Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Luân

Quản trị Diễn Đàn
  • Số nội dung

    7118
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    134

Everything posted by Thiên Luân

  1. 2 bên phản đối vì lý do gì? Theo Luận Tuổi Lạc Việt 2 tuổi này Bính sinh Mậu, mạng Thủy nam sinh Mộc nữ, Dần và Thìn ko có gì phải lo cả. Tại sao phản đối nhỉ? Nhà này người Chồng sẽ rất chiều vợ. Thân mến.
  2. Nếu bạn đã đọc ở diễn đàn này rồi, thì bạn cũng nên biết rằng tuổi vợ chồng chỉ là 1 yếu tố tương tác, yêu nhau cứ lấy. Có con thì tuổi con sẽ quyết định. Năm 2013 hãy cưới, tuổi Nam đang bị Tam Tai. Sinh con các năm : Giáp Ngọ 2014. Ất Mùi 2015, Kỷ Hợi 2019. Thân mến.
  3. Vợ chồng mạng Thủy, ko nên sinh con 2013 mạng Hỏa. Anh chị nên sinh con năm Giáp Ngọ 2014 hoặc Bính Thân 2016! Thân mến.
  4. Lý do hết sức nhảm nhí và vô duyên nhỉ? Hỏi gia đình bên ấy là cưới vợ cho con trai hay cho bố vậy?
  5. Đinh hợp Nhâm, Nhâm được Tân sinh, mạng con Mộc sinh Hỏa mẹ, hỏa mẹ sinh THổ cha, làm sao mà khắc được. Ngũ hành tham sinh, ko tham khắc.
  6. Thế nào gọi là "đáng được lưu tâm"??? Chí ít bạn nên mô tả thêm về bản thân để các bác kiểm chứng rồi mới có thể lưu tâm được!
  7. Sinh Nhâm Thìn thì con sẽ bệnh nhiều do bị mạng mẹ và bà nội khắc (thủy khắc hỏa). Sinh con gái thì đỡ bệnh hơn con trai. Nên sinh con năm Ất Mùi 2015, con út Kỷ Hợi 2019 thì mới tốt! Thân mến.
  8. Thổ sinh Kim chứ nhi?
  9. Ông Tâm thừa nhận đi đánh bạc cùng bà Liễu Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy khối cơ quan cấp tỉnh Long An đã đề nghị khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Nguyễn Văn Tâm (Chi ủy viên chi bộ 3, nguyên đội trưởng Đội QLTT số 5). Liên quan đến vụ án nhà báo Lê Hoàng Hùng (phóng viên báo Người lao động) bị sát hại, Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Long An đã đềnghị khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Nguyễn Văn Tâm. Ngày 13/7, ông Dương Ngọc Ẩn, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Long An, cho biết trên báo Pháp luật TP. HCM,tổ kiểm tra của cơ quan này vừa thông qua dự thảo kết luận kiểm tra dấu hiệu vi phạm kỷ luật về mặt Đảng đối với một số cán bộ Chi cục QLTT tỉnh. Theo đó, ông Nguyễn Văn Tâm (Chi ủy viên chi bộ3, nguyên Đội trưởng Đội QLTT số 5) bị đề nghị khai trừ ra khỏi Đảng. Nguyên nhân là do ông Tâm đã suy thoái về tư tưởng, đạo đức lối sống, quan hệ bất chính với bà Trần Thúy Liễu (vợ cố nhà báo Hoàng Hùng, bị can thừa nhận phóng hỏa giết chồng); tham gia đánh bạc qua biên giới làm giảm uy tín cán bộ, đảng viên, gây dư luận xấu cho tổ chức. Ông Nguyễn Văn Tâm Trước đó, ông Tâm cũng vừa bị Sở Công thương Long An cách chức Đội trưởng Quản lý thị trường số 5. Ngoài ra, Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Long An cũng đã thống nhất khiển trách về mặt Đảng, khiển trách về mặt chính quyền đối với một số cán bộ là đảng viên của Chi cục QLTT Long An do có nhiều sai phạm. Tổ kiểm tra đã đề xuất xử lý kỷ luật về mặt Đảng, cách chức chi ủy viên đối với ông Cao Văn Hồng vì đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn mượn nợ của dân trên 120 triệu đồng, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ông Hồng cũng bị đề nghị cách chức đội trưởng Đội QLTT số 3. 4 cán bộ quản lý thị trường là các ông Nguyễn Kiên Cường, Nguyễn Vinh Sang, Đào Quốc Cường, Hà Văn Biển cũng bị đề nghị kỷ luật khiển trách do sai phạm trong công tác quản lý tài chính, tham gia đá gà… Những đề xuất trên sẽ được Ban Thường vụ Đảng ủy khối cơ quan cấp tỉnh xem xét để ra quyết định xử lý trong tháng 7 này. Mở rộng điều tra vụ nhà báo Hoàng Hùng bị đốt khi đang ngủ tại nhà riêng vào ngày 19/1, cơ quan chức năng tỉnh Long An đã xác định có 6 cán bộ sai phạm.Trong đó, ông Nguyễn Văn Tâm đã thừa nhận cùng bà Trần Thúy Liễu sang Campuchia đánh bạc. Thu Hằng (Tổng hợp)
  10. Muốn chữa được bệnh thì phải biết gốc bệnh từ đâu. Ra mồ hôi tay chân nhiều có khả năng liên quan đến thận. Nếu bạn hay bị mỏi lưng, khả năng tập trung kém, ko cảm thấy thoải mái đầu óc mặc dù ăn ngủ đầy đủ. Nếu có các triệu chứng này thì thận âm suy, cần phải dưỡng thận âm!
  11. Hiện tại người ta vẫn chưa thống nhất với nhau là nên lấy lập xuân hay lấy ngày 1/1 âm lịch làm mốc để tính tuổi âm lịch! Diễn đàn cũng chưa có nhiều trường hợp để kiểm chứng, do các bạn lên đây tư vấn hiếm khi rơi vào trường hợp như bạn. Theo ý TL thì thì bạn nên đưa thêm tuổi cha mẹ, anh chị em trong nhà hoặc vợ con! Diễn đàn sẽ xem tương quan tuổi theo Luận Tuổi Lạc Việt, sau đó bạn kiểm chứng lại thì tốt hơn vì mỗi tuổi mỗi mạng sẽ có tương tác khác nhau với cha mẹ, anh chị em và vợ con! Thân mến.
  12. Dài quá, tốt nhất là ko dính tới cờ bạc
  13. Có thể hiểu như vậy! Thật ra vật tròn thì có tác dụng tụ khí đó em!
  14. Phát hiện mới về gốc tích Lý Thái Tổ - Nguồn gốc của vị vua nhà mở đầu triều Lý - Lý Công Uẩn từ xưa đến nay đã làm tốn khá nhiều công sức của các nhà sử học. Theo một số ý kiến thì mẹ ông người Bắc Ninh, bố ông là quốc sư Vạn Hạnh. Thế nhưng, trong một lần nói chuyện với Nhà nghiên cứu (NNC) văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ, giảng viên trường ĐHKHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội, tình cờ ông có nhắc đến một phát hiện mới liên quan đến gốc tích của vua Lý Công Uẩn được ghi trên một tấm bia có tên "Tùng san Hoa Lâm Tam bảo thị bi tịch minh". Phát hiện này là một nguồn tư liệu mới đối với giới sử học vì nó ít nhiều sẽ giúp vén bức màn bí mật che phủ xuất xứ của vị vua huyền thoại. "Tùng san Hoa Lâm Tam bảo thị bi tịch minh" NNC Nguyễn Hùng Vĩ và một số đồng nghiệp của mình đã phát hiện một tấm bia trên đó có ghi chép lại những thông tin chính xác về quê quán, địa điểm, tên húy của ông bà nội vua Lý Công Uẩn. Tấm bia có một số đặc điểm: Hoa văn trên bia mặt trước khắc lưỡng long triều nhật, mặt trời tỏa 10 tia sáng hình ngọn lửa thẳng, rực rỡ. Diềm trên đầu bia cũng hoa văn lửa xếp vòng cung. Hai diềm bên khắc hình chim. Ngoài ra còn có cả các hình hoa dây và hoa cúc, diềm dưới là các cánh sen cách điệu kết thành băng ngang. Tên bia: "Tùng san Hoa Lâm Tam bảo thị bi tịch minh" được khắc theo lối chữ khải, phong cách mềm mại, đóng khung. Tấm bia Hoa Lâm Tam Bảo thị hiện đang được lưu tại Viện Hán Nôm. Mặt sau phía trên bia khắc đôi phượng chầu mặt trời dáng uyển chuyển, sinh động. Mặt trời tỏa 10 ngọn lửa sáng cong lên. Diềm hai bên và diềm trán khắc hình chim các tư thế, hoa sen, hoa dây, hoa cúc, phượng hoàng. Diềm phía dưới chân là cánh hoa sen kết thành băng ngang. Hoa văn sắc nét, chạm trổ công phu, tỉ mỉ. Người soạn họ Đồng, tên hiệu Chuyết Phu, quê quán thuộc xã Thiết Úng huyện Đông Ngàn, chức vị Tán trị thừa chính sứ các xứ Sơn Tây chí sĩ.Có hai người viết chữ. Một người có tên là Nguyễn Sĩ Duyên, học vị Trúng thư toán khoa Mậu Dần, hoa văn học sinh, chức vị tước Văn Lâm nam. Người kia có tên Đỗ Văn Vị, chức vị Đô lại Bộ công, tước Văn Hương nam. Phần mặt trước của tấm bia có nói đến việc trùng tu chợ Tam Bảo. Chợ này nằm trên quê hương nổi tiếng của ông bà nội Thánh Thiện thuộc triều nhà Lý trước đây. Lăng miếu của bố và mẹ Lý Công Uẩn nằm ở phía đông chợ, chùa Trinh Tiết nằm ở phía tây chợ, phía bắc là Tam Đảo, Sóc Sơn, phía nam là sông Đuống, giữa chợ có đường cái quan qua lại, người người hội tụ. Cha mẹ đẻ của Lý Công Uẩn là ai? Theo NNC Nguyễn Hùng Vĩ thì đây là phát hiện quan trọng giúp cho việc xác định lý lịch Lý Công Uẩn một cách minh tường hơn, bổ sung một tư liệu quí vào chính sử. Từ những thông tin trên bia Tam Bảo này cộng với các nguồn sử liệu có thể giúp các nhà nghiên cứu tìm ra được cha mẹ đẻ của Lý Công Uẩn là ai. Tuy nhiên, tạm thời có thể đưa ra các giả thuyết như: Cha Lý Công Uẩn đa thê và thánh mẫu là người vợ muộn của ông. Điều này được suy luận từ việc năm 1009, Lý Công Uẩn phong cho con Vũ Uy vương là Trung Hiển làm Thái úy. Lúc đó, Lý Công Uẩn 35 tuổi. Một người phụ trách quân đội như Thái úy thì tuổi đời cũng phải xấp xỉ Lý Công Uẩn. Vậy tại sao Lý Công Uẩn lại còn người này vì ngoài người này ra thì vẫn còn rất nhiều người khác ủng hộ ông. Ngay trong nội tộc cũng nhiều người lớn tuổi, từng trải. Chắc chắn người anh đó phải là con bà cả, bà hai, nếu có ai là em thì cũng là em con chú, có thể lớn tuổi hơn cả Lý Công Uẩn. Việc một hào trưởng, lý gia thời xưa năm thê bảy thiếp là chuyện hết sức bình thường. Ngoài ra, còn một số giả thiết khác dựa vào chính sử như Dương Lôi là thang mộc ấp của nhà Lý, tức là đất được vua ban... Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa thì người dân làng Dương Lôi và làng Hoa Lâm, nay là phường Tân Hồng thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh rất tự hào vì đã có quan hệ thông gia tầm cỡ dân tộc, lịch sử trong những trang đầu của quốc gia Đại Việt. Tấm bia quý giá Theo NNC Nguyễn Hùng Vĩ thì Bia Hoa Lâm có niên đại định bản sớm nhất, ghi chép trực tiếp những thông tin có liên quan đến việc xác định gốc tích Lý Công Uẩn. Tuy nhiên, tấm bia này đã được nằm trong kho của viện Viễn Đông Bắc Cổ và sau này là Viện Hán Nôm suốt một thế kỷ qua. Giá trị của tấm bia thể hiện ở chỗ nó được viết từ năm 1656 tức là (năm Thịnh Đức thứ 4) bởi những người có học vị và tước vị, đều đã và đang thuộc bộ máy của triều đình phong kiến lúc bấy giờ, họ chứng kiến thực tế và có tri thức sử học. Hơn nữa, chắc chắn họ có sự đồng thuận của nhiều trí thức khác khi tham gia trùng tu chợ Hoa Lâm lúc đó. Người soạn là Đồng Nhân Phái người xã Thiết Úng, huyện Đông Ngàn, nay là thôn Thiết Úng xã Vân Hà, Hà Nội, sau ông đổi tên là Đồng Chính Phái. Năm 48 tuổi đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ khoa thi Mậu Thìn niên hiệu Vĩnh Tộ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Làm quan đến chức Công bộ Hữu Thị lang. Khi mất, được thăng Thượng thư. Dù hơn 19 tuổi nhưng ông đỗ cùng khoa và cùng hạng với nhà sử học nổi tiếng Phạm Công Trứ, người sẽ tổ chức hoàn thành bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư bản in sớm nhất hiện còn. Là đồng liêu với một loạt nhà sử học nổi tiếng thời bấy giờ trong đời Lê Thần Tông, chắc chắn tri thức sử học của Đồng Nhân Phái là tin cậy được. Hơn nữa, bia mang tên "trùng san" gợi ý cho chúng ta sẽ rằng có một tấm bia khác xưa hơn nữa với nội dung tương tự - NNC Nguyễn Hùng Vĩ cho biết. Quách Dương (ghi)
  15. Mối đe dọa của một đất nước thừa đàn ông - Các nghiên cứu về tình trạng "quang côn" (guang gun - gậy trơ trụi, những người đàn ông không lập được gia đình) ở Trung Quốc cho rằng đây là đường dẫn tới tội phạm, giặc cướp, bất ổn, ở quốc nội và gây chiến. Chuông báo động từ Nga Dưới đầu đề “Báo chí xôn xao về mất cân bằng giới tính ở Trung quốc”(1) báo của ngành nhân khẩu học ở Nga năm 2005 giới thiệu một tổng quan về tình trạng này ở Trung Quốc, với những cảnh báo mà hôm nay nhìn lại, tỏ ra chính xác(2). Nhiều học giả Nga (và phương Tây) đổ lỗi cho quốc sách “mỗi gia đình chỉ sinh một con” mà chính quyền Trung Quốc đã ban hành năm 1979 là nguyên nhân gây ra tình trạng này. Chính sách ấy khá cứng rắn: nếu sinh con thứ hai, gia đình sẽ bị phạt nặng. Bắc Kinh dự kiến rằng tới năm 2000, dân số Trung quốc sẽ chỉ lên tới 1,2 tỉ người. (Tuy nhiên, vào khoảng giao thừa thiên nhiên kỷ mới, dân Đại lục đã lên tới 1,3 tỷ nhân khẩu). Dương thịnh song hành với tội phạm Tạp chí Trung Quốc Beijing Luntan năm 1997(3) cho biết, tình trạng thừa đàn ông đã trở thành đường dẫn cho các tội phạm như “cưỡng hôn, bắt cóc cô dâu, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, mua bán dâm, cưỡng hiếp …”. Mua bán, bắt cóc phụ nữ đã trở thành chuyện thường ngày ở nông thôn trong khi nạn mãi dâm hoành hành ở các đô thị. Mất cân bằng giới tính ở Trung Quốc năm 2000. Các vùng có màu đỏ đậm có tỷ lệ sinh đẻ là từ 130 đến trên 150 em trai sơ sinh trên 100 em gái. Tỷ lệ phạm tội đã tăng gấp ba lần trong 20 năm tính đến đầu năm 2004, với số tội phạm nghiêm trọng tiến gần đến con số một triệu được ghi nhận chỉ trong ba tháng đầu năm 2004. Đa số thủ phạm của các vụ trọng án là thanh niên độc thân và bất mãn về địa vị này của mình trong cộng đồng (4). Guang gun - mối đe dọa an ninh thế giới Năm 2002, Hãng thông tấn Lenta của Nga từng cảnh báo rằng, tình trạng thiếu đàn bà có thể khiến “Trung Quốc gây xung đột”, để “giải quyết nạn thừa đàn ông”(5). Các nhà Trung Quốc học phương Tây cũng đã nghiên cứu vấn đề này khá công phu. Năm 2004, NXB MIT Press xuất bản cuốn sách Nạn Guang gun: nguy cơ từ châu Á (‘Bare Branches’ and Danger in Asia (2004)(6) của Valerie Hudson và Andrea den Boer. Sách được giải Otis Dudley Duncan Award của Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ (ASA). Trong từ điển, Guang gun là đàn ông độc thân, cô đơn, ế vợ. Gun (côn) là cây gậy dùng để đánh nhau, guang (quang) là trần trụi. Tiếng Anh dịch thành Bare Branches, cành không lá, không đâm chồi nảy lộc, không hoa. Guang gun hay Bare branches hôm nay trở thành một thuật ngữ quốc tế chỉ tình trạng thừa đàn ông không đính hôn ở Trung Quốc đang ngày một gây lo âu cho an ninh toàn cầu(7). Chuyện gì sẽ xảy ra với một xã hội có quá nhiều đàn ông? Hudson và Boer biện luận rằng, về phương diện lịch sử, một tỷ lệ chênh lệch quá cao giữa đàn ông và đàn bà sẽ thành cò súng làm nổ bùng bạo lực. Phần lớn tội phạm có yếu tố bạo lực là do nam thanh niên không được ràng buộc ổn định về địa vị xã hội gây ra. Dù đây không phải là một quan hệ nhân - quả trực tiếp, nhưng xưa nay, sự dư thừa đàn ông thường có vai trò quyết định trong cách hành xử thiên về vũ lực trong cộng đồng. Các chính quyền thường xử lý tình trạng này bằng cách động viên số nam giới dư thừa vào các chiến dịch quân sự và các đại công trình có độ rủi ro cao. Sách Nạn Guang gun: nguy cơ từ châu Á phản ánh nỗi khổ, sự bế tắc của những Guang gun - những chàng trai nghèo không lập được gia đình. Nạn Guang gun có xuất phát điểm từ một truyền thống phân biệt đối xử do giới tính - một thực tại đã tước đoạt quyền sống của vô vàn bé gái ở Trung Quốc và một số các quốc gia châu Á khác. Các tác giả cho rằng nạn Guang gun đe doạ ổn định khu vực và an ninh thế giới trong thế kỷ 21. Sách của Hudson và Boer được xem là một công trình khoa học công phu, nghiêm túc, được sách báo về an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương trích dẫn thường xuyên. Các tác giả phương Tây khác cho rằng vẫn khá phổ biến tình trạng các em gái bị giết(8) trước khi chào đời (phá thai sau khi nhận biết được giới tính), hoặc thậm chí bị giết sau khi lọt lòng(9). Trận hồng thuỷ Guang gun Bài “Quá thừa đàn ông, thiếu đàn bà” trên báo Times(10) cho biết sách báo cũng đánh giá đội ngũ Guang gun ở châu Á là khoảng 110 triệu ở thời điểm giao thời giữa hai thiên niên kỷ. Trong bài “Thừa đàn ông - thiếu hoà bình” tác giả J. Power dẫn Thống kê dân số Trung Quốc năm 2009, cho hay đang có một sự thiếu cân bằng rất nghiêm trọng về tỷ lệ sinh đẻ: 117 bé trai so với 100 bé gái. Ở tỉnh Hải Nam tỷ lệ này là 135/100. Hiện nay, có tới 97% người chưa lập gia đình trong độ tuổi từ 28 – 49 là đàn ông(11). Các học giả cho hay các khu vực có màu đỏ rất sậm (tỉ lệ sinh đẻ là trên 150 bé trai/100 bé gái), đỏ sậm (tỷ lệ này là 140 - 150/100), đỏ (130 – 140), cũng như bức trang toàn cảnh về lệch cân bằng giới tính (skewed sex ratio) ở Trung Quốc vẫn ngày một xấu đi. Các bài viết đều cho rằng, tựa như trong lịch sử, các băng nhóm đi ăn cướp do thiếu đàn bà (womanless bandits) vẫn đang giăng một màn đêm u ám trên đất nước Trung Hoa hôm nay. Các cách giải quyết của Bắc Kinh vẫn khá “quẩn quanh”, cho những Guang gun này phục vụ trong các lực lượng cảnh sát để trị những Guang gun khác, hoặc đưa đi các vùng xa Bắc Kinh, Thượng Hải… để khỏi gây mất an ninh cho các đô thị; hoặc ngược lại đưa đi làm công một cách đại trà ở các nước khác, trong một quá trình về thực chất là di dân. Ngày càng có quan ngại về bất ổn do hàng vạn đàn ông “không gia đình” từ Trung Quốc trôi dạt khắp nơi. Nhưng như tác giả Paul Wiseman dự báo trên tờ USA Today(12) ngay từ đầu thế kỷ, là nếu Bắc Kinh vẫn không tìm được lối thoát cho tình trạng thừa đàn ông, sẽ vẫn phải đi vào chốn đoạn trường, là tìm kiếm xung đột với các nước láng giềng. Paul Wiseman và các tác giả khác đều cho rằng các biện pháp độc đoán buộc phải áp dụng nhằm khắc phục nạn Guang gun sẽ gây khó khăn cho Trung Hoa trong việc tiến tới nấc thang phát triển cao hơn(13). Nơi Guang gun nổi dậy nay lại đỏ sậm Nhìn vào bản đồ mất cân bằng giới tính ở Trung Quốc, ta như nghe thấy tiếng vọng của bài giảng thời còn học phổ thông về các cuộc nổi dậy lớn ở Trung Hoa nửa cuối thế kỷ 19. Thời đó có khoảng 25% đàn ông Trung Quốc không lấy được vợ . Để so sánh, các số liệu cho thấy đang dẫn tới cứ 5 người đàn ông Trung quốc thì một người không/chưa lập gia đình. Trận đánh của các Guang gun giữa thế kỷ 19 Tại các tỉnh nằm phía tây bắc bán đảo Hoa Đông (hiện chứa nhiều vệt màu đỏ sậm trên bản đồ mất cân bằng giới tính ở Trung Quốc) vào thời khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc từng đạt tới tỷ lệ khoảng 130 đàn ông trên 100 đàn bà. Các nhà Trung Quốc học như Hudson và Boer khẳng định rằng sự lệch cân bằng giới này đã bùng phát cuộc nổi loạn Niệm mà báo chí bằng nhiều thứ tiếng về chủ đề Guang gun đều nhắc đến.Trong suốt ba mươi năm từ giữa thế kỷ 19, khoảng 10 vạn Guang gun thuộc Niệm quân đã chiếm vùng chứa 6 triệu dân ở Hoài Bắc. Dù cuộc nổi dậy này bị dập tắt, sử gia cho rằng nó là một trong những yếu tố dẫn đến sự sụp đổ của triều đình Mãn Thanh về sau.
  16. TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG (Phần 2 và hết) Nguyễn Xuân Quang Ta thấy rất rõ các chim, thú biểu của Đại Tộc Việt, của Hùng Vương đều là những loài sống trong địa bàn rừng mưa, vùng sông biển nhiệt đới Đông Nam Á mà ở địa bàn của người Trung Hoa cổ ở phương Bắc không có. Những chim thú ngành mặt trời này đều có tên hàm nghĩa là nọc, vật nhọn (Việt, mặt trời, có gốc từ nọc, cọc, bộ phận sinh dục nam) giống như danh xưng của tổ tiên Lang, Hùng, của nòi giống của Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời thái dương dòng giống thần mặt trời Viêm Đế (cũng giống như người Inca con cháu thần mặt trời Inti). Họ Hồng Bàng Thế Gian. Theo duy dương họ Hồng Bàng hiểu giản dị theo người ít chữ thánh hiền là Họ Đỏ, Họ Mặt Trời, Họ Người Mặt Trời Xích Quỉ dòng thần mặt trời Viêm Đế (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt) có chim biểu là chim Khướng (Mường ngữ gọi loài chim có mũ sừng tức chim cắt), Khướng biến âm với Hán Việt Khương là Sừng. Viêm Đế có họ Khương nên có chim biểu là chim Khướng, chim (mỏ có mũ) sừng, chim cắt, chim rìu, chim Việt. Chim Cắt tên “chữ” là chim Hồng Hoàng. Dòng giống Lạc Hồng là con cháu hai ngành chim Lạc, ngành nước Lạc Long Quân (con ngỗng) và con chim Hồng, ngành Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ (chim cắt). Vì thế nếu hiểu họ Hồng Bàng theo chim biểu thì họ Hồng Bàng là Họ Chim Hồng (Hoàng), chim cắt, chim Khướng, chim Việt biểu tượng cho nhánh mặt trời Lửa thái dương. Như đã nói chim Cắt, chim Khướng, chim Việt còn thấy ghi khắc trong sử đồng trên trống Duy Tiên và ở đuôi thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ I. Như thế theo duy dương họ Hồng Bàng có một khuôn mặt là Họ Đỏ, Họ Mặt Trời thuộc dòng thần mặt trời Viêm Đế. Xích Quỉ Họ Hồng Bàng theo duy dương là họ Mặt Trời của Người Việt Mặt Trời rạng ngời thuộc giống nòi thần mặt trời Viêm Đế. Đây chính là Người Mặt Trời Xích Quỉ con dân của vua thế gian đầu tiên Kì Dương Vương của họ Hồng Bàng thế gian của Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời thái dương . Kì Dương Vương thế gian Lửa-Đất (dương thế) là vua đầu tiên của Đại Tộc Việt Xích Quỉ có cốt là con Hươu Đực Lộc Tục, là mặt trời thiên đỉnh (trên Trục Thế Giới). Xích Quỉ là Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời (Xích trong Xích Quỉ cùng nghĩa với Xích trong Xích Đạo, con đường tưởng tượng của quả đất trên đó mặt trời được cho là ở ngay trên đỉnh đầu, thiên đỉnh tức là mặt trời trên đỉnh Trục Thế Giới, Kì Dương Vương vua tổ của Người Mặt Trời Xích Quỉ) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Hình bóng Xích Quỉ còn thấy ghi lại trong sử đồng trên trống nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I. Ở hai bán viên âm dương của mặt trống này có hai nhóm người nhẩy múa. Cả hai nhóm đều có trang phục đầu giống nhau cho biết cùng một họ người. Trang phục đầu có hình chim có đường nét thẳng, có góc cạnh mang dương tính, mặt trời, trong có phụ đề chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình chấm vòng tròn. Theo duy dương chữ này có nghĩa là mặt trời sinh tạo. Người nhẩy múa trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Đây là những Người Mặt Trời thái dương đội lốt chim (giống như thấy trong văn hóa Aztec, The People of the Sun). Nhóm 6 người là nhánh mặt trời âm thái dương (số 6 là số lão âm, âm thái dương) và nhóm 7 người là nhánh mặt trời dương thái dương (số 7 là số lão dương, dương thái dương). Những người này là Người Mặt Trời rạng ngời, thái dương có một khuôn mặt là Xích Quỉ Người Mặt Trời, tổ tiên Người Việt Mặt Trời thái dương. …. Kì Dương Vương .Trống Kì Dương Vương Phú Xuyên Trống Phú Xuyên có bốn con mang gạc. Trống Phú Xuyên là trống biểu của Kì Dương Vương hay của tộc người dòng Kì Dương Vương. Như đã nói trống có bốn con hươu sủa mang gạc, kì dương thú biểu của Kì Dương Vương. Xin lưu ý số 4 là số Cấn (đất âm) đi với hươu cọc là loài thú bốn chân sống trên mặt đất biểu tượng cho đất rất chí lý. Điểm này thấy rõ qua sự kiện là Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt Cấn đất non (núi âm), đem 50 con lên núi nên theo truyền thuyết Mường, Ngu Cơ có biểu tượng là con Hươu Sao cái. Vành cò bay có 6 con. Sau cổ cò có viết chữ nòng nọc vòng tròn-que là chữ nọc tam giác delta có một nghĩa là núi tháp Li, Núi Trụ Thế Gian Kì Dương Vương. Hai vành ngoài biên là hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) trong có dấu chấm nọc dương cũng cho biết khuôn mặt núi đất dương thái dương mang tính chủ (xem thêm bài viết chi tiết về trống này). Trong những trống muộn về sau này, trống biểu của Kì Dương Vương hay của các tộc dòng Kì Dương Vương được diễn tả thể điệu hóa nhưng mộc mạc hơn ví dụ trên trống Thành Vân có những người thể điệu hóa thành người hươu nọc có trang phục đầu có hai sừng có chấm nọc dương: Trống Thành Vân. Người hươu cọc dĩ nhiên là tộc thuộc dòng Kì Dương Vương. Những còn cò bay có thân hình núi tháp nhọn gồm hai chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) lồng vào nhau. Cánh và thân tạo thành hình chữ T mang hình ảnh Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian, Núi Kì. Những con cò này là cò núi, đất dương Kì Dương Vương. Ở các trống thật muộn sau này thì giản dị và “bình dân học vụ” hơn nữa là trên mặt trống có hình tượng hươu nọc hai mấu mang gạc (thay vì có hình tượng cóc) như ở trống Mậu Dục: Trống Mậu Dục (xem thêm bài viết chi tiết về những trống này). Lạc Long Quân Ở cõi đất âm thế gian như đã biết Lạc Long Quân thế gian có một thú biểu là con Sấu Lạc, Sấu Dao, Sấu Việt như thấy trên trống Hòa Bình. Trống Hòa Bình. Trống Hòa Bình có mặt trời 12 nọc tia sáng. Số 12 là số Cấn tầng hai, thế gian (12=4+8). Cấn Mẹ Tổ Âu Cơ hôn phối với Cha Tổ Lạc Long Quân Chấn, có một khuôn mặt là Sấm (Chấn vi lôi), Mưa, Biển… Theo truyền thuyết thần Sấm có nhà ở đầu non tức Cấn. Lạc Long Quân sấm mưa có nhà ở đầu non, nơi Mẹ Tổ Âu Cơ ở. Có nhiều tác giả tán láo cho rằng Mẹ Tổ Âu Cơ và Cha Lạc Long Quân ly thân hay ly dị nên dân Việt bây giờ chia rẽ. Làm gì có chuyện Mẹ Tổ Âu Cơ và Lạc Long Quân ly thân ly dị. Hai người chia tay nhau đi hai ngả lên non xuống biển chỉ là một cách phân quyền để cai quản non sông đất nước liên bang Văn Lang của Đại Tộc Việt. Như đã thấy Lạc Long Quân thần sấm mưa có nhà ở đầu non. Ban ngày trời nắng, nước biển bốc hơi, chiều tối gặp lạnh hơi nước tụ lại thành mây bay về nhà đầu non. Chiều chiều Lạc Long Quân ở biển theo mây bay về với vợ Âu Cơ ở đầu non. Có đêm mây mưa với vợ. Sáng hôm sau, theo nước mưa đầu nguồn Lạc Long Quân lại đi ra biển. “Nước đi ra biển lại bay về nguồn” (Tản Đà). Non non nước nước… Mặt trống có vành chủ yếu có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ hai vòng tròn đồng tâm (thái âm, nước) có chấm nọc dương có một nghĩa là nước dương, nước-lửa, nước chuyển động, ở cõi trời là mưa, mưa-chớp (sấm) ở cõi thế gian là nước dương, nước chuyển động như biển ứng với Lạc Long Quân. …… Trống Hòa Bình là trống Lạc Long Quân hay của tộc người dòng Lạc Long Quân (xem thêm bài viết chi tiết về trống này). Lang Hùng, Hùng Vương Hùng Vương là di duệ của hai ngành nọc chim mẹ Âu Cơ Mặt Trời Viêm Đế và ngành nòng rắn cha Lạc Long Quân Không Gian Thần Nông nên mang dòng máu vũ trụ, tạo hóa, sinh tạo. Ở Cõi Trên có có chim biểu sinh tạo (nòng nọc, âm dương nhất thể) là con Cò. Hầu hết trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn đều có hình cò cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương là trống biểu của Hùng Vương. Liên bang Văn Lang có hai ngành nòng nọc, có nhiều đại tộc, tộc, chi tộc nên hình cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương khác nhau như đã thấy ở trên. Ví dụ con cò gió bờm phướn gió rất cách điệu thấy trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là con cò Gió, cò Lang chứ không phải là cò Lạc như các nhà khảo cổ học và các nhà làm văn hóa Việt Nam hiện nay gọi nhầm là như vậy. Điển hình xin dưa ra một ví dụ là trống Lang Hùng Quảng Xương. Xin văn tắt ở đây. Trống có mặt trời có 8 nọc tia sáng. .Trống Quảng Xương Số 8 là số Khôn thế gian (trong 8 chuỗi hay 8 tầng của 64 quẻ của Dịch những số Khôn là 0, 8,16, 24, 32, 40, 48, 56. Những số Khôn trong Dịch có giá trị Khôn như nhau chỉ khác ở tính chất nòng nọc, âm dương sinh tạo tùy theo ở tầng nào của Dịch ví dụ 0=32 như ta thấy trong nhiệt học 0 độ bách phân Celcius = 32 độ Farenheit). Mặt trời có khối sáng không thấy đĩa tròn hình cầu gai Càn đi với 8 nọc tia sáng nọc mũi tên là mặt trời Càn-Khôn thế gian. Mặt trời ở đây mang tính Càn-Khôn, sinh tạo, tạo hóa. Điểm này thấy rất rõ qua sự kiện là mặt trời nằm trong không gian có vỏ không gian là vòng tròn bao quanh đầu các nọc tia sáng. Vỏ này là một vành trống không mang nghĩa không gian Kkôn. Các khoảng không gian có sọc song song cũng mang nghĩa không gian Khôn. Vậy trống này là trống Càn-Khôn thái dương. Đây chính là bọc trứng Lang Hùng, là khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, lưỡng hợp của Lang Hùng ở ngành dương. Nếu hiểu theo duy dương họ mặt trời thì là mặt trời sinh tạo, tạo hóa. Chữ chấm vòng tròn chính là linh tự Ra của Ai Cập cổ có một nghĩa là mặt trời tạo hóa (Sun as Creator). Hùng Vương thế gian, lịch sử đội lốt Tổ Hùng tạo hóa. Ở Cõi Giữa, Trung Thế, trống này có mặt trời 8 nọc tia sáng là trống thế gian nên vành 3 chủ đạo diễn tả cảnh sinh hoạt của cõi người trên mặt đất. .Người Giữa hai ngôi nhà mỗi bên có hai nhóm người nhẩy múa. Cả hai nhóm người đều có chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ chấm-vòng tròn ở một bên mặt trông như con mắt. Theo duy dương chữ này có một nghĩa là mặt trời sinh tạo (ăn khớp với Lang, Hùng Vương) . Lưu ý ta thấy rõ một số chữ mặt trời này có những tia sáng tỏa ra. Người Mặt Trời Rạng Ngời có chữ chấm vòng tròn mặt trời có ánh sáng tỏa ra rạng ngời trên mặt. Do đó trăm phần trăm những người này là những Người Mặt Trời rạng ngời. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt những Người Mặt Trời rạng ngời này là những Lang, những Hùng Vương mặt trời, tổ tiên của Xích Quỉ, Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời, Người Việt Mặt Trời Rạng Ngời. Thật vậy, những người này trông rất trai tráng, trẻ trung với thân hình vạm vỡ mang hình ành của các Lang, các Hùng trai trẻ. Ta thấy rõ có hai chi tộc người. Một tộc người ở trần truồng và tộc người kia có mặc váy. Chi tộc trần truồng thuộc tộc nước, tộc rắn (ở trần truồng là tộc nước, thuộc phía âm nước cũng thấy ở hai con thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I). Giải dài buông xuống phía sau trang phục đầu hình dòng nước chẩy giữa hai viền bờ tô đậm trông rất kiên cố như cản không cho nước tràn ra, trông như một dòng nước từ trên cao, trên trời, trên núi, trên nguồn chẩy xuống thành suối thành sông chảy ra biển. Phần trên trang phuc đầu có thể là hình đầu rắn có sừng. Tộc người Rắn, Nước, Mặt Trời-Nước. Cả trang phục đầu có thể diễn tả hình rắn nọc (có sừng) tiếng cổ gọi là con dải (rắn trông như dải dây) thể điệu hóa biểu tượng cho nước dương, mặt trời-nước. Dù gì đi nữa thì duy chỉ yếu tố ở trần truồng cũng đủ cho biết đây là tộc nước, tộc mặt trời-nước. Tộc người mặc váy tỏa ra hai bên hình cánh chim, đầu đội trang phục đầu hình đầu chim có mỏ và có mũ sừng giống chim cắt, chim rìu, chim Việt, thuộc tộc lửa, đất, vùng đất cao, tộc chim. Tộc người Chim, Lửa, Mặt Trời-Lửa. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, tộc người nước trai tráng vạm vỡ là nhánh 50 Lang theo Cha Lạc Long Quân Rắn-Nước ngành Thần Nông xuống biển. Tộc người Lửa-Chim cắt có mũ sừng là nhánh 50 Lang theo Mẹ Tổ Âu Cơ Chim Lửa ngành Viêm Đế lên núi. Thêm vào đó tên những người này cũng được “xâm” lên người. Ta thấy rõ trên người có những chữ nọc que (ở những người nước trần truồng chữ được viết trên lưng hay ở bên cạnh sườn tức phía âm, trong khi ở những người chim, chữ nọc được viết ở trước ngực tức phía dương). Nọc que là bộ phận sinh dục nam, đực (Hùng), con trai (Lang), dương (có một nghĩa là mặt trời), vật nhọn (Việt). Như thế người trên trống Quảng Xương là Lang, Hùng, Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời rạng ngời thuộc hai nhánh chim-rắn, Tiên Rồng. .Nhà Trống chỉ có hai căn nhà nọc, nhà mặt trời. Nhà này là nhà nọc truyền thống đầu mái có mũi đao, cọc nhọn. Không có nhà nòng. Như thế trống này là trống biểu của phía nọc nam. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây rõ như ban ngày là trống biểu của 100 Lang Hùng (bọc trứng chỉ sinh ra một trăm con trai, chỉ nói về phía nọc dương, di thể chim trong bọc trứng chim mang tính chủ) không có con gái Mẹ Nàng nên không có nhà nòng mái vòm không gian như thường thấy trên các trống khác có cả hai loại nhà nòng nọc, âm dương. Xin lưu ý Một lần nữa sử đồng ở đây cho thấy ta phải hiểu và diễn dịch bọc trứng của Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra toàn con trai Lang là các Lang ứng với tròng đỏ mặt trời của Trứng Vũ Trụ. Phải hiểu ngầm phần còn lại là cái bọc tròng trắng không gian của Trứng Vũ Trụ ứng với các mẹ nàng. Truyền thuyết bọc trứng chim nở ra toàn là Lang Hùng phải hiểu là chỉ nói tới ngành chim, theo duy dương di thể chim trong bọc trứng chim mang tính chủ. Nhà nọc ở đây có hình ‘hình trụ’ ứng với các nọc Lang, bốn đầu mái cong mũi đao, hình nọc nhọn, có hình mặt trời. Bốn hình mặt trời ở bốn góc mái nhà biểu tượng cho Bốn Tộc Người Mặt Trời. Đây là nhà diễn tả nhà nọc, nhà mặt trời, đền tổ mặt trời của họ mặt trời có bốn đại tộc (tứ dân ở bốn phương) người mặt trời ứng với Mặt Trời Ánh Sáng Đế Minh, Mặt Trời Đất Kì Dương Vương, Mặt Trời Nước Lạc Long Quân và Mặt Trời Gió Hùng Vương của Đại Tộc Việt mặt trời của họ thần mặt trời Viêm Đế. Điểm này được xác thực đúng một trăm phần trăm là nhà ở trống này có hình mặt trời ở hai bên cửa mà các ngôi nhà nọc trên những trống đồng âm dương khác không thấy có mặt trời. Một ngôi nhà nọc hai bên cửa có hai hình mặt trời. Ở đây hiển nhiên trăm phần trăm ngôi nhà nọc là nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời. Đi ngược dòng thời gian trở lên, hai căn nhà Nọc mặt trời này cho thấy rõ những căn nhà nọc trên những trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn cổ đại hơn trống Quảng Xương mặc dù không có hình mặt trời cũng là những ngôi nhà mặt trời, thờ phương mặt trời. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là những ngôi nhà nọc, nhà mặt trời, thờ phượng thần mặt trời Viêm Đế, thờ phượng Hùng Vương, vua mặt trời của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời. Nhà mặt trời này có di duệ là nhà Lang, nhà đình, nhà phái nam trăm phần trăm của chúng ta ngày nay. Xin hãy trả lại ý nghĩa nguồn cội mặt trời cho các ngôi nhà Lang, nhà đình của chúng ta ngày nay. Sử đồng còn khắc ghi rõ rành rành ở đây. Tóm lại nhà trên trống Quảng Xương nói chung là nhà nọc mặt trời của đại tộc Việt Người Mặt Trời thái dương, con cháu của các Lang, Hùng Vương Mặt Trời. Những trống chỉ có nhà nọc như trống Quảng Xương này chỉ là trống biểu của một ngành và những trống đồng có đủ cả nhà nòng và nhà nọc như trống Hoàng Hạ (có mặt trời 16 nọc tia sáng cùng nhóm trống Càn-Khôn với trống Quảng Xương), Ngọc Lũ I… là những trống đồng mang ý nghĩa biểu tượng lưỡng hợp âm dương (cho dù là lưỡng hợp âm dương theo duy dương) biểu tượng cho cả họ. Xin Lưu Tâm Điểm quan trọng nhất và quí giá nhất ở đây là sự hiện diện của những hình mặt trời rạng ngời ánh sáng ở hai bên cửa ngôi nhà. Sự có mặt của những hình mặt trời ở các căn nhà nọc trên trống này xác quyết rằng những ngôi nhà nọc trên trống đồng âm dương là những Ngôi Nhà Mặt Trời, là những ngôi nhà thờ phượng mặt trời. Đây là nguyên thể của các đền thờ Mặt trời sau này. Những ngôi nhà nọc có hình mặt trời này cung cấp một dữ kiện kiên cố, nếu đi ngược dòng thời gian lên, ta có thể vững tin là những ngôi nhà nọc, nhà dương trên trống đồng âm dương là những ngôi nhà thờ phượng mặt trời của ngành nọc. Những người ở trong loại nhà này là những người đang thực hiện những giáo vụ liên hệ tới mặt trời, thờ phương mặt trời, không có chuyện đang chơi trò trẻ con “trồng nụ trồng hoa” gì đó như một số tác giả suy diễn ra. Bên cạnh đó những ngôi nhà nòng, nhà âm là những ngôi nhà thờ phượng không gian hay mặt trời nòng của ngành nòng của họ mặt trời thái dương. Những ngôi nhà mặt trời này cũng xác quyết rằng những người có xâm chữ nọc que trên người là những Người Mặt Trời (The People of the Sun), những người Việt Mặt Trời thái dương. .Chim Vành 4 của trống Quảng Xương là vành 6 chim bay. Đây là trống thế gian nên vành cò bay biểu tượng cho bầu trời thế gian. Ta đã biết cò là chim biểu của khí gió, bầu trời thế gian, một khuôn mặt biểu tượng sinh tạo của Hùng Vương có một khuôn mặt bầu trời thế gian, đội lốt bầu vũ trụ tạo hóa, sinh tạo. Sáu con cò với số 6 là số Tốn gió âm tầng 1 vũ trụ, bầu trời. Số 6 là lão âm, sinh tạo, số thành. Số 6 Tốn cũng hôn phối với Chấn số 9 ứng với Mẹ Tổ Âu Cơ Tốn 6 hôn phối với Lạc Long Quân Chấn 9 đẻ ra Hùng Vương có bản thể khí gió, bầu vũ trụ, bầu trời ứng với Khí gió dương Đoài vũ trụ số 3. Ta đã biết ma phương có số trục 3, 6, 9 đều có tổng số các chi số là 18, mã số DNA của Hùng Vương (xem bài viết Mã Số DNA của Hùng Vương). Như thế 6 con cò bay mang trọn biểu tượng cho Hùng Lang, Hùng Vương. Thật vậy cò có mỏ thon dài thanh tao mang tính dương của âm tức thiếu âm khí gió. Bờm thẳng hàng với mỏ gợi hình mũi tên bay trong gió, lướt gió. Cánh có những sọc ngang không gian và các chấm nọc dương tức Khôn dương khí gió. Tóm lại 6 cò bay cho biết trống thuộc đại tộc Cò Gió thế gian thuộc đại tộc cò bầu trời sinh tạo thế gian Hùng Vương ứng với các tên Bạch Hạc, Hạc Trì của Hùng Vương. .Vùng Nước Tang Trống Có sáu hình thuyền. Thuyền trên trống Quảng Xương (Nguyễn Văn Huyên). Rất tiếc chỉ có hình vẽ chi tiết một chiếc thuyền, còn năm thuyền kia không biết ra sao. Theo hình vẽ này, thuyền đã thể điệu hóa cùng cực (extremely stylized). Thuyền hình rắn nước. Đầu thuyền hình đầu rắn nước có bờm chim. Tôi gọi là rắn-chim nhất thể. Dạng Rắn-Chim nhất thể ở đây là dạng thể điệu hóa, thần thoại hóa của dạng lưỡng hợp Chim-Rắn còn ở dạng riêng rẽ là chim dương, lửa mỏ rìu nằm trong miệng rắn nước thấy ở các đầu thuyền trên Ngọc Lũ I và các trống họ hàng. Ở đây, chim bây giờ thể điệu hóa chỉ còn hình bờm chim gắn vào đầu rắn nước. Đầu linh thú nước có bờm chim ở đầu thuyền ở đây cũng mang biểu tượng Lưỡng Hợp Chim-Rắn Âu Cơ-Lạc Long Quân, nhưng nòng nọc, âm dương rằn-chim còn quyện vào nhau dưới dạng Trứng Vũ Trụ, Thái Cực, bọc trứng Lang Hùng. Đây chính là hình ảnh Rắn-Lông Chim Quetzal Coatl của Aztec và Kukucan của Maya. Cũng xin nhắc lại Aztec có nghĩa là Người Cò (Heron People). Ta thấy rất rõ Người Cò Aztec liên hệ với người Việt con cháu của Hùng Vương có một khuôn mặt biểu tượng Cò mà sử đồng của đại tộc Đông Sơn còn cho thấy hầu hết trên các trống đều có hình cò bay. Truyền thuyết của người Aztec cũng có một vị thần tổ là một người già râu dài khi chia tay thần hẹn sẽ trở về cứu giúp họ khi họ gặp nguy khốn. Truyền thuyết này cũng giống như truyền thuyết Lạc Long Quân của chúng ta. Đế quốc Aztec vì truyền thuyết này mà bị sụp đổ vào tay viễn chinh Tây Ban Nha Hernandez Cortes, dưới tay ông ta chỉ có mấy chục người (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Aztec là tộc Cò thiếu âm còn Maya là tộc thái âm (Maya có một nghĩa là Không, Mẹ). DNA đã chứng minh Maya có cùng nhóm di thể với người Việt (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Maya). Hình Rắn-Chim (Rồng Tiên) Lạc Long Quân-Âu Cơ ở đây sẽ giúp cho các nhà Aztec, Maya học hiểu rõ thêm và diễn giải đúng đắn hơn về Rắn Lông Chim Quetzal Coatl và Kukucan. Hiện nay hai vật tổ này đều được giải thích chưa tới và sai lệch. Ta thấy rõ người Cò Aztec có vật tổ Rắn-Lông Chim Quetzal Coatl ứng với Rắn-Chim Rồng-Tiên Lạc Long Quân-Âu Cơ. Người Việt Nam con cháu Hùng Vương có biểu tượng Cò còn ghi khắc trên hầu hết các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Hùng Vương thuộc dòng giống Rắn-Chim Rồng-Tiên Lạc Long Quân-Âu Cơ thấy rõ qua hình Chim-Rắn Tiên Rồng ở đầu mũi thuyền ở trống Lang Hùng Quảng Xuyên này. Người có mặt hình lục giác biểu tượng cho hư không, không gian sinh tạo giống như các trống hình lục giác để trên trụ cao biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) (hình lục giác là khuôn mặt sinh tạo dương của O, số 6 là số thành, sinh thành). Giữa mặt không gian lục giác có chữ chấm-vòng tròn mặt trời giống như con mắt. Người này có mặt là mặt trời-không gian, vũ trụ sinh tạo ứng với Lang Hùng. Những người ở thuyền này mặc váy hình hai cánh chim xòe ra và trang phục đầu hình đầu chim cắt có mũ sừng thể điệu hóa thuộc tộc Lửa-Chim Âu Cơ. Đặc biệt là những người tộc chim này trên người có đánh dấu các chấm nọc dương, lửa, mặt trời thay vì chữ nọc que cho biết rõ họ là người tộc lửa, mặt trời sinh tạo (chấm nọc là dạng nguyên tạo của nọc que) ứng với các Lang Hùng có một khuôn mặt sinh tạo. Có thể ở các con thuyền khác có những người trần truồng thuộc tộc Nước-Rằn Lạc Long Quân (rất tiếc không có hình vẽ). Những người mặt trời trên thuyền này tay cầm những vật biểu có hình rắn thể điệu hóa có thân uốn cong chữ S (hình bên trái của người đứng ở phía đuôi giống hình đầu rắn-chim ở mũi thuyền) và hình chim thể điệu hóa (hình bên phải). Đây là những vật biểu Chim-Rắn Tiên Rồng. Trăm phần trăm những người trên thuyền có mũi thuyền Rắn-Chim Rồng-Tiên này là con Rồng cháu Tiên. Tóm lại thuyền lưỡng hợp chim-rắn, người mặt trời-không gian, hình vật biểu chim rắn mà hai người đang cầm ăn khớp hoàn toàn với các Lang, Hùng Vương, với ngưới Việt con Rồng cháu Tiên. Tóm lại trống Quảng Xương là một trang sử đồng ghi khắc lại truyền thuyết Lang Hùng. (xem thêm bài viết chi tiết về trống này). Kết Luận Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, là trống biểu của Vũ Trụ giáo, là Việt Dịch đồng nòng nọc, là bộ Dịch đồng diễn tả bằng hình ảnh duy nhất của nhân loại, là bộ sử đồng của Đại Tộc Việt, là trống biểu của Hùng Vương. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn tuyệt nhiên không phải là trống có nguồn gốc Trung Hoa. Phụ Ghi Chữ Việt Trong buổi họp mặt văn hóa Phong Châu Mở Hội Tiên Rồng này có diễn giả Đỗ Ngọc Thành nhà nghiên cứu chữ Nôm cổ Việt (Nôm hiểu theo nghĩa là tiếng của người phương Nam của Đại Tộc Việt) đã góp ý cho biết là Việt trong tiếng Nôm cổ của Bách Việt có gốc là rực, sáng, mặt trời. Xin xem trong:http://newvietart.com/index4.667.html Điều này hỗ trợ vững chắc thêm cho những bài viết của tôi như Việt Là Gì?, như trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á… đã chứng minh Việt là Mặt Trời thái dương, Đại Tộc Việt là đại tộc Người Mặt Trời thái dương rạng ngời. Trống đồng của đại tộc Đông Sơn có mặt trời rực sáng ở tâm mặt trống (trống đồng nào không có mặt trời không phải là trống đồng của đại tộc Đông Sơn) là trống biểu của Người Việt Mặt Trời Rạng Ngời, rực sáng, con cháu của Hùng Vương, Vua Mặt Trời dòng thần Mặt Trời Viêm Đế (đây là lý do tôi gọi là Hừng Việt có nghĩa là Việt hừng rạng, hừng sáng nên mới đặt tên tác phẩm viết dựa vào tài liệu trong sử sách là Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Tài Liệu Tham Khảo 1.Nguyễn Xuân Quang bacsinguyenxuanquang.wordpress.com, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Tiếng Việt Huyền Diệu, Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc. 2.Salomon Frank, Introductory Essay: The Huarochiri Manuscript. In The Huarochiri Manuscript: A Testament of Ancient and Colonial Andean Religion,1991:20. Frank Salomon, annotations and introductory essay. George 1. Urioste, trans. Pp. 1-40. Austin: University of Texas Press. 3.Zuidema, Reiner Tom The Inca Kinship System: A New Theoretical View. In Andean Kinship and Marriage. Ralph Bolton and Enrique Mayer eds. Pp. 240-288. Washington, DC: American Anthropological Society. Special publication, 7, 1977:256 ).
  17. Tức là đám hỏi? rồi sinh con? đến năm 2013 cưới?
  18. NHỮNG CÂU CHUYỆN THÚ VỊ VỀ CÁC VỊ VUA VIỆT NAM - "Loại đàn bà tàn nhẫn, vì muốn ít con cái để giữ lấy nhiều của, hoặc ngại việc sinh đẻ, muốn tránh khó nhọc, thấy mình có thai, dùng kế cho sẩy thai, thương tổnh mệnh, làm hại luân thường, cùng là những kẻ phá thai cho người khác, đều phải tra xét, trị tội theo luật pháp". Dưới đây là những câu chuyện lý thú về các vị vua Việt Nam. An Dương Vương chọn đất đóng đô ở nơi… chó đẻ Theo Ngọc phả Đền Hùng: “…Thục An Dương Vương được nước, cảm thấy sự nhường ngôi của (Hùng) Duệ Vương công đức như trời đất, bèn dóng xe về núi Nghĩa Lĩnh, dựng giao đàn để quốc gia phụng tự, dựng hai cột đá ở giữa núi, chỉ lên trời mà khấn rằng: Nguyện có trời cao lồng lộng chứng giám xét soi, xin đời đời giữ gìn non sông bền vững và trông nom miếu vũ họ Hùng, sai lời thề sẽ bị trăng vùi gió dập…”. Sau đó An Dương Vương đã rời đô về đất Cổ Loa, xây dựng tòa thành 9 vòng theo hình xoáy ốc mà lịch sử, huyền tích thường gọi là thành Ốc (Loa thành), Cổ Loa thành hoặc bằng nhiều tên khác như Khả Lũ, Côn Lôn thành, Khả Lưu thành, Qủy Long thành, Tư Long thành, Trung Quy thành… Dã sử và truyền tụng ở địa phương cho biết, ban đầu An Dương Vương chọn đất Uy Nỗ (Tó) làm nơi xây dựng kinh đô, nhưng đàn chó của vua cứ kéo nhau sang đất Cổ Loa, trong đó có con chó quý tìm đến một khu gò đất lót ổ đẻ con, vì thế vua cho dời đô sang Cổ Loa, dựng cung điện ngay trên gò đất nơi chó đẻ. Với quan niệm “đất chó đẻ là đất quý” nên người dân Cổ Loa trước đây có tục làm nhà trên khu đất chó đẻ con. Đời Lý Thái Tổ dựng cung điện trên núi Nùng ở Thăng Long hay chuyện Trần Hưng Đạo chọn nơi dựng thái ấp ở Kiếp Bạc cũng đều gắn với việc chó tìm đất để lót ổ sinh con… Lý Anh Tông cho…10 vạn quân đi dẹp trộm cướp Lý Anh Tông là vị vua cho huy động một lực lượng đông nhất trong lịch sử để trấn áp tội phạm. Dưới triều ông trị vì, ngoài một số cuộc khởi nghĩa, nổi loạn còn xuất hiện tình trạng binh lính đào ngũ đi làm cướp, vì thế vào tháng 8 năm Qúy Mùi (1163) vua sai Phí Công Tín đem 10 vạn quân đi đánh dẹp các đảng cướp. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Bọn lính bỏ trốn, rủ nhau tụ họp thành bầy cướp bóc nhân dân trên đường bộ. Vua sai Phí Công Tín đem quân 10 vạn quân đi đánh dẹp yên được”. Huy động cả một lực lượng khổng lồ để trấn áp chứng tỏ tình trạng cướp bóc lúc bấy giờ rất nghiêm trọng nhưng may mắn là triều đình đã khắc phục được. Điều thú vị là người có công lớn trong việc trấn áp tội phạm không phải là một võ tướng mà ông xuất thân từ quan văn, về sau mới chuyển sang ban võ nắm binh quyền. Phí Công Tín làm quan dần dần từ chức Nội thường thị lên đến chức Tả ty, rồi Chư vệ, Binh bộ thượng thư, hàm Thái bảo và được Lý Anh Tông ban quốc tính (họ Lý). Trần Nhân Tông xem bói quốc gia đại sự Trong lịch sử có những vị vua rất không ưa chuyện bói toán, thuật số nhưng ngược lại có người thậm chí còn thưởng cả chức quan, tước vị cho người đã gieo quẻ, bói trúng, đó là trường hợp đặc biệt liên quan đến vua Trần Nhân Tông. Tháng 5 năm Kỷ Sửu (1289), sau chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 3, vua Trần Nhân Tông đã phong cho Phùng Sĩ Chu chức Hành Khiển, lý do là “khi người Nguyên sang, vua sai Sĩ Chu bói. Sĩ Chu đoán rằng: Thế nào cũng đại thắng! Vua mừng bảo: Nếu đúng như lời đoán, sẽ có trọng thưởng. Giặc yên, vua nói: Thiên tử không có nói đùa. Do đấy, có lệnh này” (Đại Việt sử ký toàn thư). Đến năm Nhâm Thìn (1292) vua lại phong cho một viên quan là Trần Thì Kiến giữ chức An phủ lộ Yên Khang (nay là đất Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình) cũng vì ông đã bói trúng. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho hay: “Trước đây, quân Nguyên vào cướp, vua sai Thì Kiến bói, được quẻ Dự biến sang quẻ Chấn, đoán là tốt. Mùa hạ năm sau, quân Nguyên đại bại, quả đúng như lời đoán. Mùa thu năm Trùng Hưng thứ 2 (1285), quân Nguyên lại vào cướp, vua lại sai bói, được quẻ Quan biến sang quẻ Hoán, Thì Kiến đoán: "Hoán nghĩa là tan, là điềm giặc tan". Sau quân Nguyên đến sông Bạch Đằng, quả nhiên tan chạy. Vua khen tài của Kiến, cho nên có lệnh này”. Vua Lê Thánh Tông cấm phá thai Trong bộ luật Hồng Đức do Lê Thánh Tông ban hành có nhiều quy định liên quan đến nghề y như trừng phạt thầy thuốc kém đức, vấn đề về pháp y... Đặc biệt, vị hoàng đế này còn ra lệnh cấm phá thai và ít nhất hai lần đã đề cập đến vấn đề này. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, vào tháng 3 năm Giáp Thìn (1484): “Ngày 12, nhắc lại việc đàn bà phá thai và phá thai cho người khác. Trước đây có lệnh cấm rằng: loại đàn bà tàn nhẫn, vì muốn ít con cái để giữ lấy nhiều của, hoặc ngại việc sinh đẻ, muốn tránh khó nhọc, thấy mình có thai, dùng kế cho sẩy thai, thương tổn tính mệnh, làm hại luân thường, cùng là những kẻ phá thai cho người khác, đều phải tra xét, trị tội theo luật pháp. Thế mà chúng vẫn coi là tờ giấy lộn, không đổi lỗi trước, vẫn theo thói cũ, tệ trước càng tăng, coi thường pháp luật, làm hư phong tục không gì hơn thế. Nay hãy nhắc rõ lệnh trước, răn cấm nghiêm hơn, nếu có người đàn bà nào như hạng nói trên mà mọi người đều biết, cùng là người chồng không biết răn cấm, đều trị tội theo luật pháp”. Vua Minh Mạng ban hành lệnh cấm thuốc phiện đầu tiên Khó có thể biết được thuốc phiện được sản xuất, sử dụng ở nước ta từ bao giờ nhưng dần dần đến những thập niên đầu thế kỷ 19, hoạt động buôn bán, sử dụng thuốc phiện đã gây ra những tiêu cực, nhất là khi người nước ngoài mang thứ hàng này vào bán kiếm lời ở nước ta. Trước tình hình đó vua Minh Mạng đã ban lệnh cấm đầu tiên nhằm ngăn cấm việc buôn bán, sử dụng thứ “thuốc độc” này. Sách Đại Nam thực lục chính biên cho biết vào tháng 7 năm Canh Thìn (1820) vua Minh Mạng ban dụ rằng: “Thuốc phiện là thứ thuốc độc từ ngoại quốc đem lại, những phường du côn lêu lổng mới hút cho là phong lưu, rồi chuyển thành thói quen, thường thường nghiện mà không thể bỏ được. Vì nó, quan bỏ cả chức vụ, dân thì phá hết sản nghiệp, thậm chí gầy yếu sinh bệnh tổn tạng, thương sinh. Vậy nên bài để nghiêm cấm đi”. “Lúc ấy, đình thần bàn tâu: Bất luận quan hay dân, ai nghiện hút, chứa, nấu hoặc bán thuốc phiện đều bị xử tội đồ; ai bắt được thì thưởng 20 lạng bạc; cha anh không ngăn cấm con em, xóng giềng biết mà không tố đều bị xử trượng…” (Đại Nam thực lục chính biên). Lời tấu nghị tâu lên, vua Minh Mạng sửa là quan chức có phạm tội này thì bị cách chức, còn các điều khác thì theo lời bàn của đại thần mà cho thi hành. Tiếp đó, vào các năm Giáp Thân (1824), Nhâm Thìn (1832), Kỷ Hợi (1839), vua Minh Mạng lại ban hành thêm quy định mới với hình phạt nghiêm khắc hơn đối với các tội trạng liên quan đến mua bán, sử dụng thuốc phiện, như người hút thuốc phiện bị phạt theo mức từ “đánh 100 trượng, phát lưu 3.000 dặm” đến “tịch thu toàn bộ gia sản”; người nấu, tàng trữ thuốc phiện, bị phạt theo mức từ “sung quân đi biên viễn” đến “xử giảo và tịch thu gia sản”... Đồng Khánh - vị vua đầu tiên được chụp ảnh Khi xem những bức ảnh do đoàn sứ bộ nước Đại Nam mang về từ Pháp, vua Tự Đức cho đây là một điều đáng để học hỏi bèn truyền lệnh chọn người xuất ngoại đi Tây học cách chụp ảnh, người đó là ông Trương Văn Sán. Đến tháng 8 năm Mậu Dần (1878) ông Sán từ Pháp về nước trình bày “tiểu phép chụp ảnh”, vua Tự Đức sai bộ Công dựng cho ông một ngôi nhà ở kinh đô để chụp ảnh. Mặc dù chủ trương cho học tập nghề chụp ảnh và ưu ái nghề này nhưng vua Tự Đức có lẽ do những quan niệm lạc hậu về hồn vía nên ông đã không chụp bức ảnh nào. Chỉ đến đời vua Đồng Khánh, khi đã bớt nặng nề về quan niệm, lại được Pháp đề nghị chụp ảnh để gửi về Pháp “cho biết mặt, tỏ rõ tình giao hiếu”, nên vua Đồng Khánh đã cho phép thợ ảnh chụp mình vào tháng Chạp năm Ất Dậu (tháng 1-1886). Bức ảnh vua Đồng Khánh sau đó được rửa làm 2 bản, một gửi về Pháp, một nhà vua giữ lại. Hai bức chân dung vua Đồng Khánh (chụp năm 1886) Sách Đại Nam thực lục chính biên chép rằng: “Niên hiệu Đồng Khánh, Ất Dậu, tháng 12. Bấy giờ Phó đô thống Pháp bàn với đô thống đại thần ủy phái quan họa đồ ấn ảnh Đại Pháp đến điện đình in chân dung của vua, gửi về nước Pháp để tỏ tình giao hiếu với nhau. Viện thần nói: Quốc tục phương Tây, lấy việc ấy làm trọng xin nên y theo. Mới chọn ngày quang tạnh, vua mặc mũ, áo đại triều, ngồi ở điện Văn Minh cho quan Pháp chụp ảnh. Rồi chuẩn cho in thành hai tấm ảnh, 1 tấm để lại dâng lên, 1 tấm gửi về Pháp”. Theo dữ liệu nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân, tấm ảnh này chụp vào mùa đông xứ Huế, trong điện Văn Minh không đủ ánh sáng nên tấm ảnh lịch sử của vua Đồng Khánh gửi cho chính phủ Pháp không rõ lắm. Vì thế về sau vua Đồng Khánh cho chụp lại, nhà vua mặc đại triều nhưng đầu lại quấn khăn chứ không đội mũ. Tấm ảnh thứ hai này rõ hơn và được phổ biến rộng trên sách báo từ đó đến nay. Qua ghi chép của sử sách có thể coi vua Đồng Khánh (1885-1888) là vị vua đầu tiên cho phép thợ ảnh chụp ảnh mình. Lê Thái Dũng
  19. TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG (Phần 1) Nguyễn Xuân Quang (Bài Nói Chuyện tại Buổi Họp Mặt Văn Hóa Phong Châu Mở Hội Tiên Rồng tại San José, Bắc Cali, Hoa Kỳ Ngày 12 Tháng 9, 2010) Kính thưa quí vị, Tôi đã đầu tư một phần đời để đi tìm cái căn cước Việt, cái sắc thái Việt , cái bản sắc Việt và đã viết ba bộ sách chính mà tôi gọi là ba bộ sử là Sử Sách, Sử Miệng và Sử Đồng. Quyển thứ nhất sử sách là quyển Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt dựa vào các tài liệu sử sách. Quyển thứ hai sử miệng là quyển Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt dựa vào các tài liệu văn chương truyền khẩu và truyền thuyết. Quyển thứ ba là sử đồng Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á dựa vào tài liệu khảo cổ học, chính yếu là trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Hôm nay xin nói qua bộ sử đồng này qua đề tài Trống Đồng Là Trống Biểu Của Hùng Vương. Kính thưa quí vị, Qua các tác phẩm Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc và các bài viết của tôi đăng trên blog bacsinguyenxuanquang.Wordpress.com chúng ta đã biết cốt lõi của văn hóa Việt là Vũ Trụ Tạo Sinh có tín ngưỡng là Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, chim-rắn, tiêu biểu là Hùng Vương có bản thể lưỡng hợp nòng nọc, âm dương có Mẹ là Chim-Lửa Âu Cơ và Cha Rắn-Nước Lạc Long Quân. Cốt lõi Chim-Rắn này ngày nay chúng ta gọi là Tiên Rồng như thấy qua cái tên của buổi họp mặt văn hóa hôm nay là Phong Châu Mở Hội Tiên Rồng. Và qua tác phẩm Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, ta cũng đã biết trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc, âm dương, trống biểu của Vũ Trụ giáo. Vì thế trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là bộ SỬ ĐỒNG của Đại Tộc Việt, là VIỆT DỊCH ĐỒNG. Hiển nhiên TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG rất hợp lý. TRỐNG ĐỒNG LÀ TRỐNG BIỂU CỦA HÙNG VƯƠNG. Trước hết ta hãy tìm hiểu tại sao trống đồng lại dùng làm trống biểu cho Hùng Vương? 1. Trống là biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng của ngành nọc đực, trống, dương, mặt trời. Mỗi một vị tù trưởng, một vị vua, một tộc, một đại tộc, một quốc gia đều chọn một biểu tượng. Hùng Vương cũng phải có một biểu tượng. Một trong những biểu tượng của Hùng Vương là trống đồng. Câu hỏi được đặt ra là tại sao Hùng Vương lại chọn trống đồng làm biểu tượng? Xin thưa: .1. Trống có một nghĩa là trống (đực như gà trống, trống mái) nên trống thờ là biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng của ngành nọc, đực, trống, dương, mặt trời (dương có một nghĩa là mặt trời) ví dụ điển hình là ở Nam Dương ngày nay có những ngôi nhà làng có để trống hay trang trí trống gọi là haus tambaran, là nhà trai tráng (bachelor’s house), nhà phái nam (men’s house). Những ngôi nhà trống này là di duệ, con cháu của những ngôi nhà nọc, nhà trống, nhà mặt trời thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trên trống của đại tộc Đông Sơn ngôi nhà nào có để trống hay bên cạnh có dàn trống là ngôi nhà nọc, nhà trống, nhà phái nam, nhà mặt trời (của cả hai ngành) (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Nhà lang, nhà đình của chúng ta giống như những ngôi nhà trống của một vài tộc ở Nam Dương, là con cháu của ngôi nhà nọc, nhà trống, nhà mặt trời còn thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương (nhà đình là nhà đinh, nhà tráng đinh, nhà con trai, nhà phái nam, nhà trống. Ngày xưa phụ nữ cấm không được bước chân vào đình). Ví dụ tiêu biểu nhất là tại đền Hùng Vương có để một chiếc trống đồng. Như thế đền Hùng Vương là nhà nọc, nhà trống, là tổ đình mặt trời, là đền thờ mặt trời, thờ các vua mặt trời dòng thần mặt trời Viêm Đế. Văn hóa trống là văn hóa của ngành nọc, trống, dương, mặt trời. Trong khi cồng là một thứ trống âm biểu tượng cho văn hóa của các tộc thuộc ngành âm (trống đồng lật ngược lên thành cái cồng nồi mang âm tính, xem dưới). Một số sắc tộc Tây Nguyên có văn hóa cồng chiêng. Họ có nguồn gốc là các tộc ngành nòng, nước từ Nam Đảo đi lên. Họ có truyền thuyết nói rằng cồng chiêng là do một người nữ sáng tạo ra. Trong mỗi bộ cồng bao giờ cũng có một chiếc cồng chính gọi là cồng Mẹ rồi mới đến cồng cha, cồng con. Ta thấy rất rõ các con trai của Hùng Vương gọi là Quan Lang là Chàng Lang (tử nôm Tầy Quan là Chàng), Lang là Chàng. Chàng có một nghĩa là chiếc chàng (chisel), chiếc đục, là đực, trống, dương, mặt trời (Quan Lang có chàng, có đục, Mẹ Nàng có nàng, có nang, có túi). Hùng Vương có Hùng có một nghĩa là đực, trống (thư hùng), mặt trời. Như thế tổng quát trống là trống biểu của các Lang Hùng và của Hùng Vương có một nghĩa là con trai, đực, trống, dương, mặt trời. Đặc biệt hơn trống đồng còn có điểm đặc biệt là bất cứ trống đồng nào cũng có mặt trời ở tâm trống. Trống đồng mà không có mặt trời ở tâm trống không phải là trống đồng của đại tộc Đông Sơn. Như thế trống đồng của đại tộc Đông Sơn hiển nhiên có một khuôn mặt biểu tượng cho ngành mặt trời. Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt mặt trời của các Lang Hùng và Hùng Vương dòng thần mặt trời Viêm Đế. Như thế trống đồng có mặt trời ở tâm trống của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của các Lang Hùng và Hùng Vương có một khuôn mặt là mặt trời. Tiến xa hơn, mặt trời ở tâm mặt trồng bao giờ cũng nằm trong vòng tròn không gian. Mặt trời-không gian là nòng nọc, âm dương, lưỡng hợp ăn khớp với bản thể lưỡng hợp chim-rắn của Hùng Vương. Tóm lại .Trống biểu tượng cho ngành trống (đực, hùng), cho Lang, Hùng. .Trống đồng có mặt trời là trống biểu của Lang, Hùng Vương dòng mặt trời Viêm Đế (Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế). .Trống đồng có mặt trời-không gian lưỡng hợp, nòng nọc, âm dương là trống biểu của Trăm Lang Hùng, của Hùng Vương, Vua Mặt Trời có bản thể lưỡng hợp chim-rắn dòng thần mặt trời Viêm Đế. Bằng chứng cụ thể nhất là tại đền Hùng Vương tại Vĩnh Phú cũng có để một chiếc trống đồng Trứng Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang loại I giống loại trống thùng (barrel drum) có hình trứng (biểu tượng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương) nhưng vẫn để hở đáy, giữ đúng theo truyền thống của trống đồng nòng nọc, âm dương (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Xin lưu ý Tại sao tại đền tổ Hùng lại để trống đồng hở đáy nòng nọc, âm dương hìh trứng (trống Trứng Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang loại I) giống loại trống thùngmà không để các trống đồng loại khác thường thấy hơn, quen thuộc hơn? Xin thưa vì Hùng Vương lưỡng hợp sinh ra từ bọc Trứng Vũ Trụ. Tiến xa thêm nữa, tất cả danh xưng của Đại Tộc Việt thuộc ngành trống, dương, mặt trời Hùng Vương dòng thần mặt trời Viêm Đế đều có nghĩa là nọc (bộ phận sinh dục nam, đực, trống, dương, mặt trời…). Ví dụ thần mặt trời Viêm Đế là «Trụ Nóng, Nọc Nóng» (Viêm là Nóng, Đế là Trụ nâng đỡ như đế hoa). Ta thấy khuôn mặt «Pillar of Fire» (Trụ Lửa một thứ Nọc Nóng) của Shiva Ấn giáo có biểu tượng là linga chính là một khuôn mặt của Viêm Đế. Đế Minh là cháu ba đời của thần mặt trời Viêm Đế. Đế Minh là Cọc Sáng, Cọc Ánh Sáng sinh ra vua tổ thế gian của Đại Tộc Việt là Kì Dương Vương. Kì Dương Vương có Kì là Ki, Si (cây) là Kèo (que, nọc) là đực, là trống, là mặt trời (xem bài viết Kẻ Sĩ); núi Kì là Núi Trụ thế gian ; Lạc Long Quân con của Kì Dương Vương có Lạc ,ngoài nghĩa là Nước dương, hiểu theo diện ngành mặt trời thái dương có nghĩa là Gạc (bắn lạc = bắn gạc). Gạc có một nghĩa là sừng (cọc nhọn) hàm nghĩa nọc, đực, trống (như hươu gạc, muông gạc, hươu sừng là hươu đực, hươu trống. Anh ngữ hart, hươu sừng, hươu đực, theo g=h (gồi = hồi), hart = gạc, Pháp ngữ garçon, con trai, có gar- = gạc). Lạc là gạc nước (ở dưới nước). Lạc Long Quân có thú biểu là con vật có sừng, có gạc sống được dưới nước như con trâu, con cá sấu (có vi sừng). Các tộc thuộc dòng sống dưới nước, trên thuyền như long nhân, long hộ có biểu tượng là con rắn lạc có gạc. Các tộc thuộc dòng đất có nước, ao đầm, ruộng nước như Lạc Việt có biểu tượng con cá gạc, con ngạc (Hán Việt là con cá sấu), con cá sấu mõm dao, rồng-cá sấu gạc mõm dao (xem dưới). Và Hùng Vương đã nói ở trên. Ngay cả từ Việt có nghĩa là cây vớt (con dao dài nhọn), là rìu (vật nhọn) cũng có nghĩa ruột thịt với nọc, trống, dương, mặt trời. Người Việt là Người Mặt Trời… ( xem Việt Là Gì ? Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Tóm lại tất cả danh xưng của Đại Tộc Việt đều có nghĩa là nọc (bộ phận sinh dục nam, đực, trống, dương, mặt trời…) thuộc ngành trống, dương, mặt trời Hùng Vương dòng thần mặt trời Viêm Đế. Hùng Vương, Đại Tộc Việt dùng trống làm biểu tượng thích hợp trăm phần trăm. Nếu còn ai chưa chịu tin, ta có thể kiểm chứng với những nền văn hóa thờ mặt trời nổi tiếng nhất thế giới: a. Các vị vua mặt trời Pharaohs của Ai Cập con cháu của thần mặt trời lưỡng hợp Ra, Re cổ đều có biểu tượng nọc, đực, nam… diễn tả bằng chòm râu dê biểu tượng cho dương tính, nam giới ở dưới cằm. Ngay cả nữ hoàng Hatshepsut thoán quyền tự xưng mình là một Pharaohs các hình tượng của bà cũng có chòm râu dê ở dưới cầm và vị Pharaoh vị thành niên Tutankhamun chết vào lúc khoảng mười hai tuổi cũng có chòm râu dê. Con dê sừng biểu tượng cho nọc, trống, đực, nam có chòm dâu dê có một khuôn mặt là biểu tượng cho thần mặt trời Ai Cập cổ. Các vua mặt trời Pharaohs đều là có biểu tượng nam giời tương đương với các Hùng Vương đều là những Lang những chàng. b. Các tộc thổ dân cổ Peru nói ngôn ngữ Quechua ở vùng núi Andes thờ mặt trời, trong đó có đế quốc Inca thờ thần mặt trời Inti ta thấy “In the Native American languages of the Andes, the concepts of ‘ancestor’, ‘lineage’ and ‘penis’ are linked linguistically and metaphorically” (Salomon 1991:20; Zuidema 1977:256) (Trong ngôn ngữ Thổ Dân Mỹ châu vùng Andes, quan niệm về “tổ tiên”, “nòi giống” và “dương vật” nối kết về ngôn ngữ và ẩn ý). Hai tác giả này không nhìn theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo nên dừng lại ở nghĩa nọc nguyên thủy là bộ phận sinh dục nam không chọn nghĩa mặt trời. Ở đây nọc, dương, penis phải lấy theo nghĩa biểu tượng triết thuyết là mặt trời mới chỉnh. Ta thấy họ giống hệt trăm phần trăm như chúng ta vì họ và chúng ta đều là Người Mặt Mặt Trời. Chúng ta có tổ tiên là Tổ Hùng có một nghĩa là Đực, Trống, bộ phận sinh dục nam, mặt trời thuộc giống Việt Người Mặt Trời con cháu Thần Mặt Trời Viêm Đế còn họ là con cháu thần mặt trời Inti. Tên tổ tiên nòi giống của họ liên hệ với penis hay có ẩn nghĩa penis giống hệt trăm phần trăm tất cả danh xưng của Đại Tộc Việt thuộc ngành trống, dương, mặt trời Hùng Vương dòng thần mặt trời Viêm Đế đều có nghĩa là nọc (bộ phận sinh dục nam, đực, trống, dương, mặt trời…). Ta thấy rất rõ như dưới ánh sáng mặt trời là Hùng Vương con cháu của thần mặt trời Viêm Đế giống trăm phần trăm với các vua mặt trời Pharaohs, con cháu của thần mặt trời Re, Ra và với các dòng vua Inca là con cháu thần mặt trời Inti. Ba nền văn hóa thờ mặt trời này đều có triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, có Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương như nhau (xem các bài viết Sự Tương Đồng Giữa Cổ Sử Việt Với Ai Cập Cổ và Với Inca). Xin lưu ý Qua những điều vừa thấy, ta phải hiểu, phải diễn dịch truyền thuyết bọc trứng nở ra trăm lang Hùng toàn là con trai là bọc Trứng Vũ Trụ, bọc Trứng không gian-mặt trời. Khi bọc trứng nở ra, tách ra (phân cực) làm hai, ta có phần thứ nhất là mặt trời, là nọc, là dương, là đực, là đục (chisel) là chàng (có một nghĩa là chisel), là Lang, là Hùng, là phái tu mi nam tử vua mặt trời Pharaohs, là các vua cọc, cược (penis), mặt trời của đế quốc mặt trời Inca và phần thứ hai là không gian, là nòng, là nang( bọc, túi), là nàng, là các mẹ nàng. Các Lang có chàng thuộc ngành nọc dương mặt trời. Các mẹ nàng có nang, có túi, có bọc thuộc ngành nòng không gian. Truyền thuyết ghi bọc trứng nở ra trăm lang Hùng toàn là con trai là chỉ có ý nói về phía ngành Lang Hùng, Hùng vương mặt trời mà thôi và cho biết các Lang là dòng mặt trời. Như thế trăm phần trăm Hùng Vương là vua mặt trời (đúng trăm phần trăm theo truyền thuyết Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế), Văn Lang là đế quốc mặt trời, Đại Tộc Việt là Đại Tộc Người Mặt Trời. Điểm này còn ghi khắc trong sử đồng của đại tộc Đông Sơn (xem dưới). Do đó trăm phần trăm trống đồng nòng nọc âm dương có hình mặt trời-không gian ở tâm trống là trống biểu của Vua Trống Hùng Vương mặt trời lưỡng hợp của Đại Tộc Việt dòng thần mặt trời Viêm Đế. 2. Trống đồng là trống nòng nọc, âm dương biểu tượng cho Hùng Vương lưỡng hợp. Không phải trống nào cũng dùng làm trống biểu cho Hùng Vương lưỡng hợp. Như đã nói phải là trống nòng nọc, âm dương. Về hình thức trống đồng có mặt đáy để hở là mặt âm và mặt đặc là mặt dương, trống đồng là trống nòng nọc, âm dương. Về nội dung, chủ thể của trống đồng là hình mặt trời ở tâm trống bao giờ cũng nằm trong không gian có vỏ là vòng tròn bao quanh đỉnh các nọc tia sáng, có nghĩa là trống đồng có mặt trời-không gian ở tâm trống. Trống đồng là trống mặt trời-không gian, trống vũ-trụ, trống Trứng Vũ Trụ, trống nòng nọc, âm dương. Điểm này ăn khớp với khuôn mặt lưỡng hợp chim-rắn Mẹ Âu Cơ- Cha Lạc Long Quân của các Lang Hùng, Hùng Vương. Như thế trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có một khuôn mặt là trống biểu của các Lang Hùng, Hùng Vương lưỡng hợp. Nếu nhìn theo duy dương ngành mặt trời thì mặt trời nằm trong không gian là mặt trời mang tính không gian, mang tính sinh tạo, tạo hóa. Điểm này cũng ăn khớp với các Lang Hùng (con trai, mặt trời) sinh ra từ bọc trứng không gian. Như thế trống đồng nòng nọc, âm dương cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho các Lang Hùng sinh ra từ bọc không gian, cho các Hùng Vương có một khuôn mặt là mặt trời sinh tạo, tạo hóa giống như mặt trời sinh tạo, tạo hóa (sun as Creator) Ra hay Re của Ai Cập cổ. 3. Mặt trời-không gian ở tâm mặt trống là Trứng Vũ Trụ là Bọc Trứng Hùng Vương. Nhìn dưới diện nhất thể, mặt trời-không gian ở tâm mặt trống là bọc Trứng Vũ Trụ, bọc trứng Hùng Vương. Mặt trời có nọc tia sáng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) nằm trong vòng tròn không gian trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I mang hình ảnh Bọc Trứng Lang Hùng. Bọc Trứng Hùng Lang mặt trời-không gian viết theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ chấm vòng tròn. Chữ chấm vòng tròn diễn tả bọc trứng Lang Hùng lưỡng hợp mang hình ảnh Trứng Vũ Trụ. Đây cũng chính là linh tự (hieroglyph) Ra, Re thần mặt trời Tạo Hóa (Sun as Creator) của Ai Cập cổ. Tổ Hùng có một khuôn mặt sinh tạo tạo hóa như thần mặt trời Ra vì cả hai đều có bản thể lưỡng hợp nòng nọc, âm dương. Cũng nên biết chữ vòng tròn có chấm hay chấm vòng tròn này là chủ điểm của tác phẩm The Lost Symbol của Dan Brown. Dan Brown giải thích the Lost Symbol này chưa hết ý nghĩa theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que, theo Dịch nòng nọc, âm dương. 4. trống đồng nòng nọc, âm dương là trống diễn tả thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, là trống biểu của Vũ Trụ giáo, cốt lõi của văn hóa Đại Tộc Việt. Nòng nọc, âm dương là nền tảng của Vũ Trụ Tạo Sinh. Hùng Vương mang trọn ý nghĩa của triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, dựa trên nền tảng nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, chim-rắn. Xin sơ lược kiểm điểm so sánh Hùng Vương và trống đồng nòng nọc, âm dương dựa theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Xin nhắc lại sơ qua về quá trình của Vũ Trụ Tạo Sinh là khởi đầu từ Hư Vô (Vô Cực), sau đó cực hóa có âm dương nhưng còn quyện vào nhau dưới dạng Trứng Vũ Trụ (Thái cực). Thái Cực phân cực thành hai cực âm dương Lưỡng Nghi. Lưỡng Nghi giao hòa sinh ra Tứ Tượng. Tứ Tượng dương liên tác với tứ tượng âm sinh ra vũ trụ muôn sinh gọi là Tam Thế. Tam Thế với Trục Thế Giới tạo thành Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)… -Hư Vô, Hư Không, Không Gian. Hư không là khởi điểm và cũng là điểm cuối cùng của Vũ Trụ Tạo Sinh, của vòng sinh tử, tử sinh. Trong các nền văn minh cổ đại trong đó có cổ Việt, con người khi chết được chôn trong các vò, chum, vật đựng hình tròn, hình trứng, hình dạ con biểu tượng cho hư không, Trứng Vũ Trụ, dạ con vũ trụ. Người chết được đặt ở tư thế thai nhi ngồi trong bụng mẹ. Người chết ngồi trong dạ con của mẹ vũ trụ để trở về với hư không, bầu vũ trụ, để được tái sinh hay sống hằng cửu. Trống có một nghĩa là không. Trống không. Như thế trống có một khuôn mặt biểu tượng cho hư không. Tiếng trống là tiếng nói của hư không. Trống đồng cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, hư không thấy qua một chức vụ của trống đồng nòng nọc, âm dương là dùng chôn đầu sọ, tro than người chết đẻ hồn người chết trở về hư vô. Các tù trường, các vị vua, quan khi chết có trống đồng chôn theo. Về sau dùng các lọai trống nhỏ cao chừng ba bốn phân Tây (cm) gọi là trống minh khí, dùng như một vật tùy táng thay cho trống lớn. Các trống minh khi này dùng như một thứ bùa mệnh, một thứ la bàn hay một thứ thông hành (pass-port) giúp hồn người chết trở về hư vô, trở về miền hằng cửu. Trống minh khí giống như các con bọ hung scarabus của Ai Cập cổ bỏ trong các quan tài chôn theo người chết. Trống (con trai) Lang Hùng nguyên thủy sinh ra từ cái bọc có một khuôn mặt là bọc Hư Vô, Hư Không. -Thái cực Hư không cực hóa có nòng nọc, âm dương nhưng mới đầu nòng nọc, âm dương còn quyện vào nhau ở trạng thái nhất thể gọi là Trứng Vũ Trụ, Thái Cực. Dưới diện nhất thể bọc trứng Hùng Vương mang hình ảnh Trứng Vũ Trụ, Thái Cực. Trống biến âm với trấng, trứng. Trống có một khuôn mặt biểu tượng cho Trứng Vũ Trụ. Như đã nói, tại đền Hùng Vương có treo một chiếc trống đồng hình trứng. Trống này là trống Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang I có hình trứng giống như các trống thủng trường làng (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Dưới diện nhất thể, mặt trời-không gian ở tâm mặt trống là Trứng Vũ Trụ, Thái Cực, là hình ảnh của bọc trứng Lang Hùng. Dưới diện nhất thể, như đã nói, Hùng Vương có bản thể nòng nọc, âm dương chim-rắn còn thấy trong sử đồng qua hình chim lửa mỏ rìu nằm trong miệng rắn nước ở đầu các con thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và Hoàng Hạ. Đây là dạng lưỡng hợp cổ sơ nguyên thủy của Đại Tộc Việt. Về sau này chim-rắn thần thoại hóa thành Tiên-Rồng. Trống đồng nào không có mặt trời nằm trong vòng tròn vỏ không gian ở tâm mặt trống không phải là trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. -Lưỡng nghi: Khi phân cực, bọc Trứng Vũ Trụ tách ra hai cực nòng và nọc, âm và dương. Bọc Trứng Hùng Vương mặt trời-không gian phân cực ra cực dương, ngành nọc dương, mặt trời trăm quan Lang và cực âm, ngành nòng không gian trăm mẹ Nàng. Theo duy dương, ngành nọc mặt trời, trăm Lang lại chia ra 50 Lang thuộc ngành Nọc Việt mặt trời Lửa, nhánh mặt trời nọc dương Viêm Đế và 50 thuộc Nọc Việt mặt trời Nước nhánh mặt trời nọc âm Thần Nông của ngành nọc mặt trời thái dương. Về phía trống đồng nòng nọc, âm dương, tất cả các chi tiết trên trống đồng đều diễn tả theo hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương. Ở đây chỉ xin đưa ra một ví dụ điển hình là mặt trời với hai loại tia sáng nòng nọc, âm dương: tia sáng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) như đã thấy trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I thuộc ngảnh nọc Việt mặt trời Lửa thái dương và vòng ánh sáng nòng vòng tròn thấy ở trên trống Đào Xá thuộc ngảnh nòng Việt mặt trời Nước thái dương. Trống Đào Xá có ánh sáng âm nòng vòng tròn. Ta thấy trong các nền văn hóa thờ mặt trời, duy chỉ có văn hóa của đại tộc Đông Sơn thờ mặt trời còn giữ được ánh sáng ở dạng nòng nọc vòng tròn-que nguyên thủy. Ở các nền văn hóa thờ mặt trời khác, mặt trời chỉ có một loại ánh sáng hình nọc que hay nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang dương tính của thời phụ quyền ngự trị và ánh sáng mang âm tính chỉ là dạng âm hóa của ánh sáng hình nọc, trở thành ánh sáng hình cong, hình gợn sóng, hình xoắn… Ta thấy rõ văn hóa thờ đạo mặt trời của đại tộc Đông Sơn thuộc đạo gốc Vũ Trụ giáo hãy còn chính chuyên nòng nọc, âm dương. Điểm này giống như Dịch trên trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn hai hào âm dương còn viết theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trong khi Dịch Trung Hoa cả hai hào đều viết theo nọc que (hào dương nọc que liền và hào âm nọc que đứt đoạn). Như thế Dịch Trung Hoa là Dịch muộn thời phụ quyền ngự trị, có sau thứ Dịch nòng nọc vòng tròn-que Đông Sơn. -Tứ tượng Lưỡng nghi liên tác sinh ra bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính gọi là tứ tượng. Về hình dạng trống dựa theo sự phân loại của Nguyễn Xuân Quang gồm có 6 loại. Như đã thấy trống để ở đền Hùng Vương, Vĩnh Phú là trống Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang loại I, là trống Trứng Vũ Trụ. Dưới diện lưỡng cực, trống này có một khuôn mặt là trống lưỡng nghi giao hòa sinh ra bốn loại trống kế tiếp ứng với tứ tượng. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, bốn loại trống tứ tượng ứng với bốn tổ phụ Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương. Bốn loại trống ứng với tứ tượng là: -Trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang loại II (NXQ.II) hay Trống Tượng Lửa Dương, Lửa Vũ Trụ, Trống Mặt Trời Lửa, Trống Thái Dương, Trống Càn, Trống Cực Dương ứng với Đế Minh. Trống moko của Nam Dương là một loại NXQ II biến thể. -Trống hình lọng Nguyễn Xuân Quang loại III (NXQ.III): Trống Tượng Gió Dương, Trống Mặt Trời Gió, Trống Thiếu Âm, Trống Đoài vũ trụ, (Heger III) ứng với Hùng Vương Bầu Trời Gió thấy nhiều ở tộc Shan ở miền Đông Bắc Myanma. -Trống hình cái âu Nguyễn Xuân Quang loại IV (NXQ.IV): Trống Tượng Nước Dương, Trống Mặt Trời Nước, Trống Thái Âm, Trống Chấn (Heger IV) thấy nhiều ở Nam Trung Hoa ứng với Lạc Long Quân. -Trống Nguyễn Xuân Quang loại V (NXQ.V): Trống Tượng Đất Dương, Trống Núi Nổng, Trống Trụ Chống Trời, Trống Mặt Trời Đất, Trống Lửa Thế Gian, Trống Thiếu Dương, Trống Li, Trống Trục Thế Giới (Heger II) ứng với Kì Dương Vương, thấy nhiều ở các tộc miền núi ở Bắc Việt (ăn khớp trăm phần trăm với tộc Kẻ, Xích Quỉ của Kì Dương Vương Núi Trụ Thế Gian). Qua sự phân bố của các loại trống ta cũng xác định đại lược được biên giới của liên bang Văn Lang. Theo truyền thuyết và cổ sử Việt nước Văn Lang Đông giáp Nam Hải, đây là những tộc Nam Dương có trống NXQ II, tức Moko hình trụ; Tây giáp Ba Thục, Tứ Xuyên, đây là những tộc Shan có trống NXQ III, ngày nay người Shan ở vùng Đông Bắc Myanma (Miến Điện) nói tiếng Tai-Kadai (Tầy Thái) liên hệ với Ba Thục Tứ Xuyên; Bắc tới Động Đình Hồ, đây là những tộc Nam Trung Hoa có trống NXQ IV (mấy năm trước đây có đào được một trống Đông Sơn ở xa mãi tận Triết Giang) và Nam tới nước Hồ Tôn, đây là những tộc nối dài của vùng núi đất Bắc Việt hiện nay có trống NXQ V (ngày nay còn đào tìm được những trống đồng ở miền Nam Việt Nam còn xa hơn biên giới nước Hồ Tôn Chiêm Thành). Bốn trống ứng với tứ tượng này là bốn trống ứng với Tứ Dân của Đại Tộc Việt. Bốn trống tứ tượng này hợp lại sinh ra trống Cây Nầm Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I). Tứ Tượng dương liên tác với tứ tượng âm sinh ra vũ trụ muôn loài gọi là Tam Thế. Tam thế có trục thông thương là Trục Thế Giới. Tam Thế và Trục Thế Giới tạo thành Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống) có trống biểu là trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I). Trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI hay còn gọi là trống Đông Sơn vì tìm thấy nhiều nhất ở miền Bắc Việt Nam. Như thế ta thấy rõ qua hình dạng và sự phân bố của các loại trống ta thấy được liên bang Văn Lang có trống biểu cho cả liên bang là trống Đông Sơn, trống Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I). Vùng đồng bằng sông Hồng nơi có nhiều trống Đông Sơn và có những trống Đông Sơn tinh vi nhất mang trọn ý nghĩa thuyết vũ trụ tạo sinh như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là mẫu quốc, là đầu não, là trục hành chính, là đất, là nơi cai trị, cai quản toàn thể đế quốc Văn Lang. Còn tứ dân của liên bang Văn Lang ứng với tứ tượng có bốn trống biểu ứng với tứ tượng ở bốn vùng có biên giới của nước Văn Lang đúng theo truyền thuyết đã ghi. Rõ ràng trống đồng là một bộ cổ sử đồng của Đại Tộc Việt. Về nội dung, xin đưa ra một hai ví dụ điển hình: -Hình thái tứ tượng ở các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng mà các tác giả hiện nay gọi nhầm là “họa tiết lông công”. Tôi gọi đây là hình thái tứ tượng vì hình gồm có bốn chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Ở tâm là hình hai giọt nước có đuôi rơi từ trời xuống, trong có dấu vòng tròn chấm, theo duy dương có nghĩa là nước dương, chuyển động, nước mưa ứng với Chấn Lạc Long Quân. Chữ thứ hai hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc lửa vũ trụ ứng với Càn Đế Minh. Chữ thứ ba có hình bờm gió, rèm gió có nghĩa là nọc gió ứng với Đoài Hùng Vương bầu trời. Chữ thứ tư hình núi tháp do hai chữ nọc mũi tên lồng vào nhau có đánh dấu chấm nọc là đất lửa, dương ứng với Li Kì Dương Vương. Ta thấy rất rõ mặt trời là nọc, dương, không gian bao quanh mặt trời là nòng âm giao hòa với nhau sinh ra tứ tượng được diễn tả bắng hình thái tứ tượng ở khoảng không gian nằm giữa các nọc tia sáng. -qua các tộc cò: Hầu hết trên trống đồng nòng nọc của đại tộc Đông Sơn có hình cò bay. Cò là loài chim sống ở bờ nước chỉ biết lội nước, chân không có màng nên không biết bơi (“lộn cồ xuống ao” là phải kêu cứu “ông ơi ông vớt tôi vào”, nếu không sẽ chết đuối) có mang ít âm tính tức thiếu âm (trong khi loài chim nước chân có màng biết bơi như nông, ngỗng mang tính thái âm). Cò có mỏ dài mang dương tính nhưng nhỏ, thanh tao mang âm tính tức thiếu âm. Dưới dạng nhất thể cò là chim dương có mang âm tính ứng với khuôn mặt sinh tạo lưỡng hợp của Tổ Hùng Vương sinh tạo, tạo hóa. Dưới diện tứ tượng, con cò mang tính thiếu âm, về vật thể, là nguyên thể của gió ứng với khuôn mặt bầu trời gió của các Hùng Vương thế gian, lịch sử. Nói chung con cò là chim biểu của Tổ Hùng và Hùng Vương. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn hầu hết có hình cò là trống biểu của Hùng Vương của Đại Tộc Việt. Hiển nhiên cò trên trống đồng phải có bốn loại cò ứng với tứ tượng, với bốn khuôn mặt của bốn tổ phụ của chúng ta là Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương. Cò Tượng Lửa Cò Lửa là cò nọc mang nhiều dương tính, thái dương, có mỏ dài, to, khỏe ví dụ như mỏ cò trên trống đồng âm dương Đông Sơn IV trông cương cường giống bộ phận sinh dục nam đang cương cứng. Trong mỏ, tên cò được viết bằng chữ que nọc mang nghĩa cọc, dương, lửa. Lưu ý cò Lửa này không có bờm. Đây là con cò Nọc lửa vũ trụ Càn Đế Minh. Cò Tượng Đất Cò Đất dương, Cò Núi, Cò Đá, Cò Li có mỏ được diễn tả bằng mỏ hình rìu, búa chim và có bờm hình núi tháp nhọn. Ví dụ hình cò trên trống Hà Nội I. Đây là con cò Nọc búa, rìu đất Li Kì Dương Vương. Cò Tượng Gió Cò Gió có bờm gió như thấy trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Cò có bờm hình phướn gió, có mỏ được diễn tả bằng mỏ nọc dài có dương tính nhưng thanh nhã mang thêm âm tính, dương của âm là thiếu âm, về vật thể là nguyên thể của gió. Cò Gió, Cò Lang trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Đây là con cò gió, cò Lang (có một nghĩa là trắng. Mầu trong, trắng là mầu của gió), cò Đoài vũ trụ của Hùng Vương bầu trời. Hiện nay các nhà làm văn hóa lấy con cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I này làm logo gọi là chim Lạc, một trăm phần trăm sai (xem bài viết Chim Lạc hay Cò Lang?). Cò Tượng Nước Cò nước, cò mưa, cò sấm, tức cò chớp-mưa, cò lửa-nước, cò nước dương, cò Lạc, có mỏ cong mang âm tính như thấy trên trống Hàng Bún. Cò mưa có mỏ cong âm trên trống Hàng Bún. Hay rõ hơn trên cánh có hình sóng nước như thấy trên trống Hữu Chung. Đây là những con cò Nọc nước , cò Lạc Chấn Lạc Long Quân. -Tam thế Tứ tượng dương liên tác với tứ tượng âm sinh ra vạn vật muôn sinh vũ trụ được chia ra làm ba cõi gọi là Tam Thế: Thượng, Trung và Hạ Thế. Cơ thể học trống đồng nòng nọc, âm dương cho thấy trống đồng nòng nọc, âm dương gồm có Tam Thế (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Tam Thế thấy rõ qua đền Tổ Hùng ở Vĩnh Phú gốm có ba tầng đền: đền Thượng, đền Trung và đền Hạ (xem bài viết Cấu Trúc Đền Hùng Vương). -Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) Tam thế được nối liền với nhau bằng một cây trục gọi là Trục Thế Giới. Tam Thế và Trục Thế Giới tạo thành hình một cây gọi là Cây Tam Thế (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống). Như đã thấy sáu loại trống trong phân loại của tôi gồm có trống Vũ Trụ NXQ I hình trứng (hiện để tại đền Hùng Vương, Vĩnh Phú) sinh ra bốn loại trống ứng với tứ tượng. Bốn loại trống tứ tượng liên tác sinh ra trống Cây Nấm Vũ Trụ NXQ VI (Heger I). Trống đồng nòng nọc, âm dương mang trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh là trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI. Tôi cũng khám phá ra một thứ trống minh khí hình Cây Vũ Trụ trông giống hệt chiếc đèn đá Cây Vũ Trụ hiện đang được trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội. Trên các con thuyền phán xét linh hồn ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng có những trống Cây Vũ Trụ. Núi Nghĩa Lĩnh có đền Hùng Vương Tam Thế mang hình ành Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Nghĩa là ơn (nghĩa), tạ ơn. Lĩnh là núi nhọn đỉnh, núi nọc, núi dương ăn khớp với Hùng Vương (lĩnh biến âm với lính, ngày xưa chỉ con trai, phái nam mới đi lính và liên hệ với Ấn ngữ linga, bộ phận sinh dục nam). Lĩnh tương đương với từ cổ Việt nổng (gò nổng) là núi hình trụ chống (nổng biến âm với nống là chống). Nghĩa Lĩnh là Núi Trụ Chống Trời, Núi Trục Thế Giới thông thương Tam Thế là phương tiện dâng cúng lễ vật để tạ ơn tới Tam Thế của Tổ Hùng được diễn tả bằng ba đền Thượng, đền Trung và đền Hạ. Núi Nghĩa Lĩnh và đền Tổ Hùng biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) (xem Ý Nghĩa Cấu Trúc Đền Hùng). 5. Những Chi Tiết Chính Khác Của Hùng Vương và Đại Tộc Việt Còn Ghi Khắc Trong Sử Đồng Trên Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương. Xin lấy một vài ví dụ điển hình là các Vật Tổ Của Đại Tộc Việt. Từ một bộ lạc, một bộ tộc nhỏ cho tới một quốc gia, một liên bang đều có vật tổ, vật biểu. Hùng Vương, Đại Tộc Việt cũng vậy. Như thế vật tổ, vật biểu của chúng ta là gì? Hiển nhiên chúng phải khác của Trung Hoa. Người cổ Việt sống ở vùng rừng núi, sông biển nhiệt đới, vật tổ, vật biểu của cổ Việt phải là những loài có trong địa bàn sống của cổ Việt là sông biển rừng núi nhiệt đới Đông Nam Á và Trung Hoa không có. Cũng xin nhắc lại, thời cổ sơ, vật tổ và vật biểu là những loài có thật trong thiên nhiên, về sau thể điệu hóa, thần thoại hóa thành các linh vật. Văn hóa Trung Hoa với tứ linh long ly qui phượng là văn hóa muộn sau này, muộn hơn văn hóa của đại tộc Đông Sơn là hậu duệ của một nền văn hóa cổ sơ, còn giữ các vật tổ dưới nguyên dạng trong thiên nhiên. Vật Tổ ở Thượng Thế Vật tổ ở cõi trên Thượng Thế là một loài chim. .Chim nông Như đã biết chim nông là chim biểu tối cao của Đại Tộc Việt mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh. Ở hư vô là con chim nông trung tính với nghĩa nông là không. Ở thái cực là chim bổ nông nhất thể là chim đẻ ra Trứng Vũ Trụ, ở tầng lưỡng nghi là con bồ nông có một khuôn mặt thái âm, nước, chim biểu của ngành Thần Nông, vân vân… (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). Chim nông thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc, âm dương như trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ… (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). .Chim Việt Theo duy dương tức về phía ngành nọc dương Viêm Đế là con chim Việt, chim Rìu tức chim Cắt (Hornbills). Viêm Đế có họ Khương (sừng) nên có các thú biểu đều có nghĩa là sừng (vật cứng nhọn mang dương tính, nọc, mặt trời). Chim biểu của Viêm Đế là con chim có mũ sừng (bony casque), tức chim cắt lớn Great Hornbill. Chim Cắt loài có mũ sừng trên mỏ là chim Việt, thấy rõ qua Anh ngữ Hornbill (Mỏ Sừng). Chim Cắt, chim Rìu, chim Việt cũng mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh. Nhưng chúng ta thuộc Thần Nông thị và các Hùng Vương thuộc ngành nọc mặt trời nên thường thấy nhất là khuôn mặt chim Việt mang tính biểu tượng lửa ở tầng lưỡng nghi là con bổ cắt thái dương có một khuôn mặt nọc, thái dương, lửa, vân vân… Hùng Vương là di duệ của Viêm Đế nên theo duy dương, ngành nọc Hùng Việt cũng có chim biểu là loài chim cắt. Đó là chim Lang, chim Chàng, chim Tráng (của người Mường) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt) và là chim Mê Linh của hai Bà Trưng. Mê Linh phát gốc từ tiếng cổ Việt mling là một giống chim cắt (xem Ý Nghĩa Ngày Lễ Hai Bà Trưng). Sử ghi Hai Bà Trưng đóng đô ở Mê Linh thuộc đất châu Phong là dòng dõi Hùng Vương là vậy. Hình bóng chim cắt có mũ sừng, chim Việt còn ghi khắc trong sử đồng thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc, âm dương như trên trống đồng âm dương Duy Tiên, và ở đuôi thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng. .Cò Việt Như trên đã biết con cò mang tính nòng nọc, âm dương. Ở dạng nhất thể cò biểu tượng cho Tổ Hùng tạo hóa, sinh tạo. Ở cõi tứ tượng ứng với một đại tộc của tứ dân thì cò biểu tượng cho tượng gió, là con cò gió có bờm gió của đại tộc gió ứng với Hùng Vương bầu trời. Trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, vành 18 con cò bay có bờm hình phướn gió rất cách điệu và trong bờm có viết các chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là những con Cò Gió, Cò Lang, Cò Phong Châu mà hiện nay các nhà làm văn hóa Việt gọi nhầm là Chim Lạc (xem Chim Lạc Hay Cò Lang?). Địa danh Bạch Hạc có nghĩa là Cò Trắng của Hùng Vương cũng có nghĩa là Cò Lang (Lang có một nghĩa là trắng, mầu trắng, trong suốt là mầu gió), Cò Gió. Vật Tổ ở Trung Thế Hươu Việt Vật tổ ở cõi Trung Thế là một loài thú bốn chân sống trên mặt đất. Thú biểu của Hùng Vương, Đại Tộc Việt là loài thú có nọc, sừng… tức Thú Việt. Đất thế gian chia ra làm hai vùng: vùng đất dương, cao, khô và vùng đất thấp, âm có nước. Ở vùng đất dương cao, khô thế gian, chúng ta có con hươu nọc, hươu Việt sừng hai mấu mang gạc. Danh từ động vật là Cervulus muntjac. Từ muntjac chính là Việt ngữ muông gạc (con thú có sừng), mang gạc (con hươu có sừng), danh từ phổ thông gọi là hươu sủa barking deer (con vật này đến mùa động đực gọi con cái, tiếng gọi giống như chó sủa vì thế dân dả gọi là hươu sủa), tiếng cổ Việt gọi hươu cọc là con Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Ở trên là con hươu sủa muntjac sừng hai mấu nhọn loại lớn mới tìm thấy ở Vụ Quang trước đây ở Việt Nam. Đây là loài hươu hiếm quí gần như tuyệt chủng. Bên dưới là loài hươu sủa muntjac loại nhỏ. Người cổ Việt chọn loài hươu, con Cọc có sừng hai mấu nhọn này làm vật tổ, thú biểu cho Kì Dương Vương Lộc Tục (Hượu Đục, Hươu Chàng ‘chisel’, hươu có vật nhọn, hương sừng, muông gạc. muntjac). Mã Lai ngữ gọi hươu sủa là kijang. Kijang chính là Việt ngữ Kì Dương của chúng ta. Con hươu sủa mang gạc loại nhỏ chính là con thú chủ (host) thần thoại hóa thành con nghê, còn kì (con đực trong cặp kì lân). Mang gạc muntjac chỉ có ở địa bàn Đông Nam Á không có ở vùng đất cũ tận phía Bắc của Trung Hoa nên nghê hay kì (lân) là linh thú của Kì Dương Vương của chúng ta (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Tóm lại hươu sủa cervulus munjac là con muông gạc, con thú cọc, con thú Việt, thú biểu của Kì Dương Vương, vua thế gian đầu tiên của Đại Tộc Việt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Trong sử đồng của đại tộc Đông Sơn thú biểu mang gạc, hươu Cọc này còn thấy ghi khắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương Phú Xuyên. Hươu Việt trên trống Phú Xuyên. Hình con mang gạc trên trống Phú Xuyên có sừng hai mấu nhọn, đang há mõm sủa, có đuôi dài của loài cáo chồn, chó sói. Đây là con mang sủa muông gạc Lộc Tục, con kijang Kì Dương con thú Việt của Đại Tộc Việt. Sấu việt Thú biểu vùng đất thấp, âm có nước thế gian của chúng ta là con cá sấu mõm dao gavial, danh từ động vật gọi là Tomistoma Schlegelii (tomi- là cắt, stoma miệng, tomistoma mõm cắt, mõm dao). Ta thấy gavial có gav- biến âm với gạc. Gavial là con sấu gạc, con ngạc (Hán Việt ngạc có nghĩa là con cá sấu). Đây là con cá gạc, cá ngạc, cá Lạc, cá Sấu Việt, Dao Việt, thú biểu của vùng đầm lầy Lạc Long Quân (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Sấu mõm dao gavial (Tomistoma Schlegelii). Trong sử đồng của đại tộc Đông Sơn thú biểu sấu dao, sấu Việt này còn thấy ghi khắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương Hòa Bình. Sấu Việt mõm dao trên trống Hòa Bình. Lưu ý con thú có hình thằn lằn này có con mắt âm gồm hai chữ viết nòng vòng tròn. Hai nòng là hai âm, thái âm có một nghĩa là nước. Con thú bò sát loài thằn lằn sống được dưới nước có mõm nhọn như dao là con cá sấu mõm dao, thú biểu của Lạc Long Quân vùng đất âm có nước, Lạc điền của Lạc Việt. (còn tiếp).
  20. HỌC TIẾNG VÀ CHỮ TRUNG HOA BẰNG TIẾNG VIỆT Nguyễn Xuân Quang Ta có thể học ngôn ngữ thế giới bằng tiếng Việt (Tiếng Việt Huyền Diệu), dĩ nhiên trong đó có tiếng Trung Hoa. Học tiếng Trung Hoa bằng tiếng Việt lại càng dễ dàng hơn, bởi vì một điều dễ hiểu là tiếng Việt và Trung Hoa liên hệ mật thiết, khắng khít với nhau. Thật vắn tắt ở đây, một trong những cách làm giầu thêm, phát triển, bành trướng thêm tiếng Việt là du nhập thêm tiếng ngoại ngữ khi tiếp cận với ngôn ngữ đó qua hiện tượng từ láy, tiếng đôi hay trực tiếp lấy tiếng ngôn ngữ đó, lấy nguyên con theo phát âm gốc hay có biến đổi, Việt hóa đi (như trường hợp chữ Hán Việt chẳng hạn). Ai cũng biết từ Hán Việt nhan nhản trong tiếng Việt, có tác giả đã cho rằng có tới hơn 60% từ Hán Việt trong Việt ngữ. Hán Việt là từ lấy từ Hán ngữ nhưng đã Việt hóa theo những qui luật ngôn ngữ học có qui củ. Người Trung Hoa không hiểu từ Hán Việt dù là gốc của Hán Việt là Hán ngữ. Các nhà trí thức, khoa bảng Việt Nam đã Việt hóa Hán ngữ để giữ độc lập, giữ chủ quyền Việt đối với Trung Hoa. Ngày nay những từ Hán Việt dùng ở Việt Nam không còn theo những qui luật Việt hóa độc lập như xưa nữa mà dùng lung tung, hổ lốn, loạn xà ngầu, mạnh ai người ấy chế ra đem dùng. Hoặc vì ngu dốt, vì lười biếng, vì rơi vào chính sách đồng hóa của Trung Hoa, giới trí thức Việt Nam, báo chí truyền thông Việt Nam tự mình chế ra những từ Hán Việt đem vào ngôn ngữ Việt (một số giới báo chí, truyền thông Việt Nam ở hải ngoại mù quáng bắt chước lấy theo). Áp dụng các qui luật ngôn ngữ học của tổ tiên ta ngày xưa ta có thể học tiếng Trung Hoa qua tiếng Việt bằng: a. Từ đôi Từ đôi là hai từ thường là danh từ khác âm đi đôi với nhau hay bắt cặp với nhau theo âm dương. Có hai trường hợp: .theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ đôi điệp nghĩa ví dụ như gà qué: con gà là con qué, ta có gà = qué. .hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau theo âm dương, tôi gọi là từ đôi nghịch nghĩa, ví dụ trăng trời. Qui luật âm dương về từ đôi trong Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang: Hai từ đôi theo âm dương tương thuận có nghĩa như nhau hay có cùng một gốc nghĩa, tôi gọi là từ đôi điệp nghĩa hoặc theo âm dương đối nghịch có nghĩa đối nghịch nhau, tôi gọi là từ đi đôi nghịch nghĩa. Ta có thể dùng từ đôi, từ cặp đôi để học tiếng Trung Hoa ví dụ ./ Từ đôi gồm một từ Việt và một từ Hán phát âm theo piyin: -đen xì Theo qui luật từ đôi hay đi cặp đôi ta có đen = xì. Xì là tiếng pinyin (phiên âm, giọng Quan Thoại) của Hán ngữ tịch夕là tối, đêm bao hàm nghĩa đen (tối đen, đêm đen). -mảnh dẻ Mảnh là mỏng như mỏng manh. mỏng mảnh, mảnh khảnh. Theo qui luật từ đôi ta có mảnh = mỏng = dẻ. Từ dẻ chính là tiếng pinyin dié của gốc cổ Hán ngữ điệp có nghĩa là mỏng được diễn tả bằng cách vẽ hình cây có lá. Dié là mỏng (cổ ngữ). (Wang Hongyuan, The Origins of Chinese Characters, Sinolingua Beijing, 1993) Dié, mỏng dạng chữ cổ như thấy trong hình vẽ hình cây có lá. Dẻ, dié biến âm với yè, điệp, lá. Ta thường ví mỏng như lá, áo lá là áo lót mỏng, mỏng như tờ giấy. Cũng xin nói thêm là tiếng Việt rất đa dạng, từ mỏng của Việt ngữ biến âm với nhiều ngôn ngữ. Ta có từ đôi mỏng dính với dính chính là Anh ngữ thin (theo d=th, dính = thin), từl áy mỏng manh với manh chính là Pháp ngữ mince (mỏng) và mỏng tang, mỏng tanh với tang, tanh là Phạn ngữ tan, mỏng. -xì hơi Ta có xì = hơi. Theo x=q= qu như xoăn xoắn = quăn, quắn, xì = qì. Qì là pinyin của Hán Việt khí. Theo q=c=k = kh, qì = khí (khí mây, hơi…). Tóm lại xì hơi có xì = pinyin qì = Hán Việt khí = hơi. -xì mũi Ta cũng có mũi liên hệ với khí, không khí, hơi nên có từ xì mũi, xỉ mũi: hỉ mũi (theo h= s = x như hói = sói, ta có xì, xỉ = hỉ) nên xì ruột thịt với mũi, Hán Việt tị, tì 鼻, theo x=b, như xẹp = bẹp, xì, xí = bí (pinyin là mũi). Tị biến âm với xì thấy rõ qua từ Tỵ 巳 (chi thứ sáu trong 12 địa chi) có pinyin cũng là xì. Xì liên hệ với mũi thấy rõ qua tên con tê giác pinyin là xì. Con tê giác là con thú có sừng ở mũi (tê biến âm với tị, mũi) và xì biến âm với zì (tự) vẽ hình cái mũi. Chữ Zì (tự) vẽ hình cái mũi. -cũ xì 昔 tích, xưa, trước, tích nhật 昔日 ngày xưa. Piyin là xì, cũ xì là cũ xưa. Xì cùng âm với xì là tịch, đêm giống như tích biến âm với tịch nên tích cũng có một nghĩa là đêm như nhất tích 一昔 một đêm. ./ Từ đôi gồm một từ Việt và một từ Hán Việt: -kẻ sĩ 士 sĩ Ta có kẻ = sĩ. Việt ngữ kẻ = kẻ (cây thẳng dùng làm thước để gạch: thước kẻ), kẻ = kè (nọc đóng ở bờ nước) = ke (bộ phận sinh dục nam) = kì , ki (cây) = que (nọc, cọc)… Tóm lại kẻ có gốc cây, nọc, cọc, c…c . Kẻ chỉ người nam, người cột trụ, người miền núi,người tộc hươu, tộc Kì Dương Vương, chỉ núi kì, núi cột trụ thế gian. Hán Việt sĩ chỉ phái nam có học thức, học giả giữ vai cột trụ, rường cột, lương đống: Trong lăng miếu ra tài lương đống, Ngoài biên thùy rạch mũi can tương. (Nguyễn Công Trứ, Kẻ Sĩ). là những người quan trọng nhất trong xã hội ngày xưa : Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt, Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên. (1) Có giang sơn thì sĩ đã có tên, Từ Chu Hán, vốn sĩ này là quí… (Nguyễn Công Trứ, Kẻ Sĩ). (1) Tước có năm bậc thì sĩ cũng dự vào; dân có bốn nghề thì sĩ đứng đầu tiên: sĩ, nông, công thương. Và sĩ cũng rất quan trọng trong xã hội ngày nay như bác sĩ, văn sĩ, nghệ sĩ, binh sĩ (binh lính cũng được gọi là sĩ vì ngày xưa chỉ phái có sĩ, có cọc mới phải đi lính (lính ngày xưa phải có linga) và binh lính liên hệ với cọc nhọn, khí giới (Ngoài biên thùy rạch mũi can tương).… Nguồn gốc của từ sĩ cũng giống như từ kẻ có nghĩa là cọc, cược, bộ phận sinh dục nam. Chữ sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ. Theo hình trên, sĩ vẽ hình bộ phận sinh dục nam hay phát nguyên từ hình vẽ một thứ khí giới cổ. Bộ phận sinh dục nam được biểu tượng bằng cọc, nọc vật nhọn (ví dụ penis có pen-, cây viết, nguyên thủy cây viết là một vật nhọn), giống như khí giới cổ đơn giản cũng chỉ là một vật nhọn. Sĩ chỉ bộ phận sinh dục đực cũng thấy rõ qua từ mũ, Hán Việt mẫu 牡 chỉ con thú đực có chữ sĩ như mẫu ngưu là con bò đực. Mẫu cũng còn có nghĩa là cây chốt cửa, nọc then cài cửa, như thế con vật đực có nghĩa là con thú có nọc, cọc. Mẫu biến âm với mâu, vật nhọn, khí giới nhọn như xà mâu, mâu thuẫn, với Việt ngữ mấu (ngạnh sắc), bấu (bằng móng nhọn sắc). Ở hình trên cũng xin lưu ý ở phần tham khảo (for reference) của chữ mũ (đực, nọc, cọc) có vẽ hình con hươu sừng ở dưới bụng có phụ đề hình cây cọc cắm trên mặt đất có ý cho biết là con hươu cọc, hươu nọc, đực. Điểm này cho thấy hươu sừng biểu tượng cho thú đực, nọc, cọc. Con hươu, con hưu, con hiêu là con hèo (roi, nọc). Theo h=k như hết = kết, ta có hèo = kèo (cọc nhỏ), ta có từ đôi kì kèo nên kèo = kì ( ki, cây). Con hươu = con hèo = con kèo = con kì. Kì Dương Vương có một nghĩa là Vua Hươu Đực có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực). Hán Việt lộc = Việt ngữ nọc. Con lộc là con nọc, con cọc, con log (khúc cây). Vì thế con hươu là con cọc như thấy trên hình, tên cổ Việt con hươu sừng là con Cọc do đó trò chơi Bầu Cua có con hươu sừng, con Cọc nên phải gọi là Bầu Cua Cá Cọc thay vì gọi sai là Bầu Cua Cá Cọp (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Cũng xin lưu ý chữ sĩ 士 tương tự như chữ thổ 土 là đất, tại sao? là vì thổ, đất thế gian liên hệ với trụ chống trời được biểu tượng bằng Núi Trụ Thế Gian (núi Kì), trong ngũ hành của Trung Hoa khi diễn tả theo hình vuông thì hành Thổ ở giữa tâm hình vuông, tức là hành trục, cột trụ. Trong giáp cốt văn Thổ được diễn tả bằng một trụ đá mang hình ảnh núi trụ thế gian, núi Kì, trụ chống trời, hình ảnh ông Bàn Cổ (Bàn là phiến đá bằng như bàn thạch là đế giữ trụ cho vững và Cổ là cột trụ (cổ là cột trụ cắm đầu vào thân mình). Ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời biểu tượng cho cõi đất thế gian. Trong giáp cốt văn Thổ (tũ) được diễn tả bằng một trụ đá. Thổ liên hệ với cột trụ, cọc như chữ sĩ nên giống chữ sĩ chỉ khác nét ngang ở đáy. Thổ là đất là cõi bằng vì thế nét ngang ở dưới biểu tượng cho mặt đất bắng nên phải cường điệu dài hơn nét ngang ở đáy chữ sĩ (nét này ở chữ sĩ chỉ thành bụng chỗ cái cọc đâm ra). (sẽ có một bài viết riêng về từ sĩ). -ngạt thở ngạt hiểu theo Việt ngữ là không thở được, ngạt thở liên hệ với chết (hết thở), chết ngạt. Ngạt đi với chết như thấy trong chữ “TỬ” 死 , chết nửa chữ bên trái có bộ ngạt 歹 : tan biến, tiêu tan, mất tiêu liên hệ với chết. Ngạt thở với ngạt hiểu theo Hán Việt là mất tiêu, hết thở. ./Từ đôi hoàn toàn là Hán Việt: -bạch nhật: sáng rõ, trời sáng rõ ví dụ như “Dậy đi, trời đã bạch nhật ra rồi đấy” ta có bạch = nhật, Hán ngữ bạch白có chữ nhật. -thế lực Ta có thế = lực, Chữ Thế 勢 (quyền, sức, hình dạng, như trận thế, Thế lực, uy Thế) có Bộ LỰC 力 Muốn có thế phải có lực đẩy lên. -tập hợp Chữ hợp 合 có phần trên là chữ TẬP cổ 亼 có hình cái lệnh. Gõ lệnh để tập hợp mọi người lại một điểm (chữ khẩu là dạng dương hóa của vòng tròn chỉ chỗ quây quần lại). ……. b. Từ láy Xin nhắc lại Tiếng láy gồm một từ gốc và một từ tố lặp lại theo âm điệu, vần điệu nhịp nhàng, uyển chuyển với từ gốc thường cùng một vần, một mẫu tự (như b đi với b ví dụ bầu bì). Tôi gọi từ tố láy với từ gốc là thành tố láy (TTL), ví dụ liếm láp thì láp là TTL của liếm. Qui luật về thành tố láy trong tiếng láy của Việt ngữ của Nguyễn Xuân Quang: Thành tố láy trong tiếng láy của Việt ngữ thường có nghĩa gần nhau hay như nhau, thường là một từ ở trong Việt ngữ hay ở trong một ngôn ngữ khác, nhất là những ngôn ngữ ruột thịt, họ hàng với tiếng Việt. Ta có thể học Hán ngữ qua từ láy -Bầu bì 皮 bì Ta có bầu = bì. Bầu là bao, bọc, túi. Hán Việt bì là da như bì phu. Da là cái túi, bao bọc thân người. Bì cũng có nghĩa là bao bọc thấy qua từ phong bì. Bì biến âm với bị, bí. Cái bị là cái túi có quai (ông ba bị), người Trung gọi túi áo quần là cái bị. Bí cũng có nghĩa là bầu, bao, túi. Quả bí cùng họ nhà bầu tuy rằng khác giống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Pinyin bì Hán Việt bí là bộ phận sinh dục nữ, âm đạo, l… Bộ phận sinh dục nữ, âm đạo là cái túi. cái bao. Anh ngữ vagina, âm đạo, theo v=b, vagina có vag- = bag, túi bao. Cũng theo b=v, bí = ví (Việt ngữ ví là túi bao, tiếng lóng chỉ bộ phận sinh dục nữ). -cà kê Ta có cà = kê. Mường ngữ cà là gà, theo biến âm c=g như cài = gài, ta có cà = gà. Hán Việt kê 雞 là gà. Kê viết với bộ chuy 隹 chim đuôi ngắn. Gà thuộc loài chim nhưng sống nhiều trên mặt đất, biểu tượng cho mặt trời thế gian, trên bàn Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, con gà đội lốt thần mặt trời Viêm Đế ở cõi tạo hóa là mặt trời cõi thế gian. Qua Việt ngữ ta sẽ hiểu và nhớ từ kê hơn. Kê biến âm với kẻ (cọc, nọc), kè (nọc ở bờ nước), ke (bộ phận sinh dục nam, Alexandre de Rhodes, từ điển Việt Bồ La), que (nọc), qué, ké (gà như trói thúc ké là trói ghịt cánh gà)… Ta có từ đôi gà qué, con gà là con que, con qué, con kê biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời. Anh ngữ cock là con cọc cũng có nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nam. Do đó có từ Hán Việt kê gian là đồng tính luyến ái nam. -khúc khuỷu Hán ngữ 曲 khúc, Pinyin: qǔ, cong, không thẳng. Việt ngữ khuỷu cũng có nghĩa là cong, gẫy như khuỷu tay. heo luật từ láy ta có khúc = khuỷu. ……… c. Lấy trực tiếp nguyên cách phát âm pinyin Thu nhập từ Hán lấy nguyên cả cách phát âm pinyin, xin đưa ra một ví dụ điển hình là -gié lúa Gié chính là hé, pinyin của chữ hòa 禾 (hình gié lúa trên cây MỘC 木). Theo g=h như gặt = hái, gié = hé. -tính tình tang, tang tính tình điệu hát tình tang, tính tình chính là piyin tĩng, tìng của 聽 thính, nghe, nghe bằng tai [Giản thể: 听], còn Việt ngữ tang là tai, gốc champa ngữ tang là tai như màng tang, bên tai. Tình tang nghĩa đen là “tai nghe”. -xịn như hàng xịn, đồ xịn. Xịn chính là pinyin của Hán ngữ 新 mà Hán Việt là tân có nghĩa là mới như tân thời, tân tiến, hàm nghĩa “hiện đại” mới và đẹp. Đố xịn là đồ mới và đẹp, “gái xịn” là gái (còn) tân, còn mới (và đẹp). ……. d. Theo cách diễn giải bằng Việt ngữ -Xuân春 Tên một mùa trong bốn mùa. Chữ Xuân cổ diễn tả cây, cỏ non mọc dưới ánh sáng mặt trời. Trong giáp cốt văn , kim văn, cổ văn, triện văn, xuân diễn tả câycỏ non cỏ non có chữ tún (đồn) 屯 là mầm cây tức non và cũng có nghĩa là khai hoang làm ruộng, trồng cây như đồn điền liên hệ với cây cỏ (và tún cũng dùng lấy âm cho chùn, xuân), Cỏ non mọc dưới ánh mặt trời: Lưu tâm mặt trời nguyên thủy là chữ viết nòng nọc vòng tròn nòng có chấm nọc dương sau dương hóa thành hình chữ nhật ngày nay. Xuân về cỏ non mọc xanh tươi dưới nắng mặt trời được diễn tả trong nhạc, thơ Việt Nam: Xuân lại về trên bãi cỏ non. (Phạm Duy, Hoa Xuân). Hay Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. (Nguyễn Du, Kiều). - Ngũ 五 Là năm, giống hình người ngồi bắc một chân lên chân kia, hai tay để ngang trên đầu: Bắc chân chữ ngũ, đánh củ khoai lang, Hỡi cô nhà hàng, rót anh chén nước. (ca dao) -Tử 子 Tử là con, là chữ liễu chỉ phái nữ có nét ngang: Phận liễu sao đành nẩy nét ngang (Hồ Xuân Hương). -Tá 佐 Tá là giúp. Người phụ giúp, thường được cho là cánh tay trái của một người nào đó. Tá có chữ nhân người và chữ tả 左 là phía tay trái. Việt ngữ có tứ giúp công và trong chữ tá, tả có chữ công. ………. Ngoài ra còn có thể dùng các phương ngữ ở miền nam Trung Hoa thuộc địa bàn cũ của Bách Việt như Quảng Đông, Hẹ, Triều Châu, Choang… để học tiếng Trung Hoa. Xin đề cập tới vào dịp khác. Tóm lại Ta có thể học tiếng Trung Hoa bằng tiếng Việt. Khi học chữ Hán, chữ Nho hãy cố liên hệ với tiếng Việt để dễ hiểu nghĩa và dễ nhớ.
  21. Thời thơ ấu của những thiên tài vĩ đại Họ là những người đã làm cả thế giới kính phục với tài năng, trí tuệ, sự uyên bác. Nhân dịp 1/6 chúng ta hãy nhìn về tuổi thơ của họ.Tác giả của những phát minh vĩ đại, những đóng góp to lớn cho lịch sử nhân loại. Newton, Einstein, Napoleon được cả thế giới biết đến như những người hùng thực sự. Tuy nhiên đằng sau sự tài năng đó, họ ẩn chứa những tuổi thơ bình dị hay khác thường mà chúng ta rất đáng tìm hiểu. Isaac Newton người đặt nền móng cho: cơ học, quang học, vật lý cổ điển Một nhà bác học đại tài của nhân loại, người khai sinh học thuyết “Vạn vật hấp dẫn”. Ông cùng với Einstein chính là 2 tri thức lỗi lạc quyết định đến sự phát triển của lý thuyết vật lý hiện đại. Issac Newton năm 46 tuổi Newton sinh vào năm 1642 (năm nhà bác học Gallile qua đời) trong tình trạng thiếu tháng, tên của ông được đặt giống hoàn toàn theo tên cha – người đã mất cách đó 3 tháng. Khi mới sinh, Isaac là một cậu bé ốm yếu, bé nhỏ đến nỗi có thể đặt vừa vào trong chiếc bình 1,5 lít. Sinh ra trong một gia đình nông dân, mẹ đã khuyên cậu bé bỏ học làm nghề nông, trông nom trang trại gia đình. Tuy nhiên, vì quá dở trong công việc tay chân này, năm 1661, Newton đã được gia đình cho tiếp tục đi học tại khoa Luật của trường Cambridge với diện học bổng và phải phục dịch các học sinh đóng học phí. Tài liệu về khoảnh khắc Newton phát hiện ra thuyết “Vạn vật hấp dẫn” trong cuốn sách về các nhà khoa học vĩ đại được lưu giữ tại Hội Hoàng Gia. Newton là người sùng bái Kinh thánh còn hơn cả nghiên cứu khoa học. Ông đã tiên tri đúng một sự thật: người Do Thái đã trở về mảnh đất Israel. Đồng thời ông cũng tính ra ngày hành hình chúa Jesu chính xác là ngày 3 tháng 4 năm 33 sau Công nguyên. Issac cũng đưa ra dự đoán ngày Tận thế của nhân loại là năm 2060. Thời còn trẻ Issac Newton có rất nhiều nghiên cứu, sáng chế, tuy nhiên ông thích giấu những phát minh đó và không hề công bố. Tuy nhiên khi xảy ra tranh cãi về công trình nghiên cứu số vi phân, tích phân (một cuộc tranh cãi rùm beng nhất trong lịch sử toán học thế giới) thì cái tên Newton liên tục xuất hiện trên diễn đàn khoa học thế giới như là một hiện tượng của nhân loại. Einstein tác giả của “Thuyết tương đối” nổi tiếng Albert Einstein (1879 - 1955), người “đàn ông thông thái nhất thế giới” được sinh ra trong một gia đình gốc Do Thái bên bờ sông Đanuyp thuộc Ulm, bang Wurttemberg, nước Đức. “Người đàn ông của thế kỷ, tri thức lỗi lạc nhất trong lịch sử” đã có một tuổi thơ khác biệt hoàn toàn với bóng dáng “thiên tài” được biết đến như ngày nay. Einstein cùng em gái thời thơ ấu Einstein là một đứa trẻ chậm biết nói và bố mẹ đã phải đưa cậu bé đi khám. Mỗi câu, từ trước khi nói ra Albert đều tự lẩm nhẩm vài lần trong miệng đến nỗi người hầu đã gọi ông là “Thằng đần”. Thông thường cậu bé Einstein hay suy nghĩ bằng hình ảnh hơn lời nói. Einstein đã tự tưởng tượng ra các hành động, hiện tượng và đặt câu hỏi, tự tìm câu trả lời cho những điều nghi vấn đó. Một cậu học trò ngỗ ngược, Einstein luôn luôn đặt những câu hỏi kỳ quái và cố tìm câu trả lời. Cậu rất hay cãi lời thầy giáo và có những phát ngôn ngớ ngẩn. Chính vì vậy mà vào năm cuối thời trung học (1895) Albert đã bị đuổi học. Einstein năm 14 tuổi với rất nhiều câu hỏi kỳ lạ Sau đó Albert đã theo bố mẹ sang Milan học dự bị, khi thi vào trường dự bị ở Zurich (Thụy Sỹ) cậu đã bị đánh trượt vì điểm kém và chưa có bằng trung học. Năm 1896, Einstein phải tiếp tục học trung học tại trường Aarau trong hoàn cảnh: không tiền, không gia đình, không bạn bè, không quốc tịch (từ bỏ quốc tịch Đức). Albert Einstein năm 1921 Đến năm 1905, Einstein đã đăng bài nghiên cứu về nền tảng cơ bản lý thuyết tương đối đầu tiên trên Biên niên vật lý. Từ đây, tên tuổi của Albert Einstein mới bắt đầu được biết đến trong giới khoa học với sự ngỡ ngàng của những người từng quen biết ông. Napoleon nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại nhất thế giới Napoleon là vị đệ nhất Tổng tài của nước Pháp, hoàng đế của Pháp và là vua của Italia, tuy nhiên việc nói tiếng Pháp của ông lại rất khó khăn. Tại sao? Napoleon Bonabarte sinh vào năm 1769 trên một hòn đảo Corsica được người Pháp mua lại của Italia trước đó một năm. Cho nên ông nói tiếng Ý rất tốt, còn tiếng Pháp thì rất tệ và ông phải luyện tập mỗi ngày. Họa phẩm thể hiện uy quyền của Napoleon Ở trường học, cậu bé thuận tay trái này luôn bị bạn bè trêu chọc vì nói tiếng Pháp chậm và không được chuẩn như bạn bè. Tuy nhiên Napoleon tỏ ra học rất giỏi các môn: Toán và Lịch sử. 10 tuổi, được mẹ cho đi học ở một trường Quân sự, ông dùng tiền học bổng tiêu vặt để gửi về giúp gia đình. Đặc biệt hầu như Napoleon không bao giờ ngủ, thời gian rảnh ông đều giành để đọc sách, tạp chí. Họa phẩm Napoleon trong phòng làm việc của Jacques – Louis David Với tài năng nổi trội, Napoleon đã được giới thiệu vào học trường quân sự Hoàng gia Pháp tại Paris. Năm 16 tuổi ông được mang hàm Đại úy, điều chưa từng xuất hiện trong lịch sử nhân loại. Napoleon đã xây dựng một đế chế rộng lớn khắp châu Âu, cái tên của ông bao phủ cả thời đại bấy giờ, và ông thực sự là một kỳ nhân vĩ đại của thế giới. Edison thầy phù thủy ở Menlo Park Edison là con út trong một gia đình có 7 anh chị em. Bố ông, Samuel Edison là người Hà Lan, bà mẹ Nancy của ông là một giáo viên tiểu học người Scotland. Ông là Người đàn ông sở hữu 1907 bằng phát minh, một kỉ lục vô tiền khoáng hậu trong giới khoa học. Ông cũng đã đọc tới hơn 10.000 cuốn sách và mỗi ngày ông có thể đọc hết 3 cuốn sách. Tưởng nhớ đến ông, chúng ta cùng tìm hiểu về những câu chuyện ngộ nghĩnh của nhà bác học "ngốc" này ... Edison đã từng ở trong một túp lều tranh, cậu bé nằm sấp trên một đống cỏ tranh, đầu tóc rối bù, dưới bụng là mấy quả trứng gà. Cậu cứ thế nằm im, vẻ mặt đầy chăm chú. Khi mẹ của cậu bé là Bà Nancy tìm hiểu sự việc, thực ra Edison đã nhìn thấy gà mẹ ấp trứng nở thành gà con nên tò mò muốn thử tự mình ấp xem có nở ra gà con được không. Edison và chiếc đèn điện đã vang danh khắp thế giới Đến năm 7 tuổi, Edison được cha mẹ cho đi học ở ngôi trường độc nhất trong vùng trường, chỉ có một lớp học 40 học sinh lớn bé đủ cả. Edison được xếp ngồi gần thầy nhất, đó vốn là chỗ cho những học sinh kém cỏi nhất. Trong khi học, Edison không chú tâm trả lời câu hỏi của thầy giáo mà thường đặt ra nhiều câu hỏi hóc búa với thầy giáo. Vì thế, cậu thường đội sổ và bị bè bạn chê cười. Thầy giáo của Edison đã từng nói về cậu: “Học trò này điên khùng, không đáng ngồi học lâu hơn”. Từ đó, Edison không đến trường nữa mà ở nhà tự học cùng mẹ. Edison thời trẻ Edison khi thấy thí nghiệm khí cầu bay của bố và cậu đã miệt mài tự chế ra mấy loại chất hóa học và bảo người làm thuê của bố là Max thử uống. Sau khi uống thứ thuốc Edison đưa cho, Max gần như ngất lịm người. Nhưng Edison vẫn một mực cho rằng: “Không bay lên được là thất bại của anh ta chứ không phải của mình”! Tạp chí Life đã đưa Edison vào danh sách “100 người quan trọng nhất trong 1.000 năm qua” với ghi chú: Bóng đèn của ông đã chiếu sáng thế giới. Năm 12 tuổi, Edison làm nghề bán báo và bán kẹo dạo trên tàu hỏa. Ngày ngày, vừa bán báo, Edison vừa tự mày mò nghiên cứu khoa học. Một lần, trong khi làm thí nghiệm, do không cẩn thận, Edison đã làm cháy toa tàu. Kết quả là cậu bị nhân viên soát vé tàu tát cho một cái ù tai và đuổi khỏi tàu, đồng thời cấm lai vãng đến đường ray nữa. Sự việc này đã khiến cho khả năng thính giác của Edison ngày một kém dần cho đến mãi về sau. Trong suốt cuộc đời cống hiến tận tụy của mình với những phát minh vĩ đại, nổi tiếng nhất là bóng đèn điện. Edison như là một nhà khoa học tiêu biểu nhất của nước Mỹ và thế giới. Theo PLXH
  22. Ô tô bay đầu tiên trên thế giới chính thức đi vào sử dụng Loại phương tiện mơ ước với khả năng vận hành cả trên đường bộ và đường không đã trở thành hiện thực và đi vào sử dụng. Đó là ô tô bay Transition Terrafugia. Ngày 30/6, Cục An toàn Giao thông Quốc gia Mỹ (NHTSA) đã chính thức cấp phép hoạt động cho chiếc ô tô bay đầu tiên trên thế giới, Transition Terrafugia. Theo đó, người lái có thể được phép bay trên các tuyến cảng hàng không địa phương, cũng như sử dụng chúng trên đường bộ. Hãng sản xuất mẫu xe này là Terrafugia, Inc. một hãng hàng không nhỏ ở Massachusett do các kỹ sư hàng không của Viện Công nghệ Massachusset thành lập. Lần đầu tiên, mẫu xe Transition được thử nghiệm là năm 2009 và được nâng cấp lên thế hệ tiếp theo vào năm 2010. Transition có thiết kế khá đơn giản: Hệ thống treo độc lập 4 bánh, đường rãnh xích rộng, khoảng cách giữa các trục dài, và trọng tâm khá thấp cho phép thăng bằng trên mặt đất. Các thiết bị kỹ thuật bên trong bao gồm 1 bánh lái, chân ga và chân phanh cho chế độ lái trên mặt đất; và các chân trục lái cho chế độ bay. Xe cũng được trang bị một hệ thống định vị GPS trên bảng điều khiển, bao gồm cả bản đồ đường bộ và biểu đồ đường không, một động cơ vận hành cánh quạt và bánh xe trên mặt đất. Transition có thể sử dụng xăng không chì để vận hành, loại nhiên liệu này khá rẻ và thân thiện với môi trường hơn hẳn so với các loại nhiên liệu tiêu chuẩn dùng cho máy bay thông thường. Các trang bị an toàn trên xe gồm có khóa đai an toàn chống giảm xóc đột ngột, khoang an toàn bằng sợi carbon liền khối, túi khí cho khách và người lái. Với chiều dài cánh máy bay là 5,8m, “máy bay” Transition chỉ mất chưa đến 1 phút để xếp cánh và trở thành một chiếc ô tô thông thường. Chiếc xe này chỉ có khả năng chở trên không 330lb (~150kg). Giá bán của mẫu xe Transition hiện tại là 250.000 USD. Nhà sản xuất Terrafugia nhận đặt cọc trước 10.000 USD. Tính đến nay đã có khoảng 100 đơn hàng đặt mua Transition. Dự kiến, mẫu xe này sẽ đến tay người dùng vào năm 2012. http-~~-//www.youtube.com/watch?v=1ipJa8ko2vA&feature=player_embedded#at=139 Theo PC World VN
  23. Những “kiệt tác kiến trúc” của loài vật Cùng ngắm nhìn những công trình xây dựng vĩ đại mà ít ai ngờ người xây nên chúng là những loài vật bé nhỏ vô cùng.1. Đập nước lớn của loài hải ly Hải ly là loài động vật có lông dày và răng lớn, nổi tiếng với việc dùng gỗ, bùn đất và đá để xây dựng các đập nước. Nó có tác dụng như một con hào nhằm bảo vệ cho gia đình chúng, ngăn chặn được những loài thú săn mồi như chồn, cáo, sói, gấu và giúp chúng dễ dàng kiếm thức ăn trong mùa đông. Đây cũng chính là ổ của một gia đình hải ly. Hàng ngày, chúng sẽ không ngừng gia cố và mở rộng thêm cho con đập của mình. Kỷ lục về đập nước lớn nhất thế giới do hải ly xây dựng từng được ghi nhận có chiều dài khoảng 850m nằm ở Công viên quốc gia Wood Buffalo, Canada. Đây có thể nói là công trình kiến trúc của loài vật lớn nhất trên Trái đất và đặc biệt nhất là có thể nhìn thấy chiếc đập nước khổng lồ này trong những bức hình chụp từ vệ tinh ngoài không gian. 2. “Siêu thành phố” của loài mối Trong tự nhiên, tổ của loài mối là những tháp lớn xây dựng từ đất, bùn, gỗ mục và thậm chí là từ phân của chúng với chiều cao lớn nhất có thể tới 7,5m, đường kính khoảng 12m và nặng đến hàng trăm tấn. Trong một tổ mối, mối chúa có kích cỡ gấp 30 lần mối thợ, mối lính và đôi khi, nó đẻ tới hơn 30 trứng trong 1 phút để giúp duy trì đế chế của mình. Dưới những cột tháp khổng lồ đó còn là cả một vương quốc lớn ở dưới lòng đất với quy mô phức tạp, có những khu vực riêng để trồng nấm, đảm bảo tự cung tự cấp. Điểm ấn tượng nhất của hang mối là hệ thống đường hầm với tác dụng như là ống dẫn để điều hòa không khí và nhiệt độ, một ý tưởng lớn mà mãi sau này con người mới lưu tâm đến trong những tòa nhà của mình. 3. Thành phố ngầm của chuột chũi Hang của loài chuột chũi thực sự có thể gọi là thành phố với lãnh địa kéo dài tới hàng trăm mét và sức chứa hàng nghìn “cư dân” cùng một lúc. Tại đây, chúng dự trữ một lượng lương thực lớn để đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt. Điểm ấn tượng nhất của công trình tự nhiên này là quy hoạch thành phố được tổ chức rất tốt với hệ thống các phòng riêng biệt với phòng ngủ, phòng giữ ấm vào mùa đông và thậm chí là nơi giữ những con chuột chũi con. Các phòng đều có những hốc nhỏ để giúp thông khí và điều hòa nhiệt độ. Nguy cơ ngập nước cũng được ngăn ngừa khi chúng đã đắp những bờ đê xung quanh miệng hang để đảm bảo an toàn. Ngoài ra, chúng còn bố trí những con gác tại miệng hang để đề phòng kẻ thù tấn công bất ngờ. Nếu thấy có dấu hiệu đáng ngờ, chúng sẽ truyền tín hiệu để báo động và tăng cường phòng thủ. 4. Siêu mạng nhện khổng lồ Nhện là loài sống đơn độc và thường sống xa nhau để tránh xảy ra xung đột nên hiếm khi chúng ta có thể thấy nhiều nhện ở cùng một chỗ bao giờ. Tuy nhiên, trong những dịp hiếm hoi mà chúng kết hợp với nhau cùng “tác chiến” thì kết quả thật đáng kinh ngạc với những mạng nhện khổng lồ giăng khắp cây cối và mọi vật trong phạm vi bao phủ. Người ta cho rằng có thể nguyên nhân là do mưa rào làm cho lượng sâu bọ có thể ăn được dồi dào, chính vì thế mà những con nhện đã chọn cách hợp tác để cùng nhau thu hoạch chiến lợi phẩm trời cho này. 5. Tổ kiến khổng lồ Tổ kiến lớn nhất từng được phát hiện nằm tại châu Âu có chiều dài hơn 6.400km với số lượng hàng nghìn tỷ con. Chúng ta đều biết kiến là một loài vật với sức khỏe phi thường có thể mang những vật nặng gấp vài lần trọng lượng cơ thể chúng nhưng không biết chúng còn là những nhà “kiến trúc sư” đại tài. Nhìn vào công trình tổ kiến ngầm của chúng mới thấy hết được sự vĩ đại này. Như tổ kiến trên hình có diện tích là 46m2, chiều sâu tới 7,5m và cần tới gần 40 tấn đất bùn để hoàn thành với chằng chịt vô số những hang, đường nhánh nhỏ. 6. Những tổ chim “bền vững với thời gian” Giống chim sẻ thuộc họ nhà Hilton, thường sống ở châu Á và châu Phi là một trong những giống chim thân thiện nhất trên thế giới và cũng được biết đến là loài có chiếc tổ lớn nhất. Thay vì xây những tổ riêng lẻ, khoảng 300 cặp chim sẻ chung tay xây một chiếc tổ khổng lồ với chiều rộng tới 6m, cao 2,5m, trong đó mỗi căn riêng nhỏ được dành cho một cặp đôi. Những chiếc tổ như vậy vô cùng vững chắc và có thể tồn tại đến hàng trăm năm. Tổ chức quy củ, phức tạp và tính bền vững theo thời gian của những chiếc tổ chim này đúng là một tuyệt tác kiến trúc của thế giới tự nhiên. 7. Sự “chuẩn mực” đến hoàn hảo trong kiến trúc của tổ ong Có thể nói đây là một kiệt tác đáng kinh ngạc của ong thợ với sự chính xác đến không ngờ. Ngay cả quá trình xây dựng cũng là một kì công khi những chú ong thợ tiết ra những miếng sáp ong ấm chỉ nhỏ bằng kích thước đầu kim rồi sau đó miệt mài xây đắp để tạo ra một mạng lưới gồm vô số các ô nhỏ hình trụ có 6 mặt đều tăm tắp xếp theo chiều dọc. Mỗi cạnh của 6 mặt có cùng một chiều rộng và nằm ở một góc 120°, kiến trúc đối xứng hoàn hảo một cách đáng kinh ngạc mà không cần đến một dụng cụ đo đạc nào như ở con người. Theo VietNamNet
  24. Xin chia buồn cùng gia đình thầy Linh Trang Cầu mong anh linh cụ sớm tiêu diêu miền cực lạc
  25. Xác nhận : đã nhận được chuyển khoản của Tran Diem Thanh nick hoangthienlong, lớp PTCB 07 1.800.000 VNĐ
×
×
  • Create New...