-
Số nội dung
1107 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by phoenix
-
Trích từ Chương 7- Hồi ký Phạm Duy ..."Trong xã hội Việt Nam, cũng đã có từ lâu một phương cách hiệu nghiệm để giải toả ẩn ức như nhẩy đầm. Đó là sự lên đồng. Tôi không biết truyền thống đồng cô bóng cậu có mặt ở nước ta từ bao giờ nhưng vào lúc tôi còn bé, tôi thấy trong gia đình tôi có nhiều người lúc nào cũng muốn nhập vào bóng bà Mẫu Thoải, bà Chúa Thượng Ngàn, Ngũ Vị Vương Quan hay Thập Tam Hoàng Thái Tử... Từ lúc còn bé, tôi đã được tham dự không biết bao nhiêu lần những buổi lên đồng, nghe không biết bao nhiêu lần những điệu hát chầu văn vô cùng phong phú và hấp dẫn. Về sau này tôi còn được làm quen với ông vua của làng cung văn là Tư Quất, khi tôi soạn những chương trình âm nhạc dẫn giải cho một Đài Phát Thanh ở Saigon. Người Việt Nam, từ xưa cho tới ngay bây giờ -- 1989 -- dường như không bao giờ chống đối sự lên đồng. Trước 1975, tuy ở cả hai miền Nam Bắc đều có những cuộc ''cách mạng'' cả nhưng tại điện Hòn Chén ở Huế vẫn còn có những cuộc lên đồng tập thể với sự tham dự của hằng trăm phụ nữ giầu cũng như nghèo. Trong cộng đồng tị nạn ở Hoa Kỳ và ở Âu Châu hiện nay, vẫn còn có những nơi để phụ nữ tới lên đồng. Trong cuốn Đặc Khảo Về Dân Nhạc -- nhà xuất bản Hiện Đại, Saigon 1972 -- tôi cho rằng... phụ nữ Việt Nam nhờ ở sự lên đồng đ giải toả những ẩn ức và để thể hiện những nguyện vọng thầm kín của mình. Người đàn bà Việt Nam suốt đời bị lép vế đã nhờ ở sự lên đồng đ ''hoá thân'' thành thần thánh và ban ơn cho mọi người. Đó cũng là một hành động tốt để làm cho xã hội được quân bình và không sinh ra nhiều tội ác... Không biết các bà lên đồng rồi mê cung văn có phải là một tội ác hay không nhỉ ? Một bà bạn của mẹ tôi đã bỏ chồng đi theo một anh cung văn hát hay. Họ sống cũng có vẻ hạnh phúc lắm. Nói tới chuyện lên đồng của thời tôi còn bé thì phải nói tới Cô Bé Tý ở Hàng Bạc, một cô me Tây rất ngộ nghĩnh mà tôi có hân hạnh được tới gần. Cô Bé Tý được coi như ngang hàng với người nổi danh trong làng me Tây là cô Tư Hồng nhưng cô Bé Tý được nhiều người yêu mến vì tính đồng bóng của cô. Trước hết, cô Bé Tý là người rộng rãi, ai xin tiền cô cũng cho. Rồi tới cái ngông của cô là ở ngay giữa thành phố, cô cho xây một Sở Thú (Zoo) nhỏ với một dẫy chuồng nhốt khỉ, gấu và những con thú (cô làm thành quái vật) như gà ba chân và lợn hai mõm. Ai đi qua nhà cô cũng phải dừng chân lại để coi Sở Thú tí hon này. Tôi và thằng Bảo là bạn ở cạnh nhà (cháu của Chu Viên, em rể của Duy Lam, Thế Uyên) được cô rất yêu. Được cô cho vào chơi. Vào trong nhà cô là như lạc vào trong truyện vẽ bằng tranh, vào trong truyện thần tiên. Nào là những xác chim, xác hổ được nhồi bông. Nào là những con rắn sống uốn mình quanh chiếc ngai sơn son thếp vàng trên đó có cô Bé Tý ngồi bảnh choẹ và lên đồng thường xuyên giữa một đám đầy tớ toàn là những người lùn. Ai vào nhà Cô thì đều phải gọi Cô là Bà Chúa. Đối với tôi, cô Bé Tý với thế giới gà ba chân, lợn hai mõm, những người lùn, những đồng cô bóng cậu mặc y phục lộng lẫy, múa gươm hay chèo thuyền trong khói nhang nghi ngút, với chiêng trống tưng bừng... giống như chuyện ảo tưởng có thực. Tôi luôn luôn cho rằng những người như Cô Bé Tý, người chào không biết mỏi ở phố Hàng Dầu -- và sau này nhà thơ Bùi Giáng -- là những người sung sướng nhất, vì họ được luôn luôn sống trong cảnh dị thường. Được sống đầy đủ với cô Bé Tý trong một thế giới thần tiên nên sau này tôi không còn ham mê đọc những tác phẩm giả tưởng của Andersen và cũng không còn thích coi những phim hoạt hoạ của Walt Disney nữa. Hà Nội ngày tôi còn bé, luôn luôn có những cơn sốt dị đoan như hiện tượng bàn ma xẩy ra trong một thời gian khá lâu. Nhà nào cũng có một cái bàn nhỏ ba chân rồi người ta ngồi chung quanh cái bàn đó, hai tay đặt vào thành bàn, sau khi khấn khứa với con ma bàn, người ta hỏi chuyện nó. Hỏi chồng bà này chết bao nhiêu năm rồi ? Hỏi mẹ của bà nọ ở bên kia thế giới có vui hay không ? Vui thì chân bàn gõ hai cái, buồn thì chân bàn gõ một cái... Cái bàn ma đã trả lời vanh vách với tiếng chân bàn gõ canh cách. Vừa run rợ vừa thích thú vì thấy mình như lạc vào cõi ma, nghe được thông điệp của người chết, tôi lại càng sợ hơn khi thấy có người đào mả lấy gỗ quan tài để làm thành cái bàn ma..." (Hết đoạn trích)
-
Ảnh lên đồng giá ông Hoàng Bảy - Nguồn: vnphoto.net
-
Lên đồng để giải chuyện tình âm dương Với những người chậm tình duyên thì cô đồng thường phán rằng kiếp trước có hẹn hò với một người, nên phải làm đám cưới âm cho người tiền kiếp. Phải đăng đàn, làm lễ thật lớn để cắt tiền duyên giống như ly hôn với người cõi âm... Thế mới mong lấy được chồng. Cô đồng người rung rung, tay phải đặt vào ngực, tay trái đặt lên trán, mắt nhắm nghiền, miệng lẩm bẩm. Cô đang nói chuyện với người cõi âm. Hai khách hàng ngồi bên cạnh cô chừng 26-27 tuổi, mặc váy ngắn công sở ngồi chắp tay thành kính. Ngồi phía ngoài là 4 cô gái khác, trạc tuổi ấy, gương mặt chờ đợi. Trước mặt họ, bàn thờ bày mâm ngũ quả có treo ảnh Phật Bà Quan Âm. Khói hương nghi ngút trong căn phòng tập thể chật hẹp. Bất động một hồi vì bận nói chuyện với người cõi âm, cô thình lình quay sang khách hàng: "Phải cắt tiền duyên thôi nếu em muốn có người yêu và lấy chồng suôn sẻ". Cô đồng có khuôn mặt xinh đẹp, nổi bật với váy đen áo tím. Cô xoay chân cho đỡ mỏi rồi nhoẻn một nụ cười thấu hiểu: "Gần đây, khách hàng của chị đa số là những cô gái 25-28 tuổi, thậm chí các chàng trai 30 tuổi. Tất cả đều gặp trở ngại trong đường tình yêu, hôn nhân. Nhiều người như thế lắm, nhiều đến mức mà chị chẳng cần hỏi đến thánh thần cũng có thể nhắm mắt mà nói về các em. Không hiểu sao bọn trẻ bây giờ khó lấy chồng lấy vợ. Các em yêu muộn, lười yêu mà nhiều cô xinh đẹp giỏi giang nhưng lại cứ để cho mình già dần". Một khách hàng tỏ ra rất thành kính. Cô đã đi 4 bà đồng, 2 nhà ngoại cảm và cả một thầy chuyên tìm mộ liệt sĩ. Ai cũng bảo cô phải cắt tiền duyên. Cô làm ở một công ty dầu khí, tháng kiếm được hơn 3 triệu chỉ đổ tiền vào trang điểm, học khiêu vũ, offline với các chatter, học đến nát bét mấy quyển giáo trình lớp tiếng Anh buổi tối. Trông cô không quá hấp dẫn nhưng cũng duyên dáng, đáng yêu. Vậy mà cô vẫn chưa có mối tình nào trọn vẹn. Cô đồng lại đặt tay phải lên ngực, tay trái lên trán. Người cô vẫn run lên: "Phải cắt tiền duyên, cắt mối tình kiếp trước của em đi. Kiếp trước em có hẹn hò với một người. Hai người đã hẹn thề yêu nhau đến kiếp sau. Nhưng kiếp sau em đầu thai được, còn người ta thì không. Người ta cứ theo em như duyên nợ. Em muốn làm gì, yêu ai đều trượt". Mặt cô đồng lại đỏ hơn, rung rung. Về sau cô giải thích rằng: "Chị nói chuyện với người cõi âm mất nhiều sinh khí lắm". Giọng cô ngày một thánh thót. "Trước hết, phải làm một đám cưới âm cho người tiền kiếp của em. Phải dỗ dành nịnh nọt để anh chàng của em đồng ý với đám cưới âm đấy. Anh chàng này có công năng mạnh lắm, lại có chức sắc trong cõi âm. Thế này thì em phải lên phủ Tây Hồ với chị rồi. Phải đăng đàn, làm một lễ thật lớn và cần đến sự giúp đỡ của quan giám sát. Em phải hiểu là cắt tiền duyên giống như một cuộc ly hôn với người cõi âm vậy. Còn chưa ly hôn được em còn chưa yêu được ai, chưa lấy được người nào". Đến vị khách hàng thứ 3 mà mối quan tâm lớn nhất vẫn là chuyện tình duyên nhọc nhằn khi muộn tuổi. Lần này thì cô đồng đổi bài: "Em bị một vong nữ đi theo. Người ta theo em cách 2 năm nhân dịp em vào đền. Việc trước tiên của em là đọc kinh đủ 9 ngày. Sau 9 ngày em quay lại đây làm lễ giải hạn. Nếu việc đọc kinh 9 ngày, đủ 9 vía mà thành công thì em làm lễ nhỏ tạ ơn hết khoảng 200 nghìn đồng. Nhưng sau 9 ngày mà vẫn chưa có dấu hiệu chuyển biến, chưa có người bạn trai nào có ý định thực sự đến với em thì phải đăng đàn trên phủ đấy. Tốn kém hơn nhưng làm đi cho nó nhẹ lòng". Các cô gái văn phòng đồn với nhau rằng: cô đồng này có tiếng lắm, một năm trở lại đây rất linh, đặc biệt trong vấn đề cắt tiền duyên. Nhà cô ở phòng cuối cùng trong một khu tập thể "cổ kính" nhất Hà thành. Cầu thang vừa tối vừa ẩm thấp. Lịch làm việc của cô rất chuyên nghiệp. Ai muốn đến phải hẹn trước qua điện thoại. Cứ đợi cô ghi vào sổ, sắp xếp chán rồi mới đến lượt. Cô ngồi lên đồng, điện thoại di động để trước mặt. Chuông đổ liên hồi. Cô dùng một số City phone để giao dịch cho tiện. Khách của cô, số lớn là do một ông thầy chấm tử vi trên phố Hàng Trống giới thiệu. Ông bảo: "Ngoài xem số tử vi phải đến cô để cắt âm khí thì mới trọn vẹn được". Cô thì bảo: "Sau khi cắt âm phải chấm tử vi mới biết được cuộc đời mình ở tầm rộng và xa". Thầy và cô bổ sung cho nhau. Vậy mà vẫn có rất đông khách hàng trẻ tuổi đến chầu chực ngồi bên cô thành kính đến mù quáng. Họ nghĩ mình được vỗ về, ve vuốt tâm linh. Một lễ cắt tiền duyên cô lấy chừng 2 triệu đồng. Có cô cắt tiền duyên đến 3 lần rồi mà vẫn chưa có người yêu. Tên khách hàng cứ xếp dài bên cạnh quyển danh bạ. Ngày càng đông đảo hơn những cô gái văn phòng đến xếp hàng đợi cô đồng cắt duyên kiếp trước. Quyển sổ những người đã được cô xem thì dày cộp trong đó ghi chi chít tên tuổi nghề nghiệp. Trang nào cũng có ít nhất một khách hàng khai báo nghề nghiệp: sinh viên. Trong sổ cô đồng ghi cơ man các số điện thoại liên hệ. Bên cạnh đó là danh mục lễ sắm. Một buổi đăng đàn chừng hơn một triệu. Lễ nhỏ thì bốn trăm rưỡi, năm trăm. Tiền công của cô một lần ra phủ là 200 nghìn. Mọi thứ cô đều ghi chi tiết ở sổ: Tổng số là bao nhiêu, đặt trước là thế nào. Một lễ cắt tiền duyên trên dưới 2 triệu, tuỳ vào âm vận tốt xấu của khách hàng. Khách xem xong thì lên ban đặt "lễ". "Lễ" nhỏ thì 30-50 nghìn. Khách đặt xong cô đến thắp tuần hương mới, thu "lễ" về... Trong phòng của cô nhiều sách lắm: Lịch vạn niên thực dụng, Chúng ta thoát thai từ đâu, Khoa học nhận dạng, Cảm xạ học thực hành, Can chi thông luận... cả Phụ nữ và ăn chay hay quyển Tự học Hán văn. Cô là thánh thần chắc cũng do con đường tự học. Cô ghi chép rành rọt như một người thợ may ghi số đo khách hàng. Người giữ xe dưới tầng một khu tập thể nhà cô bảo: "Ngày trước cô làm thợ may. Khách hàng ít lắm không giống như bây giờ". Trong căn "điện" chật chội của cô còn đặt chình ình một cái máy khâu hết tác dụng. VnExpress.net
-
Một tấm ảnh lên đồng từ www.photoworld.com.vn
-
Lên Đồng Tác giả: Phan Lạc Tiếp - Truyện Ngắn 1. Lên Đồng Chú Châu tôi là con út của ông trẻ tôi. Ông trẻ và các chú lớn đi làm ăn xa, tận trên mạn ngược, đâu như Hà Giang, Bắc Mục. Những địa danh xa tít, đầy lam sơn trướng khí, mịt mù huyền hoặc. Lâu lâu gia đình ông trẻ tôi mới về. Lúc nhỏ chú Châu có theo gia đình lên trên đó. Sau chú bị báng, bụng cứ to ra, da bủng và vàng ệch. Người ta bảo là chú ngã nước. Có người lại bảo tại chú nghịch ngợm sao đó bị ma nó ốp, bị người Thổ họ thư. Vì thế chú về lại làng uống thuốc. Khi khỏi bệnh chú không lên mạn ngược nữa, sợ ma nó nhớ, nó bắt. Tuy theo vai vế chú gọi thầy tôi là anh, nhưng chú chỉ nhỉnh hơn anh hai tôi đâu có một hay hai tuổi gì đó, nên chú xưng với thầy tôi là "em" và gọi thầy tôi là "bác". Chú nhập bọn với các anh lớn của tôi và các con của cô tôi. Tất cả năm, sáu người ở tuổi mười lăm, mười sáu, cười đùa rinh rích, nhưng mỗi khi thầy tôi lại gần, cả bọn lại im như không, như là ngoan lắm vậy. Nhưng cả bọn không dấu được tài ăn của họ. Họ ăn nhanh và ăn nhiều quá. Nhà có giỗ chạp gì, mâm của họ, thức ăn không bày ra đĩa, mà xúc vào bát lớn. Mới bày ra, loáng cái đã nhẵn bóng. Các bàn trên, các cụ vừa ăn vừa nhâm nhi câu chuyện, thức ăn còn lại "thôi đưa xuống cho bọn trẻ", ngoảnh đi ngoảnh lại đã hết veo. Thầy tôi bảo "Quái. Tụi này ăn nó không nhai chắc.". Đấy là vừa ăn vừa nói. Họ nói với nhau bằng những tiếng lóng, chả ai hiểu họ nói gì, chỉ thấy chốc chốc lại phá lên cười. Tôi đoán là có nhiều điều "láo lếu" lắm đây. Mà thật. Một điều láo lếu mà tôi biết, biết mà phải giữ kín, nín thinh trong bao nhiêu năm. Đến khi có thể nói ra được thì tôi đã ở xa quê quá đỗi. Các người trong cuộc kẻ mất người còn mà vai chính là chú Châu. Câu chuyện thế này... Giỗ chị Hân đã xong. Lễ hoá vàng cũng đã xong. Tro cũng đã được hốt đổ xuống ao, nhưng bác gái tôi vẫn bồi hồi nhớ chị Hân. Chị chết oan uổng, đau đớn. Bác gái tôi cho gọi ông thầy cúng đến để phụ đồng chị Hân lên. Bác tôi mong rằng sống khôn thác thiêng, bác muốn hỏi cho ra lẽ về cái chết của chị. Trời đã tối. Mảnh sân hoá vàng còn nóng hôi hôi hổi. Bác gái tôi cho bày một bàn thờ riêng ở gian bên, có hình chị Hân trên bàn thờ. Hình chị Hân tô mầu cu-lơ, chị mặc áo nhung, đeo kiềng vàng, vấn tóc trần. Quanh ảnh chị có hoa tươi, trà, một đĩa xôi đậu, một con gà luộc. Mỏ gà cắp một đoá hoa hồng, ngắt ở ngoài vườn. Hai cây nến trắng lung linh, bát hương nghi ngút khói. Đặc biệt có một mâm bồng cam Bố-Hạ. Thứ cam to, mỏng vỏ, ngọt mát mà ngày xưa chị Hân rất thích ăn. Ông cung văn và cô đồng đón đâu từ xa đến, được bác tôi đãi ăn rất hậu. Bác tôi còn hứa "nếu hồn về trót lọt, trả lời xuông sẻ, tôi sẽ còn thướng thêm". Cơm nước xong, trước bàn thờ, ông cung văn ngậm cái tăm trên miệng, nhẹ nhàng ngồi vào góc chiếu lên giây đàn: phừng phừng. Phừng phứng phưng... Những ngón tay dài khẳng khiu nắn buông trên các phím, phô cái khuỷu tay áo the đã rách. Mọi người đã tề tựu. Bác gái tôi đã có mặt. Cô đồng được mời vào. Cô đồng trạc độ trên dưới 40, là vợ của ông cung văn, nổi tiếng là người có căn, hồn dễ nhập. Cô được mời ngồi vào giữa chiếu. Đèn măng-xông thắp sáng. Cô e dè ngồi lê dần vào vị trí trước bàn thờ. Ông cung văn phủ lên đầu cô một cái khăn đỏ rộng chùm đầu, che kín cả vai và lưng. Trên đầu cô, một bát nhang được nhẹ nhàng đặt lên. Cô đồng từ từ dơ hai bàn tay lên, run run, úp vào mặt. Cung văn bắt đầu hát: "Ơ cô. Cô đẹp cô xinh... Ấy a hồn rằng hồn thác ban ngày. Thương cha nhớ mẹ (chứ) hồn dày thác đêm". Bác gái tôi bắt đầu tấm tức khóc. Không lễ, vì cha mẹ không phải lễ con, nhưng bác tôi nói nho nhỏ: "Sống khôn thác thiêng, con có điều gì oan khuất thì xin nhập vào đồng, nói cho mẹ biết". Ông cung văn vẫn cao giọng vừa đàn, vừa hát. Mắt ông không dời nhìn vào cô đồng. Vì theo kinh nghiệm thông thường, hát chưa xong một khúc, đồng đã đảo. Nhưng khúc hát đã chuyển mà đồng vẫn cứ lặng yên, chỉ thấy hơi run run như lo, như sợ. Hết khúc hát khen, ông cung văn chuyển sang khúc tán. Giọng ông lúc cao vút như gió gió cuốn trên ngàn, lúc lại chùng chùng xuống như thác đổ đầu gềnh. Cô đồng vẫn ngồi im như cũ. Bỗng cô đồng buông tay, đỡ bát nhang trên đầu xuống, để ở trước mặt. Tháo khăn phủ đầu xuống. Ông cung văn cũng bỡ ngỡ, bỏ dở tiếng đàn, tiếng hát. Cô đồng mặt mày nhợt nhạt, cúu đầu, chấp tay lễ hai lễ, rồi lễ phép thưa: "Xin cụ bỏ lỗi cho. Nhà cháu không hợp căn, hồn không nhập được". Mọi người ngơ ngác. Ông cung văn cũng hạ cây đàn xuống, để dài trên chiếu. Chiêu một ngụm nước lớn, lấy tay gãi nách, rồi thưa: "Hồn cô cao lắm, nhà cháu không hợp căn cơ, không đậu được hồn về. Ở đây có ai ngồi được xin mời vào ngồi hộ cho". Trên bàn thờ, nhang đã cháy hết một nửa. Hai ngọn nết vẫn lung linh, leo lét. Bỗng có ai tắt bớt ngọn đèn măng-xông. Bàn thờ bỗng trở nên u linh, huyền hoặc. Hình chị Hân trên bàn thờ lúc sáng lúc mờ theo ánh nến. Ông cung văn lại nhắc: "Ai có căn xin ngồi hộ. Ông cung văn chiêu một nhụm chè mạn đặc, nhưng nét mặt ông lo lắng thấy rõ. Như thế là tiếng tăm của cô đồng mất, việc làm của vợ chồng ông sẽ xa sút chăng. Đợi một lúc, ông cung văn lại hỏi: "Ở đây ai có căn cơ hầu đồng được thì xin ngồi hộ đi". Ngoảnh đi ngoảnh lại không thấy ai. Sau một tuần trà nước nữa, cuộc hầu-đồng tưởng đã bỏ ngang, thì cửa phòng bỗng mở. Một luồng gió tạt vào, lạnh toát. Chú Châu tôi xuất hiện, khẽ nói: "Nếu không có ai thì để tôi ngồi thử xen sao". Có ai đáp "phải đấy". Cô đồng lê ra cạnh chiếu, nhường chỗ cho chú Châu tôi ngồi vào giữa chiếu. Đầu chú phủ khăn đỏ, và không quên để bát hương lên đầu. Hai tay chú bưng mặt. Tiếng đàn lại nổi. Tiếng hát của ông cung-văn lại cất. Lúc đầu đầu đồng quay nhè nhẹ, rồi theo nhịp đàn, theo tiếng hát, đầu đồng quay rộng vòng hơn, ngả ra phía trước, ngả ra phía sau. Tiếng đàn hát mỗi lúc mỗi thêm hưng phấn. Mọi người trố mắt dõi theo vòng đảo chao chát của đồng. Bỗng tiếng đàn như chùng, tiếng hát nhẹ như ru, như dỗ: "Chẳng mấy khi xa loan giá ngự về đ.. ồ..n.. g.". Bây giờ đồng đảo mạnh, mềm như không có xương, rạp xuống phía trước, ngả ra phía sau, vậy mà bát hương trên đầu đồng không đổ. Mọi người ngồi xung quang im phăng phắc, nét mặt ai nấy đăm chiêu, sợ hãi. Bác gái tôi thì xuýt xoa. Đồng đảo một vòng rất sâu rồi từ từ ngưng lại. Tiếng đàn thưa thớt theo lời như khấn, như dỗ dành: "Đêm có khuya, ngày có rạng. Xin đồng ngả tay đồng xuống để ăn trầu uống nước...". Đồng chìa bàn tay run run ra phía trước. Mọi người nín thở. Hai tay đồng đón bát hương trên đầu xuống, trịnh trọng để ngay trước mặt, rồi nhẹ nhàng vén mảnh vải đỏ ra. Mọi người nín thở. Chú Châu bây giờ khác hẳn. Mặt mày đỏ ửng, hai mắt khép hờ, rồi từ từ mở ra, thất thần như đang còn chìm vào một cõi huyền hoặc nào xa. Đồng đảo mắt một vòng rồi bỗng oà khóc. Khóc như mưa, chan hoà, nức nở. Bác gái tôi thì có vẻ sợ mà nước mắt cũng đầm đìa. Tiếng đàn lại nổi, và giọng ông cung văn như dục, như mời: "Xin hồn hãy bớt lo toan, đừng khóc nữa. Hồn có điều gì oan khuất thì có mẹ hồn đây, hồn có thể giãi bày vài lời cho thoả..." Hồn vẫn khóc, khóc lớn hơn. Bác gái tôi trong nước mắt nghẹn ngào: "Con ơi, con chết oan chết uổng, khổ sở thân con. Mà con có biết hôm nay là ngày gì của con không..." Hồn khẽ gật đầu, nói: "Biết. Ngày giỗ đầu của con." Thế là bác gái tôi oà khóc và hỏi: "Mẹ có thửa mã cho con đủ cả. Nhà Tây, xe cao-su, hài thêu, quần áo, người hầu, không thiếu một thứ gì. Con có nhận được không." Hồn lại khóc và khẽ đáp: "Con chỉ nghe được tiếng trống cúng xa xa thôi. Vì lũ quỷ nó cướp mất cả, con chả được gì." Thế là bác gái tôi lại khóc nấc lên não nuột: "Khốn khổ con tôi. Thế con đã ăn uống gì chưa." Hồn lắc đầu và ra chiều buồn bã quá. Hồn nhìn lên bàn thờ mình, trong lúc tiếng đàn của ông cung văn lại nổi lên rộn rã, reo vui: "Hồn đói, hồn khát, thương quá hồn ơi..." Thế là bác gái tôi bảo đem con gà luộc trên bàn thờ xuống, xé cái đùi gà ra chặt vội vã bày trước mặt hồn. Hồn ăn một miếng thịt gà rồi lại khóc. Bác gái tôi lại hỏi: "Thế con làm gì ở dưới âm ty". Hồn đáp: "Con nghèo khổ quá, phải đi buôn rau buôn chè". Đó là nghề ít vốn mà những người cùng quẫn của làng tôi mới làm. Nghe thế bác gái tôi lại khóc và nói: "Khốn khổ quá con tôi...". Ông cung văn vẫn hát, hồn khen "hát hay" và bảo "hồn cần tiền để thưởng cho ông cung văn." Bác gái tôi liền móc túi lấy mấy đồng bạc đưa cho hồn. Hồn cầm tiền bỏ cả vào túi, chỉ lấy ra có mấy xu thưởng cho ông cung văn. Ông cung văn đón lấy tiền thưởng và cao giọng hát tiếp, ý chừng sẽ còn nhận được thêm tiền thưởng: Âm dương cách trở đôi đàng Khuất oan hồn cứ thực lòng kể ra Này anh, này mẹ, này cha Này là chú bác toàn là người thân. Tiếng đàn càng trở nên quấn quýt, rộn rã như thục dục, như tươi vui: Á à a hồn ơi, hồn chớ ngại ngần... Có ai đó lấy từ trên bàn thờ xuống một quả cam Bố-Hạ đỏ au, vỏ mỏng như giấy, bóc ra đưa cho hồn. Hồn nhận và cho vào miệng một lần 4 múi. Quả cam vừa hết, mọi người hy vọng hồn sẽ thổ lộ thêm về cái chết oan khuất của hồn thì hồn bỗng lăn ra và... thăng. Ông cung văn hốt hoảng ngưng đàn hát. Bác gái tôi thì xững sờ, hai tay quơ quơ như muốn bám víu, muốn giữ hồn ở lại. Chú Châu tôi lồm cồm ngồi dậy, mắt nháo nhác như vừa tỉnh một cơn mê. Chú vái vội vàng mấy vái trước bàn thờ rồi nhanh chân lui ra. Mọi người còn ngơ ngác. Bác gái tôi mếu máo: "Thế là nó đi. Mẹ con âm dương cách trở, mới gọi được hồn lên, chưa hỏi đươc ngọn ngành nó đã thăng....". Trong cái không khí bàng hoàng đó, chú Châu đã nhanh chân lẻn ra ngoài. Anh cả tôi chạy theo. Tôi cũng chạy theo xem sao. Trời đêm tối như mực. Đom đóm đâu đó kéo về bay nháo nhác đầy sân. Chú Châu vỗ vào túi áo, nói nhỏ với anh cả tôi: "Đi. Đi ăn phở". Chú cho tôi đi theo và nhắc khẽ, lời nói sắc, gọn như chỉ lọt qua kẽ răng: "Câm. Phải câm nghe không". Vâng, lúc ấy vì sợ chú, vì bỗng dưng được đi ăn phở, tôi đã "câm", không dám hở cho ai hay. Hình ảnh chú Châu bao giờ cũng vẫn thế, như lời thầy tôi nói: "bao giờ cho đứng đắn đây". Rồi cái tuổi "láo lếu" ấy cũng qua đi, chú Châu lấy vợ. Vì cụ Trẻ Ba đi làm ăn xa, không có mặt ở nhà, nên thầy tôi phải "quyền huynh thế phụ", thay mặt cụ Trẻ Ba, đại diện nhà trai lo liệu. Hôm đi "đánh tiếng" chú sang nhà tôi khi thầy tôi vừa ăn cơm xong, chú nói: "Bác mặc cái áo dài vào đi lại nhà gái cho em...". Thầy tôi bảo: "Để anh uống ngụm nước cái đã". Chú dục: "Thế nào nhà gái cũng mời mình uống nước mà". Đám cưới chú Châu như tất cả các đám cưới khác trong làng, tôi chỉ nhớ được mấy điều. Khi nhà trai mang lễ vật đến nhà gái, có cụ Từ Vang mặc áo thụng xanh cầm hương đi đầu. Sau là mấy người trai trẻ bưng các mâm cau, trầu và những chai rượu Văn Điển. Kế đến là chú rể, phù rể và họ hàng nhà trai. Khi đám đón dâu rẽ vào xóm Ngõ Mắm, cái ngõ có lát gạch nhưng hẹp dí. Tụi trẻ con trong xóm đã căng mấy giây mùng tơi để cản đường đám đón dâu. Mùng tơi là một thứ dây leo mềm, rất dễ đứt, tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng, phải nương nhau mà gìn giữ. Cũng vì thế sợi giây căng ra cản đường mà không ai dám động vào, sợ đứt thì không nên, không tốt. Cũng chẳng ai dám bước qua. Trẻ con biết thế, cứ căng ra để mè nheo, đòi tiền chăng-giây. Kỳ kèo, nhì nhằng một lúc cho có lệ, tụi trẻ cũng mở giây để nhà trai tiếp tục đi. Đến cổng nhà gái, thì cổng đã đóng chặt. Tụi trẻ con nhà gái giữ cổng lại đòi tiền mở-cổng. Lại nhì nhằng mà cả mãi, cổng mới được mở ra. Đám đón dâu ùn lại trễ đến nửa giờ. Khi cánh cổng nhà gái vừa được mở ra, một bánh pháo Điện Quang buộc ở cành na, trước sân bắt đầu nổ vang đì đùng. Khói pháo mù mịt. Cụ cầm hương xêng sang bước tới. Chú rể và họ nhà trai quần áo chững chạc bước vào lòng sân gạch còn đầy xác pháo hồng và mù mịt khói thơm. Khi hai họ đã tề tựu, lễ vật đã được bày trước bàn thờ gia tiên, có một bà cô nào đó bên nhà gái đỏng đảnh ngỏ lời: "Thay mặt cho nhà gái, chúng tôi muốn được biết đồ dẫn cưới gồm những gì đây..." Áo dài, áo cánh, váy lụa, sà-tích bạc và một gói tiền được bày ra. Bà đại diện nhà gái lại nói: "Nói trên có các cụ bỏ lỗi cho, chứ cháu gái tôi đáng giá có ngần ấy thôi sao?" Tuy biết đây chỉ là lời đối đáp theo thủ tục cho có lệ, nhưng cũng làm cho mọi người khựng lại. Chú Châu tôi đứng ở hàng sau, nóng mặt nói lớn: "Không nhận lễ thì con gái để đó mà làm mắm à..." Mọi người bỗng cười ồ. Nhà gái vội nhận lễ vật và đem vào buồng cho cô dâu thay áo mới. Cô dâu bước ra, áo dài tứ thân bên ngoài, áo cánh nâu non bên trong, yếm trắng tinh, thắt lưng hoa lý, giây xà-tịch bạc buông dài bên gối, đủng đỉnh, thẹn thùng. Nhờ có mấy người đẩy, cô dâu mới bước tới ra chào hai họ. Lúc ấy thì bà đại diện nhà gái lại tươi cười lên tiếng trước: "Dạ, trên có các cụ hai họ, dưới là tất cả gia đình hai bên. Cháu gái tôi được về làm dâu họ Phan là một điều sung sướng. Nhưng cháu nó có nhớn mà chả có khôn. Thôi thì khôn thì các cụ dạy ít, dại thì các cụ dạy nhiều...". Tiếp sau đó là các bà dì, bà cô, họ hàng sà vào, tíu tít: "Dì thì nghèo. Dì chả có gì nhiều cho cháu, gọi là có, dì cho cháu cái thoi... Cô tuy có tiếng mà chả có miếng, cô có tấm vải cô cho cháu đem về làm dấn làm vốn..." Sau mục họ hàng cho quà, cỗ bàn được bày ra. Ngoài những bát canh, bát om, đĩa thịt mỡ thái quân cờ như thường lệ ở làng, cỗ cưới bao giờ cũng có một gói nem. Nem là bì thịt lợn trộn với thính, được gói bằng lá chuối xanh vuông vức, buộc bằng hai cái lạt màu đỏ, để ở cạnh mâm như một thứ trang trí rất đẹp, rất vui mắt. Những tay xính rượu, trước khi đi dự đám cưới đã thủ sẵn một nhúm lá ổi non để nhắm với món mem này. *** Sau bao nhiêu năm xa cách, trước phút vợ chồng tôi lên đường ra phi trường từ Mỹ để về thăm Việt Nam, anh Hai tôi từ Úc gọi qua, anh dặn thêm: "...như thế là chu tất. Có điều em nhớ thăm chú Châu cho anh. Nhớ biếu chú một món quà cho anh..." Tôi vâng lời mà lưỡng lự. Anh tôi hiểu ra và tiếp: "Sở dĩ anh nhắc em điều ấy là vì anh em mình chịu chú một cái ơn..." Câu chuyện thế này. Lúc ấy là cuối năn 1954, hiệp định Geneve đã ký. Ai muốn đi Nam thì đi, ai ở lại cũng được. Anh Hai tôi lúc ấy là Trung Uý, thường gọi là Quan Hai. Sau mấy tuần nằm nhà thương vì bị trúng đạn ở chân trong một trận đụng độ khá ác liệt đâu như ở Thái Bình, Phủ Lý gì đó, nhờ có khả năng ngoại ngữ, anh Hai tôi được chỉ định ở lại Hà Nội, phụ trách việc liên lạc với Hải Quân Hoa Kỳ trong việc đưa đồng bào vào Nam. Trung Uý trẻ, được phát một cái xe jeep mui trần mới tinh, sau giờ làm việc, buổi chiều lái loanh quanh Hà Nội. Anh Cả tôi và hai cô em gái từ quê ra bảo: "Chú ở lại đi. Đi Nam làm gì. Hai năm nữa tuyển cử mà. Ở lại không sao đâu, họ bảo thế." Anh Hai tôi chỉ cười, nhưng lòng cũng hoang mang. Cho đến những ngày cuối phải giao Hà Nội cho Việt Minh, chú Châu tôi từ quê ra tìm gặp anh Hai tôi và hỏi: "Quan Hai, có xe ô tô riêng oai nhỉ. Thế vào Nam họ có cho lon Quan Hai nữa không ?". Anh Hai tôi cười và nói: " Vẫn thế và có thể còn từ từ lên cao hơn nữa chứ...". Nghe thế, chú Châu nói nhỏ bảo anh tôi: "Chú nói thật. Chạy đi. Ở lại không được đâu. Đi đi. Tin họ thế nào được..." Nhờ lời nhắn nhủ đó, anh em tôi đã có mặt ở trong Nam suốt 21 năm. Chúng tôi, như đa số đồng bào từ Bắc vào Nam, nhờ chịu khó, hầu như ai cũng có cuộc sống no đủ. Riêng anh em tôi, chúng tôi, ngoài nỗi nhớ quê nhà, nhớ Hà Nội, chúng tôi đã có cơ hội đi học lại, học thêm và thăng tiến. Ở Miền Nam, dù chúng tôi không thuộc đảng phái nào, cũng đã được xã hội đối đãi đầy thương mến. Chúng tôi có bằng hữu, có những chân tình giữa đồng đội, xóm giềng. Nhiều lần khi còn ở Việt Nam, anh em tôi thường nói với nhau: "Miền Nam hiền hoà, đơn giản. Miền Nam đã rộng lòng bao bọc chúng ta". Chúng tôi cũng đã hết lòng làm một công dân lương thiện. Chúng tôi cũng đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình. Tôi nghĩ rằng đại đa số người Bắc vào Nam năm 1954 đều có ý nghĩ như tôi. Nhưng xa hơn một chút, nếu không có chú Châu lặn lội từ quê ra Hà Nội nhắc "đi đi..." thì chưa chắc chúng tôi đã quyết liệt đi như thế. Bao nhiêu năm xa cách. Bao nhiêu chia lìa, tan tóc, giờ cuộc chiến đã tàn. Những gian lao cơ cực của người tỵ nạn lúc đầu với tôi đã tạm qua. Chúng tôi đã có cuộc sống ổn định. Các con, dù rất chật vật, chúng tôi cũng đã nuôi dạy, học hành coi như xong. Tốt nghiệp đại học, có công ăn việc làm, không còn tuỳ thuộc vào cha mẹ nữa. Tôi tạ ơn Miền Nam, và cũng xin tạ ơn miền đất mới xa lạ này. Tất nhiên tôi không thể quên lời nhắc nhở của chú Châu. 40 năm xa cách, khoảng thời gian quá dài. Tôi nhắm mắt lại để cố hình dung ra chú Châu. Chắc chú đã già, râu tóc đã bạc, nhưng chú có còn cười đùa, nghịch ngợm như xưa? Chịu. Hình ảnh chú Châu với tôi chỉ là một thanh niên ngoài 30 tuổi, đùa nghịch, nghịch tinh và như thầy tôi nói "biết đến bao giờ mới đứng đắn đây". Ở Hà Nội mấy ngày rồi chúng tôi về quê. Sau những gặp gỡ, lễ lạc chính, tôi bảo chú em "cho anh thăm chú Châu..." Chú em tôi như một thoáng ngỡ ngàng: "A, cụ Châu. Vâng thì mình hãy thư thả". Sợ quên, nhất là lời dặn của anh Hai tôi, tôi nhắc: "Cứ cho anh thăm cụ Châu trước, sợ rồi bề bộn công việc...". Chúng tôi đi theo con đường chính giữa làng. Xưa tôi thấy nó thêng thang đỏ au gạch chỉ, nay sao nó bé quá, hai bên nhà cửa chen chúc mọc đầy, khác hẳn quanh cảnh ngày cũ. Nhưng khi đi qua bờ ao Hậu thì tôi nhớ ra rồi. Con đường này, ngày đám cưới chú Châu, hai họ đã đi qua đây. Cụ cầm hương mặc áo thụng xanh đi đầu. Khói hương bay lượt thượt. Chú rể áo the, khăn lượt vừa đi vừa cười. Cô dâu nón thúng quai thao, bao xanh hoa lý, xà-tích bạc óng ả, thẹn thùng đi giữa các cô phù dâu. Cạnh ao là dinh cơ của bác Tham tôi. Một dinh cơ cất theo lối mới nhưng vẫn là "thượng gia hạ trì", nhà trên ao dưới, tường hoa phủ kín hoa tường vi vàng ối. Nay dinh cơ ấy vẫn còn mà sao bề bộn, cũ kỹ quá. Dọc theo chiều dài bên kia ao là nhà thờ Quan Bác. Những năm cụ Thiếu về quê ăn Tết, nhà Quan Bác sửa soạn nhà thờ từ trong năm. Dù, lọng óng ả. Bát bửu, y môn, câu đối được lau lại, treo lên thật rực rỡ, uy nghi. Giờ là một căn nhà tối đen, thấp tè ẩn hiện qua mấy khóm tre um tùm mọc ở mé ao. Tôi vừa đi vừa nhớ lại. Những vết tích cũ đều đã phai nhoà, tàn tạ, khiến lòng tôi buồn bã bâng khuâng. Đang miên man suy tưởng thì chú em tôi nói: "Dạ xin bác vào đây..." Tôi theo chú em rẽ vào một con ngõ nhỏ, tường gạch ong đen, hai bên cống rãnh dật dờ, mùi hôi phảng phất. Chúng tôi dừng lại trước một căn nhà nhỏ. Một bà cụ mặc áo cánh nâu bạch thếch, đầu vấn tóc trần nhìn ra. Chú em tôi lên tiếng trịnh trọng, to tát: "Thưa cụ, bác cháu từ Mỹ về lại thăm hai cụ". Tôi cúi đầu chàu "thím". Bà cụ ngỡ ngàng một chút, dơ hai tay lên trời và kêu lên: "Ấy cháu...". Tôi nắm lấy đôi tay bà cụ. Đôi cánh tay gầy bọc trong hai ống tay áo bạc màu, đã rách. Rồi bà thảng thốt nói lớn vào phía trong: "Ông ơi ! cháu nó từ bên Mỹ về...". Tôi cúi đầu bước vào nhà. Căn phòng ánh sáng mập mờ. Một cụ già từ trong góc chiếu đưa đôi tay quờ quạng ra phía trước: "A ờ, cháu về thật à..." Đôi mắt cụ kém, tay run run và cái đầu lúc lắc không yên. Tôi nắm bàn tay "chú", cố tưởng tượng ra hình ảnh ngày xưa, một ông chú trẻ luôn đùa nghịch mà đành chịu. Trước mặt tôi là một cụ già mà sức khoẻ cũng như tinh thần đã lụn, đã tàn. Trước chỗ ngồi là những ly nước chè đóng váng cáu đen. Cái điếu bát đầy tàn thuốc... Tôi ngồi xà xuống bên cạnh chú. Chú vòng tay qua ôm lưng tôi. Một chút hơi ấm pha mùi thuốc lào cay nồng. Thật là hết, hết hẳn hình ảnh chú Châu ngày cũ. Tôi nhắc lại chuyện cũ, nhắc lại lời anh Hai tôi nói cám ơn chú, chú chỉ "ờ ờ...". Đôi lúc chú lại nắm lấy cổ tay tôi và nói: "Cháu, cháu thật à...". Tôi nhẹ nhàng bỏ một phong thư vào túi áo chú. Chú cười cười. Tôi nói đùa: "Để chú ăn phở". Chú lại cười, khoe hai hàm răng chỉ còn có lợi. Trên đường về nhà trời chiều đã tối. Những căn nhà nhô ra, thụt vào lấp loáng ánh đèn. Người đi kẻ lại, nói cười, chào hỏi mà tôi không nhìn rõ mặt, chẳng nhận ra ai là ai, như bóng dáng của những người từ một thửơ nào đã mờ xa, không thật. Bước những bước chập choạng lạ lùng trên con đường cũ bao năm xa cách, tôi thấy mình như đang chìm ngợp giữa một cơn mê chập chờn qúa khứ và hiện tại mờ nhoà không phân định. Ở cuối tầm mắt, ẩn hiện sau một tàn cây đen sẫm, ngôi sao hôm xanh ngắt, lấp lánh như một ánh mắt của ai cũ e lệ, kín đáo dón dén đón mừng. 2007-12-22 04:02:50 (http://www.vantuyen.net)
-
Nguồn: http://www.vnexpress.net Lên đồng nhìn từ góc độ khoa học Cho đến nay, chưa có nhà khoa học nào thực sự khẳng định “có” hay “không” sự tồn tại của một thế lực siêu nhiên trong việc xuất nhập hồn. Nhưng có lẽ điều đó xuất phát một phần từ lòng tin, sự tự ám thị, nhu cầu chữa bệnh và cả tâm lý phấn chấn, bí hiểm do chính các buổi lên đồng tạo ra. Một hội thảo quốc tế về Tín ngưỡng thờ Mẫu và lễ hội Phủ Giầy vừa diễn ra trong hai ngày tại Câu lạc bộ Báo chí Hà Nội. Chủ đề chính được bàn luận là các hình thức xuất nhập hồn trên thế giới và việc gọi tên là Shaman còn gây nhiều tranh cãi. Trước khi ngồi vào bàn thảo luận, các nhà khoa học quốc tế đã sang Phủ Giầy, trung tâm thờ Mẫu của người Việt, “mục sở thị” các lễ hầu đồng. Trong số khoảng 40 tham luận, hơn 1/3 bàn về lịch sử, tín ngưỡng thờ Mẫu, còn lại là những nghiên cứu bước đầu về nghi lễ hầu đồng của người Việt, nghi lễ Then của người Tày, Mỡi của người Mường… Và rất nhiều hình thức Shaman (xuất nhập hồn) trên thế giới. Chân dung những thầy pháp, người lên đồng được miêu tả khá kỹ. Những người này hầu hết đã trải qua những biến cố bất thường về tinh thần, đa số đã đi đến khủng hoảng, bế tắc. Nhân tố ám thị Khảo sát trên 10 người hầu đồng tại khu vực Phủ Giầy Nam Định, bác sĩ Trần Mạnh Cường đưa ra kết luận: Lên đồng lễ hội Nam Định là một trạng thái biến đổi ý thức do nhân tố ám thị và tự ám thị gây ra. Nhân tố mạnh nhất là lòng tin truyền thống của người hầu đồng cũng như gia đình và những người xung quanh vào sự tồn tại của thần linh và khả năng tiếp xúc giữa người trần với thần linh qua thân thể của người hầu đồng. Rồi nhạc cụ gõ, màu sắc kích thích (đỏ và vàng), nhạc, hương khói, hát chầu văn, chất kích thích (rượu, thuốc lá, trầu cau…), sự say mê và nhiệt tình của con nhang đệ tử… cũng là những yếu tố thúc đẩy trạng thái biến đổi ý thức của người hầu đồng. Nhu cầu chữa bệnh Nhạc lên đồng - chầu văn, có người ví là rock Việt Nam với hai đặc trưng là sự lặp đi lặp lại của trật tự các nghi lễ và tính chất mạnh mẽ, náo nhiệt của tiết tấu nhảy, phù hợp với nhiều kiểu vận động và trạng thái tình cảm khác nhau, lúc thì khiến tâm hồn người ta bay bổng, lúc đau đớn buồn thương, lúc lại hừng hực khí thế, lúc phấn chấn say mê… Nhìn từ phương diện y học, lên đồng không phải là một trạng thái tâm lý đặc biệt… và rõ ràng trong xã hội có tồn tại một nhu cầu chữa bệnh bằng hình thức lên đồng (tham luận của Tiến sĩ Nguyễn Kim Hiền, Viện Nghiên cứu Tôn giáo). Các đại biểu tham dự hội thảo cũng được giới thiệu nhiều hình thức có tính nhập, xuất hồn như: Hiện tượng giáng bút ở Việt Nam; Hiện tượng diễn xướng sử thi; Phi Một - phương pháp chữa bệnh của người Thái; Shaman giáo của người H’Mông ở Lào Cai, Shaman của người Malaysia; Hôn nhân huyền bí và việc tích luỹ sức mạnh Shaman giữa các dân tộc Bana (miêu tả và nghiên cứu giấc mộng về quan hệ nam nữ với thần thánh của người được chọn là Shaman)… Tưởng tượng chứ không ghi nhớ Trường hợp các nghệ nhân Mường, Bana, Mnông, Êđê, Raglai… ngồi và nằm kể sử thi cũng như một trạng thái nhập thần. Bà Pinăng Mutơt, năm nay 95 tuổi, người Raglai ở Khánh Sơn, Khánh Hoà khi kể sử thi trạng thái tâm thần không bình thường như lúc chuyện trò, bà thấy hiện ra trước mặt các nhân vật như Uđai-Ujà, phong cảnh núi non sông suối. Có nghệ nhân kể sử thi một lèo suốt 42 tiếng và vì thế việc kể thuộc lòng một khối lượng rất lớn sử thi không phải là khó hiểu nếu chúng ta cho rằng nghệ nhân đang thuật lại những gì hiện lên trong đầu chứ không phải huy động trí nhớ (tham luận của PGS. TSKH Phan Đăng Nhật). Về hiện tượng giáng bút, GS Vũ Ngọc Khánh đề nghị giới khoa học phải nhìn nhận nghiêm túc hơn để theo dõi. Cùng với giáng bút, sinh hoạt đạo giáo như cầu cơ và những trò chơi dân gian: phụ đồng chổi, đồng chén, đồng ếch… đều là những hình thức mang tính chất gần gũi với tục lên đồng. Cho đến nay việc nghiên cứu cơ chế trị liệu của lên đồng nói riêng và các hình thức trị liệu dân gian khác về phương diện tín ngưỡng - tâm linh còn ít được chú ý đến ở Việt Nam. (Theo Tiền Phong, 12/4)
-
Nguồn: http://www.vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/2004/12/3B9D9A7F/ Dân gay lên đồng Một giá đồng. Trước kia, Song chỉ là tay "gay" đứng đường đón khách ở hồ Thiền Quang. Hai năm sau, Song "tậu" được xe Dylan đời mới, còn bạn tình thì thay như thay áo. Một khách quen của Song thì thầm: "Nhờ lộc các Thánh đấy! Tay này có tiếng là rất bạo trong đám đồng cô". Hiện tại, cái tên Song "Gái" cúng cơm của anh ta đã chết. Thay vào đó là một cái tên hoàn toàn mới: "cô" Phúc. Ở Hà Nội, hiện tại có đến 70% những người đứng giá hầu đồng là dân gay, cũng cạnh tranh khốc liệt như bất kỳ nghề nào. "Cô" Phúc ngả ngớn với mấy cậu trai trẻ. Trên tay trái của bọn họ đều đeo một cái khuyên nhỏ nhắn, dấu hiệu tìm bạn tình. Dân "gay" ở đây nhẵn mặt nhau. Nam được "cô" Phúc mời ngồi "cùng làm vài ly". Một anh bạn hỏi: "Chị dạo này làm ăn thế nào? Tháng này chị lên đồng được mấy đám hả?". Nhổ toẹt miếng bã trầu trong miệng ra, nhấp ngụm rượu mạnh, "cô" Phúc thong thả đáp: "Dạo này không có khách mấy nên tháng vừa rồi chạy được hơn chục vụ, chỉ kiếm được mấy nghìn đô tiêu vặt". Một lúc sau, Phúc than vãn, "cô" Ánh, "cô" Bình vừa trúng quả đi mở phủ ở Hà Tây, Ninh Bình, kiếm hàng trăm triệu. Phúc nói: "Ối dào! "Con" ấy giọng thì chua loét, đức độ không có, nghiện ngập, thế mà mấy thằng bóng cứ mê tít, cúng cho nó hàng trăm triệu". Hôm sau, theo lời giới thiệu của người quen, Nam đến gặp "cô" Lộc ở Giảng Võ, Hà Nội. Vừa gặp Nam, "cô" cất giọng eo éo: "Giời ơi! Em là có căn cơ đấy nhá. Ra hầu đồng, lộc đè chết người". Thì ra, "cô" Lộc đang xem Nam là "khách". Muốn hầu một giá đồng phải tìm được những "nhà tài trợ". Đó là nhân vật sẽ chi từ A đến Z cho cuộc lên đồng đó. Thấy Nam ngẩn ngơ chẳng hiểu gì, "cô" cầm tay Nam vuốt vuốt vai, thẽ thọt: "Đầy người "mất sạch sành sanh mà chẳng được manh áo đỏ" đấy! Theo "cô" thì mặt hoa da phấn, ăn sung mặc sướng. Nếu không theo, sẽ gặp vận hạn cả đời đó". Những lời của các "cô" sao mà ngọt ngào chí lý đến vậy. Nam ngồi nghe mà mê mẩm cả tâm thần. Thế mới biết không ít người hiểu biết, từng trải, có học hẳn hoi mà vẫn bị các "cô" vần vào bẫy. Khi con mồi đã say đòn cũng là lúc các "cô" luộc gà. Thủ tục trước nhất là sắm áo, khăn, đai, hài. Những bộ quần áo xanh xanh, đỏ đỏ dành cho giới lên đồng chỉ có bán ở một chợ duy nhất, phố Hàng Nón. Các "cô" và những tay chủ này đã nhấm nháy với nhau từ trước. Một bộ áo xống gồm áo, khăn, quần đai giá thật chỉ 1-2 triệu đồng. Thế nhưng khi các "cô" dắt đi mua, giá của nó lên tới 8-10 triệu đồng. Riêng đai có những cái rất đắt, lên tới 5 triệu đồng. Số tiền chênh lệch đó "cô" xơi đến 2/3, khách tỏ ý chê đắt hoặc tiếc của, "cô" tru tréo: "Gớm cái nhà này. Đừng tiếc tiền. Bỏ ra 1 thánh thưởng cho 10, tha hồ mà hưởng. Hôm trước, "cô" dẫn cái Hồng ở Thuỵ Khuê lên đây, nó sắm bộ áo xống những 15 triệu đồng cơ". Khoản sắm lễ cúng cũng là một nguồn thu bất tận cho các "cô". Những người hay đi hầu chủ yếu là dân buôn bán lớn, nhà giàu, vợ con các đại gia... ngại ra Hàng Mã mua đồ lễ nên khoán trắng cho các "cô". Vấn đồng lớn chỉ khoảng 2-3 triệu đồng, "cô" tố lên 7-8 triệu đồng, ung dung nhét túi 5-6 triệu đồng mà chẳng mất tý công sức nào. Một kiểu làm tiền khác của các "cô" là khi chuẩn bị đi hầu ở một nơi nào đó, các "cô" gọi điện cho các con nhang: "Này! vài ngày nữa là "cô" đi hầu ông Hoàng Bẩy đấy! Có đi cùng để "cầu tài đắc tài, cầu lộc đắc lộc, cầu bình an đắc bình an" không?". Nếu đệ tử đó bận không đi được thì: "Thôi gửi cô chút ít lễ gọi là nhờ cô cầu cho vài câu để con ở nhà được mát lòng, hởi dạ". "Một ít" của họ có khi là dăm bảy trăm nghìn đồng, có khi là vài triệu bạc. Tất cả đều "chui" gọn vào túi các "cô". Dân mê đồng bóng còn nhớ chuyện "cô" Giang ở Phủ Giầy, Nam Định. Cứ gặp con nhang nào, "cô" cũng chỉ tay vào đôi hoa tai bằng bạc nói: "Cô thắt lưng buộc bụng, nhịn ăn, nhịn uống hòng sắm đôi hoa tai hơn 3 triệu đồng này để thờ Mẫu đấy! Bây giờ nợ nần còn chưa trả xong, khổ quá!". Thế là ai cũng móc túi ra, người thì dăm bảy chục nghìn đồng, người vài trăm nghìn đồng an ủi đưa "cô". Mãi sau này, một bà nghe chuyện bực mình quá mới nói: "Thôi xin "cô". Cái vòng đó là của ông Hàm ở Hàng Bạc tháng trước đi kính Mẫu. Thế mà "cô" đưa ra dùng nó để moi tiền thiên hạ còn ra thể thống nào nữa?" Một bà giàu có ở Hàng Bông mê mẩn nghe lời các "cô" giấu chồng con hiến hẳn một mảnh đất bên Gia Lâm để "lập phủ". Biết chuyện, mấy cậu con kéo đến đập phá ầm ĩ. Chị Thanh Bình, buôn bán nhỏ ở chợ Đồng Xuân là một con nhang tích cực suốt 10 năm nay, chán nản nói: "Nghe dụ ngon, dụ ngọt đi cầu được giàu sang phú quý, lên xe xuống ngựa, người hầu kẻ hạ. Thế mà tôi nghèo vẫn hoàn nghèo, mất bao nhiêu tiền của, giờ mới tỉnh ngộ". Thế nhưng, "hậu vận" của nhiều "cô" cũng chẳng sáng sủa gì. Kẻ kiếm tiền về cống nạp cho mấy tay trai tơ ăn chơi hết, kẻ thì nghiện ngập, cờ bạc. Không ít người bị gia đình, xã hội ruồng bỏ. (Theo Tiếp Thị và Gia Đình)
-
Lễ hội lên đồng Nguồn: tuoitre.com.vn TT - Sân khấu sáng rực ánh đèn, hệ thống âm thanh hiện đại với đôi loa thùng công suất lớn đặt hai bên..., chưa bao giờ người dân bên đền Kiếp Bạc (xã Hưng Đạo, Chí Linh, Hải Dương) lại được thưởng thức một “bữa tiệc” hầu bóng hoành tráng như vậy... Đó là lần đầu tiên những ông đồng, bà cốt trình diễn những màn nhập hồn đầy màu sắc tâm linh trên… sân khấu lấp lánh ánh đèn, chứ không phải là điện thờ nghi ngút khói hương. Theo lịch sắp xếp của ban tổ chức, đoàn “cậu” Tâm (ông đồng người Kim Thành, Hải Dương) đảm nhiệm màn lên đồng đầu tiên của liên hoan hầu thánh. “Cậu” Tâm vận chiếc áo phông đỏ chót, quần bò bạc màu, lăng xăng chạy đi chạy lại chỉ đạo các “đệ tử” bài trí ban thờ… Bên hông sân khấu, con nhang, đệ tử của “cậu” tất bật sắp sửa lễ vật, bày biện mâm quả... Giữa sân đền, ngay trước nhà tiền lễ, sân khấu nơi những ông đồng bà cốt sắp trình diễn nổi bật lên với ánh đèn sáng rực, long đình (ban thờ) nghi ngút khói hương, bập bùng ánh nến. Hai bên treo bốn bức tranh cách điệu hình bốn vị quan võ nom uy nghi lộng lẫy. Tôi lại gần các con nhang, đệ tử của “cậu” Tâm bắt chuyện. Chị T., một “đệ tử ruột” cùng quê với “cậu” Tâm, hồ hởi khoe: “Đêm nay tôi phụ đồng cho “cậu”. “Cậu” mở điện ở nhà đông đệ tử lắm, nhưng đến tham gia hội diễn này chỉ thân cận của “cậu” mới được đi cùng thôi, bây giờ có mặt tại đây cũng phải gần 100 người…”. Đêm 7-10 (tức 16-8 âm lịch), Liên hoan diễn xướng dân gian hầu thánh đã diễn ra với sự tham gia của các đoàn “hầu bóng” danh tiếng đến từ nhiều địa phương như Hải Phòng, Hà Nội, Hải Dương, Nam Định… Liên hoan hầu thánh kéo dài tới hết đêm 11-10 (20-8 âm lịch, ngày giỗ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn) với sự tham dự của hàng vạn khán giả… Gần tới giờ khai mạc, bà con kéo về nườm nượp. Ngoài những cụ già, mệnh phụ phu nhân, còn có rất nhiều bạn trẻ cỡ U-20. Tất cả ngồi chen chúc trên tấm thảm đỏ trải rộng trước long đình. Ban tổ chức giục oang oang trong loa thúc nhân viên đền huy động tất cả chiếu của nhà đền trải chỗ cho bà con ngồi xem. Đúng 20g, sau bài phát biểu khai mạc của giám đốc Sở VH-TT tỉnh Hải Dương Đặng Việt Cường, “cậu” Tâm bước ra chiếu đồng trong tiếng vỗ tay nồng nhiệt. “Cậu” mặc bộ quần áo lụa trắng, tóc vuốt keo bọt, mặt tô son điểm phấn, mai tóc để dài như con gái. “Cậu” cúi đầu chào khán giả thành thục như một ca sĩ. “Cậu” từ từ ngồi xuống chiếu đồng trước cặp mắt hồi hộp dõi theo của hàng ngàn khán giả và con nhang, đệ tử. Theo chân “cậu”, bốn phụ đồng (hai nam, hai nữ) nhanh chóng chuẩn bị trang phục, lễ lạt… Cánh cung văn nổi nhạc, tiếng đàn khoan thai, trống phách dồn dập, giọng hát văn vụt bổng bao trùm lên không gian sân đền. Những giá đồng vùn vụt trôi qua, khi thì “cậu” hóa thân thành một vị tướng trấn giữ miền biên ải tiến lui múa đại long đao vun vút, khi thì là một mệnh quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái miền cao đang tung tăng nhảy múa giữa bạt ngàn núi rừng. Giọng hát văn lúc dìu dặt, lúc vui nhộn tưng bừng, tâm trạng buồn vui của khán giả cũng biến đổi theo từng giá đồng. Có lúc cả đám đông say mê vỗ tay hòa cùng nhịp trống phách, có lúc vẻ mặt ai cũng buồn não nề theo tiếng đàn, giọng hát ai oán kể về nỗi niềm oan khuất của người anh hùng. Mỗi lẫn “cậu” Tâm trình diễn đến cao trào, hai đệ tử thân cận của cậu ngồi sẵn bên cánh gà chiếu đồng lại nổ pháo giấy trong tiếng vỗ tay cổ vũ nồng nhiệt của khán giả. 3 giờ sáng, màn diễn thứ tư của đêm hội “lên đồng” do ông đồng Vũ Khắc Long, Hải Phòng thể hiện. Trong khi cánh khán giả U-20 có vẻ thấm mệt, một số rời chiếu đồng ra về, thì nhiều cụ già cỡ 70-80 tuổi vẫn trắng đêm cùng “hầu bóng”. Bà cụ Yên, hơn 80 tuổi, nhà ngay sau đền Kiếp Bạc, cho biết: “Tôi cùng mấy cụ trong làng rủ nhau đến xem. Cánh cung văn hát hay thật. Chưa bao giờ tôi được xem một giá hầu như thế này”. - Lên đồng (hay còn gọi là hầu bóng) là nghi lễ phổ biến nhất của đạo Mẫu. Trong nghi lễ này, người ta tin rằng linh hồn của các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng để nghe lời cầu khấn của người đi lễ. Đạo Mẫu là một tín ngưỡng dân gian VN thờ các nữ thần (thường gọi là các Thánh Mẫu). Đạo Mẫu là một phần quan trọng trong hệ thống tín ngưỡng dân gian và bản sắc dân tộc của VN, được thờ tại các đền, phủ. Ở miền Bắc VN, các chùa cũng có bàn thờ Mẫu (tiền Phật, hậu Mẫu). Đạo Mẫu không chú trọng vào cuộc sống sau khi chết mà quan tâm đến cuộc sống hiện tại, và câu hỏi làm thế nào để người ta có thể đạt được một cuộc sống hạnh phúc và đầy đủ trên trần gian. Đạo Mẫu có hai dịp lễ hội quan trọng: “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”, kỷ niệm ngày mất của Đức Thánh Trần (cha) và Liễu Hạnh công chúa (mẹ). - Ông Nguyễn Khắc Minh, trưởng Ban quản lý khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc: “Thực chất “hầu bóng” là một sinh hoạt văn hóa tâm linh thuộc về dân gian có từ lâu đời, có ý nghĩa tôn vinh các nhân vật lịch sử cùng với công trạng của họ dưới hình thức nhập hồn và hát văn. Về nghệ thuật diễn xướng dân gian, đây là một tổng hợp nhiều diễn xướng khác. Có toàn bộ dàn nhạc dân tộc; có hát chèo, hát văn; có kịch múa, nhảy, hóa trang, lễ nghi. Một người diễn những 36 giá đồng, hóa thân vào 36 nhân vật với những tâm trạng diễn xuất khác nhau. Đây là hội của dân, chúng tôi chỉ đứng ra chủ trì để người dân tự làm”. TRỌNG PHÚ
-
Nghi lễ lên đồng Chủ nhật, 2/3/2008, 07:00 GMT+7 Từ bao đời nay, trong các làng thôn, ngõ phố, trong các đền đài nghi lễ lên đồng vẫn là một nghi lễ tín ngưỡng được nhiều người thành tâm thực hiện. Nhiều nơi, dù điện đài không trang hoàng lộng lẫy, dù không có được các cung văn đàn ngọt hát hay, đồ dâng cúng cũng rất sơ sài, nhưng với sự thành tâm, một cuộc lên đồng vẫn được thực hiện, và những người dân lam lũ vẫn trong một thoáng chốc đã được hưởng cảm xúc tiên giới một cách đủ đầy. Lên đồng thực chất là sự thăng hoa của các điệu múa dân gian nhưng hiện nay nó đã bị nhuốm quá nhiều "chất" mê tín... Theo quan niệm dân gian, vũ trụ gồm tứ phủ: Thiên phủ (miền trời), Địa phủ (miền đất), Nhạc phủ (miền rừng núi), Thuỷ phủ (miền sông nước). Mỗi một miền này có một nữ thần, thay quyền tạo hóa cai quản nhân gian. Các vị nữ thần đó là Mẫu Cửu Thiên cai quản miền trời, Địa Mẫu cai quản miền đất, Mẫu Thượng Ngàn cai quản miền rừng núi, và Mẫu Thoải cai quản miền sông nước. Từ bao đời nhân dân đã sống trong sự chở che của các Mẫu. Tôn vinh các Mẫu, người dân thờ phụng Mẫu ở khắp nơi, bất kể là thành thị hay nông thôn, đồng bằng hay miền núi. Thờ Mẫu trở thành một nét văn hóa giàu giá trị nhân văn và độc đáo trong văn hóa Việt. Và điệu hát chầu văn cùng nghi lễ lên đồng là một sự thể hiện niềm tôn kính đó đối với các Mẫu. Lên đồng là hình thức ca múa nhạc tín ngưỡng dân gian của Việt Nam có mục đích tôn vinh thần thánh và tạo cảm xúc, theo niềm tin tín ngưỡng, giúp con người giao tiếp với thần linh. Hiện chưa có các tài liệu khẳng định thời điểm ra đời của lên đồng - hầu bóng. Tài liệu khảo cổ duy nhất hiện biết và đáng tin cậy, với niên đại được xác định là thế kỷ XVIII, là bức chạm gỗ một cảnh lên đồng ở đình Cô Mễ, tỉnh Bắc Ninh. Tuy vậy, các nhà khoa học đều khá thống nhất cho rằng lên đồng - hầu bóng ra đời vào khoảng thế kỷ XVI, gắn với sự hiển thế / giáng sinh của Liễu Hạnh - vị nữ thần duy nhất trong Tứ Bất Tử của thần điện Việt. Dân gian còn hòa đồng Liễu Hạnh vào với Cửu Thiên Thánh Mẫu. Câu chuyện bà Liễu Hạnh giáng sinh và hoạ thơ với Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan ở Lạng Sơn và Hồ Tây cho thấy sự manh nha của việc giáng bút rất phổ biến ở thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Hát chầu văn lên đồng là hát lên các bài văn bài thơ có nội dung ca ngợi sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp tiên giới. Tuỳ thuộc tính cách của vị thần mà nội dung lời thơ, tiết tấu giai điệu âm nhạc, điệu múa được trình diễn. Trong sự phấn khích của niềm tin và sự cộng cảm, cùng các chất men kích thích của trầu, rượu, thuốc lá, trong ánh sáng lung linh của đèn nến và mùi hương trầm thơm ngát của không gian huyền ảo, cuộc gặp gỡ của con người và các Thánh mẫu được bắt đầu. Các Mẫu giáng về, nghe lời ca tụng của các đệ tử, nghe thơ, nhạc, và nghe cả những lời thỉnh nguyện của họ. Thánh Mẫu hoan hỉ ban tài phát lộc cho “bách gia trăm họ”, và mọi người đón nhận lộc thánh với niềm hân hoan vô bờ. Tất cả mọi người đều hướng về Thánh Mẫu và thầm mong được phù hộ. Một buổi hát chầu văn có thể được coi là cuộc hội nhập của thi ca âm nhạc, vũ đạo và hội hoạ mang đậm phong cách dân gian thuần Việt. Về thi ca: Các bài thơ để hát trong lên đồng bên cạnh các thể thơ tiếp thu từ văn học cổ Trung Hoa như phú, thơ luật, là những bài sử dụng lối thơ dân gian rất quen thuộc như: lục bát, song thất lục bát, hát nói. Các bài thơ này có lời văn chau chuốt, đẹp đẽ, ca ngợi vẻ đẹp nơi tiên giới, uy linh của các vị thần tự thân đã rất ý vị và giàu nhạc tính. Các bài thơ này, khi được hát lên, theo các làn điệu khác nhau (khoảng vài trăm làn điệu), thì mang lại một xúc cảm gấp bội. Về âm nhạc: Nhạc khí chủ đạo của hát văn là đàn nguyệt, và bên cạnh nó là phách, cảnh, sênh, trống chầu, chuông, trống… Hình thành trên các lối ngâm truyền thống, có tiết tấu và cao độ rõ ràng phụ thuộc vào lời thơ, hát văn không những hình thành nên những liên khúc có khả năng thể hiện những nội dung lớn của huyền thoại một cách sinh động mà nó còn tiếp thu thâu nhập những nét đẹp của dân ca các miền để làm phong phú sự thể hiện của mình. Về vũ đạo: Múa trong lên đồng còn gọi là múa thiêng, thể hiện niềm kính trọng đối với các thánh mẫu và các vị thần linh. Múa thiêng lên đồng xây dựng các hình tượng thần linh và một tiên giới giữa cõi trần. Trong lên đồng, múa thiêng mang đầy đủ các hình thức thể hiện của ngôn ngữ múa như: múa tính cách (thể hiện rất rõ tính cách khá riêng biệt của từng vị thần linh), múa trang trí (chú trọng đến ngôn ngữ tạo hình, vươn lên đến cái đẹp), múa mô phỏng (cưỡi ngựa, ngã ngựa, chèo thuyền, quảy hàng), … Về hội hoạ: Nếu như ta đến một hội làng, ta sẽ thật phấn chấn khi gặp một không gian rực rỡ sắc màu của cờ phướn, trang phục, xe kiệu… thì ta sẽ còn ngạc nhiên hơn khi đến xem một buổi lên đồng. Lên đồng có bao nhiêu giá (thường lên mươi, mười lăm giá; nhưng nếu lên đầy đủ có thể lên tới hàng trăm giá), thì có bấy nhiêu trang phục và đi kèm với các trang phục này là các khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng nữa. Rồi đèn, nến, rồi lễ vật, và các trang trí nhiều khi tỏ rõ sự phô trương. Có lẽ vì thế mà các hội làng và các buổi lên đồng thường gây nhiều cảm hứng cho các họa sĩ. “Hơn bất kỳ một quyển sách khô cứng, một bức tranh hay một bức tượng nào, lên đồng là một bảo tàng sống động. Người Việt đã triển lãm nền văn hóa Việt Nam cho người Việt và người nước ngoài. Những người tham gia hầu đồng chính là những người quản lý nhà bảo tàng, những người bảo vệ cho văn hóa Việt Nam. Việc làm của họ đảm bảo cho các thế hệ tương lai vẫn sẽ tiếp tục có cơ hội được chiêm ngưỡng những khía cạnh khác nhau của văn hóa Việt Nam, mà chúng đang dần bị nhạt nhòa đi trong đời sống xã hội hàng ngày, chỉ còn hiện diện trong điện thần của đạo Mẫu”. Chúng tôi xin mượn lời của GS.TS. Frank Proschan của Smithsonian institution Washington DC của Mỹ để kết thúc bài viết này. TS. Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) - Nguồn: Vietimes
-
Phải nói là ngày nay việc lên đồng quá phổ biến. Công khai và sôi nổi ở mọi nơi. Cái gì tồn tại cũng có lý do. Có lần Phoenix vô tình ngồi nói chuyện cùng chiếu với mấy bà, mấy cô thì tất tật đều là dân đồng cả. Nghe họ trình bày, chia sẻ với nhau các vấn đề của họ thì cũng ái ngại. Dường như "hầu giá" là một phương thức để họ thực hiện những sứ mệnh của mình. Trong khi còn chưa có câu quyết định cuối cùng, nếu ai quan tâm thì tạm ngâm cứu các thông tin vậy. ACE nào có những câu chuyện liên quan hoặc thực tế đã tham gia thì mời cùng chia sẻ để mở rộng nhận thức. Xin giới thiệu bài viết của Lưu Thủy (Vietimes): Lên đồng: Mê tín hay nhu cầu "thành danh" với "thần thánh"? Thứ hai, 3/3/2008, 07:00 GMT+7 Ngày cuối tuần, tôi chưa có kế hoạch gì cho mình thì nhận được điện thoại của một người bạn: “Cậu có đi xem hầu đồng không?”. Tôi từ chối bởi tôi không phải là người quan tâm nhiều đến những chuyện liên quan đến tín ngưỡng. Chưa kịp giải thích lý do, anh bạn tôi nhanh nhảu: “Cậu đi đi, hấp dẫn lắm đấy. Cậu mà đi sẽ có khối đề tài để viết bài”. Bị lôi cuốn bởi lời chào mời, tôi gật đầu đồng ý, coi như đó là một hoạt động cho ngày cuối tuần. Lên đồng, vốn là sự thăng hoa của các điệu múa dân gian, giờ đây đã nhuốm nhiều mầu sắc mê tín, dị đoan. Nhiều kẻ đã và đang trục lợi trên sự mê tín này của một số người dân chất phác... Bạn có thể tự cảm nhận được sự hài hước và sự trục lợi không cần tinh vi lắm của những kẻ lạm dụng nghi thức "Lên đồng". Thậm chí, một số người chấp nhận sự "mê tín" đó để được "nhẩy múa", được "thành danh" với thiên hạ rằng mình đã từng "nhập đồng"..... Theo tín ngưỡng dân gian, "Hầu đồng", ngoài sự thăng hoa của các điệu múa, thì nó còn là nghi lễ nhập hồn của các vị Thánh tứ phủ vào thân xác ông đồng bà cốt. Trong nghi lễ đó, hát vǎn phục vụ cho quá trình nhập đồng hiển thánh. Sau khi đã múa các thánh thường ngồi nghe cung văn hát, kể sự tích lai lịch vị thánh đang giáng. Với các giá ông Hoàng thì cung văn ngâm các bài thơ cổ. Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác về gối và thưởng tiền cho cung văn. Lúc này cũng là lúc thánh dùng những thứ người hầu đồng dâng như rượu, thuốc lá, trầu nước... Các thứ thánh dùng phải làm nghi thức khai cương (khai quang) cho thanh sạch. Hầu đồng là nghi thức có trong tục thờ Mẫu chỉ có ở Việt Nam. Tôi đã đọc cuốn “Mẫu thượng ngàn” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. Với tôi, nếu xét ở góc độ văn học thì đây không phải là cuốn tiểu thuyết xuất sắc. Nhưng nếu xét trên góc độ của một người ham tìm hiểu về văn hóa Việt Nam (trong đó có tục hầu đồng và hát văn) thì đây sẽ là một cuốn sách rất thú vị. Tôi cũng đã đọc nhiều cuốn sách viết về hầu đồng nhưng chưa bao giờ được tận mắt chứng kiến. Tôi luôn băn khoăn không hiểu điều gì có thể khiến cho con người ta có được những giây phút thăng hoa như thế. Đúng như lịch hẹn với anh bạn, chúng tôi khởi hành. Trên đường đến ngôi chùa ở làng Yên Hòa, anh thao thao kể về chuyện lên đồng như để tăng thêm sự thuyết phục đối với tôi: “Cậu biết không, “cô” Cường này phải bỏ ra 60 triệu đồng để hầu giá này đấy. Khổ, căn cơ nó thế, nó mà không hầu thì thánh vật chết. Đi làm ăn ở bên Đức cả năm, về chuyến này lại phải bỏ ra cả đống tiền để hầu. Mà cũng lạ, vợ con nó không biết đâu nhé”. Tôi chưa hết choáng váng vì số tiền mà “cô” Cường phải bỏ ra thì anh bạn tôi tiếp: “Lúc đầu mình cũng không tin, nhưng ở gần nhà mình có một cô làm ở Tòa án nhân dân, tránh mãi đấy mà không tránh được. Lúc đi làm thì ngại đồng nghiệp lời ra tiếng vào, bây giờ về nghỉ hưu rồi, năm nào cũng phải hai lần hầu thánh”. Đang mải huyên thuyên thì xe của chúng tôi đã đến cổng chùa. Đồng hồ của tôi chỉ 2 giờ chiều. Chùa mới được xây lại nên khá khang trang và rộng rãi. Sư thầy đón chúng tối với vẻ niềm nở bởi anh bạn tôi là phật tử “ruột” của chùa. Nom sư thầy phương phi, môi đỏ chót, miệng nhai trầu bỏm bẻm. Thầy thong thả bảo: “Hôm nay thằng Cường nó không hầu đâu. Bên kia “cô” Sơn đang hầu. Giá này phải đến 6 giờ chiều mới xong. Sau đấy là giá của “cô” Hà - ở nhà hát…”. Từ gian thờ mẫu của chùa, tiếng nhạc và tiếng hát văn văng vẳng vọng ra. Không kịp để cậu bạn giải thích lý do “cô” Cường không thể hầu được, tôi xin phép sư thầy rồi kéo cậu bạn sang gian Mẫu. Phía bên trong, đã đông chật người ngồi vây quanh tấm phản. Ở chính giữa ngay dưới chân diện thờ là tấm phản nơi “cô” Sơn đang lên đồng. Trong đám khói nhang nghi ngút, cô “Sơn” “mặt hoa da phấn” (theo đúng nghĩa của từ này) đang nhảy múa trong tiếng hát văn và tiếng nhạc phát ra từ ban nhạc ngồi ngay bên trái của giá, thỉnh thoảng cô lại liếc một cái rõ dài về phía các con nhang đệ tử đang ngồi phía dưới. Các con nhang liên tục miệng “Lạy cô, lạy cô, cô xinh quá, cô múa hay quá”. Ngay lập tức, “cô” trao lại hai chùm nến đang hừng hực cháy trên tay cho hai người hai bên và nhận từ họ một xấp tiền mệnh giá 2.000 đồng mới cứng và xòe ra. Lúc này, các con nhang ở dưới tay vỗ theo điệu nhạc, miệng liên tục “cô xinh quá, cô đẹp quá”. Lời khen lập tức có hiệu lực, xấp tiền trên tay cô được tung ra khắp nơi như mưa, các con nhang thôi không “miệng khen tay vỗ” nữa mà hú hét, tranh nhau “lộc” của “cô” vừa ban xuống. Hết một giá, “cô” ngồi xuống trước ban thờ, một chiếc khăn đỏ được trùm lên đầu “cô”, ngay sau đó “cô” về trời, chiếc khăn được gỡ ra và hai người hai bên lại thay cho cô một bộ đồ khác để vào giá mới. Mùi nhang đặc quánh khiến cho tôi khó thở, tôi bỏ ra phía ngoài. Lúc này, những người đứng xem vẫn tiếp tục vỗ tay khi “cô” vào giá mới. Tôi hỏi chuyện một bà lão đã ngoài 70 đang đứng phía ngoài ngóng vào bên trong vì không còn chỗ, bà vừa vỗ tay, vừa nhún nhảy, vừa đáp: “36 giá cậu ạ, mỗi giá “cô” sẽ thay một bộ xiêm y mới”. Tôi liếc nhìn đống quần áo còn khá dày và tất cả còn đang mới, và phải khẳng định nhìn “thật” hơn rất nhiều so với quần áo của các diễn viên tuồng hay cải lương mà tôi đã thấy trên sân khấu. Đoán chừng phần của “cô” Sơn sẽ còn lâu nên tôi sang gian chính của chùa uống nước cùng sư thầy. Thông qua sư thầy, tôi được biết “cô” Sơn là sư bác đang tu tại chùa. “Cô” sinh năm 1983, “hầu thánh” đã được gần 10 năm. Chi phí của mỗi cuộc là do các con nhang đệ tử chu cấp hết bởi trong số họ, nhiều người có căn nhưng đang công tác nên phải nhờ cậy “cô” hầu giúp. Còn cô “Hà” hầu ngay sau cô Sơn là diễn viên của một nhà hát ở Hà Nội. “Cô” đã tốt nghiệp Trường Sân khấu điện ảnh, nhưng “căn quả” nặng quá nên năm nào cũng hầu ở chùa này. Cô sinh năm 1978 nhưng đã có thâm niên hầu thánh tới 10 năm. Đang ngồi trong chùa thì có một chiếc Dylan đổ xịch trước sân chùa. Người ngồi trước là một thanh niên vạm vỡ mặc chiếc áo pull cộc tay màu đen, dù trời khá lạnh. Người đàn ông phía sau ôm chặt cứng người phía trước. Xe vừa tắt máy, người thanh niên phía sau, tay xách một túi màu đỏ lớn, miệng dẻo quẹo: “Con chào thầy, thằng Sơn nó hầu lâu chưa hả thầy?”. Mấy bà nhìn thấy anh ta thì chạy tới đon đả: “Chuẩn bị đến đâu rồi, lâu lắm mới được xem “cô” hầu thánh đấy”. Anh ta nguýt một cái rõ dài rồi tiếp: “Lát các bà các cô ở đây đấy nhé, lộc đã chuẩn bị hết rồi đây”. Anh ta chìa cái túi đỏ to tướng về phía những người đàn bà kia. Lúc này sư thầy lên tiếng: “Hà mới đến hả con, vào uống nước rồi đi trang điểm không lại muộn mất. Bên kia chắc cũng gần xong rồi”. Ngay sau đó, tiếng nhạc dừng hẳn. Những con nhang đệ tử túa ra từ phía gian thờ Mẫu. Một số người lấy xe ra về, một số người khác xuống bếp nhà chùa ăn bún để tiếp tục ca 2. Lúc này, cô “Sơn” đã đi vào phòng tẩy trang sau hơn 4 giờ nhảy múa liên tục. Tôi tò mò muốn tận mục khuôn mặt thật sau lớp son phấn của “cô”. Cửa phòng mở ra, tôi sững người vì không ngờ một người đàn ông lại có thể đẹp đến như thế. Trước mặt tôi là một khuôn mặt nhỏ, làn da trắng mà bất kì cô gái nào cũng phải mơ ước, đôi môi đỏ mọng và điều đặc biệt trên khuôn mặt ấy là đôi mắt đen ướt và sâu thăm thẳm. Tôi luôn bị cuốn hút bởi những cô gái có đôi mắt đẹp và ướt bởi vì nó rất sâu, rất xa và nó buộc người ta phải khám phá. Trước mặt tôi đây, vẻ đẹp mong manh đang hiện hữu khiến tôi như chết lặng. Và khoảnh khắc ấy đến thật nhanh, cũng qua thật nhanh. Tôi giật mình và chắp tay, miệng lẩm bẩm một câu nói phát ra từ trong vô thức: “Sư bác hầu hay quá”. Anh cúi đầu cảm ơn và nhanh chóng đi về phía gian bếp của nhà chùa để tiếp tục công việc. Phía gian Mẫu, không gian lại tiếp tục nóng lên khi hầu hết các con nhang đệ tử đã lại tề tịu quanh tấm phản gỗ trước điện thờ Mẫu. Lần này, tôi thấy phía bên dưới có khá nhiều gương mặt quen thuộc: Một nam ca sĩ, một nam diễn viên trẻ, một nhà thiết kế (bạn tôi cho biết, anh là nhà thiết kế trang phục chính cho một show ca nhạc lớn trên truyền hình). Tất cả đều là khách mời của “cô” Hà. Cuộc hầu của “cô” Hà cũng diễn ra theo trình tự giống như cuộc trước. Có điều lần này, tôi chú ý nhiều hơn tới những lời hát văn đầy ý nghĩa. Tôi không nhớ rõ nhưng những câu như “cầu cho mưa thuận gió hòa” hay “cầu cho non nước thanh bình” hoặc “cầu cho quốc thái dân an” được lặp lại rất nhiều lần. Bà lão đứng phía ngoài của cuộc trước, giờ đã có được một chỗ ngồi ở phía trong ngay kề sát tôi thì lầm bẩm: “Cô” nhảy đẹp quá, chưa thấy “cô” nào nhảy đẹp như cô này. Thỉnh thoảng bà lại hét lên: “Lạy cô, lạy cô, cô xinh quá, cô đẹp quá, cô nhảy hay quá”. Người phụ nữ đứng cạnh giá hầu, cứ sau mỗi giá lại cầm xấp tiền và lần lượt đi phát cho tất cả những người đứng xem. Sau mỗi lần chầu, khi thì một mâm bia có ngọn, khi thì mâm trái cây, lúc lại là mì tôm được người phụ nữ ấy bê ra chia lộc cho từng con nhang. Hình như trong lúc thánh nhập, “cô” vẫn nhận ra người quen của mình. Những nhân vật khách mời quen mặt lần lượt được cô chỉ mặt, vẫy lên tấm phản và ban lộc. Tôi chợt nảy ra một ý nghĩ “phạm húy”: Nếu là thánh, lẽ ra ngài nên công bằng hơn bởi người phụ nữ ngồi gần tôi đã khản cổ họng, bà ngồi xem với một niềm tin tuyệt đối, nhưng cả buổi chẳng thấy ngài đoái hoài đến. Hai giá đồng đã hết. Nhạc đã tắt nhưng sau tôi vẫn thấy ngẩn ngơ tiếc một điều gì đó. Tôi biết rằng, tục hầu đồng đã có từ ngày xưa nhưng người ta không có nhiều tiền để làm những cuộc hầu hoành tráng như bây giờ. Cả hai buổi tôi xem, nhiều tiền đã được vung ra, nhiều bia, hoa quả, bánh kẹo, thuốc lá và nhiều đồ đắt tiền khác được phát cho các con nhang đệ tử (kể cả những người xem như tôi). Có lẽ, khi người ta giàu có lên, “phú quý sinh lễ nghĩa”, nhu cầu tâm linh của con người ta cũng nhiều lên chăng? Và tôi cũng băn khoăn không biết rằng, những bản chầu văn mà họ hát có còn là thứ chầu văn cổ nữa không khí đôi lúc, lỗ tai tôi vẫn bùng nhùng bởi khi những “nghệ nhân” ấy hát sai chính tả từ “n” sang “l” và không chỉ một lần. 60 triệu để được hầu một giá đồng. Một cái giá quá đắt khiến tôi không khỏi giật mình. Ở quê tôi, người ta có cố gắng nỗ lực cả năm cũng không kiếm nổi 1/3 số tiền ấy, vậy họ sẽ làm gì khi nặng “căn quả” như người ta vẫn nói? Thực sự tôi không hiểu được lý do. Tôi thì có cách nghĩ riêng của mình: Hình như những người ấy (những người hầu đồng) là những người có tâm hồn quá mức nhạy cảm. Ngày thường, họ không được là mình, không thể là chính mình, nhất là những người trí thức có địa vị trong xã hội. Những bức xúc ấy được tích tụ, dồn nén và họ không có cách gì xả ra được. Nhưng có một khoảnh khắc, để họ có thể là chính mình, đó là khoảnh khắc họ được thăng hoa dưới tiếng đàn đáy, dưới điệu hát văn say lòng. Lúc ấy, họ vứt hết đi giai tầng, địa vị, vứt hết đi giới tính, vứt đi những ẩn ức để được lên tiên, để có được cảm giác tất cả thiên hạ quỳ dưới chân mình và đợi chờ ban lộc. Nếu thế, trong cuộc đời này, ai mà chẳng ít nhiều có căn? Mẹ tôi vẫn hay thường bảo: “Mày đừng có mà báng bổ thần thánh”. Tôi giật mình nghĩ về lời mẹ khi ý nghĩ về hầu đồng vừa kết thúc. Bà lão lúc nãy không được “lộc” của cô lúc này vẫn đứng trước mặt “cô” Hà và khen: “Lúc nãy thánh nhập vào “cô” nhảy hay quá, “cô” đẹp quá “cô” ạ !” . “Cô” nguýt bà lão một cái rõ dài: “Thánh chỉ nhập có một lúc thôi, còn lại là thăng hoa, thăng hoa”. Rồi cô lên xe, lại ôm chặt cứng người đàn ông vạm vỡ mặc áo pull đen. Chỉ còn bà lão đứng ngẩn ngơ trong làn khói xe đang tan dần cùng tiếng cười ha hả của “cô” giữa sân chùa. Lưu Thủy (Vietimes)
-
Thương nòi giống Thần tiên giáng bút
phoenix replied to phoenix's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Thương nòi giống thần tiên giáng bút Phần III Thứ sáu, 14/3/2008, 07:00 GMT+7 …Một giá trị rất đặc biệt của thơ văn giáng bút cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là dưới ảnh hưởng của các phong trào yêu nước, đã làm phát khởi những biểu tượng mới trong văn hóa Việt Nam mà trước đó ít khi được nhắc đến. Đó là những biểu tượng về Quốc hồn, Quốc túy, Quốc dân, Nòi gGiống, Giống Lạc Hồng, Con Rồng Cháu Tiên... Nội dung thơ văn giáng bút Nội dung thơ văn giáng bút cũng chính là nội dung, mục đích hoạt động của các thiện đàn. Đó là một chương trình tuyên truyền rộng khắp trong suốt thời gian nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đâù thế kỷ XX tập trung vào hai vấn đề: Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi và Chấn hưng văn hoá dân tộc. Hạc bút của Tiên cùng với mâm đồng. Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi Đây là một chủ đề lớn của thơ văn giáng bút nói riêng và thơ văn yêu nước cách mạng nói chung. Trong thơ văn giáng bút, điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau: - Giáng bút lời của các vị anh hùng liệt nữ của dân tộc như: Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bà Liệt nữ “Tiết hạnh khả phong” ở làng Đông Ngạc... - Giáng bút lời của các vị Thần tiên trong thần điện Việt Nam như: Tản Viên sơn thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Liễu Hạnh công chúa, Từ Đạo Hạnh... - Giáng bút lời các tiên nho, các nhà văn hoá của Việt Nam như Tô Hiến Thành, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Bà tổ nghề thao ở Triều Khúc... Ngoài ra thơ văn giáng bút còn nhắc nhớ thúc giục lòng yêu nước, thương yêu giống nòi, thấy được nỗi nhục của dân mất nước. Chấn hưng văn hoá dân tộc, xây dựng nếp sống mới: Về nội dung này, thường được biểu hiện như sau: - Đề cao việc nâng cao dân trí - Bài bác hủ tục - Đề cao phụ nữ (giáng bút lời Thánh mẫu cho phụ nữ) - Khuyên sống lương thiện, thương yêu đùm bọc nhau - In ấn kinh sách về tôn giáo, lịch sử, văn học, ngôn ngữ Hình thức và Nghệ thuật thơ ca giáng bút Bà chúa Liễu Hạnh trở về Trời. Về mặt văn tự Thơ ca giáng bút chủ yếu viết bằng chữ Nôm - một sáng tạo của người Việt, dùng ký tự Hán để ghi âm Việt nên không gặp trở ngại về mặt văn tự đối với người bình dân nhất là trong việc truyền miệng. Ta biết rằng, trong khi triều đình nhà Nguyễn tổ chức Nhà nước và các thiết chế văn hoá theo Nho giáo rập khuôn nhà Thanh (Trung Quốc), thì trong dân gian, tư tưởng và văn chương bình dân lại dường như cũng có một sức sống riêng. Ví dụ rõ nhất là khắp các nơi trong nước hàng loạt các hiệu, đàn, trai, đường, lâu... đã ra đời làm nở rộ nghề in. Tại các nhà in này, mảng truyện Nôm đặc biệt phát triển so với trước đó. Thời kỳ này ngoài việc tái bản những cuốn cũ còn có thêm nhiều đầu sách mới nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần người dân. Riêng cuốn Phạm Công - Cúc Hoa, từ năm 1907 đến năm 1936, được in cả thảy 15 lần (trong phạm vi cả nước). Đặc biệt là Truyện Kiều được in cả thảy là 32 lần. Trong số 25 lần in có ghi rõ thời gian và nhà tàng bản thì có tới 16 lần được in tại Hà Nội. Về việc sử dụng chữ Nôm và chữ Hán trong một tài liệu giáng bút, chúng ta ghi nhận một số điều sau: Có cuốn toàn Nôm, có cuốn là Hán xen Nôm. Văn giáng bút chữ Hán thường là giáng bút của các vị thần linh Trung Quốc, hoặc các vị Nho học, hoặc hướng đến đối tượng là người có chữ nghĩa. Văn giáng bút chữ Nôm, ngược lại, thường là giáng bút của các vị thần linh Việt Nam, hoặc là các Thánh mẫu, hoặc dành cho đối tượng là đông đảo tầng lớp bình dân. Một vấn đề khác, các bài giáng bút chữ Nôm bao giờ cũng dài hơn các bài giáng bút bằng chữ Hán. Còn về thể loại, văn giáng bút Nôm thường chọn các thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát, hoặc các thể thơ có khả năng diễn đạt phong phú nhiều nội dung. Thơ văn giáng bút, để đạt được mục tiêu phát hành và tuyên truyền như trong lời nói đầu bộ Cổ kim truyền lục là: “Thư lai địa địa, tuyên truyền vạn vũ” (Sách đến mọi nơi, tuyên truyền khắp chốn) thì nhất định phải dùng chữ Nôm. Về mặt thể loại Thơ văn giáng bút nhằm đến nhiều đối tượng khác nhau, với mỗi loại đối tượng đã dùng các thể thơ khác nhau. Các tài liệu giáng bút thường ghi rất rõ về thời điểm giáng bút (giờ, ngày, tháng, năm) và thậm chí có tài liệu còn ghi rõ bài thơ văn giáng bút này là dành cho ai quê quán ở đâu. Ví dụ trong cuốn Bản thiện kinh (AB.355) có ghi tường tận như vậy. Phù hợp với từng đối tượng, từng nội dung tuyên truyền, về mặt hình thức, các thể thơ sau được dùng là phú, thơ luật, lục bát, song thất lục bát, phong dao, hát xẩm, từ khúc, hát nói (ca trù), gửi thư (ca trù), ngụ ngôn, tiểu thuyết... Kinh Đạo Nam. Về việc minh họa Tài liệu giáng bút hiện có trong kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ yếu là sách in bản khắc gỗ (226 bản in / 254 bản sách) Trong đó có một số các văn bản thơ văn giáng bút hiện có tại thư viện Viện Hán Nôm có nhiều cuốn có các đồ họa. Thiết nghĩ, rồi đây những đồ họa này sẽ trở thành những tài liệu cho một công trình chuyên khảo về Đồ họa Đạo giáo nói riêng và Nghệ thuật Đạo giáo nói chung. Kết luận Với 98 thiện đàn hiện biết tại các địa phương trong hầu khắp các tỉnh miền Bắc là nơi có lưu truyền/sáng tác/in ấn/tàng bản kinh văn giáng bút cho thấy sự hoạt động sôi nổi của các Hội Hướng Thiện, Thiện đàn tồn tại trong khoảng 100 năm từ 1845 đến 1945. Các thiện đàn và Hội Hướng Thiện, trong đó tiêu biểu nhất là Hội Hướng Thiện đền Ngọc Sơn đã có những đóng góp lớn trong việc chấn hưng văn hoá dân tộc. Tư liệu thơ văn giáng bút tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện còn 254 cuốn. Kinh giáng bút được in nhiều vào các khoảng thời gian các năm 1870 - 1898 và 1906 - 1911. Nội dung thơ văn giáng bút cũng chính là nội dung, mục đích hoạt động của các thiện đàn. Đó là một chương trình tuyên truyền rộng khắp trong suốt thời gian nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX tập trung vào hai vấn đề: Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi và Chấn hưng văn hoá dân tộc. Văn thơ giáng bút càng về sau càng sử dụng nhiều chữ Nôm và các thể thơ ca dân gian để thể hiện các lời dạy dỗ của các thần linh đất Việt. Điều này càng khẳng định chữ Nôm vẫn giữ vai trò nhất định trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, trong khuôn khổ các phong trào yêu nước. Trong hoạt động của mình các thiện đàn đã sử dụng thành công chữ Nôm trong việc kêu gọi lòng yêu nước và chấn hưng văn hoá dân tộc. Một giá trị rất đặc biệt của thơ văn giáng bút cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là dưới ảnh hưởng của các phong trào yêu nước, đã làm phát khởi những biểu tượng mới trong văn hóa Việt Nam mà trước đó ít khi được nhắc đến. Đó là những biểu tượng về Quốc hồn, QuốctTúy, Quốc dân, Nòi giống, Giống Lạc Hồng, Con Rồng Cháu Tiên được nhắc đến rất nhiều, rất khẩn thiết và nhằm đến đối tượng là các tầng lớp nhân dân lao động. TS Nguyễn Xuân Diện (Viện nghiên cứu Hán Nôm) -
Thương nòi giống Thần tiên giáng bút
phoenix replied to phoenix's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Thương nòi giống Thần tiên giáng bút Phần II Thứ năm, 13/3/2008, 07:00 GMT+7 Thực dân Pháp thực sự hoang mang và bối rối khi phải xử trí với tình hình nở rộ của các thiện đàn và các hoạt đông giáng bút ở khắp nơi. Không tìm được chứng cớ khả dĩ kết tội, đàn áp, thực dân Pháp đã mất ăn mất ngủ với các hoạt động nửa tôn giáo, nửa cách mạng đang lan tràn và phát huy tác dụng và thanh thế ở khắp nơi. Tại Văn Hiến đường, xã Hạ Mỗ (huyện Đan Phượng, Hà Tây), năm 1930 tay sai đã về tịch thu các ván in và bộ sách Cổ kim truyền lục đã được in ấn và đang lưu hành ở đây. GS Đào Duy Anh, trong bài Tìm hiểu phong trào Thiện đàn đối với cuộc vận động ái quốc - Kinh Đạo Nam dài 25 trang in trong tập hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm (Nxb Trẻ, 1989) có cho biết: GS Đào Duy Anh - Kinh Đạo Nam "Ông Nguyễn Ngọc Tỉnh kể lại rằng trong thời gian giáng bút và ấn hành bản kinh này thì Lý trưởng và Phó lý xã Hạc Châu sợ liên luỵ nên đã báo cáo cho quan lại sở tạị. Chính quyền thực dân giao cho Bùi Bằng Đoàn bấy giờ làm Tri phủ Xuân Trường điều tra. Bùi Bằng Đoàn cho vợ có sai nha đi theo đến đàn để thử, viết một tờ sớ bỏ vào phong bì kín. Hàng ngày khách thập phương qua lại để lễ và xin kinh rất đông, nhiều người sang trọng, cho nên chẳng ai để ý đến đó là bà phủ Xuân Trường. Theo lệ thì người đến lễ đặt phong bì kín lên bàn thờ, Thánh phải giáng bút chỉ tên người ấy, có đúng thì người ta mới tin. Thánh bèn giáng bút cho ngay một câu thơ rằng: Côn dược thiên trùng thương hải ngoại; Bằng Đoàn vạn lý tử tiêu gian. Thế là chỉ rõ tên Bùi Bằng Đoàn ra bằng một câu thơ, mà các nhà Nho học giỏi đều nhận là rất hay, bình thường khó có người tức tịch làm ra được, huống chi người cầm kê đây là người sức học cũng tầm thường. Bùi Bằng Đoàn do đó tin là có Tiên, Thánh giáng bút thực, báo cáo lên tỉnh rằng đó là việc tôn giáo thực chứ không phải là hoạt động chính trị như hương lý báo. Sau đó án sát Nam Định là Mai Toàn Xuân cũng cho vợ đến lễ để đặt phong bì kín và thử như thế. Bùi Bằng Đoàn là người Nho học có tiếng cho nên được giáng bút một câu thơ chữ. Mai Toàn Xuân xuất thân là bồi Tây nên ít học, chỉ được giáng bút một câu thơ Nôm, nhưng cũng vạch rõ cả ba chữ họ tên như vẽ ra: Đầu cành Mai mới điểm hoa; Non sông bốn bể đâu mà chẳng Xuân? Sau đó tỉnh báo cáo lên Thống sứ rằng đây chỉ là một hoạt động tôn giáo, không nên ngăn cấm. Vì thế mà bản kinh in xong vào mùa Đông năm 1923 được phát hành ở Bắc kỳ, rồi sau đó được phát hành bằng quốc ngữ ở Nam kỳ. Các mùa hè năm 1924, 1925, 1926 ông Nguyễn Ngọc Tỉnh đều được Đồng Lạc Khuyến Thiện đàn ở Nam Định mời đến giảng kinh Đạo Nam cho tín đồ của đàn ấy nghe. Nhưng đến năm 1929, trong cuộc đàn áp dối với các đảng bí mật tiến hành ở khắp Bắc kỳ, chính quyền mới soát nhà mà tịch thu tất cả bản kinh còn lại và các tấm ván in để huỷ đi và bắt đàn chủ là ông Nguyễn Đức Kinh và chủ bút là ông Nguyễn Ngọc Tỉnh làm án giám".(Sđd tr.200-224) Như vậy là, các thiện đàn trong suốt quá trình hoạt động của mình luôn gặp phải sự dò xét của thực dân Pháp và quan lại phong kiến Nam triều. Có một thực tế là chính nhờ vào hình thức giáng bút, như một hoạt động mê tín dị đoan, các bài hát bài thơ yêu nước thương nòi và nặng lòng với văn hoá dân tộc đã được lưu truyền. Các thành viên của các phong trào yêu nước đấu tranh cách mạng cũng nhờ đó mà thoát khỏi sự rình rập và đàn áp của kẻ thù. Thiện đàn với cuộc vận động ái quốc Vận động ái quốc, trước hết các nhà yêu nước kêu gọi lòng thương yêu của những người cùng nòi giống, mà ở đây cụ thể là giống da vàng con Lạc cháu Hồng cùng chung một bọc. Các thiện đàn thường tổ chức các buổi giảng kinh, các bản kinh này thường xin được của một vị Thần thánh nào đó. Thời gian đầu các vị Thánh giáng bút thường là các danh thần võ tướng, các thần linh của thần điện Trung Quốc, song càng về sau các vị Thần giáng đàn lại là các vị danh thần võ tướng các thần linh trong thần điện Việt Nam như Tản Viên sơn thánh, Liễu Hạnh công chúa, Phùng Khắc Khoan, Tô Hiến Thành, Bà Triệu, Hai Bà Trưng, các Thánh Mẫu Những năm đầu thế kỷ này, trước tình hình bị giặc Pháp đàn áp nặng nề, một số cơ sở vận động yêu nước tại Hà Nội và các đô thị phải chuyển về vùng nông thôn phụ cận. Một trong những cơ sở có hoạt động mạnh là Văn Hiến đường ở làng Hạ Mỗ, xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng (Hà Tây). Văn Hiến đường hoàn thành vào mùa xuân năm Kỷ Dậu (1909), là nơi thờ Thái uý Tô Hiến Thành và các vị tiên hiền của làng. Thực ra thì trước đó, vào năm 1907, thiện đàn ở đây đã cho khắc in bộ sách Cổ kim truyền lục đề tuyên truyền vận động yêu nước. Bộ sách gồm 4 tập Nguyên - Hanh - Lợi - Trinh với gần 400 bài thơ văn, bao gồm nhiều thể loại, viết bằng chữ Hán, do tập thể tác giả đều là người địa phương sáng tác. Văn Hiến đường hiện có đôi câu đối về việc giáng bút và khắc in kinh: Kinh điển bản tàng Tiên hiền giáng bút thuỳ kinh điển Cổ kim truyền lục Vãng thánh di thư diệu cổ kim (Kinh điển bản khắc Tiên hiền giáng bút truyền kinh điển Cổ kim truyền lục Thánh hiền di cảo sáng cổ kim). Tại Hạ Mỗ, không chỉ Văn Hiến đường là nơi có giáng bút mà giáng bút còn được tổ chức trong chùa Hải Giác nữa. Và Cổ kim truyền lục chính là tập thơ văn được tập hợp sau gần 4 tháng giáng bút. Về cách phát hành thì phát cho mọi nhà, biếu tặng các nơi với mục đích: Thư lai địa địa, tuyên truyền vạn vũ (tức Sách đến mọi nơi, tuyên truyền khắp chốn. Văn Hiến đường cũng còn là nơi bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Tháng 4 năm 1996, khi về Hạ Mỗ để lấy tài liệu tôi còn thống kê được 14 tên sách / bộ sách Hán Nôm tại Văn Hiến đường như: Thiên ất chân kinh (in, Bảo Đại 8 ), Văn Xương đế quân cứu kiếp bảo sinh kinh (in, 1911), Ngọc Hoàng chân kinh (viết tay), Ngọc Hoàng phổ độ tôn kinh (2 bản in, Bảo Đại 8), Liệt thánh bảo cáo (in), Ngũ phúc kinh .Tập Ninh (in), Tâm pháp thiết yếu chân kinh (2 bản in, Bảo Đại Mậu Thìn), Bảo huấn hợp thiên (in, Tự Đức Bính Tý), Lã Tổ trung hiếu cáo (in, Thành Thái Ất Tỵ), Dược sư kinh,... Thơ văn giáng bút đã được lưu truyền khá rộng rãi trong nhân dân vùng xứ Đoài. Hình thức lưu truyền quảng bá thơ văn yêu nước trong khuôn khổ của một hình thức của tôn giáo, và nhất lại là trong bối cảnh xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám đã gây ảnh hưởng lớn và có hiệu quả rõ rệt. Thiện đàn với công cuộc chấn hưng văn hóa dân tộc Đóng góp của các thiện đàn trong công cuộc chấn hưng văn hoá dân tộc là một đóng góp quan trọng. Đóng góp này thể hiện trên hai khía cạnh: Xây dựng, giữ gìn nếp sống văn hoá theo chuẩn mực của truyền thống và Tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá, in ấn các kinh sách. Xây dựng và giữ gìn nếp sống văn hoá theo chuẩn mực của truyền thống là một yêu cầu của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trước hết là sinh hoạt của thị dân ở đô thị. Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Pháp đã đặt xong nền đô hộ lên Bắc kỳ, Trung kỳ. Sự phân hóa giai cấp diễn ra nhanh chóng trong toàn bộ xã hội. Luân lý cổ truyền cùng các giá trị đạo đức truyền thống rạn nứt trước sự xâm thực của văn minh phương Tây. Nhiều tỉnh lỵ, huyện lỵ được mọc lên bên cạnh những trục đường giao thông lớn nhỏ, kéo theo quá trình “Âu hóa” rất mãnh liệt. Ở nông thôn bộ máy lý dịch đã trở nên tha hóa. Bức tranh nông thôn Việt Nam trong suốt thời gian hàng thế kỷ là một khoảng tối tăm với một đời sống khổ cực và những áp bức nặng nề của bộ máy cường hào, lý dịch. Trong tình hình xã hội như vậy việc gióng lên tiếng trống thức tỉnh cách mạng, kêu gọi chấn chỉnh nếp sống theo mẫu mực truyền thống là một công việc có ý nghĩa. Các thiện đàn đã mọc lên ở khắp mọi nơi và hoạt động khá sôi nổi trong cuộc chấn hưng văn hoá dân tộc. Các buổi giảng thiện được thực hiện đúng theo lịch đã định sẵn, có đông đảo nhân dân tham dự. Việc tu bổ và tôn tạo các di tích được nhiều người hưởng ứng, và rất nhiều văn bia hiện đặt trong các di tích đã ghi lại việc sửa chữa, tôn tạo này. Vai trò của Đền Ngọc Sơn Đền Ngọc Sơn Trong số các thiện đàn đã biết thì đền Ngọc Sơn là một cơ sở tiêu biểu nhất. Đền Ngọc Sơn không những là một cơ sở được thành lập sớm nhất, có đóng góp toàn diện nhất, là một cơ sở in ấn và tàng bản lớn nhất, mà còn có vai trò như là một trung tâm có sức lan toả rất lớn, trong phạm vi khắp cả đông bằng châu thổ Bắc bộ, nếu không muốn nói là trong cả miền Bắc. Theo bài văn bia Ngọc Sơn đế quân từ ký do Tiến sĩ Vũ Tông Phan soạn năm 1843 thì đền Ngọc Sơn do hội Hướng Thiện tạo dựng năm 1842. Ngoài mục đích thờ thần thánh, đây còn là nơi cho “sĩ phu kết bạn với nhau yêu cảnh này, vì mến tên hồ này việc tu dưỡng, du ngoạn, nghỉ ngơi đều có nơi có chốn”. Từ sự thống nhất trong Hội Hướng Thiện, chủ trương chấn hưng văn hoá của Hội được các nhà khoa bảng có uy tín trong hội và khắp Hà thành tán dương và coi là mục đích cao nhất của Hội. Việc đầu tiên mà các nhà Nho hướng đến là hướng dẫn cho mội người tu dưỡng chính bản thân mình, trước hết là ngay là sự chính tâm (ngay thẳng) và ngăn chặn những dục vọng xấu nảy sinh trong ngay chính lòng mình Đền Ngọc Sơn đã được biến thành một giảng đàn là nơi mà đều đặn vào các ngày 2 và 16 âm lịch hàng tháng Hội tổ chức giảng thiện. Cũng tại đây đã tiến hành các buổi giáng bút để xin những lời dạy của Thánh nhân qua một người trung gian. Các bản kinh in ở đền Ngọc Sơn đại bộ phận đều là các kinh giáng bút bằng chữ Hán, ghi lời giáng bút của các vị thần thánh có nguồn gốc từ Trung Quốc như Quan Thánh đế Quân, Văn Xương đế Quân. Tuy nhiên, nội dung lời văn của các bản kinh này lại rất phù hợp với tôn chỉ mục đích của Hội như: Tự giác ngăn ngừa các thói tham lam, độc ác, dâm loạn, gian dối..., khuyên hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng người trên, thương kẻ khốn cùng, chuyên cần học tập, chăm chỉ làm ăn... Mượn lời dạy của Thần tiên nhưng các bản kinh được in tại đền Ngọc Sơn không hề đưa lại một tinh thần xuất thế, lảng tránh cuộc đời thực mà ngược lại lại rất tích cực. Và có lẽ cũng chính vì thế, các kinh văn giáng bút được in ra ở đây được lưu truyền rất rộng khắp trên nhiều địa phương cho tới tận Cách mạng Tháng Tám 1945. Một khía cạnh khác trong việc chấn hưng văn hoá dân tộc của Hội Hướng Thiện ở đền Ngọc Sơn là tu bổ tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá. Tại khu vực xung quanh Hồ Gươm, Hội Hướng Thiện đã tôn tạo Trấn Ba Đình, trùng tu đền Ngọc Sơn, xây Tháp Bút và Đài Nghiên... Khu vực Hồ Gươm có được khuôn mặt như ngày nay là do những lần tu bổ tôn tạo này. Không những thế, với tình cảm yêu mến Thăng Long, các nhà nho trong Hội Hướng Thiện còn sáng tác biết bao áng văn thơ đề vịnh trên những di tích danh thắng Hà Nội. Đền Ngọc Sơn là một cơ sở in ấn và tàng bản lớn nhất trong suốt khoảng 100 năm (1845 - 1945). Vậy trong khoảng 100 năm ấy tại đền Ngọc Sơn đã có bao nhiêu bộ sách ra đời và đi vào đời sống xã hội? Mới đây, Vương Thị Hường dựa vào hai cuốn sách Các đẳng kinh bản Ngọc Sơn thiện thư lược sao mục lục (A.1116), Cao Vương kinh chú giải (AC.438) cho chúng ta biết danh mục sách Hán Nôm in tại đền Ngọc Sơn gồm 246 tên sách (mỗi tên sách có thể là một bộ với nhiều cuốn) thuộc nhiều môn loại khác nhau như tôn giáo, văn học, sử học... (Xem tạp chí Hán Nôm số 1 -2000). Có một điều đáng chú ý là khi chúng tôi khảo sát các sách in kinh giáng bút thì thấy có hiện tượng một số nơi (các thiện đàn) đã mượn ván in kinh giáng bút của đền Ngọc Sơn về in và phát hành. Như vậy là trong suốt một trăm năm đền Ngọc Sơn đã là một cơ sở in ấn tàng bản lớn của cả vùng châu thổ Bắc bộ, nơi đặt trụ sở của Hội Hướng Thiện với các hoạt động thiết thực trong việc chấn hưng văn hoá dân tộc. Cũng chính vì lẽ đó mà cuối năm 1945, Hồ Chủ tịch đã đến thăm Hội Hướng Thiện, trò chuyện với các hội viên và căn dặn: “Các cụ đã cao tuổi mà vẫn còn giảng Thiện cho bà con theo, thế là rất quý. Tôi xin phép gợi thêm vài ý. Tôi nghĩ điều thiện lớn nhất là yêu nước. yêu dân chủ, điều ác lớn nhất là xâm lược, áp bức. Tôi đề nghị các cụ khi giảng thiện nên chú ý khuyên đồng bào bảo vệ độc lập, tự do và tăng gia sản xuất, xây dựng dân chủ”(Theo Nhân dân, 22 - 8 - 1990). (Còn nữa) Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) -
Thương nòi giống thần tiên giáng bút "Cầu cơ" là một khái niệm khá phổ biến đối với đạo Cao Đài. Xung quanh nó là biết bao câu chuyện hư thực. Xin giới thiệu bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) về chủ đề này. Thứ ba, 11/3/2008, 07:00 GMT+7 Trong các nghi lễ của người Việt thời trước, có một không gian nghi lễ khá đặc biệt rất đáng để ý là thiện đàn. Ở đấy diễn ra một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh độc đáo là giáng bút - một hiện tượng văn hoá tâm linh có thực trong xã hội Việt Nam, tức là cầu Thánh - Thần - Tiên - Phật cho mình những bài thơ, thông qua một người có năng lực đặc biệt. Song vì nhiều lý do mà giới nghiên cứu đã coi đó là một vùng cấm và không dành cho nó một sự quan tâm thích đáng, ngoại trừ hai học giả là Nguyễn Văn Huyên (Tục thờ cúng thần tiên ở Việt Nam, 1944) và Đào Duy Anh (Hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, 1989). Giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm) mà thư viện Viện Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 cuốn thơ văn giáng bút, với hàng vạn bài thơ, bài văn. Một cảnh cầu tiên ở giữa Đền Bích Câu. Tài liệu có niên đại sớm nhất là năm 1825 được in tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương, nay là di tích Việt Đông hội quán, số nhà 22 Hàng Buồm, Hà Nội. Về niên đại xuất hiện nhiều bản giáng bút nhất là các năm 1870 - 1898 và 1906 - 1911. “Thuật bói tiên lấy cành đào làm thành hình mỏ hạc treo lên một cần trúc, lấy một cái sọt tre đựng đầy ắp cát sạch, đặt cần trúc bên cạnh rồi đốt bùa đọc phép, cái mỏ hạc tự nhiên chuyển động, vạch thành chữ trên cát”(Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả - Phạm Đình Hổ). Giáng bút là hiện tượng “nhập thần” trong đó thực hiện nghi lễ cầu cúng để mong muốn có sự phán truyền dạy dỗ của thần linh thông qua văn tự (Hán Nôm) mà thư viện Viện Hán Nôm hiện đang lưu trữ 254 cuốn sách, với hàng vạn bài văn thơ. Năm 1825 là niên đại của tài liệu sớm nhất hiện biết trong kho sách Hán Nôm. Thế nhưng, Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) một danh sĩ, nhà khảo cứu nổi tiếng thời cuối Lê đầu Nguyễn, trong Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả (A.909) có thuật chuyện ông ngoại của mình như sau: “Cụ có thuật bói tiên, thường lấy cành đào làm thành hình mỏ hạc treo lên một cần trúc, lấy một cái sọt tre đựng đầy ắp cát sạch, đặt cần trúc bên cạnh rồi đốt bùa đọc phép, cái mỏ hạc tự nhiên chuyển động, vạch thành chữ trên cát”. Lời thuật này rõ ràng cho biết ông ngoại của Phạm Đình Hổ là người thực hiện nghi lễ giáng bút cầu văn tự. Qua đây cho thấy, chúng ta có thể vẫn tìm thấy các văn bản giáng bút có niên đại sớm hơn năm 1825 là bản xưa nhất có trong thư viện Viện Hán Nôm. Học giả Việt Nam đầu tiên quan tâm đến giáng bút có lẽ là Lê Quý Đôn. Trong khi đi sứ nhà Thanh (Trung Quốc) ông đã quan tâm tìm hiểu, sưu tầm được sách Âm chất văn chú. Năm 1839 Âm chất văn chú được khắc in theo bản cũ do Lê Quý Đôn mang về từ Trung Quốc. Sách dày chừng 350 trang in. Nhưng bản Âm chất văn chú in năm 1839 không phải là bản in giáng bút sớm nhất mà ta thấy được trong kho sách Hán Nôm. Ngay từ năm 1825, tại đền Hà Khẩu, huyện Thọ Xương (Hà Nội) đã tổ chức khắc in bộ sách Quan Phu tử kinh huấn hợp khắc (AC. 408), 150 trang in. Sách này chép lời giáng bút của Quan Thánh đế quân (Quan Phu tử, Quan Vân Trường). Suốt nửa cuối thế kỷ XIX, đã có nhiều thiện đàn được mở ra ở hầu khắp các tỉnh ở Bắc bộ: Hà Nội, Nam Định, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Bình, Thái Nguyên, Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Phúc Yên... Nội dung và hình thức thơ ca giáng bút càng về sau càng khác lúc ban đầu. Thời gian đầu là giáng bút của các vị thần của Đạo giáo Trung Quốc như Văn Xương Đế quân, Quan Thánh Đế quân... Các bài thơ văn giáng bút này được in trong một quyển sách và chúng không phải là văn bản có được sau một cuộc giáng bút cầu văn tại Việt Nam. Hay nói khác đi, nó chỉ như một cuốn danh ngôn mà những người tu đạo tâm niệm. Nội dung, do vậy mang tính chung chung. Văn giáng bút ở đây đều bằng chữ Hán, được diễn đạt bằng thơ luật. Về sau, do yêu cầu mới của đời sống xã hội, thơ giáng bút đã thay đổi. Các vị thần linh giáng bút không chỉ là có nguồn gốc Trung Quốc nữa, mà còn có các tiên nho liệt thánh Việt Nam, như Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Trưng Vương, Liễu Hạnh... Thơ do yêu cầu phải đến với quảng đại quần chúng nên đã có nhiều thơ lục bát, song thất lục bát. Văn giáng bút cũng phần nhiều không dùng chữ Hán mà dùng chữ Nôm. Các bản sách văn giáng bút cũng được sưu tập ngay từ đàn giáng bút và đưa đi khắc in ngay. Có tình hình ấy là do bối cảnh chính trị, xã hội Việt Nam đã có nhiều thay đổi. Ví dụ như khi các sĩ phu Hà thành lập ra hội Hướng Thiện, do Tiến sĩ Vũ Tông Phan làm Hội trưởng thì mục tiêu đặt ra là: Hướng mọi người làm việc thiện, xây dựng một lối sống tốt đẹp, theo chuẩn mực của truyền thống. Về sau, hội Hướng Thiện mở mang thêm các hoạt động văn hoá như: tu sửa tôn tạo di tích đền Ngọc Sơn... Thực trạng kinh tế, xã hội Việt Nam từ khi Gia Long lên ngôi đến khi Tự Đức cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp tuy đang trong giai đoạn xây dựng kiến thiết nhưng đã dần được củng cố. Việt Nam là một nước độc lập, thống nhất và phát triển có đường hướng. Triều đình Tự Đức sau nhiều “khự nự” đã hoàn toàn bất lực trước sự lấn lướt của Thực dân Pháp và sự “đe dọa” của văn minh phương Tây. Trong triều đình ấy, nội bộ cũng đã có sự phân hóa, chia ra làm hai phái rõ rệt: chủ chiến và chủ hòa. Vua Tự Đức thì ở phái chủ hòa. Một quan chức trong triều là Dương Khuê dâng sớ đề nghị đánh Pháp. Vua đã phê vào sớ: “ Bất thức thời vụ”, và đày ông đi sơn phòng, trông nom việc khai khẩn ở miền sơn cước. Chỉ sau khi Tự Đức băng, thì phái chủ chiến trong đám quần thần mới dần chiếm ưu thế, bởi được vua Hàm Nghi và một trọng thần quyền thế là Trương Đăng Quế làm hậu thuẫn. Năm 1885 phong trào Cần Vương được phát động chính thức và phát triển sâu rộng khắp Trung kỳ, Bắc kỳ. Một giá trị rất đặc biệt của thơ văn giáng bút cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, là dưới ảnh hưởng của các phong trào yêu nước, đã làm phát khởi những biểu tượng mới trong văn hóa Việt Nam mà trước đó ít khi được nhắc đến. Đó là những biểu tượng về Quốc hồn, Quốc túy, Quốc dân, Nòi giống, Giống Lạc Hồng, Con Rồng Cháu Tiên được nhắc đến rất nhiều, rất khẩn thiết và nhằm đến đối tượng là các tầng lớp nhân dân lao động. Viện Nghiên cứu Hán Nôm có 254 cuốn thơ văn Nôm giáng bút lời của Tiên - Phật –Thánh - Thần sưu tập từ 98 thiện đàn nằm ở hầu hết các tỉnh ở châu thổ Bắc bộ. Nội dung thơ văn giáng bút cũng chính là nội dung, mục đích hoạt động của các thiện đàn do các nhà Nho chủ trương. Đó là một chương trình tuyên truyền rộng khắp suốt thời gian cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tập trung vào hai vấn đề: Kêu gọi lòng yêu nước thương nòi và Chấn hưng văn hóa dân tộc. Phong trào Cần Vương đi vào suy thoái bằng sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Sơn do nhà sĩ phu khoa bảng Phan Đình Phùng làm thủ lĩnh. Từ sau năm 1897 khởi nghĩa Hương Sơn thất bại, nhiều nơi trong nước đã từng có những cuộc khởi nghĩa hay nổi dậy lẻ tẻ. Đòi hỏi của lịch sử về cứu nước, giành lại giang sơn tổ quốc trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Thơ văn yêu nước thời kỳ này nhằm đến một quần chúng nhân dân đông đảo. Và để phù hợp với việc kêu gọi lòng yêu nước và tự hào dân tộc, các hình thức diễn đạt quen thuộc với đông đảo bình dân được lựa chọn. Thơ lục bát và song thất lục bát được ưa dùng. Những lối nói ẩn dụ về nòi giống, tổ quốc, giang sơn... giàu sức biểu cảm được dùng phổ biến trong các lời văn giáng bút. Các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ trong dân gian có lồng ghép thêm những nội dung mới, nhằm thức tỉnh lòng yêu nước. Trong các sinh hoạt văn hoá, văn nghệ dân gian, thì kê đàn giáng bút là một hoạt động tín ngưỡng đặc biệt. Ở đó con người giao tiếp với thế giới của Thánh - Thần - Tiên - Phật qua một người có biệt năng. Người này sẽ chuyển các thông điệp bằng văn thơ có nội dung khuyên bảo, răn dạy, kêu gọi của Thánh, Thần cho con người trên cõi trần gian. Hơn nữa giáng bút lại là một hoạt động tín ngưỡng ngưng kết nhiều thành tố đặc sắc của văn hoá dân gian như: thơ ca dân gian, múa dân gian, nghi thức tín ngưỡng... Tham gia vào giáng bút là tham gia vào tín ngưỡng, tham gia vào sáng tạo văn hoá văn nghệ dân gian nhằm tiếp xúc với một tiên giới trong tâm tưởng. Cũng chính vì hoạt động giáng bút là một hoạt động mang tính tổng hợp như vậy nên đã thoả mãn được nhiều giai tầng công chúng cho dù là các nhà khoa bảng, học hành đỗ đạt cao, nhà nho ở nông thôn, cho đến tầng lớp tiểu thương nơi phố thị, nông dân chốn quê mùa. Sức sống của giáng bút cũng ở đấy. Và sức sống của việc tuyên truyền yêu nước cũng ở đấy. Nó nương vào tôn giáo, tín ngưỡng, nương vào công xã nông thôn để hoạt động và thúc giục quần chúng. (còn nữa) Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
-
(st) Những phát hiện mới nhất về Tứ bất tử Việt Nam Thứ năm, 20/3/2008, 07:00 GMT+7 Gọi là Tứ bất tử nhưng có đến 6 vị thánh được coi là bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việt. đó là các vị: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Thánh Gióng, Liễu Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không. Những ghi chép trong thư tịch cổ Tài liệu xưa nhất về thuật ngữ Tứ bất tử mà chúng tôi được biết là bản Dư địa chí, in trong bộ Ức Trai di tập, (VHv.1772/3 q.6) do Nhà in Phúc Khê, in năm Mậu Thìn (1868) niên hiệu Tự Đức. Trong tín ngưỡng thờ bách thần của người Việt, “hoặc có vị là tinh túy của núi sông, hoặc có vị là nhân vật linh thiêng, khí thế lừng lẫy về trước, anh linh còn mãi về sau”(Lời tựa sách Việt điện u linh), nhưng có 4 vị thần được dân gian tôn vinh là Tứ bất tử. Đó là bốn vị linh thiêng trường sinh bất tử trong thần điện Việt Nam. Mọi người vẫn cho rằng đó là Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đồng Tử, Tháng Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Thực ra, trong lịch sử đã đã diễn ra không phải hoàn toàn như vậy, và trong chúng ta không phải ai cũng biết Tứ bất tử là những ai và có từ bao giờ. Bản Dư địa chí mà chúng ta hiện có là một công trình nghiên cứu tập thể. Ngoài lời tập chú của Nguyễn Thiên Túng, lời cẩn án của Nguyễn Thiên Tích và lời thông luận của Lý Tử Tấn, Dư địa chí còn có những phần do người các thời sau (cụ thể là người các thế kỷ 16, 17, 18) đã thêm vào và sửa chữa nhiều lần. Trong số họ, có Thư Hiên Nguyễn Tông Quai (1693-1767). Thư Hiên Nguyễn Tông Quai ở thế kỷ XVII là người đầu tiên giải thích thuật ngữ Tứ bất tử, khi ông chú giải điều 32 trong sách Dư địa chí (VHv.1772/3 tờ 13a) của Nguyễn Trãi. Lời chú ấy như sau: “... Người đời Thanh nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy”(Nguyễn Thư Hiên viết: ... Thanh nhân xưng Tản Viên Đại Vương chi tự hải vãng sơn; Phù Đổng Thiên Vương chi kỵ mã đằng không; Chử gia Đồng tử chi trượng lạp thăng thiên; Ninh sơn (kim Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh chi ấn thạch đầu thai. Vị An Nam Tứ bất tử vân). Giá Sơn Kiều Oánh Mậu (1854-1911) người làng Đường Lâm là nhà học giả nổi tiếng của cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong lời Án sách Tiên phả dịch lục (AB.289, tờ 4a), in năm Canh Tuất 1910 có viết: Thánh Gióng “Tên các vị Tứ bất tử của nước ta, người đời Minh cho là: Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đúng là như vậy. (Vì) bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép. Nay chép tiếp vào. (Án: Ngã Tứ bất tử chi danh, Minh nhân dĩ Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đương chi nhiên; thử thời Tiên chúa vị giáng, cố vị cập thế nhân sở truyền, văn hiến khả trung. Kim tục chi). Trên đây là những thông tin về Tứ bất tử trong thư tịch Hán Nôm, hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các tài liệu tiếng Việt hiện đại về Tứ bất tử thì phong phú hơn nhiều. Dưới đây, chúng tôi xin điểm qua những tài liệu đó: Nguyễn Tuân (1910-1987), trong thiên truyện Trên đỉnh non Tản in trong tập Vang bóng một thời, có viết: “... Bốn vị Tứ bất tử nơi thế giới u linh: thánh Tản Viên, chúa Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, và Phù Đổng thiên vương”. Việc phụng thờ Tứ Bất tử là một tín ngưỡng thuần túy Việt Nam, kết tinh từ những truyền thuyết đẹp đẽ và là một bộ phận không thể tách rời trong di sản tôn giáo và tinh thần của đất nước. Và chính người Trung Quốc, từ bao đời nay cũng đã biết đến và ghi nhận tín ngưỡng Tứ Bất tử của Việt Nam. Hà Kỉnh (1922-1995) trong cuốn Truyền thuyết Sơn Tinh viết: “Ở Việt Nam ta có bốn vị thần bất tử là: Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Bà chúa Liễu Hạnh, Tản Viên Sơn Thần”. Vũ Ngọc Khánh và Ngô Đức Thịnh, trong chuyên khảo Tứ bất tử chỉ thấy trình bày về bốn vị thánh bất tử gồm: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Đức Thánh Gióng và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nhu vậy các vị Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ và Thánh Gióng luôn luôn cố định và nhất quán trong các tài liệu, các thời đại. Khi Liễu Hạnh chưa giáng sinh thì Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không được xếp vào hàng Tứ bất tử. Thư tịch cổ cũng cho biết rằng, việc người Việt thờ phụng Tứ Bất Tử được người Trung Hoa biết đến và ghi nhận. Điều đó chứng tỏ việc phụng thờ Tứ Bất tử là một nét tâm linh rất độc đáo và riêng khác của người Việt. Lý giải về Tứ bất tử Trước hết, nói về con số bốn (tứ). Trong tư duy của người Việt, con số này mang tính ước lệ và có ý nghĩa lớn. Tứ (bốn) là một hằng số được dùng để khái quát về một phạm trù nào đó. Ví dụ: Tứ trấn, An Nam tứ đại tài, Tràng An tứ hổ, Sơn Tây tứ quý, Mỗ-La-Canh-Cót tứ danh hương v.v.. Và việc chọn lấy 4, trong toàn thể của một tập hợp là chọn lấy những gì tiêu biểu nhất, độc đáo nhất và có tính thời đại. Từ bất tử cũng là một tập hợp như vậy. Cũng chính vì thế mà có đến 6 vị thánh được coi là bất tử trong tín ngưỡng dân tộc Việt. đó là các vị: Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Thánh Gióng, Liễu Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không. Tượng tổ Từ Đạo Hạnh Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh: tên gọi của vị Thần núi Tản, vị thần tối cổ trong tâm linh dân tộc Việt. Tản Viên Sơn tức là núi Ba Vì, “núi tổ của nước ta” (Nguyễn Trãi - Dư địa chí). Núi có ba ngọn cao chót vót. Ba anh em Thánh Tản (còn gọi là Tam vị Đại Vương Quốc chúa Thượng đẳng thần) chia nhau cai quản, mỗi người một ngọn núi. Xuất phát từ nhận định cốt lõi tín ngưỡng Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh là TÍN NGƯỠNG THẦN NÚI (Sơn Tinh, Sơn thần) nằm trong hệ thống tín ngưỡng các hiện tượng tự nhiên, chúng tôi khẳng định rằng, nói Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh là nói tới cả ba anh em thần núi. Như vậy, đương nhiên cả ba vị thần đó đều thuộc Tứ bất tử. Cũng từ cốt lõi của tín ngưỡng thần núi của người Việt, cho nên có hiện tượng công chúa Ngọc Hoa, vợ của Thánh Tản (người anh cả) không được đề cao ngang hàng với Tam vị Tản Viên Sơn Thánh, dù rằng ở một só làng nơi giáp ranh giữa Sơn Tây, Ba Vì, Phú Thọ vẫn có những lễ hội đề cao Ngọc Hoa. Văn tế, sự sắp xếp các ngai thờ, nghi lễ, tự khí... mà chúng tôi khảo sát tại những ngôi đền thờ Thánh Tản ở vùng xung quanh núi Ba Vì càng góp phần làm sáng tỏ cho những nhận định trên đây. Chử Đạo Tổ: Nếu như ở huyền thoại Sơn Tinh - Tản Viên Sơn Thánh, người ta có thể tìm thấy những lớp ý nghĩa cổ xưa nhất của tín ngưỡng chất phác, nguyên thủy bằng cách bóc tách những lớp trầm tích tiềm ẩn trong văn bản thần tích thì với huyền thoại Chử Đồng Tử, công việc trở nên rất khó khăn. Huyền thoại Chử Đồng Tử (Chử Đạo Tổ) là câu chuyện của Đạo Giáo, Đạo Thần Tiên, một tín ngưỡng vốn du nhập từ bên ngoài vào nước ta từ rất sớm. Cốt lõi huyền thoại cũng như tín ngưỡng Chử Đạo Tổ là tín ngưỡng Đạo giáo mang màu sắc tín ngưỡng dân gian thuần Việt. Chử Đồng Tử chính là người đi tiên phong trong cuộc thụ phép thần tiên để tế độ và truyền dạy cho người khác. Dân gian tôn vinh Chử Đồng Tử là Chử Đạo Tổ là vì thế. Khảo sát hệ thống thờ tự ở đền chính thờ Chử Đồng Tử ở Đa Hòa, chúng tôi thấy, từ rất xa xưa, ở đó đã có ba pho tượng đồng và ba pho tượng đất mà cứ vị ngồi ở giữa là Chử Đạo Tổ, hai vị ở hai bên là Tiên Dung và Nội Trạch Tây Cung. Ở đình Tự Nhiên (huyện Thường Tín, Hà Tây), đối diện với Đa Hòa qua sông Hồng, khi mở hội cũng rước ba cỗ long kiệu ba vị kể trên. Mặc dù vậy, nếu xuất phát từ cốt lõi tín ngưỡng Chử Đạo Tổ thì trong số ba vị này, chỉ có Chử Đồng Tử, là thuộc về Tứ bất tử, của tâm thức dân gian Việt Nam. Thánh Gióng là vị “anh hùng độc lập” trong Tứ bất tử. Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Liễu Hạnh và quá trình hội nhập vào Tứ bất tử: Tượng Liễu Hạnh Trước kia, khi Liễu Hạnh chưa xuất hiện (giáng thế) thì Từ Đạo Hạnh hoặc Nguyễn Minh Không là một trong Tứ bất tử có lẽ là từ những “tiêu chí” sau đây: - Cả hai vị đều “giáng sinh” trong một triều đại sớm của lịch sử Việt Nam. - Từ hai vị này đều làm nảy nở những câu chuyện đậm màu sắc Đạo giáo - một tín ngưỡng sớm đến với Việt Nam và có nhiều khả năng hội nhập với tín ngưỡng bản địa. - Hai vị này đều hóa thân sau khi mất, và đầu thai thành nhiều kiếp. Khi Liễu Hạnh “giáng sinh” vào khoảng thế kỷ XVI cũng chính là lúc ý thức hệ Nho giáo ở nước ta đang đi vào con đường suy thoái. Thực trạng xã hội loạn lạc, chiến tranh giết tróc, làm cho nhân dân vô cùng cực khổ, khao khát cháy bỏng về một cõi tâm linh an lạc, siêu thoát. Phật giáo và Đạo giáo có cơ phát triển trong dân gian. Về Phật giáo, quan niệm Tịnh Độ tông với lối sống từ bi hỷ xả, với phương thức thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người, với tính chất dung hòa và phổ cập đã trở nên thắng thế và phổ biến trong suốt các thế kỷ XVI và XVII. Còn Đạo giáo, với những bùa chú, phép thuật, với những lối hành đạo phức tạp bởi những biểu tượng đã nhiều lúc trở thành cứu cánh để người ta tìm về làm chỗ dựa và nuôi dưỡng niềm tin về sự giải thoát. Nội Đạo tràng ra đời vào lúc này và sớm trở nên thịnh hành, được vua Lê thừa nhận. Tín ngưỡng tam phủ, mà trung tâm là thờ Mẫu hình thành và phát triển khá nhanh. Liễu Hạnh “giáng thế” đáp ứng nhu cầu thỏa mãn tâm linh của mọi giai tầng trong xã hội, phù hợp với tâm thức dân gian Việt Nam. Nếu so với Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không thì sự phụng thờ Liễu Hạnh bắt nguồn sâu xa từ trong tín ngưỡng thuần Việt của tâm thức dân gian, rồi lại xâm thực và hòa đồng vào tín ngưỡng Tứ phủ, nên tín ngưỡng này mang nhiều hơi hướng thời đại, cập nhật và phù hợp với thực tại. Ra đời trong thời kỳ đó, và với vai trò như vậy, việc tín ngưỡng Liễu Hạnh trở thành trung tâm của tín ngưỡng Tứ phủ và hội nhập với Tứ bất tử, trở thành biểu tượng của sự trường tồn là một điều dễ hiểu. “Người đời nhà Thanh (Trung Quốc) nói: Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Chử Đồng tử chống gậy đội nón lên trời, Từ Đạo Hạnh đập đầu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy”(Lời Nguyễn Tông Quai, thế kỷ XVIII) “Tứ bất tử của nước ta, người đời nhà Minh (Trung Quốc) cho là: Tản Viên, Phù Đổng, Chử Đồng Tử, Nguyễn Minh Không. Đúng là như vậy. (Vì) bấy giờ Tiên chúa (Liễu Hạnh) chưa giáng sinh nên người đời chưa thể lưu truyền, sách vở chưa thể ghi chép”(Lời Kiều Oánh Mậu, 1910). Từ đó đến nay, tín ngưỡng Tam phủ rồi Tứ phủ luôn luôn là một trong những trung tâm tín ngưỡng của tâm thức dân gian. Ảnh hưởng của tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh mang tính bao trùm, có phạm vi rộng lớn hơn so với ảnh hưởng của Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không là điều đã khẳng định trong dân gian. Tóm lại, trong tâm thức dân gian Việt Nam từng có Tứ bất tử. Các vị từng được coi là có chân trong Tứ bất tử gồm: - Tản Viên Sơn thánh (3 anh em) - Chử Đạo Tổ - Thánh Gióng - Thánh Láng Từ Đạo Hạnh - Nguyễn Minh Không - Thánh Mẫu Liễu Hạnh Qua thời gian, cùng với sự xuất hiện những yếu tố mới, mang tính thời đại về tư tưởng, triết lý, quan niệm thì niềm tin, tín ngưỡng, quan niệm về Tứ bất tử có sự thay đổi, dẫn đến việc Thánh Mẫu Liễu Hạnh thay thế Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, đứng vào hàng Tứ bất tử như là một tất yếu. Đền thờ Nguyễn Minh Không tại Ninh Bình Tuy nhiên, những cắt nghĩa trên đây chỉ là những nét phổ quát nhất, trên mặt bằng tín ngưỡng của dân gian trong phạm vi rộng lớn, mang đặc điểm chung nhất. Ở một số nơi, một số vùng, quan niệm tín ngưỡng vẫn có những nét riêng, và tất nhiên, không phổ biến và chỉ có ảnh hưởng ở phạm vi nhỏ, hẹp. Việc phụng thờ Tứ Bất tử là một tín ngưỡng thuần túy Việt Nam, kết tinh từ những truyền thuyết đẹp đẽ và là một bộ phận không thể tách rời trong di sản tôn giáo và tinh thần của đất nước. Và chính người Trung Quốc, từ bao đời nay cũng đã biết đến và ghi nhận tín ngưỡng Tứ Bất tử của Việt Nam. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
-
Trời khiến ông phải thiệt thòi để vắt kiệt mình nói lên niềm khao khát. Từ những khao khát chắt thành mật ngọt cống hiến cho đời, để người người biết cảm và yêu nhau hơn. Một đời người sống có ý nghĩa cũng chỉ cần đến vậy thôi. (Nguồn: http://www.vietimes.com.vn) Thứ hai, 17/9/2007, 15:57 GMT+7 “Anh có nhà có cửa/ nhưng không vợ không con”. Ấy là lời tự bạch của Xuân Diệu về tình trạng cô đơn của mình trong bài “Khung cửa sổ”. Đúng là không có con, nhưng Xuân Diệu đã từng có vợ. Người phụ nữ đó không ai khác chính là nữ đạo diễn, nghệ sĩ nhân dân – Bạch Diệp. Hai người đã chung sống trong một thời gian ngắn ngủi rồi chia tay. Bạch Diệp nay đã bước sang tuổi cổ lai hy. Gần đây, bà yếu đi nhiều, chân run run do bệnh viêm khớp của tuổi già. Trong căn nhà rộng mà hiu quạnh, bà ngồi lọt thỏm trong bộ ghế sa-lông cứng nhắc, khuôn mặt đăm chiêu nhăn nhúm vết thăng trầm thời gian. Sau một tiếng thở dài, những câu chuyện từ cõi lòng cứ thế mà bật ra. Đôi mắt sắc sảo của bà chợt ầng ậc nước, chợt ráo hoảnh… Mội đôi nhưng hai... nửa Những ngày cuối đông năm 1957, trời Hà Nội rét căm căm. Ngày hôm đó, Tổng biên tập báo Nhân Dân - ông Hoàng Tùng gọi Bạch Diệp ở lại, giọng nửa đùa nửa thật: “Bạch Diệp ế đến nơi rồi, có muốn anh giới thiệu chồng không?”. Bạch Diệp giãy nảy: “Gớm, có già cũng không cần anh giới thiệu đâu. Em quen đầy người, việc gì phải nhờ anh”. Nói rồi, Bạch Diệp nhét tập tài liệu dầy cộp vào túi sách, toan về. “Nhưng… nếu đó là “một ông hoàng?”, “Em không cần tiền!”. Bạch Diêp ngúng nguẩy, tự ái ra mặt. Hoàng Tùng xua tay cười “Em bình tĩnh nghe anh nói đã…”. Hoàng Tùng lôi điếu thuốc ra. Châm lửa. Chậm rãi rít một hơi dài: “Người này anh ngắm kỹ cho em rồi, không ai xứng đáng hơn đâu. Không phải ông hoàng dầu lửa, mà là ông hoàng thi ca – Xuân Diệu đấy!”. Hoá ra, người mà tổng biên tập muốn giới thiệu cho cô phóng viên trẻ chính là Xuân Diệu. Bạch Diệp lúc này đã 27 tuổi, đẹp sắc sảo, mặn mà. Biết bao chàng trai ngưỡng mộ sự thông minh của nàng, nhưng không dám tiến gần, vì sợ nàng “chê”. Bạch Diệp thường vẽ một “bánh vẽ” về người chồng lý tưởng của mình, rồi “gặm nhấm”: “Chồng Diệp phải là người đàn ông tài hoa, lãng mạn. Người đó phải khiến Diệp kính phục. Nếu không, Diệp thà ở vậy còn hơn!”. Bởi thế, khi được “gán” với “ông hoàng của thi ca”, Bạch Diệp bỡ ngỡ lắm. Nàng lao về nhà, đọc đi đọc lại những bài thơ tình của ông: “Em bước điềm nhiên không vướng chân/Anh đi lững thững chẳng theo gần/Vô tâm – Nhưng giữa bài thơ dịu/ Anh với em như một cặp vần… Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy/Lòng anh thôi đã cưới lòng em”. Chắn hẳn, người phụ nữ nào được Xuân Diệu yêu sẽ hạnh phúc vô cùng! Sao không hạnh phúc khi được Xuân Diệu đối xử như một nữ hoàng, và được chàng yêu như trong thơ: “Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ?/Anh tham lam, anh đòi hỏi quá nhiều. Anh biết rồi, em đã nói em yêu/Sao vẫn muốn nhắc một lời đã cũ?”. Nghĩ vậy, mấy ngày sau, Bạch Diệp nhận lời “mai mối” của Hoàng Tùng. Bạch Diệp trong công việc của một đạo diễn Xuân Diệu tuy đã 41 tuổi, nhưng trông “rất thơ”. Vầng trán anh nở nang, cao vời vợi, che phủ một phần bởi những mớ tóc loăn xoăn, dấu ấn của con người Bình Định. Bạch Diệp vốn là người mạnh mẽ, nhưng bị “đắm chìm” ngay bởi cặp mắt nhìn đời và thiên nhiên sâu thăm thẳm, tựa như một nhà hiền triết. Thế nhưng, buổi nói chuyện đầu tiên tẻ nhạt hơn nàng tưởng. Những câu làm quen rời rạc, những mạch chuyện chệch hướng. Xuân Diệu không phải là người đàn ông biết đưa đẩy, rào đón phụ nữ. Hoá ra, người thơ và người thực chẳng thể là một. Bạch Diệp thoáng thất vọng. Những buổi hẹn hò sau, hai người thường đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng ra ngoại thành chơi. Trên những con đường trải đầy nắng và gió đông, Xuân Diệu khẽ khàng ngâm thơ. Bạch Diệp ngồi phía sau, lòng lâng lâng. Có lần, trời đổ cơn giông, Bạch Diệp nằng nặng đòi đội mưa về nhà, bất kể đang ốm. Xuân Diệu liền kéo nàng trú dưới hàng hiên nhà cổ. Anh rút khăn mùi soa, lau từng giọt mưa lấm tấm trên mặt nàng. Sau khi đưa nàng về, Xuân Diệu tặng nàng bài thơ: “Tôi cầm mùi dạ lan hương/Trong tay đi đến người thương cách trùng/Dạ lan thơm nức lạ lùng/Tưởng như đi mãi không cùng mùi hương”. Xuân Diệu rất yêu hoa và là người kỹ tính trong nghệ thuật này. Bất cứ lúc nào, trong nhà ông cũng có hoa tươi để bàn. Thuở đó, ông rất hay mua hoa hồng tặng Bạch Diệp. Những bông hồng tươi thắm, cánh hoa dầy ụ khiến đôi mắt Bạch Diệp thêm long lanh, má Bạch Diệp thêm nồng ấm. Xuân Diệu không có sự quyến rũ mạnh mẽ từ vẻ ngoài, cũng không có những câu nói đưa đẩy làm xiêu lòng phụ nữ. Bù lại, sự chu đáo của anh khiến Bạch Diệp tuy chưa hoàn toàn ưng ý, nhưng cũng “mủi lòng”. Đến gần ngày cưới, Xuân Diệu có qua nhà Bạch Diệp ăn cơm tối. Ba mẹ Bạch Diệp đón tiếp “chàng rể tương lai” rất nồng hậu. Mắt long lanh, anh tự ru mình và mềm mại khi đọc những bài thơ tình. Bạch Diệp nhìn anh say đắm, nhưng anh lại đưa mắt ra ngoài khung cửa sổ, lảng tránh. Dường như bài thơ tình đó không dành cho nàng. Giữa họ, một khoảng cách vô hình le lói hình thành. Có lần, cô bạn đồng nghiệp kéo Bạch Diệp lại, hỏi: “Tao nghe người ta nói anh Xuân Diệu có vấn đề đấy! Mày phải xem lại đi, không nhỡ dở đời con gái”. Bạch Diệp gắt lên: “Vớ vẩn! Người ta ghen ghét, nói xấu anh Diệu thôi. Tao không hiểu anh Diệu thì ai hiểu đây?”. Nói thế nhưng Bạch Diệp không khỏi nghi hồ. Hai người sắp nên vợ nên chồng mà vẫn chẳng thể là một. Xuân Diệu lúc nào cũng “bâng khuâng”, “lãng đãng”. Hay vì nhà thơ thường như thế? Trước đám cưới vài ngày, Bạch Diệp giục Xuân Diệu đăng ký kết hôn nhưng anh lại ậm ừ cho qua, kêu bận sáng tác. Mấy hôm đó, nàng cũng thao thức không ngủ được. Chỉ mấy ngày nữa thôi, nàng sẽ trở thành “bà Xuân Diệu”, là “nữ hoàng” của thơ ông, thay thế tất cả những “người tình thơ” trước đó. Sau này, người yêu thơ sẽ nhắc đến nàng như nguyên mẫu, là nguồn cảm hứng duy nhất trong thơ Xuân Diệu. Rồi hạnh phúc vợ chồng, nàng chưa biết gì ngoài những lời thủ thỉ của bạn bè đồng trang lứa. Nghe hứa hẹn, sẽ “ngọt ngào” lắm… Đám cưới diễn ra vào cuối tháng 4 năm 1958, do báo Nhân Dân đứng ra tổ chức. Có rất nhiều bạn bè của Xuân Diệu tới chúc mừng. Họ toàn là những nhà thơ, nghệ sĩ tên tuổi. Bạch Diệp trong bộ áo dài đội voan trắng muốt, hạnh phúc vô cùng. Trước sự chứng kiến của mọi người, chàng và nàng nguyện "kề vai sát cánh đến suốt cuộc đời". Đêm tân hôn của… thi ca Đôi vợ chồng trẻ được thu xếp trong một căn phòng nhỏ, nhưng ấm cúng. Phía đầu giường là dòng chữ “Hỉ” đỏ chót dán lên tường. Chú rể vẫn chu đáo vậy, đun nước sôi, trút xuống chậu men, nhúng tay thử độ ấm và bảo nàng đi tắm. Rũ sạch mọi mệt mỏi, mùi xà phòng hương lài quận quanh người khiến nàng thêm khoan khoái. Bạch Diệp trong xưởng phim ...và cùng nghệ sĩ Trà Giang Nàng đã tưởng tượng ra khung cảnh như thế này, từ lâu lắm rồi: một căn phòng nhỏ leo lắt nến và hoa hồng. Cô dâu mới phải e lệ, ngượng ngùng ngồi đợi chồng bên mép giường. Chú rể vén rèm, bước vào. Hai người uống chung một ly rượu, cho men tình thêm say! Luồng sáng trong phòng phải mờ mờ ảo ảo. Bóng tối sẽ khiến hai người thêm tự nhiên và gần gụi. Sau một đụng chạm khẽ khàng, hai người yêu nhau như tự nhiên nó thế… Một bàn tay mềm mại đặt lên vai. Tim nàng đập thịch. Má đỏ bừng. “Em này, có thấy bút đâu không?”. Giật mình, nàng ngơ ngác: “Để làm gì hả anh?”. Xuân Diệu không trả lời, lục tung bàn, cúi xuống gầm giường tìm bút. Rồi anh thắp thêm nến. Ánh sáng khiến căn phòng như rộng ra, rộng mãi. Xuân Diệu ngồi bên bàn, cầm bút, giấy loay hoay, hì hụi. Đầu anh gục xuống, mái tóc bồng bềnh rối tung. Bạch Diệp ngỡ ngàng: “Chẳng nhẽ anh ấy muốn làm thơ trong lúc này?”. Sau một hồi, Xuân Diệu hí hửng, đọc thơ cho nàng nghe. Bạch Diệp cố nhấn nhịn. Đọc xong, chàng lại hì hụi viết tiếp, mắt nhìn ra cửa sổ bâng khuâng. Nàng bàng hoàng: chẳng nhẽ đêm tân hôn là như vậy? Đêm đó, Bạch Diệp thêm một lần mất ngủ. Vị ngọt rượu vang nơi đầu lưỡi hồi chiều đã nhanh chóng biến thành vị đắng. Đến sáng, hai người rẽ sang hai ngả đường. Đêm đêm, chàng vẫn miệt mài làm thơ. Nàng thở dài, kéo chăn đi ngủ trước. Mọi người tò mò hỏi chuyện đôi vợ chồng trẻ, nàng chỉ mỉm cười, mắt biêng biếc buồn. Nàng đang phải cắn-quả-sấu-của đời mình. Ba tháng sau ngày cưới, Bạch Diệp trò chuyện cùng mẹ. Bà mẹ hạnh phúc nhìn con gái, hỏi nhỏ: “Thế mày đã có gì chưa? - Có gì là có gì ạ? Bọn con đã có chuyện gì đâu?”. Mẹ Bạch Diệp tái mặt. Bà cứ ngỡ, con gái lấy chồng sẽ nhanh chóng sinh cho bà đứa cháu kháu khỉnh, ngờ đâu… Tức giận, bố Bạch Diệp gọi chàng rể đến. Lúc đó, mọi người mới té ngửa: Xuân Diệu bị bệnh “tiên thiên”, không thể chữa trị. Mẹ Bạch Diệp thương con gái, khóc cạn nước mắt. Bà bắt hai người phải chia tay ngay, để Bạch Diệp khỏi lâu ngày mang tiếng xấu. Bố Bạch Diệp can ngăn: “Khuyết tật này chẳng ai muốn có. Hơn nữa con mình là người tri thức có tiếng, nên giữ thể diện cho nó. Bây giờ tìm mọi cách chữa trị trong ba tháng. Sau ba tháng nếu Xuân Diệu tròn nghĩa vụ làm chồng, hai đứa phải chia tay”. Bạch Diệp giờ biết chuyện của chồng, thương xót vô cùng. Suốt ba tháng đó, ngày ngày nàng đun thuốc nam cho chồng uống, tuyệt nhiên không một lời than phiền, trách móc. Mẹ Bạch Diệp đôn đáo xuống Hà Tây, Hải Dương, Hải Phòng xem bói. Nào là, “thằng chồng nó bị ma ám, phải đem lá bùa này về đốt, lấy tro phá với nước lã, bắt nó uống”. Rồi “xoay giường ra hướng khác, hướng này khí độc”… Xuân Diệu thương vợ nhiều, nhưng không thể làm cho vợ hạnh phúc. Hơn nữa, Xuân Diệu càng biết lòng mình, qua cuộc hôn nhân với Bạch Diệp. Thời gian này, những bài thơ tình vẫn được tuôn rào rạt. Vẫn cuồng nhiệt vô bờ: “Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt/Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng/Trong say sưa, anh sẽ bảo em rằng/Gần hơn nữa thế vẫn còn xa lắm”. (Xa Cách) Một đêm nọ, Xuân Diệu không làm thơ. Chàng ôm vợ mình, siết chặt, nhẹ nhàng hôn lên môi, mắt và trán nàng. Rồi những nụ hôn cuống quýt, nồng ấm. Nàng lâng lâng. Dòng máu nóng chạy dọc suốt cơ thể. Nàng không còn bẽn lẽn, rụt rè. Nàng sẵn sàng đón nhận sự khát khao bị dồn nén bấy lâu. Nàng sắp bùng nổ…Nhưng chàng dừng lại. Bỏ ra ngoài phòng. Để lại sau lưng giọt nước mắt mặn chát của người vợ trẻ. Sau này, khi hai người chia tay, họ vẫn coi nhau là bạn. Một lần vô tình gặp trên phố, khi Xuân Diệu đương mua hoa. Họ chào nhau, hỏi chuyện như những người bạn lâu ngày gặp mặt. Đến khi ra về, Bạch Diệp nhìn dáng Xuân Diệu mãi, cho đến lúc anh nhạt nhoà vào đám đông, chợt đắng đọt: “Sao anh ấy cháy bỏng và nồng nhiệt trong thơ dường vậy, lại không thể nồng nhiệt trong đời thực?”. Gần năm mươi năm sau, không một lời oán trách, Bạch Diệp khẽ khàng: “Có lẽ ông ý chưa hiểu hết mình nên mới lấy tôi. Đừng viết gì về ông ấy, có viết, viết về những bộ phim của tôi đây này”. Dù không nói ra, nhưng những tiếng thở dài đau đáu đã nói lên tất cả. Không muốn chạm sâu thêm vào nỗi đau đó, tôi từ bỏ ý định muốn xem tấm ảnh cưới của bà và Xuân Diệu. Bởi với bà, “Xuân Diệu là những gì hư ảo trong cuộc đời, những kỷ niệm vô cùng đẹp nhưng không có thật”. Bạch Diệp hiện đang sống một mình, trong nhà chỉ có thêm một chú mèo... Nên chăng, hãy để chúng nằm yên như nỗi đau được chôn giấu tự thuở nào. Mãi đến năm 40 tuổi, Bạch Diệp mới đi bước nữa, với ông Nguyễn Đức Tường, người thực sự thắp ngọn lửa yêu thương trong cuộc đời bà. Ngày 18 tháng 12 năm 1985, Xuân Diệu qua đời, sau một cơn đau tim đột ngột tại Hà Nội. Bạch Diệp đến, đặt một bó hoa trắng lớn (chứ không phải vòng hoa) lên nắp quan tài. Lần này, bà “tặng” ông bó hoa cuối cùng. Trong tiết trời đông lạnh cóng, bà đã đứng “bên ông”, đưa ông về nghĩa trang Văn Điển. Một cách trọn vẹn, Bạch Diệp là người phụ nữ duy nhất trong cuộc đời Xuân Diệu. Xuân Anh (VieTimes)
-
Nguồn: http://www.vietimes.com.vn Nõ Nường: Phồn thực và "linh tinh tình phộc" Thứ sáu, 22/2/2008, 07:00 GMT+7 ...Nữ cầm cái Nường đưa lên, nam cầm Nõ “phộc’’ vào và phải làm ba lần như thế. Trong đêm tối, chủ tế nghe “cạch’’ đủ ba tiếng đèn sáng lại. Phút ấy gọi là phút “thiêng’’, “dập’’ chiêng trống để mừng và kính cáo với thần linh, thiên địa biết “lễ mật tắt đèn’’ đã thành công... Vịnh miếu Trò Xưa bà ẵm cháu, mẹ bồng con Xem tích Trò Trám nay vẫn còn Tiên tổ truyền kỳ di vật báu Miếu Trò linh nghiệm dấu vàng son Ai vãng Đền Hùng thăm đồ trận Nhớ về miếu Trò nẻo sườn non Nén hương vọng dâng vật kỳ tích Ngàn thu đá tạc mãi trường tồn “Trò Trám’’ là tên gọi của địa phương, giới nghiên cứu gọi lễ hội “phồn thực’’, còn chúng tôi gọi lễ hội “Nõ Nường’’- tức lễ hội “vòng đời” - là loại hình sinh hoạt cộng đồng cổ xưa nhất còn truyền kỳ lại đến ngày nay; nơi tập trung các hình thái hoạt động “ hèm tục’’ hàm chứa bản sắc văn hoá cộng đồng - rõ nét cá biệt của từng địa phương. Đặc điểm của lễ hội “vòng đời’’- Trò Trám là “lễ mật’’, “tắt đèn” xướng diễn trò “linh tinh tình phộc” vào giờ “lành” nửa đêm (giờ tý). Hôm sau tiến hành lễ rước lúa “thần’’ và mở hội trình trò Tứ dân: “Sĩ, Nông, Công, Thương’’ để minh giải diễn trình tư tưởng của lễ hội trên các “kênh” khác nhau: phạm trù tâm linh và hiện thực. Ở đây, động thái “linh tinh tình phộc” và “chày cối” là hiện tượng “tục hèm” trừ đuổi tà ma triệt tiêu hiểm hoạ, cho vật thịnh dân an xóm làng trù phú “khuyển kệ minh kê”. Về tính hiện thực, động thái “linh tinh tình phộc’’ đó là phút “ khởi nguyên’’ sự sống cho một vòng đời, nên gọi là lễ “cầu đinh”. 1. Miếu trò xóm Trám Ngôi đền thờ linh vật Một ngôi miếu cổ ẩn mình bên ngòi nước trong khu rừng Trám, ở đây (cứ 2 hoặc 4 năm 1 lần – năm chẵn ) vào đầu xuân, nhân dân mở lễ hội diễn nhiều tích trò, nên gọi là miếu Trò, còn vì miếu Trò nằm trong rừng Trám nên gọi là miếu Trò Trám (nay rừng Trám không còn). Và xóm ở cạnh cũng gọi xóm Trám, hay Phường Trám, tên chữ xóm Cổ Lãm, thuộc làng có tên tục là Kẻ Gáp, tên chữ là Thạch Cáp, nay là xã Tứ Xã (có 32 xóm trong đó xóm Trám và xóm Bùi có đầu tiên) nằm trong vùng di tích đồ đá cũ của người Việt cổ như Gò Mun, Đồng Đậu con ,v.v… ở huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ. Cách Đền Hùng khoảng 5km về phía đông nam và nằm bên bờ tả ngạn sông Thao, trước đây chưa có con đê thì Tứ Xã là vùng đồng trũng ngập nước, thỉnh thoảng nổi nên những đồi gò (chỗ ở của người Việt cổ), lúa chỉ làm một vụ, quanh năm sinh sống bằng nghề vó bè, cá mú nên chuyện tát hôi hay được nhắc đến trong hát Trò Trám: Không đâu vui bằng phường ta Đàn ông đi tát đàn bà đi hôi Tứ Xã xưa là vùng quê nghèo, nhưng có truyền thống hiếu học, có người đỗ đạt cao như Nguyễn Quang Thành - đỗ tiến sĩ lúc 24 tuổi (1680 đời vua Lê Hy Tông ) làm quan đến chức Thiểm đô ngự sử, hoặc quan võ Chử Đức Cương trấn ải biên thuỳ - được phong tứơc Quận công và còn có nhiều ông Cử, ông Cống khác như Nhất nguyên Nguyễn Tất An người soạn bài Văn tế miếu Trò... Ngoài ra còn có Chánh tổng Nguyễn Quang Hoà (cháu chắt của quan Nghè Nguyễn QuanThành) biệt danh “Tổng Cóc’’ một văn nhân hào hoa, giàu có trong “tình sử’’ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương, con gái cụ Đồ Nghệ theo cha ra dậy học ở vùng đó. Phải chăng nữ sĩ Hồ Xuân Hương nhờ gắn bó với lời ca Nõ Nường của lễ hội Trò Trám, nên mới có được những bài thơ kiệt tác để lại cho đời. Nói điều này, để thấy lễ hội Trò Trám là sản phẩm “lấp lánh’’ nền học vấn uyên thâm kia: “địa linh, nhân kiệt". Ngày nay Tứ Xã là nơi giàu có phù trú - có chợ trung tâm của cả vùng: đường lớn, ôtô khách ghé Đền Hùng xuôi Việt Trì, về Hà Nội. Hiện tại Sở văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ đang tiến hành lập hồ sơ đưa Tứ Xã vào danh mục Cụm du lịch gồm ba điểm: Lễ hội Trò Trám, Di chỉ khảo cổ Gò Mun và nhà tưởng niệm Hồ Xuân Hương và Tổng Cóc, với tình sử lãng mạn đầy chất thơ, lung linh huyền ảo. 2. Lễ mật giờ lành Miếu Trò thờ vật linh - sinh thực, tên tục gọi là bà “ Đụ Đị’’ (Dụ Dị) tên nôm Nõ Nường (hình 2) làm vật “hèm’’ để trừ tà, đuổi ma, triệt tiêu hiểm họa tai ương, cầu yên cầu phúc, cầu lộc cầu tài. Văn tế của miếu có đoạn viết: Cảm tất thông Cầu tất ứng Bảo vật hộ dân ức niên trường tại Vạn cổ như tân Bài Văn tế có 21 câu, nội dung ngợi ca vật “hèm’’ Nõ Nường: Anh linh tuấn kiệt, Băng sương cốt cách, Kim ngọc tinh thần ... Linh vật “nõ - nường”. Tiến trình của lễ: Lễ mật tắt đèn, xướng diễn trò “linh tinh tình phộc’’ Tiến trình của hội: Rước lúa “thần’’ trình trò Tữ dân, lời ca Nõ Nường. Đặc điểm của lễ: Linh thiêng huyền bí thần chú vật hèm . Đặc điểm của hội: Trò -vè - hí tiếu - trêu - ghẹo - múa vui Nghĩa là toàn bộ trò diễn ở đây đều phải tuân theo chức năng hoạt động của Nõ Nường “ linh tinh tình phộc’’ - tức là “Đụ Đị’’. “Đụ Đị’’ là ngôn từ thuộc tầng ngôn ngữ cổ, ngữ nghĩa của nó hiện nay ở miền Trung đang còn hiểu: “Đụ’’ vừa là hành động, vừa là hình vật - cái Nõ, còn “đị’’ là hình ba góc - cái Nường. Dân ca Miền Nam có câu: Bông xanh bông trắng Rồi lại vàng bông Ơ “Nường’’ ơi ! Chữ “Nường’’ ở đây là tên gọi theo đặc điểm của giới tính cái (Nõ Nường), do đó giới nghiên cứu gọi lễ hội này là lễ hội “Phồn thực’’- nghĩa hẹp, chúng tôi gọi lễ hội “Nõ Nường’’( vòng đời) - nghĩa rộng - Nõ Nường là biểu tượng CON NGƯỜI. Lễ hội kéo dài một đêm và một ngày: bắt đầu vào tối ngày 11 và kết thúc vào chiều ngày 12 tháng giêng âm lịch. Các trò diễn ra trong lễ ngoài hội, theo tuần tự. Đầu hôm ngày 11 gọi là cáo tế, dâng sớ. Sau lễ cáo tế dâng sớ có lễ hát cúng đệm “đàn giằng xay’’ do cụ Từ thể hiện, đồng thời có lễ chầu chực . Lễ chầu chực là ngồi ngóng đợi giờ lành gồm các bô lão và do chức sắc phân làm hai nhóm: nhóm chức sắc cao thì ngồi cùng cụ Từ hát thờ ở miếu, nhóm chức sắc thấp thì ngồi ở điếm Trám - cách miếu trò khoảng 200m (có cả đôi trò đã hoá trang , đến giờ thì một bô lão dẫn vào miếu ). Nghe tiếng gà gáy là nửa đêm, đến giờ lành (giờ tý) bước vào giờ chính lễ “Lễ mật’’. Nghi lễ: “linh tinh phộc”. Trước linh vị thần miếu - thần Nõ Nường, “ đôi trò’’ nam thanh, nữ tú đứng sau chủ tế, hướng mặt vào nhau, sẵn sàng đợi lệnh diễn trò. Chủ tế, sau khi khấn xong lời thần chú - cầu xin, gieo quẻ âm dương và lạy xong ba lạy thì bước lên cạnh bàn thờ, mở hòm lấy vật “hèm’’ (ngày trước vật hèm là cái mo nang và dùi gỗ vông, xong việc thì thả xuống hồ ngâm lấy nước tưới ruộng, để diệt trừ sâu rầy cho mùa màng cây trái xum xuê (thời chưa có thuốc trừ sâu); nay làm bằng gỗ, sơn đỏ, xong việc là cất vào hòm đặt trong tủ, để trên gác xép sau bàn thờ, còn gọi là bàn thờ thượng, có cầu thang, đến giờ chủ tế lên bê xuống lấy Nõ trao cho nam, lấy Nường trao cho nữ, rồi bước ngang sang phải (bàn thờ) ba bước, quay lại, chếch hướng về đôi trò, miệng hô: “linh tinh tình phộc’’ đồng thời hai tay khoát lên tạo thanh hình chữ “V’’ trước trán - đèn tắt, tuần tự hô ba lần. Theo lệnh tuần tự của mỗi lần hô, đôi trò vừa múa (đứng tại chỗ, hai tay cầm vật “hèm’’ đưa sang đưa về) miệng hát: Bên kia có nứng cùng chăng. Bên này lủng lẳng như giằng cối xay Hát xong hai câu này thì nữ cầm cái Nường đưa lên, nam cầm Nõ “phộc’’ vào và phải làm ba lần như thế. Trong đêm tối, chủ tế nghe “cạch’’ đủ ba tiếng đèn sáng lại. Phút ấy gọi là phút “thiêng’’, “dập’’ chiêng trống để mừng và kính cáo với thần linh, thiên địa biết “lễ mật tắt đèn’’ đã thành công. Sau đó chủ tế dẫn đầu “đám trò’’ chạy quanh miếu ba vòng theo ngược chiều kim đồng hồ, theo sau là dân làng: vừa chạy vừa la hét và gõ dùi vào mẹt để đuổi ma quỷ trừ hiểm họa cả năm cho dân làng, cùng mùa màng cây trái và gia súc... Khi nghe hiệu chiêng trống “dập’’ và tiếng la hét ở ngoài miếu thì số người ở nhà trong phường cũng đồng loạt “gõ’’ dùi vào mẹt hoặc dùng chày “giã’’ vào cối và la hét theo để đuổi ma quỷ. Sau đó những đôi vợ chồng cũng phải thực hiện lễ thức “tình phộc’’ và những đôi nam nữ cùng dân làng đang ở quanh rừng Trám ngoài miếu, cũng phải thực hiện lễ thức “tình phộc’’ bổ sung “bồi’’ thêm, và ngày mai trong hội hát trình nghề Tứ dân chi nghiệp, cái nọ “phộc’’ vào cái kia và lời ca ẩn ngữ Nõ Nường lại “bồi’’ thêm lần nữa “quá tam ba bận’’. Tức là “tôi luyện’’ cho vật “hèm’’ đầy đủ linh nghiệm, thần hộ mệnh của toàn phường. Tình phộc ngoài rừng Trám Theo phong tục ngoài rừng trám các đôi trai gái và dân làng, cũng thực hiện lễ thức “ tình phộc’’ và nữ phải giữ một vật của nam để làm tin như khăn đội đầu. Cô nào có chửa trong dịp đó là lễ “hèm’’ của làng thành công, đem lại điều may mắn cả năm cho gia đình và toàn phường. Phường sẽ đứng ra lo liệu tổ chức lễ cưới cho họ và không phải nộp khoản tiền “cheo’’. Đứa con sinh ra trong dịp “lễ mật’’ này là của quí, vật cưng của gia đình và toàn phường. Ngoài ra, cô gái có chửa ấy, nếu từ chối lấy anh gặp tối qua, mà muốn lấy một anh khác thì dân làng cũng vận động người con trai đó và anh ta cũng rất vui vẻ tự nguyện. Đồng thời những bà mà có chửa trong đêm đó thì gia đình càng phấn khởi với câu châm ngôn: Cá ao ai về ao ta, ta được. Việc “tình phộc’’ ngoài rừng Trám sau “lễ mật’’ các già làng kể lại với nhiều tình tiết sinh động hấp dẫn, rằng: dù gặp bà Chánh Lý thì cũng thế, vì đi hội là phải theo hội để được “vật thịnh dân an’’. Có những đôi nam nữ sau đó thành chồng vợ và họ đã qua đời vài chục năm nay; vì tục “Tình phộc’’này đến đầu thế kỷ XX đã tàn, không diễn ra nữa. 3. Lời ca ẩn ngữ Nõ Nường Lễ hội Trò Trám là “Lễ hội Nõ Nường’’ do đó toàn bộ tích trò diễn ra ở đây đều tuân theo chức năng hoạt động của Nõ Nường “linh tinh tình phộc’’. Vì thế, nếu lễ hội tại miếu thờ cụ Tổ nghề mộc, thì việc cưa, đục, đó là công việc của nghề thợ mộc. Trái lại, ở lễ hội Nõ Nường thì cái cưa “xẻ’’ gỗ, cái đục “ đục’’ gỗ là tượng trưng cho Nõ “ phộc’’ vào Nường; hoặc Sĩ chiếc bút “quyệt’’ vào nghiên mực, Nông cái cày “cắm’’ xuống đất, cần câu lưỡi “móc’’ vào mồm cá... và lời ca của nhóm “tứ dân chi nghiệp’’ (Sĩ, Nông, Công, Thương) cũng đều ám chỉ việc Nõ “ phộc’’ vào Nường. Lời ca có trên 350 câu thơ Lục bát không kể lời ứng tác tức thì. Xin trích lời ca của một số vai diễn sau đây: Lời ca của cây đàn “Giằng xay’’. Đàn “Giằng xay’’ biểu tượng Nõ Nường, nhân vật trung tâm, giữ vai trò lĩnh xướng trong các vai diễn ở đây. Đàn ông tậu ruộng ba bờ Chớ để kẻ khác mang lờ đến đơm Ruộng ba bờ là hình ba góc - cái “Nường’’ và “Lờ’’ là cái Nõ Hoặc lời ca của người thợ cày: Nhà ta vui cấy, vui cầy Làm ăn vất vả tối ngày không thôi Mong sao như đũa có đôi Tháng năm năm việc, tháng mười mười công Ý phiếm chỉ ở đây là chữ “cấy” và chữ “cày” khi hát được nhấn mạnh. Hoặc lời ca của người thợ cấy: Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy lấy ông chủ nhà Đi cấy thì gốc chổng lên Ngọn thời cắm xuống mới nên mùa màng Trong đoạn hát của người thợ cấy có những từ “gốc” và “ngọn” đều là ẩn ngữ, phiếm chỉ về sự hoạt động của Nõ Nường: ngọn cỏ “cắm xuống” mới nên mùa màng, hoặc “lấy ông chủ nhà” là chồng mình - nghĩa là chị ta đi cấy ruộng nhà. Nếu rạch ròi ra thì cả đoạn này đều mang tính ẩn ngữ. Hoặc lời ca của cô mua bán “xuân”: Còn xuân thì mua xuân đi, Nay lần mai lữa còn gì là xuân “Bán” và “mua” đều ở một chữ “xuân”. Hoặc lời ca của anh đi câu: Cành câu trúc anh đúc lưỡi câu vàng Anh tra mồi nguộc anh sang câu hồ Người ta câu diếc câu rô Anh đây câu lấy một cô không chồng Có chồng thì nhả mồi ra Không chồng thì cắn, thì nuốt, thì tha lấy mồi Hoặc lời hát của anh cung bông: Mặc ai căng lưới ngọn bè Anh người phường Trám làm nghề cung bông Cô nào bông cán đã xong Muốn đi kịp chợ đón cung anh vào Lời của chị kéo sợi: Xin đừng quản thấp lo cao Bông em đã nỏ anh vào mà cung Sợi lôi ra bằng cổ chày Phường chài đón hỏi mua dây kéo thuyền. Trong đoạn này, chữ “cung anh” và “bông em” hoặc sợi bằng “cổ chày”... đều là ẩn ngữ. Hoặc lời ca của anh thợ xẻ: Người ta xẻ gỗ trên ngàn Anh đây cưa lấy một nàng đương tơ Em tài bắt chệch sớm trưa Anh thì giỏi xẻ khéo cưa cùng phường Ở đây các chữ “cưa”, “xẻ”, “bắt chệch” đều là ẩn ngữ. Hoặc lời ca của thầy đồ và học trò: Học trò đi học sách kinh Tay cầm quản bút “quyệt” tình nghiên đây Học trò đi học chữ thầy Học nhồi học nhét bụng đầy văn chương. Lễ hội Nõ Nường là lễ hội ngợi ca về sự cường tráng và hoạt động “linh tinh tình phộc” của Nõ Nường “vật hèm”: Nõ to và dài như “giằng cối xay” còn Nường thì rộng và sâu như “cối xay lúa’’đó là biểu tượng. Ở đây không còn quan niệm “dâm” và “tục” nữa. Lời ca của nhóm hề pha trò: - Gặp đây anh mới hỏi nàng Cái gì lủng lẳng một gang trong quần - Chàng hỏi thì thiếp thưa rằng Cái đeo lủng lẳng là “giằng cối xay”. - Ước gì em hoá ra trâu Anh hoá ra chạc xỏ nhau cả ngày. - Ước gì em hoá lưỡi cày Anh hoá thành bắp lắp ngay bây giờ - Bà già như ruộng đỉnh gò Đang hạng con gái như kho ruộng mềm. Lễ hội Nõ Nường Trò Trám thuộc dòng lễ hội tục hèm, mang đậm đà bản sắc văn hoá của người Việt cổ. Nó được ra đời rất sớm, từ thời dân tộc ta mới hình thành tư tưởng. Đến thời đại văn minh Đông Sơn, dòng lễ hội vòng đời này được hoàn thiện về ý nghiã và nghệ thuật, được ghi lại thành hoa văn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và lan toả, truyền kỳ trong văn hoá đân tộc. Ngày nay việc tìm hiểu và bảo tồn dòng lễ hội này đó là điều cần thiết trong hội nhập quốc tế của đất nước ta. Nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn (*): nguộc là con chẫu chuộc
-
Nguồn: http://vietimes.vietnamnet.vn “Bùa yêu hay chỉ là thuốc phiện?” - Tự thuật của một người Tày... Thứ năm, 27/9/2007, 14:05 GMT+7 Biết tôi là người Tày, rất nhiều người đã hỏi tôi những câu hỏi đại loại là: Có thật người miền núi có bùa yêu không? Anh có biết làm bùa yêu không? Rồi họ nhìn ngó tôi như thể tôi có thêm một cái đuôi. Đặc biệt là các cô gái trẻ, chuyện bùa yêu với họ thật sự hấp dẫn. Họ hỏi tôi rất nhiều như thể họ đang muốn thả bùa ai đó. Và bao giờ câu chuyện của bùa yêu cũng làm cho họ say sưa. Những lúc như thế tôi chỉ muốn bật cười… Vậy bùa yêu có thật hay không? Và nó như thế nào? Liệu những cô gái trẻ Hà Thành kia có thể sử dụng nó trong thành phố ồn ã đầy toan tính này? >> Trinh tiết miền rừng và đêm tân hôn của người Tày Bùa mê chỉ có từ những nụ cười - (Ảnh: baothainguyen.org.vn) Câu chuyện thứ nhất Vào năm tôi mười tuổi ở cái làng Pác Tháy bé nhỏ của tôi xảy ra một chuyện có thể gọi là kỳ lạ. Cô Nhình con bà Lành ở đầu bản - một sơn nữ có ngoại hình rất xấu: da đen, chân tay ngắn, mắt lé, mũi to… Nói chung không thể xấu hơn được nữa. Vậy mà cô ta sắp lấy chồng - anh Thành - bộ đội người dưới xuôi, đẹp trai nhất nhì đồn biên phòng gần đó. Ban đầu người trong bản và cả chiến sỹ trong đồn đều nghi hoặc về tin này. Người ta chỉ thấy đêm đêm anh Thành đi lại vật vờ như một bóng ma. Và bao giờ anh cũng đến nhà cô Nhình ngồi rất lâu. Quá tò mò với chuyện này, bọn trẻ chúng tôi thường bò vào nhìn trộm. Chỉ thấy bên bếp lửa bập bùng, cái anh bộ đội to cao và cô gái Tày nhỏ thó đó dựa vào nhau, tay nắm tay, trò chuyện thân mật, bóng họ nhảy nhót trên tường gỗ và lâu lâu cô Nhình lại khúc khích cười. Việc anh Thành mê cái Nhình làm không ít các cô gái trong bản ghen tức, trong đó có cả chị họ tôi. Bà chị tôi quả quyết rằng con Nhình đã đến nhà bà Sẳn lấy “bua” , tức là bùa yêu để chài anh Thành, nếu không có mà trời sập cũng chẳng yêu được anh bộ đội đẹp trai như thế. Nhắc đến bà Sẳn, bọn trẻ con trong bản chúng tôi đều biết. Đó là người đàn bà cô độc bí ẩn, già đến nỗi không ai biết bà bao nhiêu tuổi. Ngôi nhà cũ kỹ của bà nằm ở cuối bản, hàng ngày bọn tôi vẫn thấy bà ngồi một mình đan lồng gà. Hình như bà sống bằng nghề đó. Trong vườn bà lúc nào cũng đầy hoa quả: cam, quýt, ổi, chuối… chín thơm lừng nhưng chẳng đứa nào dám vào hái trộm vì người ta đồn bà đã yểm bùa những cây đó, nếu ai lấy trộm sẽ bị điên, trừ khi bà ta cho hoặc bán. Có lần, quá thèm mấy quả ổi chín, tôi rủ thằng bạn trèo lên hái trộm. Đó là một hành động thật liều lĩnh, nhưng mùi thơm quyến rũ của ổi chín đã làm tôi quên sợ và tôi cũng không tin lắm vào chuyện yểm bùa của mấy người già nên làm liều. Khi trèo lên tít ngọn cây để hái quả, tôi nhìn thấy bà Sẳn đang ngồi đan lồng gà trên sàn gỗ. Trong ánh nắng rực rỡ của mùa hè, bà ngồi lặng lẽ làm việc, xung quanh những con chim sẻ thản nhiên nhảy nhót không hề sợ hãi. Thỉnh thoảng bà đưa tay lên vuốt tóc, những sợi tóc bạc lấp lánh trong ánh nắng cùng khuôn mặt già nua nhăn nhúm làm tôi rất sợ. Cuối cùng, tôi cũng hái đầy hai túi ổi, nín thở leo xuống. Khi tôi đang rón rén định chui qua hàng rào, bỗng nhiên bà lên tiếng: “Cẩn thận gai đâm vào chân đấy…”. Tôi sợ đến đứng tim, rồi ù té chạy, hai túi ổi rơi đâu hết. Thằng bạn tôi cũng sợ không kém, nó quả quyết đã thấy những quả ổi rơi ra từ túi quần của tôi và lăn vào sân nhà bà Sẳn. Nó kết luận: “Bà Sẳn yểm bùa nên ổi tìm về với chủ, mày cẩn thận, điên đấy…”. Đêm đó tôi không tài nào ngủ được, và gặp ác mộng. Tôi thấy bụng mình chướng lên đau đớn rồi vỡ tung, từ đó những quả ổi thi nhau bay ra, mỗi quả ổi là một khuôn mặt của bà Sẳn nhìn tôi cười chế giễu. Từ bữa đó cứ nhắc đến bà Sẳn, tôi sợ không còn hồn vía. Cái việc cô Nhình lấy bùa với bà Sẳn có lẽ là thật rồi. Và đám cưới của cô Nhình cùng anh Thành cũng diễn ra. Đêm đó thật vui, đại diện nhà trai là bộ đội biên phòng, họ đến rất đông, ăn uống cười nói và diễn cả văn nghệ. Bọn trẻ chúng tôi cũng được dịp xôi thịt no nê. Trong đám cưới chúng tôi nghe loáng thoáng mấy anh bộ đội nói, gia đình dưới xuôi của anh Thành không đồng ý nên chẳng ai lên dự đám cưới cả. Và họ cũng hỏi chúng tôi chuyện bùa ngải, một anh còn rỉ tai tôi hỏi: “Này nhóc, có loại bùa nào dùng cho con trai chài con gái không? Tớ rất thích chị gái nhóc đấy…”. Sau đám cưới tôi thấy anh Thành chuyển về sống với mẹ con cô Nhình. Anh ta vui vẻ lên nương, lên rừng như bất cứ gã trai bản nào. Trông anh ta rất hạnh phúc. Bây giờ, sau hơn hai mươi năm, tôi đã trở thành gã đàn ông, cuộc tình của anh Thành và chị Nhình thỉnh thoảng vẫn hiện về. Bây giờ họ vẫn sống ở đó, hạnh phúc, rất hạnh phúc. Vừa rồi về quê, tôi có ghé qua cái đại lý bán hàng tổng hợp của anh chị. Có thể nói họ là người giàu có nhất vùng; Anh Thành đã ra quân, ở nhà phụ chị Nhình bán hàng. Họ có ba cô con gái, hai cô đầu đã lấy chồng, còn cô út làm giáo viên. Khi tôi đến họ vẫn nhận ra tôi. Anh Thành dứt khoát mời tôi ở lại uống rượu. Trông anh rất vui, chẳng có vẻ gì bị bùa ngải cả. Còn chị Nhình bây giờ đỡ xấu hơn, nếu không muốn nói là đẹp ra. Chị béo tốt, trắng trẻo, cái vẻ đen đúa nhỏ thó ngày nào biến đâu mất. Chị cười nói liên tục, thêm tí rượu hai má ửng hồng, trông chị như một thiếu phụ đang hồi xuân đầy sức sống, cũng chẳng thấy có hương vị của bùa ngải. Khi rượu đã ngà ngà tôi hỏi về việc ngày xưa người trong bản đồn chị dùng bùa của bà Sẳn để quyến rũ anh Thành. Chị cười tít mắt, anh cũng cười tít mắt, chẳng ai trả lời, rồi chị Nhình nói to: “Đúng đấy, tôi bùa ông ấy đấy…”. Rồi chị lại cười tít mắt. Cái hình ảnh anh chị ngồi với nhau bên bếp lửa ngày nào lại hiện về. Bây giờ tôi mới hiểu thời khắc đó họ đang say đắm với tình yêu. Chỉ có anh và chị mới biết hương vị ngọt ngào của nó, chúng tôi - những người ở ngoài làm sao nhìn thấy. Còn việc bùa ngải như người bản tôi vẫn đồn thì sao, có thật không? Tôi không dám trả lời, nhưng nếu bỏ bùa mà hạnh phúc như thế, tôi đây - gã người Tày chính hiệu - cũng xin một liều để thử. Sợ gì! Câu chuyện thứ hai Ngày ấy, việc cô Nhình lấy được một anh chồng đẹp trai, lại là bộ đội làm nhiều cô gái khó chịu lắm. Vẫn là bà chị họ tôi, cứ mỗi lần nhắc đến chuyện này lại trề môi nói đến bùa ngải. Chị tôi khẳng định đã nhiều lần trông thấy cô Nhình đến nhà bà Sẳn lấy bùa. Nếu không tin cứ đến ngày rằm mà xem. Đúng là có lần trên đường dong trâu về chuồng tôi có thấy cô Nhình đi vào nhà bà Sẳn, họ nói gì đó với nhau rồi đi vào phía chân núi. Sự tò mò lại làm tôi quên sợ và rất muốn theo dõi họ. Tình yêu tự nguyện như mối thiên duyên giữa trời và đất Một buổi chiều khi đang chăn trâu dưới bãi sông, chúng tôi thấy bà Sẳn một mình lặng lẽ đi vào chân núi. Sự tò mò một lần nữa làm chúng tôi quên sợ, theo sát bà. Bà Sẳn đi sâu vào khe núi một lát rồi đi ra vẻ rất bí mật. Khi bà ta đi khỏi, tôi và hai thằng bạn cũng mò mẫm vào khe núi đó. Đây là khe núi có một mỏ nước, nhưng người trong bản không dùng vì nó quá xa, hơn nữa chỗ này dây leo chằng chịt, ẩm thấp khó đi. Chúng tôi cứ men theo dòng nước nhỏ đến cái mỏ thì thấy một cái hốc trông như cái miếu con. Ở đó có một bình hương đang cháy nghi ngút. Phía trong hốc đá là một khóm cây rất lạ - một loại cây trông như cây lúa có những hạt màu đỏ. Chúng mọc thành khóm thân cong vút vì trĩu hạt. Khói hương nghi ngút, cùng khóm cây lạ và cái hốc âm u làm chúng tôi rất sợ nên chỉ đứng nhìn chẳng đứa nào dám đụng vào. Lúc này khuôn mặt nhăn nheo và cơn ác mộng ngày nào lại ập đến, tôi sợ quá quay lưng chuồn thẳng. Từ bữa đó tôi lại càng tin vào chuyện bà Sẳn có bùa. Ngoài việc bí ẩn về bùa ngải bà Sẳn lại biết rất nhiều bài thuốc, người trong bản mỗi khi bị ốm đều đến xin thuốc của bà. Tôi cũng đã từng là bệnh nhân của bà ấy. Một lần phi ngựa cùng đám bạn, tôi bị ngã. Con ngựa đực bướng bỉnh của tôi không dừng lại mà còn kéo lê tôi một đoạn. Đêm đó tôi rên rỉ vì đau đớn, pa tôi sờ nắn và phát hiện tôi gãy mất hai chiếc xương sườn. Ngày đó đến bệnh viện rất xa mà phải đi bộ, nên pa tôi quyết định không đưa tôi ra bệnh viện huyện mà đến nhờ bà Sẳn. Tôi chỉ nhớ bà ta sờ nắn một lúc rồi bảo pa tôi vót vài cái nẹp tre. Bà tay lấy rất nhiều rau ngải cứu, sao lên rải xuống dưới chiếu bắt tôi nằm im trên đó. Khi tôi đã nằm im, bà bóp rất mạnh vào mạng sườn tôi đau khủng khiếp, rồi bà ta bảo pa buộc những cái nẹp tre kia vào người tôi. Thật kỳ lạ, tôi chỉ nằm có một đêm mà sáng hôm sau có thể ngồi dậy đi lại bình thường. Cũng chỉ nằm trên cái giường lót rau ngải cứu ấy có ba hôm là tôi hết đau và hai ngày sau là pa tôi đã tháo nẹp, xương tôi liền hoàn toàn. Từ hôm đó tôi đỡ sợ, thỉnh thoảng dong trâu qua trước cửa nhà bà ta, tôi chào và bà nhoẻn cười. Cười đấy nhưng khuôn mặt nhăn nhúm, bỏm bẻm nhai trầu vẫn toát lên sự bí ẩn đáng sợ. Có lần bà Sẳn nhờ mấy người trong bản đến sửa nhà. Pa tôi cũng được bà ấy nhờ tới, tất nhiên ai cũng sẵn lòng giúp, tôi cũng phải theo vì pa muốn tôi đi cùng. Cả buổi làm việc tôi thấy bà im lặng chỉ lúi húi nấu nướng trong nhà. Vì sợ nên tôi chỉ dám đứng ở sân, thỉnh thoảng đưa cái cưa, cái đục cho những người ở trên mái. Đến bữa trưa mọi người ngồi ăn ngay cái sàn gỗ trước cửa. Bà Sẳn vẫn im lặng đi lại rót rượu cho mọi người. Đang ăn uống bỗng pa bảo tôi vào nhà lấy nước. Dù rất sợ cái nhà tối om om ấy nhưng miễn cưỡng tôi phải vào. Mò mẫm mãi tôi cũng vào được bếp vớ lấy cái siêu nước đang sôi. Toan quay ra ngoài thì tôi nhìn thấy trên giá bếp có rất nhiều cái vòng được tết bằng những hạt gạo đỏ - thứ hạt mà tôi đã nhìn thấy trong khe núi. Lại vì tò mò, tôi đứng nhìn và nảy ra ý định lấy trộm một cái, ngay lúc đó tôi nghe tiếng động đằng sau. Bà Sẳn đứng đó từ bao giờ, nhìn tôi bằng con mắt lạnh lùng. Sợ quá tôi lủi luôn. Vài ngày sau, tôi đem chuyện những hạt gạo đỏ và cái miếu trong khe núi hỏi ông bác ruột. Chẳng cần suy nghĩ, bác tôi nói luôn: “Bùa thật đấy”. Rồi bác tôi nói thêm đó là cây “Khẩu phia” (gạo núi) mọc đầy trên núi, chúng rất độc, ăn vào chết luôn. Nhưng phải là người như bà Sẳn mới biết chế nó thành bùa. Loại bùa này rất công hiệu, cũng chỉ bà Sẳn mới biết cách giải bùa… Rồi bác tôi kết luận: Đại loại nó giống như thuốc phiện ấy, mới hút thì nhớ, hút nhiều thì nghiện, mà nghiện rồi làm sao dứt ra được. Còn thằng Thành bộ đội có bị bùa hay không làm sao tao biết được. Nó lấy con Nhình vì nó thích, con Nhình xấu bên ngoài nhưng bên trong ai mà biết. Giờ đây ngẫm lại, tôi thấy ông bác tôi đúng. Cái hạt gạo đỏ ấy có thể là chất liệu cho việc làm bùa bí ẩn của bà Sẳn, cũng có thể bà ta biết làm một loại thuốc dạng hướng thần theo kiểu thuốc phiện như bác tôi giải thích. Nhưng tôi khẳng định bà là lang y rất cừ vì mấy cái xương sườn gãy của tôi chỉ trong 6 ngày bà ta đã chữa khỏi. Bây giờ thì bà Sẳn đã về trời, ngôi nhà cũ kỹ của bà chỉ vương lại mấy viên đá. Còn cái khe núi đầy dây leo ngày nào giờ cũng không còn vì người bản tôi chặt phá. Cái miếu cũng vậy, mỏ nước cũng kiệt khô. Người bản tôi cũng chẳng nhớ đến bùa ngải. Họ đi xe máy ầm ầm, uống bia, chửi tục, xem phim Mỹ, nghe nhạc rock… hiện đại khủng khiếp! Các cô gái chẳng còn mấy ai mặc áo chàm, má ửng hồng, quẩy nước vào buổi sớm như xưa kia. Bây giờ họ cũng quần bò, áo phông, cũng son phấn, cũng nhuộm tóc, chẳng cô nào cần bùa ngải mà thanh niên dưới xuôi vẫn cứ xúm vào. Câu chuyện về bùa yêu đã mất hẳn trong những cái đầu bị nhiễm nền văn hóa khác. Nếu bà Sẳn có sống lại thì cái bùa bằng hạt gạo đỏ ấy cũng chẳng có tác dụng với những con người như thế. Tôi dám chắc như vậy. Và câu chuyện ở thành phố Gần đây tôi mắc vào một chuyện có thể nói là rất phiền toái. Cũng chỉ vì thích đùa khi người ta cứ hỏi mãi về chuyện bùa ngải. Có lần tôi nói khoác là biết làm bùa yêu. Rồi tôi kể một cách ly kỳ về những hạt gạo đỏ, về bà Sẳn bí ẩn, tôi bịa thêm việc bà ấy truyền cho tôi bí kíp làm bùa yêu. Thế là một cô bạn đã năn nỉ tôi làm giúp. Ban đầu cô ta không nói là muốn thả bùa ai, nhưng tôi bảo phải biết là ai tôi mới có cách làm. Hoá ra cô ta định bùa chính ông chồng mình, buồn cười quá! Cái cô bạn tội nghiệp của tôi, tốt nghiệp Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, làm thêm thạc sỹ về Tâm lý lại đi xin tôi bùa để quyến rũ chính chồng của mình. Cô thật tội nghiệp ! Và tôi có quyền nghi ngờ về cái gọi là kiến thức trong đầu cô. Cô muốn cứu vãn cuộc hôn nhân sắp đổ vỡ của mình. Chồng cô là một đại gia, không hiểu lý do gì gần đây anh ta muốn chia tay cô. Họ đã sống ly thân, anh ta cho vợ mỗi tháng chục triệu, để chi tiêu miễn là đừng làm phiền anh. Rồi hứa thêm nếu chấp nhận ly hôn sẽ chia cho cô nhiều tài sản. Cô bạn tôi đã suy sụp và không muốn mất đi cái danh phận vợ đại gia nên đã tin vào câu chuyện bịa của tôi. Mỗi lần gặp tôi, cô ta đều nhắc lại chuyện bùa yêu, có lần còn ngỏ ý xin trả một số tiền lớn. Tôi đã thú thật rằng, tôi không biết làm bùa yêu, đó chỉ là bịa đặt. Nhưng cô ta lại càng tin. Mỗi lần nói chuyện cô ấy mếu máo nói về tiền bạc, về tài sản, về danh phận… Và tôi thấy việc ông chồng muốn bỏ cũng rất có lý. Tôi tự hỏi, một người đàn bà xinh đẹp, có học thức tại sao lại có lối nghĩ thô thiển như vậy? Có bao giờ cô ấy tự hỏi, người chồng kia tại sao muốn ly hôn với mình? Cái gì đã làm cho anh ấy muốn thế? Cũng có thể cô ta có bằng cấp nhưng văn hóa thì không. Ở thành phố tôi thấy rất nhiều người như vậy. Tất nhiên, chẳng có bùa ngải nào giúp được cô ta cả. Ở thành phố bùa yêu mất thiêng - tôi giải thích với cô như thế! Đến đây tôi xin khẳng định: chẳng có bùa yêu huyền bí nào hết, chẳng ai làm được bùa yêu! Trừ khi chính trái tim chúng ta tạo ra nó và quyến rũ người khác. Tôi nghĩ cái cô Nhình xấu xí ở bản tôi là thế. Cô ấy đã tự làm ra một thứ bùa yêu kỳ lạ - thứ bùa yêu lung linh và lộng lẫy. Cô ấy đã thành công. Nhưng đó là câu chuyện của ngày xưa, của những ngày người bản tôi còn trong sáng, thuần khiết. Còn bây giờ cái bùa bằng hạt gạo đỏ đã theo bà Sẳn về trời rồi, nó đã vĩnh viễn mất đi. Chính chúng ta đã xua đuổi nó, chỉ còn lại vợ chồng anh Thành là kết quả minh chứng cho tình yêu đẹp, cho thứ bùa yêu được dệt bằng sự thổn thức của trái tim tinh khiết sơn nữ ngày nào. A Sáng (VieTimes)
-
Nguồn: http://vietimes.vietnamnet.vn Nữ thầy mo và những bí mật về hôn nhân Thứ tư, 16/4/2008, 07:00 GMT+7 ... Việc trở thành nữ thầy mo cũng chẳng lạ gì với người Tày quê tôi. Tất nhiên, từ nay cuộc sống của họ sẽ hoàn toàn khác. Công việc của họ cũng phải khác, nhưng sẽ tốt hơn nếu nữ thầy mo ấy chưa lập gia đình. Và một điều chắc chắn hôn nhân của họ sẽ phải đổ vỡ, hình như nó là một quy luật, dù không có bất cứ quy định bắt buộc nào của thần linh… Trong cuộc sống tinh thần của người Tày, thầy tào ở đẳng cấp cao nhất, tiếp sau là thầy mo. Hai đẳng cấp này đều có khả năng giao tiếp với thế giới thần linh. Nhưng với thầy mo chỉ có một nhãn thần được khai mở, vì thế chưa đủ khả năng hướng dẫn thần linh. Họ chỉ đủ khả năng cầu khấn, hiểu một cách khác, họ chỉ biết cách đề nghị trước thế giới thần linh. Chính vì điều đó, đẳng cấp thầy mo, người quê tôi vẫn thường gọi bà bụt, phần lớn thuộc phái nữ. Người đàn bà và con chim - Tranh: A Sáng Những người phụ nữ trở thành thầy mo không trải qua quá trình học nghề, có thể một lúc nào đó “Dia Hoa” (bà bụt) xuất hiện, trao cho họ một nhãn thần và họ trở thành nữ thầy mo. Điều này cũng chẳng liên quan đến tuổi tác: họ có thể là một cô bé, cũng có thể là một bà già… Nói chung, không thể biết bà bụt xuất hiện lúc nào, ở đâu, trao cho ai cái quyền linh thiêng đó. Hồi còn bé, tôi đã từng chứng kiến sự xuất hiện nhãn thần với chính bà chị họ của tôi. Đó là một sơn nữ rất đẹp, con gái cưng của anh trai pa tôi. Chị ấy là niềm khát khao của biết bao trai bản. TIN LIÊN QUAN Ngơ ngác vầng trăng nơi phố xá (Phần II) Ngơ ngác vầng trăng nơi phố xá! Băng tuyết: Bi kịch của nỗi đau và... vẻ đẹp Không chỉ "bướm đêm" giả trang mà "sơn ca" cũng thế! Những "loài bướm đêm" giả trang! Bí mật của cuộc - đời - buổi - sáng “Bùa yêu hay chỉ là thuốc phiện?” - Tự thuật của một người Tày... Lấy chồng được hai năm, chị sinh một cháu trai kháu khỉnh, cuộc sống của chị vẫn diễn ra bình thường như bao người khác. Thế rồi vào một đêm tháng giêng rét buốt, cả cái bản Pác Thay của tôi ầm ầm như núi lở. Người trong bản thi nhau thắp đuốc, đổ về hang Ngườm Vài. Tôi cũng theo họ đến đó, người trong bản đã tụ tập rất đông, đèn đuốc sáng rực, họ quỳ xuống khấn vái và hát những câu bùa chú của người Tày. Ở giữa hang chị họ tôi đang nhảy múa. Lúc này trông chị tôi thật đáng sợ, tóc chị rối mù, hai mắt mở trừng trừng, trắng dã, miệng luôn gào thét điều gì đó, và đặc biệt chị tôi chỉ di chuyển bằng năm đầu ngón chân như diễn viên múa ba lê vậy. Mé tôi thì thào: “Te Leeng luồng phụt da né…” (Cái Leeng bị bụt nhập rồi). Người trong bản, sau khi thấy chị họ tôi ngồi xuống mắt nhắm nghiền lại thì lập tức vác đến một bó gai găng. Những cây gai sắc nhọn ấy nhanh chóng được xếp lại như một cái ghế. Thế rồi mé tôi tiến lại phía chị nói gì đó, chị từ từ mở mắt, thản nhiên đi đến cái ghế được làm bằng vô vàn những cây gai sắc nhọn kia và ngồi xuống. Không những ngồi xuống, chị còn bắt đầu đu đưa và ca hát. Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể quên được hình ảnh kì dị đó. Chị họ tôi ngồi hát và đu đưa trên cái “ghế” chết người đó chừng một tiếng đồng hồ thì đứng dậy, chạy như có ai đuổi và cũng chỉ chạy bằng năm đầu ngón chân. Đá núi, gai nhọn hình như không làm chị đau đớn, chị cứ thế chạy, người trong bản cứ thế đuổi theo, cho đến dưới một gốc cây bưởi, chị tôi giật lấy một nắm lá rồi ăn ngấu nghiến. Một lát sau chị tôi sùi bọt mép và ngất xỉu. Bấy giờ người bản tôi mới bảo anh Bường - chồng chị - cõng về nhà. Tôi nhớ rất rõ khuôn mặt sợ hãi của anh Bường lúc ấy, cả đứa con trai hai tuổi kia nữa. Anh rể tôi vừa khóc vừa cõng chị về, còn thằng bé, nó gào lên sợ hãi. Rất nhiều ngày sau, chị Leeng nằm liệt giường, mê sảng cho đến một buổi chiều chị ngồi dậy, tự mình thắp hương rồi hát những bài ca thần bí. Người trong bản bảo, chị tôi đã trở thành “mé Pụt” (nữ thầy mo). Việc trở thành nữ thầy mo cũng chẳng lạ gì với người Tày quê tôi. Tất nhiên, từ nay cuộc sống của họ sẽ hoàn toàn khác. Công việc của họ cũng phải khác, nhưng sẽ tốt hơn nếu nữ thầy mo ấy chưa lập gia đình. Và một điều chắc chắn hôn nhân của họ sẽ phải đổ vỡ, hình như nó là một quy luật, dù không có bất cứ quy định bắt buộc nào của thần linh. Từ ngày trở thành thầy mo, chị tôi phải đi lễ rất nhiều, người trong vùng luôn mời những nữ thầy mo đến làm lễ cho họ, những cái lễ linh thiêng: đầy tháng tuổi cho trẻ sơ sinh, rước cô dâu mới về nhà, dựng miếu mạo, chặt hạ cây cổ thụ, dựng nhà mới… Tất cả những công việc ấy người Tày đều cần thầy mo cầu khấn trước thần linh. Vì thế chị tôi đi tối ngày và cũng chỉ sau một năm anh Bường - chồng chị - quyết định ly hôn. Tôi nhớ, anh Bường gom tất cả chăn màn, quần áo, đồ nữ trang của chị tôi vào cái rương gỗ rồi cùng em trai gánh về trả lại nhà bác tôi. Như thế với người Tày chính là một hình thức ly hôn. Còn đứa con, sau rất nhiều lần bàn thảo, chị tôi được quyền nuôi nó và gửi về cho bác tôi chăm sóc. Có một cái gì đó đã diễn ra sau ngày trở thành thầy mo tệ hại đó. Nhưng ngày ấy tôi còn bé nên không biết gì, tôi chỉ thấy các sơn nữ bản tôi và nhiều sơn nữ khác rất sợ bà bụt chọn mình làm thầy mo, câu cửa miệng của họ khi muốn mắng mỏ ai đó đều là: “Mầu luồng Pụt né…”(Mày bị bụt nhập à?). Việc trở thành nữ thầy mo chẳng vinh dự gì ngoài sự sợ hãi, nhưng chẳng ai biết lúc nào mình trở thành thầy mo, vì thế nó luôn ám ảnh những sơn nữ quê tôi. Họ rất sợ điều đó! Sau này, khi tôi làm phóng viên cho tờ báo địa phương, rất nhiều lần tôi trở về quê và chứng kiến chị tôi làm lễ. Cuộc sống thầy mo đã làm chị tôi khác đi rất nhiều. Và cuộc hôn nhân của chị với anh Bường ngày nào vẫn luôn ám ảnh tôi. Đã vài lần tôi gợi ý trò chuyện cùng chị nhưng chị đều né tránh, chị chỉ cười và nói: “… Người ta bỏ chị chứ chị có bỏ đâu, nhưng làm bụt thì ai dám lấy…”. Rồi chị im lặng, trong đôi mắt thâm quầng vì phải thức đêm ứa ra nước mắt, tôi biết chị rất cô đơn. Cuộc sống vật chất của chị không vất vả gì, đặc biệt bây giờ người Tày cũng không trả lễ chị bằng gạo nếp, gà thiến mà họ cũng “thương mại hoá” bằng cách trả tiền cho bà bụt, tất nhiên chẳng nhiều nhặn gì, nhưng với thu nhập ấy, chị và đứa con đủ sống một cách khá dư dả. Ngay cả đứa con trai chị, nó đã lớn và trở thành trai bản, nhưng nó cũng không thích nhắc đến mé nó. Có một rào cản mơ hồ nào đó giữa chị tôi và nó. Chẳng bao giờ nó kể về mé nó, nếu không muốn nói nó xa lánh chị. Một lần tôi gặp lại anh Bường ở trụ sở UBND xã, anh ấy bây giờ làm cán bộ địa chính xã và đã có gia đình mới. Gặp tôi, anh rất mừng. Với anh ấy, gia đình tôi vẫn là chỗ thân thiết vì anh thường qua lại để thăm con trai. Trong bữa cơm, tôi đã gợi ý anh kể về những ngày tháng chị tôi trở thành thầy mo. Ban đầu anh Bường cũng né tránh, nhưng sau rất nhiều lần gợi ý, cùng hơi rượu ngà ngà, anh Bường đã kể câu chuyện bí ẩn ấy. Anh kể: Những ngày đầu khi mới thành thầy mo, chị tôi vẫn bình thường, chỉ thỉnh thoảng phải vắng nhà vì đi làm lễ xa. Nhưng dần dần anh thấy chị có cái gì đó rất khác trong người, đặc biệt là chuyện ân ái, chị ấy rất sợ gần gũi chồng. Chị thường lỉnh đi ngủ riêng, hoặc chờ chồng ngủ thật say mới vào giường. Có lần không từ chối được chị phải chấp nhận nhưng… Kể đến đây anh Bường tu thêm bát rượu, nuốt ực một cái. Tôi có cảm giác cổ họng anh đang khô khốc, hai con mắt đỏ ngầu và rơm rớm nước mắt. Anh ngập ngừng rồi kể tiếp: Chị ấy nằm cứng đơ, hai mắt mở trừng trừng, và kêu đau đớn. Ân ái xong, anh Bường sợ hãi thấy máu chảy khắp giường, máu chảy không chịu ngừng dù anh chị đã làm hết cách… Giấc mơ - Tranh: A Sáng Anh Bường ngừng kể, tu thêm hơi rượu nữa, lần này tôi thấy cổ họng anh như đã cháy, anh nhìn tôi nói đau đớn: “Cậu biết không, đêm ấy anh chị dùng cả cái màn băng lại máu của chị ấy mới cầm được…”. Cũng từ bữa đó, chị tìm cách xa lánh anh, tất nhiên chỉ duy nhất chuyện ấy mà thôi. Chị năng đi lễ hơn, đi dài ngày, tìm mọi cách để tránh chuyện đó. Chị biết anh buồn nên tìm cách bù đắp bằng việc chăm sóc, hay những việc khác, nhưng cứ mỗi lần gần gũi nhau chị lại sợ hãi, lại đau đớn, lại chảy máu. Chị không thể thực hiện được việc đó. Thế rồi anh chị đưa nhau đi khám ở bệnh viện tỉnh, bác sĩ nói anh chị chẳng việc gì cả, rất bình thường. Khi nghe chị kể về việc hãi hùng đó, bác sĩ cũng cho vài viên thuốc đông máu, nhưng sự việc chẳng khá gì hơn, máu vẫn chảy và mỗi lúc một nhiều. Cuối cùng, vì không thể chịu được, anh đã quyết định ly hôn. Anh Bường lại uống, cổ họng hình như vẫn cháy khô, anh nhìn tôi rồi nói: “…Thực ra chị cậu là người tốt, anh không có gì chê trách chị ấy, chỉ có cái gì đó rất bí ẩn từ ngày bị Luồng Pụt (Bụt nhập), anh sợ nên bỏ chị thôi…”. Anh lại uống, rồi say, nói lảm nhảm gì đó nữa, tôi không nhớ và cũng chẳng thể tin câu chuyện này. Tôi rất muốn tìm đến chị Leeng - bà thầy mo Leeng - để hỏi cho ra nhẽ, để kiểm chứng sự thật này, nhưng tôi cũng biết sẽ chẳng bao giờ chị tôi chịu kể. Hình như khi đã trở thành nữ thầy mo tất cả sơn nữ phải chịu một hình phạt nào đó thì phải. Ở vùng quê tôi, không chỉ riêng chị họ tôi sống cô độc khi trở thành thầy mo, rất nhiều nữ thầy mo khác cũng sống độc thân. Có những người trở thành thầy mo trước khi có gia đình và chẳng bao giờ họ lấy chồng nữa, cũng có những người lấy chồng, nhưng hôn nhân của họ chẳng được bao lâu. Tất cả những người đàn ông đến với họ đều bí ẩn ra đi. Có lẽ câu chuyện của anh Bường là sự thật, mà việc gì anh ấy phải bịa ra để kể với tôi. Cũng không thể vì say rượu mà nói nhảm, cứ nhìn đôi mắt đỏ ngầu và ngấn nước mắt ấy, tôi biết anh không nói dối, người như anh Bường không thể biết nói dối! Vậy đó là cái gì? Cho đến bây giờ vẫn chẳng ai lý giải được. Chỉ việc các nữ thầy mo thường sống cô độc là có thực mà thôi. Chị Leeng của tôi là một người như thế. Sau lần gặp anh Bường, tôi đã hỏi rất kỹ về chuyện trở thành thầy mo với mé tôi. Và được bà giải thích: Những người bị Luồng Pụt thường là Minh nấy (Vía nhẹ), họ bị Gia Hoa (bà Bụt) lựa chọn cũng chính vì cái vía nhẹ ấy. Khi bụt nhập, người ta phải xua đuổi bằng gai găng, nếu ai ngồi lên gai găng cảm thấy đau đớn và chảy máu thì con như bụt không nhập được, còn ai vẫn cứ đu đưa và hát thì bụt không chịu đi, sau đó họ tự ăn lá bưởi rồi ngất đi thì sẽ trở thành bụt. Họ bước trên năm đầu ngón chân là do bụt ở trong người - thần linh bước đi gót chân không bao giờ chạm đất… Còn việc chảy máu khi gần gũi chồng chẳng thấy ai nói thế bao giờ, nhưng các bà thầy mo thường không có chồng, người ta vẫn sợ khi lấy các bà thầy mo vì có thần linh trong người. Mé tôi cũng chỉ giải thích một cách chung chung như thế, tất cả vẫn bí ẩn và câu chuyện của chị tôi cũng bí ẩn như thế. Nhưng dù thế nào đi nữa, chị họ tôi vẫn là một nữ thầy mo - một đẳng cấp cao trong thế giới tinh thần của người Tày. Và hằng đêm chị tôi vẫn hát lên những bài ca thần bí, vẫn cầu khấn trước thần linh những điều tốt đẹp đến với mọi người. Chị không thể thiếu trong cuộc sống tinh thần của con người quê tôi. Sau những buổi hành lễ linh thiêng ấy, chị tôi lại phải trở về với cuộc sống cô độc của mình. Cũng phải thôi vì thần linh đã chọn chị và chị đâu còn là một người bình thường nữa... A Sáng (Vietimes)
-
Nguồn:http://www.tinvietonline.com Xây trường trên bãi tha ma, học sinh gặp ác mộng - Mấy ngày qua, hàng trăm học sinh trường tiểu học Kohari cùng các bậc phụ huynh đã tụ tập trước tòa thị chính bang Bihar, yêu cầu chính quyền di rời ngay lập tức ngôi trường ra khỏi bãi nghĩa địa Hồi giáo. Vì vị trí “đắc địa” này mà bọn trẻ con đêm nào cũng mơ thấy ma quỷ. “Cháu phải bỏ học cả tháng nay vì đêm nào cháu cũng mơ thấy có người chết từ dưới mộ đi lên, nhắc nhở sáng mai phải đi học đúng giờ” - cậu bé 6 tuổi Raqib Ansari kể với phóng viên bằng giọng chưa nguôi sợ hãi. Vài năm trước, do không được chính quyền cấp đất xây dựng nên ngôi trường tiểu học ở làng Kohari buộc phải tạm bợ mọc lên trên bãi tha ma thành phố - đến nay, nó là nơi học tập của hơn 200 trẻ em quanh vùng. Một phụ huynh tên Riyazuddin Ansari cho biết: “Bọn trẻ thường xuyên cùng nhau ôn bài, nô nghịch quanh các ngôi mộ, thậm chí chúng còn chui cả vào các lăng mộ lát đá sạch đẹp ngồi ăn trưa”. Những giấc mộng mị ma quái ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và đời sống tinh thần của đám trẻ nhỏ. “Tuy nhiên chúng tôi không còn chọn lựa nào khác. Ngôi trường khác gần nhất cũng phải mất 4 giờ đồng hồ mới tới nơi”. Được biết trong nghĩa trang hiện giờ có hơn một trăm ngôi mộ xây đắp hoành chỉnh, chưa kể những nấm mồ vừa mới chôn cất còn chưa kịp xanh cỏ và một danh sách dài những người “đặt chỗ” trước. Trước tình trạng này, chính quyền bang Bihar hứa hẹn sẽ cấp đất để xây trường mới. “Có lẽ người chết không thích sự ồn ào do bọn trẻ gây ra. Chúng tôi sẽ tiếp tục điều tra sự việc này” - Ram Yash Singh, một quan chức Hội đồng làng Kohari khẳng định. -Hải MinhTheo Reuters-
-
Nguồn: http://cand.com.vn/vi-VN/xahoi/2008/4/89155.cand Đua nhau đi chữa bệnh… âm 3:55, 15/04/2008 "Bác sỹ nhà trời" đang khấn chữa "bệnh âm". Đơn chữa bệnh ma hành của thầy lang L.H.D. (xã Hương Bình, Hương Khê, Hà Tĩnh) cũng rất đặc biệt: 10h đêm phải ăn lòng đào hai quả trứng gà, cũng thời điểm đó người nhà phải làm thuốc, cộng với bài khấn loằng ngoằng. Nhưng thuốc đó làm xong thì 4h sáng hôm sau mới được uống. Với cách chữa bệnh lạ đời ấy không hiểu vì sao vẫn có hàng chục người đến khám bệnh mỗi ngày. Điều lạ hơn nữa là chính quyền địa phương tới nay vẫn chưa có biện pháp nào xử lý với thầy D. Nghe lời đồn thổi của nhiều người về một "thầy" ở Hà Tây có thể chữa được những bệnh mà "y học bó tay", chúng tôi có mặt ở nhà thầy ở ngoại thành Hà Đông - Hà Tây. Mới 9h sáng nhưng đã có khoảng 20 bệnh nhân đứng lố nhố chờ thầy ngủ dậy. Đa số các bệnh nhân bị các bệnh như: Ung thư, thần kinh tọa, tim… đều "đi khám" bằng... hương vàng, hoa quả. Hơn 10h sáng, thầy T., trạc 40 tuổi, da mái, tóc bết, mắt hơi hiếng, mặc chiếc áo dạ sù sụ, mắt nhắm mắt mở ra nhìn đám bệnh nhân rồi chép miệng: "Mấy người này ám khí nặng lắm, may mà đến thầy sớm không thì âm nó hành cho đến chết"... Bệnh trời ơi, đất hỡi! Người được khám đầu tiên là một chị tên Thanh ngoài 40 tuổi, với lời khai: "Em thường xuyên đau đầu và đau bên ngực trái". Khi chị thắp hương lạy như tế sao xong thầy gật gù, suy nghĩ một lúc rồi phán: "Thực ra bệnh của cô là từ quá khứ mà ra. Là do sinh ra nhưng không dưỡng, nghĩa là hồi trẻ cô có thai nhưng không để sinh mà bỏ đi. Bây giờ chúng quay về hành mẹ nó đấy!". Chị Thanh ngồi thần ra rồi gật đầu. Thầy vừa nói vừa kéo chị lại gần, ra vẻ bí hiểm: "Đứa bé này theo cô từ mới lọt lòng, thiêng lắm. Cô không biết lỗi mà thờ cúng, dâng lễ, nên nó giận, nó phá, yểm bệnh từ cơ quan trung ương yểm ra, từ não đến tim... Nếu cô không kịp thời tạ, thì bệnh sẽ phát ra ngoài da, phù nề...". Chị Thanh nghe xong hãi lắm, một mực nhờ thầy giải hộ, hết bao nhiêu tiền không thành vấn đề. Người tiếp theo được vào yết kiến thầy là chị Hoa, có anh là Nguyễn Bá Dũng (30 tuổi, ở Đông Hưng, Thái Bình) hết nhập viện Bạch Mai, Xanh Pôn, E nhưng chưa tìm ra bệnh. Các hội chẩn đều nói chung chung: "Có khả năng bị viêm dây thần kinh liên sườn". Hơn một tháng trời điều trị mà bệnh vẫn không thuyên giảm. Khi được chị Hoa kể về bệnh tình của anh mình, thầy chỉ tay ra vườn bắt đặt đủ lễ ở các nơi có bát hương. Rồi thầy khấn vanh vách: "Người này bị cô Ba theo suốt, lại hay chế giễu Thánh, Mẫu phải không? Thánh phạt nên hành ghê lắm, suýt mất mạng đấy. May mà tìm đến thầy sớm". Đoạn rồi thầy rỉ rả bắt chị "ra" lễ giải hạn, gồm nhiều thứ, trong đó phải đủ 150 triệu đồng tiền âm phủ, 1 triệu đồng tiền thật. Sau khi giải hạn, thầy phán: "Tuần sau ra viện, an toàn, khỏe mạnh". Ai thì không biết chứ riêng anh Dũng tôi biết rõ rằng, sau khi mất gần 5 triệu tiền "chữa bệnh âm" đến nay bệnh vẫn không thuyên giảm. Còn thầy T. cách đây 3 năm còn là một tay xe ôm ở chợ Hà Đông, sau một lần uống rượu về cảm gió nằm li bì 1 tuần liền khi tỉnh dậy mắt hơi bị hiếng, ăn nói lung tung, tự xưng là danh y chữa được bách bệnh. Những người hàng xóm của thầy T. cho biết hầu hết người đến chữa bệnh là từ tỉnh xa về. Còn dân trong làng, trong xã chẳng có ai đến nhà thầy để mà chữa bệnh cả. Chữa bệnh "độc chiêu" Nhưng so với thầy H. ở ngay cạnh ga Cẩm Giàng, Hải Dương thì tay nghề còn một trời một vực. Thầy (thực ra là một phụ nữ đẫy đà ngoài 40 tuổi) đặc biệt hơn ở chỗ ngoài chữa bệnh thông thường của cơ thể, thầy còn chữa được một số bệnh xã hội như: "Bệnh" đánh vợ, "bệnh" rượu chè, cờ bạc, "bệnh" nghiện hút và cả "bệnh" ngoại tình... Cũng có lẽ vì những ngón "đặc biệt" như vậy nên sân nhà thầy rất đông khách, mới 7h sáng mà đã có 30-40 người xếp hàng ngồi chờ. Sau khi khấn vái, thầy gọi chị Lan Hương (ngõ Thổ Quan, Đống Đa, Hà Nội) nói: "Chồng cô không phải là người lăng nhăng, cũng có người phụ nữ tóc vàng, tóc xanh dụ dỗ nó đấy nhưng nó không theo. Nó bị nhiễm bệnh cờ bạc thôi, ngấm vào máu rồi. Đấy là do vợ chồng cô không hương khói cẩn thận, nên cô Chín xui đi đấy, lắm đêm còn giữ lại không cho về nhà". Cách chữa bệnh cũng kì quái: "Cô phải chuẩn bị lấy của chồng cô 7 sợi tóc, 1 cái áo, 1 cỗ tú-lơ-khơ, 1 cỗ tổ tôm, một mâm lễ thánh và 1,5 triệu đồng xuống đây vào ngày rằm tôi sẽ chữa cho chồng cô". Nhiều người cho biết: "Hàng xóm láng giềng ở đây chẳng ai tin, vì biết tỏng đó chỉ là trò lừa bịp. Nếu giỏi sao thầy không tự chữa bệnh cho mình, nghe đâu chồng thầy ngoại tình rồi bỏ thầy, bản thân thầy cách đây 6 tháng còn bị một trận thập tử nhất sinh, phải nằm viện cả tháng trời". "Loạn" bác sỹ âm! Thời gian gần đây khắp các tỉnh miền Bắc xuất hiện nhiều người tự xưng là "thầy thuốc", "người nhà trời"… chuyên chữa trị "bệnh âm" mà bản chất chỉ là trò lừa đảo. Mới đây chính quyền xã Hưng Khánh, huyện Trấn Yên (Yên Bái) vừa xử lý trường hợp bà Đỗ Thị Huệ. Bà Huệ tự mệnh danh là "bác sỹ nhà trời", đã khám chữa bệnh thu tiền cho nhiều người. "Đơn thuốc" của bà Huệ là một tờ giấy kích thước 8x10cm trong có ghi: "Thuốc há mồm 3 giây/lần vào lúc 8h sáng, 2h, 4h chiều. Vừa uống vừa xoa tay vào vùng đau". Giữa tờ giấy có ghi Đỗ Thị Huệ. Mặt sau tờ giấy ghi: "Mỗi lần uống khấn: Con lạy các bác sỹ nhà trời cho con uống thuốc ạ!". Nhận được thông tin này, UBND xã Hưng Khánh đã gọi bà Huệ lên nhắc nhở và yêu cầu bà không được khám chữa bệnh trái phép, nhưng bà Huệ vẫn tiếp tục hành nghề. Còn tại Hà Tĩnh đang xôn xao về một ông thầy có loại thuốc "đuổi được ma ám". Chỉ cần mang một cái áo, miễn là có mùi mồ hôi người bệnh là ông ta có cách trị "ma". Đó là thầy lang L.H.D. (xã Hương Bình, Hương Khê, Hà Tĩnh). Khi khách đến khám thầy trải chiếc áo lên bàn, cầm hai que hương, thầy múa rất điêu luyện, vừa múa vừa lẩm bẩm cái gì đó không ai có thể nghe được. Múa xong, thầy miết hai quả trứng khắp cái áo sau đó đập chúng ra một cái đĩa bên cạnh. Cầm kính lúp soi rất tỉ mỉ khắp áo rồi lại chuyển sang soi đĩa trứng. Sau đó thầy sẽ phán bệnh bốc thuốc. Đơn chữa bệnh ma hành của thầy cũng rất đặc biệt: 10h đêm phải ăn lòng đào hai quả trứng gà, cũng thời điểm đó người nhà phải làm thuốc, cộng với bài khấn loằng ngoằng. Nhưng thuốc đó làm xong thì 4h sáng hôm sau mới được uống. Với cách chữa bệnh lạ đời ấy không hiểu vì sao vẫn có hàng chục người đến khám bệnh mỗi ngày. Điều lạ hơn nữa là chính quyền địa phương tới nay vẫn chưa có biện pháp nào xử lý với thầy D. Những cách chữa "bệnh âm" chỉ là những trò lừa bịp đánh vào thói mê tín của nhiều người thiếu hiểu biết. Hy vọng bài viết này sẽ cảnh tỉnh cho những ai có ý định đi vái thầy chữa bệnh kiểu này... Huy Kiên
-
Gần đây, Phoenix khi đọc qua mấy diễn đàn bàn luận về chứng khoán có gặp một lời xuýt xoa là "giá mà mời được chú Thiên Sứ" tham gia diễn dàn để luận đoán về thị trường chứng khoán thì tuyệt vời". :lol: Nếu công ty CLSA biết tiếng Việt và thực sự quan tâm đến VHPD thì họ có một cơ hội lớn ở đây. Nhưng không dễ gì mà giá trị văn hiến Việt Cổ lại phục vụ túi tiền của mấy doanh nhân chỉ tin học thuật cổ khi thấy tiền chảy vào túi họ. Chắc họ còn chưa đủ duyên để mà gặp. :lol:
-
Bài sưu tầm: Thuật phong thủy và thị trường chứng khoán năm Tý Thứ bảy, 16/02/2008 Liệu thị trường chứng khoán năm Tý có khởi sắc? Reuters Gạt những đồ thị bảng biểu và dự đoán của các chuyên gia kinh tế sang một bên, các nhà đầu tư tại Châu Á đang dựa vào các thầy phong thủy để tiên đoán hướng phát triển của thị trường trong năm Tý. Theo dự đoán của nhiều thầy phong thủy, năm 2008 sẽ chứng kiến một thị trường chứng khoán ảm đạm. Đây là tin không mấy tốt lành đối với những người vẫn trông chờ điều tươi sáng hơn sau những phiên sụt giảm liên tục của thị trường chứng khoán, đặc biệt giữa những mối lo ngại về nền kinh tế Mỹ. “Con chuột sẽ rất hung hăng vào cuối năm và yếu tố nước ẩn chứa trong nó sẽ hạ cơn sốt thị trường chứng khoán”, Vincent Koh, thầy phong thủy tại Trung tâm Phong Thủy Singapore phán. Tại Hongkong và Singapore, giới doanh nhân sùng bái thuật phong thủy tới nỗi các công ty hỏi ý kiến chuyên gia phong thủy trước khi tiến hành bất cứ việc gì từ lập chiến lược kinh doanh đến thiết kế nội thất cho văn phòng. Hãng giải trí danh tiếng Disneyland từng cho xây lại cổng chính dẫn vào công viên Disneyland tại Hongkong sau khi nghe tư vấn của một thầy phong thủy. Công ty môi giới chứng khoán CLSA tại Singapore cũng phát cho mỗi khách hàng một tờ ghi nhớ trong đó tiên đoán thị trường chứng khoán sẽ tăng trong khoảng từ tháng 5 đến tháng 8 và đồng Đô la vẫn không thoát khỏi sự yếu thế. Lời khuyên ghi trong tờ thông báo là: “Hãy cẩn thận với khoản đầu cơ của bạn, đặc biệt là vào quý ba.” Raymond Lo, một thầy phong thủy nổi tiếng tại Hongkong chuyên xem tướng số cho các công ty cho rằng những ngành có liên quan đến đất và kim loại sẽ phát đạt trong năm Tý. “Chuột là biểu tượng của tiền đối với các ngành liên quan đến mặt đất. Yếu tố nước mạnh mẽ trong năm Tý ám chỉ hiệu quả và nhiều hoạt động sôi nổi trong các ngành luyện kim”, thầy Lo nói, không quên nhắc các nhà đầu tư rót tiền vào bất động sản, ngành khai khoáng và thị trường vàng. Thầy Koh dự đoán thị trường chứng khoán năm nay sẽ chững lại và có nhiều điều chỉnh vì những yếu tố đất và nước mạnh mẽ trong năm Tý, lấn át yếu tố lửa có ảnh hưởng tới cổ phiếu. Trong bối cảnh thị trường chứng khoán từ Nhật tới Mỹ đang có chiều hướng sụt giảm kể từ đầu năm bởi mối lo ngại suy thoái kinh tế toàn cầu, những người đa nghi có thể cãi rằng chẳng cần có thầy phong thủy cũng đoán trước được hướng đi của thị trường. Tuy nhiên, thầy phong thủy người Malaysia Yap Boh Chu tỏ ra lạc quan khi cho rằng thị trường khu vực Đông Nam Á sẽ ổn định trở lại sau sự khởi đầu không mấy xuôi chòe mát mái. “Nhìn chung, bức tranh thị trường chứng khoán năm nay giống hình ảnh hạt cây nảy mầm từ đất, ban đầu sẽ có những khó khăn.” Lim, nhân viên của Công ty môi giới Singapore thường mời thầy phong thủy về xem sự nghiệp đầu mỗi năm âm lịch. Phòng làm việc của ông được trang trí bằng những bức tượng bò với hy vọng sẽ kiếm được bộn tiền từ thị trường chứng khoán. Dẫu vậy, ông Lim vẫn phải chịu thiệt hại khi chỉ số Straits Times của Singapore sụt giảm 15% kể từ đầu năm nay. “Tôi không thể nói chắc chắn về việc thuật phong thủy có giúp ích cho việc làm ăn kinh doanh hay không. Khi toàn bộ thị trường có vấn đề, khó tránh được việc mất tiền.” Terence Tea, tổng giám đốc công ty tái chế đồng Advance SCT, cũng cho mời thầy phong thủy về xem bản thiết kế công ty trước khi tiến hành xây dựng công sở, nhà xưởng và các cơ sở khác. Mặc dù là người sùng bái thuật phong thủy, ông Tea vẫn khẳng định rằng sự giàu có và thành công của ông không nhờ hoàn toàn vào thuật phong thủy. “Tôi nghĩ thuật phong thủy giúp cho việc kinh doanh của tôi, nhưng làm việc chăm chỉ mới là yếu tố căn bản.” Rất nhiều ý kiến hoài nghi về việc thuật phong thủy và những phương thức bói toán khác có thể mang lại sự giàu sang cho tín chủ. Ngay cả đối với công ty CLSA đã nói ở trên, mọi việc đều có giới hạn. “Tiếc là thuật phong thủy cũng chẳng giúp chúng tôi biết được đội vô địch Euro 2008 hoặc ai sẽ là vị tổng thống tiếp theo của nước Mỹ”, CLSA nói.
-
(tiếp) Diện kiến thầy bùa…. Bùa yêu bắt phải yêu khi không có tình yêu, bắt căm ghét khi đang là kẻ si tình, chia cắt những cặp tình nhân cuồng say, tạo nên những cuộc tình tay ba tay tư đầy rắc rối, hận thù… Tất cả những tình huống đó đều nằm trong “tầm tay” của những tấm bùa yêu như lâu nay dân tình nhiều nơi vẫn truyền nhau câu chuyện li kỳ hư hư thực thực xung quanh nó. Song thật giả thế nào thì chưa mấy ai dám quả quyết... “Bảo bối” giữ tình yêu Người chúng tôi cần tìm là một cụ già người dân tộc Mường vừa bước qua tuổi thất thập đang sinh sống tại khu 19 Mai Thịnh, xã Địch Quả (Thanh Sơn - Phú Thọ). Qua thông tin của một số người quen và dân bản xứ, được biết, ông Hà Văn Bày hiện là một trong số ít những người có thể thả bùa yêu hoặc cắt tiền duyên rất uy tín. Tuy nhiên, để tiếp cận được một “nghệ nhân tình cảm” nhằm tìm hiểu những thông tin tối thiểu về lĩnh vực mang đầy tính thần thoại, mê tín này là chuyện không hề dễ. Chúng tôi đã phải đóng vai người bạn đi giúp một nữ đồng nghiệp trong cơ quan tìm người có thể khiến cho anh chồng của cô rời xa ả nhân tình mà quay về với vợ con. Và người cần tìm đích thị là thầy bùa Hà Văn Bày. Thầy bùa Hà Văn Bày. Vượt qua thị trấn Thanh Sơn (hay còn gọi là Phố Vàng) chừng 10km là đến địa phận xã Địch Quả. Mặc dù đã biết tên người và nơi cần tìm nhưng việc hỏi địa chỉ chính xác lại không phải chuyện dễ. Hỏi mười người thì có đến một nửa lắc đầu không biết, số còn lại thì nhìn chúng tôi chằm chặp một cách khó hiểu rồi hỏi lại mục đích của chúng tôi. Tìm mãi rồi cũng đến được một căn nhà vách đất lợp mái cỏ tranh đã mục nát mái. Ông chủ nhà vừa phe phẩy chiếc quạt lá cọ vừa móm mém nhai ra đón chúng tôi. “Vâng, tôi Bày đây. Các anh đến chơi hay có việc gì không?”. Đợi cụ chủ nhà đưa cái ống điếu thuốc lào lên cao rít sòng sọc, thả làn khói bạc dày đặc lên mái nhà chúng tôi mới trình bày cho ông nghe câu chuyện bi đát của cô đồng nghiệp ảo. “Suốt ba năm nay rồi bác ạ, cô bạn cùng cơ quan tôi đã biết chồng ngoại tình nhưng nhẫn nhịn mong giải thích cho chồng hiểu mà về. Không những anh chồng không nghe mà còn say sưa, mê mệt hơn đến mức khuân dần hết hết đồ đạc, tài sản, tiền nong đi cho tình nhân. Mấy tháng nay thì chẳng còn nhịn được nữa và cũng chẳng hiểu ai mách nước cho cô ấy là đi xin bùa cắt duyên, còn biết rõ tên và địa chỉ của bác. Nấn ná mãi lại sợ cô ấy nghĩ quẩn nên chúng tôi quyết tâm tìm đến bác xem bác có giúp được không...”. Nghe chuyện xong, ông Bày ráo trước: “Nếu đúng chuyện như thế thì tôi giúp được chứ bảo làm cho người ta bỏ vợ bỏ chồng mà theo mình thì thất nhân thất đức lắm. Vậy khoảng cách nơi ở giữa chồng, vợ và người phụ nữ kia là bao nhiêu?". Ông không quên nhắc nhở: "Phải nói chính xác thì bùa mới hiệu nghiệm kẻo lại mất công lần sau lên đây làm lại. Tôi làm xong các anh đưa bao nhiêu tiền thì đưa, đấy là lòng hảo tâm đối với thánh thần, tổ tiên, còn khi việc đã thành thì bắt buộc các anh phải quay lại làm lễ tạ”. Ngẫm nghĩ một lát ông Bày lại tiếp như còn e ngại điều gì: “Các anh phải nói thật tôi mới giúp được. Chuyện của ba người nhưng tôi phải làm 4 hình nhân, một cái dành cho anh vì anh đã tham gia giúp đỡ họ. Nhưng yên tâm, anh sẽ chẳng liên quan gì đến chuyện tình cảm của họ đâu, chỉ có anh chồng thì có thể sẽ chủ động kết thân và rất quý anh”. Nói xong, ông Bày bắt đầu lật ngược 4 cái chén sứ đặt sẵn trên ban thờ rồi rót vào mỗi cái một ít nước sôi để nguội. Ông thắp ba cây nhang cắm lên ba bát nhang rồi chắp tay khấn. Rít thêm một hơi thuốc lào, ông cầm cây quạt cọ phe phẩy cho đỡ ngột ngạt, nóng nực rồi đứng dậy tiếp tục công việc. Lấy hai sợi chỉ đỏ và một sợi chỉ đen trong chiếc hộp gỗ đặt sẵn trên bàn thờ ra, cẩn thẩn xếp chúng vào miếng giấy bạc thuốc lá và gói lại rất kỹ càng. Đợi cháy hết tuần nhang, ông đưa cho chúng tôi gói giấy bạc và dặn: “Trong này có ba sợi chỉ, hai đỏ và một đen. Anh đem nó về bảo chị bạn giữ một sợi đỏ và tìm cách đặt sợi chỉ đen vào túi áo, túi quần hay bất cứ cái gì anh chồng mang theo người, sợi chỉ đỏ còn lại thì anh phải giữ lấy. Sau từ 7 ngày đến 13 ngày mà chưa thấy anh chồng có chuyển biến gì thì tốt nhất là cố gắng đưa chị vợ lên đây, đem theo được cái áo lót của anh chồng thì càng tốt để tôi làm lại”. Sự thật về những lá bùa yêu Người mê tín thì bảo bùa yêu có thật, vì thầy bùa chỉ cần tìm cách khiến cho người ta bén hơi nhau hay kỵ hơi nhau là được. Người không mê tín thì lại xuê xoa, “ôi dào, có bùa yêu thì còn lấy đâu ra những kẻ thất tình mà thẩn thơ nữa”. Nhưng theo như thầy bùa Hà Văn Bày thì việc làm cho con người ta yêu ghét là chuyện không khó, chỉ có điều chuyện yểm bùa cũng phải có luật lệ, đạo đức của nó. Tôi hỏi vui: “Vậy tôi muốn người tôi đã đeo đuổi đơn phương suốt từ khi còn ngồi trên ghế trường Đại học theo mình có được chăng? Cô ấy cũng chưa chồng?”. Ông Bày cười: “Đấy là chuyện thường. Chúng tôi chỉ không làm cho vợ chồng, con cái bỏ nhau, chỉ không làm cho người này ghét người kia trong khi họ... vốn yêu nhau mà thôi”. Ông Bày kể thêm: “Cách đây gần một tháng có hai người đàn ông đi ô tô từ tận Yên Bái xuống tìm tôi. Nói chuyện lâu lâu, một người rút ra xấp tiền dày, chắc phải đến mấy triệu bảo, “tôi đang rất yêu một người nhưng người ta lại đang có chồng, nếu bác làm cho họ bỏ nhau mà theo tôi được thì bác muốn bao nhiêu tôi biếu bác chừng ấy”. Tôi bảo, những chuyện như thế thì tôi không làm vì nó thất đức lắm....”. Nói là nói thế thôi vì chính thầy Bày cũng đã kể mấy câu chuyện mang đầy tính “liêu trai chí dị”. Ông kể là chỉ có người Mường là làm được bùa yêu nhưng bùa là nhẹ, nếu hai người thiếu nhau khoảng nửa tháng là phải đi tìm nhau, giống như soi gương mà chẳng thấy bóng mình. Hình thù kỳ quái này được thầy Bầy cho là bùa chú. Thế nhưng, người Mán (H’Mông) còn làm được ngải, một thứ bùa còn nặng nề hơn, man rợ hơn nhiều. Ông kể, trước đây ông đã từng sống với người Mán, họ có thể làm ngải yêu trong bất cứ trường hợp nào. Nếu đã bị bỏ ngải mà vắng nhau hai tuần thì phải tìm bằng được nhau, nếu không sẽ ốm quặt ốm quẹo, thậm chí thiếu lâu còn dẫn đến cái chết. Đã có rất nhiều người bị bỏ bùa ngải, khi chồng hoặc vợ không may mất đi mà chưa kịp nhờ thầy giải giúp thì họ cứ ra ôm mộ mà khóc, một tuần sau cũng sẽ theo về thiên cổ. Nét mặt thầy Bày chợt chùng xuống: “Khi tôi cùng một đồng đội khác đi thanh niên xung phong về rồi ở lại Văn Chấn (Yên Bái) sinh sống. Bỗng bốn tháng sau anh bạn tôi say mê như điếu đổ một bà Mán bản bên. Họ quấn quýt nhau suốt ngày đêm. Chẳng may một hôm làm rẫy, bà vợ bị lũ cuốn trôi mất xác. Đau khổ quá, ông ấy không nói năng gì rồi ba ngày sau thì tìm lên rẫy. Kể từ đó không ai nhìn thấy ông ấy đâu cả. Tôi biết ông ấy bị bỏ ngải nhưng vì vợ chết đột ngột không kịp giải nên ông ấy cũng tìm cách đi theo. Người mà mất bóng mình thì rõ là ma còn gì. Tôi đã có một người vợ nên sau chuyện ấy mà tôi phải đưa vợ tìm xuống Thanh Sơn sinh sống”. Các thầy bùa bảo làm bùa là giúp đỡ nhân tình thế thái, song theo quan sát của chúng tôi thì nguồn thu từ chuyện bùa ngải cũng chẳng đến nỗi nào. Để được ba sợi chỉ bùa chúng tôi đã phải đặt trước lên ban thờ nhà thầy 100.000 đồng. Nói là tuỳ theo cái tâm thì quả thật vô cùng lắm. Đó là chúng tôi lấy bùa mà không cần dùng đến tác dụng của nó (nếu có) chứ nhiều người đang gặp phải tình cảnh khó khăn, bế tắc trong yêu đương đến nỗi phải tìm đến bùa ngải thì chắc chắn “cái tâm” không thể là vài chục nghìn đồng. Đặt trước rồi, khi bùa có hiệu quả thì người ta còn phải mang lễ về tạ thánh thần, tổ tiên kèm theo những món tiền không nhỏ. Mấy bà con đang làm vườn ở đầu làng cho biết, cứ vài ba ngày lại thấy có người đến tìm thầy nhờ làm bùa, giải bùa. Người gặp phải cảnh nhân duyên trắc trở thì nhiều, có người đến thầy một lần rồi thôi, hiệu quả thế nào không ai rõ, cũng có người phải đi lại vài ba lần mới xong. Tính ra như thế, mỗi tháng thầy cũng kiếm được một khoản tiền không nhỏ so với mức sống của một vùng quê miền núi. Gần đây còn có mấy người khác làm bùa được, ví dụ như ông Thiết Sách ở Mai Thịnh, ông Nhung ánh ở phía xã Minh Đài chẳng hạn. Còn ông Nống Nhờ thì thấy người ta bảo giỏi lắm nhưng giờ già rồi, không làm được nữa. Hình như nếu muốn làm bùa được thì phải chưa rụng hết răng, khi làm bùa lại phải nói lưỡi không chạm răng nhưng không hiểu thật giả thế nào. Có nhiều người “mua” bùa về chưa kịp yểm thì đã thấy tác dụng, có người yểm xong thì tác dụng thành ra ngược lại, cũng có người đạt kết quả được đúng như thầy phán (hoặc do một sự trùng hợp ngẫu nhiên nào đó), có người muốn giải bùa nhưng thầy cũ đã mất thì phải tìm được thầy “cao tay” hơn... Bùa yêu: Chuyện nhãm nhí! Trao đổi với VTC News, ông Đinh Công Thoa, Phó bí thư thường trực Đảng uỷ, xã Định quảng Thanh Sơn Phú Thọ nhấn mạnh: Tất cả những chuyện “bùa chú” như các anh vừa trình bày đều là không có thật. Riêng người dân ở địa phương chúng tôi thì chẳng bao giờ tin vào cái chuyện nhãm nhí đó cả. Có chăng cũng chỉ là người nơi khác cứ nghe tin đồn về chuyện “bùa yêu” và đến thôi còn không biết thực hư thầy làm thế nào. Còn với trường hợp ông Hà Văn Bày có thể làm được bùa chú thì bây giờ chúng tôi mới nghe thấy. Bùi Lương Việt
-
Nguồn: http://vtc.vn Những người bị thả… “bùa yêu”? Không biết từ bao giờ, câu chuyện đường rừng thực thực hư hư, bên bếp lửa bập bùng, nơi rừng xanh núi đỏ, luôn có sự bí ẩn với mọi người. Lần nào đi vùng cao cũng vậy, chúng tôi đều được nghe kể về thứ bùa kỳ bí được truyền từ nhiều đời nay. Người thì cho là bùa là phép thuật cao siêu, người thì cho đó là những thông tin huyễn hoặc, nhảm nhí… Người thợ mộc và sự đồn thổi bị bỏ bùa mê… Cho đến bây giờ, những người dân ở xã Tuấn Đạo – Sơn Động – Bắc Giang vẫn đinh ninh cho rằng, anh Tuyến nhà làm thợ mộc ở cuối xóm đã bị chính người vợ của anh bỏ bùa mê khiến anh không tài nào mà dứt đi nổi. Đi đâu, làm gì anh đều phải hỏi ý kiến vợ của mình. Mọi thứ vợ anh đều quyết định, anh về quê hay đi làm, vợ hẹn “hai ngày là đúng hai ngày”, “ba ngày là đúng ba ngày”… Mặc dù công việc chưa xong, anh muốn làm thêm, hay nán lại ở chơi cũng không thể được. Bản thân cũng chưa muốn trở về nhà nhưng không hiểu sao, lúc ấy, trong lòng anh nóng như lửa đốt, đứng ngồi không yên, cho dù mưa gió bão bùng, anh cũng phải mau chóng trở về nhà nhìn thấy mặt vợ con. Những hình vẽ kỳ quặc này được người dân ở đây coi là bùa chú linh thiêng. Chuyện chẳng có gì, nếu như anh Tuyến là người dân vùng ở đây. Anh Tuyến là dân dưới xuôi lên đây làm mộc, đẹp trai, khoẻ mạnh, lại có tài ăn nói hoạt bát. Trong một lần được thuê về để đóng chiếc hòm cáng đựng thóc tại nhà vợ anh bây giờ, anh Tuyến không sao bước chân ra được khỏi đó. Ai cũng bảo, anh Tuyến bị vợ chài. Gia đình nhà vợ đã nhờ thầy bốc bùa cao tay người Mán sơn đầu ở chân núi Yên Tử làm bùa để chài khiến anh không làm sao dứt bỏ được, cho dù đó chỉ là trong…ý nghĩ. Đến giờ, anh Tuyến cũng chẳng thể lí giải được làm sao mình lại yêu, lại mê muội vợ đến thế. Suy nghĩ là vậy, nhưng cũng chỉ xa vợ được hai hôm, đến ngày thứ ba… là anh đã thấy nhớ, thấy thương, người ngợm bứt dứt, sống không thể nào thiếu hình bóng cô ta được. Thế là, anh lại khăn gói quả mướp, bắt xe lên miền ngược để chung sống với người vợ của mình. Đã nhiều lần, nghe những người dân xung quanh mách nước chỉ đường cho anh cách để giải bùa mê, thuốc lú cho đầu óc khỏi bị mê muội. Thôi thì đủ cách, đủ trò, cho dù ai đó bảo sao anh làm vậy. Nhiều người còn bảo anh, phải cạo mùn ở “tấm ván thôi chôn người chết” để uống, anh cũng đã làm mà không sao dứt bỏ được. Anh cũng đã nhiều lần, gặng hỏi người vợ của mình, nhưng lần nào chị vợ cũng đều gạt đi và cười một cách khó hiểu. Nhiều lần anh cũng đã tìm vào tận chân núi Yên Tử kia, để tìm người thầy làm bùa ngày trước để xin giải thoát cho mình, theo anh được biết, chỉ có người làm bùa kia mới nắm được bí mật giúp anh thoát. Nhưng thật không may cho anh, ông thầy làm bùa kia đã chuyển nhà đi nơi khác, hiện mai danh ẩn tích ở đâu, còn sống hay đã chết, mọi người xung quanh đều không hề biết. Cho đến bây giờ, anh Tuyến vẫn cứ yêu thương vợ mình một cách vụng dại và khó lí giải, điều này, chính anh cũng không giải thích nổi… Bùa yêu không chỉ để yêu… Hàng ngày, nếu ai đã đi qua con đường Lê Thánh Tông, thành phố Hoà Bình thì đều biết chàng trai suốt ngày lang thang tha thẩn dọc con phố, thỉnh thoảng lại mỉm cười rất duyên và đưa ánh mắt đầy tình tứ mỗi khi thấy bóng hồng đi qua. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê của một người tâm thần, người đàn ông luôn miệng nói: Anh yêu em… Người con trai ấy tên Đinh Văn Cường. Theo những người dân quanh đây thì anh Cường quê ở xã Đồng Nghê, Đà Bắc, trước đây Cường rất đẹp trai được nhiều người yêu mến rồi, không biết trong số các cô gái thích Cường đó, có người đã không được đáp lại tình yêu đã bỏ bùa yêu khiến anh Cường phải ra nông nỗi này. Những chuyện đan xen, khiến những người chứng kiến thì cho là bùa chú là phép thuật cao siêu, người nghe thì cho là những thông tin huyễn hoặc, nhảm nhí… Bây giờ, thi thoảng bắt gặp những cô gái xinh đẹp, anh Cường lại nói như hét lên: “Anh không yêu em, tại sao lại hại anh!”. Nói xong, trên khuôn mặt rất hiền đó lại hiện rõ vẻ lo lắng sợ sệt đến ngây dại. Nhiều hôm, anh chàng dở điên dở dại ấy lại tỏ ra rất sợ các cô gái, hễ thấy họ là anh tránh xa, lấy tay che mặt hoặc đứng núp vào một chỗ nào đó, chờ họ đi qua, Cường mới dám lộ mặt… Chúng tôi tìm về Đồng Nghê, trong ngôi nhà của Cường, gặp chị Đinh Thị Yên, chị gái của Cường. Không giấu được vẻ buồn rầu, chị Yên cho biết, hơn 10 năm trước, Cường là một thanh niên khoẻ mạnh, đẹp trai làm nghề buôn luồng (một loại cây cùng họ Tre). Công việc của Cường là lên các huyện miền núi mua luồng, rồi xuôi sông về bán. Trong những nơi Cường qua, có nhiều cô gái thích chàng trai mua luồng nhưng do mải làm ăn, cậu ta vẫn chưa chính thức ngỏ lời với ai hết. Năm 2000, sau một chuyến buôn luồng dài ngày trở về, thì Cường tự nhiên lầm lì, ít nói, tính khí thất thường. Ai hỏi gì cũng chỉ cười ngây ngô một cách khó hiểu, gia đình dỗ dành mãi thì Cường chỉ ậm ừ, do không yêu nên bị người ta bỏ “bùa mê thuốc lú” làm hại. Từ đó, bệnh tình của Cường ngày càng nặng, suốt ngày lảm nhảm, anh yêu em và đến cuối năm 2001 thì bỏ nhà đi. Rồi chị Yên nói: “Tôi tin chắc là nó đã bị bỏ bùa. Trước đây nó hiền lành và làm ăn chăm chỉ lắm. Gia đình tìm đủ mọi cách để giải bùa những chưa có thầy nào cao tay giải nó được”. Trong lúc lang thang ở xã Đồng Nghê, chúng tôi còn được nghe một câu chuyện về một bác sĩ trẻ về thực tập tại huyện này. Trong thời gian thực tập, anh đã đem lòng yêu một cô sơn nữ vốn là bệnh nhân của mình. Trước lời ngọt ngào có cánh của chàng trai, cô gái người dân tộc ấy đã yêu say đắm và dâng hiến cái “quý giá” nhất của mình. Nhưng rồi thời gian thực tập của chàng đã hết, chàng bác sỹ trẻ kia, lộ mặt ngay là một gã hợ “sở”, định cao chạy xa bay, bỏ mặc cái thai đang dần lớn lên trong bụng cô gái. Nhưng, thật không may cho chàng trai, lúc yêu nhau, cô gái vô tình có được mấy sợi tóc của chàng trai. Bố cô vốn là thầy bùa nổi tiếng, đã dùng mấy sợi tóc kia để chế bùa, khiến cho chàng bác sỹ kia nửa điên nửa dại. Một thời gian sau, không biết ai mách bảo, gia đình nhà chàng trai kia phải mang lễ lạt đến cầu xin tha thứ mãi, bố cô gái vì “thương con quý cháu” mới tìm cách giải bùa. Những câu chuyện thực thực hư hư ấy đã khiến bao nhiêu người tin để làm rõ việc này chúng tôi luôn tâm niêm phải gặp thầy để xin bùa. Đúng như mong ước, trong một lần đi công tác tại xứ Mường, chúng tôi đã được diện kiến một thầy bùa… (Còn tiếp) Bùi Lương Việt
-
Nguồn: http://www.vietimes.com.vn Chuyện người dám trùng tu những "thiền cốt" Thứ năm, 13/3/2008, 07:00 GMT+7 Với chòm râu dài và cặp kính to, dày như cái đít chai, thoạt nhìn Đào Ngọc Hân thật giống với một ông đồ nào đó hơn là một nhà khoa học. Thế nhưng, hễ nghe ai đó nhắc đến hai từ “cổ vật”, hai mắt gã lại sáng quắc, và gã lại nói say như đang nhập đồng. Gã bảo, cứ khi nào rảnh là gã lại trốn vợ, một mình vác balô tung tẩy khắp trong Nam, ngoài Bắc. Nhưng những chuyến đi mà gã hay nói là “đi chơi” ấy, nhiều khi vẫn khiến gã đau nhói, buồn đến mất ăn mất ngủ mỗi khi phải chứng kiến một bảo vật nào đó của nước nhà, vì một nguyên nhân nào đó đã mất hút khỏi hiện tại, hoặc đã bị chính bàn tay con người phá hỏng. Ngôi nhà của gia đình Đào Ngọc Hân nằm trong một con ngõ nhỏ trên Đường Láng. Ngôi nhà chỉ rộng vài chục mét vuông, nhưng từ hai năm nay, nó còn là trụ sở của Công ty TNHH Bảo tồn cổ vật Hà Nội, đồng thời cũng là công xưởng làm việc của gần chục công nhân, với sơn, với mực, với máy mài và hàng trăm thứ cổ vật với đủ các loại vật liệu ngổn ngang. Vì vậy, đến nhà của Đào Ngọc Hân lúc nào tôi cũng có cảm giác như mình đang lạc vào một cái tổ ong, hoặc một đại công trường nào đó. Theo được nghề vì… lãng mạn quá Đào Ngọc Hân. Đào Ngọc Hân kể, cho đến bây giờ anh vẫn theo được với nghề, có lẽ tại vì cái tính anh nó lãng mạn quá. Anh bảo, học ngành Mỹ thuật truyền thống (trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội), đã ít sinh viên theo học, mà khi ra trường, nếu lại làm đúng chuyên môn thì tẻ nhạt và vất vả vô cùng. Chẳng thế mà trong số bốn sinh viên sau khi ra trường, hai người đã đi làm hoạ sĩ trình bày báo, người còn lại thì làm giáo viên. Còn anh, chẳng hiểu sao, lúc nào cũng thích thú tìm đến các đền chùa và bảo tàng. Sau khi tốt nghiệp, anh cũng chả biết làm gì, hơn nữa, chuyên môn của anh khi ấy cũng không mấy nơi cần đến. Vì vậy, anh cứ triền miên đi thăm thú nơi này nơi kia. Thảng hoặc, các thầy và các bậc đàn anh trong nghề nhận được công trình, anh lại được gọi làm cái chân hậu cần, phục vụ “điếu đóm, chè nước”. Những năm 90 trở về trước, khi Việt Nam chưa có luật di sản, để trùng tu được một cổ vật vất vả và phức tạp vô cùng. Xin được giấy phép trùng tu đã khó, nhưng xin được rồi thì Nhà nước cũng không có nguồn kinh phí cung cấp cho việc trùng tu. Anh Hân kể, năm 1990, một phật tử ở Hải Phòng, sau ba năm vất vả ngược xuôi mới xin được giấy phép của Sở Văn hoá cho phép trùng tu lại bức tượng vị tướng Trần Quốc Bảo. Bức tượng có niên đại trên 300 năm tuổi nhưng đã bị xuống cấp trầm trọng. Xin được giấy phép, vị phật tử này đã lên tận Hà Nội đề nghị giáo sư Nguyễn Lân Cường phục dựng. Lần này, anh cũng được giáo sư Cường gọi đi làm công tác “hậu cần”. Nhưng lần này anh được tham gia với tư cách một chuyên gia, phụ trách việc sơn và hoàn tất giai đoạn cuối cho bức tượng. Sáu tháng sau, bức tượng đã được phục dựng thành công. Khổ nỗi, vì không có kinh phí nên trong suốt 6 tháng trời, vị phật tử kia ngày nào cũng phải cơm nước và đi vận động tiền bạc mua vật liệu phục vụ việc trùng tu. Năm 1992, một sự kiện thu hút rất nhiều sự quan tâm của giới khảo cổ Việt Nam là phát hiện ra pho tượng bó cốt của thiền sư Chuyết Chuyết ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh). Khi được phát hiện, pho tượng đã bị vỡ thành mấy trăm mảnh và vứt ngoài vườn sắn. Lúc này, Viện Khảo cổ đã phải đứng ra nhận trách nhiệm trùng tu, nhưng hoàn toàn không có kinh phí. Nhiệm vụ lần này lại được giao cho giáo sư Nguyễn Lân Cường. Việc trung tu một bức tượng bó cốt là một công việc phức tạp, rất tốn kém và cần phải có một ê kíp những người có chuyên môn tham gia, mà nhân sự khi ấy lại thiếu vô cùng. Đào Ngọc Hân kể: Ngày ấy giáo sư Cường đã mời rất nhiều chuyên viên bảo tàng các tỉnh về cùng tham gia, nhưng kết cục, ông không thể chọn được người có đủ chuyên môn. Vì vậy, công việc trùng tu cuối cùng chỉ có hai thầy trò. Thế nhưng, việc trùng tu ở chùa Phật Tích bị ảnh hưởng bởi du khách đến tham quan ngày càng đông. Vì vậy, ê kíp thực hiện đã phải chuyển làm việc ở Viện khảo cổ. Vậy mà tại đây, mỗi ngày vẫn có hàng trăm du khách, phật tử khắp nơi tìm đến khấn vái và thắp hương nghi ngút. Và, một lần nữa, ê kíp lại phải bí mật chyển pho tượng đến một ngôi nhà trên phố Ngã Tư Sở. Công việc trùng tu bí mật đến nỗi, ngay cả những người hàng xóm sống liền kề cũng không biết họ đang làm gì. Gần một năm sau, pho tượng bó cốt mới được phục dựng xong. Gần một năm làm việc vất vả, không hề có kinh phí hay trợ cấp; thậm chí, cả tiền ăn uống của nhóm cũng hoàn do một nhóm phật tử của chùa cung tiến và phục vụ. Sau sự kiện trùng tu thành công bức tượng bó cốt thiền sư Chuyết Chuyết, Đào Ngọc Hân tiếp tục được mời trùng tu các tượng bó cốt của thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường, ở chùa Đậu (Thường Tín, Hà Tây) và tượng thiền sư Như Trí, ở chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh). Tuy nhiên, những công trình trùng tu sau này đều có kinh phí nên công việc tiến hành đã gặp ít khó khăn hơn... Nơi báu vật bị "phá" nhiều nhất là... bảo tàng? Tượng Thiền sư Như Trí chùa Tiêu Sơn đã được bảo quản. Từ trái sang: Họa sỹ Đào Ngọc Hân, PGS-TS Nguyễn Lân Cường, Tỳ kheo Thích Kiến Nguyệt (Tổng Thư ký Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt) Cổ vật Thuyền Chùa Keo đã được trùng tu hoàn chỉnh. Mặc dù đã tham gia trùng tu rất nhiều cổ vật nổi tiếng trong nước, nhưng ra trường đã mười mấy năm, Đào Ngọc Hân vẫn không xin vào làm việc chính thức trong cơ quan nào. Anh bảo, làm tự do và tự do “xê dịch” vẫn sướng hơn. Thế nhưng, anh đã phải rất vất vả làm đủ nghề để “nuôi” cái sở thích có vẻ "điên điên" ấy của mình. Đã có một thời gian dài, hầu hết tiền bạc kiếm được từ cửa hàng đá quý của gia đình, anh đều nướng hết vào các chuyến đi, rồi mua vật liệu làm những công trình, mà lẽ ra, anh phải được nhận thêm tiền từ chính những công trình này. Thế nhưng, đi càng nhiều, tiếp xúc với cổ vật càng lắm, anh càng đau khi phát hiện ra một thực tế là: nơi lưu giữ nhiều cổ vật nhất, cũng là nơi cổ vật bị bỏ bê nhiều nhất lại chính là hệ thống các bảo tàng địa phương và những ngôi chùa hàng trăm năm tuổi với rất nhiều pho tượng quý. Anh bảo, có vào kho của các bảo tàng địa phương thì mới thấy sự thiếu thốn về tài chính của đất nước mình. Chẳng hạn Bảo tàng Vĩnh Phú trước kia chỉ là một ngôi nhà mượn, kho của bảo tàng được nhét đủ các loại bảo vật, với đủ loại chất liệu gỗ, vải, đá chồng chất, san sát nhau. Hay như bảo tàng Hưng Yên, dù đã có kho bãi, nhưng cổ vật không hề được phân loại, cứ để lung tung. Thậm chí, nhiều bảo tàng còn để nhiều bảo vật ở ngoài trời như Bảo tàng Thanh Hoá, để những con chó đá, rồng đá rất quý ở ngoài trời mà chẳng có che chắn gì. Vì vậy, những trận mưa có axít gần đây đã làm mất hết các hoa văn trên tượng đá. Tại Bảo tàng Hải Dương, tình trạng cổ vật cũng bị bỏ mặc tương tự. Từ nhiều năm nay, tại Bảo tàng Hải Dương, mấy chục bộ mộ thuyền có niên đại trên 2000 năm, rất quý cũng để phơi mưa nắng ở ngoài trời. Biết là kinh phí để trùng tu những cổ vật này là rất lớn, tỉnh không thể có, nhưng bỏ mặc những cổ vật như thế thật đau xót... Việc những báu vật nước nhà bị bỏ mặc do thiếu kinh phí, thiếu nhân lực trùng tu còn có thể thông cảm. Nhưng có tiền mà đem cổ vật đi làm hỏng như một số người vẫn đang làm thì đó dường như lại là một tội ác. Anh Hân kể, mấy năm gần đây, nhiều gia đình có vật gia bảo, rất quý đã đem đến nhờ tu bổ. Thế nhưng, vì thiếu hiểu biết nên những gia chủ này nhất quyết yêu cầu làm theo ý mình, nghĩa là phải làm cho vật gia bảo càng mới, càng giống với nguyên bản càng tốt. Thậm chí, nhiều nhà buôn, nhà sưu tập cổ vật, cũng muốn bảo tồn cổ vật cho thật giống như nguyên bản để dễ bán cho những người thiếu hiểu biết để kiếm lời. Họ đâu biết rằng, bảo tồn cổ vật là làm gia tăng thêm giá trị cho chúng, chứ không phải là làm cho chúng mới hơn. Vì vậy, với những khách hàng cứ khăng khăng yêu cầu thợ làm theo ý mình thì anh chỉ còn cách bảo họ đi đến những cơ sở khác, chứ nhất định anh không làm hỏng đi những báu vật lịch sử ấy được. Cũng theo anh Hân, hiện rất nhiều đình chùa cổ ở ta cũng trong hoàn cảnh tương tự. Nhiều ngôi chùa, ngôi đình bị mất đi rất nhiều giá trị, cổ vật thì càng sửa càng hỏng không phải do không có tiền, mà vì sự thiếu hiểu biết của chính những người chủ trì và người thợ trùng tu. Vì vậy, rất nhiều cổ vật lần lượt được làm mới, sự cổ kính, tôn nghiêm và những nét đẹp cổ xưa đã hoàn toàn biến mất sau mỗi lần tôn tạo… Mười mấy năm làm công tác bảo tồn cổ vật, anh Hân bảo, giữa cổ vật và người thợ bảo tồn luôn có một mối nhân duyên kỳ lạ. Có thế, họ mới gặp nhau và người thợ mới có điều kiện làm sống lại những giá trị văn hóa, lịch sử của cổ vật. Thế nhưng, trong hàng trăm mối nhân duyên mà anh đã gặp, dù rất tâm huyết, anh cũng không thể cứu được hết những cổ vật khỏi xuống cấp, khỏi vấn nạn “mới hóa” và lòng tham đầy bất trắc của một số người. Trọng Tuyến (Vietimes)