Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Công Minh

Hội viên
  • Số nội dung

    284
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    4

Everything posted by Công Minh

  1. Anh Linh Trang và Minh Châu lại gây bất ngờ lớn rồi ??? CM
  2. Bước ra sân mà hít thở vận khí, tiếp sức đi bạn. Ứng quẻ nhiều nó thế đấy. Đây là hao tổn chân khí, do sự nối thông giữa tiểu vũ trụ với đại vũ trụ. Cỗ máy mà nỗ lực chạy nhiều, thì tất yếu phải tốn nhiên liệu. Chưa kể đến chuyện ngày quên ăn, đêm quên ngủ để mà coi bóng đá nữa.Việc này hỏi Luke sẽ rõ. Nhưng không sao đâu. Có dịp thuận tiện, tớ sẽ bày cho cách khởi động nguyên khí nhanh nhất. Vui quá ! chúc đội tuyển LVĐT chiến thắng. Công Minh từ đầu giải đến giờ, toàn ngồi ghế dự bị. :) Công Minh
  3. Trên lòng bàn tay Lâm Thanh Huyền Dịch giả : Phạm Huê Tương truyền dưới triều nhà Minh, tại phủ Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến có một chàng tú tài tên là Lương Bính Lân là một người tài cao học rộng. Ngoài chữ nghĩa văn chương anh còn có đủ tài về cầm, kỳ, thi, họa, lại thêm khéo tay trong nghề điêu khắc, tạc tượng. Một năm nọ, Lương tú tài lên kinh đô ứng thí. Anh rất hài lòng về những bài làm trong thi trường, vì vậy Lương Sinh mang một tâm trạng hớn hở trở về nhà chờ đợi tin vui. Khi đi ngang qua phủ Dương Châu, anh vào tá túc qua đêm trong một ngôi cổ miếu. Ðêm hôm ấy, trong giấc mộng, Lương Sinh thấy ba vị tiên Phúc, Lộc, Thọ đến viếng thăm chuyện trò cùng anh. Những vị tiên này còn cùng anh hát xướng rất là vui vẻ. Khi tỉnh giấc điệp, Lương Sinh cảm thấy lòng dạ lâng lâng, anh nghĩ rằng đây có thể là những điềm báo tốt đẹp về bước đường công danh của anh sẽ được rực rỡ sau này. Sáng ngày hôm sau, trước khi rời khỏi ngôi cổ miếu lên đường trở về nhà, anh đứng van vái với trời đất rồi xin một quẻ xâm. Quẻ xâm anh rút được là xâm thượng và có lời lẽ như sau: Ba đoạn văn chương nhập triều ca, Trúng được khôi nguyên ấy chẳng xa, Công danh hiển hách qui chưởng thượng, Phú quí vinh hoa tại nhãn tiền. Chưởng thượng nghĩa là trên lòng bàn tay, nếu đoán theo nghĩa xâm thì đường công danh của anh nằm trong lòng bàn tay. Lương Sinh nghĩ rằng lần này chắc chắn sẽ đậu được khôi nguyên, vì chính thần linh đều đến chúc mừng và lời tiên đoán trong quẻ xâm tốt lành như vậy thì còn nghi ngờ gì nữa. Về đến nhà, anh vội vàng mở tiệc linh đình đãi đằng thân thuộc. Nào ngờ khi kết quả của triều đình công bố thì không có tên của Lương Sinh, ngay đến hàng tiến sĩ cũng không có thì còn nói gì đến khôi nguyên. Lương Sinh đâm ra chán nản. Ðiều mà anh cảm thấy thắc mắc là tại sao ngay đến thần linh cũng trêu chọc, đùa cợt anh đến mức độ này. Từ đỉnh cao hy vọng, tụt xuống hố sâu tuyệt vọng, Lương Sinh không còn luyến tiếc đến công danh nữa. Anh quyết chí từ bỏ con đường khoa bảng, từ đó anh vận dụng sự khéo léo của đôi bàn tay để điêu khắc những tượng gỗ, từ những tượng gỗ này, anh bỗng nảy ra ý định dùng chúng làm trò múa rối. Trước hết anh dùng chỉ xỏ vào tay chân của hình nộm để điều khiển sự hoạt động, sau đó anh soạn cốt truyện, đặt lời ca. Những hình nộm được sáng chế càng lúc càng nhiều, những nhân vật từ văn quan, võ tướng, Thừa Tướng, Trạng Nguyên cho đến tiểu thư, ca kỹ và đầy đủ những hạng người trong xã hội. Lúc đầu việc làm của anh chỉ là một trò tiêu khiển, sau đó anh mang gánh hát múa rối ra trình diễn cho dân trong làng thưởng thức. Người dân thôn dã ít có những môn giải trí, cho nên sau giờ làm việc đồng áng cực nhọc ban ngày, người ta tụ lại nhà anh để xem hát vào lúc ban đêm. Nhờ cốt truyện được chọn lựa công phu, lời ca tiếng nhạc có ý nghĩa nên trò múa rối của Lương Sinh dần dà trở thành món ăn tinh thần của người dân quê. Nhiều người ham muốn môn nghệ thuật này đã tìm đến thọ giáo, cũng có nhiều người không ngại đường xa ngàn dặm đã đến xem và học hỏi. Một hôm, Lương Sinh soạn cốt truyện cho một vở tuồng mới mà trong đó nhân vật chánh sau bao năm vất vả, cuối cùng đã thi đỗ Trạng Nguyên cưới được vợ đẹp, trở thành một nhân vật cột trụ của triều đình và sống một đời vinh hoa phú quí. Lương Sinh bỗng sực nhớ lại hai câu trong lá xâm mà anh đã xin được ngày xưa: Công danh hiển hách qui chưởng thượng, Phú quí vinh hoa tại nhãn tiền. Phải chăng lời xâm của thần linh đã tiên đoán có một ngày anh sẽ đạt được công danh hiển hách trên "lòng bàn tay", và sẽ nhìn thấy phú quí vinh hoa ở ngay "trước mắt". Từ đó, Lương Sinh càng chăm chú hơn nữa trong việc phát huy ngành nghệ thuật múa rối. Sau nhiều năm trau dồi, cải tiến anh đã trở thành một bậc tôn sư. Nghệ thuật múa rối tiếp tục hơn 400 năm và hãy còn lưu truyền lại ở những vùng nông thôn các tỉnh Phúc Kiến, Ðài Loan. Tên tuổi của Lương Bính Lân luôn được người ta nhắc nhở đến như là thánh tổ của một ngành nghệ thuật. Xưa nay đã có biết bao nhiêu bậc Trạng Nguyên, Tiến Sĩ, Công Hầu, Khanh Tướng, thế nhưng có được bao nhiêu vị mà tên tuổi được người đời sau nhớ đến. Nếu đem ra so sánh thì có lẽ "phú quí vinh hoa nhất thời" của họ không thể nào qua mặt "tên tuổi" anh chàng Lương Bính Lân dù chỉ có "công danh hiển hách trên lòng bàn tay" này. Trong những gánh hát múa rối, người ta thường thấy có những câu đối liễn với nhiều ngụ ý sâu xa và triết lý như: "Ngàn dặm đong đưa hai ba bước, Trăm năm nhúc nhích một đôi giờ" Trong một rạp hát múa rối bé tí teo thì không gian và thời gian đều bị rút ngắn lại. Khoảng cách muôn ngàn dặm chỉ đi lại trong vòng hai ba bước. Thời gian cả trăm năm cũng chỉ diễn đạt trong một vài phút, một vài giờ. Hoặc: "Vào cổng này, Công, Hầu, Khanh, Tướng, Ra cửa kia, Sĩ, Nông, Công, Thương" Những bậc Công Hầu Khanh Tướng xưa nay có mấy ai ngồi tại vị suốt trăm năm. Trong cuộc đời của những kẻ làm nên nghiệp cả chắc chắn cũng có những phút giây trôi nổi lên voi xuống chó, kẻ được người thua hôm nay làm vua ngày mai làm giặc kể sao cho xiết. Hoặc như: "Trung Hiếu lưỡng toàn tam nghĩa tiết, Văn võ cao thăng Vạn Lý Hầu" Lời lẽ trong những câu đối liễn này thật đáng để cho ta ngẫm nghĩ. Tổ sư Lương bính Lân của ngành múa rối, mãi cho đến lúc thành danh mới ngộ ra được cái câu "công danh hiển hách trên lòng bàn tay". Nếu như chúng ta dùng một phương thức qui nạp để nhận định thì sẽ thấy rằng không những chỉ có những hình nộm trong nghệ thuật múa rối, mà ngay đến cuộc sống của con người, chẳng phải đều bị điều khiển bởi chính bàn tay của chúng ta hay sao? Công danh hiển hách có thể nằm trên lòng bàn tay, mà ngay cả một đời lận đận cũng không thể nhảy khỏi số mạng của lòng bàn tay. Trong gánh hát múa rối, người đứng sau lưng cánh gà điều khiển cốt truyện mới thực sự là nhân vật chánh. Trong tay anh ta chỉ huy lủ khủ hàng chục, hàng trăm hình nộm. Do cái ý niệm trong đầu, anh ta có thể biến hình nộm này thành người hiền lương, hình nộm kia thành kẻ gian ác, tất cả sự sống, cái chết, thành công, thất bại của những hình nộm đều được điều khiển bởi hai bàn tay của anh. Trong khi diễn tuồng, anh ta có đầy đủ quyền lực sinh sát hàng trăm con người vô tri không cử động kia, nhưng đến khi vở tuồng chấm dứt, khách xem tản mát ra về, tất cả những con người gỗ, hình nộm đều đã nằm trong đáy rương, anh ta ngồi xề xuống gánh hàng rong bán lúc giữa khuya húp sùm sụp tô cháo gà thì bạn có thể nhìn thấy ngay chính cuộc đời của anh ta cũng chẳng khác gì một thứ hình nộm bị điều khiển trong chính đôi bàn tay của anh ta. Ngày xưa lúc còn ở quê nhà, khi xem xong một tuồng hát, tôi thường lang thang trước cổng rạp, trong cõi lòng có một chút gì luyến tiếc hình như không muốn ra về. Mỗi một câu chuyện đều có đoạn kết thúc, mỗi một tuồng hát đều phải đi đến chỗ chung cuộc. Ðôi khi bước ra khỏi rạp hát tôi có cái ảo giác, nghĩ rằng nếu như linh hồn của chúng ta bị rút khỏi thân xác hiện hữu thì con người có khác gì những thằng người gỗ trên sân khấu đâu? Chúng ta đi xem hát mà cảm thấy cõi lòng rung động là vì chúng ta có được một linh hồn bất diệt. Nếu như chúng ta chân thật hóa kịch bản của những tuồng tích thì sẽ thấy rằng cuộc đời của con người và những nhân vật múa rối không một chút khác biệt. Hằng ngày chúng ta vượt qua bao nhiêu thời gian và không gian cũng chẳng qua là do vấn đề cảm giác. Từ giờ này qua giờ kia không có sự gián đoạn. Từ ban ngày bước vào ban đêm cũng không có sự cắt đứt. Trước khi chúng ta sinh ra trên cõi đời này, thời gian và không gian đã hiện hữu, sau khi chúng ta lìa khỏi thế gian này, thời gian và không gian cũng vẫn còn tiếp tục tồn tại. Khi chúng ta tập trung tinh thần vào cốt truyện thì thấy những hình nộm đã chiếm trọn vẹn không gian của sân khấu, thế nhưng khi ta thờ ơ lãnh đạm với vở tuồng thì những hình nộm kia lại trở thành nhỏ bé đáng thương. Cũng như lúc ta đặt trọng tâm vào cuộc sống hàng ngày ta sẽ thấy bản thân là trung tâm của vũ trụ, nhưng một lúc nào đó khi đứng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ thì sẽ thấy con người chúng ta mới bé bỏng làm sao. Vận mệnh của những hình nộm nằm trên lòng bàn tay. Vận mệnh của chúng ta cũng nằm trên lòng bàn tay. Một điều khác biệt là những hình nộm thì bị kẻ khác điều khiển, còn chúng ta may mắn hơn, có thể dùng đôi tay của mình để sáng tạo một cõi trời đất mới. Giở đôi bàn tay ra, chắc chắn ta sẽ thấy được những chỉ tay chằng chịt. Tướng mệnh học có thể dự đoán tương lai của con người nhờ lòng bàn tay, những nhà tướng số thì cho biết trên thế gian này không có một bàn tay nào giống bàn tay nào, do đó không có vận mệnh của người nào giống người nào cả. Thế nhưng thế gian mà chúng ta đang ở đã do nhiều bàn tay họp lại xây dựng, những sự sáng tạo vĩ đại trên đời cũng đều do bàn tay con người làm ra. Có một lần tôi gặp một nhà tu hành, tôi nhờ ông dùng phương cách đơn giản nhất để tóm tắt phương pháp tu luyện của tín đồ Phật giáo. Nhà sư trả lời: - Chỉ có ba chữ Thân, Khẩu, ý. Mỗi ngày chỉ có thân, khẩu, ý, mỗi ngày hãy tự hỏi ta đã làm gì, ta đã nói gì, và ta đã nghĩ gì? Mỗi tháng cũng thân, khẩu, ý. Mỗi năm cũng thân, khẩu, ý, và cả đời cũng chỉ thân, khẩu, ý. Ðó chính là phương cách tu hành tốt nhất. Nhiều chuyện nói ra thì thật đơn giản, thế nhưng muốn tuân theo nguyên tắc để làm thì không dễ đâu. Nếu như chúng ta hàng ngày giở đôi bàn tay ra và tự hỏi rằng: "Ðôi tay của ta trước kia đã làm gì? Hiện nay đang làm gì? Tương lai sẽ làm gì?" Ðược như vậy, bạn có thể tưởng tượng rằng trên lòng bàn tay của ta lúc nào cũng là một kịch trường sống động, mà bạn có thể diễn được tấn tuồng và vai trò mà bạn thích. ..........
  4. Chào bạn. Bạn lên vào đúng các chuyên mục như Tử vi - Tử bình... để đặt vấn đề, nhờ các anh chị có học thuật về các môn pháp đó. Bé còn nhỏ.Chưa nhất thiết phải coi số đâu. Bạn có thể nhờ chị Phúc Anh xem họ tên, biết về tính cách của bé để tham khảo. Công Minh
  5. Có gì đâu anh Gia Nhân. Toàn bài nhặt đó mà. Em còn đang nợ một " tiều luận" về lịch Việt mà chưa có thời gian gõ được. Vâng đúng là con nhiều vấn đề phải đặt câu hỏi và tìm cách trả lời cho đúng "vị trí" của nó, anh ạ. Chúc anh vui khoẻ.
  6. Do chú Thiên Sứ chưa thực sự khỏe, nên chúng tôi đã đề nghị chú điều dưỡng cho hết liệu trình của bác sĩ, mới tổ chức chuyến đi này. Tuy nhiên thời gian chờ cũng ko lâu lắm đâu. Chị NH yên tâm. Về phương tiện di chuyển nhóm LVDT sẽ chủ động. Chị có thể gửi PM, cho tôi xin số điện thoại để tiện liên hệ. Chúc chị vui khỏe và tinh tấn . Công Minh
  7. Như vậy, thì căn nhà này có "nghi án" về phong thủy .? Và như vậy kính đề nghị chú Thiên Sứ và nhóm PTLV, vào một ngày đẹp trời nào đó tổ chức đi "giải mã" căn nhà này. Sẽ có những thông tin mới , những câu trả lời cho hiện tượng được nói trên, thật hấp dẫn. Mời các bạn đón đọc . :lol: Công Minh
  8. Và tiếp theo đây là một lời xác nhận của một người " trong cuộc", đã từng làm việc trong căn nhà đó : Bài của thành viên Chimboica bên trang Thế giới vô hình . Bữa nay chimboica mới lò mò đọc được bài viết này, xin mạn phép kể thêm chút chút. Chimboica từng làm việc 5 năm tại tòa nhà chú Hỏa, là nhân viên của Bảo tàng Mỹ thuật. Đúng ra, thì nhà chú Hỏa là số 97 Phó Đức Chính, Quận I. Nhưng sau 1975, nhà nước tiếp quản, rồi phân ra làm 2, số 97 là cơ quan của Trung tâm Thông tin Triển lãm, còn số 97A là Bảo tàng Mỹ thuật. Chimboica làm việc ở số 97A, cũng có một số điều được biết - nghe kể lại và tận mắt thấy: - Tất cả các cửa chính, cửa sổ trong tòa nhà đều được thiết kế không đối diện nhau, và kích thước của từng cửa sổ và cửa lớn đều không giống nhau. - Ngay tại phòng làm việc của chimboica ( phòng Hành chánh) thì đặc biệt là vào giờ nghỉ trưa, chỉ có mỗi mình chimboica ( người Hoa) và một chị kế toán ( ăn chay trường ) ngủ trưa được tại phòng, bởi vì ngủ rất ngon, máy lạnh mà , nói vậy cho vui thôi, chứ còn các chị khác thì hễ nằm xuống là bị bóng đè, đặc biệt có chị còn thấy mấy đứa trẻ để tóc kiểu ba vá nói tiếng Hoa giật tóc, không thể nào nằm yên được. - Tại tầng 1,2 là các phòng triển lãm tranh, đặc biệt các nhân viên thuyết minh tranh ở đây cũng không bao giờ dám ở một mình, họ cảm thấy rất sợ và ớn lạnh như có ai ở phía sau. - Tất cả những người từng làm việc tại cơ quan này thì chỉ trở nên phát tài sau khi rời khỏi nơi này ( còn các sếp tham nhũng thì không nói rồi, nhân viên làm gì kiếm được khoản nào). Điều này mình nghe được từ 01 chị thủ quỹ, cũng không tin lắm, sau này mình bỏ việc ra ngoài kinh doanh thì thấy rất đúng với bản thân mình. - Khi Tổng thống Bill Clinton sang Việt Nam, chính Lãnh sự quán Mỹ đã chọn tòa nhà này để tổng thống tiếp các quan chức thành phố, bởi vì một điểm đặc biệt là sân sau của tòa nhà rất kín, được bao bọc bởi kiến trúc phía trên, từ phía ngoài không thể nào nả đạn được. Lúc này, chimboica vẫn còn đang làm ở đây cho nên biết rất rõ. - Các nữ nhân viên vào làm ở đây nếu đã có gia đình rồi thì không sao, còn không thì sẽ bị ế dài dài, nếu có lập gia đình cũng là rổ rá cạp nhau hoặc sứt đôi gãy gánh. Nếu không tin, có thể tìm hiểu, hiện tại các nữ thuyết minh tranh trên lầu đang ế dài, người nhỏ nhất cũng trên 30, còn lớn thì gần 50 rồi, cũng không quá tệ nhưng không hiểu tại sao? - Còn các nam nhân viên kể các sếp nam thì chẳng có mặt nào đáng bậc quân tử : tính đàn bà, chi li, lấy vợ thì vợ đã có 2 con rồi mà cũng không biết, hoặc bỏ vợ. - Sau 5 năm làm ở đây, thấy chẳng thể nào ngóc cái đầu lên, chimboica nghỉ ngang ra ngoài làm kinh doanh và sống cũng tạm, chắc là nhờ trời thương. - Hiện nay, sếp toàn quyền Bảo tàng này là nữ, cũng không có con cái gì hết, lại đau ốm liên miên. - Cho đến giờ, toàn bộ những người làm cùng thời với chimboica cũng nghỉ gần hết, nhưng tính ra chỉ có chimboica và chị kế toán ăn chay trường là sống an ổn, thanh nhàn, còn tất cả thì đau bệnh suốt, chật vật vô cùng, điều này cũng chẳng biết tại sao? Chimboica viết bài này không có ý gì hết, chỉ muốn nói lên những điều sữ thật đã được biết, được thấy, và khuyên nếu bạn nào có con em dự tính vào làm việc ở đây thì nên cân nhắc, bởi phong thủy của tòa nhà này rất mạnh, nó không chỉ ảnh hưởng tới những người làm việc tại tòa nhà này, mà còn ảnh hưởng tới những người đang thuê mướn mặt bằng ở đây ( gallery Không Gian Xanh: người con trai của chủ nhân này lấy vợ 3 tháng rồi chia tay, Nhật Lệ: cô chủ nhỏ này là một người rất đẹp nhưng chuyện tình cảm thì chẳng êm ấm chút nào, Lạc Hồng: nữ chủ nhân này cũng sống cảnh Mom Single, ....) Một bữa đẹp trời nào đó, mời quý vị quá bộ đến nơi này để xem tranh, hy vọng sẽ phần nào thỏa mãn kiến thức về phong thủy. - Hôm nào đẹp trời mời bạn ghé qua chỗ này thưởng lãm các tác phẩm nghệ thuật, tiện thể ngắm nghía các cô thuyết minh tranh trên lầu : Ms Nguyệt, Ms Nhiên, Ms Thúy, Ms Mai... vẫn còn độc thân mặc dù họ khá xinh xắn, dịu dàng. Đặc biệt, cô Mai, khi vào làm tại đây đang là sinh viên năm thứ 1, sau 3 năm thì ba mẹ Mai lần lượt qua đời dù họ còn khá trẻ, bây giờ Mai vừa đi làm vừa may đồ thêm mới để sống và nuôi cậu em trai. - Nhà chú Hỏa chính xác là khối nhà được bao bọc bởi 4 con đường : Phó Đức Chính - Nguyễn Thái Bình - Calmet - Lê Thị Hồng Gấm. Các căn nhà nằm trên 04 con đường này ( đối diện nhà chú Hỏa) chỉ có thể buôn bán và làm ăn nhỏ nhỏ, trung bình, khó có thể phất lên được, nếu làm lớn chắc chắn sẽ sập tiệm ngay. Để ý kỹ, chúng ta thấy chỉ có quán ăn nhỏ, buôn bán đồ lặt vặt, giày dép. - Eximbank cũng thuộc nhà chú Hỏa, từng một thời điêu đứng, sau đó nghe nói phải mời thầy từ Hồng Kông sang. - Khi chimboica vào đây làm thì đang mang thai baby 2 tháng, sinh bé xong 3 năm sau rời chỗ này, còn mấy anh chị ở đây nghỉ việc là do đến tuổi hưu, tinh giảm biên chế và thanh trừng của sếp mới. - Sếp nam ở đây có sếp Hòang ( trên lầu chỗ trưng bày tranh) là người khó chịu có tiếng, ly hôn và nuôi con. Sếp Thắng thì cũng cũng ly hôn rồi kết hôn. Anh Sơn ở bảo vệ thì yêu và lấy 01 cô phụ bếp đã có 02 con, rồi lại ôm con nuôi một mình, chị của anh này là Xuân cũng có đường tình duyên vất vả. - Còn nữa, cô Hảo bán cà phê ở đây, cô Chi cháu cô Hảo, cô Nga phòng tranh Không Gian Xanh, cô Lạ Chồng ( phòng tranh Lạc Hồng - ơ đây gọi thế ), cô Lệ phòng tranh Nhật Lệ, .... - Sau thời gian sếp mới về, có nhiều chuyện ra đi của nhân viên cũ, nhưng thông tin chimboica biết được thì hình như các cô gái vào đây làm thời gian sau đều trở thành cổ vật, mặc dù họ rất duyên dáng, dịu dàng, có học vấn khá. Nhờ bị sếp đì cho nên chimboica tạm biệt nơi này, ra ngòai kinh doanh và mua được nhà, dọn ra ở riêng, kết thúc 10 năm làm dâu. Phải nói rằng chimboica vẫn mang ơn ông sếp đó vô cùng, nếu ông ấy không đì thì chắc bây giờ chimboica cũng tanh tành. Còn chuyện thực hư của phong thủy ở tòa nhà này, chimboica đành chờ lời giảng giải của các cao nhân trong diễn đàn, nghe nói rằng phải 100 năm sau mới hóa giải được. Riêng mộ chú Hỏa, chimboica thường lên chỗ này để thăm mộ cha của mình, nghĩa trang này của người Hoa, rất sạch sẽ, quy củ, mộ được chôn theo từng hàng, có số hẳn hoi. Khi còn sống, cha chim bói cá khẳng định rằng không ai có thể biết được chú Hỏa chôn ở đâu. Các con cháu của chú Hỏa hiện nay đều rất thành đạt, họ về Việt nam nhưng không có ý đòi lại những tài sản của chú Hỏa, có điều họ than phiền về chuyện sân sau của Bảo tàng mỹ thuật được làm sân cầu lông, điều này làm mất đi vẻ đẹp của tòa nhà. May mắn là chimboica không biết đánh cầu lông, mà sếp thì rất mê môn này, vì thế chimboica bị đì hòai là vậy. Chimboica
  9. Bài của Như thông đưa lên nằm trong loạt bài của báo SGGP, được nhiều diễn đàn dẫn đăng. Dưới đây là phần tiếp theo CM lấy về từ SGGP online . Kỳ II: “Hồn ma” trong ngôi nhà cổ SGGP:: Cập nhật ngày 21/05/2007 lúc 14:45'(GMT+7) Cũng như chuyện chú Hỏa xuất thân ra sao và vì đâu trở nên giàu có lạ thường, chuyện về “hồn ma” trong dinh thự chú Hỏa cũng có nhiều giai thoại huyền hoặc chẳng kém... Giai thoại http://www.sggp.org.vn/dataimages/original...s182670_14A.jpg Căn phòng này, theo nhiều người, là căn phòng trước kia con gái chú Hỏa ở. Ảnh: S.P Vào thời ấy, ngoài bộ phim “Con ma nhà họ Hứa” do đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện trước 1975, đã có không ít sách báo và cả sân khấu cũng không bỏ lỡ cơ hội khai thác đề tài này bên cạnh những câu chuyện truyền khẩu góp phần làm cho sự thật càng thêm mờ mịt. Theo những lời đồn đại, chú Hỏa có hàng chục người con trai nhưng con gái thì chỉ có một, lại rất xinh đẹp nên chú đặc biệt cưng chiều. Bỗng nhiên, không còn ai thấy cô con gái ấy xuất hiện nữa. Từ đó, vào những đêm khuya thanh vắng, từ trong tòa nhà vẳng ra tiếng kêu khóc thảm thiết. Rồi một sáng, người Sài Gòn giở nhật trình ra, ngỡ ngàng thấy có mẩu tin chú Hỏa đăng cáo phó báo con gái mất. Mẩu tin còn cho biết do con gái bị bạo bệnh ra đi bất đắc kỳ tử, lại nhằm vào giờ trùng nên tang lễ chỉ làm sơ sài, thi hài sẽ được đưa đi an táng tại khu đất thuộc Long Hải, cạnh ngôi biệt thự nghỉ mát của gia đình. Từ đó, dư luận bắt đầu đồn đại dữ dội, không ít người quả quyết đã tận mắt thấy “hồn ma” con gái chú Hỏa đêm đêm xuất hiện trong khu nhà gào rú, khóc than. Người khác bảo thấy có bóng áo trắng, tóc xõa, phất phơ lướt đi trong đêm, dọc hành lang, qua những cửa sổ để ngỏ (dinh thự chú Hỏa đặc biệt có rất nhiều cửa sổ). Một hôm, đám người hiếu kỳ vồ lấy một anh thợ được thuê vào dinh thự sửa chữa điện, rồi cùng toát mồ hôi lạnh khi nghe anh này kể về một căn phòng rất đặc biệt trên tầng cao nhất. Phòng rất đẹp và đầy đủ tiện nghi nhưng lại rất giống một phòng giam bởi sự kiên cố và bí hiểm bao trùm. Cửa ra vào phòng này có khoét một ô nhỏ và anh thợ điện quả quyết đã nhìn thấy người làm rón rén truyền khay thức ăn qua ô cửa nhỏ đó… Các câu chuyện được dịp bùng nổ. Người bảo con gái chú Hỏa còn sống, người bảo đã chết, người nói cô con gái ấy còn sống nhưng cũng như đã chết vì bị tâm thần… Về ngôi biệt thự ở Long Hải, người ta tiếp tục đồn rằng tất cả những người làm của tiểu thư lúc còn sống đều được chuyển tới Long Hải để phục dịch cho… người chết. Thời gian sau, các tờ báo lá cải Sài Gòn lúc đó lại đưa tin: vì hám của (người Hoa thường chôn theo người chết nhiều của cải), nên vào một đêm, hai tên trộm lẻn vào quật mồ con gái chú Hỏa và họ thấy quan tài trống rỗng… Một quyển sách có tựa đề “Ngôi mộ cổ nhà họ Hứa” khá phổ biến trên văn đàn người VN tại hải ngoại, của tác giả Phạm Phong Dinh lại viết: cô con gái chú Hỏa tên thật là Hứa Tiểu Lan, mất vì bệnh nan y, được chôn cất trong ngôi mộ cổ cạnh nghĩa trang Biên Hòa. Một hôm có anh thương binh tên Tính, tình cờ đi lạc vào khu nghĩa trang. Đoạn này, sách mô tả: “Dưới ánh trăng mờ, Tính trông thấy một cái bóng trắng đang đi vòng quanh những nấm mồ, tà áo dài bay phất phới theo từng cơn gió đùa. Một con cú đang đậu trên chòm cây cao su rúc lên một tràng dài kinh dị. Có lẽ nó đã trông thấy chiếc áo trắng ma quái chập chờn giữa những nấm mồ hoang...”. Sự thật? Chú Hỏa có cô con gái đang độ tuổi thanh xuân, đột nhiên mắc bệnh nan y mà y học lúc đó phải thúc thủ. Chú Hỏa mặc dù tài sản vô số, cũng đành bất lực nhìn con gái chịu đau đớn về thể xác và tinh thần. Vì con gái cứ gào khóc đêm đêm và tự hành hạ, hủy hoại mình khiến xuất hiện quá nhiều lời đồn đại. Chú Hỏa buộc phải nhốt con gái trong một căn phòng kín và sai gia nhân chăm sóc nhưng tiếng kêu than đau đớn của cô gái nhiều khi không cách gì kìm hãm đã vượt thoát qua những bức tường dày của ngôi dinh thự, làm kinh hồn những người bất chợt nghe thấy, nhất là trong những đêm khuya. Đôi lần, khi những người làm bất cẩn, cô gái lập tức thoát ra khỏi căn phòng, hình hài tiều tụy, tóc tai xõa xượi, bù rối, cười cười khóc khóc chạy khắp các dãy hành lang… Càng về sau, khi những lời xầm xì làm ảnh hưởng đến chuyện làm ăn kinh doanh và uy tín của cả gia đình, dù rất đau đớn, chú Hỏa một mặt cáo phó cho con gái, mặt khác kín đáo đưa con gái về nghỉ dưỡng tại khu biệt thự ở Long Hải (sau này là khách sạn Palace trên bãi biển thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu), sai người tiếp tục trông nom, chăm sóc cho đến ngày cô gái ấy thực sự qua đời tại nơi này. Thế nhưng, con người thành đạt và giàu có vốn rất giỏi suy tính ấy ít nhất đã tính sai trong việc đánh lừa dư luận bởi sau đó những lời đồn đãi còn dữ dội hơn và ngày càng đi quá xa. Và, trong vô số các mẩu chuyện huyễn hoặc, câu chuyện trên có lẽ gần sự thật hơn cả. Thế nhưng, cũng theo nhiều người, mọi sự thật về chú Hỏa và con gái chú đã theo chú xuống mồ. “Con ma nhà họ Hứa” trở lại? ] Ngôi nhà có “hồn ma” con gái chú Hỏa nay đã được dùng làm nơi triển lãm, trưng bày các tác phẩm nghệ thuật, hàng ngày mở cửa đón khách trong và ngoài nước đến tham quan. Diện mạo mới cùng sự ngăn nắp, sang trọng và không khí nghệ thuật ngập tràn đã đẩy lùi vẻ thâm u của dinh thự và phần nào đẩy lùi những giai thoại huyền hoặc chất chứa đầy màu sắc mê tín vào quá khứ. Nhưng, trong một chuyến về nước, đạo diễn Lê Hoàng Hoa - một đạo diễn say mê làm phim kinh dị hiện đang sinh sống tại Ba Lan - đã hâm nóng sự quan tâm của mọi người về đề tài “hồn ma con gái chú Hỏa”. Ông dự kiến sẽ làm bộ phim kinh dị với tựa đề “Con ma nhà họ Hứa trở về” với các diễn viên Nguyễn Chánh Tín, Lê Khanh, Thúy Hằng... Bối cảnh được tiết lộ sẽ quay tại Đà Lạt (trong một ngôi biệt thự rất nổi tiếng bởi lâu nay chịu cảnh hoang phế cũng vì lời đồn đoán có… ma!). Chưa biết chuyện phim sẽ khai thác đề tài này ở góc độ nào nhưng theo nhận định của một số người trong nghề, chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm của khán giả bởi sự hấp dẫn, gợi tò mò vốn có của câu chuyện mang đầy màu sắc ly kỳ này. SONG PHẠM
  10. Các bạn thân mến. Với hơn 2000 lượt truy cập vào tiểu mục này, trong khi giải bóng đá vô địch châu âu 2008 mới khởi tranh và chưa có nhiều trận cầu nóng bỏng cho lắm. Điều này cho thấy : trong những ngày tới Bóng đá với LVĐT sẽ sôi động không kém trên sân cỏ tại Áo và thụy Điển. Những ngày ở VN nói riêng và có lẽ gần như cả thế giới nói chung, mọi người dễ dàng nghe thấy những từ ngữ có liên quan đến bóng đá như " trận" " bóng banh " " cầu" " kèo " ..... trong giao tiếp, sinh hoạt. Từ một chị bán rau cổng chợ, với câu ca thán về ông chồng thân yêu : " Lão nhà em đêm qua xem đá bóng suốt đêm, sáng nay lấy hàng muộn bác thông cảm". Hay câu chào nhau buổi sáng của giới viên chức, trong quán cà phê sáng : ' Đêm qua ông dự mấy trận ?" Thể thao và nhất là bóng đá dễ đem con người xích đến gần nhau. Có thể không cùng dân tộc, không cùng một ngôn ngữ nhưng sự hứng khởi vui mừng, buồn bã rất giống nhau và dễ hòa hợp khi trên cùng một khán đài, cùng một sự hâm mộ. Huống chi ! Nhưng muốn được như vậy phải có một thứ thể thao đẹp, bóng đá đẹp. Đã là thi đấu sẽ phải có sự thắng bại, có vui mừng, khích lệ và có buồn tủi, chê trách. Thể thao đẹp dù thua hay thắng phải là sự cống hiến. Thi đấu phải nhiệt tình, phải xả thân vì màu cờ sắc áo nhưng luôn trên tinh thần fair -play, luôn tôn trọng đối thủ cũng như khán giả. Tên tuổi của môt danh thủ bóng đá có thể nổi tiếng hơn một nguyên thủ quốc gia. Họ nổi tiếng về tài năng, về tiền bạc về điều hay và cả nết xấu. Sự nổi tiếng đơn thuần quanh những cái như vậy cũng chỉ có thời, người ta sẽ lãng quên anh ta khi có một danh thủ khác nổi lên thế chỗ. Vấn đề lưu tiếng của anh ta lại là chuyện khác. Không có gì danh thơm lưu mãi bằng tài năng + đạo đức. David Beckham đến Mỹ, anh ta không chỉ nỗi tiếng ở tài năng. Điều mà anh ta thu phục nhân tâm của mọi người là ở thái độ và đạo đức. Chả vậy mà bây giờ, tuy đã vào tầm xế chiều của phong độ trên sân bóng, nhưng tiếng tăm của anh ta vẫn nổi như cồn khắp thế giới. Xin xem thêm bài : Beckham ở Mỹ : Danh tiếng vượt cả... Pelé và Beckenbauer - Báo gia đình và xã hội http://giadinh.net.vn/html/site/51fd30148d...475〈=Vn Trong những ngày qua các "tuyển thủ" của LVĐT đã ra sân, một số trận đấu đã đem lại kết quả rất chính xác và thuyết phục. Ở một vài trận kết quả chưa đồng đều, có những sai sót nhất định. Thể thao mà - thắng thua là phong độ , đẳng cấp là mãi mãi. Chúng ta đã gặp ở đây những tên tuổi như Laviedt, Phương Ly, Linh Trang ... là những " tuyển thủ" cạo gội trên nhiều lĩnh vực dự đoán. Và nhiều tuyển thủ mới cũng có nhiều kết quả đáng nể. Hãy tạm để các kết quả sang một bên, rõ ràng một điều là các tuyển thủ " thi đấu " rất nhiệt tình, công hiến hết mình cho khán giả với tinh thần rất fair -play. Chuyện trúng trật, rất mạnh dạn nhận "trách nhiệm" để mọi người rút kinh nghiệm. Điều này thật đáng trân trọng và hoan nghênh. Tuy nhiên, đã xuất hiện một vài cổ động viên quá khích, có những phát biểu thiếu thận trọng mang tính châm chọc, đả kích. Thái độ này biểu hiện một thứ thể thao ăn thua, thiếu cao thượng. Có thể các bạn cũng là những "tuyển thủ" ở một " giải " khác. Và bạn với chúng tôi chả lạ gì nhau, đã từng đá chung một sân, nhưng nay khoác "màu áo" mới hoặc giả làm khán giả trên khán đài. Cho dù là trường phái bóng đá Châu âu, bóng đá Anh, bóng đá Ý, Nam Mỹ hay Việt Nam gì đi chăng nữa. Với 22 cầu thủ tranh nhau 1 quả bóng tròn trên sân cỏ thì nhiệm vụ chung là đều phải giữ sạch lưới nhà và ghi bàn vào lưới đối phương nhưng không phạm luật và phải với tinh thần thể thao cao thượng. Không nên tiểu xảo, đừng quá thủ đoạn và cay cú ăn thua làm mất mình và hại bạn đấu. Như lời mời của đội trưởng Laviedt, trên nền tảng của lý học đông phương LVĐT luôn mở rộng sân đón chào các "đội bóng 5 châu", các khán giả đang tọa quan dự khán xuống khoác áo cầu thủ. Để cùng tham dự với chúng tôi trên tinh thần thể thao giao lưu, cống hiến cho khán giả và sự trao đổi, học hỏi. Rút kinh nghiệm từ trận cầu giữa Hải Phòng và Sông Lam Nghệ An trên sân Vinh. Mang lại một tiếng xấu cho bóng đá Việt Nam, bởi các cổ động viên quá khích. Để giữ cho những " trận đấu" đẹp, chúng tôi sẽ thổi phạt, rút thẻ vàng - đỏ với các hành vi cổ động như vậy. Nhân đây cũng xin lưu ý tới những cổ động viên cổ vũ cho " đội tuyển LVĐT " : Chúng tôi trân trọng và cám ơn các bạn đã ủng hộ. Tuy nhiên trước thái độ khiêu khích của CĐV đội bạn, đề nghị các bạn bình tĩnh và hành xử đúng tinh thần thể thao cao thượng. Trên sân đấu này không phải là sự hơn thua, sự góp vui, giải trí mà là một chữ Đạo. Chúng tôi ghi nhận tình cảm của các bạn nhưng sẽ không chấp nhận các thái độ ăn miếng trả miếng như trên sân cỏ thật đâu. Chúc các bạn có những thời khắc thư giãn thật tuyệt vời, bên cạnh máy thu hình và máy vi tính trong những trận cầu nảy lữa và thú vị từ EURO 2008. Trước giờ trái bóng lăn cho trận Bồ - Séc. Công Minh Cẩn " bàn phím"
  11. BồI Bổ SứC KHỏE BằNG ĐậU ĐEN Tác Giả: Trần Anh Kiệt Ðậu đen là một loại thực vật được trồng rất nhiều tại một số nước Á Châu. Người Trung Hoa không những đã biết dùng đậu đen để chế biến các loại thực phẩm như nước tương, tương khô và bột đậu mà còn dùng để luyện cao và làm thuốc. Có hai loại đậu đen: Loại vỏ đen ruột trắng và loại vỏ đen ruột xanh mà người Việt Nam mình thường gọi là đậu đen xanh lòng. Loại sau này thường được người ta chọn lựa dùng để làm thuốc nhiều hơn. Theo sách Bản Thảo Bị Yếu của Trung Quốc viết rằng: Ðậu đen có đặc tính làm cho người già mắt yếu được sáng trở lại. Nó còn có công hiệu bổ thận và điều hòa hệ thống tim mạch. Ở Trung Hoa có nhiều người đã trên 80 tuổi, nhờ dùng đậu đen thường xuyên, mà không cần đeo kiếng lão, lên xuống thang lầu không biết mệt và khi viết chữ, tay không run. Có người bị táo bón kinh niên cũng nhờ dùng đậu đen mà nay được nhuận trường, đại tiện bình thường trở lại. Những người bị bịnh trái giống (đậu mùa), mặt rổ hoa mè, sau khi áp dụng phương pháp dưỡng sinh bằng đậu đen một thời gian thì thấy các vết thẹo đã khỏi hẳn, da trơn mịn màmg bình thường. Ông Trương Bộ Ðào, nguyên Bí Thư Viện Hành Chánh, Vệ Sinh và Y Dược Trung Quốc cũng áp dụng phương pháp dưỡng sinh bằng đậu đen liên tục trong nhiều năm. Nay tuy đã già nhưng cơ thể ông vẫn còn cường tráng. Sách Y Học cổ truyền Trung Quốc có viết: Ngoài bông cúc ra, đậu đen là loại thực phẩm dưỡng sinh tốt nhất để bổ mắt, đến già vẫn còn đọc chữ được rõ ràng. Sách Thọ Thân Dưỡng Lão Tân Thư viết: “Lý Mỗ tiên sinh mỗi sáng thức dậy là nuốt 27 hạt đậu đen tròn lẵng. Ðến nay đã già nhưng mắt ông còn tỏ và tai ông vẫn thính như thuở thanh xuân”. Người ta còn mách, nên nuốt 49 hạt đậu đen xanh lòng với nước sôi nguội hay còn ấm vào mỗi buổi sáng thì sẽ công hiệu nhanh chóng hơn trong việc hồi phục thị giác của mắt. Có người lúc còn trẻ, hàng ngày chỉ nuốt một hạt đậu đen, rồi tăng dần liều lượng mỗi năm thêm một hạt. Cho đến già, ông thấy mạnh khỏe hơn những người cùng tuổi. Mắt còn tỏ, không cần phải đeo kiếng lão. Tác giả bài này (nguyên văn bằng tiếng Trung Hoa), năm nay đã 42 tuổi tự thuật rằng lúc trẻ ông đã bị bịnh quáng gà, mỗi khi trời sẫm tối thì quờ quạng không trông thấy gì cả. May nhờ được một người bạn mách cho phương pháp dưỡng sinh bằng đậu đen để chữa. Trải qua 5 năm kiên trì không gián đoạn, rốt cuộc mắt ông đã hồi phục thấy rõ bình thường. Ngoài ra cũng nhờ áp dụng phương pháp dưỡng sinh này mà ít khi ông bị bịnh. Mỗi ngày ông giảng bài tại trường hàng 10 tiếng đồng hồ vẫn không biết mệt, miệng không khô và giọng nói vẫn còn thanh thoát. Mỗi lần vào tiệm để hớt tóc, người thợ cạo ngạc nhiên bảo rằng chân tóc của ông đã hồi phục lại màu đen. Tóc bạc đã bớt đi rất nhiều. Ðây là một bí quyết vô cùng kỳ diệu, nhưng cần phải kiên nhẫn. Theo sách Y Học đời Mãn Thanh ghi chép: Ðậu đen tính hàn, vị cam (ngọt), sắc đen, chứa nước, hình dáng giống quả thận, nên có khả năng làm sáng mắt, lợi thủy, bổ thận, nhuận tâm, giải nhiệt, khu phong, hoạt huyết, giải độc, giảm đau và trừ được chứng sưng phù. Dùng đậu đen giã nát hay đâm vụn rồi đắp lên chỗ sưng đau thì sẽ chóng lành. Những người thường ăn đậu đen nấu chín sẽ phòng ngừa được các chứng ban trái. An Lão tiên sinh ở tỉnh Hà Nam (Trung Quốc), tuổi trên 80, hàng tuần đều dạy học trò về nghệ thuật thư pháp (viết chữ đẹp bằng bút lông). Tay ông không run và không cần đeo kiếng. Có người hỏi ông nhờ bí quyết nào mà có sức khỏe như vậy. Ông bảo nhờ phương pháp nuốt đạu đen từ 50 năm nay. Khi mua đậu đen, chúng ta nên chọn lựa thứ hạt đen mướt (bổ thận) và ruột xanh (bổ gan). Loại đậu đen này thường được dùng để làm thuốc rất tốt. Cách thức dùng đậu đen để bồi dưỡng và trị liệu tùy theo sự tiện lợi hay ý thích của mỗi người. Cách thông thường nhất để thử nghiệm trong một tuần lễ là chúng ta có thể dùng 49 hạt đậu đen xanh lòng thứ tốt (no tròn, đen mướt và còn mới) rửa sạch. Mỗi sáng nuốt 7 hạt với nước chín để nguội hay còn ấm. Nhớ rửa sạch mỗi lần 7 hạt trước khi dùng. Ðừng rủa một lượt 49 hạt rồi để dành vì sau khi dùng rồi, phần đậu còn lại sẽ lên mộng. Sau đó số lượng đậu dùng hàng ngày có thể gia tăng tùy thích. Người bị bịnh thận có thể dùng nước sôi nguội pha muối thật loãng để nuốt đậu đen. Còn người bị bịnh phù thũng chỉ nên dùng nước sôi nguội bình thường và không pha muối. Hạt đậu không được rang hay nấu chín. Nên được nuốt trọn, không được cắn bể hay nhai nát. Nuốt đậu đen rồi, chốc lát sau có thể dùng điểm tâm và sinh hoạt bình thường, không kiêng cử gì cả. Bất kỳ người lớn hay thiếu niên đều có thể áp dụng phương pháp dưỡng sinh này để kiện thân và bồi dưỡng sức khỏe. Ðừng lo ngại đậu đen nguyên hạt sẽ không tiêu hóa được ở trong ruột. Chỉ 3 tiếng đồng hồ sau khi nuốt đậu xong là chúng ta cảm thấy phải đi đại tiện rồi. Theo dõi số người đã áp dụng phương pháp này để trị bịnh, Lý tiên sinh đã bị táo bón kinh niên, mỗi sáng chỉ nuốt 2 hạt đậu đen mà nay đã dứt. Ông rất mừng còn hơn trúng số độc dắc. Ngoài ra một nữ nhân viên của sở Bưu Cục, mặt nổi nhiều tàn nhang và mụn bọc. Cô đã nuốt đậu đen liên tục chỉ mới 7 ngày sau đã thấy có công hiệu. Cô mừng quá tiếp tục sử dụng đến khi hoàn toàn bình phục, da mặt trở lại lành lặn bình thường mới thôi. Tóm lại đậu đen không chỉ là thực phẩm mà còn là một thứ thuốc để cường thân kiện thể. Nó có công hiệu trong lãnh vực làm sáng mắt, ngăn chận bịnh đau mắt, giải độc trong cơ thể, bồi bổ gan và thận, điều hòa bộ máy tuần hoàn huyết và bộ máy tiêu hóa. Một cân đậu đen giá chẳng bao nhiêu tiền nhưng lại là một cân thuốc vô cùng quý báu. Trên đây là tài liệu dưỡng sinh bằng Hoa ngữ, chúng tôi phỏng dịch với tính cách thông tin quảng bá để quý độc giả tham khảo. Mặc dầu một số bằng hữu và bản thân của dịch giả đã thực hành có hiệu quả. Tuy nhiên với tính cách dè dặt, dịch giả sẽ không chịu trách nhiệm về những phản ứng bất lợi, nếu có, xảy ra cho người áp dụng vì tính thích ứng của tạng phủ mỗi người mỗi khác. Ðể thử nghiệm, chúng tôi đề nghị quý vị nên nuốt trước mỗi sáng một hạt để thăm dò, xem có bị sình bụng, tiêu chảy hay cảm giác khó chịu không. Nếu không có gì trở ngại, thì sau mỗi tuần lễ quý vị có thể gia tăng liều lượng từ từ đến con số mà mình mong muốn. (Trích từ "Bí Quyết Ðể Sống Khỏe" của Trần Anh Kiệt)
  12. Hay quá ! Trận đấu hay nhưng ko bằng luận đoán bằng LVDT trước trận đấu, còn hay hơn. Bác Linh Trang đoán trúng kết quả nhưng nghe "lạnh lùng như bắn penalty" vậy. CM rất ấn tượng với dự đoán diễn biến trận đấu của chị Laviedt, cứ như trong tim trong gan trận đấu bước ra. Phụ nữ với bóng đá bao giờ cũng chu đáo, dù là dân ngoại đạo túc cầu giáo. :rolleyes: :lol: :( Tháng sau bước vào tranh giải EURO 2008 rồi. Kính mời các cao thủ LVĐT tiếp tục xuất chiêu, "quần hùng" với : Lạc Việt Độn toán và EURO 2008. Để hòa nhịp cùng không khí cá độ ngoài xã hội, lên chăng chúng ta cũng có giải thưởng cho những cao thủ về nhất trong mỗi trận. PS : Anh em kỹ thuật IT lưu ý. Đề phòng trường hợp số lượng truy cập quá đông vào topic này gây "tụt mạng". :D Xin chúc mừng LVĐT và cả nhà. Công Minh
  13. Thanh trang thân mến. Các cụ nhà ta có câu : "Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang ( giàu)". Chắc là TT lo lắng ở chỗ này. Vậy có đúng như vậy chăng.?Kinh nghiệm của các cụ đúc rút có lý do và cớ sao cả, không thiếu câu chí lý nữa là đằng khác. Vậy khó và sang ở câu này ý là gì !? Theo mình đầu tiên là con chữ cho câu thơ nó vần . Chẳng hạn : Chó đến nhà thì nghèo, Mèo đến nhà thì sang - cũng vần ra phết. Thứ 2 là : Thông điệp khó - sang ở đây là cái gì. Chưa thấy ai làm đề tài "nghiên kíu khoa học" cả. Nhưng có thể là sự ám chỉ sự xui xẻo, không thuận lợi, hao hụt tiền bạc, là ốm đau ... đó là khó . Còn sang (giàu ) là ấn chỉ : vào cầu phát lộc, là may mắn, thuận lợi, vui vẻ gì đó ..... rất chung chung. Sau khi xảy ra hiện tượng Mèo Chó đến nhà ------------- Theo "nghiên kíu" của CM : Khoa học "hiện tại" đã có những xác nhận về trường trái đất, nút bức xạ ..... và giống mèo rất khoái các khu vực có bức xạ hay trường khí xấu . Ngược lại con Chó lại khoái các khu vực vị trí có bức xạ, trường khí tốt . Bởi vậy để ý ngay trong nhà mình nếu có nuôi chó mèo, khu vực nào mèo hay nằm thì mình đừng xớ rớ vào đó. Khu nào Chó hay nằm thì ngược lại. Bởi vậy theo CM thì khi chó hay mèo đến nhà, nguyên nhân là do sự quyến rũ của trường khí , bức xạ nào đó mới phát sinh trong khu vực mình ở. Trường khí tốt, thì bỗng nhiên có con chó lang thang đi qua thấy hấp dẫn quá xông vào ở. Còn là trường khí xấu thì một con meò lạc đi ngang thích quá cũng ghé vào trú chân. Đến một ngày tốt hoặc xấu trời nào đó, trường khí - bức xạ đó phát huy tác dụng hoặc tác hại. Thế là có chuyện Các cụ ta xưa chưa phát hiện được nguyên nhân nên chỉ tổng hợp đúc rút thành kinh nghiệm. Không giải thích được và không có cách tháo gỡ. .................. Muốn biết sự việc xảy ra sau hiện tượng chó mèo đến nhà là gì đối với mình ? - Hãy xù một quẻ Lạc Việt Độn Toán ................. Muốn tháo gỡ phòng tránh vấn đề này. Như đã phân tích trên việc chó mèo đến nhà chỉ là một hiện tượng tự nhiên báo trước có sự thay đổi của môi trường sống quanh ta. Giống như trước khi có trận động đất ở Tứ Xuyên TQ , chuột chạy hàng đàn như duyệt binh trên mặt đất Động đất thì chưa chữa được. Chứ Khí - Xạ nhà mình ở có thể can thiệp được bằng các chiêu thức PT. Trong trường hợp này thì làm sao ! Đây là một chiêu của Phong thủy Lạc việt thuộc bản quyền của Trung tâm NCLHĐP. Thanh Trang nhờ trực tiếp chú Thiên Sứ hay Anh Hà Hùng , Anh Phạm Cương xử lý cho bằng tuyệt chiêu vòng tròn... , gương tán xạ .... phong thủy. ................... Thanh Trang ! Bởi vậy việc thả Chó ra không phải để : Chó mèo cắn nhau ruồi muỗi chết đâu ! mà lý do là như vậy, vậy. Vấn đề lại được đặt ra : Liệu con chó có thể tác động tích cực để phản ngược lại trường khí bức xạ môi trường xấu hay không. Thì lại là một đề tài "Nghiên kíu" nữa. Công Minh PS : À quên ! Nếu ta dùng biện pháp tế nhị hay thô thiển là đuổi chúng đi, chỉ là hình thức không thay đổi được bản chất. Bởi chúng chỉ là : Chuồn chuồn bay thấp thì mưa ... thôi chứ không phải là đám mây nước khổng lồ ở đằng Đông kia. Cũng như động đất ở Tứ xuyên, trước đó " Chuột chạy cả đàn, cả giàn rung rinh " có đem máy bay mời lũ chuột đó về Bắc Kinh dự .... OlemPic, thì động đất vẫn cứ xảy ra . OK!
  14. TT đem cho nó 2 con chuột. Hoặc thả con chó ra Thế là hóa giải :rolleyes: CM
  15. Gửi Chip Chip : À ra thế, bạn nói vậy cũng lý giải cho tôi một băn khoăn !!!! Thật ra các bạn muốn gần nhau dễ ợt. Một người này buông bỏ .....chỗ đang ở đấy, để về gần với người kia là gần nhau ngay. Đúng ko ? Các bạn có thể quyết được tích tắc chứ cần gì phải bói. Nhưng sự đời lại ko đơn giản như vậy : Chồng có công việc, lý tưởng và quan điểm của chồng - Vợ cũng có công việc, lý tưởng và quan điểm của vợ. Ai theo ai đây ?! Theo tôi đoán " năng lực " của hai bạn : kẻ tám lạng người nửa cân ( cân ta cổ = 16 lạng ta). Nên nhiều ý kiến chưa được ngã ngũ, còn băn khoăn cân nhắc ... abc. Bởi vậy ... Trước hết các bạn nên chuyên tâm mà hoàn thành công việc tu học đi. Việc tổ chức cho sinh hoạt gia đình như ý, thì còn bị nhiều yếu tố phụ thuộc và quyết định lắm. Để đến lúc đó hãng hay. Đâu rồi có đó, kiểu như người ta bảo : thịt chó là phải có mắm tôm ý. :D Chúc bạn yên tâm công tác. CM
  16. - NH sắp cho thuê được nhà ? Ra ngoài thấy chú TS trả lời bạn rồi. Nên sửa bài - mới lại lấy quẻ sai. Nêu đúng như quẻ thì chưa có gì vui cả. Chúc gia đình bạn may mắn Công Minh
  17. Bãi đá cổ Sapa... "kêu cứu"! 5 năm trước, theo chân nhà khoa học Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương) lên Lào Cai nghiên cứu về bãi đá cổ Sapa, tôi đã được chứng kiến hình ảnh ông rơi nước mắt, xúc động khi nhìn thấy những thông tin tiền nhân để lại cho hậu thế. Mới đây, tôi quay lại thăm bãi đá cổ đau xót nhận thấy, những hình khắc trên bãi đá sắp biến mất bởi sự vô thức của con người và sự thiếu quan tâm của cơ quan chức năng. Bãi đá bí ẩn Bãi đá cổ Sapa nằm rải rác trong thung lũng Mường Hoa, được bao bọc bởi dãy núi cao 2.000m, Sử Pán và Tả Van, cách thị trấn Sapa 7km. Bãi đá cổ Sa Pa Số lượng đá cổ có hình khắc tập trung nhiều nhất thành hai bãi lớn tại xã Hầu Thào. Bãi một nằm cạnh bản Pho, một bản của người Mông kéo dài từ sườn núi xuống gần lòng suối. Bãi hai nằm giữa địa giới xã Hầu Thào và Lao Chải, trên các thửa ruộng bậc thang. Tại bãi này có trên 100 hòn đá có hình khắc cổ. Đa phần những hòn đá ở bãi này nhỏ hơn bãi một. Nhiều hòn chỉ có hình khắc duy nhất trùm kín mặt. Hai xã Tả Van và Sử Pán nằm bên rìa trung tâm bãi đá cổ nên chỉ có rải rác vài hòn đơn lẻ và nội dung hình khắc cũng không có khác biệt nhiều. Bãi đá cổ Sapa được Giáo sư (GS) Victor Goloubev, người Pháp, thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ phát hiện vào năm 1925. Sau đó, nhiều thế hệ nhà khoa học cả Việt Nam và Pháp đã phát hiện thêm hàng trăm tảng đá có hình khắc nằm rải rắc khắp nơi, nâng tổng số tảng đá có hình khắc lên 200 hòn. Ngay từ buổi đầu được phát hiện, các nhà nghiên cứu đã ra sức mô tả những hình khắc trên bãi đá. Mỗi người lý giải một kiểu. Người thì khẳng định đây chỉ là những bức tranh tả thực, là những hoa văn trang trí, những hình người cách điệu đang toả hào quang, những kiểu bản đồ mô tả thung lũng Mường Hoa. Có nhà khoa học thì khẳng định toàn bộ bãi đá là một cuốn sách cổ khổng lồ của Mông diễn tả các trận đánh ngày xưa. Một số nhà khoa học khác thì nhận định rằng những hình khắc trên bãi đá chủ yếu thể hiện những cánh đồng, thửa ruộng bậc thang và nhà cửa, làng bản, dân cư sinh sống... Tuy nhiên, một trường phái khác lại khẳng định hình khắc trên bãi đá cổ không thể là tư duy đơn giản của các dân tộc Mông, hay Dao sống ở khu vực này từ 300 đến 600 năm về trước. Đại diện cho trường phái này là GS Lê Trọng Khánh, một chuyên gia đầu ngành về chữ viết của người Việt cổ. GS Khánh, sau nhiều chục năm nghiên cứu bãi đá đã nhận xét: "Tổng thể các hình khắc trên bãi đá cổ Sapa quả là một bộ sách khổng lồ được khắc bằng văn tự cổ". Liệu những hình khắc trên bãi đá cổ có phải là chữ Việt cổ hay không thì GS vẫn đang chứng minh, bởi ông chưa thể đọc hay giải mã được chúng. Tuy nhiên, hiện ở nước ta có một nhà nghiên cứu đã tiếp bước GS Khánh và ông cho rằng ông đã... đọc được chữ cổ trên bãi đá Sapa! Đó là nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền, hiện đang sống ở TP Việt Trì (Phú Thọ). Việc ông Xuyền đọc được những ký tự trên bãi đá cổ là một chuyện lạ, song để các nhà khoa học đầu ngành chứng nhận những ký tự ông đọc đúng hay sai vẫn còn là vấn đề phải bàn cãi nhiều. Ngay cả vấn đề thời gian xuất hiện hình khắc trên bãi đá cũng có nhiều luồng ý kiến. Người thì khẳng định chủ nhân của những hình khắc này là của người Mông, người Dao, sống ở vùng này từ 200 đến 600 năm trước, người thì khẳng định chủ nhân của những hình vẽ là của cư dân văn hoá Đông Sơn (cách đây 2.300 năm đến 3.000 năm), còn người thì khẳng định nó đã cách đây 5.000 năm, thậm chí là lâu hơn nữa, của những bộ tộc thuộc nền văn minh đã biến mất. Còn về nội dung hình khắc thì các tranh luận càng thêm phần nảy lửa. Bởi vì, một hình khắc đơn giản nhất là một vòng tròn với những đường vạch giống mặt cái cối đá, người thì bảo đó là ký hiệu mặt trời, người bảo thái cực, người kêu đích thị hòn bi, người khẳng định là cái bánh giầy mới đúng... Một số nhà khoa học nói trừu tượng hơn thì khẳng định đó là "biểu tượng của một xã hội nông nghiệp". Nhưng những người say mê nghiên cứu Kinh Dịch lại cho rằng hình vẽ đó là biểu tượng cho sự tương tác của vũ trụ... Cũng chính vì những tranh cãi nảy lửa như thế nên hệ thống hình khắc trên bãi đá cổ Sapa mỗi ngày lại càng hấp dẫn, thu hút các nhà khoa học trong nước cũng như trên thế giới. Và cũng chính vì giá trị lịch sử, giá trị văn hoá của nó rất lớn mà năm 1994, bãi đá cổ Sapa đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia. Rồi nhiều năm nay, các cấp ngành đang ráo riết chuẩn bị tài liệu để Nhà nước đề nghị UNESCO công nhận là di sản văn hoá vật thể thế giới. Hình khắc sắp biến mất Bãi đá cổ Sapa được một số nhà khoa học quốc tế đánh giá là một trong số ít những bãi đá có hình khắc đẹp và bí ẩn nhất thế giới. Nhưng, kể từ khi du lịch về bản, có tour thăm bãi đá cổ, chỉ vài năm qua, các hình khắc trên bãi đá đã bị tàn phá rất nghiêm trọng. Nếu không có phương án bảo vệ, bãi đá cổ có thể sẽ biến mất bởi sự vô ý thức của con người và sự thờ ơ của cơ quan chức năng... Thời gian bãi đá bị phá hoại mạnh nhất chính là hồi làm con đường đi thẳng từ Sapa xuyên qua đây lên Pò Lùng Chải. Để mở được đường, người ta đã phải đập đi 18 hòn đá có hình khắc. 18 hòn đá đó đều nằm ở trung tâm bãi đá vừa lớn, vừa có nhiều hình khắc đẹp. Con đường này đã mở ra tour du lịch về bản làng, về bãi đá và cũng bắt đầu cho cuộc phá hoại bãi đá một cách khủng khiếp hơn. Hòn đá khá lớn và có nhiều hình khắc nằm ngay cạnh đường liên xã được rào bằng hệ thống cọc bêtông được nhiều du khách ghé thăm nhất. Mang tiếng hòn đá được quây bởi hàng rào bêtông, song thực tế hàng rào này không có tác dụng gì. Hàng rào chỉ cao chừng 1m, nên một đứa trẻ cũng có thể trèo vào được. Du khách tham quan bãi đá cổ, hoặc chỉ đi qua con đường này, cũng đều dừng chân chụp ảnh với hòn đá cổ. Hình khắc trên bãi đá cổ Sa Pa Tuy nhiên, không ai muốn đứng ngoài hàng rào chụp, mà họ đều trèo qua hàng rào, đứng lố nhố trên tảng đá, giẫm đạp cả vào các hình khắc để chụp ảnh. Hôm tôi đến, hòn đá đang được hai nhà nghiên cứu người Hàn Quốc làm bản dập trên giấy. Khách du lịch, người địa phương tò mò kéo đến xem, trèo kín trên mặt hòn đá. Mỗi ngày, không biết có bao nhiêu bàn chân với dép guốc sắc nhọn của người đô thị miết lên bề mặt hòn đá có những hình khắc. Bọn trẻ bán hàng rong đợi khách cũng trèo cả lên hòn đá ngồi chơi, nghịch ngợm, nằm ngủ. Chẳng thế mà, từ khi con đường mở ra, mới chỉ vài năm nay, những hình khắc trên hòn đá này đã biến mất gần hết. Dọc con đường mòn khám phá bãi đá cổ thung lũng Mường Hoa, hàng loạt hòn đá lớn nằm cạnh đường cũng được quây bởi các hàng rào bêtông. Tuy nhiên, hàng rào vừa xây được vài năm, đã bị bọn trẻ đập phá vỡ nát cột, trơ ra cả lõi thép. Nhiều cột bê tông bị người ta nhổ đem làm cầu bắc qua rãnh nước. Đà ngang của hệ thống cột bêtông bị bẻ gãy quẳng đâu hết. Có hòn đá cực lớn, diện tích bề mặt có hình khắc lên đến vài chục mét vuông, cũng được rào bằng cọc bêtông, nhưng không hiểu vì thiếu tiền hay sao mà người ta làm không đến nơi đến chốn, thành thử, giống chuyện xây tường chống trộm, nhưng lại có nhiều cổng. Vì thế, khách du lịch, trẻ con, người dân địa phương có thể tự do ra vào, leo trèo lên hòn đá nghịch ngợm, dùng dao, dùi chạm khắc lung tung. Đau lòng nhất là những hòn đá thứ 3, thứ 4 và thứ 5 tính từ đường cái xuống. Đây là những hòn đá lớn với những hình vẽ đẹp nhất, song giờ đây, nó đã biến thành những "hòn đá rắc rối" bởi những hình khắc, hình vẽ vô cùng... kỳ lạ. Đám thanh niên nghịch ngợm có máu phá hoại dùng dao nhọn khắc chồng lên những hình vẽ cũ cả một lâu đài kiểu cách châu Âu với ống khói đang tuôn toả. Rồi khắc cả hình một người đang cưỡi xe máy phóng vù vù. Trong số hàng ngàn vết khắc mới của những vị du khách thiếu tôn trọng di tích lịch sử có thể nhận thấy rất nhiều hình khắc hai con chim câu đang cắn mỏ nhau, rồi những trái tim bị trúng tên... rỉ máu. Nhiều nhất, hoa mắt nhất là những vết khắc tên tuổi, số nhà, số điện thoại... một thói quen để lại dấu ấn của người Việt khi đặt chân đến nơi nào đó. Nhiều chàng trai, cô gái còn thể hiện tình yêu một cách vô thức, không đúng chỗ bằng cách khắc lên hòn đá dòng chữ: Hiền ơi! Anh yêu em nhiều lắm!, Tuấn ơi! Mãi mãi yêu anh, Tuyết ơi! Trái tim anh đã hoá đá cổ... PGS Trịnh Sinh hồi lên thăm bãi đá Sapa về, đã phải thốt lên trong cuộc hội thảo: "Bãi đá cổ Sapa giờ chẳng khác nào những dòng quảng cáo "khoan bêtông" tràn ngập các vỉa hè Hà Nội..." Thảm kịch nhất là hòn đá ở vị trí thứ 3 và thứ 5. Những chỗ nào mấp mô thì bị khắc bạ, còn mặt nào bằng phẳng thì biến thành cầu trượt. Bọn trẻ con, đám thanh niên choai choai, kể cả mấy cô sinh viên đỏng đảnh, khi đến những hòn đá này đều nổi hứng thể hiện hòn đá thành cầu trượt. Họ kéo nhau trèo lên đỉnh hòn đá, rồi thả mình trượt xuống, khiến mặt những hòn đá này bị mài mòn mất sạch hình khắc. Nhìn cảnh tượng này, các nhà khoa học chắc phải đau lòng lắm. Du khách nước ngoài, những người rất ít khi sờ vào hiện vật chứ đừng nói đến chuyện trèo lên, rồi khắc bậy vào đó, chỉ biết lắc đầu luyến tiếc và thốt lên: "Không thể hiểu nổi!". Những hòn đá lớn, quan trọng nằm trên tuyến đường du lịch tàn phá như vậy, nhưng hàng trăm hòn đá nằm trong ruộng, trong vườn nhà dân cũng đang xuống cấp hết sức nghiêm trọng. Phó Công an xã Hầu Thào - Giàng A Páo kể rằng, có gia đình buộc trâu, bò cạnh hòn đá cổ, rồi dùng hòn đá cổ làm điểm kê để bổ củi, thậm chí nhiều gia đình còn ra sức phá đá lấy chỗ cày cấy. Sự tàn phá của thiên nhiên, đặc biệt là của con người trong mấy năm nay khiến TS Phillipe Le Failler (Viện Viễn đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội) phải thốt lên: "Nếu không tiến hành ngay các biện pháp bảo tồn khoa học, thì trong khoảng 5 năm nữa, bãi đá cổ Sapa sẽ không còn gì để xem...". Để giữ lại được những hình khắc cho thế hệ sau, ông cùng các cộng sự đã tiến hành làm tới 5.000 bản dập trong suốt 7 tháng trời, nhằm bảo tồn hình khắc trong... thư viện. Có thể nói chuyện bảo tồn bãi đá cổ Sapa rơi vào bế tắc. Đã có rất nhiều hội thảo và có nhiều ý kiến, giải pháp, song dường như vẫn chưa khả thi. Ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh còn xuất sử dụng một loại vật liệu trong suốt có khả năng chống đạn để bọc những hòn đá này lại, nhằm chống lại sự phong hoá tự nhiên và sự xâm hại của con người. Tuy nhiên, tổng kết các ý kiến lại, TS Trần Hữu Sơn, Giám đốc Sở VHTT&DL Lào Cai vẫn chua xót: "Tiền không khó, mà chúng tôi thiếu chất xám vì loại hình bảo tồn này chưa có ở Việt Nam". Và như vậy, biện pháp bảo tồn lâu dài vẫn chưa có, trong khi bãi đá cổ Sapa mỗi ngày một biến dạng trầm trọng. Theo TS Sơn, trước mắt, phương án tối ưu nhất là biến các bản làng trong phạm vi bãi đá cổ thành các làng văn hoá - du lịch, gắn liền du lịch với bãi đá cổ. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất là phải tuyên truyền, giáo dục cho các hộ dân có ý thức bảo vệ bãi đá. Với cách làm hiện nay là chính quyền huyện bán vé thu tiền của khách tham quan, nhưng không điều tiết về cho dân, nên sẽ khó thuyết phục họ tham gia bảo vệ. Việc cần thiết lúc này là chuyển việc bán vé tham quan du lịch về cho thôn, bản quản lý, để thôn bản có lợi nhờ bãi đá, từ đó, thôn bản, từng hộ gia đình mới có ý thức bảo vệ bãi đá. Song song với việc tuyên truyền ý thức, thì việc xây dựng mô hình mái che hình nấm cũng rất cần thiết. Mặc dù việc làm đó ít nhiều ảnh hưởng đến không gian di tích, nhưng không thể để những tảng đá đẹp như vậy mãi phơi ra giữa mưa nắng. Thực tế cho thấy, những hòn đá cổ nằm trong lòng đất hàng trăm, hàng ngàn năm vẫn nguyên vẹn vết khắc, nhưng khi được "lộ thiên", chỉ vài năm đã bị mưa nắng mài mòn. Thực trạng xuống cấp nghiêm trọng của bãi đá cổ Sapa đòi hỏi các cấp, các ngành chức năng của Lào Cai khẩn trương đề ra các biện pháp cần thiết để tôn tạo, bảo tồn và quản lý tốt khu di sản này, nhằm cứu lấy một di sản văn hoá vật thể hiếm có, một tuyệt tác điêu khắc được mệnh danh là những "tranh sách trời". Theo Phạm Ngọc Dương
  18. Bạn thân mến! Mấy bữa nay chú Thiên Sứ vừa bận lại vừa dứt bệnh. Nên chưa tham gia DĐ nhiều. Chắc các bạn phải chờ vậy. Tôi thử lấy một quẻ cho bạn câu hỏi 1 : 1 - Các bạn nên ở lại . Và khả năng phải ở lại vì 1 công việc nào đó chưa xong chưa cho về, hoặc có người hay cơ quan tổ chức nào đó .... thích các bạn và giữ lại. - Tìm được công việc tốt đấy. Có khả năng hơi trái ngành 1 tí nhưng lại tốt. Tuy nhiên chưa hy vọng có "màu mè" gì lớn lao đâu ! 2 - Hạn nữa hay ko ? - Hết rồi yên tâm đi. Nếu có chỉ là chuyện lặt vặt gây bực mình chứ ko đến mức gọi là hạn. Cũng nên cẩn thận chuyện tiền bạc và đi lại. Chúc bạn may mắn CM
  19. Giờ Tý ngày 1 tháng 4 mậu tí - Tính chất vụ việc : Kinh - Xích khẩu: thuần Kim Sự vay mượn, mua bán về vàng bạc hay xe pháo, nhà xưởng... gây lên sự cãi cọ lớn, rồi đánh đập nhau gây thương tích, bị bắt nhốt. Sự việc còn giằng co qua lại, nhưng xu thế dịu đi so với trước bởi áp lực của chính quyền. - Còn lại bao nhiêu người bên ngoài ? Khai -Tiểu cát : Có 1- 2 người nữa, trong đó có 1 Nam giới nhưng tính nết thâm trầm, giấu mình nhiều mưu kế. Đứng sau lưng xúi giục vụ này rất quyết liệt, vì họ có lợi ích ở đó. - Kết quả vụ kiện ? thời gian kết thúc ? Hưu - Vô vong : Không có kết quả, do nhùng nhằng thiếu chứng cứ hoặc lý lẽ hai bên đều thiếu thuyết phục - Án có kết luận thế nào ? : Tiếp tục dừng để bổ sung chứng cứ, khi nào đầy đủ thì tòa cho gọi tiếp. Có tia hy vọng nhưng còn lâu lắm. - Tội danh gì ? Hình sự ? hay dân sự ? :Xu hướng đưa đẩy về khả năng thiên về hinh sự : chiếm đoạt tài sản công dân- đánh người gây thương tích .( câu này khó đoán vì kết quả dừng lại ở quẻ độn trước, tuy nhiên bản chất là sự cố gắng chuyển tội danh tử HS về DS hoặc ngược lại, có tác động đến phán quyết của tòa. ) @To: anh chị em lão làng của LVDT. Xin mọi người góp ý cách luận quẻ. @ To : wildlavender! Bà chị có liên quan gì không? Luôn chúc những gì tốt đẹp đến với chị. @ To Lactuong : Đặt cái "tít" thấy ghê quá. Công Minh
  20. Chào bạn! Chúc mừng bạn đã tham gia diễn đàn của WS:Trung tâm nghiên cứu lý học Đông phương. Diễn đàn luôn hy vọng nhận được từ các bạn những ý kiến đóng góp, xây dựng cũng như nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu, ứng dụng các môn lý học đông phương trong cuộc sống. Thân ái Công Minh
  21. Thưa chú Thiên Sứ ! Bài trên trích từ Website của hội tin học Việt Nam : 60s.com.vn Cháu quên không dẫn nguồn, và đã sửa lại trong bài. Cám ơn chú
  22. PHÁT HIỆN THƠ CỔ THỜI BẮC SƠN 7000 - 1000 Trc. C N LTS: Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh là một cây bút khảo luận lịch sử sắc bén. Tập sách “Văn hóa Mỹ thuật tiền sử Việt Nam” của bà là một tác phẩm hiếm hoi quý giá, xác định nền văn minh Bách Việt là một sự thật tuyệt diệu mà người Trung Hoa phải “nghẹn ngào” khi bà chứng minh rằng nền văn minh cổ Việt đã bị người Tàu dùng sức mạnh chiến tranh và sức mạnh của chữ viết (chữ Hán) chép lại và giữ lấy làm của riêng… cùng lúc với sự xâm chiếm đất đai của nứơc Xích Quỷ trải dài từ Động Đình Hồ xuống thẳng miền núi non phía nam của bà Âu Cơ. Cảm hứng từ một tài liệu của nhà giáo An Phong Nguyễn Vân Diễn về một bài thơ cổ mà ông sưu tầm được cách đây 40 năm, qua ngòi bút của bà, nền văn minh Bách Việt cổ với những tổ tiên hiền triết, thi ca… đã sống lại vô cùng rực rỡ. Con bé Lọ Lem từ trong rừng núi Thanh Hóa di tản đến rừng núi Ban Mê Thuột đã lột xác trở về nguyên vẹn hình hài nàng tiên xinh đẹp của ngàn năm cũ. ♣ Bất cứ nhà khảo cổ chính quy hay tài tử nào, khi bắt gặp được cổ ngoạn hiếm hoi, họ sẽ tự coi như bắt được một tài sản quý báu. Những vật cổ còn tìm thấy nhiều trong lòng đất, nhưng tranh cổ và thơ văn cổ thì thật là hiếm. Nhìn được tranh họa, và đọc được thơ văn tức biết được người. Từ nhiều ngàn năm, đất nước Việt Nam bị giặc phương Bắc xâm lăng liên tục, và nội chiến hàng trăm năm, lại thêm thiên tai bão lụt không ngừng, khí hậu ẩm ướt nên những tranh cổ, văn thơ cổ, đa số nếu không bị cướp bóc đốt phá tiêu huỷ thì cũng bị hư nát theo thời gian. Những bức tranh xưa nhất họa chăng còn tìm thấy đều được vẽ trên da, trên gốm hoặc trên đá. Những lời văn thơ xưa nhất còn lưu lại là nhờ vào lời truyền tụng trong dân gian. Phải chăng một số lớn ca dao, đồng dao, tục ngữ, ngạn ngữ, hát vè hát đối ngày nay là những câu thơ hữu dụng cho cuộc sống, sống sót mãi qua cửa miệng dân gian? Nôm na có lẽ người Việt cổ gọi thơ là vè, nhất là những bài thơ ngắn dùng là lời hát nói. Thường người ta có vẻ khinh bạc đối với chữ vè. Nhưng phải chăng vè là tên cổ tiền phong của thơ từ ngàn xưa. Thực tế, phải chăng thơ hay vè có giá trị hay không là do hình thức và nội dung của nó. Khoảng trên 40 năm trứơc đây, nhà giáo Sử địa An Phong Nguyên Vân Diễn sưu tầm được một bài vè cổ tại một làng Mường trong rừng Ban Mê Thuột di tản vào từ rừng Thanh Hóa. Nhìn vào một góc cạnh, bài thơ cổ hay lạ lùng. Càng đọc thấm thía càng cảm nhận nó chính là một bài thơ cổ từ thời tiền sử. Oâng Diễn đã tu chỉnh lại cho dễ hiểu, bình giải bài thơ và đã phát hành theo sách báo, hoặc thỉnh thoảng trình bày kèm theo với vũ nhạc trong các dịp đám cưới. Theo ý kiến của nhà giáo A.P Nguyễn Vân Diễn “Toàn bài thơ chỉ dùng chữ Việt, có một số chữ cổ hơi khó hiểu, hoàn toàn không có chữ Hán Việt hay sáo ngữ. Bài thơ có vẻ xuất hiện trước khi Tàu đô hộ…” Tuy đã định bài thơ ngắn này là vè là thơ cổ, nhưng xét về cái hay cái đẹp ngày nay, bài thơ có một cái hay cái ngộ nghĩnh, cái kỳ diệu đến lạ lùng! Bài thơ hiếm hoi này có thể có một giá trị khảo cứu lớn lao thi văn cổ trong văn hóa dân tộc. Theo sự nghiên cứu của tôi, có thể bài thơ này đã ra đời rất xa xưa trước cả thời trống đồng. Trên trống đồng khắc đầy những hình nhảy múa: có múa phải có hát, có ca. Có hát có ca thì phải có lời thơ. Lời có vận, có vần, có nhịp, có phác, có ý, có gợi cảm, gợi hứng, gợi tình mới thúc giục mọi người dấn thân vào ca múa tập thể. Trước khi có trống đồng thì đã có trống gỗ mặt da. Trước khi có trống gỗ thì phải có sanh, có phách, có gõ mõ, vỗ tay hay giậm chân làm nhịp. Lời thơ, lời ca, văn nói có âm điệu nhịp nhàng êm đẹp phù hợp với tiếng vỗ tay giậm chân mới kích động lên những điệu múa kỳ diệu. Lời, ý ngâm nga, lời, ý thơ văn thường phải xuất hiện từ lâu trước điệu ca múa, nếu không thì ít nhất phải đồng thời với ca múa. Trống đồng cũng như đời sống của các dân tộc bán khai chứng minh rằng ca múa là thức ăn tinh thần cần thiết cho sự sống con người từ thời tiền sử. Đó là những hoạt động cần thiết cho sự sống trong mọi thời đại như rau cỏ thịt cá từ nguyên thuỷ đến ngày nay. Nên chúng ta chẳng có gì phải ngạc nhiên trước tác phẩm thơ văn tuyệt vời của người Việt cổ. Khi có sự hiện diện của con người biết nói trên trái đất thì tất có vận động ca múa nhảy nhót, mà có ca múa thì tất nhiên phải có văn-thơ, có nhạc điệu, phải có lời hay ý đẹp. Thật sự việc sưu tầm lại những thơ văn tiền sử khi con người chưa có chữ viết hoặc chưa biết ghi chép là điều quá khó để chứng minh. Trên thực tế nếu có thể thì đó chỉ là một sự chứng minh lấy tâm lý làm căn bản mà thôi. Khi nghiên cứu thời văn hóa Bắc Sơn (hậu Hòa Bình), người Việt cổ đã có truyền thống mai táng và cưới hỏi. Mai táng và nhất là cưới hỏi thì cần nhiều ca múa. Để đem sử dụng vào mai táng và đám cưới, tất nhiên ca múa và văn thơ phải có từ trước. Thời văn hóa Bắc Sơn là thời huy hoàng về nông nghiệp lúa nứơc và công nghiệp đá của Việt cổ kéo dài 6 thiên niên kỷ từ năm 7000 đến năm 1000 tr.c.n. Vì thế tìm một niên đại trong thời đại dài dẵng này cho bài thơ cổ của chúng ta tưởng không đến nỗi nhầm lẫn nhiều. Người ta có thể đặt vấn đề bài thơ cổ do người Mường sống cách ly với người Việt đồng bằng làm ra sau này. Theo nhà giáo sử địa kiêm nhà văn Nguyễn Vân Diễn, sau khi nghiên cứu hiện tại của dân tộc Mường, đã quan niệm rằng “Văn hóa các tộc họ Bách Việt thiểu số, Mường, Mán, Dao, Thái… còn sót lại đã tàn phai sau cuộc chiến thảm bại của Liên Minh Xích Quỷ tại trận Trác Lộc và các cuộc chiến tranh lấn chiếm đất đai của Trung Quốc cổ trong suốt nhiều ngàn năm… Họ không còn khả năng tư tưởng sáng tạo. Họ chỉ còn nhớ những gì tổ tiên Bách Việt lưu lại mà truyền khẩu cho con cháu mà thôi. Vì đó là những khúc ca múa có vần có nhạc dễ nhớ, dễ truyền mà mọi người ưa thích. Bằng cớ là chính đông đúc tập thể của họ không thể giải nghĩa được tư tưởng của tiền nhân trong bài thơ cổ. Giống như trường hợp của người Ai Cập trước đây đã không đọc được chữ trong Kim Tháp Tự mà phải nhờ đến người Pháp thời Napoléon nghiên cứu rồi dạy lại cho họ”. Phải chăng đó cũng là trường hợp của khoa tử vi Kinh Dịch? Như đã nói trên, giai đoạn Bắc Sơn là thời gian đất nước ta đã phát triển mạnh ngành lúa nước, ngành nuôi gia súc và đặc biệt là đã có tục lệ cưới chồng theo mẫu hệ, nên việc chế ra thơ vè tưởng của hữu lý. Tạm thời có thể coi là bài thơ cổ có niên đại từ 6000 năm đến 1000 năm tr.c.n, là thời gian trên đất cổ Việt này sinh nhiều nền văn hóa Hậu Hòa Bình huy hoàng như các văn hóa anh em Bắc Sơn và Sa Huỳnh. Sử gia Trần Trọng Kim cho rằng Tàu dạy dân ta tục lệ cưới hỏi là quá đáng. Tàu có nguồn gốc Mông Cổ, lúc đầu đàn ông thực sự dùng sức mạnh đi bắt đàn bà về làm vợ, hành động này sau trở thành tục lệ. Nhiều sự kiện chứng minh Bách Việt hay Việt cổ đã có đám cưới trước Tàu. Chính Tàu gốc Mông Cổ, khi cướp đất Trung Hoa lục địa ngày nay đã cướp luôn cả người Bách Việt thì họ học phong tục cưới hỏi của Bách Việt và làm phát triển lên. Như trường hợp sau này nhà Nguyên và nhà Thanh gốc Mông Cổ chiếm lấy nước Tàu, rồi cũng theo văn hóa Tàu và làm phát triển mạnh mẽ lên. Bách Việt hay Việt cổ đã có tập tục cưới hỏi trước dân Tàu Mông Cổ tức là Tàu thuộc dòng Hán tộc ngày nay. Dưới thời bị Bắc phương đô hộ, chính quan Tàu buộc dân ta phải làm đám cưới theo truyền thống Tàu thì sử Tàu gọi đó là giáo dục man di theo lễ nghĩa. Vả lại lễ nghĩa Tàu do Đức Khổng Tử rút từ trong lễ nghĩa Bách Việt mà chế biến ra. Chắc hẳn bài thơ cổ nói đến sau đây, là một trong những bài được đặt ra để làm lời ca cho các vũ điệu trong những đình đám lễ tế vui vẻ của việc cưới hỏi. Chúng tôi đề nghị đặt tên cho bài thơ cổ Việt Nam này là bài “Vè Đám Cưới”. Bài gồm 15 câu. Tác giả bài vè là một người có kiến thức rộng, tâm lý cao đối với con người và vạn vật trong vũ trụ. Là người có nhiều kinh nghiệm sống, lao động nông súc, cùng giáo dục, giá trị nhân bản cũng như quan niệm thiết yếu sinh tử của hôn nhân, nên không thể là người trẻ tuổi. Lại thêm trong chế độ mẫu hệ, nên bài vè trang trọng này phải là của một nữ nhân lớn tuổi làm ra. Tác giả đã dùng những sự kiện trong thiên nhiên quanh mình để thấy rằng đâu đâu cũng cần phải có sự tương trợ, sự hòa hợp để đem lại ý nghĩa cho cuộc sống. Bà thay lời chàng trai bắt đầu tán tỉnh từ đầu để suốt bài bằng những hình ảnh thường nhật nhỏ nhoi của cây cỏ, rồi tiến dần đến những nhu cầu cần thiết cho đời sống thường nhật để mở lời tán tỉnh một sự liên kết cuộc sống hạnh phúc… hôn nhân không thể thiếu giữa hai người nam nữ trước mặt cô con gái mà chàng yêu mến. Theo cái đà tiến lên đó, chủ nhân sưu tầm bài thơ cổ là An Phong Nguyễn Vân Diễn nương theo ý trong thơ mà chia bài vè làm 3 phần mỗi phần 5 câu. Bài thơ cổ có một nghệ thuật bố cục về hình thức thật đặc sắc. Cứ một đoạn 5 câu thì được chia làm 2 phần: phần đầu gồm 2 hoặc 3 câu dùng để tả kinh nghiệm cuộc sống để rồi gián tiếp đem áp dụng vào tình yêu trai gái trong 2 hoặc 3 câu tiếp. Cách dùng lời, dùng ví dụ tuy đơn giản mà tư tưởng rất thâm trầm. Những ví dụ hoàn toàn dựa trên cuộc sống và tình trạng thiên nhiên rất dễ hiểu cho mọi người mọi thời cổ cũng như nay. Cứ như vậy những hình ảnh quan trọng dần, để dẫn đến một kết thúc toàn vẹn cho tình yêu. Những lời ví von rất duyên dáng, trung thực, thuyết phục. Tác giả đã dùng những hình ảnh vô cùng sống động và đánh động lòng người. Những hình ảnh đ1 đi từ cái tầm thường nhỏ bé nhất, rồi lớn dần với tư tưởng thơ. Với những thay đổi nhỏ nhặt lời thơ, tác giả lặp đi lặp lại nhiều lần ý thơ, một cách say sưa, ngộ nghĩnh làm tăng ý nghĩa, sức mạnh thuyết phục. Nội dung bài thơ còn là một nghệ thuật tâm lý thuyết phục rất cao. Tư tưởng diễn đạt tiến từ tình trạng đời sống cô độc của trai gái thiếu thốn lúc ban đầu, để tiến đến chỗ đưa ra một chân lý cho một đời sống an vui khi có đôi có đụa. Rồi từ đó bước ngay vào một thực tế hôn nhân một cách rất chân thực và thanh tao: ồn ào và táo bạo, tuy có vẻ hơi tục nhưng rất ngây thơ, chính xác, sáng sủa và trong vui với hình ảnh “cuốn lại” ngộ nghĩnh. Rõ ràng toàn bài thơ cổ chứng minh chế độ một vợ một chồng “gái thiếu”, “trai thiếu”, “O một mình”, “tui một mình”, “O vớitui”, tui với O”, “hai đứa miềng”. Tư tưởng bình đẳng nổi bật giữa tình yêu trai gái trong hôn nhân và cuộc sống. Đây phải chăng là một triết lý xuất phàm mà con người cổ đã nhờ ảnh hưởng Thiên, Địa, Nhân mặc khải. Tình yêu của người Việt cổ được tả chân nhưng lại thấm đầy đạo lý. Tình yêu dẫn đến hôn nhân hoàn toàn không nhuốm dục vọng. Vào thời Bắc Sơn tài nghệ về nông nghiệp và nuôi gia súc khác nào bằng tiến sĩ tin học ngày nay. Nên chàng trai đã bắt đầu bài ca bằng lời khoe khoang tài cán nông súc của mình qua những hình ảnh lao động hàng ngày. Đem cái tài giỏi lồng vào lời than để mở màn tán tỉnh. Đông thời cũng để giải thích rằng, tất cả đểu phải cần sự giúp sức, phải cần sự ràng buộc, phải bỏ công lao, phải có tình yêu mới khấm khá được. Tâm lý ngoại giao để chinh phục thật là tinh tế. 1. Khoai tỏ bồn thì tốt cổ (bồn = vồn = luống; cổ = củ) 2. Đậu ba lá thì bừa un (bừa = vừa; un = vun = đắp) 3. Gà mất mạ thì lâu khun (mạ = mẹ; khun = khôn) 4. Gái thiếu trai thì thậm khổ 5. Trai thiếu gái thì thậm khổ. Tài năng đã mở ra một chân lý, không thể có con đường khác: khoai muốn to củ phải có nhiều đất đai, đánh luống cao lên; đậu muốn nhiều trái phải vun thêm đất vào gốc đúng lúc; gà con muốn chóng khôn lớn phải có sự ấp ủ và tình yêu của mẹ nó. Vậy thì nàng và chàng cũng vậy thôi. Muốn sống ấm no, vui vẻ, thoải mái, hạnh phúc thì phải có sự hỗ trợ, sự săn sóc và phải có tình yêu, sự ưu đãi của nhau, cho nhau, vì nhau như cây khoai, cây đậu, chú gà con kia. Trong bước đầu tán tỉnh, chàng đặt vấn đề với nàng. Trong câu 4 và 5, tác giả đã dụng ý dùng chữ “thậm” để diễn tả “ý quá nhiều”. Ta thử dùng chữ “thiệt” hay chữ “rất” thay cho chữ thậm thì rõ ràng ý không đạt. Chữ thậm muốn nói lên một nỗi khổ sâu xa, phức tạp và bí ẩn khó lòng giải trừ được. Chữ “thậm khổ” như bày ra trước mắt người đọc cảnh người con gái không kham nổi những lao nhọc vất vả trước những khó khăn của cuộc đời và thiên nhiên… Với con trai thì cả một sự cô độc mênh mông và hầu như công lực thừa thãi thất nghiệp… Chữ thậm còn nói lên những lời than thở khôn nguôi… than thở để được thông cảm, để cầu luỵ… Ngày nay chữ “thậm” ít khi được dùng đến trừ trong các chứ kép “thậm chí”, “thậm cấp chí nguy”. Sau bước đầu dè dặt, xem ra tình hình cho phép, chàng trai đi xa hơn trong thuyết phục với những hình ảnh cao dần và đánh động tâm lý hơn; chuyển từ tài năng kinh doanh qua lý luận triết lý; từ than vãn sang khuyên răn. Tuy nhiên những ví von vẫn luôn dựa trên cuộc sống và thiên nhiên. Đặc biệt, chàng trai luôn tỏ ra người thành thạo giỏi giắn. Chàng nhắm vào sự tương trợ để sinh tồn và phát triển của mọi tạo vật. Thật là tinh tế trong tâm lý con người. Năm câu tiếp trong đoạn 2 cho ta thấy không còn là lời giải thích, than thở mà là huấn từ, là chân lý. Vì có chân lý nên hành động là giáo dục, là áp đặt. Tính cách giáo dục là của kẻ bề trên ban cho nàng lẫn chàng. Rõ ràng đây là một giáo dục triết lý nhân sinh để xây dựng gia đình. Tại đây một điểm đặc trưng trong tâm tư người Việt cổ, cứ hễ mở miệng ra là Trời cùng Đất trước đã rồi mới đến Người. Tư tưởng này nhiều ngàn năm sau lại phát triển mạnh trong Nho học. Rõ ràng trong việc giáo dục người Việt cổ đã lấy việc tương quan giữa Trời Đất và Người làm nền tảng. Trời sinh, Đất dưỡng và Người hưởng. Vậy Người không thể phân ly với Trời, Đất. Nhờ Đất làm trung gian nên người kết hợp với Trời. Dân Việt mỗi lần gặp đau thương, bất mãn thì kêu “Trời Đất ơi!”. 6. Trời sinh trâu thì sinh cỏ. 7. Đất sinh giếng thì sinh mo (mo cau làm gàu múc nước). 8. Người sinh Oa thì sinh tui (Oa = O = cô, chị, dì). 9. Oa một miềng thì khôn đặng. 10. Tui một miềng thì khôn đặng. Tác giả bài thơ cổ nhấn mạnh và lập lại hai lần 2 chữ “khôn đặng”: ý nghĩa huấn từ, ý nghĩa giáo dục, ý nghĩa đạo đức sâu xa, ý nghĩa quyết liệt. Có lẽ ngày nay các nhà đạo đức chân chính cũng khó có một thái độ giáo dục cương quyết như thế. Thật tình là “khôn đặng”, vì gái thiếu trai thì làm sao có con, làm sao bảo tồn sự sống với bao nặng nhọc hiểm nguy bao quanh… Trai thiếu gái thì làm ra của nhưng ai nấu ăn cho, khổ quá, lại sinh ra bao điều phiền toái rắc rối, gàn dở… Chính cái thiếu của âm dương cũng như quan niệm về Trời Đất và Người rất phù hợp với đạo đức của Bách Việt mà Đức Khổng Tử đã ghi chép lại, mà Lm. Kim Định và Học phái của ông đã ra sức học hỏi và phát triển. Bước tán tỉnh tiến đến kết quả cuối cùng với 5 câu cuối, tập trung vào sự cần thiết kết hợp, giao duyên. Đây chính là nền tảng của hôn nhân. Nó giúp loài người tồn tại, lớn lên; và tồn tại lớn lên trong hạnh phúc vui tươi. Tác giả vẫn luôn dùng những lời ví von. Nhưng lần này, trong đoạn cuối, những hình ảnh lớn lao nhất trong thiên nhiên được đưa ra. Hiện tượng đưa ra vô cùng táo bạo mà chính xác. Gió không dồn lại làm sao sinh giông bão, mây không tụ lại làm sao có mưa, người không kết hợp làm sao sống vui và lưu truyền nòi giống. Hai động tác ào ạt trong thiên nhiên đem lại sự sống cho loài người là gió (chứa dưỡng khí) và nước đang được đem ra ví von với sự kết hợp trong tình yêu và hôn nhân. 11. Gió ngoài biển hắn dồn bô (bô = vô). 12. Mây trên trời hắn ún lại (ún = tụ) 13. Oa với tui cùng cuốn lại. 14. Tui với Oa cùng cuốn lại. 15. Hai đứa miềng cùng cuốn lại. Bài thơ kết thúc không lời kết. Loại kết này lại khơi dậy nhiều ý tưởng thầm lặng trong tâm tư người nghe, người đọc. Đúng thế, khi con người diễn đạt đến cái tột đỉnh thì lời kết nằm trong cái tĩnh. Cái ngưng kết bất ngờ ở đây là sự chân thực mỹ mãn. Chính cái ngưng bất ngờ bảo đảm cho sự chân thật của bài văn. Văn chương ngày nay tưởng cũng khó gặp được cái chân thật tuyệt vời đến thế. Kinh qua vài điều trên, ai dám bảo con người Bách Việt cổ kém văn hóa hơn người ngày nay, ai dám bảo người Việt cổ không có một nền văn minh tinh thần như ngày nay. Hiểu được kiến thức, tư tưởng, triết lý, tâm lý, tình yêu của người Việt cổ đại gần chục thiên niên kỷ về trước qua thơ phú của họ phải chăng là một điều kỳ thú lớn lao và cũng vô cùng độc đáo trên thế giới. Hiểu như thế, phải chăng là chúng ta đã đào xới được một nền văn minh cổ đại một cách quá toàn hảo!? Hiểu như thế là phải chăng chúng ta đã có phước quay về gặp lại tổ tiên hiền triết của chúng ta; chúng ta hãnh diện về họ; và phải sẵn sàng sống xứng đáng với tiền nhân. Từ nơi đây chúng ta cũng sẽ còn phanh phui được hàng trăm điều kỳ lạ. Những lời dùng trong bài thơ cổ âm vang nặng giọng điệu miền quê Trung Việt, đặc biệt các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Hóa (Hóa về sau bị Pháp đọc trẹo thành Huế theo thầy Nguyễn Đãi). Để dễ hiểu bài thơ cổ, nhà văn An Phong Nguyễn Vân Diễn đã viết lại theo “giọng cổ” miền Trung: 1. Khoai tỏ bồn thì tốt cổ 2. Đậu ba lá thì bừa un 3. Gà mất mạ thì lâu khun 4. Gái thiếu trai thì thậm khổ 5. Trai thiếu gái thì thậm khổ. 6. Trời sinh trâu thì sinh cỏ. 7. Đất sinh giếng thì sinh mo 8. Người sinh Oa thì sinh tui 9. Oa một miềng thì khôn đặng. 10. Tui một miềng thì khôn đặng. 11. Gió ngoài biển hắn dồn bô. 12. Mây trên trời hắn ún lại 13. Oa với tui cùng cuốn lại. 14. Tui với Oa cùng cuốn lại. 15. Hai đứa miềng cùng cuốn lại. Bài thơ cổ tiêu biểu này chứng minh cho chúng ta nhiều điều rất lý thú. Nó đã nói lên rằng thơ văn ca múa như có sẵn trong dòng máu dân Bách Việt từ thời tiền sử Việt Nam. Nó đã chứng minh rằng từ thời tiền sử dân Bách Việt đã sống dựa trên một nền tảng triết lý sâu xa trước vạn vật trời đất. Triết lý đó chứng minh rằng muốn tồn tại và phát triển phải có sự kết hợp để tương sinh. Quan niệm hôn nhân một vợ một chồng rất rõ ràng trong tư tưởng. Quan niệm này rất được tôn trọng với lễ lược đình đám ca múa. Như vậy bài thơ cổ đã chứng minh một giá trị nhân bản đích thật của mỗi một con người bất luận nam hay nữ, bất luận yếu hay mạnh. Chỗ đứng của sức mạnh hà hiếp bóc lột không lảng vảng ở đây được. Cuối cùng là nó đã chứng minh một giá trị văn hóa trong việc xây dựng gia đình lứa đôi, một vợ một chồng “O với tui”, “tui với O”, “hai đứa miềng” thôi. Lời thơ xuất khẩu dễ dàng, hay, đẹp, đầy đủ, ngắn gọn, chỉnh, phải chăng chứng minh việc làm thơ là việc thông thường của người Việt cổ? Thơ có vận có vần có nhịp, tức dùng để ca múa. Điều này chứng minh rõ rệt tục lệ ăn mừng, ca múa mừng ngày trai gái lấy nhau, đó chẳng phải là nguồn gốc của hôn nhân sao? Như thế bài thơ cổ đã chứng minh một quan niệm hôn nhân cao quý của con người Việt cổ. Phong tục đám cưới đã phát sinh từ thời tiền sử Việt Nam thời Hậu Hòa Bình chứ không còn nghi ngờ gì nữa. Điều thú vị đặc biệt là qua bài thơ cổ này, chúng ta nghĩ rằng trong thời gian tiền sử, sơ sử và lịch sử tiên khởi, đất nước Bách Việt nói chung và Việt phương nam nói riêng đã có nền thi văn giàu thịnh. Ca dao, đồng dao, tục ngữ, ngạn ngữ, vè (thơ)… chỉ là một phần nhỏ còn được truyền khẩu lại nhờ vào tính chất thực dụng trong đời sống hàng ngày và trong giáo dục đạo đức luân lý gia đình và làng mạc. Phần lớn văn chương cổ đã bị thất truyền. Như vậy những tên đặt ca dao, tục ngữ… để chỉ phần lưu lại của văn cổ chưa thể chính xác. Thật là không thể chính xác được, vì người ta lầm rằng ca dao, tục ngữ… là hoàn chỉnh và là văn chương bình dân mới. Như vậy văn minh thi-văn-mới, thi-văn-ca có khác gì thi-văn-viết. Chỉ khổ vì bị đô hộ nên lưu truyền hạn hẹp quá làm hậu thế khó lòng hiểu biết được. Thi-văn và giáo dục nứơc ta chắc chắn đã thịnh hành từ nhiều ngàn năm về trước đã bị thất truyền và bị Tàu cướp mất. Tàu Mông Cổ đô hộ nước ta quá sớm và quá lâu năm, cướp đất đai và đồng hóa dân Bách Việt quá nhiều. Tàu đã lợi dụng sức mạnh dùng chữ nghĩa nhanh tay ghi lại những gì giá trị nhất của Bách Việt để làm tài sản của họ. Khổng Tử là người chân chính, ngài đã nói rằng “chỉ ghi chép những điều đã có sẵn”. Rõ ràng những điều đó có sẵn đó là văn chương, triết học, giáo dục, bói toán… Lm.Kim Định gọi tất cả là Kinh Điển, kể cả bài thơ cổ nói trên ông cũng gọi là Kinh của Bách Việt. TT Tưởng Giới Thạch cho nghiên cứu lại văn minh Trung Hoa, nhưng ông phải khựng lại khi đi dần lên đến Đức Khổng Tử. Vì họ không thể tìm ra một nguồn gốc nào khác ngoài Bách Việt, mà chạm đến gốc Bách Việt thì Tàu sợ mất tất cả vì văn minh tinh thần Trung Hoa do văn minh tinh thần Bách Việt đẻ ra. Thế nên ca dao, đồng dao, tục ngữ, ngạn ngữ… không thể gọi gọn là văn chương bình dân. Vì có nền văn học nào mà chẳng do dân gian kiến tạo, có cá nhân hay vua chúa nào làm nên đựơc văn học. Có thể người ta đã hiểu lầm phân lưu lại của văn chương cổ mà đặt tên. Chắc chắn ca dao tục ngữ ngạn ngữ… chỉ là một phần hữu dụng trong giáo dục, được dân gian chọn lọc, cắt xén từ thi văn cổ. Sở dĩ dân tộc ta yêu chuộng ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ… vì phần lớn chúng chứa đựng một nền giáo dục nhân bản có giá trị mãi với thời gian. Nền giáo dục này đã được nhắc lại trong Huấn Địch Thập Điều Thánh Dụ của vua Minh Mạng do Lê Hữu Mục biên soạn: “thiện chính, thiện giáo, tiếp vu dân tâm, thường đạo chỉ trinh, thất hưu tiên cổ” (chính sách hay, giáo dục tốt, thấm sâu vàp nhân tâm, sự vững của đạo thường giống như thời tiền cổ). Chúng ta cứ tưởng tượng nếu truyện Kiều bị thất truyền, những thế hệ mai sau thế nào cũng đẻ ra hàng triệu ca dao ngạn ngữ rút từ truyện Kiều. Vậy ca dao tục ngữ… có thể là biểu tượng, là đại diện của một nền văn chương cổ Việt đã bị thất truyền. Tuy nhiên một phần quan trọng văn chương cổ còn được truyền tụng và đã được ghi chép lại thành sách vào thế kỷ 20. Hy vọng trong tương lai các nhà khảo cổ ngữ học, những nhà sử học, văn học có thể sẽ sưu tầm những bài thơ văn cổ hầu cùng với ca dao ngạn ngữ, để có thể làmsống lại tối đa nền thi-văn-cổ-truyền bất hủ quý báu của dân tộc Việt Nam. Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh (Theo 60S.com.vn)
  23. Việc nhà nông theo ngày tốt Trong kho tàng văn hoá Hán- Nôm các dân tộc Việt Nam có một bộ phận quan trọng đề cập đến âm lịch, còn gọi nông lịch và công việc làm ăn canh tác, chăn nuôi... của nhà nông. Xin liệt kê những ngày tốt theo can chi đối với một số công việc rất cụ thể mà người xưa coi trọng là "đại sự chí cốt ích lợi sinh tồn". Những ngày tốt cày bừa: Có 5 nhóm ngày tốt cho việc cày sâu bừa kỹ, lần lượt như sau: * Nhóm 1 gồm 8 ngày: Giáp Tuất- Ất Sửu/Đinh Mão/Kỷ Tỵ- Canh Ngọ- Tân mùi/Quý Dậu/Ất Hợi (ký hiệu/cách 1 ngày can chi). * Nhóm 2 gồm 11 ngày: Bính Tý - Đinh Sửu - Mậu Dần- Kỷ Mão/Tân Tỵ- Nhâm Ngọ - Quý Mùi - Giáp Thân - Ất Dậu- Bính Tuất, Đinh Hợi. * Nhóm 3 gồm 9 ngày: Kỷ Sửu/Tân Mão - Nhâm Thìn - Quý Tỵ - Giáp Ngọ - Ất Mùi- Bính Thân/Mậu Tuất- Kỷ Hợi. * Nhóm 4 gồm 8 ngày: Canh Tý-Tân Sửu- Nhâm Dần- Quý Mão - Giáp Thìn/Bính Ngọ/Mậu Thân- Kỷ Dậu. * Nhóm 5 gồm 9 ngày: Quý Sửu - Giáp Dần/Bính Thìn - Đinh Tỵ - Mậu Ngọ - Kỷ Mùi-Canh Thân-Tân Dậu/Quý Hợi. Những ngày tốt ngâm giống: Có 6 ngày là Giáp Tuất, Ất Hợi, Nhâm Ngọ, Ất Dậu, Nhâm Thìn và Ất Mão. Những ngày tốt gieo mạ: Có 11 ngày là Tân Mùi, Quý Dậu, Nhâm Ngọ, Canh Dần, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Ất Mão, Tân Dậu. Những ngày tốt cấy lúa: Có 11 ngày là Canh Ngọ, Nhâm Thân, Quý Dậu, Kỷ Mão, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Ngọ, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Dậu. Những ngày tốt trồng bầu, bí, mướp: Có 6 ngày là Giáp Tý, Ất Sửu, Tân Tỵ, Canh Tý, Nhâm Dần và Ất Mão. Những ngày tốt trồng rau: Có 4 ngày là Nhâm Tuất, Mậu Dần, Canh Dần, Tân Mão. Những ngày tốt trồng gừng: Có 5 ngày là Giáp Tý, Ất Sửu, Tân Mùi, Nhâm Thân và Tân Mão. Những ngày tốt trồng đậu (đỗ): Có 7 ngày là Canh Tý, Nhâm Tuất, Nhâm Thân, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Tân Mão và Mậu Thân. Những ngày tốt gặt hái: Có 11 ngày là Giáp Tý, Nhâm Thân, Quý Dậu, Ất Mão, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Canh Ngọ, Quý Mão, Giáp Thìn và Ất Dậu. Những ngày tốt tậu trâu, bò: - Trong tháng Giêng được 14 ngày: Bính Dần, Đinh Mão, Canh Ngọ, Đinh Sửu, Quý Mùi, Giáp Thân, Tân Mão, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Canh Tý, Canh Tuất, Tân Hợi, Mậu Ngọ và Nhâm Tuất. - Trong tháng 6 được 2 ngày: Canh Thọ và Canh Tuất. - Các tháng 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10, Một (11) và Chạp (12) được 2 ngày: Quý Hợi và Quý Mùi. Những ngày tốt làm chuồng trâu, bò: Có 11 ngày là Giáp Tý, Ất Tỵ, Canh Ngọ, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Canh Thìn, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Canh Tý và Canh Dần. Những ngày tốt cho việc trong buồng vợ chồng đi lại: Có 5 nhóm ngày tốt gồm 45 ngày như sau: - Nhóm 1 có 8 ngày: Giáp Tý, Ất Sửu, Đinh Mão, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Quý Dậu và Ất Hợi. - Nhóm 2 có 11 ngày: Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất và Đinh Hợi. - Nhóm 3 có 9 ngày: Kỷ Sửu, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Mậu Tuất và Kỷ Hợi. - Nhóm 4 có 8 ngày: Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Bính Ngọ, Mậu Thân và Kỷ Dậu. - Nhóm 5 có 9 ngày: Quý Sửu, Giáp Dần, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu và Quý Hợi. - Tháng tốt là ba tháng Xuân: Giêng, Hai và Ba; ba tháng đông là Mười, Một (11, và Chạp (12). Nên kiêng kỵ nhất là ba tháng hè (tháng Tư, Năm và Sáu) vì thời khí không có lợi cho sức khoẻ vợ chồng, sẽ ảnh hưởng xấu đến nòi giống. Ba tháng Thu khí trời đất hanh khô cũng không tốt cho việc đôi bên đi lại với nhau lắm. Việc quý trọng bậc nhất của con người là sinh dục và sinh sản, cho nên càng phải cẩn trọng, không nên phóng túng tùy tiện. Nên kiêng tránh các ngày mà các bậc tiên y đã cảnh báo được gọi chung là ngày con nước : "Dù ai đi lại vợ chồng Phải ngày con nước khó lòng nuôi con". TS. Cung Khắc Lược Theo Báo NTNN
  24. Phải chăng tục chọn ngày chọn giờ chỉ tồn tại ở nước ta và các nước nông nghiệp lạc hậu ? Việt Nam, Trung Quốc thời xưa chỉ sống về nông nghiệp. Ngày nay nước ta vẫn chưa thoát khỏi nền nông nghiệp lạc hậu. Cái ăn, cái mặc, nơi ở thuộc bản năng sinh sống của con người. Vì vậy, lịch pháp và thiên văn học cổ đại cảu Trung Quốc và Phương Đông nói chung rất chú trọng đến thời tiết. Đặc biệt lịch tiết khí, lịch mặt trăng là loại lịch độc đáo chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Thuật chiêm tinh cũng vậy. Xin chỉ dẫn ra đây một loạt công việc dựa vào Thuật chiêm tinh để tìm ra ngày tháng tốt lành. Săn bắn: Ngày vào rừng, ngày tế Sơn tinh, Bạch hổ, ngày phạt mộc, ( ngày đốn cây làm chòi, làm lán, ngày lui rời sơn trại, mùa thu hái, mùa đốn củi, săn bắn...) Đánh bắt cá: Ngày hành thuyền thả lưới, ngày tế thần hà bá. Trồng trọt: Ngày ươm giống, ngày gieo mạ, ngày cấy, ngày gặt, ngày lế thần nông, ngày cúng cơm mới, ngày nhập kho, ngày nạp lương... Chăn nuôi: Ngày làm chuồng, ngày mua giống lợn, bò dê ngựa chó méo, ngày lót ổ cho gà đẻ, ngày bắt đầu nuôi tằm, ngày kéo tơ, ngày lấy mật ong, ngày san tổ ong.... Tất nhiên thời nay người ta không chọn tất cả những ngày nói trên nữa, liệt kê ra để chứng minh: sản xuất nông nghiệp rất gắn bó với Thuật chọn ngày. Các nước Công nghiệp tiên tiến, cũng có tục chọn ngày: 12 chòm sao trên đường Hoàng đạo theo thiên văn học phương Tây, đối chiếu với 12 trực và nhị thập bát tú của phương Đông có những nét tương tự, cách đặt tên các sao theo tên các thiên thần tuy không giống phương Đông nhưng cũng là Thần sát. Qua bài “ trong con số có điều gì thần bí” ta thấy số 13 là con số kiêng kỵ của nhiều nước phương Tây. Theo Lưu- Đạo –Siêu: nhân vật sùng tín thuật chọn ngày tiêu biểu nhất là tổng thống Mỹ Rigân. Lịch công tác cả năm của Rigan dựa vào ngày do một nhà nữ chiêm tinh vạch sẵn: Ngày tốt; mầu lục, ngày trung bình: màu vàng, ngày xấu: màu đỏ. Căn cứ vào đó mà chánh văn phòng Tổng thống đặt lịch công tác: ngày nào đi nước ngoài, ngày nào lên máy bay, ngày nào ký các hiệp ước, ngày nào tiếp khách bình thường, ngày nào phải hoàn toàn nghỉ việc. (Theo thoigian.com)
  25. Xuất xứ của tục chọn ngày chọn giờ Tìm điều lành tránh điều dữ thuộc bản năng của con người. Do trình độ nhận thức, con người cổ sơ chưa thể nào hiểu nổi những hiện tượng thiên nhiên. Thiên nhiên cho ta sự sống, cho ta nước uống, thức ăn, không khí, ánh sáng, hơi nóng.v.v. nhưng bao nhiêu tai hoạ dồn dập đe doạ cuộc sống con người: hạn hán, bão lụt, sấm sét, giông tố, dịch bênh, thú dữ.v.v. cũng do thiên nhiên đưa tới.v.v? khi xã hội có giai cấp xuất hiện, con người cổ sơ cũng chưa thể nào hiểu nổi: tại sao thân phận từng người khác nhau? Kẻ đàn áp, bóc lột, độc ác, tàn bạo được hưởng phú quý, người nô lệ chịu cảnh khốn khổ bần cùng, các tập đoàn người gây còn gây chiến tranh tàn phá lẫn nhau, bao nhiêu cảnh đau thương chết chóc bất ngờ ập tới...? Không giải thích nổi, họ đành quy mọi mối vào tạo hoá. Tạo hoá theo quan niệm thời nay là mọi thiên thể trong vũ trụ, là môi trường thiên nhiên và xã hội, nhưng theo quan niệm xưa là các lực lượng siêu nhiên, là ông trời là cả một loạt thiên thần ác quỷ hoặc một vùng phân dã dưới bầu trời. Trời ban phúc cho ai, người ấy được cai trị kẻ dưới, trời gieo tai vạ cho ai người ấy phải chịu. Bao nhiêu bất công trong đời chỉ biết van trời. Do bản năng sinh tồn, con người phải tìm lẽ sống, tìm cách duy trì và phát triển nòi giống, vươn lên làm chủ muôn vật trên trái đất. Nhu cầu được thu hái sản phẩm, ăn no, mặc ấm, được ở yên, được đi lại bình yên, chống đỡ được bệnh tật tai hoạ là những nhu cầu cơ bản thuộc bản năng sinh vật. Tâm lý chung của xã hội loài người: tìm điều lành tránh điều dữ, xuất phát chung của các loại hình tôn giáo, các loại hình bói toán và các thuật chọn ngày giờ lành dữ. Có ngày tốt ngày xấu hay không? Thực tế có ngày làm mọi việc đều thắng lợi, nhiều điều may mắn tự nhiên đưa tới, ngược lại có ngày vất vả sớm chiều chẳng được việc gì, lại còn gặp tai nạn bất ngờ. Người ta muốn hỏi vì sao vậy? Phép duy vật biện chứng giải thích: Đó là quy luật tất nhiên và ngẫu nhiên. Trong tất nhiên có yếu tố ngẫu nhiên, ngược lại trong ngẫu nhiên cũng có yếu tố tất nhiên. Lý luận thì như vậy, nhưng người ta muốn biết cụ thể: làm sao đón trước được những yếu tố ngẫu nhiên tốt và tránh những yếu tố ngẫu nhiên xấu? Cụ thể: Tháng này cưới vợ nên chọn ngày nào thì tương lai duyên ưa phận đẹp, làm nhà nên chọn ngày nào thì con cháu sum vầy, gia đình làm ăn nên nổi, an táng nên chọn giờ nào, tránh giờ nào, để cầu được phúc đức tránh được tai vạ về sau. Vì vậy người ta phải tìm thầy, tìm sách xem ngày chọn giờ. Nhưng trong Hiệp kỷ lịch không có ngày nào hoàn toàn tốt hay xấu cho mọi người, mọi việc, mọi địa phương. Thực tế, trên chiến trường, thời điểm ta thắng thì địch thua, trên thương trường anh mất của thì người khác được của. Trời mưa lợi cho việc đồng áng ruộng vườn thì bất lợi cho việc xây nhà hay đi đường.v.v. Như vậy ngày tốt ngày xấu còn tuỳ thuộc từng người, từng việc, từng hướng, từng vùng. Ngày tốt, ngày xấu còn tuỳ thuộc vào quan niệm của từng người. Ví dụ mất của là điều không may, nhưng để an ủi người mất của, người ta bảo đó là điều may vì “của đi thay người”. Ngày Nguyệt kỵ tức mồng năm, mười bốn, hai ba, ta cho là ngày xấu, kỵ kiêng xuất hành. Nhưng tránh được ngày nguyệt kỵ lại đến ngày tam nương (13 tam nương, 14 nguyệt kỵ, 22 tam nương, 23 nguyệt kỵ), nếu có việc cần kíp thì sao? Có nhiều cho rằng: ngày xấu thiên hạ kiêng không xuất hành, thì đối với mình càng tốt, vì ngoài đường đỡ chen chúc nhau, xe tàu rộng chỗ, đỡ tai nạn giao thông. Ngày Nguyệt kỵ: trong phong tục, mọi miền ở nước ta đều cho là ngày xấu, nhưng có thuyết cho rằng đó là ba ngày tốt nhất trong cả tháng. Bởi vậy, ngày xưa vua chúa chọn ba ngày đó đi du ngoạn. Vua chúa đi đâu cũng có binh lính dẹp đường, tiền hô hậu ủng. Dân chúng không được nhìn mặt vua chúa, phải cúi rạp hai bên vệ đường, chờ cho xa giá đi qua mới được đứng dậy. Muốn được việc, đành phải tìm đường khác đi cho nhanh, đỡ mất thì giờ, nhiều khi phải bỏ việc quay trở về. Dần dần, trở thành phong tục Nhân dân tránh 3 ngày mồng 5, mười bốn hăm ba của từng tháng, gọi ba ngày đó là ngày Nguyệt kỵ (ngày kiêng kỵ xuất hành của từng tháng). Ngày tốt đối với kẻ cao sang, nhưng trở thành ngày xấu của dân thường. Khi đã chọn được ngày tốt đối với từng việc, theo thuật chiêm tinh, còn phải đối chiếu ngày đó có hợp với bản mệnh của người chủ sự hay không? Cụ thể, phải xem ngày đó thuộc hàng can, hàng chi nào? Có tương xung, tương khắc,tương hình, tương hại với bản mệnh can, chi của người chủ sự hay không? Bác sĩ Vũ Định, trong bài “có ngày tốt, ngày xấu hay không?” (báo Hà Nội mới chủ nhật số 73) có nêu lên lập luận về nhịp sinh học của từng cá thể. “Nếu biết ngày tháng năm sinh của mỗi người, có thể xác định được các chu kỳ đều chuyển tiếp từ bán chu kỳ dương sang bán chu kỳ âm. Số ngày trùng hợp với chuyển tiếp các chu kỳ là ngày xấu, có thể coi là ngày vận hạn của người đó”. Lập luận trên phù hợp với nhận thức về mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố địa vật lý vũ trụ với các hoạt động chức năng của cơ thể...Ta thử vận dụng lập luận về nhịp sinh học từng cá thể như đã nêu trên để phân tích ngày giờ hợp hay xung khắc với bản mệnh từng người trong thuật chiêm tinh có cùng luận cứ khoa học hay không? Chọn ngày chọn giờ và bói toán khác nhau: Các thuật sĩ làm nghề bói toán và chọn ngày chọn giờ đều có tên gọi chung là các nhà chiêm tinh hay âm dương học. Nhưng bói toán và chọn ngày thuộc hai giai đoạn, hai lĩnh vực tư duy khác nhau của con người. Con người muốn biết tương lai thân phận mình ra sao, sắp tới vận hạn rủi may thế nào, họ không nắm được quy luật thiên nhiên và xã hội, họ chỉ biết dựa vào thuật bói toán. Bói toán khi chưa có chủ định, chưa có phương hướng, chưa biết vận hội ra sao, việc làm thành bại thế nào. Khác với thuật bói toán, khi người chủ sự muốn chọn ngày chọn giờ, tức là họ đã có chủ định, đã chuẩn bị sẵn cơ sở vật chất, hay ít ra cũng đã có dự án phác thảo, duy còn phân vân “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” (Con người chủ động mưu tính công việc, việc làm đó thành hay bại còn do trời), có nghĩa là con người đặt khẳng định nội lực của mình, họ chỉ muốn tiến hành trong thời cơ nào thuận lẽ trời, dễ đi đến thành công , tránh được tai hoạ. Vì sao tục chọn ngày chọn giờ tồn tại lâu đời? Xuất phát từ bản năng trở thành tâm lý phổ biến trong quần chúng, mọi việc làm có thành bại. Không phải mọi người đều tin rằng yếu tố quyết định sự thành bại là do chọn ngày chọn giờ. Có người không tin vào thuật chiêm tinh, cho đó là điều nhảm nhí, nhưng chiều theo tâm lý chung của nhiều người trong gia đình họ hàng, xét thấy chẳng có hại gì, nên cũng chọn ngày chọn giờ. Đối với một người trong một năm, năm năm, làm sao tránh khỏi rủi ro bất ngờ, huống gì đối với cả nhà, cả họ. Hễ khi ai đó xảy ra tai nạn, họ đổ lỗi cho người chủ sự báng bổ, không chịu chọn ngày, chọn hướng. Chỉ có lợi, không có hại: Chọn ngày, giờ là một tục lệ biểu hiện sự thành kính, thận trọng, nghiêm trang, không tuỳ tiện, không cẩu thả trước, trong và sau khi tiến hành một công trình, do đó dễ được sự đồng tình của những người có liên quan, đối tác. Có một luận thuyết để tin cậy. Thuật chiêm tinh đúng hay sai, luận thuyết mình tuân theo đáng tin cậy hay không, chỉ có những người đi sâu nghiên cứu mới xác định được, tuy rằng “vô sư, vô sách, quỷ thần bất trách”, nhưng có vẫn còn hơn không, nếu sai sót gì đổ lỗi cho thầy, đã có thầy mang tội, người chủ sự đỡ lo. (theo thoigian.com)
×
×
  • Create New...