Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Hà Uyên

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    1069
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    8

Everything posted by Hà Uyên

  1. Chúng ta có bốn con số, được quy định như sau: cặp số 7 - 8 được quy định đại diện cho "tĩnh", cặp số 9 -6 được đại diện cho "động". Trong cặp số 7 - 8 đại diện cho cho "Tĩnh", thì số "8" là số đại diện cho Dương "Tĩnh", còn số "7" là số đại diện cho Âm "Tĩnh". Các bước thực hiện: - Quẻ Càn: hào một trị số là 8, hào hai trị số là 8 x 2 = 16, hào ba trị số là 16 x 2 = 32. Tổng trị số ba hào quẻ Càn là 8 + 16 + 32 = 56 - Quẻ Khôn: hào một trị số là 7, hào hai trị số là 7 x 2 = 14, hào ba trị số là 14 x 2 = 28. Tổng trị số ba hào quẻ Khôn là 7 + 14 + 28 = 49 - Quẻ Chấn: hào một trị số là 8, hào hai trị số là 7 x 2 = 14, hào ba trị số là 14 x 2 = 28. Tổng trị số ba hào quẻ Chấn là 8 + 14 + 28 = 50 - Quẻ Khảm: hào một có trị số là 7, hào hai trị số là 8 x 2 = 16, hào ba trị số là 14 x 2 = 28. Tổng trị số ba hào quẻ Khảm là 7 + 16 + 28 = 51 - Quẻ Đoài: hào một trị số là 8, hào hai trị số là 8 x 2 = 16, hào ba trị số là 14 x 2 = 28. Tổng trị số ba hào quẻ Đoài là 8 + 16 + 28 = 52 - Quẻ Cấn: hào một trị số là 7, hào hai trị số là 7 x 2 = 14, hào ba trị số là 16 x 2 = 32. Tổng trị số ba hào quẻ Cấn là 7 + 14 + 32 = 53. - Quẻ Ly: hào một 8, hào hai là 7 x 2 = 14, hào ba là 16 x 2 = 32. Tông trị số ba hào quẻ Ly là 8 + 14 + 32 = 54 - Quẻ Tốn: hào một là 7, hào hai là 16, hào ba là 32. Tổng trị số ba hào quẻ Tốn là 7 + 16 + 32 = 55 Bát quái tương đương với trị số quẻ được xếp như sau: ..49.....50.......51......52.....53....54....55....56. Khôn...Chấn...Khảm...Đoài...Cấn...Ly...Tốn...Càn. Từ đây, chúng ta thấy mối liên hệ của thuật toán "Cỏ thi", tại sao lại dùng có 49 cây Cỏ thi để thực hiện 18 lần chia, mỗi lần 3 biến thì được một hào, 18 lần thì được 6 hào của một quẻ Dịch. Từ Âm tới Dương, từ "Không" tới "Có", từ tối tới sáng, từ đêm tới ngày, ... , Cũng từ đây, có thể số 50 được coi là "Đế xuất hồ Chấn" Bây giờ, chúng ta xếp các trị số của quẻ theo mô hình được gọi là Tiên thiên như sau: ....................56.................... ...........52................55.......... ...54...............+.................51.. ..........50.................53............ .....................49.................... Khi chúng ta đọc thứ tự số từ "không" tới "có", từ Âm tới Dương, lần lượt tăng thêm một đơn vị, bắt đầu từ số 49, thì chúng ta thấy đường đi hình chữ số 8 thật là vui mắt. Tổng trị số của Càn-Đoài-Ly-Chấn, đều có hào một là hào dương là: 56 + 52 + 52 + 50 = 212 Tổng trị số của Tốn-Khảm-Cấn-Khôn, đều có hào một là hào âm là: 55 + 51 + 53 + 49 = 208 Như vậy, trị số của Dương và Âm có khác biệt 4 đơn vị. Không hiểu tại sao người xưa lại gọi 4 là chìa khóa của âm dương khi sinh Ngũ hành ? Nhìn vào đồ hình sắp xếp các trị số của quẻ, ta thấy những cặp số đứng liền nhau mà khác biệt 4 đơn vị gồm có: Càn và Đoài, Khôn và Cấn, Chấn và Ly, Tốn và Khảm. Có thể từ đây, mà người xưa đặt ra điều lệ: cặp Khôn-Cấn và cặp Càn-Đoài là Tây tứ trạch. Còn cặp Tốn-Khảm và Chấn-Ly là Đông tứ trạch (?) Những cặp này đều có trị số cách nhau 4 đơn vị Tiếp tục khảo sát, tổng trị số của 8 quái là: 212 + 208 = 420. Thật lạ, như vậy Tổng trị số của tám quẻ khi "Tĩnh" lại bằng với Tổng Trị số tám quẻ Khi "Động", đều bằng 420. (?) Lại tiếp tục khảo sát: ..49.....50.......51......52......53....54....55....56......... (khi dùng cặp số 7 - 8) Khôn...Chấn...Khảm...Đoài...Cấn...Ly...Tốn...Càn. ..63.....60.......57......54......51.....48....45....42..........(Khi dùng cặp số 6 - 9) Nhận thấy, từ Khôn tới Đoài số thứ tự là 4 khi "Tĩnh", thì khi "Động" có trị số cách nhau là 42 + 9 = 51. Tiếp tục từ Đoài tới Tốn, thì thứ tự khi "tĩnh" cũng cách nhau là 4, mà khi "động" cũng có trị số cách nhau là 9, cụ thể là 51 + 9 = 60. Từ "Tĩnh" chuyển sang "động", từ Âm tới Dương, từ "Không" tới "có", thông qua 9 con số Cửu cung, chúng ta từng bước tìm hiểu về những con số của Dịch 7 - 8 - 9 - 6.
  2. Chào Dichnhan07. "...nói vậy không thể mở ra một bài học cho người đọc đang cần một lời khuyên, mà chỉ nói về cái kết quả". Thanh đàm cùng nhau, thực sự Hà Uyên thấy thanh thản và ấm cúng. Hay quá, cảm ơn Dichnhan07.
  3. Kính gửi anh Thiên Sứ. Trong chuyên mục này, Hà Uyên đặt vấn đề khai thác khi Ngũ tinh "Hợp" rồi "Hóa". Xét thấy, đây vẫn là một khoảng còn rất trống mà Người xưa, có thể đã nhận thức được, nhưng ít thấy bàn tới một cách cụ thể. Để xây dựng một học thuyết về vấn đề này, thú thực Hà Uyên không thể. Mong muốn có một phần nhỏ bé mỏng manh của mình, mà đặt vấn đề tại sao lại có quy luật tính vận 20 năm trong Tam nguyên Cửu vận. Từ 2004 tới 2009, kiến thức Thiên văn hiện đại đã cho chúng ta biết. Nhưng khi Giáp hợp Kỷ, bỏ đồng loại để đi "Hợp" rồi "Hoá", thì đồng loại còn lại sẽ phản ứng tới đâu ? Mộc khắc Thổ, Mộc tinh và Thổ tinh chu kỳ giao hội đã để lại những ảnh hưởng gì ? Đây là những điều mà Hà Uyên rất muốn khai thác, hướng tới giá trị có ích, trong hiện hữu chung. Cảm ơn Anh đã quan tâm. Hà Uyên
  4. Chúng ta nhận xét thấy: ngôn ngữ của Dịch, tại sao Cổ nhân lại chọn hình tượng như vậy ? Ví như Hào một quẻ Cấn và Hào một quẻ Sơn Hoả Bí, đều dùng một hình tượng giống nhau: "ghìm chặn ngón chân" và " tô điểm ngón chân". "Trinh" là quẻ gốc, ví như ở đây là quẻ Cấn, khi Hào một biến dịch thì thành quẻ "Hối", đó là quẻ Sơn Hỏa Bí. Đây là thuyết "Trinh - Hối" của Người xưa vậy.
  5. “Tượng viết: Kiêm sơn, cấn, vật dĩ tư bất xuất kỳ vị.” Dịch nghĩa: “Đại tượng nói: Hai núi chồng nhau, tượng trưng cho sự “ghìm chặn”, vạn vật ở trong hoàn cảnh này, nhân vậy, tự thân ghìm nén tà dục bên trong , mọi cái hướng ra bên ngoài, không vượt khỏi vị trí của mình.” Theo thời mà hình thành nên thuyết Cổ ngữ: Mệnh kiến, tòng tiện, tự đạt. Mệnh tiện, quý vị, tự nguy Bình: mệnh không đủ, mà ngồi nới quý vị, thì tự kéo kẻ thù tới. Đủ mệnh, ở nơi vất vả gian truân, tự khẳng định mình mà thành đạt.
  6. Cấn, Núi, nhìn thấy mà không nghe thấy. ! Chấn, Sấm, nghe thấy mà không nhìn thấy. !
  7. “Cấn, cấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân ; hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân. Vô cữu.” Dịch nghĩa: “Quẻ Cấn tượng trưng cho sự ghìm lại: gìm lại ở sau lưng để tránh sự phát hiện, không để cho thân thể trực tiếp hướng vào phía tư dục đáng phải ghìm ngăn; ví như ở trong sân mà quay lưng lại với nhau, cùng không nhìn thấy điều tà ác bị ghìm ngăn lại, tất không cữu hại.” - Bình giải: tên quẻ Cấn: ghìm lại, ngăn lại, dừng. “Cấn kỳ bối”, lời này nói rõ cách làm sự ngăn, nói lên khi ghìm ngăn là dục của người ta, thì nên bất ngờ chặn đứng ngay khi người ta còn chưa phát hiện ra là có “tà dục”; như thể ta ghìm lại ở “sau lưng” thì người bị chặn sẽ không thấy được tà dục là cái gì, cũng như nói “mắt không nhìn thấy điều tà dục” vậy. Cấn là núi, có nghĩa là chặn đứng, là ngăn, ứng vào sự sự đời thì là sự ghìm lại, ngăn lại để phòng sự động lòng dục, làm sự ngăn chặn được, thì đạo dễ thành, làm việc không ngăn được, thì công khó thành. “Không thấy cái gây nên điều dục, thì lòng không loạn”. “Bất hoạch kỳ thân”, như nói “thân mình không được về phía mà ta muốn ngăn lại”, có nghĩa khi “chặn lại” ở sau lưng, thì bản thân người bị “chặn” không hướng về phía tư dục cần ghìm ngăn, nghĩa là “chỉ đắc kỳ sở” (chặn được đúng chỗ). Cái cần ngăn ở phía sau, cho nên bản thân không thấy được. “Chỉ bối” : cũng như người bị “chặn” đi ở trong sân từng đôi một quay lưng vào nhau; khi thực hiện sự “chặn” thì người nọ không nhìn thấy điều tà ác cần được ghìm ngăn của người kia, là do lưng của hai người quay vào nhau. Dùng cách này để ứng xử với quẻ Cấn thì công “ghìm chặn tà dục” ắt thành. Bình khảo: cách thức ghìm ngăn được nói tới tập trung ở chữ “bối”, thực hiện sự ghìm ngăn trong tình trạng “quay lưng vào nhau”, thì có thể ngăn được lòng dục khi nó còn chưa manh nha, như vậy là ghìm ngăn được đúng chỗ. Cấn là quẻ nói về ghìm chặn không cho thông giao với nhau. Mọi chỗ đều bị ghìm chặn thì không qua lại được với nhau, sao được vô cữu ? Chỉ có không nhìn nhau là được thôi. Thực hiện được sự ghìm chặn ở sau lưng, thì không cần phải ngăn cách vật dục. Lưng là nơi không nhìn thấy được, không nhìn thấy được là tự nhiên bị chặn đứng, chặn đứng lại mà không nhìn thấy là “bất hoạch kỳ thân”. Quay lưng lại nhau, tuy gần mà không nhìn thấy, cho nên “ hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân”. “Thoán viết: Cấn, chỉ dã. Thời chỉ tắc chỉ, thời hành tắc hành; động tĩnh bất thất kỳ thời, kỳ đạo quang minh. “Cấn kỳ chỉ”, chỉ kỳ sở dã. Thượng hạ địch ứng, bất tương dữ dã, thị dĩ “bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân, vô cữu” dã.” Dịch nghĩa: “Thoán truyện nói: “Cấn” nghĩa là ghìm chặn. Thời nên ghìm chặn thì ghìm chặn, nên đi lên thì đi lên; hoặc động hoặc tĩnh thích đáng không phạm vào thời, thì lẽ “ghìm chặn” sẽ sáng láng. Ý nghĩa chính của quẻ Cấn tượng trưng cho sự ghìm chặn, điều này nói lên sự ghìm chặn phải thích đáng đúng chỗ. Sáu hào trong quẻ đều đối địch với nhau, không đi lại thân mật với nhau, cho nên giống như sự “không để cho thân mình hướng về phía tư dục đang bị ghìm ngăn, ví như đi trong sân mà từng đôi quay lưng lại với nhau, cùng không nhìn thấy tà ác đang bị ghìm ngăn của đối phương, có như vậy thì mới không bị cữu hại.” - Bình chú: “Cấn kỳ chỉ” là ngừng lại nơi phải ngừng, chỗ cần ghìm chặn là “lưng”, lưng là nơi đáng bị ngăn chặn. Đạo “chặn” phải thực hiện ở cái không thể có sự đi lên, “bối” là vật không nhìn thấy, tức là nơi ghìm chặn được. Sáu hào đối địch tương khắc với nhau, không thân hòa với nhau, chính giống với lẽ “tương bối” mà “ức chỉ”, vì rằng quẻ này đã ghìm chặn mà không giao với nhau, các hào lại trơ cứng không ứng, tương hợp với nghĩa của “chỉ”. “Tượng viết: Kiêm sơn, cấn, vật dĩ tư bất xuất kỳ vị.” Dịch nghĩa: “Đại tượng nói: Hai núi chồng nhau, tượng trưng cho sự “ghìm chặn”, vạn vật ở trong hoàn cảnh này, nhân vậy, tự thân ghìm nén tà dục bên trong , mọi cái hướng ra bên ngoài, không vượt khỏi vị trí của mình.” - Bình giải: “vị” là ngôi của mình, chỉ ngôi giữ là của phận tự thân. Muôn việc đều có nơi chốn, hễ đúng nơi chốn thì “chỉ” mà yên. Nếu đáng “hành” mà lại “chỉ”, đáng nhanh mà lại lâu, hoặc quá, hoặc bất cập, đều là “xuất kỳ vị” vậy, huống hồ lại vượt bổn phận của tự thân một cách không có căn cứ sao ? Lớn thay là đạo “chỉ” ! Có “chỉ” mà “tuyệt” được điều đó, có “chỉ” mà ở được chỗ đó, có “chỉ” mà gọn được việc đó. Cấn là “chỉ” có ba hàm nghĩa: một là “ức chỉ” tà ác, hai là “chỉ” ở chính đạo, ba là “chỉ” theo phận mình tự thân, nghĩa thứ nhất có thể bao quát cả hai nghĩa sau, tức là “dừng được tà dục”. “Chỉ” nghĩa là dừng. 1- “Sơ Lục, cấn kỳ chỉ, vô cữu, lợi vĩnh trinh.” Dịch nghĩa: Hào Sáu Đầu, biết ghìm chặn ở ngón chân khi cất bước, tất không tội lỗi, lợi về sự giữ vững chính, bền lâu dài. - Tượng nói: “Cấn kỳ chỉ, vị thất chính dã.” Nói lên Sáu Đầu chưa từng vi phạm chính đạo. Chưa mất ngôi chính. Bình giải: Sáu Đầu âm mềm, chất yếu, ở dưới cùng, có tượng ngón chân, khi cất bước thì ngón chân động trước, mọi sự mà được chặn từ khi mới đầu, thì không mất chính, sợ rằng nó chỉ có đầu mà không có cuối, nên răn muốn lâu dài thì phải chính bền. Ghìm chặn trước khi hành động thì dễ, ghìm chặn lại sau khi hành động thì khó. Khi việc chưa bị mất chính, đã có thể ngăn điều tà nguy khi còn đang manh nha. - Sơn Hỏa Bí hào 9.1: “Sơ Cửu, bí kỳ chỉ, xả xa nhi đồ.” Dịch nghĩa: Hào Chín Đầu, văn sức tô điểm cho ngón chân của mình, bỏ xe lớn mà cam lòng đi bộ. - Tượng nói: “Xả xa nhi đồ, nghĩa phất thừa dã.” Nói lên xét về ngôi vị mà Chín Đầu đang ở thì không nên đi xe lớn. Bỏ của cứu (đồ đệ) người. Bình giải: ngôi đầu quẻ, cứng mà dưới, ở nơi không ngôi vị, không dam tham cầu sự tô điểm đẹp đẽ, mà chỉ tự tô điểm cho ngón chân, ví như tô điểm cái đáng tô điểm, cũng như bỏ đi cái bất nghĩa, yên lòng đi bộ để theo chí mình. Đó lấy lễ để tự văn sức, không vượt lễ để cầu sự “bí”. Đời cho sự tiến lạm điều sa xỉ là vinh, thì người quân tử cho là nhục, nói đó là văn sức cho lễ, nhưng lại là miệt thị lễ vậy. Đạo lý là ở chỗ giữ nghĩa, cái lẽ “bí” phải hợp với “nghĩa”. Chín Đầu ứng với Sáu Bốn, thì điều nghĩa được thể hiện ở chỗ yên lòng, thư thái mà đi, tĩnh lặng đợi ứng với hào Bốn, cho nên không đi xe phi nghĩa. Người đời nếu như không giữ lễ, thì tuy đẹp nhưng cũng là người thừa. 2- “Lục Nhị, cấn kỳ phì, bất chửng kỳ chùy, kỳ tâm bất khoái.” Dịch nghĩa: Hào Sáu Hai, ghìm chặn sự cử động của cẳng chân, chưa thể bước lên trên để đội kẻ vốn nên đi theo, trong lòng không được khoan khoái. - Tượng nói: “Bất chửng kỳ tùy, vị thoái thính dã”, nói lên Sáu Hai không có cách nào lùi mà nghe theo mệnh lệnh ghìm chặn. Không lui bước. Bình giải: chất mềm ở ngôi giữa, vốn là phải đội hào Ba dương, nhưng cẳng chân lại bị ép ghìm chặn, đáng là đi mà không đi được, tiến thì không thể “thừa” đội hào dương vốn nên đi theo, lui thì không thể nghe theo mệnh lệnh ghìm chặn. Nhưng thiên chức của âm là thuận theo dương, nên vẫn phải “tùy” dương, đã không thể động, lại phải “tùy” dương, không thể tự chủ, cho nên “kỳ tâm bất khoái”. Hào Hai động thì không có gì là không chính, thế mà bị cưỡng ép dừng, đây là tình trạng thực hiện sự dừng không đúng chỗ. - Sơn Phong Cổ hào 9.2: “Cửu Nhị, cán mẫu chi cổ, bất khả trinh.” Dịch: Hào Chín Hai, uốn nắn sự tệ loạn của mẹ, khi tình thế khó tiến hành thì không thể gượng làm được, mà phải giữ vững chính, bền để đợi thời. - Tượng nói: “Cán mẫu chi cổ, đắc trung đạo dã.”, nói lên Chín Hai nắm vững phương pháp cứng mềm hòa hợp. Bình giải: “bất khả trinh” như nói “thời mà không thể làm thì giữ chính để đợi”, dương ở ngôi âm có tượng cứng có thể mềm, còn như uốn nắn “đức của người làm mẹ”, là ở thời hào âm bác bỏ không theo. Ở bên trong thì thích hợp với việc uốn nắn, nhưng tính phụ nữ khó có thể toàn chính, cho nên cần uốn cái cứng của mình, đã uốn thẳng được mà lại thuận tình, cũng như không thể cố chấp để làm cho thành chính. Cùng là “cán cổ”, nhưng giữa bố và mẹ phải có sự khác biệt, nên thuận theo từng tính cách mà áp dụng các phương pháp sao cho thích hợp, tùy tình thế mà xử lý, thận trọng giữ đạo trung, mới có thể đạt kết quả. 3- “Cửu Tam, cấn kỳ hạn, liệt kỳ di, lệ huân tâm.” Dịch nghĩa: Hào Chín Ba, ghìm chặn sự vận động của lưng đến nỗi đứt cả chỗ thăn lưng (nơi trên dưới giao nhau ở cơ thể), nguy hiểm như cháy ruột. - Tượng nói: “Cấn kỳ hạn, nguy huân tâm dã”, sự nguy hiểm của Chín Ba sẽ như cháy ruột. Cấn cũng có kỳ hạn của Cấn Bình giải: dương cứng, được ngôi, chính là đã thận trọng trong sự đi, thế mà lại bị dừng (chỉ) khiến đứt thăn lưng, là do ý chí quá nung nấu. Hào này cũng nêu rõ sự dừng ở đây là không đúng chỗ. - Sơn Địa Bác hào 6.3: “Lục Tam, bác, vô cữu.” Dịch nghĩa: Hào Sáu Ba, tuy ở thời “bác lạc” nhưng không cữu hại. - Tượng nói: “Bác chi vô cữu, thất thượng hạ dã”, nói lên Sau Ba xa rời bầy âm ở trên và dưới, riêng ứng với dương cứng. Vô cữu của Bác, trên dưới sai lệch. Bình giải: bầy âm trong quẻ “đều đẽo dương”, Sáu Ba chỉ có ứng với hào Trên, không có ý làm hại mà “bác”, tuy ở thời “bác lạc”, thể của nó bị phá dần dần thành âm, nhưng vì nó ở vị thế dương, ứng hợp với Chín Trên dương cứng, cho nên bên ngoài dường như nó bị “tiêu bác”, nhưng bên trong vẫn còn giữ chất dương, có nghĩa là “ngậm dương đợi quay trở lại”, không phải bị hào khác đến phá. Ở giữa năm hào âm, không cùng phe nhóm, hào âm nào ở vào ngôi Ba, tất đều hàm chứa chất dương, quẻ này hào Ba lại kiêm ứng với trên, chất dương của nó lại càng nhiều hơn, tự nó có thể vô cữu. Hào Năm “tị” dương, hào Ba có ứng, đều có thể tồn dương mà miễn hung. 4- “Lục Tứ, cấn kỳ thân, vô cữu.” Dịch nghĩa: Hào Sáu Bốn, ghìm chặn ở phần thân mình, không để vọng động, tất không cữu hại. - Tượng nói: “Cấn kỳ thân, chỉ chư cung dã”, nói lên Sáu Bốn có thể tự ghìm chặn, yên giữ ngôi mình. Chấm dứt mọi nhu cầu của bản thân. Bình giải: lấy chất mềm ở ngôi mềm, “chỉ” đúng chỗ, “xéo” đúng ngôi, cầu “chỉ” ở nơi thân mình được đúng chỗ, có thể chặn đứng ở thân mình, tự thân ghìm chặn, không gấp vội mà động, cho nên không bị rơi vào lỗi lầm, yên ngừng ở phận mình vậy. - Hỏa Sơn Lữ hào 9.4: “Cửu Tứ, lữ vô xử, đắc kỳ tư phủ, ngũ tâm bất khoái.” Dịch nghĩa: Hào Chín Bốn, kẻ lữ khách chưa được yên ổn tại nơi ở tạm, như được búa sắc chặt bỏ gai góc, nhưng trong lòng ta chẳng sướng. - Tượng nói: “Lữ vu xử, vị đắc vị dã”, vì chưa thể được ở ngôi thích đáng. “đắc kỳ tư phủ, tâm vị khoái dã”, đi đến chỗ nào được của cải chỗ ấy, nhưng trong lòng không vui. Bình giải: ngôi không chính, cũng như đi xa không được ở yên, chỉ tạm ở nơi chú chân, làm khách của nơi ở, tuy được búa sắc để dẹp bỏ gai góc ở chỗ đất phải dùng búa sắc, núi không phải là nơi bằng phẳng, cần dùng “tư phủ” để trừ. Tất cả các quẻ thì dương cứng đều hơn âm mềm, chỉ có quẻ Lữ không như vậy. Hào Hai, hào Năm đều lấy chất nhu thuận mà được cát, hào Ba, hào Bốn, hào Trên đều là dương cứng mà đến hung. Đó là vì người ta không có nơi gửi thân, bất đắc dĩ phải dựa vào người khác, không thể tự cậy sự cứng sáng, Chín Bốn có nơi ở, tạm thời chỉ đủ yên phận thôi. 5- “Lục Ngũ, cấn kỳ phụ, ngôn hữu tự, hối vong” Dịch nghĩa: Hào Sáu Năm, ghìm chặn miệng mình, không để nói càn, nói phải rành mạch đâu ra đấy, hối hận sẽ mất. (Lời nói có trình tự) - Tượng nói: “Cấn kỳ phụ, dĩ trung chính dã”, nói lên Sáu Năm có thể ở ngôi giữa giữ chính. Nhờ có phù trợ mới được trung chính. Bình giải: âm mềm ở ngôi cao tôn quý, ở giữa không lệch, như ở vị trí của “miệng”, như để miệng không để cho nói chọn lời, như sẽ làm mất hối vậy. “Cấn kỳ phụ”, không phải là không nói, nói mà rành mạch đâu ra đấy, do vì là “cấn” vậy. - Phong Sơn Tiệm hào 9.5: “Cửu Ngũ, hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dựng; chung mạc chi thắng, cát.” Dịch nghĩa: Hào Chín Năm, chim đại nhạn bay từ từ lên gò cao, (giống như chồng đi xa) vợ ba năm không có mang ; (nhưng vợ chồng tất sẽ được sum họp) kẻ khác cuối cùng không thể xâm phạm ngăn trở mà thủ thắng, tốt lành. - Tượng nói: “Chung mạc chi thắng cát, đắc sở nguyện dã”, nói lên Chín Năm được toại nguyện ứng hợp với Sáu Hai. Cánh nhạn vào chùa, ba năm không sinh nở, mai danh ẩn tích, cát. Tên chẳng ai hay, cát. Phù hợp tâm nguyện. Bình giải: dương cứng trung chính, ứng dưới với Sáu Hai, tuy hào Ba, hào Bốn ngăn cách nhưng không thể được lâu, khiến Sáu Hai ba năm “không có mang”, nhưng hào Hai và Năm chính ứng, kẻ khác không thể xâm phạm cản trở, thủ thắng được, cuối cùng sẽ được xum họp. Hào Hai không khinh tiến, hào Năm không coi nhẹ trách nhiệm, cùng đợi nhau lâu ngày, cùng tin nhau sâu sắc. 6- “Thượng Cửu, đôn cấn, cát.” Dịch nghĩa: Hào Chín Trên, lấy phẩm đức đôn hậu để ghìm chặn tà dục, tốt lành. - Tượng nói: “Đôn cấn chi cát, dĩ hậu chung dã”, nói lên Chín Năm với bản chất tốt đẹp đã giữ vững đến lúc cuối. Điềm lành của “đôn cấn” là trung hậu. Bình giải: ngôi cuối quẻ Cấn có tượng ghìm chặn cùng cực, tuy là dương cứng mà lại đôn hậu, lấy sự đôn hậu làm trọng trên hết, không bị sa vào điều trái, điều càn. Việc trong thiên hạ, duy giữ được đến lúc cuối là khó, đôn hậu trong sự dừng là người có đầu có cuối, Chín Trên được tốt, là do có thể dốc lòng dốc sức vào lúc cuối vậy. - Địa Sơn Khiêm hào 6.6: “Thượng Lục, minh khiêm, lợi dụng hành sư, chinh ấp quốc.” Dịch nghĩa: Hào Sáu Trên, tiếng tăm lừng lẫy về đức khiêm, có thể lợi dụng điều đó mà đem quân đi đánh, chinh phạt các nước nhỏ ở gần. - Tượng nói: “Minh khiêm, chí vị đắc dã”, nói lên chí của Sáu Trên chưa hoàn toàn thực hiện được, ý chí chưa đạt được. “Khả dụng hành sư, chinh ấp quốc dã”, nói lên chỉ đi chinh phạt các đô ấp gần xung quanh. Bình giải: ngôi cực quẻ Khiêm, có tượng cực khiêm mà tiếng tăm lừng lẫy (hào Hai và hào Trên đều nói “minh khiêm”, hào Trên ở cao mà “minh” với kẻ dưới, hào Hai ở trong mà “minh” với kẻ ngoài), ngôi vị thì cao, đức khiêm thì cực, đủ để cảm hóa mọi người, nhưng cuối cùng vẫn còn có kẻ kiêu nghịch không theo. Kẻ thuận theo thì nhiều, kẻ bội nghịch tất ít, là điều kiện quan trọng cho việc “hành quân đi đánh ấp quốc”. Cho nên chí yên định thiên hạ của Sáu Trên còn chưa được hoàn toàn thực hiện, chưa thỏa lòng mong muốn sự đại đồng trong thiên hạ.
  8. Kinh viết: Cấn, Cấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân; hành kỳ đình, bất kiến kỳ nhân. Vô cữu. Tượng viết, kiêm sơn, cấn, vật dĩ tư bất xuất kỳ vị. Sơ Lục, cấn kỳ chỉ, vô cữu, lợi vĩnh trinh. Nhị Lục, cấn kỳ phì, bất chửng kỳ tuỳ, kỳ tâm bất khoái. Cửu Tam, cấn kỳ hạn, liệt kỳ di, lệ huân tâm. Lục Tứ, cấn kỳ thân, vô cữu. Lục Ngũ, cấn kỳ phụ, ngôn hữu tự, hối vong. Thượng Cửu, đôn cấn, cát.
  9. Chào Đồng Quảng. Hà Uyên cũng chỉ là người đọc trước một trang sách thôi, chúng ta bình đẳng về học thuật mà. Một số điều lệ khi Kinh Phòng khi xây dựng học thuyết cho mình, thì rất ít và hầu như không thấy sách nào bàn tới, từ Hoả châu lâm, rồi Tăng san tới Bốc phệ chính tông, ... , có gì thì chúng ta cùng khảo chứng và tìm hiểu thêm.
  10. VinhL thân mến. Dụng ý của Hà Uyên ở chủ đề này, là đặt vấn đề về Thổ tinh, thông qua điều lệ của Người xưa khi nói Giáp hợp Kỷ, Sinh hợp Thành, ý nghĩa và hậu quả, hình thành quy luật, ... , có tác dụng thiết thực về nhận thức mối quan hệ Xưa và Nay. Năm 2010 là năm Canh, nên chăng chúng ta tiếp tục tìm hiểu về Kim tinh (Venus) ? Giữa Thất tinh và Tứ dư, có phải thông qua Tứ dư là phần gây ảnh hưởng trực tiếp đến Trái đất không ? Thái bạch Kim tinh, La hầu, Kế đô, ... , Về môn Thái Ất, thì theo Hà Uyên nên mở một chuyên mục riêng, cho rộng đường khảo chứng, thực tâm của Hà Uyên cũng chưa muốn bàn tại thời điểm này. Phongthuysinh thân mến. Chúng ta nên tìm hiểu về Kim tinh, sao Hôm sao Mai. Sang năm là 2010, năm Ất hợp Canh, thông qua hệ thống Can Chu Ngũ hành, chúng ta cùng tìm hiểu những gì Người xưa để lại, kết hợp với kiến thức Thiên văn hiện đại làm khảo chứng, Hà Uyên thấy nó thiết thực và hiệu quả. Thông qua chu kỳ vận hành của Kim tinh, chúng ta tiếp tục bàn về mối quan hệ Thời gian của Người xưa.
  11. a/ Hán-thư Luật-lịch-chí: Thoạt đầu là vào Nguyên, 106 dương 9, thứ nhì là 374 âm 9, thứ ba là 480 dương 9, thứ tư là 720 âm 7, thứ năm là 720 dương 7, thứ sáu là 600 âm 5, thứ bẩy là 600 dương 5, thứ tám là 480 âm 3 và thứ chín là 480 dương 3, phàm 4617 năm mà thành trọn một nguyên. Vị chi là 4560 Kinh-tuế (tức thường tuế) và 57 tai-tuế. Tóm lại 4617 tuế là một Nguyên, dương là hạn-tai (hạn hán), âm là thủy-tai (Xin xem Sớ của Thiên Vương-chế trong Kinh Lễ và ô chót Bảng 21.1 Bảng Tỷ-giảo Dịch/Huyền). Theo Hà Uyên tính thì có khác: "...thứ nhì là 378 âm 9, thứ ba là 486 dương 9, ..." Hà Uyên đã tham khảo và khảo chứng từ thực tiễn trong nhiều năm. VinhL đã lấy trích dẫn cho là mấu chốt thì Hà Uyên tôn trọng. Chúng ta không bàn nữa.
  12. Lê Quý Đôn, nhà Bác học của Dân tộc, khi để lại sách, tại sao lại phải lấy danh là: Dị dản 6 ? Ngoài hạn Dương Cửu Bách Lục ra, thì Trái đất này còn bao nhiêu hạn nữa mà không thấy Sách nào bàn tới, kể cũng lạ thật. !
  13. VinhL thân mến. Toàn bộ phần dẫn chứng trên, Hà Uyên đã đọc, đang hiểu mà chưa dám hành. VinhL có hiểu nguồn gốc Kinh tuế 4560 năm có nguồn gốc từ đâu không ? Thái ất lấy 456 năm là một Dương Dửu, 288 năm sau làm một Bách Lục, thì tại sao lại quy định như vậy không ? Cớ sở Chính tuế 336 năm, Thiên tuế 504 năm, thì nguồn gốc từ đâu ? Còn khi Toán theo Liên Sơn thì Chính tuế là 432 năm, toán theo Quy tàng thì Chính Tuế 384 năm. Hà Uyên cũng chưa giám mạo bàn tới Thái ất. Kể từ: Lý thường ... Nguyễn Trãi ... Nguyễn Bỉnh.... Phùng Khắc.... Lê quý.... Nguyễn Ngọc...Doãn Thường => Trãi => Bỉnh => Khắc => Quý => Ngọc ...., Tên chữ đệm "Ngọc" ai ban cho ? Tên chữ đệm này hiện nay tới bộ sắc dấu "ngã", không biết ai đang nắm giữ chìa khoá đây (!)
  14. Chào Minh An. Trên một diễn đàn, khi giao lưu trao đổi học thuật, có nên chăng khi dùng ý kiến chủ quan của mình, để làm kinh nghiệm không ? Theo như Minh An nói, quẻ đầu có giá trị nhất. Vậy thì Minh An có thể khảo chứng về: "quẻ đầu luôn luôn là quẻ có giá trị nhất" cho mọi người trên diễn đàn thêm phần sáng tỏ được không ? Một năm 365,25 ngày, trải qua 6 vòng giáp Tý, rồi tiếp đến 5 ngày nữa trôi đi, vậy thì 1/4 ngày còn lại sẽ tính Can Chi cho Nhật thần như thế nào đây ? Chúng ta cùng chia sẽ khi tìm hiểu kiến thức của người xưa.
  15. Một ví dụ: được quẻ Trạch Sơn Hàm, động hào 2. Nội quái động Căn cứ vào Tổng trị số của Nội quái như sau: - Quẻ Chấn: hào một dương 9, hào hai âm 12, hào ba âm 24. Tổng 3 hào là 9 + 12 + 24 = 45 - Quẻ Khảm: hào một âm 6, hào hai dương 18, hào ba âm 24. Tổng 3 hào: 6 + 18 + 24 = 48 - Quẻ Cấn: hào một âm 6, hào hai âm 12, hào ba dương 36. Tổng 3 hào: 6 + 12 + 36 = 54. - Quẻ Tốn: hào một âm 6, hào hai dương 18, hào ba dương 36. Tổng 3 hào: 6 + 18 + 36 = 60 - Quẻ Ly: hào một dương 9, hào hai âm 12, hào ba dương 36. Tổng 3 hào: 9 + 12 + 36 = 57. - Quẻ Đoài: hào một dương 9, hào hai dương 18, hào ba âm 24. Tổng 3 hào: 9 + 18 + 24 = 51. Ta có thứ tự như sau .63. -. 60. - 57 - 54. -. 51. -.. 48.. -.. 45.. -. 42. Càn - Tốn - Ly - Cấn - Đoài - Khảm - Chấn - Khôn Động hào 2 quẻ Chấn, khi bắt đầu vào 7h được quẻ Trạch Sơn Hàm => sau 15 phút, tới quẻ Trạch Địa Tụy => 7h30 - 7h45 tới quẻ Trạch Thiên Quải => .....cho tới quẻ Khảm, được quẻ Trạch Thủy Khốn. Là hết 8 quẻ của giờ Thìn. Còn khi động ở ngoại quái, thì Đong_quang làm tương tự, tìm Tổng trị số của Ngoại quái, cũng sắp xếp tương tự như Nội quái.
  16. Chào Đồng_quang. Người xưa quy định một Giờ can chi thì 8 quái vận hành hết. Vấn đề là tại sao Người xưa lại chọn đơn vị tính là "Khắc" ? Vạn vật quan hệ với Thời gian, ví như Thời gian đã bộc lộ một tiềm ẩn hàm lực, một sức mạnh, làm thay đổi khí âm dương. (Thay đổi về chất) Người xưa nhận thức sự chuyển dịch Ngày - Đêm, đã chọn đơn vị tính là "Khắc". Đơn vị thời gian Khắc này bằng 1 phần 100 của một Ngày - Đêm. Một đơn vị thời gian nữa là "Giờ", được tính bằng 1 phần 12 của ngày - đêm. Khi bóng ngả chuyển một cung, chiếm 1 phần 12 đường tròn tính là một Giờ (Cung độ góc chiếu sáng mặt trời theo bóng ngả trên mặt đất). Chúng ta đang quan niệm, một Giờ can chi = 120 phút. Như vậy, mỗi một quẻ Dịch trong tám quẻ, sẽ chuyển dịch tương đương với 15 phút (120 / 8 = 15). Còn đối với Khắc do quy định là 1 phần 100 của 12 giờ (ngày - đêm), do vậy một Khắc là (12 x 120)/100 = 14, 4 phút. Khi lấy đơn vị tính là tám quẻ Dịch, mỗi quẻ là 15 phút (~ đơn vị), vận hành hết một Giờ can chi. Thì một ngày can - chi, mỗi quẻ dịch phải trải qua 96 phút. Bắt đầu từ hai quẻ Càn Khôn, với trị số Càn 9 - Khôn 6 ....................CÀN.........................KHÔN.......... Hào sáu....144 x 2 = 288............96 x 2 = 192 Hào năm....72 x 2 = 144.............48 x 2 = 96 (12 giờ có 96 Khắc - 96 quái) Hào bốn.....36 x 2 = 72...............24 x 2 = 48..... Hào ba.......18 x 2 = 36...............12 x 2 = 24...... Hào hai...... 9 x 2 = 18.................6 x 2 = 12..... Hào một...............= 9..........................= 6...... Một ngày, có 12 giờ can chi, tương ứng với 96 khắc. Do vì, Hào Sáu chỉ tồn tại có 4, 6 phút, chưa đủ một Khắc là 14, 4 (15 phút). Cho nên điều lệ dịch học của Kinh Phòng khi quy Bát quái về Ngũ hành, chỉ cho Khí dịch tiến hóa đến Hào Năm. Sau 15 phút, thì quái dịch thay đổi. Như vậy, trong một Giờ can chi (120 phút), Dong_quang có thể hỏi được 8 câu hỏi, nhưng với điều kiện là: câu hỏi trước cách câu hỏi sau 15 phút (14,4).
  17. Bắt đầu từ hai quẻ Càn Khôn, với trị số Càn 9 - Khôn 6 ....................CÀN.........................KHÔN.......... Hào sáu....144 x 2 = 288............96 x 2 = 192 Hào năm....72 x 2 = 144.............48 x 2 = 96 (12 giờ có 96 Khắc - 96 quái) Hào bốn.....36 x 2 = 72...............24 x 2 = 48..... Hào ba.......18 x 2 = 36...............12 x 2 = 24...... Hào hai...... 9 x 2 = 18.................6 x 2 = 12..... Hào một...............= 9..........................= 6...... Một ngày, có 12 giờ can chi, tương ứng với 96 khắc. Do vậy, Mạnh Hỷ, Tiêu Diên Thọ, Kinh Phòng, ngay kể cả đến Thiệu Ung, cũng không tính tới Hào sáu. Do vì, Hào Sáu chỉ tồn tại có 4, 6 phút, chưa đủ một Khắc là 14, 4 (15 phút). Cho nên điều lệ dịch học của Kinh Phòng khi quy Bát quái về Ngũ hành, chỉ cho Khí dịch tiến hóa đến Hào Năm. Lạc Việt Dịch, hào Sơ quẻ Thuần Càn viết: Sơ Cửu, tiềm long, vật dịch. - Dịch nghĩa: "Rồng ẩn (khi đang suy nghĩ tìm tòi), không nên xem bói" Nghĩa gốc từ chữ "vật" sinh ra chữ "dịch". "Vật, sinh sinh chi vị Dịch". Vật, là tên gọi tổng quát cho sự biến hóa, là tên gọi đặc thù cho sự hoán cải. - Đế hỏi: Ta thấy sách này gọi chữ "vật", nay ta ban cho chữ "quân tử" thay cho chữ "vật", có được không ? - Lạc Việt Dịch: im lặng, không trả lời. Đại tượng viết: Trạch vô Thủy, Khốn, vật dĩ trí mệnh toại chí Đại tượng viết: Trạch vô Thủy, khốn. Quân tử dĩ trí mệnh toại chí.
  18. Anh Thiên Sứ kính mến. - Nguồn gốc của con số 288, khi tính: TAI BIẾN HẠN BÁCH LỤC trong môn Thái Ất. Đó chính là Trị số của hào 6 quẻ Bát Thuần Càn. Hào 1 trị số 9, hào 2 trị số 18, ... , hào 6 trị số 288. Đây là trị số của Nguyên nhỏ khi tính hạn Bách lục cho "Cửu Ngũ chi Tôn". - Nguồn gốc của con số 57, khi tính: HẠN LỚN NHỎ THUỘC DƯƠNG CỬU trong môn Thái Ất. Đây chính là Trị số Tổng của 3 hào quẻ Bát thuần Ly (9 + 12 + 36 = 57) Bắt đầu từ hai quẻ Càn Khôn, với trị số Càn 9 - Khôn 6 ....................CÀN.........................KHÔN.......... Hào sáu....144 x 2 = 288............96 x 2 = 192 Hào năm....72 x 2 = 144.............48 x 2 = 96 (12 giờ có 96 Khắc - 96 quái) Hào bốn.....36 x 2 = 72...............24 x 2 = 48..... Hào ba.......18 x 2 = 36...............12 x 2 = 24...... Hào hai...... 9 x 2 = 18.................6 x 2 = 12..... Hào một...............= 9..........................= 6...... Tiếp tục đến Lục tử: sáu con - Quẻ Chấn: hào một dương 9, hào hai âm 12, hào ba âm 24. Tổng 3 hào là 9 + 12 + 24 = 45 - Quẻ Khảm: hào một âm 6, hào hai dương 18, hào ba âm 24. Tổng 3 hào: 6 + 18 + 24 = 48 - Quẻ Cấn: hào một âm 6, hào hai âm 12, hào ba dương 36. Tổng 3 hào: 6 + 12 + 36 = 54. - Quẻ Tốn: hào một âm 6, hào hai dương 18, hào ba dương 36. Tổng 3 hào: 6 + 18 + 36 = 60 - Quẻ Ly: hào một dương 9, hào hai âm 12, hào ba dương 36. Tổng 3 hào: 9 + 12 + 36 = 57. - Quẻ Đoài: hào một dương 9, hào hai dương 18, hào ba âm 24. Tổng 3 hào: 9 + 18 + 24 = 51. Như vậy, tổng trị số 3 hào của Càn là: 9 + 18 + 36 = 63. Tổng trị số 3 hào của Khôn: 6 + 12 + 24 = 42. Chúng ta có được một dãy số được xếp cách 3 tương đương với trị số của từng quái như sau: .63. -. 60. - 57 - 54. -. 51. -.. 48.. -.. 45.. -. 42. Càn - Tốn - Ly - Cấn - Đoài - Khảm - Chấn - Khôn
  19. Phongthuysinh thân mến. Cách xa nhau nghìn dặm, nhưng cái Tâm của chúng ta luôn có sự liên hệ với nhau. Quẻ Khôn cho chúng ta tính bao dung, Khí của Khôn để lại khoảng trống rất lớn, để lại cho các thế hệ, liên tục khám phá và giải thích. Cảm ơn Phongthuysinh rất nhiều, Hà Uyên chắc không kịp để thấu hết Huyền cơ của sách. Hà Uyên tin Phongthuysinh khai thác được những tinh hoa của Người xưa. Thân mến.
  20. Anh Thiên Sứ đã quan tâm tới chu kỳ 20 năm giao hội của Mộc tinh và Thổ tinh rồi. Chủ đề này, Hà Uyên thấy đã hoàn thành những suy tư cá nhân với anh Thiên Sứ. Hà Uyên xin rút lui, do vì kiến thức Thiên văn hiện đại còn đang bỡ ngỡ quá. Chu kỳ 24 năm nạp âm cho Lạc thư Hoa giáp mà anh Thiên Sứ đã chứng minh là Văn hiến Lạc Việt. Có thể thông qua đây, dự báo được những ngày Giông tố trong năm. Hà Uyên.
  21. Anh Thiên Sứ thân mến. Việc anh Quangnx thất vọng, là nói tới Hà Uyên, chứ không phải nói Minh An đâu. Nguyên nhân từ đây: http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...art=#entry52518 Cảm ơn Quangnx đã quan tâm nhắc nhở. Anh Thiên Sứ thông cảm cho. Hà Uyên.
  22. Sai số khi vận dụng công thức tính toán. Vạn vật quan hệ với Thời gian, ví như Thời gian đã bộc lộ một tiềm ẩn hàm lực, một sức mạnh, làm thay đổi khí âm dương. (Thay đổi về chất) Người xưa nhận thức sự chuyển dịch Ngày - Đêm, đã chọn đơn vị tính là "Khắc". Đơn vị thời gian Khắc này bằng 1 phần 100 của một Ngày - Đêm. Một đơn vị thời gian nữa là "Giờ", được tính bằng 1 phần 12 của ngày - đêm. Khi bóng ngả chuyển một cung, chiếm 1 phần 12 đường tròn tính là một Giờ (Cung độ góc chiếu sáng mặt trời theo bóng ngả trên mặt đất). Chúng ta đang quan niệm, một Giờ can chi = 120 phút. Như vậy, mỗi một quẻ Dịch trong tám quẻ, sẽ chuyển dịch tương đương với 15 phút (120 / 8 = 15). Còn đối với Khắc do quy định là 1 phần 100 của 12 giờ (ngày - đêm), do vậy một Khắc là (12 x 120)/100 = 14, 4 phút. Khi lấy đơn vị tính là tám quẻ Dịch, mỗi quẻ là 15 phút (~ đơn vị), vận hành hết một Giờ can chi. Thì một ngày can - chi, mỗi quẻ dịch phải trải qua 96 phút, (96 / 15 = 6, 4 lần), tám quẻ Dịch sẽ vận hành hết 12 vòng trong một ngày đêm. Nếu đơn vị tính là Khắc tương đương với một quẻ Dịch, thì sẽ sai số mất 0,6 phút. Khi Người xưa lấy đơn vị 8 quẻ dịch vận hành tương đương với một giờ Can - Chi (120 phút), thì sai số là 4, 8 phút. Do vậy, một ngày sai số là 57, 6 phút. Như vậy, thì một tháng can - chi, rồi một năm can - chi, cũng sẽ sai số theo. Tản mạn trước khi tiếp tục tìm hiểu những kiến thức tính toán thời gian của Cổ nhân.
  23. Chào NoMatterWhatCảm ơn bạn đã quan tâm. Việc tìm hiểu Thổ tinh, không phải là việc "nước đến chân mới nhảy". Do vì, thực tiễn tại diễn đàn này, Hà Uyên cũng đã thử sức một hai lần với anh Thiên Sứ. Lần thứ nhất là Dự báo về động đất, lần thứ hai là Dự báo về cơn bão số 9. Những công thức tính Dự báo này, đều thông qua "Thất tinh Tứ dư", để tính toán. Lịch sử đang thuộc về các bạn. Chính sử và Dã sử về Nguyễn Bỉnh Khiêm, thế hệ các bạn, quỹ thời gian còn rất dài. Hà Uyên tin rằng, Bạn sẽ là người có tiếng nói minh giải cho Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng như Nguyễn Trãi. Ở tuổi này rồi, Hà Uyên không tin về chính sử, khi viết về "sấm" hay "vỹ". Những lời nhắc nhở của Bạn, Hà Uyên ghi nhận. Giáp Kỷ hợp nói lên điều gì ? Tại sao Mộc tinh và Thổ tinh khi chu kỳ giao hội lại gây ảnh hưởng lớn đến trái đất ? Đây là điều mà Hà Uyên quan tâm. Cũng mong NoMatterWhat có thêm ý kiến bình giải, hướng tới tìm ra nguyên nhân của những trận Động đất, những cơn Bão lớn, thông qua một vài kiến thức cổ xưa Can Chi, Ngũ hành, ... , thật là mỏng manh. Đây là điều mà Hà Uyên đang hứng thú, vậy thôi. Cảm ơn NoMatterWhat nhiều.
  24. http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...rt=0#entry44915 http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...=600#entry54045
×
×
  • Create New...