Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

wildlavender

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    6007
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    103

Everything posted by wildlavender

  1. Những điều căn bản về Mật Tông. 1. Mật Tông là gì? 2. Tu Mật phải làm gì? 3. Quan điểm của người tu Mật. Phần 1 HL: Mật Tông là gì? HP:Mật Tông là một tông phái của Đạo Phật dùng các Mật Ngữ của Chư Phật làm phương tiện tu hành. HL: Mật Ngữ là gì? HP: Mật Ngữ có nghiã là lời nói kín, gọi là chân ngôn, tức là lời nói chân thật. Mật ngữ còn gọi là chú, đây là tiếng thông thường người đời hay dùng nhất, chú cũng có nghiã là lời nói bí mật vậy. HL Tại sao là chú lại là bí mật? HP: Bí mật vì nó không được giải nghiã, bí mật vì chỉ có Chư Phật thì mới hiểu trọn vẹn. Bí mật vì nó đem lại những kết quả không thể ngờ. Bí mật vì tùy trình độ căn cơ và sự ứng dụng, mỗi người hiểu một khác nên đạt một kết quả khác nhau. Bí mật vì nó chỉ truyền đạt do Tâm truyền tâm giữa Thầy Trò, giữa Chư Phật hoặc người nói ra chân ngôn với hành giả, điều này, chỉ người nào tu Mật rồi thì mới chứng nghiệm được. Bí mật vì kết quả đạt được tuỳ vào tâm của hành giả. HL: Tại sao lại dùng chú làm phương tiện tu hành? HP: Theo Đạo Phật thì có rất nhiều cách để đi đến cứu cánh giải thoát, có người niệm Phật, có người tụng kinh, có người ngồi thiền, vậy thì dùng chú cũng chỉ là mượn xe để đi đến đích mà thôi. HL:Tại sao lại chọn chú mà không dùng các cách khác như niệm Phật, tụng kinh? HP: Trong một cuộc hành trình muốn đi đến mục đích nào đó, người ta thường thích chọn xe nào đi cho nhanh nhất, và thoải mái, vậy thì việc chọn chú hay dùng cách phương tiện khác cũng là như thế mà thôi. HL: Tại Chú là phương tiện đi nhanh nhất? HP: Vì dùng chú thì ngoài tự lực của mình, còn nhờ tha lực như đi thuyền biết trương buồm, nên nhờ đến sức gió đẩy mà đi nhanh hơn. HL: Vậy thế nào là tự lực? Thế nào là tha lực? HP: Tự lực là dựa vào sức của chính mình mà thành việc, tha lực là nhờ vào sức khác ở ngoài mà trợ giúp, người tu mật tông nói đến tha lực là nói đến sức hỗ trợ vô hình từ các cõi khắp thế gian đưa đến. HL: Vậy tại sao là phải nhờ vào tha lực? HP: Bởi vì sức người có hạn, và sức ngoài thì vô hạn, nếu nương vào sức đó thì sẽ giúp ta sớm đạt được kết quả HL: Nhờ đâu ta có tha lực hổ trợ? HP: Nhờ chân ngôn tức chú. HL: Căn cứ vào đâu mà nói chú lại có tha lực? HP: Điều này thuộc về bí mật mà chỉ có thể chứng minh bằng đức tin của mình, bằng sự chứng nghiệm và cảm nhận. Kết quả chỉ được xác mình khi thực sự đã hành trì. HL: Vậy thì chú do đâu mà có? HP: Chú do tâm Phật mà có, Chú do lòng thương sót chúng sinh mà có, Chư Phật , chư bồ tát hoặc các vị khác khởi từ tâm chân thật, lòng thương xót chúng sinh mà nói ra chú để cứu độ. Vì xuất phát từ tâm chân thật nên có tên là chân ngôn. Lời bàn thêm của đệ: Tụi mình để ý đến hai cách trình bày một sự việc như sau: Cũng như khi ta dùng câu: Tiếng chó sủa để diễn tả hành động của con chó. Thì ta còn một cách khác nữa là ghi lại: Gâu! Gâu! Vốn là âm thanh thật sự của con chó khi sủa. Thêm một ví dụ nữa để cho thật là rõ: Khi ta dùng câu: Tiếng xe đang leo dốc nặng nhọc thì đó là ta đang nói về cái tiếng phát ra từ cái máy xe khi leo dốc, nhưng không có âm thanh. Nhưng khi để diễn tả rõ ràng hơn thì ta lại dùng thuật ngữ: Xe ầm ì leo dốc một cách nặng nhọc: Ùnn! Ùnn!!! Thì âm thanh ầm ì: Ùnn! Ùnn! đó chính là tiếng động do máy xe phát ra khi leo dốc. Thì ở đây, khi bàn về những hành động cứu độ của một Đức Phật (như Ngài A Di Đà Phật chẳng hạn) thì ta phải nói đến bốn mươi hai đại nguyện của Ngài : Nhưng khi đối trước Pháp Thân và lắng nghe âm thanh của Ngài khi cứu độ thì mình lại nghe được chân ngôn là “Hrih” vốn là cái âm thanh đại diện cho những đại nguyện của Ngài. Và khi ta dùng tâm ta để phát ra chính cái âm thành này thì ta lại vô tình ... được đồng hành với Pháp Thân do vậy mà có kết quả nhanh chóng. HL: Đọc chú có lợi ích gì? HP: Vì chú xuất từ chỗ vô hạn là tâm Phật, nên lợi ích của nó cũng vô cùng, không thể kể hết, nên đối với người tu thì lợi ích đúng đắn và thiết thực nhất là giúp chúng ta được tìm cầu giải thoát mau chóng, giúp người khác cùng tiến với ta trên con đường giải thoát còn các pháp khác như là thần thông trừ tà ma, chữa bệnh là phụ. Không nên nhìn chú bằng con mắt hạn hẹp đó. HL: À!!!! Vậy những ai có thể đọc chú được? HP: Chú là phương tiện của Phật cho mượn, nên ai mà không có quyền đọc? Tuy nhiên khi ta mượn một cái xe thì điều cần thiết nhất là ta phải biết sử dụng nó hay không? Nếu không thì xe lại trở thành một trở ngại, một khó khăn cho ta, làm cho ta dừng lại với xe mà không tiến được trên con đường Đạo. Bởi vậy, những người biết lái xe, hiểu bệnh của xe, phải là người được huấn luyện chuyên môn. Do đó đọc chú thì ai cũng đọc được nhưng có kết quả hay không? Kết quả nhiều hay ít thì đó mới là vấn đề!!! Ấy là chưa nói đến cái hại có thể đến nữa. Nói như thế không hẳn chỉ những người tu chân ngôn mới được đọc chú mà bất cứ ai nếu với tâm thành thật hướng đến sự tốt lành của ngươ‘i khác vẫn có thể dùng chú mà vẫn thấy linh nghiệm. HL: Đọc chú đòi hỏi những điều kiện gì? HP: Đương nhiên là cần một số điều kiện, thông thường thì ta phải có sự tin tưởng vững chắc vào chúng, lòng thành khẩn khi đọc, hướng về sự làm lợi ích cho tha nhân hay các chúng sanh. Người tu Mật Tông còn cần nhiều điều khác như: phải xả thế nào? Dụng tâm ra sao? Dụng ý thế nào? Dùng lực làm sao? Dụng thế nào trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm , ngồi? Phải làm thế nào để “Tam Mật Tương Ưng”? Phải làm lợi ích cho chúng sanh thế nào? Phải hồi hướng công đức ra sao? Tất cả những điều đó, nói riêng cho người tu Mật sẽ được giải đáp trong phần 2 (Người Tu Mật Tông Phải Làm Gì?). HL: À!!! Vậy khi nào nên đọc chú? Và khi nào không nên đọc? HP: Nên đọc chú lúc tâm thanh tịnh, làm lợi lạc cho người khác! Không nên đọc trong lúc tâm rối loạn hay khởi những ý ác hại người. Tuy nhiên, nếu giữ được tâm bình thản thì lúc nào cũng đọc được. Ngược lại chú cũng giúp cho tâm ta an ổn khi ta biết sử dụng chú đúng lúc và đúng chỗ. Đối với người tu Mật thì không có lúc nào là không nên đọc chú, vấn đề là nên đọc chú nào? Vào trường hợp nào, để làm lợi lạc cho chúng sanh. HL: Đối với người tu Mật thì mục đích trì chú là gì? HP: Mục đích tối hậu là giải thoát cho mình và để cứu độ cho người khác.Mục đích là phải tu thành Phật bằng phương tiện trì chú ngay hiện kiếp. HL: Muốn tu thành Phật bằng phương tiện trì chú thì phải làm sao? HP: Thì hành giả tu Mật phải thực hiện được “Tam Mật Tương Ưng” nghiã là làm sao cho thân, khẩu, ý giống như chư Phật. HL: Làm thế nào có được “Tam Mật Tương Ưng”? HP: Muốn được Tam Mật Tương Ưng thì phải qua một quá trình tu tập và hành trì. Đi nhanh hay chậm là ở sự tự ngộ và mở tâm của mình. HL: Người tu Mật Tông đối với Giới, Định, Huệ là như thế nào? HP: Tu theo Đạo Phật mà muốn thành tựu thì chẳng có tôn phái nào mà không có Giới, Định, Huệ. Đối với người tu Mật Tông: Giới là tâm giới, định giới nghiã là tự lòng mình thấy cần phải giữ giới, tự mình trở về với cái tịnh, cái sạch đó là thân tương ưng. Nếu không giới tịnh thì việc tu không kết quả, khi đã giới rồi thì vào định chẳng khó. Vì tự giới đã sinh Định rồi lại còn nương vào oai lực của chơn ngôn nữa thì kết quả phải đạt do đó: Do có Định mà Huệ phát là cái tất nhiên. Tuy nhiên nếu nhìn sâu hơn thì Định Huệ là một, không rời nhau do đó nếu giữ Giới rồi, sau đó nương vào chơn ngôn mà hành trì thì có đủ cả Định và Huệ HL: Mật Tông thuộc Tiểu Thừa hay Đại Thừa? HP: Phân chia Tiểu Thưà và Đại Thưà chỉ là tạm tách ra cho dễ hiểu về đường hướng tu tập và quan niệm hành trì mà thôi. Mật Tông không nằm vào Thưà nào kể trên cả vì con đường Mật Tông là con đường nhanh nhất, ngắn nhất, một bước đến giải thoát nên còn gọi là “Tối Thượng Thưà” hay “Kim Cang Thưà”. HL: Thế nào là “Tối Thượng Thưà”? HP: “Tối Thượng Thưà” là một bước đi lên thành Phật, Tối Thượng Thưà là vạn Pháp thông đạt, vạn pháp đầy đủ, tâm vô cấu nhiễm, lià các pháp tướng đi hẳn vào tâm Phật. HL: Đường lối của Mật Tông ra làm sao? HP: Mật tông tu là để cứu độ chúng sanh, chớ không phải là chỉ để giải thoát cho riêng mình, do đó đường lối của Mật Tông là: mọi nơi, trong mọi lúc đều nhằm vào việc làm lợi lạc cho chúng sinh, lấy phương tiện độ sanh, độ tha làm tự độ. HL: Mật Tông khác với các Tông khác như thế nào? HP: Vì mục đích sau cùng của các Tông phái đều đạt đến chỗ “Giác Ngộ” và “Giải Thoát” vì vậy Mật Tông cũng không đi ra ngoài mục đích đó. Nếu có khác, là khác trên phương diện hành trì đối với các tông phái khác mà thôi. Hay nói khác đi là chỉ khác về cách dùng các phương tiện để đạt đến mục đích cứu cánh, vấn đề này sẽ được bàn rộng về phần 3 (Quan Niệm Của Người Tu Mật). Còn về sự khác nhau trên phương diện độ sanh tôi không nói đến vì tất cả đều là tùy duyên mà đáp ứng. HL: Tu Mật Tông có khó lắm không? HP: Khó hay dễ đều do mình, các cụ thường nói: Vạn sự khởi đầu nan, nghiã là mọi việc khi bắt đầu đều khó. Lúc quen rồi thì cũng thấy dễ thôi. HL: Người Nữ có thể tu được Mật Tông không? HP: Đạo không phân chia nam nữ, Phật không chọn nam nữ để độ riêng, vậy thì tại sao ta lại phân biệt? Đã là đi tìm giác ngộ thì già trẻ, lớn bé, gái trai gì mà không đều đi tìm giác ngộ được? HL: Hay!!! Người ta thường nói “tự tu, tự độ” thì Mật Tông có vậy không? HP: Nên hiểu “tự tu, tự độ” là mình tự tu cho mình, không ai tu dùm hoặc tu mướn cho mình được. Đừng hiểu là tu không cần Thầy! Các cụ đã dạy: “Không Thầy, đố mầy làm nên”. Vì vậy, dù thế gian hay xuất thế gian, làm việc gì muốn đạt đến đích cho mau chóng thì đều phải có học, phải có Thầy. Mật Tông cũng vậy mà thôi. HL: Người ta thường nói: Đọc chú, bất ấn và cho là mê tín và hành tà, giống như mấy ông Thầy Pháp hay là phù thủy đó. Vậy đối với Mật Tông thì sao? HP: Khi nào tin một cách mù quáng thì đó là mê tín, còn người tu Mật Tông thì biết rõ việc mình làm, có mục đích mình tiến tới, vậy sao gọi là mê tín được? Còn việc Tà hay Chánh thì phải hiểu là Đạo không phân chia tà chánh, mà tà hay chánh là do ở tâm ý của người hành đạo: Nếu ta tu theo chánh đạo mà ta dùng phương tiện đi làm việc xấu như: cướp đoạt tiền bạc, vợ con của người, lòng đầy tham sân si thì đó là ta đang hành tà. Còn nếu như Thầy pháp mà người ta làm việc cứu người, không nghĩ đến quyền lợi riêng tư của cá nhân, không hại người lành, ngăn chặn kẻ ác, thì đó là chánh chứ đâu phải tà? Về người tu Mật là: Tu để thành Phật, vậy làm sao gọi là tà được? Phật và ma chỉ khác nhau ở lòng từ bi cứu độ, mà từ bì cứu độ là tôn chỉ của Mật Tông vậy. HL: Tu Mật Tông phải cần ăn chay giữ giới không? HP: Nếu ăn chay được thì tốt, vừa ít bệnh tật và mau tiến tu hơn, vì thân thể thanh tịnh, còn như không ăn chay được thì cũng vẫn tu được, chỉ có điều là ta không thể hiện được lòng từ bi của Phật khi ta dùng thân mạng của một chúng sanh khác để nuôi sống chính bản thân của mình. Về giữ giới thì người Phật Tử nào đã quy y rồi thì đều phải giữ năm giới: Không sát sanh, Không trộm cướp. Không tà dâm. Không nói sai, nói dối, nói hai lưỡi, nói đâm thọc. Không uống rượu. Mật Tông cũng vậy thôi, vấn đề này sẽ được bàn đến trong phần sau. Người tu Mật Tông khi thật sự đã hành trì thì không nói đến giữ giới mà tự giữ giới còn hơn ai hết. HL: Nhưng làm sao để chọn chú nào mạnh, chú nào yếu? Chú nào linh, chú nào không linh? HP: Mạnh hay yếu, thì khi nào học và hành trì thì sẽ rõ. Linh hay không là do ở mình. Các cụ có nói: “Linh tại ngã, bất linh tại ngã” ta không nên quên điều đó. HL: Người Phật Tử khi đọc kinh sách gặp một câu chú thấy ghi những kết quả lớn, thì đem trì tụng như vậy có ích lợi không? HP: Có lợi nhưng rất nhỏ nhoi không đáng kể so với lợi ích đã ghi chép trong kinh sách. HL: Vì sao lợi ích lại nhỏ HP: Vì còn lòng tham: muốn cầu lợi riêng cho mình, vì tâm còn nhỏ hẹp nên sự linh ứng không lớn, vì không biết trì chú nên sự đáp ứng không được như ý, vì thiếu ấn pháp nên chưa trọn vẹn, vì công đức chưa đủ mà muốn được hành trì lớn. HL: Vì sao đọc chú lại cần bắt ấn? HP: Ấn là bí pháp thuộc về “Thân Mật”. Khi nào tu lâu sẽ hiểu, đại để có thể giải thích khi ta bắt ấn ta có thể phát huy cái lực của chú, cũng ví như khi mở đài TV mà có thêm ăng ten vậy. Đối với người tu Mật thì sự bắt ấn còn là một việc thể nhập vào pháp thân Phật nữa. HL: Tại sao người tu Mật lại gọi là “trì chú”? HP: Trì có nghiã là nắm giữ lấy, nếu ta chỉ đọc không thôi thì nó sẽ theo gió mà bay. Còn khi nói trì thì phải nghe rõ chú, phải theo âm thanh của chú, phải giữ chú mãi mãi không rời. Đó là sự khác nhau giữa đọc và trì. HL: Trì chú, bắt ấn bao lâu thì có kết quả? HP: Người tu Mật Tông chỉ nói đến hành trì để cứu độ chúng sanh mà thôi, chớ không mong kết quả cho mình. Còn thành tựu lâu hay mau, lớn hay nhỏ đều do ở mình. Chỉ có hai điều chắc chắn có thể nói được là: 1. Tu theo Mật Tông thì có thể tiến triển từng giờ, từng ngày. 2. Là khi có thành tựu chỉ có khác nhau ở chỗ lớn hay nhỏ mà thôi. HL: Thế nào là tiến từng giờ, từng ngày? HP: Vấn đề này thuộc về chứng nghiệm, chỉ khi nào tu thì mới thấy rõ được. Nhưng có thể nói rằng, nương vào chân ngôn, thì tiến được rất nhanh, giờ sau khác giờ trước, ngày sau khác ngày trước. HL: Tại sao thành tựu lại khác nhau lớn hay nhỏ? HP: Ở hành giả thì sự thành tựu lớn hay nhỏ là do tâm mình, nếu đem so sánh giữa hai hành giả thì tùy theo căn cơ phước đức và sự mở tâm của người đó mà có sự khác biệt. Tuy nhiên nếu gắng công tu để đạt tới sự tương ưng thì cái thành tựu ban đầu nhỏ nhoi đó sau cũng sẽ lớn lên vô hạn. Do đó, người hành giả đừng lo là không thành tựu mà cũng đừng buồn là thành tựu nhỏ. HL: Muốn tu Mật Tông thì cần phải có những điều kiện gì? HP: Cửa Phật mở rộng, không ngăn che ai cả, nên không cần điều kiện. Chỉ cần người tu hành thật sự muốn cứu độ chúng sanh là tu được mà thôi. Nếu ta sẳn có đức tin và có lòng từ thì tu đâu có trở ngại gì? HL: Điểm nào là điểm đặc biệt làm cho Mật Tông hơn hẳn các tông phái khác? HP: Mật Tông chỉ đem so sánh với các tông phái khác để biết sự khác biệt thôi, chớ không phải để phân biệt hơn kém. HL: Vậy thì có sự khác biệt ra sao? HP: Điểm nổi bật và thấy dễ nhất đó là Mật Tông lấy chú làm phương tiện và do phương tiện này, đem đến những lợi ích đặc biệt lớn lao. HL: Lợi ích lơn lao là như thế nào? HP: Nghiệp là cái đem con người trôi lăn trong sinh tử luân hồi, nay nhờ vào chú, ta chuyển được cái nghiệp đó, giải được nghiệp để sớm giải thoát, đó là điểm khác biệt quan trọng nhất của Mật Tông so với các tông phái khác. HL: Còn điểm nào khác nữa không? HP: Chú còn giúp hành giả lập công bồi đức và còn làm tiêu tội nghiệp nữa, đó là những điều mà nếu ta theo những pháp môn khác thì không giải quyết được dễ dàng. Đó là chỉ kể những vấn đề thiết thực cho vấn đề sinh tử luân hồi, chứ chưa nói đến lợi ích như chữa bệnh, tăng thêm thọ mạng ... v.v ... HL: Phật tử theo tông phái khác hay xem kinh sách và tự mình trì chú và bắt ấn như thế có được không? HP: Được chứ, có ai cấm đâu? Tuy nhiên tu học kiểu đó cũng giống như người mù chơi dao: lợi bất cập hại. HL: Tại sao lại lợi thì ít mà hại thì nhiều như vậy? HP: Vì chú là con dao hai lưỡi. nếu biết xài thì rất nhạy bén, nếu không biết xài thì dễ bị đứt tay! HL: Như vậy thì có ý nghiã gì? HP: Đã gọi là thần chú thì có những linh nghiệm lớn, thì cũng có những tác hại không nhỏ cho người hành giả nếu không biết sử dụng. HL: Hại à! Hại thì hại ra sao? HP: Đã có biết bao nhiêu tu sĩ cũng như Phật tử trì chú lâu ngày trở thành khùng điên, bất bình thường đó là phản ứng tất nhiên của chú. HL: Như vậy muốn trì chú và bắt ấn thì phải làm sao? HP: Phải được truyền pháp một cách đúng đắn qua các tu sĩ Mật Tông, hoặc những người đã tu học Mật chớ không nên tự mình làm ẩu! HL: Muốn được truyền pháp thì phải làm sao? HP: Thì phải gia nhập những dòng pháp của Mật Tông. HL: Nhập dòng pháp là thế nào? HP: Là xin gia nhập vào các dòng pháp và tu theo những người đã có kinh nghiệm và hành trì về dòng Pháp đó. Kính chào anh HL and all, Những hỏi đáp về mật tông của anh HL và HP hay lắm, anh có nghĩ rằng mình có thể in thành một tập sách nhỏ để phổ biến cho mọi người muốn tìm hiểu và tu về mật tông không ? Để lãng phí những tài liệu kinh nghiệm thật tu thật chứng thì thật uổng. Với sự phát triển của word processor, gía in ấn bây giờ không mắc lắm. Vậy xin phép 2 anh HL và HP, được cất giữ những tài liệu này trong một trang web trên internet, khi có điều kiện tài chánh sẽ xin ấn tống in thành sách biếu cho mọi người có tâm muốn học. Và xin hồi hướng tất cả công đức này cho mọi loài chúng sinh. trân trọng TN nguồn hoasentrenda.com
  2. Cô đã gởi đến Puong2009 hôm nay! Việc Puong2009 đang làm hay sẽ làm khi Tâm khởi thì Phật đã chứng !
  3. Di Lạc kịp ghi hình ảnh trật tự lúc ban đầu. Ổn định nơi này, nơi kia hổn loạn Cơn mưa bất chợt.... Tìm được nơi có mái che ...ACE tiếp tục trao quà Còn có những người không nhận quà và chỉ muốn nhận Thần Chú.
  4. Chi tiết : Xíu mại 2500 đ/ v X 660 v = 1,650,000 đ (một triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng Nước trái cây V Fresh 3500 đ /h X 330 h = 1,155,000 đ (một triệu một trăm năm mươi lăm ngàn đồng) Bánh mì . 2500 đ ổ X 300 ổ = 750,000 đ (bảy trăm năm mươi ngàn đồng) Bao bì : 67,000 đ (sáu mươi bảy ngàn đồng) Tương nêm : 24,000 đ (hai mươi bốn ngàn đồng) Tổng : 3,646,000 đ (ba triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn đồng)
  5. Đã chi cho trường hợp " Suất ăn cho...." http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/22382-suat-an-tang-benh-nhan-khoa-noi-ung-buou/page__pid__148321#entry148321 3,646,000 đ (Ba triệu sáu trăm bốn mươi sáu ngàn đồng) Quỹ hiện có : 4,400,000 đ - 3,646,000 đ = 754,000 đ (bảy trăm năm mươi bốn ngàn đồng)
  6. Được một lúc thì trời đổ mưa, tình huống này chúng tôi không lường trước vì khi đên trời còn chói chang nắng....chúng tôi di chuyển thùng quà để bảo vệ nó qua một xe nước mía ven đường, dòng người túa theo chúng tôi, khung cảnh thật quá tầm kiểm soát của chúng tôi các chị em ai cũng ướt, hình ảnh ấy như đoạn phim hoạt hình tận dụng tất cả cái gì che được để làm nắp cho thùng thức ăn và bánh mì, ngay lúc này đây tôi chạnh lòng nghĩ ngợi sao đời người khổ quá ! Chỉ 1 ổ bánh mì có nhân mà con người ta vẫn chờ đợi để được nhận đúng tiêu chuẩn của mình. Lý do mà có con số 330 ph là bởi vì khi đặt bánh mì với số lượng lớn chúng tôi được tặng 30 ổ, thế là phải thêm 30 phần nhân Xíu mại và 30 phần nước V Fresh. Quả là không dễ khi mọi việc luôn là ẩn số phía trước khi đi vào thực tế chúng ta vẫn phải có những phép toán ngoài kế hoạch, lò bánh mì mà chúng tôi hợp đồng đến khoảng 13g 30 họ báo lại không cung ứng đủ số lượng... a di đà phật. Lại có lỗi kỷ thuật rồi ! Không đươc phép để cho những người khốn khó ấy chờ đợi, tôi phải tìm nhanh 1 lò bánh khác với tiêu chí ngon ra bánh đúng số lượng và đúng giờ...nan giải đây thử thách cũng là đây! Trời không phụ lòng người với 1 địa bàn không thông thuộc mà tôi nhanh chóng tìm được lò bánh ngon đủ số lượng và đúng giờ...phù :P khỏe một mẻ mừng một mẻ. Cứ như thế đảm bảo hoàn thành kế hoạch mong muốn ACE ai cũng vui dù ướt mưa dù bị chen lấn xố đẩy mà vẫn có nụ cười, hình như chúng ta không cần phải làm những điều to tát chỉ cần những công việc nhỏ nhoi 1 giá trị cũng nhỏ nhoi nhưng với tất cả tấm lòng yêu tha nhân thì nơi cho và nơi nhận đều hoan hỷ. Chuyến từ thiện này đối với chúng tôi thật thiết thực thật ý nghĩa và cũng thật xót lòng! Các bạn đừng thắc mắc vì sao không thấy hình ảnh của Wild trong hoạt động này bởi vì phải nhận nhiệm vụ ghi ảnh và giải thích cho họ về công năng của thần chú giải thoát và cũng kiêm luôn vãn hồi kêu gọi trật tự.
  7. Suất ăn cho bệnh nhân Ung Bướu. Chiều ngày 17/8 Wild cùng chị em đến Khoa Nội E bệnh viện Ung bướu để trao 330 phiếu quà tặng trong đó có 1 phần ăn gồm 1 ổ bánh Mì + 2 viên Xíu mại + 1 lon nước uống V Fresh trị giá 11,000 đ (mười một ngàn đồng) 14g30 ngày 8/8/2011 Chúng tôi gồm có 10 thành viên thường xuyên tham gia từ thiện đã tập trung ở ngã ba Nguyễn Huy Lượng & Nơ Trang Long xéo cổng BV Ung Bướu để phân những phần quà đến những bệnh nhân mà chúng tôi đến tận khoa phòng phát phiếu trước đó 1 ngày. Dự kiến kết hợp dịp này chúng tôi trao tặng họ (những người đang đối mặt với căn bệnh quái ác) thần chú Kalachakra với ước muốn phần nào giúp họ vượt qua bệnh tật và hóa giải nghiệp chướng. Mặc dù phiếu nhận quà là 15g30 nhưng chúng tôi đến đã có họ ở đó với tấm phiếu trên tay... Dù chưa đến giờ nhưng họ vẫn chờ đợi... Còn nhiều hình ảnh nữa nhưng máy Wild download chậm quá, hẹn sẽ post tiếp vào ngày mai!
  8. Có nhận của Thuthu1101 200,000 đ (hai trăm ngàn đồng) ủng hộ Quỹ từ thiện. Quỹ hiện có : 4,200,000 đ + 200,000 đ = 4,400,000 đ (bốn triệu bốn trăm ngàn đồng)
  9. Có nhận của Bảo Hằng 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) ủng hộ Quỹ Từ thiện. Quỹ hiện có : 3,700,000 đ + 500,000 đ = 4,200,000 đ (bốn triệu hai trăm ngàn đồng)
  10. Tiền mọc chi chít trên thân cây Những đồng xu bí ẩn xuất hiện dày chi chít trên các thân cây, tại một khu rừng của Anh. Hiện tượng lạ lùng: các đồng xu ghim khắp thân cây đã được phát hiện tại những con đường mòn từ miền trung nước Anh tới miền núi tây bắc Scotland. Các đồng xu thường được người qua đường dùng đá găm vào thân cây với hy vọng nó sẽ đem lại may mắn cho họ. Những ảnh chụp cảnh tượng lôi cuốn này cho thấy các đồng xu được ấn sau vào vỏ cây và bị biến dạng theo thời gian. Phong tục hiến tặng cho Chúa trời tại cây ước có từ hàng trăm năm trước đây song sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo là vô cùng hiếm. Nhiều người tin rằng các linh hồn siêu phàm sống trong cây và họ thường treo kẹo và quà trên cây. Meurig Jones, một quản lý điền trang nói: "Sau khi phát hiện thân cây găm đầy đồng xu, tôi đã tiến hành một cuộc điều tra và phát hiện có nhiều cây khác cũng được găm tiền". Các đồng tiền xu được ghim sâu vào thân cây Một người qua đường dùng đá để ghim đồng xu của mình vào thân cây Cây tiền theo đúng nghĩa đen Theo DailyMail
  11. Tính khoa học cao trong Phong Thủy là chỗ này đấy Bác ! chỉ tiếc cho những ai luôn phủ nhận tính tương tác bắt nguồn từ lý thuyết Thống Nhất Vũ Trụ mà Lý Học Đông Phương dày công minh chứng!
  12. Do Bác Thiên Sứ giải thích theo Lý Học liên quan đến Khí tương đồng, Wild có thể giải thích thêm về Khí chất trong quan hệ vợ chồng mà điều này y học đã chứng minh qua các nhà nghiên cứu được công bố rộng rãi. trong trường hợp đối khí, 1 cặp vợ chồng có thể ăn ở với nhau 5 hay 10 năm mà không thể có con chung nhưng khi tách thửa người đàn ông kết hôn lần hai với người phụ nữ khác và người đàn bà cũng lập gia đình mới, cả hai cặp đều có con bình thường. Điều này gọi là khí chất không hòa hợp.
  13. Đã gởi đến honey hôm nay! @ Quỳnh Nga ! Cô cũng đã gởi đến con hôm nay Thần chú và Kalachakra !
  14. Củ quả màu cam ngừa ung thư. Phát hiện này vừa được công bố trên trang Asiaone.com. Các nhà khoa học đã chỉ ra, quá trình ôxy hóa của ADN, protein và lipid trong cơ thể cũng là nguyên nhân gây những bệnh mãn tính, trong đó có ung thư. Đóng vai trò "tẩy rửa" cặn bã của quá trình này, các chất chống ôxy hóa trong củ quả có màu cam sẽ giúp ngăn ngừa sự lão hóa cũng như nguy cơ bệnh tật. Cam, bưởi, quýt: Cam, bưởi, quýt chứa vitamin C, một trong những chất chống oxy hóa mạnh nhất được biết đến hiện nay. Vitamin C còn giúp chống nhiễm trùng và làm giảm nguy cơ mắc một số bệnh thông thường. Ngoài ra, các loại quả này chứa nhiều folate, một chất giúp ngăn ngừa những vấn đề về dây thần kinh ở trẻ sơ sinh; lycopene, xơ và kali cũng hỗ trợ cơ thể hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn. Vì thế ngay hôm nay bạn nên bổ sung thêm thành phần vitamin C vào khẩu phần, đơn giản chỉ cần một quả cam (ăn sống hoặc ép nước) là đủ. Bí ngô: Màu cam đậm từ trong ra ngoài của trái bí ngô là dấu hiệu sự hiện diện của chất chống ôxy hóa beta-carotene. Chất này khi hấp thu vào cơ thể sẽ được chuyển hóa thành vitamin A có lợi cho da và mắt. Bí ngô cũng giàu kali giúp hạ huyết áp và giảm nguy cơ đột quỵ. Vì thế bổ sung một bát súp bí ngô vào khẩu phần ăn hàng ngày là rất tốt, có thể nấu với thịt gà hoặc vịt, cho thêm chút muối, tiêu sẽ rất ngon. Cà rốt: Người ta còn đặt cho cà rốt biệt danh là beta-carotene (tên của chất chống ôxy hóa). Loại củ này được các chuyện gia đánh giá cao bởi nó giàu chất xơ, beta-carotene, kali, canxi, Vitamin C, D, E, K và B giúp làm sạch cơ thể bằng cách đào thải các độc tố. Củ cà rốt ăn sống hoặc nấu chín đều tốt. Loại củ ngắn (từ 15 cm trở xuống) có vị ngọt hơn. Hầu hết chất dinh dưỡng trong củ cà rốt nằm ở sát dưới lớp vỏ nên tốt nhất là để nguyên vỏ khi chế biển, chỉ cần rửa thật sạch để đảm bảo vệ sinh. Hồng: Hồng có chứa catechin và gallocatechines đều là chất chống oxy hóa và chống viêm (thành phần được tìm thấy trong lá chè xanh); axit betulinic, một hợp chất giúp chống viêm và chống virus; Vitamin A, B, beta-carotene, lycopene và zeaxanthin. Các thành phần trong quả hồng còn giúp bảo vệ mắt và ngăn ngừa bệnh vàng mắt. Loại trái cây này chín vào mùa thu. Khi chọn hồng nên lưu ý lựa những màu cam rực rỡ và không bị bầm dập. Khoai lang: Khoai lang giàu beta-carotene, Vitamin A, B6 và C. Hơn nữa loại củ này còn cung cấp protein tự nhiên, đường và canxi. Ruột khoai lang thường có màu cam hoặc tím. Trong đó, màu cam đậm là dấu hiệu sự hiện diện của carotenoids, còn màu tím chứa anthocyanins, cả hai đều là chất chống oxy hóa mạnh. Mặc dù có vị ngọt nhưng khoai lang đã được chứng minh giúp cân bằng lượng đường huyết trong cơ thể. Cách tốt nhất để nấu chín khoai lang là luộc cách thủy. Theo VnExpress
  15. Chuyên gia luật vẫn nghi có người "giật dây" sát thủ Luyện ANTĐ - "Vì sao Luyện lại tỏ ra vừa rất chuyên nghiệp, vừa rất nghiệp dư như vậy? Phải chăng có ai đứng đằng sau “giật dây”?". Thạc sỹ - Nhà giáo ưu tú Trần Đức Thìn – nguyên phó hiệu trưởng Đại học Luật Hà Nội – một chuyên gia hàng đầu về Luật hình sự Việt Nam, đưa ra nhận định. Ngày 8/9 công an tỉnh Bắc Giang tái khẳng định đủ chứng cứ xác định duy nhất Lê Văn Luyện gây án tại tiệm vàng. Nhưng Thạc sỹ - Nhà giáo ưu tú Trần Đức Thìn – nguyên phó hiệu trưởng Đại học Luật Hà Nội – một chuyên gia hàng đầu về Luật hình sự Việt Nam, lại đưa ra nhận định gây bất ngờ. Ông Thìn hoài nghi Trương Thanh Hồng và thậm chí bố đẻ của Lê Văn Luyện có thể là đồng phạm của tên sát nhân máu lạnh này. - Căn cứ vào đâu ông cho rằng Hồng là đồng phạm của Luyện? - Tôi rất nghi ngờ Trịnh Thanh Hồng là đồng bọn của Lê Văn Luyện. Bây giờ, cơ quan điều tra phải xác định được là khi Luyện gọi điện, chính xác là sau bao nhiêu phút thì Hồng có mặt? Hồng có mặt ngay hay một lúc sau mới có mặt? Nội dung trao đổi của cuộc điện thoại giữa Hồng và Luyện là gì? Trả lời câu hỏi này là căn cứ quan trọng để xem Hồng có phải là đồng phạm với Luyện hay không. Cơ quan điều tra cũng cần phải nghiên cứu kỹ địa hình, địa vật nơi Hồng và Luyện gặp nhau. Tôi nghi ngờ Hồng không chỉ vì anh ta là người người trực tiếp đón Luyện từ địa điểm gây án về nhà, cho thay quần áo rồi đưa đến trạm y tế xã để khâu, băng bó vết thương, lại đưa Luyện ra Vôi để trốn đi Lạng Sơn, rồi trước khi trốn đi, Luyện đưa lại cho Hồng 2 dây chuyền vàng, dặn về nhà bán đi chuộc xe, trả nợ hộ, còn lại thì tiêu. Là một người nhiều năm nghiên cứu các vụ án hình sự, tôi có cảm giác dường như đang ẩn chứa những bí ẩn về nhân vật Trương Thanh Hồng mà cơ quan điều tra phải làm sáng tỏ. "Lê Văn Luyện là sát thủ chuyên nghiệp khi lọt vào nhà anh Ngọc, nhưng quá trình chạy trốn lại tỏ ra rất nghiệp dư... Phải chăng có ai giật dây cho anh ta?", nguyên phó hiệu trưởng ĐH Luật Hà Nội nhận định. Chúng ta cũng không nên quan niệm, đồng phạm là phải cùng Luyện đột nhập vào nhà anh Ngọc. Luyện sẽ vững tin hơn rất nhiều nếu bên ngoài có người cảnh giới. Thậm chí tôi cũng không loại trừ khả năng ông Lê Văn Miên - bố Luyện có thể là đồng phạm. Một người bố mà sao con đi đâu suốt đêm không về mà ông cũng không biết? Sau đó, ông Lê Văn Miên lại còn chôn giấu túi vàng của Luyện cướp được . Nếu Trương Thanh Hồng và cả ông Lê Văn Miên là đồng phạm nhưng Luyện không khai ra cũng là điều dễ hiểu. Thông thường, khi người ta cùng với người thân phạm tội thì họ không muốn người thân bị liên lụy. Chi tiết này cũng cần phải để ý. Những nghi ngờ trên đây của tôi mang tính chủ quan, nhưng có căn cứ. Tôi hy vọng cơ quan điều tra chắc không thể bỏ sót một chi tiết nhỏ nào để tìm ra sự thật đầy đủ về vụ án. - Ông nghi ngờ khả năng Luyện không hành động một mình dựa vào những căn cứ nào? - Còn một số câu hỏi về quá trình gây án của Luyện. Luyện đột nhập vào nhà anh Ngọc lúc 2h sáng nhưng đến 5h30 mới hành động, trong thời gian ấy Luyện làm gì? Kẻ tội phạm thường có tâm lý hành động nhanh để tẩu thoát. Nếu để ăn trộm vàng hay cướp của giết người thì khoảng thời gian 2h sáng sẽ thuận lợi và “êm dịu”, khó bị nhận diện hơn là 5h30. Khi ăn trộm bị phát giác, thì buộc phải dùng vũ lực để cướp cũng là vạn bất đắc dĩ. Đằng này, Luyện dường như muốn giết sạch gia đình anh Ngọc rồi mới cướp vàng. Tôi thấy Lê Văn Luyện là một sát thủ rất chuyên nghiệp khi lọt vào nhà anh Ngọc, nhưng quá trình chạy trốn của Luyện lại tỏ ra rất nghiệp dư. Một tên tội phạm đã biết tắt cầu dao điện để cắt camera chứng tỏ hắn chuẩn bị rất chắc chắn và ít khi mắc sai lầm. Nhưng khi chạy trốn hắn lại mắc sai lầm rất sơ đẳng là về xã mình để băng bó vết thương. Như thế thì sớm muộn gì cũng bị bắt. Vì sao Luyện lại tỏ ra vừa rất chuyên nghiệp, vừa rất nghiệp dư như vậy? Phải chăng có ai đứng đằng sau “giật dây”? - Ông đánh giá thế nào về chi tiết trước khi Luyện bị bắt, cháu Bích cho rằng đã nhìn thấy “2 người đầu xanh đầu đỏ trong nhà” nhưng sau đó cháu lại nói là nhìn nhầm? - Tôi nghĩ những điều cháu Bích nói phải kiểm tra. Bây giờ muốn biết cháu Bích có nhìn nhầm hay không phải dựng lại hiện trường. Hãy để cháu Bích trong một khoảng thời gian và không gian giống hệt như thời điểm tên Luyện thực hiện hành vi phạm tội xem cháu Bích thấy gì? Dĩ nhiên, chỉ dựng lại hiện trường khi cháu Bích đã hoàn toàn khỏe mạnh và ổn định về tâm lý. - Là một chuyên gia về luật hình sự, từng tiếp cận và phân tích rất nhiều vụ án lớn, dự cảm của ông về vụ án cướp tiệm vàng của Lê Văn Luyện như thế nào? - Ngay từ đầu, tôi đã có dự cảm đây là một vụ án phức tạp ly kỳ. Tôi đã lưu các bài viết, cả video clip của vụ án này để làm tài liệu cho công tác giảng dạy luật hình sự của mình. Bây giờ, mọi hoài nghi vẫn chỉ là hoài nghi, tất cả phụ thuộc vào cơ quan điều tra. Luyện phạm tội đặc biệt nghiêm trọng vì thế luật cho phép thời gian tạm giam kéo dài, theo tôi cơ quan điều tra cũng không nhất thiết phải vội kết thúc điều tra sớm để lấy thành tích. Tất cả mọi câu hỏi liên quan đến vụ án cần được trả lợi một cách rõ ràng, tất cả những kết luận phải được chứng minh. Theo Bưu điện Việt Nam
  16. Cô lại cám ơn con vì có đức tin! Dự kiến của Cô sẽ có trang giới thiệu về Kalachakra và con là người đầu tiên phát triển sau khi được thánh SONAM TENZIN RINPOCHE gia trì dịp ngài qua VN.
  17. 24 mẹo hay trị bệnh từ nhà bếp Những loại cây cỏ gia vị hay mật ong, trứng, lá ổi, dứa… vẫn được ưa dùng bởi sự an toàn và hiệu quả của nó. Dưới đây là tập hợp những mẹo hay bỏ túi giúp bảo vệ sức khoẻ mà không tốn tiền 1. Để giảm ho, lấy một lát mỏng hành tươi trộn với hai thìa mật ong, sau đó để khoảng 3 đến 4 tiếng thì bỏ miếng hành ra và ăn mật ong sẽ giúp giảm ho, rát họng đáng kể. 2. Nhai lá ổi sống để trị tiêu chảy một cách nhanh chóng và hiệu quả. 3. Để chữa ợ chua sau bữa ăn nên uống một cốc nước có pha một miếng đường thốt nốt (đường sống màu nâu chưa qua chế biến). 4. Bạn bị nấc? Hãy rang nóng hạt hồ tiêu sau đó hít thật sâu. Cách này sẽ giúp bạn hết nấc ngay. 5. Một cách khác để trị tiêu chảy là dùng hạt cỏ cà ri cho vào trong nửa cốc nước ấm để uống. 6. Cải thiện sức khoẻ gan bằng cách ăn một miếng dứa tươi đã được ướp lạnh nhúng trong mật ong, ngày ăn một lần. Bạn sẽ thấy sức khoẻ cải thiện trong vòng 15 ngày. 7. Để làm giảm tình trạng táo bón mãn tính hãy ăn nửa cốc rau bina. 8. Nhai đinh hương là một cách rất hay để bảo vệ răng và tránh được hôi miệng. 9. Bạn có cần chữa đau nhức cơ bắp? Hãy thử tắm với mù tạt. Lấy khoảng 15 đến 20 gam bột mù tạt cho vào trong một miếng vải, buộc chặt lại và nhúng vào một xô nước nóng khoảng 10-15 phút rồi dùng nước đó để tắm. Nó sẽ giúp bạn chữa đau nhức và chuột rút. 10. Bạn có biết bắp cải sống và nước ép bắp cải giúp phục hồi các niêm mạc bị tổn thương do quá trình co bóp thức ăn bên trong dạ dày và ruột không? Nếu có điều kiện hãy uống nước ép bắp cải nhé. 11. Giảm nọc độc do ong đốt, lấy một thìa cà phê nước ép củ hành xoa vào vùng bị ong đốt sau đó dùng nhíp gắp ngòi ra. Ngoài ra, có thể dùng aspirin xoa lên chỗ ong đốt để giảm đau. 12. Chữa hôi miệng bằng cách đun sôi một vài lá cỏ cà ri (khoảng 4-6 lá) trong một cốc nước sau đó súc miệng khi nước còn ấm. Hãy thử làm trong vòng 7 ngày, mỗi ngày hai lần bạn sẽ thấy tình hình cải thiện đáng kể. 13. Ngâm một thìa bột mỳ trong khoảng 150ml nước để qua đêm. Uống lớp nước trong thu được mỗi sáng sẽ giảm nồng độ axit và các vấn đề về dạ dày. 14. Nhai khoảng 5 lá húng quế vào lúc vừa ngủ dậy để giữ cho họng khỏi bị viêm nhiễm, các bệnh về miệng và nướu lợi. Thực hiện điều này như một thói quen thường xuyên đề tránh mắc các bệnh về họng. 15. Bạn cảm thấy khó tiêu? Một thìa nước ép từ cây bạc hà trộn với một lượng mật ong mật ong và nước chanh sẽ giải quyết vấn đề này nhanh chóng. Thử áp dụng trong 3 ngày sau bữa ăn chính, bạn sẽ cảm nhận được sự khác biệt. 16. Bạn muốn che giấu vết thâm, bầm tím để còn tham dự cuộc đi chơi quan trọng nào đó? Hãy dùng bông nhúng vào giấm nguyên chất và băng vùng bị thâm tím lại cho đến khô thì thôi. 17. Có thể dùng lòng trắng trứng để thay thế cho công dụng của thuốc mỡ. 18. Bị hen suyễn có thể dùng mật ong pha trong một cốc nước sôi uống hàng ngày. 19. Để thoát khỏi bệnh ho dai dẳng, hãy ăn một quả ổi đã được nướng trong lò vi sóng hoặc trên than củi. Áp dụng cho 4-5 ngày liền. 20. Dùng nước dừa non xoa lên da thường xuyên trong khoảng 6 tháng để làm giảm và xoá những sẹo nhỏ. 21. Uống nước ép từ tiểu mạch thảo (cỏ mỳ non) để bồi bổ sức khoẻ. Uống nước ép này hằng ngày giúp cơ thể cường tráng hơn. 22. Ngâm chân tay vào nước muối nóng trước khi ngủ để giảm bớt sự đau nhức. 23. Một thìa cà phê dầu thầu dầu uống với nước ấm vào sáng sớm (chưa ăn gì) để chữa bệnh khó tiêu đồng thời giảm đau nhức cơ bắp. 24. Giảm đau bụng kinh bằng cách dùng một vài nhánh tỏi rán qua bơ, để nguội thêm một ít đường rồi nuốt. Chỉ sau khoảng 15 phút bạn sẽ thấy đỡ ngay.
  18. ỨNG DỤNG TỨ TẤT ĐÀN VÀO ĐỜI SỐNG Ý nghĩa của Tứ tất đàn Tứ Tất Đàn, tiếng Phạn là catvari siddhanta; catvari có nghĩa là tứ và siddhanta phiên âm là tất đàn, có khi còn được phiên âm là “ Tất Đàm”, và dịch là “Tác Thành Tựu”, có nghĩa là làm cho công việc thuyết pháp của Đức Phật được thành tựu. Chữ siddhanta, Hán dịch là “thành tựu”, nghĩa là nhờ dựa vào bốn phương pháp này, mà Đức Phật thuyết pháp và thành tựu được sự nghiệp hoằng hóa, giáo hóa chúng sinh, đưa chúng sinh từ mê lầm đến giác ngộ, từ sinh tử đến Niết Bàn, từ phàm lên Thánh, từ mê lầm đến sự hiểu biết cao thượng. Người hiểu và ứng dụng tứ tất đàn vào cuộc sống như hoa sen giữa ao báu Nội dung của Tứ tất đàn 1. Thế giới tất đàn Thế giới tất đàn có nghĩa là thành tựu đối với thế gian. Đức Phật có cái nhìn thành tựu về thế gian và cái nhìn chính xác về các pháp thế gian, nên Ngài có thể chuyển hóa, đưa các chúng sinh đang sống trong thế gian đi về với Phật đạo, đi về với sự giác ngộ. Đức Phật ứng dụng Pháp này vào trong thế gian, tức là tùy thuận theo các pháp của thế gian để giảng dạy giáo pháp do tự thân Ngài chứng ngộ. Chẳng hạn, thế gian là vô thường thì Ngài nói là vô thường, và Ngài đã sử dụng những ngôn ngữ của thế gian để diễn tả những tính chất vô thường ấy của các pháp thuộc về thế gian như là năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, như là khổ đế, tập đế v.v. Chính những pháp này gọi là pháp thế gian. Đức Phật đã thành tựu khi diễn giảng giáo pháp này đến cho những người trong thế gian hiểu, để từ đó họ chuyển cái tâm mê lầm của họ thành tâm giác ngộ, tâm phàm phu thành tâm bậc Thánh, tâm chúng sinh thành ra tâm Phật. Chuyển hóa được như vậy là nhờ đức Phật đã sử dụng Thế giới tất đàn. Và sau khi chuyển hóa như vậy, tùy thuận để thuyết pháp như vậy, Đức Phật đã đưa họ về với Đệ nhất nghĩa đế tức là chân lý rốt ráo. Ở đây, Thầy nói rõ thêm rằng: “thế gian là vô thường”, vậy thì cái gì trong thế gian là vô thường? Sắc uẩn thuộc về thế gian, nên Sắc uẩn là vô thường; Thọ uẩn thuộc về thế gian, nên Thọ uẩn là vô thường; Tưởng uẩn thuộc về thế gian, nên Tưởng uẩn là vô thường; Hành uẩn thuộc về thế gian, nên Hành uẩn là vô thường; Thức uẩn thuộc về thế gian, nên Thức uẩn là vô thường. Nói một cách khác, thân năm uẩn của mỗi chúng sinh đều là vô thường. Vì vậy, pháp thuộc về thế gian dù là pháp hữu tình hay vô tình đều là vô thường. Và tại sao nó vô thường? Bởi vì nó duyên khởi, quan hệ hỗ tương với nhau. Do sự quan hệ hỗ tương duyên khởi, cho nên gọi là vô thường. Như vậy, Đức Phật nói thế gian vô thường là Ngài thuận theo các chân lý thế gian mà nói. Và Ngài đã sử dụng ngôn ngữ của thế gian để nói, để trình bày pháp vô thường đó cho thế gian. Đức Phật nói mười hai xứ hay mười tám giới là pháp thuộc về thế gian. Mười hai xứ là gì? Đó là sáu căn và sáu trần. Sáu căn gồm: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Các căn này không tự thân hiện hữu mà hiện hữu do quan hệ nhân duyên. Cái gì do quan hệ nhân duyên mà có, cái đó là vô thường. Như vậy, Đức Phật đã dùng con mắt thế gian để nhìn thế gian và nói chuyện thế gian cho thế gian; Đức Phật đã sử dụng lỗ tai của thế gian để nghe và nói sự thật của thế gian cho thế gian; Đức Phật đã dùng lỗ mũi của thế gian để ngửi và nói lên sự thật cho thế gian; Đức Phật đã dùng ngôn ngữ, thiệt căn để tiếp xúc với thế gian và nói rõ sự thật của thế gian cho thế gian; Đức Phật đã dùng cái thân hình năm uẩn này để tiếp xúc với thế gian và nói rõ sự thật cho thế gian; Đức Phật đã dùng ý căn thuộc về thế gian để tiếp xúc các pháp của thế gian và nói rõ sự thật của thế gian cho thế gian. Vì vậy mà gọi là Thế gian tất đàn, tức là thành tựu về mặt thế gian. Đức Phật đã nhìn sáu trần, tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, Ngài thấy từ bản chất cho đến hiện tượng của chúng một cách như thực và Ngài nói sự thực đó cho chúng sanh trong thế gian và chúng sanh trong thế gian lãnh hội được những gì do Ngài trình bày, nên gọi là Thế gian tất đàn. Ở trong Pháp Tứ diệu đế, Đức Phật nói: đây là Khổ thánh đế; đây là Tập thánh đế. Đây là Khổ thánh đế; đây là Tập thánh đế , đó là pháp thế gian. Đức Phật nói “đây là Khổ thánh đế” mà thế gian nhận ra được; “đây là Tập thánh đế” mà thế gian nhận ra được và đoạn trừ được tập đế để xa lìa khổ đế. Với cách thuyết pháp như vậy, đức Phật đã thành tựu về Thế giới tất đàn. Và chính nơi những pháp thế gian này, Đức Phật lại chỉ rõ nhân duyên sinh khởi và bản thể không sinh diệt của mỗi pháp, khiến cho những người trong thế gian khi nghe Phật pháp liền sanh được chánh kiến, liền sanh khởi được chánh trí và sinh ra hỷ lạc, sinh ra niềm vui lớn và khởi tâm tu tập, đoạn trừ các phiền não; sinh ra đời sống giải thoát ngay ở trong thế gian này, ngay trong thế giới này. Như vậy, các anh/chị/em thấy rằng, bằng phương pháp Thế giới tất đàn, Đức Phật đã thuyết Pháp không phải chỉ đúng cơ, đúng thời mà còn đúng lý. Thuyết pháp đúng cơ mà không đúng thời, thuyết pháp như vậy là thất bại. Thuyết pháp đúng thời mà không đúng cơ, thuyết pháp như vậy cũng không thành tựu. Thuyết pháp đúng lý mà không đúng cơ, không đúng thời, thuyết pháp như vậy cũng không đạt được thành công trong sự nghiệp hoằng pháp. Vì vậy, thuyết pháp phải đúng cơ, đúng thời, đúng lý. Đúng cơ, là đúng với căn cơ trình độ. Đúng thời là đúng thời điểm, đúng vào từng thời đại. Đúng lý là đúng với chân lý tất yếu. Thuyết pháp vừa đúng cơ, đúng thời, đúng lý là sự thuyết pháp được thành tựu. Mà việc thuyết pháp này được thành tựu là nhờ sử dụng pháp Thế giới tất đàn. Và do thuyết pháp bằng Thế giới tất đàn như vậy, do hoằng pháp bằng Thế giới tất đàn như vậy, nên đem lại niềm vui chính đáng và sự hướng thượng cho chúng sinh ở trong thế gian, hay nói cách khác là cho xã hội con người. Vì vậy, Thế giới tất đàn còn gọi là Lạc dục tất đàn. Thuyết pháp mà đem lại ưa muốn và niềm vui cao thượng cho thế gian, làm thay đổi những niềm vui thấp kém của thế gian thành niềm vui cao thượng, biến niềm vui tầm thường của thế gian thành niềm vui cao cả, niềm vui giải thoát, thuyết pháp như vậy gọi là thành tựu về mặt Thế giới tất đàn. 2. Vị nhân tất đàn Vị nhân tất đàn nghĩa là sự thuyết pháp, hoằng pháp, làm việc đạo thành tựu đối với từng người, đối với từng đối tượng. Việc thuyết pháp đó là vì con người mà nói, vì con người mà diễn giảng chánh pháp, vì con người mà làm việc đạo. Muốn vì con người mà làm việc đạo để giúp cho họ được thành công thì phải hiểu tâm lý của họ, phải hiểu rõ hoàn cảnh của họ, phải hiểu rõ nghiệp báo, nhân duyên, nhân quả của họ để chuyển vận bánh xe chánh pháp giúp họ, giúp họ tiến bộ, xả bỏ được khổ đau trong đời sống để đi tới với đời sống hạnh phúc; giúp họ giải thoát khỏi những trói buộc để đi đến với đời sống tự do đích thực; giúp họ thoát khỏi sự chậm tiến, đi tới với đời sống tiến bộ, văn minh. Do đó, Vị nhân tất đàn nghĩa là khi mình thuyết pháp cho ai, thì phải hiểu được người đó, hiểu được tâm lý, trình độ của họ, phải hiểu được nhân duyên hoàn cảnh họ đang sống, thì mình mới giúp họ thoát khỏi được tình trạng của họ. Các anh/chị/em hướng dẫn gia đình Phật tử, thì ngay tại đơn vị của mình, nếu mình muốn giúp một em đoàn sinh nào đó, thì mình phải hiểu tâm lý của em đó. Mà muốn hiểu được tâm lý của em, mình phải hiểu được nhân duyên của em, tại sao chiều nay em không đi sinh hoạt, vì lý do gì? Bản thân em đó nhác; hay em đó siêng năng, nhưng không khắc phục được hoàn cảnh của mình, hay vì cha mẹ em gây nhau khiến việc đi sinh hoạt của em bị trở ngại…Mình phải hiểu rõ điều đó thì mới có thể giúp được cho đoàn sinh của mình và đưa em đó trở lại sinh hoạt với gia đình. Còn nếu mình không hiểu được tâm lý, hoàn cảnh, những vướng mắc của đoàn sinh đó mà chỉ sử dụng kỷ luật, nội quy của gia đình một cách cứng nhắc, máy móc thì mình sẽ thất bại trên con đường chuyển hóa em đó. Do đó, Vị nhân tất đàn rất quan trọng. Muốn thành tựu được Pháp này, chúng ta phải nghiên cứu, phải hiểu được tâm lý đối tượng, hoàn cảnh của đối tượng, nghiệp báo của đối tượng, nhân quả của đối tượng. Lúc đó, chúng ta mới có thể chuyển vận Pháp luân thành công, mới thành tựu được việc giáo hóa. Vị nhân tất đàn còn được gọi là Các các vị nhân tất đàn. Ngày xưa, Đức Phật thuyết pháp, giáo hóa thành tựu là do Ngài trình bày Pháp một cách thực tiễn và phù hợp với từng căn cơ, hoàn cảnh của từng người. Đối với người có căn cơ thấp, Ngài dạy giáo lý vừa phải cho họ để họ có thể thực tập được giáo pháp của Ngài ngay trong điều kiện của mình. Đối với người có căn cơ cao thì Ngài cũng trình bày giáo lý theo căn cơ của họ và phù hợp với điều kiện thực tập của họ. Có những người căn cơ cao, nhưng điều kiện thực tập không có, hoàn cảnh không thuận lợi, Ngài cũng biết rõ để giúp, để chỉ cho họ cách hành trì Pháp hiệu quả. Như vậy gọi là Vị nhân tất đàn. Ngày xưa, Đức Phật đã từng giáo hóa những nhà ngoại đạo, giúp họ trở về với Phật. Thậm chí, các giáo chủ tôn giáo khác cũng được Đức Phật giáo hóa, chẳng hạn như ba anh em ngài Ca Diếp, đều là giáo chủ của đạo thờ Thần Lửa, đều có đông đảo quần chúng. Khi đã giáo hóa được Ngài Đại Ca Diếp, nhưng còn hai người em của Ngài vẫn đang còn đi theo tà kiến, nên Đức Phật biết rất rõ những khó khăn mà Ngài Đại Ca Diếp sẽ gặp phải khi đi theo mình. Biết được như vậy, nên Đức Phật đã có cách hỗ trợ, giúp đỡ, giáo hóa thích hợp khiến cho Ngài Đại Ca Diếp quay về được với Phật Pháp mà không bị một trở ngại nào. Sự giáo hóa thành công của Đức Phật đối với ba anh em Đại Ca Diếp là do Đức Phật đã sử dụng pháp Vị nhân tất đàn. Do đó ngày nay, các anh/chị/em học pháp Vị nhân tất đàn này cũng vậy. Khi muốn giáo hóa một người ngoại đạo, thì mình phải hiểu tôn giáo của người ta, chẳng hạn, mình phải biết chủ trương của tôn giáo đó đúng ngang đâu, sai ngang đâu; chỗ nào rốt ráo, chỗ nào chưa rốt ráo. Sau đó, mình phải tìm cách trình bày giáo lý của mình thật khéo léo, mình đừng tấn công họ, đừng đã kích họ mà chỉ đưa ra những ví dụ, những ẩn dụ, làm sao thông qua các ví dụ, ẩn dụ đó, chân nghĩa hiện ra, rồi người ta tự nhận thấy và chuyển hóa hoàn cảnh, tri thức và niềm tin của họ. Như vậy, trong suốt cuộc đời hoằng pháp của Đức Phật, Ngài không xem bất cứ một đối tượng nào là đối lập hay đối kháng của Ngài cả. Do đó mà Ngài thành tựu được trên con đường hoằng pháp. Trong kinh, Đức Phật đã nói: “Như Lai không tranh cãi với đời, chỉ có đời tranh cãi với Như Lai”. Bởi vì đời còn hơn thua, thị phi, đúng sai. Còn Phật đã vượt hẳn ra khỏi tầm đúng sai nhị nguyên đối đãi của thế gian rồi. Cho nên, những cái đúng sai của thế gian không chao động tới được cái tâm của Ngài. Và trong cuộc đời hoằng pháp của Đức Phật, đối với căn cơ của người nghe như thế nào, Ngài trình bày Pháp đúng như thế ấy, để cho người nghe có thể phát khởi niềm tin đối với chánh Pháp và thực hành theo Pháp mà khởi sanh được chánh kiến, chánh trí và dẫn sinh được niềm vui trong sự tu học. Các anh/chị/em trại sinh Vạn Hạnh I, Hoa Kỳ sau khi học Tứ tất đàn này rồi cũng vậy, quý vị phải tùy theo hoàn cảnh, trình độ của từng đoàn sinh trong gia đình mình; tùy theo hoàn cảnh, trình độ của từng đơn vị, từng nền văn hóa, từng xã hội của mình mà ứng dụng. Mà muốn được như vậy, chúng ta phải thực tập Thế gian tất đàn, tức là đi đến đâu, chúng ta phải học hỏi văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng ở nơi vùng đó. Ngày trước, khi học tại Quảng Hương Già Lam- Sài Gòn, quý Ôn, quý Thầy dạy Thầy đi về miền Tây để tiếp xúc với Tăng Ni Phật tử ở đó. Khi đi nghiên cứu và tiếp xúc với Phật giáo vùng nầy, Thầy ứng dụng các Pháp tất đàn. Về đó, có những vấn đề Phật Pháp, họ nói không phù hợp với cái mình đã học, nhưng mình vẫn nghiên cứu những điều của họ trình bày, nhưng không chống đối họ, để mình có thể xâm nhập được vào trong họ và cuối cùng mình có thể trình bày giáo lý một cách khoa học hơn, có tính cách thực nghiệm hơn cho họ, và từ từ họ sẽ chấp nhận và đi theo mình. Còn nếu đi tới đâu, mình chỉ biết nói theo cái hiểu của mình, mà không biết nghe và hiểu theo cái hiểu của người ta, thì mình sẽ không giúp được họ mà trở thành đối lập với họ, như vậy là mình sẽ thất bại. Dù cho mình có tài giỏi đến mấy cũng sẽ thất bại. Đó là điều mà các anh/chị/em phải lưu ý để ứng dụng Tứ tất đàn vào việc hoằng pháp và trong sự nghiệp tu tập của mình. Như vậy, hoằng pháp bằng phương pháp Vị nhân tất đàn, Đức Phật thuyết Pháp không chỉ đúng cơ, đúng thời mà còn phải đúng lý, có khả năng phát khởi thiện căn nơi người nghe và khiến cho người nghe có thể tu tập và tiến tới thành tựu được các pháp tối hậu. Vì vậy, Vị nhân tất đàn còn gọi là Thiện sanh tất đàn. Khi thuyết pháp, mình phải làm thế nào để người nghe phát sinh được thiện tâm, phát khởi được niềm tin Phật Pháp Tăng, có được niềm tin nhân quả nghiệp báo, có được niềm tin yêu mến điều thiện. Khi một người đã có được sự yêu mến điều thiện rồi, thì từ từ mình sẽ dìu dắt họ đi từ một điều thiện chưa hoàn chỉnh tới một điều thiện hoàn chỉnh, xuất phát từ một điều thiện thấp dẫn sinh ra điều thiện cao. Đó là công việc mà các anh/chị/em sau khi học Vạn Hạnh I rồi, phải biết ứng dụng phương pháp Vị nhân tất đàn để có thể chuyển hóa xã hội, góp phần vào xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo. Đối tượng cho các anh/chị/em hướng tới là đồng niên, thanh thiếu niên, như nội quy, quy chế gia đình phật tử đã quy định: “mục đích của gia đình phật tử là đào tạo, huấn luyện những thanh thiếu đồng niên trở thành những Phật tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”. Vậy, mình đào tạo và huấn luyện thanh thiếu đồng niên bằng phương pháp nào? Bằng phương pháp của Tứ tất đàn này. Khi mình hướng dẫn bằng phương pháp Tứ tất đàn này, thì mình mới có thể thành tựu được các mục đích của mình. 3. Đối trị tất đàn Đối trị có nghĩa là trị liệu, chuyển hóa. Đối trị tất đàn có nghĩa là chuyển hóa thành tựu hay đối trị thành tựu. Pháp Đức Phật dạy nhắm tới chuyển hóa những phiền não nơi tâm chúng sinh. Mọi phương pháp mà Đức Phật dạy, Ngài nói bằng cách này hay bằng cách khác, Ngài nói cao, nói thấp; Ngài nói rộng, nói hẹp; Ngài nói một cách tha thiết hay nói một cách khắc khổ hay nói một cách sâu sắc, tất cả là nhằm mục đích làm cho người nghe, nghe hiểu, thực hành được và chuyển hóa những phiền não ở nơi tâm họ. Ví dụ, đối với những chúng sinh nặng về tham dục, thì Ngài nói về những nguy hiểm của các dục đem lại. Nhưng, muốn nói được sự nguy hiểm do các dục đem lại, thì trước hết, Đức Phật vẫn nói về vị ngọt hấp dẫn của thế gian. Nếu nói rằng “danh không có sự hấp dẫn”, thế gian sẽ không tin. Cho nên, Đức Phật nói các danh tướng của thế gian vẫn có vị ngọt, vẫn có sự hấp dẫn của nó, nhưng người đời chỉ thấy được sự hấp dẫn, thấy được vị ngọt mà không thấy được nguy hiểm của nó. Do đó, đằng sau vị ngọt của các dục thế gian là cả một sự đắng cay, nguy hiểm. Cũng giống như con cá chỉ thấy được miếng mồi mà không thấy được lưỡi câu ở trong miếng mồi. Mình nói với cá rằng “cá ơi, đừng ăn miếng mồi mà mắc lưỡi câu” thì chắc chắn cá sẽ không nghe, vì nó chỉ thấy được miếng mồi là vị ngọt. Nhưng, người có trí sẽ thấy được đằng sau miếng mồi là lưỡi câu. Cũng vậy, các dục thế gian có sự hấp dẫn, có sự lôi kéo, có sự cuốn hút vì nó có vị ngọt. Nhưng thế gian không hiểu rõ, sau vị ngọt đó là lưỡi câu, là sự nguy hiểm, là hạnh phúc tan nát, nên Đức Phật nói các dục thế gian có vị ngọt, nhưng Ngài còn nói, sau vị ngọt đó là sự nguy hiểm. Nguy hiểm đó là gì? Đó là các dục thế gian đều dẫn tới sanh, già, bệnh, chết và bất như ý, cho nên các dục thế gian không bao giờ đáp ứng được nhu cầu của con người, tham dục của con người. Cho nên, Đức Phật nói tham dục là nguy hiểm, ly dục là để đối trị và chuyển hóa tính tham dục ở trong con người. Chắc chắn, các anh/chị/em đã đọc kinh Thủ Lăng Nghiêm, đã biết câu chuyện giữa nàng Ma Đăng Già và Ngài A Nan. Nàng Ma Đăng Già rất mê ngài A Nan. Nàng mê cái gì? Không phải mê sự tu học, cái đức độ của ngài A Nan mà mê cái sắc của Ngài, vì ngài A Nan khi trẻ rất đẹp, xuất thân hoàng gia và lại rất thông minh. Vì vậy, suýt nữa ngài A Nan bị nạn, được Đức Phật cứu, đưa về. Nàng Ma Đăng Già đi theo, đến gặp Phật, đòi cho nàng được sống cùng ngài A Nan. Đức Phật cười, nói với Ma Đăng Già rằng “cũng được, nhưng trước tiên hãy nghe Như Lai hỏi đôi điều”. Đức Phật hỏi Ma Đăng Già rằng “con yêu cái gì ở ngài A Nan?”. Ma Đăng Già trả lời “con yêu đôi mắt đẹp của Ngài”. Đức Phật nói đôi mắt ngài A Nan đâu có đẹp, trong con mắt đẹp đó, cả ghèn trong, chứ có gì đẹp đâu! Ma Đăng Già : “Con yêu lỗ tai của Ngài A Nan”- Phật nói “lỗ tai A Nan đầy cứt ráy, chứ có gì mà đẹp!” Ma Đăng Già : “Con yêu cái miệng của Ngài A Nan”- Phật nói “miệng A Nan ngủ dậy mà không súc, không đánh răng thì hôi lắm, chứ có gì mà đẹp!”. Ma Đăng Già : “Con yêu cái mũi của Ngài A Nan”- Phật nói “mũi đó cũng đầy chất dơ bẩn, chứ có gì mà đẹp!”. Ma Đăng Già : “Con yêu cả thân thể của Ngài A Nan”- Phật nói “thân thể A Nan nếu hai ngày mà không tắm thì chẳng có ai chịu nổi, chứ có gì mà đẹp, có gì đâu mà đáng yêu!”. Từ đó, Ma Đăng Già nhận ra được thân thể này không có gì gọi là trong sạch, không có gì đẹp đẽ như mình tưởng tượng, nên nàng nhàm chán tham dục, phát tâm xuất gia, được Đức Phật hướng dẫn, đã tu tập rất giỏi và thành công. Như vậy, các anh/chị/em thấy rằng, Đối trị tất đàn là tùy theo căn cơ, tùy theo tham dục của từng người mà Đức Phật thuyết pháp để giáo hóa cho họ, chuyển hóa tâm thấp kém nơi họ. Người tham sắc, thì Ngài nói sự nguy hiểm của sắc dục. Người tham tài, thì Ngài nói về nguy hiểm của tài dục. Người tham danh, thì Ngài nói sự nguy hiểm của danh dục. Người tham ăn uống, thì Đức Phật nói về nguy hiểm và lợi ích do sự ăn uống đem lại. Có người ham ngủ, thì Đức Phật nói về nguy hiểm và lợi ích do ngủ đem lại. Tuy, đối trị như vậy, nhưng không dồn người khác vào chỗ bế tắc, mà đưa họ đến chỗ nhận ra được chân lý và cuối cùng, Ngài hướng dẫn cho họ thực tập theo pháp Trung đạo, tức là không thái quá, không bất cập, biết vừa phải. Sống cuộc đời biết vừa phải, sống trung đạo như vậy, thì xa lìa được hai cực đoan là ép xác khổ hạnh và buông lung trong các dục. Cho nên, Đối trị tất đàn không có nghĩa là dồn người khác vào chỗ bế tắc, mà chỉ rõ cái chân nghĩa cho họ, để họ thực tập và từ đó có sự an lạc, hạnh phúc. Đối trị tất đàn là phương pháp trị liệu, là dược liệu trị bệnh chúng sinh. Do Pháp này mà thế gian nhìn Đức Phật như là một vị Y Vương, là vị vua trong ngành y học, biết tùy bệnh cho thuốc. Pháp của Phật trình bày giống như lương dược, là diệu dược mà tùy theo bệnh trạng, thực hành Pháp đó sẽ được chuyển hóa, đưa lại sự an lạc của thân và tâm. Đối với những chúng sinh đầy sân hận, Đức Phật dạy cho họ pháp từ bi, thực hành tâm từ bi, thương người như thể thương thân. Mình thương người khác chính là mình đang thương thân thể mình. Mình thương cuộc đời cũng chính là đang thương mình. Mình giận người khác, là mình đang gây thiệt hại cho chính mình. Khi mình làm cho ai khổ đau, thì bản thân mình khổ đau trước người đó. Đọc trong các kinh, chúng ta sẽ thấy Đức Phật nói rất nhiều ví dụ về điểm này. Chẳng hạn, mình có tâm sân hận muốn hại người khác, thì trong kinh Tứ Thập Nhị chương, Đức Phật nói “nghịch phong dương trần, trần bất chí bỉ, hoàn phấn kỷ thân. Ngưỡng diện thóa thiên, thóa bất chí thiên hoàn tùng kỷ đọa“, nghĩa là người ác mà hại người lành, thì giống như người đi ngược gió dê bụi, bụi không tới người kia mà lại vướng vào nơi mình. Kẻ ác mà hại người hiền thiện, người đạo đức, cũng như người giận trời, ngửa mặt nhổ nước miếng lên trời, nước miếng không thấu trời mà rơi lại nơi mặt mình. Do đó, người ác mà hại người lành; người kém đạo đức ganh tị với người đạo đức; người không có tài năng ganh tị với người có tài năng, thì chỉ gây thiệt hại cho chính mình mà thôi. Người nghe hiểu được như vậy, họ sẽ bỏ tâm ganh tị đi, bỏ tâm giận hờn đi, bỏ tâm trách móc vì ganh tị. Giận hờn, trách móc đều gây thiệt hại cho tâm mình, cho đời sống của mình nhiều hơn cho đối tượng mà mình ganh tị. Nhờ vậy, người đó thành tựu được tâm an lạc, tâm giải thoát, tâm cao quý. Đó gọi là pháp Đối trị tất đàn. Đối với những người ngu si, vô trí, tà kiến, cho rằng thế giới này do thần linh tạo nên, do một thần minh tạo nên, do một thượng đế tạo nên, thì Đức Phật không bác bỏ trực tiếp cái đó, mà Ngài nói về giáo lý duyên khởi. Nghĩa là mọi sự hiện hữu giữa thế gian này, không có cái gì hiện hữu đơn thuần mà có thể tồn tại, mà mọi thứ chỉ có thể tồn tại trong quan hệ nhân duyên. Nếu mình quán chiếu nhân duyên này thật sâu sắc, thì niềm tin đối với một thượng đế, một thần linh, một nhất thần giáo sẽ tự động rơi rụng đi, chứ Ngài không hề tấn công bất cứ một thượng đế hay thần linh nào cả. Ngài chỉ bật ngọn đèn cho người khác thấy. Khi họ đã thấy, họ sẽ tự thay đổi tâm của chính họ, thay đổi cái nhìn của chính họ, thay đổi niềm tin của họ. Họ tự thay đổi và tự hoàn thiện niềm tin của họ, đó mới là điều quan trọng. Họ tự thay đổi, tự hoàn chỉnh nhận thức, hiểu biết của họ, đó mới là điều quan trọng. Khi một người nhận ra được và tự hoàn chỉnh niềm tin của mình, thì ngay nơi sự hoàn chỉnh đó, họ có hạnh phúc, an lạc. Khi một người có được ánh sáng soi rọi vào và tự hoàn chỉnh hiểu biết của mình, thì ngay nơi sự hoàn chỉnh đó, họ có an lạc hạnh phúc, có cơ sở vững chãi để tiến lên những mức độ cao hơn, hiểu biết cao hơn, đời sống cao hơn. Đó chính là tác dụng của Đối trị tất đàn. Nói một cách khác, chúng sinh có bao nhiêu phiền não, thì Phật có bấy nhiêu pháp môn, bấy nhiêu phương tiện để chuyển hóa phiền não cho chúng sinh. Cho nên chúng sinh có vô lượng phiền não, thì Phật Pháp có vô biên pháp môn tu tập để chuyển hóa. Khi nhận ra được điều này rồi, thì người Phật tử chúng ta không còn tu tập một cách cực đoan và cục bộ, không còn bị mắc kẹt bởi trường phái này hay trường phái kia, mà thấy được rằng, trường phái nào cũng là những khía cạnh của Phật pháp. Chúng ta đến với đạo Phật, chứ chúng ta không đến với trường phái này hay trường phái nọ, với pháp môn này hay pháp môn kia. Nếu chúng ta đến với bất kỳ một trường phái nào, là chúng ta đánh mất đạo Phật toàn thể. Đến với đạo Phật mà bị kẹt vào một khía cạnh, một trường phái, một pháp môn, thì đó là một sự mất mát thiệt hại cho ta. Đặc biệt trong thời đại của chúng ta, các anh/chị/em phải lưu ý điểm này. Đôi khi mình tu học Thiền tông, nên mình tấn công Tịnh độ; mình tu học Tịnh độ thì mình tấn công Thiền; mình tu học Mật tông thì lại tấn công Thiền, tấn công Tịnh độ; tu học theo Hiển giáo lại tấn công Mật giáo hay mình tu theo phương pháp theo dõi hơi thở, thì mình tấn công người niệm Phật. Như vậy rõ ràng là mình đã không hiểu về giáo pháp của Đức Phật, không hiểu về phương pháp Đối trị tất đàn. Các anh/chị/em đã từng nghe câu chuyện người mù rờ voi. Có mấy người mù rờ voi, người rờ được cái đuôi thì họ nói con voi giống cái chổi; người rờ được cái chân thì nói con voi giống cái chày; người rờ được lỗ tai, thì nói con voi giống cái quạt. Người rờ cái đuôi và nói rằng, con voi giống cái chổi, người ấy nói không sai, nhưng lại không phải đúng hoàn toàn. Người ấy chấp một bộ phận con voi thành toàn thể. Chỉ có người mắt sáng mới biết tất cả những gì người mù ấy nói không sai, nhưng cũng không đúng, vì người mù đã chấp một bộ phận của con voi là toàn thể con voi. Sai là sai ở chỗ đó. Mặc dù người mù có xúc chạm con voi, bằng chính bản thân họ, nhưng vì xúc chạm bằng đôi mắt mù lòa, nên vẫn không thấy được thực tại của voi là gì. Phật tử chúng ta cũng vậy. Nếu chúng ta tu học mà không có tuệ giác, chúng ta kẹt vào từng pháp môn, từng đối tượng, từng trường phái của mình là mình chưa có sự toàn giác, chưa đi đúng hướng của Phật pháp. Vì vậy mà trong Phật giáo chia bè, chia nhóm. Nhóm này nói xấu nhóm kia, nhóm kia tấn công nhóm này. Cuối cùng là thân thể của Phật Pháp, thân thể đạo Phật bị phanh, bị xẻ, mà không ai khác hơn, chính là “sư tử trùng trung, thực sư tử nhục”. Đó là điều mà các anh/chị/em khi học pháp Đối trị tất đàn này phải nhận ra cho rõ, để mình có được con đường vững chãi mà tu học, phụng sự chánh pháp, phụng sự dân tộc và nhân loại đúng như trong lời mở đầu của hiến chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã nêu. Vì vậy, Đối trị tất đàn còn gọi là Đoạn ác tất đàn, nghĩa là Đối trị tất đàn giúp cho chúng sinh đoạn trừ tất cả những ác kiến, những nhận thức sai lầm dẫn tới những việc làm ác; giúp cho chúng sinh đoạn trừ những phiền não chấm dứt khổ đau. Nói một cách đúng với Phật học chuyên môn, Đối trị tất đàn giúp cho người thực tập đoạn trừ phiền não chướng, là những chướng ngại thuộc về phiền não ở nơi tâm, để có tâm giải thoát, tâm an vui; đoạn trừ sở tri chướng, là những chướng ngại đối với sở tri, đối với sự giác ngộ để có tuệ giác toàn bộ. Chốt lại, Đối trị tất đàn có tác dụng đoạn trừ hai mặt, mặt phiền não chướng ở nơi tâm và sở tri chướng là những chướng ngại đối với trí tuệ, để có được tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Một người có tâm giải thoát, có tuệ giải thoát, thì ở bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì cho bất cứ ai, cũng đều thành tựu. Đó là Đối trị tất đàn. 4. Đệ nhất nghĩa tất đàn Đệ nhất nghĩa tất đàn tức là sự thành tựu tối thượng. Đó là sự thành tựu tuyệt đối. Đó là mục đích hoằng Pháp của Đức Phật. Nên, Đức Phật thuyết pháp bằng Thế giới tất đàn, bằng Vị nhân tất đàn, bằng Đối trị tất đàn, với mục tiêu cuối cùng là để hiển thị Đệ nhất nghĩa tất đàn. Nghĩa là Đức Phật thuận theo thế gian để làm gì, thuận theo từng người để thuyết pháp, nhằm mục đích gì, đối trị với từng căn bệnh phiền não, sở tri của từng người để làm gì? Để đưa họ đi về với Đệ nhất nghĩa tất đàn, tức là cuối cùng sẽ hiển thị cho họ thấy được chân lý tuyệt đối. Chân lý tuyệt đối mà Đức Phật giảng cho mọi người, nói cho mọi chúng sinh là gì? Đó là “tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều có khả năng thành Phật”. Muốn thành Phật thì phải chứng nhập Phật tính. Muốn chứng nhập Phật tính thì phải từ nơi tâm bồ đề hay từ nơi bản giác mà phát khởi đại nguyện lợi hành, giáo hóa hết thảy chúng sinh bằng phương pháp này hay phương pháp khác. Giáo hóa nhưng không mắc kẹt vào nơi phương pháp giáo hóa, nơi hình thức giáo hóa, khiến cho chúng sinh được giáo hóa đi tới được với chân lý tuyệt đối, với hạnh phúc an lạc. Đó là Đệ nhất nghĩa đế tất đàn. Do đó, trong Luận đại trí độ, ngài Long Thọ nói “trong Tứ tất đàn thâu nhiếp hết thảy mười hai thể loại kinh và tám vạn bốn ngàn pháp tạng” đều là thực mà không có gì mâu thuẫn nhau. Trong Phật Pháp hết thảy đều là thực, có pháp thực, vì theo nghĩa của Thế giới tất đàn; có pháp thực vì theo nghĩa của Các các vị nhân tất đàn; có pháp thực vì theo nghĩa của Đối trị tất đàn và có pháp thực, vì theo nghĩa của Đệ nhất nghĩa đế tất đàn. Như vậy, các anh/chị/em thấy rằng, mỗi thời Đức Phật thuyết pháp, thì ngay trong pháp được thuyết bởi Ngài, đều chuyển tải đầy đủ cả Tứ tất đàn; ba tất đàn trước thuộc về phương tiện, tất đàn sau, tức là Đệ nhất nghĩa tất đàn, là cứu cánh. Cứu cánh, nhưng không rời phương tiện. Cứu cánh có mặt ngay nơi những phương tiện mà Đức Phật sử dụng để thuyết pháp. Nghĩa là trong khi Đức Phật thuyết pháp, Ngài sử dụng những phương tiện của thế gian như ngôn thuyết, những tư duy… để chỉ bày chân nghĩa cho người nghe, chân lý cho người thấy. Nên, những phương tiện Đức Phật đã sử dụng đó, không còn là những phương tiện đơn thuần, mà là những phương tiện có nội dung, có tác dụng hiển thị chân lý, tức là hiển thị Đệ nhất nghĩa đế tất đàn. Bởi vậy, nếu nghiên cứu kỹ, chúng ta sẽ thấy ngay trong Thế giới tất đàn có Đệ nhất nghĩa tất đàn, ngay trong Vị nhân tất đàn có Đệ nhất nghĩa tất đàn, ngay trong Đối trị tất đàn có Đệ nhất nghĩa tất đàn. Đây là điều các anh/chị/em cần lưu ý khi trình bày và thực hành giáo lý Tứ tất đàn, nghĩa là mục đích không rời phương tiện; phương tiện phải được bảo chứng để đi tới mục đích. Tức là chúng ta tùy duyên mà bất biến; bất biến ngay nơi cái tùy duyên của mình, chứ tùy duyên và bất biến không phải là hai cái tách rời nhau. Tùy duyên phải bảo chứng được cho nội dung bất biến; bất biến phải bảo chứng để tùy duyên đi tới. Bất biến phải là lực hút để hút tùy duyên đi tới mà không bị chệch hướng và tùy duyên phải hàm chứa nội dung bất biến. Khi học Tứ tất đàn rồi, chúng ta mới có thể ứng dụng được giáo lý của Phật vào trong đời sống xã hội. Do đó, chúng ta sang phần IV, tính chất tùy duyên và bất biến của Tứ tất đàn. Tính chất tùy duyên và bất biến của Tứ tất đàn Trong Tứ tất đàn, thì Thế giới tất đàn hay Thế gian tất đàn, Vị nhân tất đàn, Đối trị tất đàn thuộc về tùy duyên ở trong đạo Phật, tùy duyên hành đạo, tùy duyên hoằng Pháp ở trong đạo Phật; còn Đệ nhất nghĩa tất đàn là cứu cánh, là mục đích của đạo Phật. Tùy duyên là để đạt mục đích, chứ tùy duyên mà không đạt được mục đích của mình thì tùy duyên sẽ trở thành tùy tiện, như vậy sẽ đi chệch hướng của đạo Phật, đi chệch hướng với lý tưởng của mình. Do đó, chúng ta phải nắm cho được cái tùy duyên bất biến và bất biến tùy duyên ở trong đạo Phật. Ngày nay, người ta lạm dụng cái tùy duyên bất biến này hơi nhiều. Một người đã thực sự lên đến đỉnh núi rồi, đã thực sự ngồi trên đỉnh núi tuệ giác rồi, người ấy quán chiếu thấy được căn cơ của chúng sinh như thế nào rồi, mới bắt đầu xuống núi để tùy duyên giáo hóa. Còn chúng ta, phần nhiều là những người đang còn leo núi, chưa lên đến đỉnh mà chúng ta tùy duyên, thì nghe người này nói leo đường này thì mình cũng leo đường này; nghe người kia nói đi đường kia mới tới, mình liền chạy qua đường đó; rồi lại có người nói có con đường khác nhanh hơn nữa, mình liền bỏ đường cũ, leo theo con đường người đó nói. Cuối cùng, vì tùy duyên nên mình đi loanh quanh. Loanh quanh hoài, nên chẳng bao giờ đạt tới được mục đích của mình. Cũng như Trịnh Công Sơn nói “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Cho nên thế gian là pháp loanh quanh. Chỉ có khi nào, ta có Phật Pháp, có chánh đạo mới có trực đạo đi thẳng. Quý vị phải biết rằng, trong Thế gian tất đàn có Đệ nhất nghĩa tất đàn, nên nói theo thế gian mà không sai với chính nghĩa; nói thuận theo với thế gian mà không sai với Niết bàn; ở trong sinh tử mà không sai với Niết bàn giải thoát. Cũng vậy, trong Vị nhân tất đàn có Đệ nhất nghĩa tất đàn, trong Đối trị tất đàn có Đệ nhất nghĩa tất đàn. Chúng ta phải tùy căn cơ, tùy từng hoàn cảnh của con người, từng hoàn cảnh xã hội mà giáo hóa, chúng ta tùy thuận mà không tùy thuộc. Vì sao? Vì trong Đối trị tất đàn, trong Vị nhân tất đàn, trong Thế gian tất đàn, mỗi cái đều có Đệ nhất nghĩa tất đàn. Cho nên, trong cái tùy duyên có tính chất bất biến bên trong. Đây là điều mà các anh/chị/em cần phải học tập, chiêm nghiệm để có thể hành đạo được ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Thương Tọa Thích Thái Hòa (theo Thư Viện Cổ Pháp)
  19. Chữa ho bằng vỏ bưởi Bạn nên giữ lại vỏ khi ăn bưởi vì vỏ bưởi có thể chữa được khá nhiều chứng bệnh hay gặp, chẳng hạn như ho, hen... Dưới đây là một số cách chữa bệnh bằng vỏ bưởi. Chữa ho có nhiều đờm: Vỏ bưởi 10 gr, thêm đường kính, hấp uống dần dần. Chữa sản giật: Vỏ bưởi khô và ích mẫu bằng nhau tán nhỏ, uống mỗi lần 8 gr với rượu vào lúc đói hoặc dùng mỗi vị 20 - 30 gr sắc uống. Chữa hen: Vỏ bưởi (lấy ở quả bưởi từ 0,5 - 1 kg), một miếng bách hợp, 120 gr vảy hành khô, đường trắng 120 - 250 gr, nấu nước uống, chia làm ba lần uống trong ngày, liên tục trong 9 ngày. Chữa phù thũng: Vỏ bưởi đào, mộc thông, bồ hóng mỗi vị 20-30 gr, diêm tiêu 12 gr, cỏ bấc 8 gr, sắc uống mỗi ngày hai lần vào lúc đói và ăn một khẩu mía trước và sau khi uống thuốc. Kiêng muối và chất mặn. Theo Lương Y Nguyễn Nam Đất Việt
  20. Ý nghĩa, công năng, lợi ích hành giả trì Chú Đại Bi Lời nói đầu: A Di Đà Phật hàng năm Phật tử khắp nơi trên thế giới thường làm lễ vía Bồ tát Quán Thế Âm thật trang nghiêm vào các ngày: 19/02, 19/06 và 19/09 đều theo âm lịch. Ngày 19/02 là vía Quán thế Âm Đản Sanh. Ngày 19/06 là vía Quán thế Âm Thành Đạo. Ngày 19/09 là vía Quán thế Âm Xuất Gia. Ngày 19-09, tưởng niệm ngày vía Quán Thế Âm Bồ Tát. Trí Giải xin chia sẻ vài điều về công năng diệu dụng lợi ích của Chú Đại Bi chia sẻ đến quý Phật tử và bạn đọc gần xa Chú Đại Bi được rút ra từ Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni của Phật Quán Thế Âm. Gọi tắt là Chú Đai Bi. Chú Đại Bi có thảy là 84 câu, 415 chữ. Định nghĩa danh hiệu Bồ Tát -Bồ Tát: Nói cho đủ là: “Bồ Đề Tát Đỏa” tiếng Phạn: Bodhisattva dịch nghĩa là “Giác hữu tình,” Bodhi=Giác, sattva=hữu tình. Từ “Giác” nghĩa là Giác ngộ, giác tri, giác kiến…Hữu tình nghĩa là các loài có tình thức do duyên hợp lại mà thành, “giác hữu tình” trên cầu Phật đạo để tự giác, dưới hóa độ chúng sinh để giác tha. Lòng đại từ đại bi của Bồ tát phát tâm nguyện cứu độ chúng sinh thoát khổ đau, đó là ý nghĩa danh từ Bồ Tát Giải thích về Chú Đại Bi. Trong tất cả Kinh điển và Mật Chú của Phật giáo đều chia làm hai phần: Phần hiển (Phần Kinh) và Phần mật (phần câu Chú). Phần hiển: Là hiển bày ra ý nghĩa và chân lý trong Kinh để hành giả tụng niệm, hoặc nghiên cứu theo đó áp dụng tu tập, thì gọi là: “Tụng Kinh minh Phật chi lý,” để hiểu biết công năng của câu kinh và câu chú gọi là phần hiển. Ví dụ: Kinh Bát Nhã phần hiển từ “Quán tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã cho đến câu…..Cố thuyết Bát nhã ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết”: phần mật là phần câu chú: “Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề. Tát bà ha” Kinh Lăng Nghiêm: phần tựa là từ “Diệu Trạm Tổng….cho đến hết lời tựa là phần hiển còn phần mật là 5 đệ Lăng Nghiêm Phần hiển: Chú Đại Bi “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi” câu Kinh này là phần hiển giải thích công năng và diệu dụng của 84 câu Chú ở sau, để giúp hành giả hiểu mà hành trì cho đúng mới có hiệu nghiệm. Còn phần mật của Chú Đại Bi là phần “câu Chú” từ câu chú “tâm đà la ni cho đến câu 84. Ta bà ha” phần câu Chú là phần ẩn nghĩa chỉ là phạn ngữ chỉ có chư Phật mới thấu hiểu còn hàng phàm phu không hiểu ý nghĩa, chỉ biết công năng và lợi ích để hành trì. Giải thích phần hiển: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại Đại bi” </H3>Câu Kinh này là phần hiển muốn nói về Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân thành Phật Chuẩn Đề có nghìn tay, nghìn mắt, trong mỗi tay có một con mắt và mỗi tay cầm mỗi khí cụ khác nhau. Vì thế trong Phát Bồ Đề Tâm Luận của Bồ tát Thiên thân nói rằng: “Bồ tát phát tâm lấy lòng từ bi làm đầu. Lòng đại từ của bồ tát vô lượng vô biên nên sự phát tâm cũng vô lượng vô biên mênh mông như chúng sanh giới. Như hư không giới, không chỗ nào là không cùng khắp, sự phát tâm của Bồ Tát cũng như thế, vô lượng vô biên không có cùng tận” [1] Trong Kinh Duy Ma Cật đức Phật dạy rằng: “Người có trí không nên so sánh với các hàng Bồ Tát. Biển sâu còn có thể dò được, chớ thiền định, trí tuệ, tổng trì, biện tài, tất cả công đức của Bồ Tát không thể đo lường được” [2] Như vậy mỗi bàn tay là biểu trưng cho công hạnh của Bồ tát vào đời độ sinh với lòng Đại từ đại bi. Bởi vì chúng sinh căn cơ không giống nhau, cho nên Ngài Quan Thế Âm hóa hiện ra nghìn tay (tức nghìn muôn hạnh) phương tiện để độ sinh viên mãn, Bồ Tát có tâm đại từ đại bi nhưng cần phải có đại trí tuệ, vì vậy mỗi lòng bàn tay đều có một con mắt, con mắt là biểu trưng cho trí truệ, một nghìn con mắt biểu trưng cho đại trí tuệ Nếu hành giả thực hành con đường Bồ Tát hạnh vào đời độ sinh, chỉ có từ bi mà không có trí tuệ, khi gặp chướng duyên dễ bất thối tâm bồ đề, và sự việc hoằng Pháp độ sinh sẽ gặp trở ngại Ví dụ: Khi chúng ta thực hành Bồ Tát đạo vào đời độ sinh thấy một người nghiện rượu, nghiện thuốc,..không có tiền mua uống nằm than thở kêu rên. Bấy giờ chúng ta động lòng từ bi thương xót lấy tiền ra để bố thí, để giúp họ vượt qua cơn nghiện. Như vậy, chúng ta có từ bi mà thiếu trí tuệ, chúng ta đã giúp những người ấy, vô tình lại tạo thêm khổ đau vì rượu là chất hại người, tai nạn làm mất hạnh phúc gia đình, rượu là nguyên nhân làm mất đi hạt giống trí tuệ, vì thế trong giới thứ năm Sa Di giới cấm uống rượu, đức Phật đã dạy, thà uống nước đồng sôi mà chết còn hơn uống ly rượu. Bởi vì chúng ta uống nước đồng sôi mà chết còn giữ được hạt giống trí tuệ, còn chúng ta uống rượu làm mất đi trí tuệ Như vậy chúng ta hành Bồ Tát đạo múc đích cứu độ chúng sinh, nhưng ngược lại gây hại đau khổ thêm cho chúng sinh và chúng ta lại vi phạm tinh thần Bồ Tát giới, chẳng những tự mình không uống rượu còn cấm cấm bán rượu: “Nếu Phật tử, tự mình bán rượu, bảo người bán rượu: Nhân bán rượu, duyên bán rượu, cánh thức bán rượu nghiệp bán rượu, tất cả rượu không được bán, rượu là nhơn duyên sanh tội lỗi. Là Phật tử, lẽ ra phải làm cho tất cả chúng sanh có trí huệ sáng suốt, mà trái lại đem sự mê say điên đảo cho tất cả chúng sanh, Phật tử này phạm “Bồ Tát Ba la di tội.” [3] Như vậy chúng ta hành Bồ Tát đạo vì lòng từ bi cần phải có trí tuệ thì chúng ta không có gặp chướng ngại (vô = không, ngại = chướng ngại) “Bồ tát phát tâm bằng cách thân cận thiện tri thức, cúng dường chư Phật, tu tập thiện căn, lập chí cầu chánh pháp, tâm thường nhu hòa, gặp khổ chịu nhẫn nhục được, từ bi thuần hậu, thâm tâm bình đẳng, ưa thích pháp đại thừa, mong cầu được trí huệ Phật. Nếu ai có đầy đủ mười điều nói trên mới có thể phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.” [4] Bồ Tát phát tâm tu tập Vô thượng Bồ đề lại cần có bốn duyên; “Một là suy nghĩ đến chư Phật; Hai là quán các tội lỗi của tự thân; Ba là thương xót chúng sanh; Bốn là cầu quả tối thắng, tức quả Phật.” Nhờ có bốn nhân duyên kia mà tâm bồ đề thêm kiên cố [5] Trong Đại Trí Độ Luận có nói “Bậc Bồ Tát luôn có tâm dõng mãnh bất thoái ở giữa chúng sinh khởi đại bi tâm thành lập Đại thừa, thực hành đại đạo, thuyết Pháp phá trừ đại tà kiến, đại phiền não, đại ái mạn, đại ngã tâm cho mình và hết thảy chúng sinh” Đó là tâm “Đại Bi” của Bồ Tát thật bao la rộng lớn hạnh nguyện của Ngài vô cùng tận. “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi” Vì thế trong Phổ Môn phẩm 25 trong Kinh Pháp Hoa: Phật mới bảo:“Hỡi này nam tử Có chúng sanh quốc độ xa gần Muốn cầu thân Phật độ dân Quán Âm liền hiện Phật thân hộ trì Cõi muốn được Bích Chi hóa độ Hiện Bích Chi vì đó giảng Kinh … … Vô Tận Ý! Quán Âm Bồ Tát, Thành tựu phần công đức oai linh Thần thông hiện các thân hình Dạo cùng khắp cõi độ sinh thoát nàn” Bồ Tát hành Bồ tát đạo dùng vô số phương tiện quyền xảo để phù hợp căn cơ của mỗi chúng sinh hóa độ (thiên thủ = nghìn tay chỉ cho phương tiện, hay công hạnh) còn nghìn mắt là chỉ cho Trí tuệ thậm thâm của Bồ Tát để thấu hiểu hết thảy các Pháp, độ tận hết thảy chúng sinh. Nếu còn một chúng sinh đau khổ, Bồ Tát thệ nguyện không thành Vô thượng Bồ đề như Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát đã phát nguyện: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sinh độ tận, phương chứng Bồ-đề” Có nghĩa là Địa ngục chưa trống không, tôi thề không thành Phật; chúng sanh độ hết rồi, tôi mới chứng Bồ-đề. Khi đức Phật hỏi ngài Địa Tạng đã bạch Phật rằng: “con ở trong cõi đời xấu ác này độ sanh, nhưng vẫn cảm thấy an lạc như đang an trú trong cảnh giới Niết Bàn.” Phẩm chất của Bồ Tát: Tinh thần là Trí tuệ (nghìn mắt), Sức mạnh là Thiền định, Sắc thái Đại từ bi (nghìn tay) Bồ Tát có ba sắc thái này thì hành Bồ Tát đạo đạt đến chỗ “vô ngại” Khi vị Bồ Tát có đại bi thì cũng đạt được đại trí tuệ (nghìn mắt nằm trong nghìn cánh tay.) Trí tuệ và từ bi là hai diệu tánh của Bồ Tát Quan Thế Âm để độ sanh. Khi Ngài có đầy đủ hai đức Đại bi, và Đại trí thì trên con đường độ sinh tùy theo căn cơ của chúng sinh mà hóa độ viên mãn (vô ngại). “Tự tại tiêu dao suốt tháng ngày, Tùy duyên phóng khoáng cõi trần ai, Rửa sạch lòng trần đầy nhiễm uế Cuộc đời chi sá bận tâm đâu” [6] Đó là ý nghĩa: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi” Hạnh Nguyện khác nhau của Bồ Tát: lấy “Hạnh” để hóa độ chúng sinh gọi là “Đại Hạnh” Phổ Hiền Bồ Tát lấy “Nguyện” để độ sinh như “Đại Nguyện” Địa Tạng Vương Bồ Tát lấy “Đại Hùng”, “Đại Lực” để làm động cơ thú đẩy độ sinh như “Đại Hùng”, “Đại Lực” Đại Thế Chí Bồ Tát Lấy “Trí làm yếu chỉ như “Đại Trí” Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Lấy Đại Từ, Đại Bi để hóa độ chúng sinh gọi “Đại Từ” “Đại Bi” Quan Thế Âm Bồ Tát Hình Tướng khác nhau của Bồ Tát: Hình tướng xuất gia: Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát Hình tướng tại gia: Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát. Hạnh nguyện của quý Ngài độ sinh ở trần gian, Tinh thần nhập thế nên hiện tướng tại gia, để hòa vào thế gian độ sinh vì lòng từ bi. Hành động vị tha ấy trong Đại Thừa gọi là: “Vô Công Dụng Hạnh-Anābhoga) tức là hành động không dụng công không vì mục đích tư lợi, chính vì lòng từ bi trí tuệ như thế giúp cho hàng Bồ Tát có được tâm vô phân biệt. Hàng Bồ Tát tu diệt hết phiền não và đạt đến vô sanh pháp nhẫn, đạt đến vô ngã, không còn chấp vào hình tướng, nên hình tướng xuất gia hay tại gia, có tóc hay không có tóc điều đó không quan trọng (tóc = phiền não) Riêng Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát vì hạnh nguyện độ chúng sinh ở Địa ngục, ở trong địa ngục không có Tam bảo, Chúng sinh thọ quả báo đau khổ khi nhìn hình tướng Ngài Địa Tạng là hình tướng xuất gia đầu tròn áo vuông, giúp cho phạm nhân khi nhìn Ngài để phát khởi tâm Bồ Đề, giác ngộ nghiệp ác của mình đã tạo và quy hướng Tam bảo, phát lồ sám hối thoát khỏi địa ngục. Trong Phật giáo mục đích duy nhất: “Duy tuệ thị nghiệp = lấy trí tuệ làm sự nghiệp” Tức là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Đại trí biểu trưng cho sự nghiệp. Nhưng ít Phật tử nhắc đến Ngài Văn Thù Sư Lợi, Ngài Thế Chí, Ngài Phổ Hiền. Bởi vì Phật tử chủ yếu tín ngưỡng Ngài Quan Thế Âm và Ngài Địa Tạng. Bởi vì Đại hạnh, Đại Nguyện, Đại Lực hay Đại Trí cũng đặt trên nền tảng là Đại Bi. Đại bi là lẽ sống là hạnh nguyện độ sinh, trái tim của Bồ tát đau quằng quại khi nhìn thấy chúng sinh đau khổ biết bao tiếng rên xiết trong địa ngục, trong đêm trường sinh tử. Vì vậy, chư vị Bồ tát hóa thân vào Địa Ngục để độ sinh như ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát vì lòng đại từ, đại bi không ngần ngại (vô ngại) Hoặc như Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát hóa thân thành Tiêu Diện vào cảnh giới Ngã quỷ để độ chúng ma mà không có một chút ngần ngại nào cả, cho nên Bồ Tát có 32 ứng hóa thân là để tùy thuận chúng sinh mà hóa độ. Trái tim Bồ Tát luôn tuần hành nhịp nhàng, trong sáng, thanh tịnh không vướng vào “tự ngã,” đạt đến sự vô phân biệt, không có ranh giới, tâm từ bi ấy thể hiện tính bình đẳng giữa mọi người, như mặt trăng không phân biệt quốc gia nào. Nó luôn vận hành liên tục để tỏa sáng trong đêm trường. Đó là ý nghĩa câu Chú Đại Bi: “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi” Phần Mật: Của Chú Đại Bi Từ câu: “Tâm đà la ni” cho đến câu 84. “Ta bà ha” là phần ẩn nghĩa, hàng phàm phu không có hiểu được Phần này, chỉ có chư Phật mới hiểu. Như vậy, phần hiển là để chúng ta hiểu nghĩa công dụng lợi ích của Kinh, Chú mà hành trì. Còn phần mật hành trì để tâm chúng ta thanh tịnh và an lạc (vô ngại) niệm Chú Đại Bi là đọc xưng danh hiệu của 84 vị Hộ Pháp Kim Cang Thần hóa thân của ngài Quan Thế Âm Bồ Tát để đối trị tiêu diệt 84 phiền não chướng tư hoặc và lậu hoặc. Tuy thần chú là những lời nói nhiệm mầu, bí mật của chư Phật, chư Bồ Tát ta khó thể lãnh hội được nội dung, ý nghĩa. Nhưng phần hiển là phần giúp hành giả hiểu rõ công năng và lợi ích cho việc hành trì Chú Đại Bi. Khi hành trì chú Đại Bi để đạt quả vị Vô thượng Bồ đề đòi hỏi hành giả phải: Tâm đại từ bi, tâm bình đẳng, tâm đạt đến vô niệm, tâm chẳng nhiễm trước, tâm không, tâm phải cung kính, tâm biết khiêm nhường, tâm không tạp loạn, tâm không cố chấp, phát tâm Vô thượng Bồ đề. Công năng lợi ích hành trì Kinh, Chú: Ngài Tuyên Hóa dạy rằng: Người trì kinh, chú sẽ được ba nghiệp thanh tịnh, khi ba nghiệp lắng đọng thì trí huệ sinh (nhân định tức huệ) đồng Phật vãng Tây Phương 1. Thân ngồi ngay thẳng trước Phật là thân thanh tịnh 2. Miệng không nói dối, không đùa giỡn là khẩu nghiệp thanh tịnh 3. Ý không tán loạn, không phan duyên đó là ý nghiệp thanh tịnh “Mỗi niệm chân thành mỗi niệm thông Tịch lặng cảm ứng tịch lặng trong Cho đến non cao nước cùng tận Rong chơi pháp giới khắp Tây Đông” Niệm Kinh Chú mục đích nhiếp phục tam nghiệp hằng thanh tịnh để trừ được ba ác nghiệp thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp 1. Thân nghiệp gồm ba: (Không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm) 2. Khẩu nghiệp có bốn: (Không nói dối, không nói ác khẩu, không nói lưỡi hai chiều, không nói thêu dệt” 3. Ý nghiệp có ba: Tham, sân, si. Như vậy niệm Kinh, niệm Chú, niệm Phật cũng đều mục đích như nhau để tam nghiệp hằng thanh tịnh. Khi tâm mình thanh tịnh tức tâm bình, tâm bình tạo ra thế giới bình “tướng tự tâm sanh,” mây tan thì trăng tự nhiên hiển bày tỏa sáng. Khi chúng ta niệm chú một cách nhất tâm thì sẽ đoạn trừ được phiền não. Kinh chú của Phật, tất cả mọi người có thể trì, nhưng muốn được lợi lạc trong khi tụng Kinh trì Chú người Phật tử cố gắng giữ tam nghiệp thanh, giữ giới dứt các điều ác làm các việc lành mới được công đức tốt đẹp, hành giả có thể áp dụng theo phương cách trì tụng Chú Đại Bi như sau, tùy theo căn cơ mỗi người mà hành trì để có hiệu quả. Cách trì Chú Đại Bi có nhiều cách: *Tụng nhanh, lớn tiếng: Đọc rõ ràng, âm thanh trầm hùng, mục đích khỏi buồn ngủ tránh giải đãi, tránh tâm tán loạn. Nhờ âm thanh trầm hùng đó tạo nên sự mầu nhiệm đánh thức tâm Bồ đề của mình và những người xung quanh. Cho nên khi tụng Chú Đại Bi trong Đại chúng, bao giờ cái tâm của mình cũng phấn khởi, nghe mầu nhiệm hơn là tụng một mình. Cách tụng này dễ dàng cho những người mới hành trì Chú Đại Bi *Niệm thầm: Chữ niệm được ghép hai chữ kim có nghĩa hiện tại, bây giờ. Nó được nằm trên chữ tâm, như vậy chữ niệm là cái gì đó hiện diện nay trên một khoảnh khắc của ý thức Phật giáo gọi là sát na, vì thế niệm thầm còn gọi là: “Duy niệm” tức là niệm không ra tiếng, ngồi niệm bằng cách tư duy quán tưởng nhớ nghĩ từng câu chú ngay lúc đó, cách niệm này rất khó cho những người mới tập niệm, dễ sinh chán nản, buồn ngủ và giải đãi, tâm dễ tán loạn khó hành trì, cách niệm này dành cho những vị hành trì lâu năm Hai cách niệm trên là còn niệm tướng, còn thấy người niệm và câu Chú Đại Bi để niệm, cách niệm này gọi là phương tiện niệm, nhờ phương tiện niệm để đạt đến trạng thái tâm vô niệm, là xa lìa tất cả tướng, không trụ vào bất kỳ hình tướng nào để tâm thanh tịnh, thì trí tuệ mới hiển bày. Cũng giống như ngón tay chỉ mặt trăng, thấy mặt trăng rồi không cần ngón tay chỉ nữa, tức dùng sự đạt lý, qua sông thì cần chiếc bè để qua, qua rồi chúng ta không nên chấp chiếc bè, vì thế đức Phật dạy “Chư Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, ví như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy” (Trung Bộ Kinh 1, Kinh Ví Dụ Con Rắn, trang 305). *Niệm vô niệm niệm Đồng nghĩa vô niệm tức là niệm, “vô niệm” có hai ý “vô tướng” và “vô trụ” vì thế Ngài Lục Tổ Huệ Năng nói: “Vô tướng là nơi tướng mà lìa tướng Vô niệm là ngay nơi niệm mà lìa niệm Vô Trụ là bản tính của con người” [7] Tức là hành giả đừng để tâm mình bị ô nhiễm tức phan duyên theo “trần cảnh”* tức là ngay lúc niệm của mình thường lìa cách cảnh, đừng để tâm mình lay động chạy theo trần cảnh, niệm là niệm bản thể của tâm “Chân Như” đó là chơn niệm, quán tưởng kỳ danh’ quán tưởng 84 câu chú Đại bi (niệm trong tâm), niệm mãi, niệm hoài đến khi trong óc, rồi trong tâm luôn có niệm, nhưng về cơ thể thì ‘vô niệm.’ Khi đầy tâm rồi thì mỗi cử động của Tâm đều là niệm (niệm nhập tâm) Thế là niệm đến chỗ vô niệm: thì bấy giờ đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn. Đó là chơn niệm vậy Như vậy, niệm Chú Đại Bi là mình luôn luôn nhớ cái tâm đại từ, đại bi của mình là niệm (Phật tính) trong tứ oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi, đều trong chánh niệm đều nghĩ đến Phật, chúng ta không tạo nghiệp bất thiện như không sát sinh giết người hại vật, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, không tham, không sân, không si…thì chắc chắn trong cuộc sống của chúng luôn luôn an lạc, không sợ hãi, không gặp chướng ngại (vô ngại). T. Trí Giải nguồn nguoiaolam
  21. Xác nhận có 1,500,000 đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) ủng hộ Quỹ từ thiện và đóng góp cho Vp Điều Hành. Quỹ hiện có : 2,200,000 đ + 1,500,000 đ = 3,700,000 đ (ba triêu bảy trăm ngàn đồng)
  22. Hiểu đúng về viêm đường tiết niệu Khoảng 20-40% phụ nữ từng bị viêm đường tiết niệu. Vậy, bạn hiểu về bệnh này đến đâu? Viêm bàng quang là một phần của viêm đường tiết niệu? Đúng. Người ta phân chia thành 3 loại viêm đường tiết niệu: viêm niệu đạo, viêm bàng quang, viêm thận. Vi khuẩn là nguyên nhân chính gây viêm đường tiết niệu? Đúng. Phần lớn viêm đường tiết niệu do vi khuẩn xâm nhập vào đường niệu. Đại đa số các trường hợp do vi khuẩn có tên gọi “Escherichia coli” gây ra. Viêm đường tiết niệu không gây hại? Sai. Mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào cơ quan bị viêm. Nếu vi khuẩn “đóng quân” ở bàng quang, tức viêm bàng quang, việc viêm nhiễm không mấy nghiêm trọng. Nhưng nếu vi khuẩn “xâm nhập” tới thận, tức viêm thận, tính chất viêm nhiễm trong trường hợp này lại trở nên nghiêm trọng và cần phải đi khám ngay lập tức để được điều trị kịp thời. Quan hệ tình dục tăng nguy cơ viêm đường tiết niệu? Đúng. Đây chính là lý do tại sao nên đi tiểu ngay sau khi quan hệ tình dục để loại bỏ vi khuẩn có thể xâm nhập vào bên trong. Bao cao su cũng là một biện pháp phòng tránh cần thiết nhất là với các cuộc tình “một đêm” hay quan hệ không có chủ định trước. Tiểu đường tăng nguy cơ viêm đường tiết niệu? Đúng. Bệnh tiểu đường với sự tăng cao đường trong máu sẽ kích thích sự phát triển của vi khuẩn viêm nhiễm và nấm, gây ra viêm đường tiết niệu và viêm da. Viêm bàng quang tự khỏi? Đúng. Tuy nhiên, vẫn cần điều trị với kháng sinh để chắc chắn rằng viêm nhiễm hoàn toàn biến mất và hạn chế các nguy cơ tái nhiễm bệnh. Chữa trị viêm đường tiết niệu cần đến thuốc giảm đau? Sai. Viêm đường tiết niệu không cần thuốc giảm đau mà chỉ cần thuốc kháng sinh vì nguyên nhân chính gây bệnh là do vi khuẩn. Chỉ phụ nữ mới bị viêm đường tiết niệu? Mặc dù đại đa số bệnh nhân viêm đường tiết niệu là nữ nhưng không vì thế mà không có bệnh nhân nam. Đặc biệt, nguy cơ viêm đường tiết niệu ở nam giới sẽ tăng theo tuổi tác. Vitamin C ngăn ngừa viêm bàng quang? Đúng. Vitamin C tăng axit trong nước tiểu, vì thế, hạn chế được sự bùng phát của các loại vi khuẩn. Theo Khiết Linh Dân Trí
  23. Gần đây nhiều phát ngôn chính thức của cơ quan điều tra cho rằng hung thủ Luyện gây án 1 mình và phù hợp với hiện trường, dù rất nhiều tiếng nói phân tích logic trong đó có luật gia Phạm Thanh Bình xác định không thể không có sự góp sức của đồng phạm. Cá nhân tôi đồng tình với ý kiến của các chuyên gia và dư luận, kết hợp với sự bình tĩnh đối mặt với pháp luật của Luyện tôi có suy luận như sau : bản thân Luyện đã được cũng cố tư tưởng và kịch bản hoàn hảo đến mức sự sợ hãi hay hối hận của Luyện gần như không có. Để trả lời câu hỏi này Wild ra được quẻ : Sinh lưu niên.
  24. Nhờ cái sai của facebook ACE biết ngày sinh của SP, để sửa cái sai này chúng ta off 1 chầu hoành tráng để chúc mừng Sp đi nhỉ ? Ai ủng hộ post vào nhé!
×
×
  • Create New...