Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. Ngày tốt năm Đinh Dậu 2017 Vận khí Thiên Hà thủy dùng cho Tất niên, xuất hành, khai trương, động thổ. Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương Tiễn năm cũ đi đón xuân mới đến, người Việt ta, theo phong tục Đông phương cổ truyền, có tục ăn tất niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, tránh hung tìm cát. Ban biên tập diễn đàn Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương sưu tầm, tìm hiểu so sánh, đối chiếu đề xuất về các ngày gọi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Dùng cho năm Bính Thân 2017, vận khí (mệnh tuổi) Thiên Hà Thủy theo Lạc Thư Hoa Giáp. Đặc biệt năm Đinh Dậu là năm nhuận, có hai (02) tháng sáu. Tất Niên: Đây là ngày kết thúc một năm làm việc vất vả, ngày nhìn lại những thành quả lao động của năm cũ. Ngày tốt theo Việt lịch: ngày 04 tháng Chạp năm Bính Thân , nhằm ngày Chủ nhật 01.01. 2017 Tây lịch. Đây là ngày tốt, sẽ là một kết thúc tốt đẹp cho trăm nghiệp trăm nghề để chuẩn bị cho một năm mới vạn sự an lành. Giờ tốt nhất trong ngày: Giờ Ngọ: từ 11g00 đến 12g59 Ngày Lập Xuân: Ngày 07 âm tháng Giêng năm Đinh Dậu, tức là ngày 03/02/2016 Tây lịch, vào lúc 23g49 sáng. Xuất Hành: Ngày tốt theo Việt lịch: Mồng 08 tháng Giêng năm Đinh Dậu, nhằm ngày thứ bảy 04.02.2017 Tây lịch Đây là ngày Tư Mệnh Hoàng Đạo là ngày tốt cho cầu công danh, sự nghiệp, học hành, thăng quan, phát tài, phát lộc và phát triển trong mọi sự. Giờ tốt trong ngày: Giờ Thìn, từ 07g20 đến 9g19 Giờ Ngọ, từ 11g20 đến 13g19 Giờ Tuất, từ 19g20 đến 21g19 Hoặc Mồng 11 tháng Giêng năm Đinh Dậu, nhằm ngày thứ ba 07.02.2017 Tây lịch Đây là ngày Minh Đường Hoàng Đạo là ngày tốt cho cầu công danh, sự nghiệp, học hành, thăng quan, phát tài, phát lộc và phát triển trong mọi sự. Giờ tốt trong ngày: Giờ Thìn, từ 7g20 đến 9g19 Giờ Mùi, từ 13g20 đến 15g19 Giờ Dậu, từ 17g20 đến 19g19 Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Nam (hướng Đinh Ngọ, từ 157,5 - 187,5 độ): Hướng được coi là tốt thì cũng kén người có bản lãnh, mạo hiểm, trí dũng và quyết đoán. Hướng Tốt Để Động Thổ: Theo Huyền Không Lạc Việt, niên tinh Nhất Bạch và Ngũ Hoàn nhập trung, phương Tây gặp Thái Tuế, phương Đông Xung Thái Tuế, tam sát ở Đông Bắc, Đông, Đông Đông Nam, do vậy phương động thổ an toàn nhất là hướng Nam hoặc Nam Tây Nam . Cụ thể là phương Bính – Ngọ, Đinh - Mùi, từ 157,5 - 217,5 độ . Ngày Tốt Khai Trương: Ngày tốt theo Việt lịch: Mồng 08 tháng Giêng năm Đinh Dậu, nhằm ngày thứ bảy 04.02.2017 Tây lịch Đây là ngày Tư Mệnh Hoàng Đạo là ngày tốt cho cầu công danh, sự nghiệp, học hành, thăng quan, phát tài, phát lộc và phát triển trong mọi sự. Giờ tốt trong ngày: Giờ Thìn, từ 07g20 đến 9g19 Giờ Ngọ, từ 11g20 đến 13g19 Giờ Tuất, từ 19g20 đến 21g19 Hoặc Mồng 11 tháng Giêng năm Đinh Dậu, nhằm ngày thứ ba 07.02.2017 Tây lịch Đây là ngày Minh Đường Hoàng Đạo là ngày tốt cho cầu công danh, sự nghiệp, học hành, thăng quan, phát tài, phát lộc và phát triển trong mọi sự. Giờ tốt trong ngày: Giờ Thìn, từ 7g20 đến 9g19 Giờ Mùi, từ 13g20 đến 15g19 Giờ Dậu, từ 17g20 đến 19g19 Tuổi Tốt Để Xông Đất và Mở Hàng Khai Trương: Chọn tuổi: Nhâm Thân, Nhâm Dần, Ất Mùi, Đinh Mẹo, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Giáp Thìn, Kỷ Mùi. Những tuổi như trên được mời mua mở hàng khai trương đầu năm,động thổ xây sửa nhà, dự lễ về nhà mới, đi đón cô dâu về nhà chồng, tiễn đưa người thân đi làm ăn xa, đón em bé từ bảo sanh viện về nhà, dự lễ cúng đầy tháng, dự lễ cúng thôi nôi cho em bé, dự lễ cúng đáo tuế, cúng thất tuần cho gia chủ sẽ được cát tường đại lợi.Nhưng hãy chọn người tử tế đàng hoàng, nhân cách đầy đủ, trí tuệ thông minh, hiền hậu nhân từ. Phúc lộc đầy đủ. Lưu ý là họ phải không trong thời gian thọ tang. Nam nữ đều tốt. Người được mời xông đất, khai trương đâù năm kiêng mặc áo trắng hoặc đen. Áo mặc tông màu xanh biển, màu xanh da trời là thuận nhất với năm Đinh Dậu vận khí Thiên Hà Thủy. Năm Đinh Dậu vận khí Thiên Hà Thủy có lẽ là năm mà Lý học Đông phương và các nhà khoa học dễ nhất trí về một nền kinh tế toàn cầu vẫn còn khó khăn. Cầu chúc quý vị một năm mới AN LẠC VUI KHỎE MAY MẮN THỊNH VƯỢNG Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, tiết Tiểu Hàn hạ 18/12/2017. ================================================== Ngày tốt năm Đinh Dậu 2017 Vận khí Thiên Hà Thủy Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương Dùng cho khai trương, động thổ, sửa chữa xây cất nhà cửa, nhập trạch (vào nhà mới), tân gia, cưới hỏi, an trang, ký kết hợp đồng, khởi sự, giao dịch, đi - về…những công việc quan trọng. Theo Việt lịch thì những ngày tốt của các tháng là các ngày như sau: Lưu ý: Các ngày có đánh dấu (**) là ngày Hoàng Đạo Đặc biệt năm Đinh Dậu là năm nhuận, có hai (02) tháng sáu. Tháng giêng: ngày 08**, 09, 11, 19, 29** kỵ giờ Dần Tháng hai: ngày 04, 16, 24**, 28…kỵ giờ Tỵ. Tháng ba: ngày 08, 10, 20, 28 …kỵ giờ Thân. Tháng tư: ngày 01, 11, 19, 26 …kỵ giờ Thìn. Tháng năm: ngày 01, 06, 09, 17, 25…kỵ giờ Dậu. Tháng sáu: ngày 08, 12, 15, 16 …kỵ giờ Mão. Tháng sáu nhuận: ngày 10, 11 …kỵ giờ Mão. Tháng bảy: ngày 01, 06, 16, 20, 28…kỵ giờ Dần. Tháng tám: ngày 01, 02, 08, 11, 20…kỵ giờ Tỵ. Tháng chín: ngày 02, 04, 17, 20, 28, 29…kỵ giờ Thân. Tháng mười: ngày 02, 04, 10, 15… kỵ giờ Thìn. Tháng Một (11): ngày 09, 10, 30…kỵ giờ Dậu. Tháng Chạp (12): ngày 04, 11, 15, 28…kỵ giờ Mão. Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, tiết Tiểu Hàn hạ 18/12/2017.
  2. Vài lời phi lộ, Theo thông lệ thường niên của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, những bài viết về “Lời tiên tri năm…” sẽ được nhà nghiên cứu Lý học Đông phương Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Thiên Sứ - công bố những dự đoán về các vấn đề trong và ngoài nước trong một năm để chiêm nghiệm, dưa trên phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương có nguồn gốc Văn hiến Việt 5000 năm, như Lạc Việt Độn toán, Luận tuổi Lạc Việt, Huyền Không Lạc Việt, Phong thủy Lạc Việt, các phương pháp bói thuần Việt… Và, được sự đồng ý của Thầy, nhà nghiên cứu Nguyễn vũ Tuấn Anh – Thiên Sứ -, cũng như theo tinh thần kế thừa phát huy việc vận dụng, ứng dụng các môn Lý học cổ Đông phương, tôi, Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, thành viên nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, trước không khí đón xuân mới năm Đinh Dậu 2017, xin mạo muôi đưa lên vài lời dự đoán tổng quan cho vấn đề thế giới, dựa trên các phương pháp ứng dụng của Học thuật cổ Đông phương nhằm chiêm nghiệm, giao lưu và học hỏi. Không dám cho là đúng vì đây cũng chỉ là nghiên cứu khởi phát sơ đầu, xin Thầy, Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, cũng như các đồng môn, các cao nhân có cùng chung việc nghiên ứng và ứng dụng Lý học Đông phương chỉ giáo thêm cho những cái được cái chưa được trong bài nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn sự tận tình dạy bảo của Sư Phụ (Thầy) Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh và mọi sự quan tâm chia sẻ của đồng môn, các cao nhân và mọi người yên thích Lý học đông phương. Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, tiết Đại Hàn thượng 21/12/2016. ============================ LỜI TIÊN TRI NĂM ĐINH DẬU 2017 VẬN KHÍ THIÊN HÀ THỦY Ngày 22 tháng Một, năm Bính Thân, giờ tỵ, chiếm quẻ: Khai tốc Hỷ - Hưu Xích khẩu Năm Đinh Dậu 2017, vận khí Thiên Hà Thủy, ngũ vận thuộc năm Thiếu giuốc Mộc vận Bất cập, lục khí Dương Minh Táo Kim tư thiên, Thiếu Âm Nhiệt Hỏa tại tuyền. Vài lời dự đoán, Tình hình chung của thế giới: Năm 2017 có thể là năm sẽ có nhiều biến động về thiên tai và nhân sự trên thế giới. Các cuộc giao thương ngoại giao trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, môi trường, xã hội, khoa học kỹ thuật… sẽ diễn ra rất nhiệt liệt, mở ra một giai đoạn hòa nhập, kết nối với phương diện toàn cầu, nhưng đều không thể đi đến một sự nhất quán chung hoặc được tiếp thu một cách nhiệt tình rốt ráo. Sự biến động giữa phương tây và phương Đông chủ yếu trên phương diện tài chánh và những định hướng về giáo dục đào tạo nhân sự trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi toàn cầu. Kinh Tế - Tài Chánh: Khai tốc Hỷ - Hưu Xích Khẩu Tài chánh dẫn đến rối loạn về an sinh xã hội, ảnh hưởng đến an ninh khu vực, nhóm và cá nhân. Các nước phương Tây sẽ có những cuộc biết động về mặt tài chánh dẫn đến những thông tin sai lệch hoặc phóng đại, những scandal lớn về tài chánh sẽ nổ ra dẫn đến một vài công ty tài chính cấp quốc tế tuyên bố vỡ nợ, hoặc phá sản. Các nước phương Đông cũng sẽ có những cuộc sôi động về thị trường tài chính, thị trường cổ phiếu sẽ tăng cao, nhưng đi kèm đó là những hệ lụy về tài chánh, sự nổ tung như bong bóng và những tăng trưởng ảo về chỉ số trên thị trường tiền tệ. Đồng tiền chung Châu Âu (Euro) lại phải chèo chống giữ mức giá ổn định, trong khi đó đồng Đô La (USD) vẫn giữ mức ổn định và có xu thế tăng nhẹ mặc dù kinh tế Mỹ vẫn phải đối đầu với nhiều biến động chính trị, xã hội là ảnh hưởng đến mức thu nhập và tiêu thụ của người dân. Đồng Nhân Dân tệ của Trung Quốc sẽ mất giá trầm trọng, sau những loạt biến động về thì trường tài chánh, sự đỗ vỡ của một vài công ty hay tập đoàn mang tính chất tài chánh; đồng Yên Nhật cũng trong tình trạng sụt giảm tỉ giá hối đoái gậy lo ngại đáng kể cho kinh tế Nhật, các công ty tài chánh, ngân hang phía Nam nước Nhật sẽ có một phen điều chỉnh lại cơ cấu hoạt động tài chính, ngân hàng để phù hợp với tình hình mới. Đồng Đô La Singapore cũng ở tình trạng chao đảo và sụt giảm giá, gậy ảnh hưởng mạnh đến thị trường lao động và đầu tư hợp tác trong và ngoài nước. Chính Trị: Hưu Xích Khẩu Những hình thức đối thoại giao lưu một cách gián tiếp hoặc những động thái vận động hàng lang giữa đông và tây về vấn đề biện giới, khu vực hay lãnh thổ, an ninh thế giới... sẽ diễn ra một cách xông xáo nhiệt liệt nhưng đều không đưa đến những tuyên bố nhất trí chung hay thỏa thuận chung, tuy vậy vẫn tạo tiền đề khả quan đáng chú ý cho những cuộc tiếp xúc bên lề hoặc về sau. Các nước quanh Địa trung Hải, Bắc Bắc Phi, Nam Châu Âu, qua phương Tây đến Nam Hoa Kỳ, Các nước chung quanh vịnh Caribe, Bắc của Nam Mỹ sẽ có những động thái mới cho phù hợp về mặt địa chính trị trong xu thế toàn cầu hóa và đa phương hóa. Xã Hội – Môi Trường: Sinh Tiểu Cát Năm 2017 có thế sẽ là năm nhất trí lớn giữa Đông và Tây về những giải pháp ổn đinh cụ thể về an sinh xã hội và môi trường, sẽ có những ký kết mở đường hoặc phát triển tiếp theo cho những giải pháp xã hội – môi trường của những năm vừa qua và những năm tiếp theo về tăng trưởng dân số, tăng trưởng thu nhập, những ký kết về tái tạo môi sinh, bảo vệ môi trường rừng cây, sông biển và nông nghiệp được tuyên phát hứa kết. Thị trường lao động ở các nước Đông Á, Đông Nam Á sẽ rất nhộn nhịp, thu hút lực lượng nhân công lao động từ cấp phổ thông đến chuyên môn cấp cao từ các nước đến hợp tác lao động, mặc dù tình hình kinh tế của các nước tại đây, tựu chung vẫn biến động. Văn Hóa: Thương Vô Vong Biến động về địa kinh tế và địa chính trị, cũng đi kèm với sự trăn trở về việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc; sẽ có những cuộc vận động nổ lực hơn về việc bảo vệ những di tích di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đang có nguy cơ bị phá bỏ, bị xâm phạm trên thế giới. Thiên Tai: Đỗ Đại An Các nước phương Tây và Đông sẽ khá vất vả trong việc phòng chống thiên tai như bão lụt, động đất và những những biến đổi về khí hậu; có thể có những cuộc động đất từ 7,0 – 7,5 độ Richter, từ sau tháng 7 trở đi. Tuy vậy, sẽ không có thiệt hại lớn về người và của. Đáng chú ý là các nước quanh Địa trung Hải, Bắc Bắc Phi, Nam Châu Âu, qua phương Tây đến Nam Hoa Kỳ, Các nước chung quanh vịnh Caribe, Bắc của Nam Mỹ, những nước này dễ có khả năng đón nhận những biến động về môi trường và khí hậu bất thường, động đất, bão lũ hay hạn hán đột ngột, nhưng sẽ ở trong vòng kiểm soát được về người và của một cách an toàn. Một số nước phương Đông có thể xảy ra sự biến đổi khí hậu trái mùa, hạn hán, nắng nóng; một số nước phương tây có thể có những đợt rét tuyết hơn bình thường và bão tuyết mạnh hơn. Nhân Họa: Cảnh Lưu Niên Vấn đề an ninh Khu vực cần được nâng cao cảnh giác, nạn lừa đảo cấp quốc tế có nổi trội ở các nước Đông á và Đông Nam Á. Dịch Bệnh: Tử Tốc Hỷ Đề phòng những bệnh và dịch bệnh liên quan đến thần kinh và tả lỵ, tiêu chảy, những dịch bệnh bùng phát nhanh có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng cao nhưng cũng dễ bị ngăn chăn kịp thời trước hay triệt hạ trước. Có thể sẽ có những đợt lạnh khô hanh đột ngột do tình trạng biến đổi khí hậu trong 06 tháng đầu năm, ở sáu tháng cuối năm có thể sẽ có những đợt nắng nóng ray rứt đột ngột ở nhiệt độ cao gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người dân trên thế giới. Khoa Học Kỹ Thuật: Kinh Tiểu Cát Khoa học kỹ thuật trên thế giới sẽ có cuộc giao lưu giữa Đông và Tây. Khoa học về lý thuyết cổ xưa của phương đông sẽ được tiếp thu một cách có hệ thống bởi phương Tây, ngược lại khoa học thực dụng, công nghệ tiên tiến sẽ được áp dụng rộng rãi ở phương Đông. Các công nghệ cơ bản cũng như công nghệ tin học sẽ có những bước phát triễn ở tầm mức tinh vi hơn; những sản phẩm công nghệ mới mô phỏng tinh tế hơn về tự nhiên, sinh vật và con người. Khoa học thực nghiệm phương Tây sẽ ngày càng tiệm cận đến lý thuyết và phương pháp ứng dụng của lý thuyết cổ xưa phương Đông, thể hiện qua những nghiên cứu thực dụng về giới tự nhiên, xã hội và con người. Khoa học về sinh học và y khoa sẽ có những phát hiện hoặc công bố mới về bí mật con người như sơ đồ gen, sóng- điện não…tiệm cận với những lý thuyết cổ xưa đông phương. Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, tiết Đại Hàn thượng 21/12/2017.
  3. Vài lời phi lộ, Theo thông lệ thường niên của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, những bài viết về “Lời tiên tri năm…” sẽ được nhà nghiên cứu Lý học Đông phương Nguyễn Vũ Tuấn Anh – Thiên Sứ - công bố những dự đoán về các vấn đề trong và ngoài nước trong một năm để chiêm nghiệm, dưa trên phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương có nguồn gốc Văn hiến Việt 5000 năm, như Lạc Việt Độn toán, Luận tuổi Lạc Việt, Huyền Không Lạc Việt, Phong thủy Lạc Việt, các phương pháp bói thuần Việt… Và, được sự đồng ý của Thầy, nhà nghiên cứu Nguyễn vũ Tuấn Anh – Thiên Sứ -, cũng như theo tinh thần kế thừa phát huy việc vận dụng, ứng dụng các môn Lý học cổ Đông phương, tôi, Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, thành viên nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, trước không khí đón xuân mới năm Đinh Dậu 2017, xin mạo muôi đưa lên vài lời dự đoán tổng quan cho vấn đề thế giới, dựa trên các phương pháp ứng dụng của Học thuật cổ Đông phương nhằm chiêm nghiệm, giao lưu và học hỏi. Không dám cho là đúng vì đây cũng chỉ là nghiên cứu khởi phát sơ đầu, xin Thầy, Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, cũng như các đồng môn, các cao nhân có cùng chung việc nghiên ứng và ứng dụng Lý học Đông phương chỉ giáo thêm cho những cái được cái chưa được trong bài nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn sự tận tình dạy bảo của Sư Phụ (Thầy) Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh và mọi sự quan tâm chia sẻ của đồng môn, các cao nhân và mọi người yên thích Lý học đông phương. Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, tiết Đại Hàn thượng 21/12/2017. ============================ LỜI TIÊN TRI NĂM ĐINH DẬU 2017 VẬN KHÍ THIÊN HÀ THỦY Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương Ngày 22 tháng Một, năm Bính Thân, giờ tỵ, chiếm quẻ: Khai tốc Hỷ - Hưu Xích khẩu Năm Đinh Dậu 2017, vận khí Thiên Hà Thủy, ngũ vận thuộc năm Thiếu giuốc Mộc vận Bất cập, lục khí Dương Minh Táo Kim tư thiên, Thiếu Âm Nhiệt Hỏa tại tuyền. Vài lời dự đoán, Tình hình chung của thế giới: Năm 2017 có thể là năm sẽ có nhiều biến động về thiên tai và nhân sự trên thế giới. Các cuộc giao thương ngoại giao trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, môi trường, xã hội, khoa học kỹ thuật… sẽ diễn ra rất nhiệt liệt, mở ra một giai đoạn hòa nhập, kết nối với phương diện toàn cầu, nhưng đều không thể đi đến một sự nhất quán chung hoặc được tiếp thu một cách nhiệt tình rốt ráo. Sự biến động giữa phương tây và phương Đông chủ yếu trên phương diện tài chánh và những định hướng về giáo dục đào tạo nhân sự trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi toàn cầu. Kinh Tế - Tài Chánh: Khai tốc Hỷ - Hưu Xích Khẩu Tài chánh dẫn đến rối loạn về an sinh xã hội, ảnh hưởng đến an ninh khu vực, nhóm và cá nhân. Các nước phương Tây sẽ có những cuộc biết động về mặt tài chánh dẫn đến những thông tin sai lệch hoặc phóng đại, những scandal lớn về tài chánh sẽ nổ ra dẫn đến một vài công ty tài chính cấp quốc tế tuyên bố vỡ nợ, hoặc phá sản. Các nước phương Đông cũng sẽ có những cuộc sôi động về thị trường tài chính, thị trường cổ phiếu sẽ tăng cao, nhưng đi kèm đó là những hệ lụy về tài chánh, sự nổ tung như bong bóng và những tăng trưởng ảo về chỉ số trên thị trường tiền tệ. Đồng tiền chung Châu Âu (Euro) lại phải chèo chống giữ mức giá ổn định, trong khi đó đồng Đô La (USD) vẫn giữ mức ổn định và có xu thế tăng nhẹ mặc dù kinh tế Mỹ vẫn phải đối đầu với nhiều biến động chính trị, xã hội là ảnh hưởng đến mức thu nhập và tiêu thụ của người dân. Đồng Nhân Dân tệ của Trung Quốc sẽ mất giá trầm trọng, sau những loạt biến động về thì trường tài chánh, sự đỗ vỡ của một vài công ty hay tập đoàn mang tính chất tài chánh; đồng Yên Nhật cũng trong tình trạng sụt giảm tỉ giá hối đoái gậy lo ngại đáng kể cho kinh tế Nhật, các công ty tài chánh, ngân hang phía Nam nước Nhật sẽ có một phen điều chỉnh lại cơ cấu hoạt động tài chính để phù hợp với tình hình mới. Đồng Đô La Singapore cũng ở tình trạng chao đảo và sụt giảm giá, gậy ảnh hưởng mạnh đến thị trường lao động và đầu tư hợp tác trong và ngoài nước. Chính Trị: Hưu Xích Khẩu Những hình thức đối thoại giao lưu một cách gián tiếp hoặc những động thái vận động hàng lang giữa đông và tây về vấn đề biện giới, khu vực hay lãnh thổ, an ninh thế giới... sẽ diễn ra một cách xông xáo nhiệt liệt nhưng đều không đưa đến những tuyên bố nhất trí chung hay thỏa thuận chung, tuy vậy vẫn tạo tiền đề khả quan đáng chú ý cho những cuộc tiếp xúc bên lề hoặc về sau. Các nước quanh Địa trung Hải, Bắc Bắc Phi, Nam Châu Âu, qua phương Tây đến Nam Hoa Kỳ, Các nước chung quanh vịnh Caribe, Bắc của Nam Mỹ sẽ có những động thái mới cho phù hợp về mặt địa chính trị trong xu thế toàn cầu hóa và đa phương hóa. Xã Hội – Môi Trường: Sinh Tiểu Cát Năm 2017 có thế sẽ là năm nhất trí lớn giữa Đông và Tây về những giải pháp ổn đinh cụ thể về an sinh xã hội và môi trường, sẽ có những ký kết mở đường hoặc phát triển tiếp theo cho những giải pháp xã hội – môi trường của những năm vừa qua và những năm tiếp theo về tăng trưởng dân số, tăng trưởng thu nhập, những ký kết về tái tạo môi sinh, bảo vệ môi trường rừng cây, sông biển và nông nghiệp được tuyên phát hứa kết. Thị trường lao động ở các nước Đông Á, Đông Nam Á sẽ rất nhộn nhịp, thu hút lực lượng nhân công lao động từ cấp phổ thông đến chuyên môn cấp cao từ các nước đến hợp tác lao động, mặc dù tình hình kinh tế của các nước tại đây, tựu chung vẫn biến động. Văn Hóa: Thương Vô Vong Biến động về địa kinh tế và địa chính trị, cũng đi kèm với sự trăn trở về việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc; sẽ có những cuộc vận động nổ lực hơn về việc bảo vệ những di tích di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đang có nguy cơ bị phá bỏ, bị xâm phạm trên thế giới. Thiên Tai: Đỗ Đại An Các nước phương Tây và Đông sẽ khá vất vả trong việc phòng chống thiên tai như bão lụt, động đất và những những biến đổi về khí hậu; có thể có những cuộc động đất từ 7,0 – 7,5 độ Richter, từ sau tháng 7 trở đi. Tuy vậy, sẽ không có thiệt hại lớn về người và của. Đáng chú ý là các nước quanh Địa trung Hải, Bắc Bắc Phi, Nam Châu Âu, qua phương Tây đến Nam Hoa Kỳ, Các nước chung quanh vịnh Caribe, Bắc của Nam Mỹ, những nước này dễ có khả năng đón nhận những biến động về môi trường và khí hậu bất thường, động đất, bão lũ hay hạn hán đột ngột, nhưng sẽ ở trong vòng kiểm soát được về người và của một cách an toàn. Nhân Họa: Cảnh Lưu Niên Vấn đề an ninh Khu vực cần được nâng cao cảnh giác, nạn lừa đảo cấp quốc tế có nổi trội ở các nước Đông á và Đông Nam Á. Dịch Bệnh: Tử Tốc Hỷ Đề phòng những bệnh và dịch bệnh liên quan đến thần kinh và tả lỵ, tiêu chảy, những dịch bệnh bùng phát nhanh có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng cao nhưng cũng dễ bị ngăn chăn kịp thời trước hay triệt hạ trước. Có thể sẽ có những đợt lạnh khô hanh đột ngột do tình trạng biến đổi khí hậu trong 06 tháng đầu năm, ở sáu tháng cuối năm có thể sẽ có những đợt nắng nóng ray rứt đột ngột ở nhiệt độ cao gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người dân trên thế giới. Khoa Học Kỹ Thuật: Kinh Tiểu Cát Khoa học kỹ thuật trên thế giới sẽ có cuộc giao lưu giữa Đông và Tây. Khoa học về lý thuyết cổ xưa của phương đông sẽ được tiếp thu một cách có hệ thống bởi phương Tây, ngược lại khoa học thực dụng, công nghệ tiên tiến sẽ được áp dụng rộng rãi ở phương Đông. Các công nghệ cơ bản cũng như công nghệ tin học sẽ có những bước phát triễn ở tầm mức tinh vi hơn; những sản phẩm công nghệ mới mô phỏng tinh tế hơn về tự nhiên, sinh vật và con người. Khoa học thực nghiệm phương Tây sẽ ngày càng tiệm cận đến lý thuyết và phương pháp ứng dụng của lý thuyết cổ xưa phương Đông, thể hiện qua những nghiên cứu thực dụng về giới tự nhiên, xã hội và con người. Khoa học về sinh học và y khoa sẽ có những phát hiện hoặc công bố mới về bí mật con người như sơ đồ gen, sóng- điện não…tiệm cận với những lý thuyết cổ xưa đông phương. Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn, tiết Đại Hàn thượng 21/12/2017.
  4. Kỳ bí y thuật Tây Tạng (*): Độc đáo y lý Cơ sở lý luận của y học Tây Tạng hoàn toàn khác y học phương Tây, một bộ phận phù hợp với Trung y nhưng có rất nhiều điểm độc đáo Trong y học Tây Tạng miêu tả rất tỉ mỉ quá trình hình thành và phát triển của một bào thai cũng như quá trình một thần thức (linh hồn) đi về thế giới bên kia. “Ngũ đại nguyên tố” Lạt ma giáo là tôn giáo chính thống của Tây Tạng nên y học ở vùng đất này chịu ảnh hưởng sâu đậm của triết học cổ Ấn Độ. Theo đó, mọi hiện tượng vật chất trong vũ trụ đều được cấu thành bởi 5 nguyên tố: địa (đất), thủy (nước), hỏa (lửa), phong (gió), không (rỗng, không). Năm nguyên tố này tuy tiếp xúc với nhau nhưng luôn giữ ở mức độ cân bằng nhất định. Nếu chúng hỗn loạn thì vạn vật trong vũ trụ sẽ bị điên đảo, ở con người thì gây nên các loại bệnh tật. Địa: Là nguồn sức mạnh làm sản sinh ra thực thể rắn chắc có vị trí cố định như gân xương, da thịt. Thủy: Là nguồn sức mạnh thúc đẩy sự dung hóa, hấp thu, làm cho vật chất không phân tán, có đặc tính thể hiện là mát mẻ, lưu động, như huyết dịch, nội phân tiết... Một y sư Tây Tạng khám chữa bệnh Ảnh: Internet Hỏa: Là nguồn sức mạnh làm hoàn thiện sự chuyển hóa của vật chất, đặc tính thể hiện là nguồn năng lượng nóng, bốc lên, như thân nhiệt. Phong: Là nguồn sức mạnh làm cho vật chất di chuyển, hoán chuyển, thể hiện qua động lực chuyển động, như hô hấp. Không: Là nguồn sức mạnh có thể dung chứa vạn vật, làm cho 4 nguyên tố kia vận hành tự nhiên, thể hiện qua sức chứa đựng vô hạn, hư không, như không gian chứa đựng cơ thể hoặc những khoảng trống bên trong cơ thể. Khi mắc bệnh, khởi đầu thì địa tăng mạnh khiến cho thân thể nặng nhọc; tiếp theo là thủy tích khiến nước chứa nhiều, làm chảy nước mắt, nước mũi; thứ ba là hỏa phát khiến cho đầu, toàn thân nóng ran; thứ tư là phong động mạnh khiến cho khí ngưng, khó thở. Khi một sinh vật chết đi, 5 nguyên tố này rã tan ra, như ngừng thở (phong dứt), không còn hơi ấm (hỏa dứt), huyết dịch không còn tuần hoàn (thủy dứt), thân xác rã nát (địa dứt), chôn vùi trong hư không (không dứt). 7 chất cơ bản, 3 chất ô uế Theo y lý Tây Tạng, trong cơ thể con người có 7 loại chất cơ bản, gồm: máu, nước bọt, mỡ, tinh, cơ bắp, xương và tủy; 3 loại chất ô uế là mồ hôi, nước tiểu và phân. Mười loại vật chất này trong cơ thể theo một định lượng cân bằng, bất cứ một chất nào quá nhiều hoặc quá ít, phá vỡ trạng thái cân bằng này đều dẫn đến bệnh tật. Ngoài ra, y học Tây Tạng cũng có cái nhìn hoàn chỉnh và chính xác về các tổ chức lục phủ ngũ tạng, kết cấu xương khớp, cơ bắp... tương tự y học hiện đại, có điều đã đi trước hơn ngàn năm. Y học Tây Tạng quy nạp kinh lạc trong cơ thể thành 2 nhóm là mạch đen và mạch trắng. Mạch đen lại chia ra 2 loại là động mạch nhảy và động mạch không nhảy, tất cả đều xuất phát từ tim mà chuyển đi khắp các bộ phận trong cơ thể. Mạch trắng xuất phát từ não, phân bổ xuống toàn thân tựa như bộ rễ cây đa. Kinh lạc là mấu chốt của y học Tây Tạng, tất cả các bệnh sinh lý và tâm lý đều liên quan trực tiếp đến hệ thống này. Khi trích máu hoặc châm cứu đều căn cứ theo những hiểu biết về kinh lạc mà thực hiện. Công năng sinh lý và tâm lý trong cơ thể là do 3 đại nguyên tố duy trì, đó là: loong, tripa và beygen. Ở trạng thái bình thường, 3 nguyên tố trên vận hành hòa hợp với nhau. Nếu như vì nhân tố nội tại (như tuổi cao, già yếu) hoặc nhân tố ngoại tại (thời tiết thay đổi, ăn uống, nghỉ ngơi thất thường), sẽ làm cho 3 đại nguyên tố trên mất cân bằng, gây rối loạn đến sự vận hành của 7 chất cơ bản, 3 chất ô uế, gây ra thân bệnh hoặc tâm bệnh. Loong: Là nguồn động lực làm cho hệ thống cơ năng cơ thể hoạt động. Mắt thường không thể nhìn thấy loong nhưng nó rõ ràng tồn tại. Khí hiện diện trong các bộ phận cơ thể, tập trung ở não, tim, xương cốt để vận hành hệ thống kinh lạc trong người. Nó duy trì hoạt động của hô hấp, tuần hoàn, bài tiết, tiêu hóa, tư duy, cảm giác. Có 5 loại là trì mệnh khí chi phối việc nuốt, hít thở và phản xạ toàn thân, liên quan trực tiếp đến tâm trí; thượng hành khí chi phối ngôn ngữ và trí nhớ; biến chú khí chi phối động tác tứ chi và biểu hiện trên mặt; hạ tiết khí vận hành ở ruột, bàng quang, cơ quan sinh dục, chi phối việc bài tiết, sinh sản; bạn hỏa khí vận hành ở dạ dày, gan, chi phối việc tiêu hóa thức ăn và chuyển hóa dinh dưỡng. Tripa: Có công năng điều chỉnh nhiệt độ cơ thể và chủ trì tiêu hóa, tương đương với khái niệm “Hỏa” trong Trung y, chia làm 5 loại: Năng tiêu tripa nằm ở dạ dày, chi phối việc tiêu hóa và sản sinh nhiệt năng; biến sắc tripa nằm ở gan, chủ việc sản sinh sắc tố trong máu, phân, dịch mật; năng tác tripa nằm ở tim, liên quan đến việc biến đổi trạng thái tình cảm; năng thị tripa nằm ở mắt, giúp cho mắt nhìn rõ và phân biệt mọi vật; minh sắc tripa phân bố trên da, chi phối khí sắc cũng như độ bóng của da. Beygen: Là do 2 đại nguyên tố “Thủy” và “Địa” sinh ra, liên quan đến sự phân tiết thể dịch trong cơ thể, chia làm 5 loại: Năng y beygen có tác dụng chi phối, điều tiết 4 beygen còn lại; năng hóa beygen phối hợp với hỏa khí và năng hóa tripa giúp tiêu hóa thức ăn; năng vị beygen giúp cho lưỡi phân biệt được mùi vị; năng túc beygen chi phối các phản ứng về tình cảm; năng hợp beygen làm cho hệ thống xương khớp liền lạc với nhau và hoạt động linh hoạt. 404 loại bệnh Y học Tây Tạng cho rằng bệnh tật có tất cả 404 loại, mỗi loại lại có các chứng khác nhưng nguyên nhân gây bệnh không nằm ngoài sự biến đổi khác thường của 3 đại nguyên tố loong, tripa và beygen, dẫn đến mất cân bằng trong 7 loại chất cơ bản và 3 loại chất ô uế. Thông thường, bệnh khởi do nguyên tố tripa thì gây ra chứng nhiệt (nóng), do beygen gây ra thì thành chứng hàn (lạnh). Ba đại nguyên tố này có liên quan đến 3 loại tâm bệnh là tham lam, sân hận và ngu si. Lòng tham lam là nguyên nhân nội tại gây ra các chứng bệnh về loong (khí), sân hận là nguyên nhân nội tại gây ra các bệnh thuộc tripa, sự mê muội là nguyên nhân chính gây các bệnh về beygen. Ba đại nguyên tố này cũng là nền tảng để xem tướng mạo, đoán bệnh tật. Chẳng hạn, người bẩm sinh có nguyên tố loong (khí) thịnh thì thường là gầy, da đen, sợ lạnh, thích ăn đồ cay, đắng, dễ bị cảm cúm, khí suyễn…
  5. KỲ BÍ Y THUẬT TÂY TẠNG: ỨNG DỤNG LỊCH PHÁP HÀNH NGHỀ Y Ngày 24.4.1986, xảy ra hiện tượng nhật thực. Các pháp sư Tây Tạng chỉ dùng một bàn tính bằng gỗ, áp dụng lịch pháp cổ đã dự đoán thời gian xảy ra nhật thực chỉ kém 2 phút so với các đài thiên văn hiện đại Lịch pháp có quan hệ rất mật thiết trong y thuật Tây Tạng, bao gồm cả thiên văn học và địa lý học. Theo đó, một năm chia ra 4 mùa, 12 tháng, 24 tiết khí rất tỉ mỉ. Cơ thể con người cũng như vạn vật trong vũ trụ đều do 4 đại nguyên tố địa, thủy, hỏa, phong cấu thành. Dược liệu và lịch pháp Khi hành nghề y, hái thuốc là môn bắt buộc trong y thuật Tây Tạng. Các loại cây cỏ ở mỗi mùa khác nhau, thậm chí từng giờ trong ngày, dược tính đều có biến đổi, dẫn đến công hiệu khác nhau. Một lương y Tây Tạng thực thụ thường tự mình đi hái thuốc, tuân thủ rất nghiêm ngặt vào từng mùa, từng giờ. Chính vì thế, trong trị liệu, người Tây Tạng cũng phối hợp theo nguyệt lệnh, rất chú trọng đến thời gian nấu thuốc, dùng thuốc, thậm chí thời gian nào thì chủ trị bệnh gì nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất. Đồ hình phát triển bào thai theo y lý Tây Tạng. Ảnh: Iinternet Chịu ảnh hưởng Phật giáo, các thầy thuốc Tây Tạng coi việc hái thuốc trị bệnh là một phương thức tu hành, cứu độ chúng sinh. Mỗi sáng, trước khi đi hái thuốc đều tụng niệm trước tượng Phật Dược Sư. Thường thì mùa hạ và mùa thu là thời gian hái thuốc tốt nhất. Hái hoa làm thuốc nên hái lúc đầu hạ; lá và mầm cây nên hái lúc giữa hạ; hạt, rễ, cành, quả thực phải hái vào mùa thu; vỏ cây nên lấy vào mùa đông. Có những loại quả mà dược tính mạnh nhất lúc mới kết, số khác thì lúc chín làm thuốc mới công hiệu. Một loại dược thảo tính hàn phải sinh trưởng ở vùng đất lạnh thì dược lực mới mạnh, nếu mọc ở thảo nguyên ấm áp thì không làm thuốc được. Cao nguyên Thanh Tạng là nơi có nhiều dược liệu quý hiếm nổi tiếng xưa nay. Những đàn bò được thả ở đây thoải mái ăn những cây cỏ quý hiếm và uống nguồn nước tinh khiết từ tuyết tan ra nên sữa của chúng cũng là nguồn dược liệu rất quý, khác với mọi nơi. Trà sữa là món uống thường ngày của người Tây Tạng, nhờ đó mà nơi đây trở thành khu vực có số người trường thọ cao nhất thế giới. Tuy không có những trang thiết bị khám bệnh hiện đại nhưng về chẩn đoán bệnh thì y thuật Tây Tạng không thua kém tây y là mấy. Chẩn đoán bệnh là nội dung quan trọng nhất trong y thuật Tây Tạng. Một thầy thuốc bị sai lầm từ giai đoạn đoán bệnh thì dù ông ta có giỏi về dược liệu đến mấy cũng chẳng có tác dụng gì. Phương pháp chẩn bệnh Tây Tạng chia làm 3 loại: Sắc chẩn (quan sát sắc diện), mạch chẩn (bắt mạch) và vấn chứng (hỏi han), tương tự như các thủ thuật “vọng”, “thiết” và “vấn” trong đông y. Sắc chẩn là phương pháp quan sát biểu hiện của bệnh nhân, gồm có: Quan sát bề ngoài, quan sát lưỡi và quan sát nước tiểu. Quan sát bề ngoài là nhìn da của bệnh nhân xem độ bóng sáng, đàn hồi như thế nào; thể hình ra sao cũng như độ nhạy của mắt, tình trạng ra mồ hôi. Quan sát lưỡi là khám đầu lưỡi, rêu lưỡi, gốc lưỡi, gốc răng xem màu sắc, độ sáng, độ khô hoặc ẩm, các triệu chứng khác thường. Thể chất mạnh hay yếu, bệnh chứng hàn hay táo của bệnh nhân đều thể hiện qua lưỡi. Niệu chẩn Niệu chẩn là phương pháp chẩn bệnh cổ xưa và độc đáo của Tây Tạng, cho đến nay vẫn rất được các thầy thuốc coi trọng vì khi phối hợp với mạch chẩn có thể giúp chẩn đoán chính xác tình trạng sức khỏe bệnh nhân. Trước khi khám 1 ngày, bệnh nhân không được ăn các thức ăn quá ngọt, quá chua, quá béo, không được uống rượu, phòng sự hay lao động nặng. Nước tiểu bệnh nhân chỉ lấy vào lúc sáng ngủ dậy, bỏ quãng đầu và cuối, cho vào lọ gốm trắng hay thủy tinh. Thầy thuốc phải chẩn bệnh ngay khi nước tiểu còn nóng, chủ yếu là xét màu sắc, mùi vị, độ bọt, độ nóng và độ lắng của nước tiểu để định bệnh. Màu nước tiểu của người bình thường sẽ có màu vàng nhạt hoặc vàng vừa, người có bệnh khí mạch không thuận thì nước tiểu chuyển màu trong nhạt, người bị nhiệt táo thì nước tiểu vàng sẫm. Ở người bình thường, nước tiểu có mùi hơi khai, nếu có mùi quá khai hoặc không mùi thì đều là trạng thái bất thường. Độ khai nặng hay nhẹ phản ánh bệnh tính hàn hay nhiệt, bệnh phát ở gan, mật hay thận, tì… Khi kiểm tra độ bọt, thầy thuốc dùng que khuấy lọ nước tiểu, sau đó quan sát tình trạng nổi bọt từ màu sắc, số lượng, độ lớn nhỏ, thời gian tan. Người có sức khỏe bình thường sẽ có ít bọt khí nổi lên, màu bọt tương tự màu nước tiểu, đồng thời độ lớn nhỏ của bọt đều nhau. Người có bệnh thì khác. Chẳng hạn, người bệnh về khí mạch thì bọt nước tiểu thường to và có màu xanh lơ; người bị nhiễm độc thì bọt nước tiểu lớn nhỏ không đều, màu sắc biến đổi vô chừng. Độ nóng và độ bốc hơi của nước tiểu cũng là tiêu chí quan trọng để các thầy thuốc Tây Tạng định bệnh. Nếu nước tiểu có độ nóng cao và thời gian bốc hơi nhanh chứng tỏ bệnh nhân mắc bệnh cấp tính, nếu bốc hơi chậm là bị bệnh nhiệt mạn tính. Nếu nước tiểu ít nóng mà bốc hơi quá nhanh chứng tỏ bệnh nhân mắc bệnh tính hàn. Quan sát độ lắng và màu sắc vật lắng của nước tiểu cũng có thể đoán bệnh. Nước tiểu sau khi bay hơi, những chất cặn sẽ dần dần lắng xuống. Ở những người khỏe mạnh thì hầu như không thấy chất cặn trong nước tiểu. Nếu chất cặn trong nước tiểu nhỏ li ti và không lắng xuống thì chứng tỏ người bệnh thuộc chứng hàn; nếu chất cặn thành lớp dày và nổi là bệnh thuộc chứng nhiệt; nếu chất cặn lắng xuống sát đáy lọ là bệnh ở thận, ruột hoặc khối u. Hình dạng của chất cặn cũng phản ánh bệnh, như cặn giống vụn cát là bệnh từ thận… Phải nắm vững lịch pháp Sự vận hành của thiên thể ảnh hưởng đến sự thay đổi thiên khí và 4 đại nguyên tố khiến cho vạn vật đều bị chi phối. Về mặt đại thể, có thể thấy thực vật là thứ thể hiện rõ nhất sự ảnh hưởng của lịch pháp, chẳng hạn cây cối mùa xuân sinh trưởng, mùa đông điêu tàn. Cũng vậy, núi sông, đất đá hay các loài động vật cũng bị chi phối theo sự vận chuyển của mặt trời, mặt trăng, các vì sao cũng như hoàn cảnh địa lý. Người học y thuật Tây Tạng phải nắm vững mối quan hệ trên cũng như quy tắc vận hành tinh vi của lịch pháp ảnh hưởng đến cơ chế sinh bệnh như thế nào. Theo Thiên Tường/Người Lao Động
  6. Tuệ Tĩnh Thiền sư, ông tổ ngành dược Việt Nam Tuệ Tĩnh Thiền sư (1930 -?) được gọi tắt Tuệ Tĩnh. Quê gốc tại làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương). Ông có nhiều bộ sách như: Nam dược thần hiệuvà Hồng Nghĩa giác tư y thư rất nổi tiếng và có ý nghĩa về lịch sử y hoc và văn học Việt Nam. Ông được phong là ông tổ ngành dược Việt Nam. Tiểu sử Tuệ Tĩnh Thiền sư. Theo những tài liệu nghiên cứu, ngôn ngữ học Việt Nam có ghi Tuệ Tĩnh thuộc đời nhà Trần.Tên thật ông là Nguyễn Bá Tĩnh (阮伯靜), biệt hiệu là Tráng Tử Vô Dật quê ở làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng (nay là tỉnh Hải Dương). Đại danh y Thiền sư Tuệ Tĩnh là người đã đặt nền móng trong việc xây dựng nên y học cổ truyền Ông mô côi mẹ từ lúc 6 tuổi và được các sư tại chùa Hải Triều và chùa Giao thuy nuôi ăn học. Đến năm 22 tuổi ông đỗ đạt thi cử nhưng ko ra làm quan mà đi tu tại chùa và lấy pháp danh là Tuệ Tĩnh. Trong thời gian đi tu, ông chuyên tâm nghiên cứu y học cổ truyền, làm thuốc chữa bệnh cứu người. Đến năm 55 tuổi, với kiến thức uyên bác về y dược của mình, ông bị cống sang nhà Minh ở Trung Quốc. Sang Trung Quốc ông vẫn nghiên cứu về y học và làm thuốc. Tài năng của ông được vua Minh phong là Đại y Thiền sư. Ông qua đời tại Giang Nam Trung Quốc không rõ năm nào. Tuệ Tĩnh trong thời gian tại Trung Quốc luôn nhớ về quê hương và luôn mong muốn được trở về quê hương. Chính vì vậy trên bia mộ ông có dòng chữ “Ai về nước Nam cho tôi về với”. Năm 1960 tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đi sứ sang Trung Quốc, vô tình thấy mộ Tuệ Tĩnh. Cảm động với lời nhắn gửi của ông, tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đã sao chép lại rồi tạc đá mang về Hải Dương. Công trình y – dược của Tuệ Tĩnh. Trước khi sang Trung Quốc, trong thời gian ở trong nước, ông luôn chú trong trông cây thuốc, chữa bệnh và giảng dạy y đồ cho các tăng đồ. Ông đã tổng hợp những kiến thức y – dược của mình để viết nên bộ sách Nam dược thần hiệu chia làm 10 khoa. Hồng Nghĩa giác tư y thư (2 quyển) biên soạn bằng quốc âm, trong đó có bản thảo 500 vị thuốc nam, viết bằng thơ Nôm Đường luật, và bài “Phú thuốc Nam” 630 vị cũng bằng chữ Nôm. Nguồn : Wikipedia
  7. Kỳ bí y thuật Tây Tạng Tây Tạng hấp thụ nhiều tri thức y học cổ của Ấn Độ, Ba Tư, Hy Lạp và Trung Quốc, kết hợp với y thuật bản địa hình thành nên một nền y học vừa phong phú vừa kỳ bí Ngày càng có nhiều chuyên gia y tế phương Tây đến Tây Tạng (Tibet) để tìm hiểu nền y học cổ sơ độc đáo của xứ sở được xem là “nóc nhà thế giới” kỳ bí này. Đậm màu sắc tôn giáo Có thể nói không một nền y học nào trên thế giới lại hòa quyện với ý thức như y thuật Tây Tạng. Ở đây, Phật giáo (Mật tông, Lạt ma giáo) là quốc giáo. Y sư Tây Tạng hành nghề không chỉ để kiếm sống mà còn là một phương pháp tu trì. Trước đây, hầu hết người hành nghề y ở Tây Tạng đều là những bậc chân tu, lấy việc làm của mình để cầu lợi cho chúng sinh. Các chùa ở Tây Tạng đều thờ vị Dược Sư Phật (Bhaishajyaguru), còn gọi là Đại Y Vương Phật, Y Vương Thiện Thệ, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, là giáo chủ của Đông phương Lưu Ly thế giới. Hệ thống kinh mạch theo y lý Tây Tạng mà các vị y sư phải thông hiểu Ảnh: INTERNET Dược Sư Phật từng lập 12 điều thệ nguyện để cứu độ chúng sinh. Trong đó, có mấy điều liên quan đến việc bảo vệ sức khỏe tâm lý như: “sở cầu mãn túc” - làm thỏa mãn mọi nhu cầu của chúng sinh khiến chúng sinh an nhiên tự tại; “an lập chính kiến, khổ não giải thoát” - làm cho chúng sinh có được kiến giải chính xác, giải thoát tất cả khổ não… Dược Sư Phật có 2 hóa thân: một là Dược Thụ Vương, chuyên cứu chữa bệnh tật thể xác của người (bệnh sinh lý); hai là Như Ý Châu Vương, chuyên trị bệnh tật tinh thần (bệnh tâm lý). Theo “Pháp Hoa kinh” thì uống Như Ý Châu có thể đạt được như ý, khỏi các bệnh về tinh thần khiến cho thân tâm an lạc, sức khỏe dồi dào. Do y học Tây Tạng gắn bó rất mật thiết với Phật pháp nên khái niệm y đức rất được coi trọng và mang đậm màu sắc tôn giáo. Hệ thống y học hiện đại có thể không đặt nặng mối liên hệ giữa y đức với trình độ chữa bệnh của thầy thuốc nhưng ở Tây Tạng, khi chọn thầy thuốc, tiêu chuẩn hàng đầu là y đức, còn hiểu biết và trình độ y thuật là thứ yếu. Họ tin rằng khi thầy thuốc phát nguyện cứu khổ chúng sinh, lòng từ bi rộng mở thì những phương thuốc bình thường cũng hiệu nghiệm hơn rất nhiều so với người giỏi y thuật nhưng tâm địa không thiện. Do đó, đối với thầy thuốc Tây Tạng, trí tuệ và lòng từ bi phải được chú trọng như nhau. Người nhập môn y thuật Tây Tạng trước hết phải thuộc những điều thệ nguyện được lấy từ bộ y thư kinh điển “Tứ bộ y điển”. Bộ kinh này có những điều như: đối với người bệnh phải phát tâm từ bi, trị bệnh không phân thân sơ, chữa bệnh cho thuốc không cần báo đáp, không coi vật bài tiết của bệnh nhân là dơ dáy… Hằng ngày, y sinh phải đọc lại những điều ấy. “Tứ bộ y điển” còn dạy về cách đối xử giữa thầy thuốc với thầy thuốc, trách nhiệm của người thầy với môn đồ, yêu cầu phẩm cách của một thầy thuốc… Người hành nghề thuốc phải luôn tâm niệm rằng “những hiểu biết và trình độ y thuật chỉ làm cho một người trở thành chuyên gia về y tế chứ không thể trở thành một vị lương y nếu không có tâm từ bi”. Xem cái chết như “một chuyến lữ hành” Một vấn đề về y đức khác biệt giữa y học Tây Tạng và các nền y học khác là ở việc nhận thức về cái chết. Lương y Tây Tạng không chỉ quan tâm đến việc chữa trị thân bệnh mà còn có trách nhiệm chăm sóc tâm bệnh của bệnh nhân, nhất là khi họ cận kề cái chết. Bác sĩ tây y hay đông y khi chẩn đoán bệnh nhân không còn hy vọng sống thường giữ thái độ im lặng, không nói trực tiếp với họ. Điều này hoàn toàn ngược lại đối với thầy thuốc Tây Tạng: thông báo trực tiếp, không che giấu bệnh tình, không để cho bệnh nhân ảo tưởng vô vọng. Tín ngưỡng sâu sắc vào Phật pháp, người Tây Tạng thuộc tầng lớp nào cũng tin tưởng một cách tuyệt đối rằng cái chết là sự khởi đầu của một cuộc sống mới, là một quá trình trong luân hồi chứ không phải kết thúc. Vì thế, quan niệm về cái chết của người Tây Tạng khá nhẹ nhàng, không lo buồn. Có sinh là có tử, đó là quy luật tất nhiên nhưng con người ai cũng ham sống sợ chết. Phật giáo cho rằng sự kết thúc của sinh mệnh lại là sự bắt đầu cho một cuộc sống mới, con người chết đi cũng như phá bỏ tòa nhà cũ đổi một tòa nhà mới. Sự chuyển hóa từ kiếp này sang kiếp khác là do nghiệp báo thiện ác của cá nhân ấy gây ra. Ý nghĩa của sinh mệnh là ở giá trị vĩnh hằng. Mỗi con người nên nắm bắt thời gian ngắn ngủi của cuộc đời, nghiêm túc tu trì, chứng ngộ pháp thân, sáng tạo một sinh mệnh vĩnh hằng. Khi các lương y Tây Tạng chẩn đoán thấy rằng bệnh nhân không thể qua khỏi, họ sẽ trực tiếp nói với người ấy: “Tốt nhất nên chuẩn bị hành lý cho một chuyến lữ hành”. Đối với một người sắp chết, Phật giáo nói chung và Phật giáo Tây Tạng nói riêng bày tỏ sự quan tâm và lòng từ bi, thể hiện qua các nghi thức trợ niệm và khai thị. Trợ niệm là giúp người sắp chết niệm Phật để có thể vãng sinh cực lạc. Người trợ niệm đối với người sắp chết phải có thái độ thành khẩn, lời nói bình hòa, giúp người ấy được vui. Người trợ niệm cũng khen ngợi những việc lành mà người sắp chết từng làm, dùng cách khéo léo để làm cho tâm lý an vui. Ngoài ra, phải bố trí phòng bệnh chỉnh tề, quét dọn sạch sẽ, không khí thoáng mát; trước giường bệnh đặt tượng Phật dâng cúng bông hoa, kịp thời thay quần áo sạch sẽ. Với nghi thức khai thị, Phật giáo yêu cầu “lâm chung khai thị” cho người sắp chết, như “ở trên thế gian này, bất cứ người nào cũng không thoát khỏi bệnh khổ và tử vong, do đó cũng không cần lo nghĩ về chúng…”. “Lâm chung khai thị” có thể tiêu trừ sự lo sợ đối với cái chết của người sắp lâm chung - một liều thuốc rất hay để giảm bớt đau khổ. “Cái chết hạnh phúc” Phật giáo nói chung không trốn tránh cái chết bởi xem đó là kết quả tất yếu của sự sống. Mỗi con người đến một lúc nào đó đều phải đối mặt cái chết, đồng thời cũng hy vọng rằng lúc sắp chết được nhẹ nhàng, không đau đớn, không khổ sở. Phật giáo cho rằng chết không đáng sợ, đề ra “thiện chung” là hy vọng chúng sinh thường hành thiện, phát nguyện để cầu xin “một cái chết hạnh phúc” như “lúc lâm chung thì thân vô chướng ngại, tâm không tham luyến, ý không điên đảo”. http://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/ky-bi-y-thuat-tay-tang-20160308221632697.htm
  8. VỊ LƯƠNG Y HƠN 60 NĂM TẬN TÂM VỚI SỰ NGHIỆP CHỮA BỆNH DA LIỄU VÀ CÂU CHUYỆN VỀ NGƯỜI NỐI TIẾP SỰ NGHIỆP Khắp chốn kinh thành Thăng Long xưa ai ai cũng đều biết tới câu chuyện của hai cha con Danh y Trần Kim Quang và nữ tử Lương y Trần Kim Thu với những bài thuốc chữa các bệnh da liễu và chăm sóc sắc đẹp cho cung tần mỹ nữ Hoàng triều Thăng Long. Đặc biệt trong số đó là bài thuốc chữa nám tàn nhang cho các cung tần mỹ nữ Hoàng triều nổi danh thiên hạ và cả các nước láng giềng, được Vua và các Vương phi, cung tần vô cùng quý trọng, biệt đãi. Xuất thân từ dòng tộc có truyền thống làm nghề y, bốc thuốc chữa bệnh cứu người với nhiều bài thuốc gia truyền chuyên chữa các bệnh về da liễu, nổi bật trong số đó phải kể đến bài thuốc chữa nám da tàn nhang nổi danh khắp chốn kinh thành. Ngay từ hồi nhỏ Lương y Trần Kim Thu đã được cha của mình là Danh y Trần Kim Quang chỉ dạy cho nhiều y thuật cao thâm và điều chế nhiều bài thuốc hiệu nghiệm chữa bệnh. Với tố chất thông minh, lanh lợi, Lương y Trần Kim Thu đã tiếp thu rất nhanh và ghi chép tỉ mỉ, cẩn thận những lời người cha truyền dạy. Lớn lên, bà cùng người cha của mình nổi tiếng khắp nơi không chỉ bởi giỏi y thuật mà còn bởi y đức và tấm lòng bao dung của mình. Lương y nhân dân Trần Kim Thu Vào thời kỳ của vua Trần Thái Tông, khi đó trong triều xuất hiện một loại bệnh lạ khiến dân chúng hoang mang. Triều đình hạ lệnh cho các thái y, ngự y trong cung tìm ra phương thuốc loại trừ căn bệnh trên đồng thời cho người đi khắp nơi tìm người hiền tài về cùng triều đình chữa bệnh. Khi biết được tin đó, hai cha con đã lập tức vào cung cùng các thái y trong cung nghiên cứu tìm ra phương pháp kiềm chế và loại trừ căn bệnh lạ đó. Sau đó, hai cha con bà đã được vua trọng thưởng và giữ lại trong cung chuyên chữa bệnh và chăm sóc sắc đẹp cho các cung tần mỹ nữ trong triều. Kể từ đó, bà cùng người cha của mình tiếp tục nghiên cứu ra nhiều bài thuốc chăm sóc sắc đẹp trong Hoàng cung và được các Vương phi, Quý phi, cung tần mỹ nữ vô cùng quý trọng. Sau đó, do tuổi cao sức yếu cụ Trần Kim Quang đã qua đời và để lại cho bà rất nhiều công thức về các bài thuốc quý mà cụ đã dày công tìm tòi, nghiên cứu. Lo hậu sự cho cha xong, bà trở lại Hoàng cung để tiếp tục công việc của mình, nghiên cứu và hoàn thiện thêm nhiều bài thuốc mới từ thảo dược quý như: bài thuốc chăm sóc sắc đẹp Hoàng cung, Bài thuốc giữ gìn nét thanh xuân, bài thuốc làm trắng da từ thảo dược, bài thuốc giảm béo giữ vóc dáng ngọc ngà, bài thuốc giúp tăng cường mùi hương cơ thể, bài thuốc giúp tóc dài đen mượt và đặc biệt là bài thuốc chữa nám tàn nhang cho các Vương phi, Quý phi, cung tần mỹ nữ Hoàng Triều. Những bài thuốc của bà đều được coi là các món quà quý mà Vua thường dùng để ban cho các cung tần mỹ nữ có công trạng, được Vua sủng ái. Tuy nhiên đến cuối đời vua Trần Minh Tông, triều đình lúc đó rối ren, nhiều biến động, bà đã quyết định rời chốn kinh thành về quê ở ẩn, tiếp tục bốc thuốc chữa bệnh. Tại đây bà chú trọng hơn đến những bệnh ngoài da thường gặp chữa cho người dân nghèo miễn phí chứ không lấy tiền. Hơn 60 năm cống hiến hết mình với tấm lòng và y đức cao cả, bà được bà con khắp nơi biết đến và người dân yêu quý gọi bà với tên gọi Lương y nhân dân Trần Kim Thu. Hiện nay nhiều bài thuốc của bà vẫn còn được áp dụng vào thực tế điều trị các bệnh về da liễu, trong số đó phải kể đến bài thuốc trị nám tàn nhang nổi tiếng một thời. Bài thuốc đã được Lương y, Bác sĩ Ngọc Anh nghiên cứu và phát triển bài thuốc. Lương y Bác sĩ Ngọc Anh là chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, ứng dụng thảo dược đông y trong điều trị nám tàn nhang (người chuyên sưu tầm, nghiên cứu các bài thuốc bí truyền cổ phương và phát triển hoàn thiện các bài thuốc này để ứng dụng vào thực tế điều trị). Trải qua quá trình nghiên cứu kéo dài suốt 5 năm, Lương y, Bác sĩ Ngọc Anh đã kết hợp cùng một số đơn vị chuyên môn hàng đầu về da liễu như Trung tâm Da liễu Đông y Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Thuốc dân tộc để thành lập đề tài nghiên cứu nhằm hoàn thiện và phát triển bài thuốc dựa theo công thức từ bài thuốc của Lương y nhân dân Trần Kim Thu để lại. Qua nhiều lần nghiên cứu, điều chỉnh và hoàn thiện, thành công từ đề tài đã cho ra Bộ sản phẩm Thảo dược Đông y Trị nám tàn nhang Vương Phivới 3 bộ riêng biệt phù hợp với từng loại da và từng tình trạng bệnh của bệnh nhân. Đây là Bộ sản phẩm được giới chuyên môn, bác sĩ hàng đầu về da liễu đánh giá cao về tính hiệu quả và độ an toàn cho bệnh nhân khi sử dụng. Bên cạnh đó, Bộ sản phẩm Thảo dược Đông y Trị nám tàn nhang Vương Phiđược đông đảo bệnh nhân sử dụng và đã thoát khỏi tình trạng nám tàn nhang của mình. Theo một kết quả nghiên cứu độc lập của Trung tâm Nghiên cứu & Ứng dụng Thuốc Dân Tộc được công bố vào tháng 5/2011: Bài thuốc áp dụng cho khoảng 400 bệnh nhân bị nám da tàn nhang. Sau quá trình sử dụng thuốc kết hợp với chế độ dinh dưỡng và chăm sóc da hợp lý đã đưa đến kết quả: – 276 người hết các tình trạng nám da, tàn nhang trên các vùng da bị bệnh – 79 người khỏi từ 80 – 90% các tình trạng bệnh – 45 người giảm các vết nám, tàn nhang so với ban đầu – Hầu hết các trường hợp đều không bị tái phát trở lại Đây là kết quả thử nghiệm tốt nhất mà gần như chưa bài thuốc nào đạt được. Chia sẻ về điều này, Bác sĩ Ngọc Anh cho biết: Chính Bác sĩ cũng bất ngờ về kết quả này bởi bấy lâu nay bác sĩ thường chú tâm đến việc nghiên cứu và điều trị bệnh chứ cũng ít khi để ý đến các con số thống kê. Cũng theo lời Bác sĩ Ngọc Anh thì những kết quả này sẽ là nguồn động lực to lớn để bác sĩ tiếp tục nghiên cứu ra nhiều bài thuốc chữa các bệnh về da liễu. Hiện nay, Bộ sản phẩm Thảo dược Đông y Trị nám tàn nhang Vương Phi đang được ứng dụng tại Trung tâm Da liễu Đông y Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu & Ứng dụng Thuốc dân tộc để điều trị rộng rãi cho bệnh nhân nám tàn nhang cả trong và ngoài nước. Theo Tạp chí Thế giới Phụ nữ
  9. Lạ lùng biểu tượng chim Lạc Nhiều người dân ở TP.Nam Định (tỉnh Nam Định) phản ánh, trên tháp giao thông Đông A - QL10 ở cửa ngõ TP này có hình ảnh chim Lạc lao đầu xuống đất. Hình ảnh chim Lạc lao đầu xuống đất trên tháp giao thông ở Nam Định Ông Nguyễn Văn Thụ, một lái xe ôm thường xuyên có mặt ở khu vực này cho biết: “Đây là điểm giao của các tuyến đường đi Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam… Tôi đã nhiều lần thấy khách qua đây xì xào, mỉa mai là chim Lạc của đất văn hiến, đất học Nam Định mà cắm đầu xuống đất, không giống mọi nơi”. Trong văn bản gửi Báo Thanh Niên, UBND TP.Nam Định lý giải: “Dự án trang trí đảo giao thông Đông A - QL10 mô phỏng hình bông hoa, với đàn chim lạc đang sà cánh đậu xuống, với ý nghĩa đất lành chim đậu”… Tuy nhiên, lý giải này đã không nhận được sự hưởng ứng của các nhà chuyên môn. Anh Triệu Thanh Sơn, một người chuyên sưu tập, quảng bá văn hóa Nam Định bức xúc: “Nói để chim Lạc lao xuống với ý nghĩa “đất lành chim đậu” là ngụy biện. Chim Lạc là một biểu tượng văn hóa của 4.000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt. Trong các tài liệu, hiện vật từ cổ chí kim chỉ thấy chim Lạc bay lên, chưa thấy đỗ xuống bao giờ. Chưa kể, nếu nhìn trực quan, chim Lạc ở tháp giao thông Nam Định không phải đang đỗ xuống mà là đang chúi đầu, cắm đầu lao xuống đất”. Anh Sơn còn cho rằng biểu tượng chim Lạc như vậy còn bị người dân liên tưởng tới câu thành ngữ "chim sa, cá nhảy", vốn chỉ điềm dữ. Đáng ngạc nhiên hơn là Sở VH-TT-DL tỉnh Nam Định cũng không hề biết gì về việc dựng công trình có biểu tượng chim Lạc kể trên. Trao đổi với Thanh Niên, ông Nguyễn Công Hiệp, Phó giám đốc Sở VH-TT-DL Nam Định cho biết: “Tôi chưa từng nghe nói đến việc xin cấp phép về lĩnh vực văn hóa đối với công trình này. Đến khi dư luận xôn xao mới biết”. Đánh giá về hình ảnh chim Lạc, ông Hiệp nói: “Tôi không được chia sẻ về ý tưởng của bên thiết kế, nhưng là người học chuyên ngành mỹ thuật, tham gia nhiều hội đồng thẩm định văn hóa, tôi thấy hình ảnh chim Lạc này cũng... hơi lạ”. Trao đổi với Thanh Niên, ông Phạm Xuân Thụ, Chánh văn phòng UBND TP cho biết tháp giao thông kể trên là công trình chào mừng Đại hội Đảng các cấp, dự kiến hoàn thành trước Tết Ất Mùi (2015) nhưng chậm tiến độ, nên nay mới đang hoàn thiện. Về hình chim Lạc hướng xuống đất, ông Thụ cho rằng đây là lỗi của đơn vị tư vấn thiết kế. Ông Thụ cũng thừa nhận UBND TP đã tiếp nhận một số ý kiến cho rằng hình chim Lạc bay xuống là phản cảm và sẽ tiếp thu để xem xét, lấy ý kiến của nhân dân rồi điều chỉnh cho phù hợp. Văn Đông\thannienonline ============================== Càng ngày xuất hiện nhiều cái "lạ".
  10. Ngôn ngữ Việt: Vì sao gọi "Thời tiết", "Khí hậu" là...Thời tiết, Khí hậu? TTNC Lý Học Đông Phương Bài nghiên cứu của Thiên Đồng BÙI ANH TUẤN Có lẽ chưa ai hay ít người đặt câu hỏi thắc mắc như vậy. Trong ngôn ngữ Việt, nếu truy nguyên từng từ sẽ thú vị khi nhận ra sự thâm sâu của từng khái niệm. Nếu chiết tự theo kiểu "mot à mot", trực nghĩa, thì có lẽ sẽ chẳng thấy được cái lý do. Vì vậy phải quay trở về tìm trong vốn tri thức cổ xưa với học thuyết Âm dương ngũ hành thuộc nền văn hiến Việt thì mới nhận ra sự uyên áo. Lục tiết tạng tượng luận viết: "5 nhật gọi là 1 hậu, 3 hậu là 1 khí, 6 khí là 1 thời, 4 thời là 1 tuế..." VẬN HẬU Tháng hai. Tiết Kinh Trập (sâu nở) - Sơ hậu: Cây đào bắt đầu tươi. - Nhị hậu: Chim vàng anh bắt đầu hót. - Tam hậu: Diều hâu bay lượn giống như chim cưu. Khái niệm về thời gian được nền tảng tri thức cổ phân chia một cách khoa học theo từng giai đoạn, nói theo ngôn ngữ thời nay là phân chia theo từng tập hợp. Một tập hợp được cấu thành bởi nhiều phần tử, và mỗi tập hợp lại là phần tử của tập hợp lớn hơn nó. Do vậy nếu xem Nhật (ngày) là phần tử thì Hậu là tâp hợp của 5 phần tử là Nhật. Tiếp tục, tập hợp lớn hơn Hậu là Khí, 3 phần tử Hậu thì thành 1 Khí, cứ như thế sự phân chia về tập hợp thời gian lớn mãi đến khái niệm quy định kế thừa lớn nhất. Tuy vậy, khái niệm Hậu, Khí, Thời, Tuế..không chỉ đơn giản là những khái niệm chỉ sự quy ước thời gian mà hơn nữa đây là những khái niệm cơ sở cho việc diễn tả quy luật vận hành của không gian - thời gian mang tính chu kỳ, có quy luật. Vì vậy khái niệm "Khí hậu" và "Thời tiết" rõ ràng là những danh tự của khái niệm quy ước định chỉ về từng đơn vị không thời gian với sự vận động mang tính quy luật, thuộc nền tảng tri thức cổ Đông phương. Một Khí ( hoặc Tiết, gọi chung là Tiết Khí) gồm 3 Hậu, một Hậu là năm Nhật (ngày), như vậy một tháng (Nguyệt) có hai Khí. Để phân biệt khí trước và sau của một Nguyệt, người xưa lại quy định Khí đầu của Nguyệt gọi là Tiết Khí:Lập xuân, Xuân Phân; Lập Hạ, Hạ chí; Lập thu, Thu Phân; Lập Đông, Đông Chí. Khí sau của Nguyệt gọi là Trung khí: Vũ Thủy, Cốc Vũ, Bạch Lộ, Hàn Lộ, Sương Giáng, Tiểu Tuyết, Đại Tuyết. Một Thời do gồm 06 Khí, như vậy là 03 tháng, tức là 01 Quý, tức là 01 mùa theo dân gian gọi. Cho nên "Tứ thời nhất tuế", nghĩa là 4 Quý thì đủ 01 năm. Do vậy, 1 Hậu gồm có 5 Nhật, vì sao 5 nhật? Bởi sự phân chia chu niên, chu nhật lớn nhỏ khác nhau để diễn tả sự vận động diễn biến của không gian, thời gian, vũ trụ, nên Nhật (mặt trời) vận hành 01 độ Thiên thì gọi là 01 Nhật (01 ngày); 01 Nhật lại có 12 Thời Thần (nói như ngày nay là Giờ), mà 5 Nhật tức là 60 Thời Thần, trọn một 60 hoa giáp (**). Đây là hoa giáp của Nhật, là hoa giáp đơn vị nhỏ nhất so với hoa giáp của Tuế là 60 năm. Về mặt cấu trúc tự vị, hai danh từ "Thời tiết", "Khí hậu" cũng được cấu trúc lý Âm Dương. Theo lý Âm Dương thì "Dương trước âm sau" và "Dương to âm nhỏ", Thời và Khí là trong khái niệm dương, do Thời là tập hợp lớn chứa sáu Khí, tức sáu tiết; cũng vậy, Khí là tập hợp lớn chứa 3 phần tử Hậu, vì vậy, Khí ( Tiết) là Âm của Thời; Hậu là âm của Khí. Thời là dương nên đứng trước Tiết, Khí là dương nên đứng trước Hậu. Mặt khác một sự thống nhất từ khái niệm đến hình thức phát âm, tức khẩu hình, thì, khi phát âm Thời thì khẩu hình có xu hướng mở rộng và bật hơi, còn Tiết có xu hướng của khẩu hình nhỏ và khí nhẹ, giữ yên khẩu hình. Cũng như vậy, Khí, khi phát âm có khẩu hình mở; và Hậu, có khẩu hình ngậm lại. Tất cả phù hợp với lý "Dương to âm nhỏ". Như vậy, "Khí Hậu" và "Thời Tiết" là hai danh tự, hai khái niệm định chỉ sự phân chia giai đoạn thời gian và định chỉ sự vận hành của không - thời gian, vũ trụ mang tính quy luật, do vậy nó hàm chứa khả năng tiên tri. Thiên Đồng Bùi Anh Tuấn viết 06/5/2016 ==================== (**) muốn biết như thế nào gọi là Hoa Giáp, xin tham khỏa sách "Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục Thập Hoa Giáp" tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Thiên Sứ).
  11. Cây nứa ra quả: Hiện tượng hiếm hoi gây sốt dân mạng Các nhà khoa học cho rằng, tre, nứa ra hoa, quả là việc bình thường nhưng chu kỳ thường lâu và không có chuyện liên quan đến hạn hán, đói kém. Mới đây một số hình ảnh được cho là cây tre (nhưng thực chất là câynứa - PV) ra quả đã được đăng tải trên facebook Linh Nguyen cùng lời chia sẻ: “Tre nhà mình có trái nè, nghe nói trăm năm tre mới ra trái một lần mà khi có trái là hạn hán đói kém xảy ra”. Ngay sau đó, các hình ảnh này đã được lan truyền nhanh chóng trên mạng xã hội cùng với nhiều lời bình cho rằng đây là sự việc "rất lạ lùng", "đầy bất ngờ". "Trước giờ mới nhìn thấy có hoa tre chứ chưa nhìn thấy quả như thế này bao giờ, thật là quá lạ lùng", thành viên Tran Ha viết. Cùng với đó, thành viên Hoa Mai cũng cho hay, đây không phải là cây tre mà là cây nứa nhưng đã nhìn thấy hoa tre, hoa trúc, nứa nhưng quả thì đây là lần đầu tiên mới được thấy. "Lạ quá thôi, nhưng đây là cây nứa chứ không phải cây tre vì mình ở miền núi nên mình biết rõ cây này", thành viên Hoa Mai bày tỏ. Ảnh: FB Linh Nguyen. Nhiều thành viên cũng tỏ ra hoang mang, trước thông tin của người đưa những hình ảnh này lên khi cho rằng, có thể có hạn hán, đói kém xảy ra khi cây này ra quả. Trước thông tin này, trao đổi với chúng tôi, GS Nguyễn Lân Dũng cho rằng, tre hay nứa đều là cây thực vật và việc ra hoa, quả là chuyện bình thường không có gì đặc biệt. GS Lân Dũng cũng bác bỏ việc cho rằng, tre hay nứa ra quả có thể liên quan đến hạn hán, đói kém. Còn PGS.TS Nguyễn Văn Sinh, Phó trưởng phòng sinh thái thực vật, Viện sinh thái và tài nguyên môi trường cũng cho rằng, tre hay nứa ra hoa, quả là điều bình thường. Tuy nhiên, không giống với các cây thực vật khác, tre hay nứa thường có chu kỳ ra quả rất lâu nhưng không đến trăm năm và thường trong một quần thể hẹp. "Trước đây, chúng tôi cũng đã gặp trường hợp tre, nứa ra quả nhưng chu kỳ ra quả rất lâu và thường việc ra quả chỉ diễn ra trong một quần thể hẹp, đồng thời, nó báo hiệu cho những cây này đã già, sắp chết", PGS Sinh nói. Cũng theo PGS.TS Sinh, ông chưa bao giờ nghe đến việc có sự liên quan giữa tre, nứa ra quả với hạn hán, đói kém có thể xảy ra. "Đó là những thông tin không chính xác, chỉ là truyền miệng nên mọi người không nên tin vào đó. Còn tôi khẳng định, việc ra hoa, quả của tre, nứa dù không nhiều nhưng là bình thường", PGS Sinh khẳng định. http://soha.vn/xa-hoi/cay-nua-ra-qua-hien-tuong-hiem-hoi-gay-sot-dan-mang-20160310151156282.htm ============================ Dùng làm thuốc chắc là được
  12. Giải mã thú vị về “thần chú” của người Việt xưa Thời trước, hễ trước khi làm việc gì, người Việt có thói quen đọc những câu “thần chú”, với niềm tin rằng đọc như vậy sẽ được hiệu quả. Nam Khánh Trong sách "Việt Nam phong tục" (xuất bản lần đầu từ năm 1915), học giả Phan Kế Bính đã lược ra mười mấy loại thần chú như vậy và cũng chỉ ra sự ngây ngô của nó. Sau đây là một số thần chú, phương thuật. Chẳng hạn khi bão to, nhà lung lay mạnh thì lấy đôi đũa cả mà chống vào hai chân cột cái thì nhà không đổ được. Các ảnh sau chỉ có tính chất minh họa. Hễ mắt có bụi, người ta vạch mắt đọc câu: “Cái gẩy ở trên trời, rơi xuống đất, mất cái gẩy” thì tự nhiên sẽ khỏi. Đàn bà sinh sản khó khăn, chồng lấy cái nồi đất đập vỡ toang ra cho chóng sinh. Hoặc là chồng cởi dây lưng trèo ngồi trên nóc nhà, hoặc bắt người đàn bà cắt cái chạc trâu thì chóng sinh. Khi đẻ rồi mà bất hạnh đứa trẻ không khóc được thì gõ mảnh sành rầm lên một lúc, tự nhiên nó tỉnh mà khóc được. Buổi tối sợ kẻ trộm vào nhà thì dựng ngược một cái chổi ở cửa ra vào và đọc một câu thần chú: “Chém đầu thằng Trích, ních đầu thằng Cược, treo ngược cành đa, chém cha thằng kẻ trộm” như thế dẫu có kẻ trộm cũng rợn mà không dám vào nhà. Ai đi đêm tối sợ gặp phải rắn, cọp hoặc những điều sợ hãi thì lấy ngón tay cái bên tay trái ấn vào cung bản mệnh (tuổi tý ấn cung tý) và lúc mới bước chân ra đọc câu thần chú: “Tứ tung ngũ hoành, ngô kim xuất hành. Vũ vương vệ đạo, Si vưu tỵ binh, hổ lương bất đắc động, xà hủy bất đắc kinh, ngô phụng Thái thượng Lão quân mệnh, cấp cấp như luật lệnh”. Đêm nằm mộng thấy sự gì sợ hãi, tỉnh dậy đừng nên nói, uống một ngụm nước, ngoảnh mặt về phía Đông mà nhổ thì mộng ác cũng hóa mộng lành. Ngoài các việc trồng cây nêu, rắc vôi bột, treo cành đa, lá dứa ngày Tết hoặc dán bùa yểm bùa khi có người chết..., trong cả năm muốn cho bình yên thì ngoài cổng dựng cái cột đá khắc năm chữ “Khương Thái công tại thử”. Hoặc muốn giữ cho tài thần trong nhà thịnh vượng thì xây một con chó đá ngoài cổng. Cây trồng lâu chưa có quả, muốn cho có quả thì chờ đến ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch, một người trèo lên cây, một người cầm vồ ở dưới gõ vào gốc cây 3 cái và hỏi “đã chịu nảy quả chưa”, người trên cây nói “chịu” thì sang năm tự khắc có quả. Hễ lợn nuôi trong chuồng chê cám không ăn thì viết năm chữ “Khương thái công tại thử” vào một mảnh giấy vàng dán lên chuồng lợn thì lợn khỏi bệnh. Lợn đi không về thì lấy cái đũa cả cắm đằng sau ông táo, hoặc úp cái bồn cho lợn ăn xuống đất và lấy một cành khế cắm vào cửa chuồng thì lợn tự nhiên về. Có cú kêu bên cạnh nhà, lấy chiếc đũa cả cắm xuống đằng sau ông táo, hoặc lấy nắm gạo muối, hoặc hòn đất trong bếp mà ném đuổi đi thì tự nhiên nó phải chạy. Khi có sâu hoàng trùng (châu chấu) ăn hại lúa, làm lễ cúng tiễn cho nó đi, rồi cắm một lá cờ giấy ở đầu địa giới thì nó không dám vào nữa. Trong nhà muốn cho ít kiến thì ngày mồng Một Tết bắt kiến mà đốt đi thì cả năm không có kiến nữa. Muốn trừ rệp thì bắt một hai con bỏ vào trong áo quan người chết, tự nhiên rệp phải hết. Muốn cho cây cối không có sâu thì tối 30 tết cầm bó đuốc soi vào các cây cối sẽ được. Phan Kế Bính nhận xét rằng: “Không biết các phương thuật tự đâu đặt ra, ngộ nghĩnh quá! Mà ta nhiều người cũng tin... có dễ thuật chữa bệnh tài hơn thuốc đốc tờ, thuật giục cây ra quả tài hơn phép xiếc? Nếu vậy thì chẳng hóa nước ta tài lắm ru, sao mà lại hóa ra hèn hơn các nước vậy? http://www.baomoi.com/Giai-ma-thu-vi-ve-than-chu-cua-nguoi-Viet-xua/c/18750976.epi
  13. Thành kính phân ưu cùng gia quyền LeNinh. Nam mô Tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật, nguyện cầu hương hồn của LeNinh siêu sinh nơi cực lạc quốc.
  14. Tất cả các phi công trên thế giới đều "ngán ngẩm" điều này! Nỗi ác mộng đó đến từ những đám mây khổng lồ mang theo sấm sét và mưa đá. Chắc chắn rằng không một phi công nào muốn chạm trán loại mây này. Đó chính là mây vũ tích. Vậy loại mây này sở hữu những "sức mạnh" gì mà khiến mọi phi công đều phải khiếp sợ? Mây vũ tích là gì? Mây vũ tích, tiếng latin là cumulus, có nghĩa là mây đống và nimbus có nghĩa là mây bão. Đây là loại mây phát triển dày đặc theo phương thẳng đứng, rất cao lên trên nên thường có hình dạng giống quả núi nhỏ hoặc hình cái đe trên trời. Nó hình thành do có các hiện tượng bất thường của khí quyển, mây vũ tích cũng có thể tự hình thành và mang theo các dòng khí lạnh từ dưới lên, có thể sản sinh ra sấm sét, gió giật và mưa đá. Đây là một loại hình thái thời tiết đặc trưng khi nó thường xuất hiện trước các cơn bão nói chung và siêu bão nói riêng. Độ mạnh, yếu cũng như kích thước của mây phụ thuộc vào các yếu tố cấu thành nên nó - phần dưới là các hạt nước bốc hơi từ mặt đất, phần trên là các tinh thể băng sẵn có. Trong điều kiện thích hợp, một đám mây vũ tích có thể lớn lên, trở thành một cơn bão, thậm chí là siêu bão. Nhưng nếu so với bão thì mây vũ tích không nguy hiểm bằng, dù nó có thể tạo ra những trận mưa đá lớn. Điển hình là vào cuối tháng 3/2013, tại địa bàn tỉnh Lạng Sơn, những cơn mưa đá do mây vũ tích tạo nên đã tàn phá hàng nghìn nóc nhà của người dân địa phương. Vậy tại sao mọi phi công trên thế giới đều "ngán ngẩm" loại mây này? Như các bạn đã biết, mây vũ tích có thể được coi là một loại hình thời tiết bất thường. Nó cũng sinh ra những loại hình thời tiết khác không kém phần nguy hiểm như mưa đá và sấm sét. Chính những đám mây tích điện này thường gây nhiễu loạn các thiết bị của máy bay, khiến phi công gặp khó khi điều khiển máy bay. Đối với những phi công có kinh nghiệm, trong những tình huống đó thì cần cho máy bay bay vòng qua tránh đám mây chứ không nên bay lên trên hoặc chui xuống dưới đám mây. Bởi như vậy sẽ rất nguy hiểm đối với an toàn bay. Cách tốt nhất khi gặp mây vũ tích là bay vòng qua nó! Mặt khác, những đám mây vũ tích có thể gây ra mưa đá, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc cất và hạ cánh, điều này cũng là một trong những vấn đề mà không một phi công nào muốn gặp phải. Một số vụ tai nạn liên quan Ngày 26/5/2003, một chiếc A321 của hãng British Midland đã gặp thiệt hại nặng do mưa đá khi đang ở gần Vienna, Áo. Hình minh họa Hay như vào ngày 2/8/2005, một chiếc Airbus A340 của hãng Air France, bay từ Paris đến Toronto đã xảy ra tai nạn khi hạ cánh do đường băng quá trơn. Điều này khiến máy bay mất kiểm soát và trượt ra khỏi đường bay 1 đoạn khá xa. http://soha.vn/kham-pha/tat-ca-cac-phi-cong-tren-the-gioi-deu-ngan-ngam-dieu-nay-20160119170252689.htm ======================================== Người Việt từ xa xưa đã biết xem thiên tượng để phục vụ cho nông nghiệp, vd: "Mây đằng đông vừa trông vừa chạy, mây đằng tây vừa cày vừa trông".
  15. Nước mắt cô bé học giỏi, đi mót cà phê nuôi cha mẹ bị bệnh Dân trí Mười năm liền đều là học sinh khá giỏi, nhưng đường đến trường của cô học trò nhỏ ở Lâm Đồng quá chông gai khi cha và mẹ đều mang bệnh nặng. Hàng ngày, một buổi đi học, một buổi em đi rẫy mót cà phê… để có tiền trang trải cuộc sống. Đó là hoàn cảnh của em Vũ Thị Kim Phượng ( tổ 3, thôn 4 xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng). Được biết, Kim Phượng hiện đang là học sinh lớp lớp 10 trường THPT Nguyễn Huệ (huyện Di Linh, Lâm Đồng), từ nhà đến trường gần 10 Km. Để có tiền đi học, em phải dành dụm, chắt chiu từ những đồng tiền đi mót cà phê hay bán đàn gà … Sau giờ học, em lại một tay chăm bố mẹ đau bệnh nặng. Cô bé Kim Phượng bật khóc khi chia sẻ về hoàn cảnh gia đình mình Vừa đi học vừa chăm bố mẹ đau bệnh nặng Đến thăm Phượng vào một buổi trưa khi em vừa từ rẫy cà phê trở về, lau những giọt mồ hôi trên trán, em vội vã bước vào nhà cẩn thận dìu mẹ đi từng bước cho khỏi ngã. Mẹ em là cô Vũ Thị Nga (49 tuổi) bị tai biến, khuyết tật vận động nên suốt ngày chỉ nằm một chỗ, cười nói vô thức, mọi sinh hoạt hàng ngày đều do một mình em chăm sóc. Bố em cũng không may mắn khi mắc bệnh xơ gan nhiều năm nay nên không còn khả năng lao động. Mới 16 tuổi nhưng Phượng đã trở thành trụ cột chính của gia đình. Hàng ngày, sau giờ đến trường em lại tất bật trở về nhà lo cơm nước cho bố mẹ và em trai. Bữa cơm của gia đình nghèo thường xuyên cũng chỉ là rau với cháo, lâu lâu mới có miếng thịt, con cá khô... Tài sản giá trị nhất của gia đình em chỉ có chiếc ti vi cũ của một người họ hàng cho. Hàng ngày sau giờ đến trường Phượng lại tất bật về nhà chăm sóc người mẹ bị bệnh nặng Trong căn nhà gỗ trống huơ trống hoác, chắp vá chằng chịt bằng những mảnh bạt để gió khỏi lùa vào, mẹ em thỉnh thoảng la hét thảm thiết, lúc thì cười khanh khách… Phượng phải thường xuyên dỗ dành mẹ em mới chịu ngồi yên để cho con gái đút cháo. Vừa chăm sóc mẹ Phượng vừa chia sẻ, mọi chi phí mua thức ăn cho gia đình em đều đi mua thiếu rồi đến cuối tháng mới trả. Gia đình có 2 sào cà phê cằn cỗi, không được chăm sóc nên cuối năm thu chẳng được bao nhiêu. Cứ đến mùa thu hoạch nông sản, rảnh là em lại đi mót cà phê, mót đậu… để bán lấy tiền mua gạo, thức ăn. Ngoài ra, em cũng nuôi một đàn gà sau vườn nhà, khi lớn bán lấy tiền trả nợ và mua thuốc cho mẹ. Chú Phùng Ngọc Duy (48 tuổi), bố của Phượng chia sẻ, năm 2007, vợ chú phát bệnh đến năm 2012 thì bệnh nặng hơn. Hiện tại mẹ của Phượng không còn khả năng nhận thức và vận động . Bản thân chú Duy mắc căn bệnh xơ gan từ năm 2000, dù chữa trị hết thuốc tây đến thuốc nam vẫn nhưng không khỏi. Cả hai vợ chồng đều bệnh tật triền miên nhiều năm liền, nên hiện tại tài sản gia đình đã khánh kiệt. Bản thân cũng mắc bệnh không chăm sóc được con cái, hàng ngày chú Duy chỉ biết động viên các con “ Hàng ngày nhìn con gái lớn tất bật làm mọi công việc lớn bé trong nhà, tôi cũng thấy xót xa lắm. Do sức khỏe yếu, nên tôi chỉ quanh quẩn ở nhà, trông nom vợ và làm những công việc lặt vặt khi các cháu đi học. Có cha mẹ nào mà không thương con, muốn con cái ăn học thành người …”- chú Duy trăn trở. Chông chênh đường đến trường Dù hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng không vì thế mà Kim Phượng xao nhãng chuyện học hành. Bố mẹ đều bị bệnh, không có người chỉ dạy, điều kiện khó khăn em phải tự túc học, dù không đi học thêm nhưng nhiều năm liền em đều là học sinh khá giỏi. Kim Phượng bật khóc khi nói về gia cảnh của mình, khi nghĩ đến việc em không được đến trường. Cô bé chỉ mong bố mẹ được khỏe mạnh, em được đi học như bao bạn bè cùng trang lứa. “Em chỉ muốn đi học và cố gắng học thật tốt, để sau này đi làm kiếm tiền chữa bệnh cho bố mẹ. Có vất vả mấy em cũng chịu được, có phải đi mót cà phê hay làm gì em cũng làm miễn sao có tiền mua gạo, mua sách vở đi học …”, cô bé Phượng nức nở chia sẻ. Dù hoàn cảnh khó khăn nhưng 10 năm liền Phượng đều là học sinh khá giỏi Mới 16 tuổi nhưng Phượng đã là trụ cột chính của gia đình, mọi công việc trong nhà đều do một mình em gánh vác Ước mơ của cô bé nghèo cũng thật giản dị, lớn lên em muốn trở thành Kỹ sư nông nghiệp để về quê hương, giúp bà con nơi đây thay đổi phương pháp canh tác sản xuất. Ở địa phương em chủ yếu làm nông nghiệp, nông dân canh tác bằng phương pháp thủ công, thô sơ nên hiệu quả kinh tế không cao. Thế nhưng, con đường đến trường học để nuôi ước mơ ấy của cô học trò nhỏ quá chông chênhkhi gia đình nhiều lúc lâm vào cảnh khốn khó khiến em tính đến việc phải nghỉ học. Ông Nguyễn Tấn Thông, Phó chủ tịch xã Tân Thượng (Di Linh) cho biết, về gia cảnh của gia đình anh chị Vũ Thị Nga- Phùng Ngọc Duy thuộc “hộ nghèo” trong xã. Cả hai vợ chồng đều mắc bệnh nhiều năm liền không còn khả năng lao động, lại không có tư liệu sản xuất nên gia cảnh thuộc diện đặc biệt khó khăn. “ Phía địa phương cũng đã nhiều lần tạo điều kiện, giúp đỡ gia đình nhưng chỉ hỗ trợ được một phần nào vì kinh phí có hạn. Dù gia cảnh khó khăn nhưng được cái, các con của chị Nga rất hiếu học. Thành thật, chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm của quý báo, của mọi người dành cho gia đình cháu Kim Phượng, giúp các cháu được tiếp tục đến trường. ”, ông Thông chia sẻ thêm. Khi rời khỏi căn nhà gỗ, chúng tôi không khỏi bị ám ảnh bởi đôi mắt đượm buồn của em. Hy vọng em có thể vượt qua mọi khó khăn, trông gai để tiếp tục theo đuổi ước mơ con chữ, thành người có ích cho xã hội. http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/22857-tan-man-chuyen-phong-thuy/page-17 =================================================== Trường hợp này được không Sư Phụ?
  16. Trung Quốc đã cho nhổ cột mốc biên giới tại các tỉnh lân cận Việt Nam THÁNG MƯỜI MỘT 26, 2010 Theo thông tin và hình ảnh từ BBC Vietnam, Trung Quốc đã cho đào cột mốc biên giới cũ theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887-1895 để đem về bảo tàng. Trong hình là cột mang dòng chữ “Đại Nam Quốc Giới” tại Đông Hưng, Quảng Tây. 2. Cột mốc thuộc tỉnh Vân Nam còn ghi hai bên là “Trung Hoa” và “An Nam”. 3. Quang cảnh người Trung Quốc đào bới cột mốc biên giới cũ 4. Đây là cảnh họ mang vác cột mốc về Lòng đau như cắt khi thấy cảnh núi đổi sông dời này… https://thoisucongnghe.wordpress.com/2010/11/26/trung-quoc-nho-cot-moc-bien-gioi-cutrung-quoc-da-cho-nho-cot-moc-bien-gioi-tai-cac-tinh-lan-can-viet-nam/
  17. LÃO TỬ ĐẠO ĐỨC KINH Chương 16: QUY CĂN. có đoạn viết: 3. Qui căn viết tĩnh. Tĩnh viết phục mạng.[3] Phục mạng viết thường. Dịch: 3. Trở về cội rễ là tĩnh; tĩnh là phục mệnh; phục mệnh tức là trường cửu. Thiên Đồng bàn: Vậy là, theo suy nghĩ của tôi, "Dương tịnh âm động", là phát hiện của Sư Phụ Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, là sự hợp lý cho mọi vấn đề mà cổ thư Đạo Đức Kinh đã ghi lại, nhưng tri thức Hán thì cứ mãi nhầm lẫn "Dương động, âm tịnh".
  18. DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN ỦNG HỘ ( ĐÃ NHẬN TIỀN) Thiên Đồng 500.000 đ (Năm trăm nghìn đồng) Longphibaccai 500.000 đ (Năm trăm nghìn đồng) Anh TonLe: 500.000 đ ( Năm trăm nghìn đồng) Em Tâm: 1.000.000 đ ( Một triệu đồng) Tổng cộng: 2.500.000 đ ( Hai triệu năm trăm nghìn đồng) =============================================== Các anh chị em thành viên nào giúp bé thì gửi vào tài khoản của Thiên đồng. Yêu cầu: - Sau khi chuyển khoản phải chụp hình biên lai xác nhận chuyển tiền vào đây để xác minh có chuyển khoản. - Gửi vô tài khoản tên: BÙI ANH TUẤN. Ngân hàng ACB chi nhánh Tân Bình Tp HCM số tk: 4214 9435 1386 2255 ( số thẻ vừa là số tài khoản)
  19. Thiên Đồng mới nhận chuyển khoảng của những người bạn ủng hộ giúp cháu bé. Anh TonLe: 500.000 đ (năm trăm nghìn đồng) Em Tâm: 1.000.000 đ ( một triệu đồng)
  20. Đệ tử xin đóng góp giúp cho bé 500.000 đ (Năm trăm nghìn đồng) Nam mô Quán thế âm bồ tát ma ha tát cứu khổ cứu nạn.
  21. CHUNG TAY GIÚP SỨC Trích từ fb: Share 1 bài là công đức vô lượng 1 chút sang sẽ cứu 1 mạng người Mong mọi người Share giúp đở một sinh linh bé nhỏ Bé tên Phan Tấn Lộc . Sinh ngày 16/4.2015 ở ấp 1a, xã hoà phú . Huyện cũ chi thành phố hồ chí minh Vì hoàng cảnh gia đình bé khó khăn . Be bị ba mẹ bỏ rơi từ lúc mới sinh ra , bé phải sống với ông bà ngoại đã già yếu lớn tuổi ,và gia đình rất nghèo và khó khăn . bé bị bệnh xơ gan , viêm phổi có thể huy hiểm đến tính mạng . Mà không có tiền để cứu chữa Mong mọi người Share biết đâu may mắn có thể gặp đc những mạnh thường quân để giúp đở bé Đia chỉ : 10/2C đường số 210 ấp 1A xã hòa phú huyện củ chi. ( vì nhà bé không có địa chỉ nên đây là địa chỉ nhà kế bên ) Sdt của cô bé : 092 5436966 Thuý HY VỌNG CÁC THÀNH VIÊN PAGE HÃY DÀNH 3S CHIA SẺ NỘI DUNG NÀY LÊN NHẬT KÝ CỦA BẠN ĐỂ TÌM KIẾM NHỮNG NHÀ HẢO TÂM GIÚP ĐỠ EM BÉ Ạ !
  22. Bị lên án vì giết cá heo, người Nhật trả lời: “Hãy biến khỏi đất nước của tôi” Rất nhiều cơ quan truyền thông của Nhật đã tiến hành các cuộc điều tra ý kiến của người dân, và lần này, người Nhật đã kiên quyết bảo vệ những gì họ coi là thuộc về truyền thống của mình. Từ câu chuyện của một nhà bảo vệ động vật Ngôi sao của một bộ phim tài liệu về hoạt động tàn sát cá heo tại Nhật đã bị trục xuất về Mỹ mới đây. Quan chức Cục Xuất nhập cảnh Nhật đã tạm giữ ông trong 2 tuần và ban hành lệnh cấm ông trở lại Nhật. Trong quá trình bị tạm giữ, ông đã sụt cân rất nhiều, sức khỏe suy yếu đi trông thấy. Khi được hỏi, nhà hoạt động bảo vệ cá heo, ông Ric O’Barry, cho biết ông quyết tâm sẽ trở lại Nhật và tiếp tục đấu tranh để bảo vệ loài cá heo. Nói chuyện với phóng viên trước khi lên máy bay, ông tuyên bố: “Tôi sẽ vẫn tiếp tục trở lại Nhật để theo đuổi những gì mà tôi cho là đúng. Việc đưa tôi ra khỏi nước Nhật không làm thay đổi quan điểm của tôi.” Ông O’Barry từng là cố vấn quan trọng cho bộ phim “The Cove” từng được giành giải Oscar cho với danh hiệu bộ phim tài liệu hay nhất. Trong phim đó, hàng trăm con cá heo đã bị truy đuổi đến một khu vịnh đặc biệt gần Taiji, Nhật và bị tàn sát đến chết, nước cả một khu vực rộng lớn nhuộm đỏ màu máu. Là một cựu huấn luyện viên cá heo giàu kinh nghiệm, ông hiểu rất rõ về loài động vật này, ông thường xuyên đến Taiji. Ông O’Barry hiện đang quản lý dự án bảo vệ cá heo của riêng mình, dự án có mục tiêu bảo vệ loài cá heo trên khắp thế giới. Ông đã làm việc với những người Nhật làm nghề săn cá heo trong suốt nhiều năm qua để thuyết phục họ chuyển sang các loại hình kinh doanh khác ví như kinh doanh dịch vụ lặn biển hay làm xiếc cá heo. Người Nhật trả lời: “Hãy biến khỏi đất nước chúng tôi” Và người Nhật nói gì? Ngay sau vụ việc trên, rất nhiều cơ quan truyền thông của Nhật đã tiến hành các cuộc điều tra ý kiến của người dân, và lần này, người Nhật đã kiên quyết bảo vệ những gì họ coi là thuộc về truyền thống của mình. Nhà báo Matt Gabriel tại Nagasaki nói: “Một quyết định hoàn toàn đúng đắn của chính phủ Nhật. Chúng tôi không cần những kiểu người như thế này đến đất nước chúng tôi để dạy chúng tôi phải cư xử thế nào, phải thay đổi truyền thống của mình ra sao.” Bà Kazuko Fujita, công chức ở Tokyo, khẳng định rằng vụ việc ông Ric O’Barry bị yêu cầu rời khỏi Nhật không liên quan gì đến tự do ngôn luận, bởi theo bà, những người phương Tây chỉ trích Nhật cần nhìn lại chính những gì họ đã và đang làm. Người Nhật chưa bao giờ lên tiếng chỉ trích người phương Tây vì giết mổ gia cầm hay bò, lợn; bất kỳ loài động vật nào cũng có linh hồn, vì thế việc người Nhật giết một con cá heo cũng chẳng khác gì việc người Mỹ giết một con bò hay gà, lợn. Có thể người Nhật rất bảo thủ. Tuy nhiên, ngay cả với lý do bảo vệ loài cá heo, chính nhiều người phương Tây cũng không ủng hộ cách làm của ông Ric O’Barry. Kỹ sư công nghệ thông tin người Mỹ Trent Bruch nói: “Chắc chắn ông O’Barry sẽ chẳng bao giờ làm một bộ phim tài liệu tương tự về tình trạng thảm sát cá heo tương tự tại đảo Faroe bởi những người da trắng thường chia sẻ suy nghĩ rằng họ chung một chiến tuyến. Trên thế giới còn biết bao nhiêu nước giết hại loài cá heo như Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan nhưng tại sao ông O’Barry không làm?” Rất nhiều nước trên thế giới đều có những phong tục dã man khác nhau Thế giới bao gồm rất nhiều quốc gia và mỗi quốc gia có cách đối xử khác nhau đối với các loài động vật, có những con vật được đất nước này trân quý nhưng với nước khác chúng cũng chỉ là động vật bình thường. Sẽ là không hợp lý nếu lấy quan điểm sống của nước mình áp đặt lên nước khác, phản đối truyền thống phong tục của người mang quốc tịch khác mình. Ở Mông Cổ, người nước này rút xương và ruột của con bò hay cừu qua đường cổ họng sau đó nhét đá nóng cháy vào cũng qua đường này để thịt của con vật được chín từ trong ra ngoài. Người Peru thì nổi tiếng với món sinh tố ếch, người ta lột da con ếch rồi cho nó vào máy xay sinh tố khi nó còn đang sống nguyên cùng với một số loại gia vị khác để làm thành món sinh tố yêu thích. Món ăn ếch sống cũng không phải riêng người Peru mới có, ở một số vùng của nước Nhật người ta cũng ăn món ếch sống theo một cách mà người nước ngoài nhìn vào hẳn thấy rất kinh dị. Đó là người Nhật rửa sạch một con ếch sống, sau đó bổ đôi giữa lưng con vật, họ cho con vật bổ đôi vào bát, rắc gia vị lên rồi cho vào mồm nhai sống từng nửa một. Cá nhân người viết từng thấy rợn người khi mà người ta cho con ếch vào mồm, mắt nó vẫn mở trợn trừng và bởi nó bị chặt nhanh quá, dây thần kinh của nhiều bộ phận chân tay chưa chết hẳn, nó vẫn còn đủ khả năng giẫy vùng vẫy trong miệng người nhai để mong thoát thân. Trong các phong tục, lễ hội đấu bò tót của Tây Ban Nha cũng không kém phần dã man khi chạy đua cùng với người dân và khách du lịch thì hai chú bò tót bị giết chết ngay trước mắt hàng nghìn khán giả đang reo hò cổ vũ. Đó là một lễ hội đã có truyền thống rất lâu đời của Tây Ban Nha và nó mang lại nguồn lợi không hề nhỏ cho kinh tế Tây Ban Nha. Nếu một người xa lạ nhìn vào, đó chắc chắn là những hành động hêt sức dã man. Tuy nhiên, là một người trong cuộc, người dân chỉ đơn giản nhìn nó như những phong tục truyền thống của mình. Nó cũng giống như việc bạn sang Ấn Độ và yêu cầu họ phải ăn thịt bò, bạn sang Mỹ yêu cầu họ đừng giết lợn, sang Pháp bảo họ đừng ăn gan ngỗng nữa vi để làm ra món gan ngỗng thì họ đã đối xử với con vật đó vô cùng tàn tệ trong lúc nuôi. Tại sao người Việt không thế? Vòng quanh thế giới, quay lại Việt Nam, ta có thể có cái nhìn khác hơn về câu chuyện chém lợn ở làng Ném Thượng. Các tổ chức bảo vệ động vật rồi không ít người Việt chỉ trích đây là hành động bạo lực. Dưới những áp lực từ chính quyền, dư luận, lễ chém lợn năm nay phải tổ chức trong bạt kín, thay vì tổ chức lộ thiên cho bà con chứng kiến như mọi năm. Tuy nhiên, nếu ai đó lập luận rằng nó khiến làm tăng tình trạng bạo lực, vậy có ai thống kê được rằng tỷ lệ bạo lực hay tội phạm ở làng Ném Thượng cao nhất, cao nhì tại Việt Nam hay không? Nếu tìm hiểu, có thể thấy văn hóa truyền thống của làng lại bắt nguồn từ một câu chuyện ý nghĩa với nguồn gốc rõ ràng. Những người dân trong làng đều trân trọng truyền thống này, có chăng, chỉ có những "kẻ ngoài cuộc" ít hiểu biết về truyền thống, mới mạnh miệng lên án hay chạy theo phong trào. Lý do người Việt ngay lập tức chạy theo việc a dua, chỉ trích các phong tục truyền thống, một phần không nhỏ đến từ việc họ không hiểu rõ giá trị văn hóa của những truyền thống lâu đời đấy. Đây cũng là điểm khác biệt lớn nhất giữa người Việt với người Tây Ban Nha, người Chi Lê hay người Nhật Bản. Ở những quốc gia kia, họ hiểu rõ ý nghĩa của công việc mình đang làm. Không phải cứ họ đến từ những nước “nhà giàu” thì làm gì cũng hay, một bản lĩnh và nền tảng kiến thức để bảo vệ cho truyền thống dân tộc trước sức ép của những người nước ngoài với nền tảng văn hóa và truyền thống khác chúng ta là điều hoàn toàn cần thiết. Ngọc Thúy Theo Trí Thức Trẻ http://cafebiz.vn/life-style/bi-len-an-vi-giet-ca-heo-nguoi-nhat-tra-loi-hay-bien-khoi-dat-nuoc-cua-toi-20160215094512151.chn ====================================== Trích: Lý do người Việt ngay lập tức chạy theo việc a dua, chỉ trích các phong tục truyền thống, một phần không nhỏ đến từ việc họ không hiểu rõ giá trị văn hóa của những truyền thống lâu đời đấy. Đúng, vì không hiểu rõ giá trị văn hóa của những truyền thống lâu đời nên mới phát sinh tâm lý vọng ngoại. Nhưng cái quan trọng là phải hiểu đúng giá trị văn hóa truyền thống của gần 5000 năm văn hiến.
  23. Tìm thấy giờ sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp (LĐCT) - Có một bạn đọc bảo tôi: Anh đã tìm thấy ngày giờ sinh của nhà thơ Cao Bá Quát. Anh thử tìm giờ sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp xem. Anh cho tôi biết ông sinh 25.8.1911 (tính ra ngày âm lịch là ngày mồng 2 tháng 7 năm Tân Hợi). Chỉ còn thiếu giờ sinh. Trong ngày 2.7 âm lịch ấy có 12 giờ can chi, trong đó có một giờ thuộc về mệnh của ông. Tôi dùng máy tính tìm thì thấy có một giờ sinh mà quẻ giời cho là quẻ Thuần Khảm với hào nguyên đường chủ mệnh là hào 5 sẽ dẫn đến quẻ phản ánh thời hậu vận là quẻ Địa Thuỷ Sư, chủ mệnh cũng hào 5. Khi trông thấy quẻ Địa Thuỷ Sư thì tôi reo lên: Đúng mệnh của ông đây rồi! Vì sao tôi reo lên như vậy? Vì quẻ Địa Thuỷ Sư là quẻ dành cho những người làm tướng trong quân đội, hoặc đứng đầu những đám đông quần chúng. Bây giờ tôi chỉ còn việc đối chiếu các tín hiệu hai quẻ Thuần Khảm và Địa Thuỷ Sư, với quá trình hành động và niên biểu trong thực tế đời ông, nếu đúng khớp nhau, thì không còn nghi ngờ gì nữa, đúng ông sinh giờ Hợi (từ 21 đến 23 giờ) ngày 2.7 năm Tân Hợi. Và đây là công việc rất hồi hộp của tôi. Xin nói về quẻ Thuần Khảm trước, là quẻ "giời cho". Đây cũng là quẻ tiền vận 42 năm đời người. Khảm là hãm, hiểm, gian nan, trở ngại. Khảm có tượng là Nước. Không gì hiểm bằng nước sâu nên Khảm là hiểm. Thuần Khảm là hai lần nước, như nước cuồn cuộn đang tiến tới, đã hiểm càng hiểm. Người quẻ Thuần Khảm thường gặp những hoàn cảnh nguy nan, nhưng biết xử thời hiểm, linh hoạt, khôn ngoan tìm mọi cách tránh hiểm, thì không sợ gì. Tuy hoàn cảnh hiểm, thời hiểm mà tâm vẫn hanh thông; lòng vẫn chí thành; lời nói, việc làm lấy tín nghĩa làm trọng; biết linh hoạt biến thông, thì không những tai nạn qua khỏi, mà còn có công nữa. Người quẻ Thuần Khảm thường phù suy hơn phù thịnh. Là người có tài trí, vị tha, can đảm, dấn thân, nhưng phải cẩn trọng khi nhập cuộc, nếu có thể di chuyển nơi chốn như nước chảy thì tốt. Nếu để cho cái hiểm hãm kìm kẹp, thì chìm đắm trong trong thác lũ cuộc đời là cái chắc. Tuổi Hợi mà được quẻ Khảm là cách quý hiển Huyền Vũ Đương Quyền (Chim huyền hạc giữ quyền). Cần nói ngay rằng ngay từ thuở thiếu thời, ông Võ có tất cả các phẩm chất của một người vượt hiểm. Năm 1925 ông thi vào Trường Quốc học Huế, đỗ thứ hai. Hai năm sau, năm 1927, tham gia một cuộc bãi khoá, bị đuổi học. Ông vừa tự học vừa tiếp tục tham gia các cuộc vận động vì chính nghĩa, vì yêu nước. Tháng 10 năm 1930, bị bắt giam cùng với người yêu là Nguyễn Thị Quang Thái (em gái nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai), cùng em trai là Võ Thuần Nho và bạn là Đặng Thai Mai. Đến cuối năm 1931 mới được thả, liền bị cấm ở Huế. Ông ra Hà Nội học trường Albert Sarraut. Những năm từ 1936 đến 1939 tham gia Mặt trận Dân chủ Đông Dương, làm các báo của Mặt trận. Năm 1937, tốt nghiệp ngành luật và kinh tế chính trị, làm giáo viên trường tư thục Thăng Long Hà Nội. Năm Canh Thìn (1940) mệnh ông ở hào 2 quẻ Thuần Càn. Lời hào nói rằng: Như con rồng lên mặt ruộng. Ở vào thời hiển đạt, gặp được người cao quý thì có lợi. Thì đúng là năm này ông lấy bí danh Dương Hoài Nam, cùng Phạm Văn Đồng đi lối Cao Bằng vượt biên sang Trung Quốc gặp Hồ Chí Minh. Những năm gặp hiểm thoát hiểm của ông là như thế. Năm Giáp Thân (1944) vẫn trong thời Khảm hiểm, ông ở quẻ Hoả Phong Đỉnh hào 6. Năm này vững vàng như cái đỉnh có ba chân. Hào 6 bảo như cái đòn khiêng đỉnh bằng ngọc: Cương mà nhu thuận. Tốt lắm, không gì không lợi. Đức đẹp, công thành. Ông được Bác Hồ cử làm Đội trưởng Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, ngày 22.12 làm lễ ra quân, với 34 chiến sĩ vũ khí thô sơ. Ngày 25.12 chỉ huy đánh hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần, lập chiến công đầu vang dội. Năm Ất Dậu (1945) ông được quẻ Hoả Thiên Đại Hữu. Đại Hữu là có lớn, đối với nhà cách mạng, quẻ nói lên sự giàu có về tinh thần và sức mạnh, có lúc như chiếc xe chở nặng đi chốn nào cũng được, sẵn sàng gánh vác công việc to lớn, nặng nhọc. Ông được cử tham gia Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc. Cách mạng tháng Tám thành công, ông làm Phó Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ. Năm Bính Tuất (1946) mệnh ông có quẻ Thuần Ly. Thuần Ly là hai vầng lửa sáng, là năm rất sáng suốt thông minh, uyển chuyển, khiêm nhường, giúp người trên, hoà người dưới, thành cuộc sống văn minh, hưởng phúc lớn, được kỳ vọng. Năm này là năm đầu tiên củng cố nền độc lập vừa giành được, chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, ông kiêm giữ chức Bộ trưởng Nội vụ, phụ tá Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng trong thời gian Hồ Chủ tịch sang Pháp. Năm Mậu Tý (1948) ông được quẻ Lôi Thuỷ Giải hào 5. Lời hào: Nắm quyền pháp lý, tiến cử người hiền, trừ bọn gian, cho quốc gia được an ninh, đời sống dân được cải thiện, sự nghiệp lớn, ít người sánh kịp. Ngày 25.1.1948 ông được phong quân hàm đại tướng. Ông là vị đại tướng đầu tiên của QĐND VN. Trong chặng đường Khảm hiểm này còn có những tín hiệu khác ứng nghiệm một cách kỳ diệu, nhưng tôi xin dừng tại đây. Như trên đã nói, hậu vận Võ đại tướng từ năm 43 tuổi (1953 trở đi) được quẻ Địa Thuỷ Sư, chủ mệnh hào 5. Sư là Đám đông, Quân đội. Tượng quẻ là trong Đất có nước tụ lại. Trong xã hội là quần chúng tụ lại thành đám đông. Người nào được quẻ này là người có số mệnh điều khiển đám đông, trở thành người chỉ huy quân đội. Người quẻ Sư giỏi dùng người, giỏi chiến trận. Người sinh tháng 7 được quẻ này là phù hợp với vận động của trời đất. Đại tướng được chủ mệnh hào 5 chi phối những năm cuối đời: Tiến thân hợp lẽ phải, thuận đường, lập công, xem xét kỹ rồi mới ra lệnh, dẹp loạn cứu dân, uy danh nổi như cồn, khắp chốn. Tất cả những tín hiệu ấy vận vào quá trình hành động và đối chiếu với niên biểu của Đại tướng (từ năm 1953) đúng đến chi tiết. Thử xem năm Giáp Ngọ (1954), với đặc mệnh hào 5 quẻ Địa Thủy Sư nói trên, năm này ông được quẻ Phong Thuỷ Hoán, chủ mệnh hào 6. Hoán là Tán, đất nước bị xâm lăng chính là một thời Hoán tán. Lời hào 6 nói rằng: Có gan mật, cứu được hiểm hoạ cho dân. Tín hiệu là như trên, còn trong thực tế, năm này Đại tướng được Bộ Chính trị và Bác Hồ cử ra chiến trường, trực tiếp làm tổng chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ. Viết đến đây tôi có cảm tưởng như giời đã sinh ra cho nước Việt ta một con người anh hùng và đã dẫn dắt con người đó đến với nhân dân ta đúng thời khắc, vào năm Tân Hợi, tháng Bính Thân, ngày Đinh Mão, giờ Tân Hợi. Tính đến năm 1991 ông đã đi hết và trọn vẹn thời vận và hành lang hai quẻ Dịch Thuần Khảm và Địa Thuỷ Sư, tổng cộng 81 năm. Phần dày thêm tuổi thọ rất quý báu của ông là trời đất thưởng thêm không nằm trong bài toán Hà Lạc mà chúng tôi được biết. Xin chúc mừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp! Nhà văn Xuân Cang http://huc.edu.vn/chi-tiet/667/Tim-thay-gio-sinh-Dai-tuong-Vo-Nguyen-Giap.html
  24. Dạ, đệ tử sơ suất, vì đang chú trọng tìm hình khảo cổ Việt, thấy hình cần tìm, mà quên, không để ý kỹ nội dung. Về việc gán cho hình trên chuôi gươm đó là không hợp lý tý nào. Đệ tử lần sau để ý hơn.
  25. Thanh kiếm ngắn Đông Sơn mang hình tượng Hai Bà Trưng Chiếc kiếm ngắn Đông Sơn mang dư ảnh Hai Bà Trưng 1- Tượng nam và tượng nữ trên cán dao găm Đông Sơn và phân bố của chúng Từ lâu tôi đã chú ý đến những tượng nữ trên cán dao găm Đông Sơn. Việc phân biệt tượng nam hay nữ trên cán dao găm Đông Sơn đã từng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm thảo luận[1], nay nhờ tư liệu phong phú, có thể xác định chúng khá đơn giản và rõ ràng. Trước hết có thể nhận thấy hai loại hình tiêu biểu nhất trong số những tượng phát hiện trong context khảo cổ hoặc của những sưu tập sớm có độ tin cậy cao : những tượng nữ khai quật ở Làng Vạc (Nghệ An), Núi Nưa (Thanh Hoá) và tượng nam ở Núi Đèo (Thuỷ Nguyên), Quả Cảm (Bắc Ninh), Đông Sơn (Thanh Hoá)[2] những tượng trong sưu tập d’Argence hiện trưng bày tại Bảo tàng lịch sử và hai tượng trên cán dao Đông Sơn khai quật được ở nam Trung Quốc[3]. Sự khác biệt của hai nhóm tượng này thể hiện khá rõ và mang tính địa phương. Những tượng Làng Vạc và Núi Nưa thể hiện lối trang phục kín khắp người (áo váy) với thắt lưng dày trên phần eo luôn buông dài tận chân có tua núm và các vòng hạt chuỗi đeo nhiều tầng ở cổ. Các nhà nghiên cứu đều dễ thống nhất đó là đặc trưng tượng nữ, cho dù kiểu đầu tóc ở các tượng có ít nhiều thay đổi. Ở nhóm tượng còn lại, đặc trưng nổi bật nhất là ở trần (hở hai núm vú dẹt) và đóng khố ngắn có tua. Các khố này được trang trí hoa văn và tạo thành hai bản dẹt hình thang phía trước và sau bộ phận sinh dục. Đây là bằng chứng thuyết phục của tượng nam. Từ những tiêu chuẩn này chúng ta có thể nhận ra thêm những đặc điểm trang sức của nam và nữ thời Đông Sơn : ví dụ nữ đeo nhiều vòng chuỗi, khuyên tai, vòng cổ tay lớn và đơn giản trong khi tượng nam đeo khuyên tai gối quạ (Quả Cảm, Hồ Nam…), vòng đeo ở cánh tay… Cũng với những đặc trưng nhận biết này ta có thể nhận ra những tượng „lạ“ được làm không phải theo phong cách Đông Sơn. Hai nhóm tượng trên thực chất là hai khối tư duy tôn vinh nam nữ có chủ đích. Kiểu thể hiện khá ổn định với hai cánh tay cong khuỳnh chống nạnh đối xứng tạo độ cầm đày tay cho một cán dao găm. Đa phần tượng nữ phát hiện được ở vùng sông Mã, sông Cả là nơi chế độ mẫu hệ còn bảo lưu rất lâu về sau này. Chúng ta đều biết, sự lan toả của chế độ phụ hệ trong lịch sử Việt Nam có chiều hướng từ phía bắc xuống phía nam. Khối các dân tộc tàn dư hoặc chịu ảnh hưởng của văn hoá Chăm ở miền Trung nước ta cho đến hiện nay vẫn còn chứa đậm nhiều nét bảo lưu của chế độ mẫu hệ. Việc phổ biến cán dao găm tượng nữ ở vùng Nghệ An, Thanh Hoá chứng tỏ chế độ mẫu hệ trong khoảng trước thế kỷ 3 sau Công nguyên còn rất phổ biến tại đây. Ngược lại, vùng phân bố của các tượng nam tập trung ở phía bắc, tức lưu vực sông Hồng (Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh…) phản ánh hiện tượng chế độ phụ hệ có thể đã xác lập phổ biến. Vùng sông Mã được coi như vùng đan xen với sự tồn tại cả hai loại hình với ưu thế trội thuộc về các tượng nữ. Gần đây có một số thông tin phát hiện tượng nam ở vùng Làng Vạc. Điều này, nếu đúng, cũng không lấn át được tính ngự trị của các tượng nữ ở vùng này. 2- Tượng đôi trên cán dao găm, một số phát hiện ngẫu nhiên Trong khai quật khảo cổ học chính thức chúng ta chưa từng phát hiện được những tượng đôi trên cán dao găm. Tuy nhiên, trong một số trưng bày và công bố gần đây ở trong và ngoài nước, xuất hiện một số tượng đôi thể hiện trên cán dao găm Đông Sơn. Nhóm nhiều tượng đôi nhất thuộc về sưu tập của Nguyễn Đại Dương trưng bày tại nhà hàng Trống Đông Sơn. Tôi đã có may mắn được nghiên cứu trực tiếp ba tượng đôi thuộc sưu tập này. Theo tôi, chỉ có chiếc dao găm có tượng hai người ngồi trên vai nhau là đáng chú ý. Chiếc dao găm này được người sưu tầm đầu tiên (Nguyễn Đại Dương là người mua lại về sau) cho biết có nguồn gốc Nghệ An (Làng Vạc ?) (hình). Cụm tượng này thể hiện hai người công kênh nhau. Người ngồi trên mang rõ nét những đặc trưng quý tộc nữ. Kiểu đầu tóc bồng chải ngược như phần đầu không chỏm của tượng Núi Nưa hay tượng trên dao găm 2505-77 của Bảo tàng Barbier-Muller[4]. Trang trí trên toàn thân (tay và váy) phản ánh chiếc áo váy thêu in hoa văn. Trên cổ người ngồi trên đeo hai lần vòng chuỗi. Hai tai đeo hai vòng khuyên lớn. Thắt lưng quấn cao trên eo với dải thả búi thõng phía đằng sau. Phần đùi và chân đều có hoa văn trang trí kiểu trang trí trên váy. Hai chân để trần lộ rõ ngón thả thõng đến ngang đùi người bên dưới đước giữ bởi hai tay của người công kêng mình. Cánh tay người ngồi trên khuỳnh ra, phần bàn tay ôm lấy phần đỉnh đầu của người dưới. Mặt quý tộc nữ thể hiện theo kiểu mặt người Núi Nưa, tức khuôn mặt bầu hình trám với chiếc cằm nhọn. Khi bị gỉ dễ nhầm với chòm râu nhọn của đàn ông. Mắt khắc bằng hai đường viền như kiểu vòng tròn đồng tâm. Tượng bên dưới đứng nhìn thẳng, phần đầu bị kẹp giữa đùi người ngồi trên nên không rõ kiểu đeo vòng và trang trí đầu. Hai tay giữ chặt chân người ngồi trên. Thắt lưng và váy được thể hiện rất rõ nét theo những đặc trưng phục trang nữ. Chân đi đất để lộ ngón. Một tượng cán dao găm khác có nội dung tương tự được giới thiệu trong cuốn „Art Ancien du Vietnam – Bronzes et Ceramiques“ do Monica Crick biên tập, xuất bản đầu năm nay ở Geneva (Thuỵ Sĩ)[5]. Theo tác giả, hiện vật này thuộc sưu tập của Phạm Lan Hương. Đó cũng là một cặp đôi nữ công kênh nhau trên vai cùng phong cách với tượng thuộc sưu tập nhà hàng Trống Đông Sơn ở Hà Nội. Dao găm có kiểu chuôi và lưỡi lá tre theo phong cách sông Mã. Trên bản lưỡi có khung trang trí thu theo khuôn hình lá lưỡi. Kiểu trang trí trên toàn thân với búi thắt lưng thả dài khiến chúng được xếp vào nhóm tưọng nữ, mặc dầu người phía dưới to lớn hơn dường như được khắc những nét vạch ở cằm thể hiện vành râu cằm ? Theo tôi người bên dưới cũng là nữ giới. Người ngồi trên có đai đầu và phía sau có một chiếc trâm cài hình chữ C nằm úp hai đầu soắn nhiều vòng. Trên lưng người này có những đường vạch chìm như thể hiện mớ tóc xoã của bức tượng. Mảng eo được thể hiện bằng ba vòng quấn thắt lưng. Dải thắt lưng có búi lớn thả ở phía sau thóng xuống ngang thắt lưng của người công kênh bên dưới. Tai trái người ngồi trên đeo một khuyên nhưng tai phải đeo chồng tời hai khuyên và dường như có cả một cụm chuỗi vòng nhỏ phía trên, như kiểu đeo tai ở tượng chiến binh nam mang đầu lâu trên lưng. Chân người này để trần lộ cả ngón đang quặp chặt vào eo người bên dưới và được giữ bởi hai tay người bên dưới. Trên phần chân từ đầu gối trở xuống của người ngồi trên có những đường trang trí hoa văn rất phổ biến của tượng nữ Làng Vạc, Núi Nưa. Đó là những vòng tròn đồng tâm tiếp tuyến song song đối xứng biến thể thành hai hình chữ S đối xứng gương như cách thể hiện trên quai thạp đồng vậy. Khuôn mặt người trên thể hiện nữ tính rất rõ với đôi mắt khắc chìm vành mi dưới cong hất lên tương ứng với cái miệng đang cười. Hai tay ôm lấy đầu người công kênh mình. Tượng phía dưới đứng thẳng, hai tay nắm chặt cổ chân người ngồi trên. Mặt thể hiện nam tính với râu cằm, tai đeo vòng, nhưng phần trang phục lại thể hiện rõ nét nữ tính với thắt lưng thả búi và váy dài tận chân. Đáng nói nhất ở đây cụm tượng người, thú mang đậm phong cách Làng Vạc với sự thể hiện tập trung cặp tượng nữ sinh đôi ngồi song song trên lưng voi được đỡ bởi hai con thú lạ khác (Hình). Cụm tượng này được tạo thành cán cầm của một lưỡi kiếm ngắn thanh mảnh như một quyền trượng hơn là một vũ khí thực thụ. Chủ nhân lưỡi kiếm này cũng là bà Phạm Lan Hương. Báu vật này hiện đang trưng bày tại Galerie HIOCO, Paris[6]. Cán kiếm là một tác phẩm nghệ thuộc phức hợp chứa đựng nhiều tư duy của nghệ sĩ. Tư duy này phác thảo trên nền một phong cách nổi tiếng của nghệ thuật trang trí cán dao đồng Làng Vạc : Đôi hổ đỡ voi mang bành. Cuộc khai quật Làng Vạc của Viện Khảo cổ học trong những năm chiến tranh (1972-73) đã phát hiện in situ con dao găm đầu tiên như vậy[7]. Bảo tàng Barbier-Mueller cũng sở hữu một chiếc tương tự[8] (hình). Trên thanh kiếm ngắn của Hioco Galerie, phần thân cán cũng tạo bởi hai con thú có hình dáng gần giống với một con tôm khổng lồ. Phần miệng thể hiện hàm răng như cá sấu với hàm dưới lại như một cánh tay đỡ chân con voi. Lần này con voi được tạo hình đối xứng với hai đầu rõ rệt. Bốn trụ chân chính của voi được gắn liền với tay (hàm dưới) con thú (tôm hùm) bên dưới, trong khi hàm trên (hoặc mũi nhọn ở đỉnh mũi tôm, có mắt nổi giống mắt tôm hùm) gắn với vòi và cặp ngà voi. Khi nhìn chính diện mặt voi, hai cái tai vuốt nhọn trông rất giống hình tai trên khuyên hai đầu thú Sa Huỳnh. Tôi nghĩ rằng chúng có ảnh hưởng phong cách nghệ thuật khuyên tai hai đầu thú Sa Huỳnh. Khác biệt là ở sự thể hiện bành voi. Ở các cán dao hổ đỡ voi Làng Vạc khác, phần bành voi thể hiện một bành ngồi có chân đỡ trông như một ngôi nhà sàn mái cong của Inđonesia. Trên thanh kiếm tôi đang nói tới, thay vào vị trí bành voi là tượng hai nữ quý tộc ngồi xổm ở tư thế hai tay ôm gối chắp trước ngực. Đầu gối hở ra và đôi chân để trần lộ ngón. Hai tượng giống nhau như hai chị em sinh đôi. Tượng thể hiện theo phong cách Núi Nưa (Thanh Hoá) với kiểu tóc hất bồng cao có thắt eo ở giữa. Mặt hình trám bầu, cằm nhọn. Mắt kiểu vành tròn đồng tâm có lông mày chấm rải, mũi vuốt nhô. Trên phần cổ và ngực có những vòng chuỗi nhiều tầng. Phía sau lưng gáy là một hốc lõm hình thang có hai vòng bán khuyên, vừa như thể hiện búi tóc, vừa dùng làm chỗ có thể đeo nhạc chuông. Hiện vật này đã được nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm của công ty giám định cổ vật Ciram (Paris). Tôi may mắn có được 2 ngày trong cuối tháng Sáu năm nay nghiên cứu trực tiếp hiện vật và hiện có trong tay toàn bộ kết quả nghiên cứu thành phần hoá học, X-ray của báu vật này. 3- Tính biểu trưng và tính mô tả trong nghệ thuật tạo tượng cán dao găm Đông Sơn – hình tượng những nữ anh hùng Việt Nam sống vào cuối văn hoá Đông Sơn : Bà Trưng, Bà Triệu. Từ lâu, tôi đã theo đuổi một ý nghĩ về tính biểu trưng (Symbolism) hay tính tả thực (Realism) của các nhân vật trên cán dao găm. Phân tích 30 cán dao găm hình người, thú Đông Sơn mà tôi hiện có tiêu bản studio có thể nhận thấy các nghệ nhân Đông Sơn đã có những ràng buộc mang tính quy chuẩn kỹ thuật, nghệ thuật khi chế tạo tượng cán dao găm : dáng đứng, kiểu đầu tóc, váy, khố, vòng trang sức, cách thể hiện hoa văn … và ở giai đoạn đầu, cán dao găm Đông Sơn mang tính biểu trưng quyền lực chung của thủ lĩnh nhiều hơn[9]. Tượng người được tạo ra mang tính đại diện chứ không nhằm mô tả một nhân vật cụ thể. Tuy nhiên vào khoảng cuối Đông Sơn (thế kỷ 1 tr.Cn – thế kỷ 3 sau Cn) xuất hiện những pho tượng chứa đựng „cá tính“ – mang rìu chiến, dao găm, đầu lâu người (hình). Phần chắn lưỡi cũng được trang trí thêm bởi những móc câu soắn tròn (hình) và đặc biết xuất hiện tượng quý tộc nữ được công kênh và tượng hai chị em sinh đôi nói trên[10]. Theo tôi, ba hiện vật giới thiệu ở trên có độ tin cậy cao mặc dù nó không nằm trong các cuộc khai quật khảo cổ học chuyên nghiệp. Chúng đều tôn vinh những quý tộc nữ khiến tôi liên tưởng đến sự thực lịch sử gắn liền với những nhân vật nữ anh hùng cụ thể xuất hiện trong khoảng cuối văn hoá Đông Sơn : Hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị đầu công nguyên (thời kỳ người Việt chưa mang họ như ngày nay) và sau đó là Bà Triệu (thế kỷ 2-3 sau Công nguyên, khi người Việt quý tộc bắt đầu mượn họ phương bắc – họ Triệu – vua Nam Việt). Truyền thuyết đều gắn họ với voi chiến (ngựa chiến vào Việt Nam rất muộn và không thuộc truyền thống quân sự Việt). Và hình ảnh hai chị em quý tộc sinh đôi ngồi trên lưng voi hai đầu của chiếc kiếm nói trên hoàn toàn có thể gắn với tính tả thực về hiện tượng khởi nghĩa Hai Bà Trưng gây chấn động cả khu vực Đông Á đương thời. Những tượng nữ mang phong cách Núi Nưa đứng đơn cũng là sự tôn vinh những nữ thủ lĩnh anh hùng như vậy. Đặc biệt tượng nữ trên kiếm ngắn mang rìu chiến hiện trưng bày ở Galerie HIOCO (Paris) là một minh hoạ rất sinh động cho giả thuyết này (hình). TS Nguyễn Việt – Trung Tâm Nghiên Cứu Tiền Sử Đông Nam Á [1] Lê Văn Lan, 1974, Trang phục thời đại Hùng Vương, trong Hùng Vương dựng nước, tập 2, Hà Nội, tr. Trịnh Sinh và Nguyễn Văn Huyên, 2002, Trang sức trong văn hoá Đông Sơn, Hà Nội. Phạm Minh Huyền, 1997, Tượng người trên cán dao găm Đông Sơn, trong Khảo cổ học, số… Hà Nội. Nguyễn Việt, 2004, Trang phục trong văn hoá Đông Sơn, trong Kỷ yếu Hội nghị 80 năm nghiên cứu Văn Hoá Đông Sơn, Thanh Hoá. [2] Goloubew, V. ,1929, L’Âge du Bronze au Tonkin et dans le Nord-Annam, BEFEO, tom XXIX, Hanoi, fig.18C và Pl.XIX. Janse O., 1946, 1952,Archaeology in Indichina, Phụ bản ảnh, fig. 20. [3] Một tượng đã được giới thiệu trong cuốn Văn hoá Đông Sơn, Hà Nội, 1994, chủ biên Hà Văn Tấn. Một tượng khác khai quật ở Hồ Nam năm 1974 ( xem Cheng Dong và Zhong Shao-yi , 1990, Ancien Chinese Weapons- Collection of Pictures, hình 4-188) [4] Art Ancien du Vietnam – Bronzes et Ceramiques“, ed. by Monica Crick, Collection Baur, Geneva 2008, Cataloge : Bronzes, 3. [5] Art Ancien du Vietnam – Bronzes et Ceramiques“, ed. by Monica Crick, Collection Baur, Geneva 2008, Cataloge : Bronzes, 2. [6] Galerie Christophe HIOCO, 2008, Vietnamese Bronzes – The Symbolism of Emotion, Paris, tr. 20. No 4-Swort [7] Hà Văn Tấn (ed.), 1994, Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội. Hình [8] Arts de l’Antiques – Fluerons du musee de Barbier-Muller, ed. by Laurence Mattet, Paris, Geneva. Catalogue tr. 462. [9] Dao găm xuất hiện trong văn hoá Đông Sơn vào khoảng thế kỷ 4-5tr.Cn. Dao có cán tượng người đều thuộc loại hình sông Mã, tức ở phần chắn giữa lưỡi và đốc thường được đúc dài và thon nhọn ở hai đầu sau đó uốn cong soắn hình sừng trâu. Loại này có kiểu lưỡi hình lá tre mặt cắt thấu kính dẹt khác hẳn với loại dao găm ảnh hưởng phong cách Điền. Có ba loại đốc phổ biến : Ngang hình chữ T, hình củ hành hay củ tỏi (gallic) có hoặc không có trổ lỗ và hình tượng người, động vật. Sự xuất hiện của các loại tay cầm dao găm loại hình này không đồng đều. Những dao găm trong mộ Việt Khê đại diện cho nhóm sớm. Tại đây, chúng ta chưa thấy dấu hiệu nào của dao găm cán tượng người mà mới chỉ thấy những dao găm thuộc loại hình có đốc tay cầm đơn giản : “chữ T”, “củ hành”. Những dao găm khảo cổ học phát hiện ở Làng Vạc đều thuộc nhóm muộn (khoảng sau thế kỷ 2 tr.Cn). Bên cạnh sự tiếp tục phổ biến của hai dạng sớm bắt đầu xuất hiện dạng muộn với nhiều kiểu tượng người thú khác nhau. Những dao găm Đông Sơn cán tượng nam phát hiện ở Trung Quốc được xếp niên đại Chiến Quốc (thế kỷ 3-4 tr.Cn). Theo chúng tôi, có hai giai đoạn phát triển dao găm cán tượng người : giai đoạn sớm ở vào thế kỷ 2-4 tr.Cn là giai đoạn tạo tượng người mang tính công thức, biểu trưng và giai đoạn sau xuất hiện những tượng mang nét cá tính, mô tả. Những dao găm cán tượng người, thú phát hiện ở Làng Vạc thuộc giai đoạn phát triển sau. [10] Trong sưu tập dao găm Đông Sơn của nhà hàng Trống Đông Sơn (Hà Nội) có một số tượng mang nội dung lạ. Tôi đã có dịp nghiên cứu studio những tượng đó, như tượng đôi nam nữ, tượng đôi “dâng rượu”, tượng người thổi sáo…nhận thấy nhiều điểm ngoài quy luật truyền thống của nghệ thuật và kỹ thuật Đông Sơn. https://khanhhoathuynga.wordpress.com/tag/hinh-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-hai-ba-tr%C6%B0ng/
×
×
  • Create New...