Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

wildlavender

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    6007
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    103

Everything posted by wildlavender

  1. Bài của Bác Thiên Sứ đơn giãn mà chuẩn xác đến từng mi li dem nhỉ? Tiếc là Bác ko có nhìu thời gian để phân tích hầu cảnh báo với những tuyên ngôn mê lầm của Duy Tuệ!
  2. TRÍCH MỘT SỐ LỜI ĐẠO SƯ DUY TUỆ TRỢ DUYÊN CHO CHÚNG TA ĐỂ LÀM VIỆC HÀNG NGÀY 1.Tuổi trẻ có nhiều năng lượng sống Nên cần xác đinh mục tiêu lớn Mục tiêu liên quan đến toàn nhân loại Và tin chắc vào khả năng vô tận nơi tâm mình Niềm tin này phải mãnh liệt phải say sưa mới được. 2. Nếu thiện hữu hướng mình trong tương lai Là một nhà văn Hãy là một nhà văn có thể làm thay đổi lòng nhân loại với quê hương của mình Nếu là một nhà buôn Hãy nên là một nhà buôn hữu ích cho loài người Nếu là một hướng dẫn viên du lịch Hãy nên là một hướng dẫn viên lôi cuốn nhất thế giới Nếu là nhà khoa học Hãy nên là một khoa học gia góp phần thay đổi hoàn cầu Nếu là một nhà báo Hãy nên là một nhà báo làm cho thế giới khâm phục Nếu là một nhà văn hóa Hãy nên làm cho thế giới học được gì từ văn hóa của dân tộc mình Nếu là một nhà chính trị Hãy làm cho thế giới kinh ngạc về con tim và trí tuệ của mình cho dân tộc cho loài người Nếu là một nhà quân sự Hãy để cho toàn nhân loại cúi đầu ngưỡng mộ Cứ như vậy… 3.Đừng bao giờ đặt mục tiêu của đời mình vì tiền bạc hay danh vọng Dù cho thiện hữu đang làm để kiếm miếng cơm manh áo Hãy đặt mục tiêu vì lợi ích loài người trước hết. Đừng tin vào tài lanh lợi Chỉ tin vào sự bền chí làm việc không mệt mỏi Đừng tin những gì mình đã học Chỉ dựa vào trực giác của mình lúc hữu sự Trực giác là khả năng tự nhiên trời ban. 4. Khi ngã xuống Hãy nhìn vào tâm mình vô tận Và tin rằng có Trời, Phật hiểu và thương mình Rồi dùng ý chí đứng lên đi tới. Đừng theo con đường mòn của người đi trước Dù hiện lớp lớp người đang theo Bởi nếu như vậy Thiện hữu cũng chẳng làm ra sự thay đổi nào Hãy tự tâm trực giác của mình mà sáng tạo. 5.Trong tâm trực giác Không chứa kinh nghiệm Nên sáng tạo là sáng tạo chứ không phải coppy Người coppy không thể làm cho thế giới thay đổi. Đừng sợ sệt e-dè hay dừng lại khi ai đó cản ngăn Bởi mục tiêu thiện hữu đưa ra là lợi ích cho loài người. NÓI VỚI CÁC HIỀN GIẢ MINH TRIẾT Nhận xét về bài viết “Cẩm nang THIỀN MINH TRIẾT” của Đạo sư Duy Tuệ. “Vấn đề chính là ở cái đầu. Để giải quyết tất cả các bài toán biến hoá của cuộc đời, chúng ta phải tập trung giải quyết chuyện của cái đầu, rồi thì cũng sẽ chẳng cần giải quyết bài toán nào nữa cả! Để giải quyết rắc rối của cái đầu, trong hơn mười năm qua, tôi đã chia sẻ cho rất nhiều vị nhiều phương pháp khác nhau và hầu hết đều đem lại kết quả tốt đẹp cho đời sống tinh thần và vật chất của họ. Tinh thần ổn định hơn, đời sống vật chất phát triển êm dịu hơn và ứng xử thành công hơn trước khi thực tập. Tôi tạm dùng ba chữ Thiền Minh Triết để chỉ cho các phương pháp ổn định cái đầu”. Nhận xét (NX): Cách dùng từ “cái đầu” thật là mới, lúc đầu đối với những người đã đọc qua sách triết và kinh sách các đạo phái thì thấy hơi “thô thiển”nhưng xét ngẫm lại thì thấy mộc mạc, bình dân và dễ hiểu cho nhiều người. Đạo sư Duy Tuệ dùng “Thiền Minh Triết”cho phương pháp “ổn định cái đầu”thì cũng được thôi. “Dĩ văn tải đạo” mà! Nhưng như vậy thì giống như hàng Chợ Lớn – chuyên môn nhái hàng thật. Thiền Minh Triết của Đạo sư Duy Tuệ là bước cơ bản đầu tiên của hai pháp thiền trong nhiều pháp thiền của Phật giáo – đó là “Thiền định (samatha), và 'Thiền Minh Sát' (Vipassana). Các Hiền giả Minh Triết tham khảo bài viết “Thiền là gì ?” của Venerable Ajahn Sumedho do Mỹ Thanhdịch thì rõ. Đạo sư Duy Tuệ: “Tôi tự cho rằng mình cũng không nằm ngoài những hiện tượng của các bậc tiền bối xưa nay từng trải qua, đó là hiện tượng tình cờ được vào trạng thái bừng sáng bên trong để hiểu rõ chính cái đầu của mình.”. NX: Đạo sư Duy Tuệ thật may mắn. Không biết Đạo sư nói có thật không vì không ai kiểm chứng được. Hiện tượng may mắn của Đạo sư tôi có thể có viết ra được và gán cho mình là đã đạt được trạng thái đó. Các Hiền giả Minh Triết đọc “Hám Sơn Đại sư tự truyện” do thầy Thích Hồng Đạt dịch hoặc cuốn sách “Đường mây trong cõi mộng”của thầy Thích Hằng Đạt & Nguyên Phong phóng tác thì rõ. Từ lúc ngộ đạo, đi vào thiền định và cả cuộc đời Đại sư Hám Sơn … để các Hiền giả Minh Triết biết được cái “thấy, biết” qua các lần “Trải nghiệm” của Đạo sư Duy Tuệ đang ở mức độ nào? “Những bài Thiền căn bản” của Đạo sư Duy Tuệ. 1. Thiền ngồi: Đối tượng quan sát trong thiền ngồi: Dùng hơi thở là dễ và hiệu quả nhất! Sau khi chuẩn bị xong thì bắt đầu khép mắt lại (hoặc mở một phần tư). Hướng cái nhìn về đầu mũi và đưa sự chú ý vào hơi thở đang đi vào, ra. Hơi thở đi vào thì biết rõ đang đi vào, hơi thở đi ra thì biết rõ đang đi ra. Nếu thiếu sự biết này thì không được coi là thiền…. NX: Đạo sư viết rất hay, ngắn gọn. dễ hiểu, dễ thực hành. Các Hiền giả Minh Triết muốn biết nguồn gốc của pháp hành thiến này và muốn phát triển hơn nữa thì có thể đọc “ Kinh QUÁN NIỆM HƠI THỞ “ do Thiền sư Nhất Hạnh dịch và chú giải. Nếu các Hiền giả Minh Triết muốn đọc bài viết rất hay về pháp Thiền này của một Thiền sư người Anh , đó là Thiền sư Ajahn Brahmavamso, xin đọc bài viết “Căn bản pháp hành thiền”. Các cách thiền khác của đạo sư Duy Tuệ: 1.Thiền quan sát ý nghĩ: 2.Thiền trong lúc làm việc: 3.Thiền trong lúc đi bộ, thể thao hay khi đang dạo chơi: 4.Thiền trong lúc đang nói chuyện công cộng: NX: Đạo sư Duy Tuệ viết rất hay, áp dụng trong thực tế tốt. Các Hiền giả Minh Triết có thể tham khảo “ Kinh Tứ Niệm Xứ” do Thiền sư Nhất Hạnh dịch để biết nguồn gốc của pháp hành thiền này và có thể rèn luyện để MINH TRIẾT hơn nữa. Còn các Hiền giả Minh Triết muốn áp dụng Thiến Tứ Niệm Xứ mọi lúc, mọi nơi thì có thể đọc thêm “Sống Thiền - Ðạo Lý Tỉnh Giác Trong Ðời Sống Thường Ngày” của Bs Thynn Thynn do ông Từ Thám dịch. Tôi chưa phải là Phật tử, tôi còn đầy THAM – SÂN – SI nhưng tôi viết thực lòng. Tôi thành thật xin lỗi nếu những gì tôi viết có thể làm các thầy, anh, chị, bạn, các em không thích. NGUYENHO Viết bởi nguyenho 07 Feb 2012, 10:06 Tôi vẫn chưa biết được Đạo sư Duy Tuệ là ai nhưng tôi cảm thấy đạo sư này có "vấn đề" cần phải cảnh giác, vì: - Đọc các sách, bài viết, nói của Đạo sư Duy Tuệ từ năm 2003 đến nay tôi thấy Đạo sư “không được bình thường”, lời nói không như nhất: “Năm bản nguyện của đạo sư Duy Tuệ” nói một đàng, cuốn sách “Ta là ai” và các bài viết sau này đi một nẻo khác. Đọc nhiều sách, bài viết của đạo sư, tôi chẳng biết “DUY TUỆ LÀ AI?” - Các Hiền giả Minh Triết biết gì về Phật Thích Ca Mâu Ni và Điều Ngự Giác Hoàng (vua Trần Nhân Tông) qua những lời giảng cắt xén của Đạo sư Duy Tuệ ? Tại sao Đạo sư Duy Tuệ bài bác việc tu học để có thể “Minh triết” như trong bài “DOANH NHÂN HIỀN TRIẾT’ của mình. Đạo sư Duy Tuệ có biết “ ngày mồng một tết năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308) vua Trần Nhân Tông đã chính thức hóa việc truyền y cho thiền sư Pháp Loa ở Cam Lộ đường của chùa Siêu Loại thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay với sự chứng kiến của chính vua Trần Anh Tông và thượng tể Trần Quốc Trấn. Tại buổi lễ này, sau việc trao y và nghe Thiền sư Pháp Loa thuyết pháp, vua Trần Nhân Tông còn đem ngoài 20 hộp nhỏ kinh điển Phật giáo, còn đem 100 hộp “kinh sử ngoại thư” giao cho Thiền sư Pháp Loa và dặn dò “mở rộng việc học bên trong và bên ngoài”. (“Trần Nhân Tông – Con người và tác phẩm” của Tiến sĩ thiền sư Lê Mạnh Thát). Vậy chúng ta nên học và hành theo ý chỉ của Điều Ngự Giác Hoàng hay nghe và làm theo đạo sư Duy Tuệ? - Đạo sư Duy Tuệ không tu học mà chỉ “may mắn” có vài lần “chìm đắm trong trạng thái tỉnh thức sâu thẳm” và nhờ đó đã “nhận ra thông điệp” và “từ đó, tôi dùng tỉnh thức thông thường mà trao lại trải nghiệm, thông điệp ấy cho nhân loại.” (trong bài viết "BA THÔNG ĐIỆP TỪ TỈNH THỨC SÂU THẲM". Các Hiển giả Minh Triết chỉ cần đọc vài bài viết của Thiền sư Thích Thanh Từ trong tập “Hoa Vô ưu” thì mới thấy tôi nghiệp cho cái “tỉnh thức sâu thẳm” của đạo sư Duy Tuệ. Chỉ là “Ếch ngồi đáy giếng” thôi! - Các Hiền giả Minh Triết có nhận thấy đạo sư Duy Tuệ cao ngạo khi viết trong bài “Điều Để Lại Duy Nhất Khi Bỏ Xác Thân” : “Trong thân tứ đại của thầy, ánh sáng đã hòa sẵn các nơi rồi. Mặc dù thân tứ đại của thầy đang làm việc nhưng nơi thầy có năng lực tỏa ánh sáng ấy vào trong hư không, vào hữu hình và cả vô hình.” Các Hiền giả Minh Triết có thấy buồn cười không khi đạo sư viết thêm: “Thầy cũng nhận biết được trong lời nói của thầy có một sức mạnh. Từ ngày đó, âm thanh của thầy cũng thay đổi hết. Sau này có vài bác sĩ khám họng cho thầy phát hiện ra rằng cái lưỡi của thầy rất to, nó to hơn cái lưỡi của người bình thường nhiều lắm. Có lẽ do ông trời đúc sẵn thế nào mà mình không hiểu được.” ? - Tôi thấy sợ cho cái “không sợ” , cho cái “Lực bất khả tư nghì” trong bài “Lực Bất Khả Tư Nghì Của Doanh Nhân Minh Triết” mà đạo sư Duy Tuệ viết: Đạo sự khuyên chúng ta cứ mượn nợ nhiều để xài nhiều như Mỹ, nếu không trả được nợ thì đời con trả nợ, đời cháu trả nợ… Sợ gì! Hình như bọn vô lại xưa nay đều có Lực bất khả tư nghì này rồi. - Các Hiền giả Minh Triết hãy tạm dừng tiếp xúc, đọc, nghe các bài viết, nói của đạo sư Duy Tuệ - mà hãy tinh minh quán xét để biết “DUY TUỆ LÀ AI?”. Không nên để bị cuốn hút có thể dẫn đến phá hoại thuần phong mỹ tục, đạo đức của dân tộc, gây mất đoàn kết, “rước voi về dày mã tổ”. Một người thầy sai lầm có thể làm hại một đời của học trò, một cuốn sách xấu có thể làm hại cả một thế hệ! Cụ đồ Chiểu – nhà yêu nước – tác giả của “Lục Vân Tiên” có viết: “Chở bao nhiêu đạo - thuyền không khẳm. Đâm mấy thằng gian - bút chẳng tà”. Nguyenho nguồn kientruc.vnwebblog
  3. Để rộng đường dư luận Wild search tìm 1 số trang thuyết giảng của Đạo Sư Duy Tuệ, Bí Quyết Thoát Khỏi Nghiệp Chướng Vấn đề giải nghiệp hay nghiệp lực là nằm ở trong con người thứ hai, con người kinh nghiệm. Nếu chưa mở trí huệ được, chưa nhận thức được rằng chúng ta vốn có sẵn huệ mạng nhưng chưa nhận thức được nên cứ đeo bám kinh nghiệm, thấy thế này là đúng, thấy thế kia là đúng, chấp cái này chấp cái kia… thì là luôn luôn ở trong con người thứ hai và cũng chính là đang ở trong con người của nghiệp báo, nghiệp lực. Ở trong con người thứ hai thì bị luật nhân quả chi phối gần như hoàn toàn, bởi vì làm cái gì cũng theo ý muốn riêng tư, tuyệt đại đa số đều vậy. Muốn cái này hay cái kia thì làm, đánh giá tất cả người khác theo ý nghĩ riêng và theo cảm xúc danh và lợi cho bản thân. Do vậy, con người thứ hai sống gần như hoàn toàn trong luật nhân quả, nghiệp báo, ác nghiệp. Còn nếu ở trong con người huệ mạng thì quí vị biến tướng thành con người thứ hai để ra đối ứng với cuộc đời và không nằm trong luật nhân quả, nghiệp báo, đồng thời sẽ đưa quí vị tới chỗ tốt chứ không tới chỗ xấu được. Lúc bấy giờ, con người thứ hai trở thành phương tiện cho con người huệ mạng. Cho nên, người nào đã nhận ra được huệ mạng thì toàn bộ con người thứ hai trở thành con người phương tiện cho con người huệ mạng. Con người huệ mạng không có thân tứ đại cụ thể với tay, chân, mắt, mũi… mà chỉ là một trạng thái thấy biết nên phải mượn con người kinh nghiệm, phải mượn con người thứ nhất và thứ hai để làm việc. Con người thứ nhất và thứ hai là phương tiện cho con người huệ mạng. Vì vậy, nếu quí vị nhận thức được huệ mạng rồi thì sử dụng con người thứ nhất và thứ hai. Con người thứ nhất là gì? Là thân tứ đại. Con người thứ hai là gì? Là những kinh nghiệm học được, những kiến thức có được. Dùng con người thấy biết sử dụng con người thứ nhất và thứ hai để sống ở trong đời thì sẽ tránh được nhân quả, tránh được nghiệp báo, tránh được nghiệp chướng, không có nghiệp chướng, không có nhân quả, không có luân hồi gì hết. Nếu ở chỗ con người huệ mạng sử dụng con người thứ nhất và thứ hai làm phương tiện thì hoàn toàn vượt ra khỏi nghiệp chướng, ra khỏi luật nhân quả. Cụ thể hơn, nếu quí vị an trú trong con người huệ mạng, mượn con người thứ nhất là tứ đại, mượn con người thứ hai là kiến thức và các tình cảm để thị hiện trong cuộc sống, để giao tiếp trong cuộc sống thì hoàn toàn thoát ra khỏi định luật nhân quả và thoát ra khỏi nghiệp chướng luân hồi, không bị luật nghiệp chướng luân hồi gì chi phối nữa. Khi đã ở con người huệ mạng rồi, thì mượn con người thứ nhất và thứ hai giống như là mượn tay mượn chân, mượn kiến thức, tình cảm làm phương tiện cho mình. Như vậy là sống hoàn toàn trong tỉnh giác, sống hoàn toàn trong trí tuệ giải thoát. Sống được như vậy thì cái gọi là nghiệp báo luân hồi hoàn toàn không chi phối được nữa. Phiên tả từ bài "SMT19 – Bí Quyết Thoát Khỏi Nghiệp Báo", Thầy Duy Tuệ thuyết giảng ngày 12.06.2009.
  4. Đạo sư Duy Tuệ: Xin hãy dừng lại! Sau khi báo Phattuvietnam.net có đưa một số luận điểm của đạo sư Duy Tuệ về thuyết lý Phật giáo, vế thế giới quan….. tôi có vào trang web Duytuequote.com xem kỹ hơn một số vấn đề. Qua chuyên mục: Những trải nghiệm thông qua thiền định …Tôi đã nhận ra rằng: Sự lệch lạc trong tâm thức của ông hiện nay chính là những ma chướng mà ông đã gặp phải trong quá trình hành thiền phá sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tôi viết bài này với mong muốn được ông và các đệ tử của ông xem. Những hành giả đang tu tập theo pháp môn thiền định hãy thông qua trường hợp của ông làm bài học tránh lạc lối đi vào con đường tà đạo. Việc ông Duy Tuệ sử dụng pháp Phật rồi phủ nhận Pháp Phật… các bạn có thể vào trang web của ông để thấy rõ, nhất là những bạn đọc đã khá thông hiểu về thuyết lý nhà Phật. Trong bài viết này tôi xin được nêu rõ vì sao một người đã từng hành thiền lại nghiên cứu Phật pháp như ông Duy Tuệ lại bị sai đường lạc lối vào con đường tà đạo. Thông qua những điều ông nói, ông viết phải công nhận một điều rằng, nó cũng khá hợp lý, logic…và rất dễ quy phục được giới tri thức những nhà nghiên cứu chưa trải qua tu hành thiền định, niệm Phật… Nếu đọc kỹ ba điều trải nghiệm lớn trong cuộc đời của ông Duy Tuệ ta thấy, ông là đệ tử của pháp môn tu thiền. Ông đã bước vào ngưỡng cửa sắc ấm, thọ ấm. Điều kết luận trên của tôi thông qua từ kinh nghiệm hành thiền và nghiên cứu Kinh Thủ Lăng Nghiêm mà thấy được. Bài viết này tôi sẽ sử dụng kinh Thủ Lăng Nghiêm để nói về hiện tượng của ông cũng như những tư tưởng, thuyết lý xuất hiện trong đầu ông sau khi ông đạt mức ấn chứng nhất định từ thiền định. Thông qua bộ Kinh Thủ Lăng Nghiêm chúng ta sẽ thấy những điều Đức Phật nói cách đây 2555 năm vẫn chính xác từng câu, từng chữ cho những vị hành giả gặp phải chướng ngại trên con đường tu thiền. Kinh Thủ Lăng nghiêm được cho là xương sống của những người hành thiền. Nó cho các hành giả biết được họ sẽ gặp những cảnh giới nào và những chướng ngại nào khi phá sắc, thọ, tưởng, hành, thức để thâm nhập vào pháp giới tiến về Cửa không. Tôi nghĩ rằng, nếu ông Duy Tuệ có một người thầy tốt, hoặc ông hiểu sâu sắc về Kinh Thủ Lăng Nghiêm ông sẽ không bị lạc lối vào con đường ma đạo như hiện nay. Những biểu hiện bước đầu khi phá sắc ấm của ông đó là : Ông đã nghe được âm thanh từ tánh nghe. Khi vào được tánh nghe (vào được dòng nhĩ căn viên thông) các thiền sinh thường nghe âm thanh Aum, Aum…. Với những người niệm Phật thì họ sẽ nghe được danh hiệu Phật như: Nam Mô A Di Đà Phật…, hoặc A Di Đà Phật…. Còn ông, có lẽ do đắc tâm 2 chữ “Hay thay” trong kinh Pháp hoa nên ông nghe được từ này. Ông đã nhìn thấy được (có thể chỉ là thoáng qua) hào quang của ánh sáng chân tâm, tức là nhìn được cái thấy… Nhưng những cảnh giới ông thấy được, trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm Đức Phật đã chỉ rõ “Đó chỉ là trạng thái tạm thời không phải là chứng Thánh. Nếu không khởi tâm cho rằng mình chứng Thánh thì gọi đó gọi là cảnh giới tốt. Còn nếu nghĩ rằng mình là bậc Thánh, liền rơi vào tà ma”. Thực tế, các thiền sinh chứng được cảnh giới đó là do “Tứ đại không kết hợp trong một thời gian ngắn, tâm có thể ra khỏi các ngăn ngại, ấy gọi là tinh minh trào ra tiền cảnh. Đó chỉ là do công dụng tạm thời được như thế . Không phải do chứng bậc Thánh”. Nếu ông tiếp tục hành thiền và không chấp vào bất kỳ một cảnh giới nào thì quá trình vượt sắc, thọ, tưởng, hành, thức của ông sẽ được tiếp tục. Nhưng do cầu vọng quá nhiều nên ông đã gặp ngay chướng ma sắc ấm thứ 10 gọi là vọng kiến và vọng thuyết. Theo HT. Tuyên Hoá thì cảnh giới này gọi là: “Tà tâm bất chính bị loài ly mỵ hoặc thiên ma nhập vào, vô cớ giảng pháp thông suốt diệu lý…Khi Tâm tà không chánh, loài ly mỵ hoặc thiên ma nhập vào tâm ông, ông sẽ giống như những người tự xưng là biết nói Pháp, tự xưng là biết giảng Kinh, tự xưng là đã khai ngộ, tự xưng là bậc trưởng lão. Những người này không duyên cớ gì lại biết thuyết pháp, và tự chính họ cũng không biết mình nói điều gì nữa. Họ nói rằng họ đã thông đạt diệu nghĩa (của Phật Pháp) nhưng thật ra không phải là diệu nghĩa hay thông đạt gì hết. Họ cho rằng thuyết pháp nhưng thật sự không phải là thuyết pháp. Họ đã lấy điều sai, cho là đúng rồi tuyên bố rằng Pháp của họ là vi diệu. Họ tự khen mình và hủy báng người, tự xưng mình là đệ nhất, là trưởng lão.”Trường hợp của ông Duy Tuệ không những bị chướng ma sắc ấm mà còn bị gặp chướng ma thọ ấm. Tâm trạng vui sướng đến mê mẩn khi ông tiếp cận được các cảnh giới lạ trong khi hành thiền là ma thọ ấm. Đức Phật đã nói rằng: “Lại nữa A Nan, người thiện nam kia, khi ở trong trạng thái định này thấy sắc ấm tan rã, hiểu rõ thọ ấm. Lúc ấy cảnh giới thù thắng hiện ra, cảm kích quá phần. Trong trạng thái như thế, bỗng sanh dõng mãnh vô hạn, tâm quá mạnh mẽ, cho mình bằng Phật, nói có thể vượt qua ba a-tăng-kỳ kiếp chỉ trong một niệm”. “Lại nữa, hành giả khi ở trong định, thấy sắc ấm tiêu trừ, nhận rõ thọ ấm. Khi ở trong chốn thanh tịnh, tâm được an ổn. Bỗng nhiên phát sanh niềm vui vô hạn trong tâm, không thể kềm chế được….Nếu cho mình đã chứng Thánh, thì có loài ma thích vui (háo hoan hỷ ma) sẽ nhập vào tâm. “A Nan! Người thiện nam kia, khi ở trong trạng thái như thế, cảm nhận một ánh sáng rực rỡ, trong tâm sinh khởi một loại cảm xúc. Do bên trong đè nén quá phần, bỗng dưng phát khởi lòng thương xót vô hạn, đến nỗi xem muỗi mòng như là con đỏ. Tâm sanh trắc ẩn, bất giác rơi lệ”. Đọc những đoạn ma chướng trong 20 ma ấm khi vượt qua sắc ấm, thọ ấm trên không biết ông Duy Tuệ có thấy giống trạng thái của mình khi đang ngồi hành thiền không. Nếu ông nhận ra được nó thì coi như là một cảnh giới tốt còn nếu ông coi mình đã chứng Thánh thì các loại ma ngũ ấm sẽ nhập vào tâm ông. Có lẽ vì không nhận ra điều đó nên ông bị ma cuồng vọng đã nhập vào tâm ông đúng như Kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật đã nói: “Lại nữa, hành giả khi ở trong định, thấy sắc ấm tiêu trừ, tỏ rõ thọ ấm. Tự bảo là đã đủ rồi. Bỗng nhiên, vô căn vô cớ, có tâm đại ngã mạn phát sanh; cho đến tâm kiêu mạn, tâm mạn quá mạn, tâm tăng thượng mạn, hoặc ty liệt mạn đều cùng phát ra một lúc. Trong tâm khinh thường mười phương các Đức Như Lai, huống nữa là những quả vị thấp như Thanh Văn, Duyên Giác”. Trạng thái này trong hành thiền được gọi là tự xem mình quá cao “Nhưngthiếu trí huệ để tự cứu mình”.Theo HT. Tuyên Hoá thì “ Nếu nhận ra thì không có lỗi. Nếu nhận ra đây là sai lầm thì ma sẽ không có dịp phát huy tác dụng”. Nên nói: Giác tức không mê, mà khi mê tức là không giác. Thực sự, chúng sinh đều có tánh Phật, nhưng phải nhờ công phu tu tập mới nhận được ra Phật tánh. Ngay cả khi quyết tâm tu hành, cũng không thể trở thành Phật chỉ trong một niệm mà phải cần thời gian rất lâu xa. Theo HT. Tuyên Hoá thì khi “Người ấy tu hành nhưng không được Thiện tri thức hướng dẫn chỉ dạy mà tự mình lại không có trí huệ; cho nên, dù có tu tập cần khổ, tinh tấn cho mấy đi nữa, ông ta chỉ tăng trưởng tà tri tà kiến mà thôi. Tự thấy rằng trải qua một thời gian tu tập lâu dài như vậy mà không thành Phật, nên tuyên bố mình là Phật, nói là mình đã thành Phật rồi. Đây là tình trạng “sánh mình bằng Phật”. Tình trạng này xảy ra khi thọ ấm tan rã. Y nói rằng y đồngnhư chư Phật. Thực ra chỉ một niệm sai lầm đó, ông ta đã bị ma nhập vào.” Để vượt qua được chướng ngại này khi phá thọ ấm, HT.Tuyên Hoá cho rằng chỉ cần “nhận rõ đó là ma thọ ấm và duy trì sự sáng suốt, lâu dần trạng thái ấy sẽ tự tiêu mất. Nhưng nếu nghĩ mình là Thánh thì sẽ liền bị ma cuồng ngông nhập vào tâm. Quý vị thấy đó, nếu quý vị không nhận biết năm mươi trạng thái ngũ ấm ma, thì làm sao mà quý vị thành Phật được? Loại ma này là loại ma ngông cuồng, cống cao, ngã mạn. Khi nó len luồng vào tâm ông, chiếm hữu ông, nó tống khứ linh hồn của ông ra ngoài, thay vào đó là “ma vương tại đường”, ma vương thay thế và trở thành linh hồn của quý vị”. Việc bài bác nhân quả của ông Duy Tuyệ cũng không có gì là lạ. Khi ông đã bị chướng ngại ma ấm trong quá trình hành thiền thì khó có thể hiểu đúng chánh pháp của Phật đạo. Trong mười ma thọ ấm sau khi phá được sắc ấm, Kinh Thủ Lăng nghiêm có ghi: “ Lại nữa, hành giả khi ở trong định, thấy sắc ấm tiêu trừ, nhận rõ thọ ấm. Trong chỗ tỏ ngộ đạt được tánh hư minh. Trong ấy, hành giả bỗng dưng có khuynh hướng đoạn diệt, bài bác nhân quả, cho mọi việc đều là không. Tâm chấp không chi phối mạnh mẽ, khiến hành giả có kiến giải rằng: Sau khi chết hoàn toàn đoạn diệt. Đây gọi là“Định tâm phân tán mất đi sự chiếu diệu tương ưng”. Nếu rõ biết được thì không lỗi lầm. Đó không phải là chứng Thánh quả”. Trong Phật giáo, việc tự nhận mình đã chứng Thánh tự coi mình là Phật bài bác các thuyết lý Nhà Phật được cho là tội đại vọng ngữ sau khi mất thân nghiệp sẽ bị đoạ vào ngục Vô gián. Không biết ông Duy Tuệ có biết điều này không ? ‘Chúng sanh ngu mê, không biết suy xét tự lượng. Gặp nhân duyên này, mê không tự biết, nói là chứng Thánh, thành tội đại vọng ngữ, phải đọa vào địa ngục Vô Gián’. Đối với các thiền sinh, do nghiệp trong quá khứ nên họ thường gặp những ma chướng trong quá trình hành thiền. Trong một số trường hợp tôi biết thì họ chỉ gặp một đến hai chướng ngại sau khi phá được sắc ấm, thọ ấm. Trường hợp của ông Duy Tuệ, đối chiều với Kinh Thủ Lăng nghiêm tôi thấy ông bị gặp khá nhiều những ma chướng khi mới bước vào ngưỡng cửa phá sắc ấm, thọ ấm. Tôi thật sự tiếc cho ông, một người nghiên cứu Phật giáo khá sâu, kiên trì hành thiền trong thời gian dài lại gặp nhiều chướng ngại như vậy. Gía như ông có một vị Thầy – Vị Thiện tri thức giúp đỡ thì ông sẽ không bị rơi vào con đường tà đạo như hiện nay. Một điều thấy rõ nơi ông đó là trí biện thông (trí tuệ thế gian)phát triển rất mạnh do kết quả từ việc hành thiền. Chính ông cũng không ngờ là ông có thế đối đầu với bất kỳ câu hỏi và sự chất vấn nào của mọi người. Nhưng có lẽ chính ông cũng không ngờ rằng, cái trí Biện thông đó lại đang phản lại ông. Nó đang đẩy ông vào sự rối loạn của những tri thức mà ông đã tiếp nhận được. Nó chính là bát nạn (tám chướng ngại) cản trở các hành giả tiến sâu vào thiền định Nếu ông tiếp tục hành thiền và không chấp vào bất kỳ điều gì, cảnh giới nào diễn ra trong tâm mình thì ông sẽ thấy, hành thức (phần phân tích, bình luận…)sẽ bắt đầu đông cứng lại, trực giác sẽ phát triển và trí bát nhã sẽ hiện tiền. Đó mới chính là trí tuệ của Phật giáo. Lúc đó, ông sẽ tỏ thông rất nhiều điều trong Kinh điển mà đức Phật đã thuyết. Con đường chánh đạo vẫn tiếp tục. Nếu ông tự cho mình đã chứng ngộ thì ông sẽ rơi ngay vào ma đạo, tà đạo. Một lời khuyên chân thành, khi mọi việc còn chưa quá muộn, xin ông hãy dừng lại, hãy sám hối và tiếp tục hành thiền. Chặng đường giải thoát còn xa vời vợi. Nếu ông không tỉnh giác sẽ rơi vào địa ngục. Nam Mô Bổ sư Thích Ca Mầu Ni Phật ! Trong thời điểm hiện nay, có không ít những đạo sư giống như ông Duy Tuệ đã sử dụng thuyết lý Phật giáo để thuyết pháp. Họ thường là những người có một chút dụng công tu hành nên trí biện thông phát triển rất mạnh. Để phân biệt đâu là Phật đạo, đâu là ma đạo. Cở sở nào giúp chúng ta phân biệt được điều đó, tôi xin được tiếp tục chuyển đến bạn đọc phần hai bài viết Phật biệt Phật đạo và ma đạo. Hồng Vân phattuvietnam.net
  5. Thật không khó để tìm những thông tin về Đạo Sư Duy Tuệ và nội dung tác phẩm "Ta là ai?" trên Google.... "Đạo sư" Duy Tuệ xuyên tạc gì về đạo Phật? TỪ TIẾP THỊ BÁN SÁCH Cách đây vài tháng, theo thông tin trên mạng, tôi đến dự đêm thiền của một nhà hoạt động nghệ thuật tổ chức tại một khu vườn rất đẹp ngoại ô TPHCM. Khi đêm xuống, vì chỉ có những ngọn nến đặt trong lồng đèn hoa sen được thả xuống mặt hồ giữa vườn, nên không gian quanh bờ hồ, nơi có gần cả ngàn người đang chờ đợi để nghe buổi “chia sẻ” (tên gọi khá lạ về một buổi thuyết giảng ngoài trời của một sư cô trước cử tọa đông đảo), trở nên tối tăm mờ mịt, thì có một thanh niên, vóc dáng cao lớn, mặc đồng phục nhà vườn, tiến đến chỗ tôi đang ngồi bắt chuyện. Vì lúc đó chỉ có tôi ngồi một mình trên chiếc ghế dài, nên cuộc làm quen diễn ra rất dễ dàng. Người thanh niên lạ hỏi tôi, giọng ngọt ngào, đầm ấm, gần gũi: - Dạ, chào anh, thưa anh, chắc anh là Phật tử và quan tâm đến thiền? - Vâng, tôi theo đạo Phật, có đọc sách thiền học, nhưng thực hành chưa nhiều. - Vậy, anh có nghe nói đến “Thiền Minh Triết” của đạo sư Duy Tuệ chưa? Thấy một tên người là một từ trong một thành ngữ quen thuộc với đạo Phật “Duy tuệ thị nghiệp” và lại là “đạo sư”, nên tôi hỏi lại: - Thầy ở chùa nào vậy? - Dạ, đạo sư Duy Tuệ không phải sư thầy trong Phật giáo, và thiền Minh Triết cũng không phải là kiểu thiền trong đạo Phật. Đây là một cách thiền hoàn toàn mới, em đã luyện tập và thấy rất có kết quả. Thấy tôi còn chưa hình dung “thiền mới”, “không phải thiền Phật giáo”, đạo sư mà “không phải sư thầy”, anh ta nói tiếp: - Để có thể biết “thiền minh triết”, và tư tưởng ưu việt, tuyệt vời của đạo sư Duy Tuệ, qua môn Duy tuệ học, thể hiện trí tuệ dân tộc, tự chủ, tiến bộ hơn rất nhiều so với những học thuyết, tôn giáo du nhập từ nước ngoài, mời anh tìm đọc những quyển sách do đạo sư Duy Tuệ biên soạn, hiện có bán tại các nhà sách lớn, hay có thể, nếu anh cần thì… [lúc đó anh thanh niên chỉ đi tay không]. Tôi ngắt ngang vì ngại kiểu bán sách tiếp thị trực tiếp này, vì làm sao xem trong bối cảnh tối om, mặt còn không nhìn rõ thế này. Hơn nữa, người ta mất công mang sách đến nhưng mình không mua thì cũng khó xử… - Anh có thể giới thiệu cho tôi tựa sách của đạo sư Duy Tuệ mà anh nghĩ là tôi nên đọc trước tiên để hiểu về tư tưởng của đạo sư và thiền minh triết. - Dạ, anh là Phật tử, vậy xin giới thiệu đến anh quyển: ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, trình bày một cách hiểu mới về đạo Phật rất sáng tạo. Thưa, nghệ thuật gia tổ chức buổi thiền hôm nay có viết bài giới thiệu cho quyển sách này. - Tôi thường đi nhà sách, tôi sẽ tìm quyển sách mà bạn vừa giới thiệu ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm” (Sau này, khi mua quyển ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, tôi không thấy lời tựa của nhà hoạt động nghệ thuật mà anh thanh niên nói, thay vào đó là bài “Thay lời tựa” do một người được giới thiệu là một giáo sư sống tại Cộng hòa “Czech” (nguyên văn ghi trong sách)). ĐẾN VIỆC MỜI… GIA NHẬP TỔ CHỨC Anh thanh niên thấy tôi quan tâm đến quyển sách qua việc nhắc lại đúng tựa đề khá dài, nên nhiệt thành nói tiếp: - Dạ anh đọc xong, nếu chia sẻ với những tư tưởng của đạo sư Duy Tuệ được trình bày qua quyển sách ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm” và thiền Minh Triết, thì mong anh gia nhập tổ chức Đại Gia đình Minh Triết do đạo sư Duy Tuệ chủ trì, anh sẽ có Phật tâm danh, được thực hành Thiền Minh Triết và Duy Tuệ học. Anh thanh niên lấy điện thoại, bấm cho tôi xem một số ảnh đạo sư Duy Tuệ, trong đó có một vài ảnh ông cạo đầu mặc áo vàng và áo nâu, với kiểu khiến người ta rất dễ lầm với một nhà sư Phật giáo. Tôi dần dần thấy một cái gì đó không bình thường: không phải đạo Phật mà có “Phật tâm danh”, thực hành Thiền, đạo sư cạo tóc na ná như tu sĩ Phật giáo. Tôi hỏi vặn: - Tổ chức Đại Gia đình Minh Triết chắc giống tổ chức “Gia đình Phật tử”, vậy có liên hệ gì đến Giáo hội Phật giáo Việt Nam không? - Dạ, không có liên hệ gì hết. Tổ chức Đại Gia đình Minh Triết là một tổ chức quy mô toàn cầu, gồm cả Việt Nam, hoạt động tâm linh và xã hội, quy tụ rất nhiều hiền giả Minh Triết, dưới sự chỉ đạo của Đạo sư Duy Tuệ. Dạ, anh có thể xem trang web của đạo sư Duy Tuệ là duytue.org, đọc bài, nghe và xem pháp âm của đạo sư và các hiền giả trong tổ chức Đại Gia đình Minh Triết để từ đó liên hệ gia nhập tổ chức. Tôi hỏi căng: - Vào tổ chức của anh thì có sao không? Có giống như tổ chức của Bà Thanh Hải? Anh thanh niên lộ vẻ lúng túng, lo lắng. Sau một lúc anh ta trấn tĩnh, trả lời giọng run run: - Dạ không ạ, tổ chức Đại Gia đình Minh Triết hoàn toàn khác với tổ chức của Bà Thanh Hải. Sách của Đạo sư Duy Tuệ được xuất bản rộng rãi tại Việt Nam theo đúng luật pháp, khác hẳn việc bị cấm đoán như đối với tác phẩm của Bà Thanh Hải. Ngoài ra, công ty Minh Triết cũng được cấp phép và hoạt động rất mạnh, phân phối nhiều sản phẩm mang tính giáo dục. Tôi thấy anh thanh niên không còn tự nhiên như trước nữa. Anh thôi không nói chuyện gia nhập tổ chức, mà quay trở lại việc tiếp thị quyển sách ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”. Rồi vội vàng bỏ đi sau một cái chào lấm lét. Tôi chợt nhớ lại cách đây đã vài năm ở một quán cơm chay, tôi đã được một đệ tử của bà Thanh Hải sà đến bắt chuyện, giới thiệu “Vô thượng sư”, các “tác phẩm” và “Quan Âm pháp” (thay vì Thiền Minh Triết)… QUYỂN SÁCH ĐƯỢC TIẾP THỊ VIẾT NHỮNG GÌ VỀ ĐẠO PHẬT? Theo lời giới thiệu của anh thanh niên “hiền giả” trong tổ chức Đại Gia đình Minh Triết, tôi không khó để tìm mua được quyển ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm” của tác giả Duy Tuệ. Sách do Công ty Minh Triết và nhà xuất bản Văn hóa Thông tin liên kết xuất bản. Tên của Công ty Minh Triết in hẳn trên bìa sách trước cả logo nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, cho thấy đây là sách “liên kết”, tức không phải là sách kế hoạch A của Nhà xuất bản, mà là sách do công ty Minh Triết đầu tư vốn, nhà xuất bản chỉ cấp giấy phép. Sách được trình bày với đối tượng chủ yếu là người Phật tử, làm ra có vẻ như sách giáo lý, với những tiêu đề các phần như: “I. Con đường đến với Đức Phật: - Ước mơ và con đường thực hiện ước mơ của thái tử Tất Đạt Đa. - Thế nào là “thành Phật”? - Sau khi thành Phật, ngài ước mơ là làm những gì? …” Hay “II. Cuộc sống của người Phật tử tu tại gia: - Việc thờ phụng trong nhà và ở chùa - Ăn chay …” Tuy nhiên, không cần đọc kỹ lắm người đọc dễ dàng nhận thấy những câu chữ rất không bình thường đối với Phật giáo. Xin phép sẽ được ghi nhận dưới đây. Để tìm hiểu tư tưởng của tác giả, bạn đọc có thể không cần mua sách, vì giá sách rất đắt (209 trang, bìa mềm, khổ 14 x 20, có kèm dĩa CD, bán 70.000 đồng) mà có thể tìm hiểu trên trang duytue.org, đặc biệt là các bài gọi là “pháp âm” và trang minhtriet.vn. Mong bạn đọc hãy nghe những gì người tự xưng là “đạo sư”, trong tiếng Anh là “Master”, này nói và viết với những người trong và ngoài tổ chức của ông, đặc biệt hướng tới giới Phật tử để có thể cùng nhau đi đến kết luận thực chất là gì đàng sau hiện tượng này. Sau đây là một số đoạn văn trích từ quyển ““Ta là ai?” Thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”: Trang 12 : “Nếu nói Bát Chánh đạo là chìa khoá giải quyết vấn đề khổ đau, thì tại sao mấy ngàn năm qua không phát huy tác dụng? Tám con đường đó là giải quyết tình trạng của cái đầu mỗi người, chứ không phải lên thiên đàng hay về cõi Phật như kinh sách nói, nhưng tại sao không giải quyết được?”. Trang 28: “Theo truyền thuyết trong kinh sách, khi đạt được trạng thái an lạc nội tâm thì Đức Phật tuyên bố đại ý rằng: Ta vừa trải nghiệm một trạng thái rất đặc biệt, một trạng thái hoàn toàn không thấy khổ đau nữa. Giờ đây ta đã hiểu rõ nguyên nhân của khổ đau nữa. Giờ đây ta đã hiểu rõ nguyên nhân của khổ đau là gì, ta tuyên bố “Ta đã thành Phật”. Tuyên bố trên của Đức Phật rất quan trọng. Do ân phước tôi cũng tự nhiên rơi vào trạng thái đặc biệt ấy, và tôi khẳng định rằng trạng thái an lạc tuyệt đối có sẵn trong mỗi con người là có thật. Khi vào trạng thái ấy, con người sẽ mở ra một sự thấy hết sức đặc biệt. Và cái thấy xuất hiện đầu tiên là thấy nguyên nhân nào khiến con người không được sung sướng, mãn nguyện với kiếp người của mình”. Người trích dẫn nhấn mạnh câu “Do ân phước tôi cũng rơi vào trạng thái đặc biệt ấy…” (tức là thành Phật?) Trang 35: “Nếu đi chùa mà không cải thiện gì thì đừng đi nữa. Nếu niệm Phật mà không giúp ích gì thì đừng niệm nữa” Trang 39: “Dân chúng cũng như tất cả Phật tử xưa nay luôn mải mê với vấn đề xuất gia và giải thoát. Thế nên, nhiều người bỏ nhà cửa, bỏ gia đình và bỏ sự nghiệp để đi tu và giải thoát. Qua những trình bày trên của tôi quý vị đã rõ người ta đã nghĩ sai hoàn toàn ý nghĩa của giải thoát. Việc hiểu sai dẫn đến sự tự hành hạ mình hết năm nay đến năm khác và cả cuộc đời, rồi truyền hết đời này đến đời khác. Hiểu không đúng thì làm sao thực hành có hiệu quả được!?” Trang 41: “Nhưng với đa số người, khi cạo đầu vào chùa lại chỉ xuất gia bên ngoài chứ không xuất gia bên trong được. Vì sao? Vì họ bắt đầu phát triển chuyện kiếm tiền, đệ tử, Phật tử, tranh giành chức tước, kể cả chức trụ trì. Vật dụng cũng tuỳ chức phẩm, đại loại như khi ăn thì người trụ trì được sử dụng bát (chén) cao sang hơn. Lúc đầu mang hình tướng xuất gia sau lại ràng buộc và hình thành ý tưởng giai cấp mới trong đầu”. Người trích dẫn nhấn mạnh tác giả quyển sách dùng cụm từ “đa số người”. Trang 61: Không phải hoàn thành giới luật là không trộm cắp, không tà dâm, không sát sanh, không uống rượu, không nói dối. Đó là vấn đề nhỏ và căn bản đã có từ thời xa xưa.Thời ấy con người mới có mặt trên hành tinh, chưa biết gì nên đưa ra những giới luật đó để dạy họ biết làm người và coi như một thứ pháp luật trong tôn giáo để góp phần bảo vệ trật tự cộng đồng và hạnh phúc cá nhân. Giờ đã qua mấy ngàn năm, con người đã biết giới luật đó rồi, không phải dạy nữa. Giới luật hiện giờ là dạy con người sống phù hợp với cộng đồng, với môi trường và thiên nhiên”. Trang 67: “Làm gì mà thấy không hiệu quả và gây mệt mỏi thì quý vị không nên làm. Quý vị đều thấy sự phát triển của đời sống hiện tại. Đa số người ta không còn muốn đọc sách nữa, chỉ thích nhìn hình ảnh thôi. Ở nhiều chùa, các thầy cũng không tụng kinh nữa mà cho máy tụng hộ”. Trang 69: “Ngày xưa, trình độ khoa học kém, muốn hiểu, thấy rõ mọi chuyện không phải dễ, nên họ tạo ra những pháp tu làm cho cái đầu thanh tịnh, để suy nghĩ và nhìn thấy rõ ràng. Nhưng giờ đây, tất cả phơi bày ra hết, nhiều khi đầu không cần phải thanh tịnh vẫn thấy rõ. Do đó, quý vị phải chạy theo cho kịp sự phát triển của khoa học và sự phát triển của nhân loại, chứ đừng như “ếch ngồi đáy giếng”, tưởng mình làm gì cũng đúng, không chịu khó học tập”. Trang 81: “Nhưng không ít Phật tử đã tạo sự hư hỏng cho một số nhà sư. Họ cấu kết với tăng ni xây dựng chùa lớn, vay mượn để chùa mang nợ. Thông đồng với chùa cho vay nặng lãi, buôn bán kim cương, vàng bạc và đô la trong chùa… Những chuyện như thế vẫn xảy ra, nhưng Phật tử lại lạy lục, tâng bốc, làm đủ thứ chuyện khiến họ hư hỏng”. Người trích dẫn nhấn mạnh, tác giả dùng từ “không ít”. Trang 84: “Cần hiểu rằng sáng kiến của Đức Phật không phải để lập Phật giáo, mà trước nhất là huấn luyện đệ tử. Về sau, con người nghiên cứu và phổ biến nó trở thành tài sản kiến thức của nhân loại. Những tăng ni xuất gia, đi theo con đường của Đức Phật mới tạo ra Phật giáo. Cho nên, phải biết rằng việc khai thác trí tuệ Đức Phật hiện nay đang được cả nhân loại tiến hành. Và chắc chắn, người ta khai thác tốt hơn tín đồ tu sĩ Phật giáo. Bởi họ nghiên cứu vô tư, khách quan. Họ có tri thức, chịu khó học, nghiên cứu, áp dụng và quả thực họ đã áp dụng có hiệu quả. Còn người trong đạo Phật là theo chủ quan, đội cái mũ đạo Phật trên đầu và cho thế là xong rồi. Do đó, cần thấy rõ tín đồ Phật giáo vẫn nặng về cảm xúc và tưởng tượng, mê tín nhiều lắm. Có lẽ chỉ có một số tín đồ Phật giáo mới bỏ hàng tỷ đồng Việt Nam ra để thực hành các nghi lễ cúng tế hết sức lãng phí và có vẻ bị tâm thần này!”. Trang 97: “Bởi chính các vị Phật, thánh nhân hay bậc thầy đều dạy và trang bị cho đệ tử hay người khác những đức tin tốt đẹp. Các ngài có thể bảo: “Con hãy tin rằng có Phật, Bồ tát bên cạnh bảo vệ, cứ làm đi. Cứ tỉnh táo nhìn nhận, cái gì đúng thì làm. Hãy cố gắng, đừng sợ thất bại. Lỡ phạm sai lầm, gây đau khổ hay lỡ phá sản… cũng đừng sợ vì lúc nào cũng có Phật, thánh bên cạnh con”. Người nghe như vậy liền làm thật dũng mãnh, không sợ gì cả. Lỡ thất bại thì vẫn tin tưởng có Đức Phật giúp đỡ, thua keo này lại bày keo khác. Như vậy, đức tin được dùng để trấn an sợ hãi, nhút nhát, hèn yếu và sự bình tĩnh, tự tin cho họ. Nghĩ lại mà thấy đau lòng. Cây cối trong rừng chẳng cần đức tin nào mà vẫn sừng sững trước phong ba bão táp, trong khi con người lại cố tìm đức tin gắn vào đầu mà vẫn nhiều tuyệt vọng yếu hèn!”. Trang 99: “Không có nghiệp chướng gì của đời trước để đời này phải trả, phải chịu cảnh cơ hàn cực khổ, thiếu cơm ăn, áo mặc hay nhà ở. Nhìn theo kiểu phải trả nghiệp là tự đưa mình vào ngõ cụt, xuống vực thẳm hay đường cùng”. Trang 100: “Trong khái niệm văn hóa, cần chú ý cái nào là văn hóa gốc của dân tộc, cái nào bị tiêm nhiễm sai lầm từ tôn giáo. Không thể đem vào nền văn hóa của chúng ta những lời nói vu vơ từ nền văn hóa khác, cũng không đưa vào đó tư tưởng từ sách vở của một số người chán ngán cuộc đời hoặc điều họ tuyên bố từ tâm trạng bất mãn, chán chường… rồi chúng ta lắp ghép vào nền văn hóa Việt Nam, gây ra suy nghĩ tiêu cực trong đầu óc con người Việt Nam”. Trang 107: “Biết là sẽ không làm vừa lòng nhiều nơi hay nhiều chùa nhưng tôi vẫn phải nói rằng việc tổ chức triền miên các khóa học cho Phật tử ở chùa, với năm bảy trăm hay cả ngàn người bỏ bê nhà cửa, khăn gói tới chùa học chắc chắn không hiệu quả gì”. Chúng tôi chỉ mới trích dẫn từ nửa quyển sách, nhưng vì bài đã dài, nên việc trích dẫn sẽ được tiếp tục ở bài sau. Tuy nhiên, những trích dẫn như trên đã hé lộ được nhiều vấn đề. Đó là gì, xin để bạn đọc suy xét và tiếp tục bàn luận. Ở bài đầu tiên này, xin phép chỉ giới hạn ở mức tường thuật, ghi nhận, với một số những lưu ý tối thiểu. Chúng tôi chưa đưa ra bình luận, nhận xét cụ thể. Vì vậy, rất mong ý kiến của bạn đọc. MT nguồn phattuvietnam
  6. Có nhiều cách đi vào lòng người nhưng nếu chọn cách xúc xiểm 1 tôn giáo, tôi e rằng đây không phải là 1 phật tử thuần chính danh?? Mà nếu tác phẩm này có hướng khai phá cho giáo phái mới thì có lẽ bắt nguồn cũng là nhà nghiên cứu phải đi qua con đường tìm hiểu về đạo Phật.
  7. Xác nhận có 2,000,000 đ (hai triệu đồng) của dinhlenhhoang ủng hộ TT bảo trợ trẻ em Quận Gò Vấp. Quỹ hiện có : 8,209,000 đ + 2,000,000 đ = 10,209,000 đ (mười triệu hai trăm lẽ chín ngàn đồng)
  8. Xác nhận Gđ Anh Phong 2 suất đăng ký.
  9. Sách xuyên tạc Phật giáo được tôn vinh tại Văn Miếu! Theo thông tin của Báo Tiền Phong online – cơ quan của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, vừa qua, tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, đã “chính thức giới thiệu phương pháp Duy Tuệ” với các sách, video chứa những nội dung phỉ báng, xuyên tạc Phật giáo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam của tác giả Duy Tuệ. Theo đó, buổi giới thiệu đã có mặt của lãnh đạo Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, cùng một số nhân vật khác. Hơn nữa, buổi giới thiệu chính thức này lại diễn ra sau hàng loạt bài phân tích, phản ánh trên các phương tiện thông tin, báo chí Phật giáo. Điều đáng nói là những người chịu trách nhiệm cấp giấy phép xuất bản thuộc một cơ quan quản lý Nhà nước lại có những lời phát biểu không thể hiểu nổi khi nói về cuốn sách “Ta là ai” –chứa nhiều nội dung phỉ báng, xuyên tạc Phật giáo, xin trích dẫn lại: “Tôi thấy rất hạnh phúc vì nhà XBVHTT (Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin - NKT) có cơ hội biên tập những tác phẩm của tác giả Duy Tuệ, đưa tới độc giả Việt nam những tác phẩm mang nặng tình yêu quê hương, đất nước, tình nghĩa với con người Việt nam” (!?) Một cuốn sách phỉ báng Phật giáo – tôn giáo đồng hành với dân tộc hơn hai ngàn năm qua, nói như Giáo sư Sử học Trần Văn Giàu: “Bình minh của lịch sử dân tộc ta đã gắn với Phật giáo” (1) lại được tôn vinh như thế, hơn nữa, ngay tại Văn Miếu Quốc Tử Giám giữa lòng thủ đô Hà Nội! Trong nhiều tháng qua, các trang thông tin, báo điện tử, Báo Giác Ngộ đã có nhiều phân tích, phản ánh về hiện tượng “Duy Tuệ” qua các sách, video được cấp giấy phép phát hành, được giới thiệu và “lăng-xê”, quảng bá trên các phương tiện truyền thông quốc gia như Đài Truyền hình VN, Đài Truyền hình Hà Nội… Một cá nhân công khai xuyên tạc, phỉ báng Phật giáo, xúc phạm Giáo hội, nhưng vẫn được các cơ quan chức trách quản lý Nhà nước về tư tưởng và văn hoá bảo hộ, được tổ chức họp báo, quảng bá bất chấp những phản ứng của Tăng Ni Phật tử ngay trên đất nước Việt Nam. Điều đó phải được hiểu sao đây? Nguyễn Khánh Tuệ Theo GNO
  10. Về hiện tượng Duy Tuệ và "thiền minh triết": “Cái kim bọc trong giẻ lâu ngày cũng lòi ra” GN - Thêm góc nhìn cùng tìm hiểu cái gì đằng sau hiện tượng “Duy Tuệ và thiền minh triết”. Duy Tuệ cạo đầu, mặc y phục na ná với tu sĩ Phật giáo, cũng bàn luận về Phật học, tu thiền, đôi khi choàng cả “y hậu” màu đỏ làm chủ lễ... Với hình thức của ông ta, khiến không ít người nhầm lẫn cho rằng ông ta là Tăng sĩ Phật giáo, thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhầm cho rằng “thiền minh triết” là thiền Phật giáo, “sách viết về lối sống” của ông ta là triết lý sống nhà Phật... như một số cơ quan truyền thông, đài truyền hình đã từng giới thiệu. Tiếp theo những bài viết trên Giác Ngộ Online (www.giacngo.vn), Câu chuyện trong tuần kỳ này giới thiệu bài viết của tác giả Thái Nam Thắng, góp thêm góc nhìn cùng tìm hiểu cái gì đằng sau hiện tượng “Duy Tuệ và thiền minh triết”. Bài liên quan: >> Cùng tìm hiểu cái gì đằng sau hiện tượng này; >> Công kích Phật giáo, để làm gì?>> Duy Tuệ: Mượn đạo lập đời >> Duy Tuệ: Từ biến thái đến bệnh thái “Đạo sư” Duy Tuệ cũng có một xuất phát điểm như “Vô thượng sư” Thanh Hải, đó là tiếp cận các nhà sư và tìm hiểu giáo lý đạo Phật, sau đó tuyên bố mình đã “chứng ngộ”, rồi nhanh chóng lập pháp môn, lập phái để truyền “đạo”. Tuy nhiên, “Vô thượng sư” Thanh Hải được xem là một dạng tà đạo biến tướng thì Duy Tuệ lại có một vỏ bọc kỹ hơn, an toàn hơn khi núp dưới danh xưng “Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam” do chính ông ta làm Chủ tịch Hội đồng sáng lập. Cả Thanh Hải và Duy Tuệ đều học lỏm các giáo lý của đạo Phật, mượn vào các nội dung, hình thức Phật giáo để phổ biến những thứ “pháp môn” đã được gia công nhào nặn. Duy Tuệ, một người thế tục, bỗng một hôm, cạo trọc đầu, mặc áo tràng tay thụng màu đỏ boọc-đô có viền đen, trông giống như các nhà sư, khiến cho mọi người hiểu lầm rằng nó thuộc về đạo Phật hay thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Điều đáng nói, ban đầu cả Duy Tuệ và Thanh Hải đều thuyết giảng khá hay về giáo lý Phật giáo, sau một thời gian chiếm được niềm tin của những người có cảm tình với Phật giáo, họ liền chuyển sang chống phá Phật giáo như xuyên tạc kinh điển, phủ nhận những giáo lý căn bản của đạo Phật, kêu gọi mọi người rời xa “Tam bảo” (Phật - Pháp - Tăng), không cần phải tìm đến chùa chiền hay lễ tụng, chỉ cần làm theo những điều họ “phát minh” ra là sẽ đạt đạo. Nhưng nếu chỉ xuyên tạc, chống phá Phật giáo thì mọi người sẽ nghi ngờ động cơ không trong sáng đó, nên họ mới lồng ghép những việc như kêu gọi bảo vệ môi trường, kêu gọi tình yêu thương; phong cho những người tu theo là “hiền giả minh triết”, “doanh nhân minh triết”; gọi những người trẻ là “niềm tự hào dân tộc”; lập các quỹ từ thiện…, rồi nhân đó “khai ngộ” bằng một mớ những giáo lý pha tạp, lẫn lộn giữa Phật tính và Tiên thiên, Thượng đế, đồng thời sử dụng các thuật ngữ Phật giáo, các hình thức như ngồi thiền, quán niệm, khai mở ánh sáng, minh triết… Duy Tuệ xuất hiện trong khoảng chục năm nay, tuy nhiên không có cách gì để chính danh hoạt động như một tổ chức gắn với danh nghĩa “Phật giáo Việt Nam”. Đúng lúc ấy, có một nhóm trí thức quan tâm và bàn đến “Minh triết Việt”, Duy Tuệ nhanh nhảu chớp thời cơ để lập ra cái gọi là “Thiền Minh triết”, để nhập nhằng với Thiền Minh Sát - một phương pháp thiền căn bản trong đạo Phật. Phật giáo chính thống ở các quốc gia dù có phát triển nhiều dòng thiền, nhiều pháp môn, nhưng vẫn phải dựa trên căn bản của quá trình tu học Giới, Định, Tuệ (Giới sinh Định, Định sinh Tuệ, trong Giới có Định, Tuệ, trong Định có Giới, Tuệ, trong Tuệ có Giới, Định). Sự đại vọng ngữ khi tự xưng là “Đạo sư” của Duy Tuệ đã phản lại với những phương pháp tu tập Giới, Định, Tuệ. Đáng nói, do thiếu lương thiện ngay từ động cơ ban đầu, nên Duy Tuệ đã nhào nặn các phương pháp thiền của Phật giáo để lập ra cái gọi là “Thiền Minh triết”. Đến khi thấy mọi người quan tâm đến tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông, Duy Tuệ cũng nhanh nhảu tiếp cận và mượn vào “Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam” để trao tặng tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông cho Trung tâm Phật giáo Quốc tế của Thái Lan nhằm tìm cho mình những mối quan hệ mang tính “quốc tế” (sic). Sau đó, Duy Tuệ dùng chính những ảnh hưởng này để tuyên truyền chống phá Phật giáo. Những giáo lý căn bản của Phật giáo như “Nhân quả”, “Nghiệp báo”, “Tứ đế”, “Bát Chánh đạo”… đều bị Duy Tuệ đem ra xuyên tạc. Duy Tuệ ra sức bác bỏ giáo lý “Bát Chánh đạo” (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định) chỉ vì bản thân việc làm của Duy Tuệ không những không có “chính danh” mà còn không có bất kỳ chữ “chánh” nào như tám chữ “chánh” đã nêu. Duy Tuệ đang cố gắng lập nhóm để sinh hoạt, và rất có thể đây là sẽ một biến tướng khác giống như “đạo” của Thanh Hải trong một tương lai không xa. Một khi nó mọc chân rết và bám chắc ở Việt Nam dưới những vỏ bọc an toàn hơn là “Phật học Việt Nam”, “UNESCO”, “Trần Nhân Tông” gì gì đó mang dáng dấp của “Đạo học phương Đông”, Dân tộc, thì sẽ rất nguy hại cho đất nước, nhất là khi người dân không còn biết tin Nhân quả. Bài học về một “giáo sư Phật học”, “nhà sư chém gió” Thích Minh Tâm với tôn chỉ “Chấn hưng nước Việt” vẫn còn đó. Chỉ mất khoảng 6 tháng “tu tập”, Nguyễn Thiếu Văn đã “biến hóa” thành “Thượng tọa Tiến sĩ Thích Minh Tâm”, rồi lọt vào làm chủ tọa điều khiển trong một hội nghị quốc tế về Phật học tại Việt Nam. Xin hãy cảnh giác khi sử dụng lý trí và niềm tin của mình. Bởi bất cứ khi chọn lựa một điều gì, chúng ta cũng phải kiểm tra nó kỹ càng. Với một điều quan trọng như thực hành giáo lý đạo Phật, chúng ta càng phải xem xét cho cẩn thận, trước khi tìm đến một vị thầy. Xã hội đang tràn lan và gần như mất kiểm soát đối với những thứ giả giá trị, đặc biệt khi chúng biết làm giả như thật, từ đó chống phá các tôn giáo chân chính để trục lợi cho riêng mình. Duy Tuệ cũng chỉ là một dạng trùng biến hình, nhưng chúng ta không thể không nói đến những người quản lý vô trách nhiệm, tiếp tay cho ông ta để làm hại đến thanh danh của Phật pháp. Điều này còn nguy hiểm hơn là phê phán một Giáo hội, vì ra sức xuyên tạc Phật giáo từ bên trong những giáo lý căn bản như Nhân quả, Nghiệp báo, Bát chánh, Tứ đế… thì sẽ gây ra những hệ quả tiêu cực đến đời sống con người, nhất là khi chủ nghĩa thực dụng, tôn sùng vật chất lên ngôi. Nếu đây là một âm mưu trá hình, chống phá Phật giáo bằng các phương tiện thông tin chính thống như đài phát thanh, đài truyền hình quốc gia, nhà xuất bản uy tín thì sẽ vô cùng nguy nan cho Phật giáo Việt Nam. Những phát biểu xuyên tạc của Duy Tuệ xúc phạm nghiêm trọng Phật pháp, tạo ra những vết thương tinh thần khó lành cho những người tìm đến giáo lý đích thực, lừa gạt những người sơ cơ đang có cảm tình tìm đến với đạo Phật. Để mọi người không tiếp tục bị lừa gạt, mong Giáo hội Phật giáo Việt Nam có tiếng nói trước dư luận về hiện tượng này. Ông Duy Tuệ tự xưng là “đạo sư” trái với tinh thần của đạo Phật, dùng tà thuyết để phỉ báng giáo lý đạo Phật. Nhưng với hình thức của ông ta, khiến không ít người nhầm lẫn với Phật giáo, với Tăng sĩ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngoại trừ những Tăng Ni, Phật tử nằm trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam, khi chưa được phép, không ai có quyền nhân danh các tổ chức núp dưới danh xưng “Phật giáo Việt Nam” hay “Phật học Việt Nam” để hoạt động. Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam, không phù hợp để tồn tại một khi nó xuất hiện để nhằm mục đích đánh phá Phật giáo. Đặc biệt, Giáo hội không thể tiếp tục để những con người hủy báng Chánh pháp như vậy được phép tiếp cận hình ảnh Phật hoàng Trần Nhân Tông, một đấng anh minh của dân tộc, sau khi rời bỏ ngôi vua, xuất gia và đi khắp hang cùng ngõ hẻm để khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, xiển dương Chánh pháp. Các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, xuất bản, truyền thanh, truyền hình cần phải rõ ràng và minh bạch về vấn đề này. Bởi nếu thuyết giảng, truyền bá những nội dung trái với đạo Phật, công khai đánh phá Phật giáo, thì phải chăng Duy Tuệ đang muốn xây dựng một tổ chức “Giáo hội” trá hình? Thật ngược ngạo, khi ông Duy Tuệ hủy báng Chánh pháp và không có liên hệ gì với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhưng tại sao có thể đại diện liên lạc với các tổ chức Phật giáo quốc tế để trao tặng những biểu tượng của Phật giáo Việt Nam? Các nhà xuất bản cho in những sách chống phá Phật giáo của “đạo sư” Duy Tuệ không biết có ý định gì? Điều đáng nói, việc quản lý các ấn phẩm Phật giáo không nằm trong tay Giáo hội, mà ở những người không có đủ kiến thức chuyên môn về Phật giáo, nên những sách chống phá Phật giáo một cách công khai của Duy Tuệ mới lọt ra thị trường. Ngạc nhiên hơn, Duy Tuệ còn có cả một chương trình phổ biến “Thiền Minh triết” trên sóng phát thanh quốc gia. Cá nhân ông Duy Tuệ có thể tự do giảng đạo, truyền bá một pháp môn gọi là “Thiền Minh triết”, vậy ông ta thuộc tổ chức Giáo hội nào, ai cho phép thành lập? Phải chăng ai cũng có quyền tự lập hội, lập giáo phái, lập pháp môn và tự do truyền giảng dưới danh nghĩa tôn giáo khi chính thức được một số cơ quan thông tin uy tín “lobby” cho? Rõ ràng điều này hoàn toàn trái với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo của Chính phủ.Người Việt có câu “Cái kim bọc trong giẻ lâu ngày cũng lòi ra”. Giá trị giả mãi mãi vẫn chỉ là giá trị giả. Quả báo nhãn tiền mà “Vô thượng sư” Thanh Hải đã gặp phải càng củng cố cho mọi người thấy một hoạt cảnh tương tự sẽ diễn ra cho “đạo sư” Duy Tuệ. Mọi người vẫn hy vọng đó chỉ là một mánh khóe để trục lợi cá nhân của Duy Tuệ, không phải là chủ trương từ những người có trách nhiệm trong quản lý tôn giáo. Thái Nam Thắng giacngo.vn
  11. Về hiện tượng Duy Tuệ và "thiền minh triết": “Cái kim bọc trong giẻ lâu ngày cũng lòi ra” GN - Thêm góc nhìn cùng tìm hiểu cái gì đằng sau hiện tượng “Duy Tuệ và thiền minh triết”. Duy Tuệ cạo đầu, mặc y phục na ná với tu sĩ Phật giáo, cũng bàn luận về Phật học, tu thiền, đôi khi choàng cả “y hậu” màu đỏ làm chủ lễ... Với hình thức của ông ta, khiến không ít người nhầm lẫn cho rằng ông ta là Tăng sĩ Phật giáo, thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhầm cho rằng “thiền minh triết” là thiền Phật giáo, “sách viết về lối sống” của ông ta là triết lý sống nhà Phật... như một số cơ quan truyền thông, đài truyền hình đã từng giới thiệu. Tiếp theo những bài viết trên Giác Ngộ Online (www.giacngo.vn), Câu chuyện trong tuần kỳ này giới thiệu bài viết của tác giả Thái Nam Thắng, góp thêm góc nhìn cùng tìm hiểu cái gì đằng sau hiện tượng “Duy Tuệ và thiền minh triết”. Bài liên quan: >> Cùng tìm hiểu cái gì đằng sau hiện tượng này; >> Công kích Phật giáo, để làm gì?>> Duy Tuệ: Mượn đạo lập đời >> Duy Tuệ: Từ biến thái đến bệnh thái “Đạo sư” Duy Tuệ cũng có một xuất phát điểm như “Vô thượng sư” Thanh Hải, đó là tiếp cận các nhà sư và tìm hiểu giáo lý đạo Phật, sau đó tuyên bố mình đã “chứng ngộ”, rồi nhanh chóng lập pháp môn, lập phái để truyền “đạo”. Tuy nhiên, “Vô thượng sư” Thanh Hải được xem là một dạng tà đạo biến tướng thì Duy Tuệ lại có một vỏ bọc kỹ hơn, an toàn hơn khi núp dưới danh xưng “Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam” do chính ông ta làm Chủ tịch Hội đồng sáng lập. Cả Thanh Hải và Duy Tuệ đều học lỏm các giáo lý của đạo Phật, mượn vào các nội dung, hình thức Phật giáo để phổ biến những thứ “pháp môn” đã được gia công nhào nặn. Duy Tuệ, một người thế tục, bỗng một hôm, cạo trọc đầu, mặc áo tràng tay thụng màu đỏ boọc-đô có viền đen, trông giống như các nhà sư, khiến cho mọi người hiểu lầm rằng nó thuộc về đạo Phật hay thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Điều đáng nói, ban đầu cả Duy Tuệ và Thanh Hải đều thuyết giảng khá hay về giáo lý Phật giáo, sau một thời gian chiếm được niềm tin của những người có cảm tình với Phật giáo, họ liền chuyển sang chống phá Phật giáo như xuyên tạc kinh điển, phủ nhận những giáo lý căn bản của đạo Phật, kêu gọi mọi người rời xa “Tam bảo” (Phật - Pháp - Tăng), không cần phải tìm đến chùa chiền hay lễ tụng, chỉ cần làm theo những điều họ “phát minh” ra là sẽ đạt đạo. Nhưng nếu chỉ xuyên tạc, chống phá Phật giáo thì mọi người sẽ nghi ngờ động cơ không trong sáng đó, nên họ mới lồng ghép những việc như kêu gọi bảo vệ môi trường, kêu gọi tình yêu thương; phong cho những người tu theo là “hiền giả minh triết”, “doanh nhân minh triết”; gọi những người trẻ là “niềm tự hào dân tộc”; lập các quỹ từ thiện…, rồi nhân đó “khai ngộ” bằng một mớ những giáo lý pha tạp, lẫn lộn giữa Phật tính và Tiên thiên, Thượng đế, đồng thời sử dụng các thuật ngữ Phật giáo, các hình thức như ngồi thiền, quán niệm, khai mở ánh sáng, minh triết… Duy Tuệ xuất hiện trong khoảng chục năm nay, tuy nhiên không có cách gì để chính danh hoạt động như một tổ chức gắn với danh nghĩa “Phật giáo Việt Nam”. Đúng lúc ấy, có một nhóm trí thức quan tâm và bàn đến “Minh triết Việt”, Duy Tuệ nhanh nhảu chớp thời cơ để lập ra cái gọi là “Thiền Minh triết”, để nhập nhằng với Thiền Minh Sát - một phương pháp thiền căn bản trong đạo Phật. Phật giáo chính thống ở các quốc gia dù có phát triển nhiều dòng thiền, nhiều pháp môn, nhưng vẫn phải dựa trên căn bản của quá trình tu học Giới, Định, Tuệ (Giới sinh Định, Định sinh Tuệ, trong Giới có Định, Tuệ, trong Định có Giới, Tuệ, trong Tuệ có Giới, Định). Sự đại vọng ngữ khi tự xưng là “Đạo sư” của Duy Tuệ đã phản lại với những phương pháp tu tập Giới, Định, Tuệ. Đáng nói, do thiếu lương thiện ngay từ động cơ ban đầu, nên Duy Tuệ đã nhào nặn các phương pháp thiền của Phật giáo để lập ra cái gọi là “Thiền Minh triết”. Đến khi thấy mọi người quan tâm đến tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông, Duy Tuệ cũng nhanh nhảu tiếp cận và mượn vào “Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam” để trao tặng tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông cho Trung tâm Phật giáo Quốc tế của Thái Lan nhằm tìm cho mình những mối quan hệ mang tính “quốc tế” (sic). Sau đó, Duy Tuệ dùng chính những ảnh hưởng này để tuyên truyền chống phá Phật giáo. Những giáo lý căn bản của Phật giáo như “Nhân quả”, “Nghiệp báo”, “Tứ đế”, “Bát Chánh đạo”… đều bị Duy Tuệ đem ra xuyên tạc. Duy Tuệ ra sức bác bỏ giáo lý “Bát Chánh đạo” (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định) chỉ vì bản thân việc làm của Duy Tuệ không những không có “chính danh” mà còn không có bất kỳ chữ “chánh” nào như tám chữ “chánh” đã nêu. Duy Tuệ đang cố gắng lập nhóm để sinh hoạt, và rất có thể đây là sẽ một biến tướng khác giống như “đạo” của Thanh Hải trong một tương lai không xa. Một khi nó mọc chân rết và bám chắc ở Việt Nam dưới những vỏ bọc an toàn hơn là “Phật học Việt Nam”, “UNESCO”, “Trần Nhân Tông” gì gì đó mang dáng dấp của “Đạo học phương Đông”, Dân tộc, thì sẽ rất nguy hại cho đất nước, nhất là khi người dân không còn biết tin Nhân quả. Bài học về một “giáo sư Phật học”, “nhà sư chém gió” Thích Minh Tâm với tôn chỉ “Chấn hưng nước Việt” vẫn còn đó. Chỉ mất khoảng 6 tháng “tu tập”, Nguyễn Thiếu Văn đã “biến hóa” thành “Thượng tọa Tiến sĩ Thích Minh Tâm”, rồi lọt vào làm chủ tọa điều khiển trong một hội nghị quốc tế về Phật học tại Việt Nam. Xin hãy cảnh giác khi sử dụng lý trí và niềm tin của mình. Bởi bất cứ khi chọn lựa một điều gì, chúng ta cũng phải kiểm tra nó kỹ càng. Với một điều quan trọng như thực hành giáo lý đạo Phật, chúng ta càng phải xem xét cho cẩn thận, trước khi tìm đến một vị thầy. Xã hội đang tràn lan và gần như mất kiểm soát đối với những thứ giả giá trị, đặc biệt khi chúng biết làm giả như thật, từ đó chống phá các tôn giáo chân chính để trục lợi cho riêng mình. Duy Tuệ cũng chỉ là một dạng trùng biến hình, nhưng chúng ta không thể không nói đến những người quản lý vô trách nhiệm, tiếp tay cho ông ta để làm hại đến thanh danh của Phật pháp. Điều này còn nguy hiểm hơn là phê phán một Giáo hội, vì ra sức xuyên tạc Phật giáo từ bên trong những giáo lý căn bản như Nhân quả, Nghiệp báo, Bát chánh, Tứ đế… thì sẽ gây ra những hệ quả tiêu cực đến đời sống con người, nhất là khi chủ nghĩa thực dụng, tôn sùng vật chất lên ngôi. Nếu đây là một âm mưu trá hình, chống phá Phật giáo bằng các phương tiện thông tin chính thống như đài phát thanh, đài truyền hình quốc gia, nhà xuất bản uy tín thì sẽ vô cùng nguy nan cho Phật giáo Việt Nam. Những phát biểu xuyên tạc của Duy Tuệ xúc phạm nghiêm trọng Phật pháp, tạo ra những vết thương tinh thần khó lành cho những người tìm đến giáo lý đích thực, lừa gạt những người sơ cơ đang có cảm tình tìm đến với đạo Phật. Để mọi người không tiếp tục bị lừa gạt, mong Giáo hội Phật giáo Việt Nam có tiếng nói trước dư luận về hiện tượng này. Ông Duy Tuệ tự xưng là “đạo sư” trái với tinh thần của đạo Phật, dùng tà thuyết để phỉ báng giáo lý đạo Phật. Nhưng với hình thức của ông ta, khiến không ít người nhầm lẫn với Phật giáo, với Tăng sĩ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngoại trừ những Tăng Ni, Phật tử nằm trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam, khi chưa được phép, không ai có quyền nhân danh các tổ chức núp dưới danh xưng “Phật giáo Việt Nam” hay “Phật học Việt Nam” để hoạt động. Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam, không phù hợp để tồn tại một khi nó xuất hiện để nhằm mục đích đánh phá Phật giáo. Đặc biệt, Giáo hội không thể tiếp tục để những con người hủy báng Chánh pháp như vậy được phép tiếp cận hình ảnh Phật hoàng Trần Nhân Tông, một đấng anh minh của dân tộc, sau khi rời bỏ ngôi vua, xuất gia và đi khắp hang cùng ngõ hẻm để khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, xiển dương Chánh pháp. Các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, xuất bản, truyền thanh, truyền hình cần phải rõ ràng và minh bạch về vấn đề này. Bởi nếu thuyết giảng, truyền bá những nội dung trái với đạo Phật, công khai đánh phá Phật giáo, thì phải chăng Duy Tuệ đang muốn xây dựng một tổ chức “Giáo hội” trá hình? Thật ngược ngạo, khi ông Duy Tuệ hủy báng Chánh pháp và không có liên hệ gì với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhưng tại sao có thể đại diện liên lạc với các tổ chức Phật giáo quốc tế để trao tặng những biểu tượng của Phật giáo Việt Nam? Các nhà xuất bản cho in những sách chống phá Phật giáo của “đạo sư” Duy Tuệ không biết có ý định gì? Điều đáng nói, việc quản lý các ấn phẩm Phật giáo không nằm trong tay Giáo hội, mà ở những người không có đủ kiến thức chuyên môn về Phật giáo, nên những sách chống phá Phật giáo một cách công khai của Duy Tuệ mới lọt ra thị trường. Ngạc nhiên hơn, Duy Tuệ còn có cả một chương trình phổ biến “Thiền Minh triết” trên sóng phát thanh quốc gia. Cá nhân ông Duy Tuệ có thể tự do giảng đạo, truyền bá một pháp môn gọi là “Thiền Minh triết”, vậy ông ta thuộc tổ chức Giáo hội nào, ai cho phép thành lập? Phải chăng ai cũng có quyền tự lập hội, lập giáo phái, lập pháp môn và tự do truyền giảng dưới danh nghĩa tôn giáo khi chính thức được một số cơ quan thông tin uy tín “lobby” cho? Rõ ràng điều này hoàn toàn trái với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo của Chính phủ.Người Việt có câu “Cái kim bọc trong giẻ lâu ngày cũng lòi ra”. Giá trị giả mãi mãi vẫn chỉ là giá trị giả. Quả báo nhãn tiền mà “Vô thượng sư” Thanh Hải đã gặp phải càng củng cố cho mọi người thấy một hoạt cảnh tương tự sẽ diễn ra cho “đạo sư” Duy Tuệ. Mọi người vẫn hy vọng đó chỉ là một mánh khóe để trục lợi cá nhân của Duy Tuệ, không phải là chủ trương từ những người có trách nhiệm trong quản lý tôn giáo. Thái Nam Thắng
  12. Sách xuyên tạc Phật giáo được tôn vinh tại Văn Miếu! Sách phỉ báng Phật giáo lại được tôn vinh tại Hà Nội, điều này phải hiểu sao đây? Theo thông tin của Báo Tiền Phong online – cơ quan của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, vừa qua, tại Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội, đã “chính thức giới thiệu phương pháp Duy Tuệ” với các sách, video chứa những nội dung phỉ báng, xuyên tạc Phật giáo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam của tác giả Duy Tuệ. Theo đó, buổi giới thiệu đã có mặt của lãnh đạo Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, cùng một số nhân vật khác. Hơn nữa, buổi giới thiệu chính thức này lại diễn ra sau hàng loạt bài phân tích, phản ánh trên các phương tiện thông tin, báo chí Phật giáo. Điều đáng nói là những người chịu trách nhiệm cấp giấy phép xuất bản thuộc một cơ quan quản lý Nhà nước lại có những lời phát biểu không thể hiểu nổi khi nói về cuốn sách “Ta là ai” –chứa nhiều nội dung phỉ báng, xuyên tạc Phật giáo, xin trích dẫn lại: “Tôi thấy rất hạnh phúc vì nhà XBVHTT (Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin - NKT) có cơ hội biên tập những tác phẩm của tác giả Duy Tuệ, đưa tới độc giả Việt nam những tác phẩm mang nặng tình yêu quê hương, đất nước, tình nghĩa với con người Việt nam” (!?) Một cuốn sách phỉ báng Phật giáo – tôn giáo đồng hành với dân tộc hơn hai ngàn năm qua, nói như Giáo sư Sử học Trần Văn Giàu: “Bình minh của lịch sử dân tộc ta đã gắn với Phật giáo” (1) lại được tôn vinh như thế, hơn nữa, ngay tại Văn Miếu Quốc Tử Giám giữa lòng thủ đô Hà Nội! Trong nhiều tháng qua, các trang thông tin, báo điện tử, Báo Giác Ngộ đã có nhiều phân tích, phản ánh về hiện tượng “Duy Tuệ” qua các sách, video được cấp giấy phép phát hành, được giới thiệu và “lăng-xê”, quảng bá trên các phương tiện truyền thông quốc gia như Đài Truyền hình VN, Đài Truyền hình Hà Nội… Một cá nhân công khai xuyên tạc, phỉ báng Phật giáo, xúc phạm Giáo hội, nhưng vẫn được các cơ quan chức trách quản lý Nhà nước về tư tưởng và văn hoá bảo hộ, được tổ chức họp báo, quảng bá bất chấp những phản ứng của Tăng Ni Phật tử ngay trên đất nước Việt Nam. Điều đó phải được hiểu sao đây? Nguyễn Khánh Tuệ Theo GNO
  13. Thông thường Cô luôn thực hiện theo chỉ định của cá nhân người tặng, nhưng trong trường hợp này Cô xin ý kiến dinhlenhhoang có thể chuyển đến 1 địa chỉ khác thiết thực và thiếu thốn hơn được ko? Bởi lẽ khi đi thực tế cô hiểu rõ hơn ai hết nơi nào đầy nơi nào vơi! Ở TT bảo trợ trẻ em Gò Vấp của nhà nước nên thường được các tổ chức Phi chánh phủ đến thăm và trao tặng. Tuy nhiên đây cũng chỉ là "xin ý kiến" nếu dlh có mục đích hay nguyện vọng riêng Cô vẫn làm nhiệm vụ chuyển trao như đã làm.
  14. Cô sẽ gởi đến duongvuson vào ngày mai!
  15. @Vâng các bạn sẽ nhận được sự vi diệu từ sự tín tâm của chính mình[twitter][/twitter]
  16. Ăn Chay Có Phạm Tội Sát Sinh Không & Cỏ Cây Có Linh Hồn Không? Lời Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen: Hiện nay vẫn còn có một số người tin rằng những người ăn chay vẫn phạm vào giới sát và họ còn cho rằng cây cỏ cũng có linh hồn nên (họ cho rằng) việc không ăn chay của họ là hoàn toàn hợp lý.Chúng tôi tôn trọng ý kiến của họ và cũng xin giới thiệu bài viết dưới đây của tác giả Tâm Diệu. Bài viết, tuy có tính cách giải trình hai vấn đề nhưng không có ý thuyết phục những người đang ăn mặn chuyển đổi qua chế độ ăn chay vì đó là điều không cần thiết nữa. Bây giờ ai cũng rõ ăn chay có nhiều lợi ích hơn ăn mặn, nhất là trong bối cảnh công nghiệp chăn nuôi gia súc với nhiều hoá chất độc hại, gây ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và nguy hiểm đến con người. (Xem báo chí nói về cơn sốt hoá chất tạo thêm thịt nạc, gia tăng trọng lượng). Phần 1- Trước hết cần định nghĩa rõ ràng ăn chay là gì và sát sinh là gì? Ăn chay, theo các nhà dinh dưỡng học định nghĩa là một chế độ dinh dưỡng mà thực phẩm được lấy từ các nguồn thực vật bao gồm rau đậu qủa củ và ngũ cốc; còn sát sinh là giết hại sự sống hay nói một cách khác, sát sinh là hành động của một con người làm đoạn sự sống của một chúng sanh khác. Trong nhà Phật chúng sinh được phân chia làm hai loại: (1) chúng sinh hữu tình là các loài có tình thức, có hệ thần kinh, biết cử động, biết đi, biết bò, biết bay, biết lội, nói chung là tất cả động vật có sinh mạng, bao gồm cả con người, (2) chúng sinh vô tình là những sinh vật không nằm trong các loài chúng sinh hữu tình như đất đá, cỏ cây. Cỏ, cây là sinh vật sống nhưng không được xếp vào hàng chúng sinh hữu tình vì chúng không có giác quan, không có hệ thần kinh, không có biểu hiện của ngũ ấm, không có cảm xúc, tư tưởng, hành nghiệp...Vì thế, nếu ăn các loài chúng sinh hữu tình được gọi là ăn mặn (xuất xứ từ chữ “mạng” sống) và nếu ăn các loài chúng sinh vô tình được gọi là ăn chay. Sát sinh là đoạn diệt sự sống của chúng sinh. Chúng sinh ở đây bao gồm cả hai loại như đã nói trên và theo như kinh Phật thì mọi chúng sinh đều bình đẳng, như vậy không phải chỉ có những người giết mổ thịt hoặc đánh cá mới là phạm giới sát sinh mà những người giết hại cây cỏ hoa mầu cũng vậy.... Điều này không sai, nhưng cỏ cây là sinh thể sơ đẳng nhất, không có hệ thần kinh và có cấp độ tiến hoá thấp hơn rất nhiều so với động vật, khi bị cắt chúng không có cảm giác đau, có chảy mủ nhưng sau đó lại lành và tiếp tục nảy nhánh mới, hoàn toàn không sinh khởi phản ứng của tâm thức chống trả hay oán thù; còn động vật khi đau đớn biết rên la, khi sợ hãi biết chạy trốn, khi bị giết có những sinh khởi phản ứng của tâm thức, oán thù với đối tượng giết chúng. Một động vật, khi bị giết chết là chấm dứt sinh mạng, không nảy mầm hay nảy cành non như loài thảo mộc. Loài thảo mộc có nhị đực và nhị cái ở trên cùng một cái hoa hay trên cùng một thân cây, nhờ ong bướm hay gió thổi mà nhị đực rơi vào nhị cái, kết thành trái và hột để di truyền giống. Loài động vật thì con đực và con cái là hai thân thể, hai sinh mạng khác nhau, chúng có tình thức và lòng dục nên tìm đến nhau luyến ái và giao phối, để truyền giống. Đạo lý cơ bản của người Phật tử là 5 giới cấm, trong đó có dạy là không sát sinh. Đối với cỏ cây cũng là chúng sinh, nhưng là chúng sinh vô tình, khác với con người và các loài động vật khác (chúng sinh vô tình). Người Phật tử tu, cái chính là không sát hại các loài hữu tình, còn nếu ở cấp độ tu chứng cao hơn thì không sát hại cả các loài vô tình. Tuy nhiên, mục đích chính của việc không sát sinh là để gieo trồng hạt giống từ bi và phát triển tâm từ bi đến với muôn loài chúng sinh từ gần đến xa, từ lớn đến nhỏ. Tưởng cũng nên bàn thêm ở đây, chúng ta đang sống trong thế giới nhị nguyên “tương đối”, luôn có sự phân biệt đối đãi, tốt và xấu, sướng và khổ.. Ở thế giới tương đối này, chắc chắn mọi người đều cho rằng mạng sống của nhà bác học Einstein quý giá hơn mạng sống của một con chuột rất nhiều... Tương tự, việc giết một con bò phải được xem là một hành động sát sanh lớn hơn việc cắt một cành hoa hay ngọn cỏ vì con bò có hệ thần kinh, biết cảm giác đau đớn. Nhờ sống trong thế giới tương đối này, chúng ta mới biết con người có giá trị vô cùng về sự hiểu biết, trí thông minh và có tâm phân biệt mà các loài động vật khác không có. Cũng vì thế mà chúng ta mới không tin tưởng rằng mọi vật đều phải được nuôi sống bằng sinh mệnh của một loài nào đó. Ngược lại với thế giới “tương đối” mà chúng ta đương sống là thế giới “tuyệt đối”, nơi đó hoàn toàn bình đẳng, không có sự phân biệt giữa thấp và cao, giữa tốt và xấu hay giữa hữu tình và vô tình chúng sinh. Ở đó, chúng ta không còn quan niệm hay ý tưởng cho rằng việc giết đi sinh mạng của một con bò là ác hơn việc cắt đi một nhánh hoa. Đây là thế giới của những người đã có trình độ tu chứng, đã tiến hoá cao. Cũng như chuyện Tuệ Trung Thượng sĩ ăn mặn, không ăn chay, vì ngài là người đã giác ngộ, tâm không còn phân biệt, không còn vướng mắc, chấp trước vào chuyện ăn uống. Ăn chay hay ăn mặn đối với ngài chỉ là để nuôi thân và hành đạo. Nói về sát sinh, còn một khía cạnh khác, đó là còn tùy thuộc vào tâm ý của chúng ta vào giây phút chúng ta lấy đi sinh mạng của sinh vật khác. Chính sát na đó quyết định rằng hành động đó có phải là phạm giới sát hay phạm đến một sự sai lầm về đạo đức không. Trong giới không sát sanh của người xuất gia, Đức Phật có đề cập đến các vi sinh vật, nhưng nếu có phạm đến chúng thì chỉ là tội nhẹ chứ không phải là trọng tội. Ngày xưa khi Phật còn tại thế, có một Tỳ kheo đi qua một cánh đồng khô, trời nóng khát nước, gặp vũng nước thấy có nhiều vi sinh vật nên không dám uống. Tỳ kheo ấy đến bạch với Đức Phật: Bạch Thế Tôn, con rất khát nước, con dùng thiên nhãn thấy vũng nước bên đường có vô số vi trùng nên không uống được. Phật bảo: Sao ông không dùng nhục nhãn (mắt thường) mà nhìn? Câu chuyện cho thấy “tác ý” trong hành động mới là điều quan trọng. Nếu nhìn trong nước bằng con mắt thường sẽ không thấy những vi sinh vật và cứ tự nhiên uống thì sẽ không tạo nghiệp vì không tác ý. Tương tự, khi uống thuốc trụ sinh diệt vi trùng hay vi khuẩn trong cơ thể để trị bệnh cũng thế. Phần 2 Bàn về cỏ cây cũng có linh hồn thần thức thì có một số ít người nói kinh Phật dạy rằng “mười phương cây cỏ cũng đều là hữu tình, cùng với người không khác. Cỏ cây chết làm người, người chết trở lại làm cỏ cây.” Và họ còn viện dẫn nghiên cứu khoa học cho biết cây cỏ cũng có linh hồn tình thức (*). Điều này không đúng vì như phần thứ nhất chúng tôi đã trình bày, cỏ cây là sinh vật sống nhưng không được (Phật Giáo) xếp vào hàng chúng sinh hữu tình vì chúng không có giác quan, không có hệ thần kinh, không có biểu hiện của ngũ ấm, không có cảm xúc, tư tưởng, hành nghiệp. Trong kinh Lăng Nghiêm Đức Phật dạy rằng: "Người tu thiền định, khi hành ấm hết, tướng sanh diệt đã diệt, chơn tâm tịch diệt chưa hiện bày, lúc bấy giờ thấy thức ấm biến khắp tất cả, rồi sanh tâm chấp: "Mười phương cây cỏ cũng đều là hữu tình, cùng với người không khác. Cỏ cây chết làm người, người chết trở lại làm cỏ cây". Vì mê mờ tánh Bồ Đề, mất chánh kiến, nên sẽ làm bè bạn với hai chúng ngoại đạo Bà Tra và Tán Ni, chấp tất cả vạn vật đều có tri giác (biết)." (Phật Học Phổ Thông Khóa thứ 6-7, Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm, Hòa Thương Thiện Hoa, Phật Học Viện Quốc Tế tái xuất bản năm 1987, Bài thứ 16: Mười Món Ma Về Thức Ấm, phân đoạn 4, chấp cỏ cây cũng đều biết, trang 252). Bản dịch Kinh Lăng Nghiêm do Hòa Thượng Thích duy Lực dịch như sau: "Người tu thiền định, khi dứt được Hành Ấm, sanh diệt đã diệt, mà nơi tinh diệu của tịch diệt chưa được viên thông, nếu ở nơi sở tri, kiến lập tri giải, cho các loài cây cỏ mười phương đều gọi là hữu tình, với người chẳng khác ; cây cỏ làm người, người chết rồi lại thành cây cỏ, cho đến loài vô tình đều có sự giác tri, hữu tình vô tình chẳng có phân biệt, sanh tâm thù thắng, thì bị đọa vào cái chấp "Tri vô tri", làm bạn với hai thứ ngoại đạo Bà Tra và Tiện Ni, chấp tất cả đều có sự giác tri, mê lầm tánh Bồ Đề, lạc mất tri kiến Phật. Ấy gọi là lập cái tâm viên tri, thành cái quả hư vọng, trái xa viên thông, ngược đạo Niết Bàn, thành giống Điên Đảo Tri thứ tư." (Kinh Lăng Nghiêm, Từ ân Thiền đường xuất bản tại Hoa Kỳ, trang 253). Ngoài ra, bản dịch của cụ Tâm Minh Lê Đình Thám cũng tương tự. Như thế, trên đây đã trả lời rõ ràng về cây cỏ, cũng đồng thời trả lời luôn về một câu hát của nhạc sĩ họ Trịnh được một vị thầy lập lại nhiều lần "làm sao em biết bia đá không đau?". Bia đá không biết đau vì chúng là vô tình chúng sinh, là vô tri giác. (*) Ingo Swann, môt nhà Sinh Thực Vật (Biologist ) viết trong quyển The Real Story-Chuyện Có Thật, Quyển sách được xuất bản ngày 15-11-1998, trong đó có đoạn: “Sự nghiên cứu của Backster khởi đầu chỉ là môt khám phá hầu như tình cờ vào năm 1996 là thực vật có khả năng tri giác và đáp ứng tự nhiên những cảm xúc của con người... Những cây cỏ của bạn, biết là bạn đang nghĩ gì.” (His reseach started with the 1996 almost accidental rediscovery, plants are sentient and respond to the spontaneous emotions of relevant humans... Your plants know what you are thinking ). (Nguồn: Thư Viện Hoa Sen, http://www.thuvienhoasen.org)
      • 4
      • Like
  17. NGHIỆP Tôi có quen một người Ý Đại Lợi. Người này rất băn khoăn thắc mắc về vấn đề bất đồng của các cá nhân trong xã hội. Ông ta suy nghĩ về vấn đề này rất nhiều. Ông tìm hỏi nhiều người về vấn đề này, nhưng không tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Một ngày nọ ông đọc được một cuốn sách về Phật Giáo trong đó có nói đến luật Nghiệp Báo. Khi đọc về luật Nghiệp Báo ông ta rất thỏa mãn với những lời giải thích của luật Nghiệp Báo. Ông quyết định tìm hiểu thêm về đạo Phật. Ông sang Á Châu trở thành một nhà sư, và mất ở tuổi tám mươi. Luật Nghiệp Báo là động lực đầu tiên khiến ông trở thành một nhà sư Phật Giáo. Bài giảng về Nghiệp Báo hôm nay căn cứ vào Kinh Cūlakamma bhanga trong Trung Bộ Kinh. Đây là bài kinh Đức Phật giảng cho chàng thanh niên Bà La Môn Subha. Chàng thanh niên Bà la Môn Subha hỏi Đức Phật: 1. Tại sao có người chết yểu, có người sống lâu? 2. Tại sao có những người thường hay bị bịnh, có những người đầy đủ sức khỏe? 3. Tại sao có những người mặt mày xấu xí, có những người đẹp đẽ? 4. Tại sao có những người cô thế, có người đầy quyền uy. 5. Tại sao có người nghèo nàn đói khổ, có người giàu sang sung túc? 6. Tại sao có người sinh ra trong gia đình thấp kém, hạ liệt, trong giai cấp bần cùng, có người sinh ra trong gia đình quyền quí, trong giai cấp cao sang? 7. Tại sao có người ngu dốt (những người thiếu trí tuệ), có người thông minh? Đức Phật đã trả lời cho Subha một cách ngắn gọn về mười bốn hạng người trên. Đức Phật nói:"Này người thanh niên. Chúng sinh có Nghiệp là tài sản của mình. Chúng sinh là kẻ thừa tự của Nghiệp của mình. Chúng sinh có nguồn gốc từ Nghiệp của mình. Chúng sinh sinh ra từ Nghiệp của mình hay chúng sinh là thân bằng quyến thuộc của Nghiệp mà mình đã tạo. Chúng sinh có Nghiệp là nơi nương nhờ. Ḍo Nghiệp mà có sự khác nhau giữa các chúng sinh hay Nghiệp đã tạo ra sự khác nhau giữa chúng sinh, Nghiệp đã tạo ra sự khác nhau giữa người và người" Đức Phật đã trả lời cho Subha một cách ngắn gọn như vậy. Subha bạch với Đức Phật rằng anh ta không hiểu rõ những lời giải thích ngắn gọn của Đức Phật. Subha nói:"Bạch Ngài, con không hiểu rõ những lời giải thích ngắn gọn của Ngài. Xin Ngài giảng giải rộng rãi, nhiều chi tiết hơn."Đức Phật bèn giảng giải cho Subha nhiều chi tiết hơn. Sở dĩ Đức Phật trả lời cho Subha một cách ngắn gọn như vậy bởi vì Ngài biết rằng Subha là một người đầy cao ngạo. Subha nghĩ rằng mình là người thông minh sáng láng có thể hiểu tất cả những gì Đức Phật dạy dầu đó là những lời ngắn gọn. Đức Phật muốn làm cho tâm cao ngạo của Subha giảm xuống để Subha có thể khiêm nhường nghe những lời giảng giải của Ngài nên Đức Phật chỉ trả lời một cách ngắn gọn. Khi Subha thỉnh cầu Đức Phật giảng giải chi tiết, Đức Phật mới giảng giải chi tiết cho ông ta. Mặc dầu, những câu hỏi này được Subha hỏi, nhưng đây là những câu hỏi thường được mọi người thắc mắc và muốn được trả lời, bởi vì họ đã từng gặp những vấn đề này trong cuộc sống của con người. Có những người mặc dầu được sinh ra trong cùng một gia đình, có cùng cha cùng mẹ, được nuôi dưỡng dưới cùng hoàn cảnh và điều kiện giống nhau, nhưng họ khác nhau; có người thông minh, có người ngu đần; có người sống lâu, có người chết sớm, người giàu, kẻ nghèo v.v... Đây là những câu hỏi người ta thường đặt ra và muốn được trả lời thỏa đáng.Nếu bạn đặt những câu hỏi này cho người tin tưởng vào Thượng Đế, vào ông Trời hay vào Đấng Sáng Tạo thì bạn sẽ được trả lời rằng:"Bởi vì Thượng Đế, Chúa Trời đã tạo ra như vậy."Câu trả lời này chắc chắn không làm bạn thỏa mãn. Sẽ có nhiều câu hỏi tiếp theo khi bạn được nghe câu trả lời như vậy. Chỉ có những lời giải đáp của Đức Phật mới làm cho người ta thỏa mãn bởi vì những câu trả lời của Đức Phật không vô lý. Đức Phật trả lời từng câu hỏi một của chàng thanh niên Subha. Mặc dầu được sinh ra cùng cha cùng mẹ, được nuôi dưỡng cùng hoàn cảnh và điều kiện giống nhau, nhưng chúng ta không thể lấy những điều kiện và hoàn cảnh này làm nguyên nhân của sự bất đồng của họ, cũng không thể lấy lý do họ có cùng cha, cùng mẹ nên nói sự di truyền là nguyên nhân. Cùng được nuôi dưỡng dưới những điều kiện và hoàn cảnh giống nhau nhưng họ khác nhau. Như vậy, lý do của sự khác nhau của những người trong cùng một gia đình phải là cái gì nằm ngoài di truyền, và hoàn cảnh. Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy rõ rằng: Có cái gì đó trong quá khứ đã làm cho chúng ta, và đời sống của chúng ta khác nhau. Đức Phật đã giải thích cho Subha từng câu hỏi một: 1. Tại sao có người chết yểu, có người sống lâu?"Một số người giết hại chúng sinh khác, không phải chỉ giết hại chúng sinh một lần mà nhiều lần họ giết hại chúng sinh. Do hậu quả của sự giết hại này, họ tái sinh vào bốn đường ác. Họ bị tái sinh vào cảnh Súc Sinh, Ngạ Quỷ, A Tu La, Điạ Ngục. Sau khi ở các cảnh khổ này, nếu được tái sinh làm người trong kiếp hiện tại thì họ bị chết yểu (đoản thọ). Bởi vì họ đã giết hại chúng sinh, nghĩa là họ đã có ý muốn làm cho đời sống của chúng sinh bị ngắn lại, muốn chấm dứt mạng sống của chúng sinh sớm hơn, làm cho tuổi thọ của chúng sinh ngắn lại. Thay vì chúng sinh được sống lâu hơn, họ làm cho chúng sinh chết sớm. Do có ý muốn làm cho tuổi thọ của chúng sinh ngắn đi nên họ nhận hậu quả là đời sống của họ cũng bị ngắn đi hay bị chết yểu. Có những người không bao giờ giết hại chúng sinh. Họ giữ giới sát sinh. Họ ngăn ngừa sự giết hại chúng sinh. Những người này sau khi chết sẽ được tái sinh vào cõi trời. Khi họ tái sinh làm người họ sẽ trường thọ. Những người chết sớm là những người đã giết hại chúng sinh trong những kiếp sống trước đây. Và những người trường thọ là những người giữ giới không sát sinh trong những kiếp trước đây. Khi họ ngăn ngừa hành động giết hại chúng sinh thì tâm họ có lòng mong muốn chúng sinh được sống lâu. Lòng mong muốn chúng sinh được sống lâu là nguyên nhân khiến họ được trường thọ khi họ tái sinh làm người. 2. Tại sao có người thường hay bị bệnh hoạn, có người đầy đủ sức khỏe?Có những người hay bị bệnh hoạn, hết bệnh này lại đến bệnh kia, hoặc sức khỏe họ luôn luôn yếu kém. Những người này, theo lời dạy của Đức Phật, là những người đã làm những chúng sinh khác bị thương. Họ không giết hại người hay chúng sinh khác, nhưng họ hành hạ đánh đập làm cho người khác, chúng sinh khác đau đớn, khổ sở, làm cho cơ thể chúng sinh khác bị tổn thương. Do hành động độc ác, hành hạ, đánh đập, làm hại cơ thể chúng sinh, làm cho chúng sinh bị thương nên họ bị tái sinh vào bốn ác đạo. Khi họ tái sinh làm người, họ luôn luôn bị đau ốm, bị tật nguyền, sức khỏe yếu kém.Có những người thân thể cường tráng, sức khỏe đầy đủ. Có người chẳng bao giờ đau ốm, chẳng bao giờ đến gặp bác sĩ, chẳng bao giờ vào nhà thương, chẳng bao giờ uống một viên thuốc nào. Họ có một cơ thể khỏe mạnh. Tại sao vậy? Trong kiếp sống này, họ có cơ thể khỏe mạnh, bởi vì trong những kiếp sống quá khứ họ không bao giờ hành hạ kẻ khác, không làm kẻ khác bị thương tật, không làm tổn thương thân thể kẻ khác. Họ đã có lòng bi mẫn đối với chúng sinh khác. Do những hành động thiện họ đã làm nên khi tái sinh làm người họ có đầy đủ sức khỏe. 3. Tại sao có người mặt mày xấu xí khó coi, có người mặt mày đẹp đẽ dễ nhìn. Một số người thường hay giận dữ. Người ta chỉ chỉ trích một tí thôi là đã nỗi sân lên. Với bản chất sân hận, giận dữ như thế nên họ phải tái sinh vào bốn đường ác. Khi họ được tái sinh làm người, do Nghiệp giận dữ mà họ đã tạo, mặt mày họ trở nên xấu xí.Như vậy, nóng giận, sân si là nguyên nhân làm cho người xấu xí. Chúng ta có thể dễ dàng để hiểu điều này. Ngay cả khi chúng ta đang sống trong đời sống hiện tại này, khi giận dữ thì mặt mày chúng ta thật là xấu xí; khi giận dữ mặt mày hung dữ, dễ sợ. Nếu chúng ta muốn biết khi giận dữ mặt mày chúng ta xấu xí như thế nào thì mỗi lần giận dữ hãy nhìn vào gương soi, lúc đó, chúng ta sẽ thấy chúng ta xấu xí?Những người đẹp đẽ có bản chất không giận dữ. Họ là những người luôn luôn đối xử tốt với người khác, và họ không dễ dàng giận dữ. Bởi vậy, nếu bạn muốn đẹp đẽ ngay cả trong kiếp sống này thì đừng giận. Một trong những nguyên nhân giúp bạn có gương mặt đẹp đẻ là cố gắng hành thiền từ ái. Như vậy, nguyên nhân của sự xấu xí là giận dữ, và nguyên nhân của đẹp đẽ là không giận dữ, có lòng từ ái. Điều này chứng tỏ cho ta thấy rằng: Nếu chúng ta muốn đẹp đẽ, nếu chúng ta muốn gương mặt chúng ta vui vẻ dễ thương thì chúng ta đừng bao giờ dễ dàng giận dữ. 4. Tại sao có người cô thế, có người đầy quyền uy. Đôi khi bạn gặp những người đầy quyền uy, lời họ nói ra đầy uy quyền, và họ ảnh hưởng đến người khác, khiến người khác phải nghe theo, đi theo họ. Cũng có những người không có quyền uy, họ không có uy quyền để làm việc gì. Có nhiều người, mặc dầu có chức vụ lớn, địa vị cao, có tiền của nhiều, nhưng họ nói không ai nghe. Nguyên nhân tại sao?Có những người có quyền cao, chức trọng nhưng không làm người khác nể phục, không ảnh hưởng đến người khác bởi vì kiếp trước họ có tánh hay ganh tỵ: Thấy ai được lợi, được danh, được người khác tôn trọng, kính nể thì họ cảm thấy khó chịu và ganh ghét. Người nào hay ganh tỵ, đố kỵ, ganh ghét khi thấy người khác được lợi lộc, được vinh dự v.v... thì chắc chắn người đó sẽ bị cô thế, không có thẩm quyền hay năng lực ảnh hưởng tới ngưòi khác trong kiếp sống tương lai. Những người có thẩm quyền được mọi người tùng phục nghe theo trong đời sống này là những người không ganh tỵ trước những thành công, lợi lộc, sự tôn trọng, hay sự kính nể của người khác. Ganh tỵ là nguyên nhân khiến trong kiếp sống này chúng ta trở thành người không có uy quyền, không ảnh hưởng đến người khác. Ngược lại, không ganh tỵ, không đố kỵ là nguyên nhân khiến trong kiếp sống này chúng ta có uy quyền, có ảnh hưởng đến người khác. 5. Tại sao có người nghèo nàn đói khổ, có người giàu sang sung túc?Những người nghèo khổ trong kiếp sống này là những người kiếp trước không biết bố thí, giúp đỡ thực phẩm, áo quần, vật dụng khác cho Sa Môn, Bà La Môn và những người khác. Họ là những người không thực hành hạnh bố thí. Những người giàu có trong kiếp sống này là những người thực hành hạnh bố thí trong những kiếp trước. Họ đã bố thí cúng dường thức ăn, thức uống, áo quần, thuốc men, và những vật dụng khác cho mọi người. Thực hành hạnh bố thí là nguyên nhân của sự giàu có, và không thực hành hạnh bố thí hay bủn xỉn, keo kiệt là nguyên nhân của sự nghèo nàn. Như vậy, bủn xỉn, keo kiệt, không dám cho ai thứ gì là nguyên nhân của sự nghèo khổ. 6. Tại sao có người sinh ra trong gia đình thấp kém, hạ liệt, trong giai cấp bần cùng, có người sinh ra trong gia đình quuyền quí, trong giai cấp cao sang? Những người sinh ra trong gia đình thấp kém, hạ liệt vì kiếp trước họ tự cao, ngã mạn, kiêu căng, tự phụ. Họ chẳng hề tôn kính lễ bái những bậc đáng tôn kính. Họ không đứng dậy, tỏ vẻ kính trọng những người đáng được đứng dậy, đáng được kính trọng. Họ không biết nhường chỗ ngồi cho những người đáng được nhường chỗ. Họ không nhường lối đi cho những bậc đáng được nhường lối đi. Họ không tôn kính, lễ độ đối với những bậc đáng được tôn kính, lễ độ. Không biết tôn trọng, kính nhường là nguyên nhân của sự tái sinh vào giai cấp thấp kém. Nguyên nhân được sinh vào gia đình quyền quí, giai cấp cao sang thì do những nguyên nhân ngược lại. Những người này kiếp trước không kiêu hãnh, tự cao, tự đại. Họ thường tôn kính lễ bái những bậc đáng tôn kính lễ bái. Họ đứng dậy, tỏ vẻ tôn trọng những người đáng được đứng dậy tỏ vẻ tôn trọng. Họ biết nhường chỗ ngồi cho những người đáng được nhường chỗ ngồi. Họ nhường lối đi cho những bậc đáng được nhường lối đi. Họ tôn kính, lễ độ đối với những bậc đáng được tôn kính, lễ độ. Tóm lại, tự cao, tự đại là nguyên nhân của sự sinh trưởng trong gia đình thấp kém, và không tự cao tự đại, biết tôn kính là nguyên nhân được sinh ra ở những gia đình cao sang. 7. Tại sao có người ngu dốt, thiếu trí tuệ, có người thông minh sáng suốt?Nguyên nhân của sư thiếu trí tuệ, ngu dốt, trì độn, và nguyên nhân của sự thông minh sáng suốt, trí tuệ minh mẫn là biết đặt câu hỏi hay không đặt câu hỏi. Những người không chịu gần bậc thiện trí thức để học hỏi. Không chịu đặt câu hỏi để biết thế nào là thiện, thế nào là ác, những gì cần phải làm, những gì không nên làm v.v... Những người không chịu tìm tòi học hỏi, đặt câu hỏi thì sẽ tái sinh thành người chậm lụt, thiếu trí tuệ hoặc dễ trở thành ngu đần. Những người nào luôn luôn tìm tòi, học hỏi, biết hỏi han thế nào là hành động thiện, thế nào là hành động ác, điều gì thích nghi và điều gì không thích nghi, việc gì nên làm và việc gì không nên làm. Những người đó tái sinh làm người thông minh sáng suốt, bậc trí tuệ. Như vậy, đặt câu hỏi, tìm hiểu giáo pháp là nguyên nhân của sự thông minh trí tuệ, không đặt câu hỏi, là nguyên nhân của sự kém trí tuệ. Như vậy, bây giờ các bạn đã biết, đã hiểu do nguyên nhân gì, do thực hành điều gì đưa đến kết quả gì? - Giết hại chúng sinh đưa đến chết yểu hay có đời sống ngắn ngủi. Thực hành giới không sát sinh sẽ đưa đến sự trường thọ. Như vậy, có hai sự lựa chọn: - Nếu bạn muốn sống lâu thì đừng giết hại chúng sinh khác. Nếu bạn không cần sống lâu; cho rằng sống lâu hay chết sớm cũng không thành vấn đề thì đừng giữ giới này. - Nếu bạn muốn được khỏe mạnh trong tương lai thì đừng đánh đập hay làm tổn thương đến thân thể người khác. - Nếu bạn muốn đẹp đẽ thì đừng sân hận.- Nếu bạn muốn có uy quyền, ảnh hưởng đến người khác và được người khác tôn trọng thì đừng ganh tỵ hay đố kỵ. - Nếu bạn muốn giàu có thì hãy bố thí. - Nếu bạn muốn sinh trưởng trong gia đình quyền quí, cao sang thì phải biết khiêm nhường, không tự cao, tự đại.- Nếu bạn muốn thông minh, trí tuệ thì hãy đặt câu hỏi.Đó là những nguyên nhân đã tạo ra sự chênh lệch, sự bất đồng giữa người này và người khác. Đức Phật đã trả lời câu hỏi do chàng thanh niên Subha đặt ra và cuối bài giảng, một lần nữa, Đức Phật dạy rằng: Tất cả chúng sinh đều có Nghiệp là gia tài của họ. Họ là kẻ thừa kế của Nghiệp mà họ đã tạo. Chính Nghiệp đã làm cho người này khác với người kia. Như vậy, Đức Phật đã trả lời cho chàng thanh niên Shuba hiểu rằng: Tất cả sự bất đồng của con người không phải được tạo ra bởi Thượng Đế, Chúa Trời, Thần Thánh hay một cái gì cả. Do Nghiệp hay những hành vi tạo tác bởi thân, khẩu, ý của mỗi người mà họ sẽ nhận chịu những kết quả khác nhau. Do Nghiệp của chính họ trong quá khứ khiến họ sống lâu hay chết yểu, giàu sang hay nghèo hèn, thông minh hay ngu dốt. Chính Nghiệp đã tạo ra sự bất đồng trong kiếp hiện tại này. Và Nghiệp là gì mà nó tạo ra sự bất đồng của chúng sinh?Kamma (Nghiệp) thường được dịch là hành động. Thật ra, nghĩa chính xác của Nghiệp là tâm sở “cố ý” (Cetana) - Sự cố ý là một tâm sở hay một yếu tố - có nghĩa là muốn hay cố ý để làm một chuyện gì đó qua thân, khẩu, ý. Nghiệp chính thật là sự cố ý để làm một việc gì. Do “sự cố ý” này, người ta thực hiện hành động, lời nói hay ý nghĩ. Bởi vì mọi hành động, lời nói hay ý nghĩ đều được đi kèm với “sự cố ý” hay Nghiệp. Do đó, chữ Kamma hay Nghiệp nên dịch là sự “cố ý”, chứ không nên dịch là hành động. Chúng ta phải thận trọng về nghĩa của chữ Nghiệp, nếu không khi nói đến Nghiệp, chúng ta lại nghĩ đó là hành động.Nếu chúng ta muốn dùng chữ cho chính xác thì chúng ta phải nói Nghiệp là sự cố ý.Như vậy, Nghiệp hay sự cố ý là một tâm sở khởi sinh trong các loại tâm của chúng ta. Bởi vì, là một tâm sở nên nó có đặc tính: “khởi sinh rồi lại hoại diệt ngay”. Đặc tính sinh, diệt là đặc tánh chung của mọi sự vật trên thế gian. Mọi sự vật trên thế gian là Vô thường. Mọi sự vật đều có đặc tính khởi sinh rồi hoại diệt, đến rồi đi. Tâm sở cố ý cũng sinh và diệt như các tâm sở khác. Nhưng một điều cần lưu ý ở đây là: các tâm sở khác khởi sinh rồi hoại diệt ngay và chẳng để lại một chút ảnh hưởng nào cả. Nhưng tâm sở cố ý khi hoại diệt vẫn còn để lại tiềm năng đưa đến những hậu quả sau này. Tiềm năng của Nghiệp này nằm trong 'luồng tồn sinh' (hộ kiếp) của Tâm. Đó là lý do tại sao khi có điều kiện thuận lợi thì Nghiệp trổ quả. Một lần nọ, vua Milanda hỏi Đại đức Nāgasena rằng:"Bạch Ngài, Ngài có thể chỉ cho tôi biết Nghiệp chứa đựng ở đâu không?".Ngài Nagasana trả lời: "Không thể nào, nói một cách chính xác, Nghiệp được tồn trữ ở đâu. Nhưng Nghiệp tùy thuộc vào luồng bhavanga (luồng tồn sinh, luồng hộ kiếp), tùy thuộc vào Vật Chất và Tâm. Khi luồng tồn sinh gặp những điều kiện thuận lợi thì Nghiệp sẽ trổ quả". Mặc dầu chúng ta không thể nói một cách chính xác Nghiệp đã được tích chứa ở đâu, nhưng khi có điều kiện thuận tiện để cho Nghiệp tốt trổ sinh thì sẽ có quả. Như vậy, Nghiệp này, sự cố ý này, khi biến mất thì nó còn để lại một cái gì đó, để lại tiềm năng trong luồng tồn sinh (bhavanga) của chúng sinh, khi có điều kiện thuận tiện thì chúng sinh sẽ nhận chịu hậu quả.Ngài Nāgasena đã đưa ra một ví dụ về cây xoài: “Chúng ta không thể nào nói rằng trái xoài đã chứa ở đâu trong cây xoài: ở trong rễ, trong thân, hay trong cành, nhưng khi khi đến mùa, khi có đủ độ ẩm, khi có thời tiết thích hợp, khi có điều kiện thuận lợi… thì quả sẽ hình thành và cây sẽ trổ quả. Cũng vậy, mặc dầu không thể nói Nghiệp cất chứa ở đâu, nhưng khi có đủ điều kiện thuận tiện thì chúng ta sẽ nhận được quả của Nghiệp.Sau khi đã hiểu thế nào là Nghiệp, chúng ta cũng cần nên hiểu những gì không phải là Nghiệp. Một số học thuyết quan niệm rằng con người bị chi phối bởi Số Phận hay Tiền Định. Và Số Phận hay Tiền Định là cái gì được áp đặt lên chúng sinh bởi quyền lực kỳ diệu khó biết được, hoặc bởi thần thánh, bởi Thượng Đế, bởi Phạm Thiên… Nghiệp không phải là số phận hay Tiền Định theo quan niệm đó. Mỗi khi chúng ta đau khổ về chuyện gì hay mỗi khi chúng ta đạt được cái gì ta muốn, chúng ta nói:"Đây là quả của Nghiệp"Hay là chúng ta chỉ đơn giản nói:"Đây là Nghiệp của ta".Nhưng nếu gọi hay định nghĩa Nghiệp là số phận hay là tiền định đã được đặt định lên kẻ khác thì Nghiệp ta nói đây không phải là số phận hay tiền định đó. Kamma (Nghiệp) là những gì chúng ta đã cố ý làm trong quá khứ, và ta nhận chịu hậu quả của Nghiệp mà ta đã tạo, nhưng quả của Nghiêp đã tạo có thể xảy ra trong hiện tại hay trong tương lai.- Quả của Nghiệp là hậu quả đương nhiên của Nghiệp. - Quả của Nghiệp tốt hay xấu không phải do Thánh Thần, Thượng Đế, Phạm Thiên tạo ra. - Quả của Nghiệp, không phải là sự ban thưởng hay sự trừng phạt của Thần Linh, Thượng Đế v.v... - Quả tốt chúng ta gặt được không phải là phần thưởng của Thánh Thần, Thượng Đế. - Quả xấu chúng ta gặt được không phải là hình phạt của Thánh Thần, Thượng Đế. Những gì chúng ta gặt được đó là quả của những gì chúng ta đã làm. Quả của Nghiệp là của chính chúng ta, là kết quả của những gì chúng ta đã làm với sự cố ý. Như vậy, Nghiệp không phải là số phận hay tiền định do một quyền năng nào đó đặt định lên chúng ta mà Nghiệp là của sở hữu của chúng ta. Chúng ta nhận quả tốt hay quả xấu đều do chúng ta làm. Tóm lại, quả của Nghiệp không do ai tạo ra mà là kết quả đương nhiên của Nghiệp mà ta đã tạo.Có người nghĩ rằng chấp nhận Nghiệp chẳng khác nào "chủ bại" hay Nghiệp là chủ thuyết "chủ bại". Người theo chủ nghĩa "chủ bại" chấp nhận tất cả những gì đến với họ, và không thể làm gì để cải thiện chính mình. Đây là một quan niệm sai lầm. Nghiệp không phải như thế. Do tạo Nghiệp tốt ta sẽ nhận quả tốt ngay trong kiếp sống hiện tại. Như vậy, Nghiệp không phải là lý thuyết chủ bại. Nghiệp không phải là chủ bại, chấp nhận hay cam chịu với những gì xảy đến cho mình, mà không tìm cách tránh né hay cải thiện. Chúng ta chấp nhận rằng những gì tốt xấu xảy ra cho ta là do quả của Nghiệp, nhưng chúng ta cải thiện hoàn cảnh của chúng ta bằng cách tạo ra những Nghiệp thiện mới. Như vậy, Kamma không phải là thuyết "chủ bại" như một số người hiểu lầm. Một câu hỏi kế tiếp là: Chúng ta có thể biến đổi hay cải thiện các tác động hay hậu quả hay của Nghiệp không? Ngay chính Đức Phật cũng không can thiệp vào sự tác động của Nghiệp. Khi hoàng tử Vidūdabha quyết ý giết hại thân quyến của Đức Phật. Đức Phật không thể can thiệp được bởi vì đây là quả của Nghiệp mà thân quyến của Đức Phật đã tạo ra trước đây nên họ phải bị hoàng tử Vidūdabha tiêu diệt. Như vậy, Đức Phật không thể ngăn chặn quả khổ mà thân bằng quyến thuộc Ngài phải trả. Lý do là vì luật Nghiệp báo là một luật tự nhiên. Luật Nghiệp báo không do ai tạo ra. Luật Nghiệp báo không do Thượng Đế, ông trời hay thánh thần nào tạo ra cả. Đây là một luật tự nhiên. Bởi vì Nghiệp là luật tự nhiên, do đó không ai có thể can thiệp vào tác động của Nghiệp. Mặc dầu không thể can thiệp vào tác động của Nghiệp, nhưng chúng ta có thể biến đổi được phần nào tác động của Nghiệp. Đó là chúng ta có thể tạo ra những điều kiện bất thuận lợi cho Nghiệp bất thiện trổ quả. Nghĩa là chúng ta có thể hay làm cho Nghiệp bất thiện chậm trỗ quả hơn. Bởi vì, như tôi đã nói trước đây, Nghiệp chỉ trỗ quả khi có điều kiện thuận lợi. Khi không có điều kiện thuận lợi thì Nghiệp sẽ ở đó chờ. Nếu chúng ta tạo những điều kiện bất thuận lợi cho Nghiệp bất thiện trổ quả thì chúng ta có thể không nhận chịu hậu quả của Nghiệp bất thiện. Mặc dầu, không thể can thiệp vào luật Nghiệp báo, không thể thay đổi luật Nghiệp báo, nhưng chúng ta có thể tạo ra những điều kiện bất thuận lợi cho Nghiệp trổ quả. Ít nhất chúng ta có thể đình hoãn được sự trổ quả của Nghiệp trong một thời gian.Ngay Đức Phật cũng phải nhận chịu những quả xấu do những Nghiệp bất thiện mà Ngài đã tạo ra trước đây. Đức Phật thường bị đau đầu và đau lưng, và đôi khi bị cảm. Khi Devadatta xô một tảng đá lớn từ trên cao xuống để hại Đức Phật. Mặc dầu tảng đá lớn không rơi trúng Ngài, nhưng một mãnh đá nhỏ vỡ ra từ tảng đá lớn làm Ngài bị bầm máu nơi chân, Ngài phải chịu đau đớn, và vết bầm phải được mỗ để máu ứ đọng chảy ra. Ngay Đức Phật cũng không tránh khỏi hậu quả của những Nghiệp ác đã tạo trong quá khứ. Có rất nhiều câu chuyện cho ta thấy không ai có thể thoát khỏi hậu quả của các Nghiệp ác. Chúng ta không thể can thiệp vào những tác động của Nghiệp. Chúng ta không thể thay đổi dòng Nghiệp, nhưng chúng ta có thể làm cho hiệu quả của Nghiệp xấu triển hạn một thời gian - trong một số trường hợp hay trong một giới hạn nào đó. Không ai có thể xóa tan tất cả Nghiệp lực hay xóa tan toàn thể một Nghiệp lực nào mà mình đã tạo. Có nghĩa là không ai có thể tiêu trừ tất cả Nghiệp hay tất cả những quả của Nghiệp đã tạo, như vậy mọi người phải nhận chịu những hậu quả của Nghiệp mà mình đã tạo trong quá khứ. Tuy nhiên, vào lúc Giác Ngộ đạo quả A La Hán tất cả các Nghiệp đều bị tiêu diệt. Tâm Đạo vào lúc Giác Ngộ tầng thánh thứ tư được gọi là "tâm đã hoàn thành trách nhiệm tiêu diệt Nghiệp". Như vậy vào lúc đạt đạo quả A La Hán tất cả các Nghiệp đều diệt. Điều này không có nghĩa là tất cả các Nghiệp trong quá khứ đều bị diệt và vị A La Hán không còn nhận chịu các quả của Nghiệp quá khứ. Nhưng điều xảy ra là vào lúc Giác Ngộ A La Hán là tất cả các phiền não đều bị diệt ngay vào lúc ấy. Khi tâm không còn phiền não thì những gì vị đó làm thì chỉ đơn thuần là làm thôi mà không tạo nên Nghiệp nào nữa bởi vì vị A La Hán không còn dính mắc vào đời sống nào cả hay không còn dính mắc vào sự hiện hữu nào cả. Vị A La Hán không còn vô minh. Bởi thế, những gì vị A La Hán làm thì chỉ là tác động thôi mà không tạo ra Nghiệp. Nói cách khác, Vị A La Hán hay Đức Phật không còn tích lũy những Nghiệp mới nữa. Các Ngài không tạo nên Nghiệp mới nào dầu các Ngài có làm điều thiện đi nữa. Đức Phật đã dạy cho nhiều chúng sinh, Đức Phật đã giúp cho nhiều người thoát khỏi đau khổ. Những vị A La Hán cũng làm nhiều điều thiện lành cho các nhà sư khác và mọi người, nhưng các Ngài không gặt hái quả tốt khi các Ngài làm việc tốt. Những tác động của các Ngài hay Nghiệp của các Ngài được gọi là "Kiriya" (Duy tác) nghĩa là chỉ có tác động, chỉ có hành động xảy ra. Tất cả các Nghiệp đều hoàn toàn bị tiêu diệt ở tầng thánh thứ tư có nghĩa là sau khi vị này đạt tầng thánh thứ tư thì không còn tạo tác các Nghiệp nào nữa, và bởi vì không có Nghiệp nên sẽ không có quả của Nghiệp trong tương lai.Như vậy những Nghiệp các Ngài đã tạo trong quá khứ hay những Nghiệp cũ thì như thế nào? Các Ngài vẫn còn nhận chịu quả của những Nghiệp cũ, như Đức Phật vẫn còn đau khổ vì bị nhức đầu v.v... Những vị A La Hán khác vẫn còn bị đau khổ bởi bệnh tật và còn nhận chịu những quả của Nghiệp quá khứ. Các bạn còn nhớ chuyện Ngài Moggallāna đã bị 500 tên cướp giết chết v.v... Như vậy mặc dầu Phật và các vị A La Hán không tạo những Nghiệp mới, nhưng các Ngài vẫn còn những Nghiệp cũ nên các Ngài vẫn còn hưởng thụ hay nhận chịu hậu quả của những Nghiệp các Ngài đã làm trong quá khứ. Nhưng sau khi các Ngài nhập diệt, các Ngài không còn tái sinh nữa, nên những Nghiệp các Ngài đã tích tụ trong quá khứ không thể trả quả sau khi các Ngài chết. Các bạn đã biết câu chuyện của Ngài Anguli-māla. Angulimāla đã giết cả ngàn người. Đức Phật đến gặp ông ta và dạy đạo cho ông, sau đó ông trở thành một nhà sư và đắc quả A La Hán. Là một vị A La Hán, nhưng trước khi chết Ngài Angulimāla còn phải chịu đau khổ vì hậu quả của những Nghiệp bất thiện Ngài đã làm. Trước khi trở thành một nhà sư, Ngài đã tạo nhiều Nghiệp bất thiện. Nếu không trở thành một vị A La Hán, những Nghiệp bất thiện này sẽ trả cho Ngài rất nhiều kiếp. Nhưng sau khi đã đắc quả A La Hán, Ngài Angulimāla không còn tái sinh nữa nên những Nghiệp ác mà Ngài đã làm không thể cho quả. Như vậy, đối với Ngài Angulimāla, Nghiệp bất thiện đã trở thành vô hiệu. Giống như trường hợp một người sau khi phạm tội đại hình thì bị chết, và vì người này đã chết rồi nên quan tòa không thể xử phạt y nữa. Cũng vậy, khi một vị A La Hán tịch diệt, các Ngài không còn tái sinh nữa. Bởi vì không còn tái sinh nên những Nghiệp cũ không thể trả quả cho các Ngài sau khi các Ngài chết. Nghiệp của các Ngài đã trở thành vô hiệu. Khi ta nói những vị A La Hán đã hoàn thành việc tiêu diệt Nghiệp, điều này có nghĩa là các Ngài không còn tạo các Nghiệp mới nữa, nhưng các Ngài vẫn còn nhận chịu quả của các Nghiệp mà các Ngài đã tạo trong quá khứ. Nhiều Nghiệp trở thành vô hiệu có nghĩa là những Nghiệp này không còn trả quả cho Chư Phật và Chư A La Hán khi các Ngài đã mất; bởi vì Phật và A La Hán không còn tái sinh nữa.Chúng ta không muốn nhận chịu quả của những Nghiệp dữ, nếu vậy thì chúng ta đừng làm những Nghiệp dữ nữa. Nếu chúng ta đã làm Nghiệp dữ rồi thì sao? Đối với những Nghiệp dữ đã làm bây giờ chúng ta phải làm thế nào đây? Đức Phật dạy: "Dầu chúng ta có ăn năn hối hận về những Nghiệp xấu đã làm trong quá khứ thì Nghiệp xấu cũ đó cũng không thể nào sữa chữa lại". Những việc chúng ta đã làm rồi thì chúng ta không thể trở lại quá khứ để làm lại. Cái gì đã làm thì đã làm rồi, bởi thế ăn năn hối hận càng làm cho tình thế tệ hại hơn, và càng tích lũy nhiều hành vi bất thiện hơn. Càng ăn năn hối hận bao nhiêu, càng tiếc nuối bao nhiêu thì càng tăng thêm các Nghiệp ác đã tạo bấy nhiêu. Như vậy, ý Đức Phật muốn nói: "Quên nó đi". Đừng nhớ đến những Nghiệp quá khứ, vì càng nhớ thì càng tạo thêm Nghiệp bất thiện. Quên đi những Nghiệp bất thiện được gọi là "từ bỏ những Nghiệp bất thiện này và trong tương lai nguyện tránh xa các hành vi bất thiện đó".Như vậy, đối với những Nghiệp quá khứ đã tạo, trước tiên chúng ta đừng nghĩ đến chúng nữa, đừng hối hận vì đã làm những Nghiệp xấu đó nữa đồng thời cố gắng tránh xa hay tự chế không làm các hành vi hay Nghiệp xấu đó trong tương lai. Điều này được gọi là "loại trừ các Nghiệp xấu" hay "vượt qua các Nghiệp xấu". Như vậy, nếu chúng ta đã làm Nghiệp xấu trong quá khứ thì chúng ta đừng nhớ đến chúng nhiều lần, đừng ăn năn hối hận về chúng nhiều lần nữa, hãy để chúng sang một bên, cho chúng về quá khứ và từ nay tự chế, ngăn ngừa không làm những hành vi bất thiện tương tự trong tương lai. Bằng cách này, chúng ta đã để lại đàng sau tất cả những Nghiệp bất thiện. NHỮNG HIỂU BIẾT SAI LẦM HAY TÀ KIẾN VỀ KAMMA (Nghiệp). 1. Tà kiến hay sự hiểu biết sai lầm thứ nhất:"Tất cả những cảm thọ mà một người nhận chịu dầu đó là lạc thọ, khổ thọ hay vô ký thọ đều là kết quả của Nghiệp quá khứ, người nào quan niệm như vậy là tà kiến".Bạn có đồng ý như vậy chăng? Tôi xin lập lại "Những cảm thọ mà một người nhận chịu: Lạc thọ, khổ thọ hay vô ký thọ đều là kết quả của Nghiệp quá khứ, ai quan niệm như vậy là tà kiến".Muốn hiểu câu nói này thì bạn phải hiểu về những cảm thọ hay hiểu tất cả những tâm quả đi kèm với tâm sở thọ, chúng đi kèm với những tâm thiện và bất thiện, và chúng đi kèm với tâm Kiriya (tâm duy tác), khởi sinh trong tâm vị A La Hán Đối với những cảm thọ đi kèm với tâm quả thì câu này đúng, phải không? Đúng vậy. Bởi vì, giả sử tôi đau ở đây. Kinh nghiệm về sự đau là kết quả của Nghiệp quá khứ. Đó là tâm quả; điều này đúng. Nhưng ngay trong khi chúng ta làm các hành vi thiện hay bất thiện trong hiện tại thì chúng ta có "tâm thiện" và "tâm bất thiện". Trong tâm thiện và bất thiện đó có sẵn lạc thọ, khổ thọ và vô ký thọ. Những thọ này đâu phải là kết quả của Nghiệp quá khứ, những thọ này là những gì ta tạo trong hiện tại. Tâm khởi sinh trong các vị Phật và các vị A La Hán cũng vậy. Các Ngài cũng có lạc thọ, khổ thọ (về thân) hay vô ký thọ. Những cảm thọ của các Ngài hay những kinh nghiệm về những cảm thọ của các Ngài không phải là kết quả của Nghiệp. Như vậy, nếu bạn nói rằng những cảm thọ: lạc khổ hay vô ký mà một người đã nhận chịu là quả của Nghiệp trong quá khứ thì đó là quan niệm sai lầm. 2. Một loại tà kiến hay hiểu biết sai lầm khác là: "Những cảm thọ lạc, khổ và vô ký mà ta kinh nghiệm được tạo ra bởi đấng sáng tạo hay Thượng Đế." Điều này có nghĩa là những cảm thọ mà một người có thể kinh nghiệm được do Thượng Đế tạo ra. Thượng Đế tạo ra niềm vui, tạo ra sự khổ cho họ. Nếu bạn quan niệm như vậy thì đó cũng là tà kiến hay sự hiểu biết sai lầm về Kamma. Thật vậy, cho rằng Thượng Đế tạo ra niềm vui, tạo ra sự khổ là một quan niệm thật sai lầm! 3. Một loại tà kiến khác là: “Tất cả các cảm thọ: lạc, khổ, vô ký mà một người nhận chịu chẳng có nguyên nhân, chẳng có điều kiện gì cả”. Chẳng có cảm thọ nào khởi sinh mà không có nhân duyên. Mọi cảm thọ đều tùy thuộc vào nhân duyên. Không có nguyên nhân (nhân), không có điều kiện (duyên) thì cảm thọ không thể khởi sinh. Nói rằng: "Hạnh phúc hay đau khổ của người này... chẳng có nhân duyên gì cả” Đó là câu nói sai lầm".Nói rằng: “Lạc thọ, khổ thọ được tạo ra bởi Chúa Trời hay Thượng Đế” thì cũng sai lầm. Bởi vì tất cả mọi sự vật đều phát sinh do một số điều kiện nào đó chứ không phải được sáng tạo bởi Trời hay Thượng Đế. Nói rằng: “Những cảm thọ khởi sinh chẳng do nguyên nhân hay điều kiện nào cả”. Đó cũng là một câu nói sai lầm bởi vì “tất cả mọi sự vật đều phát sinh do một số điều kiện nào đó chứ không phải tự nhiên phát sinh”. Quan niệm sai lầm thứ hai: “Cảm thọ được tạo ra bởi Chúa Trời” và quan niệm sai lầm thứ ba: “Cảm thọ khởi sinh chẳng do nhân duyên nào cả”, Hai quan niệm này thật dễ hiểu, nhưng quan niệm sai lầm đầu tiên: "Những cảm thọ mà một người nhận chịu đều là kết quả của Nghiệp quá khứ” hơi khó hiểu một chút. Muốn hiểu quan niệm đầu tiên này bạn phải hiểu Abhidhamma. Có một đoạn văn rất quan trọng, nhưng cũng rất khó hiểu là: "Ta không hề dạy rằng Nghiệp đã làm có thể bị tiêu diệt mà không phải trả các quả trong đời sống này, trong đời sống kế tiếp hay trong đời sống kế tiếp nữa". Tôi nghĩ rằng câu này cũng không khó hiểu lắm, chúng ta có thể hiểu như vầy: “Nghiệp sẽ không bị tiêu diệt nếu chưa trả quả”, có nghĩa là “khi Nghiệp chưa trả quả thì Nghiệp chưa diệt” và “sau khi đã trả quả thì Nghiệp diệt mất”, đại khái như vậy. Điều này không khó hiểu.Nhưng câu kế tiếp rất khó hiểu: "Ta không dạy rằng: Có thể làm cho Nghiệp đã tạo chấm dứt mà không cần phải trả". Câu này có nghĩa là: “Ta không dạy rằng có thể chấm dứt đau khổ mà không cần phải trả quả của các Nghiệp đã tạo”. Có nghĩa là trước khi chấm dứt sự đau khổ bạn phải nhận chịu những hậu quả của nó.Câu này khiến tôi suy nghĩ nhiều. Thật là khổ cho tôi: "Trước khi chấm dứt sự đau khổ bạn phải nhận chịu những hậu quả của nó". Nghĩa là: “Nếu bạn chưa nhận chịu quả của các Nghiệp đã tạo thì bạn không thể chấm dứt đau khổ”. Như vậy, nếu bạn muốn chấm dứt đau khổ thì bạn phải trả hết các quả của Nghiệp đã tạo? Không phải vậy? Thế thì câu này có nghĩa như thế nào? Tôi cũng không biết nữa! Tôi muốn các bạn suy nghĩ về điều đó. Nhưng đừng suy nghĩ trong khóa thiền này. Sau khóa thiền này các bạn hãy suy nghĩ nhiều lần và tôi sẽ cho biết ý kiến của tôi trong khóa thiền tới. Khi tôi đọc câu trên, tôi không hiểu, tôi bèn đọc chú giải. Nhưng chú giải chẳng giải thích tý nào về câu này. Chú giải giữ im lặng. Tôi bèn giở phụ chú giải ra để xem. Nhưng phụ chú giải cũng chẳng nói gì. Cả hai chú giải và phụ chú giải đều làm tôi đau khổ. Như vậy, khi hỏi câu hỏi này, tôi cũng làm các bạn đau khổ. Các bạn hãy suy nghĩ về điều này và chúng ta sẽ gặp lại trong kỳ tới...***** Trong khóa thiền vừa rồi, khi nói về luật Nghiệp báo tôi đã gởi đến các bạn một đoạn văn về Nghiệp báo. Đoạn văn này nói: "Ta không hề dạy rằng Nghiệp đã tạo có thể bị tiêu diệt không phải trả các quả trong đời sống này, trong đời sống kế tiếp hay trong đời sống kế tiếp nữa".Những điều Đức Phật dạy là: "Ta không dạy rằng có thể chấm dứt Nghiệp đã tạo, đã tích lũy, mà không phải nhận chịu hậu quả của chúng”, điều này có nghĩa là “Nghiệp sẽ không bị tiêu diệt khi chưa được trả quả trong đời sống này, trong đời sống kế tiếp, hay trong các đời sống kế tiếp nữa”. Đức Phật tiếp tục dạy rằng: "Ta không dạy rằng sự đau khổ có thể chấm dứt mà không cần phải nhận chịu hậu quả của các Nghiệp đã tạo". Câu này có nghĩa là: “Không thể chấm dứt sự đau khổ nếu không nhận chịu hậu quả của Nghiệp đã tạo” hay: “Phải nhận chịu hết hậu quả của Nghiệp đã tạo đau khổ mới chấm dứt”. Trước tiên khi đọc câu này, chúng ta cảm thấy hơi kỳ lạ, câu đầu tiên nói rằng: "Nghiệp sẽ không chấm dứt nếu quả của chúng chưa được trả. Quả của các Nghiệp có thể trả trong kiếp sống này, trong kiếp sống kế tiếp hay trong các đời sống tiếp theo nữa. Nhưng theo luật về Nghiệp báo thì Nghiệp sẽ vô hiệu nếu nó không trả quả vào lúc nó phải trả quả. Có những Nghiệp trả quả trong kiếp sống này, có những Nghiệp trả quả trong kiếp sống tới, có những Nghiệp trả quả trong những kiếp sống kế tiếp kiếp tới và vô số kiếp sau đó nữa cho đến khi chúng ta trở thành một vị A La Hán và chết.Nếu Nghiệp phải trả quả trong kiếp sống này mà không trả quả được bởi vì thiếu điều kiện thuận lợi thì Nghiệp này vô hiệu. Những Nghiệp phải trả quả trong kiếp này, nhưng nếu Nghiệp đó không trả quả vì lý do nào đó thì chúng trở thành vô hiệu và chúng sẽ không trả quả trong kiếp tới hay trong những kiếp sau nữa. Cũng vậy, những Nghiệp phải trả quả trong kiếp kế tiếp, nhưng nếu Nghiệp đó không trả quả trong kiếp kế tiếp vì lý do nào đó thì chúng trở thành vô hiệu và chúng sẽ không trả quả trong những kiếp sau nữa, cho đến khi chấm dứt vòng sinh tử luân hồi. Cũng vậy, những Nghiệp trả quả bắt đầu trong kiếp sống này và kéo dài cho đến các kiếp sau nữa cho đến khi chấm dứt vòng luân hồi sẽ trở thành vô hiệu khi chúng ta trở thành A La Hán và chết. Những Nghiệp cho quả trong kiếp này, sẽ không bị tiêu diệt hay vô hiệu nếu chưa trả quả trong kiếp sống này. Nhưng sau kiếp sống này chúng sẽ không trả quả nữa và trở thành vô hiệu. Loại Nghiệp thứ hai cho quả trong kiếp sống tới. Bao lâu chúng trưa trả quả trong kiếp sống tới và bao lâu mà kiếp sống tới còn hiện hữu thì Nghiệp đó không trở thành vô hiệu. Khi thời gian cho quả đã trôi qua, có nghĩa là khi người tạo nghiệp đã tái sinh trong kiếp tới, thì Nghiệp này trở thành vô hiệu. Loại Nghiệp thứ ba cho quả trong kiếp thứ ba và các kiếp sống tới cho đến khi chấm dứt vòng luân hồi, những Nghiệp này sẽ không vô hiệu bao lâu chúng ta còn ở trong vòng sinh tử luân hồi. Ở đây, chú giải giải thích rằng chúng ta không thể nào thoát khỏi hậu quả của Nghiệp khi chúng ta còn ở trong vòng sinh tử luân hồi.Câu thứ hai nói rằng không thể chấm dứt sự đau khổ nếu không trả các Nghiệp đã tạo. Câu này có nghĩa là nếu chưa trả hết quả của Nghiệp đã tạo thì chúng ta không thể chấm dứt đau khổ. Chúng ta không thể vứt bỏ loại Nghiệp này. Nếu vứt bỏ nghiệp này, có nghĩa là không nhận chịu hậu quả của nó, thì đau khổ của chúng ta không thể chấm dứt. Trong thực tế, làm sao có thể trả hết các Nghiệp quá khứ được, bởi vì Nghiệp quá khứ quá nhiều, một khối Nghiệp khổng lồ mà chúng ta đã tạo trong nhiều kiếp quá khứ. Nếu chúng ta phải nhận chịu tất cả quả của Nghiệp tốt xấu mới có thể chấm dứt được đau khổ thì chẳng bao giờ chúng ta hết đau khổ được. Câu trên hàm ý rằng: "Trước khi chúng ta trở thành A La Hán hay rời bỏ vòng luân hồi sinh tử này thì chúng ta phải nhận chịu các hậu quả của các Nghiệp đã tạo". Như vậy, tất cả chúng sinh đều phải nhận chịu hậu quả của Nghiệp đã tạo. Không chúng sinh nào không nhận chịu hậu quả của các Nghiệp tốt xấu mình đã tạo. Như vậy, những gì hàm ý trong câu này, theo ý kiến của tôi, là tất cả chúng ta phải nhận chịu hậu quả của các Nghiệp tốt xấu đã tạo. Nếu chúng ta không trả hết hay nhận chịu hết các Nghiệp tốt xấu mà mình đã tạo trong quá khứ thì sẽ không chấm dứt được đau khổ.Hãy lấy trường hợp Trưởng lão Angulimāla. Như các bạn đã biết, Trưởng lão Angulimāla trước đây là một tên cướp đã giết cả ngàn người. Khi được gặp Đức Phật, được nghe những lời giáo hóa của Ngài, Trưởng lão Angulimāla vứt bỏ vũ khí trở thành học trò của Đức Phật. Sau khi trở thành một nhà sư, Trưởng lão Angulimāla tinh tấn hành thiền và trở thành một vị A La Hán.Trong thời gian làm tên cướp, trưởng lão Angulimāla giết cả ngàn người, và đã tạo nhiều ác Nghiệp. Những Nghiệp này sẽ trả quả trong kiếp sống này, sẽ trả quả trong kiếp tới, và sẽ trả quả trong các kiếp sống sau nữa. Những Nghiệp phải trả quả trong kiếp tới và phải trả quả trong các kiếp sống sau nữa sẽ vô hiệu bởi vì Ngài không còn tái sinh nữa, nhưng Ngài phải nhận chịu hậu quả của Nghiệp trả trong kiếp sống hiện tại. Bởi thế trong những ngày làm nhà sư Ngài đã nhận chịu nhiều quả đau khổ như bị đánh đập, ném đá và đói khát vì không ai dâng cúng cho Ngài... Sau khi Trưởng Lão trở thành một nhà sư rồi, nhưng mọi người vẫn còn sợ Ngài. Mỗi khi thấy Trưởng Lão, họ sợ hãi bỏ chạy, vào nhà đóng chặt cửa lại, bởi vậy Ngài rất khó có được đầy đủ thức ăn. Đôi lúc người ta ném đá Ngài, đá trúng đầu Ngài làm bể đầu chảy máu. Ngài đau khổ bởi vì phải nhận chịu quả của các Nghiệp xấu mà Ngài đã tạo và các Nghiệp này đã cho quả trong kiếp hiện tại, nhưng với các quả sẽ trả trong kiếp kế tiếp và trong các kiếp sau nữa sẽ trở thành vô hiệu bởi vì Ngài đã ra khỏi vòng luân hồi và khi chết Ngài chết với tư cách là một vị A La Hán. Như vậy trong trường hợp của Trưởng Lão Angulimāla thì Trưởng Lão đã thành tựu trong việc làm chấm dứt đau khổ mà không cần phải nhận chịu tất cả các hậu quả của Nghiệp đã tạo. Ngài chỉ nhận chịu các quả của Nghiệp trả trong kiếp hiện tại mà thôi. MỘT SỐ CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN NGHIỆP: Cây cỏ, cát đá có Nghiệp không? Một số người nghĩ rằng đây là câu hỏi khờ dại, nhưng có một số người, hy vọng là không có các bạn ở đây, nghĩ rằng: Cây cỏ, cát đá có Nghiệp. Theo Phật Giáo cây cỏ, cát đá không phải là chúng sinh mặc dầu chúng có đời sống, nhưng không phải là sinh vật, theo Vi Diệu Pháp thì gọi chúng là không có đời sống, điều này có nghĩa chúng không phải là chúng sinh. Và vì không phải là chúng sinh cho nên chúng không có Nghiệp. Tuy không có Nghiệp, nhưng cây cỏ, cát đá cũng tùy thuộc vào một số điều kiện vật chất như độ ẩm, khí hậu, chất bổ dưỡng v.v... Mặc dầu không có Nghiệp, nhưng chúng cần có những điều kiện để khởi sinh và sống còn. Như vậy, cây cỏ cát đá cũng cần một số điều kiện mặc dầu chúng không có Nghiệp. Sự liên hệ nhân quả giữa những vật vô tri này sẽ được giảng giải sau này với những dẫn chứng về Paṭṭhāna (Duyên hệ duyên).Đối với súc vật thì chúng có Nghiệp không? Tất cả súc vật đều có ngũ uẩn như con người bởi thế chúng là sinh vật hay chúng sinh, bởi vì là chúng sinh nên chúng có Nghiệp. Chúng sinh tạo Nghiệp và tích tụ Nghiệp. Loài vật sinh ra làm con vật cũng là kết quả của Nghiệp ác đã tạo trong quá khứ, như vậy loài vật cũng có Nghiệp và cũng có làm hay tạo ra Nghiệp, nhưng cây cỏ, đất đá và những vật vô tri khác không có Nghiệp. Một vài đoạn trong sách Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đề cập đến Nghiệp và quả đây là những đoạn văn rất quan trọng chúng ta cần phải ghi nhớ: "Nghiệp và quả liên hệ làm thành một cái vòng giống như hạt giống và cây, cái này sinh ra cái kia, rồi cái kia sinh ra cái này, khó biết đâu là đầu, đâu là cái bắt đầu". Nghiệp và quả cái này theo cái kia. Đây là Nghiệp thiện hay Nghiệp ác và do hậu quả của Nghiệp thiện và Nghiệp ác nên có tái sinh vào bốn đường dữ hoặc tái sinh làm người hay trời trong suốt thời gian chúng sinh đang hiện hữu, chúng sinh tạo nên các Nghiệp mới. Vì tạo nên các Nghiệp mới nên phải nhận quả của Nghiệp trong tương lai. Như vậy Nghiệp và quả của Nghiệp diễn biến, diễn biến… như vậy.Cũng như hạt và cây, hạt mọc thành cây rồi cây lại có hạt, rồi do hạt này lại có cây mới, cây mới lại sinh ra hạt, hạt mới này lại sinh ra cây... cũng giống như trường hợp chúng ta nói gà đẻ trứng, khó nói cái gì đầu tiên. Chúng tiếp tục diễn biến không có cái gì đầu tiên. Không thể nào cho ta thấy cái gì khởi đầu. Chúng ta có thể trở về quá khứ tìm nhân của nó, dầu ta có trở về bao xa đi nữa, chúng ta cũng không bao giờ thấy được cái khởi đầu. Như vậy, không có cái khởi đầu của Nghiệp và quả của nó mặc dầu có cái vòng luân lưu của Nghiệp và quả trong vòng luân hồi tái sinh. Không thể nào chỉ ra được trong tương lai vòng tái sinh. Trong tương lai chúng chắc chắn sẽ khởi sinh bởi vì hể có Nghiệp hiện tại thì sẽ có quả trong tương lai. Trong triết học của Hindu có lý thuyết Samkhya là một trong sáu lý thuyết triết học của đạo này tin tưởng rằng quả có sẵn trong nhân, nhưng dưới trạng thái không hiển lộ, khi nhân hiển lộ thì nó thành quả. Theo lý thuyết triết học này thì quả đã có sẵn trong nhân. Khi nhân chín muồi và khi nhân đạt đến tầng mức cao nhất của sự chín muồi thì biến thành quả. Trong triết thuyết này Nghiệp hay nhân và quả đều là một.Phật Giáo không chấp nhận triết thuyết đó, trong Phật Giáo được dạy rằng: Nghiệp là một chuyện và quả là một chuyện khác. Thanh Tịnh Đạo nói: "Không có Nghiệp trong quả và không có quả hiện hữu trong Nghiệp". Như vậy, không có Nghiệp trong quả và không có quả trong Nghiệp. Nghiệp và quả là hai thứ khác nhau, mặc dầu trong cái này không có cái kia, mặc dầu chúng khác nhau, nhưng không thể nào có quả mà không có Nghiệp và chẳng bao giờ có trường hợp có quả mà không có Nghiệp. Như vậy, quả và Nghiệp có sự liên hệ nhân và quả, nhưng quả là một chuyện và nhân là một chuyện khác. Chúng không đồng hóa với nhau. Muốn tạo nên lửa người ta có thể dùng một kính khuyếch đại để dưới ánh nắng mặt trời rồi dưới kiếng để một mãnh giấy hay một miếng bông. Ánh nắng mặt trời xuyên qua kính, hội tụ tại một điểm tạo ra sức nóng làm cháy tờ giấy hay miếng bông và tạo ra lửa. Lửa không nằm sẵn trong ánh mặt trời, không nằm sẵn trong giấy hay bông gòn, lửa cũng không nằm ngoài ánh nắng mặt trời, giấy hay bông gòn, nhưng khi phối hợp ba nhóm yếu tố này lại theo điều kiện nào đó thì lửa phát sinh. Chúng đã phối hợp theo điều kiện. Như vậy, lửa không hiện hữu trong ánh nắng mặt trời, không hiện hữu trong giấy, không hiện hữu trong miếng bông. Nếu lửa hiện hữu trong những tia sáng của mặt trời, trong giấy hay trong bông thì chúng đã cháy rồi, và luôn luôn lúc nào chúng cũng sẽ cháy. Lửa không ở trong chúng bởi vậy khi đặt chúng riêng rẽ chúng không thể cháy được, nhưng khi đặt chúng với nhau trong một số điều kiện nào đó thì lửa sẽ phát sinh. Vậy do đâu mà lửa hiện hữu chúng hiện hữu bên trong hay bên ngoài chúng? Chúng ta không thể nói rằng: lửa hiện hữu nơi đâu ngoài những vất đó, lửa chỉ khởi sinh khi có sự phối hợp của nhiều thành phần bằng phương tiện điều kiện hay tạo duyên. Điều kiện hay duyên ở đây là mặt trời, giấy và bông gòn. Khi đặt các thứ ấy với nhau trong một điều kiện nào đó thì sẽ có lửa, nhưng lửa không hiện hữu trong tia nắng mắt trời, trong kiếng, trong giấy hay trong bông, nhưng không có những thứ này thì thể tạo nên lửa.Tương tự như vậy, không có quả trong Nghiệp và không có Nghiệp trong quả. "Không thể nào tìm được quả trong Nghiệp, không thể nào tìm được quả ngoài Nghiệp. Không có Nghiệp nào còn duy trì trong quả mà nó đã tạo". Như vậy không thể nào tìm được quả trong Nghiệp cũng thể nào tìm được quả ngoài Nghiệp. Không có Nghiệp nào còn duy trì trong quả mà nó đã tạo. Như vậy Nghiệp không duy trì trong quả. Có nghĩa là Nghiệp không không nằm trong quả mà nó đã tạo. "Nghiệp của 'quả của Nghiệp' đã tạo bị hủy diệt", nghĩa là trong Nghiệp không có quả của Nghiệp. Không có quả hiện diện trong Nghiệp, không có quả nào ở trong Nghiệp, nhưng quả vẫn còn sinh ra từ Nghiệp đó. Quả sinh ra từ Nghiệp và hoàn toàn tùy thuộc vào Nghiệp. Như vậy, tất cả tùy thuộc vào Nghiệp, hoàn toàn tùy thuộc vào Nghiệp mà quả của Nghiệp phát sinh.Không chỗ nào trong vòng luân hồi tái sinh có thể tìm thấy chúa trời, Thượng Đế hay đấng sáng tạo. "Thật vậy, vòng luân hồi tái sinh không phải do đấng sáng tạo, chúa trời hay Thượng Đế tạo ra. Chúng là kết quả tự nhiên của luật Nghiệp báo". Chỉ có hiện tượng của Nghiệp và quả của Nghiệp trôi chảy mà thôi. Chúng tiếp tục trôi chảy. Sự trôi chảy của hiện tượng Vật Chất và Tâm này được gọi là vòng tái sinh. Chẳng có Chúa Trời, Đấng sáng tạo hay Thượng Đế hiện diện, chỉ có hiện tượng tâm vật lý tùy thuộc vào các điều kiện tiếp tục trôi chảy thôi. MỘT VÀI LỢI ÍCH CỦA SỰ HIỂU BIẾT LUẬT NGHIỆP BÁO. Là những người Phật Tử chúng ta hiểu luật Nghiệp báo theo những lời dạy của Đức Phật. Sự hiểu biết về luật Nghiệp báo này mang lại nhiều lợi ích. Sau đây là một vài lợi ích. 1. Hiểu biết luật Nghiệp báo làm thoả mãn óc tìm tòi hiểu biết của chúng ta về sự bất bình đẳng của người, của chúng sinh. Chúng ta muốn biết tại sao chúng sinh khác nhau, tại sao chúng sinh không giống nhau, mặc dầu chúng đều là chúng sinh. Tại sao có sự bất đồng giữa người với người giữa loài vật với loài vật. Sự bất đồng giữa các chúng sinh đã được giải thích một cách hữu lý theo luật Nghiệp báo. Sự hiểu biết về luật Nghiệp báo thỏa mãn lòng mong mỏi hiểu biết của chúng ta về sự bất đồng giữa các chúng sinh. Chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy rằng nhờ hiểu biết luật Nghiệp báo mà nhiều người đã trở thành Phật tử. 2. Hiểu biết luật Nghiệp báo mang lại niềm hy vọng cho chúng ta. Chúng ta luôn luôn hy vọng mình sẽ khá hơn, tốt hơn trong tương lai. Chúng ta không thỏa mãn với những gì mà chúng ta đang có trong hiện tại. Chúng ta có thể luôn luôn cải thiện điều kiện và hoàn cảnh chúng ta bằng cách tạo những Nghiệp lành. Như vậy hiểu biết luật Nghiệp báo mang lại cho ta niềm hy vọng. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ mất niềm hy vọng. 3. Hiểu biết luật Nghiệp báo sẽ an ủi chúng ta những khi chúng ta gặp nghịch cảnh. Hiện nay con người gặp rất nhiều nghịch cảnh và gặp nghịch cảnh nhiều lần trong cuộc sống của họ: mất của cải, tài sản, buôn bán lỗ lã, mất bạn bè, mất người thân yêu. Những người không hiểu biết luật Nghiệp báo khi gặp những nghịch cảnh như thế họ sẽ không có niềm an ủi, họ có thể trở nên thất vọng, xuống tinh thần nhiều khi hủy cả mạng sống của mình, nhưng những người hiểu biết luật Nghiệp báo có thể hiểu rằng những nghịch cảnh này là kết quả của những Nghiệp mà họ đã làm trong quá khứ, họ sẽ thấy chẳng có ai để trách cứ ngay cả trách cứ chính mình. Như vậy, người hiểu luật Nghiệp báo sẽ có được niềm an ủi lớn lao khi gặp cảnh không toại ý hay nghịch lòng. 4. Hiểu biết luật Nghiệp báo giúp ta có đủ sức mạnh tinh thần, không bị chao đảo trước mọi thăng trầm của cuộc sống. Sống trong cuộc đời này, nhiều lúc chúng ta phải chịu cảnh thăng trầm theo cuộc sống. Chúng ta không thể nào tránh khỏi thành công và thất bại, được danh, mất danh, được lợi, mất lợi, được khen bị chê, đau khổ, hạnh phúc trong cuộc sống này. Khi hiểu biết luật Nghiệp báo thì dầu gặp cảnh thành công hay thất bại, hanh phúc hay đau khổ chúng ta vẫn bình tâm. Đứng trước mọi hoàn cảnh tốt xấu chúng ta sẽ không bị chao đảo, lay động. Không bị giao động trước sự thành công hay thất bại là một điều rất quan trọng. Khi thành công hạnh phúc người ta cảm thấy hân hoan thỏa mãn, nhưng khi gặp thất bại người ta sẽ âu sầu buồn nản xuống tinh thần. Bởi vậy, cuộc sống của họ mang nhiều nỗi khốn cùng đau khổ. Nếu chúng ta hiểu biết luật Nghiệp báo, chúng ta có thể đối diện với chúng một cách bình thản không bị chúng ảnh hưởng. 5. Hiểu biết luật Nghiệp báo giúp chúng ta biết được tiềm năng to lớn của chính mình; đó là chính chúng ta có thể tạo nên tương lai cho chúng ta. Chúng ta phải nhận hậu quả của các Nghiệp mà chúng ta đã tạo, bởi thế chúng ta có thể tạo tương lai cho chính mình bằng cách tạo nên những nghiệp thiện trong hiện tại. Chúng ta có đủ năng lực để tạo tương lai cho chính chúng ta nếu chúng ta có sự hiểu biết về luật Nghiệp báo. Không những biết đến năng lực tiềm tàng của mình, chúng ta còn biết rằng: chính năng lực này sẽ tạo dựng cho đời sống tương lai của chúng ta. Chúng ta có năng lực để tạo cho đời sống tương lai của chúng ta tốt hơn đời sống hiện tại. Như vậy, sự hiểu biết luật Nghiệp báo đã giúp cho chúng ta hiểu rằng chúng sinh có năng lực tiềm tàng để tạo nên tương lai này. Chúng ta không cần tìm kiếm năng lực bên ngoài cũng không cần tìm kiếm năng lực của các vị thánh thần để tạo nên tương lai của chúng ta. Thực vậy, chỉ một mình chúng ta mới có thể tạo nên tương lai cho chúng ta. 6. Hiểu biết luật Nghiệp báo giúp cho chúng ta hiểu biết trách nhiệm của mình. Bởi vì quả của Nghiệp mà ta đang nhận chịu có nguyên nhân là Nghiệp của chính chúng ta. Bởi vậy, chúng ta an vui hạnh phúc hay đau khổ chính chúng ta chịu trách nhiệm. Bởi vì chúng ta chịu trách nhiệm về những hạnh phúc và đau khổ của chúng ta nên chúng ta không trách cứ kẻ khác hoặc trách cứ hoàn cảnh hay điều kiện bên ngoài. Như vậy, nhờ hiểu biết luật Nghiệp báo mà chúng ta có trách nhiệm về chính mình. Nếu chúng ta muốn tốt đẹp hơn trong tương lai thì chúng ta phải tạo các Thiện Nghiệp ngay bây giờ. Tóm lại, nhờ hiểu biết luật Nghiệp báo, chúng ta sẽ trở thành người có trách nhiệm về chính mình. 7. Hiểu biết luật Nghiệp báo cũng giúp chúng ta tránh xa hành vi xâm hại kẻ khác và trở thành người có lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh. Nếu chúng ta làm hại kẻ khác thì chúng ta sẽ nhận chịu các hậu quả đau thương do Nghiệp của chúng ta đã tạo. Vì chúng ta không muốn tự mình làm mình đau khổ nên chúng ta sẽ không làm kẻ khác đau khổ. Như vậy, hiểu biết luật Nghiệp báo giúp chúng ta tránh được những hành vi xâm hại hay gây thương tích cho chúng sinh. Tại sao hiểu biết luật Nghiệp báo giúp chúng ta có lòng bi mẫn đối với chúng sinh khác? Bởi vì chúng ta hiểu biết rằng: khi có lòng bi mẫn đối với chúng sinh khác là chúng ta đã tạo các Nghiệp thiện lành, và các Nghiệp thiện lành này sẽ trả quả tốt đẹp trong tương lai. 8. Nhờ hiểu biết luật Nghiệp báo nên chúng ta có thể giúp cho xã hội này sống an vui hạnh phúc, có tình thương, có hiểu biết, có sự sống chung hài hòa. Còn nhiều lợi ích của sự hiểu biết luật Nghiệp báo nữa. Tôi mong muốn các bạn tự suy nghĩ và cho thêm vào. CÁC LOẠI NGHIỆP Sau khi đã tìm hiểu Nghiệp một cách tổng quát, bây giờ chúng ta hãy nghiên cứu các loại Nghiệp. Trước tiên, Nghiệp có thể chia làm hai loại: Thiện Nghiệp và Bất Thiện Nghiệp. Một cách phân loại khác là phân loại theo chức năng. Tôi không thể giảng giải ở đây về chi tiết ở các loại Nghiệp khác nhau này. Nếu các bạn muốn biết nhiều chi tiết hơn về các loại Nghiệp này thì các bạn hãy đọc trong Abhidhammatha sangaha (Vi Diệu Pháp Lược Giải). Nghiệp được chia làm bốn nhóm, mỗi nhóm gồm bốn Nghiệp. Nhóm đầu tiên phân loại theo chức năng. Nhóm thứ hai phân loại theo cách thức cho quả. Nhóm thứ ba phân loại theo thời gian trả quả: Nhóm thứ tư phân loại theo nơi chốn cho quả. 1. Khi phân loại theo chức năng chúng ta có bốn loại Nghiệp. a. Đầu tiên là Nghiệp Tạo Tác, có nghĩa là Nghiệp tạo ra hậu quả. b. Thứ hai là Nghiệp Hỗ Trợ. Nghiệp Hỗ Trợ chính nó không tạo ra quả, nhưng Nghiệp này hỗ trợ cho Nghiệp Tạo Tác. c. Thứ ba là Nghiệp Cản Trở. Nghiệp này, cũng vậy, chính nó không tạo ra quả, nhưng nó làm cản trở cho Nghiệp Tạo Tác. d. Thứ tư là Nghiệp Hủy Diệt. Nghiệp Hủy Diệt, hủy diệt quả của Nghiệp Tạo Tác. Như vậy tùy theo chức năng của các Nghiệp mà Nghiệp được chia làm bốn.Chẳng hạn Nghiệp tạo tác giúp cho một người sinh ra làm người. Như vậy kết quả của Nghiệp Tạo Tác là một người ra đời. Trong suốt cuộc sống của người này, y hưởng thụ sức khỏe tốt, giàu có, sống lâu, sắc đẹp v.v... Những điều mà người này có được là hậu quả của Nghiệp Hỗ Trợ. Nếu người này không mạnh khỏe, nếu người này nghèo, nếu người này không sống lâu thì đó là do Nghiệp Cản Trở phát sinh. Nếu người này chết vì tai nạn hay chết ngay tức khắc bởi một bệnh nào đó thì đó là Nghiệp Hủy Diệt đã phát sinh. Nghiệp Tạo Tác cho kết quả vào lúc hoài thai cũng như trong suốt đời sống. Và Nghiệp Hỗ Trợ đã hỗ trợ cho Nghiệp Tạo Tác này. Nghiệp Cản Trở đã cản trở Nghiệp Tạo Tác và Nghiệp Hủy Diệt đã hủy diệt quả của Nghiệp Tạo Tác này. 2. Nghiệp cũng được phân chia làm bốn loại theo cách thức mà nó cho quả. Đó là bốn loại Nghiệp cho quả liệt kê sau đây: Cực Trọng Nghiệp, Cận Tử Nghiệp, Tập Quán Nghiệp, Bảo Lưu Nghiệp. a. Loại thứ nhất là Cực Trọng Nghiệp. Cực Trọng Nghiệp nghĩa là Nghiệp có năng lực mạnh mẽ, cho quả vượt trội hơn các Nghiệp khác. Nếu Cực Trọng Nghiệp là Nghiệp thiện thì đó là các tầng thiền, nếu bất Thiện Nghiệp thì đó là năm trọng tội: giết mẹ, giết cha, giết A La Hán, làm Phật bị thương và chia rẽ Tăng. Chấp thủ tà kiến cũng bao gồm trong đó. Chấp thủ tà kiến có nghĩa là cho rằng không có nhân, không có quả v.v... b. Loại Nghiệp thứ hai là Cận Tử Nghiệp. Cận Tử Nghiệp là Nghiệp mà một người tạo ra ngay trước khi chết. Mặc dầu người này có thể thường xuyên làm các Nghiệp thiện hay Nghiệp ác trong đời sống, nhưng Nghiệp thiện hay ác họ tạo ra ngay trước khi chết có năng lực mạnh mẽ hay ưu tiên để trả quả. Nghĩa là Cận Tử Nghiệp hay Nghiệp làm ngay trước khi chết có năng lực trả quả ưu tiên hơn "Tập Quán Nghiệp" và "Bảo Lưu Nghiệp". c. Tập Quán Nghiệp: là Nghiệp chúng ta thường xuyên làm hằng ngày theo thói quen hay tập quán. Một người thường tạo cả hai loại Nghiệp ác hay Nghiệp thiện hằng ngày tạo thành thói quen hay tập quán.d. Bảo Lưu Nghiệp: Là Nghiệp không nằm trong ba loại Nghiệp trên. Nếu không có Cực Trọng Nghiệp, Cận Tử Nghiệp hoặc Tập Quán Nghiệp thì Nghiệp Bảo Lưu có cơ hội trả quả. 3. Nghiệp phân biệt theo thời gian trả quả: Đó là bốn loại Nghiệp cho quả liệt kê sau đây: Nghiệp trả quả tức khắc, Nghiệp trả trong kiếp tới, Nghiệp trả sau kiếp tới cho đến khi chấm dứt vòng luân hồi, và Nghiệp vô hiệu a. Nghiệp trả tức khắc còn gọi là Hiện Nghiệp: là Nghiệp trả quả ngay trong kiếp sống này. b. Nghiệp trả quả tiếp theo: là Nghiệp trả quả trong kiếp tới sau khi ta lìa bỏ kiếp sống hiện tại. c. Nghiệp vô tận: là Nghiệp trả quả sau kiếp tới cho đến khi chấm dứt vòng luân hồi. d. Nghiệp vô hiệu: thật ra không phải là một loại Nghiệp riêng biệt. Nếu Nghiệp tức khắc không thể cho quả trong kiếp sống này thì trở thành vô hiệu. Nếu Nghiệp cho quả trong kiếp sau không đủ điều kiện thuận lợi để trả quả thì trở thành vô hiệu, nhưng Nghiệp vô tận thì không thể vô hiệu được; Nghiệp này tồn tại cho đến khi chấm dứt vòng luân hồi. Chỉ tới lúc chấm dứt vòng luân hồi Nghiệp này mới chấm dứt. Khi Nghiệp thứ nhất, thứ hai, và thứ ba này không thể cho quả trong thời gian trả quả thì chúng trở thành vô hiệu.Trong bốn loại Nghiệp trên thì Nghiệp vô tận tức Nghiệp trả quả sau kiếp tới cho đến khi chấm dứt vòng luân hồi là Nghiệp quan trọng nhất đối với chúng ta. Khi Nghiệp trả quả tức khắc và Nghiệp trả qua trong kiếp tới không đủ điều kiện thì chúng trở thành vô hiệu, nhưng Nghiệp vô tận giúp chúng sinh ở trong các cảnh khổ có cơ hội tái sinh làm người và làm trời sẽ theo ta cho đến lúc chấm dứt vòng luân hồi. Tất cả chúng sinh có kho chứa Nghiệp vô tận này, khi có hoàn cảnh hay cơ hội thuận tiện chúng ta sẽ nhận quả của các Nghiệp này. 4. Nghiệp phân biệt theo nơi chốn trả quả. Đó là bốn loại Nghiệp cho quả liệt kê sau đây: Ác Đạo Bất Thiện Nghiệp, Dục Giới Thiện Nghiệp, Sắc Giới Thiện Nghiệp, Vô Sắc Giới Thiện Nghiệp. a. Ác Đạo Bất Thiện Nghiệp: là những Nghiệp cho quả trong bốn ác đạo, và cũng cho quả trong dục giới và sắc giới. b. Dục Giới Thiện Nghiệp: là những Nghiệp thiện cho quả ở dục giới; và cũng cho quả ở sắc giới và vô sắc giới. c. Sắc Giới Thiện Nghiệp: là những Nghiệp chỉ cho quả ở cõi sắc giới. d. Vô Sắc Giới Thiện Nghiệp: là những Nghiệp chỉ cho quả ở cõi sắc giới.Muốn hiểu rõ Nghiệp ở các cõi bạn phải hiểu ba mươi mốt cõi, và phải hiểu mỗi cõi cho quả như thế nào, bạn phải tìm kiếm học hỏi chi tiết về các quả của các Nghiệp này trong sách Vi Diệu Pháp. Tôi chỉ cho các bạn biết một số căn bản về các loại Nghiệp, đồng thời kích thích óc tò mò, mong muốn tìm hiểu của các bạn để các bạn thích thú trong việc tìm hiểu, học hỏi nhiều hơn. Nếu các bạn muốn tìm hiểu nhiều hơn các bạn nên đọc cuốn A Comprehensive Manual of Abhidhamma (Vi Diệu Pháp Tập Yếu) do Tỳ khưu Bodhi hiệu đính.Bây giờ chúng ta hãy trở về với việc phân loại các loại Nghiệp một cách thực tiễn hơn. Khi chúng ta hiểu thế nào bất Thiện Nghiệp, thế nào là Thiện Nghiệp thì chúng ta sẽ tránh làm các việc bất thiện, và chúng ta sẽ thực hành các Thiện Nghiệp. Bất Thiện Nghiệp chia làm mười loại: Ba Nghiệp bất thiện thuộc về thân, bốn Nghiệp bất thiện thuộc về khẩu, và ba Nghiệp bất thiện thuộc về ý. Ba thân Nghiệp bất thiện gồm: Sát sinh, trộm cắp, và tà hạnh. Sát sinh là sát hại hay chấm dứt mạng sống chúng sinh. Sát hại chúng sinh bao gồm giết người, giết súc vật, và ngay cả những côn trùng bé nhỏ. Những gì gọi là chúng sinh đều không được giết hại. Người giết hại một chúng sinh nào là người ấy tạo Nghiệp ác. Trộm cắp là lấy của ai vật gì mà không được chủ nhân của vật đó cho mình. Tà hạnh là thông dâm với kẻ khác không phải là vợ hay chồng mình. Ngoài hành vi tà dâm, tà hạnh còn có nghĩa là làm bất cứ hành vi tà vạy nào. Bốn khẩu Nghiệp bất thiện gồm: Nói dối, nói lời đâm thọc, nói lời nói dữ, nói lời vô ích. a. Nói dối: là nói điều không thật. Nói dối chỉ thật sự trở thành Nghiệp bất thiện khi nói dối với chủ tâm làm hại và làm mất sự an toàn của kẻ khác. b. Nói lời đâm thọc: là nói những lời nói nhằm mục đích gây ra sự chia rẽ người khác. c. Nói lời nói dữ: là mắng nhiếc chửi rủa, nói những lời cộc cằn thô lỗ. d. Nói lời vô ích: là nói những lời vô bổ, làm mất thời giờ mà không đem đến lợi ích tinh thần .Ba ý Nghiệp bất thiện gồm: a. Tham lam: Mong muốn chiếm đoạt của cải người khác. Đó là khi thấy vật gì thuộc quyền sở hữu của kẻ khác mà khởi tâm ham muốn lấy làm của mình như vậy mới gọi là tham lam. Tham lam không phải chỉ là thích thú, dính mắc vào vật gì của kẻ khác mà là có tà tâm mong muốn chiếm đoạt vật sở hữu của kẻ khác làm của mình. b. Sân hận: là giận dữ, chán ghét, mong muốn kẻ khác bị hại, bị thương tích, bị chết. c. Tà kiến: cho rằng không có Nghiệp, không có quả của Nghiệp v.v…Ba hành vi này không phải thực hiện bởi thân hay khẩu, nhưng chỉ là những ý nghĩ trong tâm. Do đó, tham, sân, và tà kiến được gọi là ba hành vi chỉ phát khởi trong tâm.Trên đây là mười Nghiệp bất thiện. Một khi đã biết đây là những Nghiệp bất thiện thì nên tránh chúng. Trong mười bất hiện Nghiệp trên, chúng ta không thấy đề cập đến giới uống rượu. Chú giải giải thích là giới uống rượu nằm trong bất Thiện Nghiệp thứ ba, thân bất thiện. Tiếng Pāḷi về giới thứ ba là kāmesu micchācārā. 'Kāmesu' có nghĩa là dục lạc thế gian hay năm dục lạc giác quan (dục lạc về sắc, dục lạc về thinh, dục lạc về hương, dục lạc về vị, dục lạc về xúc, dục lạc về pháp) chứ không phải chỉ là dục lạc nam nữ. Như vậy uống rượu và dùng chất say là một hành vi bất thiện thuộc về dục lạc thế gian, đó là vị trần. Như vậy, uống rượu và dùng chất say nằm trong hành vi bất thiện thuộc về thân, nằm trong giới thứ ba: tà hạnh.Bây giờ chúng ta nói đến Nghiệp thiện. Có hai nhóm Thập Thiện Nghiệp thuộc dục giới. Nhóm thứ nhất chỉ là mười Thiện Nghiệp đối nghịch với mười Nghiệp bất thiện ta đã nói trên. Đó là: 1. Không sát sinh, 2. Không trộm cắp, 3. Không tà hạnh, 4. Không nói dối, 5. Không nói lời đâm thọc, 6. Không nói lời nói dữ, 7. Không nói lời vô ích, 8. Không tham (không có tà tâm mong muốn chiếm đoạt vật sở hữu của kẻ khác làm của mình), 9. Không sân (có từ tâm), 10. Không tà kiến (có chánh kiến) nghĩa là biết nhân biết quả, và biết mọi việc trên thế gian đều tùy thuộc vào một số các việc khác. Mười Thiện Nghiệp Dục Giới này chỉ là mười Nghiệp đối nghịch với mười Bất Thiện Nghiệp mà thôi. Nhóm mười Thiện Nghiệp thứ hai là: 1. Bố thí: Giúp đỡ người nghèo khó hay dâng cúng thực phẩm và vật dụng đến chư tăng. 2. Trì giới: Giữ giới luật trong sạch: không sát sinh, trộm cắp, tà hạnh... 3. Tham thiền: Luyện tâm, Phát triển tinh thần 4. Cung kính: Tôn kính người lớn tuổi, tôn kính người đáng tôn kính, nhường chỗ cho người đáng nhường. 5. Phục vụ: giúp đỡ người khác, làm các công việc cho cộng đồng, làm công quả cho chùa, giúp người khác làm việc thiện. 6. Hồi hướng công đức: Trước hết, đi làm phước rồi hồi hướng hay chia phước lành đến mọi người. Chia phước là giúp mọi người có cơ hội được hưởng phước báu qua hành vi phước thiện của mình. Chia phước không có nghĩa là cho người khác hay tặng hoặc bố thí phước báu của mình cho người khác và mình không còn phước báu nữa. Chia phước báu khiến cho phước mình được gia tăng vì chính hành vi chia phước báu là hành vi phước thiện tạo thành Nghiệp tốt. 7. Tùy hỉ: Hoan hỉ với phước báu của người khác, nghĩa là khi được người khác chia phước báu cho ta thì ta nói: Sādhu, sādhu, sādhu (lành thay, lành thay, lành thay). Có nghĩa là ta hoan hỉ, hạnh phúc với phước báu người khác đã tạo. Khi bạn hoan hỉ với phước báu của người khác thì chính bạn cũng được phước báu. Đó là vì khi bạn hoan hỉ, vui mừng thì sự hoan hỉ, vui mừng này đã lấy phước báu của người khác làm đối tượng. Đây là một thiện tâm. Chú giải nói rằng: Dù cho người làm việc phước thiện có chia phước cho bạn hay không, thì bạn cũng có thể hoan hỉ với việc phước thiện của họ đã làm. Như vậy, nếu được người khác chia phước thì bạn hãy nói: "Sādhu, sādhu, sādhu". Nếu họ không chia phước báu cho bạn, nhưng nếu bạn thấy hay bạn nghe rằng người đó đã làm việc phước thiện thì bạn cũng có thể thực hành việc hoan hỉ phước báu của người khác bằng cách vui mừng hoan hỉ với phước bau này. 8. Nghe pháp: Là nghe giáo pháp của Đức Phật. Việc học các các loại nghệ thuật, điêu khắc, các học thuật chuyên môn để mở mang kiến thức mà không làm hại hay gây thương tổn cho ai cũng bao gồm trong phần nghe pháp. 9. Thuyết pháp: Giảng dạy giáo pháp. Phần này cũng bao gồm cả việc giảng dạy Phật pháp và một vài loại ngành nghề, học thuật không xâm hại hay tổn thương đến kẻ khác và không chống trái những lời dạy của Đức Phật. 10. Có chánh kiến: Có quan kiến đúng đắn, nghĩa là có kiến thức đúng đắn về nhân quả v.v... Quan kiến đúng đắn hay chánh kiến thật ra chỉ là ngược lại với tà kiến. Có quan kiến đúng đắn rất quan trọng, nếu có quan kiến sai lầm thì mọi việc làm của ta đều không phải là Thiện Nghiệp. Chúng ta phải có quan kiến đúng đắn hay chánh kiến về nhân, về quả, và những gì liên quan đến nhân quả. Ba Thiện Nghiệp đầu tiên: bố thí, trì giới, và tham thiền là ba bước đầu tiên mà người Phật tử phải thực hành. Bố thí: Trong mười Ba La Mật hay mười phẩm hạnh cao thượng mà một vị Bồ Tát phải thực hành trọn vẹn thì bố thí là pháp đầu tiên. Bố thí (dāna) ở đây có nghĩa là cho ra, giúp đỡ hay cúng dường v.v... Bố thí (dāna) rất quan trọng vì bố thí giúp cho tâm của chúng ta êm dịu, và mềm dẽo. Bố thí còn tạo cơ hội cho chúng ta loại trừ tham ái, dính mắc. Mỗi khi chúng ta cho ra vật gì, không những ta cho ra vật đó mà còn dứt trừ tâm tham ái, dính mắc vào vật đó nữa. Như vậy khi thực hành hạnh bố thí, ta cũng đồng thời thực hành hạnh dứt bỏ, tham ái dính mắc vào vật ta cho ra. Trì giới: còn được gọi là giữ phẩm hạnh đạo đức. Giữ giới là kiểm soát thân khẩu. Khi giữ giới là ta giữ phẩm hạnh trong sạch, ta không để cho thân và khẩu ô nhiểm bởi hành động và lời nói bất thiện. Là cư sĩ, bạn có thể giữ năm giới hay tám giới như các bạn đang thực hành trong khóa thiền này, nếu bạn muốn thực hành giới luật nhiều hơn bạn có thể giữ mười giới.Tham thiền: giúp cho tâm thanh tịnh, an lạc hay đưa đến những tiến bộ tinh thần cao, khai mở trí tuệ. Bạn có thể hành Thiền Định hay Thiền Minh Sát. Do hành Thiền Định bạn có thể đạt được định tâm cao. Nếu bạn thành công trong việc thực hành một trong bốn mươi đề mục thiền Định bạn có thể thực hành thêm để có thần thông. Qua hành Thiền Minh Sát bạn sẽ đạt đến chỗ dứt sạch mọi ô nhiểm trong tâm hay đạt cứu cánh Niết Bàn.Cung kính và phục vụ, Thiện Nghiệp thứ tư và thứ năm: cung kính những người đáng cung kính và phục vụ giúp đỡ mọi người, hai điều này có thể bao gồm trong Thiện Nghiệp thứ hai, giới luật trong sạch, bởi vì khi bạn thực hành giới bạn kiểm soát hành động và lời nói. Cung kính và phục vụ là một biểu hiện của sự kiểm soát thân và khẩu, do đó được bao gồm trong giới luật, Thiện Nghiệp thứ hai.Hồi hướng chia phước bao gồm trong Thiện Nghiệp thứ nhất, bố thí. Tùy hỉ hay hoan hỉ với phước báu của người khác cũng bao gồm trong bố thí bởi vì liên hệ đến sự bố thí, không phải mình cho ra, nhưng người khác cho ra.Nghe pháp, thuyết pháp, và có quan kiến đúng đắn đều nằm trong Thiện Nghiệp thứ ba là tham thiền. Nghe pháp là một loại phát triển tinh thần. Thuyết pháp cũng thuộc phát triển tinh thần bởi vì bạn đang phát triển tâm mình. Có quan kiến đúng đắn hay có chánh kiến cũng thuộc về phát triển tinh thần.Như vậy, chúng ta có thể thu gọn mười Thiện Nghiệp còn lại ba Thiện Nghiệp: Bố thí, trì giới, tham thiền nếu ta gộp yếu tố bốn và năm vào yếu tố thứ hai; sáu và bảy vào yếu tố một; tám, chín và mười vào yếu tố ba. (1) Bố thí, hồi hướng, tùy hỉ, (2) Trì giới, cung kính, phục vụ, (3) Tham thiền, nghe pháp, thuyết pháp, chánh kiến Bây giờ chúng ta đã hiểu Bất Thiện Nghiệp và Thiện Nghiệp, chúng ta có thể theo lời dạy của Đức Phật trong kinh Pháp Cú: "Không làm điều ác nào, làm các hạnh lành, thanh lọc tâm ý‎, đó là lời dạy của chư Phật." Không làm tất cả các điều ác, tiếng pāḷi là "sabbapāpassa". "sabba" là tất cả, và "pāpa" là điều ác, như vậy "sabbapāpassa" có nghĩa là tất cả điều ác. Người ta có thể tranh biện: Nếu bạn nói "không làm tất cả những điều ác", như vậy có nghĩa là "có thể làm ít điều ác". Bởi thế, ở đây ta phải dịch là "không làm điều ác nào" tức là không làm điều bất thiện, không tạo các ác Nghiệp. Sau đó là "hoàn thành những việc thiện" có nghĩa là vun bồi Thiện Nghiệp hay làm những việc thiện; tiếp theo là thanh lọc ‎tâm ý. Trong tâm chúng ta có nhiều phiền não hay ô nhiễm, bởi vậy Đức Phật dạy chúng ta hãy thanh lọc tâm. Câu kệ Pháp cú trên Đức Phật dạy chúng ta tránh xa điều ác, vun bồi hạnh lành, và thanh lọc tâm ý. Chú giải Kinh Pháp Cú giải thích câu đầu của bài kệ này, sabbapāpassa akaraṇaṁ là không làm những hành vi bất thiện, điều này dễ hiểu. Câu thứ hai, kusalassa upasampadā là làm khởi sinh các hành vi thiện lành, và phát triển những gì cần phải phát triển. Như vậy, ở đây câu: "vun bồi thiện tâm" hay "hoàn thành những việc thiện" là làm phát sinh Thiện Nghiệp, và tiếp tục, tiếp tục làm phát sinh Thiện Nghiệp, nghĩa là liên tục tạo Thiện Nghiệp. Câu này có nghĩa không phải chỉ làm việc thiện một lần mà phải tiếp tục làm việc thiện nhiều lần cho đến khi Thiện Nghiệp phát triển. Chú giải cũng nói rằng phải làm việc thiện cho đến khi đạt A La Hán đạo (Arahatta Magga) nghĩa là cho đến khi Giác Ngộ. Tôi nghĩ rằng chú giải liên kết điều này với cuộc đời của Đức Phật. Là một hoàng tử, Đức Phật từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia tu hành. Và trong sáu năm Ngài thực hành khổ hạnh trong rừng, cuối cùng Ngài bỏ lối tu khổ hạnh, thực hành trung đạo và thành chánh quả. Từ lúc xuất gia cho đến khi Giác Ngộ Ngài đã thực hành và phát triển Thiện Nghiệp. Thứ ba sacittapariyodapanaṁ (Thanh lọc tâm ‎ý , có nghĩa là làm cho tâm trong sạch, thoát khỏi năm chướng ngại. Thanh lọc tâm khỏi năm chướng ngại (phiền não) là một việc làm quan trọng bởi vì bao lâu vẫn còn chướng ngại trong tâm thì vẫn chưa thể hi vọng Giác Ngộ. Hòa thượng Silānanda giảngSư Khánh Hỷ soạn dịch
  18. Các bạn nghĩ xem! khi có băn khoăn trong đầu thì trông mong lắm! kiến thức thì mênh mông có lẽ cũng tin vào PTLV mới vào trang này chứ mà lơ tơ mơ thì ba quyển sách lề đường họ cũng mua về ngâm cứu được! nhưng họ tha thiết thế thì ACE cứ vào xem giúp được gì? ít ra cũng chứng minh chúng ta ko phân biệt gia chủ chứ lị!
  19. Giảng Viên Thẫm Mỹ Lâm Hà sẽ hổ trợ đoàn chúng ta 1 chương trình Tắm Bùn chăm sóc Da hoàn toàn "free" cho ACE trong đoàn Từ Thiện.
  20. Tí Sửu Dần Thìn ... Tuất Dậu. Ặc ặc! Hôm nay ngày Dậu. Thảo nào mà mình phải ngồi trên đĩa này!
  21. THÔNG BÁO Chương trình dự kiến 2 ngày đi 21/4 về 22/4/2012.(nhằm ngày mùng 1/4 năm Nhâm Thìn) Mục đích chính đến thăm và tặng quà cho Trẻ em mồ côi ở THIỆN TÂM (Hàm Thuận, Bình Thuận) kết hợp nghĩ dưỡng tại Thị Xã Lagi. Khởi hành tại Tp HCM (cụ thể đường Lê Tự Tài Chợ Nguyễn Đình Chiểu Phg 4 Quận Phú Nhuận) vào lúc 5g30 sáng. Điểm đến : Chùa nuôi dạy trẻ THIỆN TÂM (buổi sáng) Vãng cảnh Chùa lễ Phật.Trưa trực chỉ Thị xã Lagi Bình Thuận (Biển Tân Hải) sạch đẹp. Nhận Phòng & ăn trưa & Nghĩ ngơi & Ra Biển đón Hoàng Hôn. Tối về Phòng dùng cơm uống trà & Cafe & Karaoke tại KS. Chủ Nhật : Sáng Tắm biển & Tham quan Dinh và Mộ Thầy Thím & tham quan nơi nuôi dạy trẻ khuyết tật Khiếm thính ngay thị xã. Thưởng thức Hải Sản tươi. Chương trình có thể thay đổi linh hoạt vào tình hình thực tế, các ace tham gia có thể đăng ký tại đây để tiện việc tổ chức (Rất mong có nhiều ACE tham gia để giao lưu và thể hiện tình thương nhân ái vào mùa Đức Phật Đản Sanh.)
  22. Cà phê nông dân: Những nhận xét thú vị! Có nhiều câu chuyện Thiền nho nhỏ, nhưng đã đúc kết cả một quá trình kinh nghiệm và nghiền ngẫm dài lâu, để sáng ra những bài học chân lý thẳm sâu. Ví như mấy câu chuyện Thiền đơn giản sau đây đã nở hoa những lắng đọng ấy. 1. “Sau khi Thiền sư Bankei qua đời, có một người mù thường sống cạnh thiền viện kể rằng: Bởi tôi mù nên không thể nào nhìn thấy rõ mặt ai, vì thế tôi đoán được tâm tánh của mỗi người qua tiếng nói. Thông thường khi tôi nghe ai khen ngợi kẻ khác hạnh phúc hay thành công, tôi còn nghe được cả cái giọng thầm kín của ganh tị. Khi nghe lời chia buồn kẻ khác gặp điều bất hạnh, tôi nghe có giọng khóai trá thỏa mãn, rõ là kẻ nói lời chia buồn mà lòng thì sung sướng vì có những món kẻ kia bỏ lại để cho mình chiếm đoạt. Chỉ riêng giọng nói của Thiền sư Bankei là luôn luôn thành thực. Khi ngài nói lời vui vẻ, tôi chỉ nghe độc có giọng vui vẻ. Khi ngài tỏ lòng buồn rầu, tôi chỉ nghe độc một giọng buôn rầu”. (Một trăm lẻ một câu chuyện Thiền - Trần Trúc Lâm dịch). Nghe lời kể của người mù, chúng ta bỗng kính trọng Thiền sư Bankei vô cùng. Một kính trọng tự phát rất mạnh mẽ. Khi ngài nói lời vui, ngài nói lời buồn đều chân thật. Ngài là một bậc nhân đức lớn vì tâm của ngài trong sáng vô cùng. Trong khi thông thường những người khác thì không như thế vì tâm họ không trong sáng. Họ giả trá và che đậy rất giỏi nhưng người mù này vẫn phát hiện ra khi nghe giọng nói của họ không phù hợp với lời họ nói. Đây là nhận xét của một người mù nhưng chắc gì những người sáng mắt đã bằng. Tâm tính con người len lỏi thấm vào trong lời nói, nên đã biến đổi giọng nói một cách tinh vi. Và người mù đã nhận ra. 2. “Mỗi thiền sinh phải sống cạnh thầy ít ra cũng phải 10 năm trước khi thu dạy kẻ khác. Tenno, vừa trải qua thời kỳ học tập và nay trở thành thiền sư, đã đến thăm Nan-in. Hôm ấy trời mưa, nên Tenno mang guốc và cặp một cái dù. Sau khi Tenno chào hỏi, Nan-in lên tiếng: Có lẽ ông đã để guốc trước tiền đường. Ta muốn biết chiếc dù của ông nằm bên phải hay bên trái của đôi guốc". Tenno bối rối không đáp lại ngay được. Ông ta hiểu ra rằng mình chưa sống thiền trong từng phút. Ông ta trở thành đồ đệ của Nan-in, và học trong 6 năm nữa để đạt đến mức thiền trong từng phút. (Một trăm lẻ một câu chuyện Thiền - Trần Trúc Lâm dịch)”. Khi đọc kỹ câu chuyện Thiền học này, tôi ngẫm nghĩ rất lâu. Tôi có cảm giác dường như có một ánh sáng Thiền dịu dàng rất gần nhưng không bao giờ biết. Lập tức tôi nhớ lại đứa cháu nội lên 10, đã nói với tôi khi trên đường đi chơi trở về: “Ông nội ơi, người ta đã bán chiếc xe ô tô màu đỏ rồi”. Tôi ngạc nhiên lắm, nhưng hóa ra là thế này. Trên đường ông cháu đi chơi, có ngang qua một sa-lông bán ô tô. Và khi trên đường về, sa-lông bán ô tô ấy đã mất đi một chiếc. Lúc ấy tôi hỏi tại sao cháu biết một chiếc bị bán. Nó trả lời: “Hồi sáng có 7 chiếc, chiếc màu đỏ nằm ngoài cùng, bên cạnh chiếc màu trắng. Giờ chỉ còn 6 chiếc, màu đỏ không có”. Thằng cháu nhỏ thật tuyệt vời thật, trong khi tôi chẳng biết gì cả về cái sa-lông bán ô tô ấy, nói chi đến chiếc ô tô màu đỏ! Phải chăng thằng cháu bé bỏng đã sống Thiền trong từng phút mà nó không biết. Còn tôi thì có biết về Thiền nhưng chưa bao giờ sống được Thiền. Ngô Phan Lưu (TT&VH)
  23. Hình ảnh đẹp, bố cục tròn trịa, diễn viên thể hiện thật xuất sắc !
  24. Cô sẽ gởi tặng Tam Tu Tai 200 bản Thần Chú Giải Thoát và 1 bản lớn, chuyển cúng dường Thầy Thích Tuệ Hạnh , Tu Viện Từ Bi , Xã Túc Trưng , Huyện Định Quán , Tỉnh Đồng Nai , Việt Nam.
  25. Được biết Thầy còn có mở lớp truyền dạy khí công tại Tp HCM nhằm phòng và tự chữa bệnh cho mình và người thân nữa đó!
×
×
  • Create New...