Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Luân

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    7118
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    134

Everything posted by Thiên Luân

  1. Ngày xưa khi tiễn con về nhà chồng thì người mẹ và con gái sẽ khóc, 1 năm mà khóc - buồn 2 lần thì đúng là ko nên, còn thời nay ai cũng cười toe toét, vàng đeo đỏ tay thì có chi mà ngại. Cứ cưới di! Chỉ buồn là sợ ko đủ lo hồi môncho con gái thôi !! 2 năm trên đều tốt, nhưung nên sinh Nhâm Thìn, mẹ 35 tuổi rồi!!! Thân mến.
  2. Có thể sinh Giáp Ngọ 2014 hoặc Đinh Dậu 2017!! Thân mến.
  3. Điều hoàn toàn không có lợi cho một cường quốc đang lên (Dân trí) - Thái độ của Trung Quốc ở Biển Đông không mới. Nhưng lần này, căng thẳng gia tăng khi Bắc Kinh phô trương sức mạnh quân sự trong chính sách ngoại giao với các nước láng giềng. Điều này hoàn toàn không có lợi cho Trung Quốc, vì họ là một cường quốc đang lên. Tàu Hải Tuần 31 của Trung Quốc. Việc một tàu tuần tra trọng tải lớn của Trung Quốc có trang bị máy bay trực thăng tiến hành tuần tra ở Biển Đông đã gây ra những quan ngại rất lớn là tàu này có thể vừa hoạt động giám sát, vừa kiểm tra một số tàu bè nước ngoài trên Biển Đông. Báo Nhật Bản dẫn lời ông Peter Dutton, Viện trưởng Viện nghiên cứu hải dương Trung Quốc thuộc Đại học Hải quân Mỹ, cho rằng Hải quân Trung Quốc đã củng cố sức mạnh hệ thống tên lửa và nâng cao năng lực chiến đấu của tàu chiến cũng như tàu ngầm để tăng cường quyền quản lý trên biển.Như vậy là mặc dù cam kết sẽ không sử dụng vũ lực trong việc tranh chấp chủ quyền Biển Đông, nhưng qua những hành động gần đây, rõ ràng là Bắc Kinh muốn phô trương lực lượng bất chấp luật pháp quốc tế. Báo Mỹ World Policy dẫn lời ông Abraham Denmark, Cố vấn cấp cao tại Trung tâm Phân tích Hải quân của Mỹ ở Washington, nhận định Trung Quốc đang chơi trò 2 mặt ở Biển Đông: một mặt lớn tiếng về ý đồ hoà bình và lợi ích của việc phát triển quan hệ tốt với các nước tranh chấp ở Biển Đông , mặt khác lực lượng hải quân của họ tiếp tục tấn công tàu của các nước láng giềng. “Mục đích của trò chơi 2 mặt này rất rõ ràng: tìm cách duy trì tình trạng căng thẳng ở mức độ thấp trong khi không ngừng khẳng định lợi ích của mình bằng sức mạnh cứng. Đối với Trung Quốc, không có sự liên kết nào giữa lời nói và hành động”, ông Denmark phân tích về ý đồ của Trung Quốc. Hãng tin AP dẫn lời ông Ernest Bower, cố vấn cao cấp kiêm Giám đốc Chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) ở thủ đô Washington, cho rằng các nước, vốn lo ngại về cách hành xử của Trung Quốc, có thể kêu gọi Mỹ tiếp tay ứng phó với tình hình. “Nếu Mỹ và các đối tác không có một chiến lược đúng đắn để đáp ứng, thế giới sẽ lâm vào cuộc đối đầu giữa hai cường quốc. Nếu kịch bản xấu nhất diễn ra, chiến tranh bùng nổ do cuộc tranh chấp ở Biển Đông, điều đó hoàn toàn không có lợi cho Trung Quốc vì Trung Quốc là một cường quốc đang lên”, ông Bower nói. Trong 15 năm qua, có thể nói Trung Quốc đã đạt nhiều bước tiến, uy tín của Trung Quốc tại châu Á đã tăng đáng kể. Họ được coi như một đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế, hội nhập với khu vực. “Nhưng thời gian gần đây, Bắc Kinh dường như muốn thách thức các giới hạn đối với sức mạnh của mình, và khẳng định chủ quyền trong các cuộc tranh chấp biển đảo tại Biển Đông, mà Trung Quốc gọi là biển Nam Trung Hoa. Thái động này thực sự gây khó chịu cho các nước láng giềng, làm cho các nước này quan ngại hơn về sự hiện diện của một nước láng giềng khổng lồ đang dương oai để trắc nghiệm sức mạnh của mình”, ông Bower phân tích. Nhưng theo ông, cuộc tranh chấp hiện nay ở Biển Đông không có nguy cơ leo thang để trở thành một cuộc đối đầu quân sự và nếu xảy ra sẽ chẳng ai có lợi. “Hiện không phải là thời điểm để Trung Quốc khẳng định quyền lực của mình, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc bị coi là bên gây hấn ở Biển Đông, lấn át các nước nhỏ vốn chỉ tìm cách tự vệ. Tôi tin rằng chiến tranh sẽ là một đại họa đối với Trung Quốc, khu vực và cả Mỹ". Cần một bàn đàm phán đa phương Một số nhà quan sát cho rằng Trung Quốc có thể sẽ phải điều chỉnh lập trường "thương thuyết tay đôi" vì vụ tranh chấp này ảnh hưởng tới an ninh của toàn khu vực và không thể giải quyết bằng đường lối song phương. Giáo sư Triệu Hồng, nhà nghiên cứu cấp cao của Viện Nghiên cứu Đông Á thuộc trường Đại học Quốc gia Singapore, nhận định đường lối đa phương mà Mỹ và các nước Đông Nam Á đề xuất cho nỗ lực giải quyết vụ tranh chấp Biển Đông là một phương thức hợp lý. “Tôi nghĩ rằng vấn đề ở đây không phải là Trung Quốc muốn hay không muốn. Có một số vấn đề không thể giải quyết bằng đường lối song phương mà cần phải thông qua những kênh đa phương. Đây là những vấn đề của cả khu vực, chứ không phải chỉ là vấn đề riêng giữa Trung Quốc với một nước nào đó. Những vấn đề như vậy không thể chỉ dựa vào đàm phán song phương mà có thể giải quyết được”, ông nói. Tiến sĩ Jonathan Pollack, chuyên gia về Trung Quốc của Viện Brookings ở Washington, cho rằng Mỹ chắc chắn không thể khoanh tay đứng nhìn tình hình ngày càng trở nên căng thẳng ở Biển Đông. Ông Pollack nói: “Rõ ràng, Mỹ có những quyền lợi rất quan trọng trong cuộc tranh chấp này. Mặc dù vậy, Mỹ có một nguyên tắc cơ bản là không muốn dính líu tới những tranh chấp như vậy giữa các nước. Mỹ mong muốn tranh chấp được giải quyết một cách hòa bình và sẵn sàng thúc giục các bên liên quan có thái độ thận trọng và kiềm chế để giải quyết tranh chấp”. Còn ông Michael Mazza, nhà nghiên cứu cấp cao của Học viện Doanh nghiệp Mỹ về Nghiên cứu Chính sách Công, nhận định việc Washington can dự vào cuộc tranh chấp ở Biển Đông là đương nhiên. Trong khi đó, Tiến sĩ Tim Huxley, Giám đốc bộ phận châu Á của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ở Anh, cho rằng giới lãnh đạo Trung Quốc có lẽ đã nhận thức được sự hạn chế của đường lối song phương và có thể sẽ phải điều chỉnh lập trường của mình. Nhật Bản, nước đang có mâu thuẫn với Trung Quốc trong vấn đề đảo Senkaku và khai thác các mỏ khí ở biển Hoa Đông, cũng đang lo ngại trước động thái tăng cường sức mạnh của hải quân Trung Quốc. Dư luận Nhật Bản cho rằng chính phủ nước này, cũng giống như Indonesia và các nước châu Á khác đang ngày càng cảnh giác trước Trung Quốc, cần phải xây dựng các cơ cấu khung đối thoại rộng, nhiều tầng lớp. “Việc tăng cường quan hệ đồng minh với Mỹ chắc chắn cũng có tác dụng kiềm chế Trung Quốc”, một chuyên gia Nhật Bản nói. “Có lẽ các nước cần phải tích cực tận dụng các cơ hội như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) vào tháng 7 tới và Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) vào mùa Thu năm nay để thúc giục Trung Quốc phải kiềm chế”. Tuy nhiên, Tiến sĩ Tim Huxley của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ở Anh, thừa nhận lập trường đàm phán của Trung Quốc “chắc chắn sẽ không thay đổi trong một sớm một chiều”. Nguyễn Viết
  4. Nên sinh năm Giáp Ngọ 2014 hoặc Đinh Dậu 2017 thì tốt hơn là 2012, mạng con 2012 Hỏa khắc mạng cha mẹ Kim. Thân mến.
  5. Tính từ lúc cưới nhau, ngôi nhà mà anh/chị ở trước khi sinh con : đứng từ trong nhà nhìn ra, có phải cổng nhà bên phải? đường đi trong nhà cũng bên phải? cửa phòng ngủ vc bên phải?
  6. Vậy để cuối 2012 hãy cưới, vợ chồng cưới nhau năm tam tai thì hay chơi trò đĩa bay điều khiển từ xa lắm.
  7. Sinh lưu niên thì còn lâu lắm mới kéo được cái dàn khoan đó vào biển đông, dàn khoan chỉ là 1 cái cớ thôi, đằng sau nó là chuyện khác. Việc này phải hơn 6 tháng nữa mới rõ ràng. Đợi xem sao!
  8. Màu sắc của xe chỉ là 1 yếu tố nhỏ và rất nhỏ, mê tín quá đi!
  9. Cỡ 640x480 thôi anh! vừa gọn màn hình, to quá load chậm lắm :D hihi
  10. Có người yêu đi đã, chưa có mà còn chọn lựa thì đến bào giờ? Quan điểm học thuật ở đây là "yêu nhau cứ lấy". Tuổi vợ chồng chỉ là 1 yếu tố nhỏ, sau này con cái mới là quyết định. Đọc thêm các topic khác để biết chi tiết. Tuổi trẻ ko nên mê tín.
  11. Phạm Hùng resize ảnh lại đi nhé. để hình to load lâu lắm!
  12. Công việc của cha có phải thay đổi hoặc có chuyển biến thiếu tích cực từ khi mang thai cháu bé Tân Mão? Chị để ý xem chồng có biểu hiện gì khác thường ko nhé! Sinh đứa này ra thì từ từ mới tốt lên, dù sao thì con hợp mạng mẹ là 1 yếu tố tốt rồi. Vấn đề này vượt khỏi tầm của luận tuổi, có lẽ nên xem thêm 1 số yếu tố khác như phong thủy nhà ở. Thân mến. Sinh Nhâm Thìn 2012 là rất tốt, tốt ít hơn 1 tý là Quý Tỵ 2013. Chú may mắn.
  13. Sinh năm Quý Tỵ 2013 nhé. Sẽ rất tốt! Thân mến.
  14. Nếu tính được vậy thì cứ làm vậy đi, nhưng đứa Nhâm Thìn sẽ khó dạy, bướng bĩnh.
  15. Muốn hỏi có khả năng tiến tới hôn nhân và đường con cái thì bạn nên qua mục Tử Vi nhé.
  16. ĐỌC NỐI TRONG TIẾNG VIỆT Nguyễn Xuân Quang Cũng như đa số những ngôn ngữ khác, tiếng Việt cũng có hiện tượng đọc nối và nuốt chữ. Đọc nối là một nhu cầu thiết yếu của tiếng nói. Đọc nối để tránh ngượng miệng, líu lưỡi, đỡ ngọng, tránh khổ đọc, để nói cho lưu loát, cho trơn tru, trơn miệng trơn lưỡi, để nói cho nhanh, để nói cho nhịp nhàng, uyển chuuyển, cho tiết điệu âm thanh hòa hợp, để nghe cho êm tai, cho khỏi trục trặc. Ngoài ra đôi khi để nói cho nhanh người ta nói lồng hai chữ vào nhau hoặc nuốt bớt chữ. Đọc nối trong tiếng Việt cũng tuân theo những qui tắc chung của các ngôn ngữ khác. 1. Cách thứ nhất: đọc nối xẩy ra trong trường hợp khi tận cùng của từ thứ nhất đứng trước là một phụ âm và khởi đầu của từ kế tiếp theo sau là một nguyên âm. Ví dụ: .Con nào con ấy đọc nối thành Con nào con nấy. .Con ít đọc nối qua thành con nít. Thoạt đầu nói là con ít sau đọc nối qua thành con nít và ngày nay chúng ta thành thói quen nói là con nít. Từ ít phản nghĩa với lớn, nhiều. Con ít ngược nghĩa với người lớn. Bắng chứng cụ thể là ta thấy rõ từ ít láy với oi như thấy qua cặp từ láy ít oi và ta thấy rất rõ những từ láy con ít con oi đọc nối qua thành con nít con noi hay con ít con nôi. Bằng chứng sống là bà cụ thân sinh ra tác giả trước đây vẫn nói là con ít. Chính cụ đã giúp tôi tìm ra chữ đọc nối này. 2. Cách thứ hai: đọc nối xẩy ra trong trường hợp khi tận cùng của từ thứ nhất đứng trước là một nguyên âm hay chữ y và khởi đầu của từ kế tiếp theo sau là một phụ âm. Ví dụ: .nề nếp đọc nối qua thành nền nếp. nề có nghĩa khắng khít với nếp hơn là nền với nếp vì nếp có nghĩa là lề thói, gia phong như nếp nhà gia giáo.Theo qui tắc từ đôi, từ láy qua nề nếp ta có nề = nếp. Ta thấy rất rõ nề là lề lối, lề thói (lề là dạng nam hóa của nề) như giấy rách phải giữ lầy nề. Nề, lề biến âm với lệ (lệ làng: phép vua thua lệ làng, luật lệ). Nề biến âm với ni là thước tấc, khuôn khổ (như lấy ni để may quần áo). Luật, lệ, lề, nề liên hệ với Anh ngữ law và lối (lề lối) liên hệ với Pháp ngữ loi (luật lệ). .mà cả đọc nối qua thành mặc cả. .hai mươi đọc nối qua tnành hăm như hai mươi mốt thành hăm mốt… .Ba mươi đọc nối qua thành băm như ba mươi mốt thành băm mốt… .i như đọc nối qua thành in như hay y như thành in như. .i nguyên đọc nối qua thành in nguyên hay y nguyên thành in nguyên. Ta thấy về sau i được dùng như in mặc dầu không phải là đọc nối ví dụ y hệt thành in hệt. 3. Cách thứ ba: lồng hai từ vào nhau hay nuốt chữ. Thường thấy trong thể nghi vần hay trong đối thoại, hai từ cuối thường lồng vào nhau sau khi cắt xén bớt để nói cho ngọt giọng. Ví dụ: . Từ thứ hai nuốt mất phần đầu rồi lồng vào từ trước như: Mày đi mau mà về NGHE KHÔNG? Nói nhanh lồng âm vào nhau: -khi nuốt mất chữ K đầu của từ KHÔNG còn lại HÔNG lúc nói nhanh thành: Mày đi mau mà về nghe-HÔNG? -khi nuốt mất hai chữ KH của từ KHÔNG chỉ còn lại -ÔNG thì lúc nói nhanh thành: Mày đi mau mà về nghe-ông? = Mày đi mau mà về nghe-ONG? -khi nuốt mất ba chữ KHÔ- của từ KHÔNG chỉ còn lại -NG thì lúc nói nhanh vào thành: Mày đi mau mà về nghe-Ng ? =Mày đi mau mà về ngheng? -khi nuốt mất chữ G còn lại KHÔN thì lúc nói nhanh thành: Mày đi mau mà về nghe-KHÔN? -khi nuốt mất chữ G và chữ K còn lại HÔN thì lúc đọc thành: Mày đi mau mà về nghe-HÔN? -khi nuốt mất các chữ KHÔG chỉ còn lại chữ N thì lúc nói thành: Mày đi mau mà về nghe-N = Mày đi mau mà về ngheN? -khi nuốt hết các phụ âm của từ KHÔNG chỉ cỏn lại một nguyên âm Ô thì lúc nói nhanh thành: Mày đi mau mà về nghe-Ô? = Mày đi mau mà về ngheO? Lưu ý là hiện tượng nuốt chữ ở đây có khi giống như là hiện tượng giải phẫu cắt bỏ bới chữ (xem Giải Phẫu Chữ Việt). -Cuối cùng cả từ KHÔNG bị nuốt hết chỉ còn dư âm trong cổ họng thì lúc nói nhanh thành: Mày đi mau mà về nghe… Trên đây là một vài ví dụ tiêu biểu về cách đọc nối trong Việt ngữ, chắc chắn nếu nghiên cứu kỹ thêm ta có thể còn khám phá ra thêm ra nhiều nữa. Nhiều từ hiện nay chúng ta đang dùng có thể là do trước kia đọc nối lại mà thành.
  17. TIẾNG LÁY TRONG VIỆT NGỮ Nguyễn Xuân Quang Tiếng láy gồm một từ gốc và một từ tố lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc. Tôi gọi từ tố láy với từ gốc là thành tố láy (TTL), ví dụ liếm láp thì láp là TTL của liếm. Đa số các nhà ngữ học Việt Nam cho rằng ngoài một số nhỏ TTL có nghĩa còn hầu hết TTL vô nghĩa như mình mẩy, liếp láp, bụi bậm… thì TTL mẩy, láp, bậm không có nghĩa. Tôi khám phá ra rằng các từ lấp láy có TTL hầu như đều có nghĩa. Chúng ta cho là vô nghĩa vì chúng ta không biết nghĩa đó thôi. Nói một cách tổng quát, giản dị cho dễ hiểu thì TTL trong tiếng Việt dù dưới dạng nào đi nữa nó đều phát xuất ở từ gốc, từ mẹ mà nó ‘láy’ sinh ra. Như thế nó mang nhưng di tính (di truyền tính) của từ gốc, từ mẹ không những âm, vần mà kể cả nghĩa ngữ. Nghĩa của TTL có thể còn giữ nguyên nghĩa ngữ của từ mẹ (rõ nhất là dạng láy giữ nguyên dạng như ào ào) hay vì đã láy, đã “lái”, đã “lai” đi thì nghĩa cũng sẽ lai đi, đã thay đổi… Nói gọn lại, từ láy trong tiếng Việt láy cả âm đọc lẫn ý nghĩa. Những TTL này -có thể là những từ cổ Việt đã biến thể đi, đã mai một đi hay đã bị chôn vùi ở đâu đó nên chúng ta không biết nghĩa, ví dụ từ láy kiêng khem có TTL khem là tiếng biến âm của cổ Việthèm có nghĩa là kiêng, taboo. Theo biến âm kh = h như khì khì = hì hì, ta có khem = hèm. -có thể chúng là những từ còn hiện diện ở một ngôn ngữ nào đó của nhân loại nhất là những ngồn ngữ có liên hệ với Việt ngữ. Sự liên hệ này có thể ruột thịt hay vay mượn, tiếp xúc. TTL của Việt ngữ là một từ trong ngôn ngữ khác. Ví dụ thật thà, TTL thà cũng có nghĩa ngay thẳng chính là Phạn ngữ shâ, ‘to stand’, đứng, thẳng. Rõ như ban ngày thà = shâ. Dĩ nhiên ở các ngôn ngữ khác, các TTL ở dưới những dạng biến âm với Việt ngữ vì mỗi tộc ngôn ngữ phát âm theo một âm khác nhau, theo một nguyên âm khác nhau. “Việt ngữ có hầu hết tất cả âm vận của ngôn ngữ loài người” (Bùi Đức Tịnh, tr. 188). Ví dụ Việt ngữ phát âm “ời” như cổ ngữ Việt blời (trời), Pháp ngữ phát âm theo ‘ơ’ như bleu (màu trời) và Anh ngữ phát âm theo ‘u’ như blue (màu trời). U, ơ, ơi, ời là những biến âm của nhau như u, ơ, ù ơi. Blời, bleu, blue cũng có cùng gốc trời và cũng có thể coi như là một hình thức tiếng láy của nhau như blue-bleu giống như mù-mờ của Việt ngữ. Để soi sáng hiện tượng tiếng láy trong Việt ngữ xin đưa ra một vài ví dụ: -Việt và Việt .Tối thui TTL thui cũng có nghĩa là tối, đen. Với h câm, thui = tui, túi, tối. Thui cũng có nghĩa là đen như đen thui, đen thủi, phỉ thui là đuổi cái đen đi. Thui bò, thui heo là nướng cháy (cho đen). Ta thấy rất rõ thui láy âm với tui, tối và có cùng nghĩa là một tiếng láy. .Đen đủi Theo qui luật biến âm th = đ như thủng thỉnh = đủng đỉnh, TTL đủi = thủi, thui là đen và theo đ = t, đủi = túi, tối. Đủi biến âm với đui là mù cũng hàm nghĩa tối. .Chút chít Chút là nhỏ, ít, chút biến âm với chót. TTL chít cũng có nghĩa là nhỏ, chót như người cháu nhỏ nhất, chót nhất gọi là chít: cháu, chắt, chút, chít. Với ch câm, chút chít = út ít. .Hỏi han TTL han là tiếng cổ Việt có nghĩa là hỏi: “Gặp nhau hớn hở, han chào” (Nguyễn Du, Kiều). . . . . . . -Việt và Mường Tiếng Việt cổ và Mường ruột thịt với nhau. .Lo lắng TTL lắng chính là Mường ngữ lắng có nghĩa là lo, nhớ như thấy qua mấy câu thơ sau: Nên con nghĩ mà đau quặn, Lắng mà đau quài. (Hoàng Anh Tuấn, tập II, tr.128). hoặc Trời mưa đừng nhớ lặng, Trời nắng đừng thương. Lặng nguyên văn là lắng có nghĩa là lo, nhớ (tập II, tr.28). .Rừng rú rú, Tiếng Mường ở Thanh Hóa là rừng nhưng ở Nghệ Tĩnh rú là đồi non (Hoàng Anh Tuấn, tập I, tr. 126). Tộc người Vân Kiều có tên là người Bru, có nghĩa gốc là người (B)Rú, người Rừng. Cũng nên biết Anh ngữ jungle (rừng) liên hệ với Việt ngữ dừng, rừng (j=d như xe jeep = xe díp). .Ngứa ngáy TTL ngáy là Mường ngữ ngá (ngứa): vôn ngá là (khoai) môn ngứa. . . . . . . . -Việt và Tầy-Thái, Thái Lan .Chim chóc TTL chóc là chim, Tầy-Thái ngữ chốc là chim. Với h câm chóc = cóc = cọc. Thái Lan ngữ nok là chim. Nok là nọc (cọc). .Nhỏ nhoi TTL nhoi là Thái ngữ noi, nhỏ (Bình Nguyên Lộc, Lột Trần Việt Ngữ, tr.36). Noi cũng có nghĩa là nhỏ như thấy trong Việt ngữ con nít, con noi, với n câm, ta có nít noi = ít oi, ít ỏi. .Xanh sao TTL sao chính là Thái Lan ngữ kheeo là xanh (Bình Nguyên Lộc phiên âm là sauu). .Đẹp đẽ TTL đẽ chính là Thái Lan ngữ dee, ‘nice’ (xinh dẹp). .Lỗ rỗ TTL rỗ có nghĩa là lỗ như mặt rỗ như tổ ong bầu. Cái rổ là vật đan bằng tre có lỗ lớn. Rỗ ruột thịt với Thái Lan ngữ roo, lỗ. . . . . . . -Việt và Kampuchia ngữ Tiếng Khmer thuộc họ Nam Á, chi Mon-Khmer cùng với Việt ngữ. .Đất đai TTL đai liên hệ với Kamphuchia ngữ day, đất. .Khờ khạo TTL khạo liên hệ với Kampuchia ngữ klao, chaot l’ngoo-ung, stupid, khờ, ngốc. .Hô hào Hô hào là kêu gọi, hô là gọi lớn như hô to, hô lớn. Hô biến âm với hò là gọi to như hò đò sang sông. TTL hào chính là Khmer ngữ hao (call). . . . . . . -Việt và Hán Việt .Bầu bì TTL bì chính là Việt ngữ bị (bọc có quai, túi có quai, ông Ba Bị), Hán Việt bì là bao, túi, (cân trừ bì là cân trừ bao), là da như bì phu (da là cái bao, cái túi bọc thân người) cùng nghĩa với bầu, bào, bao. .Cà kê TTL kê là Hán Việt kê là gà; theo c=g (như cài = gài), cà = gà, Mường ngữ kha (gà) với h câm kha = ka = cà = gà. .Bạc phếch theo ph = b như phừng phừng = bừng bừng, TTL phếch = bệch, biến âm của Hán Việt bạch, trắng. . . . . . . -Việt và Chi Ngôn Ngữ Mã-Lai .Mất mát TTL mát chính là Mã-Nam Dương ngữ mati, chết. .Té de đi cầu té ra nước. Té, te, tè liên hệ tới nước (té nước) và de cũng là nước: mía de là mía nấu nước uống. De chính là Mã-Nam Dương ngữ ayer, nước. .Rừng rậm TTL rậm liên hệ vối Mã ngữ râm, rừng. . . . . . . -Việt và Altaic ngữ Nhật Nhật ngữ đã từng được xếp vào Altaic ngữ. .Xinh xắn TTL xắn là Nhật ngữ shan, xinh (Bình Nguyên Lộc, Lột Trần Việt Ngữ, hình bìa). .Cây cối TTL cối là cây, Mường ngữ coi, cơi là loại cây nhỏ, mềm, dễ gẫy: Có súng bằng cây nứa, Có giáo bằng cây cơi. (Trương Sỹ Hùng, Đẻ Đất, Đẻ Nước, t. I, tr.805) cây cối = “cây con” (Trần Ngọc Ninh, Tuyết Xưa). Cối là loại cây có giống cái vì cối còn có nghĩa là cái cối làm bằng khúc thân cây khoét rỗng biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ. Cối biến âm với củi (cây khô để đốt lửa), với cổ ngữ Nhật kuy, ko và hiện kim ki, cây. Việt ngữ có từ đôi điệp nghĩa kì kèo nghĩa là kì = kèo (kèo là cái cọc nhỏ), ta thấy kì = Nhật ngữ hiện kim ki, là cây. Kì Dương Vương có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Gian, trong có Trục Thế Giới nên truyền thuyết mới nói là ông có tài đi lại được Ba Cõi (Tam Thế), ông xuống thủy phủ (Cõi Nước) cưới nàng Thần Long làm vợ. .Múa may TTL may, theo Bình Nguyên Lộc chính là Nhật ngữ mai là múa (tr.34). . . . . . . -Việt và Ấn-Âu Ngữ .Việt và Anh ngữ .Liếm láp Ví dụ mẹ mắng con: “cái miệng mày liếm láp cả ngày”. TTL lap chính là Anh ngữ to lap, liếm. .Lớn lao TTL lao chính là Anh ngữ loud, lớn, to: loud speaker là máy phóng thanh, loud mouth là to mồm, lao xao chính là Anh ngữ loud sound. .Mù mịt, mờ mịt TTL mịt chính là Anh ngữ mist, sa mù… .Tắm táp TTL táp chính là Anh ngữ tap, vòi nước, liên hệ với tub, bồn tắm. . . . . . . .Việt và Pháp ngữ .Béo bở TTL bở ở đây không phải là bở có nghĩa là dễ rời ra mà chính là Pháp ngữ beurre. Bơ là một chất béo nên láy với béo. Bơ chính là Việt ngữ bồ có nghĩa là chất béo như thấy trong các từ đôi bồ hòn, bồ hôi, bồ hóng, bồ kết… Theo b=m, ta có bồ hôi = mồ hôi, bồ hóng = mồ hóng… mồ chính là mỡ. Bồ hòn là “hòn bơ”, “hòn mỡ”, quả bơ, quả mỡ, thứ quả dùng làm xà phòng, Pháp ngữ gọi cây bồ hòn là ‘savonier’, Anh ngữ là ‘soapberry tree’; bồ hôi, mồ hôi do tuyến nhờn như dầu mỡ ở da tiết ra (có người có mồ hôi dầu) chính là ‘bơ hôi’, ‘mỡ hôi’(chất nhờn như dầu mỡ ở da ra ngoài khí trời bị oxýt hóa thành oi, hoi, hôi); bồ hóng, mồ hóng là chất như dầu đen do khói đọng lại; bồ kết là quả ‘kết’ bơ, mỡ, dầu dùng gội đầu. .Mỏng manh TTL manh chính là Pháp ngữ mince, mỏng (mince lame: lưỡi dao cạo). .Lỏng le lỏng lét TTL le là cổ ngữ Việt có nghĩa là nước như chim le le là chim nước; chua lè là chua chẩy ra nước, chua chẩy ra nước dãi và chua vãi đái ra quần (chua làm rùng mình, làm tăng áp suất trong bọng tiểu khiến vãi đái ra quần). TTL le chính là Pháp ngữ lait, sữa, một thứ nước con người uống khi chào đời. TTL lét chính là Tây Ban Nha ngữ leche, sữa. . . . . . . .Việt và Tây Ban Nha ngữ .Mặn mà TTL mà liên hệ với Tây Ban Nha ngữ mare, biển. Mặn liên hệ với biển, với muối. .Mỡ màng TTL màng ở đây không phải là lớp che, phủ, lớp màng mà chính là Tây Ban Nha ngữ mantequilla, bơ, Bồ ngữ manteiga, bơ, liên hệ với Pháp ngữ moelle (phát âm là ‘moan’), Anh ngữmarrow, tủy (tủy có rất nhiều mỡ). .Nhí nha nhí nhảnh Nhí là nhỏ (kép nhí); nhí nha chính là Tây Ban Nha ngữ niña, bé gái. Nhi nha nhi nhô chính là niña, niño, bé gái, bé trai. . . . . . . .Việt và Tiền cổ-Ấn Âu ngữ (Proto-Indo-European language, PIE) .Tối tăm TTL tăm chính là gốc tái tạo PIE *tem/*tam/*tm, dark, darkness, tối (Bombard, A.R. p.207, No 51). .Cong cớn TTL cớn chính là gốc tái tạo PIE *ker-/*k’or-/*k’r, to twist, vặn, to turn, bẻ quẹo, to bend, uốn cong… .Mạnh mẽ TTL mẽ cũng có nghĩa là mạnh, non, trẻ, bé. Theo m=b, mẻ = bé. Mẽ liên hệ với PIE *mag{h}- (h nhỏ và cao), ‘young’, bé, trẻ, non. . . . . . . . -Việt và Phạn Ngữ .Ướt át TTL át chính là Phạn ngữ ak, aka, nước, addrà, ướt. .Bụi bặm, bụi bậm TTL bặm, bậm chính là Phạn ngữ pâmsu (m có dấu ngã), pâmçu (m có dấu ngã), bụi. Rõ ràng pâm- = bậm. .Đau đớn TTL đớn chính là Phạn ngữ du, duna, ‘suffering’, ‘pain’, ta thấy du là đau, dun là đớn. . . . . . . -Việt và Á-Phi ngữ .Nói năng TTL năng biến âm với rằng, dằng, như nói rằng, “Rằng nghe nổi tiếng cầm đài” (Nguyễn Du, Kiều), liên hệ với gốc tái tạo Proto-AfroAiatic *yan-/*yen- (e ngược), ‘to say’, nói. .Rạng rỡ, rực rỡ TTL rỡ có nghĩa là rõ, rạng, sáng, tỏ, đỏ liên hệ với Ai Cập ngữ Ra, Re, thần mặt trời. .Tối tăm TTL tăm liên hệ với Ai Cập ngữ tms: to hide, che, dấu, kín hàm nghĩa tối tăm. . . . . . . -Việt và Mỹ châu ngữ (Amerind) .Lạnh tanh TTL tanh liên hệ với tộc Almosan-Keresiouan, Algic: gốc tái tạo Tiền cổ-Alongquian *tahk, mát. .Máu me, máu mê TTL me, mê liên hệ với Macro-Panoan, tộc Lenga eme; Proto-Panoan *imi; Proto-Tacanan * ami là máu (dĩ nhiên liên hệ với cả gốc Hy Lạp ema-, hemo-, hema- là máu như anemia, thiếu máu, hematemesis, mửa ra máu). .Thuộc làu, thông suốt làu làu. TTL làu là biết, hiểu liên hệ với tộc Kekchi ngữ nau, know, biết. Ta cũng thấy nau, làu liên hệ với Anh ngữ know. . . . . . . -Việt và Úc châu ngữ .Bù lu bù loa TTL lu, loa liên hệ với Úc châu ngữ .*lu-n/*yu-n (weep, khóc) liên hệ với Việt ngữ lu trong bù lu bù loa, lũ, lụt (liên hệ với nước), lóc (khóc lóc). .Báng bổ TTL bổ có nghĩa là búa, liên hệ với *bu-m hay *bo-m) (hit, đánh; kill, giết) liên hệ với Việt ngữ bổ (đánh giết bằng búa), với báng (húc, giết bằng vật nhọn). .Mần mà mần mò Việt ngữ mần là làm như đi mần, mần việc, mần ăn. Nguyên thủy con người làm bằng hai tay, mần ruột thịt với Pháp ngữ main, bàn tay, Tây Ban Nha ngữ manos, bàn tay, Anh ngữmanual, thuộc về bàn tay… mà, mò ruột thịt với mần. TTL mà, mò liên hệ với gốc động từ ma-, ma-n (to do, make) của tộc thổ dân Úc Mangarayi. . Đứng đắn TLL đắn liên hệ với DHa-n (to stand), đứng. . . . . . . Tóm lại TTL trong tiếng láy của Việt ngữ đều có nghĩa, có thể còn giữ nguyên nghĩa của từ gốc, từ mẹ mà nó láy hay đã láy đi, lai đi, lái đi. TTL có thể là một từ cổ Việt mà ngày nay ta còn nhận ra và biết nghĩa hay còn bị chôn vùi ở đâu đó hoặc là một từ của một ngôn ngữ loài người nhất là ở những chi ngôn ngữ ruột thịt với Việt ngữ. Qua sự kiện TTL có mặt trong tất cả ngôn ngữ loài người cho thấy tiếng Việt là một ngôn ngữ tối cổ hay liên hệ với một ngôn ngữ tối cổ, nằm ngay gốc của cây ngôn ngữ loài người. Ta có thể dùng từ láy trong công cuộc truy tìm nguồn gốc ngôn ngữ loài người (xem Việt Ngữ và Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người). Tôi dựa vào khám phá này để mò tìm nguồn gốc nghĩa ngữ của cổ ngữ Việt và ngôn ngữ loài người, tìm sự liên hệ giữa Việt ngữ và ngôn ngữ loài người, để học ngôn ngữ loài người một cách cặn kẽ, dễ hiểu và dễ nhớ, dùng Việt ngữ giải thích ngôn ngữ loài người và ngược lại…
  18. Lúc đảo chính Diệm Nhu thì tòa nhà này chưa xây xong longphi ơi! Những lam như thế này trong PT gọi là "lòi (giơ) xương". Thân mến.
  19. 2 người này mạng ko xung theo Lạc Thư Hoa Giáp, vợ mạng Hỏa sinh chồng mạng Thổ. Sinh con năm Quý Tỵ 2013, Kỷ Hợi 2019 sinh con út!
  20. Yêu nhau cứ lấy! Quan trọng là năm sinh con!
  21. Đệ tử đi 1 vòng và chụp từ hồi trước Tết, nhưng hơi lười nên chưa post lên, để đệ tử tìm lại rồi đưa vào lớp học cho ACE mổ xẻ!
  22. Tấm ảnh này hay hay nè nah :D
  23. Trước giờ Giang hồ hay đồn rằng Thế Giới sợ nhất VN vì VN "nói 1 đường, làm 1 nẻo". Bây giờ thì Trung Quốc cũng vậy .
  24. Có 1 sai lầm về PT trong phòng làm việc của ông NVT, đó là để 1 bức tranh vẽ cảnh biển đằng sau ghế ngôi, đó là cảnh quê hương của ông (sẽ bổ sung hình sau), bức tranh này vẫn còn trưng bày ở Dinh Độc Lập.
×
×
  • Create New...