-
Số nội dung
1107 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by phoenix
-
Nguồn: http://www.vietimes.com.vn Vặt hoa anh đào và những chuyện nhiều nước mắt Thứ năm, 10/4/2008, 07:00 GMT+7 Tôi đã có mặt trong đám đông nhốn nháo, xô đẩy, đè lên nhau để hái những cành hoa anh đào hôm ấy. Tôi đã dúm dó khi nhìn những ánh mắt vui sướng, những cú nhẩy cẫng hân hoan của đồng bào mình, từ học sinh, sinh viên đến giảng viên đại học khi họ cầm trên tay những cành anh đào héo hắt. Anh đào trong Lễ hội - Ảnh: VNN Trong khi người ta đang tung hô cho những chiến dịch bầu chọn thắng cảnh Việt Nam lọt vào những kỳ quan thế giới, thì chính những kỳ quan đó đang trở nên nham nhở vì sự vô ý thức của chính chủ nhân của chúng. Nếu có một dịp nào đó đi thăm những hang động của Hạ Long, đến Phong Nha - Kẻ Bàng hay trở về cội nguồn Đền Hùng, bạn sẽ thấy ken đặc trên bề mặt những hang động, đền chùa các dòng chữ vẽ nguệch ngoạc. Nào là lớp 8A1, 9C2, khoa Lý ĐHSP X, Khoa Kinh tế ĐHKH Y, H yêu L, T mãi mãi nhớ A… Một lần, khi đến thăm Bảo tàng dân tộc Việt Nam trên đường Nguyễn Văn Huyên, tôi thấy trên mặt chiếc trống cổ được tìm thấy ở Hưng Yên cũng chi chít những dòng chữ ghi lại bằng bút tẩy trắng. Một du khách người Pháp đã hỏi đi hỏi lại tôi, bà không hiểu những chữ viết đó có phải dấu tích của người Việt cổ để lại không? Tôi đã chết đứng vì không dám trả lời bà, đó chẳng phải là một dấu tích lịch sử, mà chỉ là cách ghi lại “dấu ấn” của một số những bạn trẻ đang được coi là tương lai của đất nước Việt Nam. Đến những khu di tích, lễ hội khác, hành động nhổ nước bọt, phỉ kẹo cao su, ngồi lên bia tiến sĩ, leo lên tượng rùa, voi, hái lá, bẻ cành, hái hoa làm kỷ niệm của các “nam thanh nữ tú” đã không phải là chuyện hiếm. Tôi không biết nên gọi tên những hành động kiểu này của giới trẻ là gì, một bản năng hồn nhiên, một sự a dua theo đám đông, một cách chơi trội để khẳng định, hay là một sự xuống cấp về ý thức và văn hóa đã đến mức báo động? Nhưng tôi dám chắc rằng, nếu cỗ máy thời gian quay ngược lại mười đến hai mươi năm trước, cái chết của một con cá, con mèo, thậm chí cả một con dế mèn cũng khiến chúng phải khóc ròng. Lúc ấy, chúng còn là những đứa trẻ, mà trong thế giới của trẻ con, thiên nhiên, con vật chính là thế giới thiêng liêng, diệu kỳ, chứa đựng bao bí ẩn để khám phá, chứa đựng bao yêu thương để nâng niu, sẻ chia. Thời gian cứ trôi dần qua, không hiểu có một điều nào đó đã tàn phá tâm hồn một đứa trẻ biết nhỏ lệ trước nỗi đau của một cái cây trở thành một người lớn lạnh lùng, vô cảm, sẵn sàng bẻ gãy từng cành hoa bằng sức mạnh của cơ bắp? Thời thơ ấu, khi đọc cuốn truyện Totochan - cô bé bên cửa sổ, tôi đã nhớ mãi những dòng tự sự của tác giả về ngài hiệu trưởng Kobayasi - người đã dạy cho con gái mình tình yêu thiên nhiên bằng cách dẫn cô đến một cây cổ thụ, chỉ cho cô biết các cành lá đung đưa trong gió như thế nào. Ông cũng nói cho cô biết mối quan hệ giữa lá, cành và thân cây; lá cây đung đưa khác nhau là tuỳ theo tốc độ của gió. Họ đứng im quan sát những hiện tượng như vậy, và khi không có gió họ cứ đứng ngửa mặt lên trời, kiên trì đợi chờ một làn gió thoảng đến. Không những họ chỉ đứng để quan sát gió mà còn quan sát cả những dòng sông. Hai cha con họ đã thường ra bên bờ con sông Ta-ma gần đó để ngắm nhìn nước chảy và họ không bao giờ cảm thấy mệt mỏi khi làm những chuyện đó. Sau này, tôi đã gặp lại những bài học rất đỗi dung dị, giản đơn mà tràn đầy ý nghĩa đó trong những cuốn sách, bộ phim, tài liệu về giáo dục thiên nhiên của trẻ em phương Tây. Ngay từ mẫu giáo, nhà trường đã thường xuyên tổ chức những chuyến đi picnic, dã ngoại đến tham quan những công viên quốc gia, rừng nhiệt đới, những buổi cắm trại ngoài trời để học về thiên nhiên. Lên đến cấp một, cấp hai, chúng đã tự tổ chức những chuyến tham quan đến các danh lam thắng cảnh, kỳ quan thiên nhiên của hàng trăm quốc gia, với sự khuyến khích ủng hộ nhiệt tình, thậm chí “thả cửa” của chính phụ huynh và nhà trường. Trong những chuyến đi này, lũ trẻ phải thu thập những mẫu cây, ngọn cỏ về làm thí nghiệm, tự quan sát, chụp ảnh, tìm hiểu các vấn đề của tự nhiên theo những chủ đề mà chúng yêu thích. Ý thức giữ gìn tự nhiên qua các hành động cấm vứt rác, không dẫm lên cỏ, không vặt hoa, bẻ cành không chỉ được giáo dục sinh động, cụ thể trong nhà trường mà còn được triển khai thành những chiến dịch lớn của đất nước được cả cộng đồng tôn trọng. Trong lúc đó, bao quanh những trường học ở các đô thị lớn Việt Nam là một khung cảnh nhộn nhạo của những hàng game, quán nước, cửa hàng quần áo, phố xá ồn ã còi xe, dày đặc khói bụi đến khó thở. Phía sau những bức tường bao quanh trường học thành một pháo đài kiên cố là một khuôn viên chật hẹp được chia năm xẻ bảy thành những sân chơi xập xệ, thiếu thốn trầm trọng cây xanh và một không gian cho những đứa trẻ hít thở. Những giờ “Tìm hiểu tự nhiên” được “phân biệt, đối xử” như một môn phụ ít cả về thời lượng lẫn chuyên môn giảng dạy. Các chuyến tham quan dã ngoại ngày càng ít đi thay vào đó là những giờ học nặng nề của toán, văn, ngoại ngữ lên ngôi như một thứ giá trị thời thượng của xã hội.. Tình yêu thương con người, lòng nhân ái bao dung, cách đối xử tôn trọng giữa con người với con người, giữa con người và tự nhiên không thể nhồi nhét bằng những mớ kiến thức hàn lâm, nặng nề, khô cứng. Đáng tiếc, đó lại là một sự thật đang diễn ra hàng ngày trong những giờ giáo dục công dân của các trường học hiện nay. Một nhà xã hội học nổi tiếng của TP Hồ Chí Minh đã từng phân tích: “Người ta chỉ, và chỉ có thể dạy bằng chính con người (nhân cách) của mình”. Một môi trường không cần nhiều lời nói nhưng tác động mạnh mẽ đến cá nhân. Gương của người lớn không chửi thề, không gây gổ, không dối trá, không vô ý thức với tự nhiên… sẽ làm cho các em tuân thủ một cách dễ dàng mà không cần kêu gọi, nhắc nhở. Thế những, với cách cách người lớn đang hành xử trong các trường học, từ chuyện thầy cô đánh học sinh, nhận tiền cho điểm đến các cách luồn lách, chạy chọt, chà đạp lên nhân phẩm để đạt quyền chức, tiền bạc đầy rẫy ngoài xã hội đã và đang ảnh hưởng một phần không nhỏ đến sự phát triển nhân cách và tâm hồn của những người trẻ. Và hành động xông vào bẻ cây, hái hoa, lấy trộm đèn lồng trong lễ hội hoa anh đào vừa qua không chỉ là một thói quen bột phát mang tính “bầy đàn” tự nhiên của loài người. Đó chỉ là hệ quả khởi đầu của quy luật “gieo gió gặt bão” khi mà văn hóa, sự tôn trọng, yêu thương, bao dung giữa con người với con người, con người với tự nhiên bị chà đạp, dìm xuồng trước những lợi ích tiền bạc trước mắt. Người dân Philippines đang thay đổi ý thức, cách ứng xử và hành động của mỗi thành viên trong xã hội bằng “Mười hai điều bé nhỏ bạn làm cho Tổ quốc”, từ cấm xả rác bừa bãi , nói “không” với hàng lậu, đóng thuế đầy đủ, tuân thủ pháp luật, tuân thủ giao thông, tôn trọng cảnh sát giao thông, công an, nhân viên hành chính…đến việc đóng góp cho một quỹ từ thiện hoặc nhận nuôi một đứa trẻ mồ côi. Đất nước nhỏ bé đó sẽ lớn lên bằng những điều giản dị như vậy. Còn Việt Nam? Giá như các cấp chính quyền, Đoàn Thanh niên đến các cơ quan truyền thông cùng phối hợp thực hiện một cuộc vận động lối sống đẹp hiệu quả như cuộc vận động cho Vịnh Hạ Long thành kỳ quan thiên nhiên thế giới thì hàng triệu cú click bầu chọn sẽ thành hàng triệu những hành động “cải tạo” hình ảnh về một đất nước và con người Việt Nam ấn tượng trong lòng nhân loại. Đó mới là thứ kim cương không nhạt màu cùng thời gian! Sơn Khê (Vietimes)
-
Nguồn:http://www.vietimes.com.vn/vn/chuyende/4462/index.viet Luy Lâu: Thượng nguồn dòng sông Phật giáo Đông Á Thứ ba, 5/2/2008, 07:00 GMT+7 Trong Lịch sử hình thành Phật giáo Việt Nam nói riêng và Phật giáo châu Á nói chung, Luy Lâu được coi là chiếc nôi của Phật giáo. Nó được coi là Trung tâm Phật giáo xuất hiện sớm nhất trong ba trung tâm Phật giáo thời kỳ khởi thuỷ ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á: Trung tâm Phật giáo Luy Lâu; Trung tâm Phật giáo Lạc Dương và Bành Thành (thuộc Trung Hoa). http://www.vietimes.com.vn/vn/nhietkevanhoa/4341/index.viet Điều đặc biệt nhất, “khai sinh” ra Trung tâm Phật giáo Luy Lâu không phải bắt nguồn từ đất nước Trung Hoa rộng lớn, mà nó lại được bắt nguồn và mang đậm dấu ấn của Phật giáo Ấn Độ, theo con đường truyền bá của các tăng sỹ và các thương lái, nhà buôn người Ấn Độ bằng đường biển. Và quan trọng nhất, Phật giáo Việt Nam cho đến bây giờ, đó là sự hoà hợp của Phật giáo Ấn Độ với tín ngưỡng bản địa, chứ không phải là sản phẩm của 1.000 năm Bắc thuộc. Phóng viên Vietnamnet đã có buổi trò chuyện cùng hoạ sỹ, nhà phê bình Mỹ thuật Phan Cẩm Thượng – tác giả của cuốn sách Chùa Dâu và Nghệ thuật Tứ pháp về vấn đề này. Chùa Dâu Thưa hoạ sỹ Phan Cẩm Thượng, có thể chứng minh Luy Lâu là trung tâm Phật giáo ra đời sớm nhất dựa trên những góc độ nào? Hoạ sỹ Phan Cẩm Thượng (HS PCT): Theo Lịch sử Phật giáo VN, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ theo con đường từ Tây Tạng đi sang. Khi người Trung Quốc muốn truyền Phật giáo sang Việt Nam thì Phật giáo đã vào Giao Châu rồi, Việt Nam đã có được mấy bộ kinh, mấy chục ngọn tháp rồi. Khi đó, ở Luy Lâu có tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, mây mưa sấm chớp. Phật giáo Ấn Độ vào Việt Nam tìm cách hoà hợp với tín ngưỡng này, nên mới sinh ra truyền thuyết về Man Nương, là nguồn gốc để có hệ thống tín ngưỡng Tứ pháp cho đến tận bây giờ… Gắn với truyền thuyết Man Nương ở vùng Dâu (Thuận Thành - Bắc Ninh), nghệ thuật và lễ hội Tứ pháp hiện vẫn thịnh hành, tuy những lễ cầu đảo hô phong hoán vũ không còn nữa. Truyền thuyết kể rằng: vào thời Sỹ Nhiếp, viên Thái thú người Tàu cai trị Giao Chỉ, có sư Khâu đà la từ Tây Trúc sang Giao Châu. Thoạt tiên, đến vùng Phật Tích, sau đó đến Luy Lâu (Dâu). Ở đây, ngài được vợ chồng Tu Định rất mộ đạo, cho con gái mình là Man Nương theo hầu. Một hôm, Khâu đà la đi chơi về, thấy Man Nương ngủ ở bậu cửa, không nỡ đánh thức bèn bước qua. Chẳng ngờ cô gái động mình có thai. Vợ chồng Tu Định rất giận, chờ con gái sinh hạ, bế đứa bé trả lại nhà sư. Khâu đà la đem đứa bé vào rừng, nói với cây Dung thụ (cây Dâu): nếu có thiêng thì hãy nhận lấy hài nhi này. Cây bèn mở thân, sư đặt đứa bé vào đó, cây khép lại. Khâu đà la sau đó về Tây Trúc, trao cho Man Nương cây gậy, dặn lúc nào hạn hán thì chọc xuống đất, chỗ đó sẽ có nước. Nhiều năm sau, sông Dâu dân nước lụt khắp vùng, cuốn trôi cây Dung thụ, không ai vớt được. Man Nương bèn lấy dải yếm kéo cây vào. Sỹ Vương cùng dân chúng xẻ cây làm bốn khúc, tạc thành bốn tượng Mây, Mưa, Sấm, Chớp, thờ ở bốn chùa Vân – Vũ – Lôi - Điện. Riêng cành cây cũng tạc thành một tượng Pháp, thờ ở chùa Keo, gần đó. Đứa bé trong cây biến thành tảng đá, gọi là Đức Thạch Quang, cũng thờ trong chùa Dâu. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận (tác giả Nguyễn Lang - Nhà xuất bản Văn học Hà Nội – 1979): “Ðạo Phật được truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch. Tài liệu chắc chắn cho biết rằng vào hạ bán thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một trung tâm Phật giáo phồn vinh và quan trọng rồi, nhưng có thể đạo Phật đã du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên. Các tài liệu như Hậu Hán Thư trong đó có câu chuyện Sở Vương Anh theo Phật giáo, sách Lý Hoặc Luận của Mâu tử viết tại Việt Nam vào hạ bán thế kỷ thứ hai, kinh Tứ Thập Nhị Chương và một số tài liệu khác, có tính cách lặt vặt hơn, cho ta thấy rằng trong đời Hậu Hán (thế kỷ thứ nhất và thứ hai) ngoài hai trung tâm Phật giáo ở Trung Hoa, còn có một trung tâm Phật giáo rất quan trong khác ở Giao Chỉ, tức Việt Nam, lúc bấy giờ đang nội thuộc Trung Quốc. Hai trung tâm ở Trung Hoa là trung tâm Lạc Dương và trung tâm Bành Thành. Lạc Dương là kinh đô Trung Hoa vào đời nhà Hán, Hiện nay là một huyện ở tỉnh Hà Nam, còn Bành Thành thì ở về hạ lưu sông Dương Tử, hiện thuộc tỉnh Giang Tô. Ở nước ta thì có trung tâm Luy Lâu: Luy Lâu là trị sở bấy giờ của Giao Chỉ, hiện nay thuộc phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. … Có nhiều dữ kiện khiến cho chúng ta nghĩ trung tâm Luy Lâu được thành lập sớm nhất, và trung tâm này đã làm bàn đạp cho sự thành lập các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Hoa.”. Cũng theo truyền thuyết, các chùa Tứ pháp được xây dựng ngay từ thời Sỹ Nhiếp, tức là thế kỷ 2, nhưng các di tích này không còn gì. Năm 580, Thiền sư Tây Trúc Tì ni đa lưu chi (Vicitaruci), sang Giao Châu truyền đạo, lập ra dòng Thiền đầu tiên ở chùa Dâu. Nhưng phải đến thế kỷ 13 – 14 mới có di tích còn để lại đến nay. Mạc Đĩnh Chi trạng nguyên thời Trần cho xây lại chùa, xây cầu chín nhịp, tháp chín tầng, nay tháp đã đổ chỉ còn ba tầng. Nguyên uỷ, nơi thờ Tứ pháp chỉ là một kiến trúc mặt bằng hình vuông, chính giữa đặt Tứ pháp, hai bên có Kim đồng - Ngọc nữ. Trước mặt là hòn đá thiêng và tượng đức thánh tải (con của Tứ pháp), sau lưng là tượng sư Khâu đà la. Khi đạo Phật đồng hoá tín ngưỡng này, ban thờ Phật được thêm ra, kiến trúc cũng giống như các chùa kiểu nội công ngoại quốc đồng bằng Bắc bộ, ban thờ Tứ pháp đặt trước, ban thờ Phật đặt sau, gọi là tiền Thánh hậu Phật. Yếu tố Ấn Độ lưu giữ ở Trung tâm Phật giáo Luy Lâu có thể kể đến những dấu ấn nào? HS PCT: Trước hết đó là vật thờ có hình linga, chính là Đức Thạch Quang, trong truyền thuyết là đứa bé được Khâu đà la đưa vào thân cây Dung thụ hoá thành. Thứ hai, cách tạo tượng mây mưa sấm chớp giống hệt tượng dòng Ấn Độ - Khơme. Có lẽ, do ảnh hưởng của tạo hình Phật giáo nguyên thuỷ, được các nhà sư Ấn Độ đưa sang. Các tượng Tứ Pháp đều cởi trần, quấn xà rông, nhân tướng theo kiểu Ấn Độ, mũi cao, lõ… Nhưng những thân hình đều là Phật mẫu nên mang vẻ đẹp gợi cảm của phụ nữ, rất đặc biệt trong nghệ thuật Phật giáo Việt Nam. Từ tượng bà Man Nương đến các tượng Bà Trắng, Bà Đỏ và Kim đồng - Ngọc nữ… đều rất gợi tình, gần với một thứ nghệ thuật thế tục hơn là tôn giáo. Tượng Pháp Vân thì nghiêm trang thần bí, Pháp Vũ phồn thực đầy đặn; Pháp Lôi thì thô mạnh; Pháp Điện là em út nên xinh đẹp thanh tú. Đứng về mặt nghệ thuật, không nơi đâu ở Việt Nam có một tập hợp điêu khắc gắn bó với truyền thuyết huyền thoại, với tính gợi tình và cái đẹp nữ tính huyền bí đến như vậy. Dấu ấn Ấn Độ còn thể hiện trên những ván khắc chữ Phạn, tuy niên đại không lâu, phần lớn ở thế kỷ 19 nhưng vẫn còn nguyên chữ Phạn. Thời đó, các nhà sư Trung Quốc muốn sang Ấn Độ nghiên cứu về Phật giáo Ấn Độ đều phải qua Giao Chỉ để học chữ Phạn; ngược lại, các nhà sư Ấn Độ muốn sang Trung Quốc cũng phải qua Giao Chỉ để học chữ Hán… Đó là những dấu ấn quan trọng cho thấy, Luy Lâu được hình thành và mang đậm những nét đặc trưng của Phật giáo Ấn Độ. Về kiến trúc, Luy Lâu mang đậm dấu ấn của trường phái nào, Ấn Độ hay Trung Quốc, thưa hoạ sỹ? HS PCT: Kiến trúc chùa Dâu có vẻ giống kiến trúc đời Đường. Tháp Hoà Phong của chùa Dâu giống tháp Đại Nhạn ở Tây An. Còn tạo hình tượng Phật thì rất Việt Nam, và còn dấu tích của thế kỷ 13 ở các vì kèo gỗ. Luy Lâu trở thành trung tâm Phật giáo, vì nó còn có yếu tố nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ. Kiến trúc Luy Lâu, về tổng thể có con đường đi từ Bắc xuống Nam và con đường từ Tây sang Đông. Theo hướng Bắc Nam từ Móng Cái về đến Luy Lâu, qua mấy con sông, bây giờ là đường 183 chạy từ Phú Thị sang gần Phả Lại, con đường Tây Đông xuyên Hà Bắc, Bắc Ninh, xuyên ngã tư Đông Côi về Cẩm Giàng xuống mạn Hải Dương. Trước tiên, Luy Lâu nằm ở vị thế thuận lợi cho giao thông. Thứ hai, nó nằm ở vùng đồng bằng kẹp giữa con sông Cầu và con sông Hồng, lại có một con sông nối từ sông Cầu sang sông Hồng, đó là sông Dâu. Thực ra, sông Dâu phải “kinh qua” sông Tiêu Tương (ông Tiêu Tương nối sông Cầu và sông Hồng, gặp sông Dâu ở Đình Bảng. Sông Dâu chạy từ Đình Bảng về vùng Dâu (Luy Lâu) và chạy xuống sông Châu Giang). Chùa Dâu cách đường giao thông Đông Côi khoảng 6km, và nằm sát sông Dâu. Do điều kiện thuận tiện cho việc đi lại nên chính quyền đô hộ Trung Quốc chọn đây làm nơi đóng thủ phủ, đó là một điều dễ hiểu. Chùa Dâu Về kiến trúc cụ thể, có mấy phân khu như sau: thành Luy Lâu nằm ngay ngã tư Dâu, và nằm sát con sông Dâu. Đây là thủ phủ của chính quyền đô hộ phong kiến, có trường dạy chữ Nho của Sỹ Nhiếp. Thứ hai, vùng Dâu là vùng cư dân Trung Quốc ở nhiều, cho nên mộ Hán còn rất nhiều ở nơi đây. Phật giáo Tứ pháp là một Phật giáo lớn, bao giờ cũng gồm ít nhất 5 ngôi chùa: chùa Tổ (chùa thờ Man Nương) và bốn chùa con (Pháp vân, Pháp vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Đứng về mặt kiến trúc cụ thể, thành Luy Lâu hiện tại chỉ còn một khu thành đất, có trung tâm, nhưng dấu tích còn lại không nhiều về kiến trúc bên trong như thế nào. Hiện trên thành Luy Lâu chỉ còn đền thờ Sỹ Nhiếp, tương truyền là trường dạy học của ông; và một ngôi chùa sát đó có tên chùa Bình (nơi bình văn của các nho sỹ). Còn như chùa Dâu, trước đó thoạt tiên là một mặt bằng hình vuông, thờ tượng Pháp ở chính giữa, chỉ có thế chứ không có gì khác. Đến thời Trần có thêm cầu chín nhịp, có tam quan, có tháp, có thêm trước trước sau sau, mới hình thành kiểu kiến trúc nội công ngoại quốc, tất cả quy mô và kiến trúc tương đối giống nhau… Phật giáo Ấn Độ, khi sang Việt Nam thì có yếu tố nữ tính không? Nguồn gốc Trung tâm Phật giáo Luy Lâu “Trung tâm Luy Lâu được hình thành do sự viếng thăm của những tăng sĩ Ấn Ðộ. Các vị tăng sĩ này tới viếng Việt Nam bằng đường biển, theo các thuyền buôn người Ấn. Nhưng trước khi các vị tăng sĩ Ấn Ðộ tới Việt Nam, các thương gia Ấn Ðộ cũng đã tới Việt Nam rồi và cũng đã mang theo sinh hoạt Phật Giáo tới xứ ta. Hồi bấy giờ (đầu kỷ nguyên), Ấn Ðộ đã có liên hệ thương mại trực tiếp với Trung Ðông và gián tiếp với các nước vùng Ðịa Trung Hải, Ðế quốc La Mã tiêu thụ rất nhiều vàng, lụa, hương liệu, trầm, quế, tiêu, ngà voi, châu báu... Ðể có đủ hàng cung cấp cho thị trường ấy, các thương gia Ấn Ðộ đã dong thuyền đi mãi về Viễn Ðông. Những thương thuyền này theo gió mùa Tây nam đi về Ðông Nam Á, tới bờ biển Mã Lai, Phù Nam và Giao Chỉ. Thương gia Ấn Ðộ phải ở lại đây cho đến năm tới, chờ cho gió mùa Ðông bắc để trở về Ấn Ðộ. Trong thời gian này, họ lại sống với dân bản xứ và đã ảnh hưởng tới dân bản xứ bằng lối sống văn minh của họ. Vì sự có mặt của những thương gia Ấn Ðộ mà dân ta hồi đó đã biết đến ít nhiều về kỹ thuật canh tác, y thuật và tôn giáo Ấn Ðộ. Ta có thể nói rằng chính những thương gia Ấn Ðộ đã trước tiên đem Phật giáo vào nước ta. Những thương gia kia, tuy vậy, không phải là những nhà truyền giáo, và mục đích của họ khi đến xứ ta là để buôn bán chứ không phải là để truyền đạo. Trong thời gian lưu lại Giao Chỉ, họ thờ Phật, đốt trầm, đọc kinh và cúng dường những pháp Phật nho nhỏ mà họ mang theo. Người Giao Chỉ ta đã áp dụng những điều hay về canh nông và về y thuật do họ chỉ bày, cố nhiên là cũng tỏ ra mến chuộng tôn giáo của họ. Nhưng nếu hồi đó có những người Giao Chỉ theo đạo Phật thì đạo Phật đây cũng mới chỉ là những sinh hoạt tín ngưỡng đơn sơ của người cư sĩ, giới hạn trong sự tụng đọc tam quy, cúng dường Phật tháp và bố thí cho người ốm đau đói khổ, chứ chưa có sự học hỏi kinh điển và chế độ tăng sĩ. Trong các chuyến đi xa hàng năm với nhiều tháng lênh đênh trên biển cả như thế, các thương gia Ấn cũng thờ cúng và cầu nguyện đức Phật và các vị Bồ Tát hộ trì cho trời yên biển lặng và mọi sự yên lành. Các thương thuyền này thường thờ đức Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và đức Nhiên Ðăng (Dipankara), được nổi tiếng là những vị che chở cho thủy thủ được an lành ngoài biển khơi. Cũng trong mục đích cầu nguyện và cúng dường tam bảo, họ thỉnh theo thương thuyền một vị tăng sĩ. Chính những vị tăng sĩ đi theo thương thuyền này sẽ lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu tại Giao Chỉ. Tuy nhiên, những vị tăng sĩ đi theo các thương thuyền Ấn Ðộ không phải chỉ mục đích giảng đạo và cầu nguyện cho các Phật tử trong thương thuyền. Vào cuối thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch, khuynh hướng Phật Giáo đại thừa đã nẩy nở tại Ấn Ðộ, và vào đầu th ế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây lịch, các trung tâm Amaravati và Nagarjunakonda ở miền duyên hải Ðông nam Ấn Ðộ dần dần trở nên những trung tâm Phật giáo truyền báo vào các nước xa là một trong những hoa trái của đạo Phật đại thừa; chính ý hướng này đã thúc đẩy những vị tăng sĩ đi theo vơi các thương thuyền về Ðông Nam Á. Trung tâm Phật Giáo Luy Lâu được thiết lập do sự viếng thăm của thương gia và tăng sĩ Ấn Ðộ tới bằng đường biển, đó là một điều tất cả các học giả đều phải đồng ý. Ðạo Phật tại Giao Châu do từ Ấn Ðộ truyền sang trực tiếp, không phải là từ Trung Hoa truyền xuống.”. (Việt Nam Phật giáo sử luận; tác giả Nguyễn Lang - Nhà xuất bản Văn học Hà Nội – 1979) HS PCT: Phật giáo Ấn Độ căn bản đều là hình tượng nam. Ngay như Phật Quan Âm cũng là nam. Sang Trung Quốc, Việt Nam mới “nữ hoá” đi. Việt Nam và Trung Quốc có tục thờ các bà mẹ, gọi là thờ mẫu. Nếu không kể Tứ pháp thì chúng ta đã có tín ngưỡng thờ mẫu: mẫu thượng thiên, mẫu thượng ngàn, mẫu thuỷ cung, đó là tam toà thánh mẫu… Phật giáo Ấn Độ nhập với tín ngưỡng bản địa mà có sự phân hoá: Thánh mẫu thượng thiên nhập vào Quan âm thị giả, hay Quan âm vô uý; Thánh mẫu thượng ngàn thành Quan âm toạ sơn; Thánh mẫu thuỷ cung thành Quan âm Nam Hải… Nó cộng hình tượng nam với hình tượng nữ, Phật cộng với Man Nương ra hình tượng Phật mẫu Man Nương. Đó là dấu ấn bản địa, dấu ấn của một giai đoạn mẫu hệ còn tồn tại. Cho đến bây giờ vẻ đẹp của tượng Phật Việt Nam vẫn là vẻ đẹp nữ, chứ không phải vẻ đẹp nam. Nhất là những tượng Phật ở chùa Dâu, rất nữ tính, đôi tay và ngực rất nõn nà, đẹp gợi cảm. Chùa Bút Tháp Phật giáo Trung Quốc tuy sang sau nhưng là một hệ thống, cùng với cả bộ máy cai trị của chính quyền phong kiến Trung Quốc. Tính hệ thống của tổ chức chính quyền đô hộ phong kiến Trung Quốc thời kỳ đó có vai trò quan trọng trong việc phát triển Phật giáo Trung Quốc tại Việt Nam. Trong truyền thuyết, tạc tượng, xây chùa… là Sỹ Nhiếp đứng ra thuê người làm. Thực ra, lúc đó Phật giáo Trung Quốc cũng chưa sang đến Việt Nam. Chính quyền phong kiến Trung Quốc chỉ mượn Phật giáo như một thứ công cụ để cai trị. Dấu ấn Phật giáo Ấn Độ vẫn là chính, là mạnh. Chính quyền đô hộ là chính quyền Trung Quốc, chứ tôn giáo là Phật giáo Ấn Độ du nhập với tín ngưỡng bản địa Việt Nam, thành ra Phật giáo Việt Nam. Cần phải biết được chính quyền phong kiến lấy Nho giáo làm căn bản, Sỹ Nhiếp cũng chỉ dạy đạo Nho. Đạo Nho không phải là tôn giáo. Ngay cả đạo Phật cũng không phải là Tôn giáo, lúc đầu là triết học. Nhưng khi đi đến các vùng xa xôi, đưa học thuyết thế này thế kia, người dân không hiểu. Cho nên những người truyền đạo, tốt nhất cứ gọi Phật là một ông thần. Tất cả những vùng mà Phật giáo đi qua, họ đều biến Phật thành một ông thần, có phép thiêng này khác… Phật giáo là một trường phái triết học, chứ không phải là một tôn giáo. Kinh Phật không hề có tính chất tôn giáo, không bảo thờ ai, không bảo cúng ai, cũng không có một vị tối cao, tối thượng nào cả, hoàn toàn là triết học về mặt nhận thức luận. Cái vỏ bên ngoài của Phật giáo Việt nam từ thời đó, buộc phải nằm dưới cái vỏ của tín ngưỡng. Sau này, nó lại hoà trộn giữa tam giáo: Nho – Lão - Phật; cộng thêm tín ngưỡng dân gian mới ra Phật giáo bây giờ, viết sớ viết bùa, tụng kinh gõ mõ mà không cần hiểu nội dung kinh kệ. Đi theo đạo Phật gọi là tu, tu tức là học, học tức là nhận thức, giống như Phật giáo thời Trần, nhận thức, chứ Phật không phải là thần có tay có mắt để cứu nhân độ thế. Sự giác ngộ là giác ngộ của bản thể. Đối với nhân dân, nói như thế thì người ta không hiểu, họ cứ coi Phật là một vị thần; khi nào khó khăn thì cầu thần khấn phật giúp đỡ phù hộ. Phật bảo: “Ta chỉ là ngọn đuốc dẫn đường, còn đi thế nào là các người tự đi”… Sơ đồ hoá hệ thống Phật giáo Luy Lâu cũng theo đó mà hệ thống các ngôi chùa được sắp xếp dựa trên những yếu tố tâm linh? HS PCT: Chùa Man Nương quay về hướng Nam. Bốn chùa con (chùa Tứ pháp) đều quay về hướng chùa tổ, hướng Tây, chầu về hướng mẹ. Điều này là đặc trưng riêng của Phật giáo Luy lâu… Tín ngưỡng Tứ pháp là một vùng rất rộng, kéo dài từ huyện Gia Lâm (chùa Ninh Hiệp, chùa Nành cũng thờ Pháp Vân), qua sông Đuống sang bên này là huyện Mỹ Văn (Hưng Yên), qua con sông Hồng sang bên kia là Thường Tín, kéo lên tận Giáp Bát bây giờ cũng có chùa Pháp Vân. Nó là một vệt liền nhau của 3, 4 tỉnh. Gia Lâm ngày xưa cũng thuộc về Bắc Ninh, cũng nằm trong huyện Siêu Loại, mà Luy Lâu là thủ phủ của huyện Siêu Loại. Đấy có phải là sự truyền bá rộng rãi của đạo Phật hay là tín ngưỡng của một vùng lãnh thổ bản địa? HS PCT: Tín ngưỡng thờ thần tự nhiên là một vùng rộng, vì người dân trông lúa nước ở đồng bằng Bắc Bộ nên họ phải thờ các hiện tượng tự nhiên. Thời Trần, Mạc Đĩnh Chi cho xây tháp giống như tháp Đại Nhạn của Trần Huyền Trang (tháp Đại Nhàn nguyên là nơi chứa Kinh). Ông Mạc Đĩnh Chi đã cải biến chùa Dâu mang tính chất tu tập, tượng trưng nhiều hơn so với tính chất thờ cúng. Hết thời Trần, đạo Phật suy vong. Nhà Lê (vua Lê Thái Tổ) ra đạo luật hạn chế sư sãi, yêu cầu tổ chức thi cho các sư, và chỉ những người trên 50 tuổi mới được thi. Những người còn lại phải trở về làng, trở về cuộc sống thường ngày, tham gia cày cấy… Trong cái rủi có cái may. Những nhà sư này về làng đã tiếp tục truyền bá đạo Phật vào dân gian, và như thế đạo Phật mới có cơ hội phát triển vào trong dân gian. Vai trò Trung tâm Phật giáo của Luy Lâu bị mất đi từ khi nào, thưa hoạ sỹ? Năm 2002, tác phẩm “Chùa Dâu và Nghệ thuật Tứ pháp” của Hoạ sỹ - Nhà phê bình Mỹ thuật Phan Cẩm Thượng được hoàn thành. Đó là công trình sau gần 20 năm tìm hiểu, nghiên cứu các ngôi chùa cổ ở Bắc Ninh nằm trong quần thể Trung tâm Phật giáo Luy Lâu của Phan Cẩm Thượng, được giới nghiên cứu và hội hoạ đánh giá là công trình đầy đủ nhất và có nhiều phát hiện mới nhất về Chùa Dâu nói riêng và Nghệ thuật Tứ pháp nói chung. HS PCT: Các di tích của chùa Dâu đều là dấu ấn từ thế kỷ 16 đổ về đây là chính. Đến thế kỷ 19, con sông Dâu bị cạn, sông Tiêu Tương và sông Dâu biến thành hai con sông chết. Điều này cũng có nguyên do của nó. Thuở đó, sông Dâu và sông Tiêu Tương chảy theo hướng Bắc – Nam, hướng có độ dốc lớn, thường gây ra lũ do lượng nước dồn về nhanh. Cả vùng Dâu – Keo, Đình Bảng ngày xưa đều thường xuyên có lụt. Người dân Kinh Bắc mới khơi con sông Thiên Đức (sông Đuống bây giờ) theo hướng Tây - Đông để chia nước sông Hồng. Khi đó, con sông Thiên Đức cũng chỉ là một con sông nhỏ, người dân bắc cầu tre đi qua được. Đình làng Đông Hồ nguyên là bên kia sông, khi khơi sông mới di về bên kia. Người ta làm chết hai con sông kia đi, nuôi con sông Thiên Đức lớn lên cắt Bắc Ninh ra làm hai phần: nam phần Bắc Ninh (gồm bốn huyện Gia Lâm, Thuận Thành, Gia Bình, Lang Tài); bắc phần Bắc Ninh (gồm ba huyện: Quế Võ, Tiên Du và Yên Phong). Có thể nói, sự có mặt của con sông Thiên Đức cùng với sự biến mất của con sông Dâu và sông Tiêu Tương là thời điểm đánh dấu vai trò của trung tâm Phật giáo Luy Lâu mất dần. Nhưng thực tế, thời điểm chính quyền đô hộ chuyển từ Luy Lâu về Thăng Long (thế kỷ thứ 5 – 6), vai trò kinh tế, chính trị của Luy Lâu đã giảm đi rồi, theo đó vai trò truyền bá về mặt học thuật của Luy Lâu cũng giảm. Đến thời Lý, trung tâm Phật giáo nằm ở phía Bắc (Chùa Phật Tích và chùa Dạm) bên Tiên Du và Quế Võ. Thế kỷ 17, vai trò Phật giáo lại thuộc về Bút Tháp, một ngôi chùa gần đó . Khi sông Dâu bị lấp, giao thông đường thuỷ không còn nữa. Đến thế kỷ 17, người ta về Bút Tháp, về vùng Dâu vẫn đi bằng đường thuỷ, bằng thuyền. Dấu ấn còn lại của con sông Dâu bây giờ, chỉ là những cái ao dài còn sót lại ở các làng Bút Tháp, làng Tư Thế và đoạn sông chạy từ Dâu đến chợ Nôm. Ca dao có câu “ Lên đênh ba bể bốn bề/ Chiếc xuôi Hà Nội, chiếc về sông Dâu”… Như vậy, đến thế kỷ XIX, khi Thăng Long được đổi tên là Hà Nội thì con sông Dâu vẫn còn. Xin cảm ơn hoạ sỹ Phan Cẩm Thượng! Di Linh (Vietimes) thực hiện
-
Trả lời nốt câu cuối: Phoenix được quẻ Tử Tốc Hỷ. Một vật bằng kim khí, có thể là chiếc bút (con dao) có vỏ màu đỏ hoặc mực đỏ (cán đỏ)
-
Ảnh Phoenix lấy là ngẫu nhiên trong thư viện ảnh của Phoenix. Hơn nữa topic này là để luyện cảm ứng theo tượng nên muốn nghiên cứu nó phải thử các trường hợp: - Tự gặp hình đoán quẻ - Từ hình tìm ra quẻ ứng với câu trả lời - Từ câu hỏi tìm ra hình ..... Lật xuôi, lật ngược, lật phải, lật trái mới có thể xem thấu đáo một vấn đề. Phoenix thấy nếu đã coi lý số là một khoa học thì nên như vậy.
-
Quan niệm về "thứ sáu ngày 13" Từ xa xưa, trước khi nền văn minh phương Tây được thiết lập, con người có quan niệm rất khác biệt về thế giới. Họ cho rằng cuộc sống là một chuỗi những mối liên hệ lễ nghi mang tính thần thánh giữa con người và thiên nhiên. Mỗi một giờ, mỗi một ngày đều có một vị thần bảo hộ. Theo quan niệm đó, thứ bảy (Saturday) là ngày do Thần Nông (Saturn) bảo hộ; Chủ nhật (Sunday) là ngày do Thần Mặt trời (Sun) bảo hộ; thứ hai (Monday) được coi là ngày của Thần Mặt trăng (Moon). Tương tự như vậy, thứ ba (Tuesday) sẽ là ngày mà Thần Chiến tranh, được biết đến với cái tên Mars bảo hộ; thứ tư (Wednesday) là ngày do Thần Nước (Woden hay Mercury) bảo hộ; thứ 5 (Thursday) là ngày Thần sấm (Thor hay còn được biết đến với cái tên là Jupiter) bảo hộ. Và thứ 6 (Friday) chính là ngày Thần tình yêu (Freya hay Vệ nữ) bảo hộ. Tuy thứ 6 được Thần Tình yêu bảo hộ nhưng với các tín đồ Thiên Chúa Giáo, thứ 6 ngày 13 được coi là ngày không may mắn bởi đó là ngày Chúa Jesus bị tông đồ thứ 13, Juda phản bội và Chúa cũng bị đóng đinh lên cây thập ác đúng vào thứ 6 ngày 13. Thêm vào đó, ngày này cũng là ngày mà Jack DeMolay, người đứng đầu ngôi đền các hiệp sĩ bị vua Phillip đệ tứ của Pháp đồng thời cũng là một hiệp sĩ được dân chúng thời đó rất hâm mộ, bị hành hình. Kể từ đó, người ta coi thứ 6 ngày 13 là một ngày không may mắn. Cũng theo quan niệm cổ xưa, mỗi năm có 13 tuần trăng và do đó, phải có 13 tháng. Tuy nhiên, trong lịch hiện đại, mỗi năm chỉ có 12 tháng. Bởi thế, các nhà nghiên cứu sử dụng lịch mặt trăng cho rằng, tháng thứ 13 chính là tháng chết của Mặt trời. Và 13 là con số không may mắn. Một giả thuyết khác nói rằng, 13 là con số không may mắn bởi chúa Jesus và 12 tông đồ hợp thành 13 người ngồi ăn trong bữa ăn cuối cùng của Chúa (trước khi bị đóng đinh lên cây thập ác). Theo quan niệm của người theo đạo Thiên chúa, thứ sáu ngày 13 sẽ cực kỳ tồi tệ nếu nó rơi đúng vào ngày thứ 6 trước lễ phục sinh. Một sự kiện khác phủ bóng đen lên con số 13 là việc tàu vũ trụ Appollo 13 bị nổ tung khi xuất phát vào lúc 13h13 giờ Houston, ngày 13 tháng 4 năm 1970. Theo VTV, con số 13 luôn là con số kỵ của người phương Tây. Và sự không may mắn của con số này lại nhân lên gấp bội khi đó là thứ 6 ngày 13. Theo thống kê của các nhà khoa học, rất nhiều người gặp phải tai nạn giao thông hay ngã bệnh trong những hôm thứ 6 ngày 13, bởi sự ám ảnh tinh thần luôn khiến họ căng thẳng. Trung tâm nghiên cứu tâm thần tại North Carolina, Mỹ tổng kết được rằng, chỉ tính riêng tại nước này, thứ 6 ngày 13 là ngày nền kinh tế thiệt hại gần 1 tỷ USD bởi người dân không muốn đi lại. Thậm chí họ còn nghỉ không đi làm trong ngày này. Nguồn: nld.com.vn
-
Kính gửi các ACE nghiên cứu lý số trên diễn đàn, Có một bạn hỏi Phoenix về "ngày Con nước" và sự ảnh hưởng của nó tới Hôn nhân. Vì thời gian không có nhiều và sự nghiên cứu cũng còn hạn hẹp, nhờ ACE am hiểu chỉ giúp cho bạn. Phoenix trân trọng cảm ơn! From: ThuHien83 "hi chị Chieu-quan, Em muốn nhờ chị check lại một thông tin cho em như sau, xem có đúng là như vậy không ạ. Ngày 19/1/2008 (Âm lịch), Bác em có cưới cho anh con trai cả. Anh ấy sinh năm 1978 (3/8/1978), vợ sinh năm 1984 (23/1/1984). Ngày 2 người còn yêu nhau, Bác cũng đã không ưng ý lắm với mối tình của 2 người vì Bác cho rằng 2 tuổi này lấy nhau không tốt cho anh em sau này. Hơn nữa là người yêu của anh ấy là con gái nhưng vụng về và chẳng biết cư xử gì cả và lại còn không xứng với anh về học thức, em tiếp xúc thì thấy chẳng được người mà cũng chẳng được nết gì cả. Sau này, liệu chị ấy có thể gánh vác lo toan chu toàn cho gia đình chồng con hay không??? Bác em buồn lắm, nhưng vì tình yêu của 2 người, và vì con trai mình, nên bác đống ý cho cưới. Đến hôm qua, Bác đi xem thì thấy người ta nói là 2 tuổi 78 và 84, nếu lấy nhau vào ngày 19/1 âm vừa rồi (là ngày Con Nước), ắt chia ly, hoặc có người chết sớm, hoặc đường con cái không ra cái gì cả ( Ông ấy nói là: Cô Thần, Quả Tú). Bác em lo quá, cứ bần thần cả ra. Em cũng động viên Bác là đừng tin chuyện đó mà sinh ra nghĩ ngợi linh tinh, khổ thân ra. Nhưng em cũng coi tử vi của anh ấy qua trang Tin Việt và Vietlyso và cộng thêm những nhân tố ngoài đời thường thì em thấy có lẽ sau này cuộc đời anh sẽ vất vả về đương tình duyên và con cái. Bây giờ, em muốn nhờ chị kiểm chứng lại cho em xem là có tồn tại ngày Con Nước không ạ? Và Nếu có, thì ngày 19/1 Âm lịch vừa rồi có phải ngày Con Nước không? Chị Chieu_quan giúp em nhé. "
-
Phoenix không được hết các hình lên. Chờ QTDD vậy.
-
Khái niệm về sự tương ứng giữa các quẻ Dịch với giờ, tháng và tiết Việc tu luyện của hành giả trong ngày và trong năm có một thời khóa biểu bắt buộc. Sự tuân thủ chặt chẽ thời khóa biểu này giúp hành giả thực hành có hiệu quả quá trình phục dương (âm tiêu dương trưởng) để chế ngự quá trình con người bị âm hóa (dương tiêu âm trưởng). Hình 7 ( Biểu đồ 2: Tương quan giữa 12 quẻ Dịch, 12 giờ trong ngày và 12 tiết trong năm. Để định thời khóa biểu tu luyện cho hành giả trong năm và trong ngày, có mười hai quẻ Dịch được ứng dụng, tương ứng với mười hai tháng âm lịch trong năm và mười hai giờ trong ngày.Biểu đồ 2 (Hình 7) trên đây cho thấy sự tương ứng này bao gồm quá trình âm tiêu dương trưởng trong nửa chu kỳ đầu, và quá trình dương tiêu âm trưởng trong nửa chu kỳ sau. Biểu đồ 2a dưới đây trình bày quá trình khí dương tăng trưởng trong trời đất, từ giờ Tý (23.00-01.00) đến giờ Tỵ (09.00-11.00), từ tháng 11 đến tháng 4 âm lịch, từ tiết Đông chí đến tiết Lập hạ. Một dương sinh từ quẻ Phục (hào sơ cửu) và cực thịnh ở quẻ Càn (sáu hào dương). Giờ TÝ SỬU DẦN MẸO THÌN TỴ Tháng 11 12 01 02 3 4 Tiết ĐÔNG CHÍ ĐẠI HÀN VŨ THỦY XUÂN PHÂN CỐC VŨ LẬP HẠ Quẻ PHỤC LÂM THÁI ĐẠI TRÁNG QUẢI CÀN Biểu đồ 2a: Âm tiêu dương trưởng Biểu đồ 2b dưới đây trình bày quá trình khí âm tăng trưởng trong trời đất, từ giờ Ngọ (11.00-13.00) đến giờ Hợi (21.00-23.00), từ tháng 5 đến tháng 10 âm lịch, từ tiết Hạ chí đến tiết Lập đông. Một âm sinh từ quẻ Cấu (hào sơ lục) và cực thịnh ở quẻ Khôn (sáu hào âm).Ở Đông chí và Tý, nhân khi có một dương sinh (hào sơ cửu quẻ Phục), hành giả phải tấn dương hỏa để tăng thêm cho mình điểm dương. Ở Hạ chí và Ngọ, vì có một âm khởi (hào sơ lục quẻ Cấu) nên hành giả phải thối âm phù để chế giảm âm. Ở Xuân phân và Thu phân, ở Mẹo và Dậu, hành giả phải mộc dục để ôn dưỡng, giữ gìn khí dương đã có (thu liễm) được. Giờ NGỌ MÙI THÂN DẬU TUẤT HỢI Tháng 5 6 7 8 9 10 Tiết HẠ CHÍ ĐẠI THỬ XỬ THỬ THU PHÂN SƯƠNG GIÁNG LẬP ĐÔNG Quẻ CẤU ĐỘN BĨ QUÁN BÁC KHÔN Biểu đồ 2b: Dương tiêu âm trưởng · Kinh Dịch là một kỳ thư, với nhiều ứng dụng kỳ ảo vào các lãnh vực của đời sống con người. Riêng ứng dụng của Dịch trong thiền Cao Đài là một khía cạnh hầu như ít người biết (ngoại trừ các hành giả Cao Đài), và những điều khái quát trong bài này thật sự chỉ mới là một chút tơ tóc nhỏ nhoi, thô thiển nếu đem so cùng toàn thể nội dung nền nội giáo tâm truyền của đạo Cao Đài, một dòng thiền mới, và chữ “mới” này dĩ nhiên không phải chỉ hiểu đơn giản theo ý nghĩa về bề dày lịch sử hình thành. LÊ ANH DŨNG (01-3-1994) CHÚ THÍCH [1] Trường sinh bất tử hiểu theo dân gian là sống lâu dài, không chết. Hiểu theo đạo Cao Đài, chỉ có tu cho thành bậc kim tiên hay phật mới thoát ra vòng luân hồi, không còn bị luật sinh tử chi phối, và đó mới thực là trường sinh bất tử. [2] Chu, thần và đan (đơn) đều là màu đỏ thắm như son; sa là cát. Đạo Lão có môn phái thần tiên đan đỉnh dùng một thứ đá cát quến thành cục (sa thạch), lấy tay bóp vụn ra thành bột được. Đá cát này không mùi, vị lạt, có màu đỏ thắm như son, nên được gọi tên là chu sa, thần sa, đan sa. Cũng có sách cho rằng thần sa là chu sa của Thần châu. Đông y cho rằng chu sa có nhiều sắc đỏ khác nhau, càng thẫm màu càng tốt. Để thử, lấy tay bóp chu sa vụn thành bột, nếu màu đỏ không dính tay (không ăn da), đó là loại hảo hạng. Chu sa (cinnabaris) là hợp chất trong đó có chứa 86,2% thủy ngân (Hg: hydragyum) và 13% lưu huỳnh (S: sulfur). Khi đun chu sa, khí độc SO2 bốc ra, còn lại thủy ngân cũng là chất độc. Vì vậy, sách y cổ chỉ định phải dùng chu sa sống (mài với nước, không được đun nấu); những người lạm dụng chu sa có thể hóa ra si ngốc. Theo Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Hà Nội: Nxb Khoa học Kỹ thuật, 1981, tr. 796-797; dẫn lại trong [Lê Anh Dũng 1995a: 82-83.] [3[ [Lê Anh Dũng 1995b: 59-65]. [4] Cao Đài gọi chung giáo lý của Nhất và Nhị kỳ Phổ độ là cựu pháp. Một số nội dung của cựu pháp vẫn được kế tục trong tân pháp Cao Đài, như duy trì luân lý đạo Nho (nhân đạo), ngũ giới cấm (đạo Phật), công quá cách (đạo Lão, nhưng gọi là vô ngã kiểm), v.v... [5] [Lê Anh Dũng 1996: 66-75]. [6] Có câu: Muốn tu đạo trời (tu giải thoát, tu thiền) trước phải tròn đạo làm người. Đạo làm người không vẹn vẽ thì đạo trời còn xa xôi vậy. (Dục tu thiên đạo, tiên tu nhân đạo. Nhân đạo bất tu, thiên đạo viễn hỹ.) [7] Chương 56: Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri. [8] Theo Cao Đài, Trời và người đồng bản thể, bản thể ấy là linh quang (ánh sáng thiêng liêng). Vì đồng thể với Trời nên người sẵn có tính Trời (Thượng đế tính); và người cũng là một thiêng liêng ở cõi trần. Thánh giáo Cao Đài: Con là một thiêng liêng tại thế, Cùng với Thầy [Trời] đồng thể linh quang... (Ngọc Hoàng Thượng đế). Vì đồng bản thể với Trời cho nên người có thể học làm Trời: Tu hành là học làm Trời, Phải đâu kiếp kiếp làm người thế gian. (Lê Đại tiên) [9] Thiên quý: Quý là can chót trong thập thiên can (Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý). Quý thuộc thủy, ứng với thận. Thận là nơi con trai chứa tinh, con gái chứa huyết. Thiên quý ám chỉ thời kỳ trai gái tinh huyết đầy đủ, có thể sinh con. [10] Nội kinh: Nữ thất tuế (1x7), thận khí thịnh, xỉ canh phát trường; nhị thất (2x7) nhi thiên quý chí, nhâm mạch thông, thái xung mạch thịnh, nguyệt sự dĩ thời hạ, cố hữu tử... Nam tử bát tuế (1x8), thận khí thịnh, xỉ canh phát trường; nhị bát (2x8) thận khí thực, thiên quý chí, tinh khí dật tả, âm dương hòa, cố năng hữu tử... Dẫn theo [Đỗ Đình Tuân 1992: 173-174]. [11] Vì tinh màu trắng, thuật ngữ thiền gọi là trảm bạch hổ (chém cọp trắng). Vì huyết màu đỏ, thuật ngữ thiền gọi là trảm xích long (chém rồng đỏ). Thuật ngữ thiền có khi nói hàng long phục hổ (thu phục rồng cọp) cũng là ám chỉ việc “chế ngự” hai hiện tượng nói trên ở hành giả nữ, nam. [12] Theo [Đỗ Đình Tuân 1992: 118], nữ 49 (7x7) tuổi thì bặt kinh nguyệt. SÁCH BÁO THAM KHẢO CHỌN LỌC [Đại thừa chơn giáo 1950] Đại thừa chơn giáo. Sài Gòn: Chiếu minh đàn xb. [Đỗ Đình Tuân 1992]. Dịch học nhập môn. Long An: Nxb Long An. [Lê Anh Dũng 1995a]. Tìm hiểu Kinh cúng tứ thời. Huế: Nxb Thuận hóa. [Lê Anh Dũng 1995b]. Giải mã truyện Tây du tân biên. Hà Nội: Nxb Văn hóa-Thông tin. [Lê Anh Dũng 1996]. Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm ẩn 1920-1926. Huế: Nxb Thuận hóa. [TGST 1966-67] Thánh giáo sưu tập năm Bính Ngọ và Đinh Mùi (1966-1967). Sài Gòn: Cơ quan Phổ thông Giáo lý Cao Đài giáo Việt Nam xb. [TGST 1970-71] Thánh giáo sưu tập năm Canh Tuất và Tân Hợi (1970-1971). Sài Gòn: Cơ quan Phổ thông Giáo lý Cao Đài giáo Việt Nam xb. [TGST 1972-73] Thánh giáo sưu tập năm Nhâm Tý và Quý Sửu (1972-1973). Sài Gòn: Cơ quan Phổ thông Giáo lý Cao Đài giáo Việt Nam. (Hết)
-
2. Khái niệm về sự tương ứng giữa các quẻ Dịch với tuổi con người Các sách nghiên cứu Dịch thường cho rằng con trai thuộc dương, ứng với số 8; con gái thuộc âm, ứng với số 7. Số 8=1+2+5 gồm hai số dương 1, 5 và một số âm 2; dương nhiều, âm ít, nên 8 là số thiếu âm. Số 7=1+2+4 gồm hai số âm 2, 4 và một số dương 1; âm nhiều, dương ít, nên 7 là số thiếu dương. Nội kinh viết: Con gái bảy tuổi (1x7), thận khí thịnh, răng thay tóc dài; mười bốn tuổi (2x7) thiên quý [9] đến, mạch nhâm thông, mạch thái xung thịnh, có kinh nguyệt, nên có thể có con được... Con trai tám tuổi (1x8), thận khí thịnh, răng thay tóc dài; mười sáu tuổi (2x8) khí thận đầy đủ, thiên quý đến, tinh khí đầy tràn, âm dương hòa, nên có thể có con được...[10] Vậy con trai mười sáu tuổi và con gái mười bốn tuổi thông thường bắt đầu có tinh khí và kinh nguyệt; nếu giao hợp có thể sinh con đẻ cái trong vòng luân hồi sinh tử. Nhưng nếu muốn đoạn lìa sinh tử luân hồi cũng có thể khởi tu thiền từ tuổi này. Với con trai thì luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần. Với con gái thì luyện huyết hóa khí, luyện khí hóa thần. Sự tu hành được ấn chứng bằng hiện tượng khô tinh ở nam; ở con gái là hiện tượng bặt dứt kinh nguyệt.[11] Nếu không tu khi còn dồi dào tinh huyết, đợi đến khi nam sáu mươi bốn (8x8) tuổi, tinh khí khô kiệt, nữ năm mươi sáu (8x7) tuổi, kinh nguyệt không còn, sẽ khó tu luyện (cũng giống như cây khô không còn sinh bông trái, tuổi đó cũng không mong sinh con đẻ cái chi được). Căn cứ theo đoạn văn trích từ Nội kinh như dẫn trên, các điểm “mốc” tuổi của con người là các bội số của 8 (với nam) hay 7 (với nữ), như được trình bày trong biểu đối chiếu sau đây: Tuổi 8 16 24 32 40 48 56 64 Nam 1x8 2x8 3x8 4x8 5x8 6x8 7x8 8x8 Tuổi 7 14 21 28 35 42 49 56 Nữ 1x7 2x7 3x7 4x7 5x7 6x7 7x7 8x7 Tuổi con trai 16, con gái 14 là lúc còn thuần dương, tượng trưng bằng quẻ Bát thuần càn (sáu hào dương, sáu vạch liền). Sau đó, con trai cứ mỗi tám năm, con gái cứ mỗi bảy năm lại “hao mòn” bớt một hào dương, đến khi nam 64 và nữ 56 tuổi [1][1] thì hoàn toàn thuần âm (sáu hào âm, sáu vạch đứt), đi đến chung cuộc của bát quái hậu thiên. Quá trình âm hóa này tương ứng với sáu quẻ Dịch: Cấu, Độn, Bĩ, Quán, Bác và (Bát thuần) khôn. Tuổi Nam Tuổi Nữ 16 14 24 21 32 28 40 35 48 42 56 49 64 56 Quẻ CÀN CẤU ĐỘN BĨ QUÁN BÁC KHÔN Biểu đồ 1: Quá trình dương tiêu âm trưởng trong đời người Theo Cao Đài, con người tu thiền vào tuổi nào trong đời là do nhân duyên và căn nghiệp của mỗi người. Tuy nhiên, về mặt ý thức, trên nguyên tắc lục dương (quẻ Bát thuần càn, sáu hào dương) biến thành lục âm (quẻ Bát thuần khôn, sáu hào âm) như Biểu đồ 1 trên đây, rõ ràng con người tu thiền còn trẻ chừng nào càng tốt chừng đó; giống như khi cỗ máy còn mới, biết bảo dưỡng thì vẫn tốt và dễ hơn là đại tu một cỗ máy cũ nát, rệu rã.(còn tiếp)
-
Nguồn: www.vanhoahoc.edu.vn KINH DỊCH VỚI THIỀN CAO ĐÀI Đã đăng tạp chí Thông tin khoa học và công nghệ. Huế: Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Thừa Thiên - Huế, số 3(25).1999. LÊ ANH DŨNG SUMMARY: YIJING AND CAODAI MEDITATION A miraculous classic of both Confucian and Taoist learning, Yijing today still provides its mystic theories for Caodai meditation practice. This essay surveys the most fundamental understanding of some Caodai meditation concepts. It also explains a few daily and seasonal schedules followed by Caodai meditation practitioners. SOMMAIRE: LA MÉDITATION CAODAÏQUE ET LE YI JING Ce chapitre traite de la relation entre certains concepts de base du Yi jing ( livre sacré du Confucianisme et du Taoĩsme (et la méditation pratiquée par les adeptes du Caodai en vue de la libération spirituelle. * I. KINH DỊCH KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ SÁCH BÓI TOÁN, TRIẾT LÝ HAY Y THUẬT Thông thường, kinh Dịch vẫn được xem là sách bói toán, hoặc là sách triết lý, trong đó bao gồm vũ trụ quan, nhân sinh quan, sử quan... Ngoài ra, còn một xu hướng nữa là ứng dụng kinh Dịch vào phép dưỡng sinh hay trị bịnh theo y thuật cổ truyền phương đông. Tuy nhiên, phạm vi ứng dụng của kinh Dịch vào đời sống không chỉ dừng lại ở bao nhiêu đó. Kinh Dịch còn một ứng dụng khác, không được phổ biến rộng rãi. Đó là ứng dụng kinh Dịch vào việc tu tập thiền định để giải thoát luân hồi sinh tử. Những người đi theo con đường tu luyện này gọi là hành giả. Theo truyền thống có từ lâu đời, những gì hành giả được truyền thụ, đã thực hành và thực chứng trong đời sống thiền đều phải giữ kín, với nguyên tắc pháp môn tu luyện không được dễ duôi, khinh suất truyền cho người khác (đạo pháp bất khinh truyền). Nói cách khác, có một pháp môn được giữ kín, gọi là bí pháp và chỉ được truyền thụ hạn chế, cẩn mật trong một số người tuyển chọn thu hẹp. Bí pháp này phương tây gọi là esoterism, đạo Nho gọi là hình nhi thượng học và Cao Đài gọi là nội giáo tâm truyền. Ngoài phương diện nội giáo tâm truyền, các ứng dụng của kinh Dịch vào bói toán, triết lý và y thuật thường được nhiều người biết tới chính là phương diện được phương tây gọi là exoterism, đạo Nho gọi là hình nhi hạ học và Cao Đài gọi là ngoại giáo công truyền. II. KHÁI NIỆM VỀ THIỀN CAO ĐÀI Việc thực hành thiền với ứng dụng kinh Dịch tạo ra một dòng thiền khác biệt với các dòng thiền có nguồn gốc Tây Tạng như Mật tông, hoặc có nguồn gốc Ấn Độ như yoga và thiền nhà Phật... Các đạo sĩ Lão giáo ở Trung Quốc chính là những người nắm được bí quyết ứng dụng lý thuyết âm dương, ngũ hành và các quẻ Dịch để tu luyện ngõ hầu biến cải con người từ phàm phu chịu sự chi phối của luật sinh tử luân hồi trở thành bậc chân nhân siêu sinh thoát tử. Họ tạo thành một trường phái thanh tĩnh vô vi, chuyên luyện nội đan, tức là phái tu tiên, tu chân. Phái này chủ trương bên trong thân người đã sẵn có những yếu tố thần minh và nếu biết khai phóng đúng phương pháp, con người sẽ đạt được trường sinh bất tử. Để luyện thuốc trường sinh bất tử [1], họ chỉ sử dụng những vị thuốc, dược liệu tạo hóa đã dành cho mỗi người, ai ai cũng sẵn có trong thân (nội dược). Đối lập với họ là phái ngoại đan, chủ trương tìm kiếm các dược liệu ở ngoài thân (ngoại dược) để luyện thuốc trường sinh bất tử; như từng dùng các chất độc là chì (diên), thủy ngân (hống), chu sa (thần sa)... [2] Ngoài kinh Dịch, phái nội đan còn ứng dụng Đạo đức kinh trong tu luyện. Đối với các hành giả này, Đạo đức kinh không phải chỉ là sách triết; tám mươi mốt (9x9) chương của Đạo đức kinh cũng là tượng số, liên quan đến thuật ngữ cửu chuyển công thành hay cửu chuyển đan [đơn] thành của các đạo sĩ. [3] Các hành giả quan niệm rằng có hai bộ kinh Dịch: (1) Chu dịch là bộ Dịch với sáu mươi bốn quẻ; (2) Đạo đức kinh là bộ Dịch không mang quẻ. Cao Đài kế thừa một phần thiền của đạo Lão, canh tân cho phù hợp với hoàn cảnh sinh sống và tâm sinh lý của con người trong thời đại ngày nay. Cao Đài gọi tên thiền pháp thời đại Tam kỳ Phổ độ là tân pháp Cao Đài. [4] Dòng thiền Cao Đài khởi từ đầu năm Tân dậu (tháng 02-1921), trên đảo Phú Quốc với ông Ngô Văn Chiêu (1878-1932), đến nay đã trải qua gần tám mươi năm. [5] Dòng thiền Cao Đài phát triển và lần lần hình thành nhiều tịnh trường (nơi mở khóa tu thiền tập thể) tại nhiều địa phương khác nhau, chủ yếu ở miền Nam; trong đó có thể kể Cao Đài Tiên thiên, Cơ quan Phổ thông Giáo lý, và nhất là Cao Đài Chiếu minh... Mỗi tịnh trường phân thành các cấp tu luyện với những bài khóa tương ứng. Phương thức truyền thụ pháp môn tuy có một số điều khác nhau, nhưng nguyên tắc chung của hành giả vẫn là thực hiện nếp sống của người tu tại gia (cư sĩ), hoàn thành đầy đủ các nghĩa vụ của con người đối với gia đình, xã hội, đồng bào, đồng loại. [6] III. KHÁI QUÁT VỀ BA ỨNG DỤNG CƠ BẢN CỦA KINH DỊCH TRONG THIỀN CAO ĐÀI Ứng dụng kinh Dịch vào nội giáo tâm truyền trong tân pháp Cao Đài đương nhiên vẫn là những điều không được công truyền, theo đúng truyền thống đạo học phương đông; và như đã chép ở Đạo đức kinh -- Người biết không nói, người nói không biết [7] -- nên ngay cả những người trong cuộc là chính các hành giả cũng không dễ dàng tùy tiện thổ lộ cho nhau các bí quyết ấy. Tuy nhiên, để minh họa rất khái quát về ứng dụng của kinh Dịch trong thiền Cao Đài, có thể nêu ra đây ba ứng dụng cơ bản. Nói cơ bản vì những khái niệm đầu tiên này người mới học thiền Cao Đài, mới tập sự làm hành giả, đều phải biết qua về phương diện lý thuyết. Nói cơ bản vì đây chính là những kiến thức khá sơ đẳng và phổ thông trong kinh Dịch có thể dễ dàng tìm thấy trong các quyển kinh Dịch đã được công truyền từ lâu. Ba khái niệm cơ bản của kinh Dịch được ứng dụng trong thiền Cao Đài là: (1) bát quái tiên thiên và bát quái hậu thiên; (2) tương ứng giữa các quẻ Dịch với tuổi con người; (3) tương ứng giữa các quẻ Dịch với giờ, tháng và tiết. 1. Khái niệm về bát quái tiên thiên, hậu thiên Theo truyền thuyết, Phục Hy tạo ra bát quái tiên thiên, các quẻ theo thứ tự: Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn (Hình 1). Văn vương tạo ra bát quái hậu thiên, các quẻ theo thứ tự: Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, Kiền, Khảm, Cấn (Hình 2). Theo các hành giả, bát quái tiên thiên với “trục” nam bắc là Càn-Khôn chính vị, diễn tả bản thể con người, theo đó tâm con người là tâm trời đất (thiên địa chi tâm) không bị điên đảo thị phi hay ô nhiễm kết tập. Hình 1: Bát quái tiên thiên Hình 2: Bát quái hậu thiên Bát quái hậu thiên cho thấy Càn bị lệch về hướng tây bắc, Khôn bị lệch về hướng tây nam. “Trục” nam bắc là Ly-Khảm. Ly (hỏa) là tâm còn Khảm (thủy) là thận, diễn tả hiện tướng con người, theo đó tâm người là phàm tâm, bị thị phi điên đảo chi phối, có xu thế gần vật dục mà xa tâm linh. Bát quái hậu thiên diễn tả cái dụng của con người. Tuy con người hậu thiên không phải là tiên phật nhưng trong bản thể con người đã sẵn tiềm ẩn một giá trị thiêng liêng, nếu biết tu bổ, trau giồi cái tiềm ẩn ấy thì con người sẽ từ phàm nhân trở nên tiên phật. Cái sẵn có trong con người, đó là âm dương. Không biết luyện thì âm dương theo sự vận động hậu thiên, nam nữ giao hợp, tinh huyết kết thành thai nhi, rồi cứ thế tạo hoài những chu kỳ sinh lão bệnh tử hay thành thịnh suy hủy. Biết tu luyện, chuyển âm dương hậu thiên (Khảm, Ly) trở lại âm dương tiên thiên (Khôn, Càn), thì con người đắc đạo, thoát vòng luân hồi sanh tử, trở thành tiên phật. Hình 3: Chiết Khảm điền Ly (Khảm Ly đổi lại Khôn Càn) Hình 4 &5: Hỏa thủy vị tế - Thủy hỏa ký tế Diễn tả khái niệm này, các hành giả có thuật ngữ chiết Khảm điền Ly, nghĩa là hoán đổi vị trí hào hai dương (cửu nhị) ở quẻ Khảm với vị trí hào hai âm (lục nhị) ở quẻ Ly (trong bát quái hậu thiên) để có được kết quả mà các hành giả gọi là Khảm Ly đổi lại Khôn Càn, chính vị như trong bát quái tiên thiên (Hình 3). Vị trí “trục” nam bắc của Ly, Khảm ở bát quái hậu thiên gợi ý về lý do cấu tạo quẻ sáu mươi bốn, quẻ chót hết của kinh Dịch, là quẻ Hỏa thủy vị tế (Hình 4). Vị tế nghĩa là chưa xong, chưa hoàn tất. Tại sao kết thúc kinh Dịch lại bày ra chuyện “dở dang”? Vì sao quẻ Vị tế lại phải nối tiếp Ký tế (đã xong, Hình 5)? Theo Cao Đài, một điểm tiểu linh quang từ Thượng đế (Đại linh quang) phóng phát, làm loài kim thạch (khoáng chất) rồi tiến hóa dần lên làm thảo mộc, thú cầm, trải qua biết bao nhiêu kiếp mới được mang thân làm kiếp con người (hóa nhân). "> Hình 6: Nhơn vật tiến hóa [Đại thừa chơn giáo 1950 Tuy vậy vẫn chưa phải là đỉnh cao của quá trình tiến hóa, mà mới chỉ là tạm xong cái hiện tướng con người với tấm thân huyết nhục cấu thành từ âm dương và ngũ hành, để có đủ điều kiện lập công, bồi đức, bền chí tu luyện cho đạt được cái “chưa xong” của sứ mạng làm người là tiến hóa lên làm tiên phật,[8] điểm tiểu linh quang (con người) trở về hiệp nhất với Đại linh quang (Trời, Thầy), hoàn tất chu trình tiến hóa (Hình 6). Các hành giả Cao Đài vì thế coi ba cặp quẻ (1) Càn-Khôn, (2) Ly-Khảm, và (3) Ký tế - Vị tế là những cặp có quan hệ với nhau. Thuật ngữ chiết Khảm điền Ly còn diễn tả chỗ dụng công của hành giả là chuyển hóa âm thành dương. Muốn nắm được bí quyết này con người phải tu. Trong quãng đời ngắn ngủi của kiếp người ở cõi thế, tu lúc nào là tốt nhất? Câu trả lời đặt trên cơ sở cho rằng con người theo tuổi tác tháng năm bị hao mòn dần, bị “âm hóa” từ chỗ thuần dương trở thành thuần âm, như một bình điện (ắc quy) cứ dùng mãi, không bồi bổ thì sẽ đến ngày hết điện, cạn bình. Có sáu quẻ Dịch minh họa quá trình con người bị âm hóa dần dần theo tuổi tác mà thuật ngữ kinh Dịch gọi là dương tiêu âm trưởng. (còn tiếp)
-
Bài sưu tầm Khám phá mới về Dịch lý & Ngũ hành Nguyễn Cường Có thể nói, suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm phát triển khoahọc của nhân loại, khôngcó một lýthuyết nào mang nhiều tính sai lầm, lại ảnhhưởng đến vô số người, và nhất là kéo dài trong một thời gian quá lâu cho bằng thuyết "Ngũhành"!. Lấythí dụ theo luật "Sinh Khắc" của Ngũ hành, thì "Thổ" khắc "Thủy" nghĩa là "Ðất" khắc "Nước". Chẳng cần phải là nhàthôngthái, chỉ với trình độ của người nông phu cũng biết ngay là cógì không ỗn rồi. Nếu hiểu đúng theo nghĩa Khắc là triệt hạ, như "Thủy" Khắc "Hỏa" là "Nước" sẽ dập tắt "Lửa", sẽ đưađến cảnh mộtcòn mộtmất chứ khôngthể ởchung được, thì làmgì cóđược cái nềnvănminh nôngnghiệp nuôisống nhânloại cả mấy ngàn năm! Ðất, dù thuộc bấtcứ loại gì, cũng khôngbaogiờ "Khắc" nước. Ðất với Nước tuy không "Sinh" ra nhau, nhưng coinhưlà "hỗtrợ" lẫnnhau, đất cần nước để làmcho thêm màu mỡ, và nước cần đất để giữcho khỏi bị thấtthoát. Nếukhông, thì làmsao cóthể nói "Ðất Nước" để ámchỉ quêhương xứsở, và nếukhông hợptính vớinhau thì làmsao cóđược cái cảnh "sơnthủy hữutình"! Ðiều đángnói là khôngphải khôngcó ai thấy, mà tráilại, đãcó rấtnhiều người thấy rõ vấnđề sailầm trong quátrình pháttriển của thuyết Ngũhành. Nhưng "Hámiệng thì mắcquai", vì thựctế chothấy vào thời cực thịnh, lýthuyết của nó đã ănsâu, bámchặt rễ vào nềnvănhóa của Trunghoa và các nước liênhệ, đếnđộ coinhưlà vậtbấtlythân. Từ Thiênvăn, Ðịalý, cho đến Yhọc, Võthuật, hay Quânsự, Vănchương, Chínhtrị v.v, đều dùng luật Ngũhành nhưlà kimchỉnam, cơsở chính để giảiquyết mọi vấnđề, dựavào hai luật "Sinh" và "Khắc". Một hay vài cánhân làmsao cóthể thuyếtphục, laychuyển được quanniệm của cả khối người đang tintưởng vào thuyết Ngũhành nhưlà một tínđiều của tôngiáo. Thêmvàođó, vì yếutố quyềnlợi, các Ðạosĩ và Chiêmtinhgia đã cốtình thầnthánhhóa thuyết Ngũhành, biến nó thành bấtkhảxâmphạm, nhằm bảovệ địavị xãhội, nghềnghiệp tươnglai cho mình và concháu nốinghiệp hànhnghề vềsau(1). Từ các lýdo nêu trên, học giả hậu sinh về sau nếu muốn nói ra những sai lầm thì lại không dám, vì sợ bị hiểu nhầm là xúcphạm đến thánh thần, nên chỉ còn có cách là gián tiếp, thêm vào một số lý thuyết mới để bổ túc. Chẳng hạn trong khoa Lịch số và Tửvi, mỗi hành lại cóthêm sáu (6) hành khác, như hànhThủy gồm có: Ðại Hải Thủy, Giản Hạ Thủy, Tuyền Trung Thủy, Trường Lưu Thủy, Thiên Hà Thủy, và Ðại Khê thủy. Theo cách làm như trên, có lợi điểm là dễ được nhiều người chấp nhận, và cũng đỡ bị bế tắc trong vài trường hợp. Nhưng hậuquả thì vô cùng tai hại. Thay vì dứt khoát trở về nguồn gốc căn bản là Dịch lý để giải quyết vấn đề, thì các họcgiả đời sau cứ dùng lối chấp vá tạm thời cho tránh khỏi bị đụng chạm. Kết quả, mầm mống của sailầm lại càngđược che dấu, chồngchất tích lũy theo thời gian như cái khối ungthư, và cho đếnl úc trở thành "vôphương cứuchữa"! Sau một thời gian nghiêncứu về Dịch lý, người viết đã khámphá ra nhiều sai lầm về cănbản của Thuyết Ngũhành, ảnhhưởng khôngnhững tới đời sống của vô số người, mà còn đưa nền văn minh khoa học rạng rỡ, đang lên tộ đỉnh của Trung hoa cách đây khoảng hơn một ngàn năm đếnchỗ thoáihóa, và đivào ngõcụt. Nguyênnhân chính của những sailầm, vôtình hay cốý, cóthể quyvề hai lýdo. Thứnhất, vôtình là vì kiếnthức về khoahọc còn quá sơkhai nôngcạn, hay chưa biếtgì . Thứhai, giữbímật khôngmuốn truyền cho người lạ, vì muốn bảovệ quyềnlợi cho dònghọ hay mônphái. Những gì trong bàiviết này sẽ được trình bày rất là đơn giản và dễ hiểu, nhằm mục đích là giới thiệu bộ môn khoa học tối cổ của nền văn minh nhân loại đến những đọcgiả chỉ biết sơ về Dịch lý. Do đó chắc sẽ còn nhiều thiếu sót, và cót hể không làm hài lòng hết mọi người. Tuy nhiên, người viết sẽ hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp phê bình hầu giúp làmcho sáng tỏ thêm vấn đề. Ðể quý đọc giả tiện theo dõi nội dung, bài viết sẽ lần lượt được trình bày theo các đề mục sauđây: I - Thuyết Ngũhành. a) Nguồn gốc :lol: Lýthuyết II.- Dịch lý cơ bản. III.- Khám phá mới về Dịch lý. a - Ý nghĩa và đặc tính lý hóa của Bát Quáib b - Phươngvị của BátQuái c - Vòng Sinh Khắc của Bát Quái d - Những hệ luận của vòng sinh khắc e - Dự đoán khoa học: Siêu Ánh sáng IV - Kết Luận I - Thuyết Ngũ hành. a - Nguồngốc Khác với Kinh Dịch, nguồngốc hay xuất xứ của Ngũ hành vẫn còn rất mơ hồ, nhất là người sáng tạo ra nó. Theo sách vở ghi lại thì trong KinhThi, thiên Hồng-Phạm Cửu-Trù có mở đầu bằng (1): Sơ Nhất viết Ngũhành..... Cũng một thiên khác là Tiểu-Mân viết dưới thời Chu-U-Vương(722 BC) lại nói về Ngũ-sự trong Hồng-Phạm, và theo giảthuyết tươngtruyền thì cho Hồng-Phạm Cửu-Trù là do Vua Vũ nhà Hạ (2205-2197 BC), nhờ côngviệc trịthủyï nên bắtđược LạcThư, trong có luậnbànvề Cưủ-Hạc Chi-Sự hay 9 việc nên làm, ámchỉ về Cữu Trù. Tuy có tàiliệu nóitrên, nhưng khôngai lạgì chuyện đã xảyra ở Trunghoa suốt hơn hai ngàn năm qua, vôsố sáchvở ngụytạo được viếtra do những bậc hậusinh có dụngý riêngtư, và cóthể không đángtin lắm (1). Dođo,ù dựavào điểmmốc thờigian chắcchắn để đoán thì thuyết Ngũhành xuấthiện trongkhoảng từ thời của ChuDịch (1150 BC) và KinhThi thời Khổng Tử (khoảng 500 BC), vì bằngchứng rõ rệt nhấtlà Chu Dịch không hề nói đến luật Sinh Khắc của thuyết Ngũ hành. Nhiều người vẫnthường nhầm lẫn nếu khôngchịu tìmhiểu, dobởi quánhiều sáchvở "NgụyThư " mêhoặc, khi chorằng thuyết Ngũhành có cơsở từ Dịchlý màra, qua trunggian là Hà Ðồ và LạcThư, còn gọilà TiênThiên và HậuThiên BátQuái! Thậtsự, các bậc hậusinh đã quá tinhkhôn để lồng nó vào trong Dịchlý, và qua các phương tiện dùng Thần Thánh để thuyếtphục, biến nó thành mộtphầntử thiếtyếu của Dịchhọc . Bằngchứng cụthể như đã nóitrên, TiênThiên và HậuThiên BátQuái chỉlà sảnphẩm của các vị họcgiả hậu sinh, ápđặt lên Dịchlý của thuyết Ngũhành, qua hìnhảnh do rùa thần và ngựa thần để tăngthêm tínhthuyếtphục. Ðúnghơn, thuyết Ngũhành đã đóngvaitrò nhưlà một loại cây "Tầmgởi", mớiđầu đâmrễ sốngbám vào cây Dịchlý, rồi từtừ pháttriển mạnh để baophủ, ápđảo và làmlumờ vaitrò của cây chủnhà! Dù xuất hiện vào thời điểm nào thì thuyết Ngũ hành, theo ý kiến chung của các học giả về triết Ðông, là công trình nghiên cứu độclập riêng biệt của nhà thông thái nào đó, và khôngphải sản phẩm trựctiếp có được từ Kinh Dịch mà ra (1). Bằngchứng là thuyết Ngũ hành không hề nói về nguồn gốc, hay giải thích Ngũ Hành bắt đầu từ đâu, và do cái gì sinh ra!?. Còn như nếu chịu ảnh hưởng của lý thuyết Dịch, thì chắcphải là 4 hay 8, chớ không phải 5. có thể tin được rằng, khởi thủy các nhà thông thái chỉ muốn làm côngviệc duy nhất là nghiên cứu các nguyênliệu chính trong thiên nhiên gồm 5 thành phần, đồng thời cũng đưa ra những quy tắc khi kết hợp 2 nguyên liệu lại với nhau. Vào thời cựcthịnh bắtđầu đi lên của Trung hoa lúc bấy giờ, kỹ thuật luyện kim để đúc vũ khí, dụng cụ canh nông để trồng luá gạo, và nhất là xây dựng nhà ở đãc ó rồi, nên chắc phải có nhucầu tìmhiểu, nghiêncứu về đặctính của các vậtliệu cóthể dùngđược trong thiênnhiên. Nói cho côngbằng, ưuđiểm độcđáo trong thuyết Ngũhành nếucó, chínhlà đưara kháiniệm về luật Sinh-Khắc, cơsở chính cho các bộmôn khoahọc kỹthuật của nềnvănminh A¨châu trong hơn hai mươi thếkỷ. Vềsau, trong thời XuânThu và tiếptheo là NhàHán, các họcgiả nhờ amhiểu rõ sựhổtương giữa hai thuyết Dịchlý và Ngũhành, nên ghépvàonhau đểcho thêm nhiều ứngdụng. Ðólà một nhucầu cầnthiết rất hợplý giữa lýthuyết và thựchành. Theo ngônngữ ngàynay là Khoahọc và Kỹthuật. Nhưng, chính vì phải cốgắng chấpnối, phatrộn giữa hai lýthuyết, nên kếtquả đã chora mộtvài sơhở thiếusót khôngthể tránhđược, dobởi kiếnthức khoahọc còn rất hạnhẹp vào thờibấygiờ. Thídụ như khi các nhàthôngthái cốtình dùng NgũHành cho BátQuái, đã đưađến một kếtquả hếtsức nhầmlẫn, mà ngườiviết sẽ phântích rõ trong các trang sau. b - Lý thuyết Nóiđến Ngũhành thì hầunhư đasố đều biết ngay đến 5 loại đặctính của vậtliệu nguyênthuỷ cósẵn trong thiênnhiên: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, và Thổ. Mộtvài họcgiả vềsau này dựavào hiểu biết cósẵn từ Dịch, chorằng NgũHành trên không cónghĩalà 5 nguyêntố thiênnhiên đã kểra. Nhậnđịnh trên chỉ đúng có mộtphần, và có ýnghiã tươngtự như BátQuái trong Dịch. (Nênnhớ là các vị vềsau đã vănminh tiếnbộ rấtnhiều, đồngthời cũng bị ảnhhưởng từ Dịch màra, nên khôngchắc là phảnảnh được ýđịnh banđầu của nhàthôngthái, trongviệc nghiêncứu tìmra thuyết Ngũhành). Lýthuyết chính của Ngũ hành gồm 2 luật về Sinh và Khắc, biểu diễn bằng 2 hìnhvẽ sau: Hìnhvẽ Số 1 SINH: Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim. KHẮC: Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim. Một luật phụthuộc cũng quantrọng khôngkém, tuy khôngcó têngọi chínhthức, nhưng được hiểungầm và tuyệtđối tôntrọng là luật "Bảotồn". Mỗi Hành A đều phải sinhra một Hành B, và đồngthời cũngđược sinhra bởi một hành C khác. Tươngtự cho luật khắc, Hành A trên phải khắc một Hành D, và "bị" khắc lại bởi một Hành E. Như vậy, bấtcứ một Hành nào trong NgũHành đềucó liênhệ chặtchẻ như tróibuộc với 4 Hành cònlại. Ðây chínhlà lýdo rõrệtnhất để giảithích, tạisao người phátminh ra thuyết Ngũhành đãphải dùng đến số "Hành" tốithiểu là 5. Các họcgiả từxưa đã biết "Thổ khắc Thủy" là sai, nhưng khôngthểnào sửalại hay điềuchỉnh được, vì giốngnhư hìnhảnh của thuyết con cờ "Domino", nếu một cái ngã thì sẽ kéotheo toànbộ, và kếtquả là cả thuyết Ngũhành sẽ khôngcòn có giátrị gìnữa! Riêng các họcgiả Tâyphương khá nổitiếng amhiểu về Dịch như C. K. Jung, Blofeld (3), v.v, khi nghiêncứu về Dịchlý, cũng chỉ chútrọng đến "BátQuái" và 64 quẻ Dịch, mà khôngmuốn nhắcđến thuyết Ngũhành, kểcả bànvề TiênThiên và HậuThiên BátQuái. Cũng nhân đây xin đưara một chứngminh cụthể sailầm về lýluận trong HậuThiên BátQuái. Các nhàthôngthái chorằng sởdĩ Thiên và Trạch thuộc hành Kim ở hướngTây, vì hướngTây (của Trunghoa ) có nhiều núi nên cho rấtnhiều quặngmỏ kimloại; trongkhiđó ngượclại hướngÐông là biển, nơi các consông đều chảyvề (Chúng Thuỷ Triều Ðông) làmtốt cho câycỏ thảovật, nên thuộc hai quái Lôi và Phong hành Mộc. Giảithích trên nếucóđược là vì các nhàthôngthái thờibấygiờ coi Trunghoa là Trungtâmđiểm của tráiđất. Chúngta cóthể thấyngay lậpluận trên không hợplý chútnào, vì nếu như sống ở những vùng như California, thì núi lại nằm ở hướngÐông và biển thì lại ở hướngTây! Thôngthường trong đasố các bộmôn về khoahọc, nếu muốn tìmhiểu cho rõ nguyênnhân nào, và tạisao đưađến sự sailầm thựctế trong ứngdụng, thì không gì chắcchắn hơn là trởlại nghiêncứu từ cănbản nguồngốc của lýthuyết. Vìvậy, trướckhi đisâu thêmvào chitiết sailầm đáng kể khác của thuyết Ngũhành, tưởng cũng nên trởlại mộtchút với lýthuyết cănbản về Dịchlý. II. Dịch lý cơ bản Trước khi bắt đầu đi vào phần lý thuyết cơ bản, người viết có một trắc nghiệm nhỏ sauđây: Trong 6 hình vẽ biểu tượng cho Âm Dương (hay Lưỡng Nghi) trong khoa DịchLy, thì hình nào đúng nhất, và lýdo tạisao? Sở dĩ có câuhỏi nêutrên vì theo nhậnxét của ngườiviết, hầunhư các sách đã xuấtbản về Dịch hay các bộmôn "Khoahọc Huyền Bí", đều cho in hình nóitrên mộtcách tùytiện theo quanniệm sởthích cánhân, hơn là dựavào sựhiểubiết rõ về Dịch. Câutrảlời giảithích lýdo sẽ được viết trong những trang sau, khi bànvề luật SinhKhắc của BátQuái. Theo đồhình tómlược sauđây, thì Dịchlý chorằng khởithủy vũtrụ là một "Thể" duynhất gọilà Tháicực (hay Ðạo). Tháicực, do một Nguyênnhânkhởi nàođó (Hãy cholà Thượngđế ?) bị "Ðộng"hay "Dịch", nghĩalà do bị chuyểnđộng (theo ngônngữ khoahọc ngàynay, cóthể cho đólà "Big Bang", hay vụ nổ đầutiên khaisáng ra vũtrụ), sinhra "LưỡngNghi" là hai trạngthái đốinghịch nhau, còn gọilà "ÂmDương". Tiếptục nhưvậy để sinhra 4, gọilà "Tứ Tượng", rồi sinhra 8 gọilà "BátQuái". Trên mặtlýthuyết các diễnbiến trên sẽ tiếptục cho đến vôhạn. Nhưng trên thựctế thì các họcgiả hay nhàthôngthái nào phátminh ra Dịch, với kiếnthức cáchđây gần 5000 năm, cholà không cầnthiết và tạmđủ để làmthành những biểutượng cho vũtrụ vạnvật rồi! Hìnhvẽ số 2 Như đồhình trên cho thấy, với kiếnthức khoahọc còn phôithai của thờibấygiờ, các nhàthôngthái chỉ tìmthấy có NgũHành lại đem ápđặt vào cho BátQuái, nên buộcphải dùng 3 chỗcó 2 quái cùngchung một hành. cóthể nói đâylà một viphạm trầmtrọng tính "Bìnhđẳng" trong thiênnhiên, vì mỗi quái trong BátQuái đềucó những đặctính riêngrẻ và độclập vớinhau. Ngoài kháiniệm về nguồngốc của vũtrụ và sựthànhhình BátQuái, Dịchlý còn đưara giớithiệu những đặctính cơbản về vậtlý của ÂmDương, mà vềsau các nhànghiêncứu ứngdụng quá quenthuộc để gọilà "ÂmDương Học" thay cho từ "Dịchhọc". Những đặctính vậtlý cơbản của ÂmDương đượchiểu nhưlà "Quyước" do sựđồngý của những người phátminh ra KinhDịch và các nhànghiêncứu vềsau, dựa hoàntoàn vào 8 đặctính thuầntúy của BátQuái. Xin nhắclại ởđây, các nhàÂmDươnghọc vềsau đã thêmvào những đặctính phụ để thỏamãn cho nhucầu ápdụng Dịchlý trong các lãnhvực khác, như Dương là Nam, là Thiện, còn Âm là Nữ, là A¨c, v.v (9, 10). Tám dặctính vậtlý cơbản là: Dương : Sáng Nhẹ Nóng Nhanh Âm : Tối Nặng Lạnh Chậm Nếu sắplại theo hàngngang như hìnhvẽ số 2, mỗi đặctính trên cũng làm biểutượng lýtính của BátQuái nhưsau: Nhóm Dương Nhóm Âm . Thiên Trạch Hỏa Lôi Phong Thủy Sơn Ðịa Sáng Nhẹ Nóng Nhanh Chậm Lạnh Nặng Tối Ðiều nhậnxét đáng chúý ở BátQuái trên là tínhđốixứng của các quái về hìnhthức lẫn nộidung. Về nộidung baogồm cả lýtính thì có Thiên với Ðịa, Sơn với Trạch, Hỏa với Thủy, và Phong với Lôi. Còn về hìnhthức thì cả hai nhóm đốixứng vớinhau qua trụcchính nằm giữa hai quái Lôi và Phong, cũnglàvùng chuyểntiếp giữa hữuhình và vôhình. Nếu bênnày là vạch (hay Hào) Dương, thì vạch bênkia sẽ là Âm, hay ngượclại. Những gì vừa trìnhbày ở trên là lýthuyết cơbản nguyênthủy và đúngnhất của Dịchlý. Cònlại, tấtcả những ápdụng khác của Dịch do các đời họcgiả vềsau "phátminh" thêmra, như TiênThiên và HậuThiên BátQuái, BátQuái Ðồhình dùngcho việc bóitoán (2, 4), đềulà do hậuquả của sựkếthợp và suydiễn từ Ngũhành màra, và vìvậy khôngthể tránhkhỏi những sailầm trong nhiều trườnghợp. III - Khám phá mới về Dịch lý. a - Ýnghĩa và đặc tính lý hóa của Bát Quái. Như đã nóitrên, vì kiếnthức về khoahọc còn rất nôngcạn của các nhàthôngthái cáchđây cả mấy ngàn năm, nên trongviệc đặttên và diễndịch Y¨nghĩa BátQuái đã bị ảnhhưởng rấtnhiều, nhấtlà dobởi thuyết Ngũhành. Tuy tôntrọng têngọi nguyênthủy của BátQuái, nhưng ngườiviết xin dùng những từ thuộc 8 "Hành Mới" (tính lý hóa) để bổtúc cho mộtsố quái, theo cách xếpđặt nhưsau: BátQuái: Thiên Trạch Hỏa Lôi Phong Thủy Sơn Ðịa 8 Hành : Sóng Khí Nhiệt Âm Mộc Thủy Kim Thổ Hìnhvẽ số 3 Ngoài những Quái có "Hành" quenthuộc, còn mộtsố các "Hành Mới" khác sẽ được giảithích sau: Sơn thuộc hành Kim: Kim theo nghĩahẹp là kimloại do từ các quặngmỏ ở trên vùngnúi hay caonguyên. Nghĩarộng là cho các vậtliệu có chung đặctính cứngrắn, bởivì cấutạo của núiđồi đasố cũnglàdo đất đá cứng nên mới vươncao được. Nóitheo hìnhtượnghọc cho dễhiểu, thì ngàynay các caoốc chọctrời cóthể ví nhưlà núi (hay Sơn theo khoa PhongThủy), vì phải dùng đặctính cứngrắn của bêtông cốtsắt mới chịuđược. Ðây cũng chothấy sailầm của của những nhàthôngthái khi muốn "épduyên" BátQuái cho Ngũhành. Chẳng là vì Thổ, Thủy, Mộc và Hỏa chiếm hết 6 quái rồi, nên phải dùng hành Kim thuộcvề nhóm hữuhình, cho cả Thiên và Trạch thuộc nhóm vôhình. Lôi theo nghĩahẹp là sấmsét, nhưng nghĩarộng là chấnđộng hay cụthể hơn là âmthanh. cóthể là do các nhàthôngthái dùng hìnhtượnghọc, mượn hìnhảnh của "sấmsét" cho dễ hiễu. Diễndịch sailầm nếucó của lớp hậusinh vềsau là khôngchịu tìmhiểu, hoặcgiả có hiểu thì cũnglàmột thiểusố rất ít. Ngay Ðức Khổng Tử gần cuối đời cũng phải thúnhận là còn hiểu sailầm về Dịch (5). Ðiều chắcchắn là thờiđó, kháiniệm khoahọc về "Aâmthanh" còn rấtlà trừutượng và mơhồ. Hỏa nghĩahẹp là lửa, nghĩarộng là A¨nhsáng hay nhiệtnăng, theo cáchgiảithích tươngtự nhưtrên. Trạch là Quái hoàntoàn bị hiểunhầm nhiềunhất vì đasố các sách về Dịch cholà tượng của "aohồ". Cáisai thấy rõ vì Trạch thuộc nhóm Dương vôhình, mà aohồ lại là vật thấyđược thuộc nhóm hữuhình. Hơn nữa, điềuvôlý là khi nóiđến aohồ thì phảicó nước hay liênhệ đến hành "Thủy" trongđó. Mộtsố sách sau này dùng tượng "hơinước" (4) cólý hơn mộtchút, nhưng vẫn chưađạt ý. Ðúngra, Trạch ámchỉ tổngquát các loại chất "Khí" có trong thiênnhiên, mà lúcbấygiờ các nhàthôngthái chưa biếtgì cả, ngoạitrừ khôngkhí để thở và các loại "Hơi" chora mùi cóthể ngửi được. Nên nhớ, khi gọilà Trạch với nghĩa tổngquát ámchỉ cái "cửakhẩu" hay chỗ "bị lỏmxuống", thì các nhàthôngthái cũng đãcó kháiniệm mơhồ về một khoảngtrống có chứa vậtthể vôhình vôsắc nàođó. Thiên ýnghĩa là "Trời", biểutượng cho cáigì siêunhiên vôhình vượt qua mọi sựhiểubiết của conngười vào thờibấygiờ, tuy các nhàthôngthái thỉnhthoảng vẫn cảmnhậnđược "Có cáigì đó"ù ảnhhưởng khôngít tới thểxác của họ. "Sóng" là hành của "Thiên", baogồm tấtcả mọi loại sóng từtrường có trong khônggian, các tiaphóngxạ, tiatửngoại, hay các loại "Siêu A¨nhsáng" có vậntốc nhanh hơn A¨nhsáng bìnhthường (sẽ được chứngminh bằng lýthuyết ở cuối bàiviết) mà trìnhđộ khoahọc của conngười cho đếnnay vẫn chưa tìmra được. Nhìnvào đặctính lýhóa của TứQuái thuộc nhóm dương, rõràng là Phục Hy hay nhàthôngthái nàođó khi phátminh ra BátQuái, đã vôtình đưara những kháiniệm rất cơbản về sựtraođổi giữa Vậtchất và nănglượng trong khoa Vậtlýhọc hiệnđại! Chỉ tiếcrằng các họcgiả Trunghoa vềsau vì khônghiểu hay vì muốn giữbímật làmcủa riêng, nên hậuquả là cáihọc chânchính về Dịch đã bị thấttruyền. Trình Dy (2), một họcgiả nổitiếng đời NhàTống đã nói như vậy, cáchđây gần cả ngàn năm. Theo sách thamkhảo (4), hai bộ "LiênSơn" và "QuyTàng" nói về Dịch đã bị mấtluôn khôngbiết nộidung như thếnào, chỉcòn bộ "Chu Dịch" chuyên về 64 quẻ thuộc khoa Bốcphệ hay Bóitoán! b - Phương vị của Bát Quái Như đã nói trong phần trước, ưuđiểm độcđáo của thuyết Ngũhành là đưara kháiniệm về luật SinhKhắc, mà ứngdụng khởithủy chínhlà dùng phươnghướng để định vịtrí tiêuchuẩn. Như trong hìnhvẽ số 1 trên, chúngta đã thấy thuyết Ngũhành có vấnnạn, vì chỉ có 5 thànhphần cho 4 hướng chínhlà ÐôngTâyNamBắc, nên đãphải nhờđến BátQuái để rồi từđó lại chora hai "phósản" là TiênThiên và HậuThiên BátQuái, dẫn dắt hậusinh vào chỗbếtắc! Hìnhvẽ Số 4 Hãy tạm quên Ngũhành, TiênThiên và Hậu Thiên, để trởvề với lýthuyết cơbản của Dịchlý. Muốn định vịtrí tiêuchuẩn phươnghướng cho BátQuái, thì cách haynhất là truy nguyên từ nguồngốc sinhra nó tức là "Tứ Tượng" gồm Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, và Thái Âm. Ơûđây ngườiviết muốn nhấn mạnh đến sự trùnghợp rõ rệt giữa "Tứ Tượng" cho "Bốn Phương" chính, và "BátQuái" cho "Tám Hướng" kểcả 4 hướng phụ. Bắtđầu bằng 4 hướng chính dùng "Tứ Tượng" như hìnhvẽ số 4 trên, chothấyngay tên gọilà Tháidương biểutượng cho mặttrời hay A¨nhsáng thuộcvề banngày, phải nằm ở hướngÐông là hướng mặttrời mọc. Ngượclại cho Thái Âm, tượng cho mặt Trăng hay ban đêm, phải ở hướngTây là lúc mặttrời lặn. Cònlại suyra Thiếu Dương, hay Dương ít nghĩalà Âm phải nhiều, ámchỉ cáilạnh nhiềuhơn nên đóng ở phươngBắc, và dođó ngượclại Thiếu Âm chỉ cái nóng nhiềuhơn, nên phải ở về vịtrí phươngNam, hướng về đườngxíchđạo. Bốnphương chính đã được định vịtrí tiêuchuẩn đúng rồi, thì trong tiếntrình chora BátQuái, 4 hướng chính đó sẽ trởthành "Thiên" dành cho hướngÐông, "Ðịa" hướngTây, "Thủy" hướngBắc, và "Hỏa" ở hướngNam. Sau khi bốnphương chính được địnhvị cho bốn quái rồi, các quái cònlại theo thứtự suyra cho bốn hưống phụ. c - Vòng sinh khắc của Bát Quái Vòng tương sinh của Bát Quái khởi đầu bằng hệluận tầmthường sauđây của Lão-Tử giảithích về nguồngốc của vũtrụ, mà khoahọc ngàynay cũng đưara giảthuyết gần giốngnhư vậy! Ðó là: "Ðạo sinh Một, Một sinh Hai, Hai sinh Ba, Ba sinhra Vạnvật". Ðâylà Lão-Tử muốn nói, Tháicực sinhra LưỡngNghi hay cả vũtrụ nên gọilà Thiên (Trời, số Một theo thứtự của thuyết Tamtài). Thiên sinhra Ðịa (số 2) ámchỉ các tinhtú hay tráiđất. Ðất sinhra vạnvật baogồm Nhân, thứtự số 3, hay nghĩarộng hơn là hào thứ ba sinhra BátQuái, baogồm cả vạnvật trên tráiđất. Vậy thì "Ðịa" hay tráiđất sinhra vạnvật theođúng diễntiến thứtự của luật BátQuái tươngsinh (mũi tên trong hìnhvẽ số 3), và khoahọc hiệnđại đã chứngminh mộtcách tươngtự rõràng những diễntiến nhưsau: Thiên Sinh Ðịa Ðầu tiên, trời hay vũtrụ sinhra các hànhtinh kểcả tráiđất là chuyện đươngnhiên, khôngcógì khó hiểu. Ðịa Sinh Sơn (hành Kim) Như đã giảithích ở trên, Sơn thuộc hành Kim: Tráiđất lúc mới vừa thànhhình là một khối cầulửa rất nóng, khi bắtđầu nguội dần thì mặt đất bị corút lại và tạothành lồilõm. Chỗlồi là núi, lõm là thunglũng hay đồngbằng. Vậy Sơn do từ Ðịa mà sinhra là điều hợp lý, khôngcòn gì phải thắcmắc. Sơn (hành Kim) Sinh Thủy: Sơn là núi trên caonguyên lạnh nên là nơi tíchlũy băngtuyết. Tuyết tan thành nước chảyxuống đồngbằng thành sông, và cuốicùng là ra biển. Dù những vùng khôngcó nhiều tuyết thì nước mưa trên cao cũng chảyxuống thấp làmthành sông hay suối. Luật khoahọc thiênnhiên đã được chứng minh, tấtcả các consông đềucó nguồn phátxuất từ các vùng caonguyên. Luật này còn nhấn mạnh đến lýtính của Chất Lỏng là luôn luôn chảy từ cao xuống thấp. Có sách theo thuyết Ngũhành đã giảithích vì "Kim Khí" lạnh nên hơi đọnglại mà sinhra nước. Giảithích nhưvậy rấtlà gượngép và thiếusót, vì hơinước cũng đọnglại trên câycỏ đểchora nước! Nguyênnhân cóthể là do bị các "NgụyThư" đánhlừa, hoặc các hậusinh Nhohọc thời XuânThu muốn giấunghề "Trị Thủy" của Vua Vũ(?) Thủy Sinh Phong (hành Mộc): Nước nuôi dưỡng sinhra cây cỏ, nhưng đồngthời cũng chora hơinước tạothành gio.ù Gió chỉ chothấy hiệuquả khi gặp vậtcản để sinhra chuyểnđộng. Và ngượclại, nếu vật chuyểnđộng thì lại chora gió! Dođo,ù Quái Phong ởđây ámchỉ cả hai nghĩa thựctế và trừutượng. Vừa thuộc hành Mộc là câycỏ thuộcvề quái cuốicùng ở biêngiới của nhóm Âm hữuhình, nhưng đồngthời cũng chora gió, đóngvaitrò trunggian chuyểntiếp đến quái "Lôi" thuộc nhóm Dương vôhình. Ðây mới thấy cái ẩný của các nhàthôngthái, đã không gọi quái "Phong" là quái "Mộc". Phong Sinh Lôi (Aâmthanh) Chínhlà biêngiới của sự chuyểntiếp từ hữuhình qua vôhình. Gió gặp vậtcản tạora chấnđộng hay rungđộng, rồi từ sựrungđộng lại phátsinhra âmthanh. Dựavào nguyêntắc trên mà các nhàthôngthái thờicổđại bên Trunghoa đã phátminh ra câysáo, một loại nhạckhí cổxưanhất trên thế giới vẫncòn dùngcho tới ngàynay. Nhắclại ởđây, nhàthôngthái đãphải dùng đến hìnhtượng cụthể là "sấmsét" (hay Lôi) cho dễhiểu vì ai cũng thấyđược. Nên hiểurằng "Lôi" ởđây không chỉ cónghĩa là sấmsét, mà còn cónghĩa tổngquát hơn là chấnđộng. Ðiều chắcchắn là Nếukhôngcó hơinước tạora gió thì khôngcó mây hay mưa, và nếu khôngcó mây bão thì cũng khôngcó sấmsét! Lôi Sinh Hỏa Chấnđộng mạnh thì dể sinhra sựcọsát và chora Nhiệt. Nhiệt tíchlũy nhiều thì phátHỏa, và đólà nguyêntắc để tạora lửa không thayđổi từxưa đếnnay. Nhân tớiđây, cũng nên nhắclại thuyết Ngũhành nói "Mộc sinh Hỏa", với lời giảithích gỗ cháy chora lửa, là không hoàntoàn đúng! Gỗ không tựnhiên mà cháy nếu khôngcó trước mồilửa, nghĩalà tựnó không sinhra lửa. Thídụ như trong thiênnhiên, những vụ cháy rừng là do sétđánh, đúngnghĩa của "Lôi" màra, và các hỏadiệmsơn do chuyểnđộng xungsát của các tầng nhamthạch, baogiờ cũng bắtđầu phunlửa bằng các cơn địachấn đitrước. Còn về mặt nhântạo thì ngay cả dùng cáibậtlửa, cũng cần phảicó tácđộng banđầu do sựđánhdiêm hay cọsát mạnh vào viênđálửa. Ngoàira, do hai quái trên hoàntoàn nằm trong vùng vôhình thuộc phạmvi tinhthần, nên còn đượchiểu theo nghĩabóng. Thídụ như âmnhạc cóthể làmcho conngười cảmthấy kíchđộng mạnh lên, phấnkhởi nhảymúa tưngbừng. Hoặclà, khi hai quyềnlợi tranh dành đụngchạm mạnh, thì tấtnhiên phải xảyra cảnh chiếntranh máulửa!. Hỏa Sinh Trạch Lửa thiêuđốt vật chora khói hay các chất "Khí" theonhư phảnứng hóahọc. Lậpluận của Ngũhành cho Hỏa Sinh Thổ là sailầm, bởi khôngphải lúcnào lửacháy cũng chora trothan, thídụ như dầulửa hay khíđốt. Về phươngdiện tinhthần, khi tâm cuồngnhiệt hay nóngsốt đammê về chuyệngì, thì các chất kíchthíchtố (Hormone) ở nãobộ tất sẽ pháttiết ra, và làmcho conngười dễ chìu theo dụcvọng hay sởthích cánhân. Vìvậy, quái "Trạch" còn cónghĩa là làmcho hàilòng, hay vuilòng và chìuchuộng theo đốitượng v.v. Nên nhớ là hành "Khí" ở quái "Trạch" này còn baogồm luôncả ý¨nghĩa "ThầnKhí" hay "Khícông" của yhọc và võthuật. KhoaTâmsinhlý đã chứngminh rõ là tấtcả đều do phảnứng hóa của các chất kíchthíchtố lên trên hệthầnkinh nãobộ! Trạch Sinh Thiên Trạch hành "Khí", theo nghĩarộng baogồm tấtcả các hóachất vôhình vôsắc trong vũtrụ, cuốicùng cũng kếthợp và tácđộng lẫnnhau dưới bất kỳ hìnhthức nào, đểchora nănglượng và thường là dưới dạng "Sóng". Chẳnghạn khi conngười suy nghĩ hay tính toán là lúc các sóng não làm việc chora tín hiệu, dobởi phảnứng dây chuyền của các hóachất trong nãobộ. Nhưng quantrọng hơn hết, Quái Thiên cuốicùng còn là biểutượng cho trí khôn hay sự thôngminh caocấpnhất mà loàingười cóthể cóđược trong một tươnglai vôhạn. Biểuđồ dướiđây chothấy hai vòng BátQuái Sinh và Khắc: Nhìnvào biểuđồ bêntrái của hình số 5 chothấy diễntiến của vòng BátQuái Tương Sinh, và cũngla øcâutrảlời đúngnhất cho 6 hìnhvẽ biểutượng cho LưỡngNghi hay ÂmDương. Hình đánh số 1 đúng cho khuvực Bắcbáncầu, và số 4 đúng cho ai sống ở miền Nambáncầu. Trướckhi tiếptục giảithích vòng Tương Khắc, biểuđồ bênphải trong hình số 5, xin nhắclại mộtsố quyluật về SinhKhắc của BátQuái rất phùhợp với khoahọc thựcnghiệm ngàynay. Chẳnghạn theo luậttựnhiên, cùng loài thì "Sinh" ra nhau, khác loài mới "Khắc" nhau. Chỉ các quái thuộc nhóm Âm mới "Sinh" ra quái Âm, và cũng tươngtự cho các quái thuộc nhóm Dương, trừ trườnghợp duynhất phải chuyểntiếp giửa hai quái "Phong" và "Lôi" ngay biêngiới của hai nhóm ÂmDương. Tươngtự cho vòng "Khắc", chỉ có quái thuộc nhóm Âm mới khắc quái ở nhóm Dương, hay ngượclại. (Xin nhắcthêm ởđâylà trong khoaTửvi đã ápdụng rấtđúng nguyêntắc trên. Mệnh Dương đóng ở cung Dương tốt hơn ở cung Âm, hay ngượclại) d) Vòng Khắc của BátQuái Theo hìnhvẽ bên tay Phải của biểuđồ số 5 : Thiên Khắc Phong Ðây muốn nói các loại sóngphóngxạ, các tiatửngoại hay tia "X" đềulà khắctinh của câycỏ sinhvật, kểcả conngười (thểxác và hìnhdạng conngười nói chung được coi như hành Mộc, ý chính và là nghĩa phụthuộcvề phần hữuhình của quái Phong). Về Y¨nghĩa thuộc dạng chuyểntiếp qua phần vôhình là "Gió" hay giông bão, thì chỉ có các loại sóng nhiệtnăng làm thayđổi nhiệt độ nóng hay lạnh của vùng có gió điqua, và kếtquả sẽ làm tanbiến đi luồnggió. Một ứngdụng thựctế vôtình trùnghợp, là hiệnnay các nhà khoahọc đang thử dùng các tia "Laser" cựcmạnh để bắn vào tâm các trậncuồngphong, nhằm hóagiải sứcmạnh hay cóthể phátan luôn trungtâmbão mới thànhhình. Phong Khắc Trạch Có hai nghĩa được giảithích nhưsau: Bấtkỳ các loại "Khí" nào cũng sẽ bị "Gió " thổi làm tanloãng đi. Thídụ khí chứa trong các bìnhkín bị mở nắp thônghơi, hay các nhà hầmkín được mở cửa cho gió vào làm thoángkhí. Nghĩa thứhai, các loại rễcây khi pháttriển sẽ chiếmdần các khoảngtrống (Y¨nghĩa của quái "Trạch" đã nóitrên) trong đất, và dĩ nhiên là đẩy chất khí đi rangoài. Trạch Khắc Thủy Kháiniệm đầutiên là các bọt khí trong chất lỏng hay hơinước bốc lên sẽ làm khô cạn nước hay chất lỏng đó. Y¨ chínhlà nếu chất lỏng tiếp xúc với một khoảngtrống thì sẽ bị hao tổn vì chảy thoát ra đó. Thídụ như một bình chứa nước bị đục một lổ hổng. Nhânđây cũng nhắclại chuyện các nhàthôngthái khi xưa, do nhìn thấy nước chảy trên mặtđất bị hút mất, nên cholà Thổ Khắc Thủy! Thậtsự như khoahọc chứngminh, nước hay chất lỏng bị mất vào lòng đất là vì chảy thấmvào các khoảngtrống li ti (Trạch) giữa đất cát mà thôi. Thủy Khắc Hỏa Ðiều này ai cũng biết rồi, và cũng đúng hoàntoàn theo thuyết Ngũhành, xinmiễn nói thêm. Hỏa Khắc Sơn. Theo nghĩa đen trong thuyết Ngũhành, vì Sơn thuộc hành Thổ, và lại cho Hỏa Sinh Thổ, nên suyra "Lửa Sinhra" hay làmlợi cho rừngnúi là điều nhầmlẫn hoàntoàn! Lửa Thậtsự mới chínhlà khắctinh của núi. Các vụ cháy rừng đã làmthiệthại cho núi nhiềunhất, kểcả lửa phunra từ hoảdiệmsơn. Các kiếntạo về cầu hay caoốc cũng rất ngại bị rỉsét, một hiệntượng oxýt hóa hay còn gọilà "cháy ngầm". Dođó, nghĩabóng thứhai của Sơn thuộcvề hành Kim, chora Hỏa khắc Kim là đúng với thựctế. Sơn Khắc Lôi Cũng dễhiểu như trong thựctế chothấy, núi hay các bức tườngthành cao (hìnhtượng thaythế cho Sơn), đềucó công dụng chống và cản lại tiếngđộng hay âmthanh. Ngoàira, một ứngdụng khác là các cột thulôi bằng kimkhí (xin nhắclại, Sơn thuộc hành Kim theo BátQuái) trên caoốc hay nócnhà cũng có khảnăng "triệttiêu Thiênlôi" nếucó! Lôi Khắc Ðịa Chỉcó những chấnđộng mạnh trong thiênnhiên như độngđất, bãolụt, hay nhântạo như bommìn hoặc các má móc có độngcơnổ, mớicó đủ sứcmạnh để làmcho đất sụplở hay bị dờiđi màthôi. Trườnghợp thuyết Ngũhành cho "Phong" hay gió thuộc hành Mộc khắc thổ, với lậpluận gió thổi làmcho đấtcát bayđimất là quá gượngép. Ðúngra, chỉ có các trậnbão lớn hay cuồngphong mới thổi đấtcát bayđi được, và nên nhớ là các trận cuồngphong baogiờ cũng chora những âmthanh chấnđộngmạnh như độngđất. Ðịa Khắc Thiên Lậpluận cuốicùng này cóthể làmcho khóhiểu mộtchút, bởivì trong vòng Sinh thì Thiên Sinh Ðịa, mà trong vòng Khắc thì ngượclại!. Xinnhấnmạnh, Ðịa ởđây không trựctiếp khắc Thiên mà phải qua trunggian chínhlà Nhân hay loàingười. Do những tiếnbộ mà nềnvănminh khoahọc kỹthuật mangđến, giúp conngười khắcphục thiênnhiên, cưỡngchốnglại "mệnhtrời", hay hủydiệt hesinh thái của vòng khíquyển ozone, đều đượchiểu nhưlà "Khắc Thiên". Vậy thì hai đầ mối cựcđiểm của BátQuái là Thiên và Ðịa, cuốicùng lại phải gia hợp nhau trong cái chukỳ tuầnhoàn "Sinh và Khắc" đó, để duytrì cán ân quânbình của tạohóa. Trongđó, yếutố quantrọng hàngđầu, vẫnlà phảicó phần "Nhân" hay conngười, để chutoàn côngviệc! d) Những hệluận của vòng BátQuái Trong biểuđồ của hai vòng Sinh và Khắc (hình số 5), nếu để ý thì thấy vòngSinh có sựquânbằng và điềuhòa cả hai bên vùng ÂmDương. Về hìnhtượnghọc, đườngchuyểntiếp giữa quái Phong qua Lôi giốngnhư dạng của một lànsóng êmdịu, hàihòa và thuậnlợi. Trongkhi vòngKhắc có dạng mũinhọn giaođộng và không đồngđều, giốngnhư biểuđồ của một vụnổ hay cơnđịachấn, sẽ tạora cảmgiác khóchịu vì có tínhsátphạt hay khôngđược vừalòng. Cũng trong vòng Sinh nóitrên(xem hình số 5), nếu nốiliền trọngtâm của hai nửa báncầu nhỏ, do đường chuyển từ quái Thủy qua Phong trong vùng Âm (Ðen), và quái Lôi qua Hỏa trong vùng Dương(Trắng), sẽ hợpvới trụcthẳng đứng Thủy-Hỏa một góc gần bằng 23° 27(7), chínhlà độnghiêng của tráiđất. Khoahọc đã chứngminh rằng nếu tráiđất không nghiêng một gócđộ nhưvậy thì thờitiết sẽ khôngcó 4 mùa, và cóthể tráiđất đã là một hànhtinh chết, làmgì cóđược sinhvật và conngười như ngàynay. Vậy suy luận mộtcách cụthể hơn, hai quái chuyểntiếp giữa Phong, hành Mộc thuộc vùng Âm hữuhình biểutượng cho thểxác, và Lôi hành Âm, thuộc vùng Dương vôhình hay tinhthần, chora conngười thuộc phần Nhân, giữa Thiên và Ðịa trong BátQuái. Xinnóithêm cho quývị đã biết nhiều về Dịchlý, tạisao các nhàthôngthái đã ghép hai quái lại thành quẻ "Lôi Phong Hằng" ở ngay giữa 64 quẻ, tượng cho nhânduyên hay đạovợchồng (9). Nếukhôngcó sựgiaodu giữa Âm và Dương đó, thì chắclà khôngcó thếgiới loàingười! Theo chukỳ của vòng "Sinh", từ khởiđiểm là Thiên sinh Ðịa, rồi cuốicùng là trởvềlại Thiên, đã ngầmchứa một kháiniệm "vạnvật đồngnhất thể" của nềntriếthọc Ðôngphương. Phải chăng đó cũnglàmột tiềnđề cho thuyếtLuânhồi của Phậtgiáo saunày(?) Trong vòng "Sinh và Khắc", baogiờ cũngcó một sựliênhệ chặt chẽ nhưsau: Nếu "Thủy" khắc "Hỏa" và "Hỏa" sinhra "Trạch", thì "Trạch" sẽ khắc lại "Thủy". Tươngtự cho tất cả, "Lôi" khắc "Ðịa", thì "Ðịa" sinhra "Sơn", để "Sơn" khắc lại "Lôi",v.v. Ðây cóthể coinhưlà hiện tượng "Trả thù" theo tâmlý conngười, hay "Bảotồn" của thiênnhiên, hay nóitheo triếtlý NhàPhật là luật "Nhânquả" . e) Dựđoán khoahọc: SiêuÁnhsáng. Dựavào mô hình BátQuái, ngườiviết muốn đưara một dựđoán khoahọc trongviệc tìmra loại siêuánhsáng có vậntốc lớn hơn ánhsáng hiệnnay (v = 300.000 km/giây). Tuynhiên, trướckhi nói chuyện tươnglai, thì cũng nên ônlại chút qua khứ để coi như một kinhnghiệm thựctế. Chỉ mới cáchđây hơn nửa thếkỷ trởvềtrước, mọingười đều thấy vậntốc của Aâmthanh là nhanhnhất, mà tấtcả các máymóc nhântạo hay trong thiênnhiên khônggì bằngđược (trừ A¨nhsáng). Nên mới có câu "Một lời nóira, thì bốn ngựa đuổitheo cũng khôngkịp". Trong tiếntrình sinhtrưởng của BátQuái, "Lôi" tượng cho âmthanh, và kếđến là "Hỏa". Dĩnhiên, ởđây quái "Hỏa" khôngnhững ámchỉ ánhsáng, mà còn tượnghình cho nguyêntắc về hỏatiển hay máyphảnlực. Hai vạch Dương ở ngoài cứng giốngnhư lớp vỏ baobọc bênngoài, và vạchâm ở giữa nhưlà khoảngtrống để nhiênliệu cháy phunra ngoài. Kếtquả cho thấy, chỉcó các độngcơ phảnlực mớicó đủsức đưa vậtthể dichuyển nhanh hơn vậntốc âmthanh. Ánhsáng thiênnhiên theo giảithích của khoa Vậtlýhọc hiệnđại, được tạothành bởi những hạt quangtử (Photon) dichuyển theo dạng hìnhsóng có chukỳ (oabc) như trong hìnhvẽ số 6, và có vậntốc theo trụcđườngthẳng là 300.000 km/giây trong chânkhông. Bây giờ, nếu xétvề mặt lýthuyết hìnhhọc, giảsử các hạtsóng quangtử nhờ bị thuhút một nănglượng cựcmạnh nàođó, dichuyển theo đườngtắt ngắnhơn (oa-bc), thì chắcchắn vậntốc theo trục đường thẳng phải nhanh hơn bìnhthường, nghĩalà nhanh hơn vậntốc A¨nhsáng thiênnhiên! Sởdĩ ngườiviết dựđoán điều nóitrên là nhờ dựavào hìnhtượng của BátQuái. Quái "Hỏa" tượng cho A¨nhsáng, gồm hai vạch Dương đốixứng cân bằng qua vạch Âm ở giữa, chothấy giốngnhư dạng sóng bìnhthường lênxuống của Ánhsáng thiênnhiên. Tuynhiên, để đạttới được vậntốc cao hơn của "SiêuÁnhsáng", thì phải xét tới quái tiếptheo là "Trạch". Quái "Trạch" có hai vạch Dương nằm ở dưới một quái Âm, chothấy có sựmấtquânbình và khôngđốixứng. Vạch Âm nằm ở trên cùng còn ámchỉ một sự "thiếuhụt" nàođó, giốngnhư đường tắt (oa-bc) sovới (oabc). Trên chỉlà một thídụ nhỏ trong vôsố các hiệntượng về thiênnhiên của vũtrụ hay thếgiới loàingười mà khoaDịchlý học cóthể giảithích, dựđoán, hay chứngminh được. Chẳnghạn, đọcgiả cóthể đã nghenói về những ápdụng của Dịchlý vào trong nhiều lãnhvực khác. Nhưng dám chắc chưa ai biết được, Dịchlý cóthể giảithích và trìnhbày tổngquát tấtcả các môhình về chủthuyết Chínhtrị từcổchíkim, và hyvọng đó cũng chínhlà chủđề cho những bàiviết sắptới. IV - Kết luận Ðã đếnlúc thuyết Ngũhành cần phải được đóngkhung lại và chovào bảotàngviện. Các bộmôn học thựchành đang được phổbiến và thôngdụng trên thếgiới, còn sótlại từ nềnvănminh Trunghoa nóichung như: Ðôngyhọc, Châmcứu, Lịchsố, PhongThủy, vv, phải thẳngthắn, dứtkhoát từbỏhẳn thuyết Ngũhành, để quayvềlại với cộinguồn chânchínhlà Dịchlý mà nghiêncứu ápdụng, nếu muốn pháttriển trởthành tốt đẹp hơn. Dịchlý khôngthể bị coi là một khoahọc huyền bí. Khôngcó bấtcứ lýluận nào, mệnh đề nào trong Dịchlý mà khôngthể hiểu, hay chứngminh được theo tiêuchuẩn khoahọc hiệnđại. Nguyễn Cường Sacto 12/2000
-
Dưới đây là bài viết của một người nghiên cứu về Tử Bình mà Phoenix sưu tầm. Bài viết trình bày liền một mạch hơi khó xem nên mạn phép tác giả Phoenix đã chỉnh sơ về ngắt đoạn để dễ theo dõi. Mời ACE tham khảo! Luận về danh nghĩa Ấn, Thực, Tài, Quan của người xưa lập nên Từ Tử Bình luận cách cục độc chỉ có lấy 4 vị là: tài, ấn, quan, thực làm đề cương để lập danh nghĩa. Nói rằng: Tạo hoá lưu hành trong trời đất chẳng qua chỉ là âm dương ngũ hành mà thôi. Âm dương ngũ hành tương giao làm dụng chẳng qua chỉ là sinh khắc chế hoá. Nay lấy Giáp Ất là ví dụ, lấy can ngày để luận. Giáp Ất tại ngũ hành thuộc mộc, Giáp là dương mà Ất là âm, như mệnh người sinh được Giáp Ất là nhật chủ thuộc về bản thân vậy. Sinh ta là Nhâm Quí, ta sinh ra là Bính Đinh hoả, khắc ta là Canh Tân kim, ta khắc là Mậu Kỷ thổ thế là tròn vòng 10 can. Sinh ra ta có nghĩa cha mẹ cho nên lập danh là ấn thụ, ấn là ấm mà thụ là được cho vậy, ví như cha mẹ có ân đức thụ ấm cho con cháu, con cháu được hưởng thụ cái ấm phúc đó. Triều đình phân chia quan chức lấy ấn thụ để quản về quan chức. Quan mà không có ấn thì lấy gì làm bằng cứ? Người không cha mẹ thì dựa vào đâu? Lý này chỉ một mà không có hai cho nên gọi là ấn thụ. Ta sinh ra có nghĩa con cháu cho nên lập danh là thực thần, thực là như côn trùng ăn thực vật, ăn thực vật mà no, được ăn thì ích mà bị ăn thì tổn, tạo hoá thành con cháu thì phải nuôi dưỡng, tức nuôi dưỡng là cái đạo làm cha mẹ vậy, cho nên gọi là thực thần. Khắc ta tức là ta bị người chế phục cho nên lập danh là quan sát. Quan là quản mà sát là hại vậy. Ta khắc là người khác bị ta chế phục nên gọi là tài, như người thành gia lập sản cần có thê thất nội trợ nên gọi là thê tài. Bốn cái đó các thuật gia lập danh nghĩa đại lược,sát thì gần ở thân mà khắc cách ở vị, tạo hoá ưa sinh mà ghét sát ấy là lý tự nhiên, trong khoảng âm dương theo loại âm dương phối hợp mà mọi cái đều có cái lý để tồn tại. Sinh ta, ta sinh như Nhâm sinh Giáp Quí sinh Ất, Giáp thực Bính mà Ất thực Đinh là âm sinh âm dương sinh dương, âm thực âm, dương thực dương là âm dương mỗi cái theo loài của nó, cho nên Giáp ưa Nhâm sinh tử mộc vì tử mộc nuôi trong nước thì qua nhiều năm cũng không bị hoại mà không ưa Quí sinh tử mộc vì tử mộc bị nước mưa dầm nát không qua nổi một năm thì mục nát, Giáp ưa thực Bính, lấy Bính chế Canh thì Giáp được yên thân, không ưa thực Đinh vì Đinh hay làm thương quan làm cho Giáp không thể thành tài, nghĩa của nó là như vậy. Khắc ta, ta khắc như Tân khắc Giáp, Canh khắc Ất, Giáp khắc Kỷ, Ất khắc Mậu là âm khắc dương, dương khắc âm, âm phối dương, dương phối âm là cái lý của âm dương phối hợp, cho nên Giáp lấy Tân là Chính quan, thấy Canh là Thiên quan. Quan thì thích chính mà không thích lệch (ngày nay gọi là làm cấp phó). Chưởng ấn trợ giúp chức vị cũng có cái bất đồng. Giáp thấy Kỷ làm chính thê thấy Mậu là Thiên thê. Vợ thì quí ở chính chứ không quí ở thiên (lẽ) đó là cái lý để phân biệt vậy (người xưa đã rất coi trọng quan điểm một vợ nhưng để đạt cái oai danh trong xã hội là cần thiết có thiên- vợ lẽ, đó là cái rắc rối của loài người vậy). Quan thì sợ bị thương, bị thương ắt là hoạ; tài sợ bị cướp (kiếp), bị kiếp ắt là phân tán; ấn thì sợ tài, tham tài thì phải hại ấn. Thực thần sợ Kiêu (thiên ấn), gặp Kiêu ắt bị đoạt mất (mẹ ghẻ có ưa gì con chồng từ xưa nay), lý này đối với con người thì chỉ có một mà thôi, kẻ học có hiểu được việc đời thì mới nói chuyện được với Tạo hóa vậy. Ngũ hành vận động sinh khắc thì con cái có cái nghĩa báo thù cho cha mẹ, cho nên Giáp Ất sinh Bính Đinh làm con, Giáp Ất sợ Canh Tân nên dựa vào Bính Đinh để khắc chế lại, 10 can và 12 chi lý cũng như thế, tuy động tĩnh khác nhau mà sinh khắc chỉ là một mà thôi, rằng Bắc phương Hợi Tý thủy sinh cho Đông phương Dần Mão mộc, Đông phương Dần Mão mộc sinh cho Nam phương Tị Ngọ hoả. Thổ nhờ sinh vượng ở hoả mà sinh Tây phương Thân Dậu kim, Tây phương Thân Dậu kim lại sinh cho Bắc phương Hợi Tý thủy. Tuy nhiên giữa Hợi Tý có một vị Sửu sau mới tiếp đến Dần Mão, giữa Dần Mão lại có một vị Thìn mới đến Tị Ngọ, giữa Tị Ngọ lại có một vị Mùi mới đến Thân Dậu, giữa Thân Dậu có một vị Tuất thì mới đến Hợi Tý, thổ ở tứ duy mà mà ngũ hành cân bằng là như vậy. Tị Dậu hợp Sửu mà thành Kim cục, Thân Tý hợp Thìn mà thành Thủy cục, Hợi Mão hợp Mùi thành Mộc cục, Dần Ngọ hợp Tuất thành Hỏa cục. Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ lại sinh Kim cứ thế tương sinh mà không dứt. Sửu là Kim kho sinh Hợi Tý mà khắc Dần Mão, Thìn là Thủy kho mà khắc Tị Ngọ mà sinh Dần Mão, Mùi là Mộc kho sinh Tị Ngọ mà bị kim khắc , Tuất là Hoả kho khắc Thân Dậu mà bị Thủy chế. Đông Nam chủ sinh, Tây Bắc chủ Sát đó là then chốt của tạo hóa vậy. Thìn Tuất Sửu Mùi an ở Tứ duy thì kim thủy hoả mộc còn dựa vào mà sinh tàng, Kinh Dịch nói : Thành ngôn hồ Cấn, chung ngôn hồ Khôn đó là công dụng của thổ đối với ngũ hành là lớn lắm vậy. Tổng hợp cả can chi lại mà nói thì Giáp sinh ở Hợi tử ở Ngọ, Ất sinh ở Ngọ tử ở Hợi, tựu lộc ở Dần Mão là Giáp Ất đồng ở Dần Mão vậy.Bính sinh ở dần tử ở Dậu, Đinh sinh ở Dậu tử ở Dần tựu lộc ở Tị Ngọ cho nên Bính Đinh đồng ở Tị Ngọ. Canh sinh ở Tị tử ở Tý, Tân sinh ở Tý tử ở Tị tự lộc ở Thân Dậu nên Canh Tân đồng ở Thân Dậu. Nhâm sinh ở Thân tử ở Mão, Quí sinh ở mão tử ở Thân tựu lộc ở Hợi Tý nên Nhâm Quí Hợi Tý đồng vậy. Mậu sinh ở Dần tử ở Dậu, Kỷ sinh ở dậu tử ở dần tựu lộc ở Tị Ngọ cùng với Hoả đồng vị. Đó là nghĩa con theo mẹ mà vượng mà Thìn Tuất Sửu Mùi đều chính vị của nó do là Thiên can Địa chi tương hợp phối ngẫu sinh khắc chế hoá vượng tướng hưu tù mà có tên là ấn là kiêu là thực là thương là quan là sát là tài là kiếp, hình xung phá bại hư du ám hợp mà biến hóa vô cùng. Từ Tử Bình biết khai phá được lý này nên chỉ luân về tài quan ấn thực, phân chia làm sáu cách mà cái phú quí bần tiện thọ yểu cùng thông của một mệnh người không thể ngoài nó được. Các cách khác cũng không quá thế mà suy ra. Nguyễn Công Nguyên
-
Nhờ QT diễn đàn đưa giúp bài "Hình thức và chỗ đứng của Tứ trụ" Phoenix post nhầm trong khu Tư vấn sang bên Trao đổi học thuật. Nếu có thể thì BQT thử nghiên cứu hình thức để phân biệt hai khu vực này vì tên các chuyên mục ở 2 bên đều giống nhau. Rất dễ nhầm lẫn. Rất cảm ơn!
-
Bài này sưu tầm từ website http://tuvinghiemly.com do Haidang - một thành viên tài năng và nhiệt huyết trong làng lý số xây dựng. Mời các ACE quan tâm đến Tử bình cùng "ngâm cứu" và bàn luận. Hình Thức và Chổ Đứng cũa Tứ Trụ Tứ trụ Dương chủ sự cỡi mỡ, thành thật và có sức khỏe. Tứ trụ Âm chủ về kín đáo, mật, cẫn thận và nhiều lý trí. Tứ trụ thuần Dương làm cho đương số rất thẵng thắn, can đãm, đáng tin cậy và dấn thân hết mình cho lý tưỡng. Nhiều người tuẫn tiết, chết vì lý tưỡng đều rơi vào trường hợp này. Họ là những người rất trung thành. Tuy nhiên, có một sự đòi hỏi là phải sinh trong tháng Dương (tháng mùa Xuân và mùa Hè). Những trụ Dương này phãi được xác thực với đầy đũ Dương lực mới có thể phát uy được sức mạnh, uy quyền. Người sinh trong tháng Âm (trụ Dương, nhưng sinh trong tháng mùa Đông, mùa Thu) thiếu sự can đãm đễ đứng ra bão vệ chủ thuyết, lập trường. Dưới đây là thí dụ của một người hy sinh cho cách mạng. Tên tuổi được nêu danh. Tuy nhiên, không ở trong địa vị cao bỡi vì sinh trong tháng Tuất (Âm vì sinh vào tháng mùa Thu) Giáp Tuất Giáp Tuất Giáp Dần Giáp Tuất Tứ trụ thuần Âm là người tính toán, kín mật, cẫn thận và rất dễ thân thiện. Những người này không bao giờ lộ ra bất đồng ý kiến với ai. Luôn luôn giữ sự nhận xét cho chính mình. Và hay hơn nữa là hoạch định kế hoạch và đi đến mục đích mà không làm tổn thương ai. Họ giữ mình trong một khuôn khổ riêng của họ. Tuy nhiên, sự đòi hỏi là phải sinh trong tháng Âm (tháng mùa Thu, mùa Đông). Nếu sinh trong tháng Dương (mùa Xuân, mùa Hè) thì người đó sẽ đôi lúc nóng nãy và rất ích kỹ. Đây là kết quã của sự bất dung hòa trong trụ. Hãy nhớ rằng: tất cã những sự tốt chỉ đến nếu tứ trụ được dung hòa (harmony), ngay cả bản tính của con người. Ví dụ dưới đây là của một vị quan Trung Hoa rất uy quyền. Người này rất thông minh, xão quyệt, nhiều thủ thuật. Suốt đời chỉ dôc tâm đễ được làm vua, và thành công lên ngai vàng, nhưng chỉ được 83 ngày. Không có Dương lực trong trụ, quã là khó có thể ở trên ngai vàng được lâu dài. Kỹ Mùi Quý Dậu Đinh Tị Đinh Mùi Những người có trụ Dương ở ngoài (ở trụ năm và trụ giờ), trụ Âm bên trong (trụ tháng và trụ ngày) là người thích giao du, xã giao, chia sẻ, ân cần chăm sóc, nhưng giữ sự mong muốn cho chính mình. Đây là những người hoạch định rất cẩn thận và hưỡng thụ. Ngược lại, những người có trụ Âm ở ngoài, trụ Dương bên trong thì bề ngoài rất là dể đồng ý cho bất cứ vấn đề gì, nhưng không bao giờ thay đổi thành kiến, ý nghỉ. Đừng bao giờ dụ dổ họ chấp nhận những trào lưu, tư tưỡng mới. Thí dụ dưới đây là của 1 vị quan Tàu quyền lực rộng rãi và giàu có. Canh Thìn Ất Dậu Quý Mão Canh Thân Tứ trụ có sự xen kẽ vị trí của trụ Âm, trụ Dương là người có kỹ luật và trách nhiệm. Họ là người công bằng và sẵn sàng bão hộ cho việc đó khi hoàn cảnh cho phép. Họ cũng kiễm soát bãn thân họ và là người bạn tốt. Đa số những người có cách này đều thành công, và khá giã. Thí dụ dưới là của 1 bộ trưỡng tài chánh Trung Hoa. Rất giàu có và đầy quyền lực. Giáp Ngọ Ất Hợi Canh Thìn Kỹ Mão Môn Tử Bình có nhiều thứ tinh diệu, có thể dùng một cách đơn giản. Trong bài đăng duới đây của Oak_HN, chúng ta thấy danh sách các cặp thiên can và chi phối hợp với nhau là cách khó khăn trong hôn nhân, thuờng là do quan hệ của mình đối với bên chồng hay vợ. Hải Đăng thực chứng cách dùng trụ ngày thấy có xuất hiện 1 trong các cặp ghi ra trong bài của Oak_HN. Tuy nhiên nếu cung vợ chồng trong lá số Tử Vi khá tốt thì sự khó khăn đó có thể thông qua, và hôn nhân cũng đặng tốt nếu đuơng số lập gia đình trể, bị trải qua hoàn cảnh như mô tả. Theo thiển ý, cách khó khăn trong lúc tìm đối tuợng hôn nhân hay cảnh bất ưng trong gia đình thuờng xãy ra khi trụ ngày trúng cách Âm Duơng Lệch Lạc, còn nếu các trụ khác trúng cách đã ghi thì chúng ta không nên vội cho là sẽ bị như vậy. Quan Hệ (relationship): Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tị, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Bính Tý, Mậu Dần, Đinh Sửu. Những người có trụ như trên có thể sẻ có bất hòa với bên vợ, bên chồng (in-laws). Hoặc khó khăn tìm được đối tượng. Những trụ này có thể có sự bất hòa trong gia đình đưa đến sự đổ vở. Tình trạng nặng hay nhẹ cũng còn tùy thuộc vào vị trí của trụ và bao nhiêu trụ trên trong lá số tứ trụ. Xấu nhất là trụ ngày có 1 trong những trụ trên (Ngày Âm Dương). Nếu trong trụ có 2 trụ trên hoặc nhiều hơn, và 1 là trụ ngày có thể dẩn đến sự bất hòa với bên vợ, chồng hoặc con ghẻ (step children) thường xuyên. Biết để mà tránh . (Hết)
-
Chị ui. Sửa lại như dưới đây mới đúng ạ: "Tâm lý của người hỏi mà được 1 câu đúng là mãn nguyện lắm rồi . Quan2nguyen đạt được 55% ĐÚNG ! ĂN XIỀN rùi . 1 chút tài = dầy công nghiên cứu + năng lực mới ĐÚNG được ngần ấy ! Đáng khen thay !" :lol: :lol: :lol: :P Phoenix thì dốt mấy khoản này lắm. Ì ạch thôi chị à.
-
Đôi mắt này có chiều sâu nhưng rất vô cảm. Đó là cảm nhận của Phoenix.
-
Phoenix cảm quẻ Sinh Lưu Niên: - trước mặt Thancodieutoan có một cái bát. Hỏi trong bát đựng quả gì ? Quả của một thứ cây trồng lâu năm. Vỏ màu có sắc xanh đậm nhưng không đều. Đoán là quả cam. - bao nhiêu quả ? Chỉ có 1 quả. - Bên cạnh cái bát có 1 cái đĩa, trên đĩa đựng gì Câu này để trả lời sau vì đang luận lại có người chen ngang. Hic :lol:
-
Thancodieutoan thân mến, ACE Lạc Việt độn toán đúng là có rất nhiều cơ hội luyện tập. Nhưng ở topic này, Phoenix định tập trung vào luyện cảm ứng quẻ theo tượng. Và sẽ tổng kết các trường hợp đã luận để theo dõi kết quả cũng như rút kinh nghiệm chung. Do vậy Phoenix sẽ post giúp Thancodieutoan 1 hình ảnh nhé. ">
-
(tiếp) Đúng vậy. Vực dậy từ vô thức tập thể những kinh nghiệm nguyên sơ nhất về Đất và Nước, cái nhìn và bút pháp của Hồ Xuân Hương đôi chỗ có cái gì đó gần với Bùi Giáng, một nhà thơ hiện đại. Nhưng có thể nói như thế này chăng: thơ Hồ Xuân Hương ngả về bản năng, thơ Bùi Giáng thiên về bản nhiên. Đọc thơ Hồ Xuân Hương, ta chừng như thấy một người đàn bà Việt nghịch ngợm tai quái vục chiếc gáo dừa vào cái lu vô thức nhân loại, quậy chơi, và múc ra một hỗn hợp những Đất-Nước-Trời-Người, vung ra tung toé. Trong trò chơi này, Thiên Nhiên không còn là Mẹ Đất Cha Trời của Con Người, mà như một người đàn ông bị lôi kéo vào cuộc chơi kỳ thú của người bạn nữ Việt thông minh và tràn đầy sức sống. Bùi Giáng cũng nhúng tay vào ký ức ngàn xưa, nhưng Đất-Nước-Trời-Người của ông như là một giấc mơ. Một giấc mơ siêu thăng, trong đó Thiên Nhiên và Con Người cùng nương nhau tìm đến cái hạnh phúc uyên nguyên của Nhân loại trẻ thơ. Những trang viết mê sảng như bị « thơ làm » của Bùi Giáng là mê cung, trong khi những bài thơ của Hồ Xuân Hương là ván cờ gồm các nguyên tố Thiên - Địa - Nhân, trong đó Nhân là con Tướng. Tôi nghĩ, cái dữ dội của thơ Hồ Xuân Hương là sự tráo đổi vị trí đó. Nó đã thời sự hoá các cổ mẫu, như một kháng cự. Có lẽ, thuở xưa, con người nhìn ngắm cách thiên nhiên yêu nhau mà bắt chước, hay là thiên nhiên và con người cùng ngắm nhìn nhau, cùng bắt chước, Hồ Xuân Hương thì ngược lại, vì vậy thơ bà hiện đại và Tây. Viết đến phần này, tham luận của chúng tôi đã chuyển cách tiếp cận : không dõi theo những Cổ mẫu trong hàng loạt tác phẩm, chúng tôi đi vào tác giả. Nói như C. G. Jung, quả thực đây là những con người đi ngoài rìa, cả về phong cách cá nhân, lẫn cá tính sáng tạo, và biết bao giấy mực đã viết về họ, như những chân dung lạ, như những thế giới nghệ thuật độc đáo. Trong hành trình « Phăng mạch đêm, hương vỡ, ứa ngầm tinh » (Bích Khê, Mộng cầm ca), nghĩa là trên lối về với vô thức nhân loại, Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng, Nguyễn Huy Thiệp…, mỗi người có một cánh cửa khép mở riêng, để đến, và trở về, với những đoá hoa riêng. Tản Đà, người sung sướng luôn tự nhận mình là « đứa trẻ Tản Đà » trong các bài tựa cho các tác phẩm của mình : “Hai quyển Khối tình con này là những thơ ca từ khúc về bên tình của tác giả từ khi còn trẻ con” (Tản Đà nhi Quý Sửu văn tập) và “Hai quyển Khối tình này là những văn xuôi về bên tình, của tác giả từ đương độ trẻ con mới sắp ra người lớn”. Luôn muốn được chơi đùa trong cõi vô ưu lạc phúc, nên ông đã vào vườn huyền thoại, hái về đoá Thiên Thai. Thiên Thai, đó không chỉ là một khu vườn, như vườn Địa đàng. Đó là một cõi, một cõi riêng, còn được gọi là Bồng Lai, Đào Nguyên, …Có thể tên chung của nó là Cổ mẫu Tiên giới. Trong tâm thức người Việt, cõi Tiên khác với cõi Trời: “Sướng bằng tiên”/ “Làm trời”, một thế giới hạnh phúc, thảnh thơi, bạn bè / một thế giới có tôn ti, quyền lực. Tiên giới thường gắn với những sinh vật, không gian, thời gian đặc biệt, cụ thể: tiên nữ, tiên nga, ngọc nữ, hạc, oanh, đào, suối đào nguyên, mùa xuân, trường sinh bất lão… Trong ý nghĩa đó, Thiên Thai cũng là Thiên đàng, như xác định của Từ điển biểu tượng, « nơi luôn luôn được sống mà không phải nỗ lực », “là một khu vườn, cây cối tươi tốt và hoa quả sum suê. Các giống vật nơi đây sống tự do, con người hiểu tiếng nói của chúng…mùa xuân và ánh sáng bất tận, một ngày trên thiên đàng bằng ngàn ngày dưới trần…”[15]. Trước Tản Đà, có Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai, Từ Thức : dân gian đã mở lối rồi. Vậy thì có thể nói, cổ mẫu Thiên Thai đã đi từ huyền thoại sang thơ ca hiện đại, và Tản Đà là người tái sinh nó sớm nhất vào đầu thế kỷ XX, tạo cảm hứng cho biết bao nghệ sĩ, thuở ấy và sau đó, trong thơ, văn, nhạc, kịch, họa… Truyện kể thì chỉn chu, có đầu có đuôi : Lưu Thần, Nguyễn Triệu đi hái thuốc và lạc vào động Tiên, còn Từ Thức thì nhờ chất nghệ sĩ (hào hiệp và rong chơi) mà gặp. Tản Đà chỉ tái hiện một nửa câu chuyện, giây phút chia tay, và tìm lại ngẩn ngơ. Hình như cái làm nên sự ám ảnh bàng hoàng cho Người không là vẻ - huy - hoàng - của - Hạnh - Phúc - Thiên - Thai - đang- có, mà chính là vẻ - huy - hoàng - của - Hạnh - Phúc - Thiên - Thai - đã - mất. 14 câu thơ của Tống biệt đã tỉnh lược rất nhiều tình tiết - vì Tản Đà tin vào sức lan toả của cổ mẫu Tiên giới trong ký ức người Việt Nam - sức nén của bài thơ rất cao. Đặc biệt là thi nhân đã bạo tay tỉnh lược cả Tiên và Người, nhân vật chính của câu chuyện, cả bài thơ chỉ còn có lá đào, suối, oanh, đá, rêu, nước, huê, hạc, trời, đất, động, non, đường, trăng, vậy mà người đọc vẫn có một cảm giác trọn vẹn, nhọn sắc về một bước hụt của Người. Không, chính xác hơn là ba bước hụt : một lần là « Trời đất từ nay xa cách mãi», một lần ngơ ngác giữa quê nhà (hiểu ngầm theo truyền thuyết), và một lần tìm lại, ngơ ngẩn dưới ánh trăng suông. Vậy Thiên Thai trong văn chương Việt là biểu tượng của một sự viên mãn đã bị vuột mất, là hình ảnh của hoài vọng. Nhưng đó là hoài vọng sau khi con người vẫn đã được nếm trải đủ đầy và được tự do chọn lại ; trong khi huyền thoại ở miền Côtes d’Azur (Pháp) thì nói rằng, bị dụ dỗ vào Le pays de Nulle Part (Xứ - không - biết - nơi - nào), người ta cực kỳ hạnh phúc nhưng sẽ không bao giờ được trở lại với trần gian [16] Không chỉ tái sinh Thiên Thai, Tản Đà còn nối dài sức sống của huyền thoại qua nhiều bài thơ : Mỵ Châu Trọng Thuỷ, Muốn làm thằng Cuội, Thề Non Nước… Nếu trong Tống biệt, Tản Đà chỉ với một chữ thôi, chữ chơi, đã vĩnh cửu hoá vầng trăng tự tại, biểu tượng thế giới an nhiên của chốn thiên thai. Thì thơ Hàn Mặc Tử, tràn ngập Trăng, lai láng như nước và cần như hơi thở. Thói thường, cái gì gần quá người ta dễ quên: Nước và Khí trời mấy ai nghĩ đến, nhưng Hàn Mặc Tử ăn, ngủ, thở, buồn, vui giữa Trăng, mà vẫn còn muốn gọi to cái tên kỳ diệu ấy : Trăng ! Trăng ! Trăng ! Là Trăng, Trăng, Trăng, Trăng ! Câu thơ dài, chỉ lặp đi lặp lại mỗi một từ và ít nhiều dấu chấm phẩy, mà sao ám ảnh… Bởi đó chính là Trăng, một biểu tượng nghệ thuật lớn, hay bởi vì nó là tiếng gọi thao thiết của Hàn Mặc Tử, người thơ tài hoa ? Thật khó xác định, chỉ biết rằng với Trăng, Hàn Mặc Tử, trong run rủi của số phận, đã tưởng như rơi xuống đáy của bất hạnh, lại được đền bù. Linh giác của nhà thơ vốn như tơ, giờ thêm căn bệnh phong, lại hoá thành như điện, một thứ nhân điện nối kết với thiên linh, mà cửa ngõ là Trăng. Từ khi ra đời, thơ Hàn Mặc Tử đã làm mệt nhoài những ai lỡ vương vào nó. Không thích, người ta bảo đó là nhảm, lừa (bịp), điên giả tạo, vẩn đục. Thích, người ta bảo là kỳ dị, bí ẩn, phi thường… và tìm cách giải mã. Chế Lan Viên cho rằng :« Không phải ma thuật, kỹ thuật gì của óc đang lạm phát ngôn từ. Lòng có bị cắn đôi, đời có bị tan vỡ, tình có bị đứt đoạn, nghĩa là có một thảm sử gì làm trữ kim, làm đảm bảo, (NTTX nhấn mạnh) thì mới có thể phát ra những từ ấy». Đi tìm tư duy thơ Hàn Mặc Tử, Đỗ Lai Thuý kết luận « Hàn Mặc Tử là người đã xây dựng được cho thơ mình một mô hình. Đó là « tính trữ tình + tư duy tôn giáo + cá nhân hiện đại » [17] Vương Trí Nhàn nói đến « vẻ đẹp kỳ dị » của những « kích động tình cảm lên tới cùng cực, những mê man quyến rũ gần như mất trí » « sỗ sàng, sống sượng, thậm chí bệnh hoạn » « mê man trên đường đi tới cái hư vô, siêu hình », « lạ hoá ngay chính mình » và theo ông, những tìm tòi lúc đầu bị coi là phi lý, trừu tượng đó « đã có mầm mống từ lâu trong tư duy của nhân loại »[18] Chu Văn Sơn trong chuyên luận đầy cảm hứng của mình về Hàn Mặc Tử, đã lý giải thơ ông bằng khát vọng của cái tột cùng, qua bình diện : tác giả (cuộc đời, quan niệm, hành trình, đặc điểm) và tác phẩm (thi học của cái tột cùng), và cho đó là từ chí hướng « Nguyện suốt đời đi tìm sự lạ » của Hàn Mặc Tử[19]. Có thể nói, mỗi người một cách, nhưng các tác giả nói trên đều ghi nhận và cắt nghĩa thơ Hàn Mặc Tử bằng chính cá nhân nhà thơ : con người nhục thể (bệnh tật), con người tình cảm (thất bại trong tình yêu) đã dẫn đến con người tâm linh (khát vọng về cái tột cùng, tôn giáo- theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp). Bài viết này muốn tìm một cánh cửa khác để khám phá cội nguồn của cái dị kỳ và bí ẩn trong thơ Hàn Mặc Tử. Những câu hỏi nảy sinh từ đây: Ai làm văn chương mà không có khát vọng về cái tuyệt đối? Vậy thì, cái tuyệt đối mà Hàn Mặc Tử đi tìm là gì ? Nhờ đâu nhà thơ đạt đến nó ? Và đạt bằng cách thế ra sao ? Chỉ đặt Hàn Mặc Tử bên cạnh Bích Khê và Chế Lan Viên, chúng ta đã thấy họ cùng khởi điểm và khát vọng, nhưng đã rẽ về ba hướng khác nhau, và làm thành ba ngọn núi riêng, mọc trên cùng một phong thổ! Hàn Mặc Tử không cầm bút từ một quan niệm có sẵn. Chín năm sống với thơ ca là chín năm ông đi tìm: tìm thơ, tìm bạn, tìm mình, tìm lại khung trời đã mất. Ông đi tìm từ lúc tuổi mười lăm, tim non, ngực trẻ, tràn đầy nhiệt huyết ; đi tìm trong tuổi chớm đôi mươi rạo rực và khát cháy một tình yêu chưa bao giờ thoả ; đi tìm trong những dày vò và ám ảnh của bệnh tật và cái chết ; và cuối cùng đi chưa hết tuổi đôi mươi, xác thân gần với hư không, dường như ông đã tìm ra. Nhưng dùng từ « đi tìm », hình như cũng không đúng lắm với Hàn Mặc Tử, bởi nó thường làm ta nghĩ đến một hành động tràn đầy ý thức. Không. Thơ Hàn Mặc Tử nói với chúng ta, ý thức là có thực, và cần, nhưng không là tất cả. Thơ ông lắm khi mê, và lắm khi mơ… Xin đừng chỉ đi trên đại lộ ý thức mà đọc thơ Hàn. Trăng đã dẫn dắt nhà thơ đi thuở ấy và nay Trăng soi cho tôi đi theo vết chân chàng. Ngay từ Lệ Thanh thi tập, đêm đã là không gian quen thuộc của Hàn Mặc Tử (11/15 bài). Chàng trai trẻ thao thức trằn trọc vì nước non, vì hoa, vì cảnh, nhưng có lần, Trăng táo bạo len vào: Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối (Thức khuya) ; Trăng suồng sã và tai quái: Dì nguyệt trớ trêu lòng dạ thiểm (Gái ở chùa). Bà Nguyệt (chứ chưa phải là cô Trăng) từ dạo đó đã đi vào thơ Hàn Mặc Tử, và hình như chàng đã quen hơi bén tiếng…Những bài thơ đầu tay của chàng thiếu niên này sao mà già dặn. (Chẳng vậy mà Phan Bội Châu khen nức nở và xem Hàn Mặc Tử là tri kỷ !) Đó là cái già dặn của một lý trí trầm tư sớm về thế sự, trên một chất liệu nung già lửa : Thơ Đường. Gái quê, là thế giới của tình yêu trái cấm. Bắt đầu từ đôi mắt, chàng thơ từ xa ngắm nhìn Nàng (Gái quê). Biểu tượng của mùa xuân và sự sống, cái sinh thể ấy là môi, là má, là tóc, là mắt, thảy đều bình thường và cụ thể. Nhưng cái màu đỏ « tươi như máu » trên môi và «au au » trên má ấy mới lạ làm sao. Và rồi từ «ngây thơ và ước ao», chuyển sang khao khát. Một cái khát cần kêu lên (Tiếng vang), và chàng xin trăng giúp quên, và chàng xin mây làm dịu, và chỉ có núi vọng lời. Nhưng rồi cây, nắng, trăng, gió cùng nhau khiêu khích: «thuỳ dương/ nghiêng mình trước gió chiều lơi lả », « Hơi nắng dịu dàng đầy nũng nịu/ Sau rào khẽ liếm cặp môi tươi» (Nắng tươi) « Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi » (Bẽn lẽn). Nàng thì còn xa, và chàng thì mắc cỡ, nên nhục cảm tràn trong chiêm bao, trong thơ. Thiên nhiên là biểu tượng yêu, trong đó Trăng là người phụ nữ gợi tình, Nguyệt xưa đã sống lại : « Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm/Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe » (Bẽn lẽn). Bắt đầu một xúc tiếp chủ động và háo hức với Trăng : « Tôi thích len vào trong đám lau/ Núp chờ trăng xuống để quàng nhau/ Giả đò ân ái như năm ngoái » (Mơ), « Bóng Hằng trong chén nằm nghiêng/ Lả lơi, tắm mát, làm duyên gợi tình/ Có ai nuốt ánh trăng ngàn » (Uống trăng), « Mê trăng vàng là đâm mê trinh tiết » (Nắng vàng). Tình dù mạnh, hãy còn trinh nguyên, và trái xuân yêu vẫn ngọt. Nhưng từ đây, ta đã thấy một Hàn Mặc Tử bứt ra khỏi «lề thói tập đoàn», chữ của Chế Lan Viên. Vốn là « khách đa tình », xung năng thân xác trong chàng quá mạnh, trí tưởng tượng của chàng quá dồi dào, mà lòng yêu không thoả. Trăng như là người phụ nữ khai tâm cho Hàn Mặc Tử trong đường tình ái. Với Trăng, chàng được giải phóng năng lượng trong mình. Cái vô thức cá nhân đã lộ, nhưng hòa lẫn trong cảm giác và cảm xúc. Gái quê là thế giới của Lòng, nó chỉ làm cho người đọc truyền thống (lý trí) sượng sùng mà không làm họ rối trí. Bởi dù sao dục tình vẫn là cái quen thuộc của thế giới Người. Đến Đau thương, mới thực là mê cung. Cái mê cung này, mỗi khi vượt qua một chặng, nghỉ chân tỉnh thức, Hàn Mặc Tử vội vàng đặt tên, để hôm nay chúng ta không mất dấu. Hương thơm, nói rằng con đường đã từ Sắc chuyển sang Hương. « Hoa thì nín, Hương thì bay » (Sáng trăng). Ở đây tâm thế người thơ trở nên lắng nghiêm: «Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu». Người bớt ầm ĩ về yêu mà «nghe trời giải nghĩa yêu», cái huyền đã len vào, xoá nhoà những xác định thực : «Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ, Hư thực làm sao phân biệt được !» (Đà Lạt trăng mờ), « Ở đây sương khói mờ nhân ảnh » (Đây thôn Vĩ Dạ), « Những lời năn nỉ của hư vô (Huyền ảo). Từ đây, những chữ «làm thinh», «nín thinh» «không một tiếng gì», «nín lặng», «hơi thở nhẹ», «im lặng», xuất hiện bên cạnh «cổ độ », « huyền diệu », « tiên tri »... Cái huyền thể hiện qua Trăng : từ một sinh thể có vóc hình, tách bạch, rõ ràng, suồng sã, lả lơi, Trăng trở thành một nguồn hương dịu dàng, thơm tho, mỏng manh, phiếu diễu, biến hoá, là vàng, là ngọc, là rạng ngời, là vĩnh cửu…Trăng có mặt khắp nơi và gieo rắc tính Trăng cho Người: «Không gian dầy đặc toàn trăng cả/ Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng» ; Trăng lay động thiên khí: «Ánh trăng xanh động khí trời » (Mơ hoa). Ở đó Chàng thơ dạy Nàng học mơ: «Của lòng em rộn rã/ Khi mới học đòi mơ »(Sáng trăng); ở đó Trăng và Nước yêu nhau thinh lặng (Bắt chước). Với Hương thơm, Lòng đã chuyển sang Hồn: «Hồn xưa tự ấy không về nữa, Hồn anh theo dõi bóng em đi, Hồn anh sẽ nhập trong luồng gió/ Để nhắn hồn em đã tới nơi ». Cảm giác như những thôi thúc của xung năng thân xác đã mờ đi, nhường cho một ước muốn tâm linh. Chạm đến cái huyền, trong thi nhân bắt đầu xuất hiện một triết nhân : khái niệm Thời gian đến. Mới đôi mươi, tâm hồn ấy đã vượt qua hình sắc tìm đến khí hương, giờ lại muốn đi tìm «dấu đã chìm» của «hồn xưa» trong « thời xanh » mà chàng cho là « tráng lệ » và « thơm tho» ; ở đó « Trăng sao là bất diệt » (Thời gian). Hạt bụi đã mơ và ghen với cái vô thường ; không ngần ngại, người thơ « ném mình đi theo gió trăng » để tìm đến cái vô biên (Ghen). Trăng đã là « trăng tôi », nhưng không mang ý nghĩa chiếm hữu, mà như bè bạn, ruột rà : « Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi / Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi ». Cái Hồn ấy thường khẽ khàng, nhưng cũng có khi quá dào dạt, và lúc ấy Máu lại trở về : « Anh cắn lời thơ để máu trào/Mà máu tim anh vọt láng lai »-(Lưu luyến) ; « Máu đào đương hăng » (Chuỗi cười). Và Điên chớm hiện : «Anh điên anh nói như người dại » ; chàng gọi to Trăng và mê mải cùng thơ. Mật đắng, là nếm trải đớn đau thực tại. Thân xác, vừa mới thoát ra khỏi chút ít, lại trở thành gánh nặng. Tình yêu vừa có, lại mất. Bệnh tật và tha nhân cùng dày vò. Hồn muốn bay lên nhưng Lòng và Xác trì xuống. Trí, Lòng, Hồn, Xác, thảy đều quằn quại trong một không gian u ám. Lệ đã chảy, tiếng khóc và cơn choáng: «Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu, Trời hỡi bao giờ tôi chết đi/ Tôi vẫn còn đây hay ở đâu/ Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu» (Những giọt lệ) ; «Mây về hằng hà sa số lệ, Thu héo nấc thành những tiếng khô » (Cuối thu) ; «Khóc cười nức nở nơi đầu miệng» (Sầu vạn cổ) ; «Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan/ Nhớ lắm lúc như si như dại (Muôn năm sầu thảm). Mặt trời có mặt, Máu không còn là sức sống mà là sự phân rã, đau thương, là điềm gở : «Bao giờ mặt nhật tan thành máu, Sao bông phượng nở trong màu huyết » (Những giọt lệ), «Và ai gánh máu đi trên tuyết » (Cuối thu). Trăng có lúc trở thành xa xôi và yếu ớt « Ai thả chim bay đến Quảng Hàn » (Cuối thu), « Lạnh quá ánh trăng không sáng mấy » (Thao thức). Trăng trở lại là tha nhân, cách biệt « Bỗng đêm nay trước cửa bóng trăng quỳ/ Trăng choáng váng với hoa tàn cùng ngã », « Hãy nhập hồn em trong bóng nguyệt » (Hãy nhập hồn em), « Cố làm ngơ không biết đến thời gian/ Đến bông hoa tàn tạ với trăng ngàn » (Đôi ta). Lúc này, trong cảm giác mất mát hụt hẫng, Nàng là tất cả, tình ái là hơn hết. Và mạch thơ lại chập chờn trong trong một ý niệm mới về Mộng, về Hương, về Xuân, về Mật, về Thơ. Bài Đôi ta và Dấu tích rất lạ. Là khoảnh khắc tình mơ say, mê sảng, cuồng điên trong âm hưởng nhộn nhạo của vũ trụ: « Lúc ấy sóng triều rên rỉ chưa bưa/ Cứ nhắm mắt yêu nhau như chết/ Cứ sảng sốt, tê mê và rũ liệt/ Đừng nghe chi âm hưởng địa cầu đang/ Vỡ toang ra từng mảnh, cả không gian/ Cả thời gian, từ tạo thiên lập địa/ Đều trộn trạo, điều hoà và xí xoá/ Thành hư không như tình ái đôi ta » (Đôi ta).Là trạng thái suy luận tỉnh táo vô cảm của một người tận cùng khủng hoảng, sắp chìm vào cơn điên, như ráng trời trước cơn bão lớn: « Trăng dầu sáng còn thua đôi mắt ngọc/ Trời tuy xa lòng thiếu nữ xa hơn, Vườn chói lọi thì Tình yêu phải ngợp/Tiết trinh còn, em phúc hậu hơn thơ ! Lòng thi sĩ chứa đầy trang vĩnh biệt/ Mộng có thành là mộng ở đầu hôm/ Hương không ngọt, xuân sớm lẽ nào thơm/ Mật không đắng ân tình không thú vị./ Không rên siết là thơ vô nghĩa lý.. » (Dấu tích). Những dư ba cuối trong Mật đắng đã báo hiệu về Máu cuồng và hồn điên, thế giới của một cái tôi lảo đảo trong cơn xung đột của Hồn. Trong khi mải mê theo Trăng, đi đến tận cùng những cảm giác Người của mình, Hàn Mặc Tử đã gặp Hồn Nhân loại. Con đường ấy quanh co và nhọc nhằn. Ngổn ngang cơ man là câu hỏi về thơ, về tình yêu, về hồn, về vạn cổ. Có thể thấy nhà thơ luôn dao động giữa hai hấp lực: một vô thức cá nhân đầy ẩn ức, và tiếng gọi sâu thẳm của vô thức tập thể. Biểu hiện cụ thể là sự giằng co giữa cái hiện tại và quá khứ, giữa dục lạc và thăng hoa, giữa thực và mộng. Cụm thơ ba bài Hồn là ai, Biển hồn ta và Sáng láng, rất quan trọng. Chúng cho thấy có hai cái Hồn, gặp nhau tranh chấp, giằng co, rồi hoà hợp. « Hồn là ai ? Là ai ? Tôi chẳng biết, /Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi./Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười/ Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng », « Tôi chết giả và no nê vô hạn /Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng ». Hồn là ai? câu hỏi này trở lại nhiều lần, trong thơ Hàn Mặc Tử, và dù cảm nhận rõ ràng: « Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến !Thịt da tôi sượng sần và tê điếng », « Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện/ Trong lòng và đang tắm máu sông Ta muốn vớt ai ra ngoài sóng điện/ Để nhìn xem sắc mặt với làn da », nhưng mãi mãi Hàn Mặc Tử vẫn không trả lời được, có lúc chàng tưởng như đó là ảo ảnh, và tự nhạo trách mình : « Ôi ngông cuồng ! Ôi rồ dại, rồ dại/ Ta đi thuyền trên mặt nước lòng ta !Ôi ngông cuồng ! Ôi rồ dại, rồ dại/ Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta ! » (Biển hồn ta). Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm/ Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực/ Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức. Rồi bay lên cho tới một hành tinh… Trong những câu thơ trên, hai chúng tôi, Hồn ai và Hồn tôi, phải chăng là biểu tượng của vô thức tập thể và vô thức cá nhân ? cả hai gặp nhau, giao tranh, thấm mình vào trăng và cùng bay về «một hành tinh» …cố xứ. Biển hồn ta là khoảnh khắc thứ hai, khi vô thức cá nhân (một cái hồn đã từng say sưa với trần gian hiện tại, đã nhận lấy trong thâm tâm «giọng hờn đau trăm vạn nỗi niềm riêng») dạt dào hoà vào cùng vô thức tập thể, (cái hồn chung nguyên thuỷ), bằng các trạng thái « tuôn ra làm biển cả », «tràn lan ngoài xứ lạ», «dâng cao tới chân trời», «mửa ra từng búng huyết». Theo đó, biểu hiện của Hồn ta là Máu huyết, Sóng Lòng, biểu hiện của Hồn ai là Xứ lạ, Chân trời. Sáng láng, khoảnh khắc thứ ba, hồn thanh tịnh. Người thơ bắt lại tương giao với Nàng. Anh với Em nơi đây không còn hằn cay đắng, không còn nặng tục luỵ. Bởi vì «Anh đã thoát hồn anh ngoài xác thịt/ Để chập chờn trong ánh sáng mông lung», và vì tình ta đã là tình thiêng, nên hồn em cũng đi vào huyền diệu «Chúng ta biến, em ơi, thành thanh khí». Người sáng láng, Tình sáng láng và Trăng sáng láng. Nhưng hành trình tìm về còn nhọc nhằn. Khi nguồn ấm của vô thức nhân loại mờ đi, Hồn lại tựa vào Trăng. Một loạt bài thơ về Trăng, mang lại những mảnh Trăng, lấp lánh đất và trời, hiện tại và quá khứ, những khuôn mặt Trăng biến ảo và dị kỳ : Ngủ với trăng, Say trăng, Rượt trăng, Trăng tự tử, Chơi trên trăng, Một miệng trăng. Những bài thơ này điệu thơ khác lạ. Tất cả đều là thơ tự do, hoàn toàn ngoài vòng cương toả, một điều ít thấy trước đây với Hàn Mặc Tử. Câu thơ lửng lơ, âm thơ nhẹ, hầu hết xưng ta, giọng đả đớt, rất dễ thương. Ngủ với trăng có hai phần, phần đầu nhìn lại Cái Ta đã qua, cái ta phân tán, cái ta đánh mất ; phần hai là cái ta thu về và chỉ dành nó cho Trăng thôi. Trong âm thanh và sắc màu vàng óng như hào quang của Trăng, người và thiên nhiên say ngủ: « Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ/ Đầy mình lốn đốm những hào quang» Với Say trăng, Trăng, Nước, Người nhoà trong nhau, một hôn phối lạ lùng. Vũng trăng, chính là vũng hạnh phúc, giúp thoát khỏi Hồn ta nhỏ bé («Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy/ Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra ») Và trong Rượt trăng, Trăng dẫn lối cho đôi tình nhân vào rừng hoang, vào vũ trụ, vào thơ, họ là lứa đôi cõi mộng, cõi mơ : «Chúng tôi là người của ước mơ/Không xác thịt chỉ có linh hồn đang mộng», nhưng trớ trêu thay, Trăng lại biến thành người trần: « trăng ghen, trăng ngã, trăng rụng xuống mình hai tôi ». Rồi Trăng tự tử : « Miệng giếng hả ra / Nuốt ực bao la », Ta là người cứu vớt : « Nhảy ùm xuống giếng vớt xác trăng lên ». Rồi Trăng trở lại là Vườn tiên (Chơi trên trăng), là Hương « Ta ngậm hương trăng đầy lỗ miệng » (Một miệng trăng). Máu và Hồn ta sẽ chỉ còn hiện diện trong thoáng chốc, để chuyển vào Lá Tinh hoa, hoa Phước Lộc, vào đóa Trăng Vô lượng (Rướm máu, Trút linh hồn) : « như bông trăng nở, bông trăng nở/ Những cánh bông thơ trắng ngạt ngào». Trong hành trình vào xuân mộng, Người sẽ mang theo mùi hương cũ, màu nắng cũ, trang sách cũ, niềm thương cũ để dâng tặng Đất trời xưa. Mạch lòng đã chuyển : « Sáng vô cùng, những phút giây thanh thoát » (Ngoài vũ trụ) để dẫn vào Xuân như ý. Với Xuân như ý, vô thức cá nhân đã hoà vào vô thức uyên nguyên của nhân loại. Bằng trực giác, Hoài Thanh đã có những cảm nhận thật tinh về tập thơ này : «Mùa xuân Hàn Mặc Tử nói đây có khi ở đâu hồi trời đất mới dựng nên… », «Thơ chẳng những để ca tụng Thượng đế mà cũng để nối người ta với Thượng đế…. » « Người đã tìm lại những rung cảm mạnh mẽ cuả các tín đồ đời Thượng cổ», «chỉ những tình cảm có thể diễn ra thành thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể»[20]. Tương thông đã nối kết, khúc hoan ca bừng lên: « Xuân ra đời…/ Điềm ngọc ấm như ngà, /Thơ có tuổi và chiêm bao có tích » (Ra đời) ; «Trăng và trăng cho thấm hết mọi nơi/ Trăng tờ mờ một trời mơ sớm nở/Mùa rộng rãi, trái trăng chao vô hạn» (Say Thơ) ; Đường trăng xa, ánh sáng tuyệt vời bay.(Đêm xuân cầu nguyện) ; « Ta há miệng cho nguồn thơm trào vọt/Đường thơ bay sáng láng như sao sa » ; « Có người trai mới in như ngọc/ Gió căng hơi và nhạc lên ngàn ». Thượng Thanh Khí, Cẩm châu duyên, Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội : là các Cảnh sắc khác nhau của Tiên giới. «Huyền bí mà không thiêng liêng» (Hoài Thanh), nơi đó vẫn có khát vọng lứa đôi. Nàng của thi nhân là Xuân, là Trăng (Cưới xuân, Ưng trăng, Vọc Trăng), là Thương Thương, người đàn bà đầu tiên của Hàn Mặc Tử, trong kiếp trước(Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội). Trong thời điểm này, không gian thơ cũng trở nên chật chội với Hàn Mặc Tử, chàng đáp mình vào văn xuôi. Những phân tích trên đây sẽ được sáng tỏ thêm khi ta đọc phần văn xuôi của Hàn Mặc Tử. Nếu thơ ca của ông là mê cung thì văn xuôi là tỉnh giới. Ông đã thốt lên rất rõ rành những khát khao và trạng thái mà mình đã trải qua trong khi sáng tạo: «Thi sĩ đã ngất ngư trong khi nuốt hết khí vị thanh tao của mùa xuân ấm, của tất cả những lương thực ngọt ngào mỹ vị làm bằng hương báu, làm bằng nhạc thiêng, làm bằng rựou say, làm bằng châu lệ. Song le miệng lưỡi của thi sĩ vẫn còn nóng ran, vẫn còn khát khao thèm thuồng những vật lạ muôn đời (…) Thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt» «Nếu để thơ trơ trọi một mình, thơ sẽ lạt lẽo vô duyên, không có phong vị gì nữa. (..) Văn thơ không phải bởi không mà có (…) Thơ là một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ứơc ao trở lại trời, nơi đã sống ngàn kiếp vô thỉ vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt »[21]. Tôi làm thơ ? – Nghĩa là tôi yếu đuối quá ! Tôi bị cám dỗ (…) cô sẽ lạc, vì vườn thơ tôi rộng rinh không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh »; « Những phút sáng láng như hôm nay, soi sáng linh hồn tôi và giải thoát cái « ta » của tôi ra khỏi nơi giam cầm của xác thịt (...) Em muốn bay thẳng lên trời để tìm ánh sáng muôn năm thôi » ; « Như có ma lực vô song xô tôi đến bến bờ huyền diệu (…) đang khi trăng sao mây khói dâng cao hoà hợp thành khí hạo nhiên, tôi không thở bằng phổi nữa, tôi thở bằng hơi thở tinh sạch của hồn tôi ». « Tôi hứng lấy và nhận lấy ở trong hồn muôn ý tứ và muôn thinh sắc của trời mộng xa xưa (…) Từ sự thực đi tới bào ảnh, từ bào ảnh đi tới huyền diệu, và từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Mông lung đã trùm lên sự vật và cõi thực, bị ánh sáng chiêm bao vây riết.. (…) « Bây giờ tôi là chủ quan rồi, vì tôi vừa thoát ly ra khỏi cực lạc giới toàn thân tôi rung động như một đường tơ » « Những điều phải trái ấy dầu thế nào, cũng có liên lạc, mật thiết và thông cảm với nhau» Hôm qua và hôm nay. «Chân lý ngàn năm»[22]. Và như vậy, có thể nhận ra, quá trình sáng tạo của Hàn Mặc Tử là sự di chuyển không ngừng từ bờ nọ sang bờ kia của Hồn mình và Hồn nhân loại: Văn xuôi, Lệ Thanh Thi tập, Gái quê, chủ yếu là neo ở bờ ý thức, Đau thương, Xuân như ý phần lớn lạc vào nẻo sương mù vô thức, trong đó có cái cá nhân và cái cộng đồng. Bằng vô thức cá nhân, Hàn Mặc Tử chỉ có thể làm nên cái kỳ dị và kỳ lạ. Chạm đến vô thức cộng đồng, thơ ca ông mới có được cái bến bờ huyền diệu rộng rinh và hồn thơ ông mới sống được ngàn kiếp vô thỉ vô chung. Trên cái nhìn này, ta cũng sẽ hiểu vì sao trong thơ Hàn Mặc Tử đức tin Ky tô giáo lại chan hoà cùng Phật và Lão giáo. Ta cũng sẽ cắt nghĩa được những lời kỳ dị, những cảm xúc lạ thường, những hành động không bình thường, cái mà trong mỹ học, người ta gọi là Grotesque - Cái nghịch dị, trong thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử. Đó là biểu hiện và hành xử thái quá của con người thuở đầu tiên. Cổ mẫu trong thơ Hàn Mặc Tử, như ta đã thấy, không chỉ là Trăng, nhưng quả thật, Trăng là biểu tượng chủ đạo. Đã đắm mình trong thơ ông, từng bước theo Trăng, giờ thoát ra, nhìn lại, ta lạnh người khi nhận ra cái minh triết của Người thơ đã trùng khít với cái minh triết của Nhân loại. Trăng đã đánh thức ở ông tất cả, như người ta đúc kết, Trăng làm thức dậy « cái siêu thức, trí tưởng tượng, tâm thần, mộng mơ, các xung lực bản năng . Đấy là phần nguyên thuỷ đang ngủ trong ta, còn sống động trong cái tưởng tượng, nó nhào nặn cảm xúc sâu xa của chúng ta (…), buông mình theo cơn cuồng say của bản năng, thả mình vào cơn lên đồng của một run rẩy sống, nó cuốn tâm hồn thất thường, lang bạt, phóng đãng, ngông cuồng viễn vông của mình đi, phó mặc cho phiêu lưu.. »[23]. Cuối cùng, có thể nói, cái tuyệt đối mà Hàn Mặc Tử đi tìm là Cõi Mộng Ngàn Xưa, nói như Hàn Mặc Tử, hay là Thiên đường đã mất, tên một tuyệt tác của John Milton, từ thế kỷ 17, đã trở thành một cụm từ quen thuộc mang tính biểu tượng ở Phương Tây. Khác với Thiên Thai trong huyền thoại và trong thơ Tản Đà, Thiên đường của Hàn Mặc Tử không phải là địa điểm mà là một trạng thái của tâm linh: « cái khoái lạc trinh trắng”, «cái hạnh phúc sáng láng » « cái vô ưu miên viễn », « cái an nhiên tự tại » của một con người đã hợp thành nhất thể với nguồn sống uyên nguyên của cộng đồng và vũ trụ. Là đứa con tài hoa của văn hoá phương Đông và phương Tây, Hàn Mặc Tử đã có một tư chất khác thường : năng lượng tâm linh của ông quá lớn, luôn luôn sôi trào ; khi được khai mở và khai mở đúng (nhờ Thơ và Trăng), nó đã bắt nhịp vào năng lượng tâm linh của nhân loại và vũ trụ. C.G. Jung đã gọi đó là cuộc gặp gỡ kỳ diệu giữa vô thức cá nhân và vô thức tập thể. Hiện tượng này cũng cho phép ta nhận ra ranh giới của nhân tài và thiên tài. Một bên bộc lộ hết sức mạnh của ý thức sáng tỏ để làm được những sản phẩm mẫu mực của thế giới người, một bên khai mở tối đa các xung năng chìm nổi trong mình, nối kết với xung năng của cộng đồng, của vũ trụ, để sáng tạo những điều kỳ ảo. (còn nữa)
-
(tiếp) 2. Những điều C.G. Jung xác lập trên đây cho phép ta nghĩ rằng nền văn học của một dân tộc nào cũng dung chứa trong lòng nó ít nhiều cổ mẫu. Văn học Việt Nam không là ngoại lệ, thậm chí ở đây có thể còn nguyên một kho tàng cổ mẫu quý giá mà giới nghiên cứu chưa chạm đến bao nhiêu. Đọc lại tác phẩm văn học dân gian và văn học thành văn Việt Nam, người viết ghi nhận trong văn học Việt Nam chi chít những cổ mẫu, trong đó có những cổ mẫu chung của nhân loại và những cổ mẫu riêng của cộng đồng người Việt, thoát thai từ huyền thoại. Dựa vào các tiêu chí trội bật, linh hoạt, lan toả cùng với tần số xuất hiện, bài viết chọn và tập trung khảo sát một số cổ mẫu quan trọng, xuyên qua đơn vị tác phẩm, từ văn học dân gian đến văn học thành văn, không phân biệt thể loại. Cổ mẫu Đất và Nước Tại sao lại không phải Đất và Trời? Những tài liệu về triết học và văn hoá học ở Việt Nam, khi đề cập đến vũ trụ quan người Việt nói riêng (và phương Đông nói chung) thường nêu ra cặp phạm trù đối lập đầu tiên là Đất và Trời, tương ứng với Mẹ và Cha, Âm và Dương. Tuy nhiên, trong khi đọc tác phẩm, người viết nhận thấy dù cổ mẫu Trời đã xuất hiện rất sớm trong huyền thoại (Thần Trụ trời, Bánh chưng bánh dầy..) và tiếp tục lưu dấu trong văn chương (Tản Đà, Hầu trời, Tiễn Ông Công lên Trời…), nhưng trong tương tranh với Nước để được sánh đôi cùng Đất, cổ mẫu Trời đã có phần lép vế, dấu ấn của nó nhoè đi, và cặp cổ mẫu văn chương Đất Nước trội lên, khi xoắn xuýt, khi tạm rời, làm nên ám ảnh: Con Rồng cháu Tiên, Chử Đồng Tử, Trương Chi, Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Mỵ Châu Trọng Thuỷ, Thiếu phụ Nam Xương, Thơ Hồ Xuân Hương, Thơ Tản Đà, Thơ Bùi Giáng, Truyện Nguyễn Huy Thiệp… Có thể thấy, cổ mẫu Đất và cổ mẫu Nước trong tác phẩm văn chương Việt Nam có những nét lớn, gần như trùng khít với cổ mẫu Đất và Nước trong nhiều tác phẩm văn chương thế giới. Điều ấy cũng dễ hiểu, bởi con người từ lâu đã kịp có những ghi nhận mang tính trực quan về đặc điểm vật chất của đất và nước. Đất: cứng cáp, đục thô, ổn định, rộng rãi, ngập tràn cây cối, nuôi sống muôn loài, đất như người Mẹ có sức sản sinh và tái sinh, bền bỉ trong một nhịp điệu âm thầm và bao dung ; Nước : mềm mại, trong trẻo, tinh khiết, luôn chuyển động, biến hoá, và xuyên thấm, là nguồn sống của vũ trụ. Cả hai đều là khởi đầu của mọi cái khởi đầu, vì vậy cảm giác của con người về Đất cũng gắn liền với cảm giác về Nước, trong khi đó Trời vẫn là một cái gì trừu tượng. Sử thi Mường có tên Đẻ đất đẻ nước với nhân vật Mụ Dạ Dần chẳng phải đã nói với chúng ta rất sớm về cặp đôi cổ mẫu Đất và Nước, bên cạnh cổ mẫu cây thuỷ tổ (cây Si) đó sao ? Vốn bao la, và đa dạng, Đất và Nước mang trong lòng nó những hình thái khác nhau : núi non, hang vực, gò, đống, rừng, vườn… ; biển, sông, ngòi, hồ, đầm, suối, mưa, sương…và mỗi hình thái này đến lượt nó, lại có khả năng trở thành những biểu tượng và cổ mẫu văn chương mới. Những cổ mẫu con này vừa dung chứa những nét chung của cổ mẫu mẹ Đất, mẹ Nước- đặc biệt là tính cố định, luân chuyển và tính sinh sôi- vừa hình thành những nét riêng. Lại có những cặp cổ mẫu sóng đôi mới : Non Nước, Non Sông… Nhưng rồi huyền thoại Con Rồng cháu Tiên đã bắt đầu nói lên sự phân ly giữa Đất và Nước, giữa Núi và Biển, qua hình ảnh «một người về đầu non, một người về vực sâu» (Trịnh Công Sơn) của đôi uyên ương Tiên Rồng, thủy tổ của dân tộc Việt. Bởi nhân vật Âu Cơ – « người ở trên cạn » cũng chính là biểu tượng gắn liền với Đất, người mẹ vĩ đại đã hoài thai trăm trứng, đã nuôi dưỡng trọn vẹn trăm con, đã dũng cảm tách lìa người đàn ông và năm mươi con của mình, mà vẫn vững vàng tạo nên cơ nghiệp cho đàn con còn lại. Còn Lạc Long Quân – «người ở dưới nước», đưa năm mươi con về với Biển quê hương và hút bóng. Cuộc phân ly này, theo như mạch chuyện huyền thoại, tưởng như một chọn lựa chủ động và bình thản. Kỳ thực, dường như từ đó trở đi, trong văn chương người Việt, Núi và Biển ngàn trùng cách biệt. Đến Sơn Tinh Thuỷ Tinh - một câu truyện mà nhiều người cho là huyền thoại về lụt, hay huyền thoại về cuộc chiến giành đàn bà - Biển trở thành biểu tượng của kẻ đến sau, thất bại và không nguôi cay đắng, chỉ vì sự thiên vị của con người (Vua Hùng thách cưới « voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao »). Trong nỗi đau của mình qua nhân vật Thuỷ Tinh, Biển không còn trong mình cái tinh thần của Mẹ Nước trước đây : là mạch sống của Đất. Huyền thoại Sơn Tinh Thuỷ Tinh nói với chúng ta rằng Biển đã ly khai, và trở thành biểu tượng của kẻ phá hoại không mệt mỏi mảnh đất loài người. Nếu với Thuỷ Tinh, diễn biến câu chuyện cho phép cổ mẫu Biển mang hai biểu tượng : kẻ thất bại và kẻ phá hoại, thì với Sơn Tinh, trí tuệ người xưa đã hai lần đánh lận với lẽ thường, một là luật chơi của người, hai là luật chơi của tự nhiên, để Sơn Tinh trở thành vừa là biểu tượng của kẻ thắng, vừa là hình ảnh của người có khả năng làm điều phi thường. Qua hình tượng Sơn Tinh, Núi đã khác với yếu tính của Đất Mẹ, có thể luân chuyển và biến đổi («Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi núi mọc cao lên bấy nhiêu» Sơn tinh Thuỷ Tinh, huyền thoại ; «Vung tay niệm chú. Núi từng dải,/ Nhà lớn, đồi con lổm ngổm bò/ Chạy mưa»- Nguyễn Nhược Pháp, Sơn Tinh Thuỷ Tinh).Nhưng dù là kẻ phá hoại, Biển vẫn có mặt thường xuyên với Đất và Người dân Việt «Từ đó không năm nào Thuỷ Tinh không làm mưa, làm bão dâng nước lên đánh Sơn Tinh, gây nên lụt lội khắp vùng đồng bằng và trung du nước ta». Từ truyền thuyết Mỵ Châu- Trọng Thuỷ trở đi, cổ mẫu Biển gần như khuất dạng trong văn chương Việt Nam. Có lạ không, khi dải đất hình chữ S nằm duỗi mình theo biển ? Phải chăng dấu ấn cuối cùng đậm sắc trong ký ức người Việt cổ về Biển vừa là biểu tượng về bước đường cùng của người anh hùng, vừa là chứng nhân tàn nhẫn của ba bi kịch lồng ghép vào nhau: bi kịch của một người lãnh đạo cộng đồng hiếu hoà và tự mãn (An Dương Vương), bi kịch của một người phụ nữ thuận thảo với cha, hết lòng với chồng (Mỵ Châu), bi kịch của một người đàn ông vừa phải tròn phận trung hiếu, vừa phải giữ nghĩa phu thê (Trọng Thuỷ). Biển, như vậy là một kỷ niệm đớn đau và nhục nhã mà người Việt cần phải quên đi, dù ánh sáng của trái tim đã mách bảo cho người xưa một liệu pháp hoá giải bi kịch, vào cuối truyện: ngọc - hồn Mỵ Châu ở biển Đông rửa giếng Trọng Thủy lại trở nên đẹp đẽ bội phần. Nhưng như vậy liệu có là suy diễn quá không ? Có người nói rằng văn chương Trung Quốc cũng không mặn mà với Biển: «Thi sĩ Phương Đông không ưa tả biển, không biết tả biển, nhưng tả cảnh thanh phong minh nguyệt thì thật là thần bút »[12]. Và những năm Bắc thuộc dài dằng dặc đã xua đi cái biểu tượng lẽ ra rất là gần gũi đó trong vô thức người Việt. Trong giấc mơ của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Tản Đà… đặc biệt là Hồ Xuân Hương (với những bài thơ mà Đỗ Đức Hiểu khi đọc đã phải kêu lên «rất nhiều nước, sao lắm nước thế») - những con người tràn đầy khát vọng tự do, thấm thía cái chật hẹp ngột ngạt của không gian văn hoá Việt Nam thuở ấy- vẫn chưa có chỗ dành cho Biển. Cái hình ảnh «Buồn trông cửa bể chiều hôm/ Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa ? Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh/Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi» vẫn là một điểm xuyết quá nhạt, trong khi sông Tiền Đường đã là một biểu tượng quan trọng. Mãi sang thế kỷ XX, văn hoá phương Tây đã đánh thức ít nhiều cảm quan về Biển trong những nhà văn Việt Nam hiện đại. Bùi Giáng tự giới thiệu khuôn mặt thơ của mình: «Hỏi tên, rằng: Biển-Dâu-Ngàn / Hỏi quê, rằng “Xứ Mơ Màng”, đã quên”, Biển quả thật là một môtíp bàng bạc lai láng trong thơ Bùi Giáng, nhưng khe, suối, lạch với ông lại giàu sức gợi hơn. Chỉ đến Nguyễn Huy Thiệp, Biển mới được nói to lên, bồi hồi, thôi thúc trong Chương, chàng trai trẻ đồng bằng Bắc Bộ: «Nàng là ai? Con gái thuỷ thần? Nàng ở đâu? Con gái thuỷ thần?» «Trước mặt tôi là giòng sông đang thao thiết chảy. Sông chảy ra biển. Biển rộng vô cùng. Tôi chưa biết biển… mà tôi sống nửa cuộc đời rồi đấy… Thời gian cũng thao thiết trôi. Chỉ ít năm nữa đến năm 2000. Tôi đứng lên, đi về nhà. Ngày mai tôi đi ra biển. Ngoài biển không có thuỷ thần » (Con gái thuỷ thần). Giấc mơ Biển trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp là giấc mơ vượt thoát khỏi không gian tâm tưởng và xã hội, quán tính, tù đọng, đã tơi tả những lớp son tô vẽ (Mẹ Cả - Gianna Đoàn Thị Phượng - Cô Phượng - khúc gỗ mục của Lão già Đô Thi), đã luôn ràng buộc con người bằng những hệ luỵ nhỏ nhoi, vụn mảnh (Phượng kế toán và Phượng con ông trùm đạo), để tìm đến một cái gì toàn vẹn và mới mẻ: «Con thuồng luồng nín hơi bơi đi / Tránh những bến quen ê chề / Này bọn cá mương, cá ngao / Mày có bao giờ mơ về đại dương». Dù thế nào, cũng nhận ra rằng trong văn chương Việt Nam, Biển đã không tạo thành một cảm hứng nghệ thuật lớn và liên tục. Dân tộc Việt phần lớn đã quay lưng lại Biển. Phải chăng bởi vì người Việt thoáng nhận ra, từ bản chất, Biển luôn ở trạng thái chuyển động mạnh, là sự «quá độ giữa các khả năng còn phi hình và các thực tại đã hiện hình, một tình thế nước đôi, bấp bênh, hồ nghi»[13] nên e ngại ? Bên cạnh đó, quan niệm « Nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thuỷ » thoát thai từ Trung Quốc, có lẽ ít nhiều cũng thuyết phục trí thức Việt Nam, vốn chọn chữ Nhân làm đầu. Bên cạnh cổ mẫu Biển, những người anh em của nó có phần được ưu ái hơn, đặc biệt là Sông, Đầm, Giếng. Có thể nói, cổ mẫu Sông gần như chiếm lĩnh trang viết và khái niệm non sông gần như bình đẳng với khái niệm đất nước và non nước về ý nghĩa. Sông để lại dấu ấn đậm trong tâm thức người Việt đến mức có khi nó thay thế cả Biển trong điển cố «bể dâu» («Thương hải biến vi tang điền»), để nói lên cảm thức về sự biến dịch (Sông Lấp của Trần Kế Xương), mà lại rất gợi, vì đã bước ra ngoài thế giới công thức, là sự khắc phục điển phạm, vốn đã mòn nhẵn. Con sông đầu tiên nào vắt ngang huyền thoại , làm thành cổ mẫu Sông đầu tiên? Phải chăng đó là Sông Khàn-bến Khạn (KHÔÔNG KHAN-PỆN KHẠN), trong huyền tích Mường mà Từ Chi đã phân tích, mải mê và hứng thú ? Nếu đúng vậy thì cổ mẫu Sông nguyên khởi của mảnh đất này đã là chị em sinh đôi của nhiều cổ mẫu Sông của các dân tộc khác. Đó là biểu tượng về một lằn ranh chia cách, làm thành hai thế giới, là một trở ngại mà con người phải vượt qua: Trời và Đất, dương gian và địa phủ. Bước sang bờ kia là một cuộc đời khác. Gắn liền với sông suối là bến bờ, là con đò, là chiếc cầu. Lại có biểu tượng Bến Mê, cầu Nại Hà…Lại có những khái niệm Hoàng tuyền, Suối vàng, sang ngang… Khi cuộc sống xã hội chớm hình thành, phận người đã hiện, Sông là hình ảnh bên cạnh người, dành cho người. Sông trong Chử Đồng Tử là biểu tượng của người chứng ân cần, gần như ông Tơ bà Nguyệt, run rủi cho chàng trai nghèo mồ côi Chử Đồng Tử gặp được người con gái lá ngọc cành vàng Tiên Dung. Sông trong thiên diễm tình này hiện lên với ba khuôn mặt : Với dòng nước – cái chính, Sông ở đây là nơi kiếm sống và ẩn thân của Chử Đồng Tử, là chốn rong chơi ngoạn du hồn nhiên của Tiên Dung; Là bãi sông - cái ngoài rìa, Sông là điểm hạnh ngộ trong tình huống vừa oái oăm vừa kỳ ảo của đôi bạn trẻ. Điều đáng nói là, sau khi chọn nhận nhau, đôi uyên ương vượt chuẩn này đã không dừng lại với Sông mà tìm đến vùng đồng lầy hẻo lánh, để tránh sự truy tìm của vua cha. Cổ mẫu Đầm xuất hiện, như một phép lạ: Đầm Dạ Trạch. Phải chăng chính thời khắc này, ở nơi đây đã có sự hội tụ của ba yếu tố: Thiên (thời - chiếc gậy và cái nón lá của vị tiên) Địa (lợi - cái đầm) Nhân (hoà - tình yêu của đôi trẻ), nguồn gốc của cường thịnh, cho Chử Đồng Tử và Tiên Dung làm nên việc lớn, trong một đêm, nơi đầm lầy ẩm ướt hoang vu trở thành làng mạc đông vui, sung túc. Đây là điểm khác nhau giữa Á và Âu trong cách nhìn về biểu tượng Đầm. Và bởi là hình ảnh của cái phi thường, đã đạt đến độ viên mãn, cũng như Thánh Gióng, vợ chồng Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay về trời. Chỉ riêng môtíp bay về trời, như một kết thúc có hậu này, cũng mang tính đa nghĩa, mời gọi ta phán đoán. Theo cách nói thông thường, từ triết lý nhà Phật, Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã có duyên với nhau, («Có phải duyên nhau thì thắm lại» - Hồ Xuân Hương). Còn Trương Chi - Mỵ Nương là biểu tượng của sự lệch pha trong tình yêu, bi kịch của ngộ nhận. Mỵ Nương là hình ảnh nhân vật nữ tương tư đầu tiên của Việt Nam, chỉ vì yêu mà lâm bệnh. Hẳn rằng tiếng hát Trương Chi sẽ không thể nào vang đến đôi tai tinh tế của Mỵ Nương và sẽ không dặt dìu, mênh mang đến thế, nếu không có sóng gió của giòng sông đi ngang nhà nàng. Sông ở đây vừa là chốn mưu sinh, vừa là nơi tiếng hát Trương Chi thăng hoa, vừa là nơi kết thúc cuộc đời của chàng dân chài bất hạnh, và là nơi lưu giữ hồn chàng, để cuối cùng giúp cho khối tình u uẩn của chàng được hoá giải. Sông với Mỵ Nương là biểu tượng của ảo ảnh, đánh thức tâm hồn lãng mạn , phơi lộ khát vọng về cái Tuyệt đối, và hé mở trái tim trắc ẩn của nàng. Giòng nước như là nơi cho đi và lấy lại sự sống là một môtíp rất phổ biến trong tác phẩm văn chương Việt Nam. Trên đây chúng ta đã gặp An Dương Vương, Mỵ Châu (biển), Trương Chi (sông), Trọng Thuỷ (giếng). Riêng cổ mẫu Giếng, vốn giàu sức ám ảnh trong văn chương Việt nam, chuyên chở những ý nghĩa khá đa dạng, không khác với nhân loại bao nhiêu : Đó có thể là « con đường liên thông của sự sống » : giếng của Tấm, giếng của Hồ Xuân Hương ; và cũng thường khi là nơi kết thúc và tái sinh : Giếng Trọng Thuỷ, giếng của Hàn Mặc Tử (Trăng tự tử). Với người Thiếu phụ Nam Xương , giòng sông trở nên «kỳ ảo», mượn cách nói của Đặng Anh Đào. Trong sự sóng đôi với Lửa để làm nên Bóng, cổ mẫu Sông nước trong Thiếu phụ Nam Xương đã được nâng lên một tầm cao mới lấp lánh tầng tầng ý nghĩa. Nếu cái Bóng của ánh đèn đêm đêm, dù là được «nhân hoá» bằng trí tưởng tượng khá lãng mạn của người vợ trẻ, vẫn là hình ảnh lặp đi lặp lại, đơn điệu, đơn màu trên vách hẹp, thì cái Bóng trên sông nước «kiệu hoa, cờ tàn tán lọng, rực rỡ đầy sông» thoáng qua, lộng lẫy, đa màu, mênh mang…Dân gian nói với chúng ta rằng, đó là sự khác nhau vời vợi giữa bóng người - cái làm ta ngộ nhận, và bóng thần - cái làm ta ngưỡng vọng: giòng sông đã giúp người thiếu phụ Nam Xương tái sinh trong thế giới Huyền. Trong suy tưởng về Nước, văn chương Việt Nam thường thích nắm bắt Nước trong những hình thái rõ rệt : Biển, Sông, Suối, Đầm, Giếng, nhưng đôi khi Nước cũng được thể hiện như là chính nó, từ trời rơi xuống, từ đất bốc lên, nghĩa là chạm đến cái luân chuyển linh hoạt kỳ diệu của Nước như là sự giao hoà trong vũ trụ. Bài thơ Thề non nước của Tản Đà, là một ví dụ. Nước ở đây được nhìn trên góc độ bản thể, trong tương quan với Non (là Núi, nhưng được mặc lên ý nghĩa tinh thần), làm thành đôi bạn tâm tình, nói với nhau những lời thắm thiết : « Non cao đã biết hay chưa/ Nước đi ra bể lại mưa về nguồn ».. Và nước rơi xuống từ trời. Lạ thay là tín ngưỡng dân gian Việt Nam thờ Thần Mưa (Pháp Vũ), nhưng trong huyền thoại và cổ tích rất ít có Mưa. Mưa sương xuất hiện trong văn chương Việt Nam trung đại cũng thấp thoáng, tiết chế. Mưa ở đây chưa phải là nhân vật, và như vậy cũng chưa thể là biểu tượng. Tuy vậy, cũng có thể dẫn ra đây những hình ảnh mưa sương giàu sức gợi : « Đầm đìa lá liễu hạt sương gieo», «Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm», «Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm » (Thơ Hồ Xuân Hương) «Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ» (Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc), để có thể nghĩ rằng người Việt xưa cũng nhìn thấy Mưa Sương như là ân sủng của Trời «là nguồn ân ái chan chan giữa người và vũ trụ», cho nên mới có những khái niệm «ơn mưa móc», «cuộc mây mưa».. Đến thời hiện đại, Mưa Sương tràn ngập tác phẩm văn chương. Những cơn mưa nhiệt đới cuồng bạo, những màn sương lúc u ám, lúc tràn đầy chất thơ. Mưa Sương đã là môtíp văn chương phổ biến (Thơ Mới, văn xuôi hiện đại), nhưng để là biểu tượng, trong tìm hiểu còn hạn hẹp của mình, người viết mới chỉ nhận ra ở Bùi Giáng và Nguyễn Huy Thiệp, hai tác giả sẽ được nói kỹ ở phần sau. Người đem lại cho Đất và Nước một khuôn mặt mới mẻ, lạ thường, chính là Hồ Xuân Hương. Câu hỏi nằm trong phạm vi quan tâm của chúng ta : Vì sao trong Đất và Nước, Hồ Xuân Hương lại chỉ có cảm hứng với những : động, hang, hẻm, kẽ (rêu) khe, lách, lạch, giếng, nước tát… Lách khe nước rỉ…, Sóng dồn mặt nước… Một dòng nước biếc…Một lạch Đào Nguyên…Đầm đìa lá liễu hạt sương gieo, nghĩa là những hình thái Đất và Nước nhỏ, hẹp, ở những vị trí khuất nẻo, hóc hiểm, như thế ? Bằng cả một chuyên luận công phu và đặc sắc: «Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực », Đỗ Lai Thuý đã trả lời câu hỏi này, rất thuyết phục, với phê bình cổ mẫu: «những biểu tượng phồn thực trong thơ Hồ Xuân Hương đều là những biểu tượng văn hoá-tôn giáo. Chúng là hiện thân của những siêu mẫu..» và «Hồ Xuân Hương, người đã biến tín ngưỡng phồn thực thành triết lý phồn thực, biến những biểu tượng phồn thực thành mỹ học phồn thực và đưa tính dục ở trình độ dân gian thành văn hoá tính dục» [14].
-
Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam- nguồn: http://www.vienvanhoc.org.vn PGS. TS Nguyễn Thị Thanh Xuân Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh 1. Năm xưa, trong khi nói về vô thức tập thể, C. G. Jung đã dành nhiều hứng thú cho cổ mẫu[1], ông trình bày rất tinh tế cái thế đứng cheo leo của cổ mẫu như là những cây trái mọc lên nơi giáp ranh của khu vườn lý trí và khu rừng bản năng. Không chỉ dừng lại ở đấy, C.G. Jung còn bàn sâu vào những biểu hiện của cổ mẫu trong văn học nghệ thuật. Trên phương diện này, tôi nghĩ rằng người đồ đệ số một của Sigmund Freud đã đi rất xa so với Thầy mình, trong những gợi ý quan trọng cho người làm văn chương. Không khẳng định cách tiếp cận cổ mẫu của mình là duy nhất đúng, là tối ưu, C. G. Jung xác định ngay một thái độ chọn lựa trong nhiều chọn lựa, và mời gọi ta trên tinh thần thoả thuận một cách đọc, khá khiêm tốn mà xác tín: “nhìn từ bên ngoài”. Nhìn từ bên ngoài, hẳn nhiên không thể bằng và do đó hoàn toàn không thể thay thế cách nhìn từ bên trong, đó là logic tự nhiên, và C.G. Jung nói rõ: “Có thể, nó (nghệ thuật - NTTX) như chính tự nhiên, đơn giản là hiện hữu nhưng không “biểu đạt” cái gì. Liệu có phải mọi “giá trị” chỉ đơn giản là sự giải thích mà lí trí thèm khát ý nghĩa cứ muốn nhất định buộc ràng cho sự vật? Có thể nói rằng nghệ thuật là cái đẹp, trong cái đẹp có sự đầy đủ và tự mãn của mình. Nó (nghệ thuật) không cần bất kỳ “ý nghĩa” nào cả (…) Khi tôi nhìn nghệ thuật từ bên trong, tôi đành phải tuân theo sự thật của quy luật này. Ngược lại, khi chúng ta nói về quan hệ của tâm lý học đối với tác phẩm nghệ thuật, chúng ta đã đứng bên ngoài nghệ thuật, và khi đó không còn lại gì khác cho chúng ta ngoài việc buộc phải suy ngẫm, buộc phải giải thích, để sự vật có giá trị - bởi khác đi, chúng ta nói chung không suy nghĩ được về chúng (…) Từ đó, cái lúc trước là hiện tượng thuần túy sẽ trở thành hiện tượng biểu đạt một điều gì trong chuỗi các hiện tượng kế cận nhau, trở thành sự vật có vai trò nhất định, phục vụ cho những mục đích nhất định, tạo ra tác động nghĩa”[2]. Và như vậy, đọc cổ mẫu là cách nhìn tác phẩm văn chương từ bên ngoài. Nhưng cách nhìn từ bên ngoài này không quy chiếu những chuẩn mực và tiêu chí có trước vào tác phẩm, để mà giải thích nó. Đọc cổ mẫu là đi tìm, chăm chú ghi nhận các hiện tượng cùng những cuộc gặp gỡ thường rất bất ngờ của chúng trong tác phẩm, xuyên qua thời gian và không gian, tra vấn và thử trả lời.Tác phẩm văn chương đầu tiên của nhân loại mà cổ mẫu ngả bóng vào là huyền thoại, hay nói khác đi, khi đến với khu rừng hào phóng rậm rịt huyền thoại, người đọc cổ mẫu có nhiều hy vọng tìm thấy những cái cần tìm đã được bảo chứng. Nói như S. Freud, “huyền thoại là những giấc mơ trần gian của nhân loại ở tuổi thiếu niên” và giấc mơ thuở ấy của con người, theo Gaston Bachelard, « mạnh hơn kinh nghiệm thực tiễn”. Bởi vì, « đối với người nguyên thuỷ, tư duy là sự mơ mộng được tập trung, còn đối với người văn minh, mơ mộng là một tư duy được thư giãn” [3] Trong trạng thái mơ mộng tập trung ấy, cái gọi là tư duy của người đời xưa rất khác với cái gọi là tư duy của người hôm nay : một bên mơ mòng/ một bên tỉnh thức ; một bên dùng trực giác/ một bên dùng luận lý ; một bên để vô thức ùa lên đến mức tối đa/ một bên xưng tụng giá trị của ý thức. Nhưng cổ mẫu không chỉ náu mình trong huyền thoại. Người đọc cổ mẫu sẽ không chỉ tìm về những trang viết của quá khứ mù xa ngất tạnh, mà còn phải đắm mình trên dòng sông chữ nghĩa hôm nay. Thế thì, có lối nào đi để gặp ? Khi gặp rồi, làm sao biết đó là cổ mẫu, đứa con lọt lòng của C.G. Jung ? Hay là cổ mẫu như ta quan niệm ? C.G. Jung đã dự liệu trước những vấn nạn đó cho chúng ta vì ông là người trải nghiệm. Ông nói : “Tác phẩm hiện ra trước chúng ta là hình tượng được chế tác hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này. Hình tượng này có thể phân tích được chừng nào chúng ta có khả năng nhận biết biểu tượng trong nó (…) ta có thể lấy luận điểm của Gherhart Haufman làm nền tảng: làm nhà thơ - nghĩa là cho phép đằng sau từ vang lên Nguyên - từ (NTTX nhấn mạnh). Dịch sang ngôn ngữ tâm lí học, vấn đề hàng đầu của ta được đặt ra như sau: có thể đưa hình tượng được khai triển trong tác phẩm nghệ thuật này đến nguyên-sơ-tượng (tức siêu mẫu-ĐLT) nào của cái vô thức tập thể” [4]. Theo phát biểu này, có thể nghĩ rằng đọc một tác phẩm theo tinh thần cổ mẫu là đi từ hình tượng đến biểu tượng, trong biểu tượng, lần ra cổ mẫu. Những tác phẩm không mang biểu tượng sẽ không là đối tượng của đọc cổ mẫu, hẳn nhiên. Nhưng có những tác phẩm mang biểu tượng hẳn hoi, cũng trượt ra ngoài tầm ngắm của chúng ta. Vậy là có biểu tượng và biểu tượng. C.G. Jung đã chia sẻ với chúng ta những thách thức có thật ngay từ việc nắm bắt biểu tượng: “Biểu tượng nhô lên như một lời trách cứ thường xuyên đối với khả năng suy xét và cảm nhận của chúng ta”. Trước hết, theo ông, đọc cổ mẫu sẽ không tính đến những biểu tượng văn học, như là một sản phẩm của ý thức, bởi vì : “Tác phẩm dự định có tính biểu tượng từ trước thì không đòi hỏi phải tinh tế đến vậy. Bằng ngay thứ ngôn ngữ đa nghĩa được dùng, nó như bảo chúng ta: “Tôi định nói nhiều hơn cái tôi nói thực; ý nghĩa của tôi cao hơn tôi”, mà chỉ quan tâm đến những biểu tượng văn học như là kết tinh của vô thức. Nhưng nếu những kết tinh từ vô thức cá nhân chỉ đưa ra tính triệu chứng, thì những kết tinh từ vô thức tập thể mới làm nên tính biểu tượng cổ mẫu. « Không bị dồn ép và không bị lãng quên», «Vô thức tập thể cũng không tồn tại tự nó và cho nó, do nó chỉ là khả năng, cụ thể là khả năng mà ta được thừa kế từ thời xa xưa dưới dạng một hình thức nhất định của những hình ảnh được ghi nhớ trong cấu trúc của đầu não, nói theo giải phẫu học, (…) Chúng bộc lộ chỉ trong chất liệu đã được tạo tác về mặt lí thuyết với tư cách là những nguyên tắc điều khiển sự tạo lập chất liệu…”(Sđd, tr.79). Thoát thai từ vô thức tập thể, nhưng cổ mẫu có tính tự trị của mình, bởi vì nó « sinh ra từ một khởi nguyên độc đáo và một năng lượng đặc thù. Chúng có thể, vừa bổ sung trong dạng thức biểu tượng riêng của nó, một sự chuyển dịch mang ý nghĩa, vừa tham gia vào một tình huống có sẵn với những xung năng riêng và những tư tưởng riêng của chúng. Trên phương diện này, chúng có vai trò như những mặc cảm. Chúng đi và đến tự do, bất ngờ, và thường thường, chúng chống lại hay điều chỉnh những dự định có ý thức một cách khó lường nhất »[5]. Bên cạnh hình tượng và biểu tượng, C.G. Jung còn dùng khái niệm motif, một đơn vị nhỏ hơn hình tượng. Người đọc văn học theo phương thức cổ mẫu thường dõi theo những motif lặp đi lặp lại trang tác phẩm để xác định cổ mẫu. Có mặt trong huyền thoại và rồi tái sinh, hoá thân trong tác phẩm văn học thành văn nhiều thế kỷ, cho đến nay, cổ mẫu đã có một hành trình rất dài cùng nhân loại, vậy khuôn mặt vóc hình của nó có gì thay đổi ? Theo C.G. Jung, « .. .sự hiện diện này có thể thay đổi rõ rệt trong tiểu tiết, nhưng không làm mất đi cái cơ chế nền tảng của nó” và với những biểu hiện kép về chức năng, cổ mẫu luôn tương tác với những cổ mẫu khác dệt nên một tấm thảm độc đáo về cuộc sống [6]. Trong một hứng thú rõ rệt, C.G. Jung nói đến khoảnh khắc xuất hiện tình huống huyền thoại và khoảnh khắc trải nghiệm huyền thoại, như là một giao cắt tương ngộ, giữa người viết và người đọc. Có thể gọi đó là khoảnh khắc hạnh phúc, bởi nó « bao giờ cũng được đánh dấu bởi cường độ cảm xúc đặc biệt ». Cắt nghĩa trạng thái này, C.G.Jung cho rằng, trong cuộc sống thường nhật, con người phải luôn nép mình để thích nghi, nên “do đó không có gì ngạc nhiên nếu ta gặp một tình huống bất ngờ, hoặc cảm thấy được giải phóng triệt để, thấy mình như mọc cánh bay, hoặc như có một sức mạnh không sao cưỡng nổi túm lấy mình. Vào những lúc ấy ta không còn là một thực thể cá nhân nữa, mà là chúng ta, là giống loài, giọng nói của toàn nhân loại thức dậy trong ta. Vì vậy, chỉ một cá nhân riêng rẽ không thôi sẽ không thể nào phát huy được hết các sức mạnh bản năng trong mình. Và cái chìa khoá để khai mở sức mạnh đó sẽ không bao giờ tìm thấy được bằng một ý chí tự giác quen thuộc không thôi[7]. Cổ mẫu lay động chúng ta, «bởi vì nó khơi dậy trong ta một giọng nói to hơn giọng nói của chính ta» và «Người nói bằng nguyên tượng dường như nói bằng hàng nghìn giọng, nó mê đắm và khuất phục, nó nâng cái mình mô tả từ chỗ ngắn ngủi một lần và tạm thời, lên chỗ tồn tại muôn đời, nhờ đó giải phóng trong ta tất cả những sức mạnh cứu vớt vốn từ xưa đã giúp cho loài người tránh thoát được mọi tai hoạ và thậm chí nén chịu được qua cái đêm dài nhất”[8]. C.G. Jung diễn tả rõ cảm xúc của mình khi tiếp xúc với cổ mẫu: «Trải nghiệm về cổ mẫu là một trải nghiệm căng thẳng và xáo trộn. Chúng ta dễ dàng khi nói một cách điềm tĩnh về cổ mẫu, nhưng đối diện thực sự với chúng là một việc hoàn toàn khác hẳn. Sự khác biệt ấy giống hệt như khi chúng ta nói về một con sư tử và khi chúng ta phải đứng ngay trước con sư tử ấy. Đứng trước một con sư tử, trong ta hiện lên một trải nghiệm căng thẳng và sợ hãi, và điều này có thể để lại dấu ấn lâu dài trong bản ngã chúng ta”.[9] Nhưng ai là người có được những khoảnh khắc đặc biệt ấy ? Làm sao nối kết tương giao với vô thức tập thể? Ghi nhận hiện tượng những «khuynh hướng tinh thần hoặc phương châm cuộc sống» vốn phiến diện, trong cá nhân, dân tộc và thời đại, C.G. Jung nói đến sự khác nhau giữa con người bình thường và con người khác thường: “Con người bình thường có thể chịu phụ thuộc vào phương châm toàn cầu mà không hề hấn gì; con người đi theo những con đường vòng, đường bên rìa thì không thể đi cùng với người bình thường trên những con đường bằng phẳng, rộng rãi, nhưng nhờ thế nó lại thành người khám phá được cái nằm bên vệ đường đang chờ được đưa vào cuộc sống ý thức. Sự khó thích ứng của nghệ sĩ thực sự là ưu thế của ông ta, nó giúp ông ta tránh được kiểu luận văn khô khan, biết đi theo niềm đam mê tinh thần và có được những cái người khác bị mất mà tự mình cũng không ngờ”. Không chỉ từ chối con đường thênh thang có sẵn, người sáng tác và người tiếp nhận cổ mẫu cần phải lắng nghe tinh tế ngữ điệu của nó :“Những ai không quan tâm đến tính tác động đặc biệt ngữ điệu cổ mẫu sẽ chỉ thấy mình ở trong một đống những quan niệm mang tính huyền thoại, và khi ấy người ta chắc chắn có thể thu thập theo kiểu để chứng minh rằng toàn bộ cái ấy đều có một ý nghĩa, nhưng điều ấy hoàn toàn sai. Những thi hài thường luôn luôn đồng nhất về mặt hoá học, nhưng những sinh thể thì không như vậy. Các cổ mẫu chỉ bắt đầu sống lại khi người ta nỗ lực và kiên trì phát hiện tại sao và làm thế nào chúng có một ý nghĩa đối với từng sinh thể như vậy”[10]. Những ý tưởng của C.G. Jung - trong những hiểu biết còn quá sơ sài của người viết tham luận này - quả thực là hấp dẫn, và lời mời gọi ân cần C.G. Jung cách nay 84 năm, vẫn còn sức vọng đối với tôi: «Nhưng có lẽ tôi có quyền hy vọng là các thính giả của tôi đã kịp suy nghĩ, không phải về những điều tôi nói, mà chính là về sự vận dụng cụ thể tất cả những điều đó vào tác phẩm thơ ca -nghệ thuật, như thế là đắp da đắp thịt cho bộ khung xương tư tưởng trừu tượng của tôi »[11], cũng như những tìm tòi thú vị mới đây của các nhà nghiên cứu Việt Nam: Đỗ Đức Hiểu, Đặng Anh Đào, Đỗ Lai Thúy…, tất cả đều đã khích lệ chúng tôi rất nhiều. Và tôi lên đường, đi vào khu rừng văn học của dân tộc mình, khu rừng biểu tượng, để mong tìm ra cổ mẫu… …(Còn nữa)
-
Tuổi nam 1957 - Đinh Dậu - Tuyền Trung Thủy Nam 1974 - Giáp Dần - Phúc Đăng Hỏa (theo Lạc thư Hoa giáp) Cặp này Thiên Can sinh trợ lẫn nhau, đủ âm đủ dương. Cho nên thực chất đôi bên đều có thể giúp nhau. Mạng Thủy - Hỏa khắc, Thủy lớn nhưng Nước trong khe ngầm cũng không khắc được lửa ngọn đèn nhiều. Được việc người này sẽ hỏng việc người kia. Quyền lợi của người này được thì người kia phải mất. Ai cũng thấy được vị thế của mình nên không ai muốn chịu ai. Thủy lớn nên có xu hướng muốn lấn át hơn. Dậu tuyệt Dần. Đôi bên khó có hòa khí. Như vậy mối quan hệ này dù muốn hay không cũng khó hòa thuận. Muốn điều hòa phải có thêm những người trung gian hoặc công việc có tính trung hòa được đôi bên. Xem ra khả năng này không thuận lợi lắm. Gặp vào những năm Dậu Tuất Hợi là năm tam tai của Tỵ nên chắc chắn anh sẽ không khỏi bức bối. Vì là trời thử thách người nên không có gì tốt hơn là tu tâm, tạo cách từ chính mình để khắc chế lại hoàn cảnh, vượt qua thử thách. Vượt qua vận hạn sẽ thấy thênh thênh. Không biết anh thấy có thỏa đáng không? Phoenix không tập trung để xem thêm về các yếu tố khác (tử vi, quẻ...) cho nên chỉ nói sơ được vậy. Nếu vẫn thấy cần thì anh nhờ các ACE giúp thêm. Chúc tốt đẹp!
-
Sách về tử vi thì có quá nhiều, trường phái phân chia cũng nhiều, có các dị biệt là đương nhiên. Các bạn muốn kiếm chứng thì chờ thêm Tử vi Lạc Việt của chú Thiên Sứ. Cứ kiểm chứng hết đi rồi chọn một cái đúng cái cuối cùng cho mình cũng chưa muộn . Theo kinh nghiệm của Phoenix thì không ai hiểu lá số của mình bằng chính mình. Cứ dùng mình để kiểm chứng là xác đáng. Mấy lời dông dài, tham khảo thôi nhé.
-
Phoenix nghiên cứu về Văn hóa doanh nghiệp. Đọc bài này buồn quá chị wildlavender ơi!