-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
1. Một Cốc Trà Nan-In, một thiền sư Nhật vào thời Minh - Trị (1868- 1912), tiếp một vị giáo sư đại học đến tham vấn về Thiền. Nan-In đãi trà. Ngài chế một cốc đầy và vẫn tiếp tục rót. Vị giáo sư nhìn cốc nước tràn cho đến khi không nhịn được, bèn lên tiếng: "Nó đã đầy tràn rồi, không thêm được nữa đâu!" "Thì cũng như chiếc cốc này" Nan-In thong thả nói, "ông đã mang đầy tư kiến và thành kiến. Làm sao tôi có thể chỉ cho ông về Thiền nếu ông không cạn cốc của ông?" 2. Tìm Thấy Viên Ngọc Trên Đường Bùn Gudo tuy là quốc sư, nhưng ngài vẫn hay du hành như một kẻ khất sĩ lang thang. Một hôm trên đường đi Edo, một trung tâm văn hóa và chính trị quan trọng, ngài đến gần một ngôi làng có tên là Takenaka. Trời đã tối và mưa tầm tả, Gudo ướt mẹp và đôi dép rơm đã tơi tả. - một căn nhà tranh gần làng, ngài thấy có khoảng bốn hay năm đôi dép bày ở cửa sồ và muốn vào hỏi mua một đôi. Người đàn bà thấy ngài ướt lạnh, thương tình mời ngài trú qua đêm. Gudo nhận lời và cám tạ bà ta. Ngài đến trước bàn thờ giữa nhà tụng một thời kinh. Sau đó bà mẹ của bà chủ và bầy con ra chào. Nhìn thấy cả nhà buồn bả, ngài hỏi cớ sự. "Chồng con là kẻ cờ bạc say sưa", người đàn bà kể lể. "Khi ổng ăn bạc thì uống rượu say mèm rồi về nhà đánh đập vợ con. Nếu ổng thua thì đi vay mượn khắp nơi. Lắm khi say quá lại không về nhà. Con phải làm sao?" "Để bần tăng giúp cho," Gudo nói. "Đây có ít tiền, hãy đi mua một chung rượu ngon và ít đồ nhấm. Rồi bà đi nghỉ đi. Bần tăng sẽ tọa thiền trước bàn thờ." Nữa đêm, ông chồng say khướt trở về, la lối om xòm. "Con mẹ nó đâu, tao về nhà đây này. Có cái gì ăn không?" "Có" Gudo nói, "Bần tăng bị mắc mưa và được bà nhà thương tâm cho tạm trú qua đêm. Để đền đáp bần tăng có mua một ít rượu và đồ nhấm dành cho ông dùng." Gã đàn ông hài lòng, uống sạch chung rượu rồi ngã lăn trên sàn mà ngủ. Gudo tọa thiền cạnh bên. Sáng sớm hôm sau, gã đàn ông tỉnh dậy quên hẳn mọi chuyện đêm qua. "Ông là ai? - đâu đến đây?" gã hỏi Gudo khi ngài vẫn còn trầm tư mặc tưởng. "Bần tăng là Gudo từ Đông Kinh đến, trên đường đi Edo," Thiền sư trả lời. Gã đàn ông xấu hổ quá, liền miệng xin lỗi quốc sư. Gudo mĩm cười. "Mọi sự, mọi vật trên đời đều vô thường," ngài giảng giải. "Cuộc đời rất ngắn ngủi. Nếu ông cứ tiếp tục cờ bạc và rượu chè thì ông chẳng làm được việc gì hữu sự, lại còn làm khổ vợ con." Gã đàn ông chợt ngộ, như ra khỏi cơn mê. "Đại sư nói đúng," anh ta dõng dạc. "Làm sao con có thể đền bù cho ngài về lời dạy này! Hay là để con mang hành lý hộ ngài và tin ngài một đoạn đường.ẽ "Nếu ông muốn," Gudo tán đồng. Hai người lên đường. Sau khoảng ba dặm, Gudo bảo y quay về. "Xin được thêm năm dặm nữa," gã nài nỉ. Họ tiếp tục đi. "Giờ ông nên quay về," Gudo khuyên. "Hẳn thêm mười dặm nữa," gã đàn ông xin. "Hãy về ngay," Gudo bảo sau khi đã đi hết mười dặm. "Xin cho con theo Đại sư suốt đời," gã tuyên bố. Những thiền sư hiện đại của Nhật đều là môn đệ của người kế thừa Gudo. Tên của ngài là Mu-nan, người đàn ông đã không bao giờ quay trở lại. ^ 3. Thật Vậy Sao? Thiền sư Hakuin được mọi người tán tụng là một bậc đạo hạnh. Cạnh thiền thất có một cô gái xinh đẹp mà bố mẹ là chủ một cửa hàng thực phẩm. Bỗng dưng một hôm bố mẹ cô khám phá ra rằng cô đang mang bầu. Cô không chịu khai ai là tác giả của cái bào thai, nhưng sau bao lân cật vấn cô bảo là Hakuin. Cha mẹ cô điên tiết lên đến đối chất với Hakuin. Ngài chỉ nói "Thật vậy sao?". Ngay khi đứa bé vừa chào đời, nó được giao cho Hakuin, lúc bấy giờ danh dự của ngài đã bị tổn thương nghiêm trọng, nhưng ngài vẫn thản nhiên. Ngài tận tình chăm sóc đứa bé và thường đi sang hàng xóm để xin sữa và các thức cần thiết khác để nuôi trẻ sơ sinh. Một năm sau, cô gái xinh đẹp kia không chịu đựng được lương tâm cắn rứt, bèn thú nhận với bố mẹ rằng người cha thật sự của đứa bé là anh hàng cá trẻ tuổi. Bố mẹ cô gái vội vả đến tạ lỗi với thiền sư, mong ngài thứ tội và xin nhận lại đứa bé. Hakuin chấp thuận và khi trao đứa bé lại ngài chỉ nói: "Thật vậy sao?".^ 4. Vâng Lời Khi thiền sư Bankei thuyết pháp, thính giả không những chỉ là thiền sinh mà còn có mọi hạng của các tông phái khác. Ngài không bao giờ trích dẫn kinh sách hoặc say sưa biện luận. Thay vào đó, lời ngài giảng đi thẳng vào tâm người nghe. Thính chúng đông đảo của ngài làm cho một vị tăng của phái Nichiren tức giận, bởi vì ngay cả đồ đệ của ông ta cũng bõ đi nghe thiền. Vị tăng cao ngạo kia quyết định tìm đến thiền đường để tranh biện với Bankei. "Này, ông giáo thiền kia!" vị tăng gọi lớn. "Đợi một chút. Ai kính phục ông đều nghe lời ông cả, nhưng một kẻ như ta đây không hề phục ông. Vậy ông có thể làm cho ta vâng lời ông được chăng?ẽ "Hãy đến gần đây, ta sẽ chỉ cho" Bankei nói. Với vẻ tự đắc, vị tăng nọ vạch đám đông bước đến. Bankei mĩm cười bảo "Ông hãy sang bên trái ta." Vị tăng làm theo. "Không," Bankei nói, "Chúng ta có thể nói chuyện d hơn nếu ông bước sang bên phải. Hãy qua đây." Ông tăng lại vênh váo bước sang bên phải. "Ông thấy không" Bankei nhỏ nhẹ, "ông đang tuân theo lời ta và ta nghĩ ông cũng là một người rất tốt. Bây giờ hãy ngồi xuống và lắng nghe."^ 5. Nếu Yêu, Hãy Yêu Công Khai Hai mươi tăng sinh và một ni sinh tên là Eshun, đang tu thiền với một vị thiền sư. Eshun rất đẹp mặc dù đã cạo đầu và khoác áo nâu sòng. Vài tăng sinh đem lòng yêu trộm. Một tăng sinh viết cho cô một lá thư tình và mong được gặp riêng. Eshun không trả lời. Ngày hôm sau vừa hết buổi giảng của thầy, Eshun đứng dậy nói lớn, ám chỉ vào người đã gởi thư cho cô: "Nếu sư huynh nào đó yêu tôi thực sự thì ngay bây giờ hãy đến đây ôm tôi."^
-
@ MeCoCa, Nhờ chú xem giúp cháu các vấn đề như sau ạ: Tuổi: Bính Dần (sinh 23/08 ÂL, lúc 18h45') Giờ hỏi: 12h52 phút chiều ngày 27/08/2011 (DL) Hiện tại chồng cháu (sinh năm Quý Hợi) phụ giúp mẹ trong công việc kinh doanh, sản xuất lúa gạo và có chạy xe. Cháu thì học về du lịch, đã từng đi làm, nhưng sau khi lập gia đình thì mở kinh doanh riêng về du lịch, kết hợp buôn bán điện thoại tại nhà cháu. Nhưng công việc cứ đều đều, không thấy tiến triển thuận lợi, hoặc đạt được thu nhập tốt như mong muốn. Vậy cháu xin hỏi : 1. Hai vc cháu có phải không thích hợp với công việc này, vậy có nên thay đổi công việc nào tốt không, lĩnh vực nào ạ hoặc thay đổi địa điểm? Không phải là không hợp, mà chưa gặp thời. 2. Đến năm nào thì việc kinh doanh phát triển tốt và vững chắc? Đến đầu năm 2013, công việc sẽ rất tốt. 3. Hai cháu đã có con trai đầu sinh 27/06/2011 lúc 6h50' sáng, cháu có ngoan không chú? "Giàu con út, khó con út" cháu nên sinh con út vào năm nào , tháng nào thì công việc của cha mẹ phát triển tốt và gia đình êm ấm ạ? Rất tốt. Con ngoan, thông minh lanh lợi, sinh thêm đứa Giáp Ngọ 2014, nên sinh tháng 7,8,10, tháng Một (11) âm. @ Hoang gia phong về vấn đề tư vấn phong thủy thì em chưa biết ai, xin anh vẽ đường giúp em ! Liên hệ thầy Thiên Sứ. @ ThuyAnh Xin nhờ các thầy tư vấn, cháu tên Trần Thị Thùy, Nữ, sinh ngày 18/07/1987 DL lúc 21h Link lá số: http://www.lyhocdong...w=screen&size=2 Thông tin thêm: - cháu là con cả trong gia đình - bị tật ở gan bàn chân bẩm sinh , tuy ko ảnh hưởng gì đến sức khỏe nhưng đã đi phẫu thuật 2 lần ko khỏi -Bố tuổi hợi -Mẹ tuổi sửu -Em gái sinh ngày 07/06/1993 dương lịch -Em trai sinh ngày 04/02/1998 dương lịch Cháu muốn nhờ các thầy tư vấn về công việc của cháu năm 2011, cháu mới lấy được bằng tốt nghiệp ĐH Sư Phạm Hà Nội , liệu trong năm nay cháu có thể xin được việc ko Cháu muốn hỏi thêm - Bạn trai cháu sinh ngày 21/05/1984 dương lịch - chúng cháu rất muốn kết hôn trong năm nay nhưng lại phạm phải năm tam tai của bạn trai ,vậy cháu muốn nhờ các thầy tư vấn thêm thủ tục làm lễ hóa giải để năm 2011 chúng cháu được kết hôn thuận lợi -Và nếu như năm nay chúng cháu kết hôn thì sinh con năm nào thì tốt ạ? Cháu rất mong nhận được hồi âm của các thầy ạ Không có lời tư vấn vì người hỏi không ghi ra thời gian hỏi. @ Linh Nga Nhờ Thiên Đồng dự báo giúp.Gia đình tôi hiện tại đang có 7 tấn vải thiều khô,giá hiện tại khoảng 24 -25 nghìn/kg. Tôi tuổi Kỷ Hợi,nữ Hỏi vào ngày 28/9/2011 dương lịch, 15h30p (thời gian ghi sai, tôi lấy theo ngày 27/8/2011, khoản 13g30) 1.Trong vòng 1 tháng nữa giá cả có chiều hướng tăng lên không? Tính từ ngày hỏi thì trong vòng 4 đến 7 ngày, giá sẽ tăng lên. Nhưng sau đó thì giảm xuống. 2.Khi nào tôi có thể bán hết 7 tấn và có được lời lãi? Nhanh thì trong vòng 7 ngày, chậm 2 tháng, tính từ lúc hỏi. 3.Giá đỉnh điểm trong năm nay là bao nhiêu? 26-29 nghìn hoặc 33-40 nghìn/kg Cảm ơn Thiên Đồng Chúc thuận lợi. Thiên Đồng
-
@ Nhân Duyên, Nam, sinh ngày 17/05/86 al, hỏi lúc 14h37". 1. Em và vợ em chuẩn bị cưới, vợ em sinh tháng 7 hay 8 âm lịch không rõ, năm 1990 anh xem hai đứa thế nào ạ có sống đến đầu bạc răng long không? Vợ em thương em nhiều hay không và có nghe lời em nói khi có việc gì hệ trọng xảy ra ảnh hưởng đến cuộc sống? Ở đến khi đầu bạc răng long lay. Ngược lại, là "lệnh ông không bằng còng bà". 2. Vợ em tính học may không biết hợp không anh hay hợp buôn bán hơn như bán nước, sinh tố...? Nghề may thì không hợp. 3. Gia đình vợ em hứa nếu hai chúng em lấy nhau sẽ cho vợ chồng em ít vốn làm ăn không biết có đủ để sang năm xây nhà và buôn bán không anh, ngoài số tiền đó vợ chồng em có được thừa hưởng hay người thân cho thêm ít vốn không anh? Không thêm tí nào. Em xin chân thành cảm ơn. Chúc anh sức khỏe mong anh hồi âm sớm giúp em. @ Ceylin, quẻ hưu tốchỷ. Anh Thiên Đồng mến, hôm nay em có việc nhờ anh tư vấn, mong anh dành chút thời gian giúp em. EM đang gặp khó khăn về chuyện nhà cửa. Câu hỏi của em là: 1. Nhà em đang xây lâu lắm rồi mà vẫn chưa xong. a. Trong năm nay em có lấy nhà được không? Chưa lấy được, tháng giêng năm 2012 mới được. b. Nếu được thì trong tháng nào? tháng giêng. c. Từ giờ trở đi bên phía xây dựng có còn gây khó khăn cho gd em nữa không? Có lai rai về vụ tiền vật tư. d. Từ khi dọn vào nhà mới này, cuộc sống gđ, cộng việc có bị xáo trộn không? Bình yên. 2. Về công việc của chồng. Hiện giờ chồng em đang làm 2 công việc, tam gọi công việc 1 và công việc 2, nhưng công việc 2 không có lương. a. Bao giờ chồng em được chuyển sang công việc 2 hòan tòan và nhận được lương? nhanh thì tháng 9 âm năm nay, chậm thì tháng giêng năm sau. Có khả năng là năm sau. 3. Tháng 9 (dương lịch) này, gđ có nên đổi xe không? Không nên. Mắc nợ à! Em cảm ơn anh rất nhiều. @ Hoàng gia phong, Hoàng Gia Phong ( Nam ) sinh ngày : 17/8/1989 Thời gian hỏi : 2h 28' - Năm nay nhà em có ý định xây mộ tổ không biết có làm được không ? Không làm được. Suy tính nhưng sẽ không làm được. Hơn nữa chuyện quan trọng, cần có sự tư vấn của nhà phong thủy. Em xin hỏi về chuyện tình duyên sau này ? Có những chuyển biến bất ngờ và kết cục đẹp tươi. @ Kim bich Chào anh Thiên Đồng, Em tên Vũ Thị Kim Bích Sinh ngày 31/08/1975, hỏi lúc 21h10 ngày 26/08/2011 Câu hỏi 1 : Vợ chồng em đang có ý định mua một miếng đất, không biết có mua được không? Chưa mua được. Nhanh thì tháng 10 âm mua được, chậm thì tháng 2 năm sau. Câu hỏi 2 : Năm Quý Tỵ vợ chồng em có kế hoạch sinh con. Kế hoạch này có thành công không? Có thể được. Câu hỏi 3: Công việc kinh doanh của chồng em tốt lên không? Hiện anh ấy đang làm kinh doanh gạch ốp lát, chồng em tên Vũ nhất Duy, sinh ngày 06/04/1975 Cũng bình bình. Bình bình không lỗ là được rồi. Em xin cảm ơn @katze, Cháu chào chú Thiên Đồng. Nhờ chú bốc quẻ xem giúp cháu với ạ. Cháu tuổi Mậu Thìn - Nữ Giờ hỏi: 11h02, ngày 27/8/2011 Câu hỏi: 1. Bố mẹ cháu đi gọi hồn cụ nội và ông nội nhiều lần rùi nhưng cụ và ông không lên. Vậy cho cháu hỏi bao giờ cụ và ông lên ạ? Không lên nữa, vì các cụ siêu thoát rồi hoặc an nhiên nơi cực lạc không vướn chuyện trần gian nữa. 2. Bài niên luận của cháu đợt này kết quả thế nào ah? Khả quan, cao nhất là 8 điểm. Cháu cám ơn chú! Thiên Đồng
-
Tuyệt Quán Luận Thô là câu hỏi. Duyên Môn xin quyết. Chú là lời Đáp, Nhập Lý trừ nghi, Đó gọi là Tuyệt Quán Luận. I Xét về Đại Đạo vốn rỗng thênh như hư không, lặng lẽ, sâu xa vi diệu, chẳng thể dùng tâm lĩnh hội, chẳng thể dùng lời tỏ bày. Nay tạm lập ra hai người cùng bàn nhau về chân thật: Thầy tên Nhập Lý, trò hiệu Duyên Môn. Lúc ấy, Thầy Nhập Lý im lặng không nói năng, Duyên Môn chợt dấy lên hỏi thầy Nhập Lý: Thế nào gọi là tâm? Thế nào là an tâm? Đáp: Ông chẳng cần lập tâm, cũng chẳng cần gượng an, chính là an vậy. Hỏi: Nếu không có tâm, làm sao học đạo? Đáp: Đạo chẳng phải tâm niệm, đâu ở nơi tâm. Hỏi: Nếu chẳng phải tâm niệm, sẽ lấy cái gì niệm? Đáp: Có niệm tức có tâm, có tâm tức trái đạo. Không niệm tức không tâm, không tâm tức đạo chân thật (chân đạo) Hỏi: Tất cả chúng sanh thật có tâm chăng? Đáp: Nếu chúng sanh thật có tâm tức là điên đảo. Chỉ vì trong không tâm lập có tâm bèn sanh vọng tưởng. Hỏi: Không tâm thì có vật gì ? Đáp: Không tâm tức không vật, không vật tức thiên chân (chân thật vốn sẵn có), thiên chân tức Đại đạo. Hỏi: Chúng sanh vọng tưởng làm sao diệt được ? Đáp: Nếu thấy vọng tưởng và thấy diệt là chẳng lìa vọng tưởng. Hỏi: Chẳng khiến cho diệt, có được hợp đạo lý chăng ? Đáp: Nếu nói hợp và chẳng hợp cũng chẳng lìa vọng tưởng. Hỏi: Khi ấy thế nào ? Đáp: Chẳng khi ấy. (mót được)
-
Dấu vết của vụ giết nhà chủ tiệm vàng Sau khi sát hại vợ chồng, con cái anh Ngọc, hung thủ đập phá tủ đựng vàng, lấy đi nhiều tài sản. Cảnh sát nhận định, những kẻ giết người đột nhập bằng cửa sổ, hoặc từ tầng 3 của căn nhà. Ngày 25/8, Công an tỉnh Bắc Giang cho biết đã ra quyết định khởi tố vụ án giết người, cướp tài sản xảy ra tại số 45 phố Sàn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam. 9h sáng 24/8, chủ tiệm vàng Ngọc Bích là anh Trịnh Thanh Ngọc (37 tuổi), cùng vợ Ninh Thị Chín (35 tuổi) và con gái Trịnh Phương Thảo (2 tuổi) được phát hiện chết trong căn nhà 3 tầng. Cháu Trịnh Ngọc Bích (8 tuổi), con lớn của vợ chồng anh Ngọc may mắn thoát chết nhưng bị chém đứt lìa cánh tay. Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường cho thấy, vết máu kéo dài từ tầng 2 đến cầu thang và trên tầng 3. Cảnh sát nhận định, trong quá trình gây án, hung thủ đã bị gia đình chủ tiệm vàng phát hiện nên chúng đuổi theo truy sát, bịt đầu mối. Ngoài tủ đựng vàng bị đập phá, cánh cửa ra vào và cửa đằng sau không bị cậy phá. Kẻ thủ ác có thể đã đột nhập vào trong nhà bằng cửa sổ hoặc từ trên tầng 3 của căn nhà. Chìa khóa của chiếc Innova vẫn trong xe. Hệ thống camera cũng bị phá hủy. Một số người thân của nạn nhân cho biết, thường ngày, sau khi đóng cửa tiệm vàng, vợ chồng anh Ngọc thường hay gom vàng lại, cất vào két. Vào đêm xảy ra án mạng, chủ tiệm đã để lại số vàng tại quầy bán. Tuy nhiên, chiếc két của gia chủ cũng bị phá tung. Gần tiệm vàng Ngọc Bích, có quán thịt chó, nơi tập trung nhiều thành phần phức tạp đã được đưa vào "tầm ngắm". Bé Bích trong khi được đưa đi cấp cứu cho biết, kẻ hại chết bố mẹ và em gái là hai thanh niên "tóc xanh, tóc đỏ". Phương Việt =============================== Ngày 27/7/ tân mẹo, giờ thân. Đỗ Lưu Niên. Sẽ bắt được hung thủ, nhanh thì 2 tuần sau, chậm thì một tháng sau. Hung thủ có từ 4 đến 6 tên, 02 bên ngoài 02 tên bên trong gây án. Thiên Đồng
-
Thảm sát kinh hoàng tại tiệm vàng: 3 người chết, 1 người bị thương 24/08/2011 18:40 (TNO) Chiều nay 24.8, hàng ngàn người dân hiếu kỳ đã đổ xô về tiệm vàng Ngọc Bích (phố Sàn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) theo dõi công an khám nghiệm hiện trường vụ trọng án xảy ra tại đây khiến 3 người chết và 1 người bị thương. Đây là vụ cướp tiệm vàng kinh hoàng nhất ở vùng quê Lục Nam từ trước đến nay. Sau khi chém chết vợ, chồng, con chủ tiệm vàng, kẻ cướp đã lấy đi hơn 30 lượng vàng. Thông tin từ công an tỉnh Bắc Giang cho biết, vụ án mạng được phát hiện vào khoảng 9 giờ cùng ngày, khi người dân xung quanh tiệm vàng phát hiện những biểu hiện bất thường như không thấy chủ tiệm mở cửa bán hàng như thường ngày, cũng không thấy vợ chồng tiệm vàng Ngọc Bích đưa con đi học. Tiếp đó, người nhà của chủ tiệm vàng Ngọc Bích nhận được cuộc gọi từ cháu Trịnh Thị Bích, 9 tuổi, là con của vợ chồng chủ tiệm vàng thông báo “bố mẹ cháu bị cướp” sau đó cúp máy. Sợ có việc chẳng lành, người nhà tiệm vàng Ngọc Bích và hàng xóm phối hợp cùng cơ quan chức năng phá cửa để vào bên trong. Tại hiện trường họ chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng, vết máu vương vãi khắp nơi. Tại tầng trệt, tủ kính chứa vàng bị đập vỡ, chưa thể xác định số vàng bị lấy đi. Tại cầu thang tầng 1, anh Trịnh Thanh Ngọc (SN 1974) là chủ tiệm nằm chết với nhiều vết chém trên người, trong đó có một nhát chém sâu vào gáy. Trong phòng ngủ chung của gia đình, cháu Trịnh Phương Thảo, sinh năm 2010, nằm chết trên giường với một nhát cắt sâu ở cổ. Ở tầng 2, đồng thời là phòng thờ của gia đình phát hiện xác của chị Đinh Thị Chín (SN 1976) là vợ của anh Ngọc nằm chết với 1 vết đâm ở bụng và ở cổ. Riêng cháu Trịnh Thị Bích bị chém nhiều nhát, trong đó cánh tay phải bị chém đứt. Cháu Bích được đưa đi cấp cứu kịp thời và đã qua cơn nguy kịch. Được biết, tiệm vàng Ngọc Bích nằm trong khu dân cư có đông người qua lại, ven quốc lộ 31. Vợ chồng anh Ngọc và chị Chín đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, 2 năm nay về mở tiệm vàng này. Ngoài kinh doanh vàng, gia đình anh Ngọc còn cho vay tiền lấy lãi. Trưa và chiều nay, công an huyện Lục Nam đã phối hợp với các phòng ban nghiệp vụ công an tỉnh Bắc Giang tổ chức khám nghiệm hiện trường. Theo nguồn tin riêng của Thanh Niên, vụ trọng án xảy ra có khả năng nhằm mục đích cướp tài sản. Nhiều khả năng hung thủ đã leo lên cột điện trước nhà rồi đột nhập vào bên trong. Trong khi thực hiện hành vi thì bị phát hiện và ra tay thủ ác. Qua khám nghiệm hiện trường sơ bộ cho thấy, chuông báo động ở tầng 1 đã bị cắt, hệ thống điện cũng bị cắt. Hiện cơ quan công an đang ráo riết truy tìm tung tích hung thủ. Thái Sơn - Minh Sang
-
Tẩu Hỏa Nhập...Người Một người muốn tập thiền để hưởng lợi ích của phương pháp nhưng lại sợ bị “tẩu hoả nhập ma”. Một hôm đi đến nhà Ông Mập để hỏi về việc ấy. Đường đi ngang qua một nghĩa địa. Trong nghĩa địa một con Ma Mẹ đang giảng giải cho con Ma Con: - Này con, con nhớ đấy, nhập vào cái gì cũng được, chứ nhất thiết đừng nhập vào “Con người” - Thưa mẹ, tại sao vậy? - Mình tuy là Ma nhưng mình thành thật nhận mình là Ma chứ đâu có chối cãi. Còn chúng thì còn Ma hơn mình, nhưng bên ngoài cứ giả vờ đạo đức. Do vậy suy ra trong đường tu chúng còn thấp hơn mình. Con mà nhập vào chúng thì muôn kiếp bị đoạ địa ngục của địa ngục đời đời kiếp kiếp không có thể trở lại làm ma huống chi là thoát luân hồi. Sau khi nghe Ma Mẹ giảng xong. Ma Con ra ngoài chơi thì gặp người sợ “tẩu hoả nhập ma” nọ, đang trên đường đi tới nhà Ông Mập. Ma Con hoảng hồn vừa chạy vừa la: - Ối mẹ ơi, . . . .cứu con với. . . .con người. . . .con người. . . . Ma Mẹ sau khi chạy ra ẵm con chạy vào nghĩa địa, nó nói với con Ma Con: - May mà con chưa bị “Tẩu hoả nhập người” đấy !. . . .hú hồn. . . . (mót được)
-
Hiện Tượng Hy Hữu: Tượng Phật Lần Lượt Mỉm Cười Và Mở Mắt
Thiên Đồng replied to Sophia's topic in Mạn Đàm
người ta thường nói là "nói chuyện Tàu lao" mà! Hehe. Không có phần trăm nào là thiệt. Ông phật không có rỗi hơi để đi làm chuyện này. -
Hiện Tượng Hy Hữu: Tượng Phật Lần Lượt Mỉm Cười Và Mở Mắt.
Thiên Đồng replied to tranlong07's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
người ta thường nói là "nói chuyện Tàu lao" mà! Hehe. Không có phần trăm nào là thiệt. Ông phật không có rỗi hơi để đi làm chuyện này. -
Hiện Tượng Hy Hữu: Tượng Phật Lần Lượt Mỉm Cười Và Mở Mắt.
Thiên Đồng replied to tranlong07's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
Thiệt không đó?! Hic. -
Phao Bát Nhã - Thưa cụ tại sao có hình tượng thuyền bát nhã? - Này Cỏ May, thuyền bát nhã là phương tiện giúp chúng sanh vượt qua sông mê để đến bờ giác. Thế nhưng thời mạt pháp này, theo già thì nên thay “Thuyền Bát Nhã” bằng “Phao Bát Nhã”thì mới hợp lý. - Thưa cụ, tại sao vậy. - Này Cỏ May, sự phóng thể rời xa gốc của chúng sanh ví như sông mê nước đang chảy xiết. Gió tam độc Tham, Sân, Si, sẽ làm sông mê dậy sóng. Gây nguy hiểm cho bất cứ con thuyền nào. Cứ mở bất kỳ một tờ báo nào cũng thấy toàn là đấu tranh, hận thù, chém giết, lừa lọc, bất nhân bất nghĩa, phản bạn lừa thầy. . . .chả có điều gì tốt đẹp, chả có điều gì vui,. . .Đấu tranh hận thù từ trong nhà ra tới xã hội và đường phố. . . Lý tưởng làm giàu bằng mọi cách và sống gấp, sống nhanh, sống thử đang là mốt của thời đại. . . . Thế thì cuộc đời này, con sông mê hay biển mê này đang nối sóng thần. Con tàu nào, con thuyền nào chịu đựng nỗi, vượt qua nỗi chứ ?!. . . .Bị chìm bị đắm giữa trận cuồng phong bốn bề sóng dữ là điều khó tránh, cho dù là thuyền bát nhã đi nữa! Này Cỏ May, nước đỡ thuyền, nhưng nước cũng nổi sóng và nhấn chìm thuyền. Chúng sanh đến với đạo mà tâm tham dục vẫn còn nhiều hoặc một số đến là vì động cơ tham dục. Chứ mấy ai đến vì truy tìm chân lý! Cái động cơ đã vì tham dục, nên sẽ ẩn tàng cuồng phong bảo tố làm con thuyền bát nhã của vị huynh chìm đắm giữa chốn sông mê, khó độ sanh qua được bờ giác. Bởi vậy, thuyền bát nhã phải không có đáy mà vẫn nổi. Như vậy nó không phải là “Thuyền” nữa, mà phải là “cái phao” “Phao Bát Nhã” thì mới được. Đừng dùng thuyền mà hãy dùng phao. Vì trước sau gì sông mê cũng nổi sóng. Vì trước sau gì cuồng phong bảo tố cũng sẽ nổi lên khi mà cơn gió độc tham sân si vẫn ngày đêm thổi qua pháp giới ngày càng mạnh hơn và chưa phút giây nào ngừng nghĩ. Cuộc đời hành đạo của Phật, của Chúa, của Thánh . . . mà còn phải lao đao giữa biển mê, huống hồ là chúng ta những người học trò ngu muội của các ngài. Bởi vậy, đừng dùng thuyền mà hãy dùng phao. Vì chúng sanh không phải đang đứng trên bờ bên này an toàn để chờ sang bờ bên kia. Mà là đang sắp chết chìm trên biển mê giữa cơn giông bão. Hãy dùng phao cứu sinh để cứu được người mà bản thân mình không bị gió bảo làm chìm đi. Nước lên thì phao lên, nước xuống thì phao xuống. Phao với nước hợp nhất nên luôn luôn nổi không bị chìm. Không cần cố gắng để khỏi chìm, vì bản chất của phao là không thể bị chìm. Này Cỏ May, phao bát nhã không phải của mình. Vì mình chưa giác ngộ. Phao bát nhã là phương tiện của bậc cổ đức để lại để giúp mình khỏi chìm giữa biển mê đang nổi sóng. Tuỳ theo tải trọng của phao hãy giúp người khác bám vào đấy để khỏi chết chìm giữa biển mê bốn bề sóng dậy. Khi cơn bảo nổi lên, hãy tiến vào mắt bảo, hãy an vị ở trung tâm cơn xoáy lốc, nơi ấy sẽ không có gió, nơi ấy sẽ không có sóng. Mắt bảo di chuyển đến đâu thì mình đi theo đến đấy. Thế rồi khi cơn bão đã đi qua, hãy dong buồm lên, nương cơn gió đời vượt qua bờ bên kia hay là rong chơi khắp nơi thì tuỳ thích. Này Cỏ May, ta đang bám vào cái phao bát nhã đấy, phao này có tên là: Vô Ngã. Phao đang còn rộng chỗ. Ông có muốn bám vào cùng ta không? Hay là muốn tự mình bơi qua sông mê thì tuỳ. . . (mót được)
-
Tâm Bất Sinh Đá cùng 2 bạn là Sạn và Cát đi tắm biển. Ra tới bãi biển, thấy một cô gái khá đẹp, thân hình hấp dẫn, bận áo tắm 2 mảnh. Đá đưa mắt lén nhìn cô gái có vẻ ngưỡng mộ. Sạn thấy vậy liền bảo. - Đừng nhìn như vậy. - Tại sao? - Nhìn như thế là phạm giới - Nhưng ông không nhìn mà có ý nghĩ nhìn thì cũng vậy chứ khác chi ? - Sao ông biết tôi có ý nghĩ ấy? - Nếu ông không có hình ảnh cô gái ấy trong tâm và đang cố gắng chống lại thì sao có việc nói với tôi là đừng nhìn. Lúc ấy Cát đi ngang qua. Hắn đưa mắt nhìn mọi người một cách tự nhiên, rồi vừa huýt sáo vừa tiến ra đại dương xanh đang ngập tràn ánh nắng. (mót được) (Đi vào cuộc Đời mà chẳng để lại dấu chân nào)
-
@ Thien Anh, Tạm dịch "Hòa nhi bất đồng" là chung mà không giống. Giống như đậu xanh, đâu đen, đậu đỏ...bỏ chung một rổ, trộn lên. Đậu vẫn là đậu chung là họ đậu, nhưng đỏ vẫn đỏ, xanh vẫn xanh, đen vẫn đen. Hehe. Thiên Đồng
-
THIÊN 11: KINH BIỆT Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá: “Ta nghe con người hợp với Thiên Đạo, bên trong có ngũ tạng để hợp với ngũ âm, ngũ sắc, ngũ thời, ngũ vị[1]. Ngũ vị: bên ngoài có lục phủ để ứng với lục luật, lục luật để “kiến” nên các kinh thuộc Âm Dương nhằm hợp với thập nhị huyệt, thập nhị thần, thập nhị tiết, thập nhị kinh thủy, thập nhị thời, thập nhị kinh mạch[2]. Đây là sự “ứng” của ngũ tạng lục phủ với Thiên Đạo[3]. Ôi ! Thập nhị kinh mạch là nơi con người dựa vào để sống, nơi mà bệnh dựa vào để thành, nơi mà con người dựa vào để trị, nơi mà bệnh dựa vào để khởi lên; cái học (về y) bắt đầu từ đây, sự khéo léo (của người thầy thuốc) phải đạt đến (sự hiểu biết về nó)[4]. Người thầy vụng về thường hay đổi sự hiểu biết của mình về nó, người thầy thuốc khéo léo xem nó là vấn đề khó khăn (cần đạt đến)[5]. Ta xin hỏi thầy về sự “xuất nhập ly hợp của nó” như thế nào ?”[6]. Kỳ Bá cúi rập đầu xuống lạy 2 lạy, nói: “Sáng suốt thay câu hỏi của bệ hạ ! Đây chính là vấn đề mà người thầy thuốc vụng về thường lơ là và người thầy thuốc khéo léo rất chú trọng, lưu tâm đến. Nay thần xin nói rõ ngay như sau”[7]. Kinh ‘Túc Thái dương chi chính’, tách biệt nhập vào trong kheo chân, một đường đi của nó đi xuống dưới xương cùng cụt 5 thốn, tách biệt nhập vào giang môn, thuộc vào Bàng quang, tán ra ở Thận, dọc theo thịt “lữ”, đến ngay Tâm, nhập vào (Tâm) và tán ra[8]. Đường đi thẳng của nó, đi từ đường thịt “lữ” lên trên, xuất ra ở cổ gáy, rồi lại thuộc vào kinh Thái dương, đây là (đường đi) của 1 kinh[9]. Kinh “Túc Thiếu âm chi chính”, khi đến giữa kheo chân thì tách biệt ra để đi theo kinh Thái dương và hợp với kinh này, khi nó lên đến Thận thì ngay ở đốt cột sống thứ 14, nó xuất ra để thuộc vào huyệt Đới mạch[10]. Đường đi thẳng của nó đi lên để ràng buộc vào cuống lưỡi, rồi lại xuất ra ở cổ gáy để hợp với kinh Thái dương, ta gọi đây là ‘Nhất hợp’[11]. (Sự tương hợp này) tạo thành (mối quan hệ), đó là các đường kinh “chính” của Dương đều thành các đường kinh “biệt” của Âm[12]. Kinh “Túc Thiếu âm chi chính”, quay quanh vùng mấu chuyền lớn, nhập vào ven chòm lông mu, hợp với đường đi của kinh Quyết âm[13]. Đường ‘biệt’ của nó nhập vào trong khoảng bờ sườn cụt, tuần hành theo trong ngực, thuộc vào Đởm rồi tán ra ở đây, nó lại lên trên đến Can, xuyên qua Tâm để lên trên, áp vào yết (thực quản), xuất ra ở hàm dưới mép, tán ra ở mặt, ràng buộc vào mục hệ, hợp với kinh Thiếu dương, rồi cùng đường “biệt” của Thiếu dương cùng đi lên, đây là “Nhị hợp”[14]. Kinh “Túc Dương minh chi chính”, lên đến mấu chuyền lớn nhập vào trong bụng, thuộc vào Vị rồi tán ra ở Tỳ, lên trên thông với Tâm, lên trên nữa dọc theo yết (thực quản), xuất ra ở miệng, lên đến chỗ lõm của sống mũi giữa mắt, ràng buộc với mục hệ rồi hợp với Dương minh[15]. Kinh “Túc Thái âm chi chính”, lên trên đến vùng mấu chuyền lớn, hợp với kinh Dương minh, rồi cùng đường “biệt” của Dương minh cùng đi lên, lên trên để kết với yết (thanh quản), xuyên qua lưỡi, đây là ‘Tam hợp’[16]. Kinh “Thái dương chi chính”, chỉ xuống Địa, tách biệt ra từ 2 vùng khớp vai, nhập vào nách, chạy lên Tâm ràng buộc với Tiểu trường[17]. Kinh “Thủ Thiếu âm chi chính”, tách biệt nhập vào ở huyệt Uyên Dịch, giữa 2 đường gân, thuộc vào Tâm, lên trên chạy vào yết hầu, xuất ra ở mặt, hợp với khoé mắt trong, đây là ‘Tứ hợp’[18]. Kinh “Thủ Thiếu dương chi chính”, chỉ lên Thiên, tách biệt ra ở đỉnh đầu nhập vào Khuyết bồn, đi xuống chạy vào Tam tiêu rồi tán ra ở giữa ngực[19]. Kinh “Thủ Tâm chủ chi chính”, tách biệt đi xuống dưới huyệt Uyên Dịch 3 thốn, nhập vào giữa ngực, tách biệt thuộc về Tam tiêu, xuất ra đi dọc theo hầu lung (thanh quản), xuất ra sau tai, hợp với phía dưới huyệt Hoàn Cốt thuộc kinh Thiếu dương, đây là Ngũ hợp[20]. Kinh “Thủ Dương minh chi chính”, đi từ tay, dọc theo 2 bên ngực và vú, tách biệt ra từ huyệt Kiên Ngung, nhập vào dưới trụ cốt (Đại Chùy), xuống dưới chạy vào Đại trường, thuộc vào Phế, lên trên, dọc theo hầu lung (thanh quản), xuất ra ở Khuyết bồn, hợp với kinh Dương minh[21]. Kinh “Thủ Thái âm chi chính”, tách biệt nhập vào Uyên Dịch trước kinh Thiếu âm, nhập vào đi đến Phế rồi tán ra ở Thái Dương, lên trên xuất ra ở Khuyết bồn, đi dọc theo hầu lung (thanh quản) rồi lại hợp với kinh Dương minh, đây là Lục hợp[22]. 经别第十一 黄帝问于岐伯曰:余闻人之合于天道也。内有五藏,以应五音五色五时五味五位也;外有六府,以应六律,六律建阴阳诸经而合之十二月、十二辰、十二节、十二经 水、十二时、十二经脉者,此五藏六府之所以应天道。夫十二经脉者,人之所以生,病之所以成,人之所以治,病之所以起,学之所始,工之所止也,粗之所易,上 之所难也。请问其离合出人奈何?妨伯稽首再拜日:明乎哉问也!此粗之所过,上之所息也,请卒言之。足太阳之正,别人于胭中,其一道下届五寸,别入于肛,属 于膀眈,散之肾,循管当心人散;直者,从管上出于项,复属于太阳,此为一经也足少阳之正,至胭中,别走太阳而合,上至肾,当十四椎,出属带脉;直者,系舌 本,复出于项,合于太阳。此为一合。成以诸阴之别,皆为正也。足少阳之正,绕骼入毛际,合于厥明;别者,入季胁之间,循胸里属胆,散之上肝贯心,以上挟 咽,出颐颔中,散于面,系目系,合少阳于外毗也足厥阴之正,别跑上,上至毛际,合于少阳,与别俱行。此为二合也。足阳明之正,上至牌,人于腹里,属胃,散 之脾,上通于心,上循咽出于口,上颤136颁,还系目系,合于阳明也。足太阳之正,上至滚,合于阳明,与别仅行,上结于咽,贯舌中。此为三合也手太阳之 正;指地,别于肩解,入腋走心,系小肠也。手少阴之正,别人于渊腋两筋之间,属于心,上走喉咙,出于面,合自内附。此为四合也。手少阳之正,指天,别于 巅,入缺盆,下走王焦,散于胸中也。手心主之正,别下渊腋三寸;人胸中,别属三焦,出循喉咙,出耳后,合少阳完骨之下。此为五合也。手阳明之正,从手循膺 乳,别于肩肌入柱骨下,走大肠,属于肺,上循喉咙,出缺盆,合于阳明也。手太阴之正,别人渊腋少阻之前,人走肺,散之太阳,上出缺盆,循喉咙,复合阳明。 此六合也。 THIÊN 12: KINH THỦY Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá: “Kinh mạch gồm có 12 đường, bên ngoài nó hợp với 12 kinh thủy, bên trong nó thuộc vào ngũ tạng, lục phủ [1]. Ôi ! 12 kinh thủy, trong số đó có lớn nhỏ, có sâu cạn, có rộng hẹp, có xa gần, tất cả đều không đồng nhau[2]. Ngũ tạng lục phủ có những cao thấp, nhỏ lớn, thọ nhận cốc khí nhiều ít cũng không bằng nhau. vậy sự tương ứng giữa chúng với nhau như thế nào?[3] Ôi ! kinh Thủy nhờ thọ được thủy để vận hành, ngũ tạng nhờ hợp được với thần khí hồn phách để tàng giữ, lục phủ nhờ thọ được ‘cốc khí’ để vận hành, thọ được ‘khí’ để mà mở rộng ra, kinh mạch nhờ thọ được ‘huyết’ để mà ‘doanh’ ra[4]. Nay muốn hợp lại nhau để ‘trị bệnh’ phải làm sao?[5] Ta có thể nghe trình bày về sự châm sâu hay cạn, cứu bằng tráng số nhiều hay ít không?”[6]. Kỳ Bá đáp rằng: “Câu hỏi khéo thay ! Thiên rất cao không thể đo, Địa rất rộng không lường, đó là ý nghĩa của vấn đề được đặt ra[7]. Vả lại, con người sinh ra trong khoảng Thiên Địa, bên trong lục hợp[8]. Đây là Trời cao, Đất rộng, không phải là cái mà con người có thể đo lường mà đạt được vậy[9]. Đến như những kẻ mình cao 8 thước, da thịt hiện rõ nơi đây, bên ngoài, ta có thể đo lường, rờ mó để biết được, khi chết, ta có thể ‘giải phẫu’ để nhìn xem sự cứng mềm của tạng, sự lớn nhỏ của phủ, sự nhiều ít của cốc khí, sự dài ngắn của mạch, sự thanh trọc của huyết, sự nhiều ít của khí[10]. Trong 12 kinh, kinh nào huyết nhiều khí ít, kinh nào huyết ít,khí nhiều , kinh nào cả huyết khí đều nhiều, kinh nào cả huyết lẫn khí đều thiếu, tất cả đều có ‘số lớn’ của nó[11]. Khi trị, dùng châm cứu nhằm điều hòa khí của đường kinh, mỗi trường hợp đều có chỗ thích hợp của nó”[12]. Hoàng Đế nói: “Ta nghe Thầy nói, tai ta rất thích, nhưng Tâm ta chưa được thỏa mãn. Ta mong được nghe cho hết”.[13] Kỳ Bá đáp : “Đây chính là những gì con người ‘tham’ được với Thiên Địa, ứng được với Âm Dương, không thể không xét cho rõ”[14]. Kinh túc Thái dương, bên ngoài nó hợp với sông Thanh thủy, bên trong nó thuộc vào Bàng quang có nhiệm vụ làm thông thủy đạo[15]. Kinh túc Thiếu dương, bên ngoài nó hợp với sông Vị thủy, bên trong nó thuộc vào Đởm[16]. Kinh túc Dương minh , bên ngoài nó hợp với Hải thủy, bên trong nó thuộc vàoVị[17]. Kinh túc Thái âm, bên ngoài nó hợp với sông Nhữ thủy, bên trong nó thuộc vào Thận[18]. Kinh túc Quyết âm, bên ngoài nó hợp với sông Thằng thủy, bên trong nó thuộc vào Can[19]. Kinh thủ Thái dương, bên ngoài nó hợp với sông Hoài thủy, bên trong nó thuộc vào Tiểu trường, thủy đạo xuất ra từ đây[20]. Kinh thủ Thiếu dương, bên ngoài nó hợp với sông Tháp thủy, bên trong nó thuộc vào Tam tiêu[21]. Kinh thủ Dương minh, bên ngoài nó hợp với sông Giang thủy, bên trong nó thuộc vào Đại trường[22]. Kinh thủ Thái âm, bên ngoài nó hợp với sông Hà thủy, bên trong nó thuộc vào Phế [23]. Kinh thủ Thiếu âm, bên ngoài nó hợp với sông Tế thủy, bên trong nó thuộc vào Tâm[24]. Kinh thủ Tâm chủ, bên ngoài nó hợp với sông Chương thủy, bên trong nó thuộc vào Tâm bào[25]. Phàm tất cả ngũ tạng, lục phủ, thập nhị kinh thủy, bên ngoài nó có nguồn, bên trong nó có chỗ bẩm thu, tất cả xuyên suốt nhau như chiếc vòng ngọc không đầu mối[26]. ‘Kinh’ của con người giống như vậy[27]. Cho nên, Thiên thuộc Dương, Địa thuộc Âm, từ thắt lưng trở lên thuộc Thiên, từ thắt lưng trở xuống thuộc Địa[28]. Cho nên, từ “hải” về phía bắc thuộc Âm, từ “hồ” về phía bắc thuộc Âm trong Âm, từ sông Chương về phía nam thuộc Dương, từ sông Hà thủy về phía bắc không đến sông Chương thuộc Âm trong Dương, từ sông Tháp thủy về nam đến sông Giang thủy thuộc Thái dương trong Dương[29]. Đây chỉ là 1 vùng đất (tượng trưng) sự tương hợp của Âm Dương mà thôi, nhằm chứng minh con người cùng ‘tham’ với Thiên Địa[30]. Hoàng Đế hỏi: Ôi ! Sự tương hợp giữa kinh thủy và kinh mạch có những chỗ xa gần, cạn sâu, thủy và huyết có sựnhiều ít, đều có những bất đồng nhưng hợp nhau, dùng nó vào việc châm như thế nào ?”[31]. Kỳ Bá đáp : “Kinh túc Dương minh là ‘biển’ của ngũ tạng, lục phủ, mạch của nó đại, huyết của nó nhiều, khí của nó thịnh, nhiệt của nó tráng; Châm đường kinh này, nếu không sâu thì không làm tán được khí, không lưu kim thì không tả được khí[32]. Châm kinh túc Dương minh sâu 6 phân, lưu 10 hô[33]. Châm kinh túc Thái dương sâu 5 phân, lưu 7 hô [34]. Châm kinh túc Thiếu dương sâu 4 phân, lưu 5 hô [35]. Châm kinh túc Thái âm sâu 3 phân, lưu 4 hô [36]. Châm kinh túc Thiếu âm sâu 2 phân, lưu 3 hô[37]. Châm kinh túc Quyết âm sâu 1 phân, lưu 2 hô[38]. Âm dương của Thủ có con đường thọ khí gần, khí đến lại nhanh, độ châm sâu không thể quá 2 phân, lưu kim đều không quá 1 hô[39]. Đối với những người còn trẻ hoặc lớn tuổi, đối với người có vóc to hay bé nhỏ, đối với người mập hay gầy, tất cả những trường hợp đó phải được người thầy thuốc dùng Tâm để thẩm định, đây là ta đã phỏng theocái lẽ thường của Thiên[40]. Việc dùng phép “cứu” cũng thế, nếu cứu mà quá mức thì người bệnh sẽ bị ‘ác hỏa’, xương bị khô, mạch bị sắc, nếu châm mà quá mức thì sẽ làm cho thoát khí[41]. Hoàng Đế hỏi: “Ôi ! vấn đề nhỏ lớn của kinh mạch, nhiều ít của huyết, dày mỏng của làn da, cứng mềm của bắp thịt cho đến vấn đề lớn nhỏ của “khuẩn: kết tụ giữa cân và nhục”, tất cả có thể đo lường được hay không ?”[42]. Kỳ Bá đáp : “Nhắm vào những trường hợp của những người có thể ‘đo lường’ được rồi chọn người ‘trung đạt’, đó là những người chưa ‘thoát nhục’ thái quá mà huyết khí cũng chưa suy[43]. Nếu gặp những người không đo lường được, tức là những người gầy yếu, hình nhục đều thoát, như vậy làm sao có thể chỉ dựa vào sự đo lường để mà châm được! Vậy nên thẩm xét lại phương pháp ‘thiết tuần môn án’, nên nhìn vào sự hàn ôn, thịnh suy (của khí huyết) để mà điều hòa (khí huyết), đó mới gọi là nhân theo chỗ thích ứng đáng gọi là con đường đúng đắn nhất vậy[44]. 经水第十二 黄帝问于岐伯曰:经脉十二者,外合于十二经水,而内属于五藏六府。夫十二经水者,其有大小、深浅、广狭、远近各不同,五藏六府之高下、大小、受谷之多少亦 不等,相应奈何?夫经水者,受水而行之;五藏者,合神气魂魄而藏之;六府者,受谷而行之,受气而扬之;经脉者,受血而营之。合而以治奈何?刺之深浅,灸之 壮数,可得闻乎?岐伯答曰:善哉问也天至高,不可度,地至广,不可量,此之谓也。且夫人生于天地之间,六合之内,此天之高、地之广也,非人力之所能度量而 至也。若夫八尺之士,皮肉在此,外可度量切循而得之,其死可解剖而视之,其藏之坚脆,府之大小,谷之多少,脉之长短,血之清浊,气之多劣,十二经之多血少 气,与其少血多气,与其皆多血气,与其皆少血气,皆有大数。其治以针艾,各调其经气,固其常有合乎?黄帝曰:余闻之,快于耳,不解于心,愿卒闻之。岐伯答 曰:此人之所以参天地而应阴阳也,不可不察。足太阳外合清水,内属膀眯,而通水道焉。足少阳外合于渭水,内属于胆。足阳明外合于海水,内属于胃。足太阳外 合于湖水,内属于脾。足少阴外合于汝水,内属于肾。足厥阴外合于漏水,内属于肝。手太阳外合推水,内属小肠,而水道出焉。手少阳外合于溪水,内属于三焦。 手阳明外合于江水,内属于大肠。手太阳外合于河水,内属于肺。手少阴外合于济水,内属于心。手心主外合于漳水,内属于心包。凡此五藏六府十二经水者,外有 源泉而内有所禀,此皆内外相贯,如环无端,人经亦然。故天为阳,地为阴,腰以上为天,腰以下为地。故海以北者为阴,湖以北者为阴中之阴,漳以南者为阳,河 以北至漳者为阳中之阴,漂以南至江者为阳中之太阳,此一隅之阴阳也,所以人与天地相参也。137黄帝曰:夫经水之应经脉也,其远近浅深,水血之多少各不 同,合而以刺之奈何?妨伯答日:足阳明,五藏六府之海也,其脉大血多,气盛热壮,刺此者不深弗散,不留不泻也。足阳明刺深六分,留十呼。足太阳深五分,留 七呼。足少阳深四分,留五呼。足大阴深三分,留四呼。足少阴深二分,留三呼。足厥阴深一分,留二呼。手之阴阳,其受气之道近,其气之来疾,其刺深者皆无过 二分,其留皆无过一呼。其少长大小肥瘦,以心①撩之,命日法天之常。灸之亦然。灸而过此者很恶火,则骨枯脉涩;刺而过此者,则脱气。黄帝日:夫经脉之小 大,血之多少,肤之厚薄,肉之坚脆,及帼之大小,可为量度乎?岐伯答日:其可为度量者,取其中度也,不甚脱肉而血气不衰也。若失②度之人,癌瘦而形肉脱 者,恶可以度量制乎?审切循们按,视其寒温盛衰而调之,是谓因适而为之真也。 THIÊN 13: KINH CÂN Cân của kinh túc Thiếu dương khởi lên ở đầu ngón chân út, lên trên kết ở mắt cá ngoài, đi chếch lên để kết ở gối, đi xuống dọc theo mặt ngoài chân, kết ở gót chân, lên để kết ở gót chân phía sau, rồi kết ở kheo chân[1]. Chi biệt của nó kết ở phía ngoài bắp chuối, lên đến mép trong giữa kheo chân rồi cùng đoạn giữa kheo chân lên trên kết ở mông, lên trên, đi cạnh cột sống lên đến cổ gáy[2]. Một nhánh biệt nhập vào và kết ở cuống lưỡi[3]. Đường đi thẳng của nó kết ở xương chẩm cốt rồi lên đầu, xuống mặt (trán) rồi kết ở mũi[4]. Một nhánh tạo thành màng lưới trên mắt, xuống dưới kết ở gò má dưới mắt[5]. Một nhánh từ sau mép sau nách kết ở huyệt Kiên Ngung[6]. Một nhánh nhập vào dưới nách, lên trên xuất ra ở Khuyết bồn, lên trên kết ở huyệt Hoàn Cốt[7]. Một nhánh xuất ra từ Khuyết bồn đi chếch lên xuất ra ở gò má dưới mắt[8]. Bệnh của nó sẽ làm cho ngón chân út và ngón chân sưng thủng và đau, kheo chân bị chuột rút, lưng bị ưỡn như muốn gãy, gân gáy bị co rút, vai không đưa cao lên được, đau từ nách lên đến Khuyết bồn như bó vặn lại, không lắc lư được từ phải hay trái gì cả[9]. Phép trị nên châm bằng phép ‘phần châm’ để đuổi hàn tà cho nhanh, không kể số lần châm, châm cho đến khi hết thì thôi; khi châm nên tìm chỗ nào đau (thống điểm) thì xem đó là du huyệt để châm, ta gọi là chứng ‘tý của tháng trọng xuân’ vậy[10]. • Cân của túc Thiếu dương khởi lên ở ngón chân áp út, phía ngón út, lên trên kết ở mắt cá ngoài, lên trên dọc theo mép ngoài của xương chầy, kết ở mép ngoài gối[11]. Một nhánh tách biệt khởi lên ở bên ngoài xương phụ cốt lên cho đến mấu chuyền lớn, phía trước nó kết ở huyệt Phục Thố, phía sau nó kết ở vùng xương cùng[12]. Đường đi thẳng của nó lên trên cưỡi lên vùng mềm của bờ sườn cụt, lên trên đi theo mép trước của sườn, ràng buộc vào vùng ngực, vú, kết ở Khuyết bồn[13]. Đường đi thẳng của nó lên trên xuất ra từ nách xuyên qua Khuyết bồn xuất ra ở trước kinh Thái dương, đi theo sau tai, lên trên đến góc trán, giao hội ở đỉnh đầu, đi xuống hàm, rồi lên kết ở xương má dưới mắt[14]. Một chi nhánh kết ở đuôi mắt đóng vai trò gìn giữ (duy trì) bên ngoài[15]. Khi bệnh, nó sẽ làm chuyển cân ở ngón áp út phía ngón út, dẫn lên đến gối và chuyển cân ở mép ngoài gối, làm cho gối không co duỗi được, kheo chân bị co rút, mặt trước co giật lên đến háng (mấu chuyền lớn), phía sau làm cho giật đến vùng xương cùng, nó làm đau lan tràn đến bờ dưới sườn cụt, lên trên nó dẫn đến vùng ngực, vú và Khuyết bồn cũng đau, gân cổ bị co rút từ trái sang phải, mắt phải không mở ra được, lên trên quá góc mặt để cùng vận hành với Kiểu mạch, bên trái lạc với bên phải, cho nên nếu bị thương ở góc trái thì chân phải không cử động được, ta gọi tên là ‘duy cân tương giao’[16]. Phép trị là phải châm bằng phép ‘phần châm’ để đuổi hàn tà cho nhanh, không kể số lần châm, châm cho đến khi hết bệnh thì thôi; khi châm nên tìm chỗ nào đau (thống điểm) xem đó là du huyệt để châm; ta gọi là chứng ‘tý của tháng mạnh xuân’ vậy[17]. • Cân của túc Dương minh khởi lên ở giữa 3 ngón chân, kết ở trên mu bàn chân, đi chếch ra ngoài, lên trên gia thêm cho phụ cốt, lên để kết ở mép ngoài gối[18]. Đường lên thẳng của nó kết ở mấu chuyền lớn, lên dọc theo hông sườn rồi thuộc vào cột sống[19]. Đường đi thẳng của nó lên trên dọc theo xương chầy rồi kết ở gối[20]. Một nhánh kết ở ngoài phụ cốt, hợp với kinh Thiếu dương[21]. Đường đi thẳng của nó lên trên đi dọc theo huyệt Phục Thố, lên trên kết ở háng, tụ lại ở âm khí (bộ sinh dục), lên đến bụng, bổ tán ra đến Khuyết bồn rồi kết lại, lên cổ, lên áp vào miệng, hợp với xương gò má, xuống dưới kết ở mũi, lại lên trên hợp với kinh Thái dương, (kinh Thái dương tạo thành màng lưới ở trên mắt), kinh Dương minh tạo thành màng lưới ở dưới mắt[22]. Một nhánh đi từ má lên kết ở trước tai[23]. Khi gây bệnh, nó sẽ làm cho chuyển cân từ ngón chân giữa lên đếnxf ống chân, bàn chân bị giật nhảy lên và cứng, vùng huyệt Phục Thố bị chuyển cân, vùng háng bị sưng thủng, bị chứng đồi sán, cân ở bụng bị co giật, dẫn lên đến Khuyết bồn và má, miệng bị méo sệch, nếu bệnh cấp thì mắt không nhắm lại được, nếu nhiệt thì cân bị mềm lỏng mắt không mở được, nếu cân ở má bị nhiệt thì nó sẽ làm cho cân bị buông lỏng không co lại được, miệng bị sệ xuống[24]. Phép trị là phải dùng “mỡ ngựa”, thoa lên chỗ đang bị co giật, dùng rượu ngâm Quế để bôi vào chỗ bị mềm lỏng, dùng cành Dâu có móc để móc cho miệng được ngay lại (không còn méo nữa), tức là dùng tro lửa của cành dâu sống đặt vào chỗ lõm sâu dưới đất, làm thế nào để cho người bệnh ngồi 1 cách thoải mái, đủ ấm, sau đó dùng mỡ ngựa bôivào nơi má bị co giật, đồng thời cho bệnh nhân uống ít rượu ngon, ăn thịt nướng thơm ngon; người nào không biết uống rượu cũng phải tự mình cố gắng uống cho kỳ được, thoa bóp chỗ đau khoảng 3 lần thì hết bệnh[25]. Phép trị nên châm bằng phép ‘phần châm’ để đuổi hàn tà cho nhanh, không kể số lần châm, châm cho đến khi hết thì thôi, Ta gọi là chứng ‘tý của tháng qúy xuân’[26]. • Cân của túc Thái âm khởi lên ở bên cạnh trong của đầu ngón chân cái, lên trên kết ở mắt cá trong[27]. Đường thẳng của nó lạc với xương phụ cốt trong gối, lên trên đi dọc theo mặt trong đùi, kết ở háng, tụ ở bộ sinh dục, lên trên bụng, kết ở rốn, đi bên trong bụng, kết ở cạnh sườn, tán ra ở giữa ngực[28]. Nhánh ở trong bám vào cột sống, khi gây bệnh, nó sẽ làm cho từ đầu ngón chân cái đến mắt cá trong đều đau, đau như chuột rút, xương phụ cốt bên trong gối bị đau, từ mặt trong vế lên đến háng bị đau, vùng bộ sinh dục bị đau xoắn, xuống dưới dẫn đến (lên trên dẫn đến) rốn và hai bên hông sườn đau, dẫn đến ngực và trong cột sống đau[29]. Phép trị nên châm bằng phép ‘phần châm’, không kể số lần châm, châm cho đến khi hết bệnh thì thôi, khi châm nên tìm chỗ nào đau thì xem đó là du huyệt để châm, ta gọi là ‘tý bệnh của mạnh thu’ vậy[30]. • Cân của Túc Thiếu âm khởi lên từ mặt dưới ngón chân út, cùng với cân của Túc Thái âm đi chếch về phía dưới của mắt cá trong, kết ở gót chân, hợp với cân của Thái dương, đi lên kết ở dưới và phía trong xương phụ cốt, cùng với cân của Thái âm lên trên đi dọc theo cột sống trong rồi dọc theo 2 bên thịt lữ để lên đến cổ gáy, kết ở xương chẩm cốt, hợp với cân của kinh túc Thái dương[31]. Khi bệnh, nó sẽ làm cho gan bàn chân bị chuyển cân, cho nên các nơi mà đường kinh kết vào đều đau và đều chuyển cân, vì bệnh được biểu hiện ở các nơi này, cho nên sẽ gây thành động kinh, co quắp, và cứng mình; nếu bệnh ở ngoài thì sẽ không cúi xuống được, nếu bệnh ở trong thì không ngửa lên được, cho nên nếu bệnh ở Dương thì thắt lưng bị gãy ngược ra sau không cúi xuống được, nếu bệnh ở Âm thì không ngửa lên được[32]. Phép trị nên châm bằng phép ‘phần châm’ để đuổi hàn tà cho nhanh, không kể số lần châm, châm cho đến khi hết thì thôi, khi châm nên tìm chỗ nào đau thì xem đó là du huyệt để châm, ta gọi đó là chứng ‘tý của trọng thu’ vậy[33]. • Cân của túc Quyết âm khởi lên ở mặt trên ngón chân cái, lên trên kết ở trước mắt cá trong, lên trên đi dọc theo xươngchầy, lên trên kết ở phía dưới của bên trong xương phụ cốt, lên trên đi dọc theo mặt trong của vế, kết ở bộ sinh dục, lạc với các cân khác[34]. Khi gây bệnh, nó sẽ làm cho từ ngón chân cái đến trước mắt cá trong đau, trong xương phụ cốt đau, phía trong vế đau, chuyển cân, bộ sinh dục bất dụng, liệt không dùng được nữa; nếu bị thương bên trong nó sẽ không cứng lên được, nếu bị thương bởi hàn tà thì nó bị teo thụt vào trong, nếu bị thương bởi nhiệt thì nó cứng lên không nhỏ lại được[35]. Phép trị là dùng phép ‘hành thủy’ để thanh Âm khí, còn nếu bệnh bị chuyển cân nên dùng phép ‘phần châm’, ‘kiếp thích’, không kể số lần châm, dò thấy nơi nào có điểm đau thì xem đó là du huyệt để châm, ta gọi đây là chứng ‘tý của qúy thu’ vậy[36]. • Cân của Thủ Thái dương khởi lên ở trên ngón út, kết ở cổ tay trên, tuần hành dọc theo mép trong cẳng tay, kết ở phía sau chỗ xương lồi nhọn phía trong khuỷu tay, ấn mạnh vào đó thấy cảm giác đến trên ngón tay út, nhập vào để kết ở dưới nách[37]. Một nhánh đi ra phía sau nách, lên trên vòng theo bả vai, dọc theo cổ, xuất ra đi theo phía trước kinh Thái dương, kết ở huyệt Hoàn Cốt sau tai[38]. Một nhánh nhập vào trong tai[39]. Đường đi thẳng của nó xuất ra ở trên và dưới tai, kết ở hàm, lên trên thuộc vào khoé mắt ngoài[40]. Khi gây bệnh, nó sẽ làm cho ngón tay út lan ra đến mép sau xương lồi nhọn phía trong khuỷu tay đều bị đau, đau dẫn lên phía trong cẳng tay nhập vào dưới nách, dưới nách cũng đau, mép sau nách đau, vòng theo sau bả vai dẫn lên đến cổ đau, ứng theo đó là trong tai bị kêu và đau, đau dẫn đến hàm, mắt có khi bị mờ hồi lâu rồi mới thấy trở lại; khi gân cổ bị co rút thì sẽ làm cho gân bị yếu và cổ bị sưng, đó là hàn nhiệt đang ở tại cổ [41]. Phép trị nên dùng phép ‘phần châm’, ‘kiếp thích’, không kể số lần châm, dò thấy nơi nào bị đau thì đó là du huyệt để châm, hi nào nó vẫn còn sưng thủng, thì tiếp tục dùng kim nhọn (sàm châm) để châm[42]. Đường đi của nhánh gốc lên đến vùng răng, dọc theo trước tai, thuộc vào khoé mắt ngoài, lên đến hàm (trán), kết ở góc trán[43]. Bệnh này làm chuyển cân ở các đường nó đi qua[44]. Phép trị nên dùng phép ‘phần châm’, ‘kiếp thích’, không kể số lần châm, dò thấy nơi nào đau thì đó là du huyệt để châm, gọi là chứng ‘tý của trọng hạ’ vậy[45]. • Cân của Thủ Thiếu dương khởi lên ở đầu ngón tay thứ tư phía ngón út, kết ở cổ tay, lên trên đi dọc theo cẳng tay kết ở khuỷu tay, lên trên vòng quanh theo mép ngoài cánh tay, lên trên vai, đi lên cổ, hợp với kinh Thủ Thái dương[46] Một nhánh từ dưới góc hàm nhập vào ràng buộc với cuống lưỡi[47]. Một nhánh lên khỏi răng đi dọc ra trước tai, thuộc vào khoé mắt ngoài, lên đến trán kết ở góc trán[48]. Khi gây bệnh thì suốt con đường mà kinh đi qua đều chuyển cân, lưỡi bị cuốn lại[49]. Phép trị là dùng phép ‘phần châm’, ‘kiếp thích’, không kể số lần châm cho đến khi hết bệnh thì thôi, chỗ nào có điểm đau chỗ đó là du huyệt để châm, gọi là chứng ‘tý của qúy hạ’[50]. • Cân của thủ Dương minh khởi lên ở đầu ngón tay trỏ về phía ngón cái, kết ở cổ tay, lên trên đi dọc theo cẳng tay lên trên kết ở ngoài khuỷu tay và lên trên đến cánh tay, kết ở huyệt Kiên Ngung[51]. Một nhánh vòng theo bả vai áp vào 2 bên cột sống[52]. Đường đi thẳng của nó đi từ huyệt Kiên Ngung lên đến cổ [53]. Một nhánh lên má, kết ở trong xương gò má[54]. Đường đi thẳng của nó lên trên xuất ra ở trước kinh thủ Thái dương, lên trên đến góc trái của trán để lạc với đầu, đi xuống hàm bên phải[55]. Khi bệnh, nó sẽ gây cho suốt trên đường mà nó đi qua đều bị đau và vị chuyển cân, vai không đưa lên cao được, cổ không ngó qua bên trái và phải được[56]. Phép trị nên dùng phép ‘phần châm’, ‘kiếp thích’, không kể số lần châm, châm cho hết bệnh thì thôi, nơi nào có điểm đau thì nơi đó có huyệt để châm, gọi là chứng ‘tý của mạnh hạ’[57]. • Cân của thủ Thái âm khởi lên ở phía trên đầu ngón tay cái, đi dọc theo ngón tay cái lên trên kết ở sau huyệt Ngư Tế vận hành theo phía ngoài Thốn khẩu, lên trên dọc theo cẳng tay kết ở giữa khuỷu tay, lên trên đến mép trong cánh tay, nhập vào nách, xuống dưới xuất ra ở Khuyết bồn, kết ở trước huyệt Kiên Ngung, lên trên kết ở Khuyết bồn, xuống dưới kết ở trong ngực, tán ra xuyên qua vùng thượng Vị, rồi hợp ở vùng cuối hông sườn[58]. Khi bệnh, nó sẽ làm cho suốt con đường mà nó đi qua đều bị chuyển cân, đau, nếu nặng hơn sẽ thành chứng ‘tức bôn’, hông sườn bị vặn, thổ huyết [59]. Phép trị nên dùng phép ‘phần châm’, ‘kiếp thích’, không kể số lần châm, cho đến khi hết bệnh thì thôi, dò thấy chỗ nào có điểm đau thì đó là du huyệt để châm, gọi là chứng ‘tý của trọng đông’[60]. • Cân của thủ Tâm chủ khởi lên ở đầu ngón tay giữa, cùng đi với cân của Thái âm, kết ở mép trong khuỷu tay, đi lên theo phía trong cánh tay, kết ở dưới nách, đi xuống tán ra phía trước để sau, áp vào hông sườn[61]. Một nhánh nhập vào nách, tán ra ở giữa ngực, kết ở cánh tay hoặc vùng thượng Vị[62]. Bệnh của nó xẩy ra sẽ làm cho suốt con đường mà nó đi qua đều bị chuyển cân cho đến vùng ngực bị đau, chứng ‘tức bôn’[63]. Phép trị nên dùng phép ‘phần châm’, ‘kiếp thích’, không kể số lần châm, cho đến khi nào hết bệnh thì thôi, chọn chỗ nào có điểm đau thì chỗ đó là du huyệt để châm, gọi là chứng ‘tý của mạnh đông’[63]. • Cân của thủ Thiếu âm khởi lên ở mặt trong ngón út, kết ở xương nhọn (cổ tay), lên trên kết ở mép trong khuỷu tay, lên trên nhập vào nách, giao với kinh Thái âm, đi sát vào trong vú, kết ở giữa ngực, tuần hành theo cánh tay (vùng bôn, ngực), xuống dưới ràng buộc vào rốn[64]. Nếu gây bệnh nó sẽ làm cân bên trong co rút, chứng ‘Phục lương’, xuống dưới làm cho khuỷu tay như bị một màn lưới co kéo[65]. Nếu gây bệnh thì nó sẽ làm suốt con đường mà nó đi qua sẽ bị chuyển gân, gân bị đau[66]. Phép trị nên dùng phép ‘phần châm’, ‘kiếp thích’, không kể số lần châm, khi nào hết bệnh thì thôi[67]. Khi nó đã thành Phục lương thì bệnh nhân sẽ ói ra máu và mủ, sẽ chết, không trị được[68]. Bệnh thuộc kinh cân, nếu hàn thì làm cho bệnh nhân bị gãy gấp ra sau, gân bị co rút, nếu nhiệt thì gân bị buông lỏng không co lại được, bị chứng Âm nuy không còn dùng đến (tông cân) được nữa[69]. Khi Dương bị cấp thì bị gãy gấp ra sau, Âm bị cấp thì bị cúi xuống không duỗi người ra được[70]. Khi chúng ta áp dụng phương pháp ‘thối thích’ tức là châm đối với hàn chứng, hàn cấp[71]. Trong trường hợp nếu là nhiệt chứng thì gân bị buông lỏng không co lại được, không nên áp dụng phương pháp ‘phần châm’, gọi là chứng ‘tý của qúy đông’ vậy[72]. Kinh Dương minh ở Túc, kinh Thái dương ở Thủ, khi cân bị co rút thì miệng và mắt bị méo lệch, và đều bị co rút không thể nhìn thấy thẳng, phép trị như phương pháp đã nói[73]. 经筋第十三 足太阳之施,起于足小指,上给予踝,邪上结于膝,其下循足外踝,结于庭,上循跟,结于胭;其别者,结于端外,上胭中内廉,与胭中共上结于臀,上摔脊上项; 其支者,别人结于舌本;其直者,结于枕骨,上头下颜,结于鼻;其支者,为目上网,下结于颀;其支者,从腋后外廉,结于肩规兵支者,人腋下,上出缺盆,上结 于完骨;其支者,出缺盆,邪上出于颀。其病小指支,跟肿瘤,胭挛,脊反折,项筋急,肩不举,腋支,缺盆中纽痛,不可左右摇。治在插针劫制,以知为数,以痛 为输,名曰仲春痹也。足少阳之筋,起于小指次指,上给外踝,上循脏外廉,结于膝外廉;其支者,别起外辅骨,上走群,前者结于伏兔之上,后者结于屁;其直 者,上乘胜季胁,上走腋前廉,系于膺乳,结于缺盆;直者,上出腋,贯缺盆,出太阳之前,循耳后,上额角,交巅上,下走颔,上结于颀;支者,结于目毗为外 维。其病小指次指支转筋,引膝外转筋,膝不可屈伸,因筋急,前引群,后引凤,即上乘妙季胁痛,上引缺盆膺乳颈,维筋急,从左之右,右目不开,上过右角,并 脚脉而行,左络于右,故伤左角,右足不用,命日维筋相交。治在活针劫刺,以知为数,以痛为输,名日孟春痹也。足阳明之筋,起于中三指,结于跄上,邪外上加 于捕骨,上结于膝外廉,在上给干群枢,上循胁,属脊;其直者,上循所,结于膝;其支者,结于外辅骨,合少阳;其直①心:原书篇末注:"一本作意"0②失: 原作"夫",据呷乙经)、什素)九138者,上循伏兔,上结于外聚于阴器,上胶而布,至缺盆而结,上颈,上挟口,合于颀,下结于鼻,上合于太阳,太阳为目 上网,阳明为目下网;其支者,从颊结于耳前。其病足中指支,胜转筋,脚跳坚,伏兔转筋,碑前肿,癌店;腹筋急,引缺盆及颊,卒口僻,急者目不合,热则筋 纵,目不开。颇筋有寒,则急引颊移口;有热则筋弛纵缓,不胜收故僻。治之以马膏,膏其急者,以白酒和桂,以徐其援者,以桑钩钧之,即以生桑灰置之欢中,高 下以坐等,以膏熨急额,且饮美酒,唤美炙肉,不饮酒者,自强也,为之三税而已。治在插针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰季春痹也。粹足太阳之筋,起于大指 之端内侧,上结于内踝;其直者,络于豚内辅骨,上循阴股,结于骼,聚于阴器,上腹,结于脐,循腹里,结于肋,散于胸中;其内者,著于脊。其病足大措支,内 踝痛,转筋痛,膝内铺骨痛,阴股引群而痛,阴器纽痛,下引脐两胁痛,引膺中脊内病。治在插针劫别,以知为数,以痛为输,命日益秋痹也。足少阴之筋,起于小 指之下,并足太阴之筋,邪走内踝之下,结于度,与太阳之筋合,而上结于内辅之下,并太阳之筋而上循阴股,结于阴器,循脊内挟香,上至项,结于枕骨,与足太 阳之筋合。其病足下转筋,及所过而结者皆痛及转筋。病在此者,主痛瘤及痉,在外者不能偏,在内者不能仰。故阳病者腰反折不能俯,阴病者不能抑。治在活舒劫 刺,以知为数,以痛为输,在内者熨引饮药。此筋折纽,纽发数甚者,死不治,名日仲秋痹也。足厥阻之筋,起于大指之上,上结于内踝之前,上循脏,上给内辅之 下,上循阴股,结于阴器,络诸筋。其病足大指支,内踝之前痛,内铺痛,阴股痛转筋,阴器不用,伤于内则不起,伤于寒则阴缩入,伤干热则纵挺不收。治在行水 清明气。其病转筋者,治在活针劫刺,以知为数,以痛为输,命曰季秋痹也。手太阳之筋,起于小指之上,结于脱,上循臂内廉,结于时内锐骨之后,弹之应小指之 上,入结于腋下;其支者,后走腋后廉,上绕肩呷,循颈出走太阳之前,结于耳后完骨;其支者,入耳中植者,出耳上,下结于颔,上属目外毗。其病小指支,肘内 锐骨后廉痛,循臂阴人腋下,腋下痛,腋后廉痛,绕肩肿引颈而痛,应耳中鸣痛,引颔目瞑,良久乃得视,颈筋急则为筋疾颈肿。寒热在颈者,治在活针劫刺之,以 知为数,以痛为输,其为肿者,复而锐之。本支者,上曲牙,循耳前,属自外毗,上颔,结于角。其痛当所过老支转筋。治在插针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰 仲夏痹也。手少阳之筋,起于小指次指之端,结手腕,上①循臂结于肘,上绕德外廉,上肩走颈,合手太阳淇支者,当曲颊人系舌本;其支者,上曲牙,循耳前,属 目外毗,上乘颔,结于角。其病当所过者即支转筋,舌卷。治在活针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰季夏痹也。手阳明之筋,起于大指次指之端,结于腕,上循 臂,上结于肘外,上编绘于铺;其①上:原作"中",据胡本、拥乙经)别太素•经筋)改。139支者,绕肩呷,挟脊;直者,从肩骰上颈;其支者,上颊,结于 顺;直者,上出手太阳之前,上左角,络头,下右颔。其病当所过者支痛及转筋,肩不举,颈不可左右视。治在插针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰益夏痹也。手 太阳之筋,起于大指之上,循指上行,结于鱼后,行寸口外恻,上循臂,结肘中,上腺内廉,入腋下,出缺盆,结肩前够,上结缺盆,下结胸里,散贯贲,合资下, 抵季胁。其病当所过者支转筋痛,甚成急贫,胁急吐血。治在播针劫刺,以知为数,以痛为输,名曰仲冬痹也。手心主之筋,起于中指,与太阴之筋并行,结于肘内 廉,上臂阴,结腋下,下散前后挟胁;其支者,入腋,散胸中,结于臂。其病当所过者支转筋,前及胞癌患责。治在活针劫刺,以知为数,以痛为输,名日益冬痹 也。手少明之筋,起于小指之内侧,结于税骨,上结时内廉,上人腋,交太阳,挟乳里,结于胸中,循臂,下系于脐。其病内急,心承伏梁,下为肘网C其病当所过 者支转筋,筋痛。治在活针劫刺,以知为数,以痛为输。其成伏梁唾血脓者,死不治。经筋之病,寒则反折筋急,热则筋弛纵不收,明展不用。阳急则反折,阴急则 饰不伸。烨刺者,刺寒急也,热则筋弛纵不收,无用播针。名曰季冬痹也。足之阳明,手之太阳,筋急则口目为倾,毗急不能卒视,治皆如右方也。 THIÊN 14: CỐT ĐỘ Hoàng Đế hỏi Bá Cao: “Thiên ‘Mạch Độ’ có nói về sự dài và ngắn của kinh mạch, vậy chúng ta dựa vào đâu để lập nên (sự quy định) đó ?”[1]. Bá Cao đáp : “Trước hết, chúng ta nên đo đạc sự dài ngắn, rộng hẹp, lớn nhỏ của cốt tiết, được vậy thì mạch độ sẽ định vậy” [2]. Hoàng Đế hỏi: “Ta mong được nghe về mức độ trung bình của của người trung bình (chúng nhân)[3]. Con người trung bình đo dài được 7 xích 5 thốn, vậy sự dài ngắn, lớn nhỏ của cốt tiết của họ phải tính như thế nào (kỷ hà) ?[4]. Bá Cao nói: “Chu vi của đại cốt của đầu dài 2 xích 6 thốn, chu vi của ngực dài 4 xích 5 thốn, chu vi của thắt lưng dài 4 xích 2 thốn, vùng có tóc che phủ, tức là mí tóc trước trán đến mí tóc cổ gáy sau dài 1 xích 2 thốn, từ mí tóc trước xuống đến cằm dài 1 xích, người quân tử nên dùng phép chiết trung (để tính)”[5]. Từ kết hầu trở xuống đến giữa Khuyết bồn dài 4 thốn[6]. Từ Khuyết bồn trở xuống đến xương Cưu Vĩ dài 9 thốn[7]. Nếu quá (dài hoặc rộng hơn) thì Phế to ra, nếu không đủ (bất mãn) thì Phế nhỏ lại[8]. Từ xương kiếm (chấn thủy) xuống cho đến Thiên Xu dài 8 thốn[9]. Nếu quá thì Vị to ra, nếu bất cập thì Vị nhỏ lại[10]. Từ Thiên Xu xuống đến Hoành Cốt dài 6 thốn rưỡi[11]. Nếu quá thì hồi trường rộng và dài, nếu không đủthì hẹp và ngắn[12]. Xương hoành cốt dài 6 thốn rưỡi[13]. Từ mép trên của Hoành Cốt trở xuống cho đến mép trên của phía trong xương phụ cốt dài 1 xích 8 thốn[14]. Từ mép trên của phía trong xương phụ cốt trở xuống đến mép dưới dài 3 thốn rưỡi[15]. Từ mép dưới của xương phụ cốt trong xuống dưới đến mắt cá trong dài 1 xích 3 thốn[16]. Từ mắt cá xuống dưới mặt đất dài 3 thốn[17]. Từ kheo chân ngay đầu gối xuống dưới đến mu bàn chân dài 1 xích 3 thốn[18]. Từ mu bàn chân xuống tới mặt đất dài 3 thốn[19]. Cho nên, phần chu vi của cốt lớn thì gọi là thái quá, nhỏ thì gọi là bất cập[20]. Từ góc trán đến xương trụ cốt dài 1 xích[21]. Phần vận hành trong nách không hiện rõ ra dài 4 thốn[22]. Từ nách xuống dưới xương sườn cùng (quý hiếp) dài 1 xích 2 thốn[23]. Từ xương sườn cùng xuống đến mấu chuyển lớn (bễ khu) dài 6 thốn[24]. Từ mấu chuyển lớn xuống khe đầu gối dài 1 xích 9 thốn[25]. Từ đầu gối xuống đến mắt cá chân ngoài dài 1 xích 6 thốn[26]. Từ mắt cá ngoài xuống đến huyệt Kinh Cốt dài 3 thốn[27]. Từ huyệt Kinh cốt xuống đến mặt đất dài 1 thốn[28]. Phía sau tai, ngay nơi huyệt Hoàn Cốt đo ngang rộng 9 thốn[29]. Trước tai, ngang nơi cửa tai (Thính Cung) đo ngang rộng 1 xích 3 thốn[30]. Trong khoảng lưỡng quyền (2 má), 2 bên cách nhau 7 thốn[31]. Khoảng cách giữa 2 vú rộng 9 thốn rưỡi[32]. Khoảng cách giữa 2 mấu chuyển lớn rộng 6 thốn rưỡi[33]. Chân dài 1 xích 2 thốn, rộng 4 thốn rưỡi[34]. Từ vai đến khuỷu tay dài 1 xích 7 thốn[35]. Từ khuỷu tay đến cổ tay dài 1 xích 2 thốn rưỡi[36]. Từ cổ tay đến xương bản tiết của ngón giữa dài 4 thốn[37]. Từ xương bản tiết đến cuối (ngón tay) dài 4 thốn rưỡi[38]. Từ mí tóc gáy xuống dưới đến xương sống lưng dài 2 thốn rưỡi[39]. Từ lữ cốt trở xuống đến xương cùng gồm 21 đốt, dài 3 xích[40]. Các đốt nằm trên mỗi đốt đều dài 1 thốn 4 phân 1 ly, phần còn dư lẻ lại đều được tính ở phần các đốt dưới, cho nên, 7 đốt trên cho đến lữ cốt dài 9 thốn 8 phân 7 ly[41]. Đây là những độ của cốt của chúng nhân: đa số người, từ đó (cổ nhân) lập nên sự dài ngắn của kinh mạch[42]. Nhờ đó, ta có thể nhìn kinh mạch được ở thân thể, khi nó hiện ra phù mà kiên, hiện ra rõ ràng mà lớn, đó là huyết nhiều; nhỏ mà trầm, đó khí nhiều[43]. 骨度第十四 黄帝问于伯高曰:脉度言经脉之长短,何以立之?伯高曰:先度其骨节之大小广狭长短,而脉度定矣。黄帝曰:愿闻众人之度,人长七尺五寸者,其骨节之大小长短 各几何?伯高曰:头之大骨围二尺六寸,胸围四尺五寸,腰围四尺二寸。发所复者,颅至项尺二寸;发以下至颐长一尺,君子终折。结喉以下至缺盆中长四寸,缺盆 以下至骼骷长九寸,过则肺大,不满则肺水踢骷以下至天枢长八寸,过则胃大,不及则胃小。天枢以下至横骨长六寸半,过则回肠广长,不满则狭短。横骨长六寸 半,横骨上廉以下至内辅之上廉长一尺八寸,内辅之上廉以下至下廉长三寸半,内辅下廉下至内踝长一尺三寸,内踝以下至地长三寸,膝团以下至附属长一尺六寸, 附属以下至地长三寸,故骨围大则太过,小则不及。角以下至柱骨长一尺,行腋中不见者长四寸,腋以下至季胁长一尺二寸,季胁以下至辟枢长六寸,群枢以下至膝 中长一尺九寸,膝以下至外踝长一尺六寸,外踝以下至京骨长三寸,京骨以下至地长一寸。耳后当完骨者广九寸,耳前当耳门者广一尺三寸,两颧之间相去七寸,两 乳之间广九寸半,两牌之间广六寸半。14O足长一尺二寸,广四寸半。肩至肘长一尺七寸,肘至脱长一尺二寸半,脱至中指本节长四寸,本节至其本长四寸半。项 发以下至背①骨长二寸半,臂骨以下至尾船二十一书长三尺,上节长一寸四分分之一,奇分在下,故上七节至于育骨九寸八分分之七,此众人骨之度也,所以立经脉 之长短也。是故视其经脉之在于身也,其见浮而坚,其见明而大者,多血;细而沉者,多气也。
-
Tượng Người Hai Lúa rủ Ba Gàn đi chơi. Hai tên đến một tiệm làm tượng thờ. Rất nhiều tượng từ Phật, tới Thánh, tới Chúa và đủ các kiểu Thần Linh đã chế tác xong hoặc đang làm lỡ dở. Bụi đá bay mịt mù, tiếng máy khoan đá xoèn xoẹt, tiếng đục gỗ chan chát. Tiếng cười tiếng nói cọng với tiếng máy nổ, tiếng ngã giá kì kèo, thành một âm thanh hổn độn chói tai. Hai Lúa nói thật to vào tai Ba Gàn : - Ồ, quá nhiều Phật, nhiều Thánh. . . .lạy các ngài. . . . Vừa nói hắn vừa xoa tay xuýt xoa, rồi chấp tay vái lấy vái để chung quanh và tứ phía, miệng hắn vừa lầm bầm vừa hít hà như ăn phải ớt. Ba Gàn cười: - Nè, nhiều tượng Phật, chứ đâu phải nhiều Phật. - Thì có khác gì đâu, chỉ ít lâu sau, toàn bộ những tượng này người ta đều thỉnh về thờ cả. Thì đằng nào chúng sanh chẳng lạy. Lạy bây giờ hay vài hôm nữa lạy có chi khác chớ. . . .hề hề. . . - Con người tự tạo ra hình tướng Thần Linh rồi lại tự sợ hải, cung kính, nô lệ tác phẩm của chính nó. . . .Ông thấy có kỳ dị không. - Thế không thờ à? - Có chứ, nhưng đó chỉ là phương tiện để trực ngộ vị Phật tại tâm của mình. Chứ trong xi măng, gỗ, đá, đồng, thạch cao, làm sao có Phật. - Nè, cái gì không phải Phật, Phật ở khắp mọi nơi chứ sao không? - Đúng vậy, nếu nói thế thì cứ để tự nhiên chứ sao phải tạo ra hình tướng để lệ thuộc nó. - Này, nhưng bây giờ chỉ là tượng gỗ, khi nào nó được "hô thần nhập tượng" thì mới linh, thì mình mới lạy chứ? - Nếu vậy sao không hô Thần nhập vào mọi người để mọi người thành Phật chứ tu chi cho mệt. - Khi làm lễ quán đảnh rồi, phải tu lâu thì mới thành được. - Vậy con người thua gỗ đá sao. Gỗ đá chỉ cần hô Thần là thành Phật ngay mà. - Nè, ông biết không, bây giờ người ta cũng dựng lên một con người nào đấy, rồi "Hô Thần Nhập Người" để thành Phật, bằng cách tuyên truyền quảng cáo và thêu dệt vô số giai thoại huyễn hoặc siêu nhiên. - Hay quá, thông minh quá. Tượng gỗ người ta còn quì mọp huống hồ là " Tượng người ". . . . .hề hề. . .. - Và thợ điêu khắc gỗ thì chắc thu nhập phải thấp hơn "điêu khắc người". . . .hề hề. - Ông nghĩ sao, nếu "Tượng Người" được dùng như một lá cờ, thì có khi cũng có lợi đấy chứ? - Nhưng lá cờ thì không biết nói, còn "Tượng Người" thì biết nói và nói quá nhiều. . . .hề hề. . . (lượm lặt)
-
Hòa Nhi Bất Đồng . . . . . . . Hôm nay trời hơi lạnh. Nhưng Cát tắm biển sớm rồi vào phòng ăn. Gặp mọi người đang ngồi uống trà ở đấy với người chủ khách sạn. Cô chủ chào hắn bằng câu hỏi: - Này bạn, sao tắm biển sớm thế không lạnh à ? - Ở đây khách không có thói quen tắm sớm à? - À, hôm trước có mấy vị nữ tu, nghỉ ở đây. Họ cũng tắm rất sớm, dù trời lạnh cũng vậy, chứ không chờ mặt trời mọc lên. - Tại sao thế? - À, tôi thấy lạ có hỏi. Họ bảo tắm sớm để lúc ấy chưa có ai. Chứ để lát nữa thấy đàn ông bận quần xì, tắm biển, thì mấy cô ngại. - Hề hề. . . .tôi cũng vậy. Phải tắm thật sớm, chứ lát nữa mấy cô Tây mặc hở hang tắm chung thì cũng ngại. Cô chủ khách sạn cười thật tươi: - Mấy cô thì ngại mấy ông. Còn mấy thầy thì ngại mấy cô. . . . .hìhì. . . . . Khi về phòng, Đá nói với Cát: - Nè, mấy cô nữ tu ấy nói vậy chứ thật ra thì đang nghĩ về đàn ông. - Sao ông nói vậy? - Đấy là vì trong tâm đang có cái hình ảnh người đàn ông nào đấy bận quần tắm, tâm lý đạo đức đang chống lại hình ảnh ấy, thì bây giờ mới có việc không muốn gặp? Chứ nếu việc ấy là tự nhiên thì sẽ không có việc tránh hay không tránh gặp. Còn ông, tôi biết ông vẫn gặp họ thường khi tắm biển, không phải vậy. Sao lại nói thế? - Ta không phán xét người khác. Không nghĩ xấu về bất cứ ai. Luôn nghĩ tốt về tất cả mọi người. Có thể mấy vị nữ tu ấy dùng phương tiện khéo thì sao ? Cho nên ta dùng hạnh “HOÀ” để tạo an lạc và không sa vào đấu tranh hý sự. - Thế thì lập lờ giữa đúng và sai sao? - Hề hề. . . .Quân tử hoà nhi bất đồng. (lượm lặt)
-
Quẻ này của Thiên Đồng không nghiệm, vì trong khoản thời gian từ sau 16g30 1/8/2011 đến 6/8/2011 không xảy ra một trận động đất nào trên thế giới.
-
Bảng Thống Kê Theo Dõi Động Đất Thế Giới 31/7/2011, Nhật Bản, 6,4 richther. 01/8/2011, Papua New Guinea, 6,8 richther. 01/8/2011, Nhật Bản, 6,1 richther. 12/8/2011, ngoài khơi Nhật Bản, 5,9 richther. 12/8/2011, Kashgar - Tân Cương, 5,8 richther. 16/8/2011, Indonessia, 6,5 richther. 19/8/2011, Nhật Bản, 6,8 richther. 21/8/2011, Vanuatu, 7,5 richther. Thiên Đồng
-
Người ta nói Sư Phụ là Dị Nhân, bi giờ Sư Phụ lại làm việc Dị Thường, không quản cáo sản phẩm, không có cái sản phẩm nào để bán, cũng không dự hội nghị mà để Thế Trung đi. Chỉ có TTNC Lý Học Đông Phương là làm được câu "Hòa nhi bất đồng". Chúc mừng Văn Hiến Việt 5000 năm hiển vinh.
-
Nhật lại hứng trận động đất mạnh 20/08/2011 1:00 Hơn 5 tháng sau khi bị tàn phá nặng nề bởi thảm họa động đất, sóng thần đầu tháng 3, vùng đông bắc Nhật Bản lại hứng trận động đất mạnh tới 6,8 độ Richter vào ngày 19.8, buộc giới chức đưa ra cảnh báo sóng thần. Trận động đất xảy ra lúc 14 giờ 36 phút (giờ địa phương), có tâm chấn cách tỉnh Miyagi 80 km về phía đông bắc và ở độ sâu 43 km, theo AFP. Vị trí này khá gần tâm chấn của trận động đất 9 độ Richter kéo theo sóng thần hôm 11.3, khiến hơn 20.000 người chết và gây khủng hoảng hạt nhân ở Nhà máy điện Fukushima số 1. Chấn động mới đã làm các tòa nhà ở vùng đông bắc và thủ đô Tokyo rung lắc dữ dội, buộc nhiều nhân viên văn phòng phải tìm chỗ ẩn nấp. AFP dẫn lời phát ngôn viên Ai Tanaka của Công ty điện lực Tokyo cho hay các công nhân tại Nhà máy Fukushima số 1 cũng đã được sơ tán nhưng không có sự cố mới. Khoảng 30 phút sau động đất, cảnh báo sóng thần đã được dỡ bỏ. Văn Khoa nguồn: http://www.baomoi.com
-
@ Rin86, Nếu quẻ gieo 8/7 tâm mão giờ hợi thì là quẻ Hỏa Sơn Lữ động hào sơ lục Biến Hỏa Vi Ly. Nếu theo thứ tự quẻ thứ 19 thì chính xác là Địa trạch Lâm, nhưng cách lập quẻ thì không biết động hào nào? Thiên Đồng
-
Dự đoán 2011 của Sư Phụ Thiên Sứ Mỹ: 2 người chết vì nhiễm bệnh lạ “khủng khiếp” TTO - Cơ quan Kiểm soát và phòng chống dịch bệnh Mỹ (CDC) ngày 17-8 xác nhận đã có 2 người tử vong trong tuần qua vì một chứng nhiễm amip hiếm gặp nhưng cực kỳ nguy hiểm Hai ca tử vong gồm một em bé 9 tuổi ở bang Virginia và một thiếu niên 16 tuổi ở Florida, theo CNN. Đây là một chứng nhiễm amip hiếm gặp - chỉ có 2-3 ca tử vong trong một năm tại Mỹ. Số ca tử vong nhiều nhất ghi nhận được là tám ca vào năm 1980. Tuy nhiên căn bệnh lại có xác suất tử vong lên đến 95%, nhắm vào thanh thiếu niên và trẻ em. CDC cho biết khi xâm nhập cơ thể người, amip Naegleria fowleri sẽ sinh sôi rất nhanh, sau đó di chuyển lên não. Sau đó nó sẽ bắt đầu ăn các nơron thần kinh, gây đau đầu khủng khiếp, sốt cao, ảo giác và thậm chí mất khả năng kiểm soát hành vi. Các nhà khoa học mô tả loại amip này gây tử vong nhanh đến nỗi rất khó nghiên cứu chúng tại phòng thí nghiệm. Amip Naegleria fowleri sinh sống khắp nơi trên thế giới, ở những vùng nước ấm như ao hồ và sông suối. Sở dĩ thiếu niên và trẻ em hay mắc bệnh do đây là đối tượng chủ yếu hay tắm ở những nơi này. Hiện chưa có phương pháp đặc trị hiệu quả cho chứng nhiễm amip nói trên. Đến nay chỉ mới có một trường hợp sống sót được ghi nhận vào năm 1978. XUÂN TÙNG
-
Có sự thay đổi về thời gian.... ========================== THÔNG BÁO Chuyên Đề Lạc Việt Độn Toán Cơ Bản Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương thông báo tổ chức buổi nói chuyện chuyên đề Lạc Việt Độn Toán cơ bản. Thân mời các thành viên yêu thích và quan tâm bộ môn Lạc Việt Độn Toán đến tham dự buổi chuyên đề. Chương trình - Diễn ra: 20/8/2011 (tức 21/7/ Tân Mão) - Thời gian: từ 15g00 đến 17g00 - Địa điểm: quán Trà Việt số 48 đường Út Tịch, quận Tân Bình. - Hình thức: báo cáo chuyên đề. - Báo cáo viên: Thiên Đồng - Nội dung chính: Lạc Việt Độn Toán cơ bản. - Không lệ phí tham gia. Lưu ý: Thành viên tham dự tự trả tiền trà bánh, tức phí trà bánh chia đều cho cá nhân tham dự. Thay Mặt TTNC Thiên Đồng TB: Nếu có sự thay đổi về thời gian thì chúng tôi sẽ thông báo sau.
-
Dan gian Viêt Nam đã từng nói nước dừa là âm hàn, tính lạnh thuộc loại độc. Trời nắng oi bức, đi mệt nắng nóng, người uống nước dừa vào dễ bị âm hàn nhập. Chỉ uống nước dừa được vào ban ngày, ban chiều ban đêm không nên uống. những người bệnh liên quan huyết áp, cảm mạo uống nước dừa vào nhẹ thì bệnh, nặng thì có thể tử vong. Những người bệnh huyết áp uống nước dừa thường xuyên thì thuốc vô dụng. Tóm lại những người cơ thể âm hàn, gân cốt da thịt dể mỏi mệt uống nước dừa vào không khác uống độc dược. Thiên Đồng
-
THIÊN 9: CHUNG THỈ Phàm đạo của việc châm (thích) được trọn vẹn ở thiên ‘Chung thỉ’[1]. Nếu chúng ta biết rõ ‘Chung thỉ’ thì chúng ta sẽ thấy ngũ tạng đóng vai trò ‘kỷ’ làm cho âm dương được định vậy[2]. Âm chủ về tạng, dương chủ về phủ [3]. Dương thọ khí ở tứ mạt, Âm thọ khí ở ngũ tạng, cho nên khi châm tả, chúng ta phải theo phép nghênh khí, khi châm bổ, chúng ta phải theo phép tùy chi[4]. Biết rõ nghênh, tùy, thì có thể làm cho khí được hòa[5]. Con đường đi tới cái hòa của khí là phải thông hiểu âm dương[6]. Ngũ tạng thuộc âm, lục phủ thuộc dương[7]. Vấn đề này khi truyền lại cho đời sau, mỗi khi cần thề nguyền (minh) thường người ta lấy huyết làm lời minh, có nghĩa là ai kính trọng lời minh thì tốt, ai khinh mạn thì sẽ chết[8]. Hành động không đúng với đạo sẽ bị tai ương bởi Trời, chúng ta phải phụng thiên đạo 1 cách cẩn trọng[9]. Bây giờ chúng ta nói đến chung thỉ [10]. Nội dung của chung thỉ là lấy kinh mạch làm kỷ, nắm vững tình trạng của khí ở mạch khẩu và nhân nghênh để có thể biết được sự hữu dư hay bất túc của âm dương, biết được sự bình thường hay bất bình thường của âm dương, đó là chúng ta hành động được tròn vẹn với thiên đạo rồi vậy[11]. Gọi là bình nhân tức là nói đến 1 người không bị bệnh [12]. Người không bị bệnh là người mà mạch khẩu và nhân nghênh ứng với tứ thời bốn mùa, là người mà trên dưới tương ứng với nhau và có đầy đủ sự vãng lai, lục kinh không bị kết động, sự hàn ôn ở bản mạt cùng giữ nhau để điều hành nhau, là người hình nhục, huyết khí ắt phải tương xứng nhau, ta gọi đó là bình nhân [13]. Người thiếu khí là người mà mạch khẩu và nhân nghênh đều thiếu không xứng với xích thốn, như vậy là âm dương đều bất túc[14]. Nếu bổ âm thì dương bị kiệt, nếu tả âm thì dương thoát [15]. Trong trường hợp này nên dùng loại thuốc có vị ngọt (cam dược), không thể cho uống loại chi tễ, trường hợp này cũng không nên cứu và nếu không hết bệnh mà ta lại tả cũng sẽ làm cho khí của ngũ tạng bị hoại[16]. Mạch nhân nghênh nhất thịnh, bệnh ở tại kinh túc Thiếu dương, nhất thịnh mà thêm táo thì bệnh ở tại kinh thủ Thiếu dương[17]. Mạch nhân nghênh nhị thịnh, bệnh ở tại túc Thái dương, nhị thịnh mà thêm táo thì bệnh ở tại thủ Thái dương[18]. Mạch nhân nghênh tam thịnh, bệnh ở tại túc Dương minh, tam thịnh mà thêm táo thì bệnh ở tại thủ Dương minh[19]. Mạch Dương minh tứ thịnh, vừa đại, vừa sác, gọi tên là dật dương, dật dương gọi là ngoại cách [20]. Mạch mạch khẩu nhất thịnh, bệnh ở tại túc Quyết âm, nhất thịnh mà thêm táo thì bệnh ở tại thủ Tâm chủ [21]. Mạch mạch khẩu nhị thịnh, bệnh ở tại túc Thiếu âm, nhị thịnh mà thêm táo thì bệnh ở tại thủ Thiếu âm[22]. Mạch mạch khẩu tam thịnh, bệnh ở tại túc Thái âm, tam thịnh mà thêm táo thì bệnh ở tại thủ Thái âm[23]. Mạch mạch khẩu tứ thịnh, vừa đại, vừa sắc, gọi tên là dật âm, dật âm gọi là nội quan, Nnäi quan là tình trạng bất thông, chết chứ không trị được[24]. Mạch nhân nghênh và mạch khẩu ở kinh Thái âm nếu đều thịnh lên đến trên 4 bội (lần) thì gọi là Quan cách [25]. Bị Quan cách thì đã gần đến ngày chết rồi vậy[26]. Mạch Nhân nghênh nhất thịnh thì châm tả kinh túc Thiếu dương và châm bổ kinh túc Quyết âm, châm 2 lần tả và 1 lần bổ, mỗi ngày thủ huyệt 2 lần để châm[27]. Nên bắt mạch để nghiệm xem bệnh đã lui chưa[28]. Nên có thái độ làm việc 1 cách thung dung, không nên gấp rút, cho đến khi nào cốc khí đến 1 cách điều hòa mới thôi[29]. Mạch Nhân nghênh nhị thịnh thì châm tả kinh túc Thái dương và châm bổ kinh túc Thiếu âm, hâm 2 lần tả và 1 lần bổ, mỗi ngày thủ huyệt 1 lần để châm[30]. Nên bắt mạch để nghiệm xem bệnh đã lui hay chưa[31]. Nên có thái độ làm việc 1 cách thung dung không nên gấp rút, cho đến khi nào cốc khí đến 1 cách điều hòa mới thôi [32]. Mạch Nhân nghênh tam thịnh thì châm tả kinh túc Dương minh và châm bổ kinh túc Thái âm, châm 2 lần tả 1 lần bổ, mỗi ngày thủ huyệt 2 lần để châm[33]. Nên bắt mạch để nghiệm xem bệnh đã lui chưa[34]. Nên có thái độ làm việc 1 cách thung dung không nên gấp rút, cho đến khi nào cốc khí đến 1 cách điều hòa mới thôi [35]. Mạch Khẩu nhất thịnh thì châm tả kinh túc Quyết âm và châm bổ kinh túc Thiếu dương, Châm 2 lần bổ và 1 lần tả, mỗi ngày thủ huyệt 1 lần để châm[36]. Nên bắt mạch để nghiệm xem bệnh đã lui chưa[37]. Nên có thái độ làm việc 1 cách thung dung không nên gấp rút, cho đến khi nào cốc khí đến 1 cách điều hòa mới thôi[39]. Mạch Khẩu nhị thịnh thì châm tả kinh túc Thiếu âm và châm bổ kinh túc Thái dương, châm 2 lần bổ và 1 lần tả, mỗi ngày thủ huyệt 1 lần để châm[40]. Nên bắt mạch để nghiệm xem bệnh đã lui chưa[41]. Nên có thái độ làm việc 1 cách thung dung không nên gấp rút, cho đến khi nào cốc khí đến 1 cách điều hòa mới thôi[42]. Mạch Khẩu tam thịnh thì châm tả kinh túc Thái âm và châm bổ kinh túc Dương minh, châm 2 lần bổ và 1 lần tả, mỗi ngày thủ huyệt 1 lần để châm[43]. Nên bắt mạch để nghiệm xem bệnh đã lui chưa[44]. Nên có thái độ làm việc 1 cách thung dung không nên gấp rút, cho đến khi nào cốc khí đến 1 cách điều hòa mới thôi [45]. Kinh Dương minh chủ về Vị, rất dồi dào về cốc khí, cho nên chúng ta có thể mỗi ngày chọn huyệt 2 lần để châm[46]. Mạch Nhân nghênh và mạch Khẩu đều thịnh lớn hơn 3 lần, được gọi tên là âm dương đều dật[47]. Trong trường hợp này, nếu không châm cho khai thông thì huyết mạch bị bế tắc[48]. Khí không có đường để vận hành, nó sẽ lưu lại và tràn đầy ở trong, làm cho ngũ tạng bị nội thương[49]. Trong trường hợp này, chúng ta lại theo đó mà cứu, ắt sẽ làm thay đổi gây thành bệnh khác nữa[50]. Phàm trong cách châm, khi nào thấy khí đã điều hòa thì dừng châm[51]. Nên châm bổ âm và tả dương, như vậy sẽ làm cho âm thanh càng to, rõ, tai, mắt được thông minh, nếu ngược lại thì khí huyết sẽ không vận hành được[52]. Gọi là khí đến và đã có hiệu quả tốt, đó là nếu dùng phép tả, là càng làm hư bớt cái thực[53]. Khi đã châm theo phép hư rồi thì mạch sẽ đại như cũ chứ không kiên (thực)[54]. Nếu kiên như cũ, thì dù có nói rằng bệnh đã hết, nghĩa là đã trở lại trạng thái mạnh khỏe như xưa, nhưng thực sự bệnh vẫn chưa khỏi[55]. Nếu dùng phép bổ, đó là càng làm thực thêm cái hư [56]. Khi đã châm theo phép thực rồi thì mạch sẽ đại như cũ chứ không làm tăng thêm cái kiên (thực)[57]. Nếu đại như cũ chứ không kiên hơn, thì dù có nói rằng bệnh đã trở lại trạng thái khoái (sung sướng, dễ chịu) như xưa, nhưng thực sự bệnh vẫn chưa khỏi[58]. Cho nên, phép châm bổ làm cho thực thêm cái hư, phép châm tả là làm hư bớt cái thực[59]. Dù cái đau đớn không theo mũi kim mà ra đi hẳn ngay, nhưng cơn bệnh chắc chắn phải giảm bớt vậy[60]. Muốn đạt được kết quả bổ tả, bắt buộc phải thông nguyên nhân sinh ra bệnh ở nơi 12 kinh mạch, được vậy, sau đó mới có thể truyền lại trong chung thỉ vậy [61]. Cho nên muốn cho âm dương không cùng làm sai lệch nhau, hư thực không làm thương lẫn nhau, lúc chúng ta chữa bệnh, chỉ cần chọn chính kinh là được[62]. Phàm phép châm, thuộc lần thứ 3, đó là phải châm cho đến lúc có cốc khí [63]. Khi tà khí hợp nhau 1 cách cẩu thả nơi khí phận, làm cho khí âm dương bị thay đổi chỗ nhau, khí nghịch thuận cùng tương phản nhau, khí âm dương không còn hợp với sự phù trầm của kinh mạch, không còn hợp với sự thăng giáng của 4 mùa, nó sẽ vì thế mà lưu giữ 1 cách tràn đầy trong vùng khí phận của âm dương, như vậy, nên dùng phép để đuổi nó đi[64]. Cho nên, châm 1 lần thì làm cho dương tà xuất ra, châm lần nữa sẽ làm cho âm tà xuất ra, châm lần 3 làm cho cốc khí đến thì thôi châm[65]. Khi nói rằng cốc khí đến có nghĩa là sau khi châm bổ xong thì khí sẽ thực, châm tả xong thì khí sẽ hư [66]. Nhờ vậy mà ta biết được khi nào cốc khí đến, tức là tà khí ra đi 1 mình vậy[67]. Dù âm dương chưa được điều hòa nhưng ta biết là bệnh đã khỏi rồi[68]. Vì thế mới có câu bổ tức là làm cho thực thêm cái hư, tả tức là làm cho hư bớt cái thực[69]. Dù sự đau đớn không theo mũi kim mà ra đi hẳn ngay, nhưng cơn bệnh chắc chắn phải giảm bớt vậy[70]. Khi nào âm thịnh mà dương hư thì nên châm bổ dương khí trước, sau đó châm tả âm khí để âm dương được điều hòa[71]. Khi nào âm hư mà dương thịnh thì nên châm bổ âm khí trước, sau đó châm tả dương khí để âm dương được điều hòa[72]. Tam mạch động ở khoảng trong của ngón chân cái, nên thẩm định rõ sự thực hư, nếu hư mà ta châm tả đó gọi là trùng hư, bị trùng hư thì bệnh càng nặng[73]. Phàm khi châm nơi đây, nên dùng ngón tay án vào, nếu thấy mạch động mà thực và nhanh, nên châm tả cho nhanh; nếu thấy mạch hư mà chậm, nên châm bổ, nếu làm ngược lại như trên thì bệnh càng nặng[74]. Khi động thì Dương minh ở trên, Quyết âm ở giữa, Thiếu âm ở dưới [75]. Vùng ngực có các huyệt Du, nên châm trúng vào các huyệt Du trên vùng ngực, vùng lưng có các huyệt du, nên châm trúng vào những huyệt du trên lưng và vai[76]. Nếu thấy hư nên chọn châm ở trên[77]. Bị bệnh ở trùng thiệt (nơi trùng của lưỡi), nên châm vào nơi thiệt trụ, châm kim Phi châm[78]. Khi nào cánh tay chỉ co lại mà không duỗi ra được, thì đó là bệnh ở cân[79]. Khi nào cánh tay chỉ duỗi ra mà không co vào được, thì đó là bệnh ở cốt [80]. Bệnh tại cốt nên chú trọng chữa ở cốt, bệnh tại cân nên chú trọng chữa ở cân[81]. Phép châm (bổ), thứ nhất đợi khí vừa mới thực nên châm sâu vào, án thật nhẹ vào vết châm, nhằm để cho tà khí xuất ra hết, một nữa là đợi lúc khí vừa mới hư, châm cạn, nhằm dưỡng mạch khí, châm xong nên án thật nhanh vào chỗ vết châm nhằm không cho tà khí xâm nhập vào[82]. Tà khí đến, nên châm khẩn, nhanh[83]. Khi cốc khí đến, nên châm chậm và hòa hoãn[84]. Mạch khí thực, nên châm sâu vào nhằm tiết tà khí ra; mạch khí hư, nên châm cạn nhằm làm cho tinh khí không thoát ra được, nhằm dưỡng được mạch khí, chỉ cho mỗi mình tà khí xuất ra mà thôi[85]. Châm các chứng thống, mạch của nó đều thực[86]. Cho nên nói rằng: từ thắt lưng trở lên, do kinh thủ Thái âm và Dương minh làm chủ, từ thắt lưng trở xuống, do kinh túc Thái âm và Dương minh làm chủ [87]. Bệnh ở phần trên, thủ huyệt trị ở dưới [88]. Bệnh ở phần dưới, thủ huyệt trị trên cao[89]. Bệnh ở đầu, thủ huyệt trị ở dưới chân[90]. Bệnh tại thắt lưng, thủ huyệt trị ở kheo chân (quắc)[91]. Bệnh sinh ra ở đầu thì đầu bị nặng, bệnh sinh ra ở cánh tay thì cánh tay nặng, bệnh sinh ra ở chân thì chân nặng, khi trị bệnh, nên châm vào những nơi đã sinh ra bệnh[92]. Mùa xuân, khí ở tại mao, mùa hạ khí ở tại bì phu, mùa thu khí ở tại phận nhục, mùa đông khí ở tại cân cốt, châm những bệnh này, nên thích ứng đúng vào thời mùa[93]. Cho nên, châm những người mập, nên châm như thể châm vào lúc mùa thu và đông, châm người gầy, nên châm như thể châm vào lúc mùa xuân và hạ[94]. Bệnh thuộc về thống là thuộc về âm, thống mà dùng tay án lên cũng không thấy được vì nó thuộc về âm, nên châm sâu vào[95]. Bệnh ở phần trên thuộc về dương, bệnh ở phần dưới thuộc về âm[96]. Bệnh ngứa thuộc dương châm cạn[97]. Nếu bệnh khởi lên trước ở phần âm thì nên trị phần âm trước rồi sau mới trị phần dương[98]. Nếu bệnh khởi lên trước ở phần dương thì nên trị phần dương trước rồi sau mới trị phần âm[99]. Châm chứng “nhiệt quyết”, nếu lưu kim lâu quá sẽ thành ngược lại thành hàn[100]. Châm chứng bệnh hàn quyết, nếu lưu kim lâu quá sẽ ngược lại thành nhiệt[101]. Châm nhiệt quyết thì 2 âm và 1 dương[102]. Châm hàn quyết thì 2 dương 1 âm[103]. Cái gọi là 2 âm, tức là châm âm 2 lần, gọi là 1 dương tức là châm dương 1 lần[104]. Bệnh lâu ngày, tà khí nhập vào sâu, châm trị bệnh này, nên châm sâu vào và lưu kim thật lâu, cứ cách ngày lại châm trở lại[105]. Phải để ý vấn đề điều hòa cách châm phải trái, nhằm đuổi nó ra khỏi huyết mạch trong thân thể [106]. Phép châm (đạo châm) như thế là đầy đủ [107]. Phàm trong phép châm, chúng ta phải xem xét phần hình khí, hình và nhục chưa thoát nhau, thiểu khí mà mạch lại táo cấp[108]. Bệnh táo lại quyết nghịch, nên châm theo phép Mậu thích[109]. Tinh khí có bị tán có thể thu lại, tà khí có tụ thì có thể tán ra[110]. Người thầy thuốc phải ở 1 nơi sâu nào đó cho yên tĩnh, thấy rõ được sự vãng lai của thần khí, đóng kín cửa lại, cốt làm sao cho hồn phách không bị tán[111]. Phải chuyên chú ý của mình vào với thần làm một, giữ được tinh khí của mình đúng chỗ của nó, không nghe đến tiếng nói người khác, nhằm thu giữ cái tinh khí[112]. Tất cả phải đưa vào với thân làm một, khiến cho chí của người châm theo vào mũi kim[113]. Hoặc châm cạn mà lưu kim, hoặc châm thật nhẹ mà giữ bề ngoài, điều hành cái thần của người bệnh, khi nào chân khí đến mới thôi châm[114]. Nam nội nữ ngoại, kiên quyết giữ cái chính khí của người bệnh, quyết không để cho nó xuất ra[115]. Ngoài ra, phải giữ gìn cẩn thận không để cho tà khí nhập vào, Ta gọi đó là đắc khí [116]. Phàm những việc cấm châm gồm: vừa mới nhập phòng (giao hợp) xong đừng châm, đã châm rồi thì đừng nhập phòng; đã say rồi đừng châm, đã châm rồi đừng say; mới vừa nổi giận đừng châm, đã châm rồi đừng nổi giận; vừa làm việc mệt nhọc xong đừng châm, đã châm rồi đừng làm việc mệt nhọc; đã ăn no đừng châm, đã châm rồi đừng ăn no; đã đói đừng châm, đã châm rồi thì đừng để đói; đã khát rồi đừng châm, đã châm rồi đừng để khát; khi mà có việc gì quá kinh khủng, nên có thời để định lại khí rồi hãy châm; mới vừa đi xe đến nên nằm nghỉ trong thời gian bữa cơm rồi mới châm; đi bộ vừa đến nên ngồi nghỉ bằng thời gian đi 10 dặm rồi mới châm[117]. Sở dĩ có 12 phép cấm châm trên, là vì lúc bấy giờ mạch đang loạn, khí đang tán, khí vinh (doanh) vệ bị nghịch, kinh khí không còn vận hành theo thứ tự [118]. Nếu trong trường hợp như vậy mà ta châm vào thì sẽ làm cho dương bệnh nhập vào âm, Âm bệnh xuất ra ở dương, tạo cơ hội cho tà khí sinh trở lại[119]. Người thầy châm vụng về, không xét kỹ các lý lẽ trên, đó là họ đã chặt đứt (giết chết) thân thể con người, làm cho hình thể con người không vận hóa bình thường, tiêu hao não tủy, tân dịch không còn hóa, làm cho ngũ vị không còn làm tròn vai trò tạo ra thần khí, Ta gọi đó là thất khí vậy[120]. Khi mạch Thái dương bị chung tuyệt, mắt bị trợn, thân hình bị vặn uốn, bị “khiết túng”, màu sắc trắng bệch, da bị héo rời đưa tới việc mồ hôi bị tuyệt, khi mồ hôi bị tuyệt thì chết [121]. Khi mạch Thiếu dương bị chung tuyệt, tai sẽ bị điếc, trăm đốt xương đều buông lỏng, phần mục hệ (vùng mắt) bị tuyệt khí, mục hệ bị tuyệt chỉ 1 ngày rưỡi là chết, Khi chết thì sắc mặt đổi từ xanh qua trắng rồi mới chết[122]. Mạch Dương minh bị chung tuyệt, miệng và mắt đều không động giựt, hay lo sợ, nói sàm bậy, sắc mặt vàng, kinh mạch ở trên hay dưới đều thịnh và không vận hành được, như vậy là phải chết[123]. Mạch Thiếu âm bị chung tuyệt, sắc mặt sẽ đen, răng lộ dài ra như có nhiều chất bẩn, bụng trướng vì bị bế tắc, trên và dưới không còn thông nhau, và sẽ chết[124]. Mạch Quyết âm bị chung tuyệt, bên trong nhiệt, cổ họng bị khô, hay đi tiểu, Tâm bị phiền, nếu nặng hơn thì lưỡi bị cuốn lại, trứng dái bị rút lên và teo lại, chết[125]. Mạch Thái âm bị chung tuyệt, bụng bị trướng bế, không thở được, hay ợ và hay ói, mỗi lần ói là khí bị nghịch, khi bị nghịch thì mặt đỏ lên; nếu khi không nghịch nữa thì lại xảy ra tình trạng trên dưới bất thông, khi thượng hạ bất thông thì mặt sẽ đen, lông và da bị khô héo, chết[126]. 终站第九法野 凡刺之道,毕于终站,明知终始,五藏为纪,阴阳定矣。阴者主藏,阳者主府,阳受气于四末,阴受气于五藏。故泻者迎之,补者随之,知迎知随,气可令和。和气 之方,必通阴阳,五藏为阴,六府为阳,传之后世,以血为盟,敬之者昌,慢之者亡,无道行私,必得夭殃。谨奉天道,请言终始,终始者,经脉为纪,持其脉D人 迎,以知阴阳有余不足,平与不平,天道毕矣。所谓平人者不病,不病者,脉口人迎应四时也,上下相应而俱往来也,六经之脉不结动也,本末之寒温之相守司也, 形肉血气必相称也,是谓平地少气者,脉口人迎俱少而不称尺寸也。如是者,则阴阳恨不足,补阳则阴竭,泻阴则阳脱。如是老,可将以百药,不可饮以至剂。如此 者弗灸,不已者因而泻之,则五藏气环矣。人迎一盛,病在足少阳,一盛而躁,病在手少阳。人迎二盛,病在足太阳,二盛而躁,病在手太阳。人迎三盛,病在足阳 明,三盛而躁,病在手阳明。人迎四盛,且•大且数,名曰溢阳,溢阳为外相。脉口一盛,病在足厥阴,厥阴一盛而躁,在手心主。脉口二盛,病在足少明,二盛而 躁,在手少阴。脉口三盛,病在足太阴,三盛而躁,在手太阳。脉口四盛,且大且数者,名曰溢阴,溢明为内关,内关不通死不治。人迎与太阴脉日俱盛四倍以上, 命名关格,关枪者,与之短期。人迎一盛,泻足少阳而补足厥阳,二泻一补,日一取之,必切而验之,疏取之上,气和乃止。人迎二盛,泻足太阳,补足少阻,二泻 一补,二日一取之,必切而验之,疏取之上,气和乃止。人迎三盛,泻足阳明而补足太阴,二泻一补,日二取之,必切而验之,疏取之上,气和乃止。脉口一盛,泻 足厥阻而补足少阳,二补一泻,日一取之,必切而验之,疏而取上,气和乃止。脉口二盛,泻足少朋而补足太阳,二补一泻,二日一取之,必切而验之,疏取之上, 气和乃止。脉口三盛,泻足太阴而补足阳明,二129补一泻,日二取之,必切而验之,疏而取之上,气和乃止。所以日二取之者,大阴①主胃,大富于谷气,故可 日二取之也。人迎与脉口俱盛五倍以上,命日阴阳惧溢,如是者不开,则血脉闭塞,气无所行,流建于中,五藏内伤。如此者,因而灸之,则变易而为他病矣。凡刺 之道,气调而止,补阴泻阳,音气益彰,耳目聪明,反此者血气不行。所谓气至而有效者,泻则益虚,虚者脉大如其故而不坚也,坚如其故者,适虽言故,病未去 也。补则益实,实者脉大如其故而益坚也,夫如其故而不坚者,适虽言快,病未去也。故补则实,泻则虚,痛虽不随针,病必衰去,必先通十二经脉之所生病,而后 可得传于终始矣。故阴阳不相移,虚实不相倾,取之其经。凡刺之属,三刺至谷气,邪僻妄合,阴阳易居,逆顺相反,沉浮异处,四时不得,稽留淫法,须针而去。 故一刺则阳邪出,再刺则阴邪出,三刺则谷气至,谷气至而止。所谓谷气至者,已补而实,已泻而虚,故以知谷气至也。邪气独去者,明与阳未能调,而病知愈也。 故日补则实,泻则虚,痛虽不随针,病必衰去矣。阴盛而阳虚,先补其阳,后泻其明而和之。阴虚而阳盛,先补其附,后泻其阳而和之。三脉动于足大指之间,必审 其实虚。虚而泻之,是谓重虚,重虚病益甚。凡刺此者,以指按之,脉动而实且疾者疾泻之,虚而徐者则补之,反此者病益甚。其动也,阳明在上,厥阴在中,少阴 在下。膺脑中膺,背偷中背。肩膊虚者,取之上。重舌,刺舌柱以钦针也。手屈而不伸者,其病在筋,伸而不屈者,其病在骨,在骨守骨,在筋守筋。补须一方实, 探取之,稀按其疼,以极出其邪气;一方虚,浅利之,以养其脉,疾按其精,无使邪气得入。邪气来也紧而疾,谷②气来也徐而和。脉实者,深刺之,以泄其气;脉 虚者,浅刺之,使精气无得出,以养其脉,独有其邪气。刺诸痛者,其脉皆实。故日:从腰以上者,手太阴阳明皆主之;从腰以下者,足太阴阳明皆主之。病在上者 下取之,病在下者高取之,病在头者取之足,病在足者取之胭。病生于头者头重,生于手者臂重,生于足者足重,治病者光刺其病所从生者也。春气在毛,夏气在皮 肤,秋气在分肉,冬气在筋骨,刺此病者各以其时为齐。故刺肥人者,以③秋冬之齐:刺瘦人者,以春夏之齐。病痛者明也,痛而以手按之不得者阴也,深刺之。病 在上者阳也,病在下者阴也。痒者阳也,钱制之。病先起明者,先治其阴而后治其阳;病先起阳者,先治其阳而后治其附。刺热①阴:原作"阳",据呷乙经》、付 京》改。Q谷:原作"邪",据拥乙经》、什素•三赖政。③以:原脱,据忡乙细、村靠•三刺》补。130厥者,留针反为寒;刺寒厥者,留针反为热。刺热厥 者,二阴一阳;刺寒厥者,二阳一阴。所谓二阴者,二刺明也;一阳者,一利阳也。久病者邪气入深,刺此病者,深内而久留之,间日而复刺之,必先调其左右,去 其血脉,刺道毕矣。凡刺之法,必察其形气,形肉未脱,少气而脉又践,躁厥者,必为缨刺之,散气可收,聚气可布。深居静处,占神往来,闭户塞精,魂魄不散, 专意一神;精气之分,毋闻人声,以收其精,必一其神,令志在针,浅而留之,微而浮之,以移其神,气至乃休。男内女外,坚拒匆出,谨守勿内,是谓得气。凡利 之禁:新内勿刺,新刺勿内。已醉勿刺,已刺勿醉。新怒勿刺,已刺勿怒。新劳勿利,已刺勿劳。已饱勿刺,已刺勿饱。已饥勿利,已刺勿饥。已渴勿刺,已制勿 渴。大惊大怒,必定其气,乃刺之。乘车来者,卧而体之,如食顷乃刺之。出行来者,坐而休之,如行十里顷乃刺之。凡此十二禁者,其脉乱气散,逆其营卫,经气 不次,因而刺之,则阳病人于阴,阴病出为阳,则邪气复生,粗工勿察,是谓代身;形体建铁,乃消脑髓,津液不化,脱其五味,是谓失气也。太阳之脉,其终也, 戴眼,反折,德规,其色白,绝皮乃绝汗,绝汗刚终矣。少阳终者,耳聋,百节尽纵,目系绝,目系绝一日半则死矣,其死也,色青白乃死。阳明终者,口自动作, 喜惊妄言,色黄,其上下之经盛而不行则组矣。少阴终者,面黑,齿长而垢,腹胀闭塞,上下不通而终矣。厥阻终者,中热隘干,喜溺心烦,甚则舌卷,卵上缩而终 矣。太阴终者,腹胀闭不得息,气晴,善呕,呕则逆,逆则面赤,不逆则上下不通,上下不通则面黑皮毛憔而终矣。 THIÊN 10: KINH MẠCH Lôi Công hỏi Hoàng Đế: “Thiên ‘Cấm phục’ có nói, phàm cái lý của việc châm là phải lấy kinh mạch làm đầu, nó có nhiệm vụ doanh cho sự vận hành của khí, nó ‘chế’ để cho khí trở thành ‘độ lượng’; bên trong, nó làm cho khí của ngũ tạng vận hành thành thứ tự, bên ngoài, nó làm cho lục phủ phân biệt nhau. Thần mong được nghe về cái đạo vận hành ấy”[1]. Hoàng Đế đáp: “Con người khi bắt đầu sinh ra là ‘tinh’ thành trước nhất[2]. Tinh thành rồi mới đến não tủy sinh ra[3]. Cốt đóng vai trò cân, mạch đóng vai trò doanh, cân đóng vai trò cương, nhục đóng vai trò tường, bì phu rắn chắc để lông và tóc được dài ra[4]. Cốc khí nhập vào Vị, mạch đạo sẽ nhờ đó được thông, huyết khí khắc vận hành”[5]. Lôi công nói : “Thần mong được nghe về vấn đề bắt đầu sinh ra của kinh mạch”[6]. Hoàng Đế đáp: Kinh mạch là những con đường, dựa vào đó để ta quyết được việc sống hay chết, là nơi sắp xếp trăm bệnh, là nơi điều hòa việc hư thực mà người thầy thuốc không thể không thông[7]. Phế mạch của thủ Thiếu âm khởi lên ở trung tiêu, đi xuống dưới, lạc với Đại trường, quay trở lên tuần hoàn theo Vị khẩu, lên trên đến hoành cách, thuộc vào phế; từ Phế hệ, rẽ ngang, xuất ra dưới hố nách, lại đi xuống tuần hành theo bên trong cánh tay, đi theo phía trước kinh Thiếu âm và Tâm chủ, đi xuống đến giữa khuỷu tay, tuần hành theo mép dưới, trên xương quay của cẳng tay, rồi nó nhập vào mạch thốn khẩu, lên đến phần ngư của tay, tuần hành đến huyệt Ngư Tế, xuất ra ở đầu ngón tay cái[8]. Chi mạch của nó đi từ sau cổ tay đi thẳng ra đến đầu ngón tay trỏ ở mép trong[9]. Nếu là bệnh thuộc ‘thị động’ sẽ làm cho phế bị trướng mãn, ngực căng ứ lên thành suyễn, ho, giữa khuyết bồn bị đau, nếu đau nặng thì hai tay phải bắt chéo nhau mà cảm thấy phiền loạn, ta gọi đây là chứng tý quyết[10]. Nếu là bệnh thuộc ‘sở sinh’ của Phế sẽ gây thành bệnh ho, thượng khí, suyễn, hơi thở thô, tâm phiền, ngực bị đầy, thống quyết ở mép trước phía trong từ cánh tay đến cẳng tay, trong lòng bàn tay bị nhiệt[11]. Khí thịnh hữu dư thì vai và lưng bị thống, bị phong hàn, mồ hôi ra, trúng phong, đi tiểu nhiều lần mà ít [12]. Khí hư thì vai và lưng bị thống hàn, thiều khí đến không đủ để thở, màu nước tiểu bị biến[13]. Khi nào những chứng bệnh trên xảy ra, nếu thịnh thì nên châm tả, hư thì nên châm bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn nên lưu kim lâu, mạch bị hãm hạ thì nên cứu; không thịnh, không hư thì tùy theo kinh mà thủ huyệt để châm[14]. Nếu khí thịnh thì mạch Thốn khẩu lớn 3 lần hơn mạch Nhân nghênh, nếu khí hư thì mạch Thốn khẩu, ngược lại, nhỏ hơn mạch Nhân nghênh [15]. Đại trường, mạch của thủ Dương minh khởi lên ở đầu ngón tay trỏ phía ngón tay cái, đi dọc theo mép trên của ngón tay xuất ra ở huyệt Hợp cốc, nằm giữa 2 xương, lên phía trên nhập vào giữa 2 gân, đi dọc theo mép trên của cẳng tay, nhập vào mép ngoài khuỷu tay, lên trên dọc mép trước ngoài cánh tay, lên trên đến vai xuất ra ở mép trước xương ngung cốt , lên trên xuất ra ở trên chỗ hội nhau của trụ cốt, nó lại quay xuống để nhập vào Khuyết bồn, lạc với Phế, xuống dưới hoành cách và thuộc vào Đại trường [16]. Chi mạch của nó đi từ Khuyết bồn lên cổ xuyên lên đến mặt, nhập vào giữa hàm răng dưới, vòng ra quanh miệng rồi giao nhau ở Nhân trung, đường bên trái giao qua phải, đường bên phải giao qua trái, xong nó lên trên để nép vào lỗ của mũi[17]. Nếu là bệnh thuộc ‘thị động’ sẽ làm cho răng đau, cổ sưng thủng[18]. Vì là chủ tân dịch cho nên nếu là bệnh thuộc ‘sở sinh’ sẽ làm cho mắt vàng, miệng khô, chảy máu mũi, cổ họng bị tý, cánh tay trước vai bị đau nhức, ngón cái và ngón trỏ bị đau nhức, không làm việc được[19]. Khi nào khí hữu dư thì những nơi mà mạch đi qua sẽ bị nhiệt và sưng thủng, khi nào khí hư sẽ làm cho bị lạnh run lên không ấm trở lại được[20]. Nếu bị các chứng bệnh nêu trên, nếu thịnh thì nên châm tả, hư thì nên châm bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn nên lưu kim lâu; mạch bị hãm hạ thì nên cứu, không thịnh không hư thì tùy theo kinh mà thủ huyệt để châm[21]. Nếu khí thịnh thì mạch Nhân nghênh lớn 3 lần hơn mạch Thốn khẩu, nếu khí hư thì mạch Nhân nghênh, ngược lại, nhỏ hơn mạch Thốn khẩu[22]. Vị, mạch của túc Dương minh khởi lên ở mũi, lên giao nhau ở sống mũi, ngang ra vai để giao với mạch của Thái dương, đi xuống tuần hành theo đường sống mũi, nhập vào giữa hàm răng trên, quay ra để áp vào miệng, vòng quanh môi, đi xuống giao với huyệt Thừa Tương, lại đi dọc theo mép dưới của khóe hàm dưới, xuất ra ở huyệt Đại Nghênh, đi dọc theo huyệt Giáp Xa, lên trên trước tai, đi qua huyệt Khách Chủ Nhân, đi dọc theo bờ trước tóc mai, đến bờ góc trán và vùng trán[23]. Chi mạch của nó đi dọc theo trước huyệt Đại Nghênh, xuống dưới đến huyệt Nhân Nghênh, đi dọc theo hầu lung (thanh quản), nhập vào Khuyết bồn, nó đi xuống dưới hoành cách để thuộc vào Vị và lạc với Tỳ[24]. Chi mạch của nó đi thẳng, từ Khuyết bồn xuống dưới đi qua mép trong vú, xuống dưới áp vào vùng rốn, nhập vào huyệt Khí Nhai[25]. Chi mạch của nó khởi lên ở Vị khẩu, xuống dưới đi dọc theo trong bụng (phúc lý), xuống dưới đến ngay giữa huyệt Khí Nhai để hợp với huyệt này, sau đó, đi xuống đến huyệt Bể Quan, áp theo huyệt Phục Thỏ, xuống dưới đến giữa xương đầu gối, nó lại xuống dọc theo mép ngoài của xương ống chân , xuống đến mu bàn chân, nhập vào trong khoảng ngón chân giữa[26]. Chi mạch của nó xuống khỏi đầu gối 3 thốn rồi tách biệt ra, xuống dưới nhập vào ngoài khoảng ngón giữa[27]. Chi mạch của nó tách biệt từ giữa mu bàn chân, nhập vào trong khoảng ngón chân cái, xuất ra ở đầu ngón[28]. Nếu là bệnh thuộc ‘thị động’ thì sẽ bị chân hàn 1 cách ngấm ngầm, hay than thở, ngáp nhiều lần, sắc mặt đen; hi bệnh đến thì ghét gặp người và lửa, mỗi lần nghe tiếng động của gỗ sẽ bị kinh sợ, tim muốn đập mạnh, muốn đóng kín cửa lớn, cửa sổ lại để ở 1 mình; khi nào bệnh nặng thì bệnh nhân muốn leo lên cao để ca hát, muốn trút bỏ quần áo để chạy rong, Trường Vị bị kêu sôi lên, bụng bị trướng lên, ta gọi đây là chứng cân quyết[29]. Vị là chủ huyết cho nên nếu là bệnh thuộc ‘sở sinh’ sẽ bị chứng cuồng ngược, ôn khí quá nhiều sẽ làm mồ hôi ra, chảy máu mũi, miệng méo, môi lở, cổ sưng thủng, cuống họng bị tý, phần bụng trên bị thủy thủng, đầu gối bị sưng thủng, đau nhức suốt đường từ ngực, vú, xuống dưới huyệt Khí nhai, đùi, huyệt Phục Thỏ, dọc mép ngoài xương chầy đến trên mu bàn chân đều đau nhức, ngón chân giữa không cảm giác[30]. Nếu khí thịnh thì phía trước thân đều bị nhiệt[31]. Khi khí hữu dư ở Vị thì làm tiêu cốc khí, dễ bị đói, nước tiểu màu vàng[32]. Nếu khí bất túc thì phía sau thân đều lạnh[33]. Nếu trong Vị bị hàn thì sẽ bị trướng mãn[34]. Nếu bị các chứng bệnh như trên, nếu thịnh thì nên châm tả, hư thì nên châm bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn nên lưu kim lâu, mạch bị hãm hạ thì nên cứu, không thịnh không hư thì tùy theo kinh mà thủ huyệt để châm[35]. Nếu khí thịnh thì mạch Nhân nghênh lớn 3 lần hơn mạch Thốn khẩu, nếu khí hư thì mạch Nhân nghênh, ngược lại, nhỏ hơn mạch Thốn khẩu[36]. Tỳ, mạch của túc Thái âm khởi lên ở đầu ngón chân cái, đi dọc theo mép trong nơi biên củathịt trắng, qua sau bạch cốt, lên trên đến mép trước của mắt cá trong, lên trên phía trong bắp chuối chân, đi dọc theo mép trong xương chầy, giao chéo trước kinh Quyết âm, lên trên mép trước của gối và đùi trong, nhập vào bụng và thuộc vào Tỳ, lạc với Vị, lên trên xuyên qua hoành cách, nép vào thực quản, nối liền với cuống lưỡi, tản ra dưới lưỡi[37]. Chi mạch của nó tách biệt lại đi từ Vị xuyên qua hoành cách rồi rót vào giữa (dưới) Tâm[38]. Nếu là bệnh thuộc ‘thị động’thì sẽ gây thành chứng cuống lưỡi cứng, ăn vào thì ói ra, Vị hoãn đau, bụng bị trướng, hay ợ, mỗi lần đại tiện thì cũng chuyển cả khí ra theo phân, sau đó thân người tiến tới suy kiệt rất nhanh chóng, thân thể đều nặng nề[39]. Nếu là bệnh thuộc ‘sở sinh’ của Tỳ sẽ làm cho cuống lưỡi bị đau, thân thể không lay động được, ăn không xuống, tâm phiền, vùng dưới Tâm đau cấp, tiêu chảy, thủy bế, hoàng đản, không nằm được, ráng đứng lâu thì bị nội thũng và quyết ở đùi vế, ngón chân cái không còn cảm giác[40]. Nếu là bị các bệnh chứng như trên, nếu thịnh thì nên châm tả, hư thì nên châm bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn nên lưu kim lâu, mạch bị hãm hạ thì nên cứu, không thịnh không hư thì tùy theo kinh mà thủ huyệt để châm[41]. Nếu khí thịnh thì mạch Thốn khẩu lớn 3 lần hơn mạch Nhân nghênhNếu khí hư thì mạch Thốn khẩu, ngược lại, nhỏ hơn mạch Nhân nghênh[42]. Tâm, mạch của thủ Thiếu âm, khởi lên từ trong Tâm, xuất ra để thuộc vào tâm hệ, đi xuống dưới hoành cách, lạc với Tiểu trường[43]. Chi mạch của nó đi từ Tâm hệ lên trên áp tựa vào yết, buộc vào mục hệ [44]. Chi mạch đi thẳng của nó lại từ Tâm hệ đi trở lên Phế, xuất ra dưới nách, đi dọc theo mép sau cánh tay trong đi theo phía sau kinh thủ Thái âm và Tâm chu,û rồi đi xuống phía trong khuỷu tay, đi dọc theo mép sau phía trong cẳng tay, đến đầu nhuệ cốt (xương nhọn) sau gang tay, nhập vào mép sau trong gan bàn tay, đi dọc theo bên trong ngón tay út, rồi xuất ra đầu ngón tay[45]. Nếu là bệnh thuộc ‘thị động’ thì sẽ làm cho cổ họng bị khô, tâm thống, khát muốn uống nước, gọi đây là chứng Tý quyết [46]. Nếu là bệnh ‘sở sinh’ do Tâm làm chủ sẽ làm cho mắt vàng, hông sườn thống, mép sau của phía trong cánh tay và cẳng tay bị đau, quyết. Giữa gan bàn tay bị nhiệt, đau [47]. Tất cả các bệnh trên đây, nếu thịnh thì nên châm tả, nếu hư thì nên châm bổ, nếu nhiệt thì nên châm nhanh, nếu hàn thì nên lưu kim lâu, nếu mạch bị hãm hạ thì nên cứu, không thịnh không hư thì tùy theo kinh mà thủ huyệt để châm[48]. Nếu mạch thịnh thì mạch Thốn khẩu sẽ 2 bội lần lớn hơn mạch Nhân nghênh, nếu mạch hư thì ngược lại mạch Thốn khẩu nhỏ hơn mạch Nhân nghênh[49]. Tiểu trường, mạch của Thủ thái dương khởi lên ở đầu ngón tay út, dọc theo cạnh ngoài bàn tay, lên trên đến cổ tay, rồi xuất ra ở giữa xương lồi mắt cá (khỏa trung), đi thẳng lên dọc theo mép dưới xương cánh tay, xuất ra ở cạnh trong khuỷu tay, giữa 2 đường gân, lên trên dọc theo mép sau của phía ngoài cánh tay, xuất ra ở khớp vai, đi ngoằn ngoèo ở bả vai, giao nhau ở trên vai, nhập vào Khuyết bồn, lạc với Tâm, đi dọc theo yết xuống dưới hoành cách, đến Vị thuộc vào Tiểu trường[50]. Chi mạch của nó đi từ Khuyết bồn dọc theo cổ, lên trên mặt, đến khoé mắt ngoài, rồi nhập vào trong tai[51]. Chi mạch của nó tách biệt ở mặt lên đến xương mặt, đến mũi, đến khoé mắt trong, đi lệch ra để liên lạc với gò má[52]. Nếu là bệnh thuộc ‘thị động’ thì sẽ gây thành chứng đau cổ, hàm sưng thũng, không quay cổ được, vai đau như nhổ rời, cánh tay đau như gẫy ra[53]. Nếu là bệnh thuộc ‘sở sinh’, vì chủ về dịch nên sẽ làm cho tai bị điếc, mắt vàng, má sưng, cổ, hàm, vai, cánh tay, khuỷu tay, mép sau phía ngoài cẳng tay, tất cả đều đau[54]. Khi gặp các bệnh chứng như trên, nếu thịnh thì nên châm tả, hư thì nên châm bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn nên lưu kim lâu, mạch bị hãm hạ thì nên dựa vào đường kinh để thủ huyệt châm[55]. Nếu mạch thịnh thì mạch Nhân nghênh lớn gấp 2 lần hơn mạch Thốn khẩu. Nếu mạch hư thì mạch Nhân nghênh lại nhỏ hơn mạch Thốn khẩu[56]. Bàng quang, mạch của túc Thái dương khởi lên ở khoé mắt trong, lên trán, giao nhau với (mạch Đốc) ở đỉnh đầu[57]. Chi mạch của nó đi từ đỉnh đầu ra đến bên góc của tai[58]. Đường đi thẳng của nó đi từ đỉnh đầu nhập vào để lạc với não, rồi lại quay ra tách biệt đi xuống gáy, đi dọc theo xương bả vai, vào bên trong kẹp theo cột sống đến vùng thắt lưng, nhập vào dọc theo 2 bên cột sống để lạc với Thận thuộc vào bàng quang[59]. Chi mạch của nó đi từ giữa thắt lưng xuống dưới, kẹp theo cột sống xuyên qua vùng mông để nhập vào giữa kheo chân[60]. Chi mạch của nó đi từ 2 bên phải trái của xương bả vai, tách biệt đi xuống, kẹp theo 2 bên cột sống, đi qua mấu chuyển lớn, dọc theo ngoài mấu chuyền lớn, rồi từ mép sau nó để đi xuống hợp với giữa kheo chân, từ đó, nó đi xuống xuyên qua bên trong bắp chân, rồi xuất ra ở sau mắt cá ngoài, đi dọc theo huyệt Kinh Cốt cho đến cạnh ngoài của ngón chân út[61]. Nếu là bệnh thuộc ‘thị động’ thì sẽ gây thành chứng “Xung đầu thống”, mắt đau như muốn thoát ra ngoài, cổ gáy như bị gẫy rời ra, cột sống bị đau, thắt lưng như gẫy, mấu chuyền lớn không thể co lại được, kheo chân như kết lại, bắp chuối như nứt ra. Ta gọi đây là chứng ‘khỏa quyết’[61]. Đây là chứng ‘sở sinh bệnh’ chủ về cân, trĩ, sốt rét, cuồng điên, giữa đỉnh đầu bị đau nhức, mắt vàng, chảy nước mắt, chảy máu cam, tất cả từ cổ xuống gáy, lưng thắt lưng, xương cùng, kheo chân, chân, đều đau nhức, ngón chân út không còn cảm giác[62]. Bị các bệnh chứng như trên, nếu thịnh thì nên châm tả, hư thì nên châm bổ, nhiệt thì châm nhanh, hàn nên lưu kim lâu, mạch bị hãm hạ thì nên cứu, nếu không thịnh, không hư thì tùy theo đường kinh để thủ huyệt châm[63]. Nếu thịnh thì mạch Nhân nghênh lớn gấp 2 lần hơn mạch Thốn khẩu, nếu hư thì mạch Nhân nghênh, ngược lại, nhỏ hơn mạch Thốn khẩu[64]. Thận, mạch của Túc Thiếu âm, khởi lên ở giữa ngón chân út, đi lệch hướng về giữa lòng bàn chân, xuất ra ở dưới huyệt Nhiên Cốc, đi dọc theo phía sau mắt cá trong, tách biệt ra để nhập vào giữa gót chân, đi lên đến bên trong bắp chuối, xuất ra từ trong mép trong của kheo chân, đi lên đến mép sau của đùi trong, xuyên qua cột sống để thuộc vào Thận và lạc với Bàng quang[65]. Đường đi thẳng của nó đi từ Thận lên trên xuyên qua Can, cách (mô), nhập vào giữa Phế, đi dọc theo cuống họng rồi vào cuống lưỡi[66]. Chi mạch của nó đi từ Phế ra để lạc với Tâm, rót ra ở giữa ngực[67]. Nếu là bệnh thuộc ‘Thị động’ sẽ gây thành chứng đói mà không muốn ăn, mặt đen như dầu đen, lúc ho nhổ nước bọt thấy có máu, suyễn nghe khò khè, ngồi xuống lại muốn đứng lên, mắt lờ mờ như không thấy gì, Tâm như bị treo lên, lúc nào cũng như đang bị đói; Khi nào khí bất túc thì sẽ dễ bị sợ sệt, Tâm như hồi hộp, như sợ có người đang đến để bắt mình, đây là chứng ‘cốt quyết’[68]. Nếu bị bệnh “sở sinh” chủ về Thận thì sẽ làm cho miệng bị nhiệt, lưỡi bị khô, yết bị sưng thủng, bị thương khí, cổ họng bị khô và đau nhức, Tâm phiền, Tâm bị thống, hoàng đản, trường phích, mép sau của vế trong và cột sống bị đau, chứng nuy quyết, thích nằm, dưới chân bị nhiệt và đau[69]. Bị những chứng trên, nếu thịnh thì nên châm tả, nếu hư nên châm bổ, nếu nhiệt thì châm nhanh, nếu hàn nên lưu kim lâu, nếu mạch hãm hạ thì nên cứu, nếu không thịnh không hư thì nên dựa vào đường kinh để thủ huyệt châm[70]. Nếu cứu thì cố gắng ăn thịt tươi, nới dây thắt lưng, xỏa tóc, nên có những bước đi vững chậm với chiếc gậy to[71]. Nếu thịnh thì mạch Thốn khẩu lớn 2 bội hơn mạch Nhân nghênh, nếu hư thì mạch Thốn khẩu ngược lại, nhỏ hơn mạch Nhân nghênh[72]. Tâm chủ, mạch của thủ quyết âm Tâm bào lạc khởi lên ở trong ngực, xuất ra để thuộc vào tâm bào lạc, xuống dưới hoành cách, trải qua để lạc với Tam tiêu [73]. Chi mạch của nó đi dọc theo ngực xuất ra khỏi hông sườn, xuống dưới nách 3 thốn, rồi lên lại đến nách, đi dọc theo bên trong cánh tay, vận hành trong khoảng của kinh Thái âm và Thiếu âm để nhập vào khuỷu tay, xong nó đi xuống dưới cẳng tay, đi giữa 2 đường gân, nhập vào giữa gang tay, đi dọc theo ngón giữa để xuất ra ở đầu ngón[74]. Chi mạch của nó tách biệt giữa gan bàn tay đi dọc theo ngón tay áp út phía ngón út để xuất ra ở đầu ngón[75]. Nếu là bệnh thuộc ‘Thị động’ sẽ làm cho lòng bàn tay bị nhiệt, cẳng tay và khuỷu tay co quắp, nách bị sưng, nếu bệnh nặng sẽ làm cho ngực và hông sườn bị tức đầy, đánh trống ngực, mặt đỏ, mắt vàng, mừng vui cười không thôi[76]. Nếu là bệnh thuộc ‘sở sinh’ chủ về mạch sẽ làm cho Tâm phiền, Tâm thống, giữa gan bàn tay bị nhiệt[77]. Bị các chứng bệnh kể trên, nếu thịnh nên châm tả, nếu hư nên châm bổ, nếu nhiệt nên châm nhanh, nếu hàn nên châm lưu kim lâu, nếu mạch hãm hạ thì nên cứu, nếu không thịnh không hư thì nên dựa vào đường kinh để chọn huyệt châm[78]. Nếu thịnh thì mạch Thốn khẩu lớn 1 bội hơn mạch Nhân nghênh, nếu hư thì mạch Thốn khẩu ngược lại, sẽ nhỏ hơn mạch Nhân nghênh[79]. Tam tiêu, mạch của thủ Thiếu dương khởi lên ở đầu ngón tay út, phía ngón út, lên trên xuất ra ở dọc theo khe của 2 ngón, dọc theo mặt ngoài của cổ tay, xuất ra ngoài cẳng tay theo đường giữa2 xương lên trên để xuyên qua khuỷu tay, dọc theo bờ ngoài cánh tay, lên đến vai để giao xuất ra phía sau kinh túc Thiếu dương, nhập vào Khuyết bồn, tán ra ở Chiên Trung, tán ra để lạc với Tâm bào, xuống dưới hoành cách, đi dọc để thuộc vào Tam tiêu[80]. Chi mạch của nó đi từ Chiên Trung lên trên, xuất ra ở Khuyết bồn, lên đến cổ gáy, buộc vào sau tai, lên thẳng, xuất ra ở góc trên tai, sau đó vòng cong xuống dưới mặt rồi trở lên đến dưới hố mắt[81]. Chi mạch của nó đi từ sau tai, nhập vào trong tai, xuất ra tới trước tai, qua trước huyệt Khách Chủ Nhân, giao với mắt, rồi lại đến với khoé mắt ra ngoài[82]. Nếu là bệnh thuộc ‘thị động’ thì sẽ làm cho tai điếc 1 cách ù ù, cổ họng sưng , thanh quản sưng[83]. Nếu là bệnh thuộc ‘sở sinh’ chủ về khí sẽ làm cho bệnh đổ mồ hôi, khoé mắt ngoài đau, má bị đau, phía sau tai, vai, cánh tay, khuỷu tay, mặt ngoài cánh tay đều đau nhức, ngón tay áp út phía ngón út không cảm giác[84]. Các bệnh trên xảy ra, nếu thịnh nên châm tả, nếu hư nên châm bổ, nếu nhiệt nên châm nhanh, nếu hàn nên châm lưu kim lâu, nếu mạch hãm hạ thì nên cứu, nếu không thịnh không hư nên dựa vào đường kinh để thủ huyệt châm[85]. Nếu thịnh thì mạch Nhân nghênh lớn 1 bội hơn mạch Thốn khẩu, nếu hư, ngược lại, sẽ nhỏ hơn mạch Thốn khẩu[86]. Đởm, mạch của Túc thái dương, khởi lên ở khoé mắt ngoài, lên đến góc trán, xuống theo sau tai, dọc theo cổ, đi xuống trước kinh thủ Thiếu dương, đến vai, lên trên, rồi lại giao ra sau kinh thủ Thiếu dương, nhập vào Khuyết bồn[87]. Chi mạch của nó đi từ sau tai nhập vào trong tai, xuất ra chạy ra trước tai, đến sau khoé mắt ngoài[88]. Chi mạch của nó, tách biệt khoé mắt ngoài đi xuống huyệt Đại Nghênh, hợp nhau với kinh Thủ thiếu dương và chạy đến dưới hố mắt, rồi lại chạy xuống nhập với huyệt Giáp Xa, đi xuống theo cổ hợp với Khuyết bồn, xuống giữa ngực, xuyên qua hoành cách, lạc với Can và thuộc vào Đởm, dọc theo hông sườn, xuất ra ở huyệt Khí nhai, quay quanh lông mu, tiến ngang vào giữa mấu chuyền lớn[89]. Mạch đi thẳng của nó đi từ Khuyết bồn xuống nách, dọc theo ngực, qua xương sườn cụt, xuống dưới để hợp với mấu chuyền lớn, rồi lại xuất ra ở mặt vế ngoài, xuất ra mép ngoài của gối, xuống dưới trước ngoài phụ cốt, đi thẳng xuống đến ở đầu xương tuyệt cốt, xuống dưới nữa để xuất ra phía trước mắt cá ngoài, đi dọc theo trên mu bàn chân nhập vào ngón chân áp út phía ngón út[90]. Chi mạch của nó tách biệt trên mu bàn chân, nhập vào trong khoảng ngón cái, dọc theo xương kỳ cốt của phía trong ngón chân cái, xuất ra đầu ngón, quay xuyên qua móng chân, xuất ra ở chùm lông ‘tam mao’[91]. Nếu là bệnh thuộc ‘thị động’ thì sẽ làm cho miệng đắng, thường hay thở mạnh, Tâm và hông sườn đau, khó xoay trở, nếu bệnh nặng hơn thì mặt như đóng lớp bụi mỏng, thân thể không nhuận trơn, phía ngoài bàn chân lại nóng, đây gọi là chứng Dương quyết[92]. Nếu là bệnh thuộc ‘sở sinh’ chủ về cốt sẽ làm cho đầu nhức, hàm nhức, khoé mắt ngoài nhức, vùng Khuyết bồn bị sưng thủng và đau nhức, dưới nách bị sưng thửng, chứng ung thư mã hiệp anh, mồ hôi ra, sốt rét run, ngực hông sườn, mấu chuyền lớn, phía ngoài đầu gối cho đến cho đến cẳng chân, phía ngoài xương tuyệt cốt, mắt cá ngoài và các đốt xương, tất cả đều bị đau nhức, ngón chân áp út không còn cảm giác[93]. Các chứng bệnh trên xảy ra, nếu thịnh nên châm tả, nếu hư nên châm bổ, nếu nhiệt nên châm nhanh, nếu hàn nên châm lưu kim lâu, nếu mạch hãm hạ thì nên cứu, nếu không thịnh không hư nên theo với đường kinh để chọn huyệt châm[94]. Nếu thịnh thì mạch Nhân nghênh lớn 1 bội hơn mạch Thốn khẩu, ngược lại, nếu hư, mạch Nhân nghênh nhỏ hơn mạch Thốn khẩu [95]. Can, mạch của Túc quyết âm khởi lên ở chòm lông góc ngoài móng ngón chân cái, đi lên dọc theo mép trên của mu bàn chân cách mắt cá trong 1 thốn, lên trên khỏi mắt cá 8 thốn giao chéo xuất ra phía sau kinh Thái âm, lên mép trong kheo chân, dọc theo mặt trong đùi, nhập vào lông mu, vòng quanh bộ sinh dục, lên đến thiếu phúc, đi theo với kinh Vị để thuộc vào Can và lạc với Đởm, lên trên xuyên qua hoành cách, bố tán ở cạnh hông sườn, dọc theo phía sau cổ họng, lên trên nhập vào vùng vòm họng, liên hệ với mục hệ rồi lên trên đến trán, xuất lên nữa, hội với Đốc mạch ở đỉnh đầu[96]. Chi mạch của nó đi từ mục hệ, xuống phía trong má, vòng quanh môi trong[97]. Chi mạch của nó lại đi từ Can, tách biệt xuyên qua hoành cách lên trên chú vào Phế [98]. Nếu là bệnh thuộc ‘thị động’ sẽ làm cho lưng đau không thể cúi ngửa được; ở đàn ông sẽ có chứng đồi sán, ở đàn bà sẽ có chứng thiếu phúc bị sưng thủng; nếu bệnh nặng sẽ làm cho cổ họng bị khô, mặt như đóng lớp bụi và thất sắc[99]. Nếu là bệnh thuộc ‘sở sinh’ thuộc Can, sẽ làm cho ngực bị đầy, ói nghịch, xôn tiết, hồ sán, đái dầm, bí đái[100]. Những chứng này xảy ra, nếu thịnh thì nên châm tả, nếu hư nên châm bổ, nếu nhiệt nên châm nhanh, nếu hàn nên châm lưu kim lâu, nếu mạch hãm hạ thì nên cứu, nếu không thịnh không hư nên tùy theo đường kinh mà thủ huyệt để châm[101]. Nếu thịnh thì mạch Thốn khẩu sẽ lớn hơn bội đối với mạch Nhân nghênh, nếu hư, ngược lại, mạch Thốn khẩu sẽ nhỏ hơn mạch Nhân nghênh[102]. Khí của thủ Thái âm bị tuyệt sẽ làm cho bì mao khô [103]. Kinh Thái âm có nhiệm vụ hành khí để làm ấm cho bì mao, vì thế nên nếu khí không còn vinh thì bì mao bị khô, bì mao bị khô thì tân dịch sẽ tách rời khỏi bì và cốt tiết, khi tân dịch rời đi khỏi bì và cốt tiết thì móng bị khô mao bị rụng, mao bị rụng thì đó là mao chết trước[104]. Ngày Bính bệnh nặng, ngày Đinh chết, đó là hỏa thắng kim vậy[105]. Kinh của thủ Thiếu âm bị tuyệt sẽ làm cho mạch khí không thông, mạch khí không thông thì huyết không lưu hành, huyết không lưu hành thì mao sắc không mướt, cho nên sắc diện sẽ đen như cỏ đen, đó là huyết chết trước[106]. Ngày Nhâm bệnh nặng, ngày Qúy chết, đó là Thủy thắng hỏa vậy[107]. Khí của Túc thái âm bị tuyệt thì mạch không còn vinh cho cơ nhục, môi lưỡi là phần gốc của cơ nhục, nếu mạch không còn vinh thì cơ nhục bị mềm, nếu cơ nhục bị mềm thì lưỡi bị co rút, nhân trung bị đầy, nhân trung bị đầy thì môi bị kéo ngược lên, môi bị kéo ngược lên tức là nhục đã bị chết trước[108]. Ngày Giáp bệnh nặng, ngày Ất chết, đó là Mộc thắng Thổ vậy[109]. Khí của túc Thái âm bị tuyệt thì cốt bị khô, Thiếu âm là mạch của mùa đông, nó vận hành chìm núp bên trong để làm nhu cho cốt tủy, vì thế khi cốt không còn trơn mềm thì nhục không thể tươi, khi cốt và nhục không còn cùng gần gũi nhau sẽ làm cho nhục bị teo, nhục bị mềm teo cho nên răng bị dài ra và tóc không bóng mướt, đó là cốt đã chết trước[110]. Ngày Mậu bệnh nặng, ngày Kỷ chết, đó là Thổ đã thắng Thủy vậy[111]. Khí của Túc quyết âm bị tuyệt thì cân khí bị tuyệt, kinh Quyết âm là mạch của Can, Can là chỗ hợp của cân, Cân có đường tụ ở âm khí (bộ sinh dục) và mạch của nó lạc với cuống lưỡi, cho nên, khi mà mạch không còn tươi tốt thì cân bị cấp, cân bị cấp sẽ dẫn ảnh hưởng đến lưỡi và buồng trứng, cho nên, khi môi bị xanh, lưỡi bị cuốn, buồng trứng bị co lại, đó là cân bị chết trước[112]. Ngày Canh bệnh nặng, ngày Tân chết; đó là Kim thắng mộc vậy[113]. Khí của năm đường kinh âm bị tuyệt thì mục hệ bị chuyển, bị chuyển thì bị vận, Mắt bị chuyển vận đó là chí bị chết trước, Chí bị chết trước thì khoảng 1 ngày rưỡi là chết[114]. Khí của sáu đường kinh Dương bị tuyệt thì sẽ làm cho âm và dương tách biệt nhau, khi tách rời nhau thì tấu lý bị phát tiết, tuyệt hạn chảy ra, Sáng xem thấy bệnh là chiều chết, chiều xem thấy bệnh là sáng chết[115]. Thập nhị kinh mạch đi theo lối chìm núp trong khoảng phận nhục, sâu, cho nên không thể hiện những chỗ nó thường hiện, như kinh Túc thái âm đi qua phần trên của mắt cá ngoài, không có chỗ nào ẩn mình được[116]. Các mạch nổi lên mà chúng ta thấy đều thuộc về lạc mạch[117]. Lục kinh lạc với các đại mạch của kinh thủ Dương minh và Thiếu dương được khởi lên ở trong khoảng của 5 ngón tay, lên trên để hợp vào khuỷu tay[117]. Khi chúng ta uống rượu, vệ khí vận hành ra bì phu trước, sung vào lạc mạch trước, do đó lạc mạch thịnh trước, vệ khí đã được bình, doanh khí mới đầy để cho kinh mạch đại thịnh[118]. Khi mạch bị động một cách thình lình, đó là do tà khí vào ở, rồi lưu lại ở phần bản mạt, nếu nó bất động thì bị nhiệt, không cứng, thì bị hãm xuống như bị rỗng, không giống với nơi khác, do đó mà ta biết được mạch nào đang động[119]. Lôi Công hỏi: “Lấy gì để biết sự khác nhau giữa kinh mạch và lạc mạch”[120]. Hoàng Đế đáp: “Kinh mạch thì thường không thể thấy được, sự hư thực của nó chỉ biết qua mạch Khí khẩu, hững mạch hiện ra đều thuộc lạc mạch”[121]. Lôi Công hỏi: “Kẻ bầy tôi này không biết lấy gì để rõ những lẽ ấy”[122]. Hoàng Đế nói: Các lạc mạch đều không thể đi qua các đại tiết mà phải đi theo con đường tuyệt đạo để mà xuất nhập, rồi lại hợp nhau ở trong bì (da); Sự hội nhau của nó đều hiện rõ ra bên ngoài; Cho nên các cách châm lạc mạch, phải châm vào nơi kết thượng[123]. Khi thấy nơi nào có tụ huyết nhiều, tuy rằng chưa có chỗ kết, cũng nên châm ngay nhằm tả hết tả khí, tức là châm xuất huyết[124]. Nếu lưu lại, nó sẽ phát sinh thành bệnh tý[125]. Phàm phương pháp xem lạc mạch, nếu thấy mạch sắc màu xanh, thì đó là do hàn tà gây hàn và đau, nếu mạch sắc màu đỏ thì đó là nhiệt tà gây nhiệt[126]. Nếu trong Vị có hàn tà thì nơi ngư của bàn tay, lạc của nó màu xanh nhiều, nếu trong Vị có nhiệt tà thì lạc mạch nơi huyệt Ngư tế sẽđỏ[127]. Nếu lạc mạch nơi đó có màu đen kịt mà để lâu thì sẽ thành chứng tý[127]. Nếu nơi đó lạc mạch vừađỏ, vừa đen, vừa xanh, thì đó là khí vừa hàn vừa nhiệt[128]. Nếu nơi đó lạc mạch xanh mà đoản, đó là do thiếu khí[129]. Phàm phép châm trường hợp hàn và nhiệt đều rất nhiều huyết lạc, như vậy nên cách ngày châm 1 lần, bao giờ huyết hết mới thôi, đó là ta đã điều được sự hư thực[130]. Khi nào gặp lạc mạch nhỏ (thanh) mà ngắn, đó là do thiếu khí[131]. Trường hợp thiếu khí quá nặng mà ta châm tả sẽ làm cho người bệnh bị bứt rứt, bứt rứt nhiều quá sẽ té xuống và sẽ không nói được nữa, ta nên mau mau đỡ người bệnh lên ngay[132]. Biệt của thủ Thái âm tên gọi Liệt Khuyết, khởi lên ở phía trên cổ tay trong khoảng phận nhục, cùng đi ngay ở kinh Thái âm, nhập thẳng vào giữa gan tay, tán ra để nhập vào vùng huyệt Ngư Tế [133]. Bệnh thực sẽ làm cho đầu nhọn, cổ tay và gan tay bị nhiệt, bệnh hư sẽ ngáp và vặn mình, đái đón và đái nhiều lần[134]. Nên thủ huyệt ở nơi cách cổ tay nửa thốn, nơi đây tách biệt ra để đi theo kinh Dương minh[135]. Biệt của thủ Thiếu âm tên gọi là Thông Lý, khởi lên ở chỗ cách cổ tay 1 thốn rưỡi, tách biệt ra để đi lên, dọc theo kinh chính đi lên nhập vào giữa Tâm, buộc vào cuống lưỡi, thuộc vào mục hệ [136]. Bệnh thực sẽ làm cho màn hoành cách như bị chỏi vào, bệnh hư sẽ làm cho không nói chuyện được[137]. Nên thủ huyệt ở nơi sau gan tay 1 thốn và là nơi nó tách biệt ra để đi theo kinh Thái dương[138]. Biệt của thủ Tâm chủ tên gọi là Nội Quan, nằm ở chỗ cách cổ tay 2 thốn, xuất ra ở khoảng giữa 2 đường gân, dọc theo kinh chính để đi lên, buộc vào Tâm bào lạc, vào Tâm hệ[139]. Bệnh thực sẽ làm cho Tâm thống, bệnh hư sẽ làm cho đầu (gáy) bị cứng[140]. Nên thủ huyệt ở giữa 2 đường gân[141]. Biệt của thủ Thái dương tên gọi là Chi Chính, lên khỏi cổ tay 5 thốn, bên trong chú vào Thiếu âm[142]. Chi biệt của nó lên trên đi vào khuỷu tay, lạc với huyệt Kiên Ngung[143]. Bệnh thực sẽ làm cho các khớp xương buông lỏng, khuỷu tay không cử động được, bệnh hư sẽ làm cho mọc nhiều mụn cơm nhỏ ở khe tay[144]. Nên thủ huyệt lạc để châm[145]. Biệt của thủ Dương minh tên gọi là Thiên Lịch, lên khỏi cổ tay 3 thốn, tách biệt nhập vào kinh Thái âm[146]. Chi biệt của nó lên trên đi dọc theo cánh tay, cưỡi lên huyệt Kiên Ngung, lên trên góc hàm và chân răng[147]. Chi biệt của nó nhập vào tai hợp với tông mạch[148]. Bệnh thực sẽ làm cho răng sâu và tai điếc, bệnh hư làm cho răng lạnh, hoành cách bị tý [149]. Nên thủ huyệt lạc để châm[150]. Biệt của thủ Thiếu dương tên gọi là Ngoại Quan, nằm ở khỏi cổ tay 2 thốn, vòng ra ngoài cánh tay, rót vào giữa ngực ở hợp với Tâm chủ[151]. Bệnh thực sẽ làm cho khuỷu tay bị co quắp, bệnh hư sẽ làm cho cổ tay không co lại được[152]. Nên thủ huyệt lạc để châm[153]. Biệt của túc Thái dương tên gọi là Phi Dương, nằm ở cách trên mắt cá 7 thốn, tách biệt ra để đi đến kinh Thiếu âm[154]. Bệnh thực sẽ làm cho nghẹt mũi, đầu và lưng đau nhức, bệnh hư sẽ làm cho chảy máu cam[155]. Nên thủ huyệt lạc để châm[156]. Biệt của kinh túc Thiếu Dương tên gọi là Quang Minh, nằm ở trên mắt cá 5 thốn, tách biệt đi về với Quyết âm, xuống dưới lạc với mu bàn chân[157]. Bệnh thực thì quyết, bệnh hư thì bị chứngliệt, qùe, ngồi xuống không đứng lên được[158]. Nên thủ huyệt lạc để châm[159]. Biệt của túc Dương minh tên gọi là Phong Long, nằm ở cách trên mắt cá 8 thốn, tách biệt ra để đi với kinh Thái âm[160]. Chi biệt của nó đi dọc theo mép ngoài xươngchầy, lên trên lạc với đầu và cổ gáy, hợp với khí của các kinh, xuống dưới để lạc với cổ họng[161]. Nếu bệnh mà khí nghịch lên thì sẽ làm cho cổ họng bị tý, câm tiếng nói đột ngột[162]. Bệnh thực sẽ làm cho điên cuồng, bệnh hư thì chân sẽ không co lại được, xương chầybị khô[163]. Nên thủ huyệt lạc để châm[164]. Biệt của túc Thái âm tên gọi là Công Tôn, nằm ở cách sau xương bản tiết 1 thốn, tách biệt đi với Dương minh[165]. Chi biệt của nó nhập vào để lạc với trường và Vị[166]. Khi quyết khí thượng nghịch sẽ làm thành chứng thổ tả[167]. Bệnh thực thì trong ruột bị đau nhức, bệnh hư bị cổ trướng[168]. Nên thủ huyệt lạc để châm[169]. Biệt của túc Quyết âm tên gọi là Lãi Câu, nằm ở trên mắt cá chân trong 5 thốn[170]. Chi biệt của nó đi qua xương chầylên trên đến hòn dái rồi kết lại ở dương vật[171]. Nếu bị bệnh khí nghịch sẽ làm cho trứng dái bị sưng thủng, bị chứng sán đột ngột[172]. Bệnh thực thì dương vật cương và dài ra, bệnh hư sẽ bị ngứa dữ dội (ở bên ngoài bộ sinh dục)[173]. Nên thủ huyệt lạc để châm[174]. Biệt của Nhậm mạch tên gọi là Vĩ Ế , xuống dưới tán ra ở bụng[175]. Bệnh thực thì da bụng bị đau, bệnh hư thì da bụng bị ngứa[176]. Nên thủ huyệt lạc để châm[177]. Biệt của Đốc mạch tên gọi là Trường Cường, áp theo thịt lữ lên trên đến cổ, tán ra ở trên đầu, xuống dưới ngay ở 2 bên tả hữu xương bả vai, tách biệt ra đi theo kinh Thái dương nhập vào xuyên qua thịt lữ [178]. Bệnh thực thì làm cho cột sống cứng, bệnh hư sẽ làm chứng đầu nặng, đầu choáng váng[179]. Nếu dọc theo cột sống có tà khí ở khách, nên thủ huyệt lạc để châm[180]. Đại lạc của Tỳ tên gọi là Đại Bao, xuất ra ở dưới huyệt Uyên Dịch 3 thốn, phân bố dưới ngực và sườn[181]. Bệnh thực thì sẽ làm cho toàn thân bị đau nhức, bệnh hư sẽ làm cho trăm khớp xương trong toàn thân đều bị buông lỏng[182]. Nếu mạch có những huyệt lạc giăng khắp nơi, nên thủ huyệt lạc Đại Bao để châm[183]. Phàm 15 lạc trên, nếu thực thì sẽ hiện rõ ra, nếu hư thì mạch bị hãm hạ, nhìn không thấy được, nên tìm các huyệt trên dưới để (xác định)[184]. Kinh mạch của con người không đồng nhau vì thế lạc mạch cũng có chỗ khác nhau[185]. 经脉第十 雷公问于黄帝曰:禁脉之言,凡刺之理,经脉为始,营其所行,制其度量,内次五藏,外别六府,愿尽闻其道。黄帝曰:人始生,先成精,精成而脑髓生,骨为干, 脉为营,筋为纲①,肉为墙,皮肤坚而毛发长,谷人于胃,脉道以通,血气乃行。雷公日:愿卒闻经脉之始生。黄帝日:经脉者,所以能决死生,处百病,调虚实, 不可不通。肺手太阳之脉,起于中焦,下络大肠,还循胃口,上隔属肺,从肺系横出腋下,下循德内,行少阴心主之前,下肘中,循臂内上骨下廉,八寸口,上鱼, 循鱼际,出大措之端;其支者,从腕后直出次指内廉,出其端。是动则病肺胀满,膨膨而端咳,缺盆中痛,甚则交两手而苦,此为臂厥。是主肺所生病者,咳,上气 喘渴,烦心胸满,德臂①纲:原作"刚",音同而误,据文义改。131内前廉痛厥,掌中热。气盛有余,则肩背痛,风寒,汗出中风,小便数而欠。气虚则肩背痛 寒,少气不足以息,溺色变。为此猪病,盛则泻之,虚则补之,热则疾之,寒则留之,陷下则负之,不盛不虚,以经取之。盛者寸口大三倍于人迎,虚者则寸口反小 于人迎世。大肠手阳明之脉,起于大指次指之端,循指上廉,出台谷两骨之间,上入两筋之中,循臂上廉,入肘外廉,上腺外前廉,上肩,出筋骨之前廉,上出于柱 骨之会上,下人缺盆,络肺,下隔,属大肠;其支者,从缺盆上颈,贯颗,入下齿中,还出挟口,交人中,左之右,右之左,上挨鼻孔。是动则病齿痛颈肿。是主津 液所生病者,目黄口干,既见喉痹,肩前德痛,大指次指痛不用。气有余则当脉所过者热肿,虚则寒票不复。为此诸病,盛则泻之,虚则补之,热则疾之,寒则留 之,陷下则灸之,不盛不虚,以经取之。盛者人迎大王倍于寸口,虚者人迎反小于寸口也。胃足阳明之脉,起于鼻之交额中,旁纳(一本作纳率)太阳之脉,下循鼻 外,人上齿中,还出狭n环唇,下交承浆,却循颐后下廉,出大迎,循颊车,上耳前,过客主人,循发际,至额颅;其支者,从大迎前下人迎,循喉咙,入缺盆,下 隔,属胃,络脾;其直者,从缺盆下乳内廉,下挟脐,入气街中;其支者,起于胃口,下循腹里,下至气街中而合,以下牌关,抵伏兔,下膝腹中,下循脏外廉,下 足附,入中指内间;其支者,下廉三寸而别,下入中指外间;其支者,别跳上,人大指间,出其端。是动则病洒洒振寒,善呻数欠,颜黑,病至则恶人与火,闻木声 则惕然而惊,心欲动,独闭户塞漏而处,甚则欲上高而歌,弃衣而走,贲响腹胀,是为骷厥。是主血所生病者,狂疟温淫汗出,就脱口烟唇版颈肿喉痹,大腹水肿, 膝腹肿痛,循膺、乳、气街、股、伏兔、讲外廉、尼附上皆痛,中指不用。气盛则身以前皆热,其有余于冒,则消谷善饥,溺色黄。气不足则身以前皆寒栗,胃中寒 则胀满。为此诸病,盛则泻之,虚则补之,热则疾之,寒则留之,随下则灸之,不盛不虚,以经取之。盛者人迎大三倍于寸口,虚者人迎反小于寸口也。脾足太阴之 脉,起于大措之端,循指内侧白肉际,过核骨后,上内踝前廉,上端①内,循胜骨后,交出厥阴之前,上膝股内前廉,入腹属脾络胃,上隔,挟咽,连舌本,散舌 下;其支者,复从胃,别上隔,注心中。是动则病舌本强,食则呕,胃院痛,腹胀善隐,得后与气,则快然如衰,身体皆重。是主脾所生病者,舌本痛,体不能动 摇,食不下,烦心,心下急痛,搪、瘤、泄、水闭、黄疽,不能卧,强立之股膝内肿厥,足大指不用。为此诸病,盛则泻之,虚则补之,热则疾之,寒则留之,陷下 则灸之,不盛不虚之,以经取之。盛者寸口大三倍于人迎,虚者寸日反小于人迎世②。①阳肝hu山);原作"端"卜huall旧又读出h),与文义不合,因形 近而误。故据呷己经》、(脉经》、村勃、忏金》改,不同。②也:原脱,据《甲乙经》补。互32心手少明之脉,起于心中,出属心系,下隔络小肠;其支者,从 心系上换咽,系目系;其直者,夏从心系却上肺,下出腋下,下循膨内后廉,行太阴心主之后,下肘内,循臂内后廉,抵掌后锐骨之端,人掌内后廉;循小指之内, 出其端。是动则病隘干心痛,渴而欲饮,是为臂厥。是主心所生病者,目黄胁痛,儒臂内后廉痛厥,掌中热痛。为此请病,盛则泻之,虚则补之,热则疾之,寒则留 之,陷下则灸之,不盛不虚,以经取之。盛者寸口大再倍于人迎,虚者寸口反小于人迎也。小肠手太阳之脉,起于小指之端,循手外侧上腕,出踝中,直上循臂骨下 廉,出时内侧两筋之间,上循膨外后廉,出肩解,绕肩肿,交肩上,人缺盆,络心,循咽下隔,抵胄属小肠;其支者,从缺盆循颈上颊,至目锐助,却人耳中;其支 者,别颊上额抵鼻,至目内毗,斜络于颧。是动则病嗑痛颔肿,不可以顾,肩似拔,儒似折。是主液所生病者,耳聋目黄须肿,颈颔肩儒肘臂外后廉痛。为此诸病, 盛则泻之,虚则补之,热则疾之,寒则留之,陷于则灸之,不盛不虚,以经取之。盛者人迎大再倍于寸口,虚者人迎反小于寸口也膀优足太阳之脉,起于目内毗,上 额交巅;其支者,从巅至耳上角①;其直者,从巅人络脑,还出别下项,循肩骼内,挟脊抵腰中,入循青,终紧属膀味;其支者,从腰中下扶脊,贯臀;人胭中;其 支者,从骼内左右,别下贯肿,挟脊内,过群枢,循牌外从后廉下合胭中,以下贯端内,出外踝之后,循京骨,至小指外侧。是动则病冲头痛,目似脱,项如拔,脊 痛,腰似折,鸡不可以曲,胭如结,湖如裂,是为踝厥。是主筋所生病者,痔疟,狂癫疾,头国项痛,目黄泪出,领风项背腰反胭瑞脚皆痛,小指不用。为此诸病, 盛则泻之,虚则补之,热则疾之,寒则留之,陷下则灸之,不盛不虚,以经取之。盛者人迎大再倍于寸口,虚者人迎反小于寸口也。肾足少明之脉,起于小指之下, 邪走足心,出于然谷之下,循内踝之后,别人跟中,以上取内,出胭内廉,上股内后廉,贯脊,属肾,络膀优;其直者,从肾上贯肛肠,人肺中,循喉咙,挟舌本; 其支者,从肺出络心,注胸中。是动则病饥不欲食,面如漆柴,咳唾则有血,喝喝而喘,坐而歌起,目阮际如无所见,心如是若饥状,气不足则善恐,心竭惕如人将 捕之,是为骨厥。是主紧所生病者,口热舌干,咽肿止气,隘干及痛,烦心0痛,黄疽,肠然脊股内后廉痛,凄厥嗜卧,足下热而痛。为此请病,盛则泻之,虚则补 之,热则疾之,寒则留之,陷下则灸之,不盛不虚,以经取之。负则强食生肉,级带技发,大杖重履而步。盛者寸口大再倍于人迎,虚者寸日反小于人迎也。心主手 厥阴心包络之脉,起于胸中,出属心包络,不隔,历络三焦;其立者,循胸出胁,下肢三寸,上抵腋,下循德内,行太阳少阻之间,人肘中,下臂,行两筋之间,人 掌中,循中指出其端;其支者,别掌中,循小指次指出其端。是动则病手心热,臂肘挛急,腋肿,甚则胸胁支满,心中伯增大动,面赤目黄,喜笑不休。是主脉所生 病者,①角;原作"循",据呷乙经》、机经》、村素•首篇》、惊问•脉解》等篇王冰注改。133烦心心痛,掌中热。为此清清,盛则泻之,虚则补之,热则疾 之,寒则留之,陌下则负之,不盛不虚,以经取之。盛者寸口大一倍于人迎,虚者寸日反小于人迎也。三焦手少阳之脉,起于小指次指之端,上出两指之间,循手表 脱,出臂外两骨之间,上贯肘,循儒外上肩,而交出足少阳之后,入缺盆,布膻中,散落心包,下隔,循届三焦供支者,从膻中上出缺盆,上项,系耳后直上,出耳 上角,以屈下颊至顺;其支者,从耳后入耳中,出走耳前,过客主人前,交颊,至目锐毗。是动则病耳聋浑浑谆谆,隘肿喉痹。是主气所生病者,汗出,目锐毗痛, 额痛,耳后肩德肘臂外皆痛,小指次指不用。为此诸病,盛则泻之,虚则补之,热则疾之,寒则留之,陷下则灸之,不盛不虚,以经取之。盛者人迎大一倍于寸口, 虚者人迎反小于寸口也。胆足少阳之脉,起于目锐毗,上抵头角,下耳后循颈行手少阳之前,至肩上,却突出手少阳之后,入缺盆;其支者,从耳后入耳中,出走耳 前,至目锐毗后;其支者,别锐毗,下大迎,合于手少阳,抵于顺,下加顿车,下颈合缺盆以下胸中,贯隔络肝属胆,循胁里,出气街,绕毛际,横人脚厌中;其直 者,从缺盆下眼,循胸过季胁,下合牌厌中,以下循鸡阳,出膝外廉,下外辅骨之前,直下抵绝骨之端,下出外踝之前,循足附上,入小指次指之间;其支者,别跑 上,人大指之间,循大指岐骨内出其端,还贯爪甲,出三毛。是动则病口苦,善太息,心胁痛不能转侧,甚则面微有尘,体无膏泽,足外反热,是为阳厥。是主骨所 生病者,头痛,颜痛,目锐毗痛,缺盆中肿痛,腋下肿,马刀侠应,汗出振寒,疟,胸胁肋牌膝外至胜绝骨外踝前及诸节皆痛,小指次指不用。为此诸病,盛则泻 之,虚则补之,热则疾之,寒则留之,陷下则灸之,不盛不虚,以经取之。盛者人迎大一倍于寸口,虚者人迎反小于寸口也肝足厥明之脉,起于大指丛毛之际,上循 足附上廉;去内踝一寸,上踝八寸,交出太明之后,上胭内廉,循段明,入毛中,过阴器,抵小腹,挟胃属肝络胆,上贯隔,布胁助,循喉咙之后,上人顽氛连目 系,上出额,与督脉会于巅;其支者,从目系下颊里,环唇内;其支者,复从肝别贯隔,上注肺。是动则病腰痛不可以俯仰,丈夫痕迹,妇人少腹肿,甚则嗑干,面 尘脱色。是主①肝生病者,胸满呕逆飧泄,狐迹遗溺闭瘤。为此诸病,盛则泻之,虚则补之,热则疾之,寒则留之,陷于则灸之,不盛不虚,以经取之。盛者寸口大 一倍于人迎,虚者寸日反小于人迎世。手太阳气绝则皮毛焦,太阴者行气温于皮毛者也,故气不荣则皮毛焦,皮毛焦则津液去皮节;津液去皮书者,则爪枯毛折,毛 折者则毛先死,丙笃丁死,火股金也。手少阴气绝则脉不通,脉不通则血不流;血不流则髦色不泽,故其面黑如漆柴者,血先死,壬笃癸死,水胜火也。足太阴气绝 者,则脉不荣肌肉,唇舌者肌肉之本也,脉不荣则肌肉软;肌肉软则舌萎人中满;人中满则唇反,唇反者肉先死,甲笃已死,木胜土也①主:原脱,据《脉经》、 《太素入《千金》补。134足少阴气绝则骨枯,少阴者冬脉也,伏行而儒骨髓者也,故骨不德则肉不能著也,骨肉不相亲则肉款都肉软却放齿长而垢,发无泽;发 无泽者骨先死,戊笃已死,上胜水也。足厥阴气绝则筋绝,厥明者肝脉也,肝者筋之合也,筋者聚于阴气,而脉络于舌本也,故脉弗荣则筋急;筋急则引舌与卵,故 唇膏舌卷卵缩则筋先死,庚笃辛死,金胜木也。五阴气俱绝,则目系转,转则目运,目运者为志先死,志先死则远一日半死矣。六阳气绝,则阴与阳相离,离则膜理 发泄,绝汗乃出,故旦占夕死,夕占旦死。经脉十二者,伏行分肉之间,深而不见;其常见者,足太阴过于外踝之上,无所隐故也。诸脉之浮而常见者,皆络脉也。 六经络丰阳明少阳之大络,起于五措间,上合肘中。饮酒者,卫气先行皮肤,先充络脉,络脉先盛,放卫气已平,营气乃满,而经脉大盛。脉之卒然动者,皆邪气居 之,留于本末;不动则热,不坚则陷且空,不与众同,是以知其何脉之前也。雷公日:何以知经脉之与络脉异也?黄带回:经脉者常不可见也,其虚实也以气口知 之,脉之见者皆络脉也。雷公日:细于无以明其然也。黄帝日:诸络脉皆不能经大节之间,必行绝道而出,人复合于皮中,其会皆见于外。政清刺络脉者,必刺其结 上,甚血者虽无结,急取之以泻其邪而出其血,留之发为痹也。凡诊络脉,脉色青则寒且痛,赤则有热。胃中寒,手鱼之络多青矣;胃中有热,鱼际络赤;其暴黑 老,留久痹也;其有赤有黑有青者,寒热气也;其青短者,少气也。凡刺寒热者皆多血络,必间日而一取之,血尽而止,及调其虚实,其小而短者少气,甚者泻之则 闷,闷甚则仆,不得言,闷则急坐之也。手太阳之别,名曰列缺,起于腕上分问,并太阴之经直入掌中,散入于鱼际。其病实则手锐掌热,虚则欠税小便遗数,取之 去脱半寸,别走阳明也。手少阴之别,名日通里,去脱一寸半,别而上行,循经入于心中,系舌本,属自系。其实则支隔,虚则不能言,取之掌后一寸,别走太阳 也。手心主之别,名日内关,去腕二寸,出于两筋之间,循经以上系于心,包络心系。实则心痛,虚则为头强,取之两筋间也。手太阳之别,名曰支正,上腕五寸, 内注少阻;其别者,上走肘,络肩滚。实则节弛肘废;虚则生肌,小者如指痴疥,取之所别也。手阳明之别,名曰偏历,去腕三寸,别入太阴;其别者,上循臂,乘 肩服上曲须偏齿;其别者,人耳,合于宗脉。实则龋聋,虚则齿寒痹隔,取之所别也。手少阳之别,名曰外关,去腕二寸,外绕臂,注胸中,合心主。病实则肘挛, 虚则不收,取之所别也。足太阳之别,名日飞阳,去踝七寸,别走少阴。实则就窒头背痛,虚则就虬取之所别也。135足少阳之别,名日光明,去踝五寸,别走厥 阴,下络足附。实则厥,虚则滚墨,坐不能起,取之所别也。足阳明之别,名曰丰隆,去踝八寸,别走大阴;其别着,循胜骨外廉,上络头项,合猪经之气,下络喉 隘。其病气逆则喉痹瘁暗,实则狂巅,虚则足不收,腔枯,取之所别也。足太阴之别,名日公孙,去本节之后一寸,别走阳明;其别者,人络肠胃。厥气上逆则霍 乱,实则肠中切痛,虚则鼓胀,取之所别也。足少阻之别,名目大钟,当踝后绕跟,别走太阳;其刑者,并经上走于心包,下外贯腰脊。其病气逆则烦闷,实则闭 瘤,虚则腰痛,取之所别者也。足厥阴之别,名日合沟,去内踝五寸,别走少阳;其别考,径胜上睾,结于茎。其病气逆则星肿卒抑,实则挺长,虚则暴痒,取之所 别也。任脉之别,名曰尾留,下鸠尾,散于腹。实则腹皮痛,虚则痒搔,取之所别也。督脉之别,名曰长强,挟管上项,散头上,下当肩肿左右,别走太阳,入贯 管。实则脊强,虚则头重,高摇之,挟脊之有过者,取之所别电。牌之大络,名日大包,出渊腋下三寸,布胸胁,实则身尽痛,虚则百节尽皆纵,此脉若罗络之血 者,皆取之脾之大络脉也。凡此十五络者,实则必见,虚则必下,视之不见,求之上下,人经不同,络脉异所别也。