-
Số nội dung
1107 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by phoenix
-
Canh Dần - Vài điều Về Hổ Trong Văn Hóa Dân Gian Việt
phoenix replied to phoenix's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Còn đâu ngũ hổ còn đâu tranh Hàng Trống? KTNT - Trong tín ngưỡng dân gian, hổ được coi là con vật linh thứ hai sau rồng, chả thế mà danh xưng của hổ cũng được thần thánh hóa bằng những cái tên như ngài, ông... Hổ là biểu tượng cho sức mạnh và quyền uy, thường được thờ phụng. Rất nhiều gia đình ở nông thôn có tục thờ “ông ba mươi” như một cách để cầu công danh học hành, mang lại sự may mắn. Tranh Ngũ hổ của dòng tranh dân gian Hàng Trống đất Thăng Long xưa thậm chí còn trở thành dòng tranh thờ nổi tiếng. Rất tiếc, cùng sự phôi pha của thời gian, dòng tranh ấy gần như chỉ còn những dấu ấn của một thời vàng son... Từ tín ngưỡng thờ hổ Với niềm tôn kính, ngoài việc thờ cúng tổ tiên, thần thánh hoặc thờ Phật, nhiều gia đình người Việt còn thờ “ông ba mươi”. Họ thường đặt bức tranh này dưới tranh tượng thờ thần thánh hoặc thờ Phật. Vào những ngày rằm, mùng một hoặc lễ chạp, ngoài hương hoa, oản chuối, các cụ còn cúng một miếng thịt heo sống trên ban thờ ông hổ. Trong tục thờ, có gia đình thờ tranh ngũ ông; có gia đình chỉ thờ một ông. Những người thờ phụng ông hổ đều tin rằng có một sức mạnh siêu nhiên phù hộ cho gia trạch bình an, loại trừ tai nạn. Đã có nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian cho rằng tục thờ này bắt nguồn từ một cuộc sống nguyên thủy, khi con người còn sống trong điều kiện săn bắt, hái lượm hoặc giai đoạn đầu của cuộc sống nông nghiệp, hổ chính là sức mạnh thiên nhiên gần gũi và là tai họa đối với con người. Do đó, con người thờ hổ. Không chỉ người Việt, một số đồng bào dân tộc thiểu số cũng có tục thờ hổ, trong đó có người Khơ mú sống ở Tây Bắc và miền Tây Nghệ An. Một tập quán ăn sâu vào tình cảm và tiềm thức của người Khơ mú thuộc họ Rvai (hổ) đó là nghi lễ cúng ma nhà (Hrôigang). Vào dịp Tết Nguyên đán, người Khơ mú thuộc họ hổ đã diễn lại các động tác của hổ, vật tổ của dòng họ. Với quan niệm hổ là tổ tiên của mình, người Khơ mú thuộc họ Rvai kiêng không động tay vào hổ, không săn bắt hổ, không giết hổ và không ăn thịt hổ. Trong các hội hè, các nghi lễ người hóa trang giống như hổ. Khi gặp hổ chết, người Khơ mú phải khóc than thật sự như tổ tiên của mình qua đời. Người ta tin rằng khi chết đi, họ sẽ hóa thành kiếp hổ. Khi còn sống, người ta kiêng đắp chăn sặc sỡ như lông hổ, khi chết, người ta đắp cho chiếc chăn khác màu lông hổ và đặt chiếc chăn giống màu lông hổ bên cạnh người chết, để hồn được siêu thoát và trở về với hổ, có nghĩa là về với tổ tiên. Đến tranh ngũ hổ Xuất phát từ tục thờ hổ, thần thánh hóa loài vật này, các nghệ nhân dân gian cũng xây dựng biểu tượng hổ qua nhiều chất liệu như: gỗ, đá, vôi giấy, đất nung, tranh vẽ, tranh cắt giấy... Nhưng mẫu tranh được biết đến nhiều nhất là tranh Ngũ hổ của phố Hàng Trống (Hà Nội) xưa. Tranh Ngũ hổ Hàng Trống vẽ năm con hổ được bố cục đông đầy, cân đối trên mặt giấy. Mỗi con một dáng vẻ: con thì đứng, con thì ngồi, con cưỡi mây lướt gió. Đây là loại tranh khắc gỗ in trên giấy. Nhưng cách thức của dòng tranh Hàng Trống là chỉ in bản nét rồi dùng bút lông tô màu. Trong quá trình tô màu, các nghệ nhân đã vờn chuyển màu, tạo độ đậm, nhạt, sáng, tối. Với cách thức sáng tạo của riêng mình, các nghệ nhân Hàng Trống không chỉ tạo nên nét riêng cho dòng tranh, mà đã làm bật lên sức sống nội tại của nhân vật, thể hiện dáng ngồi, thế đứng đường bệ, oai phong, sức mạnh của loài mãnh chúa. Màu sắc trong tranh Ngũ hổ là một thế giới hòa sắc, lộng lẫy, uy linh. Nhưng nó vẫn được khu biệt với năm màu: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen trên năm nhân vật. Lối dùng màu này của các nghệ nhân Hàng Trống thể hiện rõ một hàm ý, mang triết lý sâu xa của quan niệm dân gian truyền thống. Hoàng hổ: Con hổ ngồi chính giữa bức tranh được vẽ vờn bằng màu vàng, tượng trưng cho hành Thổ; thanh hổ, con hổ được vẽ bằng màu xanh là tượng trưng cho hành Mộc, ứng với phương Đông; bạch hổ được vẽ bằng màu trắng, là hành Kim ứng với phương Tây; xích hổ được vẽ bằng màu đỏ, là hành Hỏa ứng với phương Nam; hắc hổ được vẽ bằng màu đen, là hành Thủy ứng với phương Bắc. Còn đâu một dòng tranh? Theo nhiều nhà nghiên cứu, có lẽ dòng tranh Hàng Trống xuất hiện từ khoảng 400 năm trước và chịu ảnh hưởng rõ rệt của các luồng tư tưởng, văn hóa, tôn giáo giữa các vùng miền. Dòng tranh này phát triển rực rỡ từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX và bắt đầu lụi tàn. Cho đến nay, chỉ còn một nghệ nhân duy nhất của dòng tranh còn đau đáu với nghề, bức tranh Ngũ hổ nổi tiếng cũng chỉ được biết đến qua bảo tàng, sách báo. Khác với tranh Đông HồK, kỹ thuật vẽ tranh Hàng Trống là sự kết hợp đường nét in đen từ bản khắc gỗ, với việc tô màu phẩm bằng tay, dùng bút mềm quét phẩm nước, luôn luôn tạo được những chuyển sắc đậm nhạt tinh tế. Nhờ vậy, màu sắc rất uyển chuyển. Cùng với các đề tài phản ánh sinh hoạt thường ngày hay minh họa cổ tích, tranh Hàng Trống nổi trội về thể loại tranh thờ, ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo, với hình tượng tương đối giản dị mà thể hiện công phu. Ngũ hổ là một trong những đề tài thuộc dòng tranh thờ. Là nghệ nhân cuối cùng của dòng tranh Hàng Trống, nghệ nhân dân gian Lê Đình Nghiên đang dồn toàn bộ tâm sức vào việc khôi phục và bảo vệ dòng tranh này. Nhưng bất chấp những nỗ lực không mệt mỏi của ông, tương lai của tranh Hàng Trống vẫn u ám. Sau nhiều thế hệ cha truyền, con nối, nhiều nghệ nhân đã buộc phải bỏ nghề để kiếm cái ăn mưu sinh. Những dụng cụ làm tranh như ván, bản in, vốn từng được coi là đồ gia bảo trở nên vô tác dụng, bị đem bán tống bán tháo, thậm chí là bị vứt bỏ không thương tiếc. Rất nhiều bản khắc quý báu cũng vì thế mà biến mất vĩnh viễn. Người cuối cùng của dòng tranh này buồn bã thừa nhận, tranh Hàng Trống hầu như đã bị quên lãng. Không còn nhiều người biết và yêu thích dòng tranh này. Những khách tìm đến đặt mua tranh ông vẽ chủ yếu là những khách quen ít ỏi cố định từ nhiều năm nay. Nhưng Lê Đình Nghiên vẫn quyết không bỏ nghề, vì cho rằng đó là nghiệp tổ mà cha ông đã để lại. Để tránh cho dòng tranh Hàng Trống bị thất truyền sau khi mình qua đời, nghệ nhân Lê Đình Nghiên đang cố gắng truyền thụ mọi bí quyết gia truyền cho người con trai út Lê Hoàn. Nhưng theo ông, để có thể trở thành một nghệ nhân tranh Hàng Trống thực thụ, ngoài năng khiếu vốn có, còn phải có sự kiên nhẫn, tỉ mẩn và niềm say mê với nghề nghiệp. Nếu như tâm huyết của ông không được người con trai út kế tục, thì nguy cơ dòng tranh Hàng Trống hoàn toàn thất truyền. Tết Canh Dần, nhớ bức tranh Ngũ hổ của các nghệ nhân làm tranh Hàng Trống năm nào. Khâm phục vì khả năng sáng tạo vô tận và tài năng của các nghệ nhân dân gian nhưng càng buồn hơn khi một dòng tranh của đất kinh kỳ đang thực sự bị mai một. Hà Nội đang đến rất gần ngày đại lễ chào mừng 1.000 năm tuổi, các ngành chức năng đang ráo riết chuẩn bị các công đoạn, trong đó có việc khôi phục các làng nghề truyền thống và nét văn hóa của đất Tràng An. Tranh dân gian Hàng Trống, nét đẹp vàng son một thời, liệu có được vinh danh trong ngày đại lễ khi tương lai phục dựng vẫn còn mù mịt? Đăng Nguyên P/S: Tranh Hàng Trống là dạng tranh sao chép (có sẵn khuôn). Người thợ chủ yếu ngồi vẽ vờn (đi nét và tô màu bằng tay). goài giá trị tinh thần mà nhiều nhà nghiên cứu xuýt xoa và sợ mai một, tranh Hàng Trống quý ở chô là bản khắc cổ không còn là bao và màu vẽ luôn bền, tươi, đẹp. Để nhân bản thì chỉ cần có chút hoa tay cầm bút vẽ và kiên nhân tô màu, sẽ có hàng loạt tranh. Sao không thấy bạn học mỹ thuật nào quan tâm đến dòng tranh này như một số bạn yêu tranh Đông Hồ đã làm các đề tài nghiên cứu về tranh Đông Hồ??!! Ai có nhu cầu thỉnh tranh thờ Ngũ Hổ thì liên hệ với họa sĩ Lê Đình Nghiên ở 22A Cửa Đông nhé. Hoặc liên hệ với Phoenix để lấy số điện thoại. Giá tranh ngũ hổ cỡ trung là 400K/bức. Có thể yêu cầu vẽ chỉnh màu và chòm sao giống như lý thuyết của chú Thiên Sứ. -
Hình con hổ trên gốm Việt cổ Từ hơn 240 ngàn cổ vật đến hàng trăm ngàn mảnh vỡ là gốm sứ thu nhặt từ con tàu cổ đắm vùng biển Cù lao Chàm Hội An (Quảng Nam), một cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước quy mô, tốn kém kéo dài bốn năm (1997 - 200) đã mang nhiều thông tin mới lạ, thú vị về gốm của người Việt xưa cho những nhà chuyên môn trong và ngoài nước. Người ta đặc biệt lưu ý đến giá trị mỹ thuật từ các loại kiểu dáng đến hoạ tiết, hoa văn vẽ trang trí trên mặt gốm. Nhân dịp Xuân con hổ canh Dần, tác giả bài viết - người trực tiếp đo vẽ các hoa văn trên đồ gốm tìm thấy này - xin giới thiệu vài hình ảnh vẽ về con hổ của nghệ nhân xưa. Ảnh 1 Trong các đề tài vẽ, những con thú linh như long, lân, quy, phụng hoặc loài thú hiền như voi, ngựa, hươu, nai xuất hiện khá nhiều trên bề mặt loại đồ đựng thông dụng gồm đĩa, bình, lọ, âu... Riêng hình ảnh con hổ là loài dã thú thì rất hiếm hoi.Trong quá trình xếp loại bản vẽ, tôi chỉ bắt gặp ba tiêu bản trang trí trên lòng đĩa. Đĩa thứ nhất có đường kính 33cm, là loại đĩa trung vẽ lam (đơn sắc với màu oxid cobalt dưới men) hình con hổ trong tư thế chồm tới, đầu ngẩng lên. Đĩa bị vỡ, nhưng may mắn hình con hổ còn khá nguyên, những đám mây còn lại bên dưới chân thú và những hồi văn vẽ mây bo chung quanh thành đĩa (ảnh 1). Đĩa thứ hai được xếp loại kích thước lớn, với đường kính 35cm, vẽ ba màu (gọi là tam thái, nhưng màu đỏ và lục vẽ trên men) hình con hổ dáng đứng với hai chân sau, chân trước bên phải như con người vươn ra nắm khóm cây (giống cây tre), còn chân kia choãi ra sau, con hổ có cái đuôi dài đưa ra trước đến chấm đất. Cách vẽ nhân cách hoá này cho người xem cảm giác hổ đang vạch lá dọn đường đi (ảnh 2). Ảnh 2 Do ngâm lâu dưới đáy biển, nước mặn đã làm màu đỏ, lục bị xỉn và mất đi, so với một số cổ vật cùng địa điểm và niên đại, tôi mạnh dạn vẽ phục chế lại hai màu đỏ và lục đã mất (ảnh 3). Ảnh 3 Đĩa thứ ba có đường kính 34,3cm, vẽ hình con hổ đang vồ mồi, bao chung quanh là dày đặc những đám mây. Đĩa này cũng vẽ ba màu, nhưng giống như đĩa thứ hai là màu lục và đỏ đã bị xỉn, mất màu (ảnh 4). Ảnh 4 Một tiêu bản nữa có hình hai con hổ được vẽ trên thành bụng của bình Kendi cao 16,5cm, còn khá nguyên vẹn dáng kiểu và nét vẽ lam trên nền trắng. Con hổ với tư thế như đang rình mồi, bao quanh nó là những hoa văn mây kín đến vòi bình vú (ảnh 5). Ảnh 5 Hổ là "chúa sơn lâm" nên người xưa cũng ưu ái trang trí trên một cặp bình, có chiều cao 18,4cm và 18,1cm. Cặp bình này có dáng hình trứng, có núm ở vai, để hơi lõm vào, vẽ hai con hổ tư thế giống nhau là đang vồ mồi, chi tiết cái răng nanh chìa ra, chỉ khác nhau cái đầu ngẩng lên và cúi xuống. Bình được vẽ bốn màu: màu đỏ, màu xanh, màu lục và thêm màu vàng (mạ vàng). Các màu này vẽ trên men nên đã bị mất, chỉ còn lại nét chính con hổ, những đám mây chung quanh, các cánh hoa xếp chồng lên nhau ở vai bình (ảnh 6). Ảnh 6 Những tiêu bản giới thiệu trên có nguồn gốc từ trung tâm sản xuất gốm mậu dịch lớn ở miền Bắc nước ta vào thời Lê Sơ, cuối thế kỷ thứ XV. Đó là gốm Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Dương. Theo Nguyễn Trọng Hỷ Cọp trong văn học (Theo Tin tức online ) Xếp hàng thứ ba trong mười hai chi, cọp (Dần) là một hình tượng đa nghĩa, phức tạp trong tâm linh người Việt: vừa là ác thú, vừa là thần hộ mệnh. Từ thờ thần Hổ Cọp - ác thú được người kinh sợ đến độ lập đền thờ, hy sinh nhân mạng để tế lễ mỗi cuối năm, như tục thờ thần Hổ ở làng Ngọc Cục (huyện Đường An, tỉnh Hải Dương) mà Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) đã kể lại kỹ càng trong Vũ Trung tuỳ bút. Đến năm 1800, tục này mới chấm dứt. Mặt khác, cọp lại là phúc thần được vẽ tranh thờ để trừ tà yểm quái. Tranh Hổ còn được bày ở nhiều đền chùa, nhất là đền thờ Thánh Mẫu, như tranh Bạch Hổ Thần tượng đặt ở đền Quan Thánh, Hà Nội. Ngày nay, tại miền Bắc Việt Nam, nhiều nhà còn sùng tín tranh Hổ. Tranh dân gian Hắc Hổ Ở nước ta, tuỳ địa phương, tuỳ sinh hoạt, quan hệ giữa người và cọp không đồng nhất. Tuy rằng ở đâu cũng sợ cọp, kiêng dè gọi bằng ông cọp, ông ba mươi, ông thầy, ông kễnh, ông cả..., nhưng dường như người dân đồng bằng sông Cửu Long ít kinh sợ cọp hơn có lẽ vì lịch sử mở cõi. Cọp cùng với beo, sư tử, mèo... đều thuộc họ mèo (felin); giống cọp châu Á sống từ Ấn Độ sang Indonesia, Việt Nam, Trung Quốc. Cọp sống lẩn khuất trong rừng rậm, có thể bơi qua sông, sống bằng săn mồi: hươu nai, chồn cáo và nhất là heo rừng. Cọp săn mồi về đêm. Như vậy cọp còn giúp con người trong việc loại bớt những thú rừng phá hoại mùa màng hay chăn nuôi. Khi cạn kiệt nguồn thịt rừng hay khi về già, không còn đủ nhanh nhẹn để vồ mồi, cọp mới lân la về các làng mạc. Con người không phải là nguồn lương thực ưu tiêncủa cọp: nhiều câu chuyện đã kể về việc gặp cọp giữa đường và được... làm lơ. Đến cọp trong Lục Vân Tiên Cọp cứu người trong truyện Lục Vân Tiên - Ảnh: Tư liệu Trong truyện Lục Vân Tiên, cọp xuất hiện ba lần: một lần cởi trói cho tiểu đồng và đưa ra đường cái; một lần đưa Vân Tiên ra khỏi hang Thương Tòng, nơi Vân Tiên bị gia đình Thể Loan hãm hại; lần cuối, cọp bắt hai mẹ con Thể Loan bỏ lại trong hang Thương Tòng để “trả báo”, nhưng không... ăn thịt. Về cơ bản, cọp vẫn là ác thú ăn thịt người. Vì vậy, trong truyện, Trịnh Hâm mới bắt tiểu đồng trói vào gốc cây: Trước cho hùm cọp ăn mày/Hại Tiên phải dụng mưu này mới xong/Vân Tiên ngồi những đợi trông/Trịnh Hâm về nói tiểu đồng cọp ăn. (câu 875 - 878). Trong truyện, Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888) đã trình bày cọp dưới hai diện mạo: khuôn mặt tự nhiên là ác thú, nhưng lại không xuất hiện; khuôn mặt xuất hiện, cứu tinh, lại là một nhân vật hư cấu có suy tính khi hành động: Sơn quân ghé lại một bên/Cắn dây mở trói cõng lên ra đàng. Nhưng đây chỉ là một mặt trong tâm linh người Việt, khi đã chế ngự được thiên nhiên và ác thú. Những truyện dân gian kể trên có lẽ đã thành hình khá muộn, đồng thời với Lục Vân Tiên, khi người đã bớt sợ cọp và ý thức vai trò của cọp trong việc bảo vệ mùa màng và gia súc. Những câu chuyện vượt thời gian Đọc Sơn Nam (1926 - 2008), chúng ta thấy người dân Nam Bộ không những không sợ, mà có khi còn tỏ ra thân thiện. Ông trích dẫn trong Gia Định thành Nhất Thống Chí của Trịnh Hoài Đức: “Hồi thế kỷ XVIII, trẻ con, đàn bà cầm liềm cắt cỏ, cầm đòn xóc, cũng chống cự và đuổi được cọp. Thái độ của người dân đối với cọp cũng lạ: vừa kính nể, coi như vị thần nhưng cũng coi thường, nếu cần thì rủ nhau đi săn bắt, giết không nương tay”. Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung tuỳ bút qua tục giết người tế thần Hổ, còn nhắc đến thần Xương Cuồng có ghi vào sử sách như Mộc Tinh trong Lĩnh Nam Chích Quái. Tục tế thần Hổ này có từ thời xa xưa trước Tây lịch (trước Công nguyên), khi quân nhà Tần của Nhâm Ngao và Triệu Đà mới lấn chiếm và đô hộ đất Văn Lang. Nhưng đây là một đề tài gai góc, đòi hỏi nghiên cứu chính xác. Chúng tôi sẽ đề cập trong một dịp khác. Cho dù phong tục hy sinh nhân mạng để tế thần Hổ có là một ví dụ đơn lẻ, thì nỗi sợ cọp, kinh hãi hùm thiêng vẫn là một tâm trạng có thật, kèm theo tư tưởng mê tín, mà ngày xưa Tchya (Đái Đức Tuấn, 1908 - 1969) đã phản ánh trong tiểu thuyết Thần Hổ, 1937 và Ai hát giữa rừng khuya, 1942 mà Vũ Ngọc Phan (1902 - 1987) đã giới thiệu cặn kẽ. Ngoài ra, trong truyện Đường Rừng, 1940, Lan Khai (1906 - 1945) kể chuyện Người hoá hổ, người và súc vật có thể hoá kiếp cho nhau. Trong tuồng hát bội Hổ Thành Nhân, thế kỷ XIX cũng có chuyện hổ sinh ra người, nên nhân vật có tên như vậy. Từ thời tiền thế chiến đến nay, bao nhiêu nước chảy qua cầu. Xã hội đổi thay, môi trường đổi thay. Cảnh núi rừng ma thiêng nước độc giảm đi nhiều. Cọp không còn là ác thú hăm doạ loài người và thần Hổ không còn là ám ảnh. Nhưng trong tâm lý, con người vẫn giữ một hình ảnh kỳ bí nào đó về chúa sơn lâm, về bộ lông tráng lệ, oai phong lẫm liệt, và hành tung bí ẩn. Vẫn còn một không khí hoang đường nào đó qua Trái tim hổ trong nhóm mười truyện Như những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp, đăng trên Báo Văn Nghệ năm 1987, xuất bản thành sách vào 1988 và được tái bản nhiều lần. Cọp trong truyện Đường Rừng - Tranh: Vink Hua Tát là một bản Mường nhỏ, miệt Lai Châu, có con hổ kỳ dị“người ta đồn có trái tim khác thường, chỉ nhỏ bằng hòn sỏi và trong suốt, là bùa hộ mệnh cùng là vị thuốc thần”. Dân bản nhiều người săn hổ, mong lấy trái tim làm thuốc chữa cho một cô gái trẻ đẹp, bị liệt đôi chân. Trong những người đi săn hổ, có chàng trai tên Khó, nghèo, xấu xí, dị dạng, cô độc: “Việc săn hổ kéo dài gần hết mùa đông. Nhưng như có phép lạ, con hổ tinh khôn biết tránh những nơi người ta phục nó. Những người đi săn bị nó săn lại. Hơn mười người chết vì con hổ dữ. Tiếng khóc than, lẫn với tiếng gió hú dài âm âm trong bản. Người ta nản chí dần, số người đi săn rụng nhanh như bứa chín cây, cuối cùng chỉ còn một người. Người ấy là Khó. Khó là trai bản Hua Tát. Chàng mồ côi cha mẹ, sống như con don, con dim. Con don, con dim sống thui thủi, đi con đường riêng, ăn uống thế nào không ai biết được. Người bản Hua Tát không biết Khó đi con đường nào tìm vết hổ. Đường của con don, con dim, hổ cũng không biết. Con hổ thấy sự nguy hiểm. Nó thay đổi chỗ ở, thay đổi đường đi. Khó và con hổ săn nhau từng giờ...”. Cuối cùng người và hổ cùng chết, trái tim hổ bị kẻ gian đánh cắp. Đây là sáng tác mới, nhưng theo dạng truyện cổ, bắt đầu bằng: “Ngày ấy, ở Hua Tát có một cô gái...”. Đã đành là chuyện hư cấu, nhưng mang hơi hướng truyền thuyết dân gian. Và nghệ thuật kể chuyện, viết truyện của Nguyễn Huy Thiệp đã đạt tới đỉnh cao. Nhân ngày Tết Canh Dần, chúng tôi nhắc đến một ít kỷ niệm văn học liên hệ đến cọp. Vấn đề sau là trong tâm lý người dân miền Bắc và miền Nam, cách tiếp cận với con cọp, hay thần Hổ, có phần khác nhau. Phía Bắc, từ đồng bằng lên mạn ngược, có nơi sùng bái hùm thiêng, thờ phụng đến mê tín. Người dân miền Nam cũng sợ cọp, nhưng chỉ là nỗi sợ hãi cụ thể, vật chất mà không sùng tín. Tương truyền ngày trước, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã tổ chức những trận đấu voi - cọp. Voi được xem như thú vật tuân phục và hữu ích, trái với cọp hung tợn và phá hoại. Do đó, trận đấu thiên vị và bất công, vì cọp bị nhổ nanh, tước vuốt, khớp mõm, và voi bao giờ cũng thắng. Khoảng năm 1750, Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cùng triều đình đi trên 12 thuyền lớn, xem trận ác chiến trên bãi đất Cồn, 40 con voi tận sát 18 con cọp. Tập tục này tiếp diễn đến các đời sau, Minh Mạng xây đấu trường Hổ Quyền năm 1830 dưới chân đồi Long Thọ. Mãi đến năm 1904 đời Thành Thái, tục lệ này mới chấm dứt. Vua chúa không tạo nên được tâm lý quần chúng, nhưng gây ảnh hưởng và điều kiện hoá đời sống tinh thần người dân. Ngày nay, nghe đâu ở Việt Nam chỉ còn hơn nghìn con cọp. Cọp là loài thú đang và đáng được bảo vệ. Cọp là tài sản thiên nhiên, uy dũng, hùng tráng. Diễm lệ và kỳ ảo, cọp là vẻ đẹp của một trần thế đang phôi pha...
-
Ấn không được lễ nhận mà phải đi cướp thì dùng ấn cũng để cướp của người thôi. Ma tà quỷ dữ nhiều hơn chính nhân quân tử. Hic!
-
Đầu xuân năm mới, Phoenix kính chúc TT LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG, bác THIÊN SỨ và các anh chị em trên diễn đàn lý học đông phương một năm mới đầy triển vọng, nhiều thành công và sức khỏe!
-
Anh HungNguyen mến, P hiểu ý của anh hỏi nên không chỉ trích hay nhận xét về anh mà muốn anh lưu ý cách đặt vấn đề. Vì sao một người có thể cho rằng mình có quyền chất vấn người khác mà lại không cho người khác có quyền từ chối không phải chứng minh những gì mình nhận định? (ở đây nói đến trường hợp hai bên không có gì ràng buộc về nhau về quyền và nghĩa vụ). Chú Thiên Sứ là người nghiên cứu theo quan điểm cá nhân, tự lập luận và công bố các luận điểm của mình. Nếu những người xung quanh thấy không phù hợp, chưa chặt chẽ hay hợp lý thì cũng có quyền đưa ra các lập luận khác để phản bác hoặc là đưa ra lập luận tán đồng. Việc này không nằm dưới một hội đồng khoa học hay tổ chức chuyên môn nào cho đến khi vấn đề đó được công luận, cơ quan thẩm quyền đề nghị và quyết định. Hiện nay, các vấn đề về lý học đông phương cũng chưa có nơi nào đủ thẩm quyền để phán quyết chuyện đúng sai. Nhưng trên thực tế ở VN đã đưa được đưa vào chương trình giảng dậy và hàng ngàn năm nay, nhiều hình thái chính quyền vẫn áp dụng trong việc lập và hoạt động chính quyền của mình. Cá nhân P không cho rằng việc thừa nhận của đa số sẽ chứng tỏ một điều là đúng là hay sai. Vì thế, cho dù là các bậc kỳ tài tử vi phong thủy của TQ, ĐL, HK hay VN và các "đại gia" có thừa nhận hay không theo P cũng chẳng có nghĩa lý gì nhiều. Còn bản thân HungNguyen muốn tìm hiểu, muốn nhận định thì nên tôn trọng tác giả bằng cách đọc, suy ngẫm, tự nhận định theo tư duy của mình, nếu cần thì trao đổi thêm với tác giả thay vì đưa ra những câu hỏi có tính chất vấn không thuyết phục. Theo anh trình bày thì P thấy chính bản thân anh cũng đang "loạn cào cào" với hệ thống lý thuyết của lý học Phương đông. Nếu anh thích tìm hiểu thì tìm thầy tin tưởng chỉ dẫn hoặc tự nghiên cứu chứ không nên phàn nàn về hiện trạng luận thuyết của lý học đông Phương (lưu ý: Phong thủy không phải là tất cả hệ lý thuyết của lý học đông Phương). Chê thì rất dễ. Chứng minh được người khác sai thì khó. Sửa được cái sai của người mới đáng để làm. Chỉ ngồi kêu "sai rồi", "chưa được" thì tốt nhất là im lặng. Vì cũng vô ích mà thôi. Diễn đàn học thuật, P không muốn đi sâu vào tranh luận ngoài lề. Xin phép lui cho anh HungNguyen chờ đón tiếp chú Thiên Sứ. Chúc anh sức khỏe! Thân chào.
-
Họa phúc chớ cầu. Việc ở tùy duyên.
-
Đó là vấn đề tư chất. Còn chọn nghề gì thì tùy bạn.
-
Nếu bạn thấy không bất tiện, gửi cho P một tấm hình vào địa chỉ ntha@dqn.vn. Mặc dù bạn cung cấp nhiều thông tin nhưng nhiều thông tin chưa chắc đã bằng một thông tin quan trọng. Để chọn một giờ sinh/12 giờ trong ngày là việc không đơn giản và chủ quan được nên bạn đừng thất vọng khi chưa thấy có hồi đáp từ các anh chị trên diễn đàn. Chúc vui vẻ!
-
Anh HungNguyen hỏi chú Thiên Sứ nên câu trả lời chính thức để chú Thiên Sứ có ý kiến. P qua đường, có ý nhỏ muốn chia sẻ, nếu làm phiền anh HungNguyen thì anh bỏ qua nhé: - Theo anh thì "bậc uyên thâm" như thế nào đủ điều kiện để đánh giá, chấp nhận hay công nhận, ủng hộ những luận thuyết kiểu như Chú Thiên Sứ đề cập? (trong nghề nhân sự của P thì gọi là tiêu chí, điều kiện thành viên hội đồng đánh giá)? Một nguyên lý, quy luật khi được chứng minh là đúng bên cạnh các tiêu chí phải có tiêu chí toàn diện, bao trùm. Không lẽ định luật bảo toàn năng lượng được phát hiện ở Châu Âu thì nó chỉ đúng với các nước châu Âu? Hay là lực hấp dẫn được phát hiện từ châu Âu thì không đúng với châu Á? Vật lý vũ trụ là thứ bao trùm. Phong thủy là cái gì chắc bây giờ cũng nhiều người nắm được rồi. Nếu anh băn khoăn như vậy phải chăng phong thủy là thứ "ma thuật" huyền bí? Nếu có điều kiện, anh dành thời gian đọc kỹ những vấn đề chú Thiên Sứ nghiên cứu và công bố. Biết đâu anh sẽ thấy bức tranh "Phong thủy" đơn giản, dễ hiểu và dễ áp dụng hơn nhiều. Mấy lời dông dài, mong anh hoan hỷ "ngâm kứu"!
-
Chị wild sưu tầm được bài hay thật. Đậm mùi giao tế.
-
Đền Đô cách HN chẳng có bao xa. Xây thêm cái Đền nữa thì hoặc là người ta không đến đền Đô, hoặc là người ta đến đền Đô mà chẳng buồn ngó đến cái đền ở vườn hoa. Đúng là rảnh việc vẽ hoa. Trong khi làm cho môi trường văn hóa giao tiếp, vệ sinh ở quanh hồ gươm nó văn minh, lịch sự hơn thì không thấy bàn.
-
Bạn cứ yên tâm học đi. Học về ngành phân tích tài chính cũng tốt. Nhưng đừng quá ham tiền.
-
Phoenix sẵn sàng cho con đi học không theo một trường lớp chính quy hay chương trình đào tạo quy định nào nếu điều đó thực sự phù hợp cho một đứa trẻ phát triển thành người có cuộc đời ý nghĩa và hữu ích nhất. Cảm ơn những người tâm huyết như giáo sư Hồ Ngọc Đại.
-
Người cũng ẩn trong mình 2 giới tính cơ mà. Huống hồ là loài gà.
-
Lạc Việt độn toán & Vụ án có nhiều tinh tiết bí ẩn?
phoenix replied to Thiên Sứ's topic in Lạc Việt Độn Toán
Vụ này người chết mang theo sự thật. Vụ án rồi sẽ chìm đi. Những bí mật chỉ có những bên trong cuộc biết. Sự chấm dứt có toan tính và sắp đặt. Nghi ngờ của chú Thiên Sứ có cơ sở. Nhưng sự thật ở trong bóng tối. Đời sống XH khó có thể rành mạch đen trắng, đúng sai. Liên tiếp trong cuối tháng 2, nhất là đầu tháng 3 này mấy vụ cắt cổ, chặt đầu. Giờ người giết nhau như giết gà. Nhưng điều ma quỷ xui khiến ấy không đáng sợ bằng sự thờ ơ và sợ hãi của cộng đồng. Thấy một người kêu cứu mà không quan tâm, không dám cứu. Con người hèn nhát và chỉ còn bản năng. Xã hội càng hiện đại, phát triển người ta càng sợ hãi. Thật là nghịch cảnh. Một ý kiến nhỏ của P: dùng các thông tin báo chí để phân tích phải cẩn trọng vì rất nhiều thông tin tùy tiện. Từ sự thật đến báo chí cái lông chim đã biến thành con bò. Ngay cả công an để phá án cũng cần quấy tung hỏa mù dư luận để dễ đối phó với đối tượng. Nếu luận đoán nên tập trung luận quẻ và xem số để chiêm nghiệm với thông tin mới thì hay hơn. Vì suy luận phân tích như cơ quan điều tra thì chúng ta cũng không đủ nghiệp vụ. Trừ khi để giải trí. -
:lol: Anh Laido dạo này nhiều nghiên cứu quá. Hy sinh vì khoa học sao???
-
Thật vô nhân tính!
-
Xin nhờ bác Lão Nông và Thiên sứ và các anh chị xem giúp lá số
phoenix replied to truc quyen's topic in Tử Vi
Có lẽ chị rối trí để dẫn đến việc đáng tiếc. Con đường ngắn nhất để đi đến sự thanh thản là chân thật và chân thành. Mọi thứ ảo khác đều có lúc phải rũ áo. Mong muốn cũng không nên quá nhiều. Sẽ làm tâm hồn thiếu sáng suốt. Hy vọng vào cơ duyên để chị có một cơ hội. Đừng để việc đáng tiếc lặp lại. -
TƯ LIỆU, CHỨNG TÍCH, DI SẢN MINH CHỨNG 5000 NĂM VĂN HIẾN.
phoenix replied to Thiên Sứ's topic in Nghiên Cứu Cổ Sử Việt
Phoenix xin post lại nguyên văn. Phần chữ đậm, màu xanh là do Phoenix thêm vào Đáng chú ý là bài viết này của tác giả Trung Quốc. Thập Điện Diêm Vương Thập Điện Diêm Vương là hệ thống Diêm Vương đặc biệt của Trung Quốc, trong kinh Phật thời kỳ sớm nhất không có cách nói này về Thập Điện Diêm Vương. Theo Cấm Độ Tam Muội Kinh nói : dưới sự cai trị của Diêm Vương chỉ đặt Ngũ Quan gồm có Tiên Quan cấm sát, Thuỷ Quan cấm đạo, Thiết Quan cấm dâm, Thổ Quan cấm lưỡng thiệt, Thiên Quan cấm tửu (Tiên Quan cấm giết chóc, Thuỷ Quan cấm trộm cướp, Thiết Quan cấm dâm dục, Thổ Quan cấm hai lời dối trá, Thiên Quan cấm uống rượu). Quyển thứ ba mươi ba trong trước tác Phật Tổ Thống Ký thuộc Sử Truyền Phật Giáo Trung Quốc ghi lại : “Thế truyền Đường Đạo Minh hoà thượng thần du địa phủ, gặp mười lăm người phân trị, vì truyền tên lên thế gian nên thuộc hạ của Diêm Vương biến thành mười lăm”. Nói đến đây thì Phật giáo Trung Quốc bắt đầu xuất hiện Thập Điện Diêm Vương. Danh xưng của Thập Điện Diêm Vương sớm nhất xuất hiện trong Dự Tu Thập Ngũ Sinh Thất Kinh. Từng vị trong Thập Điện Diêm Vương đều có phân công, chức quyền, phương thức xử lý tội quỷ rõ ràng minh xác. Trong Ngọc Lịch Sao Truyền và Diêm Vương Kinh có ghi lại tỉ mỉ như sau : - Điện thứ nhất : Tần Quảng Vương Tưởng, đản thần ngày mồng một tháng hai, ty chưởng Nhân Gian Thiên Thọ Sinh Tử, cai quản cát hung u minh. Người tốt hết tuổi thọ thì tiếp dẫn siêu sinh. Người có công tội hai phần cân bằng thì đưa đến điện thứ mười, đầu thai vào nhân thế, nam chuyển thành nữ, nữ chuyển thành nam. Người làm ác nhiều thiện ít thì giải đến đài cao bên phải điện, gọi là Nghiệt Kính Đài để xem lòng dạ tốt xấu khi tại thế rồi phê giải đến điện thứ hai phát ngục chịu khổ. - Điện thứ hai : Sở Giang Vương Lịch, đản thần ngày mồng một tháng ba, ty chưởng Thoại Đại Địa Ngục, còn gọi là Bác Y Đình Hàn Băng Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ (Hắc Vân Sa, Phấn Niệu Nê, Ngũ Thoa, Cơ Ngạ, Khát, Nùng, Đồng Phủ, Đa Đồng Phủ, Thiết Khải, U Lượng, Kê, Hôi Hà, Chước Tiệt, Kiếm Diệp, Cô Lang, Hàn Băng). Phàm người tại dương gian làm hại đến thân thể người khác, trộm cướp sát sinh thì đưa vào ngục này rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để chịu khổ, hết hạn thì chuyển sang điện thứ ba, xem xét để gia hình phát ngục. - Điện thứ ba : Tống Đế Vương Dư, đản thần ngày mồng tám tháng hai, ty chưởng Hắc Thừng Đại Địa Ngục, còn gọi là Bác Lục Huyết Trì Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ (Hàm Lỗ, Ma Hoàn Gia Nữu, Xuyên Trợ, Đồng Thiết Quát Liễm, Quát Chỉ, Kiềm Tễ Tâm, Oạt Nhãn, Sản Bì, Ngoạt Túc, Bạt Thủ Cước Giáp, Khấp Huyết, Đảo Điếu, Phân Cốt, Thư Chú, Kích Tất, Bào Tâm). Phàm người tại dương bất kính tôn trưởng, xúi biểu người khác kiện tụng thì đưa vào ngục này rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để chịu khổ, hết hạn thì chuyển sang điện thứ tư, xem xét để gia hình phát ngục. - Điện thứ tư : Ngũ Quan Vương Lữ, đản thần ngày mười tám tháng hai, ty chưởng Hợp Đại Địa Ngục, còn gọi là Bác Lục Huyết Trì Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người tại dương thế cho vay nặng lãi, ăn bớt ăn xén, mua bán dối trá thì đưa vào ngục này rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để chịu khổ, hết hạn thì chuyển sang điện thứ năm, xem xét để gia hình phát ngục. - Điện thứ năm : Diêm La Vương Thiên Tử Bao, đản thần ngày mồng tám tháng một, trước kia vốn ở tại điện thứ nhất, nhân vì chết oan nên được hoàn dương thân oan rồi được giáng điều đến điện này, ty chưởng Khiếu Hoán Đại Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục moi tim nhỏ. Phàm người giải đến điện này sẽ được đưa đến Vọng Hương Đài, cho nghe lại những chuyện vì tội nghiệt mà gặp tai ương trên nhân thế thì đưa vào điện này, điều tra kỹ tội ác từng phạm rồi đưa vào các ngục moi tim nhỏ, móc tim ra đổ cho rắn ăn. Chịu khổ đủ ngày sẽ giải đến điện khác. - Điện thứ sáu : Biện Thành Vương Tất, đản thần ngày mồng tám tháng ba, ty chưởng Khiếu Hoán Đại Địa Ngục và Uổng Tử Thành, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người trên dương thế oán trời trách đất, than khóc không ngừng thì đưa vào ngục này để tra xét những việc phạm phải rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để chịu khổ, hết hạn thì chuyển sang điện thứ bảy, tra xét xem còn tội ác gì khác. - Điện Thứ Bảy : Thái Sơn Vương Đổng, đản thần ngày hai mươi bảy tháng ba, ty chưởng Nhiệt Não Địa Ngục, còn gọi là Đối Ma Nhục Tương Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người tại dương thế lấy xương làm thuốc, chia rẽ người khác thì đưa vào ngục này rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để chịu khổ, hết hạn thì chuyển sang điện thứ tám, xem xét để gia hình phát ngục. - Điện thứ tám : Đô Chủ Vương Hoàng, đản thần ngày mồng một tháng tư, ty chưởng Đại Nhiệt Não Đại Địa Ngục, còn gọi Nhiệt Não Muộn Oa Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người tại dương thế bất hiếu, khiến cha mẹ thân thích buồn phiền thì đưa vào ngục này rồi giải đến ngục nhỏ có tội tương ứng để gia hình chịu khổ, hết hạn thì chuyển giao cho điện thứ mười, thay đầu đổi mặt vĩnh viễn chịu kiếp súc sinh. - Điện thứ chín : Bình Đẳng Vương Lục, đản thần ngày mồng tám tháng tư, ty chưởng Phong Đô Thành Thiết Võng A Tỳ Địa Ngục, chia thành mười sáu ngục nhỏ. Phàm người tại dương thế giết người phóng hoả, bị chính pháp xử chém đầu thắt cổ thì giải đến điện này, bắt cột tay chân ôm vào cột rỗng ruột (bào lạc), quạt lửa thiêu đốt cho cháy tận tim gan rồi đưa vào A Tỳ Địa Ngục chịu khổ, cho đến khi những người bị hại đều được đầu thai thì mới được thả ra, giải giao đến điện thứ mười để phát sinh vào lục đạo luân hồi. - Điện thứ mười : Chuyển Luân Vương Tiết, đản thần ngày mười bảy tháng tư, chuyên quản các quỷ hồn từ các điện giải đến, phân loại thiện ác, hạch định đẳng cấp, phân phối đến tứ đại bộ châu để đầu thai. Phán xét chi tiết tên tuổi, nam nữ thọ thiên, phú quý bần tiện, mỗi tháng đều báo cáo thông qua điện thứ nhất. Hồn nào tác nghiệt cực ác thì cho hoá thành quái thai, ước định thọ mệnh ngắn dài. Sau khi hết tội thì cho phục sinh làm người, đầu thai vào đất man di. Được đưa đi đầu thai vào nhân thế, trước tiên đưa đến giao cho thần Mạnh Bà dưới Vong Đài để uống canh khiến cho quên mọi việc trong tiền kiếp. Thập Điện này thông thường lấy Diêm La Vương ở điện thứ năm làm đại biểu, gọi chung là Thập Điện Diêm La, Thập Điện Diêm Quân hoặc Thập Điện Diêm Vương. Trên thực tế, Thập Điện Diêm Vương là phiên bản hệ thống thống trị của nhân thế tại âm gian, là quan chức của nhân gian tiếp tục công việc tại âm gian. Thập Điện Diêm Vương có ảnh hưởng rất lớn trong dân gian, bắt đầu lưu hành ước chừng vào thời kỳ Ngũ Đại sau Đường mạt, ngay cả đạo giáo cũng sử dụng hệ thống Minh Phủ Thần Tiên này. Trong Phật giáo từ trước đến nay cũng đắp tượng Thập Điện Diêm Vương đặt ở trái phải Minh Giới Tổng Quản Địa Tạng Bồ Tát, thời xưa thì thường có mười lăm điện trong miếu Thành Hoàng. Quảng Châu, ngày 10 tháng 9 năm 2006 Hồng Sư Vương Nguồn: Xem tại đây Tham khảo thêm tư liệu: Thông tin về Diêm Vương theo tài liệu nước ngoài -
Chị có thể thay đổi tính tình của mình được không?? Chị xem lại đường link lá số. Đã bị lỗi rồi.
-
TƯ LIỆU, CHỨNG TÍCH, DI SẢN MINH CHỨNG 5000 NĂM VĂN HIẾN.
phoenix replied to Thiên Sứ's topic in Nghiên Cứu Cổ Sử Việt
Gửi chú Thiên Sứ một số thông tin về có nhắc đến tục nhuộm răng có nguồn gốc của người Việt đã post trong topic riêng: Tục nhuộm răng -
TƯ LIỆU, CHỨNG TÍCH, DI SẢN MINH CHỨNG 5000 NĂM VĂN HIẾN.
phoenix replied to Thiên Sứ's topic in Nghiên Cứu Cổ Sử Việt
Trong quá trình đi tìm tư liệu về Diêm Vương, Phoenix tìm thấy thuyết này: "Thập Điện Diêm Vương là hệ thống Diêm Vương đặc biệt của Trung Quốc, trong kinh Phật thời kỳ sớm nhất không có cách nói này về Thập Điện Diêm Vương. Theo Cấm Độ Tam Muội Kinh nói : dưới sự cai trị của Diêm Vương chỉ đặt Ngũ Quan gồm có Tiên Quan cấm sát, Thuỷ Quan cấm đạo, Thiết Quan cấm dâm, Thổ Quan cấm lưỡng thiệt, Thiên Quan cấm tửu (Tiên Quan cấm giết chóc, Thuỷ Quan cấm trộm cướp, Thiết Quan cấm dâm dục, Thổ Quan cấm hai lời dối trá, Thiên Quan cấm uống rượu). Quyển thứ ba mươi ba trong trước tác Phật Tổ Thống Ký thuộc Sử Truyền Phật Giáo Trung Quốc ghi lại : “Thế truyền Đường Đạo Mi" (nguồn: http://www.thegioivohinh.com/showthread.php?p=64882) Đây là chi tiết rất phù hợp với khái niệm "Ngũ hành Thiên - Ngũ hành Địa"; tương ứng với Thiên Hoàng (cha trời/Càn/Dương) và Địa Mẫu (mẹ đất/Khôn/âm). Tuy nhiên, Phoenix chưa tìm được thêm tài liệu nói rõ về chi tiết này. Nếu ai có tư liệu, vui lòng chia sẻ. Phoenix xin trân trọng cảm ơn! -
Quan niệm về cái đẹp ở Nhật qua các thời kỳ [/color] 04/11/2008 - 23:48 Phụ nữ Nhật hồi xưa rất thích nhuộm răng đen, hơn thế nữa, họ còn thích cả...xăm mình? Tag: Quan niệm về cái đẹp ở thời Nara (710 - 793) là làn da trắng trẻo. Cũng trong thời Nara, phụ nữ Nhật bắt đầu biết dùng phấn trắng để trang điểm mặt và thích xăm mình. Giới quý tộc thời ấy còn khởi xướng phong trào nhổ lông mày, nữ cũng như nam. Nam giới thích cột tóc đuôi gà hay búi thành lọn, trong khi các cô gái lại thích xõa tóc ngang vai. Nhuộm răng đen là dấu hiệu cho thấy quý bà đó thuộc tầng lớp thượng lưu và người ta cho rằng tục nhuộm răng ở xứ Phù Tang có nguồn gốc từ Đông Nam Á chứ không phải Trung Hoa. Phái nam thuộc giới quý tộc không những nhuộm răng mà còn "đánh má hồng" song song với việc cạo trọc nửa đầu (phần trán) Phong trào nhuộm răng đen lan mạnh đến thế kỷ 11, thời Nhật hoàng Shirakawa (1072-1086). Phái nam thuộc giới quý tộc không những nhuộm răng mà còn ''đánh má hồng'' song song với việc cạo trọc nửa đầu (phần trán). Ở thời này, phụ nữ tiếp tục thích để tóc dài và buông rủ lững lờ như những con suối ở Kyoto. Da trắng cộng với tóc đen là công thức làm đẹp của phụ nữ Nhật trong giai đoạn này. (Trích từ nguồn: Xem tại đây)
-
[b]Vài nét về tục nhuộm răng đen [/b]GS.TS NGUYỄN LÂN DŨNG Theo BS. Hồ Đắc Duy thì trong các truyện cổ tích, từ hàng nghìn năm trước người nước ta đã có tục nhuộm răng, theo truyền thuyết tục này đi cùng với tục xăm mình và ăn trầu. Không chỉ người Việt mới có tục nhuộm răng mà các dân tộc khác như Thái, Si La... cũng có tục này nhưng mỗi nơi, mỗi dân tộc đều có cách nhuộm răng khác nhau về ý nghĩa, thẩm mỹ, sức khỏe và chất liệu sử dụng trong lúc nhuộm. Như người Thái ở Việt Bắc thì họ nhuộm răng và ăn trầu là làm cho răng bền chắc tránh sâu răng. Chiết răng Suốt trong thời niên thiếu thì người con gái Thái chưa làm, chỉ sau khi lấy chồng mới nhuộm răng và ăn trầu. Cách nhuộm răng của họ cũng khác với người Kinh, để làm sạch răng họ phải chà sát nhiều lần bằng một miếng cau khô sau đó dùng lưỡi dao hoặc lưỡi thuổng cùn hơ cho vừa nóng, rồi rắc bột cánh kiến lên để bột nhựa cánh kiến nóng chảy ra mà không cháy thành than. Chờ cho bột nhựa cánh kiến vừa nguội mới lấy nhựa đó miết vào răng. Miết cho đến lúc chất nhựa này bọc hết hai hàm răng mới thôi. Trong vòng 7 đến 10 ngày sau không được dùng thức ăn uống nóng, không nhai đồ ăn cứng, khi răng trở nên màu ngà họ sẽ nhuộm đen bằng nhựa cây mét non. Tục nhuộm răng đen có từ thuở xa xưa, nhưng chỉ thông dụng ở miền Trung và miền Bắc. Một câu chuyện về nghệ thuật nhuộm răng thường được nhiều người ở Huế nhắc đến là cách đây 70 năm có một bà thầy nhuộm răng nổi tiếng nhất ở kinh đô Huế là bà thầy Thại ở làng Sư Lỗ, cách cầu Ngói Thanh Toàn và làng Đồng Di Tây Hồ một con sông. Muốn được bà nhuộm răng các cô chiêu, cậu ấm phải ghi tên và đặt tiền cọc trước, có khi mất cả hàng tháng trời mới tới phiên mình được nhuộm. Mỗi đợt nhuộm là 15 người ăn ở luôn tại nhà bà thầy trong suốt thời gian nhuộm khoảng từ 12 ngày đến nửa tháng. Chiều chiều bà thầy thường cho các cô chiêu cậu ấm leo lên một đồi nhỏ trong làng quay mặt ra hướng đông, bảo họ há miệng to để gió biển thổi vào cho thuốc nhuộm mau khô (!) và bà cũng kể cho các cô chiêu cậu ấm đó nghe về những chuyện cổ tích, danh nhân lịch sử, lòng yêu nước, hiếu thảo với cha mẹ. Đặc biệt có một ông già mù phụ thêm hát vè Mụ Đội, vè Phạm Công Cúc Hoa, vè Lục Vân Tiên, vè thất thủ Kinh Đô... để mua vui cho các cô các cậu và những người hiếu kỳ đến xem. Thuốc nhuộm răng của bà thầy Thại càng ngày càng nổi tiếng vang khắp cả một vùng Trung kỳ, có mấy cái đại lý của bà ở chợ Đông Ba, Quảng Trị, Đông Hà vô tới Quảng Nam, Quảng Ngãi... Đến năm 1949, không hiểu tại sao ông già mù hát vè bị Tây bắt và lôi ra bắn chết dưới dốc cầu An Cựu. Cả nhà bà thầy Thại dọn đi đâu mất trong ngày hôm ấy, nghe đâu mấy năm sau có người gặp bà ở cửa Tranh Đề. Kể từ khi nền văn minh tây phương, nền văn minh răng trắng xâm nhập mạnh mẽ vào nước ta (1862) nhất là vào những thập niên 30 thế kỷ 20. Thuở ấy trong xã hội có hai phái kình chống nhau kịch liệt, một nhóm cho rằng để răng trắng, hớt tóc là bè lũ theo tây, làm me tây... còn nhóm kia thì cho rằng bối tóc củ hành, răng đen, áo the quần vải là hủ lậu, kém văn minh... Lúc mà phong trào để răng trắng thắng thế cũng là tục nhuộm răng bắt đầu đi vào lãng quên.
-
Thành phần hóa học của chất thuốc nhuộm răng Bọ cái phát tiết sáp nhựa Từ lâu người ra đã biết cây sơn Rhus vernicifera sp. hay R. succedana L., thuộc họ Xoài Anacardiaceae, có nhựa nhưng không dùng được trong miệng vì chất laccol rất độc. Nhựa trong thuốc nhuộm răng được lấy ra từ một côn trùng cánh nửa hemiptere tí hon (0,60-0,70mm) sống ký sinh từng tập đoàn từ 80-100 con (ở Việt Nam trung bình 170 con) trên thân, cành nhiều loại cây ở Đông Nam Á. Con sâu nầy tùy tác giả được gọi Tachardia lacca R. Bld., Carteria lacca Sign. hay Coccus laccae Kerr, trước khi mang tên thông dụng ngày nay Laccifer lacca Kerr, thuộc họ Sâu cánh kiến Lacciferidae Cockerell. Tachardia, Carteria từ Tachard (1709), Carter (1861) là tên những nhà khoa học đã khảo cứu và miêu tả nhựa sâu như Kerr (1781), Roxbary (1796). Lacci nguồn gốc từ tiếng Ấn Độ lakh hay Phạn tự laksha nghĩa là trăm ngàn vì số lượng sâu trên cây nhiều vô kể, từ đấy phát xuất những danh từ Âu Mỹ lak, lac, laque. Sâu chọn làm giống được buộc vào cây, có thể cho vào sọt tre nhỏ hay túi lưới rồi mắc lên cành, ở chỗ phân nhánh để sâu bò sang nhiều cành. Sâu hút nhựa cây mà sống, trưởng thành lớn lên thành bọ mới phân hóa đực, cái. Cả hai loại (hai phần ba là cái) cùng nhau làm tổ trong vỏ cành cây, tổ loại đực hình thoi, mỏng và nhỏ, tổ loại cái hình tròn, lớn hơn. Bọ đực thoát xác, mọc chân, mọc cánh, có thể di động được để đến với bọ cái. Trong lúc đó bọ cái nằm yên trong tổ, chỉ lòi bộ phận sinh dục ra ngoài để giao cấu. Làm xong nhiệm vụ, bọ đực kiệt lức chết đi, hy sinh cho giống nòi. Bọ cái có chửa, phồng lớn, cho phát tiết sắc tố và và sáp, nhựa để nuôi nấng và bảo vệ bầy con sắp đẻ. Mỗi bọ cái có thể mang đến một ngàn trứng (ở Việt Nam, trung bình từ ba đến bốn trăm trứng) hình bầu dục nhỏ, dài, chen lấn trong một túi dung dịch nhuộm màu đỏ son rất đẹp. Ấu trùng từ trứng nở ra, ăn sắc tố mà lớn lên làm dung dịch đặc lại, khô dần. Oái ăm thay, sâu càng trưởng thành thì tổ mẹ càng chật ra, bọ cái dần dần bị ngạt chết, cũng hy sinh cho giống nòi như bọ đực, sâu con không chịu đựng được nữa, luồng qua xác mẹ để thoát ra ngoài, bắt đầu một chu kỳ khác. Mỗi năm có hai chu kỳ. Những bọ đực mùa đông nhờ có cánh có thể bay qua thụ tinh những bọ cái ở các cành xa. Theo nguyên tắc, mỗi năm có thể lấy nhựa hai lần, song ở Việt Nam vì khí hậu ít ôn hoà nên chỉ thực hiện được một lần. Ở Mộc Châu, thả 5kg giống trên cây vải, nhựa thu hoạch được là 200 kg. Còn sắc tố cấu tạo trong tổ cho sâu con có thể thu hoạch cùng lúc với nhựa, nhiều khi trước khi trứng nở nhưng như vậy thì mất đi một lứa sâu mới. Bản chất của các cây trú sâu có ảnh huởng rất lớn lên nhựa sơn. Chúng phải mọc ở những vùng không quá nóng, không quá lạnh, cần ẩm ướt nhưng đừng mưa quá nhiều. Ấn Độ là nước sản xuất nhựa nhiều nhất trên thế giới, khoảng 50.000 tấn mỗi năm, xuất cảng qua Hoa Kỳ, Indonexia, Canada, Đức, Nhật, Pháp, Nga ,… Bên nước ấy, nhựa sơn hảo hạng được lấy từ những cây kusum Schleichera trijuga Willd., dhak Butea frondosa Roxb., arhar Cajanus indicus Sprengl hay C. cajan (L.) Mills. Ở Việt Nam, cây trú sâu mọc trong khoảng cao độ 400-700m. Ta cũng có cây kusum gọi là dầu trường hay cọ phèn (lúc trước dầu dùng để gội dầu, nhân hạnh thế đào lạc trong bánh trái), cây dhak gọi là giêng giêng (vỏ cây tán với gừng để đắp lên vết rắn hay bò cạp cắn), cây arhar gọi là cây đậu thiều hay đậu săng (cây thường được dùng để chữa đau xương mỏi chắc). Ngoài ra sâu nhựa cũng ăn bám trên các cây chưng bầu Combretum quadrangulare Kurz (trái và vỏ cây được dùng làm thuốc trừ giun), dầu dầu Schleichera oleosa (Lour.) Oken., bồ đề Ficus religiosa L., sen cát Shorea cochinchinensis Pierre, lá ngón Pterocarya tonkinensis Dode, ba chế Desmodium cephalotes Wall., hay một số cây ăn quả như vải Litchi sinensis Radk., táo Ziziphus mauritiana Lamk., nhãn Euphoria longan (Lour.) Steud.,… Nhựa sơn bên ta tùy theo địa phương được gọi cánh kiến (hay cánh kiến đỏ), cành kiến, kiền kiến,… nên có sự ngộ nhận : có người cho là cánh con kiến, có người hiểu là cành cây kiến, có người lại tưởng là thân con sâu kiền kiến hay kiến vương,… Thành phần cấu tạo nhựa sơn Ngày nay trên thị trường người ta phân biệt ba loại nhựa sơn : nhựa thô lấy từ thân, cành cây ra còn chứa tạp chất như vỏ cây, lá cây, sâu non, xác bọ, đậm màu, gọi là sticklac tức là nhựa thỏi. Dùng nước chiết xuất để đào thải sắc tố, đem phơi khô, giã nát rồi rửa lọc các tạp chất thì được nhựa màu đỏ vàng, còn chứa chút ít sáp, gọi là seedlac tức là nhựa hột. Lại tiếp tục rửa nước, làm ròng, lọc sạch, có khi tẩy trắng với một dung dịch alcali hypochlorit (11) thì nhựa tinh khiết màu vàng lạt mang tên shellac tức là nhựa vẩy. Làm lớp sơn lót trong giai đoạn nhuộm thứ nhất, nhựa sơn đóng vai trò chủ chốt vì trực tiếp kết dính men răng. Tuy được chú ý từ những thế kỷ 18, 19, nhựa sơn chỉ bắt đầu được khảo cứu tường tận từ đầu thế kỷ 20 rồi bật tung vào những thập niên 70, 80. Chính vào những năm nầy mà nảy nở những luận án nha y đề cập đến vấn đề dùng nhựa sơn để nhuộm răng (4-7) . Khi khảo sát seedlac của cây palas, nhóm Mhaskar-Sukh Dev (18) dùng ethanol pha nước khử sáp rồi lấy ether làm kết tủa "nhựa cứng" tách nó ra khỏi phần "nhựa mềm". Phần "nhựa cứng" còn gọi "nhựa ròng", chiếm 70% tổng số nhựa cây, được đem phân tích qua các phương pháp sắc ký lớp mỏng và giấy (18de). 12 acid đã được xác định (18d) : butolic (14b,18b,20) , aleuritic (12ab,13,18b), jalaric (18ab), shellolic (10,12a,24), epishellolic (18ab,24a), laksholic (18b), epilaksholic (18b), laccijalaric (18c), laccishellolic (18c), epilaccishellolic (18c), laccilaksholic (18d) và epilaccilaksholic (18d) acid cùng 18 amin acid (22). Nếu những tên shellolic, lacksholic, laccishellolic, laccilaksholic acid dĩ nhiên từ shellac, lakh mà ra, những tên butolic, jalaric acid lấy gốc từ những tên cây trú sâu Butea monosperma Lamk., jalari Shorea talura Roxb. Hai aleuric và butolic acid là những phân tử dài, mở, những acid khác đều là những dẫn xuất của một vòng terpen. Bên cạnh các acid nầy, nhóm Gardner (12) còn chiết xuất ra được những kerrolic acid (12d), laccolic lacton (12cd), periolic acid (12c). laccaic acid A laccaic acid B laccaic acid C laccaic acid D Còn hai hóa chất quan trọng trong nhựa sơn là hai sắc tố màu vàng erythrolaccin và màu đỏ laccaic acid (8ab,15,23b). Cấu tạo cả hai có đồng sườn anthraquinon mang ba hoặc bốn nhóm hydroxy ; laccaic acid có thêm hai nhóm acid và một nhóm keton. Sắc tố nầy được khai thác trong thực phẩm, mỹ nghệ. Vải bô nhuộm với sắc tố nhựa sơn có khả năng khử trùng chống Escherichia coli, Bacillus subtilis, Klebsiella pneumoniae, Proteus vulgaris, Pseudomonas aeruginosa. Gần đây cây đậu săng Cajanus cajan (L.) Mills được khảo cứu tường tận hơn. Lá cây chứa một số hóa chất như vitexin, salicylic acid, henritriacontan, laccerol, longistylin, pinostrobin, b-sitosterol, b-amyrin,… . Mục đích các nhà khảo cứu là tìm một cây trú sâu cống hiến đủ điều kiện để có nhựa sơn tốt. Theo đông y, nhựa sơn có tác dụng làm thanh nhiệt, lương huyết, giải độc, cầm máu, đậu chẩn, tuy vậy ít được dùng làm thuốc. Sách xưa có nói đến chống thổ tả, trừ nôn mửa, tiêu chảy. Shellac phát triển nhiều hơn trong mặt kỹ nghệ. Được nói nhiều nhất là nguyên liệu để làm dĩa hát, bắt đầu với những dĩa 78 vòng mà phần lớn chúng ta đều biết cách đây một nửa thế kỷ, ngày nay khó chóng chỏi với nhựa nhân tạo. Nhựa sơn là một chất chịu acid, cách điện, chống tia cực tím, còn được dùng để làm vec ni, mực in, thuốc xức tóc, khuôn răng giả, bao chống ẩm, tô nón nỉ, đánh bóng sàn nhà, đồ gỗ, tre, vải, da,… Ngày nay, nha y dùng nhiều nhựa nhân tạo để lấp bít các lỗ hổng trong răng. Những nha sĩ tôi gặp không có ai chịu hưóng về nhựa sơn dù là một hóa chất thiên nhiên có nhiều tính chất tốt về sức kết dính, độ thấm nước (rất cần để xử lý trong miệng luôn có nước miếng), thêm vào một kích thước khá nhỏ để dành chỗ các enzym, vi khuẩn có thể làm hư răng. Ngành nha y ta có nên chăng tiếp tục khảo cứu để dùng trong công cuộc phòng ngừa bệnh sâu răng ? Nhựa sơn tẩy trằng có thể là một thuốc nhuộm răng trắng, bảo vệ men răng. Trích Thông tin Khoa học và Công nghệ (4) (1997) 61-66 (có sữa chữa và bổ túc tài liệu) Tham khảo (*) Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội (1986) 676 1- Dr Hocquard, Une campagne au Tonkin, Hachette, Paris (1882) ; Arlea, Paris in lại (1999) 122 2- A. Sallet, Les laquages des dents et les tinctures dentaires chez les Annamites, Bull. Amis Vieux Hué (4) 15 (1928) 223 3- Nguyễn Văn Ký, La société vietnamienne face à la modernité, l’Harmattan, Paris (1995) 231 Vài luận án nha y vế nhuộm răng 4- Vũ Ngọc Quỳnh, Le laquage des dents en Indochine, Hà Nội 1937 5- Bửu Điềm, Phùng Thị Cúc, Le laquage des dents auVietnam. Le shellac en dentisterie préventive, Paris 1973 6- Trần Văn Phú, La résine gomme laque. Orientation des recherches vers son emploi dans l’obturation des micro-espaces des dents, Paris 1975 7- Tô Huệ Mỹ (bà Lê Văn Lý), Le laquage des dents. Contribution à l’étude des mœurs et coutumes de l’ancien Viet Nam, Paris 1973 ; Trân Thị Phùng Giao (bà Hồ Võ Tuân), Réflexions sur le laquage des dents au Vietnam, Toulouse 1978 ; Claude Bosq, Noircissement des dents en Asie orientale, Paris 1982 ; Cyril Bourgaux, Pratiques traditionnelles, culturelles et rituelles intéressant les tissus durs et mous de la cavité buccale en Asie et Océanie tropicales, Bordeaux 1989 Nhựa sơn 8- Nhóm Burwood : a) R. Burwood, G. Read, K. Schofiels, D.E. Wright, J. Chem. Soc. (1965) 6067-73 ; :P id. (1967) 842-54 9- D. Chen, H. Li, H. Lin, Zhongcaoyao (10) 16 (1985) 2-7 10- Nhóm Cookson-Morisson : a) R.C. Cookson, N. Lewin, A. Morisson, Tetrahedron 18 (1962) 547-58 ; :) R.C. Cookson, A. Melera, A. Morisson, id. 1321-3 11- M.O. Faruq, M.I.H. Khan, M.M. Alam, M.Z. Haque, M.A. Rahman, Bangladesh J. Sci. Ind. Res.(3-4) 27 (1992) 134-40 12- Nhóm Gardner : a) B.B. Schaeffer, Wm.H. Gardner, Ind. Eng. Chem. 30 (1938) 333-6 ; :rolleyes: B.B. Schaeffer, H. Weingerger, Wm.H. Gardner, id. 451 ; c) H. Weingerger, Wm.H. Gardner, id. 454-8 ; d) Wm.H. Gardner, Official Digest Federation Paint and Varnish Production Clubs (1938) 473-8 ; e) P.M. Kirk, P.E. Epoeri, Wm.H. Gardner, J. Amer. Chem. Soc. 63 (1941) 1243-6 13- B.S. Gidvani, J. Chem. Soc. (1944) 306 14- Nhóm Gunstone : a) W. Caruthers, J.W. Cook, N.A. Glen, F.D. Gunstone, J. Chem. Soc.(1961) 5251-4 ; :rolleyes: W.W. Chritie, F.D. Gunstone, H.G. Prentice, id. (1963) 5768-71 15- K. Harada, R. Higuchi, A. Ohwa, T. Ohtsubo, Japan 75 13,298 (1975) 3 tr. 16- M.G. Hussain, M.H. Ali, M.M. Ali, F.K.N. Chowdhury, J. Acad.Sci. (2) 11 (1987) 231-2 17- F. Liu, P. Yi, S.Li, Linye Kexue (1) 24 (1988) 106-12 18- Nhóm Mhaskar-Sukh Dev : a) M.S. Wadia, V.V. Mhaskar, Sukh Dev, Tetr. Letters (8) (1963) 513 ; :lol: M.S. Wadia, R.G. Khurana, V.V. Mhaskar, Sukh Dev, Tetrahedron 25 (1969) 3841-54 ; c) A.N. Singh, A.B. Upadhye, M.S. Wadia, V.V. Mhaskar, Sukh Dev, id. 3855-67 ; d) R.G. Khurana, A.N. Singh, A.B. Upadhye, V.V. Mhaskar, Sukh Dev, id. 26 (1970) 4167-75 ; e) A.B. Upadhye, V.V. Mhaskar, Sukh Dev, id. 4177-87 19- M. Matsumoto, Y. Yehara, Japan Kokai 78 29,965 (1978) 2 tr. 20- Nhóm Sen Gupta : a) S.C. Sen Gupta, P.K. Bose, J. Sci. Ind. Res.11B (1952) 458-61 ; :D S.C. Sen Gupta, id. 18B (1959) 210-2 21- R. Singh, A. Jain, S. Panwar, D. Gupta, S.K. Deepti, Dyes and Pigments (2) 66 (2005) 99-102 22- P.N. Srivastava, R.K. Varshney, Entom.Exp. Appl.(2) 9 (1966) 209-12 23- Nhóm Venkataraman : a) N.S. Bhide, A.V. Rama Rao, K. Venkataraman, Tetr. Letters (1) (1965) 33-5 ; :P E.D. Pandhare, A.V. Rama Rao, R. Srinivasan, K. Venkataraman, Tetrahedron Suppl. (1) 8 (1966) 229-39 24- Nhóm Yates : a) P. Yates, J. Amer. Chem. Soc. 82 (1960) 5764-5 ; :lol: P. Yates, A.C. Mackay, L.M. Pande, M. Amin, Chem. Ind. (1964) 1991 ; c) P. Yates, G.F. Field, Tetrahedron 26 (1970) 3135-58 ; d) P. Yat’es, P.M. Burke, G.F. Field, id. 3159-7 (Nguồn: http://www.thanhda.com/community/index.php...threadid=11168)