Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Cóc con

Hội viên
  • Số nội dung

    104
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by Cóc con

  1. Giống thế này thảo nào cún nhà mình cứ " đấu tranh đòi nhân quyền" suốt :D , ăn cơm là phải được ăn cùng lúc với cả nhà không thì hắn nhịn luôn, không cho ra ngoài chơi là hắn nằm lèm bèm "than thân trách phận"... :lol:
  2. Thủy Tiên à, chị muốn chuyển 200k cho chị Nga nữa nhưng có cách nào khác để chuyển đến Tiên ngoài cách chuyển khoản qua NH không ?
  3. Muốn an nhàn cho sướng thân thì phải ở trên cao...cao...cao :lol: Làm "dân đen" mà đòi lười biếng, hưởng thụ cuộc sống thì "toi" sớm :)
  4. Quạ và Thỏ Ngày nào Thỏ cũng thấy Quạ đậu trên cây, chẳng phải làm gì, chẳng phải chạy đầu này đầu kia như nó. Thỏ cũng muốn được thảnh thơi như quạ nên hỏi : - Tôi có thể ngồi không suốt ngày như anh được không ? - Tất nhiên được chứ, sao lại không ?! Thế là Thỏ khoái chí ngồi nghỉ ngơi "thư giãn " dưới gốc cây ... Thình lình, 1 con cáo xuất hiện, nhảy đến túm lấy thỏ và .... xơi thịt thỏ ! Hết chuyện :)
  5. 20 cách giúp loại trừ căng thẳng 1/ Hãy yêu thích việc mình làm, bạn sẽ cảm thấy thú vị hơn và làm việc hiệu quả hơn. 2/ Xét lại các yếu tố gây căng thẳng. Cố loại bỏ những yếu tố nào gây trói buộc và gây bực mình vô ích 3/ Đừng tìm cách làm vừa lòng tất cả mọi người. Vì đơn giản là ta không thể nào làm được điều đó và cũng đừng phung phí lòng tốt của mình vào nơi không xứng đáng. 4/ Hãy sống đúng với con người mình, đối diện với các vấn đề của mình. 5/ Hãy biết làm vui lòng mình và lo nghĩ đến mình. 6/ Thỉnh thoảng hãy ra nơi thanh vắng và nhìn lại nội tâm mình. 7/ Hãy bộc lộ xúc cảm: Hãy nói ra những điều mình nghĩ, những điều mình cảm nhận. 8/ Đừng hoãn lại đến ngày mai những gì làm được hôm nay và cũng đừng cố làm ngay hôm nay những gì có thể hoãn đến ngày mai. 9/ Đừng để những thay đổi quan trọng trong cuộc sống xảy ra liên tục trong thời gian quá gần nhau. Những căng thẳng chồng chất sẽ làm bạn không đủ thời gian để giải quyết. 10/ Dành thì giờ để làm việc mình ưa thích, hoặc chỉ ngồi mà mơ mộng vẩn vơ, ngắm mây, ngắm cá.... 11/ Mỗi ngày thư giãn ít nhất 2 lần (mỗi lần ít nhất 5 phút). 12/ Hãy tập thể dục, hãy làm tiêu hao bớt năng lượng. Hans Selye nói “Như khi ta đói thì ăn ngon miệng hơn, ta cần phải mệt thì nghỉ ngơi mới thoải mái trọn vẹn”. 13/ Thỉnh thoảng hãy đi bộ dạo chơi . 14/ Đừng hy sinh thì giờ nhàn rỗi của mình. 15/ Hãy sống điều độ, dùng thức ăn đầy đủ, đúng bữa và ngủ đủ giấc. 16/ Hãy bắt đầu với bữa ăn sáng đầy đủ chất bổ. 17/ Hãy mỉm cười! Tương quan của bạn với những người xung quanh sẽ tốt hơn. 18/ Hãy hít sâu vào khi mình bực bội. Khi chú ý đến hơi thở thì nỗi bực tức đã vơi đi một nửa rồi. 19/ Hãy học cách yêu thương (bằng những cử chỉ âu yếm). Tình yêu là liều thuốc an thần tốt nhất. 20/ Tránh xa tiếng ồn, đừng xem truyền hình trong khi ăn. Hãy tìm cho mình những giây phút thinh lặng và yên tĩnh.
  6. Những bức tranh trên cách đồng Nhật Bản
  7. Từ trò chơi " Tôi tin ở bạn" Chưa tìm được bài để post nên CC xin mời mọi người cùng chơi trò chơi vậy ! B) . Trò này CC học được từ hồi ĐH, chơi không chỉ là chơi. Cách chơi : - Người chơi chính đứng giữa, nhắm mắt và thả lỏng toàn thân. - Vòng tròn 8-10 người ( số lượng người tùy thuộc... kích cỡ người !) - Vòng tròn thu nhỏ lại, các thành viên của vòng tròn đưa 2 tay ra phía trước , để bàn tay gần chạm vào thân người chơi ( sao cho vòng tròn vừa đủ bao quanh thân người chơi chính ) . - Vòng tròn sẽ đẩy người chơi nghiêng về các hướng, người chơi chính không di chuyển chân, nhắm mắt, hoàn toàn thả lỏng và tin tưởng vòng tròn sẽ không để mình ngã - Khi nào người chơi chính thấy "đã" thì thay đổi người của vòng tròn vào thành ngươi chơi chính. Hãy tin là không ai để cho bạn ngã đâu, mình chơi trò này nhiều lần rồi, có khi chơi với các Tây cả 100kg ( mình 50 !) mà mình cũng đỡ, cũng đẩy được miễn là người đó thư giãn, tin tưởng và không cưỡng lại sự điều khiển của vòng tròn. Còn nếu là người chơi chính thì cảm giác là rất " phê" B) Hãy thảo luận về cảm giác trong khi chơi, cảm xúc sau khi chơi, ta sẽ thấy những người "chìm" nhất, trầm tính nhất hoặc người căng thẳng, cau có nhất trong nhóm sẽ là người " phê" nhất nếu chơi được trò này. Và ta sẽ thấy khuôn mặt họ sáng tươi hơn... Thông điệp : Đôi khi, trong cuộc sống, ta cần tin tưởng và thậm chí giao phó vận mệnh cho bạn bè và những người thân quanh ta. Nếu tôi tin ở bạn và bạn tin ở tôi, chúng ta sẽ không gục ngã ... Hãy cảm nhận cảm giác khi bị dòng đời đưa đẩy, nếu ta cứ căng thẳng, cứng nhắc thì sao ; nếu ta nhẹ nhàng đón nhận và luôn giữ lòng tin ở cuộc sống thì thế nào....
  8. Đông - Tây gặp nhau rồi Cô Wildlavender nhỉ B)
  9. Người điên ngỡ mình khôn, và người khôn nhận ra mình điên. W. Shakespeare
  10. Bí quyết 90/10 10% cuộc đời là những gì xảy đến đối với bạn. 90% cuộc đời là do những phản ứng của bạn đối với những chuyện xảy đến đó. Thế nghĩa là sao? Giờ hãy thử xét một ví dụ : Bạn đang dùng điểm tâm cùng với gia đình. Con gái bạn làm đổ cà phê lên áo bạn. Chuyện đó xảy ra bất chợt, bạn không kiểm soát được. Điều xảy ra tiếp sau đó là phản ứng thuộc quyền quyết định của bạn. Bạn mắng cháu. Cháu phát khóc. Bạn trách cả vợ mình đã đặt tách cà phê quá gần rìa bàn. Hai người bắt đầu cãi nhau một hồi. Bạn đùng đùng bước lên lầu thay áo. Khi bạn trở xuống con bạn vẫn còn khóc, chưa ăn xong để đi học. Cháu bị lỡ chuyến xe đưa rước. Vợ bạn phải hối hả đi làm. Bạn đi nhanh ra, đưa con gái đến trường. Sợ trễ, bạn chạy xe vượt tốc độ cho phép. Sau khi chịu phạt nặng, bạn đưa con tới trường trễ hết 15 phút. Con bạn chạy nhanh vào lớp không kịp chào bạn. Bạn đến văn phòng trễ 20 phút, lại thấy mình bỏ quên chiếc cặp ở nhà. Ngày của bạn đã bắt đầu một cách thật khủng khiếp. Chuyện càng lúc càng tệ hại tiếp tục xảy ra. Buổi chiều bạn buồn chán trở về nhà để thấy vợ con không vui vẻ đón mừng mình như ngày hôm trước. Tại sao bạn có một ngày buồn chán như thế? A. Tại tách cà phê chăng? B. Tại con gái bạn chăng? C. Tại người cảnh sát à? D. Do bạn gây ra đấy chứ? Câu trả lời đúng là D. Bạn đã không làm chủ cái 90% thuộc quyền phản ứng của mình. Cách phản ứng chỉ trong năm giây của bạn đã tạo nên một ngày bất hạnh. Bạn cũng đã có thể phản ứng một cách khác. Khi tách cà phê đổ, cháu bé muốn khóc, bạn đã có thể nói: “Không sao đâu con, lần sau con nên cẩn thận hơn một chút”. Bạn nhẹ nhàng lên lầu thay áo và mang theo chiếc cặp. Bạn xuống nhà vừa kịp vẫy tay chào lại cháu bé lên xe đưa rước. Vợ chồng bạn hôn nhau rồi cùng đi làm. Bạn đến văn phòng sớm năm phút và vui vẻ chào các đồng nghiệp buổi sáng. Có lẽ sếp cũng khen bạn về một ngày làm việc có hiệu quả. Hãy nhớ rằng phản ứng của bạn rất quan trọng. Chuyện bất ngờ xảy ra chỉ chiếm 10%, quyết định phản ứng của bạn chiếm tới những 90%. Hãy nhớ và áp dụng bí quyết 90/10 cho mọi việc xảy ra trong ngày, bạn sẽ thấy cuộc đời bạn tốt hơn thật nhiều. Chúc bạn thành công!
  11. Điều dáng sợ nhất trong cuộc sống là gì ? Điều dáng sợ nhất trong cuộc sống không phải là cái chết, mà là bị lãng quên, bị xem là hạt bụi sau những vầng hào quang rực rỡ…. …là khi người bạn yêu dấu nhất từ bỏ tấm chân tình của bạn để chạy theo những điều hư ảo …là khi người thân quá bận rộn với cuộc sống đã không thể an ủi bạn khi bạn cần được nâng đỡ tinh thần …là khi dường như không còn ai trên cõi đời này quan tâm tới bạn. Cuộc đời ai không trải qua đắng cay! Liệu có bao giờ con người ta trở nên độ lượng hơn với chính mình? Bao giờ con người mới biết quan tâm người khác và giành chút thời gian cho sự giúp đỡ Mỗi người chúng ta đều có những vai diễn trên sàn diễn vĩ đại của cuộc đời. Mỗi chúng ta đều có trách nhiệm với những người xung quanh, nói với họ rằng chúng ta yêu mến họ… Nhưng nếu bạn không quan tâm tới mọi người thì cũng chẳng sao đâu… bạn chỉ bị lãng quên, hững hờ… y như bạn đã từng đối với người khác… Vậy thì ngay từ hôm nay chúng ta hãy tập thói quen bày tỏ sự quan tâm đến người khác… Đâu có mất gì khi chúng ta mỉm một nụ cười, siết chặt một bàn tay, thốt lên một lời khích lệ, hoặc đơn giản chỉ nói rằng chúng ta muốn lắng nghe.
  12. Cóc con

    Help me

    Đây không phải diễn đàn nhí nhố của tuổi teen đâu bạn. Mà bạn cũng chả còn là teen...!
  13. Ba cuốn sách sắp phát hành chả bõ bèn gì so với tổng lượng lỗi sai của SGK mà các Biên tập viên NXBGD và các Giáo viên đứng lớp phát hiện .
  14. Theo mình thì cứ lấy sách Mẫu giáo của Pháp, Tiểu học của Nhật, THCS của Úc, THPT của Mỹ mà dịch ra cho HS nó học. Thế là đảm bảo các vị GS đáng kính nói trên sẽ thấy nó rất chuẩn, rất đẳng cấp quốc tế, phù hợp với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa ! Làm thế chỉ cần 2 tháng là cải cách xong tuốt và ta sẽ có 1 bộ sách giáo khoa đúng chuẩn in - tẹc (International) ! Lúc đấy thì, " So với các nước, chương trình và sách giáo khoa của ta... giống tất cả mọi người " Còn như bây giờ á, năm nào bọn bạn của CC làm Biên tập của NXB GD cũng tức phát khóc lên vì những lỗi sai "trơ trẽn" ( nguyên văn) của SGK mà chúng nó phải làm tờ trỉnh rồi liều mình tranh cãi bao nhiêu lần cũng không nhận được cái gật đầu của các vị GS đáng kính ! Mà đâu chỉ SGK sai, sách bồi dưỡng, nâng cao ...còn sai kinh khủng hơn !
  15. Chào Anh Hungisu Cho CC hỏi là bài chú trên này có dùng cho chó nhà mình được không ? Khoảng hơn năm nay con cẩu của nhà CC rất hay nổi đóa bất ngờ, nó đớp CC mấy lần rồi. Cắn xong lại lẽo đẽo đi theo xin lỗi ! Con cẩu này là trường hợp thất bại duy nhất của CC trong việc chăm sóc thú nuôi các loại. Bực mình gì đâu ! Dạo này CC sợ nó luôn nên để nó lông lá xù xì xấu xí. Thấy cũng tội nghiệp nhưng mà sợ nó quá. Anh có cách gì giúp CC với ! Cảm ơn Anh nhiều !
  16. Gia đình CC tặng chị Nga 500 000, sẽ chuyển vào tài khoản của T.Tiên trong hôm nay.
  17. Sức mạnh vô hình và sự bất lực của khoa học đầu thế kỷ XX Những chiếc bàn bay lên khỏi mặt đất, bóng ma xuất hiện, dịch chuyển đồ vật từ xa...đầu thế kỷ XX, khả năng "kỳ diệu" còn được gọi là thuật thông linh này cuốn hút cả Châu Âu. Nhiều nhà bác học như Pierre Curie, Camille Flammarion và Édouard Branly đã nhập cuộc để tìm ra cơ sở khoa học của các khả năng này. Cuối thế kỷ XIX, sự hâm mộ của người Mỹ đối với thuật thông linh đã lan sang Châu Âu. Tại Luân Đôn, Paris, nhiều nhiếp ảnh gia "thông linh" làm xuất hiện các hình ảnh ma quái. Người dân đổ xô đi xem, còn các nhà bác học bắt đầu bán tín bán nghi. Nhà thiên văn học Camille Flammarion tin rằng "thuật thông linh không phải là một tôn giáo mà là một khoa học, khoa học mà chúng ta mới chỉ biết rất ít". Còn Pierre Curie năm 1894 đã viết cho vợ mình là Marie Curie như thế này: "Anh phải thú nhận rằng các hiện tượng này kích thích anh rất nhiều. Anh tin rằng trong đó có các vấn đề liên quan chặt chẽ đến vật lý. Có một tác nhân vô hình chưa biết trong các hiện tượng này". Sự xuất hiện dải sáng giữa tay của Eva C có thể là kết quả của một kỹ xảo nhiếp ảnh. Để phân biệt những người tham gia và những đồ vật trong bóng tối, nhiếp ảnh gia Sven Turck, tại Đan Mạch, đã dán các dải lân quang lên trán và cổ tay của người điều khiển cũng như lên bàn. Pierre Curie không phải là người duy nhất đặt ra câu hỏi. Năm 1905, ông tham gia Nhóm nghiên cứu các hiện tượng tâm thần, do Émile Duclaux, giám đốc Viện Pasteur, đứng đầu. Nhóm này tập hợp Arsène d'Arsonval và Étienne Jules Marey (các thành viên của Viện hàn lâm khoa học), triết gia Henri Bergson, và cả nhà vật lý học Édouard Branly. Mục đích của nhóm nghiên cứu là "khám phá cái vùng nằm ở rìa của tâm lý, sinh lý, vật lý, ở đó người ta đã tin là đã nhận thấy các biểu hiện sức mạnh còn chưa được xác định", trong khuôn khổ một "nghiên cứu hoàn toàn khoa học, không có định kiến khẳng định hay phủ định". Các nhà khoa học Pháp đặc biệt quan tâm đến các hiện tượng vật lý của thuật thông linh: các đồ vật được nhấc bổng khỏi mặt đất và chuyển động, những ánh sáng lờ mờ và những bàn tay xuất hiện... Người ta có thể ngạc nhiên về sự quan tâm này. Trên thực tế, vào thời kỳ đó có rất nhiều hiện tượng vật lý mà khoa học chưa giải thích nổi. Ống catot cho thấy một "vật chất bức xạ" không nhận dạng được. Một muối rađi bức xạ liên tục một ánh sáng mạnh mà không mất vật chất. Các tia X cho phép cái mà thời đó người ta gọi là "ảnh của vô hình" nhưng bản chất của chúng vẫn chưa được làm sáng tỏ... Các bức xạ này phá vỡ tất cả các nguyên tắc bất di bất dịch điều chỉnh vật chất và năng lượng. Lật tẩy các trò bịp Để có thể tìm ra cơ sở khoa học hoặc lật tẩy được các trò lừa bịp, nhà vật lý học người Anh Oliver Lodge đã nghĩ đến một loạt các dụng cụ đo đếm nhằm "vật hóa" các hiện tượng dùng ý chí để điều khiển đồ vật: cân, máy ghi, bàn có chân được kiểm soát bằng điện, máy chụp ảnh điều khiển từ xa, nguồn phát tia cực tím... Việc sử dụng chúng được cụ thể hóa tại Pháp, trong khuôn khổ của Nhóm nghiên cứu các hiện tượng tâm lý. Các nhà tổ chức đã xây dựng một "kế hoạch nghiên cứu tổng quát" nhằm làm sáng tỏ các tác dụng cơ học, nhiệt học, điện hoặc từ tính... có khả năng được sinh ra. Các công tắc điện, nằm dưới bàn, ngăn không cho người điều khiển dùng chân mình đẩy vào chân bàn. Tất cả các hiệu ứng ánh sáng đều được máy ảnh ghi lại. Cuối cùng, bản thân người điều khiển đồ vật cũng được nghiên cứu trên góc độ tâm sinh lý: tuần hoàn máu và huyết áp, thế điện... tất cả đều được ghi lại cẩn thận. Eusapia Palladino trong một lần điều khiển đồ vật trong phòng của Camille Flammarion, có sự tham dự của Charles Richet và Paul Sabatier. Các dụng cụ đo đếm được các nhà khoa học sử dụng để đo các hiện tượng do những người dùng ý chí điều khiển đồ vật tạo ra. Một trong những biện pháp để kiểm tra sức mạnh tinh thần là cấm mọi tiếp xúc giữa người điều khiển và chiếc bàn được điều khiển. Tuy nhiên, phương pháp khoa học này đã không được áp dụng đầy đủ. Bởi theo những người dùng ý chí điều khiển đồ vật, để điều khiển từ xa các vật bay lên và chuyển động, cần phải rất thận trọng: tuân thủ các điều kiện vật chất (như bóng tối) và tâm lý (sự thành tâm của những người quan sát). Hơn nữa, các hiệu ứng không phải lúc nào cũng xảy ra, ngay cả khi các điều kiện là đồng nhất và thuận lợi. Cuối cùng, các hiệu ứng này có thể chỉ thoáng qua, cần phải bắt giữ chúng ngay khi chúng thoáng xuất hiện, và phải chấp nhận tính "đồng bóng" của chúng. Theo nhà thiên văn học người Ý Giovanni Schiaparelli, không thể áp dụng phương pháp khoa học, vì những người điều khiển nhất định khăng khăng với các điều kiện của mình. "Cần phải sử dụng một phương pháp khác táo bạo hơn, giống như phương pháp điều tra của cảnh sát". Đó là điều mà các nhà sử học hiện nay gọi là "phương pháp dấu hiệu". Phương pháp này dựa trên không phải một biến thiên các điều kiện của thực nghiệm mà dựa trên quan sát, phân tích các dấu hiệu và đối chiếu lời khai. Vậy là Nhóm nghiên cứu lại áp dụng phương pháp mới đòi hỏi khả năng tốc ký chính xác và các kỹ thuật đo đếm hiện đại. Các nhà khoa học dần dần nhận thấy rằng họ phải có các dụng cụ mới. Vì thiếu thực nghiệm, họ phải chấp nhận quay trở lại quan sát, nhân chứng và lời khia, nền tảng của bằng chứng khoa học thế kỷ XVII. Không thể nghi ngờ được nữa Từ 1905-1907, Nhóm nghiên cứu các hiện tượng tâm lý tổ chức hơn bốn mươi cuộc nghiên cứu với Eusapia Palladino, một phụ nữ nổi tiếng sống ở miền Nam nước Ý. "Dù bị trói chặt trên một chiếc ghế hoặc bị những người tham dự giữ chặt, nhưng Eusapia vẫn hút được về phía mình các đồ vật xung quanh, nhấc chúng lên và giữ chúng lơ lửng trên không". Chứng kiến khả năng của Eusapia, nhà tâm thần học người Ý Cesare Lombroso, mặc dù ban đầu rất hoài nghi đã thừa nhận khả năng điều khiển đồ vật bằng ý chí. Vài ngày trước khi đột ngột qua đời, Pierre Curie còn ghi trong cuốn sổ tay của mình: "Kết quả, đó là các hiện tượng tồn tại thật và tôi giờ không thể nghi ngờ được nữa". Trên thực tế, hầu hết những người tham gia vào các buổi thực nghiệm, dù họ có là nhà khoa học hay không, đều tin vào cái họ nhìn thấy. Tuy nhiên, báo cáo cuối cùng được công bố năm 1908 lại tỏ ra thận trọng hơn nhiều. Báo cáo thừa nhận không thể giải thích một số hiện tượng và yêu cầu tiến hành các thực nghiệm mới. Sau đó vì những lý do huyền bí như chính những hiện tượng này, các nghiên cứu đã rơi vào quên lãng và dần biến khỏi sân khấu khoa học. Phước Vĩnh Nguồn : tiasang.com.vn
  18. CC tặng chị Nga 200 000. Trưa mai CC sẽ chuyển vào tài khoản của Thủy Tiên, T.Tiên kiểm giùm nhé. Cảm ơn T.Tiên.
  19. Mình cũng luôn nghĩ vậy. 29 rồi vẫn thấy không việc gì phải vội, chả việc gì phải cưỡng cầu ! :D . Cứ đến đúng ngày lành tháng tốt giờ linh tất là "mối tình to" của ta sẽ thuộc về ta... hè hè
  20. Cảm ơn Anh Thiên Đồng, hì hì.. Anh xuất chiêu rồi... Khi nào có kết quả gì là CC sẽ báo cáo ngay ! Chúc Anh 1 tuần vui ! :rolleyes:
  21. Định giảm tải cho Chú Thiên Sứ và chị Lavietdt nên chạy sang đây nhờ Anh. Thế mà chờ 3 ngày rồi Anh không chịu "hiện hình" ...hic hic :)
  22. Con Phật, con Trời ... Ở Nhật Bản có 1 kinh nghiệm dân gian để xem sự tương hợp giữa mẹ và con. Người ta đã dùng kinh nghiệm dân gian ấy làm cơ sở thực nghiệm xem tuổi của mẹ và tuổi của các em học sinh phổ thông, hầu hết các em học sinh có thành tích tốt đều là con Phật, con trời. Cách tính như sau: Nhìn hình vẽ bàn tay như trên, xem tuổi mẹ ở cung nào, thuận theo chiều kim đồng hồ, nhẩm lần lượt từng cung như sau "Phật, Trời, Người, Ta, Ma, Quỷ", hết 6 chữ lại nhẩm lại từ đầu cho tới cung ghi tuổi con. VD1: mẹ tuổi Dậu, con tuổi Tuất. Thì tính như sau: Bấm tuổi mẹ tại Dậu và tính đó là là Phật, rồi tiến theo chiều kim đồng hồ mỗi cung một tuổi... tới cung tuất là Trời...thì đứa con sẽ là "con trời" . Ví dụ 2: mẹ tuổi ngọ, con sinh tuổi mèo. Tại Ngọ tính là Phật, trời vào cung mùi, ....quỉ là cung hợi, lại tính tiếp một vòng khác: Phật vào cung tí,... con ta vào cung mão. Như thế đứa con này là "con ta" - con của mẹ nên sẽ ăn theo hồng phúc của mẹ! Người ta cũng làm trắc nghiệm xem tuổi của mẹ và tuổi của các cháu bé hư trong trại giam thì hầu như đều là con ma con quỉ... Nếu bạn xem kiểu này xong mà con bạn lại là con ma con quỉ thì làm sao? Con ma con quỉ không phải là ma quỉ theo nghĩa đen... bạn hãy tách sự ảnh hưởng trực tiếp giữa hai mẹ con thì hay hơn, có thể nhờ người khác cho ăn cho uống, chăm sóc và cho làm con nuôi, nhờ người nuôi hộ để tránh sự tương thông trực tiếp, vì mối giao hảo đã trở nên xấu nếu tương giao trực tiếp... Nếu con gái mà là "con trời" thì sẽ hơi vất vả ... phải đảm đương việc nhà và việc nước. Nếu sinh con trai là "con trời" thì thuận hợp và nếu sinh con gái là "con Phật" thì thuận hợp... Nguồn : http://thucduong.vn
  23. Chào anh Thiên Đồng , Hôm nay làm phiền anh luận cho CC mấy quẻ, anh nhé ! :) Một là : Anh chị của CC mở công ty, Luật sư đã lấy được Giấy ĐKKD nhưng có 1 mảng hoạt động chính của cty thì chưa được cấp phép. Theo lời Luật sư thì mảng này bị hạn chế vì vậy cần phí dịch vụ rất cao để đi xin cấp phép. CC thấy hơi nghi ngờ lời Luật sư nên có "xúi" anh chị khoan nhờ dịch vụ này nhưng không biết tự mình đi làm thì có dễ dàng được không hay nhờ LS khác thì có khá hơn không ? Và kết quả việc xin cấp phép này ra sao ? Hai là : Anh chị muốn thuê nhà vừa để ở (cùng Mẹ và CC) vừa làm cty nhưng CC đi long nhong ngoài đường suốt mấy hôm nay mà chưa tìm được nhà. Xin anh xem giúp bao giờ thì thuê được nhà ? Ba là : Mẹ của CC muốn bán hoặc cho thuê căn nhà đang ở. Vậy việc này tiến hành có dễ không ? Mong tư vấn của anh lắm ! Cảm ơn anh !
  24. Nguồn : anviettoancau.net Nguyễn Quang Nhật Cổ sử Trung Hoa và những dấu chấm hỏi Sai lầm lớn nhất của các sử gia Hán tộc là kết cấu lịch sử dân tộc – quốc gia mình một cách máy móc thiếu biện chứng, bỏ quên yếu tố thời gian. Lãnh thổ Trung Hoa tới điểm “hạn” khoảng đầu công nguyên, tức là mốc thời gian mà lãnh thổ không thể trương nở tự do được vì nó tiến đến một đường biên với các dân tộc, quốc gia khác, từ điểm này sự xê dịch biên giới luôn là kế quả của một cuộc chiến, với Trung Hoa từ mốc lịch sử này các cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa Hán tộc và lân bang đều được ghi vào sách sử. Ta thử làm một con tính đơn giản, dân số Trung Hoa đời Tần khoảng 20 triệu người, 2000 năm sau là 1.200 triệu người tức tăng 60 lần, lấy tỉ lệ này ước tính dân số nhà Hạ trước Tần 2.000 năm, vương triều đầu tiên trong Tam Đại của Trung Hoa, thì dân số cao lắm cũng chỉ dưới 500.000 người; với số dân như vậy dàn trải trên diện tích gần bằng diện tích Trung Hoa ngày nay là điều không thể có. Lý do rất đơn giản là điều kiện vật chất kỹ thuật không cho phép, với phương tiện lưu thông chính là đôi chân thì không thể có một nhà nước mà lãnh thổ rộng tới vài triệu ki-lô mét vuông bao gồm 9 châu: Duyện, Ký, Thanh, Từ, Dự, Kinh, Dương, Lương, U như đã ấn định trên bản đồ Trung Hoa cổ; các sử gia Hán tộc đều thành thực tin rằng lãnh thổ Trung Hoa to lớn như thế vì cổ sử Trung Hoa từ thời vua Chuyên Húc (2513 –n 2345 trước CN), đời vua Nghiêu (2357 trước CN) thậm chí cả đến đời Thần Nông, một vì vua của truyền thuyêt xa xôi lắm, lãnh thổ Trung Hoa đã tiếp giáp với Giao Chỉ hay Giao Châu, cũng có sách chép là Nam Giao tức lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Sử gia Hán tộc đã sai lầm khi tạo nên một lịch sử không có sự phát triển, quốc gia cũng chỉ là một cơ thể sống, có sinh ra, có lớn lên rồi tới điểm dừng hay hạn. Cũng như con người sinh ra chỉ khoảng 2 – 3 kg lớn lên tới độ 23 – 25 tuổi là điểm dừng thì nặng khoảng 50 – 60 kg, còn “Hán Quốc” mới khai sinh đã to bằng tuổi 20 – 25, đã có 9 châu mênh mông thiên địa …. đúng là thần nhân trong thần thoại…. Như vậy làm sao ta có thể lý giải một việc rất nhất quán trong cổ sử Trung Hoa. Liên tiếp từ thời Thần Nông tới Chuyên Húc và sau là vua Nghiêu …, kinh Thư, Thiên Nghiêu Điển viết: “vua Nghiêu mệnh hy thúc trạch Nam Giao…” Nam Giao, Giao Chỉ là một địa danh, một vùng đất đã có từ thời Thái cổ trong lịch sử Trung Hoa và liên tục cho đến đời Tống; vua Tống vẫn phong cho vua Đại Việt là: “Giao Chỉ Quận Vương” trước khi nâng cấp lên “An Nam Quốc Vương”, sự việc đó chỉ cách nay một ngàn năm và được ghi chép rõ ràng trong sách sử. Tìm lời giải đáp cho câu hỏi hóc búa nhưng kỳ thú này dẫn dắt đến một sử thuyết, và khi sử thuyết này được minh chứng sẽ làm đảo lộn toàn bộ lịch sử Trung Hoa, Việt Nam và Đông Nam Á. Chính sử Trung Hoa đều cho rằng thủy tổ dân tộc mình là Bào Hy, Thần Nông. Thần Nông là kết cấu ngôn ngữ Việt, nếu theo Hán ngữ phải viết là Nông Thần; đây không phải là trường hợp duy nhất vì ta gặp nhiều trường hợp như thế trong Ngũ Kinh, như: Đế Ất, Hậu Tắc,… Hậu Nghệ, V.v… Vậy các vua này là vua Việt hay vua Hán? Thêm vào đó các địa danh của Trung Hoa đầy dẫy ngôn ngữ Việt, như: Hồ Nam, Hồ Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây, … Hán tự dùng ‘sơn hà’ là ‘núi’ và ‘sông’ để chỉ lãnh thổ quốc gia, như sông phương bắc, sông phương nam, núi phương tây, núi phương đông, … vậy theo Hán ngữ phải ghi là Bắc Hà, Nam Hà, Đông Sơn, Tây Sơn …, còn Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, Sơn Tây là kết cấu theo Việt ngữ? Lịch sử về văn minh Trung Hoa cũng có một số điểm mà ta không hiểu nổi . “Thời nhà Hạ (2200 trước CN) người dân đã biết ‘tát nước vào ruộng’…” rõ ràng câu này chỉ sự canh tác lúa nước; nước là điều kiện đầu tiên trong: “nước, phân, cần, giống” mà nền khoa học nông nghiệp Việt Nam đã tổng kết từ xa xưa; nước quan trọng đến nỗi “việc dẫn thủy nhập điền” được coi như một thành tựu khoa học, phản ánh trình độ văn minh của một dân tộc. Sự việc này khó hiểu ở chỗ: lãnh thổ nhà Hạ ở vùng Hoàng Hà (theo chính sử Trung Hoa) đâu có trồng được lúa nước … cây được trồng chính ở miền Bắc Trung Hoa là kê và lúa mì. Các chứng cứ về khảo cổ học và các ngành khoa học khác như nông học, thổ nhưỡng đã xác định như vậy. Ngày nay, qua các di chỉ trong lòng đất, ngành khảo cổ học đã xác định được nơi sinh tụ thời cổ xưa của Hán tộc là bờ sông Hoàng Hà. Hán tộc là tộc người xây dựng được nền văn minh rất sớm, họ đã bước vào thời gọi là văn hóa gốm đỏ cách đây khoảng 8.000 năm, địa bàn của họ dịch chuyển từ tây sang đông dọc theo sông Hoàng Hà với các nền văn hoá gốm đỏ, gốm đen, rồi gốm xám. Vùng đất từ Thiểm Tây tới Hà Nam ngày nay. Vào đời Thương lãnh thổ Trung Hoa là vùng đất nằm ởgiữa 4 tỉnh: Hà Nam – Hà Bắc – Sơn Đông – Sơn Tây. Qua đời Chu thì chuyển về vùng Sơn Tây ngày nay, theo đó ta có thể xác định Hán Quốc cổ là quốc gia lục địa chưa tiến đến bờ biển; nhưng sử Trung Hoa lại ghi: “Từ đời Thương dân Trung Hoa đã biết dùng vỏ sò làm tiền để trao đổi hàng hóa…”, nên trong Hán tự đã cấu thành bộ ‘bối’ nghĩa là ‘vỏ sò’, ‘vỏ hến’ để tạo nên các từ liên quan đến việc giao thương, buôn bán … nhưng dân sinh sống sâu trong lục địa thì lấy vỏ hến, vỏ sò ở đâu ra? Sử Trung Hoa cũng ghi là vào đời Thương đã biết dùng voi trong chiến trận …, nhưng lãnh thổ nhà Thương ở vùng sông Hoàng Hà thì làm gì có voi, voi Á Châu chỉ sống ở miền xích đạo và nhiệt đới, … không lẽ sử Trung Hoa sai lầm lớn đến thế? Hai loại “vật liệu” nền tảng của văn hóa Trung Hoa là mai rùa và tre đều không phải là sản vật tự nhiên của miền Bắc Hoàng Hà. Người ta đã đào được ở An Dương thuộc phần Bắc Hoàng Hà thuộc tỉnh Hà Nam, hàng vạn mai rùa và xương thú có khắc “Hoa tự” cổ và coi đây là căn cứ để xác định trung tâm văn minh Trung Hoa … nhưng ở miền Bắc Hoàng Hà không hề có loại rùa lớn đó sinh sống, khoa học đã chỉ rõ như thế; loại rùa có mai lớn để khắc chữ chỉ sinh sống ở sông Dương Tử hay Trường Giang. Lại nữa, Dịch Lý vào đời nhà Thương được gọi là Qui Tàng Dịch là sách dịch được khắc trên mai rùa (qui = rùa; tàng = chứa). ta có thể giải thích hợp lý sự việc trên là nhà Thương trước khi chuyển về lưu vực Hoàng Hà đã có thời gian sinh tụ ở lưu vực Dương Tử hay Trường Giang và chính là ở đấy đã phát minh ra “kỹ thuật” khắc chữ trên mai rùa; sau này dù di chuyển đến địa điểm mới vẫn về chốn cũ đem mai rùa đi để sử dụng. Tương tự, tre có hàng trăm loại khác nhau; nhưng tre lớn, bản đủ rộng làm thành các thẻ để viết chữ và kết thành sách chỉ có ở vùng xích đạo và nhiệt đới, ngay cả ở Tứ Xuyên nằm trong vùng bình đới, cũng chỉ có loại tre lớn nhất gọi là tre đực hay tầm vông; thì nhà Chu ở Sơn Tây làm gì có tre lớn để làm sách, viết chữ? Đối chiếu sinh cảnh thực sự cộng thêm nghiên cứu qua ghi chép trong Kinh Thư, Kinh Thi, và Kinh Dịch ta thấy không thể xảy ra được. Thí dụ: Đại Tượng Truyện của Quẻ Dự trong Kinh Dịch chép: “Sấm nổ trên đất, Tiên Vương dĩ tác nhạc, Sùng Đức ân tiến chi Thượng Đế dĩ phối tổ khảo…” Quẻ Dự là Quẻ Chấn chồng trên Quẻ Khôn trong quẻ gọi là Địa; Quẻ Chấn là sấm, sấm nổ trên đất là chỉ dẫn Chấn trên Khôn, nhưng cũng giúp ta hình dung cảnh đánh trống đồng. Trống đồng còn gọi là trống sấm, Quẻ Lôi, khi đánh úp trên mặt đất là Địa, âm thanh trống đồng là nhạc tế lễ, ở đây nói rõ là tế Thượng đế và sùng kính tổ tiên. Một quẻ nữa là Quẻ Tiệm nói đến ‘vũ nghi”, một nghi thức mà người tham gia lễ hội hóa trang bằng lông chim, một cảnh được khắc hoạ rõ nét trên trống đồng. Dựa trên chính sử thì chắc chắn nhà Chu chưa hề biết đến trống đồng, vì trống đồng chỉ tìm thấy ở Việt Nam và 2 tỉnh Vân Nam – Quảng Châu của Trung Hoa, cách Sơn Tây xa lắm. Hiện nay cách nhà nghiên cứu Trung Hoa đã phải công nhận trống đồng là vật phẩm văn hoá phi Hán, vậy tại sao hơn 2.000 năm Kinh Dịch đã biết về trống đồng, chỉ dẫn cho ta về mục đích sử dụng trống đồng (tế Thượng đế)? Cũng như đề cập đến tục hoá trang được khắc trên trống đồng? Dù vua Càn Long nhà Thanh đã tốn không biết bao nhiêu tiền để mua sách và bản đồ, mất bao công sức để tịch thu sách và bản đồ trong thiên hạ và hơn 300 quan “bác sĩ” cạo sửa suốt 10 năm trời, sửa không nỗi thì đốt cho phi tang tích, nhưng vẫn bị lọt sổ: * Sách Ngự phê Thông giám Tập Lãm và Thiếu vi Thông giám, quyển Chu Ngoại Kỷ có đoạn chép (Lê Văn Siêu dịch – Việt Nam Văn Minh Sử) như sau: “Cách 1.000 năm, đến năm Tân Mão là năm thứ 6 đời vua Thành Vương nhà Chu, phía nam Giao Chỉ có người ‘Việt Thường’ sang Trung Hoa dâng bạch trĩ, qua 2, 3 lần thông ngôn nói rằng ‘đường xá xa xôi, non sông cách trở sợ rằng một lần thông sứ không hiểu tiếng nhau cho nên phải qua 3 lần thông ngôn để sang chầu’. Chu Công đáp lời: ‘Đức trạch không khắp tới nơi, người quân tử không nhận lễ sơ kiến, chính lịch không khắp tới nơi, người quân tử không nhận người ấy xưng thần.’ Người thông ngôn nói: ‘Tôi vâng mệnh những ông già (bô lão) nước tôi bảo: ‘Trời không gió dữ, mưa dầm, bể không sóng nổi đã 3 năm, hẳn là Trung Hoa có thánh nhân, sao không sang chầu.’ Chu Công đem dâng cho vua nhà Chu, để dâng lên thần linh của tiên vương, rồi đem dâng Cung điều. Đến khi sứ giả về, quên mất đường, Chu Công cho 5 cỗ biền xa, bốn mặt có diềm che đều làm cách thức chỉ nam, sứ giả đi xe ấy từ đường bể (sau này) là nước Phù Nam ở cõi đất Cao Miên, thời xưa là Lâm Ấp, đầy năm trời mới về đến nước (Việt Thường)”. * Sách Thiếu Vi Thống Giám, chú giải: “Việt Thường là ‘Nam phương quốc danh, tại Giao Chỉ nam’”, có thể dịch là “tên nước nam phương, (một nước) ở phiá nam Giao Chỉ” Trong đoạn trích dẫn trên có nhiều điều phải bàn như tên nước, phương hướng nhưng điểm chính yếu thứ nhất ta cần xem xét: nhà Chu ở đâu mà sứ lại xuống thuyền về nước ở biển (sau này là) Phù Nam, Cao Miên? Rõ ràng là nhà Chu không thể ở Sơn Tây cách xa biển Phù Nam ít nhất 3.000 km. Thứ hai ta xét: nước Việt Thường không thể ở gần Cao Miên mà ở rất xa vì đi thuyền một năm mới tới. (Sách sử hiện nay cho là miền Trung Việt Nam trước đây là Việt Thường). Tới đây ta lại phải thêm một câu hỏi: Việt Thường là nước nào và ở đâu? Thêm một vấn đề nữa: Sử Trung Hoa viết về nhà Tần như sau: Nhà Tần chọn cho mình đức Thủy là đức đã thắng nhà Chu đức Hoả, màu đỏ, và nhà Tần chọn cho mình màu đen, từ ngựa tới cờ quạt đều màu đen. - Số 6: cái gì cũng số 6, trục xe 6 tấc, xe vua do 6 ngựa kéo. Tháng chọn là tháng 10, bắt đầu mùa đông, ở đây rõ ràng sử gia Trung Hoa đã vận dụng Dịch Lý vào sử, ta hãy xem: Nếu nhà Tần chọn Hành Thủy, màu đen, số 6, mà ở Thiểm Tây, Tứ Xuyên, nhà Chu không thể ở nơi nào khác ngoài Vân Nam – Quí Châu – Quảng Tây (xin xem bản đồ) tức là ở phía nam Tứ Xuyên, Thiểm Tây vì sử ghi rõ nhà Chu: đức Hoả, màu đỏ (Thực ra thì nhà Chu không phải đức Hoả và màu đỏ; sử học Trung Hoa đã cố gán ép các nguyên lý của Dịch học vào lịch sử đời Tần để phục vụ cho mục đích của họ, về mục đích của họ sẽ có phần xem xét ở phần sau; còn về nhà Chu thì đích thực ở phương Tây nên thuộc hành Kim, màu trắng). Bản đồ Trung Hoa thời Xuân Thu Chiến Quốc chắc chắn không phải do người Trung Hoa lập, lý do đơn giản trong bản đồ thời này ngoài: Vị Thủy, Hoài Thủy, Kỳ Thủy, V.v…(tức là Sông Vị, Sông Hoài, Sông Kỳ, V.v…) lại còn có cả: Hà Thủy và Giang Thủy … 2 con sông chính của Trung Hoa. Hà và Giang là gì? Không lẽ người Trung Hoa không biết điều rất ư là đơn giản đó mà còn thêm chử Thủy vào; chỉ có người không phải là người Trung Hoa tưởng là tên riêng nên mới thêm chữ Thủy vào để chỉ con sông, hay do bởi không phải là tiếng mẹ đẻ của mình nên họ mới sơ xuất do quán tính và cẩu thả khi định danh nên mới có tên 2 con sông kỳ khôi là: “Sông …… Sông” (Giang = sông và Hà = sông). Còn một thực tế khó giải thích nữa: Sông Dương Tử hay Trường Giang được coi là mốc phân ranh Bắc – Nam của Trung Hoa, theo chính sử thì trước thời Xuân Thu Chiến Quốc Trung Hoa chưa biết đến miền Nam, khảo cổ học đã xác định dân miền Hoa Bắc thuộc về chủng Mongoloit, còn Hoa Nam thuộc ngành Mongoloit phương Nam, cứ theo lịch sử thì từ Bào Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Hạ Vũ, Thành Thang … tất cả là người Mongoloit cùng chủng với Mãn, Mông, Kim, Liêu V.v… Như thế sẽ có một hệ quả là: những người mang đặc điểm nhân chủng nam Mongoloit không phải là người Trung Hoa? hay, họ bị diệt quốc và bị đồng hoá thành người Trung Hoa? Điều này thật khó nói vì chính họ lại là dân “đa số” ở Trung Hoa hiện nay, và đối với người Trung Hoa huyết thống là điều cực kỳ quan trọng, không có chuyện họ gọi người khác giống là tổ tiên được; ở đây cũng không thể có sự lầm lẫn, sự thực này không thể lý giải cách nào khác hơn là lịch sử Trung Hoa hiện nay là sai. Đọc sử Trung Hoa ta thấy còn nhiều bất hợp lý: Sau khi thống nhất Trung Hoa và lên ngôi, Tần Thủy Hoàng phái đại tướng Mông Điềm đem 30 vạn quân vượt Hoàng Hà chiếm vùng Hà Sáo lập thành 44 huyện. Hà Sáo là phương bắc của Hoàng Hà, theo chính sử là đất của 2 nước Yên và Triệu, mà Yên và Triệu đã bị Tần diệt quốc có nghĩa là đất của Tần; thì Hung Nô đi lối nào mà vào tận Hà Nam? Thời Chiến Quốc không có một dòng sử nào nói đến việc có chiến tranh giữa Triệu và Yên hay Tần với Hung Nô, có một chi tiết nhỏ nữa trong sử ký của Tư Mã Thiên là tướng Mông Điềm sau khi chiếm được Hà Sáo đã cấm dân ở đấy thờ ….. (1 chữ đã bị xóa), dù chữ bị xóa là chữ “Phật” hay là gì đi nữa thì cũng nói đến một điều: dân ở Hà Sáo có tôn giáo khác với dân Trung Hoa nên Mông Điềm cấm; như thế họ không thể là dân nước Yên hay nước Triệu được, hay nói khác đi họ là ngoại nhân, hay là vùng bắc Hoàng Hà mà Tư Mã Thiên gọi là Hà Sáo đó không phải là đất của Yên, Triệu; suy rộng ra là trước thời Chiến Quốc, bắc Hoàng Hà không thuộc về Trung Hoa. Sử ký của Tư Mã Thiên còn ghi một việc nữa khiến người đọc không hiểu được: “Tần Thủy Hoàng sai làm một con đường từ ‘Cửu Nguyên’ chạy suốt đến ‘Vân Dương’ … sau đó sai đắp đá ở đất ‘Cử ’ thuộc Đông Hải làm cửa phía đông của Tần. Kinh đô của Tần ở tận Thiểm Tây bên bờ sông Vị gần với sa mạc tây bắc Trung Hoa, thì lấy biển ở đâu ra mà đắp đá làm cửa biển phía đông? Liên quan đến lãnh thổ Việt Nam sử ký cũng có một đoạn không thể hiểu nổi: Lãnh thổ của Tần khi thống nhất Lục Quốc thì phía Nam đã đến miền “Bắc Hộ”… tức là miền nhà có cửa quay về hướng Bắc ý nói đã vượt qua xích đạo quá về phương Nam nên nhà mở cửa quay về hướng Bắc để đón ánh mặt trời. Các nhà nghiên cứu đều đồng nhận: miền “Bắc Hộ” là miền Trung Việt Nam ngày nay; như thế Việt Nam đã nằm trong lãnh thổ của Tần, vậy sao còn phái tới 50 vạn quân … đánh chiếm và lập thành 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, và Tượng Quận? Qua rất nhiều sự việc trên đã đến lúc ta mượn kết luận của những nhà nghiên cứu khoa học lịch sử và khảo cổ học Trung Hoa đưa ra một hướng nhìn mới rất táo bạo về đất nước và dân tộc Trung Hoa. Những hình khắc cảnh lễ hội, sinh hoạt trên trống đồng hoàn toàn đồng nhất với những gì mô tả trong Cửu Ca, có nghĩa là dân tộc có cảnh lễ hội được khắc trên trống đồng và được mô tả trong Cửu Ca là 1, nếu Cửu Ca, Sở Từ của dân “trống đồng” thì đương nhiên Kinh Thi và Ngũ Kinh cũng của dân “trống đồng”. Và cũng chính những nhà khoa học Trung Hoa này đã xác định: “Trống đồng là vật phẩm văn hoá phi Hoa (Hán) và là sản phẩm của những dân tộc ít người ở cực nam Trung Hoa”, đó là các dân tộc Tày, Thái, Liêu, hay Di Lão và vài dân khác… như vậy là đã thừa nhận chính những dân tộc ít người này mới là chủ nhân của Kinh Thi, mà đã là chủ nhân của Kinh Thi thì dĩ nhiên cũng là chủ nhân của Ngũ Kinh đồng nghĩa là chủ nhân của toàn bộ văn minh cổ của Trung Hoa. Chúng ta ai cũng biết Việt Nam là 1 trong 3 trung tâm của nền văn minh trống đồng, thậm chí có thể là trung tâm lớn nhất nữa. kết luận như vậy có quá vội vã không? Không đâu, cách đây vài chục năm học giả Henre Maspréso khi nghiên cứu về sinh hoạt lễ hội và phong tục tập quán của người Thái ở Việt Nam phải thốt lên: chắc chắn tổ tiên người Thái và người Trung Hoa cổ là một. Chỉ tiếc là nhận định của ông không được quan tâm và đào sâu thêm. Trước năm 1975, có một người dũng cảm lội ngược dòng đó là Linh mục Giáo sư Lương Kim Định, bằng kiến thức uyên bác và trực giác vô cùng bén nhạy ông đã dày công nghiên cứu và xuất bản cả một tủ sách về văn minh và nguồn gốc người Việt Nam… nhưng cũng chỉ là tiếng kêu trong hoang mạc… Thực may mắn trong 10 năm gần đây ngày càng nhiều người can đảm làm việc “đội đá vá trời” đó là Nguyễn Hồng Sinh với “Kinh Dịch Phục Hy huyền diệu và ứng nghiệm” xuất bản năm 2003, là Nguyễn Vũ Tuấn Anh với “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch” xuất bản năm 2002, là Nguyễn Thiếu Dũng, là Trương Thái Du với hàng loạt bài viết ngắn …,ở ngoài nước cũng có nhiều nhà nghiên cứu đang chú ý tới vấn đề này Tất cả nhằm tìm ra nguồn gốc đích thực của người Việt Nam và văn minh Việt Nam, dù còn nhiều nhận định, kiến giải khác nhau, nhiều chứng lý chưa đủ trọng lượng, kết luận chưa hiển nhiên, chưa đủ sức thuyết phục, nhưng ít nhất công sức của các vị trên cũng đã có kết quả, tạo nên sự khởi động để nhiều người vào cuộc, số người tham gia việc “đội đá vá trời” ngày càng tăng, cứ như thế tăng lên mãi thì chắc chắn có ngày “vá được trời”.
×
×
  • Create New...