Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

VinhL

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    473
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1

Everything posted by VinhL

  1. Chào bạn Liêm Trinh, Xin lồi cho hỏi VinhL đã trao đồi với bạn bằng tiếng Mỷ hồi nào mà bạn cho VinhL là người Mỷ gốc Việt? Cho dù là vậy đi nữa, tại sao lại phải kỳ thị người này người nọ Gốc Việt vậy bạn? Mấy chục năm trước Nam Bắc phân tranh, kỳ thị Bắc Trung Nam chưa đủ sao? Là người Việt cả tại sao lại tự chia rẻ? Thật đáng buồn!!! Cùng là nòi Việt thì người Việt ở Mỹ, ở Úc, ở Trung Hoa, ở Iraq củng là Việt!!!
  2. Chào bạn datvietnam, Hiến dâng bạn chút kinh nghiệm thực tiển. Mua bột Lưu Huỳnh về rãi xung quanh nhà, trăn rắn sợ sẻ đi. Mấy năm trước, phía sau vườn nhà VinhL củng thường hay có rắn. Có người mách mua bột lưu huỳnh về rãi, Làm thử quả thật hiệu nghiệm. Sau đó không còn thấy rắn nửa. Bột lưu huỳnh ở tây phương thường bán để rãi trong vườn trị các bệnh Fungal của cây. Thân
  3. Chào chú Vuivui, VinhL hơi thất vọng vì không thấy chú hé môi chút nào về “Đông A Di Sự”:-((( Thôi thì mong chú giải thích cái hệ thống cơ bản trong Tử Vi, như là Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái, Tam Tài, 64 dịch quái, được thể hiện như thế nào trong Tử Vi? Tại sao Tử Vi an theo Cục? Cung an Tử Vi trong mỗi cục lại nhảy tới nhảy lui, nguyên lý của nó là như thế nào ạ? Trong Tử Vi có 3 sao liên quan đến Kỳ Môn, không biết chú có nghiên cứu đến vấn đề này không? Thế người sinh ở Úc Tử Vi phải xem như thế nào? Thành thật mong chú chỉ dẫn. Kính
  4. Chào chú Vuivui, Vấn đề ông Hi Di Trần Đoàn có phải là Lão Tổ của môn Tử Vi hay không, VinhL không có hứng thú nghiên cứu. Nếu nói cho đúng thì những sao trong Tử Vi, Thần Sát, đều đã có trước thời ông ta. Một số Thần Sát là từ Lục Nhâm, một số từ Kỳ Môn. Hai môn này dĩ nhiên đã có trước thời củng ông Hi Di rồi. Đa số các sách về Lý Học Đông Phương có sách nào giải thích rõ ràng cái nguyên lý “Tại Sao” đâu. Chỉ nói về Dịch Mã thôi, đã có 4 loại (Theo cuốn Lục Nhâm Dị Tri), năm tháng ngày giờ, tùy theo môn mà sử dụng. Kỳ Môn củng có quẻ Năm Tháng Ngày Giờ, Thái Ất thì có Tuế Kể, Nguyệt Kể, Nhật Kể, Thời Kể, chuyện Dịch Mã an theo tháng củng có lý của nó chú ạ. Chú đề cập đến những bí mật của Tử Vi, không biết có phải muốn nói đến bộ “Đông A Di Sự” không ạ? Nếu thế thì VinhL cầu mong ai đang sở hửu bộ “Đông A Di Sự” này phải công khai để làm sáng tỏ nguồn gốc của Tử Vi vậy. Nếu chú nắm giữ những bí mật về Tử Vi, VinhL củng mong được chú chia sẻ mà học hỏi. Thành thật cám ơn. Kính
  5. Chào chú Vuivui, Để truy nguyên vấn đề Dịch Mã này, VinhL đã khảo xét lại với quyển “Chánh Tông Tử Vi Đẩu Số Đại Toàn” nguyên tác Trần Hi Di do Nam Bắc Sơn Nhân luận chú của người bạn. Xin trình bài những điểm khám phá sau đây. Mục 34 An Trung Thiên Lục Tinh Diệu An theo Tháng Sinh Thiên Hình, Thiên Dao, Thiên Mã, Thiên Vu, Thiên Nguyệt, Âm Sát Mục 46 An “Chi Hệ” 34 tinh An theo niên chi gồm có Bảng 1 Hồng Loan, Thiên Hỉ, Thiên Khốc, Thiên Hư, Cô Thìn, Quả Tú Bảng 2 Kiếp Sát, Hoa Cái, Hàm Trì, Long Trì, Phượng Các, Giải Thần, Phá Toái, Phi Liêm, Quán Sách, Quan Phù, Tiểu Hao, Đại Hao, Long Đức Bảng 3 Bạch Hổ, Thiên Đức, Điếu Khách, Bệnh Phù, Tướng Tinh, Phan An, Tuế Dịch, Tức Thần, Tai Sát, Thiên Sát, Chỉ Bối, Nguyệt Sát, Vong Thần. Nếu quả thật Tử Vi xuất phát từ Hi Di Trần Đoàn tiên sinh thì vòng Tướng Tinh, hay Dịch Mã đã được sử dụng từ đầu. Một điểm chú ý nửa là sao Thiên Mã an theo Tháng Sinh, và sao Tuế Dịch (củng là Thiên Mã hay Dịch Mã) của vòng Tướng Tinh, an theo Niên Chi. Kính
  6. Chào chú Vuivui, Nếu nói Thiên Mã ứng với Bệnh, tức không phải là Cát. Nhưng tại sao trong Kỳ Môn, Lục Nhâm đều cho Mã là một trong 3 cái tốt, Qúi Nhân Lộc Mã. Thiên Mã của Tử Vi còn được gọi là Dịch Mã. Thật ra vòng Tướng Tinh không phải xuất phát từ Tử Vi mà nó đã có trong môn thiên văn cổ vì vậy trong các môn tinh mệnh học khác như “Tinh Học Đại Thành”, “Truong Quả Tinh Tông” đều sử dụng nó. Có lẻ vì vậy mà có người muốn đem để áp dụng vào Tử Vi. Trong Tinh Học Đại Thành thì an theo Niên Can, trong Trương Quả Tinh Tông thì an theo Nhật Can. Trong Tinh Học đại Thành: Dịch Mã tức là Địa Dịch Thiên Mã hợp lại mà gọi. (Chử Dịch ở đây có nghỉa là ngựa trạm đưa thư) Năm Thân Tý Thìn Mã tại Dần, Mộc Tinh là Địa Dịch, Hỏa Tinh là Thiên Mã, Dịch Mã là Hỏa Năm Thân: Mộc Tinh tại Vĩ 15 độ. Năm Tý: Mộc Tinh tại Cơ 5 độ. Năm Thìn: Mộc Tinh tại Đẩu 4 độ. Năm Dần Ngọ Tuất Mã tại Thân, Kim Tinh là Địa Dịch, Thủy Tinh là Thiên Mã, Dịch Mã là Thủy Năm Dần: Kim Tinh tại Chủy Năm Ngọ: Kim Tinh tại Sâm 5 độ. Năm Tuất: Kim Tinh tại Tất 11 độ. Năm Tỵ Dậu Sữu Mã tại Hợi, Thủy Tinh là Địa Dịch, Kế Đô là Thiên Mã, Dịch Mã là Kế Năm Tỵ: Thủy Tinh tại Thất 9 độ. Năm Dậu: Thủy Tinh tại Bích 3 độ. Năm Sửu: Thủy Tinh tại Khuê 1 độ. Năm Hợi Mão Mùi Mã tại Tỵ, Hỏa Tinh là Địa Dịch, Mộc Tinh là Thiên Mã, Dịch Mã là Mộc Năm Hợi: Hỏa Tinh tại Dực 8 độ. Năm Mão: Hỏa Tinh tại Chẩn 2 độ. Năm Mùi: Hỏa Tinh tại Chẩn 14 độ. Dịch Mã 12 vị Dịch Mã, Lục Hại, Hoa Cái, Kiếp Sát, Tai Sát, Thiên Sát (Tuế Sát), Địa Sát, Niên Sát, Nguyệt Sát, Vong Thần, Tướng Tinh (Đại Sát), Phan An Tuế Sát và Đại Sát (trong ngoặc) là trong Hiệp Kỷ Biện Phương Thư So Sánh lại với vòng mà bạn Asher đăng thì Tuế Dịch = Dịch Mã Tức Thần = Lục Hại Chỉ Bối = Địa Sát Hàm Trì = Niên Sát Có lẻ vì an theo tam hợp cục của địa chi mà trùng hợp với vòng trường sinh nên mới có thuyết nói là Dịch Mã căn cứ vào sao Bệnh. Kính
  7. Chào Chú Dienbatn, Cám ơn chú làm thày dùi để chỉ điểm, có phải chú muốn nói đến “Đạp Khôi Cương Bộ Đẩu” pháp. VinhL hiểu được bộ pháp này dùng để thông thần mà sai khiến Lục Đinh Lục Giáp. Ngoài bộ này ra thì còn nhiều bộ khác nửa - Đạp Tiên Thiên Bát Quái Quyết Bộ Cương pháp - Đạp Thất Tinh Pháp Quyết Bộ Cương pháp - Hậu Thiên Đạp Bát Quái Bộ Cương pháp - Thái Ất Phản Quái Bộ Cương pháp - Tam Nãi Phu Nhân Đạp Bộ Cương pháp - Thái Ất Chánh Nhân Bộ Cương pháp - Ngọc Nử Quá Hãi Cương quyết - Bộ Âm Đẩu, Bộ Dương Đẩu Mong chú tiếp tục làm thày dùi mà chỉ điểm ứng dụng của mấy bộ pháp trên. Kính
  8. VinhL Kính chúc Bác Hà Uyên sớm ngày bình phục, để còn được học hỏi và thảo luận với Bác về Hoàng Cực Kinh Thế, Thiệu Tử Thần Số, và Thiết Bảng Thần Số Kính
  9. Bạn LinhNhi mến, Theo ý của chú Dienbatn thì cần có thêm chủ Trận tại trung cung, bày bố theo Âm Dương Ngũ Hành, chuyển theo vòng tròn 360, vì vậy mà VinhL nghỉ đến Bắc Đẩu Thất Tinh, củng theo tứ thời mà xoay chuyển 360 độ. Thật ra VinhL chưa đọc qua trận Bắc Đẩu Thất Tinh, không biết LinhNhi có thể cho biết sách nào nói về trận Bắc Đẩu Thất Tinh không? Ngoài Trận Pháp ra, thì Kỳ Môn Độn Giáp củng là một môn huyền học cao siêu, về mặt này thì phải nghiên cứu quyển “Vạn Pháp Qui Tông” sẻ thấy được phù trú về Lục Giáp, Lục Đinh, Cửu Thiên Huyền Nử, vv.... Thật ra trận kỳ môn chủ yếu sử dụng Thiên Can và Bắc Đẩu Thất Tinh, nếu kết hợp thêm Thái Ất và Lục Nhâm vào thì thật là Quỉ Khóc Thần Sầu nhỉ? Lục Nhâm chuyên về địa chi, Thái Ất chuyên về tinh đẩu vận hành, Kỳ Môn về thiên can, nếu kết hợp được 3, Tam Thức Hợp Nhất, thông cả tam tài thiên địa nhân, trên biết thiên vận, dưới thấu địa lý, giữa tri nhân sự.
  10. Chào bạn Tuấn Dương, VinhL từ nhỏ đã thích sưu tầm sách vỡ về Khoa Học Huyền Bí. Rảnh rồi hứng môn nào thì nghiên cứu môn đó. Huyền bí thì xứ nào củng có cả. Đạo Thiên Chúa củng có huyền thuật như thuật kêu gọi Angels, do ông John Dee ở Anh lúc lên điển viết lại. Theo truyền thuyết thì quyển sách thứ 6 và 7 của ông Moses (Sixth and Seventh Books of Moses) là hai quyển huyền thuật của đạo Thiên Chúa. Họ củng dùng chú, ấn, bày trận, lập đàn vv.... Nhưng nghiên cứu Lý Học Đông Phương vẫn là thích thú hơn hết:-)) Thân
  11. Chào bạn Tuấn Dương, Cỏ thi tên khoa học là Achillea, thuộc họ Cúc. Gói cỏ thi để bói (Yarrow Sticks): Thật ra thì VinhL củng chưa bao giờ dùng qua cỏ thi, nhưng bạn muốn có thể Bói Đủa, tức là dùng đủa thay thế cỏ thi củng được mà:-)) Thân Mến
  12. Chào các bạn, Ý kiến riêng của VinhL như sau: Lấy quẻ bằng Bài có 3 lợi điểm: 1 – Không ồn ào 2 – Xào bài làm cho mình tịnh tâm thông thần, tâm hoà cùng cái nghi vấn. Sự linh ứng của Bài Tarot Tây Phương là một chứng minh. 3 – Xác suất của hào phù hợp với phương pháp lấy quẻ nguyên thủy (Cỏ Thi) Tuy vậy so sánh các sác xuất thì ta thấy Gieo quẻ bằng tiền thì sác xuất của các hào Âm và hào Dương, hào Âm động và hào Dương động cân bằng. Còn phương pháp cỏ thi và bài cào thì Âm tịnh nhiều hơn Dương Tịnh, nhưng Dương động nhiều hơn Âm động. Đây không phải là bản tính tương tác tiên thiên của Âm Dương sao? Lấy quẻ bằng tiền được thay thế cỏ thi vì sự tiện lợi, nhưng không phản ảnh được thuộc tính của Âm Dương. Âm Dương cân bằng thì đắc trung, đắc trung tức bất Dịch, nhưng cốt lủy của Dịch là Biến, vì Biến nên có Sinh, Lão Bệnh Tử, vv.... và có Vạn Vật!!! Đây chỉ là suy luận của VinhL, dĩ nhiên muốn dùng hay không là tùy bạn. Bạn LongTuan nói đúng lắm, tâm tịnh như gương thì cần gì lấy quẻ bằng vật thể, nhưng tiếc thay tâm mình chưa tịnh như các nhà sư, vì vậy đâu phải lúc nào củng thông thần với trời đất, nên phải dùng phương pháp mượn vật mà cầu quẻ thôi. Vài lời suy luận có gì sai sót xin bỏ qua.
  13. Chào Chú Dienbatn, Rất cám ơn Chú đã góp ý. Thưa Chú nếu VinhL đặt Thất Tinh Bắc Đẩu vào trung cung theo phương vị tại thiên không biết có thích hợp không? Kính
  14. Chào bạn LinhNhi, Kể như bạn củng có nghiên cứu qua trận pháp, nhưng bí quyết Bát Trận của Khổng Minh, theo VinhL nghỉ là ở trong Kỳ Môn Độn Giáp. Phá trận quan trọng nhất là chử Thời, bạn không nói đến chử thời thì làm sao biết trận nào đóng trận nào mở, đã đóng thì khó mà phá nỗi. Phá trận phải ứng dụng Ngũ Hành. LinhNhi thống lảnh Thiên Địa đánh vào cửa Sanh, nhưng của Sanh nằm ở trận nào?, mồi giờ mồi xoay chuyển thì phải biết phép Kỳ Môn Độn Giáp mới tính được cửa Sinh ở đâu. Muốn phá trận này, thì bạn LinhNhi phải nghiên cứu Kỳ Môn Độp Giáp rồi. Theo truyền thuyết thì ông Khổng Minh chỉ cần dùng mấy hòn đá củng có thể lập trận. Đây chính là trận Kỳ Môn dùng Âm Phù (Huyền Thuật) để diễn. Kỳ Môn có Phù Chú Tam Kỳ, Lục Giáp, Lục Đinh, Lục Mậu, vv.... dùng để sai khiến âm binh bố trận. Chào bạn Hungisu, VinhL biết bạn sưu tầm rất nhiều sách về Huyền Thuật, không biết bạn có quyển nào về phù của Kỳ Môn Độn Giáp không? Chào bạn Như Thông, Phong Hậu là tướng (quân sư?) của ông Hoàng Đế. Thân Mến
  15. Chào bạn LinhNhi, Biết tên trận thì rất nhiều người biết, nhưng hiểu được trận thì không có bao nhiêu. Tuy chưa nghiên cứu sâu vào trận pháp nhưng rất muốn trao đồi kiến thức học thuật về trận pháp với bạn nên VinhL lập trận này mời bạn vào phá trận!!! VinhL dùng 12 Vạn âm binh, chia làm Lưỡng Nghi, Thiên và Địa (Nội Ngoại), mồi Nghi được 6 Vạn hay 60000. Mồi nghi lại chia theo 10 Can mỗi can được 6000. Mồi Can ghép với 6 chi, mồi can chi có 1000. Tất cả có , 6 Giáp Thiên Địa, 6 Ất Thiên Địa, 6 Bính Thiên Địa, vv...... Có 9 Đạo Phù, 6 Phù Lục Giáp, 3 Phù Tam Kỳ. Phù án theo Cục. Trận có 8 Trận, Thiên trận quẻ Càn, Địa trận quẻ Khôn, Long trận quẻ Chấn, Phong trận quẻ Tốn, Vân trận quẻ Khảm, Điểu trận quẻ Ly, Xà trận quẻ Cấn, Hổ trận quẻ Đoài. Mồi cung tùy theo 9 tinh (Bồng Nhậm Xung Phụ Anh Nhuế Trụ Tâm) gia lâm mà bày trận. Cửa có 8 cửa, Hưu Sinh Thương Đổ Cảnh Tử Kinh Khai. Môn theo 9 tinh gia thời 1 đóng 1 mởi. Tinh gia thời can dương thì mở, thời can âm thì đóng. Đóng thì không phá trận được. Thần có 8 Thần, Trực Phù, Đằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Câu Trần, Chu Tước, Cửu Địa, Cửu Thiên, phân bố theo Chi của Tuần Giáp mà có Bát Thần Lâm Môn trấn giữ 8 cửa. Tướng có 12 Thiên Tướng Thần Hậu, Đại Cát, Công Tào, Thái Xung, Thiên Cương, Thái Ất, Thắng Quang, Tiểu Cát Truyền Tòng, Hà Khôi, và Đăng Minh, phân bố theo Nguyệt Tướng, 4 tướng cư tứ chính, 4 tướng cư tứ duy, 4 tướng giữ 4 góc trung cung. Cục 5 ngày đổi 1 cục, sau Đông Chí cục Dương, sau Hạ Chí cục Âm. 9 Tinh 10 giờ (giờ âm bằng 2 tiếng) đỗi một lần (tức theo lục giáp tuần) 8 Môn mồi giờ mỗi xoay, đóng mở tuỳ theo Tinh gia thời can. Phương Thức Phá Trận: Trước hết phải biết Cửa ở đâu đóng, cửa ở đâu mở. Chỉ có cửa mở mới phá được. Muốn vào được cửa thì phải cửa nào ở đâu Thần gì lâm môn. Qua cửa thì phải Sát Thần (phải biết Ngũ hành của Thần là gì mà ứng phó). Qua được cửa thì phải biết trận đang diễn là trận gì? Quân nào thuộc Can Thiên Địa nào (6 Giáp Thiên Địa, 6 Mậu Thiên Địa, vv...) đang diễn và tướng nào trong 12 Thiên Tướng đang chỉ quy. Biết được trận đang diền là trận gì thì phá được. Biết được Tướng đang giữ là tướng nào trong 12 tướng thì bắt được, giết được. Phải phá hết 8 trận thì mới bắt được Chủ Soái. Lâm Môn Sát Thần, Phá Trận Chém Tướng thì phải ứng dụng Ngũ hành Sinh Khắc. Nhớ là Trận mỗi giờ mỗi đổi. Sau đây là Trận lập trong giờ Kỷ Mùi. Ngày 7 Tháng 6, 2009 Dương Lịch, Âm lịch tức ngày 15 Quí Mùi Tháng 5 Canh Ngọ Năm Kỷ Sửu Giờ Kỷ Mùi. Tiết Mang Chủng Dương Độn 6 Cục. Nguyệt Tướng Truyền Tòng. Mời bạn Linh Nhi đăng đàn phá trận!!!:-))) Thân Mến
  16. Kính Thầy, Chú Dienbatn, và bạn LinhNhi VinhL củng có nghiên cứu sơ sơ về trận pháp. Mấy tuần trước có người bạn mua dùm được quyển La Kinh Thấu Giải tiếng Hán chính là nguồn của quyển đã được dịch ra tiếng Việt. Trong tầng 17 Định Tứ Cát, Tam Kỳ, Bát Môn, Cửu Tinh, .... gọi Thấu Địa Kỳ Môn chính là dùng Kỳ Môn Độn Giáp để định tử phụ, tài quan lộc mã quý nhân tam kỳ tứ cát. Không biết Chú Dienbatn có sử dụng phương pháp này qua chưa? VinhL đang suy diễn trận pháp để thử tài LinhNhi, khi nào xong sẻ mời bạn LinhNhi đăng đàn phá trận:-))
  17. Chào bạn LinhNhi, Theo tài liệu của VinhL có thì, Thiên Phúc Trận phía Bắc, Địa Tải Trận phía Nam, Phong Dương Trận phía Tây, Vân Thùy Trận phiá Đông, Long Phi Trận Đông Nam, Hổ Dực Trận Tây Bắc, Điểu Tường Trận Đông Bắc, Xà Bàn Trận Tây Nam. Phong Hậu (Thái Bạch Âm Kinh) Bát Trận gọi là Ác Kỳ Đồ, Thiên Trận Càn Tây Bắc, Địa Trận Khôn Tây Nam, Điểu Tường Trận Ly Nam, Vân Trận Khảm Bắc, Phong Trận Tốn Đông Nam, Phi Long Trận Chấn Đông, Xà Bàn Trận Cấn Đông Bắc. Càn Khôn Tốn Khảm là Cửa đóng, Chấn Đoài Ly Cấn cửa mở. HiHiHi, Thực sự chưa nghe đến trận Thái Tổ Tam Tài đó nhe? Thể thì nhờ bạn LinhNhi chia sẻ và dẫn giải nguyên lý trong trận Thái Tổ Tam Tài.
  18. Chào bạn LinhNhi,Phong Vân Xà Điểu vậy phải trồng cây loại gì? Nằm ở các hướng nào? Còn Thiên Địa Long Hổ nằm ở đâu phải dùng cái gì tượng trưng? Bát Trận của Phong Hậu thì khác Bát Trận của Khổng Minh, xin hỏi Bát Trận của Phong Hậu dùng Bát Quái Tiên Thiên hay Hậu Thiên, khác Bát Trận của Khổng Minh như thế nào, dùng Bát Quái gì? HiHiHi Bí Chưa Nè:-)
  19. Kính chào chú Dienbatn, Thú thật VinhL củng có nghiên cứu qua Thái Ất và Kỳ Môn, nhưng có nhiều vấn đề vẫn còn chưa thông suốt, nhất là về phương diện thực hành. Nếu như chú có lòng chỉ điểm, VinhL xin thành thật tạ ơn và mong mõi cái duyên được chỉ điểm từng ngày, từng giờ. Thật sự mà nói thì VinhL chưa hề biết qua Hồng Bàng Dịch, nếu chú rảnh rang và điều kiện sức khỏe cho phép, mong chú giảng thêm về Hồng Bàng Dịch cho mấy hậu học “mê tín” như VinhL được có cơ duyên học hỏi. Thưa chú chỉ có nhừng người mê mới học và thấu hiểu được các bí thuật Tam Thức. Thế gian lui tới một chử mê, Có người mê gái, mê danh vọng, Mê vàng mê bạc, nhà cao sang, Ta mê lý học đông phương thuật, Thông đạt âm dương, thấu họa phúc, Thiên Địa đô lai nhất chưởng trung.
  20. Kính Thầy, VinhL rất cám ơn Thầy đã chỉ dần. Quả thật lúc trước đã đọc qua quyển “Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt” nhưng vì chưa nghiên cứu đến Ngũ Vận Lục Khí nên chưa hiểu. Nay đà hiểu rất rõ ràng sự phù hợp của Lạc Thư Hoa Giáp và Ngũ Vận Lục Khí. Thưa Thầy VinhL vẫn còn một nghi vấn trong đầu, đó là tại sao Giáp Tí, Ất Sửu lại nạp Kim, Bính Tí Đinh Sữu nạp Hỏa, vv... Theo Ngũ Vận Lục Khí: Năm Giáp Tí, vận Thổ (Thái Cung), khí Tư Thiên Thiếu Âm Quân Hỏa, khí Tại Tuyền Dương Minh Táo Kim, Lạc Thư Hoa Giáp thì nạp Kim Năm Ất Sửu, vận Kim (Thiếu Thương), khí Tư Thiên Thái Âm Thấp Thổ, khí Tại Tuyền Thái Dương Hàn Thủy, mà Ất Sửu củng nạp Kim Năm Bính Tí, vận Thủy (Thái Vũ), khí Tư Thiên củng là Thiếu Âm Quân Hỏa, khí Tại Tuyền củng là Dương Minh Táo Kim, nhưng Lạc Thư Hoa Giáp nạp Hỏa Năm Đinh Sữu, vận Mộc (Thiếu Giác), khí Tư Thiên Thái Âm Thấp Thổ, khí Tại Tuyền Thái Dương Hàn Thủy, nhưng củng nạp Hỏa. Năm Giáp Tý và Bính Tí, lục khí đều giống nhau, chỉ khác là Giáp Tí Thổ vận, Bính Tí Thủy vận Năm Ất Sữu và Đinh Sữu, lục khí đều giống nhau, chỉ khác là Ất Sữu Kim vận, Đinh Sữu Mộc vận Nếu căn cứ theo vận để nạp hành, nhưng tại sao Giáp Tí Thổ vận, Ất Sữu Kim vận sao đều nạp Kim, nếu nói căn cứ vào lục khí để nạp hành thì Giáp Tí và Bính Tí đều có lục khí giống nhau, nhưng Giáp Tí nạp Kim, Bính Tí nạp Hỏa. Theo như trên thì Lạc Thư Hoa Giáp (hay Nạp Âm Hoa Giáp) không thể nào căn cứ vào Vận và Khí. Cái nghi vấn quan trọng là tại sao Lạc Thư Hoa Giáp hay Nạp Âm Hoa Giáp đều khỡi nạp hành Kim? Kính mong Thầy chỉ điểm để được hiểu rỏ. Thành Thật Cám Ơn
  21. Mồi lần nghe đến ngũ vận lục khí, thì trong đầu lại nổi lên cái nghi vấn Giáp Kỷ hóa Thổ, Ất Canh hóa Kim, Tý Ngọ Dần Thân hóa Hỏa, vv..... Nếu suy luận theo hành của Can và Chi thì Giáp là Mộc Kỷ là Thổ, Mộc Khắc Thổ sao lại hợp mà hóa Thổ? Ất Mộc Canh Kim, Kim khắc Mộc sao lại hợp mà hóa Kim? Tý Thủy Ngọ Hỏa, Thủy khắc Hỏa sao lại hợp mà hoá Hỏa? Cứ như thế mà cái nghi vấn này cứ làm lập đi lập lại không tìm ra lý giải nào thích hợp. Mãi đến vài hôm trước, khi thảo luận cùng với Bác Hà Uyên bên mục “Sự Thiếu Sót của Quẻ Mai Hoa Năm Tháng Ngày Giờ” có đề cập đến cái nghi vấn này, thì trong lòng lại nổi lên cái tính tò mò hiếu kỳ, Giáp Kỷ, Ất Canh nó cứ lay quay trong đầu suốt ngày đêm. Khi nhìn đến cái bảng 60 hoa giáp sắp theo 5 can chi mồi nhóm của Bác Hà Uyên thì mới ngộ được cái lý của nó vậy. 60 can chi, Thiên Can có 10, Địa Chi có 12. Can có 5 âm 5 dương, Chi có 6 âm 6 dương. Vòng 60 can chi chia cho 12 thì được 5 nhóm, tức là Ngũ Tý, ứng dụng trong Thái Ất. Vòng 60 can chi chia cho 10 thì được 6 nhóm, tức Lục Giáp, ứng dụng trong Kỳ Môn Độn Giáp. Trong quyển “Tý Ngọ Lưu Chú” có nói như sau: Trong Thiên “Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận” (Tố Vấn 66) viết: Thiên lấy 6 làm tiết, Địa lấy 5 làm chế. Chu 1 vòng Thiên Khí 6 kỳ làm 1 Bị. Chung 1 vòng “Địa Kỷ” 5 Tuế làm 1 Chu. 5 và 6 tương hợp tạo thành 720 Khí làm 1 Kỷ, gồm 30 Tuế. 1440 Khí làm 1 Chu gồm 60 Tuế. Khi liệt 60 Can Chi, ghi vào Vận và Khí thì cái nguyên lý nó hiện lên rõ ràng. Thiên lấy 6 làm tiết, tức 60 chia cho 10 Thiên Can, tức được Lục Giáp, Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần. Can ......Vận, .... Chi ..... Khí Giáp .... Thổ, .... Tý ...... Quân Hỏa Ất ........ Kim, ... Sửu .... Thấp Thổ Bính .... Thủy, .. Dần .... Tướng Hỏa Đinh .... Mộc, ... Mão ... Táo Kim Mậu ..... Hỏa, ... Thìn .... Hàn Thủy Kỷ ....... Thổ, ... Tỵ ....... Phong Mộc Canh .... Kim, ... Ngọ .... Quân Hỏa Tân ...... Thủy, .. Mùi ..... Thấp Thổ Nhâm ... Mộc, ... Thân ... Tướng Hỏa Quí ...... Hỏa, ..... Dậu ..... Táo Kim Giáp .... Thổ, ..... Tuất .... Hàn Thủy Ất ........ Kim, ..... Hợi ..... Phong Mộc Bính .... Thủy, .... Tý ...... Quân Hỏa Đinh .... Mộc, ..... Sửu .... Thấp Thổ Mậu ......Hỏa, ..... Dần .... Tướng Hỏa Kỷ ....... Thổ, ...... Mão .... Táo Kim Canh .... Kim, .... Thìn .... Hàn Thủy Tân ...... Thủy, ... Tỵ ....... Phong Mộc Nhâm ... Mộc, .... Ngọ .... Quân Hỏa Quí ...... Hỏa, ..... Mùi ..... Thấp Thổ Giáp .... Thổ, ..... Thân .... Tướng Hỏa Ất ........ Kim, ..... Dậu ..... Táo Kim Bính .... Thủy, .... Tuất .... Hàn Thủy Đinh .... Mộc, ..... Hợi ..... Phong Mộc Mậu ......Hỏa, ..... Tý ....... Quân Hỏa Kỷ ....... Thổ, ...... Sủu ..... Thấp Thổ Canh .... Kim, ..... Dần .... Tướng Hỏa Tân ...... Thủy, .... Mão .... Táo Kim Nhâm ... Mộc, .... Thìn .... Hàn Thủy Quí ...... Hỏa, ..... Tỵ ....... Phong Mộc Giáp .... Thổ, ...... Ngọ .... Quân Hỏa Ất ........ Kim, ..... Mùi ..... Thấp Thổ Bính .... Thủy, .... Thân ... Tướng Hỏa Đinh .... Mộc, ..... Dậu .... Táo Kim Mậu ......Hỏa, ..... Tuất .... Hàn Thủy Kỷ ....... Thổ, ...... Hợi ..... Phong Mộc Canh .... Kim, .... Tý ........ Quân Hỏa Tân ...... Thủy, ... Sửu ...... Thấp Thổ Nhâm ... Mộc, .... Dần ..... Tướng Hỏa Quí ...... Hỏa, ..... Mão ..... Táo Kim Giáp .... Thổ, .... Thìn ...... Hàn Thủy Ất ........ Kim, ... Tỵ ......... Phong Mộc Bính .... Thủy, .. Ngọ ...... Quân Hỏa Đinh .... Mộc, ... Mùi ...... Thấp Thổ Mậu ..... Hỏa, ... Thân ..... Tướng Hỏa Kỷ ....... Thổ, ... Dậu ....... Táo Kim Canh .... Kim, ... Tuất ...... Hàn Thủy Tân ...... Thủy, .. Hợi ....... Phong Mộc Nhâm ... Mộc, ... Tý ........ Quân Hỏa Quí ...... Hỏa, ..... Sửu ..... Thấp Thổ Giáp .... Thổ, .... Dần ...... Tướng Hỏa Ất ........ Kim, ... Mão ..... Táo Kim Bính .... Thủy, .. Thìn ..... Hàn Thủy Đinh .... Mộc, ... Tỵ ........ Phong Mộc Mậu ..... Hỏa, ... Ngọ ...... Quân Hỏa Kỷ ....... Thổ, ... Mùi ...... Thấp Thổ Canh .... Kim, ... Thân .... Tướng Hỏa Tân ...... Thủy, .. Dậu ...... Táo Kim Nhâm ... Mộc, ... Tuất ..... Hàn Thủy Quí ...... Hỏa, ..... Hợi ..... Phong Mộc Quan sát vòng Thiên Can, và Ngủ Vận thì ta sẻ thấy sự tuần hoàn của 5 hành như sau: Thổ, Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, đây không phải là vòng Ngủ Hành Tương Sinh của Hà Đồ hay sao???? Đây chính là cái nguyên lý tại sao Giáp Kỷ hoá Thổ, Ất Canh hóa Kim, vv..... Giáp Ất Bính Đinh Mậu, Thổ Kim Thủy Mộc Hỏa Kỷ Canh Tân Nhâm Quý, Thổ Kim Thủy Mộc Hỏa Theo Hà Đồ thì ta có như sau: ................................ Nam Hỏa 2,7 ................................ Mậu, Quý Đông Mộc 3, 8 ........Trung Thổ 5, 10 ............. Tây Kim 4,9 Đinh, Nhâm ............ Giáp, Kỷ ......................... Ất, Canh ................................. Bắc Thủy 1,6 ................................. Bính, Tân Bài Giáp Kỷ hoá Thổ, Ất Canh hóa Kim, vv... chỉ là dùng để ghi nhớ vòng tuần hoàn của Ngũ Vận theo Hà Đồ thôi. Đi tìm cái nguyên lý của Ngũ vận trong bài thơ dùng để ghi nhớ thì sẻ không bao giờ tìm được. Theo nó mà tìm thì chắc có ngày tẩu hỏa nhập ma!!!! Địa lấy 5 làm chế, tức 60 chia cho 12 Địa Chi, tức được Ngũ Tý, Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, Nhâm Tý. Can ......Vận, .... Chi ..... Khí Giáp .... Thổ, .... Tý ...... Quân Hỏa Ất ........ Kim, ... Sửu .... Thấp Thổ Bính .... Thủy, .. Dần .... Tướng Hỏa Đinh .... Mộc, ... Mão ... Táo Kim Mậu ..... Hỏa, ... Thìn .... Hàn Thủy Kỷ ....... Thổ, ... Tỵ ....... Phong Mộc Canh .... Kim, ... Ngọ .... Quân Hỏa Tân ...... Thủy, .. Mùi ..... Thấp Thổ Nhâm ... Mộc, ... Thân ... Tướng Hỏa Quí ...... Hỏa, ..... Dậu ..... Táo Kim Giáp .... Thổ, ..... Tuất .... Hàn Thủy Ất ........ Kim, ..... Hợi ..... Phong Mộc Bính .... Thủy, .... Tý ...... Quân Hỏa Đinh .... Mộc, ..... Sửu .... Thấp Thổ Mậu ......Hỏa, ..... Dần .... Tướng Hỏa Kỷ ....... Thổ, ...... Mão .... Táo Kim Canh .... Kim, .... Thìn .... Hàn Thủy Tân ...... Thủy, ... Tỵ ....... Phong Mộc Nhâm ... Mộc, .... Ngọ .... Quân Hỏa Quí ...... Hỏa, ..... Mùi ..... Thấp Thổ Giáp .... Thổ, ..... Thân .... Tướng Hỏa Ất ........ Kim, ..... Dậu ..... Táo Kim Bính .... Thủy, .... Tuất .... Hàn Thủy Đinh .... Mộc, ..... Hợi ..... Phong Mộc Mậu ......Hỏa, ..... Tý ....... Quân Hỏa Kỷ ....... Thổ, ...... Sủu ..... Thấp Thổ Canh .... Kim, ..... Dần .... Tướng Hỏa Tân ...... Thủy, .... Mão .... Táo Kim Nhâm ... Mộc, .... Thìn .... Hàn Thủy Quí ...... Hỏa, ..... Tỵ ....... Phong Mộc Giáp .... Thổ, ...... Ngọ .... Quân Hỏa Ất ........ Kim, ..... Mùi ..... Thấp Thổ Bính .... Thủy, .... Thân ... Tướng Hỏa Đinh .... Mộc, ..... Dậu .... Táo Kim Mậu ......Hỏa, ..... Tuất .... Hàn Thủy Kỷ ....... Thổ, ...... Hợi ..... Phong Mộc Canh .... Kim, .... Tý ........ Quân Hỏa Tân ...... Thủy, ... Sửu ...... Thấp Thổ Nhâm ... Mộc, .... Dần ..... Tướng Hỏa Quí ...... Hỏa, ..... Mão ..... Táo Kim Giáp .... Thổ, .... Thìn ...... Hàn Thủy Ất ........ Kim, ... Tỵ ......... Phong Mộc Bính .... Thủy, .. Ngọ ...... Quân Hỏa Đinh .... Mộc, ... Mùi ...... Thấp Thổ Mậu ..... Hỏa, ... Thân ..... Tướng Hỏa Kỷ ....... Thổ, ... Dậu ....... Táo Kim Canh .... Kim, ... Tuất ...... Hàn Thủy Tân ...... Thủy, .. Hợi ....... Phong Mộc Nhâm ... Mộc, ... Tý ........ Quân Hỏa Quí ...... Hỏa, ..... Sửu ..... Thấp Thổ Giáp .... Thổ, .... Dần ...... Tướng Hỏa Ất ........ Kim, ... Mão ..... Táo Kim Bính .... Thủy, .. Thìn ..... Hàn Thủy Đinh .... Mộc, ... Tỵ ........ Phong Mộc Mậu ..... Hỏa, ... Ngọ ...... Quân Hỏa Kỷ ....... Thổ, ... Mùi ...... Thấp Thổ Canh .... Kim, ... Thân .... Tướng Hỏa Tân ...... Thủy, .. Dậu ...... Táo Kim Nhâm ... Mộc, ... Tuất ..... Hàn Thủy Quí ...... Hỏa, ..... Hợi ..... Phong Mộc Quan sát vòng Địa Chi, và Lục Khí thì ta sẻ thấy sự tuần hoàn của 6 hành như sau: Quân Hỏa, Thấp Thổ, Tướng Hỏa, Táo Kim, Hàn Thủy, Phong Mộc. Ở Lục Khí thì Hỏa được phân làm Âm Hỏa và Dương Hỏa. Âm Hỏa là Quân Hỏa, Dương Hỏa là Tướng Hỏa. Tướng Hỏa là cái Dương Hỏa ẩn trong Âm Thổ, là cái nhiệt sâu trong lòng đất. Nay ghi thêm Tướng Hỏa vào Thổ của Hà Đồ, thì sự tuần hoàn của vòng Lục Khí củng chính là vòng Ngũ Hành Tương Sinh của Hà Đồ!!!! Củng vì vậy mà ta có Tý Ngọ Dần Thân hóa Hỏa (Tý Ngọ hóa Quân Hỏa, Dần Thân hóa Tướng Hỏa), Sửu Mùi hóa Thổ, vv.... Theo Hà Đồ thì ta có như sau: ................................................. Nam Quân Hỏa ....................................................... Tý Ngọ Đông Phong Mộc ........Trung Thấp Thổ, Tướng Hỏa ............. Tây Táo Kim Tỵ Hợi ............................... Sửu Mùi, Dần Thân ........................ Mão Dậu ................................................. Bắc Hàn Thủy ................................................... Thìn, Tuất Đó không phải là cái nguyên lý của sự vận hành của Lục Khí sao???? Ngũ Vận Lục Khí đều vận hành theo vòng Hà Đồ. Nay suy lại lời nói cổ nhân quả thật ẩn tàng nhiều bí mật: Hà Đồ là Cái Thể ... Ngũ Tý và Ngũ Hổ Độn Sẳn đây bàn đến vòng Ngũ Tý, VinhL xin giải thích Ngũ Tý Độn và Ngũ Hổ Độn, phương pháp tìm Can của Tháng và Giờ căn cứ theo Can của Năm và Ngày Khi ta chia vòng 60 Can Chi theo 12 Địa Chi, thì ta có vòng Ngũ Tý như trên. 5 Con Tý là Giáp Tý, Bính Tý, Mậu Tý, Canh Tý, và Nhâm Tý. Mồi Con Tý lại chia làm 12 Can Chi, tương tựa như 1 Năm có 12 tháng, và 1 ngày có 12 giờ, tức mỗi năm hay mồi ngày khởi 1 con Tý. 5 Năm hay 5 Ngày mà quay trở lại. Nếu Ngày Giáp Tý bắt đầu khởi giờ là Giáp Tý. Như vậy Ngày Ất giờ khởi là Bính Tý, vv... như sau Giáp: Giáp Tý Ất: Bính Tý Bính: Mậu Tý Đinh: Canh Tý Mậu: Nhâm Tý Kỷ: Giáp Tý Canh: Bính Tý Tân: Mậu Tý Nhâm: Canh Tý Quí: Nhâm Tý Đây là phương pháp lấy Can Ngày để khởi Can cho giờ Tý mà cổ nhân gọi là Ngũ Tý Độn. Thời xa xưa cổ nhân lấy tháng Tý là khởi đầu, nhưng sau đó đổi sang khởi tháng ở chi Dần, vì vậy chi của Ngũ Tý phải tính lên 2 địa chi mà thành Hổ Độn. Giáp: Bính Dần (Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, bỏ Giáp Tý và Ất Sửu, lấy Bính Dần khởi tháng) Ất: Mậu Dần (Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần) Bính: Canh Dần (Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần) Đinh: Nhâm Dần (Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần) Mậu: Giáp Dần (Nhâm Tý, Quí Sửu, Giáp Dần). Ngũ Hổ Độn, là năm Con Hổ, Giáp Dần, Bính Dần, Mậu Dần, Canh Dần, Nhâm Dần. Đó chính là phương pháp dùng Can Năm để khởi Can cho Tháng Giêng mà cổ nhân gọi là Ngũ Hổ Độn. Nếu ta dùng vòng Lục Giáp và Nạp Âm để nghiên cứu Dịch hào thì ta sẻ thấy được cái nguyên lý Nạp Giáp của Kinh Phòng, và tại sao Hào Sơ Tam ứng nhau, Nhị Ngũ ứng nhau, và Tam Lục ứng nhau. VinhL
  22. Kính Thầy và chào chú Dienbatn, Theo như VinhL được biết thì Thái Ất và Kỳ Môn là 2 môn khác nhau, tuy có thể xuất từ một nguồn. Thái Ất có 72 cục dương và 72 cục âm. Lấy Ngũ Tý làm 1 Nguyên có 72 năm, 1 Kỷ 360 năm có 5 Nguyên. Kỳ Môn có 9 cục dương và 9 cục âm. Lấy Lục Giáp làm 1 Nguyên. Tam Nguyên Thượng Trung Hạ là 180 năm. Kỳ Môn trong Thái Ất thì gọi là 9 Sao Phép Tôn, phương pháp tính toán có chút khác hơn Kỳ Môn Độn Giáp. Thái Ât theo như “Thái Ất Thần Kinh” thì là một sao, không phải là Thiên Can Ất, 3 năm, tháng, ngày, hoặc giờ thì dời 1 cung tùy theo tứ Kể Năm Tháng Ngày Giờ, 24 số đi hết một vòng 8 cung. Nhìn qua hình chụp của Chú thì VinhL thấy vòng dưới ngoài là Tiên Thiên Bát Quái, vòng trên trong là Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương, lấy số 1 của Tiên Thiên và Hậu Thiên làm mốc, Tiên Thiên đi nghịch mà Hậu Thiên đi thuận. Tiên Thiên Vòng Ngoài: |:: Cấn, ::: Khôn, ::| Chấn :|: Khảm, ____, |:| Ly ||: Tốn, ||| Càn, :|| Đoài Hậu Thiên Vòng Trong: ||: Tốn, |:| Ly, ::: Khôn ::| Chấn, ___, :|| Đoài |:: Cấn, :|: Khãm, ||| Càn Hợp Tiên Thiên và Hậu Thiên lại: |:: ||: Sơn Phong Cổ, ::: |:| Địa Hỏa Minh Di, ::| ::: Lôi Địa Dự :|: ::| Thủy Lôi Truân, _______________ , |:| :|| Hỏa Trạch Khuê ||: |:: Phong Sơn Tiệm, ||| :|: Thiên Thủy Tụng, :|| ||| Trạch Thiên Quải Nhìn vào hình thì không thấy Bát Môn, Tám Tướng hoặc các phù Lục Đinh, Lục Giáp, như vậy chắc không phải là theo Kỳ Môn Độn Giáp. Không biết chú có thể bật mí một chú về cách an hai vòng Tiên Thiên và Hậu Thiên để hậu học như VinhL có thể tự nghiên cứu mà khám phá cái lý lẻ bên trong. Chân Thành Cám Ơn Kính.
  23. Chào Bác Hà Uyên, Thành thật cám ơn Bác đã cung cấp nhiều thông tin về Lịch Pháp cổ. Sách về Lịch Pháp cổ thì VinhL không có nên về vấn đề này thì mù tịt. Với kiến thức uyên bác về Lịch Pháp, không biết Bác có ý kiền gì về phương pháp Siêu Thần Tiếp Khí của Kỳ Môn trong việc tính nhuận? Thưa Bác hai con số 57 và 117 này đúng là có liên quan đến con số 10153917 của Thái Ất. 10153917 / 60 dư 57, 10153917 / 360 dư 117. Con số 10153917 này có thể dùng để tính ra Can Chi của tứ trụ năm tháng ngày giờ bằng dương lịch không cần phải dùng đến âm lịch. Sẳn đây Bác đề cập đến cái Hợp của Thiên Can, VinhL có một nghi vấn mong Bác có thể giải thíc cho. Thiên Can có 10, chia 2 thì được 5 cặp, 1 với 6, 2 với 7, 3 với 8, 4 với 9, 5 với 10. Mỗi cặp đều có ngũ hành tương khắc nhưng không gọi là Xung, mà tại sao lại gọi là Hợp? Địa Chi có 12, chia 2 thì được 6 cặp, 1 với 7, 2 với 8, 3 với 9, 4 với 10, 5 với 11, 6 với 12 tức Tý Ngọ, Sửu Mùi, vv... ngũ hành của mỗi cặp củng đều là tuơng khắc nhưng lại không được gọi là Hợp, mà tại sao lại gọi là Xung? Thành Thật Cám Ơn Bác. Kính
  24. Chào Bác Hà Uyên, Khi nghiên cứu Hoàng Cực Kinh Thế, thì có hai số mà được lập đi lập lại đó chính là số 12 và 30. Toàn bộ Nguyên Hội Vận Thế Niên Nguyệt Nhật Thì Phân Miễu (Giờ Phút Giây) điều dùng 12 và 30 xen kẻ lẫn nhau. Nguyên = 12 Hội 1 Hội = 30 Vận 1 Vận = 12 Thế 1 Thế = 30 Niên 1 Niên = 12 Nguyệt 1 Nguyệt = 30 Nhật 1 Nhật = 12 Giờ 1 Giờ = 30 Phút 1 Phút = 12 Giây. Phút và Giây đây không phải là đơn vị Phút và Giây chúng ta đang dùng hiện tại mà là đơn vị thời gian do ông Thiệu Ung phân chia theo phương pháp 12, và 30 xen kẻ. Trong Hoàng Cực Kinh Thế có đề cặp đến Niên (Tuế) Nguyên, Nguyệt Hội, Nhật (Tinh) Vận, Thìn (Thời) Thế. Từ đó ta thấy Nguyên Hội Vận Thế Niên, Niên Nguyệt Nhật Thời Phân, tương quan với nhau vì tính ra thì đều là 12x30x12x30 = 129600. Khi coi Nhật là Nguyên, thì Bác phải chia Giờ ra thành Vận, Thế rồi đến Giây tức là Nhật, Thời, Vận, Thế, Giây, thì đơn vị Phút đã không còn tuân theo luật 12, 30 của Hoàng Cực Kinh Thế nữa. Theo VinhL nghĩ, đễ khỏi vướng phải “tháng nhuận”, cho nên ông Thiệu Ung đã dùng Nguyệt theo Tiết Khí, tức một tháng là 2 tiết khí, tháng Tý bắt đầu ở tiết Đông Chí. Một năm lúc nào củng có 24 tiết khí, vì tiết khí căn cứ vào vòng hoàng đạo 360 độ (Sun Longtitude), mồi tiết khí là 15 độ. Luật nhuận được dùng khi tính tháng theo chu kỳ mặt trăng. Mùng 1 âm lịch thì lúc nào củng phải đúng vào ngày trăng mới (New Moon), nên có năm lại có tới 13 lần trăng mới nên phải đặt nhuận. Cũng vì vậy khi ông Thiệu Ung đề cặp đến Tuế (Niên), 1 Niên = 12 Nguyệt x 30 Nhật = 360 Ngày, ở đây có thể hiểu là 360 độ của vòng hoàng đạo. 1 độ là 1 ngày. Như vậy muốn chính xác 100% thì chúng ta phải dùng đến công thức của Thiên Văn Học để tính ra các đơn vị Nguyệt, Nhật, Thời, vv... VinhL có đọc qua phần Thiên Môn Địa Hộ của Bác, theo như vậy, trong Kỳ Môn Quý Nhân Đăng Thiên Môn tức là khi sao Bắc Đẩu (Khôi hay Âm Quý tức Tứ Mộ Khu Toàn Cơ Quyền, củng là Tham Cự Lộc Văn, Việt hay Dương Qúy tức Tam Quang Tiêu Dao Du củng là Liêm Vũ Phá ) ở vào khu vực Khuê Bích. Nhân đây nhắc đến Kỳ Môn, không biết Bác có ý kiến gì về sự khác biệt giữa các môn Bát Trạch, Huyền Không Phi Tinh, Phép Tôn trong Thái Ất, và Kỳ Môn Độn Giáp. Ngoại trừ Bát Trạch, thì 3 môn kia đều bày bố Bắc Đẩu Thất Tinh theo phương pháp khác nhau. Huyền Không thì cho sao phi vào cung trung, Kỳ Môn thì theo tiết khí và Lục Nghi mà bày bố, Thái Ất Phép Tôn không chú trọng đến tiết khí. Trong 3 môn thì chỉ có Kỳ Môn Độn Giáp là coi trọng việc Siêu Thần Tiếp Khí để lập Cục. Theo như sách của ông Thẩm Trúc Nhưng, thì nhờ mượn đọc được tác phẩm “Âm Dương Nhị Trạch Lục Nghiệm” của Trương Trọng Sơn thêm vào nhiều năm nghiên cứu mà biết được phương pháp sao nhập trung cung. So sánh giữa 2 phương pháp bày bố cửu tinh, thì VinhL thấy sao nhập trung cung thiếu sự hợp lý với các hiện tượng thiên văn. Phương pháp của Kỳ Môn thì có vẽ hợp lý hơn. Có khi nào ông Thẩm Trúc Nhưng thấy sao vào cung giữa mà cứ nghỉ đó là phương pháp, mà thật ra cửu tinh phải bày bố theo Kỳ Môn Độn Giáp lấy Cục của tiết khí mà khởi Lục Giáp theo đường lường thiên xích (Tiên Thiên Bát Quái Nạp Số Thái Huyền) mà an bày 9 sao. Không biết nếu dùng cách an sao của Kỳ Môn áp dụng vào Huyền Không có thích hợp hơn không?. Theo VinhL biết trong quyển La Kinh Thấu Giải có nói đến phương pháp ứng dụng Kỳ Môn và trùng quái để tìm 24 ngôi châu bảo thấu địa long. Vài lời lạm bàn nếu có sai sót mong Bác chỉ điểm. Kính
×
×
  • Create New...