-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
Chuyện cung đình Việt Nam lên báo Trung Quốc Trang Tân Hoa Xã (Trung Quốc) đăng tải loạt ảnh thú vị về cung đình Việt Nam cách đây hơn trăm năm. Những tấm hình giúp bạn đọc khám phá thêm nét văn hóa cung đình độc đáo của người Việt thời phong kiến. Loạt hình này được sưu tầm từ những tấm bưu ảnh, chủ yếu lột tả chân thực cuộc sống của quan lại, binh lính triều nhà Nguyễn đóng đô tại Huế. Những lễ nghi truyền thống như hành lễ, múa hát nơi cung đình, hay khung cảnh cờ kiệu long trọng trong những chuyến xuất hành của quan binh đều được lột tả rất chân thực. Một viên quan đang ngồi võng. Đại thần hành lễ. Đại thần hành lễ. Khung cảnh xuất hành.
-
Quân lính Việt xưa Chủ yếu là hình ảnh quan quân thời Nguyễn. Một số hình ảnh cho thấy cách ăn vận của người xưa. Vệ binh (bộ binh) trưởng nhóm vệ binh Kỵ binh Tượng binh Súng thần công, Pháo binh sưu tầm
-
Thiền Là Cách Duy Nhất Chữa Lành Mọi Bệnh Tật
Thiên Đồng replied to Hà Châu's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
mophong nói đúng, nhưng quan trọng là nón lá hình chóp đã tồn tại trong văn hóa Việt từ lâu. Và thực tế, ngày xưa, đàn ông đội nón lá, phụ nữ đội nón quai thao. Hình của mophong là tư liệu quý minh chứng cho văn hóa Việt trong một vấn đề khác. Thiên Đồng Lính khố đỏ đội nón lá, nón chóp. Quân tượng Việt xưa đội nón lá -
Cho dù truyền thuyết kể lại hay ghi lại việc Thánh Huyền Thiên đầu thai là Thánh Gióng có là sự thật hay không thì truyền thuyết ghi nhận tức dân gian đã ghi nhận rằng người Việt từ cổ xưa đã có tục lập miếu, lập đền (hay đình) thờ thánh, tức người có công với cộng đồng, dân tộc. Vậy cần gì phải đợi đến có Đạo giáo hay có sự ảnh hưởng của đạo giáo...để nói rằng bị (do) ảnh hưởng văn hóa Tàu hay bị "phong kiến hóa"? Truyền thuyết ghi nhận Thánh Gióng đánh giặc Ân và dân Việt lập đền thờ Thánh thì chí ít thời này cũng ở cái mốc thời gian 1700 hoặc 1500 trc CN, trước cả khi Đạo giáo xuất hiện để có cái gọi là đạo quán. Lại đợi khi có tư liệu hay di vật khảo cổ.! HicThiên Đồng
-
Nếu theo cách giải thích của ông AC gọi "Đền quán" là sai thì ông AC giải thích sao với một di tích sau đây. Nếu cứ theo cách giải thích của ông AC như trên thì chắc phải gọi đây là "đền quan đôi" hay "đền quan thánh đôi", dù cho trong đó không có tượng ông Quan thánh? ====================== Đền Quán Đôi nhận bằng công nhận cây di sản 9/7/2012 2:02:47 PM Nhân dịp lễ hội truyền thống năm 2012 và hướng đến kỷ niệm 15 năm thành lập quận Cầu Giấy (1/9/1997 – 1/9/2012), sáng 9/7, ban quản lý di tích danh thắng đền Quán Đôi chính thức nhận bằng công nhận cụm ba cây là cây di sản Việt Nam từ Hội Bảo vệ Thiên nhiên&Môi trường Việt Nam. Cả ba cây sanh, đa lông, và cây đại hoa trắng được trồng trong khuôn viên đền Quán Đôi, ngôi đền tọa lạc trên bờ sông Tô Lịch, ngõ 1, Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. Kết quả điều tra xác định cây đa trước cửa đền trên 150 tuổi, chu vi 6,4 mét, cao 25 mét; cây sanh trên 100 tuổi có chu vi tổng (bao gồm toàn bộ rễ phụ) 34 mét, chu vi thân cây 2 mét, cao 13 mét; cây đại trong đền trên 200 tuổi có chu vi 1,2 mét, cao 10 mét. Ông Nguyễn Văn Ngoạn, đại diện ban quản lý di tích đền Quán Đôi, cho biết cụm ba cây được công nhận hôm nay là ba cây đầu tiên ở quận Cầu Giấy được công nhận là cây di sản Việt Nam. Hiện cả ba cây được ban quản lý, chính quyền và nhân dân trên địa bàn đặc biệt quan tâm, giữ gìn, chăm sóc, bảo tồn cùng danh lam thắng cảnh của khu di tích. Theo lịch sử ghi chép, đền Quán Đôi được xây dựng từ thời hậu Lý, thờ hoàng hậu Phương Nương và con là Dũng Vũ Cương Nghị, thống hoàng đế đại vương. Đền Quán Đôi còn lưu giữ nhiều hiện vật có gí trị như tượng gỗ, chuông đồng, và bốn cây cổ thụ, trong đó có ba cây trên 100 năm tuổi. Đặc biệt hiện tại đền Quán Đôi còn lưu giữ bảo tồn được văn bia cổ có từ thời niên hiệu Bảo Đại thứ 16. Trên văn bia ghi rõ sắc cho xã Dịch Vọng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, vốn thờ Dục Bảo Trung Hưng, hậu Lý Nam Đế Hoàng Thái Hậu bảo vệ nước cho chở cho dân có nhiều công đức, đã từng được ban cấp sắc chỉ cho phép dân thờ phụng – phải kính tuân theo. Trải qua thăng trầm của lịch sử, đền bị xuống cấp trầm trọng chỉ còn lụp xụp và kệ thờ ngay trên mộ của Mẫu và Hoàng Tử. Năm 2002, ban quản lý di tích đã kêu gọi quý khách thập phương cùng gia quyến góp phần trùng tu lại ngôi đền được khang tranh như ngày nay. Ngày 12/1/2008, đền được UBND TP Hà Nội công nhận là di tích lịch sử văn hóa thành phố. Minh Phúc (Theo vfej.vn)
-
Thưa Sư Phụ, Nhờ trích nguyên bài thông tin như vậy mà đệ tử mới thấy được những sai lầm của ông An Chi (AC) và những tồn nghi cho những cách giải thích của AC trong bài trả lời của tác giả này. Có thể khảo qua như sau: Rỏ ràng câu hỏi của đọc giả là như sau Nhưng khi phần trả lời thì ông AC lại nhầm lẫn hay có tình nhầm lẫn hay theo kiến thức của ông ta hay theo chủ trương của ông AC là như sau: THấy được rằng, rỏ ràng ông AC hoặc không đọc kỹ và trích đúng ý trong câu hỏi của đọc giả hoặc do thiếu kém hiểu biết thuộc kiến thức về lịch sử hay huyền thoại, truyền thuyết của dân tộc Việt mà ghi câu trên hoặc có một ý khác về sự thật văn hóa nước nhà. Tóm lại là có điểm tồn nghi. Đến đoạn sau thì là sự phủ định rõ ràng: Đến đoạn sau thì là "cưỡng từ đoạt lý" bằng cách giải thích về cụm từ "Đền quán thánh", ông AC biện giải hai từ "đền" và "quán" để phủ nhận cái thực tế đang có và gán cho văn hóa Tàu và gán ông Quan Công (Quan thánh) vào, nhưng thực tế là chả có ông Quan thánh nào trong đó cả. Tóm lại ông An Chi nổi tiến với câu là trích dẫn "I Chan" thì nay thấy rỏ ràng thật sự là y chan sự chủ quan của ông AN Chi. Thiên Đồng
-
Thiền Là Cách Duy Nhất Chữa Lành Mọi Bệnh Tật
Thiên Đồng replied to Hà Châu's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
@ Chim Chich Bông dĩ nhiên là có cái giống mà cũng có cái khác mà. Tròn và vuông là đã khác rồi. Và việc cái nhà và cái tháp cũng khác luôn! Haha. Thế giới nhiều bí ẩn quá à. Thiên Đồng -
Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt Nâng Cao 05
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Xác nhận học viên đóng học phí lớp Phong thủy Lạc Việt nâng cao 05 1. Mộc Bản 3.000.000đ (Học kỳ I) 2. nick??? (Nguyễn Xuân Dũng) 3.000.000đ (Học kỳ I) -
Khóa Học Phong Thủy Lạc Việt Cơ Bản 11 Năm 2012
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Xác nhận học viên đóng học phí lớp Phong thủy Lạc Việt cơ bản 11 1. Rio_Rio (Nguyễn Thị Cẩm Huyền) 2.000.000đ 2. Bình Định (Đỗ Bình Định) 2.000.000đ 3. mecutun (Trần Thị Diễm Quỳnh) 2.000.000đ 4. dbinh92Nguyễn Đức Bình 2.000.000đ 5. banhmi (Lê Văn Vân) 2.000.000đ 6. tnd (Nguyễn Đình Thái) 2.000.000đ 7. nick ? (Lục Hồng Quang) 2.000.000đ -
Thiền Là Cách Duy Nhất Chữa Lành Mọi Bệnh Tật
Thiên Đồng replied to Hà Châu's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Từ bao đời nay, dân Việt từ lâu đã thiền với chiếc nón lá Việt, hình kim tự tháp. thiền giữa đồng rộng thiền năng động giữa đời thường với chiếc nón lá từ lúc bé đã đội Thiền hành với nón lá Việt -
Huyền Thiên Trấn Vũ - Vị thần trấn phía Bắc Đền Quán Thánh, có người gọi là Quan Thánh, là một trong “Thăng Long tứ trấn”. Tương truyền được lập từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (1010). Đền Quán Thánh, thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, trấn phía Bắc kinh thành Thăng Long. Đền xưa có tên là Huyền Thiên Trấn Vũ Đại đế quán, đến năm 1823 vua Minh Mạng đổi ra là Trấn Vũ quán, năm 1842 dưới thời vua Thiệu Trị đổi ra tên hiện nay. Thánh Trấn Vũ, vị thần được thờ tại đền Quan Thánh mang tính cách vừa là của Việt Nam, vừa là của Trung Quốc. Theo truyền thuyết, Huyền Thiên Trấn Vũ là thần coi giữ phương Bắc, từng đầu thai làm con vua nước Tinh Lạc (Trung Quốc), lớn lên bỏ ngôi hoàng tử đến tu luyện trong hang ở Vũ Dương liền trong 42 năm, đã giúp người phương Bắc diệt trừ nhiều quỷ dữ, giúp dân đời Chu chiến thắng thần dịch hạch gây bệnh chết người hàng loạt, được Thượng đế phong là Đại Từ, Đại Bi, cuối cùng được phong là Huyền Thiên Trấn Vũ. Huyền Thiên Trấn Vũ sau đó sang nước Việt, giúp các vua Hùng ba lần đánh thắng giặc ngoại xâm. Đời Hùng Vương thứ 6, giặc Ân ở phương Bắc rất hung dữ đem quân xâm lấn đất nước Văn Lang. Quan quân vua Hùng đánh không nổi. Thần đã đầu thai vào một bà mẹ ở làng Phù Đổng bộ Võ Ninh, sinh ra cậu bé chẳng nói chẳng rằng, nhưng khi nghe tin sứ nhà vua đi truyền rao tìm người tài giỏi, đã tự nhiên bật thành tiếng xin sứ giả tâu lên nhà vua, xin vua cấp cho ngựa sắt nặng một nghìn cân và một cây roi sắt nặng một trăm cân. Khi nhận được ngựa sắt, roi sắt vua ban, thần đang từ là một cậu bé bỗng vươn lên thành chàng trai cao lớn dẫn đầu mấy vạn quân Nam xông lên đánh cho giặc Ân tan tành, giữ vững bờ cõi giang sơn. Sau khi đánh tan giặc, thần hóa phép ở núi Vệ Linh bay lên trời. Vua Hùng bèn phong thần là Đổng Thiên Vương và lập cho đền thờ cúng trọng thể. Theo truyền thuyết đó thì Huyền Thiên Trấn Vũ chính là Đức Thánh Gióng có công giúp vua Hùng dẹp giặc Ân mà nhân dân ta đang thờ cúng ở nhiều nơi. Cũng theo truyền thuyết vào đời Hùng Vương thứ 14, thần đã giúp nhân dân làng Bồ Đề cạnh sông Hồng trừ diệt con rùa yêu tinh từng tàn hại nhiều dân lành. Đến thời vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa để chống trả quân xâm lược Triệu Đà, có con gà trắng hóa tinh và quỷ ở vùng núi Thất Diệu thường đến quấy phá khiến nhà vua không xây được thành, thần nghe theo lời thỉnh cầu của thần Kim Quy đã giúp vua An Dương Vương trừ hết mọi tà ma, nhờ đó Loa Thành được xây nên vững chắc. Sau đó một thời gian, thần trở lại phương Bắc đầu thai làm con vua Tùy. Sang đời Đường, thần đã giúp vua Đường tiêu diệt con quỷ dữ thường gieo bệnh giết hại trẻ con Trung Quốc. Đến thời vua Lê Đại Hành, thần lại xuống đất Lỗ Lâm gần thành Long Đỗ giúp nhân dân trừ quỷ dữ. Khi bọn tướng nhà Tống là Hầu Nhân Báo và Tôn Toàn Hưng theo lệnh vua Tống đem quân sang cướp nước Đại Cồ Việt, thần đã dâng nước sông Nguyệt Đức (sông Cầu), sông Nhật Đức (sông Thương) lên cao tạo thành hào sâu ngăn cản. Thần còn hiện thành một vị tướng nhà trời cao 10 trượng, mặc chiến bào màu vàng, tay cầm ngọn giáo bằng vàng đứng trên đầu trước mặt quân Tống. Quan quân Tống trông thấy thế sợ quá hoảng hốt quay đầu vắt chân lên cổ tháo chạy. Quân Nam nhân cơ hội đó mãnh liệt truy kích quân giặc, giết chết chủ tướng giặc Hầu Nhân Bảo, bảo vệ toàn vẹn non sông. Sang đời Lý, đời Trần, thần còn xuất hiện nhiều lần giúp nhân dân diệt trừ quỷ dữ./. (Danh nhân Hà Nội/Vietnam+) Cao Sơn - Vị thần trấn phía Nam Thăng Long Thần Cao Sơn được thờ tại đình Kim Liên, một trong “Thăng Long tứ trấn”, trấn phía nam kinh thành Thăng Long. Cổng mới của đình Kim Liên (ảnh trái) và đình Kim Liên cũ Hiện nay đình nằm ở cuối phố Kim Hoa, gần ngã tư Kim Liên. Đình có tên là đền Kim Liên hoặc đền Cao Sơn (gọi theo tên làng - theo tên vị thần được thờ).Văn bản cổ nhất về di tích này (niên hiệu Hồng Thuận 3 - 1510) gọi tên đình là “Cao Sơn đại vương thần từ” (đền thờ thần Cao Sơn đại vương). Theo tư liệu và công tác khảo sát thực tế, thì hiện nay ít nhất là có tới bốn vị Cao Sơn: 1- Theo thần tích Tản Viên, Cao Sơn, Quý Minh được thờ ở làng Đông Xã nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ thì đó là ba anh em con chú bác ruột. Tản Viên tên thật là Nguyễn Tuấn, Cao Sơn tên thật là Nguyễn Hiển và Quý Minh tên thật là Nguyễn Sùng. Hiển và Sùng là con chú ruột của Tuấn. Họ quê ở động Lăng Xương (nay thuộc huyện Thành Thủy, tỉnh Phú Thọ) sau được tiên trao cho phép tắc, giúp vua Hùng Vương thứ 18 nhiều phen đánh thắng Thục Phán. Đó là một Cao Sơn còn được coi là ngự ở ngọn núi bên trái của ba ngọn Ba Vì (Tản Viên ở giữa, Cao Sơn bên trái, Quý Minh bên phải). 2- Cao Sơn thứ hai theo thần tích làng Kim Liên thì lại là một trong 50 người con của Lạc Long Quân - Âu Cơ. Đền thờ chính hiện nay ở huyện Phụng Hóa, nay là Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Theo bia “Cao Sơn đại vương thần từ bi minh” dựng năm Nhâm Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (1772) cho biết khi các bộ tướng của Lê Tương Dực là Nguyễn Văn Lữ, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Hoàng Dụ đem quân từ Thanh Hóa ra Bắc diệt Lê Uy Mục, đến giữa cánh rừng có một ngôi đền cổ mang bốn chữ “Cao Sơn đại vương”, rất lấy làm kinh ngạc, bèn vào đó khấn cầu được thần phù trợ và trận đó toàn thắng, nên sau đó xây lại đền thờ Cao Sơn. Sau đó bài vị trôi ra sông Cái, dân làng Kim Liên rước về thờ. Các đời phong Cao Sơn đại vương trấn phía nam kinh thành. 3- Vị Cao Sơn thứ ba được thờ ở làng Lương Nhân, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương lại là một vị thần chuyên chữa bệnh đậu mùa cho dân. Trong một lần dân làm lễ cầu hỏi tên thì thần nhập đồng nói tên là Cao Sơn. 4- Một vị Cao Sơn nữa vốn là người Tàu. Thần tích Đình Đại (Bạch Mai - Hà Nội) kể rằng: Thần họ Cao tên Hiển, tự là Văn Trường, cha là Cao Khánh người Tàu ở vùng núi Bảo Đài, quận Quảng Nam. Do bên Tàu loạn lạc, ông Khánh sang nước Nam, ngự ở Trường Yên, lấy vợ người làng Quang Liệt là bà Trần Thị Tố. Ông bà nhân hậu, sinh được một người con trai ngày 16 tháng 3 Kỷ Tị, đặt tên là Hiển. Năm cậu 7 tuổi thì mẹ mất. Làm tang xong, cha đem con về Tàu. Cậu học thầy Chu Đường, 27 tuổi đi thi đỗ tiến sĩ, bổ châu mục Ích Châu. Lúc đó ở ta Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, vua sai Hiển công sang trừ họ Hồ. Công đóng đồn ở Hồng Mai (tức là Bạch Mai, nay là chỗ Đình Đại) và dẹp trừ được họ Hồ. Sau đó ông lại về Bắc, được vua Tàu phong Cao Sơn đại vương, ông tu ở núi Bảo Đài, thọ 103 tuổi. Thực ra ông Cao Sơn người Tàu không chỉ được thờ ở Bạch Mai mà còn ở một số nơi khác ở nội thành, như đình Đồng Tâm. Tóm lại có tới bốn ông Cao Sơn - riêng ông Cao Sơn Tàu có tên trùng với ông Cao Sơn em Tản Viên đều là Hiển và ông bố là Cao Khánh ngụ ở Trường Yên tức gần Phụng Hóa, Nho Quan; nơi cũng có đền thờ Cao Sơn. Sự rối ren đan xen này thật khó giải thích và bóc tách. Có lẽ đó là tính dị biệt của văn học dân gian./. (Danh nhân Hà Nội/Vietnam+) Linh Lang - Vị thần trấn phía tây Thăng Long Linh Lang đại vương là thần hiệu của Hoàng Lang, một hoàng tử thời Lý. Ngài được thờ ở đền Voi Phục, nay tọa lạc tại phường Ngọc Khánh quận Ba Đình, xưa thuộc làng Dịch Vọng, sau gọi là trại Thủ Lệ. Đền Voi Phục xưa Đền Voi Phục nay Ban thờ Linh Lang đại vương Voi phục Dân làng này được vua cấp ruộng, miễn sưu thuế, phu phen để chuyên lo hương khói, “giữ lệ”, thờ cúng ngài. Chính vì vậy nơi đây lưu giữ nhiều thần tích về ngài. Tương truyền ông bà ngoại của ngài là người đất Bồng Lai (nay thuộc Đan Phượng). Ông Nguyễn Thái Công (hay Nguyễn Thực) và bà Dương Thị Triệu (hay Lê Thị Năng) là người tu nhân tích đức, sinh hạ một gái là Nguyễn Thị Hương (hay Nguyễn Thị Hạo) vào 10/2 năm Canh Thìn. Sau khi cha qua đời, mẹ con bà bèn ra Thị Trại ở cùng một bà dì làm nghề buôn tơ lụa. Đến khi nàng Nguyễn Thị Hương vừa tròn 19 tuổi, xinh đẹp như tiên, chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn. Một hôm vua Lý Thánh Tông ra ngoại thành du ngoạn. Nhân dân đổ ra đường nghênh đón, Nguyễn Thị Hương cũng tham gia đứng bên đường đón vua. Lý Thánh Tông nhìn thấy cô gái xinh đẹp bên vệ đường, bỗng đem lòng yêu mến. Nhà vua sai quan đến thăm hỏi và sau đó đem 100 lạng vàng làm sính lễ rước nàng về cung làm cung phi thứ bảy. Nhà vua xây cho nàng một cung điện ở Thị Trại, tức khu vực Thủ Lệ ngày nay. Đến năm Giáp Thìn, tức năm 1064 sinh hạ hoàng tử Hoàng Lang vào giờ Tí ngày 10 tháng Giêng âm lịch. Vua ban cho tên là Hoàng Lang, hoàng tử thứ tư. Đến năm 1076, nhà Tống sai Triệu Tiết, Quách Qùy và 9 tướng Hồng, Châu, Vũ, Nhị, Dư, Tĩnh, Hoàng, Vĩnh, Trịnh mang quân sang xâm chiếm Việt Nam. Lý Thường Kiệt dẫn quân đánh bại quân Tống ở sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay). Thần tích ghi Hoàng Lang đánh giặc Vĩnh Trịnh, có thể là đã giao chiến với cánh quân của hai tướng Vĩnh, Trịnh trong đoàn quân của Triệu Tiết, Quách Quỳ… Thần tích đã huyền thoại hóa Hoàng Lang như Thánh Gióng, đang còn nằm ngửa mà nghe tiếng sứ giả đến trại rao hỏi cầu hiền đánh giặc bèn ngồi dậy cất tiếng nhận lời đánh giặc, xin vua một con voi, một lá cờ, một cây dáo lớn rồi vươn mình cao 9 thước, nhảy lên mình voi xông trận đánh tan quân thù. Dân Thị Trại ứng mộ 121 dũng sĩ gồm người các họ Đinh, Nguyễn, Đặng, Trương; trong số đó có hai tướng Lê Công Bảo (hay Công Xứ) và Hoa Công Hoàng nay vẫn có tượng thờ cùng Linh Lang trong đền Voi Phục. Sau khi chiến thắng quân giặc trở về thì Hoàng Lang được nhà vua ban thưởng. Truyền thuyết ghi ngài ném cây cờ lên trời, hễ cây bay đến đâu thì vua sẽ ban cho được thờ ở đó. Cho nên có 269 nơi có đền thờ Linh Lang. Hiện nay còn thấy được thờ ở Hà Tây, Nam Hà, Nam Định, Thái Bình… Trong số thần tích hiện nay đã thu thập được thì có 88 văn bản về Linh Lang; Thái Bình 11 bản, Hà Nội 8 bản, Hà Tây 25 bản, Nam Hà 19 bản, Nam Định 6 bản, Hải Dương 2, Bắc Ninh 1, Phúc Yên 2, Bắc Giang 1, Phú Thọ 5, Thanh Hóa 3, Hưng Yên 5. Như vậy cũng phản ánh tính phổ biến của Linh Lang đại vương. Hoàng Lang mắc bệnh đậu mùa và qua đời ngày 20/7. Truyền thuyết cho ngài hóa ngay sau khi sinh một năm. Tương truyền đền Voi Phục đầu tiên được xây dựng năm 1065, về sau trùng tu nhiều lần. Đến năm 1947 giặc Pháp đã đốt đền cũ. Đền hiện nay vừa mới xây dựng lại. Hoàng Lang được phong Đô Cảnh thành hoàng quốc vương thiên tử Linh thần đại vương tức Linh Lang đại vương. Thần hiệu này hàm ý nói Linh Lang là vị thành hoàng của Thủ đô - Đô Cảnh thành hoàng - địa vị ngang hàng vua - Quốc vương thiên tử. Chính vì vậy, đền thờ Linh Lang trở thành một trong Thăng Long tứ trấn. Lịch sử ngài tuy không được ghi vào chính sử, nhưng nhân dân đã dùng hình thức văn hóa dân gian thiên hóa ngài để tỏ lòng tôn kính và biết ơn đời đời truyền tụng. Thần thoại không phải là sử sách, không thể nghiên cứu như tư liệu sử học. Nói chung chỉ có thể khẳng định vào đầu thời Lý có một nhân vật lịch sử có công với dân với nước được nhân dân và nhà nước phong kiến tôn thờ. Hoàng Lang là một nhân vật lịch sử sinh sống vào khoảng năm Giáp Thìn năm 1064. Nhưng dù thần tích đa dạng như thế nào thì đất phát tích của Linh Lang vẫn là Thăng Long. Linh Lang vẫn là danh tướng đã bảo vệ Thăng Long chống ngoại xâm, có thể trong trận chống quân Tống năm 1076 mà cũng có thể không phải là trong trận đó, là thành hoàng thủ đô Thăng Long. Vì thế đền Voi Phục đã thành một trấn (trấn phương Tây) trong Thăng Long tứ trấn và là một di tích quan trọng thuộc Thủ đô Hà Nội./. (Danh nhân Hà Nội/Vietnam+)
-
Khóa Học Phong Thủy Lạc Việt Cơ Bản 11 Năm 2012
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Xác nhận học viên đóng học phí lớp Phong thủy Lạc Việt cơ bản 11 1. Rio_Rio (Nguyễn Thị Cẩm Huyền) 2.000.000đ 2. Bình Định (Đỗ Bình Định) 2.000.000đ 3. mecutun (Trần Thị Diễm Quỳnh) 2.000.000đ 4. Nguyễn Đức Bình 2.000.000đ 5. banhmi (Lê Văn Vân) 2.000.000đ 6. TND (Nguyễn Đình Thái) 2.000.000đ -
Khóa Học Phong Thủy Lạc Việt Cơ Bản 11 Năm 2012
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Xác nhận học viên đóng học phí lớp Phong thủy Lạc Việt cơ bản 11 1. Rio_Rio (Nguyễn Thị Cẩm Huyền) 2.000.000đ 2. Bình Định (Đỗ Bình Định) 2.000.000đ 3. mecutun (Trần Thị Diễm Quỳnh) 2.000.000đ 4. Nguyễn Đức Bình 2.000.000đ -
Tìm Hiểu Trang Phục Và Trang Sức Người Việt Đầu Thế Kỷ Xx
Thiên Đồng posted a topic in Cổ Văn Hoá Sử
Tìm hiểu trang phục và trang sức Việt đầu thế kỷ XX Chiều tối 8/2/2012, tại Trung tâm Văn hóa Pháp tại Huế (số 1 Lê Hồng Phong, TP Huế) đã diễn ra triển lãm ảnh “Trang phục và trang sức truyền thống người Việt đầu thế kỷ XX” do hội “Những người bạn của Huế xưa” tổ chức. Triển lãm đã trưng bày 400 bức ảnh về truyền thống và trang sức người phụ nữ của người Việt Nam trên khắp ba miền đất nước. Đây là những hình họa được được tập hợp trong ấn phẩm có nhan đề “Tập hợp hình họa Đông Dương” do nhà sách Paul Geuthner, Paris ấn hành. Điều thú vị, các hình họa được triển lãm lần này được các học viên của Trường Mỹ Thuật Gia Định, lúc bấy giờ do ông J.Gustave Besson điều hành, ông đồng thời cũng là thanh tra của các trường Mỹ thuật Nam kỳ được thực hiện từ năm 1934 đến 1937. Nội dung bức ảnh chủ yếu giới thiệu trang phục quần áo, khuyên tai, dép, guốc… với sự đa dạng ở phong cách và kỹ thuật sử dụng (vẽ, bút chì, màu nước, mộc bản…) nhằm giới thiệu Đông Dương truyền thống qua hình ảnh do các học viên của trường khi được đi đến các nước khác nhau, trong đó, các hình ảnh về Việt Nam chiếm gần 70% còn lại là của Campuchia và Lào. Triển lãm ảnh trang phục và trang sức người Việt đầu thế kỷ XX kéo dài từ nay đến hết ngày 4/3/2012. Một số hình ảnh tại buổi triển lãm trang phục và trang sức người Việt đầu thế kỷ XX: Tang lễ những năm 1934-1935. Buôn bán ở Trung Kỳ 1934-1935. Họp chợ ở Nam Kỳ những năm 1934-1935. Trang phục người Ê Đê năm 1934-1935. Kiểu tóc của người phụ nữ Nam Kỳ những năm 1934-1935. Trang phục trong lễ cưới của những người Nam Kỳ năm 1934-1935 Trang phục của người Ê Đê Trung Kỳ những năm 1934-1935. Nam Kỳ - Nhạc công và người xem ở chợ năm 1935. Nam Kỳ - Nhạc công và người xem ở chợ năm 1935. Trang phục của thầy đồ những năm 1934-1935. Kiểu tóc của người nông dân Nam Kỳ những năm 1934-1935 Người nông dân Bắc Kỳ mặc áo tơi những năm 1934-1935. Trang sức của vùng Thượng du Bắc Kỳ Trang phục của dân tộc Mèo - phụ nữ Man đỏ Sa Pa năm 1934-1935 Hình họa giới thiệu triển lãm. Tin, ảnh: Huế Thương http://www.petrotimes.vn -
Chúc Mừng Sư Phụ Và Các Ace Nhân Ngày 20 - 11 - 2012
Thiên Đồng replied to thanhphuc's topic in Tâm Sự - Giao Lưu
Nhân ngày nhà giáo Việt Nam, kính chúc Sư Phụ và các anh chị em khang thịnh, bình an và văn hiến Việt vinh hiển. -
Ái chà chà, Thiên Đồng cũng mắt tròn mắt dẹt không để ý mà người vẽ tranh thiệt là...hết biết nói sao luôn! Nhưng tìm trên mạng rồi mà không có tranh Phật di Lặc với 6 trẻ nhỏ. Hic
-
Ngũ Trí Như Lai Ngũ Trí Như Lai là ngũ phương Phật tượng trưng cho 5 phương , đông, tây, nam ,bắc , trung tâm; 5 bộ : Bảo bộ , Liên hoa bộ , Kim cang bộ , Nghiệp bộ , Phật bộ; 5 sắc : xanh, đỏ, vàng, trắng, đen...; mà nội dung chính yếu là 5 trí chuyển hóa từ 5 uẩn. Hình : Ngũ phương Phật theo Thai Tạng Giới Mạn đà la Ngũ phương Phật tượng trưng cho Ngũ uẩn không còn bị chấp thủ trong một bản ngã, gọi là Ngũ trí Như Lai : Ở trung ương, đức Tỳ Lô Giá Na tượng trưng Sắc uẩn và cũng là Pháp giới thể tính trí. Đông phương là Phật Bất Động hay A Súc Bệ, tượng trưng Thức uẩn đã chuyển thành Đại viên cảnh trí. Nam phương là Phật Bảo Sinh, tượng trưng Thọ uẩn đã chuyển thành Bình đẳng tính trí. Tây phương là Phật A Di Đà, tượng trưng Tưởng uẩn đã chuyển thành Diệu quan sát trí. Bắc phương là Phật Bất Không Thành Tựu, tượng trưng Hành uẩn đã chuyển thành Thành sở tác trí. Mật tông khi truyền sang Trung Quốc còn chịu ảnh hưởng Dịch lý, nên Ngũ phương còn tượng trưng Ngũ hành trong Dịch học. Theo ý nghĩa đó, trong Phật giáo Mật tông Ngũ phương Phật là một hệ thống phối trí chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ pháp hết sức thâm diệu; và là sự phối hợp giữa ngũ phương, ngũ trí, ngũ Phật, ngũ bộ và ngũ hành (sắc của -) trong Thai Tạng Giới Mạn đà la và Kim Cang Giới Mạn đà la. Do đó đàn tràng ngũ phương cũng được lập hai cách khác nhau : + Lập theo Thai Tạng Giới Mạn đà la : 1/ Trung ương : Tỳ Lô Giá Na (Ðại Nhật Như Lai) Hiển thân sắc màu vàng, đối diện bàn Giác Hoa. 2/ Phương Ðông : A Súc Phật (Bất Ðộng Như Lai) Hiển sắc màu xanh, trở mặt vào bàn trung ương. 3/ Phương Tây : Phật A Di Ðà. Hiển sắc màu trắng, trở mặt vào bàn trung ương. 4/ Phươmg Nam : Bảo sanh Phật. Hiển sắc màu đỏ, trở mặt vào bàn trung ương. 5/ Phương Bắc : Bất Không Thành Tựu Phật. Hiển sắc màu đen, trở mặt vào bàn trung ương. + Lập theo Kim Cang Giới Mạn Ðà La: 1/ Trung ương : Tỳ Lô Giá Na Phật - Phật bộ. Pháp giới thể tánh trí, thân sắc màu trắng. 2/ Phương Ðông : A Súc Phật - Kim Cang bộ. Ðại viên cảnh trí, thân sắc màu xanh hoặc màu lam. 3/ Phương Tây : A Di Ðà Phật - Liên Hoa bộ. Diệu quan sát trí, thân sắc màu đỏ. 4/ Phương Nam : Bảo Sanh Phật - Bảo bộ. Bình đẳng tánh trí, thân sắc màu vàng. 5/ Phương Bắc : Bất Không Thành Tựu Phật - Yết Ma (Nghiệp) bộ. Thành sở tác trí, thân sắc màu lục. Sở dĩ có sự khác biệt về thân sắc của ngũ phương Phật là do nhiều nguyên nhân như: Truyền bá đến các nước Phật giáo bằng nhiều đường khác nhau, ảnh hưởng truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc, tiến trình kết cấu và phát triễn Mạn Ðà La.v.v...Ngoài ra ấn tướng của chư Phật trong ngũ phương cũng có khác nhau theo sự phát triễn không ngừng của triết học Mạn Ðà La. Nhưng đây chỉ là những dị biệt nhỏ về hình thức, còn nội dung và mục đích tu chứng hoàn toàn không có gì thay đổi. Con người là một tiểu vũ trụ đầy đủ tất cả tiềm năng của đại vũ trụ bên ngoài, vì được cấu tạo bởi cùng những nguyên tố là địa thủy hỏa phong, và cũng theo những quy luật âm dương ngũ hành như vũ trụ. Vì tự giam mình trong cái vỏ cứng của sự chấp thủ, gọi là năm thủ uẩn, ta tự tạo ra một bản ngã hẹp hòi mà chỉ là ảo tưởng, và bản ngã ấy cứ ràng buộc lên xuống qua lại trong các nẻo luân hồị. Vì bản ngã đã phi thực, nên khổ cũng phi thực, chỉ như người và cảnh trong mộng. Khi tỉnh mộng rồi ta mới biết cái "tôi" trong mộng và những gì cái "tôi" ấy kinh nghiệm trong mộng đều không thực có. Giải thoát là lìa chấp thủ, khi hết chấp thủ vào một cái tôi riêng rẽ, thì con người và vũ trụ là một. Ngũ uẩn thành ngũ trí Như lai, nghĩa là thành những năng lực độ tận chúng sinh . Nhưng chúng sinh vốn là Phật, chỉ vì chấp thủ mà thành chúng sinh, cho nên trong việc "cứu độ" của Phật, cần có sự hợp tác chặt chẽ của chính những chúng sinh được cứu. Trong không gian luôn luôn có những luồng điện đủ các tần số đang phát sóng, mỗi chúng sinh ví như một cái radio, cần phải bật lên và vặn đúng tần số mới nghe được. Sự tu tập và cứu độ trong Mật tông căn cứ trên nguyên lý ấy. Tính Không, nguyên lý nòng cốt của mọi sự, gọi là Pháp giới, nằm ở trung tâm. Nó là chỗ phát xuất và chỗ trở về của vạn pháp trong vũ trụ. Tương tự nguyên lý Dịch, từ thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh ra bát quái, từ bát quái biến ra 64 quẻ cho đến vô cùng tận, một đồ hình Mật tông cũng thế, tất cả Phật, Bồ tát, thiện thần, hung thần đều là hóa thân của Kim cương tát đỏa, và Kim cương tát đỏa là hóa thân của đức Tì lô giá na. Năm Phật ở năm phương chỉ cần ngồi đấy không cần phải làm gì cả, nên thường gọi là Phật thiền (Dhyàni Buddhas). Hành động phóng quang cứu khổ, vân vân, đã có các hóa thân thành hai mặt đối kháng như lành và dữ, nam tính và nữ tính, vân vân. Cho nên hai bên mỗi vị Phật thường có hai Bồ tát hầu cận, tượng trưng hai nguyên lý đối nghịch ấy, như lưỡng nghi sinh từ Thái cực. Phật không làm gì, nhưng không có Phật – tức vượt lên các đối cực - thì không xong việc gì cả. Ngài an tọa ở đấy nhưng cứu độ được cả mười phương chúng sinh, khi chúng sinh nâng cao tâm hồn đủ để bắt gặp những tần số rung động của các hóa thân Phật. Ta có thể ví chư vị Phật thiền ở ngũ phương giống như những yếu tố xúc tác (catalyst) trong hóa học, một hiện diện vô hành nhưng rất cần thiết. Lá xanh cần mặt trời như thế nào, thì chúng sinh cũng cần Phật như thế ấy, mặc dù Phật chỉ việc ngồi đấy mà thôi, mọi sự độ sinh đã có chư vị Bồ tát chiếu liệu. Và ở hóa thân, thì có hai mặt lành dữ, nhưng tựu trung cũng chỉ từ một căn bản. Như Bồ tát Quan Âm cứu khổ khi hóa thành Diện nhiên Đại sĩ để thống lĩnh 12 loại cô hồn thì phải có gương mặt thật dữ dằn. Tại vì chúng sinh có kẻ cần phải dùng biện pháp mạnh mới hàng phục được. Trong một Mandala đầy đủ (gồm trên 100 vị phật, Bồ tát, thiện thần, hung thần - ngũ phương Phật chỉ là cái lõm) những hung thần (như Tiêu diện) tượng trưng cho những khuynh hướng xấu ác trong tâm, hoặc sự tự trừng phạt của một lương tâm bất an do ác nghiệp; vì Phật giáo vốn không công nhận có sự thưởng phạt của một quyền năng bên ngoài. Chư thiên thiện thần chỉ đóng vai trò ngoại hộ, hỗ trợ tinh thần cho bậc tu hành, chứ không giải thoát cho ai được cả. Nhiều người xem chẩn tế hiểu lầm Mật tông là một hình thức mê tín đa thần (thần quyền), nhưng Tử thư - quyển sách mà người Tây Tạng đọc để hướng dẫn người sắp chết - luôn luôn nhắc nhở rằng, tất cả hiện tượng gì họ thấy trong tâm nhãn trước giờ chết đều do tâm biến hiện, đừng sợ hãi khiếp đảm mà cần giữ tâm chuyên nhất, hoặc hướng về ánh sáng tiếp độ của Phật thì sẽ được giải thoát. Người giữ được nhất tâm trước những hình ảnh khủng khiếp gọi là giải thoát nhờ thiền định, hay tùy pháp hành, còn người nhờ niệm Phật, sám hối mà không sợ hãi và cuối cùng nhận ra các hiện tượng đó đều do tâm tạo, thì gọi là giải thoát nhờ đức tin, hay tùy tín hành. Nhưng thiền định hay đức tin đều do tự mình khổ công đào luyện suốt cả đời may ra mới công hiệu khi chạm mặt với cái chết. Thần chú (mantra) cũng như chủng tự mỗi vị Phật liên hệ đến một màu sắc khác nhau, như Tỳ Lô Giá Na màu vàng, A Súc Bệ màu xanh, Bảo Sinh màu đỏ, A Di Đà màu trắng, Bất Không Thành Tựu màu đen hay lục. Sự đọc chú, tâm tập trung quán tưởng là điều kiện cần thiết để có cảm ứng chuyển được vật và triệu thỉnh được thần. Điều này có vẻ huyền bí nhưng kỳ thực chỉ là một sự nối dài của nguyên lý vật lý mà ta đã biết về âm thanh đến một tần số nào đó có thể làm vỡ kính, hay một ví dụ khác, người Việt khi nghe tiếng "me chua" thì chảy nước miếng. Nếu không để ý, hoặc phát âm thành "mè" hay "mẻ" thì không có tác dụng gì cả. Theo cuốn Tử thư của người Tây Tạng, một người mới tắt thở, nếu suốt đời đã tu chứng cao, có trí tuệ, khi gặp ánh sáng Pháp giới (biểu trưng năng lực vũ trụ) thần thức sẽ nhập một với ánh sáng và được giải thoát ngay, không phải trải qua giai đoạn trung ấm tức là khoảng thời gian người chết biết rằng mình đã chết (thường là ba ngày rưỡi sau khi tắt thở) cho đến 49 ngày sau. Nếu vụng tu, khi gặp ánh sáng Năng lực vũ trụ, thần thức sẽ vô cùng kinh hãi, trốn chạy như trong một cơn ác mộng, và thế là lỡ mất cơ hội giải thoát. Người mới chết thường chưa biết mình chết, nên thấy bà con khóc lóc thì bực mình. Họ kêu gọi người thân đang khóc nhưng không ai nghe, mặc dù họ vẫn nghe được, biết được mọi sự xảy ra trong thế giới người sống. Sau đó, người chết rơi vào một trạng thái bất tỉnh trong ba ngày rưỡi; và khi tỉnh dậy, có một sự sáng suốt bừng lên, biết mình đã chết, và do không chịu nổi trạng thái không thân, họ toan tìm lối nhập vào một bào thai để có một thân xác. Trạng thái 49 ngày của thân trung ấm khởi đầu từ đây. Ngày thứ nhất (tức khoảng ba ngày rưỡi sau khi tắt thở), hào quang vàng của Pháp thân Tì Lô Giá Na chiếu đến cứu độ và đồng thời lại có ánh sáng cõi trời màu trắng đục chiếu đến. Ánh sáng của Phật rất xốn xang (nhất là đối với người không quen nghe kinh niệm Phật) còn ánh sáng cõi trời thì dịu hơn, thế là người ấy tái sinh lên trời. Nếu là người ác, họ có thể để tuột mất cả hai ánh sáng này, lang thang qua ngày thứ hai. Khi ấy Kim cương tát đỏa hóa thân của Phật A Súc tượng trưng Thức uẩn thuần tịnh chiếu đến ánh sáng màu xanh; ngày thứ ba đức Bảo Sinh (tượng trưng thẩm mỹ) chiếu đến ánh sáng màu đỏ; ngày thứ tư Phật A Di Đà chiếu ánh sáng màu trắng (tưởng uẩn thuần tịnh); ngày thứ năm Phật Bất Không chiếu đến ánh sáng màu lục. Mỗi lần ánh sáng cõi Phật chiếu đều có thêm ánh sáng tương tự nhưng dịu và đục cũng chiếu đến, và những ánh sáng này tương đương với các cõi a tu la, người, địa ngục, ngạ quỷ. Do vậy, người chết được nhắc nhở luôn luôn đừng đi theo những ánh sáng đục, dịu vì đấy là những nẻo luân hồi mà họ sẽ rơi vào. Hãy luôn luôn đi theo những ánh sáng chói chang của Phật. Điều này theo quy luật đồng thanh tương ứng, nếu người chết từng nặng về sắc, hay thọ, hay tưởng, hay hành, hay thức, thì khi chết sẽ đi theo những gì mà họ khoái nhất lúc sinh tiền, tượng trưng bằng những ánh sáng của Phật và các cõi. Nếu người chết vẫn trốn chạy tất cả ánh sáng, do sợ hãi và lưỡng lự, thì qua ngày thứ sáu, tất cả hóa Phật ở năm phương hướng đồng loạt chiếu hào quang đến một lần chót, tựa như một mẻ lưới cuối cùng, để cứu vớt. Kể từ ngày thứ bảy trở đi, thần thức mò mẫm qua các nẻo luân hồi để tìm một thân xác, cho đến khi gặp một hoàn cảnh thích ứng với nghiệp của nó, và như thế là có tái sinh, nhập thai và già chết như cũ nên gọi là trôi lăn hay luân hồi. Đấy là sơ lược tiến trình của một thân trung ấm qua 49 ngày sau khi chết, vì lý do đó mà có sự kết giới ngũ phương tượng trưng năng lực cứu độ của chư Phật đối với 12 loại cô hồn. Ở đây có thể khởi lên một câu hỏi: nếu không có một bản ngã, nếu là vô ngã, thì Ai luân hồi? Trả lời: không ai cả, chỉ có luật ĐỒNG KHÍ TƯƠNG CẦU vận hành ở đây. Năm uẩn khi tan rã, cái gì thuộc đất trở về đất, nước đi theo nước, hơi trở về hư không, đó là phần "sắc uẩn" tức thân xác. Phần vô hình cũng có nhiều yếu tố như thương, giận, sợ, si, thù, ghét, buồn, hận, vân vân, mỗi thứ đều có những "phóng xạ" những tần số rung động khác nhau. Nếu một người khi sống tham dục nhiều, thì phần "khí" của họ có rất nhiều phóng xạ tham dục, và sẽ bị thu hút tới những chỗ nào nhiều tham dục nhất như loài heo, nếu người ấy đồng thời không có một nghiệp lành nào, không ưa gì khác ngoài sự hưởng thụ vật dục. Con heo kiếp sau và con người kiếp trước không phải là một, nhưng quả có chịu ảnh hường của con người kiếp trước, nên cũng không thể nói là hoàn toàn khác. Cũng giống như trong một đời người, lúc sơ sinh khác hẳn lúc trưởng thành, từ thân thể cho đến tính tình, tri thức, đến nỗi ta khó mà nhận ra cả hai chỉ là một. Nếu ta ý thức sự cứu tế xã hội cần thiết trong cõi người sống như thế nào, thì trong cõi vô hình, sự bạt độ vong linh cũng cần thiết như thế ấy: "Sống làm sao, chết làm vậy". Con người không những chỉ sống bằng lý trí mà còn sống bằng tình cảm. Cúng giỗ người chết cũng như tiếp tế cho người thân ở xa, chẳng những làm ấm lòng kẻ ra đi mà còn an lòng người ở lại. Điều cần thiết là phải làm thế nào để sự cúng tế vừa hợp lý vừa hợp tình "Lý" đây là chân lý Phật đã dạy, theo đó chết chỉ là một chuyển tiếp qua đời sống khác, nếu còn ở trong vòng luân chuyển. Như vậy, rất cần chuẩn bị cho người chết một tái sinh tốt đẹp bằng phương pháp thực hành các việc phước như ăn chay, bố thí, phóng sinh nhân danh người quá cố. Dù người chết không thực sự hưởng các đồ cúng, vẫn nhờ công đức bố thí ấy mà được lợi lạc. (Theo lời Phật dạy, chỉ có kẻ đọa vào loài quỷ đói mới hưởng đồ cúng.) Huống hồ, trong một trai đàn, phẩm vật hiến cúng tuy nhiều song vẫn chưa quan trọng bằng "pháp thí", cam lồ pháp thực để cảnh tỉnh người còn kẻ khuất. Đó mới thực là cuộc lễ hội bố thí vĩ đại đem đến kết quả quốc thái dân an. Nguồn mạch tâm linh
-
Lịch Sử Kim Cương Thừa Khamtrul Rinpoche Jigme Pema Nyinjadh khai thị Con đường đạt đến giải thoát giác ngộ nhiều vô số ngoài sức nghĩ bàn của phàm tình chúng sinh. Đức Phật đã tùy theo căn cơ của chúng sinh tuyên thuyết vô lượng giáo pháp không thể tính đếm nhằm một mục đích dẫn dắt chúng sinh đạt giác ngộ. Theo Tantra Mahayoga, giáo pháp xuất phát từ tâm trí tuệ chứng ngộ của Đức Phật sẽ tùy theo căn cơ của chúng sinh lãnh hội lợi ích khác nhau. Trong đạo Phật chia ra nhiều thừa: Thanh văn thừa , Duyên giác thừa và Đại thừa. Đại thừa lại được chia thành hai thừa : 1. Nhân thừa (Hiển giáo)– chú trọng tới sự thực hành công hạnh sáu Balamật và 2. Quả thừa hay Kim cương thừa, con đường hợp nhất đại hỷ lạc và tính không. Kim cương thừa có bốn thứ lớp Tantra: Kriya Tantra, Carya Tantra, Yoga Tantra và Annutarayoga Tantra. Cũng như tất cả mọi dòng sông đều hội tụ về biển, bản chất của giáo pháp tất cả các thừa đều hội tụ trong giáo pháp Mahamudra. Bởi vậy, Mahamudra (Đại Thủ ấn), Prajnaparamita (Bát Nhã Ba-la-mật), Madhyamika (Trung luận) và Zogpa Chenpo (Đại Toàn thiện) v.v…xét về mục đích tối thượng đều không khác. Trong giáo pháp Mahamudra, có Căn bản Mahamudra, Đạo Mahamudra và Quả Mahamudra. Căn bản Mahamudra là bản chất bất nhị, hợp nhất của hết thảy vạn pháp; Đạo Mahamudra trong truyền thừa Drukpa là Sáu Pháp Yoga của Naropa và những khai thị về những thứ lớp thiền định của Mahamudra; còn Quả Mahamudra là sự chứng ngộ tự tính tâm chính đẳng chính giác. Theo lịch sử Kim Cương thừa, một lần vị vua Indrabodhi của xứ Odiyana miền Tây Varanasi đã nhìn thấy rất nhiều bậc Arahat bay thẳng trên bầu trời về phía phương Đông. Thấy tò mò và kinh ngạc, ông đã hỏi vị tể tướng là Dawa Zangpo xem những bậc Arahat đó là ai. Vị tể tướng đã thỉnh tâu rằng đó là đệ tử của đấng giác ngộ Sidhartha và họ đang tới thành phố Varanasi nơi đức Phật chuyển Pháp luân. Ngay khi nghe danh hiệu đức Phật, trong lòng vị vua tự nhiên trào dâng một niềm hỷ lạc và tín tâm vô bờ, ông nghĩ rằng nếu đệ tử của đức Phật có được những khả năng thần thông như vậy thì chắc chắn đức Phật cũng có tâm đại từ bi vô lượng và pháp thần thông vi diệu. Khi đó, vị vua ngay lập tức quỳ xuống, hướng về phương Tây và đỉnh lễ, cầu nguyện thỉnh đức Phật tới cung điện của ông vào trưa ngày hôm sau. Đức phật đã nghe thấy lời thỉnh cầu của vị vua. Ngày hôm sau, Ngài và các đệ tử, những bậc có thần thông siêu việt đã từ Varanasi bay thẳng tới hoàng cung. Vị vua đã cung đón đức Phật với lòng kính ngưỡng vô bờ và thỉnh ngài ban cho giáo pháp giải thoát luân hồi khổ đau. Mặc dù đức Phật đã biết những gì mong muốn trong tâm vị vua, nhưng ngài vẫn khuyên vị vua hãy từ bỏ tất cả mọi thứ, của cải, ngôi báu, gia đình v.v… để xuất gia tu hành, chỉ khi đó ngài mới ban cho vị vua giáo pháp giải thoát. Vị vua đáp lại: “Kính bạch đức Phật toàn tri! Tâm chúng con còn đầy năm độc nhiễu hại, nhất là ái dục, chúng con không thể từ bỏ những vui thích của giác quan được. Xin ngài rủ lòng từ bi khai thị con đường giải thoát luân hồi khổ não nhưng không phải từ bỏ những đối tượng của giác quan”. Đức phật biết rằng vị vua đã tích lũy được vô số công đức, tâm đại từ bi và trí tuệ, bởi vậy là người có thể đảm trách bổn phận hoằng dương chính pháp Kim Cương thừa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ Hóa thân thị hiện Báo thân AXúcBệ Phật, hiển lộ Mandala về Guhyasamja (Tantra Cha) và khai thị cho vị vua giáo pháp Kim cương thừa. Vị vua đã được thuyết giảng để chứng ngộ tự tính Phật trong vạn pháp, bởi vậy ông có thể quán tự thân là tứ đức Phật Vairochana, còn bốn người con trai là bốn đức Phật Thiền na, quán năm hoàng hậu là năm minh phi, còn các quan đại thần trong triều là các Bồ Tát nam và Bồ Tát nữ. Tất cả phàm thân của họ đều chuyển hóa thành sắc thân cầu vồng và ngay lập tức đều đạt giác ngộ. Thông qua giáo pháp giải thoát, toàn bộ thần dân trong thành phố cũng đều thành tựu sắc thân cầu vồng. Vùng đất đó trở thành sa mạc khô cằn và tại đây hình thành nên một hồ thiêng nơi Nagas (Long Vương) trú ngụ. Đệ tử của đức Phật, Vajrapani (Kim cương thủ) là một Arhat Kashyap đã ghi chép lại tất cả giáo pháp của đức Phật vào Những Bộ kinh điển và ban giáo pháp cho Nagas tại hồ, và Nagas thậm chí cũng tu tập Kim cương thừa và thành tựu giác ngộ. Nơi này sau đó trở thành Ugyen Khadroe Yul (miền đất của các Dakini). Sau đó, Vajrapani đã hiện thân là đức Drang Song Ugjin và ban giáo pháp Kim Cương Thừa cho chúng sinh có duyên pháp và vô số trong số họ đã đạt giác ngộ giải thoát. Bởi vậy, truyền thừa khởi nguồn từ đức Phật Thích ca, truyền xuống đức Vajrapani, Sarha, Lohipa, Dinggipa, Lodroe Rinchen, Nagarjuna, Mataki, Thanglopa, Shinglopa, Kanari, Dombipa, Binasa, Lawapa, vua Indrabodhi đời thứ II (có ba vị vua Indrabodhi trong lịch sử Kim cương thừa) và truyền xuống tới đức Tilopa và Naropa và trải qua chư tổ sư truyền thừa không gián đoạn cho tới tận ngày nay. Truyền thừa được tôn xưng là truyền thừa Kim cương thừa. Tân truyền thừa được bắt đầu từ Đại Thành tựu giả Tilopa, Ngài không chỉ thụ nhận giáo pháp từ những đạo sư trong hình tướng loài người mà đón nhận trực tiếp từ đức Phật Kim Cương trì trong cõi tịnh độ Akanishta (Sắc cứu kính thiên). Bởi vậy Phật Kim cương Trì chính là Pháp thân của đức Phật Thích ca. Kinh điển Kim cương thừa đã đề cập, trước khi đức Phật Thích ca giáng sinh trong cõi Sa bà, Ngài đã giác ngộ trong cõi tịnh độ Akanishta trong Pháp thân Phật Kim Cương Trì, sau đó thị hiện Sắc thân là Thái tử Siddharta và tiếp tục thực hành mười hai công hạnh lợi tha. Bởi vậy theo quan điểm của Đại thừa, thái tử Siddharta chính là Bồ tát ngôi thập địa, còn từ quan điểm của Kim cương thừa, đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni đã giác ngộ trước khi ngài giáng sinh là thái tử Sidharta. Bởi vậy truyền thừa giáo pháp mà đức Tilopa thụ nhận từ đức phật Kim Cương trì, truyền xuống Naropa, qua các chư tổ sư truyền thừa và tiếp tục tới tận ngày nay được tôn xưng là truyền thừa thù thắng. Truyền thừa thứ ba trong Kim cương thừa là Truyền thừa Linh kiến Thanh tịnh. Truyền thừa này dựa trên nền tảng giáo pháp được trao truyền bởi chư tổ sư truyền thừa theo linh kiến thanh tịnh của các ngài. Lấy ví dụ, Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa Tsangpa Gyare, người sáng lập truyền thừa Drukpa, đã có linh kiến về bảy đức Phật và ngài đã được thụ nhận trực tiếp những khai thị cốt tủy từ bảy đức Phật. Tương tự như vậy, Pháp vương Gyalwang Kunga Paljor đời thứ II đã có linh kiến về đạo sư Liên Hoa Sinh và thụ nhận trực tiếp giáo pháp Dzongpa Chenpo từ đức Liên Hoa sinh. Tất cả đều được tôn xưng là Truyền thừa Linh kiến Thanh tịnh. Bởi vậy, trong truyền thừa Drukpa, quan kiến hay nền tảng là Mahamudra và phương tiện thể nhập tự tính vạn pháp hay Mahamudra là con đường Sáu Pháp Yoga của Naropa và pháp tu của hành giả dòng truyền thừa là Sáu Pháp Vị Bình Đẳng, còn quả là Bảy Khai thị Nhân duyên. Giáo pháp tu tập thâm diệu nhất của truyền thừa Drukpa là Guru Yoga, đây là pháp tu tập chứng ngộ tất thảy vạn pháp là bản chất Thượng sư và thấu hiểu rằng Thượng sư vốn bất khả phân với tự tính tâm của chính mình. Nguồn: www.Khamtrul.org
-
Đức Di Lặc và ý nghĩa sáu đứa bé Mỗi mùa Xuân đến, mọi người đều in thiệp chúc Tết nhau. Trong nhà chùa nói chung, nhất là Phật giáo Bắc tông, hầu hết đều chúc nhau một mùa Xuân Di-lặc. Như vậy đức Phật Di-lặc có liên hệ gì đến mùa Xuân, mà chúng ta cầu chúc nhau như thế. Có nhiều người cho rằng ngày mồng một Tết là ngày vía đản sanh của đức Di-lặc. Tôi chưa biết đó là ngày đản sanh của Hóa thân nào, vào thời đại nào. Bởi vì lịch sử của Bồ-tát ứng thân vô lượng, làm sao chúng ta căn cứ một bề, lấy đó làm tiêu chuẩn. Chúng tôi chỉ biết một điều thật là quan trọng trên danh nghĩa Di-lặc mà chúng ta thường tụng thường nguyện. Khi chúng ta tụng: Nam-mô Long Hoa giáo chủ đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật, đó là thể theo lời huyền ký của đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni rằng, sau khi Bồ-tát Di-lặc sanh lên cung trời Đâu-suất mãn công hạnh, sẽ đến thế giới Ta-bà này thuyết giảng. Lúc tuổi thọ con người giảm tột cùng chỉ còn mười tuổi, rồi do nhờ phát tâm tu hành, gìn giữ Thập thiện, tuổi thọ tăng lên đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, chừng đó đức Phật Di-lặc ra đời. Như vậy thời gian Ngài ra đời còn xa lắm. Tôi đã từng nói mỗi đức Phật ra đời không làm việc trùng lập nhau. Bao giờ giáo lý của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, danh từ Tam Bảo không còn được biết tới nữa thì đức Phật Di-lặc mới ra đời. Đức Phật Thích-ca được gọi là Ta-bà giáo chủ, là vị Giáo chủ trong cõi Ta-bà này. Còn đức Phật Di-lặc sẽ thành đạo dưới cội Long Hoa, cho nên được gọi là Long Hoa giáo chủ. Tuy thời gian Ngài ra đời còn lâu xa, nhưng chúng ta tin rằng tương lai sẽ có Phật ra đời. Đức Phật ra đời, đó là một diễm phúc cho chúng sanh, là ngọn đuốc sáng cho nhân loại. Vì vậy khi nghĩ đến đức Phật ra đời, chúng ta cảm thấy cả một nguồn hạnh phúc an lành. Ngày mồng một Tết là ngày vía đức Phật Di-lặc, cũng là ngày hứa hẹn hạnh phúc cho chúng sanh. Hạnh phúc bằng cách giải thoát khổ đau, ra khỏi luân hồi, chớ không phải hạnh phúc trong ngũ dục tầm thường. Đầu năm Tăng Ni cùng Phật tử lễ vía đức Phật Di-lặc, Ngài là hình ảnh bên ngoài mà cũng là sự hứa hẹn ở nội tâm chúng ta. Nhớ đến đức Phật sẽ thành, chúng ta cũng nhớ luôn mai kia mình sẽ thành Phật. Vì vậy chúng ta không chỉ lạy đức Phật với lòng thành kính, mà còn cầu chúc cho nhau một mùa Xuân hứa hẹn sẽ thành Phật. Đó là ý nghĩa thâm sâu của ngày vía đức Phật Di-lặc. Bây giờ chúng ta đi vào ý nghĩa hình tượng của Ngài. Chắc rằng chúng ta ai cũng từng thấy hình tượng đức Di-lặc ở các ngôi chùa. Có khi người ta thờ Ngài với vẻ mập mạp, cười toe toét; có chỗ khác cũng thờ hình tượng như vậy mà có sáu đứa nhỏ: đứa thì chọc ngón tay vô rún, đứa thì móc lỗ mũi, đứa thì móc miệng, đứa thì dùi lỗ tai v.v... mà Ngài cứ vui cười không phiền, không chướng ngại gì hết. Tại sao như vậy? Hình ảnh đó nói lên cái gì? Điều này rất thiết yếu, chúng ta nên chú tâm như trong kinh Lăng Nghiêm, có đoạn mười phương chư Phật dị khẩu đồng âm tuyên bố cho ngài A-nan và đại chúng: “Khiến ông phải luân hồi sanh tử, chính là sáu căn của ông, chớ không phải vật gì khác; khiến ông chóng chứng Vô thượng Bồ-đề, cũng chính là sáu căn của ông, chớ không phải vật gì khác.” Như vậy cội gốc sanh tử cũng là sáu căn của chúng ta: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của chúng ta. Như vậy con đường trở về giác ngộ hay con đường sanh tử luân hồi là một hay hai? Sanh tử luân hồi cũng đi con đường đó mà Bồ-đề Niết-bàn cũng đi con đường đó, có khác nhau. Người thì đi theo chiều thuận gọi là thuận lưu, người đi theo chiều nghịch, gọi là nghịch lưu. Đi theo chiều thuận là sanh tử luân hồi, đi theo chiều nghịch là giải thoát sanh tử. Như vậy thì không có hai đường. Ví dụ chúng ta về Sài Gòn, cũng đi trên đường Vũng Tàu - Sài Gòn. Sài Gòn - Vũng Tàu cũng đi đường đó. Nhưng nói về Sài Gòn là đi trở về, nói đi Vũng Tàu là đi trở ngược ra. Chỉ khác một người đi trở ra, một người đi trở vô thôi. Khác nhau ở chỗ đó. Đường thì một mà hai người đi nghịch hoặc thuận chiều, kết quả sẽ có hai ngả khác nhau, và hai địa điểm khác nhau. Cũng như vậy, nếu sáu căn của chúng ta nếu ta thuận chiều với nó, đó là chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. Chúng ta đi ngược chiều với nó là chúng ta trở về Niết-bàn, Bồ-đề, giải thoát v.v... Nếu sáu căn đi theo sáu trần gọi là thuận lưu, đi theo chiều luân hồi. Nếu sáu căn không chạy theo sáu trần, không nhiễm, không dính, không mắc, đó là người trở về Bồ-đề Niết-bàn không đâu xa lạ. Như vậy để thấy rõ con đường tu tuy có rất nhiều, nhưng sự tu căn bản chỉ đừng cho sáu căn chạy theo sáu trần bên ngoài. Đức Phật Di-lặc là một vị Phật sẽ thành ở ngày mai do Ngài tu hạnh gì? Chính hình ảnh đó là câu trả lời cụ thể nhất. Mỗi đứa bé soi lỗ tai móc lỗ mũi của Ngài mà Ngài vẫn cười không tỏ vẻ bực dọc, không tỏ vẻ chướng ngại buồn bã. Vì vậy Ngài sẽ thành Phật chắc chắn. Còn chúng ta thì sao? Nếu ai móc lỗ tai mình thì không đánh cũng đá, không đập cũng la; móc lỗ mũi mình cũng thế... Như vậy đối sáu căn, có ai động tới thì chúng ta không chịu nổi. Chỗ không chịu nổi đó làm chướng ngại chúng ta. Sáu đứa bé gọi là lục tặc, tức là sáu đứa cướp phá phách. Nhưng thật tình chúng có phá mình hay không? Nếu bị móc lỗ tai mà mình không cảm thấy khó chịu lại thấy đã ngứa thêm thì không bị chướng ngại. Hiện tại hầu hết chúng ta đều bị chướng ngại bởi những lời nói bên ngoài. Nếu những lời chửi mắng gièm pha, nguyền rủa tới lỗ tai, mà mình coi như gió thổi lá dương cành liễu cho nó nương theo gió đi đâu thì đi, đừng vướng mắc tự nhiên mình an lành tự tại. Nếu thấy đó là lời nói thù hằn, mỉa mai sâu độc mà mình bực bội tức tối, ghi nhận nó vào với những tâm niệm hận thù, đen tối thì nó sẽ thành giặc cướp làm tan hoang của báu nhà mình. Tai nghe những tiếng khen chê hoặc là chửi bới đề cao v.v... mình cũng xem thường, vì tiếng nói không thật. Chính bản thân mình còn không thật, huống là tiếng nói bên ngoài. Tâm không động đó là mình đã thắng đứa bé móc lỗ tai rồi. Khi con mắt thấy tất cả hình ảnh phía trước, có đẹp có xấu, dù hình ảnh nào mình cũng dửng dưng không lay động không dính mắc, như vậy bao nhiêu hình ảnh dàn trải tràn trề trước mắt, mình cũng vẫn an lành tự tại. Ngược lại khi thấy một hình ảnh, mình liền cho là đẹp là xấu, đẹp thì sợ mất, xấu thì sanh tâm bực tức, thế là hình ảnh nào cũng gây phiền não hết, không có hình ảnh nào là an vui tự tại. Sự thật những hình ảnh đó có phải là phiền não không? Phiền não là tự ai? Gốc tại mình. Nếu thấy nó mà không luyến ái, không ghét bỏ, thì nó vẫn là nó. Có lỗi lầm gì đâu! Lỗi lầm là chính lòng luyến ái, lòng sân hận của mình chớ không phải hình ảnh có lỗi lầm. Khi chứa chấp sân hận, chứa chấp luyến ái, thì của báu nhà mình bị cướp mất. Con mắt đem những hình ảnh vào để cướp mất của báu nhà mình, đó là cái chướng biểu trưng qua hình ảnh đứa bé móc mắt. Còn nếu ngược lại mình không mắc kẹt, hình ảnh là hình ảnh, mình vẫn an nhiên, thì đứa bé ấy có làm gì thì làm, mình vẫn an ổn. Lỗ mũi cũng thế, ngửi mùi hôi mùi thơm đừng mắc kẹt, coi như khói như gió vừa qua mũi rồi mất, không có gì thật, thì có gì làm cho mình nhiễm, tự nhiên trong lòng được tự tại. Ngược lại, tại chúng ta si mê, cho nên mùi thơm đến thì thích, mùi hôi đến thì bực. Do đó tự mình đem giặc vào cướp của báu nhà mình, tự làm chướng ngại. Như lưỡi chúng ta nếm những vị cay, đắng, mặn, ngọt; cái nào hợp thì thích, cái nào không hợp thì không thích. Vì vậy mà chúng ta chạy tìm kiếm, khổ từ năm này sang năm khác. Mỗi khi lên mâm cơm, thấy món gì mình cảm nghĩ là hợp với lưỡi của mình thì vui, món gì không hợp thì bực. Vui và bực đó làm mình phải chướng, rồi nói lời thô ác làm cho người chung quanh không vui. Vì lẽ đó chúng ta tập cho lưỡi mình đừng tham đắm vị. Tất cả cái ngon cái dở chẳng qua là tạm mà thôi, cốt sao cho mình được an ổn tu hành là quí. Như vậy chúng ta thắng được các thứ vị, tức là đã thắng đứa bé móc miệng rồi. Tôi đã đơn cử các căn như mắt tai mũi lưỡi để thấy chúng ta tu là phải tu ngay tại sáu căn của mình, đó là các cơ quan hằng tiếp xúc với những hoàn cảnh thuận tiện làm cho mình ưa, những hoàn cảnh trái ngược làm cho mình giận. Tuy nói sáu căn chớ thật tình có năm căn quan trọng, tức là mắt tai mũi lưỡi thân, năm cửa đón tiếp bên ngoài. Mỗi khi năm căn tiếp xúc với năm trần thì ý theo đó phân biệt để thương ghét buồn giận. Vì vậy, ngay năm căn kia mà chúng ta đón nhận đúng pháp thì căn thứ sáu (ý căn) không còn trở ngại nữa. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà chúng ta mắc kẹt, nhiễm theo thì gọi là sáu đứa cướp, bởi vì kho báu nhà mình bị chúng cướp đi. Cướp bằng cách nào? Ví dụ lỗ tai nghe tiếng rồi phân biệt tiếng khen tiếng chê, sanh buồn sanh mừng là bị mất của. Của đó giặc mang đi đường nào và lấy ở đâu? Nói suông thì khó biết. Cần phải biết của mình ở đâu và dấu vết giặc mang đi đường nào, mới có thể giữ của được. Sự thật nó không mang đi đâu, đó chỉ là hình ảnh tượng trưng thôi. Nhưng chúng ta thường nghĩ khi có lấy tức là có mang đi, không ngờ nếu thật tình nó mang đi thì sau này dù có giữ cũng là giữ cái kho không còn của đâu mà giữ. Vì vậy phải biết rõ ràng là tuy nói nó cướp của mình, nhưng không cướp gì hết. Chỉ do năm căn tiếp xúc bên ngoài, rồi tâm mình xao xuyến hoặc buồn hoặc giận. Đó là những đám mây đen nổi dậy che lấp mặt trời trí tuệ của mình, gọi là đã cướp. Khi nào nghe những tiếng khen chê mà trong lòng không xao động, những đám mây đen không nổi dậy, thì mặt trời trí tuệ của chúng ta vẫn sáng rực, gọi là giữ được của báu. Khi trí tuệ chúng ta hằng sáng tỏ, lúc đó gọi là giàu. Còn nếu phút giây nào trí tuệ bị mờ tối không còn phát hiện nữa gọi là mất của báu, ta nghèo đi. Cái nghèo đó là cái nghèo tạm thời, nhưng cũng có thể là nghèo muôn kiếp. Nếu giờ phút nào bị mây phiền não che khuất thì chúng ta mất trí tuệ, nhưng khi nào chúng ta dẹp tan những đám mây đó, thì mặt trời trí tuệ sáng trở lại gọi là nghèo tạm thời. Còn cứ nuôi dưỡng những đám mây đen, hết đám này tới đám khác, dù có mặt trời trí tuệ mà cả đời vẫn sống trong đen tối. Đời này đen tối, đời sau đen tối, cứ tiếp nối như thế mãi thì không bao giờ hết nghèo. Thế nên người biết tu và không biết tu khác nhau tại chỗ đó. Dù chúng ta cũng bị cướp của báu, cũng bị mây đen che lấp mặt trời trí tuệ, nhưng chúng ta tin rằng chỉ bị che trong một phút một giây, rồi sẽ sáng lại. Vì vậy ý nghĩa Đương lai hạ sanh của đức Phật Di-lặc là một ý nghĩa hứa hẹn trong tâm chúng ta, chúng ta sẽ sáng ra ở ngày mai chớ không tối mãi. Đó phải là cái hứa hẹn thật sự chớ không phải hứa hẹn suông, hứa hẹn rỗng. Có người cũng hứa hẹn, nhưng hứa hẹn suông, nghĩa là cũng có hình thức người tu, đi chùa lễ Phật, nhưng cứ chất chứa bao nhiêu phiền não. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, cứ như thế mà dồn hết vào trong lòng. Lo kiếm những món ngon, lo chứa những mùi thơm, lo chứa những hình tướng đẹp v.v... cả ngày cứ xao xuyến lo buồn làm khuất đi mặt trời trí tuệ sáng ngời, cho nên phải chịu khổ đen tối. Còn người biết tu, khi trí tuệ bị che khuất thì hối hận, ăn năn cố làm cho tan đám mây mờ, và nguyện làm sao đừng để mặt trời trí tuệ bị che khuất phút giây nào hết. Đó là hứa hẹn thật, hứa hẹn của người biết tu, chớ không phải hứa hẹn suông. Chính chỗ thiết yếu đó mà đức Phật Di-lặc được gọi là con người hạnh phúc, con người hạnh phúc thường mập mạp vui tươi. Cái mập mạp vui tươi đó là nhờ trong lòng không có những đám mây phiền não che lấp mặt trời trí tuệ, mà dù sáu đứa giặc có móc tai, móc mũi v.v... Ngài vẫn thấy như không. Còn chúng ta thấy chướng nên trán nhăn, mày cau, mắt đỏ, gương mặt đau khổ. Cái khổ đó chính vì mình không chịu nổi sáu đứa giặc phá phách nên tự nhiên sanh ra bực dọc, khó chịu. Nếu nó phá phách mà mình không thấy chướng, thì cái phá đó trở thành đùa vui với nhau. Chúng ta không ai chẳng có sáu đứa giặc, sáu đứa cướp đó nhưng nó thành giặc hay bạn là chính tại mình. Thế nên biết tu nơi sáu căn rồi tự nhiên được an lành tự tại. Dù chưa thành Phật, hiện đời ta cũng hạnh phúc tràn trề. Ngày nào tháng nào cũng đều là ngày tháng vui tươi, năm nào cũng là năm đẹp đẽ. Vì vậy mà chúng ta hay chúc nhau một mùa Xuân viên miễn. Đó là mùa Xuân Di-lặc, mùa Xuân hạnh phúc, mùa Xuân mà trong lòng không phiền muộn lo âu. Còn lo âu, còn phiền muộn thì chưa phải là hạnh phúc. Cho nên nhớ đến đức Phật Di-lặc, nhớ đến sáu đứa bé móc tai, móc mũi của Ngài, chúng ta nên hằng giờ hằng phút kiểm điểm lại mình, thử xem giặc có cướp của mình hay không. Nếu chúng ta cứ nuôi dưỡng sáu đứa giặc khiến chúng luôn cướp của mình, thì dù có khao khát nguyện cầu thành Phật mấy đi nữa, quả Phật cũng còn xa lơ xa lắc. Trái lại nếu chúng ta ở mọi trường hợp, đi đứng nằm ngồi, tiếp duyên đối cảnh, đều sống đúng với tinh thần của đức Phật Di-lặc thì tôi tin rằng dù không cầu được an vui, tự nhiên cũng được an vui, không cầu thành Phật, tự nhiên cũng thành Phật. Tóm lại chỗ tu thiết yếu là biết trở về mình, chính là đừng để cho sáu căn dẫn giặc vào, gọi là nghịch lưu. Nghịch lưu tức là trở về Tánh giác. Còn nếu luôn luôn bị sáu căn dẫn giặc về cướp mất của báu nhà mình gọi là thuận lưu, tức là thuận theo chiều sanh tử. Do đó, hôm nay nhân ngày vía đức Phật Di-lặc và cũng là ngày Tết Nguyên Đán, tôi cầu chúc cho tất cả quí vị Tăng Ni, cư sĩ nam nữ đều trở về nguồn giác của mình. Nguyện cầu cho tất cả quí vị kể từ ngày mồng một Tết này cho đến trọn năm và cho đến suốt đời đều luôn luôn là “bối trần hiệp giác”. Trích từ sách: Xuân trong cửa thiền
-
Khóa Học Phong Thủy Lạc Việt Cơ Bản 11 Năm 2012
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Xác nhận đã nhận học phí của Đỗ Bình Định, nick Bình Định, 2.000.000 đ (Hai triệu đồng chẳn). -
Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt Nâng Cao 05
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Đã nhận được học phí chuyển khoản 3.000.000đ (Ba triệu đồng chẳn) của Katya Trần, tên chuyển Trần Thị Phương Dung. Thiên Đồng -
Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt Nâng Cao 05
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Xác nhận đã nhận học phí chuyển khoản 3.000.000đ (Ba triệu đồng), mang tên người chuyển là Trần Văn Tuấn. -
Chuyện hôn môi và 5 triệu đồng TT - Sau 10 ngày kể từ ngày 4-11 khi ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng - nhân danh sự cảm ơn trong một đêm nhạc gây quỹ cho ca sĩ Wanbi Tuấn Anh chữa bệnh - đã hôn hai sư thầy, mức phạt 5 triệu đồng cho hành vi phản cảm này mới được thực hiện. Trước đó, ca sĩ này cũng đã viết một bức thư xin lỗi, cho rằng mình làm thế chỉ vì muốn cảm ơn. Bức thư viết tay của Đàm Vĩnh Hưng lại dấy lên một sự phản ứng khác từ các phật tử, từ khán giả và không ít người từng yêu mến giọng ca này. Trong bức thư, bằng những lời lẽ hoa mỹ, Đàm Vĩnh Hưng đã cố tình đánh tráo các giá trị, ngay cả việc viện dẫn hạnh nguyện của bồ tát, gọi là xin lỗi nhưng thật ra là bất chấp dư luận và thậm chí còn dẫn luật nhân quả khi cho rằng phản ứng của dư luận với mình là ác ý! Trả lời cho ý này, trên trang nguoiphattu.com có ý: “Chẳng lẽ giây phút đó và cho đến bây giờ Mr Đàm không thấy có gì bất bình thường, mạo phạm, thất kính khi “khóa môi” nhà sư hay sao? Chúng tôi vẫn biết về các thuyết: vô tướng, vô chấp, về ngũ uẩn giai không, về việc thiền sư cõng cô gái qua sông chứ. Nhưng sách lại có câu: “Thà chấp có như núi Tu Di còn hơn chấp không như hạt cải”. Nếu Mr Đàm gặp người chết đuối mà khóa môi, hô hấp nhân tạo thì đâu có ai nói gì”. Những lời xin lỗi không thật lòng, có phần ngạo mạn của Đàm Vĩnh Hưng đã khiến dư luận càng cảm thấy mức phạt 5 triệu đồng thật chưa tương xứng. Không kể ăn theo sự kiện phản cảm này, đa số trang mạng đều giật tin bài, hình ảnh, thậm chí có nhiều trang đặt hình Đàm Vĩnh Hưng hôn môi sư thầy ở mục tiêu điểm hoặc ấn tượng để ai mở trang ra cũng có thể thấy hình ảnh đó ngay trước mắt. Khác với các trường hợp lộ hàng (vô tình hay cố ý), hành vi hôn môi người tu hành của Đàm Vĩnh Hưng là khó chấp nhận trong nhận thức của một người nghệ sĩ. Bởi thế, dù mức phạt của Bộ VH-TT&DL đã là “kịch trần” theo nghị định 75 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, nhưng cũng theo nghị định này, ở điều 16 (vi phạm các quy định về biểu diễn nghệ thuật và trình diễn thời trang), khoản 4, điểm e có quy định phạt tiền 10-20 triệu đồng đối với hành vi “biểu diễn, tổ chức biểu diễn có nội dung truyền bá tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục dân tộc; xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân”. Và trong câu chuyện này có thể thấy Đàm Vĩnh Hưng đã xúc phạm đến một tổ chức - đó là Phật giáo. Và khoản 8 của điều 16 cũng quy định về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả khác: cấm biểu diễn từ 6 tháng đến 2 năm đối với người biểu diễn vi phạm quy định tại điểm e khoản 4. Nhưng phạt 5 triệu đồng theo điều 16 khoản 1 điểm d (“người biểu diễn lợi dụng giao lưu với khán giả để có những hành vi thiếu văn hóa hoặc phát ngôn thô tục, không đúng đắn”) hay điều 16 khoản 4 điểm e với 10-20 triệu đồng không phải là chuyện quan trọng nhất sau sự việc này. Quan trọng hơn là hình ảnh Đàm Vĩnh Hưng sau việc ngang nhiên (cũng không thể nói là không có sự đồng thuận của hai nhà sư) hôn người tu hành trên một sân khấu thì thật khó tha thứ. Công chúng, khán giả, những người hâm mộ Đàm Vĩnh Hưng rồi sẽ biết cách phán xét và chọn cho mình một cách ứng xử theo những giá trị về thuần phong mỹ tục mà người Việt hằng tôn trọng... CÁT KHUÊ
-
Làm sao trở nên được hoà nhập? Hoà nhập chẳng liên quan gì tới việc trở nên. Thực tế, mọi nỗ lực để trở nên đều đem tới tan rã. Hoà nhập đã có đó tại cốt lõi sâu nhất của bản thể bạn; nó không phải được đem vào. Tại chính trung tâm bạn được hoà nhập, bằng không bạn không thể tồn tại được chút nào. Làm sao bạn có thể tồn tại được mà không có trung tâm? Chiếc xe bò chuyển động, bánh xe chuyển động, bởi vì có một trung tâm bất động mà bánh xe chuyển động trên nó. Nó chuyển động trên trục. Nếu chiếc xe chuyển động thì trục có đó. Bạn có thể biết nó, bạn có thể không biết nó. Bạn đang sống động, bạn đang thở, bạn có ý thức; cuộc sống đang chuyển động, cho nên phải có cái trục cho bánh xe cuộc sống. Bạn có thể không nhận biết, nhưng nó có đó. Không có nó, bạn không thể hiện hữu được. Cho nên điều đầu tiên, và rất nền tảng: việc trở thành không phải là vấn đề. Hiện hữu đi. Bạn phải đi vào và thấy nó. Đó là khám phá, không phải là thành đạt. Bạn đã mang nó đi suốt rồi. Nhưng bạn đã trở nên quá bị gắn bó với ngoại vi, và quay lưng vào trung tâm. Bạn đã trở thành quá đi ra ngoài, cho nên bạn không thể nhìn vào trong. Tạo ra chút ít việc nhìn thấu. Từ ‘insight – nhìn thấu’ là hay – nó nghĩa là: cái nhìn vào trong, nhìn vào, thấy bên trong. Mắt mở ra bên ngoài, tay vươn ra bên ngoài, chân đi xa từ bạn. Ngồi im lặng, thảnh thơi ngoại vi, nhắm mắt lại và đi vào trong… và không nỗ lực nào. Chỉ thảnh thơi – cứ dường như người ta đang chìm đắm và người ta không thể làm gì cả. Chúng ta cứ làm ngay cả khi chúng ta chìm đắm. Nếu bạn có thể đơn giản cho phép nó xảy ra, nó sẽ đi tới bề mặt. Từ các đám mây bạn sẽ thấy trung tâm nảy sinh. Có hai phương thức sống: một là phương thức hành động, bạn làm cái gì đó; phương thức kia là phương thức tiếp nhận, bạn đơn giản tiếp nhận. Phương thức hành động là đi ra. Nếu bạn muốn nhiều tiền hơn, bạn không thể chỉ ngồi đấy. Nó sẽ không tới theo cách đó đâu. Bạn sẽ phải tranh đấu vì nó, cạnh tranh, và bạn sẽ phải dùng đủ mọi cách thức và biện pháp – hợp pháp, bất hợp pháp, đúng, sai. Tiền sẽ không tới chỉ bởi việc ngồi. Nếu bạn muốn trở nên quyền lực, nếu bạn muốn trở thành chính khách, bạn sẽ phải làm cái gì đó về nó. Nó sẽ không tới theo cách riêng của nó. Có phương thức hành động. Phương thức hành động là phương thức đi ra ngoài. Và có phương thức bất hành nữa: bạn không làm gì cả, bạn đơn giản cho phép nó xảy ra. Chúng ta đã quên mất ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ bị lãng quên đó phải được học lại. Hoà nhập không cần phải được mang vào – nó đã có đó rồi. Chúng ta đã quên mất cách nhìn vào nó, chúng ta đã quên mất cách hiểu nó. Chuyển từ phương thức hành động ngày một nhiều sang phương thức tiếp nhận, thụ động đi. Tôi không nói rời bỏ thế giới hành động – bởi vì điều đó sẽ lại làm cho bạn bị thiên lệch. Bạn đã bị thiên lệch ngay bây giờ. Bạn chỉ có một phương thức cho cuộc sống của mình, và đó là hành động, làm cái gì đó. Có những người không thể nghĩ được tới việc ngồi im lặng; điều đó là không thể được. Họ không thể cho phép bản thân mình có lấy thảnh thơi trong một khoảnh khắc. Họ chỉ quan tâm tới hành động. Tôi đã nghe… Vợ của Mulla Nasruddin đang đứng gần cửa sổ, và lúc đó là lúc mặt trời lặn đẹp, và chim chóc đang bay về tổ. Đó thực sự là buổi tối kì diệu. Và cô ấy nói với Nasruddin, “Anh nhìn kìa! Lại đây đi. Nhìn xem mặt trời lặn đẹp làm sao!” Nasruddin, chẳng hề ngước mắt khỏi tờ báo của mình, nói “Bây giờ nó đang làm gì thế, mặt trời ấy?” Nếu cái gì đó đang được làm; thế thì anh ta quan tâm. Nếu đấy chỉ là mặt trời lặn, thế thì phỏng có ích gì mà nhìn vào nó? Bạn quan tâm chỉ vào hành động, nếu cái gì đó đang xảy ra. Điều này đã trở nên quá cố định. Điều này phải được làm thảnh thơi một chút: bạn phải đi vài khoảnh khắc, trong vài giờ, đôi khi vài ngày, toàn bộ sang phương thức kia của cuộc sống, chỉ ngồi và cho phép mọi sự xảy ra. Khi bạn nhìn vào mặt trời lặn bạn không được trông đợi làm điều gì. Bạn đơn giản nhìn. Khi bạn nhìn vào hoa, bạn được giả thiết làm gì? Bạn đơn giản nhìn. Thực tế không có nỗ lực, ngay cả việc nhìn vào hoa. Nó là vô nỗ lực. Mắt bạn mở, hoa có đó… một khoảnh khắc của giao cảm sâu sắc tới khi cái được nhìn và người nhìn cả hai biến mất. Thế thì có cái đẹp, thế thì có phúc lành. Thế thì đột nhiên bạn không là người quan sát, và hoa không là vật được quan sát – bởi vì để quan sát vẫn phải có hành động nào đó. Bây giờ bạn có đó và hoa có đó, và bằng cách nào đó các bạn chờm lấp lên biên giới của nhau. Hoa đi vào bạn, bạn đi vào hoa, và có khải lộ bất thần. Gọi nó là cái đẹp, gọi nó là chân lí, gọi nó là Thượng đế. Những khoảnh khắc hiếm hoi này phải được phép có ngày một nhiều hơn. Tôi không thể nói chúng phải được nuôi dưỡng, tôi không thể nói bạn phải huấn luyện về những khoảnh khắc đó, tôi không thể nói rằng bạn phải làm điều gì đó – bởi vì điều đó lại sẽ là dùng ngôn ngữ của phương thức hành động, và sẽ bị diễn giải sai rất sâu. Không, tôi chỉ có thể đơn giản nói cho phép những khoảnh khắc này ngày một nhiều hơn. Đôi khi, đơn giản không làm gì. Thảnh thơi trên thảm cỏ và nhìn lên trời. Đôi khi nhắm mắt lại và chỉ nhìn vào thế giới bên trong của bạn – các ý nghĩ chuyển động, trôi nổi; ham muốn nảy sinh, đi qua. Nhìn vào thế giới mơ đầy mầu sắc cứ diễn ra bên trong bạn. Chỉ nhìn thôi. Đừng nói, “Mình muốn dừng các ý nghĩ này lại” – lần nữa bạn đã chuyển vào phương thức hành động đấy. Đừng nói, “Ta đang thiền – đi đi! Tất cả các ý nghĩ, đi xa khỏi ta” – bởi vì nếu bạn bắt đầu nói điều đó, bạn đã bắt đầu làm điều gì đó rồi. Cứ dường như bạn không có… Có một trong những cách thiền cổ đại nhất vẫn còn được dùng trong vài tu viện ở Tây Tạng. Phương pháp thiền này dựa trên chân lí mà tôi đang nói với bạn. Họ dạy rằng đôi khi bạn đơn giản có thể biến mất. Ngồi trong vườn, bạn chỉ bắt đầu cảm thấy rằng bạn đang biến mất. Xem cách thế giới trông thế nào khi bạn đã đi khỏi thế giới này, khi bạn không còn ở đây nữa, khi bạn đã trở nên tuyệt đối trong suốt. Thử một giây không hiện hữu. Trong nhà riêng của bạn, hiện hữu cứ dường như bạn không có. Nghĩ xem, một ngày nào đó bạn sẽ không có. Một ngày nào đó bạn sẽ mất đi, bạn sẽ chết; radio vẫn tiếp tục, vợ vẫn chuẩn bị bữa sáng, con vẫn sẵn sàng đi tới trường. Nghĩ xem: hôm nay bạn qua đời, bạn không còn nữa. Trở thành ma. Vẫn ngồi trên chiếc ghế, bạn đơn giản biến mất, bạn đơn giản nghĩ, “Mình không còn thực nữa; mình không có.” Và xem cách thức nhà vẫn tiếp tục. Sẽ có an bình và im lặng vô cùng. Mọi thứ sẽ tiếp tục như nó thế. Không có bạn, mọi thứ vẫn tiếp tục như nó thế. Chẳng cái gì sẽ bị thiếu cả. Thế thì phỏng có ích gì mà bao giờ cũng vẫn còn bận bịu, làm cái gì, làm cái gì đó, bị ám ảnh với hành động? Vấn đề là gì? Bạn sẽ qua đời, và bất kì cái gì bạn đã làm cũng đều sẽ biến mất – cứ dường như bạn đã kí tên mình trên cát, và gió tới, và chữ kí biến mất… và mọi thứ đều được kết thúc. Hiện hữu cứ dường như bạn chưa bao giờ tồn tại đi. Đó thực sự là cách thiền hay. Bạn có thể thử nó nhiều lần trong hai mươi bốn giờ. Chỉ cần nửa giây thôi cũng có tác dụng; trong nửa giây, đơn giản dừng lại… bạn không có… và thế giới vẫn tiếp tục. Khi bạn trở nên ngày một tỉnh táo hơn với sự kiện là không có bạn thế giới vẫn tiếp tục tốt hoàn hảo, thế thì bạn sẽ có khả năng học phần khác của bản thể mình mà đã từng bị quên lãng lâu dài, trong nhiều kiếp – và đó là phương thức tiếp nhận. Bạn đơn giản cho phép, bạn trở thành cánh cửa. Mọi sự cứ xảy ra mà không có bạn. Đây là điều Phật ngụ ý khi ông ấy nói: Trở thành mẩu gỗ trôi giạt. Nổi trong dòng chảy như mẩu gỗ, và bất kì chỗ nào dòng nước đi thì cứ để nó đem bạn đi; bạn không làm nỗ lực nào. Toàn thể cách tiếp cận Phật giáo đều thuộc vào phương thức tiếp nhận. Đó là lí do tại sao bạn thấy Phật ngồi dưới gốc cây. Mọi hình cảnh của ông ấy đều là về ngồi, ngồi và không làm gì. Ông ấy đơn giản ngồi đó, ông ấy không làm gì cả. Bạn không có kiểu hình ảnh đó của Jesus. Ông ấy vẫn cứ đi theo phương thức hành động. Đó là chỗ Ki tô giáo đã bỏ lỡ khả năng sâu nhất: Ki tô giáo trở thành tích cực. Việc truyền giáo Ki tô giáo cứ phục vụ cho người nghèo, đi tới bệnh viện, làm điều này điều nọ, và toàn thể nỗ lực của ông ấy là để làm điều gì đó tốt lành. Vâng, rất tốt – nhưng ông ấy vẫn còn trong phương thức hành động, và Thượng đế chỉ có thể được biết trong phương thức tiếp nhận. Cho nên nhà truyền giáo Ki tô giáo sẽ là người tốt, người rất tốt, nhưng theo nghĩa phương đông, thì không phải là thánh nhân. Bây giờ thậm chí ở phương Đông người làm những điều này được tôn thờ như một mahatma – bởi vì phương Đông nghèo, ốm. Có cả nghìn người hủi, người mù, người vô giáo dục; họ cần giáo dục, họ cần thuốc, họ cần phục vụ, họ cần cả nghìn lẻ một thứ. Bỗng nhiên người hoạt động đã trở thành quan trọng – cho nên Gandhi là một mahatma, Vinoba là thánh nhân, và Mẹ Theresa ở Calcutta đã trở thành rất quan trọng. Nhưng không ai nhìn vào xem liệu họ đã đạt tới phương thức tiếp nhận hay không. Bây giờ nếu Phật tới, chẳng ai định biểu lộ kính trọng với ông ấy, bởi vì ông ấy sẽ không tới trường học hay bệnh viện. Ông ấy sẽ lại ngồi dưới gốc cây bồ đề, chỉ ngồi im lặng. Không phải là ông ấy không làm cái gì cả – sự hiện hữu của ông ấy đã tạo ra rung động vô cùng, nhưng chúng rất tinh tế. Ông ấy biến đổi toàn thể thế giới bằng việc ngồi dưới gốc cây bồ đề, nhưng để nhìn vào những rung động đó bạn sẽ phải được hoà hợp, bạn sẽ phải trưởng thành. Nhận ra vị phật là đã trên con đường rồi. Nhận ra Mẹ Theresa là rất dễ dàng. Chẳng có gì nhiều trong điều đó. Bất kì ai cũng có thể thấy rằng bà ấy đang làm việc tốt. Làm việc tốt là một điều, và là tốt là điều khác hoàn toàn. Tôi không nói đừng làm việc tốt. Tôi đang nói: để việc tốt bắt nguồn từ bản thể tốt của bạn. Trước hết đạt tới phương thức tiếp nhận, trước hết đạt tới tính thụ động, trước hết đạt tới bất hoạt. Và khi bản thể bên trong của bạn nở hoa và bạn đã đi tới biết việc hoà nhập bên trong – cái bao giờ cũng có đó, trung tâm bao giờ cũng có đó – khi bạn đã nhận ra trung tâm đó, bỗng nhiên cái chết biến mất với bạn. Bỗng nhiên tất cả mọi lo nghĩ biến mất bởi vì bạn không còn là thân thể bây giờ, không còn là tâm trí. Thế rồi từ bi nảy sinh, tình yêu nảy sinh, cầu nguyện nảy sinh. Bạn trở thành việc mưa rào, thành phúc lành cho thế giới. Bây giờ, không ai có thể nói điều gì sẽ xảy ra cho con người như vậy – liệu người đó có đi và trở thành nhà cách mạng như Jesus và đuổi những kẻ cho vay lãi khỏi đền hay không; hay liệu người đó có đi và phục vụ người nghèo hay không; hay liệu người đó có tiếp tục ngồi dưới gốc cây bồ đề và lan toả hương thơm của mình hay không; hay liệu người đó có trở thành một Meera và nhảy múa và ca hát niềm vinh quang của Thượng đế hay không. Chẳng ai biết cả; điều đó là không thể dự đoán nổi. Bạn hỏi tôi, “Làm sao để trở nên được hoà nhập?” Toàn thể nỗ lực của tôi ở đây là để làm cho bạn nhận biết rằng chẳng cái gì được cần tới cả, chẳng cái gì hơn được cần tới. Bạn đã có nó ở đó rồi, tồn tại bên trong bạn. Nhưng bạn phải làm ra cách tiếp cận, cánh cửa, lối đi để khám phá ra nó. Bạn phải đào xới vì nó; kho báu có đó. Cho nên vấn đề không phải là làm sao để trở nên được hoà nhập. “Làm sao để biết rằng tôi đã được hoà nhập?” mới là câu hỏi đúng. Câu hỏi này tới từ Nisagar, và tôi có thể hiểu được tại sao nó lại tới từ cô ấy. Cô ấy đã từng có quan hệ với công trình của Gurdjieff ở phương tây. Gurdjieff có một ý tưởng rất kì lạ; có nghĩa nhưng vẫn kì lạ. Ông ấy hay nói cho các đệ tử của mình, “Linh hồn không tồn tại đâu. Trung tâm không tồn tại đâu; nó phải được tạo ra. Con người không được sinh ra với linh hồn”… một lí thuyết rất lạ. Nhưng tôi có thể hiểu được điều ông ấy nhấn mạnh: con người không được sinh ra với linh hồn, con người phải kết tinh linh hồn của mình lại bằng nỗ lực. Do đó toàn thể hệ thống của Gurdjieff có tên là ‘công trình’. Nó có tác dụng và có tác dụng và có tác dụng. Nó là nỗ lực – lại phương thức hành động. Thực tế, ở phương tây, rất khó dạy cho mọi người phương thức bất hành. Cho nên ông ấy đã dạy các kĩ thuật, phương pháp về cách trở nên được hoà nhập. Ông ấy sẽ nói, “Không có sẵn linh hồn đâu.” Không phải là không có linh hồn, và không phải là ông ấy không nhận biết về nó; nhưng điều đó là một phương cách. Mọi người đã trở nên rất thờ ơ về linh hồn. Họ coi nó đã có đó rồi – Cho nên sao lo nghĩ, sao bận tâm? Nó có đó. Bất kì ngày nào chúng tôi cũng có thể tìm thấy nó, cho nên để chúng tôi trong lúc đó đi tìm những thứ khác đã không có đó. Trong khi đó để chúng tôi tìm ra đàn bà đẹp, nhiều rượu, nhiều tiền, nhiều quyền lực – những thứ đang không có đó. Cho nên để chúng tôi tìm kiếm những thứ này đã. Vào cái ngày chúng tôi phát chán với tất cả những cái này, vào bất kì khoảnh khắc nào, chúng tôi sẽ nhắm mắt lại và chúng tôi sẽ đi vào trong, và linh hồn sẽ có đó. Nó chưa bao giờ bị mất; bạn không thể làm mất nó được và bạn cũng không thể thu được nó. Nó đã có đó rồi.” Cho nên mọi người đã trở nên rất thờ ơ. Bạn có thể thấy điều đó ở phương đông. Toàn thể phương Đông đã trở thành tồi tệ và lờ phờ thế. Linh hồn có đó và mọi người đều biết nó, mọi người đều đã nghe nói về nói. Thượng đế là ở bên trong trái tim, ngài đã ở đó rồi, cho nên sao tạo ra ồn ào nhặng sị về ngài thế? Mọi người tìm kiếm cái không có đó. Gurdjieff đã trở nên nhận biết về sự kiện này: rằng lí thuyết về linh hồn đã có đó nay đã làm cho mọi người thành rất lờ phờ, rất không quan tâm tới linh hồn; rất không quan tâm, tuyệt đối không quan tâm tới thế giới bên trong. Tâm trí chỉ quan tâm tới cái gây thách thức, cái là cuộc phiêu lưu. Cho nên Gurdjieff, để khớp với tâm trí phương tây, đã bắt đầu nói rằng linh hồn không có đó: “Đừng ngồi kiên nhẫn, làm điều gì đó đi – bởi vì khi người ta chết đi, tất cả mọi đều không sống sót đâu. Chỉ những người đã hoà nhập trung tâm của họ mới sống sót thôi. Những người khác đơn giản sẽ biến mất tựa rau cỏ. Cho nên điều đó là tuỳ bạn chọn lựa. Bạn đang nhận rủi ro đấy,” Gurdjieff nói. “Nếu bạn làm điều gì đó – và làm nghĩa là làm cật lực, công việc vất vả, cả đời cống hiến – chỉ thế thì bạn mới có khả năng sống sót sau cái chết. Bằng không bạn sắp bị thải hồi rồi. Bạn sẽ bị ném vào đống đồng nát. Thượng đế sẽ không chọn bạn đâu trừ phi bạn được hoà nhập. Bạn phải kiếm lấy điều đó. Chỉ rất ít người mới được cứu sau cái chết, không phải tất cả đâu.” Đây là một lí thuyết rất kì lạ, chưa bao giờ được nêu ra trước đây, chưa bao giờ trong toàn thể lịch sử nhân loại. Đã từng có những người nói, ”Không có linh hồn.” Chúng ta biết họ; họ là người vô thần. Họ bao giờ cũng có đó. Có những người nói, ”Có linh hồn, và nó không thể bị phá huỷ. Ngay cả cái chết cũng không thể phá huỷ được nó.” Chúng ta đã nghe nói về họ; họ bao giờ cũng có đấy. Nhưng Gurdjieff đang nói điều gì đó tuyệt đối mới, cái gì đó chưa bao giờ được nói trước đây. Ông ấy đang nói, ”Linh hồn là có thể đấy; nó không phải là thực tại đâu. Nó đơn giản là có thể thôi. Bạn có thể đạt tới nó, bạn có thể không đạt tới nó – bạn có thể bỏ lỡ nó. Có nhiều khả năng là bạn sẽ bỏ lỡ nó, bởi vì cách bạn đang sống, bạn không kiếm nó.” Gurdjieff nói, “Con người giống như hạt mầm. Không nhất thiết là hạt mầm sẽ trở thành cây. Không nhất thiết đâu - hạt mầm có thể không tìm thấy mảnh đất đúng. Cho dù có tìm thấy mảnh đất đúng, vẫn có thể không có mưa. Hay cho dù có mưa, con vật có thể tới và phá cây. Có cả nghìn lẻ một khó khăn. Hạt mầm không nhất thiết sẽ thành cây đâu. Nếu cả nghìn lẻ một việc bảo vệ được thực hiện, chỉ thế thì hạt mầm mới trở thành cây. Bạn không là linh hồn đâu; bạn chỉ là một khả năng thôi. Cả nghìn lẻ một nỗ lực phải được tiến hành; chỉ thế thì bạn mới trở thành linh hồn. Chỉ hiếm hoi thôi: trong cả triệu người, một người trở thành linh hồn. Tất cả những người khác đơn giản sống vô vị, chết và biến mất.” Tôi nói nó là một lí thuyết kì lạ, bởi vì nó không đúng. Và tôi nói nó rất có nghĩa, bởi vì cái gì đó giống như thế này đang được cần tới – ít nhất ở phương Tây nó được cần tới. Bằng không, chẳng ai bận tâm về linh hồn cả. Nhưng tất cả các kĩ thuật mà Gurdjieff đã dùng về căn bản là cùng những kĩ thuật mà chúng ta đã dùng ở phương Đông để khám phá ra linh hồn. Ông ấy đơn giản thay đổi từ ngữ. Ông ấy gọi nó là ‘tạo ra linh hồn’, ’hoà nhập linh hồn’, ’kết tinh trung tâm’. Nhưng các kĩ thuật đó là một. Bạn đã được hoà nhập rồi. Không ở ngoại vi – ở ngoại vi chỉ có rối loạn. Bạn bị phân mảnh trên ngoại vi. Đi vào bên trong nhiều hơn, và bạn đi càng sâu hơn, bạn sẽ càng thấy rằng bạn được hoà nhập hơn. Tới một điểm, tại chính điện thờ bên trong nhất của bản thể bạn, nơi bạn bỗng nhiên thấy mình là một thể thống nhất, thể thống nhất tuyệt đối. Cho nên đó là vấn đề khám phá. Làm sao khám phá ra nó? Tôi muốn cho Nisagar một kĩ thuật. Nó là kĩ thuật rất đơn giản, nhưng ban đầu nó có vẻ rất khó nhằn. Nếu bạn thử, bạn sẽ thấy nó đơn giản. Nếu bạn không thử và chỉ nghĩ về nó, nó sẽ có vẻ rất khó nhằn. Kĩ thuật này là: chỉ làm điều bạn thích. Nếu bạn không thích, đừng làm nó. Cứ thử nó mà xem - bởi vì việc tận hưởng chỉ tới từ trung tâm bạn. Nếu bạn đang làm cái gì đó và bạn thích thú nó, bạn bắt đầu được nối lại với trung tâm. Nếu bạn làm cái gì đó mà bạn không thích thú, bạn bị ngắt khỏi trung tâm. Vui vẻ nảy sinh từ trung tâm, và không từ đâu khác cả. Cho nên để điều đó thành tiêu chuẩn, và là người cuồng tín về nó. Bạn đang đi trên đường; bỗng nhiên bạn nhận ra rằng bạn không thích bước đi. Dừng lại. Kết thúc - điều này không được làm. Tôi thường làm điều đó trong những ngày ở trường đại học, và mọi người cứ nghĩ rằng tôi điên. Bỗng nhiên tôi sẽ dừng lại, và thế rồi tôi sẽ vẫn còn ở chỗ đó trong nửa giờ, một giờ, chừng nào tôi còn chưa bắt đầu thấy thích thú bước đi nữa. Các thầy giáo của tôi cũng ngại điều đó nên khi có thi cử họ sẽ cho tôi vào xe và đem tôi tới phòng đại học. Họ sẽ để tôi ngoài cửa và đợi ở đó: liệu tôi có đi tới bàn của mình hay không? Nếu tôi tắm và bỗng nhiên tôi nhận ra rằng tôi không thích điều đó, tôi sẽ dừng lại. Thế thì phỏng có ích gì? Nếu tôi ăn và tôi bỗng nhiên nhận ra rằng tôi không thích ăn, thế thì tôi sẽ dừng lại. Tôi đã tham gia vào lớp toán hồi ở trường trung học. Ngày đầy tiên, tôi đi vào và thầy giáo giới thiệu chủ đề. Đến giữa chừng tôi đứng dậy và cố bước ra. Thầy nói, ”Em đi đâu thế? Không xin phép, tôi sẽ không cho phép em vào lại đâu.” Tôi nói, “Em không quay lại đâu; thầy đừng lo. Đó là lí do tại sao em không hỏi xin. Kết thúc rồi – em không thích nó! Em sẽ tìm chủ đề nào đó khác mà em thích, bởi vì nếu em không thể thích nó được thì em sẽ không làm điều đó. Điều đó là tra tấn, điều đó là bạo hành.” Và, dần dần, điều đó trở thành chìa khoá. Tôi bỗng nhiên nhận ra rằng bất kì khi nào bạn thích thú cái gì đó, bạn được định tâm. Thích thú chính là âm thanh của bản thể được định tâm. Bất kì khi nào bạn không tận hưởng cái gì đó, bạn đều bị ngắt khỏi trung tâm. Thế thì đừng ép buộc nó; không có nhu cầu. Nếu mọi người nghĩ bạn điên, thì cứ để họ nghĩ bạn điên đi. Trong vòng vài ngày, bằng kinh nghiệm riêng của mình, bạn sẽ tìm ra cách bạn đã bỏ lỡ bản thân mình. Bạn đã làm cả nghìn lẻ một điều mà bạn chưa bao giờ thích thú, và dầu vậy bạn vẫn làm chúng bởi vì bạn đã được dạy như vậy. Bạn chỉ hoàn thành nghĩa vụ của mình. Mọi người đã phá huỷ ngay cả điều đẹp đẽ thế như tình yêu. Bạn về nhà và bạn hôn vợ bạn bởi vì điều đó phải là như vậy, nó phải được làm. Bây giờ, một điều đẹp đẽ như nụ hôn, một điều như đoá hoa, đã bị phá huỷ. Dần dần, không thích thú việc đó, bạn sẽ cứ hôn vợ bạn; bạn sẽ quên mất vui vẻ của việc hôn con người khác. Bạn bắt tay bất kì ai bạn gặp - lạnh nhạt, không có nghĩa gì trong nó, không thông điệp nào trong nó, không nồng nhiệt tuôn chảy. Nó chỉ là bàn tay chết bắt lẫn nhau và nói ‘xin chào’. Thế rồi bạn bắt đầu, dần dần, học cử chỉ chết này, cử chỉ lạnh nhạt này. Bạn trở nên đông cứng, bạn trở thành tảng băng. Và thế rồi bạn nói, “Làm sao đi vào trung tâm?” Trung tâm là có sẵn khi bạn nồng nhiệt, khi bạn tuôn chảy, tan ra, trong tình yêu, trong vui vẻ, trong điệu vũ, trong hân hoan. Điều đó là tuỳ ở bạn. Làm chỉ những điều mà bạn thực sự yêu thích làm và bạn tận hưởng. Nếu bạn không thích thú, dừng lại. Tìm ra cái gì đó khác mà bạn thích. Nhất định có cái gì đó bạn sẽ thích. Tôi chưa bao giờ bắt gặp người không thể thích thú bất kì cái gì. Có những người có thể không thích thứ này, thế rồi thứ khác, thứ khác nữa, nhưng cuộc sống là bao la. Đừng vẫn còn bị vướng mắc; trở nên nổi. Cứ để có nhiều luồng năng lượng hơn. Cứ để nó trôi nổi, để nó tan ra cùng với các năng lượng khác bao quanh bạn. Chẳng mấy chốc bạn sẽ có khả năng thấy rằng vấn đề không phải là cách trở nên được hoà nhập, vấn đề là ở chỗ bạn đã quên mất cách tuôn chảy. Trong năng lượng tuôn chảy, bạn bỗng nhiên được hoà nhập. Điều đó đôi khi xảy ra một cách ngẫu nhiên nữa, nhưng lí do là như nhau. Đôi khi bạn rơi vào tình yêu với người đàn bà hay người đàn ông, và bỗng nhiên bạn cảm thấy được hoà nhập, bỗng nhiên bạn cảm thấy là một lần đầu tiên. Mắt bạn toả sáng, khuôn mặt bạn rạng ngời, và trí tuệ của bạn không còn đờ đẫn nữa. Cái gì đó bắt đầu bùng cháy sáng trong bản thể bạn; bài ca nảy sinh, bước đi của bạn có phẩm chất của điệu vũ trong nó bây giờ. Bạn là một con người hoàn toàn khác. Nhưng đây là những khoảnh khắc hiếm hoi – bởi vì chúng ta không học bí mật này. Bí mật này là: có cái gì đó bạn đã bắt đầu thích thú. Đó là toàn thể bí mật này. Hoạ sĩ có thể đói mà vẫn vẽ, và bạn có thể thấy rằng khuôn mặt người đó được mãn nguyện thế. Nhà thơ có thể nghèo, nhưng khi người đó ca lên bài ca của mình thì người đó là người giầu nhất trên thế giới. Không ai giầu hơn người đó. Bí mật của điều đó là gì? Bí mật là: người đó đang thích thú khoảnh khắc này. Bất kì khi nào bạn thích thú điều gì đó, bạn đang hoà điệu với bản thân và bạn đang trong hoà điệu với vũ trụ – bởi vì trung tâm của bạn là trung tâm của tất cả. Cho nên để sáng suốt này là bầu khí hậu cho bạn: chỉ làm điều bạn thích, bằng không thì dừng lại. Bạn đang đọc báo và nửa chừng qua nó bạn đột nhiên nhận ra rằng bạn không thích nó: thế thì không có nhu cầu. Thế thì sao bạn lại đọc? Dừng nó lại ở đây và bây giờ. Nếu bạn đang nói với ai đó và giữa chừng bạn nhận ra rằng bạn không thích điều đó, bạn chỉ mới nói nửa câu, dừng lại ở đó đi. Bạn không thích thú, bạn không có nghĩa vụ phải tiếp tục. Lúc ban đầu điều đó sẽ có vẻ kì quái. Nhưng các sannyasin của tôi đều kì quái cả, cho nên tôi không coi là có vấn đề gì. Bạn có thể thực hành điều đó. Nisagar già rồi, nhưng tôi có thể thấy phẩm chất trẻ thơ trong bà ấy. Bà ấy cũng có thể làm điều đó. Và tôi hi vọng bà ấy sẽ làm điều đó. Trong vòng vài ngày mối liên hệ sẽ được thiết lập với trung tâm, và thế rồi bạn sẽ hiểu điều tôi ngụ ý khi tôi cứ lặp đi lặp lại mãi rằng cái bạn đang tìm kiếm là đã có trong bạn rồi. Nó không ở trong tương lai. Nó chẳng có liên quan gì với tương lai cả. Nó đã ở đây bây giờ rồi, nó đã là hoàn cảnh rồi. -OSHO – NGÔ TRUNG VIỆT dịch
-
Khóa Học Phong Thủy Lạc Việt Cơ Bản 11 Năm 2012
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Chúng tôi đã nhân được chuyển khoản học phí PTLV cơ bản 11 là 2.000.000 đ (Hai triệu đồng), dưới tên người chuyển là Nguyễn Thị Cẩm Huyền (Rio_Rio) Thiên Đồng