Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. Độc đáo nghệ thuật và trò chơi dân gian thời Trần Thiên Trường xưa - nay là Nam Định, vùng đất quê hương của các đời vua nhà Trần, là nơi “khai sinh” của nhiều loại hình dân ca, dân vũ độc đáo, đồng thời cũng là mảnh đất có nhiều cuộc thi thể hiện trí thông minh, lòng quả cảm, sức mạnh của con người chiến thắng thiên nhiên và giặc ngoại xâm. Những loại hình nghệ thuật, trò chơi dân gian đó đều gắn với lịch sử vùng miền, phản ánh quá trình lao động khai phá đất đai của con người, trong đó độc đáo nhất phải kể đến múa bài bông, thi bơi chải và thi đánh cờ người. Múa bài bông Hàng năm cứ vào dịp từ tháng Giêng đến tháng Ba và tháng Tám âm lịch, nhân dân các nơi lại nô nức kéo về làng Phương Bông dự hội múa bông, đông nhất là vào dịp mồng 10 tháng 3 âm lịch. Hội múa bông thực chất là một phần của lễ tưởng niệm Trần Quang Khải, một danh tướng dòng dõi quý tộc thời Trần. Tương truyền, ông cũng chính là người dạy dân làng cách trồng bông, dệt vải và là tác giả của điệu múa bài bông nổi tiếng. Sau chiến thắng quân Nguyên-Mông, Trần Quang Khải trở về quê cũ Tức Mặc. Ông dạy dân Phương Bông (còn gọi là Hương Bông, thuộc hương Tức Mặc - hành cung Thiên Trường năm xưa, nay là xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc) biết cách trồng bông. Từ đó, Phương Bông trở thành vườn bông của triều đình. Bài hát, điệu múa bài bông cũng ra đời từ đó. Điệu hát múa này trước kia được biểu diễn trong các dịp khánh lễ ở sân rồng và đặc biệt không thể thiếu trong những ngày ăn mừng chiến thắng. Về sau, múa bài bông trở thành một phần quan trọng trong nghi lễ cúng tế Trần Quang Khải và chỉ có ở làng Phương Bông, do đó nó mang đậm sắc thái địa phương và mang tính dân tộc sâu sắc. Đình làng Phương Bông đã tôn Trần Quang Khải làm Thành hoàng, coi ông như vị tổ sư nghề ca kỹ. Để thực hiện múa bài bông, những người tham gia vào đội múa được dân làng tuyển chọn kỹ càng. Họ phải là những cô gái trẻ, đẹp và có giọng hát hay. Trang phục để múa bài bông hết sức rực rỡ, nhiều màu sắc, chủ yếu là áo màu đỏ thắm, thắt lưng bao xanh hoặc đỏ. Trên vai người múa là một cái cần, hai đầu cần là hai cái giỏ buộc dải lụa điều, đầu cần tròn có cuốn giấy màu xanh đỏ theo hình rắn lượn. Trong mỗi giỏ lại đựng đầy hoa tươi (chủ yếu là hoa huệ) được xếp tròn và cao tượng trưng cho bông hoa khi nở rộ, ở giữa mỗi giỏi hoa có một ngọn nến cháy sáng. Điểm đặc biệt của điệu múa này là số người tham gia múa bao giờ cũng là số chẵn, người múa đứng xếp thành hàng, tạo hình như các ô vuông tượng trưng cho thửa ruộng. Căn cứ vào số người tham gia điệu múa và địa điểm biểu diễn mà người ta chia múa bài bông ra làm ba hạng: Thiên tử, Chư hầu và Đại phu. Điệu múa, lời ca khúc hát bài bông được diễn diễn tấu trong sự hòa âm từ các nhạc cụ như đàn, sáo, nhị, hồ…; động tác múa mô phỏng theo các động tác lao động như trồng bông, hái bông, quay tơ, dệt vải… được nghệ thuật hóa cao độ. Do yêu cầu của nội dung bài múa phải sử dụng ánh sáng lung linh từ những ngọn nến như một yếu tố tạo nên vẻ huyền ảo nên người ta chỉ biểu diễn múa bài bông vào ban đêm. Dưới ánh sáng của những ngọn nến, tiếng đàn, tiếng hát cất lên, hòa quyện trong mùi hương hoa ngây ngất, người múa quần áo rực rỡ, phất phơ dải bao lưng xanh…, tất cả tạo nên một bầu không khí thiêng liêng mà thanh khiết. Những cô gái vừa hát, vừa múa uyển chuyển nhịp nhàng trong tiếng nhạc chừng hai mươi phút, sau đó từng người tiến lên phía trước, quỳ xuống và đặt hai giỏ hoa của mình lên ban thờ. Cứ thế cho tới người cuối cùng và họ kết thúc điệu múa bằng một bản hợp ca ca ngợi vị tướng đã có công giúp dân giúp nước. Thi bơi chải ở Đệ Nhị Một trong số các cuộc thi được nhân dân Thiên Trường xưa ưa thích là thi bơi chải trên sông Vĩnh Giang của thôn Đệ Nhị ( hay còn gọi là Đệ Nhì -thuộc hành cung Thiên Trường xưa, nay thuộc xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc). Sông Vĩnh Giang là con sông chảy quanh co uốn khúc, ôm lấy đồng ruộng, làng mạc, men theo làng Đệ Nhất rồi chảy xuôi xuống Đệ Nhị, nơi ngã ba sông có đền thờ Đệ Nhị hay còn gọi là đền thờ Thánh Bơi. Thuyền bơi (chải) được làm bằng gỗ, dài chừng 12m, để mộc không sơn; đầu chải hơi vót, chải có khoang và chia làm tám phách để 16 người ngồi bơi. Người gõ mõ đứng ở giữa chải, người cầm chải đứng cuối, người đứng ở đầu chải cầm sào để đẩy chải khác ra xa chải của mình trong khi bơi. Trong các cuộc thi bơi, thông thường Lý trưởng của làng đứng ra cầm chải. Nhân dân địa phương quan niệm rằng nếu ông Lý trưởng nào cầm chải thắng trong cuộc thi thì dân làng đó sẽ làm ăn phát đạt trong ba năm liền. Mỗi hiệp thi có hai chải cùng bơi, chải nào thắng thì được vào thi bơi tiếp với các chải còn lại. Khoảng cách giới hạn trong cuộc thi là từ khúc sông làng Thanh Khê ra đến chợ Viềng. Chải giành chiến thắng là chải bơi nhanh và đẹp nhất sẽ được nhà vua trao giải. Có một điểm đặc biệt, đó là trong lúc ngoài sông thi bơi thì trong đền cũng diễn ra nghi lễ cầu thánh và lễ tế. Cuộc thi bơi chải ở Đệ Nhị phục vụ hai mục đích, vừa là nghi lễ tế thánh, vừa là trò vui trong ngày hội. Thi đánh cờ người ở Đệ Tứ Cũng như múa bài bông, bơi chải, đánh cờ người là một hình thức giải trí, vui chơi được nhân dân Thiên Trường xưa hết sức ưa thích, đặc biệt là trong các dịp lễ hội. Thi đánh cờ người ở Đệ Tứ có những nét rất riêng, từ cách bày quân đến cách đánh đều mang sắc thái, phong tục tập quán của người dân Thiên Trường. Để chuẩn bị cho cuộc thi, người ta bày quân chia thành hai bên nam và nữ. Tướng cờ bên nam là một cụ ông, tướng cờ bên nữ là một cụ bà, chỗ ngồi của tướng cờ đều được trang trí hết sức lộng lẫy, tướng cờ hai bên đều mặc áo thêu kim tuyến vàng óng ánh. Phục sức của mỗi quân cờ cũng rất trang trọng, các quân sỹ, tượng, xe, pháo… đều mặc áo màu sặc sỡ không giống nhau để phân biệt quân của hai bên. Trước mặt mỗi quân cờ đều cắm tấm biển có tua rua bay phấp phới, mang tên chính quân cờ đó. Khi đánh, các quân cờ vẫn ngồi im, người đánh chỉ di chuyển tấm biển trước mặt các quân cờ người. Chính vì thế trông bàn cờ vẫn rất đẹp dù nhìn ở mọi góc độ, hàng ngũ ngay ngắn từ khi bắt đầu tới khi kết thúc mà không hề bị lộn xộn. Do khoảng đất làm bàn cờ rất rộng nên đòi hỏi người chơi phải có hình dung tốt, quan sát thật nhanh và nắm chắc luật chơi. Ngoài các trò chơi đã đi vào các câu ca dân gian, ở Nam Định còn vô số những trò chơi khác vẫn còn được lưu lại đến nay trong các dịp lễ hội của nhân dân các vùng như: thi bắt vịt, dệt vải, đấu vật, thổi cơm niêu, bắt trạch trong chum… Những lễ hội và trò chơi dân gian đã tồn tại, lưu truyền trên mảnh đất Thiên Trường-Vị Hoàng qua nhiều thế hệ, tiềm ẩn bên trong những sinh hoạt dân gian ấy là nội dung lịch sử sống động và sâu sắc, phản ánh đời sống của người dân qua lao động, sản xuất với nhiều sắc thái tinh thần phong phú./. http://www.tinmoi.vn
  2. Thằng rể hay chữ Một phú hộ muốn chọn cho con gái cưng của mình một người chồng hay chữ. Ở cùng làng có một anh nông dân mồ côi cha mẹ, hằng ngày anh ta phải đi cày thuê cuốc mướn, cuộc sống vất vả mà cũng không đủ ăn. Khi biết nhà phú ông muốn kén rể, anh ta đến nhờ ông mai lo việc mối lái cho mình. Biết chàng trai nghèo khổ, lại cũng chẳng thân thế gì nhà phú hộ, ông mai cố gắng thu xếp giúp. Khi được ngỏ ý, vì tin tưởng ông mai, phú hộ nhận lời với điều kiện: Anh nông dân phải ở rể 3 năm, nếu anh ta là người hay chữ, biết làm ăn thì phú hộ sẽ cho làm lễ cưới rước dâu. Một hôm, anh nông dân và phú hộ cùng lên rẫy. Muốn thử tài con rể, phú hộ mới ra câu đối: “Tích cốc phòng cơ”. Đứng trước đám rẫy xanh tốt, anh nông dân không nghĩ ra câu đối, tức mình quá anh bỏ rựa xuống và chửi đổng: - Con c...! - Rồi anh bỏ về. Lão phú hộ giận quá đến nhà hỏi ông mai: - Ông bảo nó hay chữ lắm, thế mà khi tôi ra câu đối, nó lại hỗn xược bảo: “Con c...” rồi bỏ về. Ông mai nhanh nhẩu trả lời: - Thì hắn đã đối lại câu: “Tích cốc phòng cơ” của ông rồi đó, ý nó đối là: “Tử tôn kế nghiệp” (sinh con cháu để kế nghiệp ông cha). Lão phú hộ thấy câu đối thông minh quá, mới vội vàng tới nhà anh nông dân đón rể về nhà. Hôm sau, cha vợ, chàng rể lại lên rẫy tiếp. Trời nóng, lão phú hộ đưa tay lên che đầu và ra câu đối: - Ngũ duyên lai định thượng. Anh con rể lúng túng đưa tay vỗ vào bụng “cái bạch" rồi bỏ ra về: Lão phú hộ không hiểu anh chàng rể đối thế nào phải lò dò đến ông mai, giận dữ nói: - Tôi thật chẳng hiểu gì cả! - Có thế mà ông cũng không biết, nó đối thế là hay quá, ý nó là: “Phúc trung tấp thư tịch" (trong bụng chứa rất nhiều chữ nghĩa). Từ đây về sau, ông chẳng nên thử tài nó nữa, nó mà giận bỏ về lần thứ ba thì tôi không chịu trách nhiệm nữa đâu! Bữa kia anh nông dân đi làm gặp trời mưa, anh ghé vào nhà ông mai nói chuyện, nhìn màn mưa bên ngoài ông mai buột miệng: "Lác đác mưa sa làn gió thị". Chiều về trời vẫn mưa chưa hết, sấm chớp lại nổi lên liên hồi, lão phú hộ tức cảnh đọc: - Ầm ầm sấm dậy đất kim bôi. Chàng rể liền đọc ngay: - Lác đác mưa sa làn gió thị. Lão phú hộ nghe vậy cứ gật đầu khen hay mãi vì câu đối chỉnh quá. Từ đó về sau, lão yên tâm không thử tài chàng rể nữa. Hết thời hạn ở rể 3 năm, anh nông dân được lão phú hộ tổ chức đám cưới linh đình, bao nhiêu phí tổn lão chịu hết. Bên làng biết được cười rằng: Dốt thôi dốt đặc cán mai, Gặp may chàng cũng thành trai lão làng. Tú tài hay chữ Một anh tú tài hay chữ mà cũng hay nịnh, chết xuống âm phủ khai với Diêm Vương: - Tôi ở trần gian hay chữ một thời. Diêm Vương thấy anh ta khoe khoang như vậy bật cười và bật cả rắm. Anh tú tài liền ứng khẩu một bài thơ chúc tụng: - Đền ngọc ngai cao Mộng vàng rắm quí! Êm như tiếng sáo tiếng diều Mường tượng mùi lan mùi huệ Đã nên hương xạ thơm tho Lại nghe giọng đàn rủ rỉ Có chen đại pháo nổ mừng xuân Thật sánh với địa lôi phá lũy Chúa ngồi trên bệ đã đành mở cửa năm xe, Tôi ở dưới thềm cũng được nhờ hơi một tí. Vác tấm vách ra Xóm kia, có anh chàng nhậu dữ lắm, nhà nào có đám giỗ, ảnh cũng giả bộ lỡ bước tới lui. Một bữa, khi đang ăn đám kỵ cơm bên lối xóm thì nhà anh ta bốc cháy rần rần. Anh ta cũng lật đật chạy về. Thấy mọi người kẻ vác rương, người vác bộ ngựa, anh lính quýnh kêu: - Bà con cô bác ơi, vác đồ đó ra làm gì? Chạy vô gỡ tấm vách trong buồng đem ra giùm, có đồ quý lắm! Mọi người tưởng tấm vách nhà anh có để bạc vàng, vội chạy vô gỡ. Kẻ phỏng tay, người trầy chân, vác ra được rồi, thấy nó mỏng lét, chẳng để được món chi là quý, mọi người ngạc nhiên hỏi: - Sao đồ quý không cho đem ra, biểu vác đồ này làm chi? - Trời, mấy anh không thấy sao? Lật hết hai bề mà coi, tôi biên đầy những ngày kỵ cơm của mỗi nhà trong xóm, rủi cháy mất tôi biết ngày nào? sưu tầm
  3. Chúc mừng Sư Phụ đã có buổi tọa đàm thành công vẻ vang và hoành tráng.
  4. Nếu còn thấy một ông Phật nào đó trước mặt thì người thấy sẽ không phải là phật, hay sẽ là khác phật. Tức vẫn nhị nguyên Âm - Dương, tức là cứ trong cái vòng lẫn quẫn. Và vấn đề cầu nguyện, tức có đối tượng hay hình ảnh để nương cầu thì kẻ cầu nguyện đã tạo một khoảng cách vô định, chạy tới thì nó vẫn chẳng biết bao giờ tới tới hạn. Thế thì cầu nguyện giúp được gì chăng? Con chỉ hiểu tới đó thôi, thưa Sư Phụ giảng thêm. Thiên Đồng
  5. Vô phúc cho mấy người ẩn tu nơi cô tịch, rừng sâu núi cao, lấy đâu ra Tăng mà gần, Phật mà gần, Pháp mà gần? Thiên Đồng
  6. CÂU CHUYỆN ‘HẠT CỦA CHÚA’ ĐÃ KẾT THÚC ? 14/08/2012 | 2 phản hồi Abstract: The search for the ‘God particle’ is over, but the story of God particle is not! The question about Higgs boson’s existence is now answered, but new questions arise. Inspired by these questions, Physics will live forever, and the wish of discovering lives forever, too. Với sự hiện diện của hạt Higgs, bài toán thống nhất 4 lực vừa loé lên niềm hy vọng sẽ có cơ may nắm lấy “Chiếc Chén Thánh” (The Holy Grail) của vật lý. Nhưng “Chiếc Chén Thánh” ấy lập tức lại bị đẩy ra xa… Tại sao vậy? Theo Mô hình Chuẩn của vật lý hạt cơ bản, hạt Higgs là một boson truyền khối lượng. Sự tồn tại của nó đã được Peter Higgs dự đoán trên lý thuyết từ những năm 1960. Vai trò của nó quan trọng đến nỗi Leon Lederman, nhà vật lý đoạt giải Nobel năm 1988, đã gọi đó là “Hạt của Chúa” (God particle). Trong cuốn “The God particle” xuất bản năm 1993, Lederman thuyết phục chính phủ Mỹ cấp cho các nhà khoa học 10 tỷ USD để chế tạo một chiếc máy gia tốc đủ mạnh hòng tìm kiếm Hạt của Chúa. Ông nói quả quyết: “Hãy giao cho chúng tôi 10 tỷ dollars và các nhà vật lý sẽ giao nộp Chúa cho các ông!”[1]. Quả nhiên 19 năm sau, ngày 04.07.2012, các nhà khoa học tại CERN đã “giao nộp Chúa” cho toàn nhân loại. Tờ Daily Mail của Anh loan tin: “Cuộc săn lùng ‘Hạt của Chúa’ đã kết thúc” (The search for the ‘God particle’ is over)! Đó là một sự kiện vĩ đại có khả năng làm thay đổi thế giới, được ví như sự kiện Christophe Colomb khám phá ra Châu Mỹ năm 1492, hoặc Neil Amstrong đặt chân lên Mặt Trăng năm 1969, hay thậm chí còn hơn thế nữa. Suốt tháng 7 vừa qua, câu chuyện về hạt Higgs được thảo luận sôi nổi trên khắp địa cầu, từ những trao đổi cá nhân cho tới các diễn đàn quốc gia, quốc tế. Hiếm khi một sự kiện khoa học gây chấn động dư luận đến như thế. Những người không chuyên hỏi nhau “Higgs là cái gì vậy?”, còn những người yêu vật lý trên toàn thế giới thì thở phào: rốt cuộc thì loại hạt được coi là “the most elusive” – hay lảng tránh và khó nắm bắt nhất – sau mấy chục năm cũng đã lộ diện! Mặc dù CERN thận trọng tuyên bố rằng họ chỉ mới tìm thấy một loại hạt giống như hạt Higgs, nhưng hầu hết mọi người nghĩ rằng đó chính là hạt Higgs. Higgs boson đã có mặt như một đại diện cuối cùng, bổ khuyết vào chỗ trống chưa được kiểm chứng trong Mô hình Chuẩn suốt mấy chục năm qua. Thiếu nó thì Mô hình Chuẩn giống như một ngôi nhà có cấu trúc không an toàn, có nguy cơ sụp đổ bất kỳ lúc nào. Có nó thì Mô hình Chuẩn trở thành một kỳ đài khoa học nguy nga, tráng lệ, vững chắc. Vậy phải chăng câu chuyện về “Hạt của Chúa” đã kết thúc? KHÔNG! Cuộc săn lùng Hạt của Chúa về căn bản đã kết thúc, nhưng câu chuyện về Hạt của Chúa không kết thúc! Nó mở ra những chương mới với những câu hỏi mới vô cùng hấp dẫn, báo hiệu một giai đoạn mới của các khám phá vĩ đại đã lấp ló ở phía chân trời. 1. Viễn cảnh vật lý sau ngày 04.07.2012: Ngày 04 Tháng 07 năm 2012 sẽ đi vào lịch sử khoa học như một trong những ngày trọng đại nhất, khi CERN thông báo đã khám phá ra loại hạt mới giống như hạt Higgs. Khai mạc buổi lễ, Tổng giám đốc CERN, ngài Rolf-Dieter Heuer, long trọng tuyên bố: “Chúng ta đã đạt tới một cột mốc vô cùng quan trọng trong sự hiểu biết tự nhiên. Việc khám phá ra một loại hạt phù hợp với Higgs boson mở ra một con đường đi tới những nghiên cứu chi tiết hơn, đòi hỏi những thống kê lớn hơn cho phép xác định những tính chất của loại hạt mới này, và có khả năng rọi ánh sáng vào những bí mật của vũ trụ”[2]. Paul Dauncey, giáo sư vật lý hạt cơ bản tại Đại học Imperial ở London nói: “Đây là một đột phá trọng đại đối với sự hiểu biết của chúng ta về vũ trụ. Nếu loại hạt mới này đúng là hạt Higgs như chúng ta nghĩ, thì đó là một loại hạt hoàn toàn mới chưa từng thấy. Chúng ta có thể coi đây là phần cuối cùng của một thách đố, hoàn tất cái được xem như là Lý thuyết Tiêu chuẩn. Nhưng không ai nghĩ đó là điểm kết thúc của câu chuyện, mà có thể là điểm khởi đầu cho một chương mới của vật lý – bước đầu tiên đi tới một cái nhìn căn bản hơn đối với vấn đề làm thế nào mà hình thành nên vạn vật. Đó là lý do vì sao các nhà vật lý bị kích thích; chúng ta chỉ không biết rõ điều này sẽ dẫn đến đâu mà thôi”[3]. Giáo sư Jerome Gauntlett, chủ nhiệm khoa vật lý lý thuyết cũng thuộc Đại học Imperial, nhận định: “Sự kiện khám phá ra Higgs boson thực sự là một khoảnh khắc vĩ đại của khoa học. Ý tưởng của nó bắt nguồn từ những năm 1960 với những công trình đóng góp của Peter Higgs tại Đại học Edinburgh và bởi Tom Kibble và nhà vật lý đoạt Giải Nobel Abdus Salam tại Đại học Imperial. Hơn 50 năm sau tư tưởng thâm sâu của họ đã được xác nhận một cách đầy ấn tượng và đây là thời điểm huy hoàng của nền khoa học Anh. Giống như mọi khám phá vĩ đại khác, những nghiên cứu chi tiết hơn về hạt Higgs có khả năng có một tác động vô cùng lớn đối với những câu hỏi mang tính nền tảng của khoa học trong tương lai. Tôi cho rằng nó sẽ làm sáng tỏ bản chất bí ẩn của vật chất tối đang xâm chiếm vũ trụ, cho biết liệu có tồn tại những chiều bổ sung đối với không gian 3 chiều mà chúng ta vẫn quan sát hay không, và cuối cùng là làm thế nào để thống nhất Mô hình Chuẩn của vật lý hạt cơ bản với Lý thuyết Hấp dẫn của Einstein”[4]. Nhưng muốn hiểu rõ những ý kiến nói trên, phải có một cái nhìn hệ thống và toàn cảnh đối với Higgs boson. Nhà vật lý lý thuyết Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc nghiên cứu tại CNRS[5], Giáo sư Đại học Marie Curie ở Pháp, đã đưa ra một cái nhìn toàn cảnh và hệ thống về Higgs boson trong bài báo mới nhất của ông: “Hạt Higgs, lực cơ bản thứ năm mới lạ?”[6]. 2. Lực cơ bản thứ năm, một câu hỏi thách thức: Tiêu đề của bài báo đã lập tức gợi lên một suy ngẫm triết học mà Immanuel Kant từng nhắn nhủ: “Mỗi câu trả lời lại làm dấy lên những câu hỏi mới”. Vâng, sự tồn tại của hạt Higgs đã được trả lời, và lập tức hàng loạt câu hỏi mới đã xuất hiện. Đó là quy trình bất diệt của nhận thức làm cho cuộc sống của chúng ta mãi mãi lý thú và hấp dẫn bởi sự thách thức và lôi cuốn của cái mới lạ. Albert Einstein từng nói: “Cái đẹp nhất mà chúng ta có thể chiêm nghiệm là sự bí ẩn. Đó là ngọn nguồn của mọi nghệ thuật và khoa học”[7]. Hạt Higgs đã lộ diện, vì thế cái đẹp bây giờ nằm ở những câu hỏi nẩy sinh chính từ sự lộ diện đó: “Tuy trường Higgs truyền khối lượng cho vạn vật, nhưng cái gì mang lại cho chính hạt Higgs cái khối lượng 126 Gev/c2 mà chiếc máy siêu gia tốc LHC vừa khám phá ra?”, GS Yêm chất vấn, rồi ông lưu ý: “Đừng quên là khoảng 96% năng-khối lượng trong toàn vũ (mệnh danh là năng lượng tối và vật chất tối) hãy còn ở ngoài sự hiểu biết hiện nay của con người”. Bài viết của GS Phạm Xuân Yêm là một bài báo “khổng lồ” với khoảng 7500 chữ và rất nhiều chi tiết học thuật làm cho người không chuyên rất khó nắm bắt, nhưng tư tưởng xuyên suốt của bài báo lại biểu lộ một cách rõ ràng và lý thú ở ngay cái tiêu đề: Hạt Higgs, lực cơ bản thứ năm mới lạ? Đó là một câu hỏi rất lớn, bởi nó đụng tới nền tảng của vật lý, và là một câu hỏi thách thức, bởi nếu không trả lời được câu hỏi đó thì vật lý không bao giờ có thể thoả mãn được khát vọng “biết được ý Chúa” của Albert Einstein nói riêng và của các nhà vật lý nói chung. Nhưng để cảm nhận được tầm mức sâu sắc của câu hỏi lớn nói trên, không thể không nhắc lại rằng trước sự kiện khám phá ra hạt Higgs, khoa học đã biết 4 lực cơ bản: hấp dẫn, điện từ, hạt nhân yếu, hạt nhân mạnh. Lý thuyết thống nhất vật lý hiện đại, dưới tên gọi “TOE – Theory of Everything” (Lý thuyết về mọi thứ) hoặc “The Final Theory” (Lý thuyết cuối cùng) trong hàng thập kỷ qua đã và đang dồn mọi nỗ lực vào việc thống nhất 4 lực cơ bản. Năm 1969, ba nhà khoa học là Steven Weinberg, Sheldon Glashow và Abdus Salam chia nhau Giải Nobel vì đã chứng minh được bản chất thống nhất của lực điện từ với lực hạt nhân yếu. Thành công vang dội đó làm cháy bùng lên niềm hy vọng rằng rốt cuộc rồi vật lý sẽ chứng minh được bản chất thống nhất của 4 lực – “tất cả là một, một là tất cả”. Đó chính là lý do ra đời tên gọi “Lý thuyết về mọi thứ”, hoặc “Lý thuyết cuối cùng”, mà về mặt triết học, có thể thấy ngay rằng những tên gọi này không ổn. Cả trực giác lẫn logic đều cho thấy không thể có một túi khôn nào cho phép giải thích mọi thứ, không thể có một câu trả lời nào là cuối cùng mà không cần giải thích thêm. Nhưng vật lý những năm 1970-1980 đã chấp nhận những tên gọi đó. Không phải do các nhà vật lý kém triết học. Đơn giản vì họ tin rằng con đường thống nhất vật lý là tất yếu, và nếu đã là tất yếu thì trước sau nó phải đi tới đích cuối cùng. Nhưng chẳng bao lâu sau, trên con đường thống nhất vật lý, người ta gặp phải trở ngại vô cùng lớn khi cố gắng hợp nhất lực hấp dẫn vào trong khuôn khổ của vật lý hạt cơ bản. Trong bối cảnh đó, hạt Higgs càng được coi là một ứng cử viên sáng giá cho mục tiêu hợp nhất này, bởi nó là hạt truyền khối lượng cho các hạt khác, tức là nguồn gốc sâu xa tạo nên trường hấp dẫn. Madeleine Nash, tác giả bài báo “Unfinished Symphony”[8] trên tạp chí Times ngày 31.12.1999 là một trong những người tin tưởng vào “ứng cử viên Higgs” cho một lý thuyết thống nhất, khi bà nói rằng với chiếc máy LHC bắt đầu đi vào hoạt động tại Geneve từ năm 2005, sẽ có cơ may khám phá ra Hạt của Chúa, và do đó sẽ có cơ may dẫn tới việc hoàn thành “Bản giao hưởng bỏ dở” của Einstein, tức Lý thuyết Trường Thống Nhất (Unified Field Theory) do Albert Einstein khởi xướng từ những năm 1920, mà TOE sau này chỉ là một hậu duệ nối tiếp. Giờ phút này, có lẽ Nash đang là một trong những người phấn khởi nhất với việc khám phá ra hạt Higgs. Nhưng nếu bà được đọc bài báo của GS Phạm Xuân Yêm, “Hạt Higgs, lực cơ bản thứ năm mới lạ?”, hẳn là bà sẽ phải bình tâm suy nghĩ lại: Nếu quả thật tồn tại một loại lực mới, lực thứ năm, thì mục tiêu “biết được ý Chúa” vẫn còn xa vời lắm. Thật vậy, khi hạt Higgs vẫn còn là một dự đoán, những môn đệ của Lý thuyết về mọi thứ vẫn thường nghĩ rằng nếu thống nhất được 4 lực trong Siêu lực (superforce) thì sứ mệnh căn bản của vật lý coi như đã được hoàn thành. Khi đó, mọi hiện tượng vật lý đều có thể giải thích được, giấc mơ của Einstein muốn “biết được ý Chúa” coi như đã trở thành hiện thực. Nhưng thay vì hạt Higgs làm cho chúng ta tiến gần hơn tới chỗ “biết được ý Chúa”, những người sâu sắc lại sớm nhận thấy rằng mục tiêu ấy vẫn còn quá xa: hoá ra tự nhiên không chỉ có 4 lực như đã biết, mà có những 5! Đọc câu thơ của Nguyễn Bính, “Chín năm đốt đuốc soi rừng”, mà GS Yêm lấy làm đề từ cho bài viết, tôi có cảm tưởng ông cũng chia vui và thở phào cùng cộng đồng vật lý toàn thế giới vì đã trải qua không chỉ chín năm, mà những nửa thế kỷ chờ đợi phút lộ diện của hạt Higgs. Nhưng dường như ông thuộc trong số những tâm hồn lãng mạn, không thích sự thoả mãn, nên đã ngay lập tức để tâm tới những thách đố mới, mà có lẽ theo ông, thách đố lớn nhất là sự xuất hiện của một loại lực mới: lực cơ bản thứ năm! GS Yêm viết: “Nó[9] mở đầu một chương mới trong vật lý vì đây là lần đầu tiên con người khám phá ra một lực mới lạ, lực mang khối lượng cho vật chất, coi như lực cơ bản thứ năm của Tự nhiên, bên cạnh bốn lực cơ bản quen thuộc…”[10]. Với sự hiện diện của hạt Higgs, bài toán thống nhất 4 lực vừa loé lên niềm hy vọng sẽ có cơ may nắm lấy “Chiếc Chén Thánh”[11] (The Holy Grail) của vật lý. Nhưng “Chiếc Chén Thánh” ấy lập tức lại bị đẩy ra xa bởi nó đòi hỏi phải hợp nhất 5 lực! Mặc dù sự xuất hiện của một loại lực mới, lực thứ năm, được GS Yêm nêu lên dưới dạng một câu hỏi nghi vấn, nhưng đó là một nghi vấn hoàn toàn thuyết phục. Một lần nữa xin nhắc lại câu hỏi chất vấn của ông: “Tuy trường Higgs truyền khối lượng cho vạn vật, nhưng cái gì mang lại cho chính hạt Higgs cái khối lượng 126 Gev/c2mà chiếc máy siêu gia tốc LHC vừa khám phá ra?”. Thật vậy, khối lượng của các hạt được giải thích bởi sự tương tác giữa chúng với trường Higgs, nhưng chính hạt Higgs – những lượng tử của trường Higgs – thì tương tác với “ai” để có khối lượng? Đó là một câu hỏi không thể né tránh. Một lần nữa tư tưởng bất hủ của Kant lại được minh hoạ một cách tuyệt vời: “Mỗi câu trả lời lại làm dấy lên những câu hỏi mới”. Đọc một bài báo với 7500 chữ, có nhiều chữ trong đó độc giả có thể quên, nhưng không thể quên câu hỏi chất vấn nói trên. Đó là câu hỏi thú vị nhất và có lẽ là duy nhất, trong số không ít những bài báo liên quan đến sự kiện khám phá ra hạt Higgs mà tôi đã đọc trong thời gian vừa qua. Và mặc dù bài báo của GS Yêm không đả động gì đến bài toán thống nhất 5 lực, nhưng một cách tất yếu người đọc sẽ phải nghĩ tới bài toán đó: Nếu tồn tại 5 lực thì hiển nhiên là Lý thuyết thống nhất vật lý chỉ có thể thành công nếu nó chứng minh được bản chất thống nhất của 5 lực. Vì thế, tuy Stephen Hawking bị mất 100 USD vì đã thua khi đánh cược với Gordon Kane tại Đại học Michigan rằng sẽ không thể tìm thấy hạt Higgs, nhưng ông sẽ càng có nhiều lý do hơn để củng cố quan điểm cho rằng không thể có một Lý thuyết về mọi thứ, như ông đã trình bầy trong bài báo “The Elusive Theory of Everything”[12] trên Scientific American ngày 27.09.2010. Nếu việc khám phá ra hạt Higgs làm cho bài toán thống nhất các lực trở nên phức tạp hơn gấp bội phần, thì nó lại làm sáng tỏ nhiều khái niệm cơ bản của vật lý học mà từ xưa tới nay chúng ta tưởng rằng “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Điển hình là nhận thức hoàn toàn mới về bản chất của khối lượng. Theo GS Yêm, nguồn gốc của khối lượng là sự tương tác của vật chất với trường Higgs trong chân không lượng tử, thay vì là số đo lượng vật chất chứa trong vật thể như một thuộc tính “vốn có” của tự nhiên mà chúng ta vẫn thừa nhận một cách mơ hồ trong hàng trăm năm qua. Thiết nghĩ đây là điểm đặc biệt đáng lưu tâm đối với các nhà viết sách giáo khoa vật lý, bởi khối lượng là một khái niệm cơ bản của vật lý, bắt buộc phải trình bầy cho học sinh từ cấp phổ thông. Các nhà cải cách giáo dục nghĩ gì khi đặt bút (gõ computer) để viết sách giáo khoa vật lý cho niên học 2012-2013, khi định nghĩa khối lượng là gì? Liệu có thể chấp nhận khái niệm mù mờ khối lượng là số đo lượng vật chất chứa trong vật thể nữa hay không? Hay khối lượng là đặc trưng vật chất quyết định tương tác hấp dẫn giữa các vật thể với nhau? Hay khối lượng là đặc trưng vật chất được quyết định bởi tương tác giữa các hạt cơ bản cấu tạo nên vật thể đó với trường Higgs? Rõ ràng định nghĩa sau cùng là đúng nhất, kể từ sau ngày 04.07.2012 – ngày hạt Higgs lộ diện. Với định nghĩa đó, chúng ta mới có thể hiểu được một tính chất vô cùng hệ trọng của vật lý hiện đại: khối lượng có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào tương tác với trường Higgs mạnh hay yếu! Điều này đã được biết trong vật lý hạt cơ bản, ngay cả khi hạt Higgs chưa được xác nhận sự tồn tại. Nhưng làm thế nào để nói với học sinh phổ thông, nhất là ở các lớp dưới, về những chuyện phức tạp rắc rối của trường Higgs? Đây là một thử thách đối với các nhà giáo dục, đặc biệt với các nhà viết sách giáo khoa. Về mặt triết học nhận thức, đặc biệt là nhận thức tự nhiên, việc khám phá ra hạt Higgs là một cuộc cách mạng trong nhận thức đối với khái niệm khối lượng. Hoá ra Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton có nguồn gốc xa xôi là hạt Higgs. Hoá ra Lý thuyết hấp dẫn của Einstein, tức Thuyết tương đối Tổng quát, cũng bị chi phối bởi hạt Higgs. Chỉ chừng ấy thôi có lẽ cũng đã quá đủ để hình dung được tầm vóc ảnh hưởng vô cùng sâu rộng của hạt Higgs đối với tương lai của vật lý, mà hiện nay ít ai có thể lường trước hết được. Hạt Higgs quan trọng như thế đấy, nhưng trớ trêu thay, cho đến lúc này, hạt Higgs vẫn nổi tiếng hơn rất nhiều so với “nhà tiên tri” đã tiên đoán sự hiện hữu của nó. Điều này có phần tương tự như Tháp Eiffel nổi tiếng hơn rất nhiều so với cha đẻ của nó, Gustave Eiffel. Vậy sẽ là công bằng hơn nếu chúng ta dành chút thì giờ để tìm hiểu người mà hạt Higgs đã phải mang tên. 3. “Nhà tiên tri” thầm lặng: Ngày 29.05.2012 vừa qua, Peter Higgs vừa kỷ niệm sinh nhật lần thứ 83. Ông sinh tại tại Wallsend, North Tyneside, thuộc Scotland, nước Anh. Thân phụ ông là một kỹ sư âm thanh của Đài BBC. Thời trẻ, Higgs có giai đoạn theo học tại Cotham Grammar School, nơi Paul Dirac, một trong những nhà sáng lập của Cơ học lượng tử, đã từng là một cựu học sinh. Higgs cho biết ông đã từng được truyền cảm hứng từ các công trình của Dirac ngay từ hồi còn là học sinh của trường đó. Năm 17 tuổi, ông theo học Đại học City of London, chuyên ngành toán, rồi tiếp tục học Đại học King’s College, nơi ông đã tốt nghiệp với thành tích đứng đầu về vật lý. Cũng tại đó ông đã hoàn thành luận án thạc sĩ, rồi tiến sĩ. Sau đó trở thành hội viên nghiên cứu cao cấp tại Đại học Edinburgh, rồi đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau tại Đại học College London và Đại học Imperial London, trước khi trở thành giảng viên tạm thời môn toán tại Đại học College London. Năm 1960 ông trở lại Đại học Edinburgh và làm giảng viên tại Học viện toán lý Tait. Mãi tới 1980 ông mới được bổ nhiệm chức giáo sư vật lý lý thuyết tại Đại học Edinburgh. Vinh quang đầu tiên đến với ông vào năm 1983 khi ông được bầu làm hội viên Hội Hoàng gia Anh. Năm sau ông được trao tặng huân chương và giải thưởng Rutherford. Năm 1991 trở thành thành viên Hội vật lý. Năm 1996 ông về hưu và trở thành giáo sư danh dự của Đại học Edinburgh. Năm 2008 ông được bầu làm giáo sư danh dự của Đại học Swansea vì những công trình về vật lý hạt cơ bản. Tại Đại học Edinburgh, Higgs bắt đầu quan tâm đến vấn đề khối lượng của các hạt cơ bản. Ông đã phát triển một tư tưởng cho rằng vào lúc ban đầu của vũ trụ, các hạt không có khối lượng, nhưng sau một khoảnh khắc cực kỳ ngắn, chúng bắt đầu có khối lượng do tương tác với một trường đặc biệt mà sau này được gọi là trường Higgs. Ông nêu giả thuyết cho rằng trường này tràn lan khắp vũ trụ, truyền khối lượng cho tất cả các hạt cơ bản tương tác với nó. Sẽ là thú vị nếu biết rằng tư tưởng của Higgs lấy cảm hứng từ những công trình của nhà vật lý lý thuyết Nhật Bản Yoichiro Nambu, Giáo sư Đại học Chicago, đoạt Giải Nobel vật lý năm 2008. GS Nambu đề xuất một lý thuyết được gọi là sự phá vỡ đối xứng tự phát (spontaneous symmetry breaking), dựa trên những hiện tượng siêu dẫn. Tuy nhiên lý thuyết này dẫn tới việc tiên đoán các hạt không có khối lượng, một tiên đoán bị coi là sai (định lý Goldstone). Năm 1964, một “ánh chớp cảm hứng” loé lên trong đầu Higgs trong khi ông đi bộ trong công viên quốc gia Cairngorms. Về tới nhà, ông viết ngay một công trình ngắn khai thác một lỗ hổng trong định lý Goldstone và cuối năm đó công trình đã được công bố trên tạp chí Physics Letters, một tạp chí Âu châu được biên tập tại CERN, Thụy sĩ. Sau đó ông viết một công trình thứ hai mô tả một mô hình lý thuyết, nay được gọi là “cơ chế Higgs” (Higgs mechanism), nhưng công trình này bị từ chối đăng. Ban biên tập của tạp chí Physics Letters nhận xét công trình này “không có mối liên hệ rõ ràng đối với vật lý” (of no obvious relevance to physics). Higgs liền viết một phụ lục bổ sung và gửi toàn bộ công trình tới tạp chí Physical Review Letters, một tạp chí vật lý hàng đầu khác, và tạp chí này đã công bố công trình của ông vào cuối năm đó. Chính trong công trình này, ở phần kết, lần đầu tiên Higgs đã đề cập tới sự tồn tại của một trường vô hướng mà các lượng tử của trường đó là các bosons truyền khối lượng. Steven Weinberg nhận thấy vai trò thiết yếu của các bosons này và ông gọi chúng là Higgs bosons. Và như chúng ta đã biết, Leon Lederman gọi đó là “Hạt của Chúa”, mặc dù lúc đầu ông định gọi là “Hạt chết tiệt”[13]. Khả năng “tiên tri” của Higgs thật kỳ lạ. Ánh chớp loé lên trong đầu ông khi ông đi bộ trong công viên Cairngorms đã dẫn tới việc tiên đoán sự hiện hữu của một loại boson chưa từng biết, và niềm tin ấy mạnh mẽ đến nỗi nó không hề lay chuyển và đeo đẳng ông trong suốt cuộc đời, ngay cả khi ông phải đối mặt với những thử thách như chơi đỏ đen. Thật vậy, trong đợt thí nghiệm được chuẩn bị công phu nhất, hùng mạnh nhất, khởi động từ cuối năm 2008 tại CERN, mà Higgs được mời tới chứng kiến, với dự đoán của nhiều nhà khoa học rằng đây là cuộc thí nghiệm “một mất một còn”, “được ăn cả ngã về không” với Higgs boson, thì Peter Higgs, lúc đó đã chuẩn bị bước vào tuổi 80, vẫn biểu lộ niềm tin của ông một cách rất giản dị, nhưng quả quyết: “Có nhiều khả năng là hạt này sẽ lộ diện trong chớp nhoáng … Tôi chắc chắn tới 90% rằng điều đó sẽ xẩy ra”, Higgs nói với các nhà báo. Đó là một tiên tri nhỏ nằm trong một tiên tri lớn: Higgs boson ắt phải tồn tại! Ông chỉ đoán sai chút xíu về thời điểm phát hiện được hạt Higgs, khi nói rằng ông hy vọng thí nghiệm tại CERN cuối năm 2008 đầu 2009 sẽ phát hiện được nó trước dịp sinh nhật lần thứ 80 của ông, tức trước ngày 29.05.2009. Có thể người thân, bạn bè và đồng nghiệp của ông còn sốt ruột và mong đến dịp sinh nhật đó hơn ông, để được chúc mừng ông những lời chúc tốt đẹp nhất. Nhưng chính ông đã lường trước mọi khó khăn để kiên trì chờ đợi. “Tất cả sẽ xẩy ra quá nhanh đến nỗi sự xuất hiện của Higgs boson có thể bị che lấp trong đống dữ liệu thu thập được, và cần phải có một thời gian dài để tìm thấy nó”, Higgs nói, rồi kết luận: “Có lẽ tôi phải uống sâm banh có đá để chờ đợi”[14]. Rốt cuộc, cái gì phải xẩy ra đã xẩy ra: hạt Higgs đã xuất hiện! Ngày 04.07.2012 là một cột mốc chói lọi trong lịch sử khoa học, khép lại Chương đầu tiên của câu chuyện “Hạt của Chúa”, mở đầu một chương mới mà chỉ những người mê đọc sách mới có thể dự đoán chuyện gì sẽ xẩy ra. Bản thân Higgs nghĩ gì về khám phá mới này? Ông lau nước mắt khi nghe giám đốc của CERN tuyên bố dõng dạc đã xác định được dấu vết của loại hạt mới giống như hạt Higgs. Nhưng với tính cách thầm lặng và khiêm tốn vốn có, ông cho rằng vì “tuổi thọ” của hạt Higgs quá ngắn ngủi nên nó khó có thể có ứng dụng thực tiễn. Phát biểu tại Đại học Edinburgh, Higgs giải thích: “Có lẽ đó là một phần triệu của một phần triệu của một phần triệu của một phần triệu của 1 giây. Tôi không biết làm thế nào mà ứng dụng một hạt như thế cho bất kỳ cái gì hữu ích. Tìm ứng dụng hữu ích cho những hạt cơ bản có tuổi thọ dài hơn cũng đủ khó lắm rồi. Có thể một số loại hạt có đời sống kéo dài khoảng một phần triệu của 1 giây đã được ứng dụng trong y khoa. Nhưng làm thế nào để tìm được ứng dụng cho một loại hạt quá ngắn ngủi như hạt Higgs thì tôi không biết”[15]. Có một “chuyện nhỏ” về Higgs tưởng cũng nên biết: bản thân ông là người vô thần, nên ông không hài lòng khi người ta gọi hạt Higgs là “Hạt của Chúa”. Theo ông, cách gọi này có thể xúc phạm những người có tôn giáo. Vậy tại sao người đời lại nghĩ ra tên gọi đó? 4. “Hạt của Chúa”, tại sao? Chính Lederman đã giải thích rằng ông gọi Higgs boson là “Hạt của Chúa” vì hạt này đóng vai trò “vô cùng trọng yếu đối với vật lý hiện đại, vô cùng quyết định đối với sự hiểu biết cuối cùng của chúng ta về cấu trúc vật chất, mà đến nay (hạt này) vẫn vô cùng khó nắm bắt”[16]. Ai cũng biết, nền văn minh Tây phương vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Thiên Chúa giáo, trong đó Chúa đóng vai trò sáng tạo ra cái ban đầu, quyết định những giá trị cốt lõi của cuộc sống, đồng thời tạo nên nền tảng của mọi cấu trúc trong vũ trụ. Nếu vậy thì Higgs boson chính là “Hạt của Chúa”, tên gọi ấy hoàn toàn phù hợp với những gì khoa học nghĩ về hạt Higgs. Nó là cái khởi đầu của vũ trụ, vì theo Peter Higgs, lúc đầu các hạt không có khối lượng, nhưng do tương tác với trường Higgs mà nhận được khối lượng. Nó cũng là trung tâm của vật lý hiện đại, đóng vai trò quyết định đối với sự hiểu biết cuối cùng, bởi vì trước ngày 04.07.2012, Mô hình Chuẩn có 17 hạt, trong đó 16 hạt đã được thực nghiệm xác nhận, chỉ còn một hạt duy nhất chưa tìm thấy, đó là Higgs boson. Có nghĩa là nếu tìm thấy hạt Higgs thì Mô hình Chuẩn sẽ trở nên hoàn hảo, khoa học đã khám phá ra bản chất tận cùng của vật chất, và giấc mơ “biết được ý Chúa” của Einstein có cơ may trở thành hiện thực. Nhưng…. Câu hỏi lớn nêu lên trong bài báo của GS Phạm Xuân Yêm đặt chúng ta vào một tình thế trung dung, không thái quá: trong khi vui mừng vì một thắng lợi vĩ đại của khoa học vừa đạt được, chúng ta biết rằng không có lý do để lạc quan tếu – để nói rằng chúng ta đã đạt được những hiểu biết cuối cùng của cấu trúc vật chất. Cấu trúc vật chất có nhiều tầng. Tầng vĩ mô, tầng phân tử, tầng nguyên tử, tầng hạ nguyên tử. Đối với hiểu biết hiện nay, tầng hạ nguyên tử được coi là tầng sâu nhất, nhỏ nhất. Đó là lý do để nhiều nhà vật lý nghĩ rằng nếu tìm thấy hạt Higgs thì coi như chúng ta đã đạt được những hiểu biết cuối cùng của cấu trúc vật chất, bởi khi đó tất cả 17 hạt cơ bản đều được thực nghiệm khám phá hết, không còn gì thiếu sót, như GS Yêm đã nói. Tuy nhiên, GS Yêm không nói đó là những hiểu biết cuối cùng của cấu trúc vật chất. Ông vẫn hướng chúng ta tới những phát triển xa hơn: “Điều này khẳng định hơn bao giờ hết sự vững chắc của Mô Hình Chuẩn, một lý thuyết nền tảng, một hệ hình mà từ đây mọi phát triển sau này đều phải dựa vào để phát triển xa hơn nữa”, GS Yêm viết. Thật vậy, những ai đã thấm nhuần tư tưởng của Niels Bohr về hiện thực lượng tử thì hẳn sẽ không bao giờ nói đến cái cuối cùng. Con mắt triết học gợi ý cho chúng ta thấy rằng vật chất là vô cùng vô tận, thậm chí vật lý giao thoa với Phật học để giải thích những khái niệm cực kỳ khó hiểu như “sắc sắc không không” – có đấy mà hoá không, không đấy mà hoá có. Đối với Einstein, nếu mặt trăng không tồn tại thì ông sẽ ngừng nghiên cứu vật lý. Các hạt cơ bản cũng vậy. Nhưng Bohr ngờ rằng không có một hiện thực lượng tử như ta tưởng. Đối với Bohr, thế giới hạ nguyên tử bản thân nó chứa đựng những đặc trưng hoàn toàn khác mà mọi mô tả của chúng ta đều không thể nắm bắt chính xác được, đơn giản vì ngôn ngữ chúng ta sử dụng để mô tả thế giới, bất kể ở cấp độ nào, đều là sản phẩm của đời sống vĩ mô. Vì thế, một khi đã thấm nhuần tư tưởng của Bohr, chúng ta có thể nghĩ rằng Mô hình Chuẩn là mô hình tốt nhất hiện có để mô tả thế giới lượng tử, thay vì coi đó là những hiểu biết cuối cùng. Nhưng có bao nhiêu nhà vật lý suy nghĩ như Bohr? “Các nhà vật lý ngoài miệng thì nói theo Bohr và phủ nhận Einstein, nhưng cuối cùng phần lớn trong số họ lại chẳng hiểu những gì Bohr nghĩ và rồi vẫn suy nghĩ như Einstein”, nhà vật lý Basil Hiley đã nói như vậy[17]. Hồi nhỏ học vật lý, thầy giáo dạy: “phân tử là thành phần nhỏ nhất của vật chất, các phân tử gộp lại tạo nên các vật thể như chúng ta trông thấy…”. Sang môn Hoá, thầy dạy Hoá cũng nói “nguyên tử là thành phần nhỏ nhất của vật chất,…”. Cái đầu trẻ con của tôi lúc đó cảm thấy khó chịu vô cùng. Tôi không hiểu tại sao lại có nhiều cái “nhỏ nhất” khác nhau như thế. Tất nhiên đó là lỗi của người dạy học. Con búp-bê Matryoshka của Nga có con đầu và con cuối, chiếc hộp Trung Hoa (Chinese box) cũng có hộp đầu và hộp cuối, nhưng cái đầu trẻ con của tôi ngày xưa đã biết hỏi thầy dạy Sinh vật rằng “con gì tiến hoá thành con A-míp?”, bởi vì thầy dạy con A-míp là động vật đơn giản nhất, có duy nhất 1 tế bào, nó là động vật đầu tiên để tiến hoá dần dần lên thành những động vật cao cấp hơn. Nhưng bất chấp những câu hỏi triết học, con người có xu hướng đi tìm nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng. Không phải những người ít học mắc lỗi đó. Nhiều bộ não vĩ đại nhất cũng mắc sai lầm này. Điển hình là David Hilbert, nhà toán học lỗi lạc của thế kỷ 20, phạm sai lầm lớn khi mơ tưởng sẽ khám phá ra một hệ thống toán học cuối cùng – một hệ logic tuyệt đối phi mâu thuẫn được xây dựng trên một hệ tiên đề độc lập, đầy đủ, phi mâu thuẫn. Nhưng Kurt Godel đã chỉ ra rằng không tồn tại một hệ logic hình thức nào là đầy đủ – mọi hệ logic đều bất toàn. Vật lý tuy không phải là một hệ logic hình thức, nhưng ngôn ngữ diễn đạt nó là toán học và ngôn ngữ thông thường. Cả hai thứ ngôn ngữ này đều bất toàn, vậy làm sao có thể có một hệ thống vật lý tuyệt đối hoàn hảo để coi là cuối cùng? Mô hình Chuẩn hôm nay được coi là đầy đủ, nhưng có thể nó sẽ không còn đầy đủ nữa nếu một ngày nào đó khoa học xác nhận sự tồn tại của loại lực thứ năm mới lạ mà GS Yêm đã chất vấn. Nhận thức có giới hạn. Chúng ta có thể đặt câu hỏi cho cái xẩy ra trước (previous) và cái xẩy ra tiếp theo (next) chứ không thể khẳng định cái đầu tiên và cái kết thúc. So sánh việc khám phá hạt Higgs với các sự kiện trong quá khứ, tôi có cảm giác nó cũng vĩ đại tương tự như việc khám phá ra Bảng nguyên tố tuần hoàn Mendeleev cách đây vài thế kỷ, hoặc việc khám phá ra mô hình phân tử DNA cách đây 59 năm, hoặc gần đây nhất là Bản đồ gene người, công bố năm 2000. Nếu Bản đồ gene người quan trọng đối với sinh học, di truyền học và y học như thế nào thì có lẽ Mô hình Chuẩn của vật lý cũng quan trọng đối với vật lý như thế ấy. Khó có thể nói cái nào quan trọng hơn cái nào. Nhưng có lẽ không ai dám nói việc khám phá ra Bản đồ gene người có nghĩa là đã đạt tới hiểu biết cuối cùng về cơ chế di truyền ở con người! Ngược lại, chính việc công bố Bản đồ gene người đã làm giới khoa học sửng sốt ngạc nhiên vì hoá ra con người cũng chỉ có khoảng hơn 3 vạn gene, xấp xỉ như loài chuột! Ngay tức khắc một hệ luận vô cùng quan trọng được rút ra: số lượng gene không quyết định mức độ phức tạp của sinh thể. Đây là một đòn trời giáng vào những bộ óc bảo thủ quen nhìn vũ trụ bằng con mắt vật chất định lượng – sinh vật có càng nhiều gene thì càng phức tạp và ngược lại, càng phức tạp thì càng nhiều gene. Từ chỗ biết rằng số lượng gene không nói lên tính phức tạp sinh học, gần đây di truyền học đã khám phá ra rằng đặc trưng sinh học không tương ứng 1 – 1 với gene, có nghĩa là không phải cứ mỗi gene quyết định một đặc tính sinh học. Steve Jones, giáo sư di truyền học tại Đại học London, nói: “Một từ ngữ bị hiểu sai nhiều nhất trong di truyền học là chữ ‘for’ (dành cho), như trong câu ‘gene dành cho một cái gì đó’. Chẳng có một gene dành cho bất cứ cái gì cả. Một gene chỉ là một chất hoá học mà bạn có thể nhỏ vào một ống nghiệm. Các gene chỉ biểu lộ tác động của chúng theo những tổ hợp riêng biệt, và quan trọng nhất là trong những môi trường riêng biệt. Đó là yếu tố cơ bản”[18]. Có nghĩa là mỗi đặc tính sinh học không tương ứng với một gene cá biệt, mà tương ứng với một tổ hợp gene. Thậm chí các gene trong tổ hợp lại hoạt động theo những cơ chế bật/tắt rất khó hiểu, mà hầu như hiện nay khoa học chưa biết gì về cơ chế đó. Vả lại, với 3 vạn gene, chúng ta sẽ có hàng tỉ tỉ tổ hợp, như thế thì làm sao có thể tự phụ để tuyên bố rằng khoa học đã đạt tới sự hiểu biết tận cùng về cấu trúc di truyền? Và do đó có nên nói rằng Mô hình Chuẩn là sự hiểu biết tận cùng về cấu trúc vật chất? Nếu tồn tại lực thứ năm thì cái gì ẩn đằng sau lực đó? Lại một hạt khác nào nữa chăng? Đó là cả một câu chuyện dài không có hồi kết. Và chính vì thế mà vật lý sẽ sống mãi. Khát vọng khám phá sẽ sống mãi! Sydney 12.08.2012 PVHg
  7. Chúng ta đang thờ vị Sơ tổ Phật giáo nào? (TuanVNN)- Thiền sư Thích Nhất Hạnh có những nghiên cứu riêng chỉ ra rằng, Việt Nam có vị Thiền sư Tăng Hội, lớn hơn cả Thiền sư Bồ Đề Lạt Ma - người mà chúng ta đang thờ là Sơ tổ Phật giáo - tới 300 tuổi. Nội dung này nằm trong bài giảng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Hà Nội, ngày 18/1/2005 - "Lịch sử của Phật giáo ngày nay dưới cái nhìn tương tức". Chúng ta biết rằng vào thượng bán thế kỉ thứ 3 tại Giao Châu có Thiền sư Tăng Hội, cha là người Khương Cư, mẹ là người Việt Nam. Ngài xuất gia năm 10 tuổi, trở thành cao tăng, mở đạo tràng tu tập ở Luy Lâu, Bắc Ninh, thiết lập một trung tâm dịch thuật và sáng tác ở đó và tịch vào tháng 9 năm 280. Thiền sư Tăng Hội đã sử dụng những kinh bản nguyên thủy như kinh Quán Niệm Hơi Thở, kinh Bốn Niệm Xứ để thực tập thiền. Trong khi đó, Thiền sư sử dụng con mắt Đại Thừa để thực tập. Vào khoảng giữa thế kỉ thứ 3, Thiền sư Tăng Hội mà chúng ta đang công nhận và vị Sư tổ của Thiền Tông Việt Nam đã rời đất nước chúng ta sang nước Ngô để truyền đạo. Cao Tăng Truyện nói rất rõ ràng là khi thầy Tăng Hội đi sang nước Ngô thì bên đó chưa có tăng sĩ Phật giáo. Chính Thiền sư Tăng Hội đã tổ chức đàn truyền giới đầu tiên cho những người Ngô trở thành những vị xuất gia đầu tiên. Ngôi chùa mà thầy Tăng Hội thành lập có tên chùa Kiến Sơ - ngôi chùa đầu tiên. Bài tựa kinh An Ban Thủ Ý do Thiền sư Tăng Hội đã viết tại Việt Nam, trong đó nói Lạc Dương như là kinh đô. Lúc đó chưa chia ra làm tam quốc. (Nếu đã chia tam quốc thì kinh đô là Bành Thành). Trong bài tựa An Ban Thủ Ý, chúng ta tìm ra được sự thật là bài tựa kinh Quán Niệm Hơi Thở được viết tại Giao Châu. Thiền sư Thích Nhất Hạnh diễn thuyết trong Đại lễ Vesak Ảnh: langmai.org Sau khi đã tiếp xúc với truyền thống Phật giáo phương Nam, chúng tôi vẫn tiếp tục giảng dạy và xiển dương Thiền học Việt Nam theo đúng tinh thần của Tăng Hội. Nghĩa là căn cứ và thiền kinh của Nam tông mà giảng dạy theo tinh thần thực tập rộng rãi và phóng khoáng của Bắc tông. Nếu quý vị có tới Làng Mai để tu tập, sẽ thấy rằng pháp môn của Làng Mai nối tiếp một cách rất trung thực và kì diệu với truyền thống của Thiền sư Tăng Hội. Thiền sư Việt Nam và Thiền sư Tăng Hội lớn hơn Thiền sư Bồ Đề Lạt Ma - Sơ tổ Thiền tông Trung Quốc tới 300 năm. Như vậy trong các chùa của chúng ta, theo nguyên tắc thì phải thờ Thiền sư Tăng Hội làm Thiền tổ Việt Nam, chứ không phải Thiền sư Bồ Đề Lạt Ma. Nếu quý vị là nhà học giả, nhà văn, hay họa sĩ thì phải vẽ ra hình ảnh của Tổ sư Thiền đầu tiên của chúng ta là Thiền sư Tăng Hội. Chúng tôi đã viết cuốn "Thiền sư Tăng Hội" và cuốn này đã được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng. Giới Phật tử lâu nay thường theo Thiền Trung Quốc và Nhật Bản, chưa phản ứng vì họ thấy rất lúng túng, lâu nay đã lỡ tin Bồ Đề Lạt Ma là Sơ Tổ Thiền tông Trung Quốc và Việt Nam rồi. Bây giờ lại nghe nói Thiền sư Tăng Hội lớn hơn Tổ Đạt Ma tới ba trăm tuổi, chính là người đầu tiên giảng dạy Thiền học tại Việt Nam và Trung Quốc thì điều đó chưa chấp nhận được. Thiền sư Tăng Hội rất uyên bác về Lão giáo, Khổng giáo và Phật học cho nên đã thuyết phục được vua Ngô Tôn Quyền yểm trợ xây ngôi chùa đầu tiên tại nước Ngô. Sau đó thì Tôn Hạo tiếp nối Tôn Quyền, nghe lời một số cộng sự làm khó dễ, nhưng cuối cùng đã được thầy Tăng Hội thuyết phục và vua đã thọ Tam quy Ngũ giới với thầy. Chúng ta thấy khả năng hóa độ của thấy Tăng Hội rất lớn. Thầy không chỉ là Tổ Sư Phật giáo Thiền Việt Nam mà phải được cọi như Tổ Sư Phật giáo đầu tiên ở tại Trung Quốc. Chúng tôi mong rằng cuốn "Thiền Sư Tăng Hội" đó, đã được dịch sang tiếng Anh, sẽ được dịch ra tiếng Trung Quốc một ngày rất gần. Thiền sư Thích Nhất Hạnh Tăng Hội Là Sơ Tổ Thiền Tông Tổ Tăng Hội không phải chỉ là thiền tổ tại Việt Nam tại vì ngài đã qua Trung Quốc để dạy thiền vào giữa thế kỷ thứ III và vì vậy ngài cũng là thiền tổ Trung Hoa. Lâu nay trong học giới ít ai nói nhiều về thầy Tăng Hội và nếu có thì cũng không nói về tư tưởng thiền và sự thực tập thiền của thầy. Cho nên quý vị có thể viết những bài ngắn, một trang, hai trang, năm trang, mười trang hay hai mươi trang về giáo lý và thiền tập của thầy Tăng Hội để đăng trong những tờ báo Phật giáo ở Âu Châu hay là ở Mỹ Châu. Các vị nào có tài hội họa hay điêu khắc thì xin nghĩ đến chuyện tạc tượng thiền sư Tăng Hội. Chúng ta chỉ mới có một tượng Tăng Hội của họa sĩ Hiếu Đệ vẽ thôi. Tượng đó cũng chưa được toàn hảo. Chúng ta có thể vẽ thêm hàng chục bức khác hoặc hàng trăm bức khác và có thể tạc thêm nhiều tượng để cho quần chúng Phật tử chọn lựa. Hy vọng sau này chúng ta có một tượng Tăng Hội rất hào hùng để thờ trong các thiền viện. Thầy Tăng Hội lớn hơn thầy Bồ Đề Đạt Ma đến mấy trăm tuổi. Thầy Bồ Đề Đạt Ma không để lại giáo lý trên những văn bản. Giáo lý của thầy Bồ Đề Đạt Ma chỉ được kể lại vắn tắt bởi một số các đệ tử. Còn thầy Tăng Hội đã để lại giáo lý của thầy trên giấy trắng mực đen. Nếu quý vị muốn nghiên cứu về thiền Việt Nam thì phải đọc cho được tác phẩm Thiền Uyển Tập Anh. Uyển tức là khu vườn. Anh tức là những tinh hoa. Tập là sự gom góp lại. Nghĩa là gom góp lại những bông hoa đẹp nhất trong vườn thiền. The most beautiful flowers in the garden of Dhyana in Vietnam. Trong cuốn này các tác giả có ghi chép lại tên, sự nghiệp và tư tưởng của các thiền sư Việt Nam thuộc về ba tông phái thiền: phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), phái Vô Ngôn Thông và phái Thảo Đường. Theo sách này, tại Việt Nam đã có một thiền phái do thiền sư Tăng Hội thành lập. Thiền phái này được truyền thừa mãi tới đời Trần mới bắt đầu hòa nhập với các thiền phái khác để thành thiền phái Trúc Lâm. Người đại diện cho thiền phái Tăng Hội ở đời Lý là thiền sư Lôi Hà Trạch. Năm 1090, có một vị hoàng thái hậu đời Lý tên là Phù Cảm Linh Nhân đã mời các thầy ở thủ đô vào trong cung vua để cúng dường. Sau khi các thầy đã thọ trai, hoàng hậu đứng lên và tham vấn: "Bạch các thầy, trong số các vị cao đức ở đây có ai biết rõ về nguồn gốc của đạo Bụt Việt Nam hay không ?" Giáo điển, sách vở nói về đạo Bụt ở Ấn Độ và ở Trung Quốc thì rất nhiều nhưng những tài liệu về khởi nguyên đạo Bụt Việt Nam thì ít, do đó hoàng thái hậu mới hỏi như thế. Trong số các vị thượng tọa có mặt buổi ấy, có một thầy là thiền sư Trí Không. Thầy Trí Không đã lên tiếng nói về nguồn gốc của Phật giáo Việt Nam. Thầy có nói tới Mâu Bác của thế kỷ thứ II và Khương Tăng Hội của thế kỷ thứ IIỊ Thầy cũng nói tới thầy Tỳ Ni Đa Lưu Chi và thầy Pháp Hiền. Thầy Tỳ Ni Đa Lưu Chi là một thầy người Ấn Độ, đã từng đi ngang qua Trung Quốc và đã từng gặp được tổ thứ ba của thiền tông Trung Hoa là Tăng Xán. Thầy Tăng Xán nói: "Ở đây không yên ổn, thầy nên về Giao Châu mà ở." Giao Châu hồi đó có an ninh hơn. Thầy Trí Không nói rằng Mâu Bác và Khương Tăng Hội thuộc về Giáo Tông, còn Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Pháp Hiền thì thuộc về Thiền Tông. Nên nhớ rằng câu chuyện tham vấn này đã xảy ra vào đầu thế kỷ thứ XỊ Tại Việt Nam lúc bấy giờ ta đã chịu ảnh hưởng về ý niệm nguồn gốc thiền học của Trung Hoa rồi. Vì vậy thầy Trí Không không thấy thầy Tăng Hội là một vị thiền tổ mà chỉ xem thầy là một vị giáo tổ. Thiền tông bên Trung Quốc nhấn mạnh tới nguyên tắc bất lập văn tự, nghĩa là không căn cứ trên văn chương chữ nghĩa. Họ bắt đầu coi những lời chỉ dẫn của chư tổ đôi khi còn quan trọng hơn lời dạy của Bụt nữa. Đó là những hạt giống sau này đưa tới tư tưởng thiền tổ sư. Trong suốt lịch sử của thiền học, người ta có khuynh hướng xem thiền khác với giáo. Giáo tức là có học hỏi kinh điển đàng hoàng. Còn thiền thì không cần học hỏi kinh điển. Thầy mình bảo mình ngồi thì mình ngồi, bảo mình thở thì mình thở, chớ không cần học hỏi kinh điển, kể cả kinh An Ban Thủ Ý. Tuy người ta nói vậy, nhưng người ta cũng nói rằng thầy Bồ Đề Đạt Ma đã trao lại cho tổ Huệ Khả một cuốn kinh. Đó là kinh Lăng Già, trong đó có tư tưởng Như Lai Tạng. Thành ra nói rằng thiền hoàn toàn bất lập văn tự là không đúng. Và nói rằng giáo tông chỉ học tập kinh điển mà không thực tập thiền cũng không đúng. Trong lịch sử thiền có những vị thiền sư chủ trương thiền giáo nhất trí, tức là thiền và giáo là một. Chúng ta thấy thiền của tổ Tăng Hội đi theo con đường đó. Thực tập thiền nhưng vẫn sử dụng giáo lý và kinh điển. Có nhiều người đi quá đà, nói rằng không cần học gì hết, không cần xem kinh gì hết, chỉ cần ngồi thiền thôi là được. Thầy Trí Không đã liệt Mâu Bác vào Giáo tông và liệt thầy Tỳ Ni Đa Lưu Chi và thầy Pháp Hiền vào Thiền tông. Do đó chúng ta thấy rằng thầy Trí Không đã bị ảnh hưởng suy tư của Trung Quốc. Trong khi trình bày với hoàng thái hậu, thầy Trí Không còn nói: "Có một hôm vua Tùy Văn Đế ở bên Tàu - vua là một người rất sùng thượng đạo Bụt, đã yểm trợ cho sự thành lập nhiều ngôi chùa ở tại Trung Hoa và yểm trợ cho các tăng đoàn hành đạo - nói với một vị pháp sư tên là Đàm Thiên là vua muốn gởi một phái đoàn đem đạo Bụt về Giao Châu để hoằng dương chánh pháp tại vùng đất xa xôi đó." Câu chuyện Đàm Thiên và vua Tùy Văn Đế xảy ra vào thế kỷ thứ VỊ Thầy Đàm Thiên nói: "Tâu Bệ Hạ, hồi mà nước ta chưa có Phật giáo gì hết, thì bên Giao Châu Phật giáo đã thành hình rồi. Hồi mà ta chưa có tăng sĩ thì bên đó đã có tăng sĩ rồi. Hồi mà ta chưa có kinh điển thì bên đó đã có kinh điển rồi. Hồi ấy, tại Giao Châu đã có khoảng năm trăm vị xuất gia và có khoảng mười lăm cuốn kinh đã được phiên dịch ra từ tiếng Phạn." Đó là câu chuyện mà thầy Trí Không đã trích dẫn và báo cáo lên hoàng thái hậu Nguyên Thánh. Thầy Trí Không là một sử gia. Thầy đọc sách rất nhiều. Trong số các thầy được mời vào cung, thầy là người ứng đối lưu loát nhất cho nên hoàng thái hậu mới tâu vua để ban cho thầy đạo hiệu Thông Biện Quốc Sư, một vị đại đức có biện tài thông suốt. Thầy Thông Biện có ghi chép lại một số dữ kiện về lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Những tài liệu đó đã được truyền xuống cho những thiền sư khác là Thường Chiếu, Thần Nghi và Ẩn Không. Tất cả những tài liệu này chúng ta thấy trong tác phẩm Thiền Uyển Tập Anh. Sách Thiền Uyển Tập Anh có thể bắt đầu do thầy Trí Không biên tập, rồi truyền xuống cho thầy Thường Chiếu, thầy Thường Chiếu thêm thắt vào cho đầy đủ. Thầy Thường Chiếu truyền cho thầy Thần Nghi. Thầy Thần Nghi truyền cho thầy Ẩn Không. Rốt cuộc thì chúng ta có sách Thiền Uyển Tập Anh. Sách hoàn thành vào cuối đời Lý.
      • 1
      • Like
  8. Theo chân “thợ săn” đồ cổ DƯƠNG ĐÌNH TƯỜNG Một buổi đi săn Trên cánh đồng trơ gốc rạ, nứt trắng chân chim, mấy bóng người lầm lụi cầm máy dò quơ qua, lượn lại. Bỗng tiếng tu tu phát ra từ chiếc máy dò, mắt người thợ sáng rực lên. Tay chỉnh một chiếc núm nhỏ trên hộp điều khiển, kim đồng hồ của máy liền tụt xuống cực âm. Một tiếng kêu nho nhỏ vang lên. “Đồ đồng!”. Hướng cần máy về phía có tín hiệu một vòng để xác định tâm đồ, những nhát cuốc xắn xuống một cách đầy thận trọng. Lớp đất gan gà trên mặt bị khoét dần, lộ ra một lớp đất khác xốp, xậm màu hơn. Người thợ đưa tay sờ nhẹ, rồi móc lên được một con qua (câu liêm) bằng đồng cùng một mũi giáo đã rỉ sét. “Được triệu bạc thôi”. Anh nói, mặt không chút biểu cảm... Đang dò tiếp bỗng có cuộc điện thoại từ “vệ tinh” ở Xuân Mai báo: “Anh mang máy đến nhà em ngay, mới tát cạn ao thấy cái am, biết đâu có của”. Ông Hiệp-một tay buôn đồ cổ có hạng ở Thanh Oai (Hà Tây)-trưởng nhóm đi săn hôm đó bảo tôi: “Ngày xưa quan lại Tàu thống trị ở Việt Nam, thuế má rồi lễ, tết vơ vét được rất nhiều của cải. Hồi đó làm gì có ô tô, tàu bay, tàu bò như giờ, hết khóa làm quan chỉ có đi ngựa về nước. Đằng đẵng cả tháng trời qua những vùng hoang vu rất dễ bị cướp nên họ chỉ dám mang ít đồ theo còn lại làm am (mộ giả) để giấu của, mang về dần. Có khi am còn tìm thấy cả cốt của những thiếu nữ còn trinh bị chôn theo làm thần giữ của. Các đời Hán, Lý, Trần đều làm am như vậy nhưng thời Lý, Trần am thường có của nả nhiều, còn thời Hán chỉ có đồ tùy táng là những vật dụng sinh hoạt. Am thường có những đồ đẹp nhưng có khi đào am lên chẳng có gì quý bởi xưa cũng như nay đều có những ông học đòi, thấy người phú quý làm am chôn cất cũng bắt chước mà chẳng có đồ giá trị để táng theo...” Cú vớ bẫm của bố con nông dân Giới săn đồ cổ như ông Hiệp chỉ đi vào mấy tháng mùa khô, Tết ra buôn bán nhì nhằng hoặc ngồi lê la tổ tôm, hết tiền lại đi làm xu (dò đồng xu cổ) trên rừng. Ông Hiệp bảo: “Đi săn đồ nhọc nhằn thế chỉ mong cái “chày”, cái “chưởng” (chày, chưởng là tiếng lóng để chỉ mỗi khi đào được món đồ gì có giá trị hoặc mua được một món hời, lãi to-PV)”. Đồ nghề cho cuộc săn cũng khá gọn nhẹ gồm một chiếc máy dò kim loại của Tàu trị giá cỡ 5 triệu, một chiếc bao tải trong đó bọc kín mấy cái cuốc, xẻng loại cán ngắn. Đến bữa đã có quán ăn, ngả đâu cũng là nhà trọ, sinh hoạt khá dư dả. Ông Hiệp kể: “Nhiều khi đi cả tháng hết mấy triệu mà chưa "dính" đồ bởi nghề này cũng như đi câu, dính cá lớn, ấm no đến vài năm. Tháng rưỡi nay, nhóm tao vẫn “móm” chưa moi được đồ gì ra hồn mà chỉ vài mũi tên, mũi giáo được già triệu bạc mà vẫn vô tư”. Dân săn đồ thường hay bị đuổi mặc dù để tránh tò mò họ chỉ bảo đi dò đồng nát, kiếm được hàng kỹ (hàng khắc hoa văn đẹp, đắt tiền) cũng không dám săm soi, vớ được trống đồng phải gọi chệch đi thành cái...nồi nấu bánh chưng của người xưa... Không phải chính quyền đuổi mà dân làng thấy người lạ đến dò trên ruộng, ngứa...mắt ra đuổi. Nhóm ông Hiệp đã từng phải vác máy chạy ở Hòa Mạc (Duy Tiên, Hà Nam) khi đang dò trên ruộng của bố con ông nông dân nọ. Chính thế mà mỗi vùng khi vác máy đến đều phải cậy nhờ một “thổ công” ra ngồi hút thuốc lá, thuốc lào vặt trên bờ ruộng rồi trả ít tiền để tránh đang làm mà bị đuổi bất thình lình. Đất có thổ công, sông có hà bá. Bố con ông nông dân ở Hòa Mạc sau một thời gian làm thổ công như vậy đã “có sừng, có mỏ”, tách ra, sắm máy làm ăn riêng. Không ai ngờ, trúng đậm. Năm đầu tiên dò được một cái hàng hiếm bán hơn 100 triệu, năm sau trúng luôn chiếc nồi hàng kỹ (trống đồng đẹp) bán hớ cũng thu về 400 triệu nữa. Không ít nhóm săn đồ cổ xuất phát từ những anh nông dân như vậy mà tiêu biểu là xã Quảng Phú Cầu (Ứng Hòa, Hà Tây) có đến gần chục máy dò. Ông Hiệp trầm ngâm: “Tao đi làm đồ đồng mãi càng ngẫm càng thấy thời trang là sự quay trở lại, ngày nay hầu như toàn chế những đồ tương tự như trước mà lại không tinh xảo bằng. Ngày xưa có đủ từ mũ mão, dây lưng, trâm cài đầu, dao đồng chạm hình đầu người... đặc biệt có cả những thứ anh em ta mới nghe lần đầu như khóa vòng trinh (là một cái đai bằng đồng cho phụ nữ đeo lúc vắng chồng, trên đó khoét 2 lỗ cho đại, tiểu tiện), dao ...hoạn dành để hoạn quan, xích hàm nô lệ, móng ngựa...lắc kê vàng (phủ vàng). Đồ tướng hoa văn đẹp, đồ lính không có hoa văn. Đồ tướng nhiều khi rất cầu kỳ, chuôi dao cũng khắc chạm tinh xảo, tấm hộ tâm (miếng chắn bằng đồng che ngực để tránh bị đả thương), bao tay, móc cài áo giáp... rồi ngay cả ngựa chùm lục lạc cũng có hoa văn, cũng đủ hình vẽ vời. Tướng đánh nhau rung chuyển đất trời ấy chứ. Đồ lính cũng có bộ tâm, dao, kiếm như thế nhưng bao giờ cũng kém giá trị cả chục lần so với đồ tướng.Thử tưởng tượng, những hiện vật ngủ yên dưới đất cả vài ngàn năm bỗng được phát hiện thì thú vị thế nào? Giờ của hiếm, người đông nên đổ cổ càng được giới sành điệu lắm tiền, nhiều của săn lùng. Chơi đồ, buôn đồ có tiếng nhất là dân Hà Nội và Thanh Hóa. Ông Hiệp kể: “Cái thằng chủ vũ trường Niu gì gì ở Hà Nội ấy chơi đồ vào hạng khủng, bộ dao hình đầu người cả chục con của nó trị giá tiền tỉ đấy. Hay có cô giáo cấp 2 cũng ở Hà Nội chuyên chơi bình vôi độc, mỗi cái cũng cả chục triệu đồng, có bao nhiêu cũng đòi mua bằng sạch...”. Phần đa giới chơi đồ kiêm luôn buôn bán. Đồ hiếm, đồ đẹp lòng vòng qua nhiều chủ rồi tìm đường sang Trung Quốc qua những đường dây buôn lậu. Kỹ xảo đồ cổ Năn nỉ mãi, tôi mới được ông Hiệp cho bám càng đi săn đồ cổ. Điểm đến lần này là khu di chỉ mộ thuyền ở cánh đồng Xuân La (Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Tây). Tôi được Sáng-một thợ săn có hạng cho phép được cầm máy dò. Chiếc máy khá nhẹ nhưng cầm một lúc cũng mỏi. Điều đặc biệt, máy bắt sóng rất nhạy. Đang phăm phăm đi trên những ruộng xanh ngập đậu tương chiếc máy bỗng kêu tút tút rất to. Sướng rơn người, tôi hướng cần máy ra, tiếng kêu càng lúc càng to. Đúng tâm đồ rồi, tôi cười hể hả nhưng nụ cười bỗng tắt lịm bởi nhìn kỹ dưới cần máy chỉ là một chiếc vỏ thuốc trừ sâu có tráng lớp thiếc. Sáng cười: “Lúc đầu tôi cũng như chú em thôi, cứ thấy máy kêu là băm bổ cuốc, đào, rã rời chân tay mà chỉ được toàn đồng nát. Giờ có kinh nghiệm rồi nên không phải cứ thấy kêu là đào. Máy dò có mấy cái nút trên hộp, cứ kêu mình lại chỉnh. Nếu chỉnh rồi mà kim trên máy tụt xuống âm là đồ đồng còn cứ dương thẳng lên là đồ tạp, duy có cánh tên lửa, bom chất liệu khác nên máy bắt hệt tín hiệu đồ đồng. Đào cả tiếng, moi đất lên thấy “ten màu” xanh lét tưởng đồ quý hiếm hóa ra toàn bom chưa nổ. Sợ vã cả mồ hôi !”. Sáng dạy tôi cách phân biệt đồ. “Đồ đồng có 3 ten (màu men) tùy từng loại đất. Ten bóng lộn như gương gọi là ten gương, ten màu xanh gọi là ten xanh và ten rẻ nhất là ten sắt, sần sùi như rỉ sắt. Đồ quý tùy thuộc hoa văn và độ nguyên lành. Cả ngàn năm dưới đất mà lành mới hiếm, được cả lành cả hoa văn, ten đẹp nữa thì...khỏi nói. Có những thứ rất có giá như dao khắc hình đầu người, bình lọ có hình giao long, tượng, gương khắc họa tiết, nậm rượu Càn Long...giá cả trăm triệu. Nhưng đắt nhất, đẹp nhất vẫn là trống đồng hàng kỹ thuật. Trống đồng thường có ít hoa văn, giá chỉ một hai trăm triệu nhưng trống kỹ thuật có đủ hoa văn như hình thuyền, hình cóc, hình giã gạo...trị giá tiền tỉ. Chính vì đồ đồng có giá trị thế nên hay bị làm giả. Dân mới vào nghề, lớ ngớ dễ dính quả đắng như chơi. Ông Lý xu- một chuyên gia tiền xu kể: “Mình tin người nhà nó đào được nên mới mua mấy triệu một đồng xu cổ. Tiền xu vẫn là tiền thật, trời tối không nhìn rõ chỉ sờ biết thế rồi móc tiền ra trả.Ai ngờ đem về soi đèn mới biết đồng nọ mài dán vào đồng kia, đem trả nó còn gân cổ cãi. “Rồi, mày cứ đốt đi, nếu nó không rời ra tao trả mày 1,7 triệu nữa, còn rời ra, mày cho tao xin lại tiền” .Tao bảo thế rồi dí bật lửa vào, keo nóng chảy ra, đồng xu tách thành hai mảnh, cu cậu mới hay mình cũng bị...lừa”. Cú lừa ấy chẳng thấm vào đâu so với những ngón nghề độc chiêu hơn. Sáng kể: “Có ông họa sĩ nọ mua được cái tượng cổ với giá trên 60 triệu, về nhà cầm cái bút lông phẩy phẩy ở cổ tượng để vệ sinh bỗng bắn ra mấy cái bụi màu vàng. Lão ấy tưởng...bằng vàng thật nên càng phẩy hăng, sau mới biết bụi vàng ấy bay ra từ cái chữ sơn son, thếp vàng trên cái bút lông. Thất vọng chưa hết vì vàng hụt, khi bức tượng bay hết bụi, lộ ra màu đồ giả. Giờ kỹ thuật làm giả đạt đến mức thượng thừa, bọn nó còn gom những đồng xu cổ hoặc đồng vụn cùng niên đại ra nghiền bột rồi chế khuôn, ép thủy lực thành trống đồng, hoa văn i xì phoóc. Xem xét hoa văn, thử cả bằng máy (đo phóng xạ các bon?) thấy đúng tuổi, xỉa tiền tỉ ra mua nhưng lúc đem đi bán mới biết xơi vào của giả. Của giả ấy chỉ người cực sành sỏi mới biết hoặc phải khoan một lỗ trên thân trống mới hay, mà trống đã khoan... cũng mất giá trị”. nguồn: nongnghiep.vn
  9. Nhộn nhịp phố đèn lồng trung thu ở Sài Gòn Nằm ở trung tâm quận 5, con phố nhỏ Lương Nhữ Học những ngày này trở nên nhộn nhịp với những dãy đèn lồng trung thu rực rỡ màu sắc. Nơi đây chuyên bán những món đồ chơi truyền thống, đặc biệt là đèn lồng. Những chiếc đèn được cắt, dán cẩn thận từ khung tre, giấy ni lông đủ màu, gắn đèn cầy. Đa phần sản phẩm do các chủ căn hộ trong khu phố tự làm thủ công. Nhưng để phục vụ tối đa nhu cầu của các vị "khách nhí", nhiều chiếc đèn lồng nhập từ Trung Quốc cũng được trưng bày bên cạnh. Hằng ngày, ngoài tiếng mặc cả của khách mua, tiếng í ới chọn lựa của các bé, con phố còn thêm phần sôi động bởi tiếng nhạc phát ra rả từ những chiếc đèn "tân tiến" có gắn pin. Dưới đây là một số hình ảnh ở phố đèn lồng tại Sài Gòn Con phố nhỏ dài chưa đầy 300 mét nhưng san sát nhau những sạp hàng bán đèn lồng trung thu. Những sản phẩm thủ công truyền thống với khung tre, giấy bóng kính màu, những người thợ nơi đây đã làm đủ loại hình thù các con thú với nhiều kích cỡ khác nhau. Bên cạnh những chiếc đèn lồng thủ công, còn có những chiếc đèn giấy của Trung Quốc. Anh Trung, một người dân sinh sống tại đây từ nhiều năm trước cho biết, năm nào đến dịp trung thu, cả gia đình anh cũng tham gia làm những chiếc đèn lồng. Ngõ nhỏ nơi anh sinh sống cũng trở thành gian hàng lưu động phục vụ khách hàng "nhí". Ngoài ra, nơi đây còn có những món đồ chơi hình con thú bằng nhựa được gắn pin với đèn nháy và nhạc phát ra. Hay những con lân nhỏ có gắn pin bên trong để biểu diễn. Những thượng đế nhí tha hồ lữa chọn. Các bé băn khoăn với những chiếc đèn lồng truyền thống. Hoặc cố tìm được một món đồ chơi yêu thích. Vui vẻ với chiếc đèn lồng hình con thuyền được ba mua tặng. Đức Quang
  10. Trăm năm xe thổ mộ VH- Đã từ lâu, người ta không còn thấy bóng dáng những chiếc xe thổ mộ rong ruổi trên các nẻo đường quê. Cái tiếng lắc cắc, đều đều... từ cổ xe ngựa kéo là hình ảnh thân thương của người dân Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh Nam Bộ một thời. Trải bao thăng trầm thời cuộc, tưởng chừng như xe thổ mộ chỉ còn lại trong ký ức của người già...Vậy mà ở đất Thuận An, Bình Dương vẫn có một ông lão nguyện suốt đời làm anh... “xà ích”. xe thổ mộ và ông xà ích Hai sộp Xe của người Nam Bộ Chẳng biết chính xác xe thổ mộ ra đời lúc nào, nhưng theo nhiều tài liệu ghi chép vào những năm đầu của thế kỉ trước, khi người Pháp đưa vào nước ta những chiếc xe song mã sang trọng do ngựa kéo để phục vụ nhu cầu đi lại... xuất hiện khá nhiều ở Nam Kỳ. Có lẽ từ đó, người dân Nam Bộ đã tự mày mò chế tạo “riêng” cho mình một loại xe ngựa mô phỏng theo kiểu xe song mã của người Pháp, nhưng tính năng sử dụng lại ưu việt, giá cả lại bình dân nên rất được người dân Nam Bộ ưa chuộng. Trở lại câu chuyện ông lão nguyện suốt đời làm “xà ích”, tôi ghé về Bình Dương, nơi một thời xe thổ mộ ngược xuôi trên khắp các nẻo đường làng của vùng quê trù phú này. Không mất quá nhiều thời gian để tìm được nhà lão “xà ích” Trần Văn Hai, tên thường gọi là Hai Sộp. Ở cái ấp Hưng Thọ, xã Hưng Định, huyện Thuận An này, ông Hai Sộp là người quá nổi tiếng với bà con chòm xóm. Nổi tiếng bởi ông là “diễn viên” từng đóng rất nhiều phim, mà phim nào ông cũng “trung thành” với một vai diễn duy nhất đó là người đánh xe thổ mộ... Bởi vì ông hiện là người vẫn còn lưu giữ nhiều chiếc xe thổ mộ cổ, cũng như phục chế, đóng mới được những chiếc xe thổ mộ nguyên bản xưa... Đặc biệt trong tàu ngựa nhà ông luôn có 3 đến 4 chú ngựa ô thuần thục trong việc kéo xe thổ mộ mà không phải ai cũng có. người Pháp gọi xe thổ mộ là Malabar Tiếp chuyện tôi ngay tại xưởng xe thổ mộ nhà mình, ông Hai Sộp đã cho tôi hiểu và biết thêm nhiều điều thú vị về chiếc xe thổ mộ. Ví như nói về sự ra đời của tên chiếc xe thổ mộ. Đã có rất nhiều cách giải thích khác nhau nhưng ở đây tôi xin ghi lại lời ông Hai Sộp, sinh ra trong một gia đình có 3 đời làm nghề xe thổ mộ: “Sở dĩ người ta gọi là xe thổ mộ bởi xe được kéo bằng một con ngựa dùng để chở hàng hóa, khách bộ hành vùng ngoại ô Sài Gòn, Chợ Lớn, Lái Thiêu... Ngoài ra, mui chiếc xe còn có hình khum cong như một nấm mộ (mã đất) nên xe được gọi là xe thổ mộ”. Theo ông Hai Sộp, để đóng một chiếc xe đúng tiêu chuẩn đòi hỏi người thợ phải tuân thủ đúng những yêu cầu sau: Thùng xe có chiều dài gần 1,2m, cao 1m, bề rộng của thùng xe là 0,85m và phía trên thùng xe phải chia ra làm 3 ô cửa sổ. Thùng xe được kết nối với càng xe có chiều dài 2,7m, gỗ để làm càng xe nhất thiết phải là gỗ Giáng Hương. Ngoài ra nét đặc sắc nhất của chiếc xe thổ mộ đó là ở bánh xe. Mỗi bánh xe thổ mộ được ghép từ 6 miếng gỗ, gắn kết với 12 chiếc căm cắm vào trục bánh xe. Gỗ làm bánh xe cũng phải là gỗ Giáng Hương để tránh bị nứt, nẻ... khi chạy. Sau đó dùng niềng sắt trở ngược hình chữ U gắn bao quanh bánh xe rồi hàn lại sao cho tròn, cho khít và ngoài cùng được đệm một lớp cao su cắt từ lốp xe hơi. Điều đặc biệt của bánh xe thổ mộ là không dùng bạc đạn, mà tra trực tiếp bánh xe vào trục xe để chạy. Do đó khi chạy xe phát ra tiếng kêu lóc cóc đều đều, mà theo lời của ông Hai Sộp dân trong nghề thông qua tiếng kêu đó để khẳng định “đẳng cấp” của xe. Lão xà ích... níu giữ hồn quê Suốt cuộc đời gần 80 năm nay, lão xà ích Hai Sộp vẫn cặm cụi với cái nghề “cha truyền con nối” này của gia đình mình. Dẫu biết rằng cuộc sống ngày càng hiện đại hóa thì những chiếc xe thổ mộ của ông ngày càng ít người nhớ đến... Biết thì biết vậy, nhưng ông vẫn luôn gìn giữ và trân trọng nó như báu vật. Ông vẫn luôn tự hào rằng ở Việt Nam hiện nay ông là người duy nhất có đủ bộ cả xe lẫn ngựa, và khi cần có thể sản xuất được cả xe mới... đó là điều không phải “tay xà ích” nào cũng làm được. Nheo nheo đôi mắt, ông nhớ lại: Cách đây hơn chục năm khi nghề sản xuất, chạy xe thổ mộ không còn được thịnh nữa nên nhiều người đã bán ngựa, cất xe... chuyển sang nghề khác kiếm sống. Nhưng đối với bản thân tôi thì đây là “cái nghiệp” nên tôi vẫn quyết đi “lượm lặt, thu gom” tất cả những gì liên quan đến xe thổ mộ để bây giờ có trong tay một kho “hàng hiếm” những ví, trục, nhíp, chuông... đều ngót nghét cả trăm năm tuổi. Để theo được nghề đến tận ngày hôm nay, bản thân ông cùng gia đình đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn của cuộc sống. Nhưng với tình yêu nghề, quý trọng những gì mà cha ông để lại đã giúp ông gìn giữ, bảo tồn thành công nhiều “tư liệu” quý về xe thổ mộ... Ngày nay, giá một chiếc xe thổ mộ được bán ra từ 35 đến 40 triệu đồng tùy loại. Nhưng người ta mua xe không phải để chạy mà để trưng bày, làm vật trang trí tại các khách sạn, khu du lịch... Ông Hai Sộp cho biết: Trước đây Sở VHTTDL tỉnh Bình Dương, cũng như nhiều công ty du lịch đã đến đặt vấn đề với ông về việc mở tour du lịch sinh thái bằng xe thổ mộ ở vùng đất Thuận An, Lái Thiêu... nhưng vì nhiều lí do khác nhau nên đến nay vẫn chưa thành. Ông tâm sự: Dạo trước, khi đời sống khó khăn, nhìn thấy cảnh xe thổ mộ bị vứt xó, tôi xót lắm chú à. Nhưng lúc đó mình cũng lực bất tòng tâm. May sao mấy năm trở lại đây, khi nhiều nhà làm phim cần đến xe thổ mộ nên nghề này lại có thể sống được. Thế là từ đó ông kiêm luôn dịch vụ đóng phim, cho thuê xe thổ mộ phục vụ cưới hỏi... Đó cũng là một cách bảo tồn nét văn hóa một thời của người Nam Bộ. Nguyễn Hiếu
  11. Xe thổ mộ, ký ức một thời đã xa Những năm đầu tiên của thập kỷ trước, người dân miền Tây Nam Bộ đi lại chủ yếu bằng ghe xuồng, người miền Đông hầu như chỉ đi bằng xe ngựa. Hồi đó ở Sài Gòn, người ta dễ dàng bắt gặp bóng dáng liêu xiêu của chiếc xe ngựa nhỏ, chất đầy trầu cau, rau cải dọc ngang đi về trên các ngả đường. Nó còn văng vẳng cả tiếng nhạc ngựa leng keng, tiếng tróc mã của người đánh xe, tiếng huyên náo của mấy bà hàng đi chợ sớm. Bây giờ, dù có tiếc, có nhớ nhung nhưng người Sài Gòn cũng đành ngậm ngùi... âm thanh ấy đã thuộc về quá khứ. Hình ảnh chiếc xe ngựa hay còn gọi là xe thổ mộ đã trở nên thân thương, quen thuộc với bao thế hệ người miền Nam. Tên thổ mộ có nguồn gốc từ chữ thụ mã mà người Hoa ở Việt Nam thường đọc là thụ mạ. Họ đọc trại âm nhiều lần rồi thành thổ mộ. Người Tây gọi chiếc xe đó là Boite d`allumettes (xe hộp quẹt). Người mình gọi nó là xe thổ mộ vì cái thùng liền với cái mui cong cong giống như một cái mả đất. Xe thổ mộ xuất hiện trong đường phố Sài Gòn và những vùng quê lân cận từ thập niên 40. Hồi đó loại xe này dùng để chở người đi lại trong vùng hay vận chuyển hàng rau cải từ những vùng quê lên Sài Gòn. Mỗi khi có việc trong vùng đi mua sắm, viếng thăm, cưới xin, người ta đều chọn phương tiện xe ngựa. Những buổi sớm tinh mơ, người dân thành phố một thời vẫn quen chờ nghe tiếng vó ngựa lóc cóc gõ trên đường nội ô như đón chào một ngày mới. Đó là những chuyến xe chở hàng từ ngoại thành vào bán trong buổi chợ sớm. Hồi đó ở Sài Gòn có rất nhiều bến xe ngựa, chạy đủ trên các tuyến đường. Bến xe ngựa trước chợ Bến Thành rất đông xe và nhộn nhịp. Xe vào bến phải xếp tài, khi nào đủ khách (khoảng 6 - 7 người) mới lên đường. Ngày đó, không phải ai cũng có xe hơi, xe máy dầu hay có nhiều tiền để thuê những phương tiện sang trọng nên mỗi khi có dịp đi chơi khoảng năm sáu người lại rủ nhau thuê một chiếc xe thổ mộ. Họ vừa đi vừa ngắm cảnh, mà giá cả lại phải chăng hợp với túi tiền của những tầng lớp bình dân. Tháng Chạp, tháng Giêng, từ Sài Gòn - Gia Định ngồi xe thổ mộ xuống Chợ Đệm uống chơi chơi vài chung rượu, ăn chơi mấy miếng thịt luộc với tô cháo lòng cũng có thể coi như một chuyến tất niên, một chuyến du xuân. Đi xe ngựa thích thú nhất là được ngồi phía sau hai chân thòng xuống thoải mái, gác lên cái bửng sắt nhỏ dùng làm chỗ leo lên xe. Xe chạy chầm chậm trên những con đường gió mát từ bờ sông Sài Gòn làm dịu đi cái nắng gắt của thành phố. Ngày nay giữa thành phố đông đúc nhộn nhịp đủ các loại xe hơi, xe gắn máy. Những chiếc xe thổ mộ ấy đã đi vào dĩ vãng. Chỉ thỉnh thoảng vào những mùa Tết Nguyên Đán, người Sài Gòn mới thấy lác đác một vài chiếc xe thổ mộ xưa cũ từ ngoại thành vào chợ lúc còn sớm tinh mơ. Những lúc ấy có người lại nhớ vềì thời xa xưa, một phương tiện đã góp phần tô đẹp thêm cho nét văn hóa của Sài Gòn. Dẫu biết ngày nay xã hội đang phát triển một cách nhanh chóng, hiện đại, người ta có thể chọn nhiều phương tiện sang trọng hơn nhiều. Nhưng hình ảnh chiếc xe thổ mộ vẫn gắn liền với cuộc sống của con người nơi đâỵ. Với nhiều người nó là một phần cuộc đời với những buồn vui của quá khứ về một thứ nay chỉ còn trong hoài niệm, của mỗi người dân đất Sài thành. “Em còn nhớ hay em đã quên/ Nhớ đường dài qua cầu lại nối/ Nhớ những con sông nối bao dòng kinh/ Nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng/ Nhớ xôn xao hàng quán đêm đêm...” Nguồn : nguoiduatin.vn Nhiếp ảnh gia: Huỳnh Tâm ‒ Người dân nông thôn Miền Nam di chuyển mọi nơi bằng xe Thổ Mộ, ở Sài Gòn thường thấy những bến xe Thổ Mộ tại ven Chợ Lớn, Sài Gòn như chợ Tôn Đản, Tân Thuận Quận 4, hay chợ Lăng Ông Gia Định v.v... xa hơn có bến xe Thổ Mộ khá sầm uất, nằm trên trục lộ giao điểm trao đổi hành hoá như chợ Ma Cần Giuộc. Chợ này có từ bao giờ không ao rõ, có người nói vào thời Pháp thuộc, chợ sinh hoạt từ 12 giờ đêm đến 4 giờ sáng, sau đó trả lại cho không gian một khu đất vắng vẻ.
  12. Thưa Sư Phụ, Sư Phụ kể thiếu một chi tiết cũng khá hấp dẫn, vì vụ phong thủy này con cũng theo dõi cùng với Sư Phụ từ đầu, đó là sư Phụ làm cho cô thân chủ này có chồng...Hic con lại nói lộn! Sư Phụ làm phong thủy cho cô này có người yêu và có chồng. Cái ngày đầu tiên cô ấy đến quả là khó khăn, nếu không nói là nghèo...xin Sư Phụ lấy phí tượng trưng là 1 triệu đồng, vì hổng có "xiền". Hehe. Bẵng đi một thời gian khá lâu, cô này giờ là chủ quán mời Sư phụ đến lần nữa và cô ấy báo cáo với Sư phụ: "đây là ông xã của con.". Chuyện còn lại thì Sư Phụ đã kể như trên. Thiên Đồng
  13. Điều tra vụ ông Trầm Bê mất sừng tê giác Thứ sáu, 05/10/2012, 05:20 Chiều 4.10, lãnh đạo Công an tỉnh Trà Vinh đã xác nhận thông tin về việc mất trộm sừng tê giác xảy ra tại dinh thự của ông Trầm Bê (Phó chủ tịch HĐQT Sacombank) ở xã Hàm Tân (H.Trà Cú, Trà Vinh). >> Có căn cứ để điều tra "đại gia Trầm Bê mất sừng tê giác" ? >> Ông Trầm Bê bị trộm sừng tê giác trị giá hơn 4 tỷ đồng Hiện công an tỉnh đang chỉ đạo cho Công an H.Trà Cú khẩn trương xác minh, làm rõ vụ trộm. Dinh thự ông Trầm Bê (ở Trà Cú, Trà Vinh) - nơi bị mất cắp sừng tê giác - Ảnh: C.T.V Trước đó, ngày 27.9, sau khi bảo vệ dinh thự của ông Trầm Bê phát hiện vụ mất trộm đã đến công an xã trình báo. Một số người dân sống gần dinh thự của ông Trầm Bê cho biết, dinh thự trên được ông xây cách đây khoảng 7 năm, hiện còn một số hạng mục trong giai đoạn hoàn thành. Cách đây vài ngày, họ có thấy công an xuống dinh thự trên để xác minh và khám nghiệm hiện trường. Liên quan đến vụ việc này, Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) đã gửi công văn tới Công an TP.HCM và Công an tỉnh Trà Vinh bày tỏ quan điểm về tính hợp pháp của sừng tê giác trong vụ mất trộm tại khu đất của gia đình ông Trầm Bê. Công văn viết: “Cuộc trao đổi của chúng tôi với Cites VN (Cơ quan Quản lý việc buôn bán quốc tế các động vật hoang dã nguy cấp) cho thấy ông Trầm Bê không nằm trong danh sách những người nhập khẩu hợp pháp sừng tê giác vào VN. Ông này cũng không có tên trong danh sách những người xuất khẩu sừng tê giác hợp pháp như là mẫu vật săn bắn từ Nam Phi theo thông tin của chúng tôi. Vì vậy chúng tôi cho rằng, chiếc sừng tê giác được đề cập đến trong bài báo mà công an đang truy tìm có khả năng lớn là bất hợp pháp”. Ông Đỗ Quang Tùng, Phó giám đốc phụ trách Cites VN, xác nhận cơ quan này chưa cấp giấy phép cho ông Trầm Bê nhập khẩu sừng tê giác vào VN. Tuy nhiên, điều này chưa đủ căn cứ để khẳng định chiếc sừng mất cắp ở khu đất của gia đình ông Trầm Bê là có nguồn gốc bất hợp pháp. “Ông Trầm Bê chưa được cấp giấy phép nhập khẩu sừng tê giác vào nước ta, nhưng trong trường hợp ông ấy chứng minh được chiếc sừng ấy được nhập về hợp pháp, thông qua giấy phép được cấp cho một người khác thì nghi vấn đó là sừng tê giác nhập lậu được loại bỏ. Trên thực tế, chúng ta chưa biết được liệu có ai đó đã tặng (cho) hoặc gửi ông Trầm Bê chiếc sừng tê giác ấy nên phải kiểm tra kỹ lưỡng mới có thể đưa ra được câu trả lời chính xác nhất”, ông Tùng nói. Cũng theo ông Tùng, quy định của Cites và pháp luật VN, việc buôn bán sừng tê giác bị cấm, chỉ cho phép xuất nhập khẩu mẫu vật săn bắn với mục đích phi thương mại với một số lượng mẫu nhất định và mẫu vật sống vì mục đích vườn thú. Theo bộ luật Hình sự, người mua bán trái phép sừng tê giác có thể bị xử phạt hành chính lên tới 500 triệu đồng, thậm chí bị bỏ tù, mức án cao nhất lên tới 7 năm tù giam. Theo Thanhnien
  14. Đi tu phải tội Ngày xưa có một ông sư và một con đĩ chết xuống âm phủ. Vua Diêm vương đem ra tra hỏi, nếu ai không có tội thì tha, lại cho hóa kiếp làm người, nếu ai có tội thì bắt bỏ ngục hay bắt đầu thai làm súc vật. Khi Diêm vương hỏi thì đĩ tâu : -Lúc tôi còn sống, tôi chỉ mua vui cho người ta, ai buồn bực điều gì, đến tôi thì quên hết. Hỏi ông sư, ông tâu: -Lúc tôi còn sống, tôi chỉ cứu nhân độ thế. Hễ ai ốm đau, tôi làm chay tụng niệm cho họ khỏi chết. Vua Diêm vương phán: -À, thằng này là của không vừa, chỉ ăn không có nói, dối trên lừa dưới. Ai đến số chết thì ta mới sai quỉ sứ đi bắt, thế mà nó dám cầu nguyện cho họ khỏi chết, cưỡng lại mệnh ta, khoe khoang với người đời lên mặt cứu nhân độ thế. Quỉ sứ đâu ! Đem giam nó vào ngục, rồi sau này hãy cho làm kiếp chó ! Và chỉ vào con đĩ: -Còn con kia chỉ mua vui cho người ta, xét ra không có tội gì cho lên làm kiếp người! Ông sư tức quá phàn nàn: -Đi tu phải tội, làm đĩ được phúc ! Xin đại vương đình lại cho một đêm Ngày nọ, quỉ sứ bắt ba hồn trên dương gian về nộp cho Diêm vương. Diêm vương phán hỏi: -Chúng bay khi còn sống làm nghề gì? Hồn tên trộm tâu: -Tôi nghèo lắm, không của mà bố thí, nên phải thí công: đêm nào cũng phải đi xem nhà ai bỏ quên cái gì thì đem cất giấu cho họ. Diêm vương khen: -Ngươi chịu khó với đời, cho ngươi đầu thai làm quan lơn". Hỏi hồn gái đĩ, nó cũng tâu: -Tôi từ nhỏ đến lớn, không có chồng, nhưng tính lại hay thương những người đàn ông góa bụa. Ai đến tôi cũng tiếp đãi như chồng ! Diêm vương khen: -Ngươi thật có lòng nhân đức, cho ngươi đầu thai làm bà lớn. Diêm vương hỏi đến hồn thầy thuốc thì hồn nói: -Tôi không có lòng "nhân đức" được như hai hồn kia. Chỉ biết rằng ở trên dương thế, tôi cứu chữa được nhiều người khỏi bệnh. Diêm vương nổi giận mắng: -Vậy ra khi ta sai quỉ Vô thường lên dương gian bắt hồn về thì chính mi đã cản lại mệnh ta ! Đem bỏ vạc dầu ! -Hồn thầy thuốc quì lạy, vừa khóc vừa tâu: -Xin đại vương đình lại cho một đêm, để tôi về mách con trai tôi đi ăn trộm, con gái tôi đi làm đĩ, chớ làm chuyện phúc đức mà bị bỏ vào vạc dầu ! Bị mất trộm bò Một người vừa mới tậu được con bò. Tối đi ngủ, anh ta chốt chuồng bò cẩn thận rồi lại đặt cái chỏng ngay lối ra vào mà nằm ngủ. Ấy thế mà ban đêm, kẻ trộm vẫn dắt mất bò của anh ta. Xót ruột, anh ta trình quan: -Bẩm quan, chắc là chúng nó dắt bò chui qua chõng con nằm mà đi ra. Quan nghe nói vô lý quá bật cười : -Con bò chứ có phải con chó, con mèo đâu mà chui qua gầm chõng! -Dạ, bẩm quan, thế thì chúng nó dắt bò của con chui qua lối nào ạ? Sáng dậy cái chõng con nằm vẫn để y nguyên ở chỗ cũ chắn lối ra vào kia mà ! -Đồ ngốc! Mày ngủ say, chúng nó khiêng chõng mày nằm ra một bên, dắt bò ra rồi lại khiêng về chỗ cũ... Người kia vỡ lẽ nói: -À, thế ra quan thông đồng với bọn trộm, nên mới tỏ tường được như thế chứ ! sưu tầm
  15. Posts Tagged ‘sea sponges’ About the Egyptian Djed Pillar Tuesday, August 18th, 2009 One Cellar Creatures, Bacteria, have no need for a central Multi-Cellar Coordination system, a Central Nervous System. Their only need is to find Food (Chemicals). To find food they Move Around in the Chemical Soup with their Flagellum in a Chaotic Pattern (Creativity, Exploration) until they are Attracted by (Fall in Love with) a Source they Like. When the Bacteria are Attracted by the Food, their Creative Behavior stops. The Chaotic Pattern changes into a Stable Cyclic Pattern. The Movement of the Flagellum of the Bacterium is comparable with the Emotional System of the Human Being. The Creative and the Emotional System are the Basic Systems of Nature. Conscioussness, the Feed Back Cycle, was there from the Beginning. Conscioussness, Creativity and Compassion are also the Basic Systems of the Human Being. They are independent of Time and Place. In the first step of Evolution the Organism where Connected and in the Now. In the next step of Evolution two new Protective Systems came into existence, the Predictive System (Thinking) and the Sensory System. They are related to the Multi-Cellar Organisms, the Organisms with a Brain and a Spine. The Protective Systems came into existence because the Organisms became Disconnected (Specialized) and started a Competition. Sponge Although they may look plant-like, Sponges are the simplest and the oldest (635 million yrs) of the multi-cellular animals. Sponges evolved in shallow ocean basins, because the deeper seas did not yet contain oxygen, a necessity for almost all life. At that time the Sponzes could live an Easy Life because there was no Competition from more complicated animals. Sea sponges are not moving at all. They attach themselves to the sea bed and filter nutrients from the water that they force through their porous bodies with flagella. Because of the Life-Style they lead sea sponges do not need, and therefore lack, nerve cells, muscle cells and internal organs of any kind. The first step in the development of the Central Nervous System (CNS) is the Community. The Cells are coordinated by specialized interconnected nerve cells, the Nerve Net. Although the Nerve Net allows the animal to respond to its environment, it has trouble alerting the animal from Where the Stimulus is Coming. For this reason, simple animals with Nerve Nets always Respond in the Same way to Contact with an Object, regardless of where the contact occurs. The organisms coordinated by a Nerve Net are able to move in a Plane. The next step is the development of organisms happened about 590 million years ago. At that moment the Central Coordinating System, the Brain, appeared. Seastar Sea stars have a nerve net in each arm, connected by a Central Radial Nerve Ring at the center. This is better suited to controlling more complex movements than a Diffuse Nerve Net. The organisms with a CNS, the Bilateria, are able to Act and React to a Possible Harmful Stimulus. They Move in the 3rd Dimension, endowing them with not only a top and a bottom, but a left and a right, and a front and a back. Therefore they are comparable to a Sphere. The 3-Dimensional Bilateria make use of Five fluid filled Cavities (Spheres) to Protect the Organs and a Digestive Tube with a Mouth and an Anus. The Bilateria (including the Humans) have Five Body Cavities: (1) the Brain; (2) the Spinal Cord; (3) the Heart and Lungs; (4) the Digestive Organs and Kidneys; (5) the Bladder and Reproductive organs. Octopus The Five Spheres are incorporated in one Super Protective Sphere, the Coelum (Skin). In the Human Embryo the First step of Division of the Cells is between the Coelum (the Multi-Cellar Body) and the Brain (CNS, Coordinating the Multi Cellar Body). The CNS shows the greatest development in Vertebrates. In the vertebrates the CNS is protected by the Skeletal System. The CNS is connected to the rest of the body through a peripheral nervous system that includes the nerves connecting the brain and spinal cord with Receptors such as the Ears and Eyes and Effectors such as the Muscles in the Body. In the evolution of Vertebrates from Fish to Mammals, the most significant changes have occurred in the Structure of the Brain. Even in the earliest vertebrates, the brain had three divisions: the Hindbrain, Midbrain, and Forebrain. The Hindbrain is concerned with Motor Reflexes, the Effectors, the Muscles (the 2nd Dimension). The Midbrain coordinates the Receptors (Eyes, 3rd Dimension). In the progression from Fish to Mammals, the Forebrain becomes more prominent. The Forebrain is used for Receiving and Integrating Information to create a 4-Dimensional Picture of the Space/Time. This System is used to Predict the Causal Path of the Future. The Predictive System is fed by the experiences of the Past and tries to avoid Pain and Destruction. Its Basic Emotion is the Fear to lose Control. At this moment the most advanced creatures on Earth, the Humans are able to operate in the Fourth Dimension. The Blueprint of the Organisms, the DNA, contains enough Junk DNA to reach into higher Dimensions. The next step is the Fifth Dimension. In this Dimension Space & Time Travel are possible. Scientists recently discovered that the DNA of one of the most primitive and ancient Multi-Cellular creatures on Earth, the Sea Sponge, contains almost the Same Blueprint as the Central Nervous System of the Human Being. Many people still believe the Evolution Theory of Darwin is Right. This theory states that the evolution of the species is governed by Random Mutation and Natural Selection. The discovery of the DNA of the Sponge shows a completely different view, the view of the much despised Lamarck. Behind the seemingly Random Pattern of Evolution a highly stable (geometric fractal) structure, The Trinity Pattern, emerges. The DNA is not adapting to Evolution. It is the other way around. Evolution is an Enfolding of a Highly Stable Self Referencial (Fractal) Multi Dimensional Blueprint. This Blueprint was already there when the Universe was created. The Trinity Pattern shows that the basic structure of the Universe is an enfolding of Trinities in Trinities. The Sri Yantra The Sequence of the Enfolding is controlled by a pattern called the Bronze Mean (1,1,4,13,43). The pattern is visible in the ancient Sri Yantra. We are now in the 42th step of enfolding. The 43th step will create a completely new Universe. In this step the Seven Seperate Multi-Verses of our Universes will Merge into One Structure that is connected to the Rotating Primal Void, the Sekhem. If this step will occur we will be able to move out of the 4th dimension into the 5th, Space/Time. The good thing is that many scientists especially the Physicists and the Mathematicians believe the Eternal Blueprint is there and will be found. Many of them also believe that this Blueprint was already discovered a long time ago. In the next part of this blog I will continue with my discovery of the Old Egyptian Physics. We will see that the Old Egyptian Scientists were aware of the Patterns behind the Patterns. What is Happening? In the Beginning, 3.8 billion years ago, the Self Reproducing Central Coordination Sphere called Earth, moving in 4-dimensional Space/Time, was a “chemical soup“. When the Earth cooled down the Soup transformed itself into Self-Reproducing Cells, the Bacteria. The Cells clustered into Self Reproducing Central Coordination Systems called Humans. In every step of the Evolution from Chemical Soup to Human a new Dimension of Space/Time was discovered. The next step must be a step into the 5th Dimension. Let us move back to Ancient Egypt. When you read this article about the Klein Bottle and Alchemy you will learn that the Klein Bottle is a 4-Dimensional Topological Structure. This structure is behind the Closed Loop Version of the most advanced Physical Theory at this moment called String Theory. The Klein Bottle is just like the Moebius Ring a structure without an Up and a Down. The Klein Bottle is also a structure without an Inside and an Outside. The Barque of the Sekhem (Void) with the Bennu Bird (Phoenix) and the Eye of Horus. The Bennu Bird is carrying the Klein Bottle. It is Closed in Itself just like the first God of Egypt Atum and the Serpent, the Ouroburos. The most interesting feature of the Klein Bottle is the Void, the Singularity. In current Physics a Singularity is called a Black Hole or Wormhole. In the Old Egyptian Science the Void was called the Sekhem. When you read the article you will see that The Klein Bottle also explains the Ancient theory of Alchemy. This theory was developed in Egypt by a person (or a God) called Thoth (or DJ-huti). The Greek changed his name in Hermes. The Old Egyptians explain their theory by the Myths of the Pesedjet. The Ancient Narrative describes the whereabouts of Nine Deities (or Concepts). Two of them are named Isis and Osiris. Osiris is the God of the Resurrection. Isis is the Mother Goddess. The Four Sons of Horus. In the next step of the story Isis and Osiris give birth to a child called Horus. Horus is the Symbol of the Human Body. Isis is represented in Catholic Tradition by Mary, the Black Madonna. In most representations she is depicted with her Child (Horus, Jezus). The Four Suns of Horus are the symbols of the Four Organs situated in the Four Cavities of the Human Body. The last Fifth Cavity of the Human Body, The Brain and the Spinal Cord protected by the Backbone is represented by a symbol called the Djed Pillar. The Djed Pillar was one of the most Magical Symbols in Egypt. The Five Cavaties correspond with the Five Organs in Acupuncture. Acupunture is an Ancient Chinese Medical Treatment to cure and stabilize the Electro Magnetic Body of the Human. The Cavities now called Cells also exist in the Universe. They are the Birth Places of Star Clusters. Why is the Djed Pillar such an Important Concept? The Djed Pillar The name Djed contains the term DJ meaning Serpent. Dj comes back in Dj-huti (Thoth/Hermes), Dj-inn (a Magical Serpent Ghost) and Djedi (An Egyptian Magician). The name Djedi was used in the famous Movie Star Wars. The Djedi are called the Skywalkers because they are able use the Power of the Serpent to move in Space/Time, the Fifth Dimension. In other cultures the Serpent Power is called the Kundalini. The Serpent or the Kundalini is a Tremendous Power that rests in the Spinal Chord at the place of the Sacrum, the first part of the Spine. At this place the first Chakra, the Muladhara is situated. The Muladhara Chakra is made of the Earth Element and represents the Beginning of Life (the Chemical Soup). When awakened and nourished, this association with the Earth element manifests itself as a Electro Magnetic Force within that person. One of the most important secret rituals in the Cult of Osiris was called the Raising of the Djed. When you Raise Your Backbone you are opening the Path of the Serpent to let the Electro Magnetic Field of Mother Earth move you to the Fifth Dimension. What is the Physical Explanation of the Serpent Energy? The Earth is a huge magnetic sphere. The E/M field of the Earth varies in strength and consistency through the ages. Our bodies own magnetic frequencies and our bio-field patterns react to this variance of the Earth’s field. Eye of Horus The pineal gland, the Eye of Horus (or the Horn of the Unicorn), is the “clock” that controls biological cycles. The Eye of Horus stands for the sixth chakra. The pineal gland is the principal structure in the brain that is directly sensitive to the Earth’s magnetic field. The pineal gland produces a host of psychoactive chemicals (such as Melatonin, Dopamine, Serotonin, and others). Its abnormal functioning may result in a variety of Physical (the Immune System), Neurological (Tremors) and Psychological (Psychosis) Problems including Mystical and Para-Normal Experiences. Our bone structure Converts Vibrational Energy, such as sound or light, into Magnetic and Electric Energy. When the bone is bent it produces an E/M-field. This E/M-field interacts with the Pineal Gland and creates a Feed-Back Cycle. The E/M-field of our Body, the Aura, is a combination of all kind of waves. A special type of wave-structure is called a Standing Wave. When the E/M-field acts as a Standing Wave all the waves are in harmony and conserve structure. The Human body is in harmony when the total field of all the separate E/M-fields of the Body act as a Standing Wave. The Standing Wave appears when the Spinal Wave of the Vertebrae of the Body is in a special Alignment. This alignment happens when the Djed is Raised. If this happens the Standing Wave of the Spine Resonates with the Standing Wave of the Earth. At that moment the Kundalini Rises and the Pineal Gland reacts with a Huge Mystical Experience. What was the Aim of the Djedi? Phoenix The E/M-field of the Earth is different at every place on Earth. It also changes every day because of the influence of the Moon, the Sun and other powerful fields in the Universe. At a certain moment in Time, at a certain place on Earth and with the help of special instruments (The Pyramid of Giza, the BnBn Stone) the old Egyptian Magicians, the Djedi, imagined it would be possible to resonate with the Standing Wave of the Center of our Galaxy situated in the Pleiades. If this happens it will generate a tremendous, almost deadly, Mystical Experience, a giant influx of the Serpent of the Galaxy (the Black Hole) also called the Phoenix (Greek) or the Bennu Bird (Egyptian). To endure this experience the Mystical Body, the Sahu, the Resurrection Body of Osiris, the Barque of the Sekhem, has to be available. The Sahu, the Light Body, is activated when the Djedi has balanced his chakras in the middle, the Heart Chakra. To experience a mystical union with the One, the Djedi has to live from the Heart. At that moment the Skywalker will become Immortal. He will Climb Jacobs Ladder, move through the Einstein-Rosen Bridge (Sekhem, Bindu, Wormhole) into our (Black Matter) Twin Universe, the Underworld, the Nagual, the Duat, the Daad, Heaven, the Place where the Souls Live. This Special Alignment of the Stars, The Galactic Cross, the Return of the Galactic Serpent, is the Moment the Egyptian Djedi, the Pharaos in their Coffin, the Jews (The Coming of Christ), the Muslims (the Coming of Christ), the Christians (the Return of Christ, the Resurrection), the Mayas (the Return of Quetzalcoatl, the End of the Maya Calendar, 2012), the Hopis (the Fifth World) and many other cultures are waiting for for a very long time. A Last Remark The E/M-field of the Earth is at this moment heavily influenced by human activities. Especially the strong fields of the Mobile Infrastructure on Earth have a devastating impact on the harmony of the Human Body. Project yourself!
  16. Chiếc áo tơi và hình bóng người Việt Áo tơi được nhân dân ta làm bằng lá tro còn gọi là lá cọ (lá mà người dân quê dùng để làm tranh lợp nhà). Suốt cả chiều dài lịch sử của dân tộc Việt chúng ta, chiếc áo tơi là vật dụng che mưa che nắng và che cái lạnh cắt da cắt thịt mùa đông. Áo tơi rất nhẹ được làm từ lá cây, thường là lá cọ khô - thứ lá người xưa dùng để lợp nhà - rất sẵn ở vùng trung du Bắc Bộ, nơi các Vua Hùng dựng nước. Những chiếc lá này được chọn kỹ và khâu chồng thành lớp gối lên nhau dày hàng đốt tay, như kiểu lợp ngói, đánh thành tấm, phía trên có dây rút để đeo vào cổ giữ áo cố định trên lưng. Chưa có bất kỳ một nghiên cứu nào về áo tơi Việt nhưng có lẽ người Việt cổ đã dùng nó như là quần áo để che thân. Mãi đến đầu thế kỷ 20, áo vải vẫn còn là thứ đắt tiền mà người dân thường không dễ có được, chiếc áo tơi vẫn là chiếc áo khoác ngoài đầy "quyền uy", chiếc chăn ấm che thân, chiếc áo che mưa che nắng và trong tâm hồn người Việt xưa, áo tơi trở thành vật cho tặng thể hiện tình yêu: Yêu nhau cởi áo cho nhau Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay Những năm 1884 áo tơi được sử dụng rất phổ b Giờ những người phụ nữ trẻ ít dùng những chiếc áo tơi như thế này, nhưng hình bóng chiếc áo tơi mà ngày xưa bà nội vẫn mặc mỗi khi ra đồng đi làm thì còn mãi. Lam lũ và tần tảo Người Hà Tĩnh tự hào làm ra và gắn bó với những chiếc áo tơi trong thời tiết gió Lào khắc nghiệt. Người Huế mỗi độ đông sang, biết bao người nhớ những chiếc áo tơi xưa. Áo làm bằng lá nón, xếp từng lớp mỏng như bộ váy của một con công cồ. Khoác chiếc áo tơi lên vai, rồi đi trong mưa lạnh, nghe hai vai nằng nặng những giọt nước mưa chừng như đã mệt nhoài. Một chiếc áo tơi như vậy có thể mặc ba bốn mùa mưa. Mặc cho đến khi những "tà" áo mủn ra, mầu vàng nhẹ chuyển sang mầu xám mùn, áo ngắn lên cũn cỡn nhưng vẫn còn dùng được. Lúc này, nhiều người đem mặc cho những thằng bù nhìn rơm ngoài đồng. Suốt mùa đông lạnh, chiếc áo tơi vẫn cứ ở đó che chở cho thằng bù nhìn đuổi chim. Tuy có cấu tạo đơn giản áo tơi để che mưa che nắng rất tốt; mùa mưa thì nước mưa không lọt qua được vào bên trong, người mặc lại có cảm giác kho ráo ấm áp không bị bí như mặc áo mưa ni-lon; mùa hè thì nắng ko chiếu được vào trong và cách nhiệt tốt làm cho người mặc có cảm giác mát, giúp người dân có thể làm đồng dưới cái nắng nóng gay gắt . Đơn giản từ chiếc lá cọ, làm nên sản phẩm độc đáo để rồi qua những vùng miền khác nhau tạo ra nét Việt Nam đặc biệt: Văn hóa làng xã với chiếc "áo tơi". Theo: Vietnamnet Cái áo tơi người Việt Cập nhật lúc :12:21 PM, 10/05/2010 Áo tơi người Việt là thứ áo khoác xưa thường dùng che mưa ghép từ nhiều lớp lá (lá gồi hay cọ...) gần gũi với thiên nhiên nhưng nay không còn phổ biến. >> Tục để móng tay dài theo quan niệm quyền quý xưa Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Áo tơi là áo khoác thường dùng che mưa ghép từ nhiều lớp lá (lá gồi hay cọ...), dùng chỉ móc khâu lại, dài đến bắp chân, không có tay áo, trên cổ có dây buộc. Áo tơi mặc gọn, không vướng víu khi lao động (cày, bừa, cấy ...) được dùng phổ biến ở nông thôn Việt Nam thời gian trước. Một số nơi, áo tơi còn có công dụng che nắng, gió”. Vợ chồng người nông phu ở ngoại thành Hà Nội. Áo tơi dùng phổ biến ở nông thôn, hoặc những lao động nông thôn vào thị thành làm việc. “Trời mưa thì mặc trời mưa/ Chồng tôi đi bừa đã có áo tơi” (ca dao). Trong văn chương, áo tơi cũng biểu thị tính cách thảnh thơi của người không màng danh lợi: “Chi bằng cần trúc, áo tơi/ Danh cương, lợi toả mặc đời đua tranh” (ca dao). Người kéo xe khoác áo tơi. Về sau mới có vải tráng cao su rồi nilon làm áo mưa. Người thành thị che mưa chủ yếu vẫn bằng nón hoặc ô, dù. Đến nay rất hiếm mới gặp loại trang phục rất thân thiện với thiên nhiên này. Theo Nhà sử học Dương Trung Quốc (Bee.net)
  17. Thưa Sư Phụ, theo đệ tử thì "Quần long vô chủ" tức đám rồng không có chủ. "Quần long vô chủ" chuẩn hơn. "Quần long vô thủ" có nghĩa là đám rồng không có đầu (cả đám rồng cụt đầu) "Chủ" là người đứng đầu có quyền, người quản lý đám đông. "Thủ" theo nghĩa xưa chỉ là đầu, cái đầu,(vd: thủ dĩ là đầu heo), nhưng cũng có nghĩa là lãnh đạo, khi hiệp từ, như thủ lĩnh, thủ môn. Nhưng trên góc độ ngôn ngữ thì "chủ" và "thủ" có vấn đề. Âm chủ và thủ dường như cùng một nôi âm tiết, có thể nói là trại âm của nhau. Hai chữ đều có khẩu hình môi chu và bật hơi đánh lưỡi. Có thể đây là dấu tích ngôn ngữ Việt cổ còn lưu trong xã hội tàu. "chủ" hiểu đại để là người đứng đầu cộng đồng hay nhóm, và có quyền lực. Thủ chỉ vị thế cao, hay cũng là người cao hơn, như thủ tướng, thủ trưởng, cao thủ. Kính Thiên Đồng
  18. Tìm lại nguồn gốc vùng đất Bách Việt Cập nhật lúc :8:00 AM, 07/10/2012 (Đất Việt) Trong hành trình tìm lại cội nguồn văn hóa các Việt tộc, đã có nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước, ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Từ truyền thuyết đến các Thần tích, Tộc phả được phối kiểm bởi ngành Khảo cổ học, Khảo Tiền sử, Nhân chủng học, Cổ nhân học, Dân tộc và Ngôn ngữ học được phối hợp kiểm chứng bởi kết quả phân tích cấu trúc phân tử di truyền DNA của các tộc người trong khu vực đủ rộng tại châu Ấ cho phép các nghiên cứu xác định tính hiện thực của cộng đồng Bách Việt (Người Việt hiện nay là sự kết hợp của tộc Âu Việt và Lạc Việt). Khái niệm Bách Việt cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Thí dụ, Theo Từ Hải, danh xưng này là tiếng để chỉ “chỗ hỗn tạp gồm bảy tám ngàn dặm của trăm giống Việt từ Giao Chỉ đến Cối Khê, mỗi xứ đều có giòng họ riêng”. Hoặc Ngô Thì Sỹ: “Xét theo thiên Vũ Cống, nước Việt ở về phía nam đất Dương Châu. Theo sách Thiên Quan, từ sao Đẩu mười một độ qua sao Khiên Ngưu đến sao Chức Nữ bảy độ là tinh kỷ. Kể về sao thì ở về ngôi sửu, cùng một tinh phận với nước Ngô. Cõi nam là Việt môn, có rất nhiều nước như Âu Việt, Mân Việt, Lạc Việt, cho nên gọi là Bách Việt. Bởi vì miền này ở phía nam Dương Châu, nên lại gọi là Nam Việt. Vùng đất từ núi Ngũ Lĩnh xuống phía nam thuộc về Nam Việt”. Hoặc Đào Duy Anh thêm một số địa điểm “U Việt ở Chiết Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến, Đông Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Lạc Việt ở An Nam”. Gần đây, Lăng Thuần Thanh (Ling Shun Sheng), giáo sư đại học Đài Loan, còn ghi thêm một vùng nữa cho dân Bách Việt, đó là tỉnh Hồ Nam, nơi trước kia vào thế kỷ 3 trước Công nguyên, Tam Lư Đại Phu nước Sở là Khuất Nguyên đã bị đầy tới. Trong khi bị đầy, Khuất Nguyên đã phóng tác ra Cửu Ca (trong bộ Sở từ). Và theo họ Lăng, nếu xét kỹ Cửu ca thì người ta sẽ nhận ra những hình ảnh mô tả các cuộc tế lễ tại địa phương này giống hệt hình ảnh đã được vẽ trên trống đồng Đông Sơn của dân Lạc Việt. Ông Lăng cũng chủ trương rằng “trước kia trung tâm đồng bằng Dương tử là nơi cư ngụ của giống người Indonesia mà sử sách Trung Hoa gọi là Bách Việt hay Lạc Việt.” Như vậy khái niệm Bách Việt được quan niệm khá mù mờ qua các giai đoạn và các nhà nghiên cứu khác nhau. Khái niệm Bách Việt được dùng ở đây để chỉ các cộng đồng người có địa bàn cư trú rất rộng lớn, gồm toàn bộ lưu vực phía Nam sông Hoàng Hà, tới sông Dương Tử, trải dài hết khu vực Đông Dương đến các quần đảo trên Thái Bình Dương. Những năm gần các nghiên cứu về Việt tộc và Hán tộc của các nghà nghiên cứu trên thế giới đem lại những kết quả bất ngờ. Kết quả của khoa Phân tích Di truyền hoàn toàn phù hợp với thư tịch cổ Trung Hoa, Khoa Khảo cổ học, Nhân chủng học, Khảo tiền sử. Luận chứng khoa học mới nhất có tính thuyết phục nhất, một lần nữa khẳng định tộc Việt và Hán tộc là 2 tộc người khác nhau. Việt tộc có yếu tố đột biến di truyền đặc biệt của châu Á trong khi Hán tộc không có yếu tố này. Đồng thời xác định địa bàn cư trú của tộc người Malaynesian tức Malayo-Viets (Bách Việt) trải dài từ rặng Tần Lĩnh, hạ lưu sông Hoàng Hà ở Trung nguyên trải dài xuống tận vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo. Địa bàn cư trú của Việt tộc phía Bắc tới lưu vực phía Nam sông Hoàng Hà, phía Tây giáp Tây Tạng, Đông giáp Nam Hải, Nam xuống tận Bắc Trung Việt, chính là cương giới của nước Văn Lang xưa của tộc Việt. Các nhà khoa học của Viện Pháp Á gồm bác sĩ Trần Đại Sỹ, giáo sư Tarentino người Ý và giáo sư sinh vật học người Pháp Varcilla Pascale đã ứng dụng hệ thống DNA là hệ thống sinh học mới nhất cho chúng ta kết quả có tính thuyết phục nhất. Các nhà khoa học đã khảo sát y phục, mồ mả, ră ng xương trong các ngôi mộ cổ qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất. Sau đó dùng hệ thống DNA kiểm những bộ xương, đồng thời kiểm máu của 35 dòng họ tại Hoa Nam và Việt Nam rồi so sánh với những dòng họ khác tại Hoa Bắc đã kết luận: 1. Cư dân Hoa Nam, từ miền Nam Trường Giang xuống tới miền Trung Việt Nam, Lào,Thái đều có cùng một huyết thống, một chủng tộc. 2. Cư dân này hoàn toàn khác biệt với cư dân Hán ở Hoa Bắc. Kết quả của những công trình khoa học có ý nghĩa lịch sử đã xác định vùng Đông Nam Á trải dài từ lưu vực song Dương Tử xuống tới lưu vực sông Hồng, sông Cửu Long mà đồng bằng châu thổ song Hồng là trung tâm nơi phát tích của nền văn minh Hòa Bình của cư dân Malaysian. Năm 1998, giáo sư J.Y. Chu và 13 đồng nghiệp ở Đại học Texas đã phân tích 15-30 mẫu “Vi vệ tinh” DNA (microsatelltes) để thử nghiệm sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm dân từ nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, 4 nhóm dân vùng Đông Nam Á gồm 2 nhóm thổ dân châu Mỹ, một nhóm thổ dân châu Úc và một thuộc thổ dân Tân Guinea, 4 nhóm dân da trắng Caucasian và 3 nhóm dân Phi Châu. Kết qủa của công trình nghiên cứu bằng phương pháp phân tích thống kê có tên là “Phân tích chủng loại” (Phylogetic Analysis). Nhà bác học Chu và 13 đồng nghiệp khác tại đại học Texas Hoa Kỳ và các trường đại học và viện nghiên cứu lớn nhất ở Trung Quốc đã công bố một công trình thành công về di truyền học mang tên “Genetic Relationship of Population in China” được đăng trong Tạp chí Hàn lâm viện Khoa học Quốc gia của Hoa Kỳ (The Nation Academy of Sciences, USA, Vol.95 issue 20, ngày 29 tháng 7 năm 1998) như sau: 1. Hai nhóm dân có sự khác biệt rõ ràng nhất là Phi Châu và các dân khác không thuộc Phi Châu”. 2. Tổ tiên của các nhóm dân Đông Á ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á và Người Trung Quốc ở phía Bắc TQ có cấu trúc di truyền khác với người Trung Quốc ở phía Nam TQ”. TS Nguyễn Văn Vịnh (tổng hợp)
  19. Vua bếp Mỹ quảng bá hương vị Việt 07.10.2012 08:09 Đó là tâm sự của Christine Hà, người vừa đoạt giải nhất cuộc thi Vua đầu bếp Mỹ 2012. >>>Đầu bếp mù gốc Việt 'rung chuyển' Masterchef >>>Cô gái mù gốc Việt thành Vua đầu bếp Mỹ >>>Bố cô gái mù không biết con là Vua đầu bếp Sau khi Christine Hà đoạt giải nhất cuộc thi Vua đầu bếp Mỹ (MasterChef US), chúng tôi đã thực hiện cuộc phỏng vấn ngắn với cô. Song hành cùng kế hoạch viết sách ẩm thực, Christine còn dự định tiếp tục quảng bá ẩm thực Việt để người nước ngoài biết nhiều món khác của Việt Nam hơn. - Cô có thể chia sẻ về quá trình học nấu ăn của mình? Hầu hết là do tôi tự học. Tôi bắt đầu tìm hiểu về cách thức chế biến và nấu ăn hồi năm 19 tuổi, khi còn đang đi học. Mẹ tôi mất từ năm tôi 14 tuổi. Thật đáng tiếc là bà ra đi quá sớm nên tôi chưa kịp học gì ở bà về các món ăn Việt Nam. Tôi nhớ những món mà mình thường ăn khi mới lớn. Vì thế, tôi chọn mua sách ẩm thực Việt Nam để tự học. - Cô cảm nhận thế nào về ẩm thực Việt Nam? Tôi yêu thích hương vị của các món ăn Việt Nam. Chỉ cần nguyên liệu đơn giản và không tốn nhiều chi phí nhưng ẩm thực Việt Nam vẫn hòa quyện hương vị độc đáo và ngon. Việt Nam có rất nhiều món ngon khác chứ không chỉ giới hạn trong những gì mà người Mỹ biết như phở, bún thịt nướng, bánh mì thịt. Christine Hà ăn mừng chiến thắng tại cuộc thi năm nay. - Trong tương lai, cô dự định phát triển sự nghiệp như thế nào? Tôi muốn tiếp tục viết sách về nấu ăn. Ngoài ra, nếu có người hợp tác và đầu tư, tôi muốn mở một cửa hàng kem và nhà hàng chuyên cung cấp các món ăn cùng thức uống có chất lượng cao. - Thông qua đó, cô sẽ quảng bá ẩm thực Việt Nam chứ? Ban đầu, đơn thuần chỉ là tôi muốn học hỏi nấu ăn nhưng nay thì tôi có thể góp phần quảng bá ẩm thực Việt. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc về điều đó. Christine Hà trong cuộc thi... Văn chương và ẩm thực Christine Hà, 39 tuổi, có tên tiếng Việt đầy đủ là Hà Huyền Trân. Cô được sinh ra và lớn lên tại Mỹ sau khi cha mẹ cô sang nước này định cư vào năm 1975. Ban đầu, gia đình cô sinh sống tại thành phố Lakewood thuộc bang California, sau chuyển đến thành phố Houston, Texas. Sinh trưởng tại Mỹ nhưng Christine Hà vẫn có thể giao tiếp tốt bằng tiếng Việt. Bất hạnh đến với cô vào năm 1999 khi cô mất thị lực một mắt vì chứng rối loạn khả năng tự miễn dịch, gây tổn hại hệ thống thần kinh thị lực. Dù điều kiện thị lực kém, Christine Hà vẫn tốt nghiệp cử nhân quản trị kinh doanh của ĐH Texas. Thế nhưng, vì thị lực yếu nên cô không thể làm việc trong chuyên ngành mình đã học. Sau đó, cô lấy bằng thạc sĩ về tiểu thuyết của ĐH Houston rồi làm việc trong ngành này. Đến năm 2007, mắt còn lại của Christine Hà cũng bị tổn thương vì chứng bệnh trên. Thị lực giảm sút trầm trọng, mọi thứ đều mờ ảo dù chưa mù hoàn toàn, nên cô bị xem là khiếm thị theo tiêu chuẩn của Mỹ. Không chỉ đạt thành công rực rỡ tại cuộc thi MasterChef US mùa thứ 3, cô còn để lại dấu ấn nhất định trong ngành văn học. Cô từng đoạt giải biên tập thơ của chuyên trang The Scissor Tale Review. Hiện tại, Christine Hà đang làm công việc biên tập tiểu thuyết hư cấu Gulf Coast thuộc ĐH Houston. Bên cạnh đó, cô còn có nhiều đóng góp khác ở một số tạp chí, chuyên trang văn chương. Christine Hà từng tâm sự rằng cô muốn nỗ lực khám phá cả văn chương lẫn ẩm thực, vì cả hai đều mang đậm tính nghệ thuật. Khi tự giới thiệu về mình trên The Scissor Tale Review, cô cho biết: “Hai điều tôi thích nhất trên thế giới này là ẩm thực và những câu chuyện”. Christine Hà còn tâm niệm rằng nấu ăn là cách để thể hiện tình cảm, sự quan tâm của bản thân đối với những người xung quanh. Quả thực, cô đã thể hiện sự chăm chút đến từng chi tiết trong suốt quá trình thi tài nấu ăn tại giải MasterChef US dù gặp nhiều khó khăn về thị lực. Ngoài ra, theo Christine Hà, văn chương và ẩm thực còn giúp kết nối những người xa lạ đến từ các nền văn hóa khác nhau. Có lẽ sự cảm nhận này cùng nỗ lực không ngừng đã giúp cô thành công như hôm nay. Thành công bằng tất cả đam mê và sự tự tin. TN
      • 1
      • Like
  20. Sơn nữ Việt xưa mặc gì? Cách đây khoảng 1 thế kỷ, sơn nữ đã đi vào nhiếp ảnh, trên những con tem của người Pháp với vẻ đẹp mộc mạc và trang phục hết sức đặc trưng cho đồng bào mình. Cuộc sống quá gần gũi với thiên nhiên và thậm chí có phần hoang sơ đã giúp cho các sơn nữ giữ được vẻ hồn nhiên, trong trẻo, mộc mạc rất đáng yêu của người phụ nữ. Ngoài ra, cũng với óc sáng tạo phong phú và những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên, họ đã sáng tạo nên những trang phục và trang sức độc đáo trở thành một trong những "tín hiệu" giúp người ta nhận diện về dân tộc mà họ là thành viên. Chẳng hạn, thiếu nữ Lô Lô ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, họ phân biệt mình với các dân tộc khác bởi mái tóc dài quấn ngang đầu cùng với những chiếc khăn sặc sỡ, tua vải; phụ nữ Mường lại đội đầu lên đầu một chiếc khăn làm từ mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa và mang nhiều trang sức như: vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích... Cùng Đất Việt chiêm ngưỡng những hình ảnh đẹp, mộc mạc của sơn nữ cách đây 1 thế kỷ: Thiếu nữ Mán xuống chợ. Thiếu nưc Mán hay còn gọi là người Dao, sinh sống ở hầu khắp các tỉnh miền núi phía Bắc với rất nhiều nhóm khác nhau: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).... ... Họ mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần và màu sắc của các trang phục này rất sặc sỡ. Thường thiếu nữ Dao không theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm. Phụ nữ Lô Lô để tóc dài quấn ngang đầu. Bên cạnh đó họ còn dùng khăn quấn thành nhiều lớp trên đầu hoặc đội. Khăn cũng được trang trí các mô típ hoa văn và các tua vải màu sắc sặc sỡ. Họ cư trú chủ yếu ở các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang), Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng), Mường Khương (Lào Cai). Thiếu nữ Mường trong trang phục khăn đội đầu hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân Thiếu nữ Mèo hay còn gọi là H Mông e ấp trong trang phục truyền thống. Một thiếu nữ Mường trong gia đình giàu có ở Bảo Hà. Sơn nữ ở biên giới giáp TQ. Thiếu nữ Thượng căng tràn sức sống với phần thân trên để trần và bên dưới mặc váy. Người Thượng là tên gọi cung cho những nhóm sắc tộc thiểu số sinh sống trên cao nguyên miền Trung, như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông... Nguồn:www.hoaphuongdo.vn
  21. “Tìm quê hương” của vua Lý Nam Đế 07/10/2012 3:15 Gần 15 thế kỷ sau khi Lý Nam Đế lên ngôi, trở thành người Việt Nam đầu tiên tự xưng hoàng đế, một hội thảo được tổ chức để xác định quê hương của ông. Chùa Hương Ấp, thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, Phổ Yên, Thái Nguyên (nơi Lý Nam Đế tu hành thời nhỏ) “Nếu như công lao và sự nghiệp của vua Lý Nam Đế hết sức to lớn - mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc, thì có một khoảng trống lớn trong tiểu sử của ông vẫn chưa được lấp đầy trong suốt gần 15 thế kỷ qua”, GS-NGND Đinh Xuân Lâm đề dẫn hội thảo về vấn đề quê hương Lý Nam Đế. Hội thảo do Hội Khoa học lịch sử tổ chức hôm qua 6.10 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Một trong những lý do khiến quê hương vua Lý Nam Đế còn chưa rõ ràng là các sách sử của Trung Quốc và Việt Nam đều không khẳng định chính xác hoặc đề cập chung chung như “Thái Bình nhân”. “Từ điều này có người cho rằng Lý Nam Đế quê ở Thái Bình ngày nay. Có nhà nghiên cứu lại cho rằng đó phải là Thái Bình dưới thời thuộc Đường rồi khoanh vùng chứng minh nó phải thuộc Hà Tây. Ý kiến thứ ba cho rằng Thái Bình là tên ấp thuộc châu Giã Năng xưa, thuộc Thái Nguyên ngày nay”, PGS-TS Nguyễn Phương Chi, Viện Sử học nói. Thậm chí, có nhóm tác giả trong cuốn Thái Bình với sự nghiệp dựng nước Vạn Xuân còn công bố một truyền thuyết mà theo họ tuy không có văn bản nhưng phổ cập tại Thái Bình. Theo đó, Lý Bí được sinh ra tại chùa Hưng Quốc (Thái Bình). Tuy nhiên, một nghiên cứu điền dã của Viện Sử học cho thấy tại vùng có chùa Hưng Quốc không hề có truyền thuyết như trên. “Chúng tôi đều nhận được câu trả lời nhân dân chúng tôi không dám nhận đây là đất sinh ra vua Lý Nam Đế. Một cụ còn thay mặt địa phương nói đại ý địa phương không có truyền thuyết chùa Hưng Quốc là nơi sinh ra vua Lý Nam Đế”, PGS-TS Nguyễn Minh Tường, Viện Sử học loại bỏ giả thuyết quê Lý Nam Đế tại Thái Bình. Cũng từ nghiên cứu điền dã kết hợp văn bia, ngọc phả, theo ông Tường, quê hương của Lý Nam Đế phải ở Thái Nguyên. Chẳng hạn, một ngọc phả ghi Lý Nam Đế tu tại chùa Hương Ấp (Thái Nguyên - NV) đến năm 13 tuổi thì theo Phổ Tổ thiền sư về tu hành tại chùa Giang Xá thuộc Hoài Đức, Hà Nội. Ông Tường cũng liên hệ với việc vua về “huyện Thái Bình” để phất cờ khởi nghĩa. Theo đó, muốn phát động một cuộc khởi nghĩa thì phải hội được 2 điều kiện quan trọng đầu tiên là “nghĩa binh” và “lương thực”. Căn cứ vào đó, đất Thái Bình cổ ứng với Hoài Đức, Hà Nội đáp ứng tốt điều kiện hơn quê hương tại Thái Nguyên hiện nay. “Sử cũ đã nhầm khi nghĩ rằng nơi vua Lý Nam Đế lựa chọn để khởi nghĩa là quê hương của người”, ông Tường nói. Một thực tế thú vị, theo GS-NGND Đinh Xuân Lâm, là trước khi các nhà khoa học xác định được quê hương của vua Lý Nam Đế thì dân hai vùng Tiên Phong (Phổ Yên, Thái Nguyên) và Giang Xá (Hoài Đức, Hà Nội) đã tự nguyện đi lại thăm viếng lẫn nhau từ hơn 10 năm qua. Họ cũng mặc nhiên thừa nhận nơi có chùa Hương Ấp - Thái Nguyên - là quê hương của vua Lý Nam Đế. Nhân dân làng Giang Xá (nơi thờ Lý Nam Đế làm thành hoàng), về mặt tâm linh đã thừa nhận Thái Nguyên là quê hương của vị thần Thành hoàng làng mình. “Chúng tôi cho rằng đã đến lúc cần phải “trả” vua Lý Nam Đế về với quê hương đích thực của người là thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, H.Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”, PGS-TS Nguyễn Minh Tường nói. “Chúng tôi vẫn thừa nhận đất tỉnh Thái Bình hiện nay có nhiều di tích lịch sử gắn với vua Lý Nam Đế, nhưng đó chỉ là những di tích liên quan tới những cuộc chiến sự dưới thời Tiền Lý. Nhân dân các xã có đình, đền thờ Lý Nam Đế ở Thái Bình từ xưa đến nay, chưa bao giờ tự nhận là quê hương của người”. “Trong một tương lai gần, chúng tôi xin trân trọng đề nghị nhà nước ta cùng các cơ quan hữu quan cần xây dựng một ngôi đền thời đức vua Lý Nam Đế trên đất quê hương của người: thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, H.Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”, ông Tường nêu ý kiến. Trinh Nguyễn Đã tìm ra quê gốc của vua Lý Nam Đế? 07/10/2012, 04:20 (GMT+7) (HNM) - Sáng 6-10, tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội), Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và UBND huyện Phổ Yên, Thái Nguyên đã tổ chức hội thảo "Một số vấn đề về vương triều tiền Lý và quê gốc của vua Lý Nam Đế". Ảnh: Báo Thái nguyên Công lao và sự nghiệp của vua Lý Nam Đế đã khá rõ ràng, tuy nhiên, cho tới nay sử sách vẫn không cho biết quê hương cụ thể của vị anh hùng dân tộc họ Lý ở đâu. Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, giới sử học đã quan tâm nghiên cứu nhưng chưa có sự thống nhất cao. Trước nay có 3 thuyết về quê hương của vua Lý Nam Đế, gồm Quốc Oai (Hà Nội), Thái Thụy (Thái Bình), Phổ Yên (Thái Nguyên). Dựa trên cơ sở tư liệu điền dã thực địa ở các vùng: xã Tiên Phong - huyện Phổ Yên và huyện Thái Thụy, kết hợp với thần tích, truyền thuyết… còn lưu giữ tại các xã Giang Xá, Lưu Xá (huyện Hoài Đức), 27 tham luận tại hội thảo đưa ra nhận định vua Lý Nam Đế có quê gốc ở thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên ngày nay. Vũ Hoa http://www.baothaing...e-202701-3.html
  22. khá phá hình khắc trên phiến đá cổ đại Hà Giang - Việt Nam Các nhà khoa học tìm thấy những hình khắc cổ trên đá ở huyện Xín Mần, Hà Giang. Họ cho rằng, đây là những hình khắc được tạo tác qua nhiều thời kỳ, niên đại. >> Di sản vô giá trên cao nguyên Đồng Văn Nghiên cứu những hình khắc thú vị này một lần nữa cho thấy, Hà Giang - tỉnh miền núi biên giới cực bắc của Tổ quốc là một vùng đất cổ, có bề dày lịch sử, diện mạo văn hoá mang sắc thái riêng, độc đáo. Không cùng niên đại với các hình khắc cổ khác Ở Việt Nam những dấu tích nghệ thuật tạo hình thời tiền sử tìm thấy khá ít. Trước đây, tại hang Đồng Nội tỉnh Hoà Bình, các nhà khảo cổ Pháp đã tìm thấy trên vách hang những hình khắc mang tính ước lệ về động vật và khuôn mặt người. Theo một số nhà nghiên cứu, đó là những tác phẩm tạo hình sớm nhất ở nước ta hiện nay, thuộc giai đoạn sớm của thời đại đá mới, có tuổi cách nay gần 10.000 năm. Khi so sánh, kỹ thuật đục khắc ở Xín Mần thuần thục và tiến bộ hơn do vậy không thể xếp tương tương với Đồng Nội mà phải muộn hơn. Năm 1925, học giả người Pháp V. Goloubew đã phát hiện được bãi đá cổ Sapa ở tỉnh Lào Cai. Sau này, các nhà khoa học đã nhận định khu chạm khắc cổ này có nhiều niên đại khác nhau từ thời Đông Sơn đến thế kỷ 18 và cả những niên đại mới đây nữa. Khi so sánh nghệ thuật cổ Xín Mần với Nghệ thuật khắc trên bãi đá cổ Sapa thấy có một số điểm gần gũi trong phong cách tạo hình và mô tip đề tài thể hiện. Đó là những vạch khắc song song, hồi văn hình tròn, các lỗ vũm, biểu tượng sinh dục nữ… Điều này cho thấy giữa chủ nhân bãi đá cổ Xín Mần và Sapa có mối liên hệ với nhau. Tuy nhiên giữa chúng cũng có những điểm khác nhau như ở Xín Mần không có những nét khắc uốn lượn phóng túng mang tính sơ đồ, hoặc hoạ tiết hoa văn hình dăm cối đá, hoặc những ô hình vuông khắc chìm như ở Sapa. Ở Sapa chưa tìm thấy những vòng tròn đồng tâm bên trong có nhiều lỗ khoét, hoặc đồ án hình bàn chân người. Chính những khác biệt trên là cơ sở để thấy những hình khắc ở Xín Mần cổ xưa hơn hình khắc Sapa. Cần có phương án bảo vệ, nghiên cứu Mặc dù chưa xác định được chính xác chủ nhân các hình khắc, nhưng có thể thấy là chế độ mẫu hệ còn giữ vai trò quan trọng trong nhóm tộc người sáng tạo các hình khắc cổ Xín Mần, điều này thể hiện rất rõ qua biểu tượng sinh thực khí của nữ giới. Ngoài ra, các hình khắc không được tạo tác cùng thời, bằng chứng là có những hình khắc vẽ chồng lên nhau hoặc đan xen nhau. (Vết khắc hình bàn chân người) Do còn nhiều hạn chế về điều kiện làm việc, việc điều tra khảo sát nghiên cứu khu vực bãi đá cổ Xín Mần chưa được tiến hành trên diện rộng. Hy vọng trong thời gian tới sẽ có nhiều cơ quan chức năng, nhà nghiên cứu dành công sức, trí lực để khám phá và nghiên cứu khu bãi đá cổ Xín Mần. Qua đó có thể làm rõ được nghệ thuật tạo hình cổ ở Việt Nam. Di tích bãi đá cổ thuộc địa phận thôn Nấm Dẩn, xã Nấm Dẩn, nằm cách suối Nậm Khoòng 50m. Các tảng đã có bề mặt khá bằng phẳng, với hơn 80 hình chạm khắc và kích cỡ khác nhau. Dựa vào phương pháp phân loại hình thức các nhà khoa học tạm chia thành nhóm: họa tiết; hình hồi văn hình vuông và hình tròn; vạch đục khắc song song; những biểu tượng sinh thực khí; nhóm hình bàn chân người; nhóm hình người; và nhóm chưa xác định được hình dáng và ý nghĩa cụ thể. Để tạo những hình khắc này, người xưa đã sử dụng kỹ thuật đục khắc còn rất thô sơ, dùng búa, đục trực tiếp trên bề mặt tảng đá. Những rãnh đục này thường có mặt cắt hình lòng máng, bề rộng miệng khoảng từ 1cm-2cm, sâu từ 0,7cm-1cm. Các hình khắc có thể được phác họa trước, đặc biệt là những hình tròn. http://bocau.net/blog/
  23. Lăng mộ cổ hình lổ khóa ở Nhật Bản A comparison between Nintoku’s kofun, the Great Pyramid in Giza, and the Mausoleum of the first Qin Emperor of China (From the Sakai City Museum) The largest burial mound in the world The Kofun Period (250-538 CE) was the third period of human history in Japan, following the Jomon (14,000-400 BCE) and Yayoi (400 BCE-250 CE) Periods. During this time, colossal tomb-mounds called kofun were constructed for Japanese nobles, members of the imperial family, and powerful members of the central government, thus giving the period its name. While several styles of kofun existed, the most impressive consisted of a terraced cone abutted by a long trapezoidal platform, giving these tombs the aerial profile of a traditional keyhole. The largest kofun, or tumulus, is Daisen-ryo, built in the early 5th century for Emperor Nintoku, the 16th emperor of Japan. Nintoku’s expansive keyhole tomb lies in what is now Sakai City in the southern part of Osaka Prefecture. Covering an area of 32 hectares (79 acres), Daisen-ryo is the largest burial mound in the world, estimated to have taken 16 years and 6.8 million man-days of labor to complete, and is said to contain a greater volume of material than the Great Pyramid of Giza. At 486 m (1594 ft) in length, the mound is in fact twice as long as the base of the Great Pyramid, though at 35 m (115 ft) tall, it is only about one-quarter the height. The tumulus is surrounded by three moats, the soil from which was used to build the mound itself. When it was constructed, the kofun’s three-tiered slopes were covered with stone and grass, with small terracotta figures, called haniwa, lining each terrace, while platforms for religious ceremonies called tsukuridashi were built on either side of the narrowest part of the tomb. In an attempt to reduce erosion and weather damage, natural forestation has been allowed to take place on the tomb over the last century, and now the kofun’s entire 2.7-km (1.7 mile) perimeter is surrounded by a dense forest breached at only a single point, where visitors may approach no further than the near end of a bridge placed across the second moat. The ancient emperor’s tomb is announced by a single small torii gate standing at the terminus of a carefully-raked gravel path, beyond which the burial mound peeks out in the guise of a forested hillside. The only view visitors can get of the kofun Nobody is supposed to have crossed the inner moat since a typhoon in 1872 damaged the front of the tumulus, leading to the discovery of a large stone coffin, glass tableware, and gold and copper swords and armor. The Boston Museum of Arts still holds artifacts said to have been excavated from the site. However, the rear conical mound has never been opened, and given certain inconsistencies in the historical record, historians are skeptical as to whether its occupant is actually Emperor Nintoku and not some other ancient ruler. At its height, kofun tradition spread across all of western Honshu, Kyushu, and Shikoku, even approaching the site of modern-day Tokyo, with prominent examples still in existence in Nara and Miyazaki Prefectures. However, the sixth century saw a gradual decline in kofun construction, and by the seventh century the growing influence of Buddhism over the Yamato court led to the abandonment of large mounds honoring the dead, with rulers electing instead to construct opulent cities and temples to express their authority. Daisen-ryo is surrounded by a total of twelve subordinate tombs, both large and small, some of which lie directly across the street within the bounds of Daisen Park. To look at them now, many of these ancient monuments are no more than a wide bump in the ground or an ill-kempt marshy island, and without their descriptive plaques, a visitor might not even know they were there. Aerial image of Daisen-ryo, clearly illustrating the keyhole shape Daisen Park also houses the Sakai City Museum, where visitors can find a reasonable collection of local artifacts, including haniwa and pottery excavated from nearby tumuli, in addition to a variety of displays illustrating the region’s development into a prosperous port city in the Middle Ages. The park and kofun are both a 10-minute walk west of Mozu station on the JR Hanwa line (32 minutes from Osaka if you catch the airport express and change at Mikunigaoka, ¥360). Museum entrance is a reasonable ¥200. Daisen-ryo is not to be visited for the view. There is, in essence, nothing to be seen, and the tomb is now most prominently used as a perimeter around which to jog. But the sense of being in the presence of something so old, illustrating both the indelible longevity of power and the humility impressed upon it by time, resonates with a depth beyond anything that can be captured by the eyes. http://www.thekanert.com/writing/japan-travel/nintoku-s-tomb/
  24. trời cũng là nghiệp, nghiệp cũng là trời đấy.
×
×
  • Create New...