-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
Bí ẩn ở hòn đảo trường thọ duy nhất trên trái đất Thứ sáu 18/01/2013 13:32 Có một hòn đảo thần tiên với cuộc sống bình dị và trong lành. Đặc biệt trên hòn đảo đó, người dân sống rất trường thọ, dù tuổi cao họ vẫn rất yêu đời và hăng say lao động. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn khám phá đời sống tinh thần cực kỳ độc đáo của cư dân trên hòn đảo Ikaria, hay còn được mệnh danh là đảo Trường thọ duy nhất trên trái đất, nơi con người sống gần gũi với thiên nhiên một cách tuyệt đối. Cư dân trên hòn đảo nhỏ bé nằm ở đất nước Hy Lạp này luôn tự hào bởi họ có tuổi thọ trung bình dài hơn 10 năm so với thế giới. Bí quyết nào tạo nên đời sống trường thọ cho những cư dân hiền lành trên hòn đảo Ikaria? Có thể là bầu không khí trong lành, dân cư tốt tính và thích kiểu sống hoạt động ngoài trời. Còn gì nữa? Có thể là nguồn rau củ quả tươi và sữa dê mát lành do địa hình núi non đã làm tăng tuổi thọ cho cư dân địa phương? Nó có thể là yếu tố bức xạ từ đá granite? Song tất cả mọi thứ đều chưa thật chính xác. Khắp mọi nơi ở Ikaria, dù là người dân sống trên triền núi hoặc dưới đất bằng thì chất lượng cuộc sống cũng đều như nhau. Đảo Ikaria. Rượu vang tinh khiết – Bí quyết trường thọ? Cụ ông Stamatis Moraitis khẳng định mình biết bí quyết trường thọ của dân làng Ikaria ở đâu. Nhâm nhi ly vang trong một buổi sáng dịu êm, cụ Moraitis khẳng định: “Bí quyết nằm ở rượu vang! Vang ở đây trong suốt tinh khiết, không lẫn bất cứ một tạp chất nào. Chính thứ vang này khiến chúng tôi khỏe và minh mẫn hơn”. Cụ Stamatis Moraitis vừa kỷ niệm sinh nhật 98 tuổi của mình hôm đón năm mới 2013. Bên ngoài căn nhà với vách tường sơn trắng tinh của mình, cụ Moraitis đã trồng nhiều cây ôliu, cây ăn quả và dây nho. Cụ khoe mình sản xuất khoảng 700 lít rượu vang mỗi năm. Uống rượu vang vào những buổi gặp gỡ với bạn bè và gia đình đã giúp cụ Stamatis Moraitis trở thành một hình mẫu sinh động cho tuổi già khỏe khoắn của dân làng Ikaria. Chế độ ăn uống, dinh dưỡng kỳ thú Thực ra có nhiều câu chuyện về những người đã hồi sinh từ cõi chết khi đến sống ở đảo Ikaria. Một số là các câu chuyện hư cấu, nhưng trong những năm gần đây, các nhà khoa học và bác sĩ đã tìm đường đến đảo Ikaria để tìm kiếm câu chuyện trường thọ thực sự về hòn đảo huyền thoại này. Theo thần thoại Hy Lạp, Ikaria đặt theo tên của thần Icarus, người đã rơi xuống vùng biển gần hòn đảo Ikaria trong lúc bay quá gần mặt trời khiến đôi cánh bị tan chảy thành nước. Trong suốt nhiều thế kỷ, đảo Ikaria đã trở thành một thánh địa chữa bệnh vì trên đảo có nhiều suối khoáng nóng thiên nhiên có tác dụng nâng cao sức khỏe rất hiệu quả. Gần đây hơn, hòn đảo này đã được xác định như là một trong số ít các “vùng xanh” bởi tác giả Dan Buettner và Hội Địa lý quốc gia Mỹ, nơi cư dân sống một đời sống thanh bình, tuổi thọ cao nhất. Một cuộc nghiên cứu toàn diện nhất trên đảo Ikaria đã được thực hiện bởi Đại học Athens (Hy Lạp). Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về đời sống của cư dân hòn đảo có tuổi thọ trên 65. Tính trung bình, 8.000 cư dân Ikaria sống lâu hơn 10 năm tuổi so với phần còn lại của châu Âu và sức khỏe viên mãn đến khi nhắm mắt xuôi tay. Có những nhân tố đáng quan trọng về cách sống của người Ikaria đóng góp nhiều vào sự trường thọ của họ. Thậm chí so với kiểu ăn uống của vùng Địa Trung Hải, người dân đảo Ikaria ăn khá nhiều cá và các loại rau củ quả, đặc biệt tiêu thụ rất ít thịt động vật. Kết quả nghiên cứu của Đại học Athens đã chỉ ra rằng, cứ 10 người cao tuổi ở Ikaria thì có 6 cụ vẫn còn hoạt động thể chất trong khi ở các nơi khác tỷ lệ người cao tuổi lao động chỉ là 20%. Phần lớn thực phẩm được nấu chín trong dầu ôliu. Người dân đảo Ikaria chủ yếu trồng các loại rau xanh và cây thảo mộc ven các sườn đồi, chúng sẽ được sử dụng để chế biến ra các món ăn hằng ngày cũng như dùng làm nguyên liệu để điều chế ra các bài thuốc trị bệnh với khả năng chữa khỏi cực cao. Nhiều người cao tuổi trong cộng đồng Ikaria còn tỉ mẩn ủ các loại trà núi được làm từ các loài cây thảo mộc phơi khô như cây xô thơm, húng chanh, bạc hà và hoa cúc. Chất làm ngọt cho các món ăn chủ yếu là mật ong được nuôi ngay trên vườn nhà của các hộ gia đình. Cụ Stamatis Moraitis quả quyết nói: “Dược thảo chữa bá bệnh”. Đúng vậy, nhiều loài cây thảo mộc hoang dại được con người trên khắp thế giới sử dụng như là dược thảo chữa bệnh trong suốt hàng ngàn năm qua. Trong thành phần của dược thảo có chứa nhiều chất chống ôxy hóa cũng như có khả năng lợi tiểu, làm hạ huyết áp rất tốt. Cụ Stamatis Moraitis đang thu hoạch quả ô liu trong vườn nhà mình. Tránh xa thực phẩm hiện đại và thuốc lá Các nhà nghiên cứu cho rằng, các yếu tố đời sống khác cũng rất quan trọng. Tỷ lệ người hút thuốc lá đặc biệt thấp, người dân đảo có thói quen dù làm gì cũng phải chợp mắt một giấc ngắn vào buổi trưa, nhịp điệu sống chậm rãi, người dân luôn trò chuyện với bạn bè và gia đình của mình, họ cũng uống một lượng rượu vang vừa phải. Tất cả các gia đình đều xem trọng vai trò của người lớn tuổi, người lớn tuổi được kính trọng trong xã hội. Mức độ trầm cảm và mất trí khá thấp. TS.Christina Chrysohoou, một chuyên gia tim mạch tại Đại học Athens, người đã có nhiều năm nghiên cứu về người dân đảo Ikaria, người dân hòn đảo này hầu như rất hiếm khi mắc các chứng bệnh như ung thư và các trục trặc về tim mạch và chỉ mắc bệnh khi về già. TS.Christina Chrysohoou nói: “Cư dân Ikaria cung cấp cho chúng ta một cơ hội để nghiên cứu rằng tại sao họ lại có những điểm lợi cho sức khỏe của mình trong khi chúng ta lại không thể tránh những căn bệnh này, nhưng kinh ngạc là người Ikaria đã quản lý chất lượng sống của họ khá tốt, thậm chí xuyên suốt nhiều năm dài. Điều đó có nghĩa là độ tuổi mắc bệnh tim mạch là từ 55 - 60 tuổi. Người Ikaria sống thọ hơn người bình thường tới những 10 năm”. Có hay không vì các yếu tố bức xạ khá thấp hơn các nơi khác nên tỷ lệ dân cư mắc bệnh ung thư ở đảo Ikaria hầu như không đáng kể. Ngoài ra, nghiên cứu về di truyền so sánh giữa dân đảo Ikaria với dân cư các nơi khác cũng cho ra những kết quả rất đáng quan tâm, có liên quan đến kiểu sống khác nhau. Những cư dân cao tuổi của đảo Ikaria lại là người rất phàm ăn. Bàn ăn của họ luôn ngồn ngộn các loại sơn hào hải vị đặc trưng của đảo. Cụ Kassiotis,- 102 tuổi nói về bí quyết sống thọ của mình: “Tôi không ăn thực phẩm chế biến sẵn, không hút thuốc lá và không bao giờ bị trầm cảm. Tôi chẳng mảy may lo lắng đến cái chết. Những ngày sống yên vui trên trần thế là hạnh phúc nhất cuộc đời tôi”. Theo Sức khỏe đời sống
-
Bí ẩn một vùng đất trường thọ 05/04/2013 2:11 Chiều Cộng đồng Ba Mã có khoảng 250.000 người sinh sống, trong đó, 81 người đã sống được hơn 1 thế kỷ. Vùng đất không có người ung thư? Trong lịch sử, có rất nhiều người đã cố gắng tìm ra bí quyết giúp họ có thể trường sinh bất lão hoặc ít nhất là sống một cuộc đời dài lâu, khoẻ mạnh. Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng, đã yêu cầu các học giả chế ra thuốc trường thọ và cử người ra biển Bột Hải để tìm phương thuốc bí truyền. Không ai quay trở về và vị hoàng đế này đã qua đời ở tuổi 49. Tuy nhiên, nếu mục đích của ông chỉ đơn giản là sống thọ hơn thì Tần Thủy Hoàng có thể mở rộng phạm vi tìm kiếm xuống phía Nam, nay là cộng đồng Ba Mã (Bama), tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc nằm ngay gần biên giới Việt Nam. Mặc dù, kinh tế và cơ sở y tế của nơi này không tân tiến nhưng đây là một trong những khu vực có mật độ người sống trên 100 tuổi cao nhất thế giới. Cộng đồng Ba Mã có khoảng 250.000 người sinh sống, trong đó, 81 người đã sống được hơn 1 thế kỷ. Nước sông của vùng này được cho là tinh khiết đến độ người ta thường uống mà không cần lọc hoặc xử lí. Stan Sesser, phóng viên của Wall Street Journal từng uống loại nước này khi dùng bữa trưa tại đó. Sesser cho biết, hương vị của nước khá ổn và không gây đau bụng. Người dân Ba Mã thường nhắc tới những cụm từ như “ít kiềm”, “từ trường” khi nói về đất và nước ở nơi này. Ông Lin, một du khách Đài Loan cho rằng, “thịt ở Ba Mã rất khác biệt” vì vật nuôi uống nước và ăn cỏ trong vùng. “Mọi người ở đây ăn thịt mỡ mà họ vẫn gầy. Bạn sẽ chẳng thấy có ai bị ung thư bao giờ”. Một làng thuộc cộng đồng Ba Mã Nơi được đất trời phù hộ Người dân địa phương chủ yếu ăn cơm với rau (rau dại trong vùng hoặc cháo ngô). Thi thoảng, họ nấu nướng với dầu gai hoặc dùng dầu này để nấu canh. Không ai coi công việc chân tay là một điều khốn khổ. Đó là cuộc sống của họ. Họ làm ruộng cho đến khi cơ thể trở nên già yếu và thường tới hang động gần đó, nơi được coi là có mật độ ion âm trong không khí rất cao. Nghiên cứu gần đây của các trường đại học ở Quảng Tây đã phát hiện ra rằng, cộng đồng Ba Mã sinh sống ở khu vực có từ trường mạnh, giúp tăng cường lưu thông máu, miễn dịch và cải thiện giấc ngủ. Cụ bà 103 tuổi người Ba Mã dệt vải Ngoài ra, việc tập thể dục là việc không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của người dân. Ông Huang Buxin sống ở bên sườn núi. Mỗi ngày ông đều tự xuống núi rồi lại đi lên. Bây giờ, ông Huang đang ở tuổi 112. Theo ông, chìa khóa để có cuộc sống trường thọ là: “Sống cuộc đời của bạn và đừng suy nghĩ quá nhiều”. Đó không phải là cách sống của riêng ông Huang. Mọi người dân ở Ba Mã đều hướng tới cuộc sống đơn giản, dễ chịu. Ở nơi này, chẳng mấy khi người ta cãi cọ nhau. Sự nổi tiếng của Ba Mã đã thu hút một lượng lớn khách du lịch. Tuy nhiên, họ không chỉ tới để thăm thú cảnh sắc thiên nhiên mà đa phần tìm đến để mong sức khoẻ của mình được cải thiện. Ông Li Shangzhi, 68 tuổi cùng vợ ở tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc đã sống ở Ba Mã được vài tuần với hi vọng chứng huyết áp của mình thuyên giảm. “Tôi định sống ở đây 3 tháng”, ông Li nói, “Tôi không biết là bệnh liệu có chữa được không nhưng rõ ràng là sống ở vùng núi và hít thở không khí trong lành thì rất tốt cho sức khoẻ”. Cụ Luo Meizhen, 125 tuổi vẫn minh mẫn, tinh anh, tự làm nhiều việc trong gia đình Frank Lin, thợ dệt vải từ Đài Loan, hiện đang sống ở một khách sạn tại Poyue. Ông chỉ phải trả 10USD tiền phòng kèm 3 bữa ăn một ngày. Ông Lin từng tới du lịch nơi này và vì quá thích thú nên đã quyết định quay trở lại sống một thời gian. Sau 30 năm hút thuốc, ông Lin đã có thể cai được: “Khi mọi người thử cai thuốc, họ sẽ thấy khó chịu và lúc nào cũng nghĩ đến nó. Nhưng ở đây tôi chẳng có cảm giác gì cả. Ba Mã thực sự là nơi được đất trời phù hộ”. Phương Thanh Theo Kiến Thức Nguồn: Xinhua, Wall Street Journal
-
@ đông tà, Tôi thì không rành về xem xoáy để đoán tử vi, nhưng theo tôi được biết xoáy trên đầu là dấu chỉ của nơi tiếp thu năng lượng môi trường hay vũ trụ. Nếu ai có 3 xoáy thì, có thể, theo tôi đoán là 2 xoáy sau và 1 xoáy trước ngay mỏ át. Thiên Đồng
-
Thiên Đồng
-
Thiên Đồng
-
Âm Dương, Ngũ Hành, Vị Trí Bát Quái Trong Kinh Dịch (Nhàn Đàm)
Thiên Đồng replied to Thiên Địa Nhân's topic in Mạn Đàm
Xin đặt câu hỏi với thiendianhan là bạn có hiểu bản chất bát quái, kể cả Tiên Thiên và Hậu thiên, mô tả điều gì trong lý thuyết âm dương ngủ hành? Hơn nữa có ý nghĩa gì? Sự thay đổi cấu trúc mà bạn đề ra, nó, có thể giải thích mọi vấn đề liên quan của lý thuyết âm dương ngủ hành hay không? Thiên Đồng -
Video Bể Cá Dưới Gầm cầu thang Tránh âm khí bế http-~~-//www.youtube.com/watch?v=JCnCwhvARkw
-
Video Thiên Quang Tỉnh Đoạn phim quay Thiên Quang tỉnh nhà Sư Phụ Thiên Sứ. http-~~-//www.youtube.com/watch?v=_Qx-Y1zEQGY
-
Thánh kinh dạy cách ăn thịt sạch Tài Liệu Chúng ta có biết vì sao mà Chúa lại dạy phân biệt giữa con vật sạch và không sạch? Vậy, tìm cách nào để hiểu được điều này đây ? Nó có liên quan gì đến vấn đề sức khỏe con người không? Ý kiến các nhà khoa học. Cần qua nhiều điều, như: - cách ăn uống bình thường, - cách cấu tạo gen, môi trường sống, - cách tập thể thao, - Cách sống tốt hay xấu đều có ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta. Cho nên các nhà thần học hay các nhà nghiên cứu y học đều cho ta thấy: ích lợi của các luật lệ về sức khỏe nêu lên trong Kinh Thánh. Nói về sự dạy dỗ trong Lêvi 11 –15, quyển The Expositors Bible Commentary cho biết: "Nhìn chung, có thể nói rằng các luật đó, đã bảo vệ dân Do Thái tránh khỏi : - ăn uống có hại, - loại sâu bọ có hại, và - các bệnh tật truyền nhiễm …"ra khỏi thân thể ta. Lê vi, Chương 11 III. LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN CÁI THANH SẠCH VÀ CÁI Ô UẾ Loài vật thanh sạch và loài vật ô uế 1 ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron và bảo các ông rằng: 2 "Hãy nói với con cái Ít-ra-en: Trong tất cả các loài vật sống trên đất, đây là những loài các ngươi được ăn: 3 Mọi con vật có chân chẻ làm hai móng và thuộc loài nhai lại, thì các ngươi được ăn.4 Tuy nhiên, trong các loài nhai lại và các loài có móng chẻ hai, các ngươi không được ăn các con này: con lạc đà, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: các ngươi phải coi nó là loài ô uế; 5 con ngân thử, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: các ngươi phải coi nó là loài ô uế;6 con thỏ rừng, vì nó nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: các ngươi phải coi nó là ô uế;7 con heo, vì nó có chân chẻ làm hai móng, nhưng không nhai lại: các ngươi phải coi nó là loài ô uế.8 Thịt của chúng, các ngươi không được ăn, xác chết của chúng, các ngươi không được đụng đến; các ngươi phải coi chúng là loài ô uế. 9 Trong tất cả các loài sống dưới nước, đây là những loài các ngươi được ăn: 10 Còn tất cả những loài không có vây, không có vảy, ở sông hay ở biển, trong số mọi vật nhỏ sống dưới nước và mọi sinh vật sống dưới nước, thì các ngươi phải coi chúng là loài kinh tởm.11 Các ngươi phải coi chúng là loài kinh tởm: thịt của chúng, các ngươi không được ăn, xác chết của chúng, các ngươi phải coi là vật kinh tởm.12 Tất cả những loài sống dưới nước mà không có vây, không có vảy, các ngươi phải coi là loài kinh tởm. 13 Trong các loài chim, đây là những loài các ngươi phải coi là kinh tởm: người ta không được ăn, vì là loài kinh tởm: đại bàng, diều hâu, ó biển, 14 diều hâu đen, mọi thứ kền kền, 15 mọi thứ quạ,16 đà điểu, cú, mòng biển, mọi thứ bồ cắt, 17 cú vọ, cóc, cú mèo, 18 chim lợn, bồ nông, ó, 19 cò, mọi thứ diệc, chim đầu rìu và dơi. 20 Mọi loài vật nhỏ có cánh đi bằng bốn chân, các ngươi phải coi là loài kinh tởm. 21 Trong các loài vật nhỏ có cánh đi bằng bốn chân, các ngươi chỉ được ăn những thứ sau đây: những con ngoài chân ra có thêm càng để nhảy trên đất. 22 Trong số những loài đó, đây là những loài các ngươi được ăn: mọi thứ cào cào, mọi thứ châu chấu, mọi thứ muỗm, mọi thứ dế. 23 Nhưng mọi vật nhỏ có cánh mà có bốn chân, các ngươi phải coi là loài kinh tởm. Đụng vào loài vật ô uế 24 Vì các vật ấy, các ngươi sẽ ra ô uế: ai đụng vào xác chết của chúng, sẽ ra ô uế cho đến chiều,25 bất cứ ai mang xác chết của chúng, thì phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều.26 Mọi con vật không có chân chẻ làm hai móng và không nhai lại, các ngươi phải coi là loài ô uế: bất cứ ai đụng vào chúng, sẽ ra ô uế. 27 Trong số các loài vật đi bằng bốn chân, tất cả các con đi bằng bàn chân, các ngươi phải coi là loài ô uế; bất cứ ai đụng vào chúng, sẽ ra ô uế cho đến chiều.28 Bất cứ ai mang xác chết của chúng, thì phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều; các ngươi phải coi chúng là vật ô uế. Động Vật nhỏ sống trên mặt đất 29 Trong số các loài vật nhỏ lúc nhúc trên mặt đất, các ngươi phải coi những loài này là ô uế: chuột chũi, chuột nhắt, mọi thứ thằn lằn, 30 tắc kè, kỳ đà, cắc ké, kỳ nhông, thạch sùng.( thằng lằng ăn muổi ) Quy định khác về việc đụng vào vật ô uế 31 Trong số mọi loài vật nhỏ, các ngươi phải coi những loài trên là ô uế. Bất cứ ai đụng đến chúng khi chúng đã chết, thì sẽ ra ô uế cho đến chiều. 32 Trong những con vật đó, con nào chết mà rơi trên bất cứ vật gì, thì vật ấy sẽ ra ô uế, dù là đồ dùng bằng gỗ, quần áo, da, bị, mọi đồ dùng để làm một công việc gì; phải nhúng vật ấy vào nước, nó sẽ ra ô uế cho đến chiều, rồi sẽ được thanh sạch. 33 Nếu một con vật rơi vào trong bất cứ bình sành nào, thì tất cả những gì trong đó sẽ ra ô uế, và các ngươi phải đập vỡ bình ấy.34 Mọi thứ người ta ăn, nếu bị nước bình ấy đổ lên trên, thì sẽ ra ô uế; mọi thứ người ta uống, đựng trong bất cứ bình nào nói trên, sẽ ra ô uế.35 Một xác chết của chúng mà rơi trên bất cứ vật gì, thì vật ấy sẽ ra ô uế; lò và bếp sẽ phải phá đi: các vật ấy là ô uế và các ngươi phải coi là những vật ô uế.36 Tuy nhiên suối và hầm nước thì khối nước vẫn thanh sạch, nhưng ai đụng đến xác chết của chúng, sẽ ra ô uế.37 Nếu một xác chết của chúng rơi trên hạt giống để gieo, thì hạt giống vẫn thanh sạch;38 nhưng nếu đã đổ nước vào hạt giống, mà một xác chết của chúng rơi trên đó, thì các ngươi phải coi hạt giống đó là ô uế. 39 Nếu một con vật làm đồ ăn cho các ngươi mà chết, thì ai đụng vào xác chết của nó, sẽ ra ô uế cho đến chiều;40 ai ăn thịt xác chết của nó, sẽ phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều; ai mang xác chết của nó, sẽ phải giặt quần áo và sẽ ra ô uế cho đến chiều. 41 Mọi loài vật nhỏ lúc nhúc trên mặt đất là vật kinh tởm, không được ăn. 42 Mọi con vật bò bằng bụng, mọi thứ đi bằng bốn chân hay nhiều chân hơn, tóm lại mọi loài vật lúc nhúc trên mặt đất, các ngươi không được ăn, vì chúng là vật kinh tởm. 43 Các ngươi đừng làm cho chính mình ra kinh tởm vì mọi loài vật nhỏ lúc nhúc, các ngươi đừng làm cho mình ra ô uế vì chúng: các ngươi sẽ ra ô uế vì chúng.44 Thật vậy, Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi; các ngươi phải nên thánh và phải thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh; các ngươi đừng làm cho chính mình ra ô uế vì mọi loài vật nhỏ bò trên đất.45 Thật vậy, Ta là ĐỨC CHÚA, Đấng đã đưa các ngươi từ đất Ai-cập lên, để Ta làm Thiên Chúa của các ngươi; vậy các ngươi phải thánh thiện vì Ta là Đấng Thánh." Kết luận 46 Đó là luật về loài vật, chim chóc, mọi sinh vật vẫy vùng dưới nước và mọi sinh vật lúc nhúc trên mặt đất,47 để phân biệt vật ô uế với vật thanh sạch, loài vật được ăn với loài vật không được ăn. Ý kiến của các bác sĩ y khoa. Liệu những luật lệ về sức khỏe của Kinh Thánh dựa trên căn bản nào liên quan đến yếu tố khoa học không ? S.I.McMillen, M.D. và David E.Stern, M.D. , cho biết: "Thiên Chúa đã truyền cho Môise nhiều luật lệ về sức khỏe, … Môise đã ghi lại hàng trăm điều luật về sức khỏe nhưng không hề có một điều nào mà theo quan điểm của khoa học ngày nay lại cho thấy đó là sai lầm cả." "Hàng ngàn người đã chết qua các thời đại, tuy nhiên, đó cũng bởi vì các thầy thuốccác thời đó đã không để ý đến những luật lệ của Kinh Thánh. Cuối cùng, khi các bác sĩ đã đọc và xét nghiệm những điều dạy dỗ này, họ đã nhanh chóng khám phá ra được những phương cách làm thế nào để ngăn ngừa sự lan tràn các nguồn gốc truyền nhiễm này. Vì thế, Môisen có thể được gọi là ông tổ của các phương pháp ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm trùng thời đại này. Ngay cả đến ngày hôm nay chúng ta vẫn luôn hưởng được nhiều ích lợi quý báu từ sự dạy dỗ của Thiên Chúa từ 3500 năm trước." (Trích từ quyển: None of these diseases: The Bibles Health Secret for the 21st Century, 2000, p.11). Nhà dinh dưỡng học David Meinz nói rằng, ngay cả lúc chúng ta không thể hiểu hết tất cả các khía cạnh của cách ăn uống vệ sinh mà Kinh Thánh đưa ra, chúng ta cũng phải khôn ngoan vâng giữ theo nữa kìa! "Rất nhiều điều dạy dỗ khôn ngoan từ Kinh Thánh mà ngày nay chúng ta mới hiểu được qua cái nhìn của khoa học ngày nay. Vậy thì phải chăng điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ không nghe theo những gì mà khoa học hôm nay chưa khám phá hay đưa ra bằng chứng? "Chúng ta chỉ vừa mới khám phá về: mỡ có hại cho sức khỏe trong khoảng 50 năm mới đây. Theo cách nhìn của một Kitô hữu từ khoảng một thế kỷ trước, thì sự hướng dẫn trong : Lê-vi:-3: 17 17 Đây là quy tắc vĩnh viễn cho các thế hệ của các ngươi, tại khắp nơi các ngươi ở: tất cả những gì là mỡ và huyết, các ngươi không được ăn. Theo cách nhìn của một Kitô hữu từ khoảng một thế kỷ trước, thì sự hướng dẫn trong: lêvi 3:17 về việc tránh ăn mỡ động vật là không có đáng để ý gì về sức khỏe cả. Còn, cho đến nay thì điều ấy thật rõ ràng.Chúng ta thử nghỉ xem nhé: Sẽ xảy ra chuyện gì nếu ta cứ tiếp tục ăn tôm hùm có chất độc gây nguy hại cho sức khỏe của chúng ta? Hay nếu như chúng ta đã không khám phá ra điều này trong vòng 50 năm bây giờ đây? Phải chăng chúng ta đòi hỏi bằng chứng khoa học trước đã, rồi mới chịu tin vào Kinh Thánh? mà dẹp ngay cái nghi ngờ đi thôi ?" "Danh sách những loài động vật sạch và không sạch có trong Lêvi 11 và ĐNL 14 có một ý nghĩa quan trọng nhưng thường hay bị bỏ qua. Một sự thật chưa khám phá được mãi cho tới cuối thế kỷ XIX (19): 3 Anh (em) không được ăn cái gì ghê tởm.4 Đây là những loài vật anh (em) được ăn: bò, cừu, dê,5 nai, sơn dương, hoẵng, dê rừng, linh dương, dê sừng dài, cừu rừng. 6 Mọi con vật có chân chẻ làm hai móng và thuộc loài nhai lại, thì anh (em) được ăn.7 Tuy nhiên, trong các loài nhai lại và các loài có móng chẻ hai, anh em không được ăn các con này: con lạc đà, con thỏ rừng, con ngân thử -vì chúng nhai lại, nhưng không có móng chẻ hai: anh em phải coi chúng là loài ô uế : 8 con heo, vì nó có móng chẻ hai, nhưng không nhai lại: anh em phải coi nó là loài ô uế. Thịt của chúng, anh em không được ăn, xác chết của chúng, anh em không được đụng đến. 9 Trong tất cả các loài sống dưới nước, đây là những loài anh em được ăn: những loài có vây và có vảy, thì anh em được ăn.10 Còn tất cả những loài không có vây không có vảy, thì anh em không được ăn: anh em phải coi chúng là loài ô uế. 11 Mọi loài chim thanh sạch, anh em được ăn.12 Đây là những loài chim anh em không được ăn: đại bàng, diều hâu, ó biển,13 diều mướp, kền kền, mọi thứ diều hâu,14 mọi thứ quạ,15 đà điểu, cú, mòng biển, mọi thứ bồ cắt,16 cú vọ, cú mèo, chim lợn,17 bồ nông, ó, cốc,18 cò, mọi thứ diệc, chim đầu rìu và dơi. 19 Mọi côn trùng có cánh, anh em phải coi là loài ô uế, anh em không được ăn. 20 Mọi loài có cánh mà thanh sạch, anh em được ăn. 21 Anh em không được ăn mọi con vật chết, mà hãy cho ngoại kiều ở trong các thành của anh (em) để họ ăn, hoặc hãy bán cho người nước ngoài, vì anh (em) là một dân thánh hiến cho ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em). Anh (em) không được lấy sữa dê mẹ mà nấu thịt dê con. --"Súc vật mang rất nhiều mầm bệnh nguy hiểm cho con người" "(Theo Cherry, pp.27,30,30). Rủi ro về sức khỏe của con người ư? Tiến sĩ Russel viết: "Vùng đất mà những loài động vật thanh sạch cư trú là nơi mà chúng ăn cỏ, lúa thóc… Còn hầu hết tất cả những động vật không sạch là những loài thú, chim… tìm bới thức ăn thối rữa hay rác… Trong vài trường hợp, các loài này không bắt mồi để ăn mà chúng ăn xác động vật chết để làm sạch môi trường. Con cá trê làm việc đó ở nơi đáy các ao hồ. Các loại tôm hùm hay tôm nhỏ…thì cũng làm việc đó ở biển. Con heo thì có thể ăn bất cứ loại thức ăn gì. Và các loài kên kên thì có thói quen tìm bới thức ăn thối rữa…" "Những khác biệt giữa động vật thanh sạch và không thanh sạch là ở nguồn thức ăn và bộ máy tiêu hóa của chúng. Những loài không thanh sạch ăn những thứ hoàn toàn không phù hợp để làm thức ăn cho con người. Những con vật mà Kinh Thánh liệt kê là thanh sạch thì ăn cỏ và thóc, lúa…" "Tuy nhiên, không phải chỉ những loài ăn xác động vật chết hay những thức ăn thối rữa mới là động vật không thanh sạch. Chẳng hạn như ngựa và thỏ cũng là loài vật không thanh sạch vì chúng không có móng rẽ. Măc dù ở một số nước chúng được xem là những con vật có thể ăn được, nhưng những nghiên cứu cho thấy thịt ngựa thường chứa nhiều loại virus và ký sinh trùng. Thỏ có vẻ như là thanh sạch vì chúng ăn thực vật, nhưng chúng lại là nguồn gây bệnh truyền nhiễm cho con người." "Ở Mỹ, 3 trong số 6 mầm bệnh có tác hại lâu dài cho con người gây ra do hầu hết liên quan đến việc ăn thịt heo. Những bệnh này bao gồm: nhiễm độc toxoplasmosis, bệnh sán sơ-mít, bệnh dòi sán bọc hay sán lợn." "Trận dịch tả lớn nhất xảy ra ở Louisiana, Hoa Kỳ diễn ra từ tháng 8—10 năm 1986(Triệu chứng của bệnh dịch: tiêu chảy, nhanh chóng dẫn tới mất nước, hôn mê và chết.) Vậy họ đã ăn gì? Những thức ăn bị buộc tội gây ra dịch bệnh được tìm thấy gồm: mì và tôm, thịt heo, rau, sò, huyết heo làm đông với giấm ( tựa như Tiết canh) , và bột tôm trộn rau." "Các loài sò, tôm, cua sống ở vùng nước ô nhiễm do vi khuẩn, và chúng sẽ làm sạch nước. Tôm hùm, sò, cua, con điệp… chuyên môn làm sạch nước ô nhiễm này. Chúng có khả năng lọc một dung tích nước rất lớn mỗi ngày. Nước thải ô nhiễm bởi chất độc hóa học, vi khuẩn có hại, ký sinh trùng, virus, đều tập trung trong thịt các loài này." "… Vì những điều này, nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Cơ quan Lập pháp của tiểu bang California ban hành luật yêu cầu ngành công nghiệp thực phẩm phải ghi rõ trên các loại sản phẩm sò, tôm, cua,… cảnh cáo này: "Thực phẩm này có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của bạn." Tại sao hả? Theo thống kê, chỉ trong một năm có, 50 người chết và nhiều người phải nhập viện là do ăn tôm, cua, sò,…" "Những loài động vật không thanh sạch có một nhiệm vụ có ích vô cùng , đó là làm sạch môi trường chúng ở : Heo ăn mọi thứ, làm sạch những thứ thịt bị bỏ và bị ô nhiễm. Chỉ vì Heo ăn rác và nước thải ở Philadenphia hơn 100 năm nay, mà tiết kiệm 3 triệu đô-la mỗi năm cho việc làm sạch thành phố. Cảm tạ Đấng Tạo dựng vì chúng được tạo ra để làm sạch môi trường cho con người … Cá trê đặc biệt chứa chất độc ô nhiễm hóa học. Sau khi tưới rau bằng các loại thuốc hóa học, lượng nước chứa chất hoa học đó chảy vào ao hồ…Khi đó các bác cá trê nhà ta mới làm sạch nước bằng cách hút mạnh các thứ thuốc trừ sâu đó… Còn chú cá trê (catfish ) nuôi riêng để ăn thì sao? Theo thông báo khám nghiệm cá ở các chợ Mỹ cho biết: các loại cá được coi là đã bị ôi( có mùi hôi tanh ) phải bỏ đi khi có lượng vi khuẩn hơn 10 triệu /1g. Vậy mà ở tất cả cá trê (catfish, Basa )đều chứa khoảng 27 triệu vi khuẩn/1g ngay cả khi chúng được nuôi riêng đúng cách." Ngay trong costco cũng bán nhiều đồ ăn từ Việt nam, còn Trung cọng thì khỏi nói. Trong ánh sáng của những sự thật ít khi được đưa ra cách công khai như vừa nêu, chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn và trân quý lời của Thiên Chúa ban cho qua Môise là ngần nào !phải không ? 28 Anh (em) phải giữ và nghe những điều tôi truyền cho anh (em) đây, để anh (em) và con cái anh (em) sau này được hạnh phúc mãi mãi, bởi vì anh (em) đã làm điều ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), coi là tốt lành và ngay thẳng. Đệ Nhị Luật." 12: 28
-
VÌ SAO PHẬT GIÁO SUY TÀN TẠI ẤN ĐỘ D.C. Ahir Trần Ðức Phi Bằng dịch Vì có nhiều người thắc mắc việc Ðạo Phật biến mất trên đất Ấn Ðộ, nơi nó đã ra đời và lớn mạnh đến tuyệt đỉnh. Do đó, chúng tôi xin dịch bài này của tác giả là một người Ấn Ðộ, cũng là một người trưởng thành trong xã hôị Ấn Ðộ Giáo, dưới quan điểm của một học giả hiện đại để cống hiến qúy vị. Sự biến mất của Ðạo Phậtở Ấn Ðộ, nơi nó đã được sinh ra, trưởng thành và đạt đến những thành tựu cao nhất,là một hiện tượng đáng ngạc nhiên và đau lòng. Thế nào và tại sao Ðạo Phật đãkhông tồn tại lâu dài trong những người gần gũi nhất với nó là một vấn đề khóhiểu với nhiều ý kiến bất đồng. Quan điểm chung của các nhà học giả Ấn Ðộ là sựxao lãng và sa đọa trong đời sống Ðạo Ðức và Tâm Linh của giới tu sĩ Phật Giáo,Tăng cũng như Ni. Tuy nhiên nhìn dưới ánh sáng lịch sử, việc cho rằng sự xuốngdốc về đạo đức của hàng ngũ Tăng Già Phật Giáo dường như là chuyện hoang đườngkhông có những bằng chứng xác đáng. Nói như Swami Vivekananda rằng: Phật Giáophải chết, một cái chết tự nhiên trên đất Ấn Ðộ vì những đệ tử của Phật đã từ bỏđấng Thượng Ðế vĩnh hằng ra khỏi đất nước cũng không đúng. Nếu đó là lý do thìtại sao Kỳ Na Giáo đã tồn tại trên đất Ấn khi Mahavira cũng không thừa nhận ThượngÐế là đấng Tối Cao. Tín đồ Kỳ Na Giáo, cũng giống như Phật Giáo, không thừa nhậnthẩm quyền của kinh điển Vệ Ðà. Vì vậy, đó không phải là lý do suy tàn của PhậtGiáo trên đất Ấn. Theo quan điểm của chúng tôi, Phật Giáo đã chết một cái chếtkhông tự nhiên, và những nguyên do đưa đến sự biến mất của nó là những nguyêndo bên ngoài hơn là bên trong. Không chỉ thế, một chiến dịch có hệ thống vàtính toán đã được tiến hành vì quyền lợi ích kỷ của người Bà La Môn Giáo đã đẩyPhật Giáo ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn của nó. Lý do là vì Ðức Phật đã lên ánchế độ giai cấp và nhấn mạnh vào sự bình đẳng của mọi người. Trong khi đó tín đồcủa Bà La Môn bằng mọi cách bảo vệ hệ thống giai cấp để bám lấy những ưu đãi củahọ trong sự phân chia giai cấp đó, nhưng tín đồ Phật Giáo, không giống như tínđồ Kỳ Na Giáo, không chịu thỏa hiệp trên vấn đề nầy. Ðiều nầy đã đưa đến mâuthuẩn. Người Bà La Môn một mặt phát động chiến dịch chống Phật Giáo, ngược đãitín đồ Phật Giáo, một mặt đem những điểm tốt của Phật Giáo vào hệ thống của họđể thuyết phục quần chúng. Những yếu tố ngoại tại, cộng với một vài sai lầm nộibộ đã nhanh chóng làm Phật Giáo suy tàn tại Ấn Ðộ. XUNG ÐỘT GIỮA BÀ LA MÔN VÀ PHẬT GIÁO Trước khi có Phật Giáo, Ấn Ðộ chưa từng biết đến những đạo lývề bình đẳng và tình huynh đệ. Theo Nguyên Nhân Ca(Purusha Suka) của kinh LêCâu Phệ Ðà(Rig Veda), chủng tộc Bà La Môn sinh ra từ miệng, chủng tộc Sát Ðế Lợi(Kshatriya) sinh ra từ tay, chủng tộc Phệ Xá(Vaishya) sinh ra từ đùi, và chủngtộc Thủ Ðà La(Sudra) sinh ra từ bàn chân của Brahma là Thần Sáng Tạo. Xã hộinày đặt nền tảng trên nguồn gốc thần thoại Chaturvarna và được quy định bằngnguyên lý phân biệt giai cấp; giai cấp Bà La Môn được xếp hàng đầu, tiếp đến làgiai cấp Sát Ðế Lợi, Phệ Xà, và Thủ Ðà La là thấp nhất. Quy luật về sự phân biệtgiai cấp cũng quy định những quyền lợi và ưu thế của họ. Ngay cả những hình phạtvề sự phạm tội cũng được đặt trên nền tảng khác biệt giai cấp. Người Bà La Mônsẽ bị hình phạt nhẹ nhất và người thuộc giai cấp Thủ Ðà La sẽ bị hình phạt nặngnhất. Như vậy, toàn bộ cơ cấu xã hội được đặt trên nguyên tắc bất bình đẳng. Ðức Phật đã làm một cuộc cách mạng chống lại những luật lệ xãhội áp bức đó và lên án hệ thống giai cấp. Ngài không thừa nhận nguồn gốc linhthiêng của giai cấp, và chứng minh sự dối trá của giai cấp Bà La Môn khi tuyênbố rằng họ sinh ra từ miệng của Brahma. Ngài bác bỏ lời tuyên bố của người BàLa Môn, họ cho rằng chỉ có họ mới có thể đạt đến những đức hạnh tâm linh, và khẳngđịnh rằng người trong bất kỳ giai cấp, màu da hay tín ngưỡng nào đều có thểphát triển trong tâm họ những đức hạnh đó. Ngài còn đi xa hơn nữa: - Hãy làm cho không còn ai, nam hay nữ, bất kỳ thuộc nền tảngkinh tế xã hội nào, bị cản trở trên con đường đạt đến sự toàn thiện. Ðó là quyềncủa mỗi người, khả năng bên trong của mỗi người, và sự toàn thiện đó có thể đạtđến do sự cố gắng không ngừng của riêng mỗi người, không do sự giúp đỡ của mộttha nhân, thần thánh hay siêu nhiên nào. Ðức Phật còn dạy rằng: Tất cả mọi người đều giống nhau, nếuphân chia họ ra một cách nhân tạo là hành động điên rồ. Trong kinh Vesttha,Ngài nói rằng: Trong đời sống của loài thú có những sự khác biệt dựa trên nhữngđặc tính nền tảng khác nhau. Trong đời sống của các loài cây cỏ cũng vậy. Nhưngkhông có những sự khác biệt như thế trong sự phân loại loài người thành nhữngngăn kín, vì nhân loại là một và có cùng những đặc tính như nhau. Vì vậy, ÐứcPhật khẳng định một cách dứt khoát: Giá trị là đặt nền tảng trên những hành động,chứ không phải trên sự sinh ra, một sự việc vô tình, không phải là thước đo conngười. Ngài cũng bước những bước cụ thể trong việc nhổ tận gốc sự tệ hại củagiai cấp. Những bước đó là: Phơi trần huyền thoại về nguồn gốc thượng đẳng dongười Bà La Môn tuyên bố về họ; khuyến khích giai cấp thấp bằng cách thọ trai tạinhà họ; và chấp nhận những người thuộc giai cấp thấp xuất gia và được coi nganghàng với những người khác trong hàng ngũ Tăng Già. Hô hào các Tỳ Kheo quêngiòng giống giai cấp của họ, một lần Ðức Phật nói: Này các thầy, giống như nhữnggiòng sông, sông Hằng, sông Yamuna, sông Aciravati, sông Sarasvati, và sông Mahikhi chúng đều chảy về biển lớn. Cũng như vậy, này các thầy, bốn giai cấp: Bà LaMôn, Sát Ðế Lỵ, Phệ Xá, và Thủ Ðà La khi họ đi theo giáo pháp và giới luật củaNhư Lai, họ từ bỏ những khác biệt của giai cấp và sắp hạng, và trở thành nhữngphần tử của một khối duy nhất và đồng nhau. Ở Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch, người Bà La Môngiáo tìm sự cứu rổi và giải thoát bằng những tế lễ hy sinh, người theo đạo KỳNa và Ajivaka tế lễ bằng sự tự hành hạ thân xác. Ðức Phật trái lại dạy đệ tử củaNgài vượt qua biển khổ luân hồi bằng cách đem sự tốt đẹp cho chúng sanh khác,thay vì làm hại họ hay hại chính bản thân mình. Ngài dạy con đường đi đến NiếtBàn bằng những phương tiện: 1- Tự điều khiển, tự tiết chế, và giảm thiểu những đam mê; 2- Mở lòng thương yêu tất cả mọi loài, người, chim muông, thúvật; và 3- Giúp đỡ người nghèo yếu. Ngài cũng nhấn mạnh: a- Cơ hội bình đẳng cho mọi người; b- Thân thế bình đẳng cho mọi người; c- Tự do tư tưởng; và d- Tình huynh đệ toàn khắp. Khi Ðức Phật giảng Giáo Pháp của Ngài, nó lôi cuốn quần chúngở khắp mọi giới; giàu và nghèo, cao sang và thánh thiện, thấp thỏi và hạ tiện.Những người thuộc giai cấp Bà La Môn cũng không bị bỏ rơi. Thật vậy, phần lớncác đệ tử thân cận của Ðức Phật là những người thuộc giai cấp Bà La Môn. Ngay cảvề sau, một số những ngọn đuốc dẫn đầu trong Ðạo Phật là những vị từ Bà La Mônquay về. Trong những thế kỷ tiếp sau, giáo lý xã hội của Ðức Phật đã tạo một sứcđẩy làm xã hội Ấn Ðộ tiến lên, và những giai cấp thấp xác định quyền bình đẳngcủa họ, vì vậy mà tín đồ Bà La Môn đã quay lại chống đối Phật Giáo. Thật sự, người Bà La Môn không chống đối Phật Giáo trên nhữnggiáo lý thuộc triết lý hay đạo đức, nhưng điều mà họ không thích là tư tưởng vềsự bình đẳng trong Ðạo Phật. Như Tiến sĩ Ambedkar nói: - Bất bình đẳng là giáo lý chính thức của đạo Bà La Môn. ÐứcPhật chống lại gốc rể và cành lá của nó. Ngài là một đối thủ mạnh mẽ nhất củachế độ đẳng cấp và là cột trụ vững chãi nhất của tinh thần bình đẳng. Không cómột lý lẽ nào về vấn đề giai cấp mà ngài không bác bỏ. Chúng ta không nghi ngờ rằng, được khuyến khích với tinh thầnbình đẳng do Ðức Phật dạy, những người giai cấp thấp trong xã hội xác định quyềntự do của họ và chống lại sự ưu thế của người Bà la môn. Ðiều nầy làm suy yếu nềntảng của hệ thống giai cấp và đã hạ tầng giai cấp Bà La Môn xuống tận đất. Khi Ðạo Phật yếu đi chút đỉnh, người Bà La Môn giáo dùng mọicách để lấy lại quyền lực và danh vọng đã mất. Họ không những cố gắng phục hồilại hệ thống giai cấp mà còn tìm cách hủy diệt những giáo pháp của Ðức Phật khỏiđất nước Ấn Ðộ. Xin trích lời của Har Dayal: - Những thầy tế triệt tiêu ngôn ngữ Pali trên đất Ấn. Họkhông những ghét tiếng Pali về phương diện giáo lý, triết học hay những giới luậtcủa Ðức Phật. Họ biết Ðức Phật là một vị Thầy lớn lao và tôn sùng Ngài. Nhưng họmuốn rằng những lời dạy tuyệt vời của Ðức Phật không được nghe thấy trên đất Ấn,vì những lời dạy nầy có năng lực phá hủy thành lũy giai cấp. Họ nói: Dù tiếngPali tiêu diệt; dù nước Ấn Ðộ tiêu diệt; nhưng giai cấp của chúng ta phải nắmquyền lãnh đạo. Ðể tranh đấu với Ðạo Phật, người Bà La Môn phảilàm nhiều việc sửa đổi trong những giáo lý của họ. Họ bỏ sự hy sinh súc vật đểcúng tế. Họ cũng bải bỏ giáo lý cho rằng các kinh điển Phệ Ðà không thể sai lầm.Tuy nhiên, về quan điểm phân chia giai cấp (Chaturvarna), họ không chịu đầuhàng. Họ phải thừa nhận tác dụng của những lý lẽ của Ðức Phật chống lạiChaturvana. Và họ phát động một sự điều chỉnh triết học cho Chaturvana được tìmthấy trong sách Bạt Già Phạm Ca (Bhagavad-Gita), một tác phẩm có trước Phật.Nói như P.L. Narasu trong cuốn Cốt Tủy Ðạo Phật: - Mục đích chính của Gita là lén lút ủng hộ sự lãnh đạo vàdanh vọng của giai cấp Bà la môn, ra đời để đáp ứng những nhu cầu mà Ðạo Phậtđã làm thỏa mãn. Bất cứ điều gì cao thượng và tuyệt vời trong Gita là điều màBà La Môn giáo đã vay mượn từ đối thủ của nó và xử dụng cho mục đích riêng tư củamình. Ðặc biệt là để ngăn chặn những người Thủ Ðà La không từ bỏ niềm tin cố cựucủa họ. Phần còn lại là một khối những lặp đi lặp lại, những mâu thuẩn, những sựvô lý, kết quả của một cố gắng không thành công trong việc làm dung hòa mọiphương diện trong quan điểm truyền thống. Mục đích chính của Bạt Già Phạm Ca là bảo vệ, làm mạnh hệ thốnggiai cấp được thấy rõ trong cách giải thích chữ Dharma (Pháp). Nghĩa chữ Dharmatrong Phệ Ðà là những nghi lễ hay những nghi thức. Trong Gita cũng như trongManu-Smriti, chữ Dharma được dùng có nghĩa là: Những bổn phận của bốn giai cấptrong thế gian. Trong Gita, Krishna bảo Arjuna chiến đấu, vì đó là Dharma (bổnphận giai cấp) của ông ta. Ông ta còn nói: - Thà chết mà làm tròn bổn phận của giai cấp; làm theo nhữngbổn phận dành riêng cho giai cấp khác là việc làm nguy hiểm. Tín đồ Phật Giáo trái lại không chịu từ bỏ sự chống đối của họđối với tư tưởng Chaturvarna. Ðó là lý do đầu tiên của sự chống đối giữa PhậtGiáo và Bà La Môn giáo. Tiến sĩ Amberka tìm dấu vết nguồn gốc mâu thuẩn giữa PhậtGiáo và Bà La Môn giáo từ một nguồn khác. Ông nói: - Khi đọc qua toàn bộ Văn Học Phật Giáo, tôi thấy rằng 90%tín đồ Phật Giáo trước kia là những người Bà la môn. Những người Bà La Môn thườngđến gặp Ðức Phật để thảo luận và tranh cải, và khi thua, thường đặt tin tưởngvào Ðức Phật và cuối cùng chấp nhận Phật Giáo. Văn Học Phật Giáo chứa đầy nhữngsự việc như vậy. Vì vậy, Phật Giáo là một tôn giáo đã nẩy nở giữa đại đa số nhữngngười Bà La Môn, làm thế nào về sau lại bị chính những người Ba la môn tiêu diệt? Theo quan điểm của chúng tôi, lý do chính của sự việc nầy làsự thờ cúng thần linh gia đình. Ở Ấn Ðộ, giống như thần làng và thần nước, cónhững vị thần gia đình cũng được những người Bà La Môn thờ cúng. Những thầy tếthường thờ cúng những vị thần nầy bắt đầu gây ảnh hưởng vào quốc sự qua nhữngbà hoàng. Vua A Dục (Ashoka) sau khi quy y theo Phật Giáo đã từ bỏ việc thờcúng đó và dời tượng của những thần dùng trong việc thờ cúng nầy. Vua A Dụcnói: - Khi ta tôn kính Ðức Phật, đấng Giác Ngộ, thì không cần thờcúng vị thần linh nào khác. Hành động nầy của vua A Dục làm cho những người Bà La Môn lolắng không ít vì nó chấm dứt những phương tiện sinh sống và bóc lột bất công củahọ. Họ nguyện sẽ phục thù cho sự mất mát đó. Những người Bà La Môn có quan niệm rằng: - Sau khi chết những ông vua sẽ bị đọa vào địa ngục vì nhữngsai lầm và thiếu sót của họ. Vì vậy, họ không đồng ý làm những người lãnh đạo,nhưng muốn làm những Cố Vấn Tối Cao của các vị Vua. Ðể trả thù sự mất mát vì việcchấm dứt sự thờ cúng những thần gia đình (Kulapuja), những người Bà La Môn từ bỏphương châm chỉ làm những người cố vấn, họ cố gắng nắm lấy quyền lực. Với sựgiúp đở của những người Sát Ðế lỵ, họ thiết lập trục Bà La Môn-Sát Ðế lỵ để chốnglại Phật Giáo. Ưu thế của Bà La Môn giáo trở lại ở Ấn Ðộ là một trong nhữngnguyên do suy sụp của Phật Giáo. Sự nổi bật của Phật Giáo từ sự hạ thấp giai cấp Bà La Môn,cũng đưa đến sự dãy chết của những quyền lợi thiêng liêng của những Vua chúathuộc giai cấp Sát Ðế lỵ. Vì vậy, không nghi ngờ gì những người thuộc giai cấpSát Ðế Lỵ, trong những giai đoạn đầu là những người ủng hộ Phật Giáo, về sau trởnên đối lập với Phật Giáo. Như một nhà văn viết: - Những người Sát Ðế Lỵ sợ Phật Giáo vì nó đe dọa nền tảng vàsự hiện hữu giai cấp của họ, vì những người bị áp bức được khuyến khích bởi nhữnggiáo lý bình đẳng tìm cách vùng dậy. Như vậy, để bảo đảm sự an toàn cho những quyền lợi của họ, nhữngngười Sát Ðế Lỵ tham vọng âm mưu với những người Bà La Môn và bước từng bước củngcố hệ thống giai cấp. Bằng sự sắp xếp chung, giai cấp Sát Ðế Lỵ được đồng ý làmVua và những người Bà La Môn là những đại thần. Sự thỏa hiệp nầy bảo đảm quyềnlực và danh vọng cho cả hai giai cấp nầy và sự thấp kém vĩnh viễn của nhữnggiai cấp khác, mà Phật Giáo sẽ không bao giờ tha thứ. Vì vậy, để giữ quyền lựcchính trị trong tay họ, hai giai cấp nầy tạo một mặt trận thống nhất chống lạivà phá rối sự phát triển của Phật Giáo. SỰ GÂY THÙ HẬN Tôn giáo của Ðức Phật là một cái gai trong mắt những người BàLa Môn phản động, vì nó đã lật đổ giai cấp thầy tế khỏi ngôi vị cao của nó, màbao nhiêu thế kỷ đã bảo đảm cho họ mọi thứ ưu đãi và tiện nghi vật chất. Vì vậykhi ảnh hưởng của Phật Giáo suy yếu, họ trả đũa và tấn công Phật Giáo bằng nhiềucách để trả thù sự mất mát của họ. Họ dùng những ngôn ngữ tồi tàn nhất và nhữngmánh khóe tồi tàn nhất để nhục mạ và hạ thấp Phật Giáo dưới mắt quần chúng.Ngay cả họ còn bẻ cong ý nghĩa từ và thành ngữ riêng của Phật Giáo. Chúng tôihy vọng rằng sự phân tích phê bình trong những đoạn sau đây sẽ có thể làm cho độcgiả nhận thức được tầm quan trọng trong thảo luận của chúng ta: 1) Vua A Dục, một vị vua Phật Giáo vĩ đại nhất, trong nhữngcáo thị ông tự gán cho mình là Người được chư Thần thương yêu (Devanam Priya),nhưng những nhà văn phạm Bà La Môn dịch chữ nầy là những sự điên rồ yêu thương.R.K. Mookerjee nói về sự đồi bại nầy như sau: - Về thành ngữ Deva-nampriya Priyadarsi, V.A. Smith dịch là ÐấngThiêng Liêng và Nhân Từ đối với tôi là chuẩn nhất. Deve nampriya thay vìDeva-Priya có thể là tên gọi có ý coi khinh giới luật của Panini, nhưng được đềcập trong những sự kiện ngoại trừ luật do Katyana (vào khoảng 359 trước Tây lịchtheo R.G. Bhadarkar) được Patanjali (150 trước Tây lịch) và cả Kasika (650 sauTây lịch) ủng hộ. Tuy nhiên sự ngoại trừ không cho phép nhà văn phạm về sau làBhattoji Dikshita, người đã nhấn mạnh vào việc coi từ Devanampriya là một từkhinh miệt, ngụ ý chỉ một người điên (murkha) không có sự hiểu biết vềBrahma... Như vậy một danh hiệu được ca tụng trong những thời đại Nada, Maurya,và Sunga, phải chịu sự sa đọa về ý nghĩa dưới thành kiến của người Ba La Môn chốnglại vị vua Phật Giáo lỗi lạc. 2) Ðức Phật nhập diệt ở Câu Thi La (Kushinagar) vùng Deorianước Uttar Pradesh, Câu Thi La cách Gorakhpur 12 dặm về hướng Ðông và cáchDeoria 21 dặm. Nó nằm trên bờ phía Tây của sông Hiranyavati và vị trí của nótương ứng với khu vực rộng lớn Ram-bar-ka-Tila nằm ở bờ phía Tây hồ Rambhar. Gồmhai chữ Hiranyavati và Rambar có thể tạo thành tên Harambar cho khu vực nầy.Câu Thi La (Kushinagar) là nơi Ðại Niết Bàn của Ðức Phật trở thành một nơi hànhhương quan trọng và thiêng liêng nhất của tín đồ Phật Giáo. Dĩ nhiên, tín đồ PhậtGiáo từ khắp nơi trên đất Ấn quy tụ về nơi đây mỗi năm với một số đông lớn laođể tỏ lòng tôn kính đối với Vị Thầy. Dường như người Bà La Môn hoang mang bởidân chúng ở Câu Thi La. Họ đưa khuynh hướng tôn giáo vào biện pháp xảo quyệt củahọ và dạy những người tại gia ngu dốt rằng: Người chết ở Harambar, vùng chungquanh Câu Thi La, đọa vào địa ngục hay tái sanh làm con lừa cái, nhưng người chếtở Kasi (Varanasi) được lên trời. Ðể bảo vệ quan điểm của chúng tôi, chúng tôi có bằng chứnghùng hồn và có tính cách lịch sử từ cuộc đời của Mahatma Kabir, một người hôhào cải cách tôn giáo và xã hội vào thế kỷ thứ mười lăm. Trong thời đại ông, sựtuyên truyền có tác hại, như được đề cập ở trên, rất thịnh hành. Kabir kịch liệtchống lại quan điểm vô nghĩa nầy. Ông tuyên bố rằng nếu hành động của một ngườitốt đẹp, người ấy chắc chắn sẽ được cứu rỗi dù cho có chết ở Kasi hay Harambar.Và để chứng minh hùng hồn niềm tin về Harambar là sai lầm và vô nghĩa, Kabir,khi tuổi đã gìa, cố ý đi đến vùng đất cấm đó và chết vào năm 1518 sau Tây lịchtrong một thị trấn nhỏ Maghar ở vùng Gorakhpur không xa Câu Thi La. Kabir,trong những lời để lại, hai lần đề cập đến sự việc nầy và giải thích đầy đủ mụcđích hành hương đến Maghar của ông mặc dù những ngăn cản mạnh mẽ từ bạn bè vànhững người hâm mộ ông. Theo sự việc trên, Wescott viết trong tác phẩm đáng tincủa ông về Kabir như sau: - Chính là nguyện vọng của những môn đệ mà Kabir đã không chấmdứt cuộc đời của ông tại Kasi nơi mà rất nhiều công trình tôn giáo được hoàn tất.Họ chủ trương rằng tất cả mọi người chết ở Kasi sẽ lập tức sinh vào thế giới củathần Ram, và những người chết ở Maghar sẽ trở lại thế giới nầy và sinh làm conlừa cái. Kabir khiển trách về niềm tin của họ. Phải chăng quyền năng của Ramquá giới hạn không thể cứu rỗi người phụng sự ông vì người nầy muốn chết ởngoài Kasi, thành phố của thần Shiva? Cảm giác lo âu và sợ hải trong giới Ấn Ðộ Giáo quá mạnh đến nỗisau khi Kabir chết ở Maghar họ cũng không thể từ bỏ được sự mê tín. Vì vậy, họđã không xây dựng một đền tưởng niệm Kabir ở đó, họ dựng đền tưởng niệm ở Kasi.Người Hồi Giáo đã xây dựng một nơi tưởng niệm Kabir ở Maghar, nơi cư ngụ cuốicùng của ông. Ðền thờ chính ở Maghar vì vậy đã luôn luôn do người Hồi Giáotrông coi và về sau vẫn còn dưới sự trông coi của họ, mặc dù một ngôi đền chongười Ấn Ðộ Giáo đã được xây dựng ở đây. 3) Những người cuồng tín Bà La Môn không dừng lại ở đó. Họ tiếptục thẳng tay gây sự hận thù và ghét bỏ đối với tín đồ Phật Giáo trải qua nhiềuthế kỷ và giữ mãi tinh thần nầy cả trong văn học. Xin trích dẫn ra một số sauđây: a- Nikant trong tác phẩm Prayaschit Mayukha trích một bài thơtừ Manu (bộ luật tập cấp): - Nếu người nào chạm phải một tín đồ Phật Giáo hay mộttín đồ của Panchupat, Lokayataka, Nastika hay Mahapataki, người ấy phải tắm đểtẩy uế. b- Cùng một giáo lý được Apraka dạy trong Smiriti. VradhaHarit đi xa hơn và tuyên bố rằng bước vào chùa Phật Giáo là một tội lỗi cần phảitắm để thanh trừ tội lỗi đó. c- Sự việc gây ấn tượng nhất về thái độ nầy đối với tín đồ PhậtGiáo được tìm thấy trong vở kịch Mricchakatika. Trong màn Vii của vở kịch, ngườianh hùng Charudatta và bạn là Maitriya đang chờ Vasantasena ở quảng trường bênngoài thành Ujjain. Cô nàng không đến và Charudatta quyết định rời quảng trường.Khi họ rời nơi đây, họ thấy vị sư Phật Giáo tên là Samvakaha. Thấy ông ta,Charudatta nói: - Nầy bạn Maitriya, tôi đang nóng lòng muốm gặp Vasantasena.Nầy, hãy cùng đi. (Sau khi bước vài bước) A, đây là một cảnh tượng không may, mộtông tăng Phật Giáo đang đi về hướng chúng ta. (Sau khi suy tư một chút) tốt,hãy để cho ông ta đi đướng nầy, chúng ta sẽ đi con đường khác. (Rời sân khấu). Trong màn viii, vị tăng ở trong vườn lớn của Sakara, ngườianh rể của Vua. Nhìn thấy áo của ông ta trong một cái hồ, Sakara, theo sau làVita, bật dậy và hăm dọa giết vị tăng. Sau đây là cuộc đối thoại giữa họ: Sakara: - Hãy dừng lại, ông thầy tu tồi bại. Tăng sĩ: - A! Ðây là người anh rễ của Vua. Bởi vì có một số tăng sĩxúc phạm đến nhà vua, nên nhà vua đánh đập bất cứ tăng sĩ nào ông gặp. Sakara: - Hãy dừng lại, ta sẽ bẻ chiếc đầu của ông như người ta bẻ mộtcộng rau dền trong tiệm ăn (Ðánh ông ta). Vita: - Nầy bạn, đánh một tu sĩ khoác trên mình chiếc áo choàng, đãtừ bỏ thế gian, là một việc không chính đáng. Tăng sĩ vui mừng: - Xin hãy vui lòng, cư sĩ. Sakara: - Nầy bạn, coi đó. Hắn xỉ nhục tôi. Vita: - Ông ta nói gì? Sakara: - Hắn gọi tôi là cư sĩ. Tôi là tên thợ cạo hay sao? Vita: - Ồ! ông ta thật sự tán tụng anh như là một người sùng tín ÐứcPhật. Sakara: - Tại sao ông lại đến chỗ nầy? Tăng sĩ: - Ðể giặt những y phục nầy. Sakara: - A! ông là ông thầy đồi bại. Ngay cả tôi cũng không tắmtrong ao nầy; ta sẽ giết ông bằng một trận đòn. Sau khi bị đánh thật nhiều, vị tăng được cho đi. Ðó là một tusĩ Phật Giáo trong đám đông Ấn Ðộ Giáo. Ông ta bị xa lánh và tránh né. Cảm tưởngchán ghét đối với ông thật là lớn lao, đến nỗi người ta tránh né cả con đườngmà ông ta đã đi qua. Cảm tưởng ghê tởm đậm đặc đến nỗi sự đi vào của một tín đồPhật Giáo khiến cho người Ấn Ðộ Giáo phải đi ra. Người Bà La Môn được miễn tộitử hình, ngay cả còn được miễn hình phạt về thể xác. Nhưng tu sĩ Phật Giáo bịđánh đập và hành hạ không thương xót, không hối tiếc, như là không có gì sai lầmkhi làm việc đó. d- Chanalya (Kautilya), một đại thần Bà La Môn nổi danh dướithời vua Chiên Ðà La Quật Ða (Chandragupa) của vương triều Khổng Tước (Maurya),cũng là một phần tử nằm trong chiến dịch gây hận thù đối với Phật Giáo. Ôngnói: - Khi một người hưởng dụng bửa ăn cúng cho chư thần và tổtiên, những người thuộc giòng Thích Ca (tín đồ Phật Giáo), Ajivaka, Thủ đà la,và những tù nhân đi đày, phải chịu một hình phạt một trăm Panas. e- Những tác giả của những Puranas(Thánh Thư) cũng tuyên truyềnchống Phật Giáo không ít. Họ coi Ðức Phật như là một Avtara(hóa thân) củaVishnu nhưng đối xử với Ngài với sự khinh miệt. - Thánh thư Brhannardiya coi một người Bà La Môn bước vào nhàcủa một tín đồ Phật Giáo là một tội lỗi lớn dù cho có gặp sự nguy hiểm lớn. - Thánh thư Agni tuyên bố rằng con của vua Tịnh Phạn dụ dỗ nhữngngười Daitya trở thành tín đồ Phật Giáo. - Thánh thư Vayu nói một cách khinh khi về Phật Giáo: Với hàmrăng trắng, cặp mắt nhìn thẳng, đầu cạo trọc, và áo đỏ, những người Thủ Ðà La sẽthực hiện những hành vi tôn giáo. - Thánh thư Vishnu gán cho Ðức Phật tên: Người dụ dỗ vĩ đại.Họ coi Ngài là một Maha Moha, người hiện ra trong thế gian để lọc lừa những maquỉ. Nó còn cảnh cáo thêm về tội lỗi chuyện trò với tín đồ Phật Giáo, nói rằngnhững người nói chuyện với những nhà khổ tu trọc đầu sẽ bị đọa vào địa ngục. 4) Một phần trong chiến lược hủy nhục của họ, người Ấn ÐộGiáo còn dùng một phương pháp khác làm mất uy tín những tín đồ Phật Giáo vàchùa chiền của họ. Họ gán cho những tên gọi xấu xa và bẩn thỉu cho những chùa,tu viện Phật Giáo. Ví dụ, tàn tích của ngôi tháp ở Ghantasila vùng AndhraPradesh được họ gọi là Langa Dibba có nghĩa là gò đĩ điếm. Sự gán những tên bẩnthỉu cho những địa danh cổ của Phật Giáo được các nhà học giả ngu dốt trích ra,lấy làm lý lẽ để nói rằng Phật Giáo biến mất ở Ấn Ðộ, vì những ngôi chùa của nóđã trở thành những nơi đồi bại, và các Tỳ Kheo đã không sống đời sống đángkính. Họ lý luận rằng: - Những nơi lễ bái của Phật Giáo đã đi đến chỗ đồi bại cùng cựcvề luân lý, nên dân chúng khinh thường và xa lánh. Chúng tôi đồng ý rằng khi các ngôi chùa bắt đầu trở nên sungtúc, tu sĩ Phật Giáo, một cách nào đó trở nên hướng về bản thân và từ bỏ bổn phậncủa họ đối với nhu cầu tâm linh và xã hội quần chúng. Và họ bắt đầu sống mộtcách thoải mái trong những tu viện và không tham gia vào lý tưởng phụng sự xã hội.Ðiều nầy cuối cùng đã ảnh hưởng một mức độ nào đó vào việc truyền bá và duy trìGiáo Pháp. Nhưng nói rằng Phật Giáo suy tàn vì sự sụp đổ của những tiêu chuẩn đạođức trong hàng ngũ Tăng Già là điều không có gì bảo đảm. Không có một bằng chứngnào để củng cố lập luận nầy, ngoại trừ những danh hiệu đáng nghi ngờ gắn liền vớimột số địa điểm. Theo quan điểm của chúng tôi, những tên gọi bôi bác kia đã đượctạo ra do những người Ấn Ðộ Giáo quá khích, với chủ ý hạ nhục những chùa chiềnPhật Giáo. Nhưng đối với trò tuyên truyền nham hiểm đó, không có một lý lẽ chứngminh cho những nhãn hiệu vô nghĩa gán cho những ngôi chùa Phật Giáo thiêngliêng. V.R. Narla nói: - Quả thật là chưng hửng và buồn không ít, vì rằng không nhữngở Ghantasila, nhưng ở Gudivada, Bhattiprola, China Ganjam, Pedda Ganjam, và mộtsố nơi khác, những di tích của những ngôi chùa Phật Giáo thiêng liêng bị gáncho những tên nhơ bẩn như Langa Dibba và Bojamadani Dibba. Một ngoại lệ mà tôibiết là tháp Amaravati. Tên địa phương của nó là Dipala Dinne, có nghĩa là gòđèn. Nhưng ngay cả về những ngọn đèn, cũng có thể không phải chỉ cho sự tán tụng,vì trong thực tế tất cả những nơi có gò thuộc di tích Phật Giáo, có truyền thốngđịa phương là những gái ăn sương cư ngụ trên gò dùng đèn để làm hiệu. Có thể nhữngtên xấu xa được gán cho những gò di tích Phật Giáo là nói lên sự việc Phật Giáođã bị sự đàn áp của những người Ấn Ðộ Giáo cuồng tín về sau, hoặc có thể nóđánh dấu mức độ xuống thấp của Phật Giáo, trong thời gian cuối cùng khi nó manghình thái của Kim Cang Thừa (Vajrayana) hay Sahajayana, những hình thái khôngkhác với mật giáo phóng dật. Hai lý do trên, chúng tôi tin tưởng vào lý do thứnhất nhiều hơn. Ðể chứng minh sự điên rồ của những lý lẽ sau, chúng tôi xin độcgiả ghi nhớ những sự hành trì đồi bại hơn nhiều trong những đền Ấn Ðộ Giáo.Chúng tôi không có ý liệt kê ra đây một danh sách dài về những tội ác của nhữngthầy tế Bà La Môn trong những năm tháng đó. Ðoạn trích sau đây từ một bài viếtcủa ishwar Singh Bais cũng đủ để phản ảnh đời sống trong các đền Ấn Ðộ Giáongày xưa. Ông viết: - Những vũ nữ của mỗi đền được sắp hàng thứ nhì. Họ là nhữngdevdasis hay nô lệ của chư thần, nhưng họ được gọi bằng cái tên thô lậu của nhữnggái điếm. Và trong thực tế, họ gắn bó với nghề nghiệp của họ để ban ân huệ chongười nào yêu cầu và được trả lại bằng tiền. Dường như ban đầu họ được dànhriêng cho những thầy Bà La Môn mua vui. Và những người đàn bà nầy, được côngchúng biết đến về sắc đẹp của họ, được hiến dâng một cách đặc biệt trong việcphụng sự các thần linh của Ấn Ðộ Giáo. Nhiệm vụ chính của họ gồm có múa và háttrong đền hai lần mỗi ngày, sáng và tối trong những cuộc lễ công cộng. Tất cảthời gian còn lại giữa những cuộc lễ, thì dùng vào những việc xấu hổ hơn, và mộtviệc không phải là ít xảy ra, là ngay cả những đền thờ thiêng liêng cũng bị biếnthành những nhà chứa. Xa hơn nữa, Có ít đền thờ mà vị thần ở đó không đòi quyềnchữa trị bịnh không sinh đẻ của đàn bà. Thường thường những thầy tế khuyên họ ởlại qua đêm tại đền, nơi đây, họ nói thần linh cảm động với lòng thành của họ,có thể viếng họ trong tinh thần và sẽ giao hợp với họ. Với mánh khóe nầy, nhữngthầy tế thỏa mãn dục vọng của họ. Ngoài những hành động trong những đền thờ Ấn Ðộ Giáo đã đượcđề cập, tầm quan trọng về những quan hệ dục tình trong Ấn Ðộ Giáo cũng được thấyrõ ràng trong những cảnh dâm đãng trên những bức tường của những đền thờ ởKonark, Khajuraho, v.v. Về những công trình điêu khắc ở Konark, A.L. Basham nóitrong tác phẩm Kỳ Quan Ấn Ðộ: - Tính cách dâm đãng lộ liễu một cách hiếm có của nhiều côngtrình điêu khắc ở Kornark đã đem lại cho Chùa Ðen một tiếng tăm nhơ nhớp. Nhữnghình Maithuna, với những cặp ôm sát nhau hay đang trong tư thế giao hợp, đượcphổ biến là những nét trang trí đặc trưng của nhiều ngôi đền Ấn Ðộ, nhưng nhữnghình ở Konark đặc biệt sống động. Những hình điêu khắc ở Khajuraho cũng tương tự. Như vậy chúng ta có thể không do dự nói rằng: Nếu ở đâu nhữngtiêu chuẩn luân lý bị sa đọa, đó là những nơi cư ngụ của các thần và nữ thần ẤnÐộ Giáo. Thật vậy, như ishwar Singh Bais nói: - Trong nhiều đền thờ, và từ thế kỷ thứ tám sau Tây lịch vềsau, trong hầu hết các đền thờ Ấn Ðộ Giáo, sự sa đọa bắt đầu và với đời sốngtrong đền biến nó thành địa ngục. Các thầy tế đã hy sinh sự cao thượng và đạo đức,chỉ giữ lại tham lam và dục vọng. Nếu Ấn Ðộ Giáo có thể nẩy nở dưới bầu khôngkhí đồi bại đó, thì việc biến mất của Phật Giáo không rõ ràng, dù cho có một sốsa đọa trong tiêu chuẩn luân lý của những người mộ đạo; vì vậy chúng tôi khôngchấp nhận điều nầy. Từ đó, chúng tôi quả quyết luận điệu gán cho sự thối náttrong các chùa chiền không phải là không có căn cứ mà còn có tác hại, và nhữnglý do của sự suy tàn của Phật Giáo phải được tìm thấy ở chổ khác. SỰ NGƯỢC ĐÃI Một trong những nguyên nhân chính làm cho Phật Giáo suy tànvà sụp đỗ nhanh chóng ở Ấn Ðộ là sự đàn áp của những nhà cầm quyền cũng như nhữngngười cuồng tín. Bố Sa Mật Ða La (Pushyamitra), một tướng lãnh Bà La Môn dướitriều Brihadratha, vua cuối cùng của vương triều Khổng Tước (Maurya), là ngườiđầu tiên ngược đãi Phật Giáo. Ông ám sát nhà vua vào năm 185 trước Tây lịch;soán lấy ngôi vua nước Ma Kiệt Ðà (Magadha), cai trị bằng sự khủng bố. Một ôngvua Ấn Ðộ Giáo khác đàn áp Phật Giáo là Sasanka, vua nước Gauda (Bengal), hànhđộng phản bội đầu tiên của ông là giết Rajyavardhana vào năm 605 sau Tây lịch,anh của Harsha, vị hoàng đế Phật Giáo cuối cùng. Sasanka là một người thuộcgiai cấp Bà La Môn và tín ngưỡng thần Shiva. Ông cuồng tín đến nổi trong cơn giậndữ ông đã phá hủy cây Bồ Ðề. Ngài Huyền Trang ghé Bồ Ðề Ðạo Tràng vào năm 637sau Tây lịch, vào khoảng ba thế hệ sau biến cố trên, ghi lại như sau: - Trong thời gian sau Sasanka-raja, một tín đồ dị giáo, phỉbáng Ðạo Phật, và vì ganh ghét đã phá hủy những tu viện và chặt cây Bồ Ðề, đàođến tận mạch nước dưới đất, nhưng ông không thể đào đến chổ rể tận cùng của nó.Sau đó ông dùng lửa đốt và tưới nước mía lên, với ý muốn tiêu diệt nó hoàntoàn, và không để lại một vết tích nào về sau. Ông cũng đã dời tượng Phật từngôi chùa gần cây Bồ Ðề và thay vào bằng thần Shiva. Ông cũng đã liệng vào sôngHằng tảng đá thiêng liêng có dấu bàn chân của Ðức Phật ở thành Hoa Thị (Pataliputra).Và để làm tròn những kế hoạch tội lỗi của ông, Sasanka được cho biết là đã tiêudiệt tăng sĩ trong khu vực Câu Thi La (Kushinagar). Một trong những người đàn áp Phật Giáo lớn lao nhất là thủlãnh Hung Nô, Mihirakula, đã làm thiệt hại lớn lao cho những chùa Phật Giáo ởGandhara, Punjab, và Kashmir. Mihirakula là một người thờ Shiva và là một nhà bảohộ lớn cho Bà La Môn giáo. Trong cơn điên rồ của ông, ông đã san bằng 1,600 tuviện, tháp, và chùa, và giết hại hằng trăm tín đồ Phật Giáo tại gia. Toramana,một ông vua cũng của vương triều tàn bạo đó, được cho biết là đã tiêu hủy chùaGhostarama ở Kiều Thưởng Di (Kausambi). Về việc đàn áp Phật Giáo ở Kashmir, F.M. Hussnain viết: - Chính Nara, người đã khởi sự tiến hành việc tiêu diệt PhậtGiáo ở Kashmir. Ông cho thiêu hủy những tu viện Phật Giáo ở Kashmir và trừ diệtquần chúng Phật tử bằng cách tịch thu đất đai của họ để ban cho những người BàLa Môn. Những gì xảy ra ở Kashmir là một phần trong cùng tiến trình tiêu diệtPhật Giáo trong nước. Trong cuộc đấu tranh giữa Phật Giáo và Bà La Môn Giáo, BàLa Môn giáo đã chiến thắng, trong những hoàn cảnh đó, sự tiêu diệt của PhậtGiáo ở Kashmir chỉ là vấn đề thời gian. Hussnain nói thêm: - Pravarasena nắm quyền vào khoảng cuối thế kỷ thứ sáu. Ôngta phải đánh lui những cuộc tấn công của Mummuni, một thủ lãnh Hồi Giáo đến từTrung Á. Ông xây dựng thành phố Pravarasenanagar với những ngôi đền năm vị NữThần. Chú ông là Jayendra xây một tu viện nổi tiếng là Jayendravihara, thờ mộttượng Phật lớn nhất. Ngài Huyền Trang đã viếng tu viện nầy trong thời gian ở tạiKashmir. Tu viện nầy đã bị Ksemagupta thiêu hủy, ông nấu chảy bức tượng khổng lồđể dùng cho đền thờ thần Shiva của ông. Một người khác được coi như đối thủ của Phật Giáo, người đãtuyên bố: Giáo lý của Phật là thứ vô dụng giống như chất mủ chảy ra từ da chólà Kumarila Bhatt, một người Bà La Môn. Ông sống vào thế kỷ thứ bảy sau Tây lịch.Theo đề nghị của ông, Suddhanvan, vua nước Ujjain, được nói là đã tiêu diệt nhữngtín đồ Phật Giáo. Sự đàn áp tàn nhẫn tín đồ Phật Giáo của Suddhanvan, dưới sựxúi dục của Kumarila Bhatt, được ghi lại trong hai tài liệu về tiểu sử củaSankaracarya, đó là tác phẩm Sankaravijaya do Anandagiri, đệ tử trực tiếp củaSankaracarya viết, và tác phẩm Sankara-digvijayam do Madhava (thế kỷ mười bốn)viết. Thực vậy, Madhava Acharya xác nhận rằng, với sự xúi dục của KumarilaBhatt, Suddhanvan ra lệnh giết chết tất cả tín đồ Phật Giáo từ Ramesvaram đếnvùng Hy mã lạp sơn. Ông còn ra lệnh nếu ai không giết tín đồ Phật Giáo sẽ bị xửtử. Sankaracarya, một vị thầy Vedanta, cũng chịu trách nhiệmtrong việc đàn áp Phật Giáo. Thật vậy, ông đã gieo sự khũng bố trong tâm tín đồPhật Giáo. Theo truyền thống Tây Tạng, khi ông đến, tín đồ Phật Giáo trong cácchùa bắt đầu phân tán tứ tung. Chính ông đã có lần viết trong Bhashya của kinhPhạm Thiên rằng: Phật Ðà là một kẻ thù của quần chúng và đã dạy những điều mâuthuẫn và lộn xộn. Cách thức người Ấn Ðộ Giáo xử dụng để đẩy Phật Giáo ra khỏinơi sinh sản ra nó được soi sáng trong câu chuyện thần thoại Gaya Asura ghitrong Gaya Mahatmya, một phần trong Thánh thư Vaya. Theo huyền thoại nầy, GayaAsura (con quỉ) đạt được quả vị thần thánh đến mức độ bất cứ ai thấy hay chạmđược nó là sanh về cỏi trời. Yama, vua Diêm Vương, nổi lòng đố kỵ, cầu chư thầngiảm bớt năng lực của Gaya Asura. Các vị thần đợi Gaya và xin nó bố thí sựtrong sạch và thân thể thánh thiện của nó để tế lễ. Ðáp ứng lại điều đó, Gaya đếnvà nằm xuống, cái đầu đặt tại vị trí xưa là Gaya. Các thần đặt một tảng đá trênđầu nó. Nhưng điều đó chưa đủ chứng minh nó có thể nằm yên. cuối cùng GayaAsura trở nên bất động khi thần Vishnu ngồi trên tảng đá để giữ không cho nó cửđộng, và hứa rằng tảng đá trên đầu nó sẽ được tuyên dương, là nơi linh thiêngnhất trên trái đất; chư thiên sẽ nghỉ trên tảng đá đó; chỗ đó sẽ được đặt tênlà Gaya-Kashetra; và rằng ai cúng dường bánh trong tang lễ và thực hành tang lễở đó thì chính mình được phước và làm cho tổ tiên được sinh lên trời, nơi củaPhạm Thiên. Câu chuyện về Gaya Asura xưa đến độ nào chúng ta khó biết. Dùluận điệu của những người Ấn Ðộ Giáo chính thống về sự cổ xưa của Gaya như thếnào, chúng ta thấy rõ rằng thành phố Gaya đã được nâng lên địa vị như ngày naytrong thế giới Ấn Ðộ Giáo chỉ sau khi Phật Giáo suy sụp ở Ấn Ðộ. Theo quan điểm của tiến sĩ Rajindralah Mitra, một học giả vớitầm nhìn về lịch sử có một không hai, câu chuyện thần thoại khó tin trong Thánhthư Vayu hàm chứa một biểu tượng về sự chiến thắng cuối cùng của Bà La Môn giáođối với Phật Giáo, tôn giáo đã từng nẩy nở mạnh mẽ trong và quanh Gaya suốt nhiềuthế kỷ. Xin trích một đoạn của ông: - Những người Ấn Ðộ Giáo tin rằng câu chuyện nầy là có thậttheo nghĩa đen, nhưng tiến sĩ Buchanan gọi đó là một chuyện thần thoại quái đảnvà có thể là vậy. Thoạt nhìn qua không có gì có thể hồ đồ và ngu xuẩn hơn câuchuyện nầy; nó vi phạm mọi ý nghĩa khuôn phép, và ngay cả giá trị về tính chânthật trong sự kể chuyện của nó cũng không có. Ðồi Brahmayoni, cũng là núiKalahala, dài ba dặm, và tưởng tượng đặt trên đó một người 125 yojan (do tuần)hay 576 dặm bề cao, và 268 dặm chu vi không thể nào làm được, cho dù là ngườicó đầu óc nghèo nàn nhất cũng nhận được. Một chiếc đầu một dặm chu vi trên mộtcơ thể 576 dặm cao, cũng giống như cây kim nằm trên cơ thể của một người bìnhthường. Sự vô dụng của các thần để giữ một con ma đang nằm và những cố gắng vôích của họ để giữ con ma không cựa quậy, quả thật trẻ con. Và trong trường hợpnầy, một vấn đề được đặt ra: Làm thế nào tác giả của thánh thư Vayu trong đóGaya Mahatmya là một bộ phận, tạo ra một câu chuyện quá trẻ con để bảo đảm sựtôn kính và sùng bái của số đông quần chúng đối với địa danh nầy? Ông không thiếusự thông minh, vì ông đã thảo luận những vấn đề triết học khó hiểu với tài xửtrí và khéo léo đáng lưu ý. Cũng vô lý và không thật khi nói rằng ông không thểphân biệt sự hợp lý với tính trẻ con và hàm hồ. Vì vậy, coi câu chuyện nầy nhưlà một thứ hồ đồ, theo ý tôi, là một kết luận vội vàng, và là dấu hiệu của sựthiếu kiên nhẫn. Chúng tôi cần đứng trên quan điểm của một sử gia triết học đểgiả thiết rằng có một cái gì đó bí mật dấu sau lớp vỏ bên ngoài của câu chuyện;với một ý nghĩa bí mật. Tôi tin tưởng, điều nầy dễ nhận thấy, câu chuyện nầy làmột phúng dụ về sự thành công của Bà la môn giáo đối với Phật Giáo: - Gaya được gọi là một Asura, thông thường có nghĩa là ngườikhổng lồ, một ma quỷ, một con ma dụ dỗ, một người chửi rủa các thần và tôngiáo; nhưng nó không được vẽ ra như vậy. Nó không ham mê trong tội lỗi, khônglàm thương tổn ai, và không chống lại các thần cũng như tôn giáo bằng lời nóihay hành động. Ngược lại, nó được diễn tả là một người sùng kính Vishnu, hiếnmình cho sự sám hối nghiêm nhặt, và những cuộc thiền định kéo dài, và cho nhữngyêu cầu làm trong sạch tột cùng thể xác và tâm hồn; một người mà chỉ chạm đếnlà có thể rửa sạch những tội lỗi lớn nhất của con người và được sinh vào cõi trời.Sự buộc tội nghiêm trọng nhất đối với y là đã làm sự cứu rỗi quá đơn giãn và ngắngọn. Trong trường hợp của y, vì vậy, sự việc chỉ có nghĩa là y đã không theotín ngưỡng của người Bà la môn, cũng không theo đường hướng của họ, tóm lại ylà một người dị giáo. Tính chất nầy đã luôn luôn được gán cho những người lãnhđạo trong khối Phật Giáo. Họ sùng tín, họ biết sống khổ hạnh, họ hết lòng dấnthân vào sự sám hối và thiền định; nhưng họ tránh xa sự tế tự và những cuộc lễcủa người Bà La Môn, và vì vậy Gaya có thể được coi như sự nhân cách hóa PhậtGiáo. Thân thể của nó đo được 576 x 268 dặm, và khu vực từ Kalinga đến Hy mã lạpsơn, và từ Trung Ấn đến Bengal, khu vực mà Phật Giáo đã lan tràn trong thờigian câu chuyện được viết ra bao trùm khắp không gian đó, và còn hơn nữa. Tổnghành dinh của Phật Giáo là Gaya; và thị trấn Gaya, ngay cả ngày nay, có bề rộngvừa một dặm. Cố gắng của các thần để đặt xuống chiếc đầu của con ma là một điểnhình cho cố gắng của người Ấn Ðộ Giáo tấn công Phật Giáo ở trung tâm gây cảm hứngcho nó, trung tâm đầu não, và đòn gậy của Vishnu chỉ cho phương sách đã dùng đểtấn công khi sự thuyết dụ không đạt được kết quả cuối cùng. Tảng đá tôn giáo đượcđặt lên đầu của kẻ không theo đạo, sức mạnh của các thần giữ nó cố định vàkhông thể lay chuyển. Cũng chính là phúc lành của chư thần đã thánh hóa cái nôicủa Phật Giáo trở thành một nơi tôn nghiêm của tín ngưỡng Ấn Ðộ Giáo. Chúng tabiết quá rõ về những phương tiện được dùng đến ở Puri, Bhuvnesvana, và nhữngnơi khác để biểu hiện những biểu tượng Phật Giáo. Những nơi thiêng liêng của PhậtGiáo, và ngay cả những tượng Phật Giáo có ích cho sự lễ bái của Ấn Ðộ Giáo, vàkhông vô lý một chút nào khi giả thuyết cùng một tiến trình đã được xử dụng tạiGaya. Ngoài sự đàn áp của vua chúa và tôn giáo, Phật Giáo còn là đốitượng đàn áp và tẩy chay của xã hội. Chúng ta thấy rõ rằng khi Phật Giáo bắt đầusuy tàn, người Ấn Ðộ Giáo đã lợi dụng sự nghèo khó của tín đồ Phật Giáo, chophép họ vào lại cộng đồng Ấn Ðộ Giáo nhưng lên án họ là những người Không ThểChạm Ðến, ghép vào giai tầng thấp nhất, ở ngoài bốn giai cấp của Ấn Ðộ Giáo. Họhoàn toàn bị rút phép thông công với xã hội, và bị gán cho danh hiệu là Pariah,Pamchama, Avarna, Ati-Shudra là những người mà chỉ chạm vào hay chạm vào bónglà có thể làm ô uế giai cấp Ấn Ðộ Giáo. Họ bị buộc phải sống ở bên ngoài làngvà đã là mục tiêu cho nhiều chứng bịnh xã hội. Họ bị từ chối khả năng học hành,và chỉ có thể làm những nghề nghiệp thấp thỏi hèn hạ. Không những họ bị cấmkhông được xử dụng nước giếng, hồ chứa nước, và những nơi công cộng, họ cònkhông có quyền có sở hữu. Tóm lại, họ bị coi là những người nô lệ, họ không cóchọn lựa nào khác hơn là phục dịch cho những cái gọi là giai cấp cao hơn màkhông có một phần thưởng nào. Chúng ta không nghi ngờ, khi bị đè dưới gánh nặngcủa nghèo nàn, cộng với sự đàn áp và bốc lột của xã hội, những đệ tử của Ðức Phậtđã quên di sản huy hoàng của họ và cam chịu số phận đau thương. Sự đối xử lỗmãng đối với người Không Thể Chạm Ðến, ngày nay là những giai cấp phụ bởi giaicấp Ấn Ðộ Giáo chỉ có thể được giải thích, đó là kết quả của thành kiến và thùghét của họ đối với Phật Giáo. Bằng không, tại sao một khối người lớn lao lại bịtước đoạt phương tiện và bị nguyền rủa là Không Thể Ðến Gần, Không Thể Nói Chuyện,và Không Thể Va Chạm. Việc những Người Không Thể Chạm Ðến, hay là những Giai Cấp Phụở Ấn Ðộ ngày nay là những tín đồ Phật Giáo ngày xưa có thể được chứng minh: - Ðầu tiên, hầu hết những phong tục và tính chất của họ nền tảnglà Phật Giáo. - Thứ hai, họ không quan tâm nhiều đến những thần linh Ấn ÐộGiáo. Giống như tín đồ Phật Giáo, họ thờ phụng Ðức Phật, vị Thầy vĩ đại nhất củahọ và họ tôn thờ những vị Thầy như Ravidas, Chokhamela, Kabir, v.v. Như vậy, giốngnhư tín đồ Phật Giáo, họ là những người Gu-bhaju, những người tôn thờ Thầy, chứkhông phải là những Dev-bhaju, những người thờ phụng thần linh như trong trườnghợp những người Ấn Ðộ Giáo. - Thứ ba, một vài giai cấp phụ ở Punjab, Himachal Pradesh,Delhi, và Rajasthan tự xưng là Ad-Dharmi hay Adi-Dharmi. Chữ Ad có nghĩa là cổ,xưa hay nguyên thủy và người Ad-Dharmi tin tưởng rằng họ là tín đồ của một tínngưỡng cổ xưa. Không nghi ngờ rằng những từ như Ad-Dharmi hay Adi-Dharmi có mầmgiống Phật Giáo vì chúng tương tự những thành ngữ Phật Giáo như Adi-Buddha vàAdi-Dharma mà theo truyền thống Ðại thừa, chúng biểu thị cho trí tuệ hay Tâm vàVật. Hơn nữa, những tín đồ Phật Giáo từ lâu đời đã gọi tôn giáo của họ làDharma hay Saddharma, và những tín đồ Phật Giáo ở Orissa gọi họ là MahimaDharmi (những tín đồ của Giáo Pháp đáng tán dương). Thật vậy những người nầy đã là những tín đồ Phật Giáo trongquá khứ. Ðiều xảy ra sau nầy dường như là do sự đàn áp và không được học hành,họ đã quên tên Phật Ðà hay có thể họ từ bỏ tên của Ðấng Pháp Vương để không cònchịu gian khổ như Achyutananda một thi sĩ ở Orissa vào thế kỷ thứ mười sáu, an ủihọ bằng cách nói rằng: vì sự đáng ao ước trong Kaliyuga mà những tín đồ PhậtGiáo phải cải trang. Sự xâm nhập của người Hồi Giáo đẩy mạnh sự điêu tàn của PhậtGiáo trên đất Ấn. Khi người Hồi Giáo đến, họ có hai đối tượng trước mắt: - Thứ nhất là nắm quyền chính trị, - Thứ hai là truyền bá Hồi Giáo. Ðể đạt được mục đích thứ hai, họ có kế hoạch khử trừ những đềnchùa Phật Giáo và Ấn Ðộ Giáo, các tăng sĩ và thầy tế của Bà La Môn, vì chúng lànhững kho tàng tư tưởng tôn giáo. Họ có khuynh hướng chống những tu sĩ PhậtGiáo, những người đã truyền bá thông điệp bình đẳng do đức Như Lai dạy. Khuynhhướng nầy được trù hoạch vì người Hồi Giáo, thấy rằng họ gặp khó khăn trong việctruyền dạy thông điệp tiên tri của họ về bình đẳng dưới quan điểm của nhữnggiáo lý tương tự như của Ðức Phật. Do đó, những người Hồi Giáo cuồng tín san bằngcác tu viện, và thủ tiêu hầu hết các tăng sĩ trong tu viện đó. Thiểu số may mắnthoát khỏi lưỡi gươm của Hồi Giáo, họ phải chạy trốn để giữ mạng và tìm nơi ẩnnáu ở những nước láng giềng. Hai ông vua Hồi Giáo đáng chú ý đã tàn phá nhữngnơi thiêng liêng của Phật Giáo là Mahmud Gazinavi và Bakhtiaruddin Khilji. Ôngvua trước đã cướp bóc những chùa chiền ở Kot Kangra (Mimachal Pradesh) vào thếkỷ thứ mười, và ông vua sau đã phá hũy những tu viện Nalanda, Vikramasla, vàOdentapuri là những trụ sở sống động cho đến thế kỷ thứ mười hai. Nói về sự xâmlăng của Hồi Giáo, tiến sĩ Ambedkar nói: - Những người xâm lăng Hồi Giáo cướp phá những Ðại Học kể ramột số ít là Nalanda, Vikramasila, Jagaddala, Odantapuri. Họ nhổ tận nền nhữngtu viện Phật Giáo rãi khắp nơi trong nước. Tăng sĩ hàng ngàn người chạy trốnqua nước Nepal, Tây Tạng, và những xứ ngoài Ấn Ðộ. Một số rất lớn bị giết bởinhững người lính Hồi giáo. Tu sĩ Phật Giáo bị tàn hại dưới lưỡi gươm của nhữngngười xâm lăng Hồi giáo như thế nào đã được các sử gia Hồi Giáo ghi lại. Tóm tắttài liệu liên quan đến sự tàn sát tu sĩ Phật Giáo của tướng Hồi Giáo gây ra ởBihar khi ông đem quân xâm lăng vào năm 1197 sau Tây lịch, Ông Vincent Smith viết: - Tướng Hồi Giáo đã làm cho mọi người biết tên ông trong lúckhủng bố bằng những cuộc viễn chinh cướp bóc nhiều lần ở Bihar, chiếm đoạt kinhđô bằng những trận đánh táo bạo. Sử gia đương thời, gặp một trong những người sốngsót trong toán tấn công vào năm 1243 sau Tây lịch, và được cho biết là pháo đàicủa Bihar bị chiếm lấy do một nhóm quân chỉ gồm hai trăm kỵ binh, họ lao vào cửaÐông một cách dũng cảm và chiếm lấy vị trí. Một số lượng lớn đồ cướp bóc đượcthu thập và sự tàn sát những ỔNgười Bà La Môn Ðầu TrọcỖ, chỉ những tu sĩ PhậtGiáo, hoàn toàn hoàn tất, và khi người chiến thắng tìm một người có thể giãithích được những sách trong thư viện các chùa, thì không còn tìm được một ngườinào còn sống để có thể đọc những sách đó. Chúng tôi được cho biết rằng: ỔNgườita khám phá ra rằng toàn bộ pháo đài ở thành phố đó là một trường cao đẳng, vàtheo cách nói của người Ấn Ðộ Giáo thì họ gọi là trường Bihar. Sự tàn sát giới tu sĩ Phật Giáo do những người Hồi giáo xâmlăng gây ra là như vậy. Vì muốn tiêu diệt Phật Giáo, nên Hồi Giáo giết giới tusĩ Phật Giáo. Ðó là cuộc khủng bố lớn lao nhất làm cho tôn giáo của Phật Ðà suytàn ở Ấn Ðộ. Tôn giáo cũng giống như ý thức hệ khác, có thể được duy trì chỉ bằngsự truyền bá. Nếu sự truyền bá thất bại, tôn giáo phải biến mất. Lưỡi gươm của HồiGiáo gieo mạnh xuống giới tu sĩ. Họ bị tiêu diệt hay trốn thoát ra nước ngoài.Không còn ai ở lại để thắp sáng ngọn lửa Phật Giáo. Một số hành giả Ấn Ðộ Giáo lợi dụng tình trạng người Hồi Giáogây ra trong việc xâm chiếm những nơi thờ phụng của Phật Giáo ở Bihar đượcDharmasvamim, một người hành hương Tây Tạng viếng Bihar khoảng ba thế hệ sau cuộctai biến, diễn tả một cách sống động. Theo ông Ratnabodhi, thư viện lớn nhất ởNalanda, thoát khỏi sự tàn phá dưới bàn tay người Hồi Giáo, đã bị những khất sĩẤn Ðộ Giáo đốt cháy. Ông nói: - Họ (những người Ấn Ðộ giáo) thực hiện một Yana, lễ tế lửa,và liệng những than hồng và tro lấy từ hầm tế vào những ngôi chùa Phật Giáo,v.v. Ðiều nầy gây nên một đám cháy lớn thiêu rụi Ratnabodhi, thư viện chín tầngcủa Ðại Học Nalanda. Việc những kẻ đối lập Phật Giáo trong hàng ngũ Ấn Ðộ Giáo đãkhông lùi bước trong việc tàn phá những nơi thiêng liêng của Phật Giáo, ở nhữngnơi khác cũng được thấy rõ từ những đống tro tàn, những hình ảnh bị đốt cháy,và xương của những tăng sĩ được các nhà khảo cổ tìm thấy ở Sarnath và vùng phụcận. Rõ ràng, các chùa bị thiêu hủy do những người cuồng tín và việc nầy dườngnhư đã xãy ra nhiều lần, như thiếu tá Kittoe, người tiến hành công việc khai quậtở Sarnath vào năm 1851 đã nói: - Tất cả mọi thứ đều bị cướp phá và thiêu hủy, tu sĩ, chùa,tượng, tất cả cùng với nhau, vì ở một số nơi, xương, sắt, gỗ, và đá được tìm thấytừng khối lớn, và việc nầy xảy ra nhiều lần. Sự suy tàn của những trung tâm Phật Giáo thổi đến một ngọngió định mệnh cho tín đồ Phật Giáo, họ không thể phục hồi trở lại nền tảng đã mất.Vì vậy, trải qua những thế kỷ kế tiếp, Phật Giáo một mặt bị chính những ngườihâm mộ nó thờ ơ, và mặt khác, hàng ngàn chùa chiền của nó bị những kẻ đối lập hủydiệt, cướp bóc hay chiếm đoạt. Những công trình Phật Giáo tiếp tục bị tiêu hủy,cướp bóc trong nhiều thế kỷ chỉ vì vật chất, sẽ được cho thấy rõ ràng với mộtvài trích dẫn sau đây: 1) Ngôi tháp tráng lệ Bharut ở Madhya Pradesh, từ đó nó đượcgọi tên và nổi tiếng khắp thế giối về những mẫu tinh vi nhất của Nghệ Thuật vàÐiêu Khắc Ấn Ðộ vào thế kỷ thứ hai sau Tây lịch, đã bị những người địa phươngngu dốt kéo sập chỉ để lấy gạch làm nhà riêng của họ. Cunningham, người đã khámphá và khai quật ngôi tháp nầy vào năm 1873-74, nói rằng làng ngày nay làBharhut gồm đến hai trăm ngôi nhà đều hoàn toàn được xây bằng gạch lấy từ ngôitháp này. Việc làm của dân làng Bharhut làm cho những làng lân cận bắt chước. Họtháo dở một số lớn những cột trụ và chấn song mang về dựng nhà của họ.Cunningham đã khám phá ra sáu cây trụ ở làng kế bên là Batanmara và tám trụ ởPathora. Ông cũng khám phá ra một số những tảng đá điêu khắc từng các chấn songcủa tháp trong hầu hết các làng rộng lớn xung quanh Bharhut, đặc biệt là ởUchahara, Batamara, Pathora, và Madhogarh (hay Patharhat). 2) Tháp Dharmarajika ở Sarnath bị Jagat Singh tháo dỡ vào năm1794 chỉ để lấy gạch xây chợ ở Varanasi. Chợ nầy ngày nay được biết đến với tênlà Jagatganj. Trụ của vua A-Dục cũng bị đập vỡ. 3) Về ngôi tháp danh tiếng Amaravati ở Andhra Pradesh, V.R.Narla, một người có thẩm quyền về nghệ thuật Phật Giáo ở Andhra, nói: - Hầu hết những tàn tích ngày nay đều rủi ro không còn. Ngaycả vào thời Ðại tá Colin Mackenzie người đã thấy tháp Amaravati vào cuối thế kỷthứ mười tám, nhiều tảng đá hoa điêu khắc đã bị tiêu hủy. Chúng bị đào lên và đốtthành vôi do người cầm đầu ở nơi đây, người nầy vào năm 1797 đã dời tổng hànhdinh về Amaravati, đám tro tàn của nó mang nhiều tính chất lịch sử và được truyềnthống thánh hóa, và làm một sự cố gắng yếu ớt để dựng một thành phố mới gầnchùa Amaresvara. Và ngay cả những tác phẩm điêu khắc thoát khỏi sự phá hoại vănhóa nầy, ngày nay cũng bị phân rải nhiều nơi. 4- Vào năm 1840, ngôi tháp Phật Giáo ở Gudivada trong xứAndhra Pradesh bị phá hủy để lấy vật liệu sửa sang con đường giữa Bezwada vàBandar. Ðề cập đến sự phá hoại văn hoá nầy, ông Rea nói: - Thật là hối tiếc, tất cả những công trình nầy đã phải chịuhủy hoại bởi những bàn tay của những người cầm vật liệu để xây dựng đường và nhữngcông việc tương tự. Mặc dù những công trình kiến trúc cổ xưa nhất còn tồn tại mộtnền văn minh cổ, tính chất thái cổ của chúng không có sự bảo vệ cho chúng khỏinhững bàn tay tước đoạt. PHẬT GIÁO BỊ ÐỒNG HÓA Ðể đối đầu tương xứng với Phật Giáo, Ấn Ðộ Giáo đã sớm tiến hànhviệc sửa đổi và tự biến dạng. Về việc nầy họ đã vũ trang hệ thống của họ bằngnhững tính chất tốt đẹp của Phật Giáo cả trong lý thuyết và thực hành. Trong tiếntrình cải cách nầy, người Ấn Ðộ Giáo tiếp nhận lý tưởng Bất Sát (Ahimsa) và từbỏ việc tế súc vật; và cũng bắt đầu tổ chức theo cách thức trong các tu viện PhậtGiáo. Xa hơn, để chấm dứt việc đấu khẩu lâu dài và khó khăn để giành phần thắngcủa những tín đồ của hai tôn giáo, Ðức Thích Tôn được họ đặt vào trong các thầnẤn Ðộ Giáo, như là một Hóa Thân (Avatara) của thần Vishnu. Và điều nầy đượccông bố trong quảng đại quần chúng do các tác giả Purana. Bên cạnh thánh thưVaraha, nói rằng nhờ tuân theo lời nguyện của Buddhavadasi, vua Tịnh Phạn(Suddhodana) đã được thần Vishnu xuống làm con dưới hình tướng Phật Ðà. Ðức Phậtđã bị coi là một Avatara của Vishnu trong Matsya, Bhagavata, Garuda, và LingaPurana. Không chỉ vậy, những người thờ thần Shiva tiếp thâu những yếu tố tu việnvà chiêm nghiệm của Phật Giáo, và những người thờ thần Vishnu tiếp thâu những yếutố sùng bái và nhân đạo của Phật Giáo để bảo đảm tính phổ biến trong quầnchúng. Những người thờ thần Vishnu còn sửa đổi thái độ của họ về vấn đề hệ thốnggiai cấp. Họ chấp nhận nó như là một thể chế xã hội, không chuyên chở một sựtheo đuổi tôn giáo hay tâm linh nào. Như tiến sĩ Radhakrishnan nói: - Một tiến trình thâm nhập và sửa đổi từ từ đã phát triển,như việc ủng hộ thuyết cho rằng Ðại Thừa Giáo chỉ là một giai đoạn phân pháitrong trào lưu lớn những người thờ thần Vishnu, Tiểu Thừa Giáo, với tính chấtkhổ hạnh nhiều hơn, được coi như một phái của người thờ thần Shiva. Khi tín ngưỡngBà La Môn khắc sâu tình thương mọi loài và sùng bái thần linh và tuyên bố rằngÐức Phật là hóa thân của Vishnu, hồi chuông báo tử của Phật Giáo ở Ấn Ðộ đãvang lên. NHỮNG NGUYÊN NHÂN BÊN TRONG Bên cạnh những nguyên nhân bên ngoài, chắc chắn là nhữngnguyên nhân chính cho sự thoái hoá và biến mất của Phật Giáo, còn có một số ítnhững hạn chế và lầm lỗi bên trong cũng đã làm cho sự biến mất cuối cùng của PhậtGiáo trên quê hương nó xảy ra một cách nhanh chóng. Chúng ta phải thừa nhận rằng chính những tín đồ Phật Giáolãnh phần trách nhiệm lớn cho số phận đáng buồn của tôn giáo của họ. Ðức Phậtđã vạch ra con đường cho các vị Tỳ kheo không những là người đi tìm sự giác ngộbằng thực hành những giới luật đạo đức và tâm linh, nhưng cũng là người phụng sựxã hội hay là người bạn, triết gia và người hướng đạo cho quần chúng. Ðức Phậtlà một vị thầy tôn giáo đầu tiên ở Ấn Ðộ, hay nói đúng hơn là toàn thế giới, cổvũ những đệ tử của mình đi và đi khắp nơi vì hạnh phúc và lợi ích của nhiều người.Thêm nữa, Ngài là người đầu tiên đưa ra lý tưởng hy sinh, quên mình và phục vụcho kẻ khác. Ngài nói rằng một Tỳ kheo phải xin ăn, phải sống bằng vật bố thí,phải hạn chế chỉ ăn ngày một bửa. Theo những lời dạy của Thầy những vị Tỳ Kheođầu tiên đã đạt đến những tiêu chuẩn cao nhất của lòng kính tín, hy sinh và phụngsự. Ðiều nầy đã thành tựu rực rỡ và làm cho Phật Pháp trở thành một tôn giáo phổbiến và được tôn kính nhất ở Ấn Ðộ. Nhưng bất hạnh thay, các tăng sĩ về sau đãkhông giữ những tiêu chuẩn dành cho họ. Khi các tu viện trở nên giàu có, thì hoạtđộng chính của họ được coi là đào sâu việc nghiên cứu từ chương thay vì truyềnbá Giáo Pháp, tăng sĩ đánh mất sự giao hảo gần gũi với quần chúng, và tươngquan giữa tăng sĩ và cư sĩ bị thụt lùi. Các vị Tỳ Kheo trở nên xao lãng và thụđộng đối với những mục đích thực tiễn. Ðiều nầy làm cho Phật Giáo suy yếu. Tìnhtrạng Tăng Già trong những năm chấm dứt thời kỳ vinh quang của Phật Giáo tại ẤnÐộ có thể được đánh giá từ những điều mà Cunningham, một nhà khảo cổ, thám hiểm,và học giả vĩ đại nhất nói vấn đề nầy. Ông nói: - Phật Giáo đã thật sự trở nên một tín ngưỡng già nua và kiệtlực, những vị khất sĩ không còn đi khất thực, nhưng từ lâu đã được hổ trợ bằngđất đai dành riêng cho các tu viện. Các vị Sa Môn và Tỳ Kheo không giống như nhữngngười của thời xưa, những người uyên bác và trí tuệ, sự tiết độ về thân xác vàsự nhứt tâm thiền quán cộng với những chủ trương thực tiễn và gương mẫu trong sạch,đã kích thích lòng sùng kính của quần chúng. Những tín đồ Phật Giáo hiện đạirơi vào tình trạng mục nát, họ bằng lòng sống một đời sống thụ động trong nhữngcông việc tẻ nhạt hằng ngày của đời sống tu viện, nơi đó còn một vài dấu hiệutôn giáo bề ngoài; nhưng không còn sự tha thiết nồng nhiệt trong sinh hoạt thiếusinh khí của những công việc tẻ nhạt hằng ngày đó, và lòng hăng say đã có thờiđốt cháy trong tim của mỗi người tu sĩ Phật Giáo trong việc truyền bá tôn giáocủa họ đã dập tắt từ lâu. Trong những ngày xa xưa, tăng sĩ và tu viện là huyết mạch củaPhật Giáo. Nó nẩy nở, bao giờ những tu viện còn, các tăng sĩ còn cẩn trọng. Mộtkhi các tăng sĩ trở nên thờ ơ và đánh mất cái tầm nhìn vào sứ mệnh của họ, PhậtGiáo suy tàn. Và khi các tu viện làm mồi cho sự phá hoại văn hoá, Phật Giáo điđến chỗ sụp đổ hoàn toàn. Rất nhiều sách vở Phật Giáo, hầu hết được cất giữtrong các tu viện, cũng hoàn toàn biến mất ở Ấn Ðộ do sự phá hủy các tu viện.Lý do là những tín đồ Phật Giáo không có tổ chức cư sĩ để giảng dạy, truyền bá,và bảo vệ tôn giáo của họ. Với sự thiếu vắng những tổ chức như vậy, họ chỉ đứngnhìn mà không giúp được gì khi các tu viện bị cướp phá, xúc phạm và các tăng sĩbị trục xuất hay giết hại. Sự thiếu vắng những tập quán và nghi thức cho những cuộc lễ lộctrong xã hội như đám cưới, v.v. của Phật Giáo cũng là một trong những yếu tốlàm cho Phật Giáo suy tàn ở Ấn Ðộ. Ðức Phật chống lại chủ nghĩa nghi thức, cũngnhư độc quyền của những người Bà La Môn là giai cấp thầy tế, không cho phép nhữngtăng sĩ hành động như những thầy tế trong những cuộc lễ có tính cách xã hội.Cũng không có những cuộc lễ đặc biệt về sinh nhật, cưới hỏi, v.v. được đề ra.Như vậy giới cư sĩ tiếp tục thực hành theo những phong tục và lễ lộc đang lưuhành, phần lớn do những người Bà La Môn đề ra. Thái độ không xen vào của PhậtGiáo, như tiến sĩ Joshi nói: - Mặc dù giúp cho sự truyền bá tôn giáo được trôi chảy, đãđem đến kết quả trên chặng đường dài làm suy giãm ảnh hưởng của nó trong xã hội. Một nguyên nhân bên trong khác, lót đường cho sự suy tàn củaPhật Giáo, là sự chiều chuộng quá đáng của những tín đồ đại thừa nhiệt tình đốivới những sự mê tín của Ấn Ðộ giáo. Ðể truyền bá rộng tín ngưỡng của họ, khôngnhững họ đã nhân lên và thần thánh hóa Ðức Phật, lại còn đưa một số thần và nữthần Ấn Ðộ Giáo vào làm các vị thần Phật Giáo, dưới dạng những Bồ Tát để nhâncách hóa những năng lực của Phật Ðà. Việc nầy làm cho Phật Giáo không còn khácbiệt, ngọai trừ tên gọi, với các thần thánh Ấn Ðộ Giáo, sự khác biệt giữa haitôn giáo bị xóa bỏ. Và khi Ấn Ðộ Giáo đưa Ðức Phật vào danh sách các thần của họđể chứng minh rằng Phật Giáo là một phái của họ. Phật Giáo đánh mất tính riêngbiệt. * KẾT LUẬN Mất sự bảo trợ của giới vua chúa có thể được coi là mộtnguyên nhân khác làm sự suy tàn của Phật Giáo mau chóng. Ví dụ, phải trên haitrăm năm để Phật Giáo mọc những chiếc rễ vững chãi và có được hình thái của mộttrào lưu giãi phóng xã hội lớn trên quê hương của nó. Việc nầy xảy ra với sự rađời của vua A Dục (Ashoka) vào thế kỷ thứ ba trước Tây lịch. Tuy nhiên trongvòng năm mươi năm vua A Dục qua đời vào năm 232 trước Tây lịch, Ðế quốc KhổngTước (Maurya) sụp đỗ và Phật Giáo mất sự bảo trợ của giới vua chúa chỉ trở lại300 năm sau với sự ra đời của Ca Nhị Sắc Ca (Kanishka) vào năm 78 sau Tây lịch.Với sự sụp đỗ của vương triều Quý Sương (Kushana) vào thế kỷ thứ hai sau Tây lịch,Phật Giáo lại mất sự bảo trợ của giới vương giả. Giai đoạn sau Quý Sương là mộtgiai đoạn rối ren chính trị, cuối cùng đã đưa đến sự nổi lên của vương triều CấpÐa (Gupta) ở nước Ma Kiệt Ðà (Magadha). Những vị vua của vương triều Cấp Ða lànhững người theo Bà La Môn giáo và triều đại của họ được đánh dấu là đã làm phụchồi Bà La Môn giáo. Người bảo trợ có quyền hành cuối cùng cho Phật Giáo là vuaGiới Nhật (Harsha) nắm quyền vào năm 606 sau Tây lịch, có nghĩa là năm trăm nămsau vua Ca Nhị Sắc Ca. Sau khi vua Giới Nhật mất vào năm 647, Phật Giáo lại mấtsự bảo trợ của giới vương giả, và không bao giờ có lại được sự bảo trợ trên mộtphạm vi rộng lớn. Một khi sự bảo trợ của giới vua chúa không còn, và bị thay thếbằng sự đàn áp của giới vua chúa và tôn giáo, thành lũy cuối cùng của Phật Giáosụp đổ nhanh chóng hơn có thể tưởng. Những gì còn lại chưa bị những người phảnđộng Ấn Ðộ Giáo phá hủy hết lại bị dẹp sạch bởi những người cuồng tín Hồi Giáo.Như một nhà văn đã viết: - Màn cuối cùng trong vở kịch Phật Giáo trên sân khấu đất mẹcủa nó, bắt đầu bị khủng bố, và chấm dứt trong câm lặng, một sự câm lặng lãngquên. Những nơi thiêng liêng đổ nát, bị rừng rậm che khuất, chùa chiền của nóchuyển sang tôn giáo khác. Ðức Phật biến mất trong đám đông các thần Ấn Ðộ Giáovà ra khỏi ký ức của con người. Dù lý do nào đưa đến sự suy tàn và biến mất của Phật Giáo khỏiđất nước Ấn Ðộ đi nữa, một việc chắc chắn đó là điều bất hạnh nhất khi tôn giáocủa Ðức Phật, một tôn giáo hoàn cầu đầu tiên, đánh mất ảnh hưởng trên đất tổ củanó. Sự việc nầy xảy ra, Ấn Ðộ đã phải trả một giá rất đắt, đó là sự thật lịch sử.Nước Ấn Ðộ sung mãn cho đến khi Phật Giáo vẫn còn là một tôn giáo sống động, vàkhi Phật Giáo suy tàn, Ấn Ðộ đã mất đi tinh thần tự do, danh tiếng giảm sút, vàsự tiến bộ bị ngăn trở.
-
Chiến Lược Và Sự Kiện Châu Á Thái Bình Dương
Thiên Đồng replied to Túy Lão's topic in Dự Báo và Chứng Nghiệm
EU ủng hộ Philippines "lôi" Trung Quốc ra tòa về biển Đông Nghị viện châu Âu đã bày tỏ sự ủng hộ đối với quyết định của Philippines đưa Trung Quốc ra tòa án LHQ để giải quyết tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, trang Asia One đưa tin ngày 24.4. Trong một thông báo đưa ra chiều 23.4, Bộ Ngoại giao Philippines (DFA) nói rằng cơ quan châu Âu trên đã thông qua một nghị quyết “phê chuẩn một báo cáo vốn bao gồm sự ủng hộ của họ cho sáng kiến nhờ trọng tài phân xử của Philippines”. Tàu hải giám Trung Quốc tại khu vực bãi cạn Scarborough tranh chấp với Philippines hồi năm ngoái - Ảnh: AFP Ngoại trưởng Albert del Rosario đã hoan nghênh sự ủng hộ của châu Âu, coi đó là một “cột mốc” trong chiến dịch của Philippines vận động sự ủng hộ quốc tế cho sáng kiến trên. Báo cáo ngày 14.3 của Ủy ban Đối ngoại thuộc Nghị viện châu Âu về quan hệ EU - Trung Quốc cũng đã kêu gọi Trung Quốc cam kết tôn trọng Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế trong việc theo đuổi các mục tiêu ở hải ngoại, DFA cho biết. Trong báo cáo, Nghị viện châu Âu kêu gọi các bên tại biển Đông giữ thái độ bình tĩnh và thúc giục họ sử dụng cơ chế trọng tài quốc tế theo quy định của Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) để giải quyết tranh chấp. Viện dẫn tầm quan trọng của vai trò tuyến đường giao thương của biển Đông, Nghị viện châu Âu lo ngại về tình trạng căng thẳng đang leo thang và vì thế kêu gọi các bên “tránh có những hành động quân sự và chính trị đơn phương”. Philippines đã nộp đơn kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế vào ngày 22.1 nhằm buộc Trung Quốc ngừng xâm phạm khu vực mà Philippines tuyên bố chủ quyền ở biển Đông, cũng như vô hiệu hóa tuyên bố chủ quyền đường 9 đoạn của Bắc Kinh “nuốt” gần trọn biển Đông. Viet Bao.vn (Theo Thanh niên) ============================== Nhiệt liệt ủng hộ Philippine. -
Chiến Lược Và Sự Kiện Châu Á Thái Bình Dương
Thiên Đồng replied to Túy Lão's topic in Dự Báo và Chứng Nghiệm
Triều Tiên dùng gỗ, đá chống xe tăng Hàn Quốc CHDCND Triều Tiên đã bắt đầu xây dựng hàng rào chướng ngại vật chống tăng gần khu vực biên giới với Hàn Quốc, theo tường thuật của một đài truyền hình Trung Quốc được hãng Yonhap dẫn lại vào hôm nay, 24.4. Một chiếc xe tăng tham gia cuộc tập trận chung Mỹ - Hàn - Ảnh: AFP Kênh truyền hình Beijing TV đã quay cảnh các binh sĩ CHDCND Triều tiên xây dựng các chướng ngại vật bằng gỗ, đá và bê tông, theo Yonhap. Tường thuật cho biết các chướng ngại vật nhiều khả năng dùng để cầm chân xe tăng và các xe quân sự khác của Hàn Quốc trong trường hợp nổ ra chiến tranh. Beijing TV nhận định giới lãnh đạo CHDCND Triều Tiên có thể đang chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự. Căng thẳng đã tăng cao trên bán đảo Triều Tiên kể từ tháng 2, khi CHDCND Triều Tiên thử hạt nhân lần thứ ba, dẫn đến việc Liên Hiệp Quốc áp đặt thêm các lệnh trừng phạt mới với Bình Nhưỡng. Việc Mỹ và Hàn Quốc tiến hành cuộc tập trận chung cũng khiến CHDCND Triều Tiên tức giận đưa ra lời đe dọa sẽ tấn công hạt nhân nhằm vào hai nước này. Trong những tuần qua, CHDCND Triều Tiên đã liên tục khuyến cáo người nước ngoài trên bán đảo Triều Tiên hãy cân nhắc sơ tán để tránh nguy cơ chiến tranh. ========================= Các biện pháp lên gân đỡ tốn tiền nhất là dùng gỗ, đá vào công trình xây dựng cơ sở quân sự so với chuyện phóng một quả tên lửa. -
Phong thủy Tàu nên mới quy định dở hơi thế. Zodiac là học viên lớp PTLV thì từ từ nghiên cứu sẽ hiểu.TD
-
Bình tĩnh lanha92 ạ. Bọn tôi có ủng hộ 5000 năm văn hiến thì cũng không thể hiện thái độ cực đoan như vậy. Nên tránh mọi thể hiện quá khích.Vài lời góp ý. Thiên Đồng
-
“Siêu trí tuệ Việt” và lý thuyết thay đổi nhân loại! (VTC News) - Lý thuyết của anh sẽ đánh đổ mọi lý thuyết cũ của nhân loại được xây dựng từ hàng ngàn năm nay. Kỳ 4: Siêu lý thuyết Hồi mới xuất hiện vị “Thiên Sứ” tuyên bố có tài hô phong hoán vũ, đuổi mưa khỏi Hà Nội trong ngày Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, thì cũng đồng thời xuất hiện một nhân vật gây “choáng váng” cho các nhà nghiên cứu. Nhân vật đó là anh Phạm Quang Nhiêu (quê Hải Dương), tác giả của tập tài liệu có tên “Lý Thuyết Nhiêu”. Anh gặp phóng viên TS để mong được hợp tác công bố lý thuyết của mình. Tháp tùng anh có một người xưng là họa sĩ có tiếng ở Hà thành. “Siêu nhà nghiên cứu” này khẳng định rằng, lý thuyết của anh có khả năng làm thay đổi cả thế giới! Nhà nghiên cứu này học hết lớp 12, có nhiều năm làm công việc trông trang trại ở Móng Cái (Quảng Ninh). Trong những ngày rỗi rãi nơi rừng xanh núi đỏ, anh đã suy nghĩ và sáng tạo ra một lý thuyết nhằm “hợp nhất vũ trụ”. Ngày càng xuất hiện nhiều "siêu nhân"! Lý thuyết đó nói về một thứ hạt tiền vật chất, tiền nguyên tử, mà anh gọi là “hạt quang từ”. Con người chỉ mới hiểu được về các hạt nguyên tử, mà chưa hiểu được sâu hơn, vậy nên, thế giới, vũ trụ còn nhiều điều chưa giải thích được. Hiểu được Lý Thuyết Nhiêu, sẽ hiểu rành rẽ vũ trụ! Và tất nhiên, lý thuyết của anh sẽ đánh đổ mọi lý thuyết cũ của nhân loại được xây dựng từ hàng ngàn năm nay. Lý thuyết này đi từ vi mô là các hạt nhỏ nhất cho đến các giới hạn siêu vĩ mô như sự hình thành của Hệ mặt trời, các hệ tầng Ngân hà trong các Vũ trụ khối và rộng lớn hơn nữa là sự tồn tại của Đại vũ trụ khối. Đại vũ trụ khối là trường không gian chứa sự tồn tại của các Vũ trụ khối. Như vậy, Lý thuyết Nhiêu của “nhà nghiên cứu” Phạm Quang Nhiêu sẽ luận giải toàn bộ thế giới, vũ trụ, từ siêu vi mô tới siêu vĩ mô! Cầm tập Lý thuyết Nhiêu trên tay, tôi lật giở, thấy có 100 trang giấy A4. Tôi chê sao lý thuyết bao trùm vũ trụ mà ngắn thế thì anh Nhiêu cho biết, nhiều chữ hay ít chữ chả nói lên điều gì, quan trọng là hàm lượng tri thức chứa trong từng câu chữ. TS. Vũ Thế Khanh cùng rất nhiều "siêu lý thuyết" của các "siêu nhà nghiên cứu" “Một vấn đề mình đưa ra, thậm chí chỉ 1 câu trong lý thuyết, song để diễn giải, tìm hiểu, phải mất vài ngày, còn để bàn về nó thì không biết đến bao giờ mới hết” – anh Nhiêu khẳng định. Mấy từ “sắc sắc – không không” của nhà Phật mà cả ngàn năm nay con người đã hiểu hết được đâu! Sau khi ong đầu với thứ lý thuyết cao siêu như của nhà giời, tôi chốt lại: “Vậy tính ứng dụng của Lý Thuyết Nhiêu vào thực tế đời sống xã hội như thế nào?”. Cứ như lời “siêu nhà nghiên cứu” này thì lý thuyết của anh có thể ứng dụng vào mọi mặt như khoa học, kinh tế, xã hội, văn hóa, đời sống, môi trường… Lý thuyết Nhiêu có thể sử dụng được hạt quang từ, một loại hạt siêu nhỏ, song lại có siêu năng lượng. Thay vì đất nước ta phải xây dựng hàng loạt nhà máy điện, với cột điện, dây rợ loằng ngoằng, tốn kém, thì giờ không phải làm việc đó nữa. Chỉ cần áp dụng Lý Thuyết Nhiêu, xây dựng một “nhà máy điện quang từ” nhỏ xíu, sẽ cho thế giới dùng điện xả láng, mà không cần dây dẫn điện, cột điện, không cần người đi thu tiền điện nữa! Cũng theo lý thuyết này, các nhà khoa học sẽ áp dụng sáng chế được một loại pin có năng lượng vô hạn. Người dùng điện thoại sẽ không phải sạc pin, ô tô cũng không phải đổ xăng. Ô tô sẽ lấy nguồn điện qua không trung từ “nhà máy điện quang từ” để chạy đến khi nào hỏng xe thì thôi! Thấy tôi nghi ngờ tính thực tế của lý thuyết, “nhà khoa học” này khẳng định, sẽ... chấp hết các nhà khoa học, sẵn sàng tranh luận với bất cứ nhà khoa học nào dám phản bác lý thuyết của mình. Ngoài việc “phát minh” ra nhà máy điện siêu năng lượng, Lý thuyết Nhiêu còn áp dụng được vào mọi lĩnh vực như chống ùn tắc đường, xây dựng các khu đô thị, các nhà máy sản xuất, các trung tâm nghiên cứu khoa học… Sau khi thấy tôi nhiệt tình đề xuất được xem ứng dụng Lý thuyết Nhiêu, thì anh Nhiêu gửi cho tôi 01 bài viết, gồm 03 “luận thư”, mỗi “luận thư” dài 1.000 chữ. Bài viết nói về 01 vấn đề là xây nhà nội trú cho các lực lượng lao động xã hội, tức là, xây dựng luôn nhà ở cạnh các cơ quan, doanh nghiệp phục vụ cán bộ, công nhân viên. Xây dựng nhà nội trú sẽ đảm bảo 03 mục tiêu (được phân tích trong 03 luận thư): chống tắc đường vì con người ít phải đi lại ra đường; tiết kiệm rất nhiều tiền xăng, dầu, chi phí đi lại, lại hạn chế ô nhiễm môi trường; và cuối cùng là đảm bảo kiến trúc đô thị thống nhất, hài hòa. Thư mời hợp tác truyền thông với giá 3.000 USD/bài của anh Phạm Quang Nhiêu Bài viết này cũng nêu ra được ý tưởng (tuy chẳng có gì mới mẻ), song lại chỉ nói được mặt lợi, còn mặt hạn chế và tính thực tế của ý tưởng thì không thấy nhắc đến chữ nào. Lý thuyết Nhiêu còn áp dụng được cả vào vấn đề điều khiển từ xa bằng ý nghĩ. Theo lời anh Nhiêu, hồi trông coi trang trại ở Quảng Ninh (anh Nhiêu ngồi bên này đồi, anh bạn trông coi trang trại rộng 5ha ở ngọn đồi bên kia), đã nhiều lần anh Nhiêu trêu ông bạn, khiến ông bạn ngã dúi dụi. Mỗi lần anh “gửi thông điệp” qua không gian, “thông điệp” muốn ông bạn ngã, anh bạn đang đi liền ngã sấp mặt mà không hiểu vì sao. Tuy nhiên, khi tôi hỏi, sau vụ đó, anh có thử vụ nào khác không, thì anh Nhiêu bảo chưa thử lần nào nữa. Tất nhiên anh cũng từ chối thử gửi thông điệp qua không gian đến tôi. “Trong lý thuyết không gian của mình, hạt quang từ nâng đỡ cả trái đất, vũ trụ, có tác động lẫn nhau, nên con người hiểu được hạt quang từ, điều khiển được hạt quang từ, thì có thể tác động được với nhau. Mình đã truyền thông điệp qua hạt quang từ di chuyển trong không gian để làm ngã anh bạn. Khoa học hiện đại không thể giải thích được hiện tượng này, nhưng lý thuyết của mình thì giải thích dễ dàng. Chính vì thế, nắm vững Lý thuyết Nhiêu, dù đứng cách xa, thông qua hạt quang từ, con người vẫn trao đổi với nhau được dễ dàng, không phụ thuộc vào không gian và thời gian” – “siêu nhà khoa học” phân tích. Tôi hỏi: “Vậy anh đã chuyển Lý thuyết Nhiêu cho nhà khoa học nào nghiên cứu chưa?”. Anh Nhiêu cho biết, anh đã mang lý thuyết và tư tưởng của mình đến Viện Vật lý quốc gia, gặp các GS đại học để trao đổi, nhưng mỗi người một chuyên môn hẹp, mà lý thuyết của anh quá rộng, nên không trao đổi được với họ. Anh họa sĩ đi cùng anh Nhiêu thì xen vào: “Lý thuyết này không được các nhà khoa học tán đồng. Các GS.TS đều nói nếu làm được như thế thì nước ngoài đã làm rồi”. Mong muốn của tôi khi gặp nhà khoa học này là để được tiếp cận “siêu lý thuyết” đã hoàn toàn thất bại. Đưa cho các nhà khoa học nghiên cứu thì anh ta sợ lộ, sợ bị ăn cắp. Tôi khuyên đưa lý thuyết đi đăng ký bản quyền, song anh vẫn sợ bị mất bản quyền (vì ít ra cũng có người đọc). “Nhà nghiên cứu” này không tin tưởng vào sự bảo hộ bản quyền của Nhà nước ta. Giải pháp duy nhất mà anh ta muốn, là một đơn vị truyền thông đứng ra ký hợp đồng để quảng bá lý thuyết này. Đơn vị truyền thông nào muốn được đọc một bài (Lý thuyết Nhiêu gồm nhiều trình, mỗi trình gồm nhiều bài), thì phải trả lệ phí là 3.000 đô-la! Và theo lời “siêu nhà khoa học”, nếu đơn vị truyền thông nào kết hợp “làm ăn”, Lý thuyết Nhiêu sẽ biến đơn vị tài trợ thành một cơ quan cực lớn, cực mạnh, cực uy tín với xã hội! ===================== Nghe qua cái "Lý thuyết nhiêu" thì tôi cũng rùng mình! Quả là...thiên tai.
-
Giỗ tổ Hùng Vương: Hệ ý thức đầu tiên của quốc gia dân tộc Nhờ đôi cánh của huyền thoại, truyền thuyết, hệ ý thức đầu tiên của quốc gia dân tộc Việt Nam xuất hiện từ thời Hùng Vương đã thấm tới mọi con dân Việt. Các nhà nghiên cứu Việt Nam đều cho rằng thời đại các vua Hùng và kế tiếp là An Dương Vương (khoảng giữa thiên niên kỷ thứ 2 đến thiên niên kỷ thứ 1 trước CN), mà cái nền vật chất của nó là văn minh Đông Sơn, là thời kỳ hình thành tộc người Việt cổ, những nền tảng của văn hóa truyền thống và hình thành quốc gia dân tộc đầu tiên: Văn Lang - Âu Lạc. Mỗi cộng đồng người từ xã hội nguyên thủy bước vào xã hội văn minh đều có xu hướng tập hợp, thống nhất lại từ các bộ lạc nhỏ bé và biệt lập. Mười lăm bộ thời Văn Lang đã thống nhất dưới quyền của Lạc tướng bộ Vũ Minh là Hùng Vương, người chỉ huy quân sự và chủ trì các nghi lễ tôn giáo. Truyền thuyết về sự tích 99 ngọn núi Hồng là hình tượng 99 con voi quy về chầu Vua Tổ Hùng Vương, còn con voi duy nhất không chịu quy thuận đã bị tội chém đầu. Xu hướng thống nhất ấy là một đòi hỏi của lịch sử, được thực hiện thông qua các hành động liên kết mang tính tôn giáo và cũng không loại trừ các hành động chiến tranh. Đó là thời đại anh hùng, thời đại dân chủ - quân sự, thời đại của những thủ lĩnh quân sự, mà về nhiều phương diện nó được phản ánh trong các sử thi anh hùng ca cổ của nước ta. Giỗ tổ Hùng Vương tại đền Hùng, Phú Thọ - Ảnh: Ngọc Thắng Cộng đồng người trong quá trình từ tiền sử bước vào lịch sử ấy có đòi hỏi nhận thức thế giới tự nhiên, xã hội và bản thân. Từ đó, họ bước đầu xây dựng cho mình những biểu tượng, hệ giá trị. Càng ngày cùng với sự phát triển của xã hội phong kiến, giai cấp thống trị có ý thức trong việc phát triển và củng cố những biểu tượng, hệ giá trị ấy thành hệ ý thức xã hội. Tuy về mặt này hay mặt khác nó còn quyện chặt với những yếu tố hoang đường, tín ngưỡng, nhưng không nghi ngờ gì nữa, nó là bức tranh phản ánh hiện thực buổi đầu lịch sử của đất nước và dân tộc. Vậy hệ ý thức quốc gia dân tộc sớm nhất của Việt Nam bao gồm những gì? Ý thức sớm nhất và bao trùm đó là ý thức về cội nguồn giống nòi của người Việt Nam. Huyền thoại bố Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ sinh một bọc trứng, nở thành 100 người con, 50 con theo cha xuống biển, 50 con theo mẹ lên núi. Các vua Hùng sau đó thống nhất con cháu trở thành vị vua thủy tổ của đất nước, dân tộc, được tôn xưng là Quốc tổ. Người Việt Nam, dù già hay trẻ, trai hay gái đều ghi nhớ trong lòng mình là con Rồng, cháu Tiên, cùng máu đỏ, da vàng, cùng sinh ra từ “một bọc” (đồng bào), cùng quê hương, đất tổ, do vậy đời nào cũng thế, lúc hòa bình cũng như khi đất nước lâm nguy do giặc ngoại xâm thì con cháu đều quần tụ, đoàn kết để tồn tại, tạo nên sức mạnh đoàn kết, mấy nghìn năm đã được thử thách, tôi luyện trở thành sức mạnh chiến thắng mọi kẻ thù. Con người, cộng đồng cần phải có một không gian để sinh tồn, phát triển, đó là ý thức về Đất Nước - Tổ quốc trong đó hai yếu tố quan trọng tạo nên là “đất” và “nước”. Để có Đất Nước, con người phải lao động, có lúc phải đấu tranh quyết liệt với những lực lượng tự nhiên mà huyền thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh đã mô tả “nước dâng đến đâu thì núi lại dâng cao đến đấy”, phản ánh thực tế lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta đã chế ngự lũ lụt của sông Hồng. Có Đất Nước rồi thì người dân phải giữ gìn, bảo vệ Đất Nước chống lại những kẻ ngoại xâm. Ngay từ thời các vua Hùng, cha ông chúng ta đã hun đúc nên ý thức chống ngoại xâm, vun đắp tình yêu đất nước. Hiếm có một dân tộc nào ngay từ thời sơ khai của lịch sử đã sáng tạo nên huyền thoại Thánh Gióng, một cậu bé mới lên 3 tuổi mà câu nói đầu tiên chào đời là xin nhà vua cho đi đánh giặc và trở thành anh hùng cứu nước, khiến hơn 2.000 năm sau, vào thế kỷ 19, nhà thơ Cao Bá Quát đã phải thốt lên: Đánh giặc, lên ba hiềm đã muộn! hay câu nói cửa miệng dân gian: Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh! Thử hỏi một dân tộc như vậy làm sao lại có thể chịu khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào. Có đất nước, dân tộc rồi thì người dân chỉ còn mưu cầu có cuộc sống no ấm, tình yêu, hạnh phúc, xây dựng một xã hội hài hòa, bình đẳng. Ước mong muôn đời ấy người Việt cổ thời các vua Hùng đã ký thác vào huyền thoại Chử Đồng Tử - Tiên Dung, một thiên tình sử muôn đời. Hệ ý thức này có giá trị vô cùng to lớn tạo nên sức mạnh của dân tộc, đất nước vượt qua mọi trở ngại, chông gai của lịch sử, xứng đáng là những minh triết của dân tộc. Mà kỳ diệu thay một hệ ý thức mang tính minh triết, chứa đựng những nội dung vô cùng rộng lớn, trọng yếu như vậy mà cha ông, tổ tiên ta lại gói gọn nó trong những huyền thoại, truyền thuyết mang đầy thi hứng, nhờ vào đôi cánh của huyền thoại, truyền thuyết, những chân lý cực kỳ bình dị đó đã bay tới, thấm tới mọi con dân Việt Nam từ xa xưa tới tận ngày nay. Nguồn : Thanh Niên ================= Không thấy câu nào nói đến - ít ra - hơn 4000 năm văn hiến hay 5000 năm văn hiến Việt. Chẳng lẽ chỉ có tinh thần chống ngoại xâm không thôi mà không có một nhà nước hùng mạnh và văn hiến rực rỡ?
-
@Trực giác Có hai cách hiểu như thế này trực giác. 1. Khi ông Giản Tư Trung nói người khác vô minh thì tức ông Giản này là người đã giác ngộ. Vì giác ngộ mới đối lập với vô minh và vì chỉ có thể người đã giác ngộ mới thấy người khác vô minh hay giác ngộ như họ. 2 . Ông Giản Tư Minh này nói người khác vô minh thì chính ông này cũng là người vô minh. Vì hai đối tượng đều cùng vô minh mới thấy cái vô minh của nhau, gọi là đồng đẳng. Thiên Đồng
-
Những ‘siêu dị nhân ngoài hành tinh’ ở Việt Nam 19/04/2013 07:18 | Phóng sự - Khám phá (VTC News) - Ở Sơn La xuất hiện một “siêu dị nhân” cao thủ hơn cả “dị nhân đuổi mưa” ở Hà Nội. Kỳ 1: Dị nhân nghèo nhất nước Không hiểu vì sao, mấy năm nay, nước ta xuất hiện rất nhiều “dị nhân” siêu cao thủ hơn cả người nhện, dị nhân trong phim Mỹ. Những dị nhân trong phim viễn tưởng của Mỹ cũng không thể có khả năng hô mưa, gọi gió, đẩy đuổi cơn bão ra khỏi Biển Đông. Năm 2010, dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, cả nước được phen chấn động bởi xuất hiện siêu nhân có tài “hô phong, hoán vũ”. “Siêu dị nhân” này là ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh, nhà nghiên cứu hẳn hoi. Nhưng ít ai biết rằng, trước đó, ở thị trấn Nông Trường, thuộc huyện Mộc Châu (Sơn La), đã có một “siêu dị nhân”, còn cao thủ hơn cả “dị nhân đuổi mưa” ở Hà Nội. "Dị nhân" Nguyễn Vũ Tuấn Anh từng khẳng định có khả năng đuổi mưa Bao năm qua, “dị nhân” này sống ở trên núi, nhưng vẫn âm thầm làm công việc mang tầm cỡ vũ trụ, ấy là hô mưa, đuổi bão, chặn nước biển dâng, cứu nhân dân không chỉ Việt Nam, mà cả thế giới thoát khỏi nguy cơ tận thế. Đầu năm nay, bị vợ bỏ, dị nhân này chán nản, đã trở về quê nhà Hà Nội, để tiếp tục công việc cứu loài người của mình. Nhận được thông tin từ một chuyên gia nghiên cứu các hiện tượng lạ, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng con người, về một “siêu dị nhân” mới xuất hiện, tôi đã liên lạc ngay với “dị nhân” này. Tôi gọi điện liên lạc trước, bởi biết đâu “dị nhân” này lại đến vùng đất hạn hán nào đó để gọi mưa, hay ra bãi biển đuổi bão, thì chuyến đi công cốc. Giới thiệu là phóng viên, tìm hiểu về tài hô phong hoán vũ, anh đề nghị tôi gặp Viện trưởng Viện Vật lý địa cầu và lãnh đạo cấp cao của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, rồi hãy xuống gặp anh. Ngôi nhà cổ rách nát của "dị nhân" Lê Minh Hoàng Tôi đang thắc mắc không hiểu tại sao lại phải làm thế, chẳng lẽ anh là vật báu thuộc sự sở hữu của hai cơ quan này, ai muốn tiếp cận thì phải thông qua, thì anh giải thích: “Tôi biết các anh phóng viên là hay nghi ngờ, vặn vẹo lắm, nên tôi đề nghị tìm hiểu về tôi trước khi gặp trực tiếp. Các anh gặp lãnh đạo hai cơ quan này, sẽ được xem đề tài nghiên cứu của tôi, và sẽ được họ kể cho nghe khả năng xuất chúng của tôi. Lúc đó, gặp tôi, các anh mới có niềm tin chắc chắn về khả năng của tôi”. Tuy nhiên, tôi từ chối đến hai cơ quan này, và muốn gặp anh trước. Đôi co vài câu, thì anh cũng hẹn vào sáng hôm sau. Kết thúc cuộc hẹn hò vài phút, tôi nhận được tin nhắn: “Nếu chú về thì báo cáo với sếp là cho anh xin ít tiền cung cấp thông tin, vì anh không còn tiền ăn nhé”. Đường vào thôn Phúc Khê (Bột Xuyên, Mỹ Đức, Hà Nội) chật chội. Nhà cửa san sát. Hỏi nhà anh Lê Minh Hoàng, ai cũng bụm miệng cười. Căn nhà cổ cũ nát trống hơ trống hoác, chẳng có cửa rả gì, cũng không có vật dụng đáng giá. Hai bố con "dị nhân" mò ốc kiếm sống qua ngày. Anh hàng xóm thấy có khách lạ, liền tìm sang. Anh bảo: “Ngôi nhà này vốn là nhà cổ, hơn trăm năm rồi. Đời trước cũng thuộc hàng địa chủ, giàu lắm mới có nhà xây thế này đấy”. Chúng tôi đứng sân gọi, thì có một người phụ nữ đi ra. Chị bảo: “Nhà chú Hoàng dưới kia cơ mà”. Hóa ra, nhà của “dị nhân” Lê Minh là căn bếp nát bươm của ngôi nhà cổ nát nhất làng Phúc Khê. Trong nhà, có cậu thanh niên khá bảnh trai, hiền lành đang ngồi ăn cơm. Cháu giới thiệu là Lê Đức Việt Anh, là con trai của bố Hoàng, hiện đang học lớp 10. Bố của Việt Anh đi ăn nhà mới làng bên, và dặn con trai khi nào có nhà báo đến thì điện thoại cho bố về. Vừa gặp phóng viên, “dị nhân” Lê Minh Hoàng không vào chuyên môn của mình ngay, mà than thở về cái nghèo. Anh Hoàng bảo: “Vì đại sự quốc gia mà mình phải nghèo, phải khổ thế này đây nhà báo ạ. Mình khẳng định là giờ bố con mình nghèo nhất làng, nhất nước. Có thầy giáo ngồi đây (anh hàng xóm tiếp chúng tôi là thầy giáo - PV), mình nói thật lòng là mấy năm nay mình không có nổi xu nào đóng tiền học phí cho con. Bạn nhìn xem, mình về Hà Nội là để chuyên tâm vào đề tài mời mưa, đuổi bão, nhưng thời gian nghiên cứu chiếm hết thời gian làm việc, nên không có tiền. Gạo mình đi vay hàng xóm, nước đi xin hàng xóm, còn tiền đóng học cho con thì phải nợ”. "Dị nhân" Lê Minh Hoàng. Anh Hoàng trò chuyện với phóng viên. Thấy “dị nhân” mải tâm sự chuyện tiền nong, tôi bảo: “Chẳng cơ quan báo chí nào cấp kinh phí cho anh đâu. Tuy nhiên, em sẽ trả công cấp tin đầy đủ”. “Dị nhân” Lê Minh Hoàng sinh năm 1967, tại làng Phúc Khê. Bố mẹ sinh được tới 8 anh em. Anh Hoàng là con thứ 6. Theo anh Hoàng, cả 8 anh em đều làm nông nghiệp và đều nghèo nhất nhì huyện Mỹ Đức. Chán cảnh nghèo khổ, vợ chồng Lê Minh Hoàng quyết vay vốn đi buôn. Thế nhưng, chuyện buôn bán vỡ nợ, nên gia đình tan đàn xẻ nghé. Năm 1999, người vợ bỏ vào Nam trốn nợ, lấy chồng khác, không về nữa. Mình anh Hoàng phải nuôi con đến nay. Năm 2002, anh Hoàng bỏ nhà lên Mộc Châu rồi lấy tiếp vợ nữa trên vùng thảo nguyên này. Hai vợ chồng chí thú làm ăn, nên kinh tế cũng không quá nỗi. Thế nhưng, người vợ này cũng đã rũ bỏ anh. Anh Hoàng kể: “Trước đây mình làm mộc cũng có đồng ra đồng vào đưa cho vợ, nên vợ chồng vui vẻ, tình cảm lắm. Nhưng mấy năm nay, mình mải giúp nhân dân cả nước, nên chểnh mảng công việc thợ mộc, chẳng đưa cho vợ được đồng nào. Hễ kiếm được tiền mình lại lên TP. Sơn La, hoặc về Hà Nội để gặp gỡ lãnh đạo, đề xuất được mời mưa cứu hạn giúp nông dân, giúp các đập thủy điện tránh khô hạn, nhân dân không phải chịu cảnh mất điện. Đó là lý do mình bị vợ bỏ. Mong nhà báo nói rõ điều này để vợ mình hiểu và Tòa án Mộc Châu, Tòa án Sơn La, Tòa án Tối cao tìm mọi cách giúp vợ chồng mình đoàn tụ, chứ chia lìa thế này mình khổ lắm!”. Còn tiếp… =============== Việc dị nhân nghèo và có khả năng hô phong hoán vũ là hai vấn đề khác nhau. Ít ra bài viết của phóng viên cũng phản ánh một cách khách quan sự việc.
-
“Siêu dị nhân” xin 2 tỷ để gọi mưa giúp vùng hạn 22/04/2013 07:11 | Phóng sự - Khám phá (VTC News) – “Cho tôi xin tạm 2 tỷ Việt Nam đồng để tôi lo việc gia đình và nhiều việc khác”. Sau vụ cư ngụ ở Mộc Châu nhưng “đuổi mưa” giúp thủ đô không bị mưa trong mấy ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội thành công, “siêu dị nhân” Lê Minh Hoàng không giấu giếm khả năng của mình nữa, mà công khai đi khắp nơi (?!). Đề xuất thử nghiệm khả năng của mình với các ban ngành ở Sơn La không được chấp nhận, anh Hoàng đã tìm đến các cơ quan ở Trung ương. Suốt mấy năm trời cứ tích cóp được đồng nào, anh lại xuống Hà Nội, đến các cơ quan như Viện Vật lý địa cầu, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ NN&PTNN để tuyên bố khả năng của anh là có thật. Anh Lê Minh Hoàng Tuy nhiên, chẳng lãnh đạo nào chịu tiếp anh, ngoài một số nhà nghiên cứu gặp một lần rồi không gặp lại nữa. Theo anh Hoàng, đại gia đình thấy anh làm những việc không tưởng nên đã đưa vào Bệnh viện Tâm thần điều trị. Tuy nhiên, sau khi thăm khám, bác sĩ khẳng định đầu óc anh hoàn toàn bình thường, nên đã cho về. Và anh lại tiếp tục công cuộc khẳng định khả năng của mình. Khi các cơ quan Nhà nước không chịu công nhận khả năng mời mưa, thì có thời gian, “siêu dị nhân” gặp họ để yêu cầu trả tiền cho mình, vì anh đã bỏ rất nhiều công sức mời mưa cứu hạn, giúp các thủy điện không bị mất nước, người dân không phải chịu cảnh cắt điện luân phiên. Anh Lê Minh Hoàng lấy cho tôi xem một lá đơn anh mới gửi đến một vị bộ trưởng. Lá đơn có nội dung như sau: “Tôi là tác giả đã mời mưa xuống giúp bà con trồng cây tại địa bàn huyện Mộc Châu nói riêng, nhiều nơi trong cả nước nói chung và đã dập (gọi mưa dập cháy rừng - PV) được nhiều ha rừng trong cả nước, 3 năm liên tục kể từ 2009 đến nay. Lá đơn xin tạm 2 tỷ đồng Riêng năm 2012 tôi hạn chế được 8 trận bão không đổ bộ vào Việt Nam, trong tổng số 10 trận. Trong năm nay và những năm tiếp theo, công việc của chúng ta vô cùng phức tạp và hoàn cảnh của gia đình tôi vô cùng éo le. Đến nay tôi cũng hết cả tiền ăn, gạo chỉ còn 20kg. Vì vậy tôi kính xin bộ trưởng cử người đến thôn Phúc Khê (Bột Xuyên, Mỹ Đức, Hà Nội) vào đầu tuần tới là tốt nhất, không thì từ ngày 10-3-1013 trở lại vì tôi đang ở quê. Qua ngày mùng 10 tôi phải lên Mộc Châu để lập kế hoạch. Gia đình tôi đang ở căn nhà dột nát, tôi không yên tâm giúp các vị được. Cho tôi xin tạm 2 tỷ Việt Nam đồng để tôi lo việc gia đình và nhiều việc khác. Vừa qua, vào ngày 25-2-2013, tôi được biết ở Bà Rịa – Vũng Tàu đang bị hạn hán, nguy cơ mất trắng. Vậy tôi yêu cầu bộ trưởng xuống gia đình tôi ngay để tôi cứu giúp họ…” “Siêu dị nhân” đuổi mưa sau khi nhắc đến chuyện tiền bạc, lại bắt đầu kể khổ. Anh Hoàng và cuốn sổ ghi lời chứng nhận mà theo anh là mời mưa thành công của nhiều người Tôi bảo: “Anh phải chứng minh khả năng mình mời được mưa là có thật, tôi sẽ mời các nhà khoa học nghiên cứu và chứng nhận. Khi đó, không cần phải Chính phủ, Nhà nước, mà cả thế giới này sẽ phải nhờ đến anh. Hàng ngàn hộ dân trồng cà phê trong Tây Nguyên sẽ cúng anh bạc tỷ để anh mời mưa chống hạn cho họ”. Mặc dù tôi đã chỉ cho đường đi nước bước, song “dị nhân” Lê Minh Hoàng vẫn không chịu hiểu. Anh vẫn cứ nằng nặc yêu cầu Nhà nước, Chính phủ phải cấp tiền cho anh, trước khi yêu cầu anh mời mưa chống hạn. Theo lý luận của anh, thì anh đã làm không công nhiều năm nay rồi. Anh đã phải chịu cảnh đói khổ, mất vợ, vì suốt ngày mời mưa cứu đất nước! Để chứng minh việc mình bị xù nợ, “siêu dị nhân” Lê Minh Hoàng mở cuốn sổ ghi chép. Một trong số những lời chứng nhận anh Hoàng mời mưa thành công (?!) Tôi đọc thấy nội dung đại để: “Anh Sang Toàn ở tiểu khu 32 thách đố anh Hoàng mời mưa để cứu cánh đồng rau cải đang khô héo. Nếu anh Hoàng gọi mưa thành công, thì sẽ tặng 10 triệu”. “Siêu dị nhân” Lê Minh Hoàng kể: “Hôm ấy mình đã làm lễ trên bàn thờ, rồi ra cánh đồng rau cải hát bài Mời mưa. Ngay chiều hôm đó mây đen kéo đến, mưa 3 ngày liền. Mình đòi tiền thì anh ấy bảo “Nắng mưa là do trời đất chứ do đếch gì mày mà tao phải trả tiền”. Mình bảo, “nếu không trả tiền thì anh mua con chó làm thịt, để anh em cùng ăn cho vui”, nhưng anh ấy cũng không đồng ý. Số tiền 10 triệu này mình vẫn ghi nợ. Còn nhiều vụ thách đố lắm. Nếu họ quân tử, thì mình giàu to rồi, chứ chả phải nghèo đói húp cháo như thế này đâu”. Không chỉ tuyên bố có khả năng mời mưa, mà anh Hoàng còn khẳng định đuổi được bão khỏi lãnh thổ Việt Nam. Chứng nhận bản quyền bài hát Mời mưa Tôi hỏi: “Anh lấy gì để chứng minh có khả năng đuổi được bão?”. Anh Hoàng cho biết: “Nhà báo không thấy năm nào dự báo thời tiết cũng có trên dưới chục cơn bão có nguy cơ đổ bộ vào Biển Đông à? Nhưng chúng ta có phải đón nhận tất cả những cơn bão đó đâu? Một là mình đuổi hết đi, hai là mình tác động làm cho nó giảm nhẹ thành áp thấp, để đất nước đỡ thiệt hại”. Tôi thắc mắc lại: “Vậy tại sao anh không đuổi chúng hết đi, hoặc làm giảm nhẹ nó, sao lại vẫn để bão đổ vào Việt Nam. Chẳng hạn cơn bão Sơn Tinh năm 2012 làm thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng, chết hàng chục người?”. Khi bị chất vấn, “dị nhân” Lê Minh Hoàng tìm cớ chối rằng thời điểm đó bị ốm. Mỗi khi ốm thì năng lượng trong cơ thể ít đi, nên không đủ sức cản phá bão. Cũng theo anh này, đợt đó anh ta đã cố gắng lắm mới làm giảm sức mạnh của cơn bão Sơn Tinh, nếu không, có khi còn có cả sóng thần, chết cả triệu người (?!). Theo “dị nhân” này, anh có nhiều cách điều khiển bão. Ngày đầu, anh thắp hương trước bàn thờ cầu xin thánh thần cho sức mạnh đẩy bão đi, nhưng sau này, khả năng lên cao thì làm đơn giản hơn. Anh Hoàng trao đổi với phóng viên trong căn nhà cũ nát nhất làng Phúc Khê Anh Hoàng khẳng định, anh biết bão sẽ hình thành và đổ bộ từ mấy tháng trước. Anh sẽ vẽ trung tâm cơn bão lên lòng bàn tay, rồi dùng ý nghĩ đẩy nó đi theo hướng khác, đồng thời làm giảm sức mạnh của nó (?!). Anh cho biết: “Điều khiển nó trên bàn tay thường không chính xác, vì bão cứ chạy linh ta linh tinh. Sau mình lấy bản đồ trên sách địa lý của con rồi vẽ cơn bão lên đó để điều khiển. Mình vẽ nó lên hướng Bắc thì nó phải chuyển hướng lên phía Bắc. Mấy lần mình vẽ cho nó vào Đài Loan, bão chuyển hướng ngay vào Đài Loan. Nhiều khi, bão về Trung Quốc nhiều quá, thấy tội cho dân chúng của họ, nên mình tác động làm giảm xuống thành áp thấp. Sau này, khả năng lên cao, mình chỉ vạch một đường màu đỏ ở Biển Đông, thì đố cơn bão nào đi qua được”. Tôi hỏi tiếp: “Thế anh có biết năm 2013 có mấy cơn bão không? Anh sẽ khống chế nó chứ?”. “Dị nhân” Lê Minh Hoàng khẳng định sẽ không đuổi bão miễn phí nữa. Anh cho biết: “Nếu cơ quan Nhà nước trả tiền cho mình để mình đóng tiền học cho con, mua gạo ăn, thì mình mới tiết lộ và mới thực hiện”. Cuộc trò chuyện với “siêu dị nhân” kéo dài liên miên, không biết chừng nào mới dứt. Hết đuổi bão, “siêu nhân” này lại chuyển sang chuyện tác động khiến Nam Cực, Bắc Cực lạnh hơn, chống băng tan, hạ nước biển dâng, giảm khí nhà kính. Rồi thì mời mưa để giúp các thủy điện ăm ắp nước, tác động khiến trái đất khỏi bị lệch tâm khiến nhiệt độ tăng cao, cuộc sống bị hủy diệt. Câu chuyện tiếp tục rẽ sang hướng khác, khi “dị nhân” này khẳng định có thể cứu các doanh nghiệp sắp phá sản bằng cách chỉ cho họ đường đi nước bước, rồi có thể khống chế cả dịch cúm, dịch tai xanh, dịch rầy nâu… Nếu cứ tiếp tục câu chuyện, thì “siêu nhân” này có lẽ sẽ lại tuyên bố chống được cả bão từ, đuổi cả thiên thạch có ý định lao vào trái đất. Trước khi rời căn nhà trống hoác, chẳng có đồ đạc gì, tôi đề nghị siêu dị nhân Hoàng mời mưa để chúng tôi hưởng chút mát mẻ, nhưng dị nhân này kiên quyết từ chối: “Cứ phải có tiền thì mình mới mời mưa”. =================== Kho học là phải khách quan, cần thiết thì phải kiểm chứng bằng phương pháp mang tính khoa học thực sự, chứ không phải chiêu trò lừa đão hay thủ thủ thuật tiểu xảo và cũng không phải ngồi một chổ mà phán rằng hoang tưởng. Chỉ cần một lời phát biểu của tay Dãnh Thấy Khu...ý lộn Vũ Thế Khanh này cũng thấy rõ chẳng có tinh thần khoa học tí nào cả.
-
Như vậy có ứng nghiệm với quẻ đoán lần trước không? diduong xác nhận lại giùm nhé.Thiên Đồng
-
Công nhận người xưa chém gió thật...thần sầu.
-
Hỏi Sư Phụ vì biết nó có vấn đề. Trong quái dịch Càn cũng có nội dung chỉ rõ là con ngựa, mà ngưa có bờm trắng nữa cơ chứ.Thế mới...có vấn đề!
-
Thưa sư Phụ, Đệ tử lang thang trên mạng thì thấy một clip phong thủy nói về ngựa thuộc hành hỏa, nên những bức tranh ngựa không nên có nền là khung cảnh sông nước ao hồ....Điều này có đúng không thưa Sư Phụ? Thiên Đồng
-
Công Viên Văn Hóa Toilet Đến “Công viên Văn hóa toilet” bạn sẽ được khám phá nhà vệ sinh công cộng từ thời La Mã Cổ đại, nhà vệ sinh Châu Âu thời Trung đại và nhà vệ sinh ở Hàn Quốc cách đây 1.000 năm. Ngày 4/7/2012, công viên mang tên “Công viên Văn hóa toilet” đã chính thức mở cửa tại thành phố Suwon, Hàn Quốc. Đây là công viên đầu tiên trên thế giới về chủ đề nhà vệ sinh. Ông Sim Jae-Duck (thị trưởng thành phố Suwom vừa mới qua đời), người được mọi người gọi một cách trìu mến là “Ngài Toilet” đã có công rất lớn trong việc cải thiện nhà vệ sinh công cộng tại Hàn Quốc. Ông Jae-Duck cũng là người thành lập “Hiệp hội toilet thế giới”. Để tưởng nhớ ông Jae-Duck người dân đã quyên góp tiền xây dựng một công viên về chủ đề toilet. Bên trong công viên có tòa nhà hình chiếc bồn cầu và tượng người bằng đồng đang đi vệ sinh. Công viên còn có bảo tàng toilet, nơi trưng bày các nhà vệ sinh công cộng từ thời La Mã Cổ đại, nhà vệ sinh Châu Âu thời Trung đại và nhà vệ sinh ở Hàn Quốc cách đây 1.000 năm. Theo Afamily
-
- 1
-
-
Ngồi thiền cùng Tướng Giáp Trong miền ký ức của ba tôi - nhà văn Sơn Tùng đã có hình bóng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngay từ khi còn là học sinh Trường tư thục Vũ Đăng Khoa, thị trấn Cầu Giát. Tiếp đến những năm tháng nghe theo tiếng gọi Tổ quốc xếp lại bút nghiên lên đường, ông cùng Phan Hồng Thực, Trịnh Keng, Hồ Hải Kháng, Đặng Văn Thắng vào Trường lục quân Trần Quốc Tuấn khóa VI năm 1950. Và sau này trên chặng đường đi tìm “Đi tìm ẩn tích Hồ Chí Minh” ba tôi mới có điều kiện được kiến diện Đại tướng và ông đã nhận được tình cảm của Đại tướng bằng những tác phẩm viết về Bác Hồ và các vị lãnh tụ kiệt xuất của lịch sử như Búp sen xanh, Bông sen vàng, Trái tim quả đất..., “Cảm” bằng sức lao động của một nhà văn thương binh hạng nặng 1/4, sức khỏe còn 19%. “Cảm” bằng nhân cách, sự khẳng khái, quan niệm và đức tin của một nhà văn. Còn tôi lại có cái may hơn mấy anh chị em trong gia đình là được sống cùng ba mẹ nên mới biết được đôi ba câu chuyện về con người vĩ đại này. Tôi nhớ, từ sau khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp thôi giữ chức Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng về nghỉ hưu, hàng năm đến ngày sinh nhật (25/8), Ngày thành lập quân đội (22/12) và ngày Tết Nguyên đán, ba tôi dẫn đầu anh em chiếu văn, có khi cùng con cháu trong gia đình lên chúc mừng Đại tướng sau khi được đại tá Nguyễn Huyên, Thư ký của Đại tướng cho phép. Ngày đó chiếu văn sinh hoạt rất đông khoảng trên 30 người, họ là các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà học giả, nhà giáo, nhà báo, giáo sư, nhà ngoại giao, chuyên viên cao cấp chính phủ quân đội... như: Sơn Tùng, Minh Giang, Mạc Phi, Siêu Hải, Mai Hồng Niên, Văn Cao, Đặng Đình Hưng, Đào Phan, cụ Nguyễn Trọng Phấn, GS. Viễn Đông Bác Cổ, Phan Ngọc, Hồ Sỹ Giàng, Hồ Sỹ Bằng, Hoàng Nhật Tân, Trần Bá, Cao Ngọc Thắng, Phùng Văn Mỹ, Hoàng Kính, Trần Văn Chan, Kim Côn, Thiếu tướng Đỗ Đức Dục, cụ Ngô Thức, Nguyễn Văn Hiến, Đậu Quý Hạ, Phan Hữu Phúc, Phạm Quốc Vinh, cụ Phí Văn Bái, Phạm Hiện, Trần Văn Hà, Lê Văn Điêng... Đại đa số anh em chiếu văn ngày ấy đều có hoàn cảnh khó khăn nên quà mừng Đại tướng chỉ có sách báo, tranh ảnh do anh em sáng tác, sưu tầm, hoặc góp tiền lại để mẹ tôi lên phố Hàng Quạt đặt thêu bức trướng chúc mừng, còn phần lời chúc thường do ba tôi sáng tác sau nhiều hôm trăn trở, cũng có khi là hộp bánh, bó hoa, phong kẹo sôcôla ngoại. Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngồi thiền. Thường vào những ngày kỷ niệm như thế này, có hàng trăm đoàn khách từ khắp nơi trong và ngoài nước xếp hàng chờ đợi đến lượt vào chúc mừng Đại tướng, nên thời gian rất hạn chế trong khoảng 30-40 phút, vừa đủ cho anh em trong chiếu văn chào hỏi, chúc tụng và có dịp tặng sách, chụp ảnh chung với Đại tướng. Do đó, trước khi chào tạm biệt ra về, ai nấy cũng cảm thấy luyến tiếc. Trong những dịp gặp nhau hiếm hoi như vậy, tôi thấy điều đầu tiên bao giờ Đại tướng cũng chủ động cầm lấy đôi bàn tay thương tật của ba tôi vừa đưa ra chào mà nói: “Sơn Tùng có khỏe không, anh ngồi đây với tôi”. Nhiều lần ba tôi giữ ý tìm cách đứng xa một chút để anh em khác có được điều kiện chụp ảnh chung với Đại tướng làm kỷ niệm. Mùa thu năm 1993, tôi có may mắn được ngồi hầu chuyện với Đại tướng Võ Nguyên Giáp gần 2 tiếng đồng hồ. Nguyên do tôi có được diễm phúc đó là hôm sinh nhật Đại tướng Võ Nguyên Giáp 25/8/1993, trong đoàn chiếu văn lên chúc mừng có thêm nhà thơ Hồ Khải Đại, người Quỳnh Đôi đem theo món quà mừng là một bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Nho viết trên giấy hồng điều, bài thơ đó như sau: Chung thân bằng hữu thị nhân dân Vi tướng vi sư vi nghĩa nhân Văn Võ song toàn Nguyên Giáp giả Tâm tri thiên hạ sự như thần. Sơn Tùng dịch thơ: Trọn đời vì nước vì dân Là thầy, là tướng, nghĩa nhân làm đầu Võ Văn Nguyên Giáp song toàn Như thần thấu suốt nhân gian lòng người. Vì bài thơ viết trên giấy sợ để lâu ngày sẽ phai, hơn nữa đã là trướng mừng thọ bậc “Trưởng lão” phải được thêu trên vải điều mới trang trọng. Vì vậy, sau khi ra về chú Hoàng Kính nói với mọi người: “Chúng ta nên xin lại bài thơ đó, rồi nhờ chị Mai (tên mẹ tôi) lên Hàng Hòm đặt thêu, phần kinh phí tôi sẽ chịu, còn anh Sơn Tùng dịch nghĩa để mọi người hiểu hết ý thơ”. Từ lý do trên, khoảng một tuần sau ngày sinh nhật, hai mẹ con lên nhà Đại tướng bằng chiếc xe đạp cũ mà tôi thường đi làm hàng ngày. Lúc đó vào độ 4-5 giờ chiều, có lẽ giờ này Đại tướng đã vắng khách nên tôi thấy cửa phòng khách gia đình đầu hồi hướng đối diện với phòng làm việc quân cơ không mở, mà chỉ mở cánh cửa hướng ra khu vườn phía đường Hoàng Diệu. Trước khi đi mẹ tôi đã gọi điện cho Đại tướng nói rõ lý do, nên hai mẹ con vừa bước lên bậc tam cấp vào nhà đã thấy Đại tướng ngồi đợi trên ghế salon, trên bàn để sẵn bài thơ của nhà thơ Hồ Khải Đại. Đại tướng Võ Nguyên Giáp và nhà văn Sơn Tùng trong buổi trò chuyện về thiền. (Ảnh được công bố lần đầu tiên). -“Em chào anh, hai mẹ con em lên xin lại anh bài thơ” - Mẹ tôi chủ động chào và nói với Đại tướng - “Chị với cháu ngồi xuống đây uống nước”. Đại tướng vừa nói vừa chỉ tay xuống hai chiếc ghế salong đơn bọc nệm phía đối diện. Rồi hỏi tiếp: “Anh Sơn Tùng có khỏe không chị”. Tôi nhanh nhảu trả lời: “Thưa bác, mấy hôm nay thời tiết thay đổi nên ba cháu lại đau vết thương trên đầu”. Tôi vừa ngừng lời thì mẹ tôi nói tiếp: “Khổ quá anh ạ, anh nhà em còn mấy mảnh đạn trong đầu, thỉnh thoảng lại nhô lên làm chảy máu buốt nhói như dao đâm, nhưng em chẳng biết làm sao” Nghe mẹ con tôi nói thế, gương mặt Đại tướng thoáng buồn, đôi mắt hướng vào tôi hỏi “Thế bố cháu hàng ngày sinh hoạt thế nào, dạo này ăn uống ra sao? -“Thưa bác, ba cháu thường dậy từ lúc 2-3 giờ sáng ngồi thiền, thiền xong thì đi xuống sân tập thể lấy nước để tắm rửa vệ sinh, rồi lên thắp hương ban thờ gia tiên, sau đó mới ngồi vào bàn viết; nếu không viết được gì thì đọc sách cho đến 9-10 giờ sáng, khi có khách đến lại ra tiếp khách. Còn ăn uống thì ba cháu ăn ít lắm, mỗi bữa chừng non nửa bát cơm, chủ yếu ba cháu ăn rau nhiều”. Nghe tôi nói thế, Đại tướng trầm ngâm, đôi mắt hướng nhìn ra hàng cây cổ thụ đứng lặng trong khu vườn phía đường Hoàng Diệu một lát sau, nhìn mẹ tôi ông nói với giọng dặn dò “Tôi nghe nói rau gì bây giờ cũng nhiễm nhiều thuốc trừ sâu lắm chị nhé, bởi vậy chị nên mua giá đỗ cho anh Sơn Tùng ăn; rau giá đỗ lành, rất tốt lại bảo đảm không bị nhiễm thuốc sâu, tôi vẫn thường xuyên ăn rau giá đấy. Còn cháu nói bố cháu buổi sáng ngồi thiền là thiền như thế nào?”- Ông nhìn tôi hỏi.Tôi trả lời: “Thưa bác ba cháu ngồi thiền theo lối “tọa thiền”, nhưng cháu chịu không làm được” Vừa nói dứt câu, tôi thấy Đại tướng ngồi lùi sát thành ghế salon rồi co hai chân lên để chuẩn bị ngồi theo lối “tọa thiền”. Tôi sợ ông ngồi “tọa thiền” trên ghế salon bọc nệm mút sẽ rất khó nếu không khổ luyện qua hàng chục năm trời, nên vội bước tới đỡ chân, nhưng Đại tướng xua tay và nói, “Không cần đâu, bác tự làm được”. Rất nhanh, hai chân bắt chéo hình hoa sen, hai bàn tay để lên hai vai, hai mắt nhắm hờ, Đại tướng hỏi tôi: “Có phải bố cháu ngồi thiền như thế này không?” - Tôi trả lời: “Ba cháu ngồi như thế nhưng hai bàn tay úp vào nhau và để trước ngực”. Thấy tôi nói thế, Đại tướng liền đổi tư thế như tôi vừa trình bày. Chưa đầy 5 phút ông đã nhập thiền, tôi lặng ngắm nhìn Đại tướng, giờ đây trông ông như một vị Bồ Tát đang niệm kinh cứu độ chúng sinh. Sau khi nhập “thiền” xong, Đại tướng trở lại thế ngồi bình thường rồi nói với hai mẹ con. “Tôi có nghe nói người ta xây nhà tình nghĩa cho Sơn Tùng nhưng không hiểu sao anh chị không nhận?”. Mẹ tôi có ý để tôi thưa chuyện với Đại tướng nên ngồi im; biết ý, tôi thay mẹ kể hết cho ông nghe đầu đuôi câu chuyện. Cuối cùng tôi nói thêm: “Thưa bác, ba cháu rất cảm động khi biết Thành đoàn Hà Nội chủ động khởi xướng và bỏ ra 13 triệu đồng để xây nhà tình nghĩa và ba cháu cũng rất biết tấm lòng của lãnh đạo quận Đống Đa lo cấp đất gần nơi ở cũ để xây nhà, những nghĩa cử đó không bao giờ quên. Nhưng ba cháu cũng nghĩ rằng: Nơi ở hiện tại tuy chật không được khép kín, nhưng bù lại sống ở đấy cũng thấy yên tâm, vì xung quanh là bà con trong khu tập thể đều nghèo, chất phác, hơn nữa mọi người ở đấy sống được thì mình cũng sống được. Vì vậy ngôi nhà tình nghĩa kia xin nhường cho người khác có khó khăn hơn”. Sau khi nghe tôi kể xong câu chuyện trên, không biết trong lòng Đại tướng nghĩ gì, nhưng tôi thấy ông ngồi im, đôi mắt trĩu xuống. Đại tướng cứ ngồi lặng đi như thể hóa đá, cho đến khi giáo sư Đặng Bích Hà từ phía sau phòng khách bước ra, tôi nghĩ chắc đến giờ ăn cơm, nên hai mẹ con tôi đứng dậy chào và nhận lại bài thơ trên tay Đại tướng, rồi xin phép ra về khi trời đã nhá nhem tối. Chuyện Đại tướng biết thiền tôi về kể lại với ba tôi, ông nói: “Anh Văn có hai sở thích là đánh đàn pianô và chụp ảnh.Trong album của gia đình, có rất nhiều ảnh do ông tự chụp và chụp bằng máy ảnh của mình, còn việc đánh đàn ngay từ sau khi hòa bình được lập lại trên miền Bắc, anh Văn đã tập học đàn do cô giáo Nguyễn Thị Hồng Hạnh, vợ nhà văn Đào Vũ hướng dẫn. Và cách nay chừng 30 năm, ba có diễm phúc đã được nghe Đại tướng công diễn bản giao hưởng bốn chương: “Điện Biên Phủ” do Đại tướng và ông Lê Liêm sáng tác. Riêng chuyện Đại tướng ngồi tọa thiền có lẽ ít người được chứng kiến, nhưng ba tin anh Văn từ nhỏ đã tinh thông “nho học”, sau này lại là một cử nhân luật kinh tế, một nhà giáo, một nhà báo, nhà sử học, luật học, nhà khoa học, nhà chiến lược và một thiên tài quân sự. Chừng ấy vốn liếng cũng đủ nói lên anh Văn là một nhân tướng phương Đông tinh thông “nho, y, lý, số” lại sống gần Bác Hồ nhiều năm, nên chuyện anh Văn biết thiền cũng là lẽ tự nhiên thôi”. Tôi nhớ, sau khi thêu xong bức trướng về bài thơ của nhà thơ Hồ Khải Đại trên nền lụa điều, ba phía viền tua vàng rất trang trọng, ba tôi cùng hai cha con chú Hoàng Kính lên nhà Đại tướng. Tại phòng khách gia đình, hai người lại có dịp ngồi đàm đạo thêm với nhau những kinh nghiệm về các thế thiền và lợi ích của thiền trong nỗi lo công việc hàng ngày“Vạn sự như lôi nhất tâm thiền định”. Hà Nội ngày 25/11/2011 Sơn Định (theo Sức khỏe đời sống) Giải mã những bí mật của thiền định Không cứ phải vào rừng kiếm một guru (lạt-ma, thiền sư v.v) râu dài mới học được thiền. Tại Mỹ, giờ đây, nhiều khi muốn tránh ngồi thiền cũng khó. Nó là môn được yêu cầu tại nhiều trường học, bệnh viện, công ty luật, các tổ chức chính phủ và cả trong nhà tù... Trong các trường bao gồm cả đại học, trung học và tiểu học ở Fairfield, Iowa, học sinh ngồi thiền tập thể 2 lần mỗi ngày. Ngay các khách sạn khu Catskills ở New York đã trở thành các trung tâm thiền nhanh đến nỗi được gọi là Buddhist Belt (Vành đai Phật giáo). Trào lưu thiền định khởi phát có nguyên do từ cả văn hóa lẫn y học. Ngày càng có nhiều thầy thuốc ở Mỹ đề nghị bệnh nhân ngồi thiền như một biện pháp phòng và điều trị các bệnh mạn tính như tim, AIDS, ung thư, vô sinh và đặc biệt là các bệnh rối loạn thần kinh, trầm cảm. "30 năm nghiên cứu đã cho chúng tôi thấy thiền định có tác dụng tuyệt vời trong việc giảm stress", Daniel Goleman cho biết. Ông là tác giả của Destructive Emotions - cuốn sách miêu tả một cuộc đối thoại giữa Đạt Lai Lạt Ma và một nhóm các nhà thần kinh học. "Nó rèn luyện đầu óc và khiến bộ não linh động". Các kỹ thuật quét ảnh não tân tiến cho thấy thiền có thể "rửa" lại não, giải tỏa các khu vực căng thẳng vì máu ở trong tình trạng ách tắc... Bộ não, như cơ thể, có thể trải qua những thay đổi cực nhỏ trong thiền định sâu. Năm 1967, giáo sư Herbert Benson ở đại học Y Harvard đã tiến hành nghiên cứu trên 36 người thiền định và thấy rằng khi ngồi thiền họ dùng lượng oxy ít hơn bình thường 17%, giảm 3 nhịp tim/phút và tăng sóng theta ở não - hệt như trạng thái trước ngủ - trong khi toàn não vẫn tỉnh táo. Những năm 70, Benson còn chứng minh rằng người ngồi thiền có thể đạt được trạng thái tỉnh táo hơn và hạnh phúc hơn. "Tất cả những gì tôi làm là dùng logic sinh vật học để giải thích thứ kỹ thuật được con người đã dùng hàng nghìn năm nay", Benson nói. 7 năm sau, tiến sĩ tâm thần học Gregg Jacobs, Đại học Harvard, qua ghi sóng não đã phát hiện ra rằng những người thiền có thể sản ra rất nhiều sóng theta và có thể phong tỏa phần não trước vốn nhận và xử lý cảm giác, ngoài ra họ cũng giảm thiểu hoạt động ở phần thùy đỉnh não, nơi phụ trách các cảm giác về không gian - thời gian. Bằng cách "tắt" thùy đỉnh não, người ta có thể mất cảm giác về giới hạn và thấy vũ trụ "trở thành một". Công nghệ dựng ảnh não ra đời càng thúc đẩy thêm các nghiên cứu. Năm 1997, nhà thần kinh học Andrew Newberg, thuộc Đại học tổng hợp Pennsylvania, đã dùng tia phóng xạ để xem áp lực máu trong não của một nhóm các thiền sư và phát hiện rằng khi họ nhập định, não của họ không "tắt" mà chỉ phong tỏa các thông tin lên thùy đỉnh não. Nghiên cứu thiền định đã có bước đột khởi vào tháng 3/2000 khi Đạt Lai Lạt Ma gặp gỡ các nhà thần kinh học ở Ấn Độ và yêu cầu sử dụng các kỹ thuật dựng ảnh não hiện đại nhất để quan sát các đại sư thiền định (gắn đầy các điện cực). Các kết quả thu được sẽ được thảo luận vào tháng 9 tới. Người Mỹ đang say mê thử các kỹ thuật thiền như Vipassana (tập thở), thiền hành (đi bộ chậm trong tỉnh giác), TM (thần thiền, bằng cách nhắc đi nhắc lại những thần chú tiếng Phạn), Dzogchen (tỉnh giác) và thậm chí cả thiền vũ (nhảy theo nhạc). Roger Walsh, giáo sư triết học, tâm thần học, Đại học tổng hợp California, nói: "Chỉ những năm gần đây tâm thần học phương Tây mới nhận ra hội chứng nhiễu loạn chú ý (không tập trung được). Nhưng các thiền giả phương Đông đã biết từ hàng nghìn năm trước rằng con người luôn bị nhiễu loạn chú ý mà không ý thức được". Hơn 10 năm trước, tiến sĩ Dean Ornish đã khẳng định thiền cùng với yoga và ăn kiêng có tác dụng giảm thiểu sự tích tụ các mảng bám ở động mạch vành. Tháng 4/2003, tại đại hội của Hội Tiết niệu Mỹ, ông đã công bố nghiên cứu rằng thiền định có thể làm chậm lại sự phát triển của ung thư tuyến tiền liệt. Tại Đại học Cambridge, John Teasdale chứng minh rằng thiền giúp bệnh nhân trầm cảm rất hiệu quả và giảm tới 1/2 khả năng tái phát bệnh. Ngoài ra, Jon Kabat-Zin, người thành lập Trung tâm trị liệu Stress năm 1979, đã giúp đỡ hơn 14.000 người vượt qua các bệnh đau đớn không cần dùng thuốc bằng cách tập trung thiền định. "Thiền cực kỳ hữu dụng với những bệnh nhân ung thư, AIDS hay các bệnh đau mạn tính", Jon nói. Cũng theo Jon, kỹ thuật thiền định càng hoàn hảo, người ta càng có nhiều kháng thể và hệ thống miễn dịch của cơ thể càng lớn mạnh. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu mới cũng cho thấy thiền đôi khi có thể thay thế được Viagra vì nó mang lại rất nhiều sinh lực. Nữ nghệ sĩ Heather Graham bắt đầu ngồi thiền từ 12 năm trước dưới sự hướng dẫn của David Lynch, đệ tử của Maharishi nổi tiếng. "Thiền định đã khiến đời tôi đổi khác", chị nói. "Vào cuối ngày, những chuyện eo xèo trên phim trường chẳng còn ý nghĩa gì với tôi nữa". Rất nhiều người Mỹ nổi tiếng đã ngồi thiền. Như Goldie Hawn, với thiền phòng đầy ảnh Đạt Lai Lạt Ma và Mẹ Teresa; hay Bill Ford, ông chủ hãng Ford Motors; cả Hillary Clinton cũng nói đến ngồi thiền; rồi vợ chồng nhà Al Gore. "Cả hai chúng tôi đều tin tưởng vào cầu nguyện và đặc biệt là thiền định", Al Gore, cựu phó tổng thống Mỹ, nói. ST (Theo Time)