Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

VinhL

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    473
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    1

Everything posted by VinhL

  1. Chào Bác Hà Uyên, VinhL xin tặng bác một tài liệu nhỏ, củng là mấu chốt về nguyên lý Bách Lục Dương Cửu. Trích trong “Hán Việt Dịch Sử Lược” của GS Nguyễn Hữu Quang 4) Dương cửu 陽九: nguyên-văn 厄運逢陽九 lấy từ Hán-thư Luật-lịch-chí 漢書律歷志 (Thư-tịch-khảo 1C, tr. 401-446): Bách lục dương cửu 百六陽九. Nghĩa là ách-hội tức là hồi có tai-ách. Có ba thuyết, nhưng thuyết đầu là hợp-lý hơn cả: a/ Hán-thư Luật-lịch-chí: Thoạt đầu là vào Nguyên, 106 dương 9, thứ nhì là 374 âm 9, thứ ba là 480 dương 9, thứ tư là 720 âm 7, thứ năm là 720 dương 7, thứ sáu là 600 âm 5, thứ bẩy là 600 dương 5, thứ tám là 480 âm 3 và thứ chín là 480 dương 3, phàm 4617 năm mà thành trọn một nguyên. Vị chi là 4560 Kinh-tuế (tức thường tuế) và 57 tai-tuế. Tóm lại 4617 tuế là một Nguyên, dương là hạn-tai (hạn hán), âm là thủy-tai (Xin xem Sớ của Thiên Vương-chế trong Kinh Lễ và ô chót Bảng 21.1 Bảng Tỷ-giảo Dịch/Huyền). Chú ý : độc-hữu nào thích Thiên-văn như bút-giả, xin đọc đoạn thiên-văn- gia Von Robert Henseling tính các chu-kỳ kể trên trong sách Sternkunde und Weltbild im Alten China (Thư-tịch-khảo 1D, tr. 126-7). Xin tóm tắt. Ta có: 4617 = 9 x 513; 513 = 8 x 60 + 33; 4617 = (9 x 480) + (4 x 60) + 57 và 57 = (3 x 9) + (3 x 10) = (3 x 9) + (6 x 5) = 9 + 9 + 9 + 7 + 7 + 5 + 5 + 3 + 3. Từ đó ta suy ra 9 thời-đoạn tai-ách: { I 106 + 9 II 374 + 9 } ® 480 + 2 x 9 III 480 + 9 IV 720 + 7 V 720 + 7 VI 600 + 5 VII 600 + 5 VIII 480 + 3 và IX 480 + 3. (60 biểu-thị một Hoa-giáp). Chú ý: Xin tham-khảo Thư-tịch-khảo 1C (Hán Thư, Quyển thứ 99, Liệt- truyện thứ 69, Truyện Vương Mãng, tr.2068) để xem cách tính ức đoán thời-đoạn tai-ách của y để tiếm ngôi Hoàng-đế:: Mãng thượng-tấu Thái-hậu rằng: “Bệ-hạ chí thánh, gặp buổi hoàng-gia lâm ách bẩy đời ( 7 x 30 = 210 năm ...” b/ Đạo-thư gọi dương-ách là dương-cửu, địa-khuy là bách-lục, 3300 năm là một tiểu-dương-cửu, tiểu-bách-lục, 9900 năm là đại-dương-cửu, đại-bách-lục (Xin xem Linh-bửu Thiên Địa Vận-độ-kinh 靈寶天地運度經). c/ Thái-ất lấy 456 năm làm một dương-cửu, 288 năm sau làm một bách-lục. (Xin xem Du-hoạn Kỷ-văn 游宦紀文 của Trương Thế Nam 張世南). Kính
  2. Chào Bác Hà Uyên, Theo sự khảo xác của VinhL về trận động đất ở Indonesia vào 30 tháng 9, 2009 thì không có cách Thái Bạch (Venus) Nhập Nguyệt (Moon). Bác xem tài liệu về vị trí của các thiên thể sau: 2009 Sumatra earthquakes (30 September), west of Sumatra Sumatra: -0.591878,101.350937 (Long: 0o35’30’’W, Lat: 101o21’03’’N) Date/Time: 2009.09.30 00:00:00 UTC (GMT - Delta T), JD = 2455104.500000Sidereal Time: 00:35:30, Delta T = 69.8 secondsLongitude: 0°35'30" Latitude: 11°21'03" Elevation: 0 meters Phase of Moon: 0.363 (0.000=New; 0.250=First 1/4; 0.500=Full; 0.750=Last 1/4)Planet Longitude Sun 06 Lib 58'27",Chẩn 1o58’27” Moon 17 Aqr 29'46",Nữ 4o Moon's Node 27 Cap 52'57"R,Đẩu 18o Apogee 24 Cap 28'07"R,Đẩu 15o Mercury 21 Vir 37'44",Dực 1o Venus 11 Vir 32'58",Trương 8o Mars 21 Cnc 09'57",Tỉnh 17o Jupiter 17 Aqr 27'13"R,Nữ 4o Saturn 26 Vir 30'48",Trương 15o Uranus 24 Psc 08'25"R,Thất 4o Neptune 24 Aqr 01'55"R,Nữ 10o Pluto 00 Cap 44'48",Tâm 4o Chiron 21 Aqr 42'58"R,Nữ 7o Quaoar 18 Sgr 24'01",Vĩ 12o Sedna 21 Tau 50'19"R,Mão 0o Sgr A*/GalCtr 26 Sgr 59'27",Cơ 1o Nhưng chổ đáng chú ý là Tuế Tinh (Jupiter) vào cung Nữ 4 độ, Nguyệt củng vào cung Nữ 4 độ, theo như vậy phải là cách Tuế Nhập Nguyệt. Ngoài ra còn có Neptune, Chiron củng đều vào cung Nữ. Kim (Venus) và Thổ (Saturn) đều vào cung Trương. Vậy trong ngày xảy ra động đất, có cách Thái Bạch Phùng Trấn, Tuế Nhập Nguyệt ! Kính
  3. Chào bạn PTS, VinhL tặng bạn chút tài liệu để nghiên cứu. Sau đây là bảng nhị thập bát tú và cung độ theo trong quyển “Chinese Astrology” của tác giả Derek Walters. Ký hiệu a là trích theo sách Mệnh Vận Đại Quan, b là trích theo sách Hoài Nam Tử, c là trích theo Churyo Noda (Nhật), d là theo độ hiện đại (vòng tròn 360 độ) do tác giả (Derek Walters) chuyển sang từ a. Theo thiên văn cổ thì vòng tròn được chia thành 365 ¼ độ, mỗi độ tương ứng với một một vị trí trong một vòng chu thiên của mặt trời. 28 Tú Chòm Thanh Long: tổng cộng 77.22 độ 1 Giác; a: 12.70 độ, b: 12 độ, c: 11.70 độ, d: 12.52 độ 2 Cang; a: 9.42 độ, b: 9 độ, c: 9.881 độ, d: 9.285 độ 3 Đê, a: 16.15 độ, b: 15 độ, c: 14.46 độ, d: 15.92 độ 4 Phòng, a: 5.41 độ, b: 5 độ, c: 5.25 độ, d: 5.33 độ 5 Tâm, a: 6.18 độ, b: 5 độ, c: 4.14 độ, d: 6.09 độ 6 Vĩ, a: 17.78 độ, b: 18 độ, c: 18.95 độ, d: 17.525 độ 7 Cơ, a: 9.58 độ, b: 11 ¼ độ, c: 10.22 độ, d: 9.44 độ Chòm Huyền Vũ: tổng cộng 95.07 độ 8 Đẩu, a: 23.98 độ, b: 26 độ, c: 26.54 độ, d: 26.63 độ 9 Ngưu, a: 7 độ, b: 8 độ, c: 7.90 độ, d: 6.90 độ 10 Nữ, a: 11.29 độ, b: 12 độ, c: 11.82 độ, d: 11.13 độ 11 Hư, a: 9.13 độ, b: 10 độ, c: 9.56 độ, d: 9.00 độ 12 Nguy, a: 16.18 độ, b: 17 độ, c: 16.64 độ, d: 15.95 độ 13 Thất, a: 18.17 độ, b: 16 độ, c: 16.52 độ, d: 17.90 độ 14 Bích, a: 9.32 độ, b: 9 độ, c: 8.44 độ, d: 9.19 độ Chòm Bạch Hổ: tổng cộng 82.97 độ 15 Khuê, a: 17.70 độ, b: 16 độ, c: 15.66 độ, d: 17.45 độ 16 Lâu, a: 12.19 độ, b: 12 độ, c: 10.83 độ, d: 12.01 độ 17 Vị, a: 15.57 độ, b: 14 độ, c: 15.2 độ, d: 15.35 độ 18 Mão, a: 10.91 độ, b: 11 độ, c: 10.44 độ, d: 10.75 độ 19 Tất, a: 16.32 độ, b: 16 độ, c: 17.86 độ, d: 16.09 độ 20 Chủy, a: 0.05 độ, b: 2 độ, c: 1.47 độ, d: 0.05 độ 21 Sâm, a: 10.23 độ, b: 9 độ, c: 6.93 độ, d: 10.08 độ Chòm Chu Tước: tổng cộng 109.99 độ 22 Tỉnh, a: 31.29 độ, b: 33 độ, c: 32.60 độ, d: 30.84 độ 23 Quỉ, a: 2.14 độ, b: 4 độ, c: 4.46 độ, d: 2.11 độ 24 Liễu, a: 13.20 độ, b: 15 độ, c: 15.46 độ, c: 13.01 độ 25 Tinh, a: 6.40 độ, b: 7 độ, c: 6.86 độ, d: 6.31 độ 26 Trương, a: 18.05 độ, b: 18 độ, c: 17.13 độ, d: 17.79 độ 27 Dực, a: 20.26 độ, b: 18 độ, c: 17.74 độ, d: 19.97 độ 28 Chẩn, a: 18.65 độ, b: 17 độ, c: 16.76 độ, d: 18.38 độ Bảng chuyển đổi từ vòng Zodiac Tây Phương sang vòng 28 Tú Ecliptic degree, Zodiac degree, Hsiu (Tú) degree, Equatorial degree 0, Aries, 11, 159 3, 3, 14, 162 4, 4, *14 (Bích), 164 5, 5, 1, 165 7, 7, 3, 167 10, 10, 6, 170 13, 13, *15 (Khuê), 173 15, 15, 2, 175 17, 17, 5, 178 20, 20, 8, 181 23, 23, 11, 184 25, 25, 13, 186 27, 27, *16 (Lâu), 189 30, Taurus, 3, 192 33, 3, 7, 196 35, 5, 9, 198 37, 7, *17 (Vị), 201 40, 10, 3, 204 43, 13, 6, 207 45, 15, 8, 209 47, 17, 10, 211 50, 20, 13, 214 51, 21, *18 (Mão), 215 53, 23, 2, 217 55, 25, 3, 218 57, 27, 5, 220 60, Gemini, 8, 223 63, 3, *19 (Tất), 226 65, 5, 2, 228 67, 7, 4, 230 70, 10, 6, 232 73, 13, 9, 235 75, 15, 11, 237 77, 17, 13, 239 80, 20, 15, 241 82, 22, *20 (Chủy), 242 83, 23, 1, 243 84, 24, *21 (Sâm), 244 85, 25, 2, 246 87, 27, 3, 247 90, Cancer, 6, 250 93, 3, *22 (Tỉnh), 253 95, 5, 2, 253 97, 7, 4, 257 100, 10, 6, 259 103, 13, 9, 262 105, 15, 12, 265 107, 17, 14, 267 110, 20, 16, 269 113, 23, 19, 272 115, 25, 21, 274 117, 27, 23, 276 120, Leo, 25, 278 123, 3, 28, 281 125, 5, 30, 283 127, 7, 32, 285 128, 8, *23 (Quỉ), 286 130, 10, 2, 288 132, 12, *24 (Liễu), 290 133, 13, 1, 291 135, 15, 3, 293 137, 17, 5, 295 140, 21, 7, 297 143, 23, 10, 300 145, 25, 13, 303 147, 27, *25 (Tinh), 305 150, Virgo, 3, 308 153, 3, 6, 311 154, 4, *26 (Trương), 312 155, 5, 2, 314 157, 7, 5, 317 160, 10, 7, 319 163, 13, 10, 322 165, 15, 12, 324 167, 17, 15, 327 170, 20, *27 (Dực), 330 173, 23, 3, 333 175, 25, 6, 336 177, 27, 9, 339 180, Libra, 12, 342 183, 3, 15, 345 185, 5, *28 (Chẩn), 348 187, 7, 2, 350 190, 10, 5, 353 193, 13, 8, 356 195, 15, 10, 358 197, 17, 13, 361 200, 20, 16, 364 201, 21, *1 (Giác), 0 203, 23, 2, 2 205, 25, 4, 4 207, 27, 7, 7 210, Scorpio, 10, 10 212, 2, *2 (Cang), 12 213, 3, 1, 13 215, 5, 3, 15 217, 7, 6, 18 220, 10, *3 (Đê), 21 223, 13, 3, 24 225, 15, 5, 26 227, 17, 7, 28 230, 20, 9, 31 233, 23, 12, 34 235, 25, 13, 35 236, 26, *4 (Phòng), 36 237, 27, 1, 37 240, Sagit., *5 (Tâm), 41 243, 3, 3, 44 245, 5, *6 (Vĩ), 46 247, 7, 2, 48 250, 10, 4, 50 253, 13, 7, 53 255, 15, 9, 55 257, 17, 11, 57 260, 20, 13, 59 263, 23, 15, 62 265, 25, *7 (Cơ), 64 267, 27, 1, 65 270, Capri., 4, 68 273, 3, 7, 71 275, 5, 10, 74 277, 7, *8 (Đẩu), 75 280, 10, 2, 77 283, 13, 5, 80 285, 15, 7, 82 287, 17, 9, 84 290, 20, 11, 86 293, 23, 14, 89 295, 25, 16, 91 297, 27, 18, 93 300, Aquar., 20, 95 303, 3, 23, 98 305, 5, 25, 100 306, 6, *9 (Ngưu), 101 307, 7, 1, 102 310, 10, 3, 104 313, 13, 7, 108 314, 14, *10 (Nữ), 109 315, 15, 2, 111 317, 17, 4, 113 320, 20, 6, 115 323, 23, 9, 118 325, 25, *11 (Hư), 121 327, 27, 2, 123 330, Pisces, 5, 126 333, 3, 8, 129 334, 4, *12 (Nguy), 131 335, 5, 1, 132 337, 7, 4, 135 340, 10, 6, 137 343, 13, 9, 140 345, 15, 11, 142 347, 17, 14, 145 350, 20, *13 (Thất), 148 353, 23, 3, 151 355, 25, 5, 153 357, 27, 9, 157 http://ephemeris.com/ephemeris.php Current Ephemeris (apparent positions): Date/Time: 2009.10.21 05:23:39 UTC (GMT - Delta T), JD = 2455125.724757Sidereal Time: 07:22:50, Delta T = 69.9 seconds Geocentric positions Phase of Moon: 0.102 (0.000=New; 0.250=First 1/4; 0.500=Full; 0.750=Last 1/4) Planet Longitude Latitude Right Asc. Declination Sun 27 Lib 57'15" - 0°00'00" 13:43:51 -10°44'48" Moon 04 Sgr 33'56" - 3°53'07" 16:07:16 -24°52'12" Moon's Node 25 Cap 11'19"R 0°00'00" 19:48:34 -21°05'50" Apogee 12 Aqr 08'46"R 1°28'04" 20:56:44 -15°44'35" Mercury 17 Lib 48'11" 1°42'37" 13:08:17 - 5°24'15" Venus 07 Lib 47'43" 1°32'41" 12:31:05 - 1°40'23" Mars 02 Leo 15'24" 1°13'41" 08:19:17 20°51'11" Jupiter 17 Aqr 16'28" - 1°02'52" 21:20:13 -16°39'20" Saturn 29 Vir 03'09" 2°01'14" 11:59:44 2°13'50" Uranus 23 Psc 23'28"R - 0°47'27" 23:36:59 - 3°21'01" Neptune 23 Aqr 45'00"R - 0°25'17" 21:44:51 -14°00'06" Pluto 01 Cap 03'50" 5°18'11" 18:04:27 -18°07'55" Chiron 21 Aqr 16'13"R 6°27'02" 21:26:17 - 8°17'31" Quaoar 18 Sgr 42'44" 7°26'18" 17:13:31 -15°32'47" Sedna 21 Tau 40'08"R -12°02'05" 03:29:29 6°32'19" Sgr A*/GalCtr 26 Sgr 59'22" - 5°36'34" 17:46:18 -29°00'46" Theo như bảng chuyển đổi trên thì ta có: (R là Retrogade motion) Sun 27 Lib 57'15" -> Giác 7o57’15” Moon 04 Sgr 33'56" -> Tâm 4o33’56” Moon's Node 25 Cap 11'19"R -> Đẩu 16o11’19” Apogee 12 Aqr 08'46"R -> Ngưu 5o8’46” Mercury 17 Lib 48'11" -> Chẩn 13o48’11” Venus 07 Lib 47'43" -> Chẩn 2o47’43” Mars 02 Leo 15'24" -> Tỉnh 27o15’24” Jupiter 17 Aqr 16'28" -> Nữ 4o16’28” Saturn 29 Vir 03'09" -> Dực 11o3’09” Uranus 23 Psc 23'28"R -> Thất 3o23’28” Neptune 23 Aqr 45'00"R -> Nữ 9o45’00” Pluto 01 Cap 03'50" -> Cơ 5o3’50” Chiron 21 Aqr 16'13"R -> Nừ 7o16’13” Quaoar 18 Sgr 42'44" -> Vĩ 12o42’44” Sedna 21 Tau 40'08"R -> Mão 0o40’08” Sgr A*/GalCtr 26 Sgr 59'22" -> Cơ 0o59’22” Thân
  4. Chào bạn PTS và bạn Sapa, VinhL thấy hai bạn phản biện với nhau vài năm nửa chắc củng chưa ai thuyết phục được ai. Bạn PTS thì dùng Thiên văn học hiện đại để tính vị trí của nhật nguyệt dĩ nhiên là độ chính xác cao hơn các cổ nhân dùng mắt trần mà quan sát. Từ đó mà bạn PTS kết luận là thuyết Nạp Giáp không còn chính xác nửa. Vấn đề này làm VinhL liên tưởng tới ông Thái Tuế và Tuế Tinh đây. Sao Tuế Tinh là Jupiter, nhưng vì vòng chu thiên chỉ có 11.85652505 năm không được đúng 12 năm nên cổ nhân mới đặt ra ông Thái Tuế, đi đúng 12 năm một vòng. Nếu có nghiên cứu qua Thiên Văn học cổ thì các bạn củng biết điều này. Thế các môn lý học đông phương nào là Phong Thủy, Trạch Cát, Phi Tinh đều coi trọng Thái Tuế, đã biết đây chỉ là một tinh thể trừu tượng, nhưng vẫn được sử dụng qua cả ngàn năm có ai để ý tới ông Jupiter mới chính là chổ năng lượng có tác động đến địa cầu đâu? Thân
  5. Chào bạn LinhNhi, Không biết bạn có thể vẻ ra hình bát quái theo không gian 3 chiều không? Có lẻ hình bát quái phải được xem trong không gian 3 chiều chứ không phải 2 chiều. Càn Khôn định vị tức là trục. Khãm Ly là Nhật Nguyệt Chấn Tốn Cấn Đoài là 4 hành tinh. Thổ là địa cầu, như vậy có cả Thất Chính rồi. Thân
  6. VinhL gữi các bạn chút tài liệu trích trong “Trương Quả Tinh Tông” 晦朔弦望圖 Hối sóc huyền vọng đồ 三辰、五巳、八午中,初十未上、十三申, Tam thần , ngũ tị , bát ngọ trung , sơ thập vị thượng , thập tam thân , 十五酉時、十八戌,二十亥位起精神, Thập ngũ dậu thời , thập bát tuất , nhị thập hợi vị khởi tinh thần , 二十三日子時出,二十六日丑時行, Nhị thập tam nhật tử thời xuất , nhị thập lục nhật sửu thời hành , 二十八日寅上立,三十加來卯上輪, Nhị thập bát nhật dần thượng lập , tam thập gia lai mão thượng luân , 月月常從卯位加,陰二陽三順數排, Nguyệt nguyệt thường tòng mão vị gia , âm nhị dương tam thuận sổ bài , 山茶甫正斜角沒,太陰時刻定無差。 San trà phủ chánh tà giác một , thái âm thời khắc định vô soa . 圖說:日有晦朔、月有弦望,初一為朔、十五為望, Đồ thuyết : nhật hữu hối sóc , nguyệt hữu huyền vọng , sơ nhất vi sóc , thập ngũ vi vọng , 朔望中一日為上弦,望晦中一日為下弦。日屬陽、 Sóc vọng trung nhất nhật vi thượng huyền , vọng hối trung nhất nhật vi hạ huyền . Nhật thuộc dương , 月屬陰,陰常為陽消剝。自月初,月從右行, Nguyệt thuộc âm , âm thường vi dương tiêu bác . Tự nguyệt sơ , nguyệt tòng hữu hành , 漸離於日,而明漸生,至初七八,明半見如弓弦, Tiệm ly ư nhật , nhi minh tiệm sanh , chí sơ thất bát , minh bán kiến như cung huyền , 故謂上弦;至十五,月去日最遠,故得全其明, Cố vị thượng huyền ; chí thập ngũ , nguyệt khứ nhật tối viễn , cố đắc toàn kỳ inh , 日月相望,謂之望月;半後則漸近日左畔,而明漸消, Nhật nguyệt tương vọng , vị chi vọng nguyệt ; bán hậu tắc tiệm cận nhật tả bạn , nhi minh tiệm tiêu , 至二十二、三僅存半明亦如弓弦,故謂之下弦; Chí nhị thập nhị , tam cận tồn bán minh diệc như cung huyền , cố vị chi hạ huyền 至三十日,日月相合,月為日消,盡謂之晦。 Chí tam thập nhật , nhật nguyệt tương hợp , nguyệt vi nhật tiêu , tận vị chi hối .
  7. Chào Bác Hà Uyên, Thì ra bác củng có nghiên cứu qua Thất Chính Tứ Dư nửa, bái phục và mong được bác chỉ dẫn thêm. Theo thuật Thất Chính Tứ Dư coi cát hung của dương trạch dùng hướng sơn nhà cùng mệch chủ, và thất tinh để luận đoán, củng có chổ hay, nhưng sách về thuật này hình như quá hiếm như sách về Thái Ất củng vậy. Không biết bác đang có tài liều nào về môn này nhỉ? Kính
  8. Chào bác HàUyên, Theo VinhL suy luận thì ông Nguyển Mạnh Bảo và cụ Đổ Quân củng chỉ là Dịch giả thôi bác ạ, nếu có thì củng chỉ nghiên cứu chút chút thôi. Như vấn đề tiết khí vũ trụ trong quyển Kỳ Môn Độn Giáp của ông NMB thì củng không nhất quán. Trong quyển của cụ Đổ Quân thì dẫn chứng giải thích bạy bạ cho nên mới học thì hiểu chút đỉnh, vài năm sau bắt đầu lúng túng, 5 năm sau thì gần như bị tẩu hỏa nhập ma :( :D Sau đây VinhL xin dần giải tặng bác một thí dụ sai của cụ Đổ Quân trong quyển “Độn Giáp Lược Giải” Trang 214, cách 8 Lục Qúy gia Đinh Xà Yêu Kiêù Chủ binh mạo thử mạc bạch kiền Thượng nhiên ngộ địch chung tao hại Cấp thiên mậy Kỷ khả tiêu giao Lục Quý gia Đinh là cách Xà Yêu Kiều. Cách này trên khắc dưới lợi khách không lợi chủ. Vv… Thi dụ: Tiết Đông Chí, Thượng Nguyên, ngày Giáp Thân, giờ Quý Dậu. Dương Độn 1 Cục Mậu 1……Tân 4……….Ất 9 Kỷ 2……..Nhâm 5……..Bính 8 Canh 3……Quý 6………Đinh 7 Ta có chực phù chực sử : Thiên Bồng / 1……….Hưu Môn / 1 Can Quý trong địa bàn mang số 6 ta có Thiên Bồng / 6……….Hưu Môn / 1 Theo cách trên ta có phương trình thức: Qúy / Đinh……….Thiên Tâm / 7……….Kinh Môn 7 Bởi vì Sao Đằng Xà lâm Hưu Môn. Trong Hưu Môn có can Quý. Can Quý trên địa bàn mang số 6 nên ta có chực phù là Thiên Tâm. Đinh Kỳ mang số 7 nên ta có chực sử là Kinh môn và số 7 cũng là lạc cung. Cách này gọi là Xà Yêu Kiều. [bạch Hổ 4---------][Châu Tước 9--][Cửu Địa 2 Tử----------------] [Lục Hợp 3 Thương][---------5------][Kinh 7 Cửu Thiên------------] [sinh 8 Thái Âm----][Hưu 1 Đằng Xà][Chực Phù 6 Thiên Bồng Khai] Thiên Bồng / 6, Hưu Môn khởi từ cung Khãm có Kinh Môn / 7 Đó là thí dụ cho cách Xà Yêu Kiều, mới chỉ có một quẻ cho giờ Quý Dậu thôi mà phương trình thức này nọ củng đã phức tạp, tính toán phiền phức rồi nói chi tính quẻ cho 12 giờ hay vài ngày để tìm cách tốt. Vì vậy càng học càng lẫn quẫn trong mấy cái phương trình thức khó hiểu đừng nói chi ứng dụng. Xà Yêu Kiều tức là Quý gia Đinh. Chỉ có đơn giản như đang giởn vậy thôi. Ta chỉ cần lập quẻ trên cửu cung thì đã thấy rỏ rồi. Phương pháp tính như sau: 1/Dương Độn 1 Cục, Giờ Quý Dậu tức tuần Giáp Tý, tức Mậu Giáp Tý Mậu khởi 1 ở Khãm, Trực Phù là Bồng Tinh, Trực Sử là Hưu Môn Ta có địa bàn như sau: [Tân,Phụ,Đổ--------][Ất,Anh,Cảnh--------][Kỷ,Nhuế,Tử] [Canh,Xung,Thương][Nhâm,Cầm----------][Đinh,Trụ,Kinh] [bính,Nhậm,Sinh----][(Mậu),(Bồng),(Hưu)][Quý,Tâm,Khai] 2/Trực phù Mậu (Giáp Tý) gia Thời Can Quý (ở cung 6) [Ất Tân,Anh-----][Kỷ Ất,Nhuế------][Đinh Kỷ,Trụ------] [Tân Canh,Phụ--][Nhâm,Cầm-------][Quý Đinh,Tâm----] [Canh Bính,Xung][bính (Mậu),Nhậm][(Mậu) Quý,(Bồng)] 3/Trực Sử gia Thời Chi, Giáp Tý Mậu Bồng Hưu ở cung 1, Ất Sửu 2, …., Nhâm Thân 9, Quý Dậu 1. Vậy Trực Sử gia lên cung 1. [Ất Tân,Anh,Đổ-------][Kỷ Ất,Nhuế,Cảnh------][Đinh Kỷ,Trụ,Tử--------] [Tân Canh,Phụ,Thương][Nhâm,Cầm-------------][Quý Đinh,Tâm,Kinh----] [Canh Bính,Xung,Sinh-][bính (Mậu),Nhậm,(Hưu)][(Mậu) Quý,(Bồng),Khai] 4/An Bát Thần, Dương Độn đi thuận khởi từ Trực Phù (trên thiên bàn), Phù, Xà, Âm, Hợp, Trần, Tước, Địa, Thiên, ta có một quẻ Kỳ Môn như sau: [Ất Tân,Anh,Đổ,Trần-------][Kỷ Ất,Nhuế,Cảnh,Tước-----][Đinh Kỷ,Trụ,Tử,Địa--------] [Tân Canh,Phụ,Thương,Hợp][Nhâm,Cầm------------------][Quý Đinh,Tâm, Kinh,Thiên-] [Canh Bính,Xung,Sinh,Âm--][bính (Mậu),Nhậm, (Hưu),Xà][(Mậu) Quý,(Bồng),Khai,Phù] Nay ta coi ở cung 7 có Quý gia Đinh, đó chính là Xà Yêu Kiều!!! Xem lại cách giải thích của cụ Đổ Quân như sau: Bởi vì Sao Đằng Xà lâm Hưu Môn. Trong Hưu Môn có can Quý (VinhL không thấy can Quý ở Hưu Môn nào đâu???). Can Quý trên địa bàn mang số 6 nên ta có chực phù là Thiên Tâm (Trực Phù ở quẻ là Thiên Bồng tinh mà). Đinh Kỳ mang số 7 nên ta có chực sử là Kinh môn (Trực Sử của quẻ là Hưu Môn mà) và số 7 cũng là lạc cung. Cách này gọi là Xà Yêu Kiều.-> Sai hoàn toàn và không hợp lý chút nào. Ngày xưa tướg ra trận chỉ bấm trên tay để diền quẻ Kỳ Môn, chứ đâu lập phiương trình thức như cụ Đổ Quân hay ông Nguyền Mạnh Bảo mà tính tới tính lui lộn xà ngầu, lập xong quẻ thì quân giặc tới trước cửa rồi :) Kính
  9. Chào bác HàUyên, VinhL đã từng đặt câu hỏi đó, và củng đã tìm được câu trả lời vấn đề. Mỗi tiết khí là 15 ngày, mồi ngày 12 giờ, vậy 5 ngày có 60 giờ tức 1 hoa giáp. 15 ngày có 180 giờ, mồi 60 giờ tức 5 ngày là 1 nguyên, cho nên mỗi tiết khí chia 180 giờ làm Thượng Trung Hạ. 1 nguyên thì có 60 giờ tức lục giáp. Ta có Lục Nghi là Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quí, mỗi giáp ẩn dưới 1 nghi, vì vậy 5 ngày thì vừa đủ đi qua hết 6 con giáp. Mỗi một nguyên đi qua 6 con giáp tức là 6 số Tiết thứ nhất Đôn Dương 1 cục Thượng Nguyên Mậu Giáp Tý 1 Kỷ Giáp Tuất 2 Canh Giáp Thân 3 Tân Giáp Ngọ 4 Nhâm Giáp Thìn 5 Quí Giáp Dần.6 Trung Nguyên Mậu Giáp Tý 7 Kỷ Giáp Tuất 8 Canh Giáp Thân 9 Tân Giáp Ngọ 1 Nhâm Giáp Thìn 2 Quí Giáp Dần.3 Hạ Nguyên Mậu Giáp Tý 4 Kỷ Giáp Tuất 5 Canh Giáp Thân 6 Tân Giáp Ngọ 7 Nhâm Giáp Thìn 8 Quí Giáp Dần.9 Sang Tiết thứ hai Độn Dương 2 cục Mậu Giáp Tý 2 Kỷ Giáp Tuất 3 Canh Giáp Thân 4 Tân Giáp Ngọ 5 Nhâm Giáp Thìn 6 Quí Giáp Dần.7 Trung Nguyên Mậu Giáp Tý 8 Kỷ Giáp Tuất 9 Canh Giáp Thân 1 Tân Giáp Ngọ 2 Nhâm Giáp Thìn 3 Quí Giáp Dần.4 Hạ Nguyên Mậu Giáp Tý 5 Kỷ Giáp Tuất 6 Canh Giáp Thân 7 Tân Giáp Ngọ 8 Nhâm Giáp Thìn 9 Quí Giáp Dần.1 Tiết thứ ba Động Dương 3 cục thì có Thượng 3, Trung 3+6=9, Hạ 9+6=15 mod 9= 6, vv... Mỗi 6 con giáp đi qua 6 số, vì vậy mà ta có ------------------------Thượng----Trung-----Hạ -----------Đông chí-------1----------7---------4 Khảm 1---Tiểu hàn--------2----------8---------5 -----------Đại hàn---------3----------9---------6 Kính
  10. Chào bác HàUyên,Bác chỉ cần quyển lịch có ghi tiết khí, sau đó theo phương pháp Siêu Thần Tiếp Khí để mà tính cục. Kính
  11. Chào bạn Sapa, Theo như hình vẽ trên, Giáp Kỷ, Ât Canh, Đinh Nhâm, Mậu Quí, đều ở các vị đối nhau lại vừa khắc nhau theo ngủ hành, vậy sau lại cho là hợp??? Từ sự giải thích trong bài trên mà VinhL gọi số Lạc Thư là số Tiên Thiên (là ví nó xuất phát từ Tiên Thiên Bát Quái.) Số 10 không thấy trong cửu cung vì nó chính là Âm Thổ, mẹ đất thì ở khắp nơi, sinh ra muôn loài, ra muôn trùng cái tiểu thái cực số 10. Ở Tiên Thiên Bát Quái, số 5,10 Thổ thì ký ở 1,6 Thủy, từ đó mà có thể giải thích hợp lý 8 san của Bát Trạch.
  12. Mua đồ quỳ mà không coi hàng, quả là lẩm cẩm!!! :lol: :P :P
  13. Kính bác Hà Uyên, Bác nói đúng lắm 1+5 thì 5 ứng với Giáp, có lẻ vì vậy mà Giáp Tý lúc nào củng ẩn ở Lục Mậu trong Kỳ Môn Độn Giáp.
  14. Muốn biết hư thực có gì khó đâu, Cưới về một nàng thì hư thực biết ngay :( :lol: :P
  15. Chào Chú DaoHoa, bạn Sapa, Trước khi có Chu Dịch, Văn Vương Bát Quái thì đã có Liên Sơn Quy Tàng Dịch. Thời Hoàng Đế thì bắt đầu có Kỳ Môn Độn Giáp, vậy Độn Giáp có dùng Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương không? Nếu đã có Kỳ Môn Độn Giáp tức đã có Lường Thiên Xích 61834927 trước khí có Bát Quái Văn Vương. Nếu chưa có Bát Quái Văn Vương vậy Lường Thiên Xích dùng Bát Quái nào??? Theo VinhL suy luân, vòng số mà từ xưa đến nay cứ gọi là Lạc Thư chính là vòng số của Tiên Thiên Bát Quái. Nếu theo Tiên Thiên Bát Quái, bước theo thứ tự Càn Chấn Khãm Cấn, Khôn Tốn Ly Đoài thì sẻ thấy. Càn Chấn Khãm Cấn: ….….…Càn 9….………. ..………….………Khãm 7 Chấn 8…………....Cấn 6 Khôn Tốn Ly Đoài: Đoài 4 ………….…Tốn 2 Ly 3………….…………. ………….Khôn 1………. Trong Dịch lại nói Càn giao với Khôn một lần mà được Chấn: 9 – 1 = 8 Càn giao với Khôn hai lần mà được Khãm: 9 – 2 = 7 Càn giao với khôn ba lần mà được Cấn: 9 – 3 = 6 Càn giao với một lần nừa được 5 (9 – 4 = 5) Khôn giao với Càn một lần mà được Tốn: 1 + 1 = 2 Khôn giao với Càn hai lần mà được Ly: 1 + 2 = 3 Khôn giao với Càn ba lần mà được Đoài: 1 + 3 = 4 Khôn giao với Càn một lần nửa được 5 (1 + 4 = 5) Vì vậy ta có Càn 9, Chấn 8, Khãm 7, Cấn 6 Khôn 1, Tốn 2, Ly 3, Đoài 4 Theo tiên thiên bát quái thì ta có số sắp xếp như sau: Đoài 4 …Càn 9….…Tốn 2 Ly 3………5………Khãm 7 Chấn 8….Khôn 1…..Cấn 6 Đây có phải là số Tiên Thiên không? Nếu cổ nhân đã có thể nhìn thiên tượng mà lập Hà Đồ, thì đâu cần phải đợi con quy xuất hiện ở sông Lạc mới biết được vòng số 61834927 này chứ. Tại sao không thấy số 10? Số 10 chính là số Thái Cực!!! Từ Thái Cực sang lưởng nghi, cho nên mới có 9 và 1, sau đó 8 và 2, ….. Thế số Thái Cực có trong Hà Đồ không? Dĩ nhiên: …._______ 7 __|_______ 2 |…| |…| 8..3………5, 10………4...9 …………………………|…| …………………………|....| ……………1 ________|__| ……………6 ________|. Suy luận viễn vong chức dám cho là đúng 100%, có gì sai sót mong chỉ điểm. Thành thật cám ơn
  16. Chào bạn Sapa, Trước hết mong bạn giải thích vòng số 61834927 được gọi là Lạc Thư từ đâu có, và vấn đề hợp thập của Hà Đồ như thế nào? Tại sao cửu cung lại mất đi một số? Thân
  17. Kính chúc Thầy sinh nhật vui vẻ và hạnh phúc, sớm ngày phục hưng nền văn hiến Lạc Việt 5000 năm huyền vĩ, thêm nhiều đệ tử tài giỏi, làm rạng danh Phong Thủy Lạc Việt. VinhL
  18. Chào bạn Sapa, Kinh nghiệm nhiều lần mất bài nên lúc nào VinhL củng đánh bài trong Word sau đó mới copy qua phần trả lời. Bài mất thì thôi coi như chưa có duyên được đọc phần giải thích của bạn Sapa vậy. Thân
  19. Kính Thầy, chào các Bác, Chú, Huynh Đệ Tỷ Muội, Phong Thủy là một môn lý học đông phương cao siêu để giúp nhân loại tìm được một địa thế tốt, tạo dưng nhà cửa thích hợp, và huyệt vị an táng đem lại phúc vượng cho con cháu. Mục đích chính củng chỉ là tạo ích lợi cho nhân loại. Nhưng vì những sự sửa đốt sách của các thời đại phong kiến mà làm cho nhiều nguyên lý bị thất truyền. Nếu chúng ta đều là những người yêu thích phong thủy, tại sao không thể bỏ đi cái “Ta”, mà cùng nhau trao đổi để có thể cùng nhau nâng cao học thuật. Nước Mỹ trước kia có ai hay về Lý Thuyết Nguyên Tử (Nuclear) đâu, nhưng họ biết đem những người tài giỏi khắp thế giới về để mở trường nghiên cứu và dạy học để nâng cao trí thức chuyên ngành. Nước Ấn xưa có giỏi về lập trình đâu, họ củng từng đem những người giỏi khắp nới về nghiên cứu, giảng dạy cho con em họ. Vì vậy mà hiện nay Mỹ và Ấn đều đứng đầu về các ngành này. VinhL thiết nghỉ các bác học thuật cao, mong các bác chỉ dạy những kẻ hậu học, thấy sai thì chỉ ra chổ đúng, thấy chưa hay thì chỉ chổ nào dỡ, đừng vì sự tự đắc của mình mà chỉ trích tranh luận phản biện qua loa làm suy nhuệ tinh thần cầu học của các hậu bối. Nếu các bác có tự hào về dân tộc thì mong các bác để cái “Ta” sang một bên, cùng chia sẻ, nghiên cứu học thuật để bồi đắp cho học thuật phong thủy của Nước Nam ngày càng rạng rỡ, trước là đào tạo các mầm non, vì con dân mà xây sửa được chổ ở thích hợp, mồ mã đắc cách sinh thêm nhiều anh tài cho đất nước, và sau là tạo phúc cho con cháu mình. Phong Thủy Lạc Việt tuy có chút khác biệt với Phong Thủy Hán, nhưng sự khác biệt này Thầy Thiên Sứ đã nghiên cứu nhiều năm, có nguyên lý nhất quán và cặn kẻ, lại chưa thấy ai chỉ ra chổ sai. Người đã kích vì tự kỷ thì nhiều, có được ai chân tâm khí độ cao vì học thuật mà phản biện rõ ràng. Chổ quý là trong lớp PTLV thầy truyền đạt không giấu giếm, cùng trao đổi nghiên cứu để nâng cao kiến thức. Củng chưa chắc là học thuật của Thầy cao hơn các bác, biết nhiều hơn các bác, nhưng với phong cách một người Thầy chân chính, không vì tư lợi, giấu nghề dạy bạy, củng đáng là môt cái gương tốt cho các bác!!!! Kính
  20. Lạc Việt Thiên Địa Chỉ Dịch đã có mấy ngàn năm, những phương pháp ghi nhớ họ quẻ, thế ứng của trùng quái, cho đến cách tìm bát san trong Bát Trạch đều căn cứ vào phương pháp biến hào hoặc học thuộc lòng các câu thơ, đối với những người bắt đầu học Dịch, Phong Thủy, thật là một bước khó khăn. Trong lúc nghiên cứu tình cờ khám phá ra quy luật kết hợp của các đơn quái để lập trùng quái, vì vậy đã sáng tạo ra phương pháp đơn giản mau lẹ để tính họ quẻ (tượng của quẻ trùng), thế ứng, bát san, lẫn phiên tinh. Xin được gọi phương pháp này là Lạc Việt Thiên Địa Chỉ, bạn chỉ cần đếm đến 8 là có thể biết được họ quẻ, thế ứng, vv…. Ngón 1: Thiên Phong Sơn Hỏa Ngón 2: Địa Lôi Trạch Thủy Hai ngón đứng song song bên nhau là Thiên....Địa Phong...Lôi Sơn.......Trạch Hỏa.......Thủy Mỗi tên vừa vặn kết hợp với mỗi đốt của hai ngón tay. Thiên Địa, Sơn Trạch là + đếm thuận từ trên xuống Phong Lôi, Hỏa Thủy là - đếm nghịch lại từ dưới lên trên Phương pháp này lấy quẻ đơn ngoại làm gốc kết hợp với từng nội quái trên các đốt ngón tay, bắt đầu từ đốt ngón tay của quẻ ngoại (Bát Thuần) Cách đếm là tùy theo quẻ ngoại thuộc nhóm nào + hay -, đi thuận xuống hay đi nghịch lên. Ngón thứ nhất đếm 1, 2, 3 ,8 Ngón thứ hai đếm 4, 5, 6, 7 Tìm Tượng Quẻ (Họ Quẻ) 1,8 tượng là quẻ nội (tức họ quẻ lấy từ quẻ đơn nội) 2,3 tượng là quẻ ngoại 4, 5, 6, 7 tượng đều là quẻ đối nội (tức đều nằm trên ngón 2) Thí dụ: Quẻ Thiên Lôi Vô Vọng Quẻ Ngoại Thiên là gốc đếm như sau Thiên 1.....Địa 4 Phong 2....Lôi 5 Sơn 3........Trạch 6 Hỏa 8........Thủy 7 Đếm đến đốt Lôi là 5 vậy tượng là đối nội tức đốt đối diện là Phong, tượng Tốn Vậy quẻ Thiên Lôi Vô Vọng đứng thứ 5 trọng họ Tốn. Thí dụ Hỏa Lôi Phệ Hạp Quẻ Ngoại Hỏa, Hỏa thuộc -, đếm nghịch từ dưới lên Thiên 8......Địa 7 Phong 3.....Lôi 6 Sơn 2.........Trạch 5 Hỏa 1.........Thủy 4 Hỏa Lôi là 6, tượng là đốt đối diện Phong, tức Tốn. Vậy Hỏa Lôi Phệ Hạp đứng thứ 6 trong họ Tốn. Để ý là khi đếm sang ngón 2 thì toàn bộ tượng đều nằm ở ngón 1. Một khi đếm quen rồi thì không cần đếm nửa mà chỉ cần đọc thứ tự Thiên Phong Sơn Hỏa, Điạ Lôi Trạch Thủy thì củng đã biết ngay là họ gì rồi. Tìm Thế Ứng Hào Tìm được hào Thế thì hào Ứng đã biết ngay vì hai hào này đi theo cặp sơ nội sơ ngoại, trung nội trung ngoại, và thượng nôi thượng ngoại (1 - 4, 2 - 5, 3 - 6) Tìm hào Thế thì theo thứ tự đếm như sau: 1: là quẻ Bát Thuần dĩ nhiên thế là Lục 2: Thế là 1 (hào 1 – sơ) 3: Thế là 2 4: Thế 3 5: Thế 4 6: Thế 5 7: Thế 4 8: Thế 3 Để dễ nhớ hào thế ngoài quẻ bát thuần ra thì hào thế là lấy số thứ tự trừ 1, quẻ 7, 8 (Du Hồn, Quy Hồn) thì trừ 3. Hoặc đếm đốt như sau Ngón 1: 6,1,2,3 Ngón 2: 4, 5, 4, 3 Thí dụ: quẻ Lôi Trạch Qui Muội Lôi là quẻ Ngoại, Lôi thuộc nhóm -, đếm nghịch lên Thiên 5.....Địa 2 Phong 4....Lôi 1 (bắt đầu, đếm nghịch lên) Sơn 7........Trạch 8 Hỏa 6........Thủy 3 Đếm đến Trạch thì biết nó nằm thứ 8 trong họ Trạch – Đoài (1, 8 lấy quẻ nội làm tượng) Đếm hào thế thì củng theo thứ tự + hay – đi thuận nghịch. Trong trường hợp này thì Thiên 5.....Địa 1 Phong 4....Lôi 6 Sơn 3........Trạch 3 Hoa 4........Thủy 2. Lôi Trạch Qui Muội hào thế là hào 3. Thí dụ: quẻ Trạch Hỏa Cách Trạch ngọai thuộc nhóm + đi thuận từ trên xuống Thiên 6......Địa 3 Phong 7.....Lôi 8 Sơn 4.........Trạch 1 (bắt đầu, đếm thuận xống) Hoa 5.........Thủy 2 Vậy Trạch Hỏa Cách đứng thứ 5 trong họ Thủy – Khãm, thế hào 4 Lấy Quẻ Nội Làm Gốc Thật ra phương pháp này lấy quẻ đơn nội hay quẻ đơn ngoại làm gốc để đếm đều được. Quy luật lấy tượng vẫn không thay đổi tức 1, 8 tượng nội 2, 3 tượng ngoại 4, 5, 6, 7 tượng đối nội Thí dụ: quẻ Hỏa Địa Tấn Lấy quẻ Ngoại tức Hỏa là gốc thì ta có: Thiên 8......Địa 7 Phong 3.....Lôi 6 Sơn 2.........Trạch 5 Hỏa 1.........Thủy 4 Vậy Hỏa Địa Tấn đứng thứ 7, tượng quẻ thứ 7 là đối nội, nội là Điạ đối với Địa tức là Thiên (đốt đối diện với Địa là Thiên) tứ là họ Càn, thế hào là hào 4. Theo quẻ Ngoại làm gốc thì lần lượt ta có các quẻ trùng là: Hỏa Hỏa 1, Hỏa Sơn 2, Hỏa Phong 3, Hỏa Thiên 8, Hỏa Thủy 4, Hỏa Trạch 5, Hỏa Lôi 6, Hỏa Địa 7 Nếu lấy quẻ Nội tức Địa làm gốc thì ta có: Thiên 4......Địa 1 Phong 5.....Lôi 2 Sơn 6.........Trạch 3 Hỏa 7.........Thủy 8 Vậy Hỏa Địa Tấn củng đứng thứ 7, tượng quẻ thứ 7 là đốị nội, nội là Địa đối với Địa tức là Thiên tức là họ Càn, thế hào của quẻ thứ 7 là hào 4. Theo quẻ Nội làm gốc thì lần lượt ta có các quẻ trùng là: Địa Địa 1, Lôi Địa 2, Trạch Địa 3, Thủy Địa 8 Thiên Địa 4, Phong Địa 5, Sơn Địa 6, Hỏa Địa 7 Tìm Bát San trong Bát Trạch Củng theo phương pháp trên, nhưng đếm như sau: Ngón 1: Phục Họa Thiên Tuyệt Ngón 2: Phúc Quỷ Sinh Sát Phục (Phục Vị), Họa (Họa Hại), Thiên (Thiên Y), Tuyệt (Tuyệt Mạng) Phúc (Phúc Đức), Quỷ (Ngũ Quỷ), Sinh (Sinh Khí), Sát (Lục Sát) Thiên Địa Sơn Trạch (+): Tây Tứ Trạch Phong Lôi Hỏa Thủy (-): Đông Tứ Trạch Thí dụ: Cung Phi Cấn, phương Đoài, tức Cấn Nội, Đoài Ngoại, hay Trạch Sơn Hàm Thiên 6 Sinh.…....Địa 3 Thiên Phong 7 Sát...…...Lôi 8 Tuyệt Sơn 4 Phúc......….Trạch 1 Phục Hoa 5 Quỷ.....……Thủy 2 Họa Như vậy Trạch Sơn hay cung Phi Cấn phương Đoài là Phúc Đức. Thí dụ: Cung Phi Chấn, phương Cấn, tức Chấn Nội, Cấn Ngoại, hay Sơn Lôi Thiên 5 Quỷ.….…Địa 2 Họa Phong 4 Phúc.…...Lôi 1 Phục Sơn 7 Sát…......…Trạch 8 Tuyệt Hoa 6 Sinh.......…Thủy 3 Thiên Như vậy Sơn Lôi hay cung Phi Chấn phương Cấn là gặp Lục Sát. Hai thí dụ trên là lấy quẻ Ngoại làm gốc để đếm. Thật ra khi tính bát san, ta lấy quẻ nội làm gốc thì có thể tính luôn 8 phương dể dàng hơn. Nay dùng phương pháp quẻ Nội làm gốc để tính bát san cho hai thí dụ trên: Thí dụ: Cung Phi Cấn, phương Đoài, Cấn tức Sơn Nội làm gốc (Cấn ở trung cung) Thiên 3 Thiên.….…Địa 6 Sinh Phong 8 Tuyệt.…...Lôi 7 Sát Sơn 1 Phục….....…Trạch 4 Phúc Hỏa 2 Họa....…..…Thủy 5 Quỷ Ta có phương Đoài (Trạch) thuộc Phúc Đức và phương vị còn lại của Bát Quái. Sơn Sơn 1 Phục Vị, Hỏa Sơn 2 Học Hại, Thiên Sơn 3 Thiên Y, Phong Sơn 8 Tuyệt Mạng Trạch Sơn 4 Phúc Đức, Thủy Sơn 5 Ngũ Quỷ, Địa Sơn 6 Sinh Khí, Lôi Sơn 7 Lục Sát. Thí dụ Cung Phi Chấn, phương Cấn, Chấn tức Lôi Nội làm gốc Thiên 5 Quỷ.…...…Địa 2 Họa Phong 4 Phúc.….....Lôi 1 Phục Sơn 7 Sát……..…..Trạch 8 Tuyệt Hỏa 6 Sinh....…..…Thủy 3 Thiên Như vậy ta có phương Cấn Sơn là Lục Sát. Lôi Lôi 1 Phục Vị, Địa Lôi 2 Họa Hại, Thủy Lôi 2 Thiên Y, Trạch Lôi 8 Tuyệt Mạng Phong Lôi 4 Phúc Đức, Thiên Lôi 5 Ngũ Quỷ, Hỏa Lôi 6 Sinh Khí, Sơn Lôi 7 Lục Sát. Tóm lại Lấy quẻ ngoại làm gốc lần lượt phối hợp với từng quẻ nội trên các đốt ngón taỵ, hoặc lấy quẻ nội làm gốc lần lượt phối hợp với từng quẻ ngoại trên các đốt ngón tay. Tùy theo quẻ đang đếm thuộc nhóm + đi thuận xuống hay – đi nghịch lên mà đếm. Nhóm Thuận Nghịch Thiên + ..... Địa + Phong - ..... Lôi - Sơn + ........Trạch + Hỏa - ........ Thủy - + là đếm thuận từ trên xuống - là đếm nghịch từ dưới đi lên Đếm quẻ Ngón 1: 1238 Ngón 2: 4567 Lấy Tượng 1,8: Nội 2,3: Ngoại 4,5,6,7: Đối Nội Thế Hào Ngón 1: 6123 Ngón 2: 4543 Bát Trạch Ngón 1: Phục Họa Thiên Tuyệt Ngón 2: Phúc Quỷ Sinh Sát Cửu Tinh hay Phiên Tinh: Ngón 1: Phụ Lộc Cự Phá Ngón 2: Vũ Liêm Tham Văn Lạc Việt Thiên Địa Khởi Càn Khôn Nhị Chỉ Trung.
  21. Chào chú DaoHoa, Mấy hôm nay, suy đi nghỉ lại cái cái vòng hợp phá của Thiên Can, sắp xếp các số tiên thiên, hậu thiên, vv…. Nay đã có thể đạt đến chổ thấu triệt và xin luận giải như sau: Vòng số tiên thiên 61834927 là vòng tương khắc, vòng số hậu thiên Lạc Việt 61832749 là vòng tương sinh. Xung Phá và Hợp Hóa chính là nói lên sự vận chuyển của các hành trong tiên thiên và hậu thiên. Thiên Can Xung Phá đi theo vòng Thiên Thiên Tương Khắc, Thiên Can Hợp Hoá đi theo vòng Hậu Thiên Lạc Việt. Vòng Xung Phá là vòng vận chuyển nghịch, vòng Hợp Hóa là vòng vận chuyển thuận theo hình số 8. Can Xung thì có: Giáp xung Canh, Ất xung Tân, Bính xung Nhâm, Đinh xung Quí, Mậu xung Nhâm, Giáp xung Mậu, Ất xung Kỷ . Can Phá ta có: Giáp phá Mậu, Ất phá Kỷ, Bính phá Canh, Đinh phá Tân, Mậu phá Nhâm, Kỷ phá Quí, Canh phá Giáp, Tân phá Ất, Nhâm phá Bính, Quí phá Đinh. Theo nhận xét về Xung và Phá thì vòng Phá bao gồm luôn cả các trường hợp Xung. Vòng Xung Phá [4 Tân-][9 Canh-][2 Đinh] [3 Giáp][Mậu Kỷ][7 Bính] [8 Ất---][1 Nhâm][6 Quí-] Vòng xung phá chia làm 2 vòng, 1 đi theo 4 cung tứ chính, 1 đi theo 4 cung tứ duy Vòng Tứ Chính: Giáp phá Mậu, Mậu phá Nhâm, Nhâm phá Bính, Bính phá Canh, Canh phá Giáp. Dương Mộc khắc Dương Thổ khắc Dương Thủy khắc Dương Hỏa khắc Dương Kim khắc Dương Mộc. Vòng Tứ Duy: Ất phá Kỷ, Kỷ phá Quí, Quí phá Đinh, Đinh phá Tân, Tân phá Ất. Âm Mộc khắc Âm Thổ khắc Âm Thủy khắc Âm Hỏa khắc Âm Kim khắc Âm Mộc Vòng Xung Phá này vẻ theo cách nào củng không thể giải thích hợp lý hết được 10 cái can phá ngoạo trừ 2 vòng nghịch chuyển tứ chính và tức duy này. Can Hợp Hóa ta có: Giáp Kỷ hoá Thổ, Ất Canh hóa Kim, Bính Tân Thủy, Đinh Nhâm hóa Mộc, Mậu Quí hóa Hỏa. Vòng Hợp Hóa [2 Ất--][7 Canh--][4 Đinh-] [3 Bính][Mậu Quí][9 Nhâm] [8 Tân-][1 Giáp--][6 Kỷ---] Vòng này do số 5 nhập trung cung vận chuyển theo lường thiên xích Lạc Việt. Hành hợp hóa thì đi theo vòng lưỡng nghi thuận. Giáp Kỷ 1-6 hóa -> Thổ, Mậu Quí 5-10 hóa -> Hỏa, Ất Canh 2-7 hóa -> Kim, Đinh Nhâm 4-9 hóa -> Mộc, Bính Tân 3-8 hóa -> Thủy, Giáp Kỷ 1-6. Số thì đi theo lường thiên xích Lạc Việt, hành thì hóa theo vòng lưởng nghi số 8!!! Nếu vòng này vẻ theo số Tiên Thiên thì lại bỏ xót Ất Canh 2-7 hóa Kim không vận mà dậm chân tại chổ-> không hợp lý!!! Có gì sai sót mong các Bác, Chú chỉ điểm.
  22. Chào bạn Phapvan, Theo VinhL nhận thấy thì “Du Đô, Lỗ Đô” củng chính là Khôi Việt, và củng là vòng Bắc Đẩu Thất Tinh. Vòng này trong Lục Nhâm chính là vòng Quý Nhân. Trong Kỳ Môn thì đó là vòng Cửu Tinh Bồng Nhuế Xung Phụ, Cầm Tâm Trục Nhậm Anh. Trong Thái Ất thì củng vậy. Trong quyển Độn Thái Ất Lục Nhâm của cụ Thiên Phúc củng chính là Lục Nhâm Đại Độn. Bây giờ thì không còn Vương Công Hoàng Đế chi nửa nên các sách lần lược đã được in ra bán hàng loạt, dạo sơ trên mạng thôi thì củng sưu tầm được hàng chục cuốn về tam thức, nhưng khổ nổi chỉ là toàn tiếng Hán :rolleyes: :P Thân
  23. Chào Bác Hà Uyên và bạn PTS, Theo VinhL nghỉ vấn đề náp can chi cho hào chủ yếu là ở 60 hoa giáp. Xin xem 60 Hoa Giáp GiápThân,ẤtDậu BínhTuất,ĐinhHợi MậuTý,KỷSửu CanhDần,TânMão NhâmThìn,QuýTỵ GiápNgọ,ẤtMùi BínhThân,ĐinhDậu MậuTuất,KỷHợi CanhTý,TânSửu NhâmDần,QuýMão NhâmNgọ,QuýMùi - - - - KhônSơ - - Chấn,Tốn GiápThìn,ẤtTỵ CanhThìn,TânTỵ - - - - - - - - BínhNgọ,ĐinhMùi MậuDần,KỷMão Khảm,Ly - - - - - - - MậuThân,KỷDậu BínhTý,ĐinhSửu - - - - - - - - CanhTuất,TânHợi GiápTuất,ẤtHợi KhônLục - - CànSơ CànLục - - Cấn,Đoài NhâmTý,QuýSửu NhâmThân,QuýDậu CanhNgọ,TânMùi MậuThìn,KỷTỵ BínhDần,ĐinhMão GiápTý,ẤtSửu NhâmTuất,QuýHợi CanhThân,TânDậu MậuNgọ,KỷMùi BínhThìn,ĐinhTỵ GiápDần,ẤtMão 8 quẻ kép thuần có 48 (8x6) hào, vòng hoa giáp có 60, dư ra 12 vừa đúng 2 quẻ kép (6x2) 12 hào. Cho nên lấy 12 hào dư ghép vào Càn và Khôn để làm chổ kết thúc của Thiên địa. Chúng ta biết nếu Càn nạp Giáp cho cả 6 hào, Khôn nạp Ất cho cả 6 hào thì dư ra 6 hào Nhâm, 6 hào Quý. Vì vậy nếu Càn Khôn là chổ bắt đầu và kết thúc, thì phân nửa lấy Giáp Ất, mà phân nửa (Ngoại đơn quái) lấy Nhâm Quý vậy vì Nhâm Quý là chổ kết thúc của vòng hoa giáp. Tại sao Khôn khởi tại Ất Mùi? Chúng ta thấy nếu sắp xếp 60 can chi hoa giáp theo vòng tròn thì cặp Giáp Tý Ất Sửu, đối xung với Giáp Ngọ Ất Mùi. Càn khởi Giáp Tý tại Bắc thì Khôn khởi tại Nam Ất Mùi vậy. Thật ra theo VinhL nghỉ thì cổ nhân phỏng theo vòng nguyệt tướng và nguyệt kiến. Mặt trời thì đi qua 12 cung địa chi theo chiều nghịch (vòng nguyệt tướng), nguyệt kiến đi thuận 12 chi. Vì vậy trong phương pháp nạp can chi Dương quái Càn Chấn Khãm Cấn đi nghịch theo vòng nguyệt tướng, Âm quái Khôn Tốn Ly Đoài đi thuận theo vòng nguyệt kiến. Thế làm sao họ phân chia 3 cặp thư hùng Chấn Tốn, Khảm Ly, Cấn Đoài? Càn Khôn 12 hào bao gồm 4 Can Giáp Ất, Nhâm Quý, là chổ khởi và chổ cùng của 60 hoa giáp. Các can chi còn lại phân phối cho 3 cặp thư hùng như sau: Càn khởi tại Giáp Tý, hết (hào lục) tại Nhâm Tuất, đi theo chiều nghịch bỏ 10 cặp can chi, đến cặp Canh Tý Tân Sửu là chổ khởi hào sơ của Chấn Tốn đi theo chiều nghịch bỏ 10 cặp can chi, đến cặp Mậu Dần Kỷ Mão là chổ khởi hào sơ của Khảm Ly đi theo chiều nghịch bỏ 10 cặp can chi, đến cặp Bính Thìn, Đinh Tỵ là chổ khởi hào sơ của Cấn Đoài đi theo chiều nghịch bỏ 10 cặp can chi, là đến cặp Giáp Ngọ, Ất Mùi là chổ khởi của Khôn lại đi theo chiều nghịch bỏ 10 cặp can chi nửa là chổ kết thúc của Mẹ Khôn. 60 hoa giáp chia cho 3 cặp thư hùng, mổi cặp cách nhau 10 cặp vậy. Vì vậy VinhL nghỉ phương pháp nạp can chi chính là phương pháp chia đều vòng lục thập hoa giáp vào 48 hào của các quẻ bát thuần.
  24. Chào bác Hà Uyên, Không biết Giáp Kỷ hợp hóa có liên quan vì tới số 7 của Thất Tinh không??? Thổ Kim Thủy Mộc Hỏa Nhật Nguyệt G---A----B-----Đ----M---K-----C T---N----Q-----G----A----B----Đ M---K----C-----T----N----Q----G A----B----Đ----M----K----C----T N----Q----G----A----B----Đ----M K----C-----T----N----Q----G----A B----Đ-----M---K-----C----T----N Q----G----A----B-----Đ----M----K C----T-----N----Q----G----A----B Đ----M----K----C-----T-----N---Q Bản trên và dưới hoàn toàn hợp Qua 35 ngày can chi, Giáp hợp Kỷ. 1 ngày 12 giờ, 35x12=420 giờ, 420/60 = 7. 7 con hoa giáp!!! Kính
  25. Theo VinhL nghỉ vẻ thì dể mà chứng bằng toán học thì khó. Theo phương pháp half-tone vẽ bằng những chấm nhỏ. Sắc đậm thì chấm nhiều, vv….. Hình này chỉ có 2 loại chấm màu trắng và đen, vậy mà củng :P gớm:-)
×
×
  • Create New...