-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
Cái truyền hình nhà em nó là hàng của Liên Xô, bền không thể tưởng, bây giò còn là không đụng hàng! Em tha hồ xem phim lúc 18g, nó có nhảy hình cà tưng hay "bi muỗi" thì vổ vài cái hay chỉnh ăng ten thì rỏ lại như xưa. Em nhớ bộ phim "Ngôi nhà trên thảo nguyên" Hắn bây giờ lớn thuộng và chắc có bồ rồi. Nhưng hồi đó thì hắn đóng trong phim "Đất phương Nam" trông ngáo ngáo thế nào ý! "Cô gái đại dương" này em thích lắm nha! Nữ ca sĩ- diễn viên lừng danh Mexico Verónica Castro khi trẻ, vai chính bộ phim "Người giàu cũng khóc". Em coi mà...cũng khóc.
-
Hàng này hiện nay là hàng cổ, hiếm. Ngày xưa bấm mãi quên ăn cơm. Cái này ngon hơn Hic, gà của em chết rồi, vì quên cho nó ăn. huhu, game nuôi gà! Cái này không có điện tử gì, chỉ là hơi và nước nước, nhưng cũng khó chơi lắm nha! Chơi thì phải có ăn, em thích ăn cái này nè: Bao bì không bắt mắt nhưng...ngon! Bi giờ tim không có đâu, hàng hiếm đấy! Kem chuối là món tuyệt cú mèo, nhưng giờ không làm bẹp như thế này. Nhưng em thích bẹp như thế này cơ. Cái này ăn không với bột nêm, nhai rôm rốp cho vui miệng. Bây giờ chắc không cạnh tranh nỗi với vô số mì ơi là mì! Món này em nào cũng hí hửng đây. Giờ cũng có khi đi quán...nhậu, đôi khi người bán trình diễn nhảy Mai Cồ xong rồi mới mời mua. Do ăn vặt như thế nên chúng em phải có cách ngừa...giun
-
Dường như ai cũng thuộc cái này. Viết HERO, món hàng VIP, oách không thể tưởng khi đeo vào túi áo, nhưng cẩn thận... kẻo bị chôm! Cái này khỏi chuốt, nhưng viết mạnh tay thì nó thụt vào. Cục gom này xài từ lớp 1 đến lớp 12 vẫn còn tốt, vào đại học...vẫn gom tốt chán lun! Nhưng gom, tẩy không được...tình yêu! Bóp nổ lốp bốp...thay cho pháo! Tròn tròn, mềm mềm...nhờ vậy mà tay cũng mềm có kinh nghiệm... Kỷ vật của em còn sót lại nè!
-
Vé tàu đi về tuổi thơ Ngày ấy "xưa" rồi chỉ...mươi năm Lưu giấu bao nhiêu kỷ niệm thương Những lúc mơ về "thời xưa lắm" Buồn vui chan chứa lệ vấn vương Thiên Đồng ngẫu bút Hồi đó là 200đ/ "băng đạn" súng thì có 5 hay 7 nghìn thôi,có cả loại có ống giảm thanh Bây giờ thì...tuyệt tích rồi!!! Hồi nhà mình tân gia nhà,vẫn dc nổ hẳn 1 bánh bình đà năm 2-3 tuổi thì vẫn có bán pháo tép Truyện tranh ưa thích Là "Bé ngoan" nên giữ rất kỹ cái này.
-
@ vyn Chào anh Thiên Đồng, mong anh luận giải giúp em. Nữ, tuổi Ất Sửu 1985 Hỏi lúc 23g20 ngày 18/8/2012. 1. Hãng của chồng em đang làm cuối tháng 8 này sẽ đóng cửa, và anh ấy muốn chuyển sang 1 chi nhánh khác và sẽ làm đến 31/12/2012 vì chi nhánh này cũng sẽ đóng cửa vào cuối năm. Em muốn hỏi là anh ấy có xin chuyển được ko? Có thể không. 2. Sau đó anh ấy muốn dọn đến tiểu bang khác sống và xin việc làm ở tiểu bang này. Cho em hỏi là có dọn qua tiểu bang khác được ko và khi nào sẽ có được việc làm ổn định? Việc làm này là ở tiểu bang mới hay vẫn ở tiểu bang đang sống. Tháng 8, 9 âm có việc, làm ở gần, chuyển qua tiểu bang khác có khó khăn lúc đầu về thủ tục, nhưng cũng sẽ được. 3. Anh ấy nói dạo gần đây thường hay nghe tiếng động, tiếng người nói chuyện, mặc dù anh ấy sống một mình, và ở khu vực rất yên tĩnh, và tinh thần của anh ấy cũng thất thường vì lo lắng về công việc. Cho em hỏi là có gì bất thường với anh ấy ko, và khi nào mọi thứ mới ổn định với anh ấy? Chồng em tuổi Bính Thìn 1976 Chồng đang trong năm tam tai, có khó khăn, Xuân năm sau ổn định, nhưng tránh cự cải để mang tiếng bực mình. Em cám ơn anh Thiên Đồng rất nhiều. Anh Thiên Đồng cho em hỏi thêm 1 câu nữa nha. Câu này em hỏi lúc 23g48 ngày 18/8/2012. 4. Khi nào vợ chồng em mới gặp lại? Khi nào tụi em mới có thể đoàn tụ ko phải sống mỗi người 1 nơi nữa? (Chồng em ở Mỹ, em ở VN, xa nhau từ tháng 1/2011 đến nay, giấy tờ bảo lãnh em chưa xong) Tính từ lức hỏi, 1 năm sau găp nhau. Em cám ơn anh. @haphoi Chào anh Thiên Đồng!! Nick của em là Hấp Hơi chứ không phải ý nghĩa kia đâu ạ,hic.hic... Anh Thiên Đồng ơi, em sinh 19/7/1981 dương lịch, chồng em sinh 31/3/1982 dương lịch các anh bên luận tuổi tư vấn là em nên sinh con út 2013 anh ạ 2013, 2016 đều tốt cả. @nangmoi Em chào anh Thiên Đồng! Cảm ơn anh vừa qua đã xem giúp em nhiều câu hỏi. Lần này anh lại giúp em nhé. Nữ giáp tý 1984 Hỏi vào lúc: 8h13 sáng ngày 20/08/2012 Câu hỏi 1: Anh xem giúp em trai em đến tháng mấy năm nay thì xin được việc ạ? NHanh thì tháng 8 âm, chậm thì tháng 11 âm Câu hỏi 2: Công việc em trai em xin được có tốt và ổn định không. Hợp khả năng và ổn định Câu hỏi 3: Chuyện tình cảm của em trai em đến khi nào thì suôn sẻ và có tốt đẹp không ạ? Tình sâu thì nợ dài, duyên chắc đến. Cảm ơn anh nhiều! @lienanh28 Chào anh Thiên Đồng, Em giúp em xem về đường công việc với ạ. Em sinh ngày 28/2/1981. Hiện tại em đang thất nghiệp, đi xin việc mãi chưa được, anh xem giúp em khi nào em sẽ có công việc trở lại, và công việc có thuận lợi may mắn không? Hỏi vào lúc 10.30 sáng ngày 20/8/2012 và kết thúc vào lúc 10h34 phút Nhanh tháng 8 âm, chậm tháng 10 âm có việc làm, thuận lợi, có người to béo giúp đỡ. Cảm ơn anh nhiều. @boorinkk50 Cháu chào chú Thiên Đồng. Chú xem giúp cháu 1 quẻ với ạ Nữ Bính Dần 1986 Hỏi lúc 11h02 sáng ngày 20/08/2012 1. Cháu đã định ngày cưới vào ngày 16/08 âm lịch năm 2012, vậy sau khi cưới xong cháu sinh em bé luôn được không ạ? Nếu cưới xong mà xin năm quý tị thì có khó khăn, chịu khó vài năm sinh 2016 đứa út thì ổn. Hoặc sinh 2014, cũng chịu khó một đoạn rồi sinh 2016. 2. Cháu sẽ sinh con trai hay con gái đầu lòng ạ? Giống mẹ. 3. Sau khi cưới thì giữa cháu và gia đình nhà chồng liệu có hòa thuận không ạ? Sẽ vui vẻ cả nhà. Cháu cảm ơn @CB6 Chúc mừng CB6.Nhập trạch ngày 8 tháng 8 âm trong khoản 11g00 đến 13g00. Hay ngày 17/8 âm, 15g00 - 17g00. Chúc hạnh phúc Thiên Đồng
-
Tác giả sách giải thích: Hai Bà Trưng đánh giặc nào? Sau khi bài viết 'Hai Bà Trưng đánh giặc nào' được đăng tải, GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, Chủ biên Sách Giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 đã gửi tới VietNamNet bài viết: "Về bài tập đọc "Hai Bà Trưng": Đừng suy diễn, nặng lời". Dưới đây là nội dung bài viết. VietNamNet ngày 4/9/2012 có đăng bài của một bạn đọc ký tên Trần Cao Duyên chỉ trích nặng nề SGK “Tiếng Việt 3, tập hai” trong bài tập đọc Hai Bà Trưng “không hề dám nửa lời chỉ đích danh bọn xâm lược là giặc Hán (Trung Quốc)”. Vậy, sự thật như thế nào? Chỉ cần giở thêm vài trang quyển “Tiếng Việt 3, tập hai” đã có thể thấy nhận xét của bạn Trần Cao Duyên có thật khách quan không và có đúng là tác giả SGK không dám gọi tên các loại giặc từ nước láng giềng phương Bắc ra không (thời phong kiến nước này chưa có tên gọi là Trung Quốc). Sau bài “Hai Bà Trưng” đúng 6 trang, bài chính tả "Trần Bình Trọng" ở trang 11 mở đầu: "Năm 1285, giặc Nguyên sang cướp nước ta". Đến trang 17, bài tập "Lê Lai cứu chúa" lại viết: "Giặc Minh xâm chiếm nước ta". Cũng ở trang 17 còn có một bài tập yêu cầu học sinh nói về một vị anh hùng có công lao to lớn trong sự nghiệp bảo vệ đất nước mà các em biết, trong đó có nêu tên các danh nhân Trưng Trắc, Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh, Lý Bí (Lý Nam Đế), Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương), Phùng Hưng, Ngô Quyền, Lê Hoàn (Lê Đại Hành), Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo), Lê Lợi, Nguyễn Huệ (Quang Trung), Hồ Chí Minh. Mười hai trong mười ba vị được nhắc tên là những anh hùng trong các cuộc chiến tranh chống quân xâm lược phương Bắc. Như vậy, đâu có phải tác giả sợ, không dám hé răng gọi đến tên bọn xâm lược! Còn bài “Hai Bà Trưng” trong SGK “Tiếng Việt 3, tập hai” chỉ là một truyện kể. Nó có tên các nhân vật lịch sử: bên ta là hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, bên địch là Tô Định - không phải một kẻ vô danh tiểu tốt mà là một viên thái thú có tên trong sử sách Việt Nam, Trung Hoa. Nhưng môn Tiếng Việt không phải môn Lịch sử. Không nhất thiết lúc nào truyện kể hay thơ cũng phải kể thật đủ tên giặc nọ giặc kia, nhất là đối với học sinh lớp 3 (mới 8, 9 tuổi). Thời các con tôi học tiểu học vào những năm 80 của thế kỷ trước, SGK của các cháu vẫn trích 10 dòng thơ “Đại Nam quốc sử diễn ca” về Hai Bà Trưng làm bài tập đọc: “Bà Trưng quê ở Châu Phong Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên Chị em nặng một lời nguyền Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân Ngàn tây nổi áng phong trần Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên Hồng quần nhẹ bước chinh yên Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành Kinh kỳ đóng cõi Mê Linh Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.” Ai cũng biết sau 10 dòng này còn 10 dòng nữa, trong đó có những dòng chỉ đích danh nhà Hán: “Uy danh động tới Bắc phương/Hán sai Mã Viện lên đường tấn công” nhưng SGK không dạy, có lẽ vì bài đã dài mà ý cũng đã đủ. Lúc các con tôi học tiểu học, cuộc chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lược ở biên giới phía Bắc vừa kết thúc, nhân dân ta vừa phải khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa phải chống chọi với bao khó khăn của thời cấm vận. Nhưng không hề có ai vì căm thù quân xâm lược mà cực đoan đến mức lên án SGK chỉ dạy cho các cháu bé có 10 dòng thơ đầu. Các cháu còn nhỏ, đường học còn dài. Những bài học đầu tiên chỉ gieo những hạt đầu tiên. Điều chưa biết ở môn này, lớp này, đến môn khác, lớp khác sẽ được học. Ví dụ, về Hai Bà Trưng, chỉ sau 1 năm, SGK “Lịch sử và Địa lý lớp 4” sẽ dạy các cháu đầy đủ hơn: “Đầu thế kỉ I, nước ta bị nhà Hán đô hộ. Thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định nổi tiếng tham lam, tàn bạo.” Còn đối với những cháu sớm hiểu biết, không đợi đến lớp 4 được thì thầy cô, cha mẹ, ông bà hoàn toàn có thể giải thích cho các cháu, thậm chí các cháu cũng có thể chủ động tìm kiếm thông tin trên mạng hay trong sách vở về thời kỳ này. Việc bài tập đọc Hai Bà Trưng trong sách “Tiếng Việt lớp 3” nêu hay không nêu tên nhà Hán là chuyện nhỏ. Không nên vội thêu dệt thành những chuyện sai lạc với bản chất của sự việc. GS.TS Nguyễn Minh Thuyết
-
Trò chơi Ném Còn Với người Việt cổ xưa, trò chơi này thường dành cho giới nữ, con nhà quý phái, xưa kia là các Mỵ nương, con gái Lạc hầu, Lạc tướng. Đối với các dân tộc Mường, Tày, H’mông, Thái... ném còn là trò tín ngưỡng hấp dẫn nhất của trai gái trong dịp hội xuân. cô gái dân tộc Tày đang ném còn Quả "còn" hình cầu to bằng nắm tay trẻ nhỏ, được khâu bằng nhiều múi vải màu, bên trong nhồi thóc và hạt bông (thóc nuôi sống con người, bông cho sợi dệt vải). Quả còn có các tua vải nhiều màu trang trí và có tác dụng định hướng trong khi bay. Sân ném còn là bãi đất rộng, ở giữa chôn một cây tre (hoặc vầu) cao, trên đỉnh có “vòng còn” hình tròn (khung còn), khung còn một mặt dán giấy đỏ (biểu tượng cho mặt trời), mặt kia dán giấy vàng (biểu tượng cho mặt trăng). Cả mặt giấy là biểu tượng cho sự trinh trắng của người con gái. Người chơi đứng đối mặt với nhau qua cây còn, ném quả còn lọt qua vòng còn trên đỉnh cột là thắng cuộc. Ném còn ngày xuân Mở đầu cuộc chơi là phần nghi lễ, thầy mo dâng hai quả còn làm lễ giữa trời đất, cầu cho bản làng yên vui, mùa màng tươi tốt, nhà nhà no ấm. Sau phần nghi lễ, thầy mo cầm hai quả còn đã được “ban phép” tung lên cho mọi người tranh cướp, khai cuộc chơi ném còn năm đó. Các quả còn khác của các gia đình lúc này mới được tung lên như những con chim én. Trước khi khép hội, thầy mo rạch quả còn thiêng (đã được ban phép) lấy hạt bên trong, tung lên để mọi người cùng hứng lấy vận may. Người Tày quan niệm hạt giống này sẽ mang lại mùa màng bội thu và may mắn, vì nó đã được truyền hơi ấm của những bàn tay nam nữ (âm - dương). Ném còn làm cho người trong cuộc hào hứng, người đứng ngoài hò reo cổ vũ khiến không khí cuộc chơi rất sôi nổi, hấp dẫn. Ném còn là trò chơi không những thu hút nam nữ thanh niên mà nhiều người lớn tuổi cũng rất thích. Trò vui này mang ý nghĩa phồn thực, cầu mong giao hoà âm - dương, mùa màng tươi tốt. Vietbao (Theo: quehuongonline.vn) ném còn cầu duyên
-
Mừng Sinh Nhật Thiên Bồng Mát trời nha...
-
Những Bài Kinh Phổ Biến
Thiên Đồng replied to Thiên Đồng's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
@ ReQuat Đạo nào thì cũng sẽ thấy câu sau đây đều hợp với mình cả: "Năng lễ, sở lễ tánh không tịch, Cảm ứng đạo-giao nan tư nghì," Theo cái hiểu của Thiên Đồng thì nghĩa của câu này tựu trung vẫn là năng lễ bái, hành lễ, cầu nguyện, sám hối...thì sẽ cảm nhận được mầu nhiệm đức tin. Đạo nào cũng vậy. Đây là nói theo cảm nghĩ thôi nhé, vì phàm phu mà. Chứ, chỉ có hàng A La Hán mới được phép thuyết kinh, giảng pháp. Thiên Đồng -
QUÁN TƯỞNG Năng lễ, sở lễ tánh không tịch, Cảm ứng đạo-giao nan tư nghì, Ngã thử đạo tràng như Ðế-châu, Thập phương chư Phật ảnh hiện trung, Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền, Ðầu diện tiếp túc quy mạng lễ. CHÚ ÐẠI-BI Nam-mô Ðại-Bi Hội-Thượng Phật Bồ-Tát. (3 lần) Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni. Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án, tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa. Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần) MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA MẬT-ÐA TÂM KINH Quán-tự-tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá-Lợi-Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. Xá-Lợi-Tử ! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh diệc, vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão-tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn. Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư. Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết: Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề tát bà ha. (3 lần)
-
* Chuyện kể: Ông Tử Trương muốn đi xa, đến chào Đức Khổng Tử và xin Ngài một lời khuyên. Đức KhổngTử nói: “Chữ “nhẫn” đứng đầu trăm nết. – Trương Tử hỏi lại: “Làm sao phải nhẫn?” * Đức Khổng Tử trả lời: “Thiên Tử mà nhẫn thì nước không sinh hại. - Chư hầu mà nhẫn thì nước sẽ mạnh lớn thêm. - Quan lại mà nhẫn thì chức vị sẽ thăng tiến. – Anh em mà nhẫn thì cửa nhà giầu sang. - Vợ chồng mà nhẫn thì ở được với nhau trọn đời.- Bạn bè mà nhẫn thì thanh danh không mất. - Hễ nhẫn thì không lo tai hoạ.” * Ông Trương Tử hỏi lại: “Nếu bất nhẫn sẽ ra sao? - Đức khổng Tử nói: “Thiên Tử mà bất nhẫn thì nước sẽ trống không. – Chư hầu mà bất nhẫn thì mất mạng. – Quan lại mà bất nhẫn thì sẽ bị hình phạt. – Anh em mà bất nhẫn thì sẽ chia rẽ. - Vợ chồng mà bất nhẫn thì phải xa nhau (ly thân, ly dị). - Tự mình mà bất nhẫn thì không thể tránh được lo lắng.” Trương Tử nói: “Phải lắm ! Phải lắm ! St
-
ĐÌNH LÀNG – GƯƠNG MẶT KIẾN TRÚC CỔ VIỆT NAM Mỗi làng quê Việt Nam đều có một ngôi đình. Như là một ngôi nhà công cộng của làng quê thời xưa, đình được dùng làm nơi thờ Thành Hoàng làng (vị thần bảo trợ của làng) và họp việc làng. Đó là một ngôi nhà to, rộng được dựng bằng những cột lim tròn, to, thẳng tắp đặt trên những hòn đá tảng lớn. Vì, kèo, xà ngang, xà dọc của đình cũng làm toàn bằng gỗ lim. Tường đình xây bằng gạch. Mái đình lợp ngói mũi hài, bốn góc có bốn đầu đao cong. Vào mỗi dịp lễ, Tết, đình trở thành trung tâm văn hóa của làng mà ở đó, tất cả kho tàng văn hóa tích lũy từ đời này qua đời khác được thể hiện đầy đủ nhất. Đình Đồng Kỵ ( Bắc Ninh) Về mặt tạo hình, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, đình làng là gương mặt của nền kiến trúc Việt cổ. Nó không chỉ là công trình oai nghiêm và đồ sộ nhất trong khung cảnh làng quê Việt Nam nghèo nàn thời quân chủ, mà còn là nơi bảo tồn khá trọn vẹn những đặc điểm của nền kiến trúc dân tộc bởi ít phải chịu ảnh hưởng của kiến trúc ngoại sinh. Đặc biệt, qua một thời gian dài nghiên cứu, chắt lọc, người ta còn phát hiện từ đình làng một kho tàng những tác phẩm điêu khắc gỗ dân gian Việt Nam mà sự khéo léo, tài tình của những người thợ được thể hiện trên từng nét vẽ, chạm khắc. Xét trên mặt bằng tổng thể, trước đình làng luôn là ao đình (tròn hoặc bán nguyệt), tiếp đến là sân đình với nhiều hàng cây cổ thụ. Đây là hai yếu tố quan trọng trước tiên tạo nên diện mạo đình làng mà các kiến trúc gia nước ngoài thường gọi là “nền kiến trúc họa cảnh”. Tòa đình chính (đại đình) thường là một căn nhà lớn lợp ngói mũi kiểu bốn mái xòe rộng ra ôm lấy đất. Thế nhưng, bốn tàu mái cao rộng đó không trở nên nặng nề nhờ bốn góc có bốn tầu đao cong vút như nâng các tàu mái bay bổng. Kiểu mái này chính là đặc điểm nổi bật của kiến trúc truyền thống Việt Nam, khác hẳn với kiểu tàu hộp hay giả tàu của nền kiến trúc Trung Hoa mà ta thường thấy trên hầu hết các mái nhà ở cố đô Huế. Đình làng Vị Thượng (Phủ Lý - Hà Nam) Trước đình thường có một hồ nước trồng sen, hương thơm ngào ngạt. Đình làng còn là nơi trai thanh nữ tú trong làng đến để hẹn hò tình yêu. Ngôi đình làng Việt Nam cổ kính, trang nghiêm, ẩn mình sau lũy tre xanh mướt là một tác phẩm nghệ thuật của con người hòa nhập trong làng quê. Kiến trúc đại đình có nét chung của nền kiến trúc gỗ phương Đông, dựa trên sự liên kết của các bộ vì. Sức nặng của tòa nhà do cột trong vì đảm nhiệm nên khi ấy, tường nhà không phải là cơ sở chịu lực mà chỉ làm nhiệm vụ ngăn che nắng mưa, gió bão. Tuy nhiên, khác với các dân tộc khác, kiến trúc đình làng Việt cổ là một không gian mở, mỗi khi làng có việc, cửa bích bàn bốn mặt đình được dùng làm bàn tiệc, khiến bốn mặt đình càng trở nên thông thoáng. Một góc đình Đại Bái (Bắc Ninh) Khác với những kiến trúc tôn giáo khác, ngay ở những vị trí tôn nghiêm của đình làng, ta cũng có thể gặp hình tượng những đôi trai gái đùa ghẹo nhau hay đang tình tự... Từ thế kỷ XIX, điêu khắc đình làng hầu như không còn những cảnh sinh hoạt dân gian. Từ đây chỉ còn những hình trang trí hoa lá và phổ biến là hình tứ linh (long, ly, quy, phượng). Trong các đình thế kỷ XIX, thường có những bức cửa võng trước điện thờ được chạm trổ khá công phu. Cột trong nền kiến trúc cổ Việt Nam đều được làm bằng gỗ nguyên cây, không có cột nối, không sơn vẽ và được liên kết với nhau bằng các kiểu khác nhau: kèo lẻ, con rường hoặc kết hợp của hai loại liên kết trên (thượng rường - hạ kẻ). Kiến trúc đình Việt Nam trước thời Nguyễn thường chỉ sử dụng hai kiểu liên kết: kèo lẻ và trên rường - dưới kẻ. Tuy nhiên, kiểu liên kết cổ nhất là kèo lẻ - một kiểu liên kết ta không thấy trong nền kiến trúc Trung Hoa. Đình làng Khinh Giao (An Dương - Hải Phòng) Ở đình làng, chúng ta rất dễ nhận ra hầu hết các thành phần kiến trúc đều được chạm khắc trang trí. Ngoài các hình rồng, phượng, hoa lá, ta thường gặp trong nghệ thuật điêu khắc trang trí đình làng hình ảnh những ngày hội làng, những khung cảnh lao động nhọc nhằn hay bức vẽ thể hiện tình yêu mẹ con, chồng vợ và cả những lời lên án chế độ quân chủ hà khắc thời phong kiến. Tất cả những điều ấy là dấu ấn tuyệt vời cho các thế hệ mai sau hiểu và cảm được không khí sinh hoạt của cộng đồng làng xã thời xưa, đồng thời là bản sắc của nền kiến trúc cổ Việt Nam – một bản sắc văn hóa và lịch sử sâu sắc nhất. Vào những ngày lễ, tết, dân làng đến đình thắp hương tế lễ nhộn nhịp, cầu mong Thành Hoàng và Trời Đất giúp cho mưa thuận gió hòa, cày cấy, làm ăn thuận tiện và có nhiều phúc lành. Mùa xuân đến, sân đình trở thành sân khấu hát chèo, hoặc để đấu vật, chọi gà, múa hát giao duyên. Xung quanh đình, thường có những câ đa cổ thụ vẫy gọi chim về làm tổ, ríu rít âm thanh, có giếng nước rộng trong vắt để làm nước ăn, nước uống và để các cô gái làng xinh đẹp đến soi gương làm duyên. Cuộc Sống Việt
-
Trò chơi dân gian: Thiên đường Địa ngục Đây là TCDG mang tính chất diễn xướng và có hát đồng dao. Không gian chơi là một khoảng sân rộng; số lượng người chơi không giới hạn. Hai em trong nhóm tự đề cử mình làm quản trò. Hai em này cùng đi ra một chỗ khuất hay xa để bàn một chuyện bí mật không để cho những em khác biết. Sau đó, 2 em này đi ra, đứng đối diện, đan hai bàn tay vào nhau và dơ tay lên cao làm “cổng”. Những em còn lại nối đuôi nhau tạp thành một đoàn rồi chui qua “cổng”, đuôi hết thì lại đến đầu. Khi những em này chui qua cổng thì hai em vòng tay làm cổng kia hát đồng dao: Thiên đường địa ngục Ai khôn thì lên thiên đường Ai ngu thì xuống địa ngục. Khi câu hát vừa kết thúc thì cũng là lúc hai em đó hạ nhanh tay xuống để chụp lấy một (có thể là hai) em khác. Em nào bị chụp sẽ được hai em làm cổng hỏi: - Sầu riêng hay măng cụt? Khi đó em bị chụp sẽ phải lựa chọn một trong hai quả đó bằng cách trả lời: - Sầu riêng (hoặc Măng cụt), hay: Sầu riêng/măng cụt ngon hơn. Tao chọn sầu riêng/măng cụt. Trò chơi cứ thế tiếp diễn, em nào chọn măng cụt đứng sang một bên, em nào chọn sầu riêng đứng một bên. Khi tất cả các em kia bị bắt hết thì hai em làm cổng đó “dỡ” cổng ra và thông báo: - Ai ăn sầu riêng thì lên thiên đường, ai ăn măng cụt thì xuống địa ngục. Truớc đó, những em bị bắt kia rất hồi hộp lo sợ xem mình có bị xuống địa ngục không? Thì ra lúc trước, hai em làm cổng đi ra chỗ khuất là để bàn xem sẽ chọn loại quả nào mà ăn vào sẽ được lên thiên đường, loại nào sẽ xuống địa ngục. Em nào được lên thiên đường sẽ được chọn cách đi: đi kiệu, đi võng hoặc đi máy bay, và hai em kia có nhiệm vụ thực hiện sự lựa chọn đó. - Đi kiệu: hai em ngồi đối diện nhau, một em lấy tay phải gập lại 90 · ngang mặt rồi nắm vào tay trái, em kia làm ngược lại. Tay hai em đó ghép lại tạo thành ba hình vuông sát nhau như sau: Làm kiệu tay để công kênh nhau Em nào chọn đi kiệu thì sẽ bỏ hai chân của mình vào ô 1 và 3; hai tay ôm lấy cổ của hai bạn, còn hai em kia phải nhấc em đó lên đi một đoạn, vừa đi vừa đung đưa. - Đi võng: Hai em cầm hai tay song song với nhau, hạ thấp xuống cho người được lên thiên đường ngồi hay nằm ngửa lên trên đó. Hai em kia phải nhấc em đó lên đi một đoạn vừa đi vừa đung đưa như đi bằng võng thật. - Đi máy bay: Làm tương tự như đi võng nhưng người lên thiên đường sẽ nằm xấp. Sau khi đã đưa hết những bạn ăn sẫu riêng lên thiên đường rồi thì bây giờ đến lượt xử tội những người xuống địa ngục. hai em kia bắt chéo tay sao cho để trống một khoảng ở giữa. Ai bị xuống địa ngục sẽ phải để đầu mình vào đó để hai người kia “chặt đầu” (lôi đi kéo lại, quặt trước, quặt sau), rất chóng mặt. Sau khi đã “chặt đầu” xong thì “cái xác” vẫn phải đứng im đó trong khi hai em kia nhanh chóng nhả tay ra rồi lại đan tay lại song song với nhau. “Cái xác” ở trong vòng tay đó. Hai em “đao phủ” xoay tay 90 ·, một phía qua đầu “cái xác”, một phía đẩy ở đằng sau của “cái xác” đẩy nó ra ngoài. Những người bị xuống địa ngục khác thì cũng làm tương tự. Sau khi hoàn thành tất cả thì trò chơi hết một vòng. Nếu muốn chơi tiếp thì hai em khác tự xung phong ra làm, chọn ra hai loại quả khác với hai loại quả trước (ví dụ: bưởi – nho, …) và xác định trước ăn quả nào thì lên thiên đường, ăn quả nào thì xuống địa ngục. Chú ý: Đây là trò chơi dân gian của người Việt được các thế hệ trẻ em, thiếu niên thanh niên, phụ lão...truyền qua bao thế hệ không dứt và có những biến tấu theo thời đại. Ai trích lại thì nhớ ghi dòng: "Trò chơi của dân gian Việt Nam"
-
Phẫn Nộ Phật Nhẫn không nhất thiết là không phẫn nộ. Phẫn nộ cũng là từ bi. Phẫn nộ một cách đầy từ bi. Phẫn nộ trí cũng là độ sanh. Mahakala Mahakala
-
Viết vào hai từ : “giặc Hán” thì là "sáng tạo ra một từ mới" hay sao?"chưa thấy ai viết, ai nói “giặc Hán” bao giờ,", trời ạ! Chưa nghe, chưa thấy ai nói viết! Ông Thuyết là con dân nước Việt thật sao? Bao nhiểu kiến thức từ vựng Ông Nguyễn Minh Thuyết học được cho tới nay không tồn tại trong đầu ông 2 chữ “giặc Hán”? Và ông thật sư không nghe, không thấy ai nói viết? Trời ơi... Thiên Đồng
-
Thưa Sư Phụ, Theo lời Sư Phụ nói thì từ đó có thể suy ra: Việc đeo nhẫn cưới xuất phát từ phong tục người Việt. Bởi cái vận đeo tên gọi là "nhẫn", đeo vào ngón tay, tức đeo vào thịt, mà thịt gọi là "nhục". Như vậy sự thâm thúy của tục này là nhắc nhở các đôi phải chịu..."nhẫn nhục". Vậy là đủ 2 chữ nên có căp có đôi, "Nhẫn Nhục".
-
Thưa Sư Phụ, Bức tranh dưới đây có ghi chú thích là "Chuyện Thạch Sanh", Nhưng người gảy đàn thì hầu như "nuy" 100%. Đệ tử thấy lạ. Xin Sư Phụ giải thích giùm đệ tử cho tường minh? Đây là sản phẩm tranh Đông hồ. Sau khi hỏi Sư Phụ xong, Thiên Đồng tìm thêm thì phát hiện, à thì ra Thạch Sanh có mặc gì đó. Thạch Sanh gặp Bụt Thạch Sanh bắn đại bàn Mẹ con Lý Thông bị trừng phạt Chi tiết đáng chú ý: Người đàn ông được vẽ với áo chéo vạt bên trái
-
Trích sách tham khảo: Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam - Phần I - 6 Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương - Nhà xuất bản văn hóa thông tin Chọi trâu Tranh dân gian Đông Hồ Nếu hiểu theo nghĩa trực tiếp và gần gũi là trâu của xã Đông và xã Tống chọi nhau. Với cách hiểu này thì hai cái bảng trên bức tranh và dòng chữ “Hội chí lầu” sẽ là chi tiết thừa. Người ta chỉ cần thể hiện lá cờ biểu tượng cho lễ hội và hai con trâu là đủ. Xã Đông và xã Đoài, thôn Thượng và thôn Hạ, tổng Bắc và tổng Nam cũng có thể đem trâu chọi thi vậy? Nhưng những chi tiết này sẽ không thừa một chút nào, nếu chúng ta đặt vấn đề về nội dung sâu xa của bức tranh này. Giá trị của hình ảnh hai tấm bảng và lá cờ chính là tính hướng dẫn để tìm hiểu nội dung đích thực của nó. Chính chữ “xã” trên bức tranh có bộ “thổ” nghĩa là “đất”; chữ “lầu” là nhà cửa; chữ “chí” trên lá cờ có nghĩa là sự cản trở, sự khó khăn phải vượt qua; chữ “hội” nghĩa là sự tập trung cho một vấn đề, mục đích…. Hình tượng con trâu – trong kinh Dịch là quái Khôn (tức Địa – đất), Thuyết quái viết: “Khôn vi địa,… vi tử mẫu NGƯU…”. Từ những ý nghĩa trên cho chúng ta một ý nghĩa gần gũi và liên hệ đến thuật Phong thủy Đông phương. Vì vậy, có thể hiểu rằng: hai tấm bảng và lá cờ trên muốn nói tới tính chất đối nghịch của Đông trạch và Tây trạch trong thuật Phong thủy (qua hình tượng hai con trâu chọi nhau). Theo quan niệm của thuật Phong thủy thì địa bàn chia làm tám hướng; trong đó có 4 hướng thuộc Đông trạch và 4 hướng thuộc Tây trạch. Tên gọi đủ của khái niệm này là: Đông tứ trạch và Tây tứ trạch. Nếu mọi chuyện chỉ dừng ở đây thì bức tranh này về nội dung sẽ không hơn một cuốn sách dạy về thuật phong thủy Đông phương phổ biến trên khắp thế giới, những ai có tìm hiểu về thuật Phong thủy đều biết điều này. Trước khi trình bày nhận xét riêng của mình về nội dung sâu xa của bức tranh, bạn đọc xem hình dưới đây miêu tả đồ hình Hậu thiên Bát quái liên hệ với Lạc thư, diễn tả vị trí Đông tứ trạch và Tây tứ trạch theo quan niệm của thuật Phong thủy từ những bản văn cổ chữ Hán như sau: Qua hình trên, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: “Đông tứ trạch” – màu đỏ – theo cổ thư chữ Hán gồm: Hướng chính Bắc (Quái Khảm); hướng chính Đông (Quái Chấn); Hướng Đông Nam (Quái Tốn); hướng chính Nam (quái Ly). “Tây tứ trạch” – màu đen – theo cổ thư chữ Hán gồm: Hướng Tây Nam (quái Khôn), hướng chính Tây (quái Đoài); hướng Tây Bắc (quái Càn); hướng Đông Bắc (quái Cấn). Theo thuật Phong thủy năm sinh của mỗi người ứng với một cung trong Bát quái Hậu thiên và chia làm Đông & Tây tứ trạch. Hướng tốt của người Đông trạch là hướng xấu của người Tây trạch và ngược lại. Hay nói một cách khác: Đông trạch và Tây trạch đối chọi nhau. Bây giờ chúng ta xét đến bức tranh “Chọi Trâu” nói trên. Trên mình hai con trâu này tổng cộng 9 vòng xoắn, một con có 4 vòng xoắn, một con có 5 vòng xoắn. Đây chính là độ số của hành Kim trên Hà đồ (Độ số 4 và 9). Trên mình con trâu 5 vòng xoắn có chữ Sơn, tức là núi – tượng của quái Cấn – trong kinh Dịch. Như vậy, hai con trâu chọi nhau ngoài biểu tượng của sự xung khắc giữa Đông và Tây trạch, còn là sự đối xứng (đối chọi) của quái Tốn () và quái Cấn ( ). Hành Kim thuộc Dương, theo qui tắc Dương trừ (5), Âm cộng (5) đã trình bày trong mục tranh “Đàn Lợn”. Theo đồ hình trình bày ở trên từ cổ thư chữ Hán (Hậu thiên bát quái liên quan đến Lạc thư) thì quái Tốn – độ số 4 thuộc hành Kim trên Lạc Thư , nhưng quái Đoài – trong kinh Dịch cũng thuộc Kim – lại có độ số 7 trên Lạc thư. Nếu bây giờ ta đổi chỗ quái Tốn sang quái Khôn trong Hậu thiên Bát quái từ cổ thư chữ Hán, và đặt lên Hà đồ thì sẽ hoàn toàn thỏa mãn những yếu tố mà bức tranh “Chọi trâu” đề cập đến theo nhận xét của người viết. Bạn đọc xem đồ hình trình bày dưới đây: Hà đồ Hậu Thiên và Bát Quái nguyên thủy bổ xung Đông & Tây trạch Qua đồ hình trên, bạn đọc cũng thấy mọi yếu tố đã giải mã trong bức tranh “Chọi Trâu” đều thỏa mãn:@ Quái Tốn độ số 4 nằm ở hành Kim, vẫn thuộc Đông tứ trạch đối chọi với Tây tứ trạch là quái Đoài (thuộc Kim trong kinh Dịch) độ số 9. Đây là tổng độ số vòng xoắn trên mình hai con trâu. @ Quái Cấn (chữ sơn) thuộc Tây tứ trạch đối chọi (đối xứng) với quái Tốn thuộc Đông tứ trạch. Trong bức tranh này có một chi tiết cũng rất đáng lưu ý. Đó là tại sao hai con trâu lại chỉ có 3 cái sừng. Người viết xin được tạm trình bày ba cách giải thích sau đây: 1) Ba cái sừng tức là tam giác. Phải chăng, khi đổi chỗ hai quái Tốn và Khôn và kết hợp các quái điên đảo dịch sẽ tạo ra được 2 tam giác như sau: 2) Trong kinh Dịch – thuyết quái viết “ Khôn vi địa, vi mẫu, vi lận tường, vi quân, vi tử mẫu ngưu, vi đại dư, vi văn, vi chúng, vi nạp, kỳ dư địa dã, vi hắc”. Chữ “Ngưu” trong một số bản văn tiếng Việt dịch là “Bò”. Nhưng chữ “Ngưu” dịch ra tiếng Việt còn có nghĩa là “Trâu”. Như vậy, quái Khôn liên quan đến con trâu và ba cái sừng ở phía trên đầu hai con trâu, phải chăng là chỉ quái Chấn độ số 3 phải ở trên quái Khôn?3) Ba cái sừng là bố cục chặt chẽ nhất trong phần giữa của bức tranh. Nếu thêm cái sừng thứ tư vào sẽ bị thừa? Người viết tự nhận thấy cả ba nhận xét trên đều chưa rốt ráo, rất mong sự minh xét của các bậc trí giả quan tâm. Hiện nay còn có một dị bản của tranh “Chọi trâu” mà người viết sưu tầm và trình bày với bạn sau đây. Mặc dù về hình thức tương đối giống nhau, nhưng vì chỉ thể hiện đơn thuần một cảnh chọi trâu, cho nên bức tranh này không nói lên điều gì. Hiện tượng này cho thấy sự tam sao thất bản trải qua hàng thiên niên kỷ cho những di sản văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, với phong cách thể hiện gần giống nhau và không giống với phong cách thể hiện tranh dân gian hiện đại cũng cho thấy cả hai đã tồn tại từ thời rất xa xưa. Phụ lục Sự đối xứng của quái Cấn và Tốn trong bức tranh trên, còn phù hợp với hai câu đối lưu truyền trong dân gian Việt Nam (cả hai câu đối này đều ở trong truyện dân gian Việt Nam, không rõ tác giả) mà chắc nhiều người cũng biết. Đó là câu đối: 1) Lợn CẤN ăn cám TỐN & Chó KHÔN chớ cắn CÀN. 2) Chồng phương Đông, vợ phương Tây, hòa hợp cùng nhau, đừng lòng Nam Bắc & Trai phương CẤN, gái phương TỐN, chớ nên cãi lộn, trái đạo CÀN KHÔN. Nếu theo cổ thư chữ Hán thì các phương vị của câu đối thứ nhất theo Hậu thiên Bát quái sẽ sắp xếp như sau: Câu đối 1 Câu đối 2 Nếu theo phương vị đã hiệu chỉnh hai quái Tốn & Khôn thì phương vị của câu đối 1 sẽ sắp xếp như sau: Câu đối 2 theo Hậu thiên Bát quái nguyên thủy đã hiệu chỉnh vị trí hai quái Tốn & Khôn sắp xếp như sau: Như vậy, với sự hiệu chỉnh phương vị, câu đối sẽ rất hoàn chỉnh. Điều này chứng tỏ rằng: Sự thay đổi vị trí Tốn Khôn từ văn minh Lạc Việt, là một sự thay đổi hợp lý từ căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái, xuyên suốt cho đến tận những chi tiết trong sinh hoạt văn hóa dân gian. Đây là một hiện tượng khẳng định nền văn minh Lạc Việt chính là cội nguồn văn hóa Đông phương. Chỉ có nền văn minh Lạc Việt và hậu duệ của nó là dân tộc Việt Nam hiện nay, mới có khả năng phục hồi lại một cách hoàn chỉnh một học thuyết lớn đã tồn tại lâu nhất trong lịch sử văn minh nhân loại.
-
Chọi trâu Nét đẹp văn hóa vùng đất biển Nước ta nhiều nơi có tục chọi gà. Nhưng chọi trâu thì chỉ độc nhất vô nhị có ở Đồ Sơn. Dù ai buôn đâu bán đâu Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về Dù ai buôn bán trăm nghề Mồng chín tháng tám thì về chọi trâu. Hội chọi trâu có từ bao giờ, tới nay chưa có lời giải chuẩn xác. Có người cho rằng thế kỉ XVIII, khi Nguyễn Hữu Cầu dấy binh, lấy Đồ Sơn làm căn cứ chống lại chúa Trịnh, để khích lệ quân sĩ, đã nghĩ ra tục chọi trâu. Nhưng trong cuốn Lịch sử người Thăng Long, Hà Ân lại viết: “... Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng đến xem hội chọi trâu ở Đồ Sơn, gặp Kỳ Vĩ là người đã cứu Nhượng Vương khỏi nạn cướp, mới kết nghĩa huynh đệ... “. Vậy theo sách này, chí ít tục chọi trâu Đồ Sơn đã có từ đời Trần. Các cụ già ở Đồ Sơn thì khẳng định rằng tục chọi trâu có lâu lắm rồi, từ thời những người tứ xứ về đây khai phá, sinh cơ lập nghiệp. Khi đến vùng đất mới, người ta muốn có một vị thần bảo trợ. Với người Đồ Sơn sơ khai, vị thần hoàng làng đó là Điềm Tước Đại Vương. Theo sách Đồng Khánh địa dư chí lược, biên soạn từ thời nhà Nguyễn thì dân Đồ Sơn cho rằng vị thần hoàng làng của mình rất thích xem trâu chọi nhau. Lai có truyên thuyết cho rằng khi thần xuất hiện thường có hai áng mây giống hình hai con trâu húc nhau. Cũng có sách giải thích, mỗi khi thần giáng hạ, đều có hai con trâu chọi nhau. Vì vậy để đẹp lòng thần, cứ vào ngày mồng chín tháng tám hàng năm, người Đồ Sơn lại tổ chức lễ tế và bày trò chọi trâu để vui lòng thần. Song, cũng còn có cách giải thích khác nữa: biển Đồ Sơn thường bị thủy quái quấy nhiễu. Để được yên, dân làng lập đàn cúng bái cầu thần làng giúp đỡ. Hôm sau thủy quái đầu rồng, mình trâu rất lớn bị chết nổi lên; ở cổ có một dấu chân chim. Dân làng cho rằng thần làng đã giúp dân diệt họa, mới mua trâu về mổ nhằm lễ tạ. Những con trâu lạ từ các nơi về, tự dưng chọi nhau. Từ đấy mỗi năm, mỗi khi mổ trâu tạ thần, người ta lại cho trâu chọi nhau, dần dà thành tập tục, thành lễ hội. Nhưng cũng có người nói, do thủy quái đầu rồng, mình trâu nên sau này người Đồ Sơn mới cho trâu chọi nhau, bắt chúng “ đền tội “ cho tổ tiên đã sát hại dân lành. Cũng bởi thế mà trâu chọi sau đó đều bị giết, kể cả con thắng lẫn con thua để tế thần... Như vậy, tục chọi trâu xuất hiện trên cơ sở huyền thoại, cũng có thể tục chọi trâu có trước, sau đó xuất hiện huyền thoại để giải thích. Đồ Sơn không phải là vùng đất nông nghiệp. Cư dân sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản, trồng lúa nước chỉ là nghề phụ; vậy tại sao có tục chọi trâu? Đây không hẳn là điều dễ lý giải. Song dù thế nào, chọi trâu là một mỹ tục hào hùng mang tính thượng võ và rất độc đáo. Đầu tháng tám, khi lúa ở đồng đang vào thì con gái, ngư dân cũng vừa kết thúc vụ xăm, người ta bắt đầu chọi trâu. Hội kéo dài từ mồng 1 đến 15 tháng tám. Song chỉ có một ngày, ngày mồng 9 là diễn ra chọi trâu. Để có ngày hội náo nức đó, người Đồ Sơn phải chuẩn bị trong vòng tám tháng. Việc tìm mua trâu và nuôi dưỡng trâu chọi là điều quan trọng bậc nhất. Sau tết âm lịch, người các giáp tự nguyện góp tiền và cử người có kinh nghiệm đi các nơi để tìm mua. Trước khi đi, giáp nào cũng làm lễ tế thần, cầu mong mua được trâu tốt. Người được dân làng ủy nhiệm có khi lặn lội hàng tháng trời vào tận Nghệ An, Thanh Hóa, ra Ninh Bình, Nam Định, có khi ngược lên Tuyên Quang, Bắc Cạn, rồi lộn về Hải Dương, Quảng Ninh.v..v...mới chọn được trâu vừa ý. Kinh nghiệm nhiều đời cho hay, ở chợ Gồi (Nam Định); ở chợ Thủy Tú, Thủy Đường (Thủy Nguyên, Hải Phòng) ; ở chợ Thanh Hà (Hải Dương) thường có trâu hay, dễ đoạt giải! Chọn trâu là một công việc cầu kì và tỉ mỉ. Những con trâu đủ tiêu chuẩn là những con đực khỏe mạnh, sừng cánh cung, ức rộng, cổ tròn, dài và hơi thu nhỏ về phía đầu, vẫn gọi là trâu cổ cò. Lưng trâu dày, càng phẳng càng tốt. Lưng con nào để được bát nước đầy lên đó không đổ là quý. Háng trâu phải rộng nhưng thu nhỏ về phía hậu. Trong những đặc điểm đó thì đặc điểm trâu cổ cò là quan trọng nhất vì trâu cổ cò có ưu điểm là cúi xuống không biết mỏi. Tránh nhất là trâu cổ vại. Sừng trâu phải đen như mun, vểnh lên như hai cánh cung, giữa hai sừng có túm lông hình chóp, trên đỉnh đầu là xoáy tròn. Mắt trâu phải đen, tròng đỏ. Mặt trâu giống mặt ngựa là trâu chọi hay. Răng trâu cũng rất đáng lưu ý. Răng phải đều không sứt mẻ. Dân Đồ Sơn thích những con trâu trên thân có bốn hoặc hai xoáy giao nhau, chân ngắn, mập, đầu gối có lông, giống trâu rừng. Việc mua trâu đã khó nhưng huấn luyện trâu càng khó hơn. Đàn bà con gái khồng được cho trâu ăn. Những người được dân làng cử ra chăm sóc là người già có kinh nghiệm. Họ coi đây là một nhiệm vụ, một vinh dự. Trâu được nuôi ở chuồng riêng, kín đáo, không cho thấy trâu nhà. Mục đích là để khôi phục bản năng hoang dã. Giáp ngày thi đấu, khẩu phần ăn được tăng cường. Ngoài cỏ non còn có thêm một lượng cám nhất định. Trâu được huấn luyện ở các giáp. Sới tập chọi là bãi đất rộng. Người ta cố tình đứng kín xung quanh, gõ chiêng trống và hò hét, mục đích là để trâu quen với không khí ngày hội. Phải là những người dư kinh nghiệm mới huấn luyện được cho trâu có những miếng đánh hay. Qua huấn luyện người ta phát hiện sở trường của trâu mà vót sừng theo kiểu mũi đinh hay mũi khế. Trước đây, ngày rằm tháng năm bắt đầu đấu loại vòng thứ nhất. Ngày tám tháng sáu đấu loại vòng hai. Đến ngày hội (mồng 9 tháng 8),dân Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương và nhiều nơi nô nức đổ về Đồ Sơn. Thời Pháp thuộc, những tên Toàn quyền Đông Dương, Thống sứ Bắc Kỳ, Công sứ các tỉnh đều đưa vợ con xuống. Ngoài xem chọi trâu, người ta mở sòng bạc để sát phạt nhau. Rồi cá cược. Không ít kẻ mất gia sản ruộng vườn. Trâu chọi được gọi là ông trâu. Trâu nào đoạt giải được tôn lên hàm cụ: cụt trâu. Xưa kia, sới chọi là sân đình Công (chỗ trường phổ thông trung học Đồ Sơn ngày nay). Mở đầu hội chọi là lễ tế thần Điểm Tước. Từ chiều 29 tháng 7, nhân dân rước bát nhang từ đền Nghè, nơi thờ thần Điểm Tước, tới đình Công để thờ. Thờ suốt trong 15 ngày hội. Cũng thời gian ấy, các đình làng đều thắp hương nhằm cầu mong cho trâu làng mình đoạt giải cao. Mỗi giáp góp một trâu, một lợn, một thúng thóc nếp để làm lễ. Đến ngày hội chính, trâu thi đấu đi đầu trong lễ rước nhằm trình diện thần. Mình trâu được kết hoa và trùm nhiễu điều. Đi sau trâu là 12 chàng trai y phục mầu đỏ, kế đó là đội nhạc và dân làng. Xong lễ tế, trâu và người cùng đi ra sới. Gần đây thủ tục trước khi chọi có bị giảm bớt, nhưng không vì vậy mà lượng người xem ít đi. Quanh sân vận động người tứ xứ đông nghịt vòng trong vòng ngoài. Sau hồi trống mở màn, từ hai phía đấu trường các chàng trai y phục mầu đỏ tiến vào, thực hiện nghi thức múa cờ. Mỗi trận đấu đượcc gọi là “ kháp”. Tiếng loa vừa dứt, chủ trâu y phục mầu đỏ dẫn trâu vào sới. Khi cách nhau 20 mét, hai đối thủ được bỏ “sẹo”. Đấu trường lặng phắc. Bất thần hai trâu lao vào nhau. Cuộc tỉ thí diễn ra giữa tiếng reo hò vang dậy của hàng vạn khán giả. Có “kháp” chỉ năm phút, sự thắng thua diễn ra rất nhanh. Song có trận xẩy ra hàng giờ, vẫn không phân thắng bại. Không khí sới chọi hết sức sôi động. Người ta cổ vũ, người ta vỗ tay reo hò và người ta nín thở. Cuối trận đấu là màn thu trâu. Màn thu trâu diễn ra rất hùng tráng, rất thượng võ và tính nghệ thuật cao. Khi trâu thua bỏ chạy, trâu thắng hăng máu đuổi theo. Để trâu không xông vào đám đông khán giả, người bắt trâu phải tìm cách giữ cho được trâu thắng trận dừng lại. Đây là hành động rất dũng cảm. Vì hai trâu chỉ cách nhau vài mét, lại đang hăng, không có kinh nghiệm sẽ hết sức nguy hiểm. Trong trận đấu năm 1973, khi trâu thắng đang lao đuổi trâu thua, cả hai chạy với vận tốc rất nhanh thì ông Nguyễn Văn Ghé lúc ấy 64 tuổi xuất hiện. Với y phục đỏ rực trên người, tay trái nắm lấy sừng trâu, tay phải và vai độn dưới cổ trâu, ông khiến con trâu đang chạy phải dừng lại, hai chân trước giơ lên chới với trên không. Rất thuần thục, ông luồn nhanh dây thừng vào mũi nó. Con trâu hung dữ, hai mắt đỏ nọc chợt trở nên ngoan ngoãn để ông ghé dắt đi. Cảnh tượng ngoạn mục có một không hai đó khi được phát trên đài truyền hình Nhật Bản đã làm sửng sốt hàng triệu khán giả màn ảnh nhỏ nước Phù Tang. Người ta cho rằng chọi trâu ở Đồ Sơn Việt Nam thể hiện rất rõ tính thượng võ, sự hào hùng, lòng dũng cảm và hấp dẫn hơn cả đấu bò tót ở Tây Ban Nha. Tuy nhiên, mọi sự so sánh chỉ là ... so sánh. Làng có trâu thắng được rước bát nhang thờ thần Điểm Tước ở đền Nghè về đình làng mình. Song cũng chỉ được thờ từ mồng 10 đến 15 tháng tám. Ngày mồng 10 là ngày các làng mổ trâu cúng thần. Ngày 16 là ngày mao huyết (bát tiết) được đổ xuống ao làng để “tống thần”, sau đó rước bát nhang trở lại đền Nghè. Bát nhang được đặt trên kiệu sơn son thếp vàng trong sự thành kính, ngưỡng vọng của dân Đồ Sơn. Những năm gần đây, năm nào Đồ Sơn cũng tổ chức chọi trâu, số trâu tham gia cũng đông hơn, cũng như số người đến xem ngày càng đông đúc. Chọi trâu Đồ Sơn từ lâu trở thành một mỹ tục văn hóa, một lễ hội truyền thống ngày càng hấp dẫn ở vùng đất biển Đồ Sơn. Tại sao lễ hội chọi trâu là ngày mồng 9 tháng 8? Điều này vẫn là một ẩn số. Xin mời bạn đến lễ hội chọi trâu Đồ Sơn để nghiên cứu và tìm hiểu. ĐÌNH KÍNH
-
Chùm ảnh trò chơi dân gian Bắn bi Bịt mắt bắt dê Thổi bong bóng Chơi chuyền Chong chóng Đánh khăng Kéo co Lò cò Ném còn Nhảy dây Nhảy ngựa Rước đèn Thả diều ... Bắn bi Bịt mắt bắt dê Thổi bong bóng Chơi chuyền Chong chóng Đánh khăng Kéo co Lò cò Ném còn Nhảy dây Nhảy ngựa Rước đèn Thả diều DDL Sưu tầm
-
Trước 1995, cứ đến dịp Tết là tụi mình được chơi pháo, nghe tiếng pháo nổ đì đùng, thật vui tai, báo hiệu một năm mới rộn ràng đã đến. Cái cảm giác tiếng pháo nổ trong đêm giao thừa, xua tan những điều không may trong năm cũ để đón một năm mới với nhiều may mắn hơn, thật là thiêng liêng và xúc động. Nhưng từ khi Việt Nam mình cấm đốt pháo vì những hậu quả của nó mang lại, hẳn nhiều bạn thấy buồn và hụt hẫng hẳn. :( Nếu được sinh sớm hơn một chút, chúng mình còn có thể rủ nhau đi bắt dế ở triền đê nữa cơ. Rồi còn thi nhau ăn hồng bì và nhãn để dành hạt chơi ô ăn quan nữa chứ. Bịt mắt bắt dê thật dễ thương! Ngày nay, trò chơi này vẫn được teen nhà ta chơi đều trong mỗi lần sinh hoạt tập thể các ấy nhỉ! Bổ quay nè. Trông thế thôi chứ chẳng đơn giản đâu nhé. Cái khó là phải bổ làm sao để con quay của mình quay tít và lâu hơn hẳn con quay của đối phương cơ. Nhưng trò này cũng tiềm ẩn nguy hiểm nếu không may bổ trúng vào người khác. Trong khi con trai mê tít món bổ quay thì con gái thích thú phô diễn kỹ thuật nhảy dây siêu đẳng. Từ bàn bụng trở lên là có thể đèo nhau được rồi đấy. Ngoài nhảy dây ra, còn một trò chơi khiến nhiều teen mê mệt, đấy là trò song phi các teen ạ. Nhảy lò cò nữa này. Ném lon ném lon đi! ^^ Vỏ lon coca ngày xưa uống xong toàn được để dành, phòng có lúc mang ra chơi ném lon ý. Lon được đặt cố định ở một vị trí, rồi oẳn tù tỳ, ai thua phải đứng canh lon, còn các bạn khác đứng tại vạch rồi cầm dép ném. Bạn nào ném không đổ lon là bị bắt làm "con tin" luôn, chờ các bạn ném giỏi giải cứu. :P Hồi còn đi học nhà trẻ, mẫu giáo, các ấy đã gặt được bao nhiêu phiếu bé ngoan rùi? Thậm chí ngày ấy, chúng mình ai cũng thuộc làu làu câu hát: "Thứ hai là ngày đầu tuần, bé hứa cố gắng chăm ngoan, thứ hai thứ ba thứ tư, ngày nào cũng luôn cố gắng, thứ sáu rồi đến thứ bảy, cô cho phát phiếu bé ngoan, chủ nhật cả nhà đều vui vì bé ngoan nhất nhà". Cho dù ngày nay, hàng triệu teen có mê mẩn Angry bird, Đế chế hay hàng nghìn những trò chơi điện tử với công nghệ hiện đại khác thì có một điều không thể phủ nhận rằng, hiếm có bạn nào lại không bị đốn tim với chiếc máy điện tử Brick Game màn hình đen trắng một thời. Ngày ấy, có cảm giác nhà nhà, người người mê mẩn ngồi chơi xếp gạch vậy. Brick Game như một phát nổ thành công đầu tiên trong thế giới trò chơi điện tử, để rồi sau đó, điện tử 4 nút - sản phẩm "huyền thoại" của hãng Nintendo, Nhật Bản xuất xưởng, cùng theo đó là trò bắn xe tăng, bắn ruồi, Contra, đặt mìn... và kinh điển nhất là Super Mario Bros (Trò hái nấm) phát hành năm 1985. Đó là thời kỳ mà hiếm có đứa trẻ nào có thể bỏ qua Mario, cũng giống như bây giờ hiếm nhóc tỳ nào lại không đọc truyện Doreamon vậy.
-
Chuyến tàu đưa em về tuổi thơ Bắn bi, ô mai giun, kẹo kéo, pháo tì tạch ngày Tết… là những thứ đã biến mất khỏi thì hiện tại. Những hình ảnh sau sẽ giúp mỗi bạn tìm lại được phần nào ký ức tuổi thơ của mình Ngày bé, tụi con trai tụm năm tụm bảy, chơi bắn bi ve ở sân nhà, góc vườn... Chỉ cần 200 đồng là mua nhòe bi luôn, tha hồ đem khoe lũ bạn. Không những chơi bi, các chàng còn thi nhau làm bộ sưu tập các viên bi đẹp và độc nữa. Bạn đã bao giờ chơi bi và thắc mắc tại sao người ta có thể nhét những cánh hoa bảy màu sặc sỡ và đẹp thế kia vào những viên bi trong suốt chưa? Một điều hết sức thú vị, những viên bi ve tròn vo này đã xuất hiện từ rất rất lâu đời. Viên bi cổ nhất được tìm thấy trong một ngôi mộ trẻ em tại Nagada, Ai Cập có niên đại khoảng 3.000 năm trước Công nguyên. Bảo tàng Anh cũng lưu giữ những viên bi được tìm thấy ở đảo Crete, Hy Lạp có niên đại từ 2.000 năm đến 1.700 năm trước Công nguyên. Còn thời La Mã cổ đại, đánh bi là trò chơi đã khá phổ biến, đặc biệt là trong lễ hội Saturnalia với tên gọi là "nuts". Những viên bi này chủ yếu được làm bằng đá và đất sét. Tụi con trai say bắn bi như điếu đổ thì tụi con gái cũng có thú vui riêng, rủ nhau chơi chuyền bên hiên nhà. Đây là trò chơi dân gian đòi hỏi khéo léo lắm đấy nhé, chỉ cần một quả bóng (hoặc quả cam) và 10 que tre vót tròn là hội con gái có thể ngồi chơi cả chiều không chán. Cách chơi là tung bóng lên không trung - nhặt que - bắt bóng sau khi bóng nảy một nhịp xuống đất hoặc bắt bóng trước khi bóng chạm đất. Khoảng 10 lần là hết một bàn chuyền, đi liền mấy ván sau và tính điểm được thua theo ván. Ai không nhanh tay hay nhanh mắt để bắt được bóng và que cùng một lúc sẽ bị mất lượt. Vui nhất là trong khi chơi, các bạn còn đọc làu làu câu đồng dao "Cây mốt, cây mai, lá trai, lá hến, con nhện giăng tơ, quả mơ có hạt...". Nhảy ngựa cũng là một trò chơi vui khiến các teen nhà mình ngày xưa "kết nổ đĩa" và cho đến tận bây giờ, trò chơi này vẫn lác đác được teen thế hệ mới duy trì và chơi nhiệt tình. "Rồng rắn lên mây. Có cây lúc lắc. Có nhà điểm danh. Hỏi thăm thầy thuốc có nhà hay không...". Đọc đến đây, hẳn các anh chị 8x nhớ đến quay quắt một thời dầm nắng, nối đuôi nhau và cười phớ lớ chơi trò rồng rắn lên mây nhỉ. Đây là một trong những trò chơi dân gian bất hủ cùng với "chi chi chành chành", "nu na nu nống"... mà có lẽ không một bạn nào có thể quên được. Thế còn món ăn gì khiến teen thế hệ trước bồ kết nhỉ. Những buổi trưa hè nắng nóng, chỉ cần nghe thấy tiếng bác bán kem dạo "Ai kem đậu xanh, kem cốm, sữa dừa nào", cùng với tiếng còi bíp bíp nữa là dù có đang làm gì, trẻ con cũng túa ra, vây quanh thùng xốp đòi mua kem. Kem que ngày ấy rẻ hều à, chỉ 200 đồng một chiếc thôi, có 1000 đồng là có thể khao kem "cả làng" rồi ý chứ! ^^ Món ăn ưa thích của các bạn gái hồi xưa còn có kẹo kéo nữa. Kẹo kéo là món ăn vặt giá cực rẻ, thường được bán rong nên được học sinh tụi mình rất ưa thích. Kẹo kéo rất dẻo, dễ kéo dài nhưng khi đã tạo thành thanh nhỏ thì lại trở nên giòn. Thậm chí, người bán hàng còn để nguyên nồi kẹo vừa nấu (kẹo mạch nha) cực kỳ mềm dẻo, dùng 2 chiếc đũa lấy kẹo rồi đưa cho người mua tự kéo nữa cơ. Không thể không nhắc đến món ăn cực hot từng làm các teen nhà mình điên đảo một thời, đó là món ô mai giun hay còn gọi là ô mai Thái, được bọc trong túi đỏ in hình hoa mai vàng. Thời ấy, có lẽ chẳng ai trải qua những ngày thơ ấu mà không măm măm ô mai giun đâu. Tuối thơ chúng mình ngày trước còn gắn với món sữa chua túi chỉ 500 đồng một gói được bày bán trước cổng trường mầm non và cấp 1, ăn xả láng luôn. Sau đó, giá cả tăng cao, món ăn yêu thích này tăng lên 1.000 đồng, 1.500 đồng, rồi 2.000 đồng và hiện tại là 3.000 đồng nhé. Giờ hiếm lắm mới tìm được nơi bán sữa chua túi để mà gặm, mà nhấm nháp như ngày xưa, các ấy nhỉ. Có ai nhận ra chị Bống Hồng Nhung đứng ngoài cùng bên phải đang véo von hát trong chương trình Những bông hoa nhỏ không nào? :P
-
Dở khóc cười của nhắn tin không dấu 1. Hai người yêu nhau, một hôm chàng trai hẹn người yêu đi chơi, anh ta gửi tin nhắn cho cô gái: "Hom nay minh di choi nhe, em o ben do doi anh! Anh se sang ben do ruoc em". Cô gái nhận được tin nhắn và trả lời lại: "Ok! em se doi anh". Đến giờ hẹn chàng trai cứ ngồi đợi ở điểm hẹn gần 30 phút mà không thấy người yêu, anh ta bồn chồn gọi điện thoại hỏi thì mới vỡ lẽ là người yêu cũng đang ngồi tức tối đợi mình ở nhà vì nghĩ anh ta trễ hẹn. Hóa ra anh ta hẹn cô gái ở bến đò nhưng vì không dấu nên cô gái cứ nghĩ là người yêu kêu mình đợi ở nhà để anh ta qua đón. 2.Cô em gái có người bạn muốn giới thiệu cho anh trai. Sau khi đến nhà bạn, cô nhắn tin về cho anh mình: "Nha ban em bi no binh ga, hom khac em se gioi thieu ban em cho anh nhe". Ông anh nhận được tin nhắn liền trả lời: "The vu no co to khong? Co ai biet chua?". Cô em đọc tin nhắn thì gọi điện mắng anh trai một trần vì hiểu nhầm tưởng ông anh mình nghĩ bậy bạ. 3. Giám đốc đi công tác, nhắn tin cho tổ trưởng bảo vệ về công việc. Mấy ngày sau, khi giám đốc về, tổ trưởng bảo vệ nhăn nhó: - Báo cáo anh, toàn bộ nam giới xin thôi việc hết rồi ạ. - Tại sao? - Vì lệnh của anh phát ra làm anh em sợ quá ạ. Đây anh nhắn thế này ạ: "Chu y cat cu anh em can than". Hóa ra anh em trong công ty hiểu nhầm cắt cử thành "cắt cu". (st)
-
Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại Chương I - 2 Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương - NXB Văn hóa thông tin Bởi vì, khi một đất nước bị chinh phục với âm mưu đồng hóa, thì việc đầu tiên của kẻ xâm lược là xóa sổ tất cả giá trị văn hóa chính thống của nền văn minh bị xâm lược. Đối tượng chính của sự xóa sổ đó là tri thức văn hóa có trong sách vở và con người. Do đó, các học giả còn sống sót của Văn Lang không thể công khai phổ biến tri kiến của mình. Họ phải bảo vệ hệ thống tư tưởng chính thống của văn minh Văn Lang dưới một hình thức khác. Đó là: tục ngữ, ca dao, cổ tích thần thoại… dưới dạng mật ngữ, truyền miệng đời này qua đời hác. Trăm năm bia đá thì mòn Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. Như phần trên đã trích dẫn lời của học giả Thiệu Vĩ Hoa trong uốn Chu Dịch và dự đoán học đã đặt vấn đề: Giới Dịch học cho rằng sự ra đời của học thuyết Ngũ hành rất có khả năng đồng thời với học thuyết Âm Dương. Sự thật đúng như vậy! Nhưng sở dĩ qua hơn 2000 năm tính từ thời Hán cho đến những năm đầu của thế kỷ 21 này, các nhà Lý học Trung Hoa vẫn chưa tìm được bản chất sự quan hệ thuyết Âm Dương Ngũ hành mà chỉ mới đặt vấn đề một cách dè dặt cho sự liên quan của nó; chính vì thuyết Âm Dương Ngũ hành chỉ được phát hiện một cách rời rạc qua những sách vở còn sót lại của một nền văn minh bị hủy diệt, nên đã tạo ra những khoảng trống không lý giải được. Đối với nền văn minh Văn Lang – cội nguồn và là nền tảng cho một nền văn hiến gần 5000 của Việt Nam – thì sự thống nhất và liên hệ đồng thời của thuyết Âm Dương Ngũ hành đã được thể hiện trong chiếc bánh chưng, bánh dầy. Bởi vì, khi Ngũ hành giải thích sự vận động của tự nhiên, xã hội và con người, không phải tự nhiên sinh ra mà phải có bản nguyên của nó. Do đó, Thái Cực theo vũ trụ quan của tổ tiên người Việt được truyền lại với câu tục ngữ: “Mẹ tròn, con vuông” thì lý của Thái Cực phải hiểu là: Bản nguyên của vũ trụ có tính thuần khiết, tràn đầy, viên mãn. Do thuần khiết nên không thể coi cấu tạo thể bản nguyên gồm những cái cực nhỏ và cũng không thể là một cái cực lớn; trong đó không có cái “Có” để nói đến cái “Không”. Tượng của Thái Cực do tính viên mãn nên là hình tròn. Tính của Thái Cực chí tịnh. Bởi chí tịnh nên động. Có tịnh, có động đối đãi sinh Âm Dương. Cái “Có”, Động (Âm) ra đời đối đãi với cái “Không” bản nguyên. Tính của Âm tụ, đục, giới hạn nên tượng của Âm hình vuông. Bởi vậy, ông cha ta đã truyền lại câu tục ngữ: “Mẹ tròn, con vuông” nhằm hướng dẫn việc lý giải về bản nguyên của vũ trụ. “Mẹ tròn” cái có trước và là Thái Cực – Trở thành Dương, khi sinh Âm – “Con vuông”, cái có sau. Với ý nghĩa của câu tục ngữ này và cách giải thích như trên, thì Dương cũng là Thái Cực (Mẹ tròn) vì có đối đãi nên có sự phân biệt Âm Dương. Hoàn toàn khác hẳn ý niệm Thái Cực sinh Lưỡng Nghi theo cách hiểu của các nhà Lý học cổ kim, khi họ cho rằng: Âm Dương tuy cũng có nguồn gốc của Thái Cực, nhưng không phải là Thái Cực. Cũng bởi quan niệm phân biệt giữa Thái Cực và Âm Dương, cho nên hầu hết các nhà Lý học thuộc văn minh Trung Hoa và sau này ở các nơi khác, cho rằng: tính của Âm là tĩnh và tính của Dương là động. Tức là hiểu sai về căn bản sự vận động của Âm Dương Ngũ hành. Nhưng theo cách lý giải của văn minh Văn Lang thì Âm động, do đó Ngũ hành thuộc Âm phải động. Nếu Âm tịnh thì không thể nói đến sự vận động của Ngũ hành. Điều này lý giải tượng của Ngũ hành nằm trong bánh chưng vuông thuộc Âm. Như vậy, quan điểm dựa trên cơ sở phân tích truyền thuyết về bánh chưng, bánh dầy mà di chứng còn truyền lại đến ngày nay cho rằng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành của tổ tiên người Việt đã phát minh và hoàn chỉnh có từ trước thời Hùng Vương thứ VI, thì hoàn toàn có thể biết được căn nguyên của sự hình thành thuyết Âm Dương Ngũ hành và giải thích được tất cả những hiện tượng liên quan tới nó. Linh diệu thay! Mỗi khi năm hết tết đến, nhìn lên bàn thờ tổ tiên lại thấy chiếc bánh dầy tròn đầy một màu trắng thuần khiết, được đặt lên trên chiếc bánh chưng vuông với màu lá dong xanh mượt, buộc bằng bốn sợi lạc (lạt) hồng. Đó là tất cả ý nghĩa bản căn của nền lý học cổ Đông phương mà tổ tiên người Lạc Việt truyền cho con cháu qua hàng thiên niên kỷ, cho đến tận bây giờ. Để minh họa rõ hơn ý cho rằng Âm Dương - Ngũ hành là một học thuyết xuất hiện đồng thời mà các nhà Lý học Trung Hoa hiện đại đã đặt vấn đề hoài nghi và chưa thể giải quyết; ngoài phần minh chứng qua câu tục ngữ “Mẹ tròn, con vuông” và biểu tượng của nó là bánh Chưng, bánh Dầy, xin được trình bày một trò chơi trẻ em Việt Nam vẫn còn tương đối phổ biến, đó là trò chơi “Ô ăn Quan”. Đối với trẻ em Việt Nam trước thời văn minh phương Tây du nhập để có những trò chơi như: búp bê, bắn bi, hoặc các trò chơi như “Xút xanh”... thì “Ô ăn Quan” là một trò chơi hấp dẫn, truyền từ đời này qua đời khác cho đến tận bây giờ. Trò này được chơi như sau: Trên một hình vẽ gồm 10 ô vuông sắp thành hai hàng trong một hình chữ nhật. hai đầu hình chữ nhật có hai nửa vòng tròn. Có hai người chơi ngồi hai bên, đối xứng theo trục dọc của hình. Mỗi bên có 25 quân chia cho mỗi ô 5 quân. Mỗi nửa vòng tròn trong đó có một quan. Quân có thể là hạt nhãn hoặc hòn sỏi, quan có thể là hạt vải hoặc hòn sỏi to hơn. Đồ hình trò chơi Ô ăn Quan Cách chơi: lần lượt từng người chơi. Mỗi bên khi đi chỉ được phép bốc quân ở một trong năm ô phía bên mình và rải đều mỗi ô một quân theo một chiều nhất định (kể cả ô quan). Khi hết quân trên tay thì bốc tiếp ở ô kế đã rải quân cuối cùng và rải tiếp, cho đến khi ngưng trong những điều kiện sau đây: @ Ô rải quân cuối cùng sát ngay ô quan (nếu ô quan vẫn còn quân hoặc quan trong đó). @ Ô rải quân cuối cùng mà hai ô kế liên tiếp thuận chiều không có quân để bốc. @ Kế ô rải cuối cùng không có quân và ô kế đó có quân thì được lấy hết quân trong ô cách ô trống ra ngoài, kể cả đó là ô quan. Hai trường hợp trên gọi là “Chựng” và phải nhường cho người kia đi. Trường hợp cuối gọi là “Ăn” và sau đó cũng đến lượt người kia đi. Một điều đáng lưu ý ở trò chơi này là: mặc dù cả hai bên đều còn quân để đi, nhưng ô quan không còn quân (đã rải vào trong quá trình chơi) hoặc quan thì trò chơi vẫn bị ngưng lại. Người chơi hô: “Hết quan, toàn dân kéo về!”. Người nào ăn và còn nhiều quân nhất thì thắng. Theo cái nhìn của người viết thì hình ảnh và cách chơi “Ô ăn Quan” đã thể hiện sự liên quan chặt chẽ của Âm Dương Ngũ hành: @ Hai quan nằm trong ô tròn biểu tượng hình và tướng của Âm Dương. @ Mười ô vuông biểu tượng Ngũ hành (năm Âm Ngũ hành và năm Dương Ngũ hành). @ Sự vận động của năm quân trong ô biểu tượng cho sự vận động của Ngũ hành. Trong suốt quá trình chơi là thể hiện sự tiêu trưởng sinh khắc của Âm Dương Ngũ hành. @ Trong lúc chơi, khi không còn quân ở hai ô quan (tức là hông có Âm Dương) thì trò chơi bị ngưng. Nghĩa là: không có Âm Dương thì cũng không có sự vận động của Ngũ hành. Phải chăng, trò chơi này nếu không do sự ngẫu nhiên trùng hợp với nguyên lý của Âm Dương Ngũ hành, thì chính là do ông cha ta đã đặt ra để lưu truyền trong đời qua thế hệ mầm non một ý niệm về Âm Dương Ngũ hành và sự diễn biến, liên hệ chặt chẽ của nó: Âm Dương có trước, Ngũ hành có sau và là một hệ tư tưởng thống nhất hoàn chỉnh, với hy vọng sau này cùng với bánh Chưng, bánh Dầy sẽ chứng tỏ được nền văn minh kỳ vĩ của tổ tiên. Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một hệ thống Lý học hoàn chỉnh về vũ trụ quan của người Việt được phát triển và ứng dụng vào nhiều mặt của tự nhiên, xã hội và con người: trên xét thiên văn, dưới xem địa lý, làm lịch pháp, luận đoán cát hung, y lý Đông phương và ứng dụng vào cả việc cân bằng sự phát triển, ổn định xã hội (xin xem phần: “Cửu trù Hồng phạm - bản hiến pháp cổ nhất của người Lạc Việt”, ở phần sau). Đến thời Hùng Vương thứ VI, thuyết Âm Dương Ngũ hành đã được biểu tượng hóa một cách độc đáo trong chiếc bánh chưng, bánh dầy thể hiện Âm Dương hài hòa, Ngũ hành tương sinh. Sự ấn chứng của vua Hùng chứng tỏ thuyết Âm Dương Ngũ hành là hệ thống tư tưởng vũ trụ quan chính thống của nền văn minh Văn Lang. Các học giả của thế giới hiện đại trên nhiều lãnh vực khoa học đã dày công nghiên cứu thuyết Âm Dương Ngũ hành và đã phát hiện nhiều điểm tương đồng với khoa học hiện đại. Mặc dù họ chưa có một kết luận về tính khoa học của thuyết này, nhưng cũng chưa khám phá hết sự kỳ ảo của nó. Nhưng với phạm trù rộng lớn và qui mô ứng dụng trên khắp mọi lĩnh vực của học thuyết này, đã chứng tỏ: Thời Hùng Vương không thể chỉ tồn tại khoảng 300 năm và là một thời kỳ được coi là chưa văn minh lắm so với các quốc gia đương thời. Và cũng không thể kể từ khi bắt đầu hình thành xã hội Văn Lang cho đến khi chiếc bánh chưng, bánh dầy được tôn vinh vào thời Hùng Vương thứ VI mới khoảng 100 năm (tức khoảng 4 thế hệ, theo quan điểm mới) – mà một xã hội lạc hậu hoang sơ, có thể phát minh ra một học thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh cùng với sự ứng dụng rộng rãi của nó. Sự tồn tại và phát triển của một học thuyết vũ trụ quan cổ đại với qui mô to lớn là thuyết Âm Dương Ngũ hành trong một xã hội của người Lạc Việt, tổ tiên của người Việt Nam hiện nay. Học thuyết này có tham vọng lý giải từ sự hình thành vũ trụ cho đến mọi sự vận động của con người. Mặc dù những thăng trầm của lịch sử đã khiến nó bị thất truyền, nhưng sự vi diệu sâu sắc qua những gì còn lại của nó đã làm kinh ngạc tri thức con người hiện đại. Điều này chỉ có thể giải thích một cách hợp lý là: Đã có một nhà nước với một tổ chức chặt chẽ của cộng đồng người Lạc Việt như truyền thuyết đã nói tới. Đó chính là nhà nước Văn Lang, dưới thời trị vì của các vua Hùng. “Chơi Ô ăn Quan” Bức danh họa của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh sáng tác năm 1931 Thiếu nhi vẽ tranh về trò chơi Ô ăn quan
-
Mancala châu Phi Một bàn chơi Mancala châu Phi Loại trò chơi Mancala phổ biến ở châu Phi và cũng được biết đến ở nhiều nơi khác trên thế giới với những biến thể, tên gọi (theo cách gọi của người phương Tây) khác nhau như Kalah, Oware, Ơmweso, Bao,...[3]Mancala khác Ô ăn quan ở một số điểm chính sau: Bàn chơi thường có 12 ô (hay được khoét thành những lỗ), mỗi người chơi kiểm soát 6 ô gọi là nhà, ngoài ra có thể có 2 ô lớn hơn gọi là kho. Kho có thể chỉ được dùng để chứa hạt giống đã bị người chơi ăn chứ không phải để đặt quân vào trong lượt đi do đó không nhất thiết phải có. Trong một số biến thể, bàn chơi có 24 ô, chia làm 4 hàng 6 ô, mỗi người chơi kiểm soát hai hàng, tổng cộng 12 ô ở phía bên mình. Không có quân tương tự như quan mà chỉ có một loại quân gọi là hạt giống. Số lượng hạt giống ở mỗi ô khi chuẩn bị chơi có thể là 3 hoặc 4. Khi đến lượt, người chơi cũng dùng những quân ở ô bất kỳ thuộc quyền kiểm soát của mình để di chuyển (gieo hạt) nhưng chỉ di chuyển ngược chiều kim đồng hồ chứ không phải theo chiều tuỳ ý. Thể thức ăn quân không phải yêu cầu cách một ô trống mà phụ thuộc số lượng hạt giống ở các ô mà những hạt giống cuối cùng trong lần gieo hạt đặt vào. Mancala ở các nước châu Á khác Cũng được người phương Tây xếp vào loại Mancala là trò chơi có những tên gọi khác nhau tuỳ từng quốc gia như Congklak, Tchonka, Naranj, Dakon, Sungka. Trò này được chơi ở Indonesia, Singapore, Malaysia, Philippines, miền Nam Thái Lan, Sri Lanka, Maldives...[4] Nó khác Ô ăn quan ở những điểm chính dưới đây: Bàn chơi có 14 ô, mỗi người chơi kiểm soát 7 ô ở phía bên mình, không có ô như ô quan. Không có quân tương tự như quan mà chỉ có 98 quân khi chuẩn bị đặt ở mỗi ô 7 quân. Khi đến lượt, người chơi cũng dùng những quân ở ô bất kỳ thuộc quyền kiểm soát của mình để rải vào từng ô, mỗi ô 1 quân nhưng chỉ di chuyển theo chiều kim đồng hồ chứ không phải theo chiều tuỳ ý. Thể thức ăn quân: nếu quân cuối cùng trong lượt rải rơi vào ô trống thuộc quyền kiểm soát của mình thì người đi mới có thể ăn được quân. Ô bị ăn là ô đối diện phía đối phương, người chơi được ăn tất cả số quân đang có trong ô đó, đương nhiên nếu là ô trống thì số lượng quân ăn được là 0.