũng qua đó qủe cũng có ý ngầm rằng: hành động mà thiếu sáng suốt sẽ đồng nghĩa với phá họại, như công thức của Lênin: Nhiệt thành + Ngu dốt = Phá hoại. (Lénin nêu lên được công thức đúng, nhưng tiếc thay ông lại chọn chủ nghĩa Duy Vật vô cùng sai trật để đi theo, khiến cái nhiệt thành của ông đã phá hoại vô cùng to lớn như mọi người đều biết). Nhìn chung, qủe cầu được đã đáp ứng lời hỏi về gia đạo với lời khuyên rất hay, rất thích ứng và hữu ích. III.2_ Cầu Hỏi Về Vận Nước: Trong lần bói thứ: hai quái Dịch bói ra nguyên quái là con Thủy Phong Tỉnh, động hào 2 và hào 3 thành ra con biến quái là con Thủy Địa Tỉ. Xin tuần tự lý giải hai con lý số nguyên quái và biến quái để rõ ý của lời đáp cho câu hỏi về vận nước trong năm nầy: @ Ý Nghĩa Nguyên Quái Thủy Phong Tỉnh: Thủy Phong Tỉnh là cái giếng, là nguồn nước Giếng Việt (Việt Tỉnh)... Trong nghĩa văn hóa, Việt Tỉnh là Chủa Đạo Việt, hay Chủ Đạo Văn Văn Hóa Việt. Viêt Tỉnh liên quan với con huyền số vài ba, 2/3 (vì con 2 đổi sang dịch số sẽ là con Thủy và con 3 là con Phong (2 viết sang nhị phân (binary) là 010 dịch số là Khảm; con 3 là 011, là con Tốn hay Phong của Dịch số). Con biến quái Thủy Địa Tỉ (do nguyên quái Tỉnh động hào 2 và 3), có nghĩa là gần gũi, liên lạc. Hổ quái của Tỉ là con Sơn Địa Bác. Hổ quái chỉ ra cái bản chất, hay cái cốt lõi của vấn đề, ở đây nó chỉ ra lý do tại sao phải gần guĩ, phải trở về liên lạc với con Tỉnh hay Chủ Đạo Việt? Đây là lý do: Theo triết gia Kim Định viết trong Sử Điệp Trống Đồng thì Chủ Đạo Việt là kết tinh của số “chẵn lẻ hòa hợp, còn hình là vuông tròn đúc kết, mẹ cha tương tác (Mẹ Âu Cơ gặp bố Lạc Long Quân trên Cách Đồng Tương), đề cao linh phối qua số 5 như kết qủa của 2-3” (Sử Điệp Trống Đồng, nhà XB An Việt San Jose, trang 212). Đây là điều Ngài bàn về các chiều hướng văn hóa dựa trên cơ cấu luận, còn nếu luận trên Dịch lý thì chủ Đạo Việt là con Thủy Phong Tỉnh, như đã viết trên... Cái chủ Đạo nầy, cũng theo LM Lương Kim Định, đã có từ thời dựng nước thuở các vua Hùng. Chính nó đã xây dựng được nền thống nhất toàn triệt trên phương diện đạo lý và triết lý nhưng sau đó bị các tôn giáo làm rạn nứt Mất chủ Đạo khiến không đồng quan điểm, gây ra chia rẽ: Chia rẽ rồi sinh ra chống bán, mỗi người đi mỗi lối khiến dễ bị ngoại nhân lợi dụng nên LM Kim Định nói “Đạo mất trước, nước mất sau”, qủa không sai. Và khi nước mất, dân mất mà chủ đạo văn hóa (Đạo) không còn, thì khó mà lấy lại được nước: Nước có mất cũng có ngày lấy lại Dân phân li cũng có lúc hợp quần Văn hóa không còn ta phải nhận chân Là vĩnh viễn mất dân, mất nước (thơ TĐ Nguễn Việt Nho) Xưa kia nước ta bị cả ngàn năm đô hộ, ta lấy lại được nước nhờ ta còn chủ Đạo Văn Hóa Việt; Gio Thái trở về dựng lại nước sau ngót hai ngàn năm nhờ họ giữ được Gio Thái Giáo. Trở lại lời than của Cụ Nguyễn Thế Truyền: Gỉa dụ như có ai đó đáp lời kêu gào của cụ Nguyễn, chắc chắn lời đáp cũng sẽ không rõ ràng, chính xác và đầy đủ như gợi ý của qủe bói ra là con chủ đạo văn hóa 2/3 Thủy Phong Tỉnh và con biến quái của nó là con Thiên Lôi Vô Vọng. Ứng thay qủe bói trong lần hai! Trước tình trạng cực kì phân ly của nhân loại cũng như của Việt Nam, con 2/3 Thủy Phong Tỉnh sẽ dẫn ra chủ đạo chính trị rất thích hợp cho chủ trương toàn cầu hóa của Mỹ và dẫn ra hướng chấm dứt một cách triệt để thời kì phân hóa, phân tán của dòng Việt, để xây dựng một mô thức “Bách Việt trong Bọc Âu Cơ mà không một Việt nào bị loại trừ” bằng cách dung nạp vào nơi “Cánh Đồng Tương”. Chẳng thế, triết gia Kim Định chẳng đã hết lời khen cái chiều hướng văn hóa nầy rằng: đây là cái hiểu biết của chu tri, viên mãn: “chẳn lẻ hòa hợp…, vuông tròn đúc kết, cha mẹ tương tác… kết qủa tương tác của 2 – 3”. Và dưới đây xin được luận giải rộng ra thêm: Con 2/3 Thủy Phong Tỉnh, trong Kinh Dịch, được đặt sau con Trạch Thủy Khốn (Khốn là nguy hiểm, nguy khốn) ngầm mang nghĩa: khi tột cùng nguy khốn (ý các hào của Khốn, xem Kinh Dịch) thì phải đến chủ Đạo Việt Tĩnh, nghĩa là cực khốn phải dùng Tỉnh để giải quyết vấn đề. Chủ đạo Việt, xuyên qua con Thủy Phong Tỉnh, mang nghĩa như là một chân lý của siêu việt, áp dụng chung cho hết thảy mọi dân tộc chứ không riêng gì ta, như ý của thoán từ viết: “Cải ấp bất cải tỉnh, vô táng vô đắc, vãng lai tỉnh tỉnh. Ngật chí, diệt vị duật tỉnh, luy kì bình, hung” (Đổi ấp chứ không đổi giếng, nước giếng không kiệt mà cũng không thêm, người qua người lại để múc nước giếng). (Đi tới) gần (giếng), chưa kịp thòng dây gàu xuống mà (để) bể cái bình đựng nước, thì xấu (Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch Đạo của Người Quân tử, trang 376) Tạm dịch: Người dời nhưng giếng chẳng dời Không đầy, không cạn, giữ nơi mực bằng Nhắn người múc nước nấu ăn Mang gàu, để vỡ, cầm bằng về không! Nhưng nhưng hiện nay giếng Việt đã bị lấp nguồn, như sơ lục nói: “Tỉnh nê, bất thực, cựu tỉnh vô cầm” (Giếng bùn lầy không ai lấy nước; không có con vật nào lại giếng cũ). Giếng Việt Tỉnh, con chủ đạo Thủy phong Tỉnh, là nguồn sống, là sinh lộ mà người ta không xài qủa tiếc thật. Ai là ông vua sáng suốt (minh vương) như hào 3 nói, để cho mọi người đều được hưởng phúc: “Tỉnh tiết bất thực, vi ngã tâm trắc, khả dụng cấp; vương minh tịnh thụ kì phúc”. Xin dịch thoáng nghĩa: Có giếng mà chẳng ăn Để riêng ta thương xót Hỏi ai có biết rằng Phí đi nguồn nước ngọt? Ai là minh quân giúp khai thông giếng như ý của hào 3 nói? @ Ý Nghĩa Biến Quái Thủy Địa Tỉ Tỉ là gần gũi, hay liên lạc. Có những lời khuyên như: đến với nhau (gần gũi) là tốt; chính đáng thì không có lỗi (ý hào từ). Gần gũi phải có lòng thành tín (hào 1) muốn gần gũi phải chính đáng (hào 2), không nên gần với những người không xứng đáng (hào 3); gần gũi với người bên ngoài phải giữ đạo chính mới tốt; (hào 4); kẻ bề trên khi gần gũi phải giữ đạo quang minh, phải có lòng từ nữa để cảm hóa người người chung quanh mà không cần phải răn đe (hào 5). Phép gần gũi đôi khi cũng cần người trung gian hoặc phải có lý do (hào 6). Từ quái Tỉnh biến sang quái Tỉ mang hai ý: Gần gủi trong trường hợp nầy là: Thừ nhất khuyên: cần trở lại chủ đạo văn hóa dân tộc (con Thủy Phong Tỉnh), thứ hai khuyên mọi người nên tìm cách đến cùng nhau để giải quyết vân đề chia rẽ, phân tán do hậu qủa mất chủ đạo thống nhất… và cần theo những cái lý đạo Tỉ mà gần gũi cùng nhau. Tóm lại, câu trả lời của câu hỏi về vận nước chỉ ra rằng: năm đến mở ra thời vận mới cho toàn dân Việt. Đất nước sẽ có cơ hàn gắn lại những đổ vỡ, chia cách; nhờ trở về (Tỉ) với Đạo Việt (Thủy Phong Tỉnh) mà hàn gắn mấu hiềm khích, chia rẽ từ bao thế hệ qua do các chủ thuyết và tôn giáo đơn duy ngoại lai mang lại. Và qua đó qủe còn chỉ ra cách thức giao tiếp, gần gũi phải thế nào? Làm thế nào để hóa giải những cái mâu thuẫn để cùng hòa hợp, cùng tồn tại, phù hợp với hướng toàn cầu hóa hiện nay?... III.3_ Cầu Hỏi Về Chiều Hướng Chính Trị Thế Giới Bói lần ba hỏi về xu hướng chính trị thế giới trong năm mới: qủe lên Trạch Thiên Quải, động hào ba thành ra con Thuần Đoài. Xin được luận giải: @ Luận về con Trạch Thiên Quải Quải có nghĩa là Quyết Liệt; con lý số (cái lý nằm trong con số) nầy có tượng: một nét âm trên cùng (thượng lục), bị bầy dương (5 hào dương Càn bên dưới ra sức tống khứ cái âm (ác, xấu) ra ngoài. @ Luận về con Thuần Đoài: Con Đoài là qủe biến của con Trạch Thiên Quải: Đoài là thành qủa, kết qủa, cũng có nghĩa nữa là đẹp đẽ. Trên Hậu Thiên Bát Quái, Đoài được xếp ở phương Tây và trong di chúc truyền dòng Việt nhằm chỉ ra cách sắp hoa qủa trên bàn thờ gia tiên, Qủa (con Đoài) được sắp ở hướng Tây (theo qui luật: Đông bình Tây qủa). Qua hai sự sắp xếp nầy quái bói đươc (Quải để dẫn đến Đoài), ngầm ý chỉ ra rằng kết qủa hay thành qủa sẽ thuộc về phương Tây. @ Bàn rộng ra từ hai qủe nầy để có lời tiên tri về kết qủa bầu cử ở Mỹ trong tháng 11/08: Nước Mỹ là nước dân chủ nhưng là nền dân chủ được điều chỉnh! Nói thế có nghĩa là thế nào ? - Có nghĩa là tuy người dân có quyền bầu chọn người đại diện mình hay có quyền có ý kiến trên các đạo luật, nhưng trên thực tế ban điều hành tối cao của quốc gia (thường được hiểu như là siêu quyền lực) có thể hướng dẫn dư luận dân chúng thông qua truyền thông hoặc qua những thủ thuật tinh vi khác (Truyền thông và một số chính trị da uy tín vận động mạnh cho ứng cử viên OBAMA để được đảng dân chủ bầu làm Chuẩn Ứng Cử Viên Dân Chủ để … dễ thua Ông John MCCain của Cộng Hòa hơn là để bà Clinton!). Việc “Dân chủ được điều chỉnh” của Mỹ mà chính sách, chính lược và chiến lược được nhất quán, duy trì bất kể là tổng thống nào hay đảng nào lên cầm quyền … khiến cho hướng đi Dân chủ và Nhân Bản mà Mỹ đã chọn đi từ thời lập quốc đã không bị chệch hướng. Trở về với con toán số bói được và với việc bầu cử năm nay để xem ai sẽ thắng: Như trên vừa trình bày, chiều hướng chính trị Mỹ sắp tới là tiếp tục duy trì đường lối mạnh (ứng với con Trạch Thiên Quải, như phần trên vừa đề cập). Nhiệm vụ của Tổng Thống Bush chưa hoàn tất, kế hoạch còn dở dang, nên hướng đi của nước Mỹ vẫn là con đường đối ngoại cứng rắn. Đây là việc chẳng đặng đứng đối với Mỹ và các nước Tây Phương, là việc “Do or Die”, thế nên Cộng Hòa còn cần phải được duy trì, ít ra một nhiệm kỳ nữa, để làm nhiệm vụ này và Ông McCain xứng đáng là người lãnh đạo kế tục: John MCCain là nhân vật cứng rắn, ông đã thẳng thừng chỉ ra khi được báo chí hỏi rằng ai là kẻ thù của Mỹ hiện nay? IV. NHỮNG TIÊN ĐOÁN TƯƠNG LAI RÚT RA TỪ Ý QỦE Nếu “toán” rộng ra qua các qủa có được qua ba lần gieo, ta có thể tiên đoán rằng: IV.1.. Ai sẽ là Tổng Thống Mỹ trong nhiệm kỳ 2008 – 2012? Cuộc chiến chống cái ác phải được tiếp tục, và năm nay là năm nước Mỹ và thế giới sẽ đoàn kết hơn, quyết tâm hơn trong cuộc chiến chống khủng bố để thế giới ngày một tiến lên tốt đep hơn, văn minh hơi, đúng như qủe bói thể hiện ra là từ con Trạch Thiên Quải biến ra con Thuần Đoài, đúng như Đường lối của Cộng Hòa phải được duy trì, đảng Cộng Hòa phải thắng, John Mc Cain không thể thua… để nước Mỹ và cái thiện phải chiến thắng! (Ý này rút ra từ qủe bói lần 3 từ con Trạch Thiên Quải biến thành con Thuần Đoài. Xin mọi người hãy chờ xem!. IV.2. Tương lai Việt Nam như thế nào? @ Về Văn Hóa: _ Văn Hóa Việt (Văn Hóa Cổ Việt đặt trên cơ cấu chủ đạo 2/3 Thủy Phong Tỉnh, của Dịch Lý) sẽ được hồi phục, sẽ được nhiều người biết đến hơn, từ đó chỉ ra hướng đi mới của văn hóa cho Việt Nam nói riêng và cho nhân loại nói chung; nó sẽ hướng dẫn con người về với nền văn hóa hài hòa, dung chấp, dung nạp. Nền văn hóa nầy khi được hồi sinh cũng sẽ làm mờ nhạc đi nền văn hóa Hán Nho với con chủ đạo 3/2 Phong Thủy Hoán (mà Tàu gọi là con Tham lưỡng: “Tham thiên lưỡng địa nhi ỷ số”). Phong Thủy Hoán là Chủ Đạo Văn Hóa Hán Tộc mà Khổng Tử là người Đại diện tiểu biểu và Tần Thủy Hoàng (xưa) là người áp dụng vào chính trị; Văn Hóa Việt (Cổ Việt hay nền Văn Hóa Dịch lý sẽ được chọn làm nền văn hóa chủ đạo cho giai đoạn phát triển mới: “Biện chứng lớn” (Lý Đông A) hay “Điển quang Biện Chứng” (trong nghĩa biện chứng dựa trên nét dịch Khôn (_ _), Càn (___), Tiên Rồng của vền văn hóa Việt Nho sẽ hồi phục sinh và được chọn làm chủ Đạo, như lời sấm của Kinh Cao Đài Đại Đạo: “Một nước nhỏ nhen trong vạn quốc Về sau làm chủ mới là kì” (Kinh Cao Đài Đại Đạo) (Làm chủ: làm ra chủ đạo. Xin đọc thêm: Chủ Đạo Văn Hóa Việt, trong Văn Hóa Cổ Việt của cùng tác gỉa) _ Cũng thuộc lãnh vực văn hóa, chính trị: Trong năm Mậu Tí nhất định hai trang mạng anviettoancau.net và mạng nationalistvietnameseforum sẽ có nhiều người tham gia và nhiều khách viếng, bởi hai mạng này đã và đang đi đúng hướng. @ Về Chính Trị: Con Rồng Trời Nam (là tượng con Lôi nằm nội quái và ngoại quái là con Thiên) của quái Thiên Lôi Vô Vọng có được từ con Trạch Thiên Quải( xin xem lại bói lần 1), đang cựa mình hồi sinh: Tượng quái Quải chỉ ra rằng: dương khí (điều tốt lành) của xu hướng chính trị Việt sẽ theo cùng chiều hướng chính trị toàn cầu mà hành động theo thiên Lý (lý tự nhiên của thiên nhiên trong chu trình hết suy tới thịnh, hết mùa Đông đến mùa Xuân của Đất Trời), cũng là của thời thượng nguyên mới của nhân loại (ý rút ra từ lần bói 1 và 2). Ngoài ra trong năm nầy, như điều hào 3 qủe Quải nói: “Quân tử quải quải, độc hành ngộ vũ, nhược nhu hữu uẩn, vô cửu” (người quân tử cương quyết bỏ (tiểu hân), trước kia đã lỡ đi riêng một đường bị mưa ướt và lấm, bị bè bạn giận, bây giờ cái qúa sẽ không có lỗi. Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch Đạo Của Người Quân Tử, trang 358) IV.3. Chiều tương lai của Việt Nam và thế của thế giới @ Thế giới: John McMain đắt cử sẽ tiếp tục duy trì đường lối mạnh của Đảng Cộng Hòa, để đưa thế giới vào “Trật Tự Thế Giới Mới”. Tóm lại, trong năm tới, thế giới sẽ gay gắt đi từ Trạch Thiên Quải (triệt để loại trừ cái xấu, cái ác) để đi vào cái thiện, cái tốt lành (con Thuần Đoài), nghĩa là bắt đầu đi vào một thời kỳ ổn định và phát triển lâu dài (Ý tổng hợp ba lần bói) V. ĐÔI LỜI MỜI GỌI V.1. Xin mời “thử” để tin: Ba vấn đề tôi đặt ra qủa là câu hỏi hóc búa, các chuyên viên, chuyên gia hay các nhà chính trị chuyên nghiệp chẳng biết có ai có được câu trả lời vừa thích ứng vừa thâm sâu, cùng triệt như “Qủe” đã thị hiển chăng? Thế nên tôi muốn mời mọi người cùng hãy thử trên dùng phương pháp bói toán nầy đối với các vấn đề mình chẳng biết hỏi ai, thử xem sao?. Bói toán (bói dịch) là một trong số nhiều lãnh lãnh vục của Dịch Học, mà Dịch là bộ môn Toán Lý Số Học, là một bộ môn khoa học mang tính khách quan của khoa toán học: Khổng Minh, Trạng Trình và nhiều người nổi tiếng khác, đã “toán việc như thần” cũng đã dùng phương pháp nầy, thì tại sao ta lại quay mặt đi với nó? Mời qúi vị hãy thử xem sao? V.2. Xin mọi người cùng tiếp tay chống cái xấu (Trạch Thiên Quải) Cuộc chiến sắp tới là một cuộc đối đầu toàn diện, rất cam go giữa cái ác và cái thiện. Mọi người phải sáng suốt và mạnh dạng đứng về phía thiện. Kẻ đã làm ác cũng cần phải can đảm thắng mình trước những quyền lợi và địa vị phù phiếm và rất mong manh. Hãy mau chóng từ bỏ tánh ác, ý ác, phe ác, đảng ác… mà quay về với cái thiện nhằm giảm thiểu thiệt hại cho mình, cho gia đình mình, cho quốc gia và cho nhân loại. Nhất định cái Thiện phải thắng cái Ác: CON NGƯỜI ngày càng thăng tiến để xứng đáng với ngôi vị NHÂN HOÀNG SỐNG giữa TRỜI ĐẤT. V.3. Xin mời gọi cùng về phát huy Văn Hóa Việt. @ Văn hóa Việt là văn hóa Việt Nho (Cổ Việt): Theo triết gia Kim Định thì văn hóa nầy đã được thiết lập từ thời huyền thoại, thuở các vua Hùng … Chính nó đã giúp cho dân nước có được “thống nhất toàn triệt” trên mặt triết lý và Đạo Lý. Từ ngữ huyền thoại gọi là nền văn hóa nầy là “Tiên Rồng” Dịch học gọi là văn hóa Âm Dương Dịch Lý, còn Lão Tử gọi là Văn Hóa Vô Ngôn (không chữ, đúng ra là không dùng chữ qui ước mà dùng các con Lý số để diễn ý mà dẫn vào Đạo). Trải qua các thời kì bị Hán tộc thẳng tay tiêu diệt, nền văn hóa nầy hầu như bị biến mất nên hôm nay ít người biết đến nó và nếu có thì cũng chẳng vào đâu. Phần lớn người, kể cả những người được xem học thức, cũng ít am tường về Dịch số, Dịch lý, là nền tảng của nền văn hóa nầy. Cơ bản, nền văn hóa nầy y cứ trên những con toán số và thông qua các con “toán lý số” nầy để “đạt Đạo”, nghĩa là đạt được sự lý sự vật, nên môn lý số học (Dịch Học) là một bộ môn khoa học khách quan; nó giúp ta hiểu một cách cùng triệt về đạo lý biến dịch của sự vật, nên có thể xem nó là bộ môn vật lý. Nguyễn Duy Cần, một người viết nhiều sách về Dịch Lý nói rằng: “Chưa thấy ai không thông Dịch mà thông được sự lý sự vật, muốn thông sự lý sự vật phải thông Dịch” Thế nên có thể nói, đích thực của Dịch học là học về các con lý số (cái lý nằm trong con số, xin đọc Ba Hệ Toán Số trong Văn Hóa Cổ Việt của TĐ Nguyễn Việt Nho, XB, 2004). Nguồn: anviettoancau.net
-
Truyền thuyết Âu Cơ và dư âm Bách Việt trong tiếng Việt: Hùng Vương, quốc tổ Việt lai Thái Nguyên Nguyên Trong bài này chúng ta thử khảo sát sơ lược 'dư âm' của các tiếng thuộc khối Bách Việt xa xưa còn mang ảnh hưởng trên tiếng Việt. Bài này được viết ngay sau loạt bài về 'Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương', đặc biệt bài về 'Hùng Vương: quốc tổ mang hai giòng máu'. Với mục đích thử xem lại truyền tích ‘Âu Lạc’ qua một sốtài liệu ngôn ngữ hạn hẹp có trước mắt. 1. TRUYỀN THUYẾT CON RỒNG CHÁU TIÊN Trước hết xin tóm tắt ý nghĩa của truyền thuyết Âu Cơ, vừa được giải mã dưới góc nhìn nôm na của thế kỷ 21 (xem [1]). Trong đó chúng ta đặc biệt chú ý đến việc chia ly đầy nước mắt của vợ chồng Lạc Long Quân và Âu Cơ. Một cuộc chia ly vĩnh viễn không hẹn ngày tái ngộ. Truyền thuyết Âu Lạc được đặt để vào trong bộ sử đồ sộ và đầu tiên 'Đại Việt Sử Ký Toàn Thư' của Ngô SĩLiên vào đời nhà Lê, xuất phát từ những chuyện thần tiên cổ tích của người Mường [1] [2]. Việc giải mã truyền thuyết xưa cũ bắt đầu bằng ý niệm 'Fast Forward', y như việc bấm nút cho băng video quay nhanh về phía trước. Đúng y như ý định của các tác giả truyền thuyết. Rồi truy về nguồn gốc người Mường chính thuộc chủng Thái, thuở ban đầu cư dân nước Sở ở thời Xuân Thu Chiến Quốc (770-221 TCN) bên Tàu xa xưa. Dân nước Sở rất nổi tiếng với những chuyện tích u linh hoang đường. Vấn đề này từ trước đến nay thường bị bỏ sót bởi chúng ta hiểu biết rất ít về thành phần của khối Bách Việt đó. Đặc biệt các chi chủng nhỏ lớn đủthứ ngày trước người Hoa gộp chung lại một nhóm và gọi đó chủng Yueh (Việt). Quan trọng nhất chúng ta cũng bị ảnh hưởng sử sách viết theo quan điểm lấp loát và tiện nghi của Hoa chủng cho rằng chủng Yueh chỉhiện diện ở phía Nam sông Dương Tử, tức miền Hoa Nam. Ngày nay với phương tiện internet, chúng ta tìm tòi tra cứu rất dễ các tài liệu rất quan trọng, ngay cả đối với thứ cổ sử mù mờ xa xưa. Rất nhiều tư liệu do các nhà khảo cứu từ những đại học lớn trên thế giới đều có thể truy cập được dễ dàng qua mạng internet. Theo thiển ý, rất nhiều công cuộc khảo cứu về cổ sử hoặc tài liệu khai quật được thường vướng phải một vài vấn đề tuy có vẻ tầm thường, nhưng dễ gây ra lạc hướng hoặc ngộ nhận. Thông thường chúng ta vướng phải ngộ nhận do ở chỗ thiếu thốn hiểu biết về cổ sử Tàu. Hoặc nếu có hiểu biết, lại hiểu biết theo như ý muốn của người Tàu. Xin đưa ra vài thí dụ, như sau. Người Hoa có vua chúa từ thời các ông Hoàng Đế, Thần Nông, rồi Nghiêu (Yao), Thuấn (Shun). Thuấn sau đó truyền ngôi cho ông Yũ (Vũ) bắt đầu triều đại thế tập đầu tiên của Tàu: nhà Hạ. Hạ kéo dài từkhoảng 3000 năm trước Công Nguyên (TCN), truyền được 18 đời vua, đến lúc bị Thành Thang lật tạo nên nhà Thương (1700-1100 TCN). Sự thật, giới sử học chưa có thể minh xác chắc chắn về việc nhà Hạcó thật hay không. Còn các vị Tam Hoàng hay Ngũ Đế (như Thần Nông, Nghiêu, Thuấn, v.v.) hoàn toàn thuộc huyền sử, ở cái thời người Tàu - Hoa chủng - còn sống trong dạng bộ lạc, địa bàn quanh quẩn bên sông Hoàng Hà, khu vực Thiểm Tây, Sơn Tây. Tức chừng 1-2 tỉnh ngày nay. Ra khỏi khu vực Hoa chủng thuở ban đầu đó, người ta sẽ đi vào các vùng đất thuộc các chủng khác, người Hoa xưa ưa gọi 'rợ', hay 'man yi'. Rất nguy hiểm, bởi có nhiều thứ nhuộm răng, xâm trán, xâm mình. Và cũng có thứ giết người đểtế thần, hoặc để ăn thịt [4]. Cho tới thời Xuân Thu Chiến Quốc, phía Bắc Dương Tử bao gồm Hoa chủng và phía Nam Dương Tử chỉtoàn khối rợ Nam Man, đến cuối thời Chiến Quốc, người ta mới đặt tên Bách Việt, mang nghĩa chung: http://tieulun.hopto.org Còn tiếp
-
Huyền tượng mẹ ÂU CƠ: Bi kịch và mầu nhiệm Trần Xuân An Một cách giải mã mới nhất từ trước đến nay về một huyền thoại cổ nhất của dân tộc Việt Nam ta. Tác giả trông mong các ý kiến phản hồi. Chàng về thiếp một theo mây Con thơ để lại đất này ai nuôi Câu ca dao thời cổ sơ mãi còn đó. Có thể lớp vỏ ngữ âm của thuở xa xưa ấy theo năm tháng, trải qua vài mươi thế kỉ, đã dần dà được đổi mới, nên còn khá gần gũi với tiếng Việt hiện đại. Nhưng về nội dung ngữ nghĩa, chắc chắn vẫn y như lúc khởi nguyên. Trong những lúc chuyện trò ngày thường, đôi khi tình cờ gặp hai chữ Âu Cơ trên đường phố hoặc ở giây phút mặc niệm trong Quốc lễ Giỗ Tổ, tức khắc, câu ca dao ấy hiện về trong kí ức chúng ta, trước cả huyền thoại lịch sử Họ Hồng Bàng. Cảm nhận này đến với tôi từ tấm bé, nhưng phải đến một độ tuổi nào đó, mới trở thành một suy nghiệm, để từ suy nghiệm, có thể nói lên một điều nghiêm trọng: huyền tượng Mẹ Âu Cơ chất chứa cả một trời bi kịch. Bi kịch? Tôi thật sự cảm thấy mình run lên vì hiểu mình hình như đã xúc phạm đến Người Mẹ của cả dân tộc. Có thật là huyền tượng Mẹ Âu Cơ chất chứa cả một trời bi kịch? Chứng minh cho điều đó, chỉ cần nhớ lại câu ca dao thân thiết nghìn đời kia. Và từ cảm nhận ca dao về nỗi niềm của Mẹ Âu Cơ phải chia tay theo dạng li thân với người chồng Lạc Long quân – Người Cha của cả dân tộc –, chúng ta không thể không liên tưởng đến các bi kịch khác trong đời Mẹ. Một đời người phụ nữ, thật buồn khi phải trải qua hai đời chồng! Mẹ Âu Cơ của chúng ta đã lâm vào bi kịch ấy. Và chắc Mẹ phải cam chịu nỗi buồn chín nẫu ruột gan khi cả hai đời chồng, Đế Lai và Lạc Long quân, đều chủ động chia tay với Mẹ! Đế Lai bỏ Mẹ lại ở hành tại, để cùng quân binh rong ruổi những dặm đường viễn chinh, với mưu toan xâm chiếm đất nước của người em họ, Lạc Long quân, đến nỗi “quên cả ngày về”, bất chấp “nhân dân nước Nam khổ vì sự phiền nhiễu, không yên ổn như xưa” (1). Mặc dù đây không phải là cuộc chia tay, dứt nghĩa vợ chồng, để hai người trở thành hai người xa lạ. Đây chỉ là một cuộc chia tay, nghiêm ngặt mà nói, chỉ vì mộng xâm lăng của Đế Lai, và do Đế Lai chủ động. Thư tịch cổ vẫn gọi Mẹ là “ái thê” (2), người vợ yêu dấu của Đế Lai. Như thế, kẻ xâm lăng Đế Lai vẫn yêu vợ, nhưng ông ta yêu bước đường xâm lăng của mình hơn. Và chúng ta không hiểu vì sao Mẹ Âu Cơ của chúng ta không chung thuỷ chờ chồng! Mẹ nghĩ mình bị Đế Lai bạc tình, bỏ rơi chăng? Mẹ lạt lòng chăng? Mẹ bị rơi vào thế bị cướp cả tấm thân mình như một chiến lợi phẩm để phải làm vợ Lạc Long quân chăng? Đó là một thói tục không có gì lạ ở thời hồng hoang cổ sơ, thậm chí còn diễn ra ngay ở thời trung cổ. Nhưng dẫu bị rơi vào tình huống ấy, sao Mẹ không thủ tiết, chạy trốn, thậm chí phải tự chấp nhận cái chết để giữ tròn lòng chung thuỷ? Mẹ là nạn nhân của Đế Lai hay nạn nhân của chính Mẹ và cũng là nạn nhân của Lạc Long quân - Người Cha của chúng ta? Hình như chúng ta vừa kính trọng Mẹ nhưng xen vào đó còn có một nỗi oán trách Mẹ. Sao Mẹ Âu Cơ của dân tộc Bách Việt chúng ta không toàn bích? Sao Mẹ không là một khối ngọc không tì vết cho chúng con nghìn thế hệ noi theo? Chúng ta cũng không thể không oán trách cả Lạc Long quân – Người Cha khởi nguyên của dân tộc chúng ta! Thật ra, ai cũng biết thời hồng hoang cổ sơ vốn thế, và như thế là đã đúng “luân thường về phụ tử, phu phụ” (3) của thuở ấy, cách hôm nay đã trên bốn nghìn tám trăm năm (>2879 tr.cn. – 2008 s.cn.). Thử đối chiếu với các huyền thoại khởi nguyên của các dân tộc khác, như Hy Lạp, La Mã, Do Thái (cụ thể là Kinh Thánh), Ấn Độ... từ Âu xa xôi đến Á gần gũi, chúng ta sẽ bớt băn khoăn (3). Mỗi thời, mỗi dân tộc, mỗi đất nước có những luật tục, những luật pháp và tiêu chí văn hoá, đạo đức, văn minh khác nhau. Chỉ với cái nhìn lịch sử - cụ thể, nhận thức lịch sử theo từng thời điểm cụ thể, tình tiết cụ thể với tiêu chí bình phẩm cụ thể, mới hiểu được sự thể này của Mẹ Âu Cơ và Cha Lạc Long quân. Tuy vậy, nhìn vào một khía cạnh khác, ngay trong nguyên vẹn hình tượng huyền thoại, tôi thấy Mẹ Âu Cơ của chúng ta hình như cũng có phần chủ động trong cuộc chia tay với Đế Lai, người chồng cũ, khi đồng ý chung sống vợ chồng với Lạc Long quân, người chồng mới. Đó là sự chia tay với một kẻ xâm lược để trao trọn trái tim mình cho người chống xâm lược. Mẹ Âu Cơ của chúng ta đã chọn chính nghĩa, cho dù đất nước phương Nam sông Dương Tử nhỏ hẹp hơn; Mẹ không chấp nhận chung sống với phi nghĩa, cho dù đất nước phương Bắc sông Dương Tử rộng lớn. Người Cha của dân tộc Việt chúng ta, Lạc Long quân, là biểu tượng của chính nghĩa ấy. Đây là nét chói sáng tuyệt vời trong bi kịch của Mẹ Âu Cơ. Và chắc hẳn Mẹ Âu Cơ vẫn quyến luyến Động Đình hồ phương Nam, quê quán Mẹ (4), cũng là vùng đất thuộc người chính nghĩa Lạc Long quân. Thế rồi, Mẹ Âu Cơ lại rơi vào một bi kịch khác. Lần này, chính Người Cha Lạc Long quân chủ động chia tay Mẹ, vì tuy cùng là người Việt Phương Nam, nhưng mẹ vốn là tộc người (nhân tộc) khác. Cha Mẹ khởi nguyên của chúng ta, thuở ấy, tuy cùng là dân tộc Việt nhưng vẫn khác về nhân tộc, Âu Việt khác với Lạc Việt, khác nòi tộc nhưng chung một dòng giống Việt. Đây chính là bi kịch về sự khác biệt văn hoá tộc người trong đời sống vợ chồng. Người Cha khởi nguyên của chúng ta nói cùng Mẹ, trong buổi chia tay đau đớn ấy: “Ta là nòi Rồng đứng đầu thủy tộc, nàng là giống Tiên sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương khắc, dòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia li. Ta đem năm mươi con về thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống biển, hữu sự báo nhau cho biết, đừng quên nhau” (5). Không có nỗi buồn đau nào lớn hơn đối với một người phụ nữ! Chàng về thiếp một theo mây Con thơ để lại đất này ai nuôi... Mẹ Âu Cơ không còn yêu Đế Lai, vì Đế Lai đã là vua lãnh thổ Phương Bắc, đã trở thành người Phương Bắc qua vài ba đời. Đó cũng là bi kịch về khác biệt lãnh thổ và dân tộc (6). Bi kịch của Mẹ Âu Cơ của chúng ta là thế đó. Bi kịch ấy khai ngộ cho nghìn đời con cháu một nét chói sáng tuyệt vời về ý thức chán ghét kẻ xâm lược, cho dù đó là chồng mình (Đế Lai), và về lòng yêu chính nghĩa chống xâm lược, yêu người cùng nguồn cội dân tộc Việt Phương Nam (Lạc Long quân). Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ bi kịch về sự khác biệt tộc người trong cộng đồng các nhân tộc Việt Nam mà Mẹ Âu Cơ chịu đựng là cuối cùng của loại bi kịch ấy trên đất nước Văn Lang – Việt Nam chúng ta. Nhưng dẫu sao, Mẹ Âu Cơ của dân tộc chúng ta, thuở cổ sơ cách đây hơn bốn ngàn tám trăm năm, cũng là một người phụ nữ chịu đựng đến hai bi kịch chia xa hai người chồng trong một đời người. Nếu chúng ta kính quý Mẹ ở nét chói sáng ý thức về chính – tà, kính cảm thông Mẹ ở nỗi phũ phàng của thực trạng trong nhận thức về sự khác biệt văn hoá tộc người giữa Âu Việt và Lạc Việt kia, cũng không thể nguôi quên niềm bi kịch đau thương này của Mẹ. Và nhiệm mầu của đời Mẹ nữa! Liệu chúng ta đã cảm nhận hết chiều sâu của sự nhiệm mầu ấy? Mẹ Âu Cơ là một người phụ nữ đã hai lần lâm vào cảnh bi kịch đời thường, như chúng ta đã biết. Nhưng Mẹ đã tạo nên một sự thật lịch sử hay chính xác hơn là sự thật về một khát vọng nghìn đời, có thật trong mỗi chúng ta: Khát vọng đại đoàn kết dân tộc. Khát vọng lớn lao này vốn nghìn đời qua đã thể hiện trong thành ngữ hằng ngày: tình huyết nhục, nghĩa đồng bào (tình máu thịt, nghĩa cùng sinh ra từ một bào thai chung). Hình tượng “trăm trứng – trăm con trai khôi ngô, uy dũng – Bách Việt”, hoàn toàn không bao hàm bào thai quái dị, mà chính là bào thai phi thường, chứa đựng ý nghĩa cốt lõi ấy. Mẹ Âu Cơ của chúng ta đã tạo ra một mầu nhiệm tuyệt vời: khái niệm “Đồng bào”. Ngày Lễ Quốc Tổ, chúng ta hiệp giỗ các vị vua Hùng, con cháu mười tám thế hệ của Mẹ Âu Cơ, đồng thời mặc niệm về Người Mẹ Tiên, Người Cha Rồng khởi nguyên, bắt đầu của mọi bắt đầu thuộc về dân tộc ta, hẳn chúng ta không thể quên câu ca dao này: Chàng về thiếp một theo mây Con thơ để lại đất này ai nuôi... Để từ câu ca dao như một lời dạo đầu ấy, chúng ta lắng sâu tâm hồn mình, thấu hiểu hết bao đau đớn trong tấn bi kịch cổ đại Mẹ Âu Cơ, và cũng từ đời Mẹ Âu Cơ, chúng ta tự hào về ý thức chính – tà (xâm lược – chống xâm lược), rút ra bài học về sự xâm lấn giữa các dân tộc chung một Tổ Thần Nông – Viêm Đế (hoàng đế cõi Viêm Giao), vốn được lãnh nhận cùng nhau màu da vàng sáng, nâu giòn, về lòng yêu cội nguồn Việt Phương Nam, đặc biệt là về khát vọng đại đoàn kết dân tộc Việt trong khái niệm “trăm trứng – đồng bào”. TP.HCM., 9 : --12 : 20’, ngày 19-4 HB8 (14 tháng 3 Mậu tí HB8) (1) Trần Thế Pháp và nhiều tác giả khác, “Lĩnh Nam chích quái”, bản dịch của Lê Hữu Mục, Nhà sách Khai Trí, 1960 (?), tr. 43 – 45. Bản khác: “vui quên trở về”; “dân phương Nam khổ vì bị người phương Bắc quấy nhiễu, không được yên sống như xưa”. (2) Sđd., bản dịch Lê Hữu Mục. (3) Sđd., bản khác: “tôn ti, các đạo cha con, vợ chồng”. Thật ra, em họ thúc bá lại lấy vợ cũ của anh thúc bá lại, đối với chúng ta ngày nay vẫn thuộc phạm vi loạn luân. Không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, luật tục “nối dây” giữa hai anh em ruột hiện vẫn còn tồn tại ở vài tộc người thiểu số (ví dụ anh ruột chết, vợ của anh ruột ấy bị bắt buộc phải trở thành vợ cả hoặc vợ thứ của người em ruột). (4) Sđd., bản dịch của Lê Hữu Mục, hẳn chính xác hơn: “Thiếp vốn người Bắc”, có nghĩa là người Âu Việt, thuộc Động Đình hồ, gần biên giới phía Bắc của lãnh thổ Phương Nam (Xích Quỷ quốc = Nước Sao Đỏ [*]), chứ không phải “Thiếp vốn là người nước Bắc”, người của lãnh thổ bên kia sông Dương Tử. Xin đừng hiểu lầm Mẹ Âu Cơ của chúng ta là người Hán - Hoa. Xem: Đại Việt sử kí toàn thư, bản in nội các quan bản (1697), bản dịch (3 tập), tập 1, Nxb. Văn hoá – Thông tin, 2003, tr. 150 (Tl. [tổng luận], tờ 3b – 4a): Tổng luận của Lê Tung: “Kể từ khi Kinh Dương vương, họ Hồng Bàng nối dòng dõi Thần Nông, lấy con gái vua Động Đình, sáng rõ đạo vợ chồng, theo đúng nguồn phong hoá, vua thì lấy đức mà cảm hoá dân, giũ áo khoanh tay. Dân thì cày ruộng, đào giếng, ra ngoài thì làm lụng, trở về thì nghỉ ngơi, chẳng phải là phong tục thái bình cổ của Viêm Đế ư? Lạc Long quân nối đời Hồng Bàng, lấy con gái họ Âu Lạc [Âu Việt? – ct.] mà có điềm lành sinh trăm con trai, tổ của người Bách Việt thực bắt đầu từ đấy, hưởng nước trải nhiều năm, rất là lâu dài, đã giàu thọ lại nhiều con trai, từ xưa đến nay chưa từng có. [*] Bị chú của chú thích (4): Quỷ là một trong hai mươi tám ngôi sao được gọi là “Nhị thập bát tú”. (5) Sđd. và bản khác: giống nhau (chỉ khác cách sử dụng từ để diễn đạt, không có dị biệt về ngữ nghĩa). (6) Trước thời điểm li thân cùng Cha Lạc Long quân, trong những quãng thời gian Cha Lạc Long quân về Thuỷ Phủ, Mẹ Âu Cơ cũng có khi nhớ về Bắc quốc (bên kia sông Dương Tử); thậm chí, mặc dù bấy giờ Đế Lai đã chết bởi thua trận, dòng vua Thần Nông cũng bị chấm dứt, và Bắc quốc đã bị xâm chiếm bởi Hoàng Đế, Mẹ Âu Cơ cũng có lần đã quay về nước ấy (tuy chỉ mới đến biên giới, thì đã bị Hoàng Đế chặn lại). Đó chỉ là nỗi hoài niệm và cuộc trở về một nơi chốn mà một thời Mẹ Âu Cơ đã sống, thuở Đế Lai còn làm vua ở đó. Xem lại chú thích (4): Mẹ Âu Cơ của chúng ta không phải là người Hán – Hoa (Bắc quốc). TRầN XUÂN AN
-
Tiếp. " -Việt Nam xem ở dưới . . . . . . . Hình Bóng Mẹ Đời Trên Đồ Đồng Cổ ở Đông Nam Á: .Hình mẹ đời thấy trên: -ngôi nhà nòng không gian, vũ trụ âm có mái hình vòm ô dù trên mặt trống Sangeang Malakamau, Nam Dương. Hình Mẹ Đời trên trống Sangeang Malakamau. -trên một trống moko. Hình Mẹ Đời trên một trống moko, Nam Dương. -trên một mảnh đồng tìm thấy ở Vân nam (hiện để tại British Museum). Hình Mẹ đời trên mảnh đồng Đông Sơn, Côn Minh, Vân Nam (British Museum, 1948, 10 -13). Hình xoắn cuộn ở hai bên và hình sóng ở dưới xác định người ngồi thuộc dòng âm nước tức Mẹ Đời (xem thêm chương Hình, Dấu và Biểu Tượng trên Trống Đồng Đông Nam Á). Hình Bóng Mẹ Đời Trong Chữ Viết Nòng Nọc Trong bộ sưu tập những hình khắc trên đồ đồng Đông Sơn của nhà khảo cổ học Hà Văn Tấn mà ông cho rằng đây có thể là những chữ viết cổ, theo tôi đây chính là những chữ, những hình ngữ nòng nọc (xem chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng). Trong những chữ này, chữ thứ ba từ trái qua phải mang hình ảnh một người đàn bà đang ngồi ở tư thế sinh con giống hình Cây Đời Sống, Cây Tam Thế. Bộ sưu tập những hình khắc như chữ viết trên đồ đồng Đông Sơn của Hà Văn Tấn. Hình Mẹ Đời có hình người đàn bà ngồi ở tư thế sản phụ khoa (obstetric position) đang sinh con với hai chân bẹt ra, hai tay giơ lên đầu (chữ số 3 từ trái qua). *Xin ghi tâm điểm này: Sự hiện diện của Mẹ Tổ, Mẹ Đời (và Cha Đời) trên trống nói chung và nhất là trên trống đồng âm dương cho thấy trống đồng âm dương mang ý nghĩa biểu tượng cho sự Sống, Con Người, Thần Tổ Loài Người, cho Cây Đời Sống, Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế hay nói chung, trống đồng âm dương mang biểu tượng của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. CHA ĐỜI Theo duy dương hay trong xã hội phụ quyền, thần tổ của loài người là một người nam, là cha đời, tổ phụ. Người này thường đứng giơ hai tay cao lên trời (xem chương Khái Lược Về Vũ Trụ Giáo trong Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Nói tóm lại hình người đưa hai tay lên đầu mang hình bóng của một hình cây, của Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống diễn tả con người đầu tiên của nhân loại, con người nguyên khởi, là thần tổ của loài người (ngồi ở vị thế sinh con là tổ mẫu hay đứng giơ tay cao lên trời là tổ phụ), là đấng tạo hóa, đấng sinh tạo, đấng chí tôn, là thần tổ, là tổ tiên... Hình Bóng Mẹ Tổ Âu Cơ ở Bảo Tàng Viện Lịch Sử, Hà Nội. Riêng ở Việt Nam hình bóng Mẹ Đời, Mẹ Tổ Âu Cơ cũng thấy khắc ghi lại trên các mảnh đất nung hay “Gạch trang trí người theo phong cách dân gian” hiện đang trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội. “Gạch trang trí người theo phong cách dân gian” (triều Lê Trung Hưng thế kỷ 15-17?,Viện Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội). Khối đất nung để đứng cho thấy hình một người ngồi ở tư thế sinh con. Hình người mặc quần không thấy rõ bộ phận sinh dục, nên không biết rõ giống phái nhân vật này một cách trần truồng (!). Tuy nhiên theo chính thống, với vị thế ngồi sinh con thì ta phải nghiêng về phía Mẹ Đời. Mấu chốt chính ở đây là tai có đeo hoa tai. Hình tai phóng lớn cho thấy hoa tai. Quần ở đây có dây rút thắt rất chặt không phải là thứ khố dây của phái nam, trông rất sexy kiểu Victoria secret, kín hở cho thấy phần ở hai bên đũng quần trông căng phồng khiến ta có ấn tượng đây là hai mép lớn (labia majora) của bộ phận sinh dục nữ. Vú cũng căng phồng. Mặt trái soan đầy nữ tính (mặt hình trứng cũng diễn tả người vũ trụ, sinh tạo). Mũi dọc dừa. Môi mỏng thanh tao. Đầu ngả qua một bên, mặt thanh thản, hiền thục như đang mơ, không có nhiều hùng tính, nam tính. Đầu ngả về phía bên trái (của người nhìn) tức phía âm. Rõ nhất hai bên người có hình đĩa Thái Cực, Trứng Vũ Trụ cho biết nhân vật này mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa liên hệ với âm dương, Vũ Trụ giáo. Những chi tiết trên khiến ta nghiêng về phía nữ, Mẹ Đời. Dù gì đi nữa, thì ta cũng biết chắc chắn đây là hình ảnh của một Thần Tổ loài người có mặt trong văn hóa Việt Nam. \ Cũng xin lưu tâm một điểm rất quan trọng là trong tất cả các hình Mẹ Đời ngồi ở vị thế sinh con ở khắp các nơi trên thế giới chỉ có hình ở Việt Nam này là có hình đĩa thái cực hay Trứng Vũ Trụ ở hai bên. Điều này trước hết khẳng định là hình tượng này là biểu tượng cho sinh tạo, tạo hóa, là Mẹ Đời dựa trên nguyên lý lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương, dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo và là ý nghĩa chính gốc, là lời giải thích căn bản cho các hình tượng này của toàn thể thế giới. Những giải thích khác của các nền văn hóa khác đều có thể là đã đi xa ý nghĩa gốc cội này của dân gian Việt Nam. Thứ đến cũng khẳng định là nguyên lý lý lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương, dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo là cốt lõi của văn hóa Việt Nam còn lưu truyền trong dân gian Việt Nam. Khối đất nung để nằm cho thấy một người nữ ở tư thế sinh con đang mang bầu hình tròn hay đẻ ra một cái bọc tròn. Nhìn tổng thể bọc tròn biểu tượng cho Bầu Hư Không, Bầu Vũ Trụ, Trứng Vũ Trụ, Bầu Trời Thế Gian, Trứng Thế Gian, Bầu Sinh Tạo, Bầu Tạo Hóa (bầu có một nghĩa là mang thai). Nhìn dưới diện Tổ Hùng, đây chính là hình ảnh Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng chim sinh ra Trăm Lang Hùng. Một lần nữa, ta thấy rõ như dưới ánh sáng mặt trời Việt hừng rạng, qua hình ảnh Mẹ Đời, Mẹ Tổ hình Cây Vũ Trụ với “phụ đề” hai hình đĩa Thái Cực, Trứng Vũ Trụ ở hai bên và hình Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra bọc trứng còn thấy trên cổ vật theo “phong cách dân gian” cho thấy cái cốt lõi của văn hóa Việt là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo và Việt Dịch Nòng Nọc. Tài Liệu Tham Khảo . A. J. Bernet Kempers, The Kettledrums of SouthEast Asia .Hà Thúc Cần, The Bronze Đông Sơn Drums .Hans Scharer, Ngaju Religion, baœn dịch Anh ngữ cuœa Rodney Needham, The Hague-Martinus Nijhoff, 1963. .James Churchward: The Lost Continent of Mu, 1969 Paperback Library Edition, Coronet Communications Inc. .Nguyễn Xuân Quang: -Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt (Y Học Thường Thức, 1999). -Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt (Y Học Thường Thức, 2002). -Tiếng Việt Huyền Diệu (Hừng Việt, 2004). -Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (Y Học Thường Thức, 2006). -Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (sẽ phát hành vào cuối tháng năm tới đây). -The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á (khoahoc.net 18 tháng 11 năm 2007). .Phạm Huy Thông chủ biên, Đong Son Dums In Viet Nam, The Viet Nam Social Science Publishing House, 1990). .Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 2004. [/color] Hết
-
Tiếp. .Châu Âu Ở Châu Âu hình ảnh Mẹ Đời đã bị chùi xóa gần như mất hết, ngày nay chỉ còn sót lại một vài hình bóng. Ví dụ trên đầu một cột trụ với kiến trúc thời Romanesque ở nhà thờ Piacenza ở Ý có hình Mẹ Đời tay để lên đầu hai người có mình chim ở hai bên. Hình bóng Mẹ Tổ trên đầu cột trụ kiến trúc kiểu Romanesque ở nhà thờ Piacenza (Bernheimer 1931, Fig.150). Đây là hình bóng một bà hai ông (người chim có “chim” nên là phái nam), ba vị thần tổ đầu tiên của con người thấy trong nhiều truyền thuyết sáng thế (myths of creation) giống như Nàng Kịt với Đá Cần, Đá Cài của Mường Việt cổ. Nhiều khi hình bóng Mẹ Đời đã thay đổi (như hai tay đã buông thõng xuống nhưng vẫn có hình bộ phận sinh dục nữ). Hình sheela na Gig thường cho là có gốc từ sự thờ phượng tiền-Thiên Chúa giáo (pagan) của Ireland còn thấy trong Thiên Chúa giáo ở Anh và nhiều nơi khác ở châu Âu. Hiện nay có nhiều giả thuyết giải thích về hình sheela na Gig này. Sheela na Gig (Irish Sile na gCioch) (St Mary and St David Church, Kilpeck Herefordshire, England). Nhưng tôi thấy giải thích cho đây là Celtic Goddess of creation and destruction (Nữ Thần Tạo Hóa, Sinh Tạo và Hủy Diệt của người Celtic) hay Goddess of Fertility (Nữ Thần Mắn Sinh) là gần cận nhất với hình bóng Mẹ Đời, Nữ Thần Tổ trong Vũ Trụ Tạo Sinh. Cũng xin nói thêm ở đây là từ sheela biến âm với Việt ngữ “thì la”, “thì lẩy” (s=t như sụt = tụt) chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua bài đồng dao “Thì la, thì lẩy, Con gái bẩy nghề... (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). .Châu Á -Trung Hoa Hình bóng người ngồi ở tư thế sinh con cũng thấy trong văn hóa cổ Trung Hoa. Đây có thể là dấu vết bị ảnh hưởng của các nền văn hóa mẫu hệ cổ hay họ bị “đồng hóa ngược” bởi các nền văn hóa mẫu hệ mà họ xâm chiếm vì người Trung Hoa vốn gốc là dân võ biền theo phụ hệ. Dĩ nhiên họ giải thích hình người ngồi ở tư thế sinh con này theo quan điểm phụ hệ. Ví dụ điển hình là hình Thần Tổ ngồi ở tư thế sinh con thấy trên một trống làm bằng đồng (không phải là trống đồng âm dương Đông Sơn để hở đáy) đời nhà Thương. Hình Thần Tổ trên một trống đồng kiểu nhà Thương (kỷ vật tác giả mua ở Trung Hoa). Các học giả Trung Hoa dĩ nhiên giải thích hình này theo văn hóa võ biền của họ, không cho đây là hình bóng Mẹ Đời. Tuy nhiên ta thấy rất rõ hình người này khắc trên trống mà người Trung Hoa gọi là gu (cổ) có một nghĩa là “cây” (Tục Giết Trống Đồng), liên hệ với Cây Đời Sống thì như đã thấy đây phải là hình bóng của Mẹ Đời, Mẹ Đời Sống. Xin lưu ý là thân người này hình tam giác ngược có đỉnh chỉ địa, một dạng biến thể của chữ viết nòng nọc V có một nghĩa là âm, nữ, bộ phận sinh dục nữ như đã thấy trong The Da Vinci Code mà Dan Brown gọi là chalice (The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á)." Còn tiếp
-
(tiếp) Thần Tổ Loài Người Đơn Tính Phái Về sau Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực phân cực thành cực âm và dương, con người lúc này có Mẹ Nguyên Khởi và Cha Nguyên Khởi. Mẹ Nguyên Khởi (Mẹ Tổ, Mẹ Đời, Tổ Mẫu, Thần Mẫu). Theo duy âm, người đầu tiên sinh ra nhân loại là một người nữ, là Mẹ Nguyên Khởi. Xã hội loài người khởi đầu theo mẫu quyền nên Cha đời là hình bóng muộn thấy trong các xã hội phụ quyền. Chúng ta có Mẹ Đời (Dạ Dần, Âu Cơ) thuộc một nền văn hóa tối cổ. Mẹ nguyên khởi, qua dòng thời gian có các tên gọi tương đương như Mẹ Tổ, Mẹ Đời, Tổ Mẫu, Thần Mẫu, Thần Nữ, Vương Mẫu, Nữ Vương... là người nữ đầu tiên sinh ra nhân loại, là người nữ nguyên khởi, là thần tổ nữ của loài người là đấng tạo hóa, đấng sinh tạo, đấng chí tôn nữ, là mẹ tổ... Thần Tổ Nữ của loài người sinh ra từ Cây Đời Sống thường được diễn tả bằng một hình người ngồi ở tư thế sinh con hai chân dang rộng ra và hai tay đưa lên cao khỏi đầu. Xin lưu ý trong chữ viết, hình dấu nòng nọc, ngồi mang âm tính và đứng mang dương tính ví dụ trống có một nghĩa là đực, dương (gà trống) nên những người đánh trống trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I thường ngồi để có sự hòa hợp, hôn phối dương âm và cối mang âm tính (cối biến âm với cái) nên những người giã cối thường đứng để có sự hòa hợp, hôn phối âm dương (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Theo chính thống Mẹ Đời thường ở vị thế ngồi trong khi Cha Đời thường ở vị thế đứng (tuy nhiên trong những trường hợp không chính thống hay “rỏm”, Mẹ Đời có thể đứng và Cha Đời có thể ngồi, cần phải dựa vào các chi tiết khác như bộ phận sinh dục, vú hay các đồ trang sức như hoa tai để nhận diện). Hình ảnh Mẹ Đời, Mẹ Nguyên Khởi ở tư thế ngồi sinh con này còn thấy nhiều trong nghệ thuật nguyên sơ (primitive arts), nghệ thuật dân gian và trong nhiều nền văn hóa theo Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo ở khắp nơi trên thế giới. Hãy lấy một vài ví dụ. .Các Đảo Thái Bình Dương -Indonesia .Đảo Tanimbar Mẹ Tổ tối cao, tối thượng ở một bàn thờ tổ tiên tại một ngôi nhà ở đảo Tanimbar. tiên ở một ngôi nhà ở Tanimbar. Vị thế ngồi sinh con và đôi hoa tai khẳng định vị tổ này là một người nữ, là Mẹ Tổ. .Đảo Celebes. Trên một chiếc quan tài đá (waroega) có hình Mẹ Đời mang ý nghĩa sinh tạo, tái sinh hay siêu thoát về miền hằng cửu. Hình quan tài đá (waroega), Minahasa, Celebes (Bertling 1931, Fig.32). Từ waroega chỉ quan tài đá có nghĩa là “nơi thân xác được cởi mở hoàn toàn” (the place where the body is unbound completely) hàm nghĩa siêu thoát. -New Guinea Hình Mẹ Đời hay Thần Mẫu thấy trên một thanh gỗ ngang của một chiếc ca-nô ở đảo Trobriand, New Guinea. Hình Mẹ Tổ trên thanh gỗ ngang của một ca-nô, đảo Trobiand, New Guinea) (theo Seligman 1910, Pl.LXV). .Úc châu Trong những hình khắc trên đá (petroglyphs) có một hình biểu tượng người đàn bà ngồi ở tư thế sinh con, ngày nay hiểu là “vong linh tổ tiên” (spirit ancestor). Hình khắc trên đá của thổ dân Úc châu hiện nay được giải thích là “spirit ancestor”. Hiển nhiên đây là hình ảnh của Thần Tổ loài người, Mẹ Tổ, Thần Mẫu, Tổ Tiên... sinh ra từ Cây Đời Sống. .Mỹ châu -Nooka Hình Mẹ Đời hay Thần Mẫu ở một ngôi nhà của tộc Nooka ở đảo Vancouver. Hình vẽ ở một nhà của tộc Nooka, đảo Vancouver (vẽ lại từ hình của Provincial Archives, Victoria, B.C.) Hai hình linh thú nước (mythical water creatures) ở hai bên có đuôi là chữ nòng nọc móc câu có nghĩa là nước mang âm tính (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á) cho thấy rõ thêm đây là Mẹ Đời. -Aztec Hình Thần Mẫu của Aztec ngồi ở vị thế sinh con. Đây là một ví dụ điển hình cho thấy chắc chắn một người nữ ngồi ở vị thế sinh con hai tay dơ lên trời là Thần Mẫu. Thần Mẫu của Aztec, Codex Borbonicus p.13 (theo Thompsom 1939, fig.1a) -Ecuador Hình Mẹ Đời hay Thần Mẫu trên một phiến đá của Ecuador. Thần Mẫu trên một phiến đá của Ecuador, Manibí, Ecuador. Museum of the American Indian (Saville 1910, Pl. IV,6). .Châu Phi Hình Mẹ Tổ trên một tấm phướn tác giả chụp tại khu văn hóa châu Phi ở Triển Lãm Quốc Tế International Expo, Hanover, Đức quốc vào tháng 8, 2000. Còn tiếp
-
Nguyễn Xuân Quang HÌNH BÓNG MẸ TỔ ÂU CƠ Ở BẢO TÀNG VIỆN LỊCH SỬ, HÀ NỘI. Theo truyền thuyết, Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra một bọc trứng nở ra Trăm Lang Hùng. Nhưng có lẽ chưa một người Việt Nam nào nhận diện ra được hình bóng Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra bọc trứng này trong khảo cổ vật. Tôi đã tìm thấy Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra một bọc trứng hiện đang được trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Lịch Sử, Hà Nội. Trước hết, muốn tìm ra hình bóng Mẹ Tổ Âu Cơ ta phải biết rõ Thần Tổ của loài người nói chung được diễn tả như thế nào? Hình bóng Mẹ Tổ Âu Cơ nói riêng được diễn tả ra sao? Có biết rõ được hình bóng của Mẹ Tổ thì chúng ta mới nhận diện ra được Mẹ Tổ Âu Cơ trong cổ vật. Xin nhắc lại ở đây, tôi đã viết nhiều lần, cốt lõi của văn hóa Việt là Vũ Trụ giáo, mặt trời giáo và Việt Dịch nòng nọc còn ghi rõ trong Sử Sách (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), trong Sử Miệng (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt) và trong Sử Đồng (Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á, sẽ phát hành vào cuối tháng năm tới đây). Mẹ Tổ Âu Cơ bắt buộc phải mang trọn vẹn ý nghĩa cốt lõi của văn hóa Việt, phải là biểu trưng của văn hóa Việt Nam. Xin nhắc sơ qua một chút về Vũ Trụ giáo dựa trên nòng nọc âm dương. Vũ trụ khởi đầu từ Hư Vô (Vô Cực) rồi có âm có dương nhưng hãy còn quyện vào nhau tức Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực (theo âm dương nhất thể, đây là một khuôn mặt của Bọc Trứng của Mẹ Tổ Âu Cơ). Trứng Vũ Trụ phân cực thành Lưỡng Nghi tức phân ra âm, cực âm (vũ) và dương, cực dương (trụ) (theo duy dương của Trăm Lang Hùng, ứng với hai ngành Cha Nước, Mẹ Lửa). Âm dương giao hòa sinh ra Tứ Tượng. Tứ Tượng âm và Tứ Tượng dương gom lại thành bát tượng ứng với Bát Quái của Dịch. Tứ Tượng âm và dương liên tác với nhau sinh ra vũ trụ, muôn loài gọi là Tam Thế, được biểu tượng bằng một cây, gọi là Cây Tam thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống. THẦN TỔ LOÀI NGƯỜI Cây Đời Sống sinh ra sự sống, muôn sinh, trong đó có con người là chủ thể. Như đã biết qua các bài viết trước, Cây Đời sinh ra đời sống thấy rất rõ qua ngôn ngữ học. Việt ngữ Sống liên hệ với Cây. Trong tiếng Việt, từ sống có ít nhất ba nghĩa: sống là sự sống (life), sống là đực (male) như gà sống và sống là cột, cây như cột sống là xương cột trụ, xương sống là cột xương, sống lưng là cột lưng ăn khớp trăm phần trăm với Anh ngữ vertebral column. Như thế sống trong Việt ngữ vừa có nghĩa là Sự Sống và vừa có nghĩa là Cây, cột ăn khớp trăm phần trăm với nghĩa của Cây Đời Sống sinh ra sự Sống. Như đã biết trong giáp cốt văn từ Sinh khắc hình cây có nghĩa là mọc (grow), ruột thịt với mộc là cây. Giải tự Hán ngữ Sinh, ta có chữ tam (ba) có ba nét ngang ứng với Tam Thế và một nét thẳng đứng xuyên qua chữ tam là Trục Thế Giới. Chữ tam và nét thẳng đứng biểu tượng Cây Đời Sống. Cây này sinh ra sự sống trong đó có con người vì thế nét ngang trên cùng của chữ tam có thêm một nét phẩy ở bên trái. Nét ngang có thêm dấu phẩy này chính là chữ nhân có nghĩa là người. Rõ ràng chữ sinh diễn tả Cây Đời Sống sinh ra chữ nhân, con người. Con người là biểu tượng cho sự sống cho muôn sinh vật. Từ sống có một nghĩa là cây, cột là vậy. Con người là tiểu vũ trụ con của đại vũ trụ. Đại vũ trụ được biểu tượng bởi Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống, vì thế thần tổ loài người phải do Cây Đời Sống sinh ra. Điều này thấy rõ qua truyền thuyết cổ Việt-Mường là Dạ Dần, Mẹ Người (Mường ngữ Dạ là người đàn bà đã có con, là mẹ, Dần biến âm với dân, nhân là người) là Mẹ tổ của Mường Việt nói riêng và nói chung là của cả loài người do cây si sinh ra. Cây si thuộc họ cây đa, biểu tượng cho Cây Vũ Trụ, Cây Đời (người Thái ở Nghệ An có cây đa là Cây Vũ Trụ) (xem Cây Đa Rụng Lá Sân Đình trong Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt). Tín đồ Thiên Chúa tôn thờ chiêm ngưỡng cây giáng sinh vào ngày sinh của Chúa, một vị Thần Tổ của loài người. Cây giáng sinh hiện nay được giải thích theo nhiều cách nhưng nhìn dưới diện Vũ Trụ Tạo Sinh, hiển nhiên cây giáng sinh mang hình ảnh của Cây Đời, Cây Vũ Trụ sinh ra Thần Tổ loài người nên mới được chiêm ngưỡng tôn thờ trong ngày sinh của Chúa. Con người do Cây Đời Sống, Cây Vũ Trụ sinh ra, vì thế con người đầu tiên, con người nguyên khởi (primordial being) hay thần tổ loài người (Supreme Being) nói riêng (và cả con người nói chung), được biểu tượng bằng hình người giống hình cây. Tôi gọi là "người-cây vũ trụ" hay người vũ trụ. Dấu vết Người hình Cây còn thấy trong văn hóa của người Inuit (trước đây người Inuit được các tộc khác gọi là Eskimo, có nghĩa là Tộc Người Ăn Cá Sống) ở vùng Bắc Cực (Canadian Artic, Alaska, Greenland). Inuit có nghĩa là Người. Inuit liên hệ với Man, Mán, Mường (Mol) chúng ta vì Man, Mán, Mường cũng có nghĩa là Người. Họ có cách vẽ quang tuyến X (Xray painting) trông thấy các phần, các bộ phận bên trong của người, thú, vật giống như thổ dân Úc châu nghĩa là cùng một cách vẽ Xray của người Đông Sơn thấy trên trống đồng âm dương. Người Inuit có những kiến trúc thiêng liêng thường làm bằng những hòn đá chồng lên nhau gọi là Inuksuk (số nhiều là Inuksuit)có nghĩa là Giống Hình Người (human-like stone structures). Inuk có nghĩa là “human being”. Kỷ vật Inuksuk của người Inuit tác giả mua ở vùng Canadian Rocky Mountain. Ngày nay con cháu người Inuit giải thích Inuksuk là “Things that can act in the place of human being” hay “to act in the capacity of a human”. Các hình tượng Dạng Người này thường dùng như những chỉ thị, những mốc địa danh, bảng hiệu ví dụ như dùng để đánh dấu đường về, chỉ chỗ có thể tìm được thức ăn, nơi dự trữ đồ ăn, thực phẩm. Inuksuit cũng có thể sử dụng để chỉ những chỗ thiêng liêng, cõi chết, nơi có sự tái sinh, nơi thần linh ở. Như thế, thật sự ra hình tượng Dạng Người này của tộc Người (Inuit) ta phải hiểu tới tận nguồn cội mới chỉnh. Hình Inuksuk này cũng trông giống hình cây. Đây chính là hình ảnh của Người Vũ Trụ sinh ra từ Cây Đời Sống, hình ảnh của Thượng Đế, của Thần Tổ của con Người, Thần Tổ của Inuit, Thần Tổ của Man, Mán Mường chúng ta. Đây chính là hình ảnh Thần Tổ Dạ Dần của Mường Việt sinh ra từ Cây Si một thứ Cây Đời, Cây Vũ Trụ. So sánh người và cây ta thấy: đầu tương ứng với vòm cây biểu tượng Thượng Thế, hư không hay bầu vũ trụ, bầu thế gian; hai tay ứng với cành cây, biểu tượng cho Trung Thế, chân là gốc cây biểu tượng Hạ Thế và thân người là thân cây hình trụ biểu tượng Trục Thế Gian (với phần cổ là Núi Trụ Thế Gian). Điểm này giải thích tại sao các tộc Săn Đầu Người (Head Hunters) ở Nam Trung Hoa, ở Nam Dương (có liên hệ với người cổ Việt) chặt đầu kẻ thù làm tế vật dâng cúng Tạo Hóa, Trời Đất, Thượng Đế, Thần Tổ... Ví dụ như Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống của người Dayak có chiếc sọ người trên chóp đỉnh biểu tượng cho Thượng Thế, Tạo Hóa. Thờ sọ người là một thứ sùng bái thờ đấng Tạo Hóa, thờ Thượng Đế, thờ Thần Tổ loài người, Thờ Tổ Tiên, Cúng Ông Bà... thờ Cây Đời Sống, Cây Vũ Trụ. .Thần Tổ Loài Người Lưỡng Tính Phái (Bán Nam Bán Nữ). Theo đúng Vũ Trụ thuyết dựa trên âm dương, con người nguyên khởi hay thần tổ loài người sinh ra ở giai đoạn nguyên thủy từ Trứng Vũ Trụ (hạt Cây Vũ Trụ) hay Thái Cực có âm dương đề huề phải là một con người có lưỡng tính phái, có cả âm lẫn dương hay nói một cách khác phải là người bán nam bán nữ. Điều này giải thích tại sao trong nhiều nền văn minh cổ, Thần Tổ loài người là một người bán nam bán nữ hay bán nữ bán nam. Hãy lấy một vài ví dụ điển hình. Ấn giáo có vị thần tổ tối cao tối thượng là Thần Sinh Tạo, Tạo Hóa Bhrama. Để tạo ra thế giới Bhrama sinh ra bốn người con trai (sinh theo vô tính phái, tự mình tách ra làm hai, rồi hai thành bốn). Nhưng vì toàn là đực rựa nên bốn người con trai này không biết làm sao mà sinh đẻ ra các vị thần khác và loài người được. Bhrama bèn biến mình thành lưỡng tính phái, bán nam bán nữ. Lúc này Bhrama ứng với Trứng Vũ Trụ, Thái Cực do đó có dương có âm mới sinh tạo được (sinh sản theo hữu tính phái). Bhrama tạo ra thế giới gọi là Bhramanda. Bhramanda có anda có nghĩa là trứng. Bhramanda có nghĩa giản dị là Trứng Vũ Trụ Bhrama. Ta thấy rất rõ lúc Bhrama ở dạng nhất thể ứng với Trứng Vũ Trụ nên mới tạo ra được thế giới gọi là Trứng Bhrama. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt Bhrama nhất thể tương ứng với Viêm Đế hiệu Thần Nông còn ở dạng nhất thể (lưu ý từ hiệu cho biết Thần Nông chỉ là một thứ tên khác tức một khuôn mặt khác của Viêm Đế). Bhrama có bhra- là sáng ruột thịt với Việt ngữ Bật (làm cho sáng như bật sáng, bật đèn, bật lửa) liên hệ với lửa, lửa vũ trụ, mặt trời, cùng nghĩa với Viêm có nghĩa là Nóng liên hệ với Lửa. Viêm biến âm với Diêm (que bật ra lửa). Hiển nhiên Viêm Đế hiệu Thần Nông (nhất thể) cũng ở dạng lưỡng tính phái (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Thần Mặt Trời Tạo Hóa Atum của Ai Cập, vào thời có Pyramid Texts, được nhận diện là Ra. Atum Nhất Thể (Totality) là một vị thần lưỡng tính nên có lưỡng phái. Atum tự nhập với bóng mình (shadow) hay thủ dâm để sinh ra các vị thần khác. Atum khạc nhổ ra con trai là Thần Không Khí Shu và ói ra con gái Teftnut. Như thế Thần Mặt Trời Ra là thần Mặt Trời Tạo Hóa, Mặt Trời Sinh Tạo (Sun as Creator), Thần Mặt Trời âm dương, Thần Mặt Trời ái nam ái nữ. Các Bodhisattvas (Bồ Tát) của Phật giáo thật sự nguyên thủy có tính vô tính (asexual) hay lưỡng tính phái, lưỡng thể. Phật Bà Quán Thế Âm (Goddess of Mercy) nguyên là một vị Bồ Tát Bhodisattva Avalokieshvara có bản thể lưỡng tính phái được giáng thế để cứu nhân độ thế. Khởi thủy ở Ấn Độ và khi mới nhập vào Trung Hoa ngài là một người nam (Đức Dalai Lama của Tây Tạng được cho là hiện thân của vị này) sau đó trở thành một người nữ. James Churchward có in lại hình một tượng người hai đầu nam nữ đào được dưới thành Karakhota, cố đô Uighur, ở sa mạc Gobi, mang hình ảnh của một Bồ Tát lưỡng phái. Người lưỡng phái mang hình bóng Bồ tát có hai đầu nam nữ đào được dưới thành Karakhota, cố đô Uighur, ở sa mạc Gobi (James Churchward). Ông Adam của Thiên Chúa giáo cũng lưỡng tính phái. Thượng Đế lấy xương sườn của ông để tạo ra bà Eva (xương sườn hình cong mang âm tính). Vì thế ta thường thấy một người ái nam ái nữ (lại cái) giữ một vai trò quan trọng trong thuật đồng bóng. Nhân vật này là hiện thân hay đội lốt Tạo Hóa, các đấng Sinh Tạo ái nam ái nữ. Với cốt này, các nhân vật đồng bóng ái nam ái nữ mới liên hệ và thay quyền hành sử của các đấng thiêng liêng ở dạng nhất thể một cách hữu hiệu hay ngay khi các thần tổ lưỡng tính phái đã phân thành hai phái riêng biệt thì với cốt ái nam ái nữ, họ cũng vẫn liên hệ với cả hai phái một cách hữu hiệu.
-
Đền thờ mẹ Âu Cơ ________________________________________ Theo truyền thuyết dân tộc ta là con Rồng,cháu Tiên. Bà Âu Cơ kết duyên cùng Lạc Long Quân, có thai 3 năm 10 ngày, sinh được một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai.Nhưng ông giống Rồng, bà giống Tiên "thủy hỏa tương khắc ", không thể sống với nhau lâu dài, nên ông đem năm mươi người con xuống biển. Còn bà đem năm mươi người con lên núi. Nơi Lạc Long Quân đem con xuống biển chính làng Bình Đà, huyện Thanh Oai, Hà Tây. Nơi Âu Cơ đem con lên núi là làng Hiền Lương, huyện Sông Thao-Vĩnh Phú ngày nay. Ơở Bình Đà(miền xuôi)hiện còn đền thờ Lạc Long Quân, và làng Hiền Lương(miền ngược) ,hiện có đền thờ Âu Cơ, được xây dựng từ thời Hậu Lê, năm 1465.Làng Hiền Lương(nay là xã Hiền Lương )có ba thôn là Hiền Lương (người tốt), Nang Sa(túi cát)và Tiểu Phạm, ở hữu ngạn sông Thao, địa danh tận cùng của tỉnh Phú Thọ, giáp với Yên Bái và Nghĩa Lộ cũ.Thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp, Hiền Lương nằm trong xã Âu Cơ bao gồm cả các thôn, xã như Quân Khê(phía trong)Động Lâm, Trung Hà (phía dưới)-gần đây mới tách ra thành xã Hiền Lương gồm 3 thôn kể trên. Đây là vùng tam hồ, nhị thủy địa linh nhân kiệt, giàu có và nên thơ.Ngòi Vần và sông Thao bao quanh xã.Phía tây núi Nả, núi Giáp cao sừng sững án ngữ, giàu lâm sản. Dưới hai chân núi này là đầm sâu trong vắt, nhiều tôm cá.Cánh đồng Hiền Lương và Động Lâm khá rộng, lúa tốt vào loại nhất tỉnh xưa nay.Tương truyền Bà Âu Cơ vốn là người Trời giáng trần đi du ngoạn dân gian, thấy nơi này giàu có, đất đẹp, người hội tụ, liền ở lại, dạy dân cấy lúa, trồng dâu chăn tằm... Vì thế mãi cho đến các đời sau ở đây còn có đồng cây hóp, cây dâu, cây cau, cây vải, có giếng loan, giếng phượng... Đền thờ Mẹ Âu Cơ được thành lập năm 1465, vào thời Hậu Lê, nằm giữa cánh đồng Hiền Lương khoáng đạt, tốt tươi lúa màu, được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa từ tháng 8 -1991. Cây đa lớn bao trùm lên đền, tỏa bóng mát rượi quanh năm. Bà con kể rằng, cây đa bị sét đánh nhiều lần, nhưng chưa bao giờ cằn cỗi. Trong đền, tượng Mẹ Âu Cơ thật đẹp, đặt ở nơi cao nhất. Nhiều nhà điêu khắc đến đây chiêm ngưỡng Mẹ cho rằng, đó là pho tượng tạc theo lối tả thực, nghệ nhân xưa cố gắng diễn tả. Bà là Tiên, vừa đẹp vừa phúc hậu, lại có tài kinh bang tế thế. Theo thần tích, và riêng việc Mẹ chọn vùng Hiền Lương để ở lại đã chứng tỏ điều này. Trong đền còn có tượng con trai thứ hai của Mẹ. Tương truyền, người con này là một trong các vị tướng của Mẹ, tài ba, trung hiếu bên Mẹ suốt đời được tôn là "Thượng đẳng thần". Từ vài ba năm nay khi trời sang sông ấm áp, dòng người quanh vùng và cả nước đổ về dự hội đền Mẹ Âu Cơ vào ngày mồng 7 tháng giêng, ngày một đông. Bà con theo đường sắt Hà Nội - Lào Cai, xuống ga Âấm Thượng hoặc Đoan Thượng, đi đò qua sông Thao, ngược lên một chút là đến Hiền Lương. Cũng có thể đến ga Yên Bái, qua cầu Âu Lâu đi xuôi vài km kế địa phận Yên Bái là đến đền Mẹ. Hiện nay cũng rất tiện lợi, bà con có thể bằng ôtô xe máy ngược Hà Nội - Sơn Tây qua phà Trung Hà, Cầu Phong Châu hoặc cầu sông Bứa, bám theo đê lớn sông Thao hơn 100 km là đến tận trung tâm Hiền Lương, đền Mẹ. Đến các vùng thượng du trùng điệp núi đồi này, cháu con không những có dịp thắp nén hương thành kính tưởng nhớ người xưa mà còn được thưởng thức cảnh sơn thủy hữu tình, tìm hiểu lịch sử xa xưa và gần gũi. Bởi vì đây cũng chính là vùng căn cứ cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Nguyễn Quang Bích, Đề Kiều và trước Cách mạng tháng Tám là chiếm khu kháng Nhật Ngòi Nần nổi tiếng. Trong tương lai gần, cùng với khu Ao châu, đây sẽ là vùng du lịch liên hoàn với cảnh trí không phải nơi nào cũng có được. Đầm Vân Hội, nước sâu thẳm, trong veo, có bề rộng gấp đôi Hồ Tây, Hà Nội ở cách đền Âu Cơ không xa, đang được nghĩ tới để trở thành một khu nghỉ, khu chơi mà người xưa biết chọn, người ngày nay biết biến thành sự thật. Sáng 18-1- 2005 tỉnh Phú Thọ đã trọng thể tổ chức lễ khánh thành đền Quốc Mẫu Âu Cơ. Được khởi công ngày 18-9-2001, đền Quốc Mẫu Âu Cơ được đặt trên đỉnh núi Vặn có độ cao 170m, là một trong "tam sơn cấm địa" trong Khu di tích lịch sử đền Hùng (xã Hy Cương - huyện Lâm Thao) bao gồm: Núi Hùng (còn gọi là núi Nghĩa Lĩnh), núi Vặn và núi Trọc. Với tổng mức đầu tư 25 tỷ đồng từ nguồn vốn Trung ương và ngân sách tỉnh, đền Quốc Mẫu Âu Cơ do Viện bảo tồn di tích (Bộ Văn hoá thông tin) thiết kế theo kiến trúc cổ truyền thống, Công ty tu bổ di tích, Công ty mỹ thuật Trung ương và các nhà thầu phụ thi công. Đền gồm các hạng mục: Nhà Tả Vu, Hữu Vu, nhà bia, nhà đón tiếp, các công trình sân vườn và đền chính rộng 137m2, trong có đặt tượng Lạc Hầu, Lạc Tướng và tượng Quốc Mẫu Âu Cơ bằng đồng được lấy theo nguyên mẫu tượng Âu Cơ đang thờ ở Đền Mẫu tại xã Hiền Lương (Hạ Hoà - Phú Thọ). Từ đây, mỗi khi về với đất Tổ, du khách thập phương có thể thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của mình bằng cách bước hơn 560 bậc đá lên thắp hương tôn vinh công đức của Quốc Mẫu Âu Cơ - người mẹ huyền thoại, thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, nơi khởi nguồn của hai tiếng "đồng bào" gần gũi, keo sơn. Cùng công trình đền Quốc Mẫu Âu Cơ đã được khánh thành tỉnh Phú Thọ cũng đang gấp rút hoàn thành công việc chuẩn bị cho giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2005. Nguồn: website tỉnh Phú Thọ