-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
diệu tâm thân mến ! Nỗi băn khoăn của bạn cũng như của nhiều người, không muốn tiếp tay cho những kẻ làm giàu pha màu sát khí ! Nhưng nếu bạn nghĩ được rằng cứu thoát một đàn chim, giải phóng cho đàn cá, bạn đã đem lại cho chúng sự tái sinh, trở về với bầu trời với dòng sông của sự sống. Sinh khí bắt đầu từ đây làm tâm bạn an bình, còn những người bán, nghiệp quả theo họ như một vòng xoáy, vì không có sự tiếp tay của bạn, họ vẫn chọn một nghề khác với một nghiệp quả khác tương tự, nếu có phát triển đi chăng nữa cũng chỉ làm nặng thêm hạt nhân oán đối. Thôi thì ta cứ làm khi lòng mình thấy Phải, thấy An, thấy còn Cảm xúc. Còn mọi việc như bánh xe luân hồi tuân theo luật trả vay. Vài dòng lạm bàn có gì không phải ta lại tiếp tục học hỏi từ những gương thiền định.
-
Chiều ngày 5/12/08 Wild thực hiện chuyến đi Bệnh viện Nhi Đồng 2 giao tận tay số tiền trợ giúp của ACE đến gia đình Chi Nga Minh. Nơi đây Wild đã không ngăn được lòng mình khi nghe giới thiệu 1 cháu 7 tháng tuổi mang trong người chứng bệnh nguy hiểm " TIM BẨM SINH " cháu tên Phạm thị Ngọc Mai nằm cùng khoa bệnh Nhi với Cháu Bảo Ân, 2 cháu thuộc dạng Bệnh Nặng cần chế độ chăm sóc đặc biệt. Nhìn đôi mắt và màu da sáng trong của Bé Mai không ai tưởng tượng ra màu da của cháu chuyển sang tím tái khi bệnh trạng ập tới và nguy cơ tử vong rất cao . Dưới đây là một vài hình ảnh Wild ghi vội để đưa lên Diễn đàn , với niềm mong mỏi ACE ghé mắt ghé lòng đến trường hợp này để cháu có thêm điều kiện chữa trị, hầu giành giật lại sự sống trước khi trời định số . Wild cũng đã giúp ngay 500.000 ngàn cho cháu. Hy vọng lời kêu gọi này, được sự quan tâm của ACE để Wild có điều kiện quay lại nơi này chia sẽ với cháu ! Bé Mai 7 tháng tuổi bị bệnh tim bẩm sinh: Mẹ con bé Mai: Trao tiền giúp đỡ: Giấy xác nhận:
-
CÁC HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN CỦA TRUNG TÂM
wildlavender replied to wildlavender's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Chiều qua vào lúc 15h ngày 5/12/08, Wild đã tìm gặp được Vợ chồng Anh Chị Minh là cha và Mẹ của Cháu Bảo Ân theo tin chuyển viện điều trị tại bệnh viên Nhi Đồng 2 Tp HCM. Thật không khó tìm vì cháu có màu da rất vàng, mà chúng ta dễ nhận biết căn bệnh sau khi trông thấy cháu. Dưới đây là một số hình ảnh của chuyến đi : Wild gặp được cả Anh Thọ là cha cháu cũng xin nghĩ dạy 1 tuần để vào đây cùng Chị chăm sóc cháu: Gia đình cũng xúc đông nhờ tôi chuyển lời cảm ơn đến tất cả những tấm lòng của các thành viên Diễn đàn đã quan tâm đến hoàn cảnh của cháu. Tiền đã được Wild trao tận tay Chị Minh, trong lúc thăm hỏi về diễn biến sức khỏe của cháu, Anh Trọng viết giấy nhận số tiền 2.200.000vnd ( hai triêu hai trăm ngàn). Chứng từ xác nhận: Đại diện của khoa trao đổi với Wild và giới thiệu 1 trường hợp thương tâm khác : Wild sẽ có bài giới thiệu về một bé chưa đầy 7 tháng tuổi đã mang bệnh Tim bẩm sinh . -
Bạn vào đây để xem http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...et_co/t310.html
-
CÁC HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN CỦA TRUNG TÂM
wildlavender replied to wildlavender's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Thứ Tư, 03/12/2008 - 3:48 PM Cô giáo Trần Thị Nga Minh nhận 7.260.000 đồng tiền ủng hộ Chị Nga Minh nhận quà của bạn bạn đọc. (Dân trí) - Ngày 28/11 đại diện báo Dân trí đã trao số tiền 7.260.000 đồng do bạn đọc ủng hộ cho chị Trần Thị Nga Minh (31 tuổi), giáo viên trường THCS Lâm Mộng Quang - nhân vật trong bài “Lời khẩn cầu của một cô giáo trẻ”. Cầm số tiền lớn trên tay chị Nga Minh xúc động “cảm ơn các nhà hảo tâm đã giúp đỡ gia đình tôi trong lúc hoạn nạn này”. Gặp lại chị Nga Minh khi chị đang làm thủ tục chuyển viện cho người con gái xấu số của mình tại bệnh viện TƯ Huế, sau hơn 1 tuần nằm cấp cứu vì bệnh quá nặng nên gia đình đã chuyển bé Bảo Ân vào điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 (TPHCM) mong cho bé qua được cơn nguy kịch. Tình cảnh của gia đình chị Nga Minh quá đau khổ, bản thân chị bị bệnh hen suyễn mãn tính hơn 10 năm nay, mỗi khi trái gió trở trời là chị lại lên cơn hen nặng, đã nhiều lúc vì bệnh quá nặng chị đã phải cấp cứu tại bệnh viện TƯ Huế. Cũng vì căn bệnh quái ác đó mà Nga Minh không thể tiếp tục sinh con. “Các bác sỹ cho biết nếu tôi tiếp tục sinh con thì ảnh hưởng rất lớn đến mạng sống”, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt hốc hác, chị Nga Minh tâm sự. Mạng sống của bé Bảo Ân chỉ còn được tính từng ngày, từng giờ. Ba lần sinh con là cả 3 lần vợ chồng chị Nga Minh như chết lặng vì những người con xấu số của chị đứa thì qua đời quá sớm, đứa thì bị bệnh hiểm nghèo khi còn quá nhỏ. Hai người con trước của chị Minh đã qua đời, bây giờ người con cuối cùng của gia đình chị - bé Bảo Ân đang bị bệnh xơ gan bẩm sinh khi em chưa đầy 16 tháng tuổi, mạng sống của bé đang tính từng ngày, từng giờ.Hiện nay bé Bảo Ân đang nằm điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, “vì bệnh viện TƯ Huế không liên kết với bệnh viện Nhi đồng 2 nên bé Bảo Ân phải lo mọi chi phí trong quá trình điều trị”, liên lạc với chúng tôi qua điện thoại, chị Nga Minh cho biết. Nguồn dantri.com Qua bài báo trên Wild quyết định không chuyển tiền qua Bưu Điện nữa . Wild sẽ đến và trao tận tay Chị Nga Minh nhằm giúp đỡ phần điều trị cho căn bệnh của cháu ! -
CÁC HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN CỦA TRUNG TÂM
wildlavender replied to wildlavender's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Vừa qua Wild tổng hơp được sự đóng góp của các thành viên dưới đây : Lãng Tử : 1.000.000vnd Coc con : 200.000vnd Nam : 500.000vnd Chipchip : 100.000vnd Phuong2t : 200.000vnd Duyenanh : 200.000vnd --------------------------------- Tổng cộng là 2.200.000vnd Hôm nay Wild sẽ chuyển số tiền này đến Chị NGA MINH mẹ của cháu Bảo Ân . Wild sẽ post phiếu chuyển tiền sau khi có để tường minh . -
Tướng đổi thay theo nghiệp ! Vì tướng mạo là biểu hiện của nghiệp nên nó cũng bị thay đổi theo nghiệp. Một tay bán dầu tên Bùi Độ (đời vua Hán Cảnh Đế) nghèo khổ lang thang, được thầy tướng số cho biết sẽ chết đói vì có hai đường chỉ chạy xéo từ cằm lên mép miệng. Ngày kia Bùi Độ gặp một thiếu nữ ngồi khóc bên giếng sâu. Hỏi ra sự tình mới biết thiếu nữ mang vàng đi để chuộc tội oan của cha, chẳng may bị đánh rơi xuống giếng. Ai cũng nói dưới giếng có con trăn to. Thiếu nữ đang tuyệt vọng muốn quyên sinh. Bùi Độ thương tình, nghĩ mình trước sau cũng chết đói nên liều mạng leo xuống tìm được vàng cho thiếu nữ. Nhờ đó gia đình thiếu nữ được phục hồi danh dự và quyền thế. Một lần gặp lại, nhà tướng số kinh ngạc nói rằng tướng chết đói của Bùi Độ đã biến mất mà thay vào đó là tướng công khanh phú quý rực rỡ. Đúng vậy, sau này thiếu nữ tên Ngọc Hà đền ơn, đem Bùi Độ về dạy học và giao ước vợ chồng rồi mới thưa với phụ thân. Cha nàng gửi gắm Bùi Độ sang một người bạn khác để nhờ tiến cử. Thời gian xa cách Ngọc Hà, Bùi Độ đã lạc lòng với những hình bóng giai nhân khác. Trên bước đường tiến quan, Bùi Độ ghé vào thăm nhà tướng số cũ để tạ ơn, nhưng ông bảo Bùi Độ đã hiện lại tướng chết đói. Bùi Độ tức giận bỏ đi. Sau khi được làm quan, Bùi Độ đánh mất nhân cách, chỉ lục lạo, cưỡng bức các cô gái đẹp, bị triều đình hạ lệnh bắt về kinh trị tội. Bùi Độ sợ hãi trốn vào rừng rồi chết đói cạnh một mỏm đá. Ngọc Hà đau khổ tìm chồng, trông thấy bộ xương và cũng gục chết bên cạnh. Cái phước của Bùi Độ xuất hiện do tâm niệm liều mạng tìm vàng cứu cô gái. Phước đó quá lớn đến nỗi chuyển hẳn tướng mạo và số mệnh để cho Bùi Độ trở thành quan chức vinh hiển. Nhưng rồi, tư cách tầm thường tham dục đã phá vỡ phước cũ để cho nghiệp chết đói đủ cơ duyên xuất hiện trở lại. Như vậy, tướng mạo tùy thuộc vào nghiệp chứ không cố định. Nếu chúng ta thường xuyên biết “liều mạng” cứu giúp mọi người, ắt hẳn tướng mạo và số kiếp chúng ta sẽ thay đổi một cách tốt đẹp lắm!!! trannhatthanh (chép từ Vietlyso.com)
-
Khảo luận về Tướng mạo và Phong thủy Số mệnh vẫn là câu hỏi của kiếp người cho dù khoa học tiến bộ đến mức nào chăng nữa. Biết bao câu chuyện thực sự xảy ra chung quanh ta, khiến nhiều người suy nghĩ về số mệnh và sửa đổi số mệnh. Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông là hai lãnh tụ Trung hoa cận đại nhưng họ Tưởng một đời hạnh phúc, kế nghiệp xây dựng sẵn của Tôn Trung Sơn, đánh Nhật đã có Đồng minh giúp, chống Cộng đã có Mỹ viện trợ và khi thua chạy ra Đài Loan cũng an hưởng hàng chục năm thanh bình ở Đài đảo thịnh vượng và quyền hành làm chủ một cõi sơn hà truyền đến đời con cái. Về đường vợ con, Tưởng Giới Thạch cũng sung sướng hơn Mao nhiều, bà thứ hai của họ Tưởng là Tống Mỹ Linh thuộc một gia đình giàu có nhất Trung hoa đầu thế kỷ 20 và cũng là một phụ nữ vượng phu ích tử và được nhiều người nể trọng, hưởng thọ tới 105 tuổi. Trong khi ấy Mao Trạch Đông cả đời lao tâm lao lực, tuy chiếm được cả lục địa nhưng chẳng lúc nào an nhàn. Về nội bộ Mao phải tranh giành quyền lực với đồng chí như Lưu Thiếu Kỳ, Đào Chú, Lâm Bưu... Đối ngoại, Mao vừa phải đối kháng với Mỹ, vừa phải quyết đấu với Khruschev của Nga. Mặt vợ con của Mao rất bi thảm. Ba đời vợ thì Hạ Tử Chân, Dương Khai Tuệ và Giang Thanh, kẻ thì bị giết, kẻ tự sát và khi nhà độc tài hấp hối cũng chẳng có ai bên cạnh vì Giang Thanh còn mải giành quyền kế vị. Con cái của Mao cũng không ra gì. Con trai duy nhất là Mao Ngạn Anh thì chết ở Triều tiên. Mấy cô con gái đường chồng con quá bạc bẽo. Nguyên nhân nào gây ra sự khác biệt về số mệnh như thế? Các nhà nghiên cứu phong thủy và số mệnh cho rằng tại mồ mả tổ tiên của hai lãnh tụ này đắc thất khác nhau. Tưởng Giới Thạch đặt phần mộ của thân mẫu tại Phụng Hóa, Triết Giang, được nơi đất phát. Mao Trạch Đông có phần mộ của thân phụ ở Thiều sơn, Hồ Nam tuy đất tốt nhưng bị kẻ thù hủy "long mạch" nên chẳng được hưởng toàn cái may... Quay sang Tây phương, rất nhiều người chú ý tới số phận gia đình Kennedy ở Mỹ và gia đình Aristotle Onassis ở Hy lạp. Đây là những gia tộc quyền uy và phú quý nổi danh nhưng nhiều đời gặp bất hạnh. Có người cho rằng họ thuộc vào loại gia đình bị thần linh nguyền rủa (family curse) nên đã nhận bao tai họa và thảm kịch. Có lẽ đó là lý do người tin vào mệnh vận khá nhiều. Ngay cả những kẻ không tin thần thánh cũng nhìn nhận là có số mệnh. Một học giả và là nhà văn nổi tiếng Trung hoa hiện đại là Bá Dương đã có ý kiến sau đây về vận mệnh xem ra khá xác đáng: "Không tin vào thần thánh nhưng tin vào số mệnh. Số mệnh và thần thánh không có quan hệ gì với nhau. Số mệnh thể hiện bằng những gì xảy ra ở ngoài vòng khống chế của cá nhân trong một giai đoạn nào đó của kiếp người. Cho nên vấn đề không phải ở chỗ tin hay không tin. Nếu quả thực không có nó thì tin hay không tin là phạm vi tôn giáo. Nếu quả thực có nó, nó không còn là vấn đề của tôn giáo nữa mà là vấn đề của con người." Nếu nhìn nhận có số mệnh thì con người phải làm sao để đối phó? Cứ "nhắm mắt đưa chân" đành để số mệnh "mặc cho con tạo xoay vần"? Hay cầu khẩn thần thánh để hy vọng thoát số kiếp bất hạnh và hưởng hạnh phúc? Hay chống lại số mệnh như Lương Khải Siêu từng viết: Bách niên lực dữ mệnh tương trì (Trăm năm trong cuộc đời lấy sức của mình mà chống lại số mạng.) Tuy nhiên, con người có chống được số mệnh hay không? Biết trước số mệnh, có thể cải được số mệnh hay xu cát tị hung hay không? Nhà phong thủy muốn dùng khoa dương trạch hay âm trạch để cải số mệnh, nhà tính danh học cũng muốn sửa đổi số mệnh bằng đổi tên, trong khi ấy nhà đạo đức hy vọng tướng tùy tâm sinh (tướng do tâm mà ra) giữ thiện tâm thì số mệnh sẽ được cải thiện và hoàn thiện. Trong phần mạn đàm về mệnh tướng, phong thủy sau đây, dành độc quyền cho Thời Báo, chúng tôi đã dựa vào nhiều thiên hồi ký cuả các nhà tướng số nổi danh Trung Hoa như Lư Nghệ An, Từ Lạc Ngô, Viên Thu San, Vi Thiên Lý, Kiến Nông Cư Sĩ, Vương Đình Chi và Tề Đông Dã...để giúp quý độc giả có thêm tài liệu suy nghĩ về một vấn đề nhân sinh và đánh giá lại giá trị của một ngành học thuật cổ, gồm tướng mệnh và phong thủy. Những câu chuyện của các tướng mệnh gia kể lại thường là những gì họ đã chứng kiến nên có thể giúp chúng ta giải trí và có nhiều cơ hội suy nghĩ về ý nghĩa của kiếp nhân sinh. Nhà tướng mệnh học Vi Thiên Lý trong tác phẩm Mệnh Tướng Cố Sự kể lại kinh nghiệm về xem tướng người và mức cao thâm của những nhà xem tướng nổi danh. Hai nhân vật được mang ra phẩm bình tướng mạo là là hai nhân vật tăm tiếng của văn đàn và chính trường Trung Hoa hồi đầu thế kỷ 20: Hồ Thích và Trần Độc Tú. Hồ Thích là một học giả lỗi lạc, không những vang danh ở Trung Hoa mà còn ở cả quốc tế, ông cũng là một chính khách danh vọng bậc nhất của Trung Hoa đầu thế kỷ trước. Ở VN chẳng mấy người nghiên cứu văn học không biết tới Hồ Thích và không ít học giả đã tán dương ông hoặc chỉ trích ông trong nhiều bài khảo luận trước và sau 1945 (chỉ trích Hồ Thích cay độc nhất và thành kiến nhất là Đặng Thai Mai.) Trầân Độc Tú ở Trung Hoa có uy tín hơn cả Hồ Thích. Họ Trần không những là một khuôn mặt uy tín của cải cách văn hóa ở Trung hoa đầu thế kỷ 20 mà còn là người sáng lập ra đảng Cộng sản Trung hoa và là đàn anh của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Hai người trong những năm đầu đời Dân quốc đều dạy tại Đại học Bắc kinh và đều là nhân vật sáng chói trong giới thanh niên và văn học (Hồ Thích sinh năm 1891 chết 1962) còn Trần Độc Tú (sinh 1879 chết 1942) nên được các nhà tướng số của Bắc Kinh ngày ấy dự đoán vận mệnh. Các nhà mệnh tướng đã căn cứ vào hai tiêu chuẩn thanh trọc để bình phẩm số mạng của họ. Trước hết cũng nên giải thích rõ hơn hai chữ "thanh" và "trọc" trong số mệnh và tướng pháp. Thanh nghĩa đen là "trong", là tốt đẹp, là hữu dụng. Trọc nghĩa là "đục" là xấâu và vô dụng. Kẻ bình thường chúng ta chỉ thấy bề ngoài của một người nghĩa là chỉ thấy cái đẹp hay cái xấu ở tướng mạo hay cử chỉ người ấy nhưng các nhà tướng học có cái nhìn bản chất sự vật và tìm ra được cái nét siêu việt, ưu tú có thể ẩn tàng ở tướng mạo cũng như những biểu hiện hạn chế ởû một cá nhân mà họ quan sát. Tướng mạo con người có thể toàn thanh hay toàn trọc và trường hợp này xấu tốt đã rõ khỏi bàn. Nhưng có trường hợp "Thanh trung đới trọc" hay trong tốt có xấu và "trọc trung đới thanh" hay trong xấu có tốt khó mà phán đoán và đánh giá. Các nhà tướng mệnh cho rằng đẹp mà trộn cái xấu là phá cách và giảm cái tốt. Còn xấâu mà hàm chứa cái tốt không những giảm xấu mà còn mang lại nhiều hanh thông và thành tựu. Sách tướng có dạy: "nhất quý để cửu tiện, nhất tiện phá cửu quý" Nghĩa là "một cách quý của tướng mạo có thể chống lại được chín cái xấu của tướng mạo. Còn một cái xấu của tướng mạo có thể làm hư cả chín cái quý của một người." Nhưng quý (hay tiện) ở vị trí nào mới có thể có khả năng cứu giải, bổ túc cái tốt (hay phá hoại ưu điểm)? Các mệnh tướng gia cho rằng chúng phải nằm ở những bộ vị quan trọng trong tướng mạo hay trong cử chỉ của một người. Vi Thiên Lý kể lại, vào năm dân quốc thứ sáu (1917) ở Bắc kinh có hai nhà tướng thuật nổi danh là Điếu Kim Ngao và Tần Tứ Gia đã công khai trên báo chí đoán số mạng hai nhân vật thời đại Hồ Thích và Trầân Độc Tú. Điếu Kim Ngao cho rằng Hồ Thích có quý cách "trọc trung đới thanh", còn Trầân Độc Tú lại có khuyết điểm là "thanh trung đới trọc" và kết luận số phận Hồ Thích sẽ hanh thông hơn Trầân Độc Tú nhiều. Bề ngoài rõ ràng Hồ Thích không thể anh tuấn bằng Trần Độc Tú vì đã cận thị lại thêm lông mi quá rậm nên khuôn mặt tối sầm, người lại nhỏ bé và yếu đuối. Về sự nghiệp và uy vọng họ Trần khi ấy hơn họ Hồ. Hồ Thích mới về dạy đại học, còn Trần Độc Tú đã là khoa trưởng khoa văn, chủ nghiệm tờ Tân Thanh Niên lừng lẫy và là lãnh tụ Đệ tứ Quốc tế. Tuy nhiên, Điếu Kim Ngao phát giác ra hai điểm quý của Hồ Thích. Trước hết là trong cách ăn nói và tiếng cười của ông ta, tất cả bộc lộ nguồn lạc quan, sảng khoái, hòa nhã và thanh tao. Ưu điểm thứ hai là khi đi đứng hay ngồi, hình tướng của họ Hồ gợi hình con tiên hạc và với cốt cách này thì Trần Độc Tú chẳng có thể sánh bằng Hồ. Điếu Kim Ngao kết luận có lúc Hồ Thích sẽ bỏ chức giáo sư đại học và xuất chính và sẽ giữ những vai trò quan trọng trong chính phủ Tưởng Giới Thạch. Điều này khi ấy khó ai tin vì họ Hồ là nhà văn hóa, tỏ ra không thích chính trị như họ Trần. Điều khó thuyết phục hơn nữa, căn cứ vào đâu mà dám nói họ Trần sau này thất bại và chết trong nghèo túng, còn họ Hồ hiển hách trên thang danh vọng? Nên nhớ cả hai ông nay đều con nhà hào phú và danh vọng đương thời. Bấy giờ dân Bắc Kinh thấy Điếu Kim Ngao luận về tướng mạo hai nhân tài mà họ kính phục thì đều chú ý, nhất là lời luận đoán được đăng trên báo. Kẻ không tin nhiềâu hơn người tin và chính Hồ Thích cũng tỏ ra không tin Điếu Kim Ngao. Nghe nói Hồ Thích đọc trên báo thấy Điếu Kim Ngư đoán số mạng mình như thế thì bảo người bạn họ Chu rằng: "Số mệnh tôi và Trần tiên sinh tương lai như thế nào tôi không thể biết nhưng bảo tôi bước sang chính trị thì sai hoàn toàn. Nếu bạn có hứng thú thì tới tìm Điếu Kim Ngao đánh cuộc, được thua 5 ngàn hay 10 ngàn 'nguyên' tôi gánh cho." Người bạn họ Chu này tìm tới Điếu Kim Ngao để thách đố. Nhà tướng số nhận lời ngay với tiền cuộc là là 10 ngàn nguyên và mang việc này đăng lên báo chí. Cả hai cũng đồng ý "ký quỹ" ở giao thông ngân hàng Bắc kinh một khoản tiền để làm bằng. Báo chí ngày ấy đều loan tin sốt dẻo này. Còn tiếp... Hoàng Minh Hùng Chú thích: Hồ Thích: (Hu Shi; tên thật: Hồng Tân; tên chữ: Thích Chi; 1891 - 1962), nhà văn, nhà triết học Trung Quốc thời cận - hiện đại, người An Huy (Anhui). Năm 18 tuổi, sang Hoa Kì du học, bảo vệ luận án về triết học cổ đại Trung Quốc ở Đại học Côlômbia (Columbia) (1915). Năm 1917, về nước, đề xướng cách mạng văn học, kêu gọi dùng bạch thoại thay văn ngôn. Dạy triết học ở Bắc Kinh. Những năm 1928 - 30, hiệu trưởng Trường Đại học Ngô Tùng, Thượng Hải. Năm 1938, làm đại sứ Trung Hoa dân quốc tại Hoa Kì. Hồ Thích là người truyền bá chủ nghĩa thực dụng ở Trung Quốc, cho rằng thực tại chỉ là các mối quan hệ về cảm giác giữa con người, ông theo thuyết duy tâm chủ quan, tuyên truyền tư tưởng tự do cá nhân, dân chủ và khoa học. Các tác phẩm chính: "Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc" (1919), "Lịch sử văn học bạch thoại" (1928), "Lịch sử triết học thế giới 30 năm nay" (1925), "Hồ Thích văn tồn" (3 tập, 1930). Trần Độc Tú: (Chen Duxiu; 1879 - 1942), nhà hoạt động chính trị Trung Quốc. Quê: An Huy (Anhui). Từng du học ở Nhật Bản. Năm 1915, khai trương tạp chí "Thanh niên". Năm 1917, dạy văn học ở Đại học Bắc Kinh. Cùng Lý Đại Chiêu (Li Dazhao) khai trương tạp chí "Bình luận hàng tuần", truyền bá chủ nghĩa Mac - Lênin vào Trung Quốc. Thành lập nhóm cộng sản ở Thượng Hải (Shanghai). Tại hội nghị thành lập đảng (7.1921) được bầu làm bí thư Cục Trung ương. Từ 1925, là tổng bí thư. Năm 1927, bị phê phán hữu khuynh và bị cách chức tổng bí thư. Năm 1929, bị khai trừ đảng tịch. Từ đó theo khuynh hướng Trôxki (Trockizm). Chết ở Tứ Xuyên (Sichuan). Kỳ trước quý độc giả đã nghe giới thiệu về cuộc thách đố giữa một người họ Chu bạn của học giả Hồ Thích và vị được coi là Thái sơn Bắc đẩu của ngành tướng mệnh Trung hoa tiền bán thế kỷ 20 là Điếu Kim Ngao. Điếu Kim Ngao và một nhà tướng diện khác, Tần Tứ Gia, vào năm 1917, cho rằng Hồ Thích tương lai sẽ thành công và hạnh phúc hơn Trầân Độc Tú mặc dù lúc đó uy thế họ Trần gấp bội họ Hồ. Hơn nữa, hai nhà tướng thuật còn cả quyết họ Hồ sẽ bỏ lãnh vực văn hóa sang hoạt động chính trị. Bản thân Hồ Thích không tin nên mới xui người bạn họ Chu đánh cá với Điếu Kim Ngao và món tiền cá độ lên tới 10.000 nguyên, một món tiền khá lớn ở Trung hoa trước Thế chiến II. Cũng cần nhắc lại, trái với đa số người đồng thời cho rằng tướng mạo họ Hồ và họ Trần đều là ưu việt hay thượng cách nghĩa là tốt nhất, Điếu Kim Ngao và Tần Tứ Gia luận đoán tướng mạo của hai ngôi sao thanh niên này chủ trương, họ đều có khuyết điểm không thể gọi là cách "thượng-thượng" được mà chỉ thuộc loại "trung-thượng" mà thôi. Nói cách khác cả hai đều bị xếp vào loại "danh cao ư thực" (danh vọng cao nhưng thực quyền thấp) hay "quý nhi vô quyền" (có quý cách nhưng không có quyền) và "khởi lạc vô định" (lên xuống khó lường.) Không những thế gia đình của họ cũng không mấy hạnh phúc. Tại sao các tướng mệnh gia lại vừa khen vừa chê hai họ Trần và họ Hồ. Theo họ, Trần Độc Tú có cách "thanh trung đới trọc" và cái xấu (trọc) đã làm giảm cái tốt (thanh.) Còn họ Hồ thì "trọc trung đới thanh" và cái tốt (thanh) đã bù được cái xấu (trọc.) Hồ Thích, sinh năm 1891 ở An Huy, sau khi có học vị tiến sĩ của đại học Columbia ở Mỹ về vào năm 1917 đã trởû thành một trong những cây bút tiền phong cải cách văn hóa ở Trung quốc và được coi như một trong những cột trụ của phong trào Ngũ Tứ Vận Động (trong đó còn có Lỗ Tấn, Lâm Ngữ Đường và Trần Độc Tú.) Ông cũng là nhà thơ mới, nhà nghiên cứu triếât học và văn học với hàng trăm tác phẩm xuất sắc và giảng dạy tại Đại học Bắc kinh khá lâu. Hồ Thích viết báo có hàng triệu độc giả, Hồ Thích diễn thuyết có hàng triệu người nghe. Danh vọng lên cao nhưng cuộc sống Hồ Thích trước khi xảy ra cuộc chiến Trung-Nhật thuần túy là văn hóa. Ông hăng say viết sách, viết báo hô hào cải cách văn tự, văn hóa và tư tưởng trên các báo như Tân Thanh Niên và Tân Nguyệt, và chẳng màng tới hoạn lộ. Con ngươi họ Hồ mảnh khảnh, cận thị lông mày rậm, kém hoạt bát, trông có vẻ một học giả, tướng mạo không có gì xuất sắc, lại không thích chính trị nhưng Điếu Kim Ngao dám đoan chắc hai điều: - Hồ Thích sẽ bỏ môi trường tân văn hóa mà ông là khai quốc công thần để bước sang lãnh vực chính trị vào tuổi 50. -Tướng mạo họ Hồ tuy bình thường nhưng ẩn tàng một số ưu điểm bù lại, và báo hiệu ông sẽ thành tựu rực rỡ và hưởng phước hơn Trần Độc Tú. Không mấy ai tin khi lời luận đoán, được đăng tải trên báo chí ở Bắc kinh vào khoảng 1917. Tại sao? Trần Độc Tú là một nhân vật có lý tưởng và có cả một quá trình hoạt động cải cách tân văn hóa và cách mạng ở Trung hoa. Họ Trần, sinh năm 1879 cũng gốc An Huy, ngày nhỏ nổi tiếng là thần đồng, từng dự kỳ thi hương. Tuy không có học vị bác sĩ như họ Hồ nhưng Trần đã sang Nga và sang Nhật du học và viết báo nên kiến thức rất rộng và tư tưởng khá sâu sắc. Năm 1911 họ Trần từng tham gia cuộc khởi nghĩa Vũ Xương và sau đó viết báo hô hào cải cách văn hóa và chính trị. Ông là một trong những người đi tiền phong về báo chí mới của TQ, từng chủ trương báo như Tân thanh niên (sau đổi là Tân thanh) và Giáp dần tạp chí. Năm 1917, Trần được mời làm giảng sư Đại học Bắc kinh về môn văn chương và sau đó làm khoa trưởng Khoa Nghệ thuật tại đại học này. Trầân khuynh tả nhưng theo trường phái Trotsky hay Đệ Tứ Quốc Tế (như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu và Bích Khê ở VN.) và là một sáng lập viên của Đảng Cộng sản Trung quốc và từng được bầu làm chủ tịch đảng và tổng bí thư vào 1921 (sau này bị lật vì phe Đệ Tam do Mao, một em út của Trần, giành được quyền lãnh đạo.) Ông ta được thanh niên coi như lãnh tụ thần kỳ, có khả năng thu hút quần chúng, nói giỏi, văn hay chữ tốt. Nhân chứng cho biết không mấy người gặp họ Trần lần đầu mà không tín phục và không có cảm tình với ông ta. Chính cái dáng anh tuấn, mi thanh mục tú của họ Trần và giọng nói, âm thanh phát ra đã lôi cuốn người đối diện. Thêm vào đó họ Trần đầy tham vọng chính trị và triển vọng tương lai chính trị xán lạn, trong khi Hồ Thích không thích chính trị, uy tín không cao bằng Trần, sức thu hút quần chùng kém Trần, lại được đoán là sẽ bỏ văn theo chính và thành tựu cao. Thực là kỳ lạ. Nên biết Hồ Thích và Trần Độc Tú từng là bạn thân và cùng viết cho tờ Tân Thanh Niên nhưng họ đã trởû nên xung đột vì Hồ Thích cho rằng tờ Tân Thanh Niên không nên quá thiên về chính trị mà cần chú ý tới tư tưởng và văn hóa trong khi Trần Độc Tú muốn biến tạp chí thành phương tiện tuyên truyền chính tri. Ngày ấy ai cũng tin rằng với hậu thuẫn chính trị như thế, tài năng và uy tín như thế thì họ Trầân sẽ trởû thành lãnh tụï của Trung Hoa trong tương lai (chứ không đến lầân Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình) và Hồ Thích có lẽ cũng mãi mãi sẽ là Thái sơn Bắc đẩu trên văn đàn như Lâm Ngữ Đường hay Lỗ Tấn mà thôi. Vào khoảng 1937 Hồ Thích cùng Từ Chí Ma, Lương Thực Thu chủ trương tờ Tân Nguyệt ởû Thượng hải và viết nhiều bài về cải cách giáo dục và được chính quyền Nam Kinh để ý và có tin Hồ Thích sắp tòng chính. Điếu Kim Ngao có hy vọng thắng và lãnh tiền đánh cuộc do họ Chu chi trả. Có người biết tin đến báo tin mừng này cho nhà tướng số thì ông này lắc đầu và nói: - Thắng bại chưa phân sao đã nói đến được thua. Theo tôi Hồ Thích phải sau tuổi năm mươi mới rời văn đàn tham gia chính trường còn bây giờ thì chưa đâu, chỉ là tin đồân mà thôi. Hơn nữa, cho dù có vào chính trường chăng nữa và tôi có thắng chăng nữa, cũng chẳng nhận được tiền và bạn họ Chu có thua cũng không mất tiền." Nhiều người nghe câu này ngạc nhiên không hiểu vì sao, vì tại sao được cuộc mà không được tiền, chẳng lẽ kẻ thua không chịu trả? Không phải thế. Điếu Kim Ngư lắc đầu và cho biết bản thân mình cũng không biết lý do nhưng cam kết cuộc thách đố được đặt trên sự tín nhiệm tuyệt đối, nhất là hai phía đánh cuộc đã bỏ tiền cọc vào ngân hàng. Thế rồi thời cuộc biến chuyển. Nhất là nhân vụ Lư Cấu Kiều (không phải Lư Cầâu Kiều như nhiều sách sử VN phiên âm sai), năm 1937 Nhật gấy hấn với Trung Hoa và chiếân tranh bùng nổ, Bắc Kinh di tản, Điếu Kim Ngư đi một đàng và ông họ Chu đi một nẻo, ngân hàng cũng di tản. cuộc thách đố vô tình bị bãi bỏ. Khi ấy mới biết lời dự đoán của Điếu Kim Ngao vô cùng chính xác. Trong giai đoạn Nhật Hoa chiến tranh, chính phủ Tưởng Giới Thạch cần một người có năng lực và có tín nhiệm, và cũng được Mỹ tin. Không ai bằng Hồ Thích nên Hồ Thích trở thành đại sứ kiêm đặc sứ Trung hoa tại Mỹ, một vai trò quan trọng hơn ngoại trưởng vì có thể toàn quyền thay chính quyền QDĐ bàn với Đồng Minh Mỹ trong việc đánh Nhật. Hòa bình trở lại, Hồ Thích lại quay về văn hóa-giáo dục, 1948 trở thành khoa trưởng Đại học Bắc kinh và sau khi quốc quân sang Đài Loan vào 1949, Hồ Thích trở thành viện trưởng viện nghiên cứu trung ương. Năm 1960 ông có ra tranh cử tổng thống Đài Loan nhưng thất bại và sang Mỹ. Hai năm sau ông qua đời. Rõ ràng số của Hồ Thích tuy tốt nhưng cũng chỉ ởû mức thượng trung mà thôi. Điếu Kim Ngao dự tri rất xác đáng nhưng ông không giải thích được vì sao dù thắng cuộc ông vẫn không nhận được tiền cuộc mà chỉ cho rằng tại số ông không có ngoại tài và số ông Chu, kẻ cùng ông đánh cá, không có dấu hiệu hao tài khi Hồ Thích xuất chính. Thời cuộc biến chuyển, một yếu tố bên ngoài khoa tướng mạo và khoa số mạng. Hoàng Minh Hùng Kỳ trước đã nói tới việc hai nhà tướng mệnh nổi danh Trung quốc là Điếu Kim Ngao và Tần Tứ Gia vào năm 1917 đã so sánh tướng mạo của hai nhân vật nổi danh trong giới trí thức trẻ tại Bắc Kinh ngày ấy là Trần Độc Tú và Hồ Thích để đoán vận hạn của họ. Họ so sánh bề ngoài của hai nhân vật này như sau: Hồ Thích cận thị, lông mày hơi rậm, trong khoảng mắt và lông mày không có vẻ gì là đặc biệt hơn người, còn Trần Độc Tú thì "mi thanh mục tú," chưa nói thì mắt và lông mày như muốn thể hiện tình cảm với người đối thoại, gây khả năng truyền niềm tin yêu vào người nghe. Không những thế, bề ngoài mà bàn, Trần Độc Tú đẹp trai và thanh nhã hơn Hồ Thích, ăn nói duyên dáng và hùng hồn hơn họ Hồ, xứng đáng là một lãnh tụ thanh niên ưu tú sau Thế chiến Thứ I ở Trung hoa. Nhưng "mi thanh" là gì? Theo khoa tướng diện thì "mi thanh" có nghĩa là lông mày không quá đậm, quá thưa và cũng không hỗn loạn mọc thiếu thứ tự. "Mục tú" là đôi mắt đẹp không những về hình dáng mà còn trong trẻo, hắc bạch phân minh, nhãn quan nhu cương hòa hợp. "Mi thanh mục tú" là hình ảnh đối nghịch với "mày rậm mắt đục" hay "mi nùng mục trọc" nghĩa là lông mi dày quá và mắt đục ngầu hay lòng trắng nhiều hơn lòng đen. Tướng học cũng cho rằng lông mày cao mới đẹp, còn quá gần mắt thì che cái sáng của mắt không phải là hoàn mỹ. Thế mà Trần Độc Tú lại có đôi lông mày cao so với mắt nên trông thông minh dĩnh ngộ hơn Hồ Thích. Nhưng cũng nên nói rõ lông mày rậm (như con ngài) nhưng đều và khít, tương xứng với vầng trán và ngũ quan khác không phải là xấu, có thể là võ tướng hay phúc tướng như Từ Hải "râu hùm hàm én mày ngài" hay như Chu Ân Lai chẳng hạn (họ Chu trải qua bao sóng gió trên nửa thế kỷ trên chính trường Trung Quốc, đồng chí nhiều người bị thanh trừng hay vào tù như Trần Nghị, Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Bành Chân, Đào Chú, La Thụy Khanh, Lâm Bưu và Đặng Tiểu Bình...nhưng vẫn bình chân như vại cho tới khi nhắm mắt!) Thúy Vân được Nguyễn Du mô tả là "khuôn trăng đầây đặn nét ngài nở nang" đã căn cứ vào sách tướng dạy rằng phái nữ nếu có được "khuôn mặt tròn như vầng trăng rằm và lông mày như con tầm nằm ngang" (diện như mãn nguyệt, mi nhược ngọa tầm) thì vượng phu ích tử (Tỉa cho nhỏ hay sửa cho thanh sẽ làm hại cho quý tướng và cho chồng con?) Thảo nào Thúy Vân an hưởng hạnh phúc và quyền quý hơn cô chị Thúy Kiều. Trở lại trường hợp Trần Độc Tú. Ông này đạt được những ưu điểm về tướng diện nghĩa là "thanh" như đã kể nhưng trong cái "thanh" lại có nhiều cái "trọc" nghĩa là có khuyết điểm. Điếu Kim Ngao tìm thấy ở họ Trần có ba cái "trọc" trong tướng mạo và những khuyết điểm này có thể xếp chung vào loại "hình" như sau: -Trước hết là "mục quang bất định" có nghĩa là ánh mắt ông ta luôn luôn di chuyển biểu hiện nội tâm bất định. -Kế tiếp là "ngữ vĩ tế trầm" nghĩa là âm cuối của một chữ hay chữ cuối của một câu phát ra nhỏ và thấp so với âm đầu và âm giữa hay những chữ trên của câu, nên nếu nói nhanh thì không rõ ràng, khiến người nghe bị thuyết phục bởi cách nói hùng hồn dáng điệu hăng hái của kẻ nói hơn là do lãnh hội được ý nghĩa câu nói. Có người lại cho rằng tướng tá họ Trầân thanh tao, nho nhã nhưng giọng nói tuy to nhưng lại có vẻ sấn sổ, lấn lướt và mạnh bạo thể hiện chất "trọc" trong cái "thanh." -"Bộ phạt bất ổn" hay bước đi, dáng đứng không vững vàng. -"Tiếu thanh bất dương" nghĩa là tiếng cười tuy to nhưng âm hưởng không vang, không sang sảng hay gây khoái tai cho người nghe và không thể hiện được nguồn vui tự nhiên của người cười. Tìm ra khuyết điểm biểu hiện chất "trọc" trong cái "thanh" của của Trần Độc Tú, Tần Tứ Gia luận đoán hơi khác. Ông này cho rằng Trần có bốn cái "trọc" về "khí như sau: -"Trầm tư tỏa mi" nghĩa là khi suy nghĩ thì chau lông mày có dáng buồn bã chứng tỏ "ý trọc." -"Nhan sắc bất thuần" hay sắc mặt không đều nghĩa là hay biến sắc, đây là khuyết điểm "sắc trọc." -"Khí lực bất túc" hay là sức không đủ nên có dáng mệt mỏi hay "lực trọc." -"Tú khí bất súc" nghĩa là tinh hoa không hàm chứa mà lộ ra ngoài, thế mà "Anh hoa phát tiết ra ngoài" thì làm sao mà sung sướng cho được! Đây là nhược điểm "tài lộ." Căn cứ vào các phân tích trên hai nhà tướng số đã cả quyết vận mạng của họ Trầân sẽ có lúc rất hồng, tươi sáng vô cùng như vầng dương giữa ngọ. Giai đoạn đẹp nhất của ông ta có thể kể là 1917-1927. Tiếp đó là giai đoạn suy vong tàn mạt từ 1927 tới 1942. Trong giai đoạn suy tàn họ Trần sẽ gặp cảnh gia đình ly tán, cốt nhục chia lìa và thân bại danh liệt, bạn bè bỏ rơi, vào tù và cuối đời bệnh hoạn cho đến khi nhắm mắt một cách âm thầm trong quên lãng. Nên nhớ bản suy đoán được đăng trên báo tại Bắc Kinh vào năm 1917 nghĩa là trước cả cuộc Ngũ Tứ Vận Động năm 1919. Ngày đó chẳng ai tin hai nhà tướng số vì Trần Độc Tú lúc đó chưa tới 40, học giỏi (tốt nghiệp ở Nhật và có sang Pháp học thêm về văn chương), hoạt động chống nhà Thanh từ khi còn là một thanh niên, văn hay chữ tốt, có tài hùng biện, có tư tưởng cải cách, lại là khoa trưởng một phân khoa của đại học Bắc Kinh và chủ trưởng tờ Tân Thanh Niên có hàng triệu độc giả. Họ Trần lại dòng dõi phú hào ở An Huy ăn hết đời cũng chẳng hết của. Thế mà bảo hậu vận của ông ta chết trong thân bại danh liệt, nghèo túng bệnh hoạn thì mấy ai tin. Thời cuộc biến đổi, giai đoạn thứ nhất của họ Trần quả đúng như lời các nhà tướng học dự đoán. Họ Trần trở thành khuôn mặt chủ lực của cuộc vận đồng văn hóa lịïch sử của Trung hoa được gọi là Ngũ Tứ Vận Động (04-05-1919.) Trần Độc Tú sang thăm Nga được Lenin o bế, Trotsky vỗ vai và mang tư tưởng cách mạng vô sản về Trung hoa. Năm 1921 ông cùng Lý Đại Sao thành lập Đảng Cộng Sản Trung hoa và được bầu làm chủ tịch kiêm tổng bí thư. Tuy nhiên, Trần Độc Tú có bản chất vốn là một người quốc gia nên không muốn nghe lệnh của của Cộng sản Quốc tế trong việc thực hiện cách mạng ở TQ. Ông chống chiến dịch thanh trừng do Stalin khởi xướng ở Nga vì Stalin giành được quyền hành ở Nga sau khi Lenin chết và Trotsky bị lưu đày. Kết cuộc Trần bị phe Mao, thân Nga lật đổ và mất chức chủ tịch kiêm tổâng bí thư đảng vào năm 1927. Trong năm này Trần Độc Tú gặp hai biến cố đau thương. Trước hết là mất vai trò lãnh đạo khỏi đảng mà mình thành lập, lại còn bị khai trừ khỏi đảng. Tai họa thứ hai là con trai bị giết. Cậu trai này khi ấy là một sinh viên ở Thượng Hải, một thanh niên nhiệt huyết muốn theo cha làm cách mạng và ngày ấy hoạt động với sinh viên tiến bộ ở Thượng Hải. Đúng vào năm 1927 cuộc Bắc Phạt của phe Quốc dân đảng thành công, phe này thắt chặt quyền hành và mở cuộc thanh trừng phe đối lập. Cảnh sát trưởng Thượng Hải ngày ấy là Dương Hổ lại là một tay hiếu sát vớ được ai khuynh tả bất kể là Cộng sản hay không đều giết cho bằng hết và cậu con Trần Độc Tú cũng bị họa lây. Trong khi ấy, ban đầu Quốc Cộng hợp tác nhưng phe Quốc dân đảng khuynh hữu do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo thắng phe Q. D. Đ khuynh tả của Uông Tinh Vệ, thế mà họ Trần lại là bạn của Uông nên 15-10-1932 ông bị bắt giam với bản án 13 năm về tội phá rối trị an và giam ở Nam Kinh cho tới gần năm 1937 mới phóng thích. Trong thời kỳ này ông bị cấâm cố và chẳng được cầm cả bút sáng tác. Ra khỏi tù ông lại bị đồng chí bỏ rơi, văn giới hờ hững và bị phe Mao mở chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ Trần là là gián điệp của Nhật. Thanh niên xa ông, độc giả nghi ngờ ông trong khi ông bị bệnh. Trần bị bệnh tim nặng; lại gặp chiến tranh Trung Nhật bùng nổ, tiềân bạc thiếu thốn, vợ bỏ con chết nên qua đời một cách âm thầm ở một làng nhỏ gần Trùng Khánh vào 24 tháng 05 năm 1942, giữa lúc cuộc chiến đang diễn ra kịch liệt nên chẳng ai chú ý tới cái chết của ông, đúng như lời dự đoán của Điếu Kim Ngao và Tần Tứ Gia. Vào buổi vãn niên cô độc có người bạn thân tới thăm và hỏi Trần Độc Tú về lời dự đoán vận mệnh của Điếu Kim Ngao, họ Trần ngậm ngùi nhìn nhận ông đành đầu hàng số mệnh, một việc mà khi còn trẻ ông chưa bao giờ nhìn nhận. Khi bàn tới Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch , một người cầm đầu đảng Cộng sản có uy quyền tuyệt đối đối với hàng triệu người, người kia là tổng thống của một quốc gia có hàng trăm triệu thần dân, họ Trầân tâm sự: "Mệnh vận của họ quá tốt. Họ Trần này chỉ vì mệnh vận không bằng họ nên kết quả mới bi thảm như thế mà thôi." Có người cho rằng nếu họ Trầân chịu nghe lời của Đệ tam Quốc tế (Comintern) thì sau này kẻ ngồi ghế của họ Mao phải là họ Trần, hay nếu ông cứ ở vai trò một giáo sư đại học, một nhà văn hóa thì uy tín sẽ chẳng thua gì Lâm Ngữ Đường, Lương Thực Thu, Hồ Thích hay Vương Văn Ngũ và Lỗ Tấn. Có tài liệu cho biết khi Trần mới ra đời, trong một gia đình hào phù ở Hoài ninh, An Huy, đã có một nhà mệnh học dự đoán Trần Độc Tú chỉ nên theo nghề y hay văn học và nên sang các nước Tây phương du học mới tốt, còn làm quan hay làm chính trị hay du học Đông phương khó tránh được tù tội và thân bại danh liệt. Nào ngờ lời đoán không sai. Các phần trước đang bàn chuyện hai đại học giả và đồng thời là chính khách nổi danh của Trung Quốc hồi đầu thế kỷ 20 là Trần Độc Tú và Hồ Thích. Họ Trần có thể không mấy người ở Việt Nam nghe danh vì hạ đài sớm, lại có tư tưởng khuynh tả, nhưng Hồ Thích thì độc giả quan tâm tới văn học mới ở Việt Nam phần đông đều nghe qua một vài lần. Trước đây, sau 1949, các học giả Trung hoa ở lục địa chỉ trích Hồ Thích vì họ Hồ thuộc phe Quốc Dân Đảng nhưng gần đây thời cuộc biến chuyển, Hồ Thích lại được tán dương không tiếc lời trong giới trí thức Trung hoa lục địa. Ở Việt Nam sau năm 1954, học giả Đặng Thai Mai ở miền Bắc, theo gót đồng nghiệp bên kia biên giới, cũng phê phán Hồ Thích dữ dội, rằng họ Hồ, về mặt văn hóa, đại biểu cho quan niệm tư sản và phong kiến phản động. Trong khi ấy ở miền Nam VN, Hồ Thích vẫn được tìm hiểu và khen ngợi một cách khách quan trong nhiều tác phẩm khảo cứu, trong đó có cuốn Văn học sử Trung quốc (phần Hiện đại) của Nguyễn Hiến Lê và tác phẩm về Hồ Thích của Huỳnh Minh Đức. Các tác phẩm của Hồ Thích về triết học sử và văn học sử của Trung hoa cũng đã từng được dịch ra tiếng Việt hay được dùng làm tài liệu tham khảo chính cho các học giả VN nghiên cứu về Trung hoa. Gạt chuyện văn hóa sang một bên, xin mời quý độc giả trở lại vấn đề tướng mệnh. Thầy tướng Điếu Kim Ngao của Thượng Hải năm 1917 nhận định về tướng mạo của Hồ Thích đã cho rằng thuộc loại "trọc trung đới thanh" nên bề ngoài nhìn nhiều khuyết điểm (trọc) nhưng đi sâu hơn có ẩn tàng điểm ưu tú (thanh) vô cùng quý giá (trong đó bao gồm cách đi và phong cách biểu hiện qua cử chỉ.) Vì thế Hồ Thích về tướng mạo thuộc "loại xấu" nhưng có yếu tố cứu nguy nên vẫn thuộc thượng cách dù chỉ thuộc loại thượng-trung chứ không phải thượng-thượng. Cái xấu trong tướng mạo của họ Hồ, dù được cái đẹp ẩn tàng bổ khuyết, đã khiến công danh của ông có lúc lên như mặt trời giữa ngọ nhưng sức khỏe kém và tình duyên lận đận. Hôn nhân của họ Hồ là một giai thoại và nó cũng điển hình cho quan niệm về mệnh học của cổ nhân trong việc chọn người phối ngẫu. Trong đời Hồ Thích có ít nhất hai phụ nữ ông thương yêu rất mực vì tâm đầu, ý hợp, lại có trình độ hiểu biết có thể cùng ông bàn bạc chuyện văn chương và chính trị, nhưng những cuộc tình loại này đầy tan, hợp, bi, hoan. Còn người đàn bà ông sống trọn đời từ lúc tóc xanh cho tới khi tóc bạc lại là bà vợ mà cha mẹ cưới cho vào buổi thiếu thời. Bà này tên thực là Giang Đông Tú sinh năm 1890 nghĩa là lớn hơn Hồ Thích một tuổi. Hồ Thích kể lại vào tuổi thanh xuân trước khi theo học ở Cornell (1914), ông theo mẹ tới nhà một bà cô và tình cờ gặp bà họ Giang, bạn của người cô. Bà họ Giang này là phú hào trong vùng An Huy, thấy Hồ thích học giỏi lại con nhà trâm anh thế phiệt nên ngỏ ý gả con gái là Giang Đông Tú cho họ Hồ. Nhưng thân mẫu Hồ Thích (tạm gọi là Hồ mẫu) ngần ngại vì ba lý do. Lý do thứ nhất cô Giang lớn hơn Hồ Thích một tuổi (ông sinh năm 1891) mà theo tập quán của người Hoa thuở xưa thì gái hơn trai một tuổi không tốt, ngược lại trai hơn gái một lại hanh thông. Tục lệ này cũng tương tự như ta thường bảo: "nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một." Khuyết điểm thứ hai của Giang tiểu thư là có tuổi canh dần (1890). Cổ tục cho rằng con gái tuổi hổ sẽ khắc phu và chọn con dâu tuổi hổ vào nhà chẳng khác rước cọp vào nhà sau này vợ bắt nạt chồng (!) Điểm thứ ba Hồ mẫu không muốn sui gia với Giang mẫu vì bà Giang giàu quá mà họ Hồ thì "có tiếng nhưng không có miếng" vì đang suy vong. Tuy nhiên, bà họ Giang đã chấm trúng chàng rể tương lai, nhất định không bỏ cuộc và nhờ người thuyết phục Hồ mẫu rằng con gái mình tứ đức kiêm toàn và tuy là cọp nhưng thuộc loại "cọp giấy" hiền khô. Rốt cuộc, Hồ mẫu xiêu lòng nhưng đòi phải so "bát tự" mới quyết định. Thế là bát tự (ngày, tháng, năm và giờ sinh) của Giang Đông Tú (sinh ngày 08 tháng 11 năm canh dần 1890) và của Hồ Thích (sinh ngày 17 tháng 11 năm tân mão 1891) được mang ra so sánh và thấy không xung khắc. Như thế cô Tú có thể là cọp cái ở đâu không biết nhưng nếu cưới về họ Hồ sẽ là một con cọp nái vượng phu ích tử. Nhưng Hồ mẫu vẫn chưa hoàn toàn yên tâm. Cụ bà còn tuân theo tục lệ cuối cùng là để ngày sinh tháng đẻ của Giang Đông Tú trong một ống tre cùng với ngày sinh tháng đẻ của một số cô gái khác có thể chọn làm dâu tương lai của bà, rồi gác ống tre lên dàn bếp để Táo quân chọn giùm. Một thời gian sau cụ bà nghe ngóng xem trong nhà có xảy ra việc gì không như bể chén, gãy đũa, cãi cọ, hao tài hay bệnh hoạn. Nhưng tất cả bình yên chứng tỏ Táo thần cho biết các cô gái có lý lịch trong ống tre đều không gây xáo trộn trong gia đình nên có thể chọn một cho Hồ Thích. Chọn ai bây giờ? Hồ mẫu thực hiện nghi thức thông lệ. Cụ bà làm mâm hoa quả cúng Táo thần rồi lấy ống tre xuống và dùng đũa gắp một tờ ghi lý lịch của con dâu tương lại. Nào ngờ lại rút trúng thăm của Giang Đông Tú. Thế là cụ bà tin rằng trời đất đã kết hợp cho đôi lứa và mang sính lễ tới hỏi cô Tú cho cậu Hồ Thích. Giang Đông Tú là một phụ nữ hoàn toàn cổ, bó chân, học ít, chỉ biết tề gia nội trợï mà thôi. Hồ Thích chưa từng biết mặt cô Tú nhưng vâng lời mẹ cưới cô này làm vợ ăn ở cho tới khi đầu bạc răng long dù bên ngoài ông có nhiều mối tình lớn và lãng mạn khác. Đối với thế hệ ông, ông là nhà tân học lỗi lạc, một sinh viên xuất sắc của Cornell University (đậu B.A. tại đây) và Columbia University (đậu Ph.D. tai đây) và sau đó lại là cộït trụ của cuộc cải cách Ngũ tứ Vận động nhưng cuộc hôn nhân "tiền định" với người vợ cổ điển của ông trước sau vẫn trọn vẹn. Hồ Thích tạ thế năm 1962 nhưng Hồ phu nhân mãi tới năm 1975 mới qua đời. Khi kể chuyện đời mình, Hồ Thích thường nói đùa ông là mẫu người nam có "tam tòng tứ đức." Được hỏi là "tòng" ra sao và đó là các "đức" thế nào? Ông hóm hỉnh cho biết. "Tam tòng hay 'ba phục tòng' của tôi là vợ ra khỏi cửa là đi theo, vợ ra lệnh là nghe theo, và vợ nói sai cũng cứ làm theo." Còn "tứ đức," ông nói trại ra là "tứ đắc" là bốn điều làm được (vì chữ đắc là được và chữ đức là đức hạnh âm Bắc kinh đọc giống nhau.) Hiểu như thế thì "tứ đức" hay "tứ đắc" theo họ Hồ sẽ là " vợ trang sức lâu chờ được, sinh nhật của vợ nhớ được, vợ có đánh chửi nhịn được, và vợ có hoang phí cười (gượng) được." Ông Hồ tỏ ra nể vợ nên một trí thức đồng thời đã giễu ông bằng hai câu: Hồ Thích đại danh thùy vũ trụ, Tiểu cước thái thái, diệc tùng chi Có nghĩa là: Hồ Thích danh tiếng lừng vang Bà vợ chân nhỏ buộc chàng bám đuôi! Nhân tiện câu chuyện hôn nhân "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" của học giả Hồ Thích chúng tôi cũng xin nói qua cách so sánh ngày sinh tháng đẻ của một đôi xem nếu kết hôn có hợp hay không. Dĩ nhiên cách xe duyên kiểu này là tập tục cổ xưa không phải hoàn toàn khoa học và khách quan nhưng có thể giúp ta tài liệu tham khảo trong chọn lựa. Người Trung Hoa không so sánh lá số Tử vi của hai trẻ khi muốn kết hợp họ như người Việt thường làm mà so sánh Bát tự. Bát tự là tám chữ tiêu biểu, gồm hai chữ chỉ năm (như Hồ Thích sinh năm Tân Mão), hai chữ chỉ ngày (Hồ Thích sinh ngày Đinh Sửu), hai chỉ tháng (ông sinh tháng Canh Tý) và hai chỉ giờ (học giả sinh vào giờ Đinh Mùi). Trong việc so sánh bát tự, điều cần thiết là xem có yếu tố nào xung khắc trong hai lá số hay không như trong trường bát tự của Giang Đông Tú, thầy tướng số không tìm ra các chi như Dậu, Ngọ hay Mùi...có thể xung khắc các chi Mão, Tý và Sửu trong bát tự của Hồ. Nếu có xung khắc nghiêm trọng, sẽ không thể nhận vì hôn nhân dự đoán sẽ gặp nhiều sóng gió và đổ vỡ.) Người Việt cũng so tuổi nhưng chỉ so năm xem có xung hay không mà thôi chứ không so giờ, ngày và tháng nên thiếu sót. Ngoài ra, so sánh bát tự còn phải để ý tới số của cô gái hay của chàng trai có đoan chính hay trung thành hay không, và công danh sự nghiệp, tiền tài ra sao. Phụ nữ có sao Đào hoa hay Hàm trì ở bát tự thì khó mà chính chuyên, đàn ông mà trong bát tự không có quan tinh, ấn tinh (chỉ sự nghiệp) hay tài tinh (chỉ tiền bạc) và bản mệnh (tiếng chuyên môn gọi là nhật chủ) lại yếu thì sau này có thể "phi yểu tắc bần" nghĩa là đã chẳng giàu mà cũng chẳng sang, mà còn có cơ nguy chết yểu khi gặp vận xấu (muốn tham khảo về phần này xin xem Lịch tử vi Thời Báo USA năm Bính Tuất 2006 và Đinh Hợi 2007) Hồng Minh Hùng trích từ khongtu.com
-
Ám tướng Lời thầy dạy Sách có câu: 'Họa hổ, hoạ bì nan họa cốt. Tri nhân, tri diện bất tri tâm'. Nghĩa là vẽ con cọp, chỉ vẽ bên ngoài da không thể nào vẽ xương bên trong. Biết người, biết hình tướng bên ngoài chứ không thể biết được trong lòng, đừng 'nhìn mặt mà bắt hình dung'. Ở đời không thể xét đoán một người theo hình tướng của họ. Ngụ ý khuyên hãy cẩn trọng, đề phòng kẻ có lòng dạ tiểu nhân trong hình dáng của một quân tử. Trái lê bề ngoài thấy đẹp nhưng bên trong ruột lại bị hư thúi, còn trái dưa bề ngoài bị trầy trụa xấu xí nhưng khi xẻ ra lại nhiều nước và ngọt. Bởi thế trái cây cũng giống như con người cho nên không thể nhìn bề ngoài mà đánh giá. Kẻ có dung mạo cao sang nhưng trong lòng lại đê tiện thì tốt ở chỗ nào? Còn người dị mạo, tánh thẳng như ruột ngựa lại tốt bụng thì đâu phải là người xấu? Nói như thế không có nghĩa là những người có dung mạo đẹp đều là người xấu! Khoa tướng học sau này cho thấy người ta có thể nhìn con người qua tướng mạo, hoặc nghe giọng nói, cũng có thể biết được tánh tình theo lập luận một cách khoa học. Cổ nhân có nói: 'Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt'. Tướng mạo con người đẹp hay xấu đều do tâm sinh hay diệt. Câu này có ngụ ý khuyên người đời nên tu dưỡng tâm tánh. Tu tâm là phương pháp sửa đổi lỗi lầm cao minh nhất. Tâm có tu dưỡng thì được thanh tịnh, khi tâm thanh tịnh thì tà niệm khó khởi động hoặc nếu như tà niệm đã khởi thì cũng có sức giác chiếu của tâm mà tiêu diệt nó. Làm người ai không phạm lầm lỗi? Kẻ nào tự hào rằng mình là người không có lỗi lầm thì kẻ đó mới chính là ngu xuẩn nhất. Tội lỗi! Tội lỗi! Chúng ta đều là 'phàm phu tục tử', cũng có đầy lầm lỗi như lông trên mình con nhím. Tại vì không chịu nhìn lại và đếm từng lỗi lầm mà thôi! Muốn tránh bớt và cải đổi từng lỗi lầm thì phải khiêm cung độ lượng, khoan dung với người và tự nghiêm khắc với chính mình. Khi đưa ra một đối sách hay một kế hoạch gì mà không được người khác hưởng ứng thì nên nhìn lại vấn đề. Một là vì đạo đức của mình còn thiếu. Hai là tâm tánh mình chưa được tốt nên không đủ sức cảm động đến lòng người. Chớ đừng giận dữ mà động ác tâm sinh ra cãi vã, gây gổ với người. Tâm không động niệm thì không tạo ra nghiệp chướng. Nhất tâm nhất ý khởi nghiệp lành, hành thiện thì không có ác niệm nào có thể xen vào khởi động tâm mà tạo nghiệp ác được. Cho nên việc hành thiện nếu xuất phát từ lòng thành cứu giúp và tôn trọng người thì đó là chánh tâm. Còn nếu làm việc thiện để lấy lòng người, có ý đồ hay có ý coi thường hoặc chỉ để đùa vui thì đó là tà tâm vậy! Tóm lại, hai câu 'Họa hổ, hoạ bì nan họa cốt. Tri nhân, tri diện bất tri tâm'và 'Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt' có điểm dị đồng, con nên suy nghiệm để học hỏi thêm. * * * Ấn tướng là những nét hoặc dấu có sẵn trên cơ thể con người khi mới chào đời. Chẳng hạn như một cái bớt sau mông, hai ba nốt ruồi son trước ngực hoặc dáng điệu đi đứng hay giọng nói tiếng cười... đều là ấn tướng riêng biệt của mỗi con người. Khuôn mặt là nơi mà người ta nhìn vào khí sắc theo ngũ hành để luận đoán sự vui buồn hay lo âu, bệnh hoạn, nạn tai của mỗi người: - Kim, màu trắng bệch: Bệnh hoạn, mất ngủ. Khổ vì tình. - Mộc, màu xám xanh: Kinh sợ, mệt mõi. Bị nạn tai. - Thủy, màu xám đen: Bệnh nặng, lo rầu. Bị mất tiền. - Hỏa, màu ửng đỏ: Nóng giận, tức tối. Bị hỏa nạn. - Thổ, màu vàng cam: Vui vẻ, có tiền. Được hạnh phúc. Bên cạnh việc xem khí sắc, người ta còn dựa vào những dấu vết trên gương mặt để luận cát hung họa phúc theo Ám tướng. Ám tướng thường xuất hiện ở trên tam đình. Ngoài ra nó còn có trong giọng nói tiếng cười của mỗi người. Ám có nghĩa là ngầm, khi ẩn khi hiện, chớ không phải là u tối. Xin nhắc lại, Tam đình là từ ngữ mà khoa tướng mệnh dùng để chỉ các bộ phận cũng như những vị trí nằm trên khuôn mặt, từ đó người xưa luận đoán để biết tướng phú quý hay bần tiện, gian ác hay hiền lành, cực khổ hay sung sướng... Người ta chia nó ra làm ba phần: thượng đình, trung đình, hạ đình và luận tốt xấu như sau: * Thượng đình: từ chân tóc xuống đến chân mày, ứng Thiên, xem trán. - Người có trán cao rộng, rất tốt (quý tướng). - Người có trán thấp nhưng rộng được coi là bình thường (nhân tướng). - Người có trán hẹp, méo hay khuyết bị xem là xấu (khắc tướng). * Trung đình: từ chân mày xuống đến mũi, ứng Nhân, xem mũi. - Người có mũi cao, dầy, ngay ngắn và hai lỗ mũi kín thì số được trường thọ, giàu sang, phú quý (tâm tướng). Những người này thường có lòng tốt, luôn giúp người. - Người có mũi ngắn, xẹp, bị cô đơn suốt đời cực khổ (bần tướng) và chỉ thích sống cho cá nhân mình. - Người có mũi bị cụt, gẫy, phần nhiều yểu mạng hoặc vướng vòng lao lý (mạt tướng), thường làm những điều trái với nhân nghĩa. * Hạ đình: từ nhân trung xuống đến cằm, ứng với Địa, xem cằm. - Người có cằm đầy đặn, bằng phẳng, chỉnh tề thì số được giàu sang, phú quý (hảo tướng) và có nhiều bè bạn. - Người có cằm nhỏ, nhọn, lệch thì cuộc đời truân chuyên vất vả và về già gặp nghèo khó (hung tướng). Ít có bạn bè. Ám tướng Ám tướng là dấu ẩn hiện để báo trước sự may rủi quan trọng sắp sửa xảy đến bất ngờ. Nó chỉ có hiệu lực gây ra tác dụng trong vòng một hai tuần cho đến sáu tháng mà thôi! Các nhà tướng số cho rằng Ám tướng là hiện tượng do tạo hóa sắp xếp, cho nó hiện ra để báo hiệu trước khi ban thưởng hay trừng phạt một người nào đó. Ảnh hưởng xấu * Thượng đình: Tự nhiên trên vầng trán có một quầng hơi đen hay một khoảng tối, khi ẩn khi hiện bên dưới làn da, hơi khó phân biệt, phải nhìn kỹ càng mới thấy, đó là điềm xấu: - Nếu nó lệch về phía phải thì đó là điềm báo trước sẽ bị thương tật vì tai nạn hoặc bị vướng vào vòng tù tội. - Nếu quầng đen này nằm lệch bên trái là điềm báo tử vì nạn tai hay bệnh hoạn. - Nếu nó lớn và che lấp cả vầng trán thì đó là điềm báo trước rằng cả gia đình sẽ bị nạn một lượt (vợ chồng con cái). Hai con mắt có quầng thâm đen là bị bệnh hoạn hay mất ngủ, không phải là ám tướng. Nhưng nếu quá hai tuần mà hai quầng thâm không biến mất thì nên cẩn thận trong việc lái xe hay đi qua sông biển. * Trung đình: - Nếu quầng đen nằm giữa ấn đường (giữa đôi lông mày) hay sơn căn thì là điềm trong thân tộc có người 'về bên kia thế giới'. - Nếu nó xuất hiện trên gò má bên phải thì đó là điềm báo bị tai nạn xe cộ, té từ trên cao xuống đất hay rớt xuống sông. Tuy không mất mạng nhưng cũng bị thương tật hoặc mất trí nhớ. - Nếu nó nằm tại gò má trái là điềm báo sắp bị người yêu bỏ rơi. Nếu đã lập gia đình thì bị người 'bạn đời' phản bội. - Trong tròng trắng của con mắt tự nhiên nổi một chấm đen nhỏ là điềm báo trước sự lỗ lã trong công ăn chuyện làm hoặc bị mất việc bất ngờ. * Hạ đình: Quầng đen hay khoảng tối này thường xuất hiện ở chính giữa cằm hoặc hai bên mép của đôi môi: - Nếu xuất hiện giữa cằm là điềm báo sẽ bị gây gổ, ấu đả với người và có đổ máu. Nên cẩn trọng bằng cách tránh xa chỗ đông người và đừng cãi vã với bất cứ ai trong thời gian bị ám tướng này. - Nếu nó nằm ở mép môi bên phải thì sẽ có tin buồn từ phương xa. - Nếu nó nằm ở mép môi bên trái thì em hoặc con sẽ 'lìa đời'. Ảnh hưởng tốt * Thượng đình: Tự nhiên trên vầng trán có một khoảng sáng trắng, khi ẩn khi hiện bên dưới làn da thì đó là điềm tốt: - Nếu nó lệch về phía phải là điềm công danh hiển đạt hoặc thăng quan tiến chức. - Nếu khoảng sáng này nằm lệch bên trái là điềm phát tài như trúng số hoặc có được số tiền lớn do người khác bất ngờ trao tặng. - Nếu nó lớn và bao trùm cả vầng trán thì đó là điềm may mắn vui tươi cho cả gia đình. * Trung đình: - Nếu khoảng sáng nằm giữa ấn đường (giữa đôi lông mày) hay sơn căn thì là điềm vui gia tăng nhân khẩu hay sanh quý tử. - Nếu nó xuất hiện trên gò má bên phải thì đó là điềm có quý nhân mang tài lộc đến nhà. - Nếu nó nằm tại gò má trái là điềm đỗ đạt khi thi cử, hôn nhân thành tựu, gặp lại bạn hiền. Ngoài ra khoảng sáng xuất hiện nơi khác ở trung đình đều mang lại nguồn vui tươi và hạnh phúc. * Hạ đình: Khoảng sáng này cũng xuất hiện ở chính giữa cằm hoặc hai bên mép của đôi môi: - Nếu xuất hiện dưới cằm là điềm thuận lợi cho việc làm ăn, cơ hội tốt để tạo dựng sự nghiệp. - Nếu nó nằm ở mép môi bên phải thì là điềm sắp có thêm con cháu trong nhà. - Nếu nó nằm ở mép môi bên trái thì sẽ có dịp đi du lịch nước ngoài hoặc đi xa thăm người thân thương. Ảnh hưởng tốt xấu * Giọng nói: Giọng nói của con người đều bình thường hàng ngày, nhưng bỗng nhiên một hôm nào đó tự nhiên đổi khác mặc dù không bị đau ốm, giọng nói cao hơn hoặc trầm xuống thì đó chính là ám tướng. Ám tướng của giọng nói được giải đoán như sau: - Nếu giọng cao hơn trước thì đó là điềm báo sẽ mất mát của cải vì bị trộm cắp. - Nếu giọng trầm xuống là điềm bị trở ngại lớn về công ăn việc làm. - Nếu bỗng dưng bị ngượng ngập hay ngập ngừng, phát âm thường bị lẹo lưỡi là điềm sắp được của hoạnh tài. Lưu ý: Thay đổi giọng nói khi bị bệnh cảm cúm, ho... thì đó không phải là ám tướng. * Tiếng cười: Khi vui người ta thường tươi cười, tiếng cười của mỗi con người đều khác nhau. Có người cười lớn tiếng, có người cười với tiếng phát ra vừa phải và cũng có người khi cười chỉ nhếch mép môi đó là cười theo bẩm sinh. Nhưng nếu một ngày nào tiếng cười tự nhiên thay đổi thì đó mới thuộc về ám tướng. - Nếu tiếng cười gượng gạo thiếu hơi là điềm báo trước sắp bị đau ốm, thất thoát tiền bạc, bị nạn tai hoặc vị trí đứng trong công việc làm sắp bị ngã đổ. - Nếu tiếng cười lớn hơn và dài hơn là điềm may mắn báo trước công danh sẽ thành đạt, cơ nghiệp sắp thăng tiến và sắp có của hoạnh tài. Còn tự mình sửa đổi tiếng cười thì đó không phải là ám tướng. Lời kết Nhớ bài thơ thầy thường ngâm: 'Sách xưa, chép dễ sai nào, 'Tướng tùy tâm diệt'nhớ mau sửa mình! Còn câu 'tướng tự tâm sinh', Chữ tâm kia mới chứng minh rõ tường. Tâm mình, chính chính đường đường, Tướng yểu, lại được thọ trường khó chi. Cho dù sách cổ đã ghi, Vẫn còn tùy diệt vẫn còn tùy sinh. Nên, hư do ở tâm mình, Hãy lo bồi đắp tình thương giúp người. Diệt sinh dù đã đến nơi, Nghiệp duyên nhân quả, nợ đời còn vương! Trăm năm, dù có vô thường, trích từ Khongtu.com
-
CÁC HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN CỦA TRUNG TÂM
wildlavender replied to wildlavender's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Wild đã kiểm tra trong Tk . Ghi nhận tấm lòng của Phuong2t gởi cho gia đình Chị Nga Minh 200 ngàn . -
'Mặt trăng cười' kỳ lạ trên bầu trời Việt Nam Tối qua (1/12), nhiều người dân trên khắp Việt Nam được chiêm ngưỡng cảnh tượng ngoạn mục: Mặt trăng, sao Kim và sao Mộc đứng gần nhau nhất, tạo thành hình mặt cười sáng rực trên bầu trời phía tây. > Ảnh mặt trăng cười khắp thế giới Hai hành tinh sáng nhất trong hệ mặt trời đứng cách mặt trăng chỉ 2 độ, và sáng rực suốt đêm qua, với sao Mộc ở bên trái và sao Kim ở bên phải. Hiện tượng này được gọi là "Sự trùng phùng của các hành tinh", xảy ra khi các hành tinh quay đến một vị trí gần như trùng nhau trên một đường thẳng. Nó sẽ không lặp lại cho đến tận năm 2012. Hình do bạn đọc Hải Thành chụp tại Quận 1, TP.HCM. "Chưa bao giờ tôi thấy hình ảnh đẹp như chiều tối qua. Lúc đó khoảng 6 rưỡi. Mặt trăng sáng đến nỗi phần tối của nó cũng mờ mờ như khi có nguyệt thực, và bên trên đó không xa, ở hai đầu mũi của cánh cung mặt trăng là hai ngôi sao sáng rực. Tiếc quá tôi phải đón con nên không ngắm được cảnh này lâu", chị Hoa, nhà ở Mỹ Đình vui vẻ kể lại. Ông Đặng Vũ Tuấn Sơn, Chủ tịch câu lạc bộ thiên văn học trẻ Việt Nam, cho biết: "đây không phải là hiện tượng quá hiếm, và cũng không tuân theo một chu kỳ nhất định. Ngoài việc 3 thiên thể giao hội nhau như lần này, người ta cũng thể chứng kiến hiện tượng giao hội (trùng phùng) của các hành tinh khác, nhưng độ sáng thì có thể không bằng". Cũng theo ông Sơn, hiện tượng này thường diễn ra trong 5-6 ngày, do vậy, ngoài buổi chiều tối hôm qua, người quan tâm có thể theo dõi tiếp trong các ngày tới. Sao Mộc và Sao Kim đã tiến lại gần nhau rất nhanh trong vài ngày qua, và nằm ở vị trí gần nhau nhất là vào đêm thứ hai. Đặc biệt, do trời quang mây nên tối qua ở các tỉnh phía Bắc và Trung bộ bầu trời gần như trong vắt, khiến cảnh tượng trên trông rất rõ nét. Tại nhiều nơi khác như TP HCM, Bình Dương, Pleiku... cũng đều quan sát được. Do có thể quan sát được trên diện rộng, nên ở các vị trí khác nhau, người xem sẽ thấy "mặt trăng cười" có hình dáng hơi khác nhau. Một số nơi, hai hành tinh nằm gần như thẳng trên hai đầu cánh cung mặt trăng, nên trông "mặt cười" khá chuẩn. Ở những nơi khác, hoặc đến thời điểm mặt trăng di chuyển về phía đông, "mặt cười" trông như hơi bị méo miệng do mặt trăng nằm lệch về bên phải một chút so với hai "con mắt". Thuận An - Minh Thùy
-
Đi tìm vẻ đẹp ca trù (Phần 4) Giáo phường ca trù Thứ ba, 2/12/2008, 07:00 GMT+7 Giáo phường ca trù được tổ chức quy củ, chặt chẽ. Quyền lợi lớn nhất của giáo phường được xác nhận trong một tấm bia đá dựng ngay trước cửa đình là được quyền giữ cửa đình này. Đào nương và kép đàn đều phải thuộc các giáo phường. Mỗi giáo phường là một họ, như: họ Xuân, họ Đông, họ Thịnh, họ Từ ... Người thuộc về họ nào, lấy chữ họ đó đặt lên trước tên mình. Ví dụ tên là Thuận mà thuộc về họ Thịnh thì gọi là Thịnh Thuận. Lối gọi này chỉ dùng trong giáo phường với nhau. Đó là hình thức nghệ danh độc đáo trong làng ca hát Việt Nam thời trước. Một văn bia xác nhận quyền lợi của giáo phường - Ảnh: tác giả cung cấp Cách tổ chức giáo phườngHàng năm, xuân thu nhị kỳ, khi “thong thả nhân gian nghỉ việc đồng” thì cũng là lúc các làng vào đám. Khắp các làng quê thường mở hội để tế thần, tế thành hoàng, cầu mưa thuận gió hòa, nhân khang vật thịnh. Trong phần tế lễ không thể thiếu việc hát thờ thánh. Theo lệ, các giáo phường lại xách đàn, phách đến các đình đền để hát thờ trong suốt kỳ lễ hội. Xưa, các đào kép được tổ chức thành các giáo phường. Nhiều giáo phường được đặt dưới sự quản lý của Ty giáo phường. Theo ghi chép của các văn bia thì Ty giáo phường là một tổ chức quản lý hoạt động ca xướng tương đương cấp huyện. Giáo phường các xã thuộc về Ty giáo phường của huyện. Ty giáo phường huyện quản lý hoạt động của các giáo phường các xã trong huyện. Mỗi huyện thường có một Ty giáo phường. Người đứng đầu Ty giáo phường là một ông trùm. Ty giáo phường phân chia việc giữ các cửa đình trong huyện cho các giáo phường. Việc giữ này được truyền từ đời này sang đời khác. Theo đó các giáo phường này được phép toàn quyền biểu diễn tại đình làng này, hoặc được phép tuỳ ý mời giáo phường khác đến hát giúp trong những ngày tiệc của làng và hưởng quyền lợi. Đặc biệt là giáo phường sẽ được hát trong lễ xông đình trong dịp hoàn thành công việc tu tạo sửa chữa đình làng. Ngược lại, giáo phường cũng phải có một số trách nhiệm đóng góp vào các nghi thức hát xướng tế lễ của làng, theo mức độ quy định giữa làng xã sở tại với giáo phường. Quyền lợi của giáo phường được xác định bằng một tấm bia đá đặt trang trọng ngay trước cửa đình làng mà giáo phường được quyền hưởng lợi. Hát múa ca trù. Chạm gỗ thế kỷ 18. Đền Lê Khôi, Hà Tĩnh - Ảnh: tác giả cung cấp Việc giữ cửa đình này được truyền từ đời này sang đời khác, tuy nhiên nếu cần tiền để lo việc quan hoặc để chi dùng các việc, giáo phường có thể sang nhượng lại quyền này cho quan viên trong chính làng xã có đình, từ đó làng xã này không phải trả tiền cho giáo phường như quy định trước đó nữa. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện có bản rập của 64 văn bản mua bán này. Trong đó có 14 văn bản soạn vào thế kỷ XVII, có 39 văn bản soạn vào thế kỷ XVIII, có 9 văn bản soạn vào thế kỷ XIX và 2 văn bản không ghi rõ niên đại. Căn cứ vào niên đại của các văn khế mua bán quyền giữ cửa đình, chúng ta thấy việc mua bán xảy ra phổ biến nhất là vào thế kỷ XVIII. Và trong số các bia thuộc thế kỷ XVIII thì phần lớn là thuộc về nửa sau của thế kỷ này. Việc soạn văn bản sang nhượng, mua bán các lệ hát cửa đình phần lớn đều do các giáo phường và quan viên làng xã có đình thực hiện, không ghi rõ tên người soạn bia, nhưng có xác nhận của các bên với họ tên và chức vụ rõ ràng. Có 3 văn bia ghi rõ soạn giả soạn bản giao kèo về việc sang nhượng quyền giữ cửa đình do các Tiến sĩ soạn. Đó là TS. Phan Lê Phiên soạn 1 bia, TS. Đào Hoàng Thực soạn 2 bia. Những tư liệu văn bia về hát cửa đình với lượng thông tin phong phú cho thấy trong suốt thời gian lịch sử dài lâu (ít nhất là từ năm 1672) đông đảo nhân dân đã yêu thích ca trù, coi việc thưởng thức ca trù như một nhu cầu văn hóa, và quan trọng hơn, việc biểu diễn ca trù đã đem lại nguồn lợi kinh tế cho cả người nghệ sĩ dân gian lẫn các nhà tổ chức.Những nét đẹp nhân văn của giáo phường xưa Xã có thể có một hoặc nhiều giáo phường. Mỗi giáo phường là một họ riêng. Văn bia về việc các giáo phường được tập hợp theo “họ”, thể hiện trên bia 11 bia có bản rập lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Các họ thống kê được trên bia gồm 8 họ: họ Xuân (2 bia), họ Đông (4 bia), họ Thịnh (1 bia), họ Từ (1 bia), họ Hoàng (1 bia), họ Việt (1 bia), họ Kiều (1 bia), họ Khổng (1 bia). Đứng đầu họ là một ông trùm họ. Người thuộc về họ nào, lấy chữ họ đó đặt lên trước tên mình. Ví dụ tên là Thuận mà thuộc về họ Thịnh thì gọi là Thịnh Thuận. Lối gọi này chỉ dùng trong giáo phường với nhau. Những văn bia này đã cung cấp cho chúng ta một tư liệu quý về sinh hoạt và quan hệ giữa các cá nhân và có thể coi là một nét đẹp trong một giáo phường ca trù thời trước. Gia đình nghệ nhân ca trù Nguyễn Văn Mùi, 27 Thuỵ Khuê, HN - Ảnh: tác giả cung cấp Giáo phương ca trù xưa còn tôn vinh tri ân người có công truyền nghề. Bia Bản huyện giáo phường lập bi, tạo năm Vĩnh Trị 5 (1681), đặt tại đình xã Trung Việt, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang. Văn bia cho biết có vị trong Ty giáo phường xã Đông Lâm, huyện Hiệp Hòa, phủ Bắc Hà, đạo Kinh Bắc, vì có ngoại tổ họ Hà là Phúc Đạo, ở xã Trung Trật trước có mở nghiệp giáo phường, sinh con gái Hà Thị Khánh lấy chồng họ Nguyễn ở Đông Lâm và tạo nên giáo phường ở đây. Nay các vị trong giáo phường xã Đông Lâm nhớ đến ân nghĩa sinh thành của ngoại tổ, tỏ lòng báo đáp, đặt ra lệ, hễ đình Trung Trật có mở tiệc thì các khoản tiền tiệc, tiền khao và tiền lễ xông đình, các khoản tiền làm cỗ, thảy đều do giáo phường Đông Lâm trang trải. Bia còn ghi tên các vị ngoại tổ họ Hà do dân xã Trung Trật cúng giỗ. Đây cũng là một nét đẹp nhân văn của một giáo phường ca trù, vừa tôn vinh nghề tổ, vừa thành kính tri ân người có công gây dựng nghề cho giáo phường. Giáo phường ca trù ở nông thôn hoạt động bán chuyên nghiệp. Họ là những người nông dân vẫn phải lo việc đồng áng, chăn tằm dệt cửi. Họ được cha mẹ hoặc các đào kép lớn tuổi trong “họ” dạy dỗ về nghề. Người trong giáo phường đều phải tuân thủ các phong tục và luân lý trong làng trong họ. Họ không được phép làm những việc bất chính. Nếu vi phạm, họ bị các bậc cao niên và người Quản giáp luận tội và bắt phạt, thậm chí đến bị đuổi ra khỏi giáo phường và thông báo cho các giáo phường khác biết để không giáo phường nào cho vào nữa. Việc đi hát ở các đình miếu bao giờ cũng do người Quản giáp cắt đặt, và thường là chồng đàn vợ hát, anh đàn em hát, bố đàn con hát. Trong giáo phường xưa, việc thờ kính thầy dạy rất được xem trọng. Trò coi thầy như cha mẹ, “sống tết, chết giỗ”. Những ả đào già có tài thường dạy dỗ được nhiều học trò thành nghề và rất được kính trọng. Mỗi khi các học trò đi hát được trả tiền công vẫn thường trích ra một khoản tiền để góp với giáo phường cung dưỡng thầy. Đối với giáo phường, tất cả các công việc như lễ tế tổ hàng năm, các lệ kiêng tên tổ ca trù, việc thờ thầy, việc chia tiền hát, lệ mở xiêm áo để công nhận một cô đào bắt đầu được hành nghề đều được tổ chức và tuân thủ nghiêm ngặt và tự nguyện. Chính cách tổ chức giáo phường như thế đã tạo nên những nét đẹp nhân văn của giáo phường, khiến cho đào kép ngày xưa rất được cộng đồng làng xã trân trọng và kính nể. Ca trù còn lại được đến hôm nay chính là nhờ các đào kép xưa đã từng sống trong các giáo phường như thế truyền lại. (còn nữa) Nguyễn Xuân Diện nguồn vietimes
-
Đi tìm vẻ đẹp ca trù (Phần 3) HÁT CỬA ĐÌNH 25/11/2008, 07:00 GMT+7 500 năm về trước, tại đình làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm (Hà Nội) đã diễn ra lễ hội đầu xuân cầu phúc trong không khí đại lễ trang nghiêm, hào hùng. Trong ngày hội lớn đó 8 giáp trong làng cùng nhau thưởng đào ở đình làng. Các cô đào hát những bài thơ ca ngợi thành hoàng làng và cầu phúc cho dân làng. Lê Đức Mao đã thay mặt 8 giáp viết 9 bài văn để các giáp đọc và khen thưởng cho các cô đào. Đó là tư liệu sớm nhất để khẳng định ca trù đã có mặt trong văn hóa Việt Nam từ thế kỷ XV. Từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX, hát cửa đình là một sinh hoạt không thể thiếu trong mỗi dịp tế thần Thành hoàng làng, trở thành một nét đẹp của văn hóa Việt Nam. Những cuộc hát cửa đình này đều do các giáo phường đảm nhiệm Bức chạm tiên gảy đàn Đáy ở đình Lỗ Hạnh, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang Ở thế kỷ XV ca trù đã là một bộ môn hoàn chỉnh về lối chơi(qua phát hiện tư liệu sớm nhất về ca trù Việt Nam) Trước đây nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ca trù có từ thời Lý - Trần -Hồ, thế kỷ XI, XII khi căn cứ vào các bức chạm khắc ở các chùa Phật Tích (Bắc Ninh), Thái Lạc (Hưng Yên) và mấy chữ ả đào, đào nương trong các sách cổ Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Công dư tiệp ký. Gần đây với các tài liệu khảo cổ học, mỹ thuật học và nhất là tài liệu bằng chữ Hán Nôm xác thực và tin cậy, chúng ta chỉ mới có tài liệu về ca trù sớm nhất là khoảng thế kỷ XV. Căn cứ về khảo cổ học là các bức chạm khắc đàn đáy - một cây đàn 3 dây đặc biệt chỉ dùng riêng trong ca trù, tìm thấy ở các ngôi đình làng, chùa làng ở Bắc bộ thế kỷ XVI. Tư liệu chữ viết là bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Tiến sĩ Lê Đức Mao (1462- 1529) trong sách Lê tộc gia phả (A.1855) soạn trước năm 1505, tức là khoảng cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI. Đây chính là tư liệu sớm nhất mang hai chữ Ca trù. Đây cũng là Bài thơ cổ nhất hiện biết có hai chữ Ca trù lần đầu tiên có mặt trong văn học viết. Bài thơ cho chúng ta thông tin quan trọng: ngôi đình Đông Ngạc, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội có trước năm 1500 và hát cửa đình đã có trước năm 1500. Bài thơ cho ta mường tượng ra không khí đại lễ trang nghiêm, hào hùng của lễ hội đầu xuân cầu phúc của làng Đông Ngạc hồi cuối thế kỷ XV. Trong ngày hội lớn của làng Đông Ngạc bấy giờ có ít nhất là 8 giáp, đã cùng nhau thưởng đào ở đình làng. Các cô đào hát những bài thơ ca ngợi thành hoàng làng và cầu phúc cho dân làng. Trong bài thơ này, chữ “ca trù” xuất hiện hai lần: Thọ bôi kể chục, ca trù điểm trăm và Mừng nay tiệc ca trù thị yến. Ở câu thơ thứ nhất, chữ “ca trù” cho thấy đây là lối hát dùng thẻ (trù) để thưởng cho người hát người đàn (đào và kép). Mỗi khi thấy hay, người cầm chầu gõ một tiếng “chát” vào tang trống để thưởng và khi đó sẽ thả một thẻ tre (mỗi thẻ tương ứng một số tiền) vào chiếc chậu thau (để tiếng ném thẻ vào chậu thau sẽ báo cho đào kép biết là làng thưởng khiến cho họ hát càng hay hơn nữa). Ở câu thơ thứ hai cho thấy tiệc ca trù được mở để thờ thần. Hát thờ ở cửa đình Đông Ngạc cho thấy cái trống chầu đã có vai trò riêng: để thưởng và để phạt (để khen và để chê), điều này nói lên rằng việc thưởng thức ca nhạc đã đạt được đến một chuẩn mực, một trình độ đáng kể. Chính việc khen chê như vậy (khen gọi là thưởng đào, hoặc thướng đào) đã góp phần nâng cao các thành tố trong cuộc biểu diễn lên một trình độ mới. Tiếng hát, tiếng phách của đào nương, tiếng đàn đáy của kép và lời thơ đã có cái tiêu chuẩn để đánh giá. Trải qua nhiều thế kỷ, tục hát thờ thần ở đình Đông Ngạc vẫn được duy trì và tạo thêm nhiều yếu tố văn hóa đặc sắc, trong đó có lệ thưởng đào thị yến đã trở thành một nét đẹp về sự trân trọng của cộng đồng đối với nghệ thuật và nghệ sỹ. Bức chạm nhạc công đàn Đáy ở đình Đại Phùng, huyện Đan Phượng, Hà Nội. Thế kỷ XVI - Ca trù gắn với ngôi đình làng ở Bắc bộThế kỷ XVI sự phát triển và phổ biến của ca trù được ghi nhận bằng các bức chạm khắc dân gian tại các đình làng. Các bức chạm đình Lỗ Hạnh (huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang) và đình Tây Đằng (xã Tây Đằng, huyện Ba Vì, Hà Nội) đều có các bức chạm hoặc tượng hình người cầm đàn đáy. Đình Tây Đằng có tượng tròn hình người đứng cầm đàn đáy. Đình Lỗ Hạnh có bức chạm tiên nữ ngồi trên mình con hươu cầm đàn đáy và một bức chạm khác có cả đám nhạc công đang hòa nhạc trong đó có 1 người đàn ông ngồi cầm đàn đáy. Hình ảnh này cho thấy ca trù đã có mặt trong những sinh hoạt văn hóa dân gian tại các làng quê và có mặt trong điêu khắc đình làng. Ở chùa Cói (Thần Tiên tự), xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc cũng có bức chạm người phụ nữ gảy đàn đáy. Tiếc rằng hiện vật đã bị cháy cùng với ngôi chùa, và chúng ta chỉ còn lại bức ảnh chụp bức chạm này. Đây là tư liệu mỹ thuật về đàn đáy duy nhất hiện biết tìm thấy ở một ngôi chùa. Qua những hình chạm người cầm đàn đáy ở các đình, đền, có thể thấy rằng: dàn đáy đã trở nên phổ biến ở thế kỷ XVI, ở đồng bằng Bắc bộ. Đàn đáy mới đầu được sử dụng trong các cuộc hoà nhạc, cùng với các nhạc khí khác trong một đám đông (có khi có cả người múa), mà người đàn có thể là nam, có thể là nữ với tư thế là đứng hoặc ngồi. Về sau ca quán thính phòng ra đời, đàn đáy là loại đàn duy nhất trong cuộc hát. Thế kỷ XVII và XVIII nghi lễ hát cửa đình rất thịnh trong các làng quê Tiếp tục dòng chảy của của điêu khắc đình làng từ thế kỷ trước, sang đến thế kỷ XVII và XVIII chúng ta vẫn bắt gặp sự ghi nhận của dân gian đối với cây đàn đáy. Điều này càng chứng tỏ cây đàn đáy đã có một chỗ đứng trong đời sống và phong tục dân gian, và hoạt động diễn xướng ca trù đã trở thành một nét sinh hoạt phổ biến tại các đình làng dân gian. Những ngôi đình có niên đại thế kỷ XVII như đình Đại Phùng (xã Đại Phùng, huyện Đan Phượng, Hà Nội), đình Hoàng Xá (xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, Hà Nội), đình Xốm (xã Hùng Lô, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ) hiện còn giữ các bức chạm những người đang sử dụng đàn đáy. Đặc biệt ở đình Đại Phùng đặc tả hộc đàn ở mặt sau hộp đàn đáy, còn bức chạm ở đình Xốm miêu tả cả đám nhạc công đang hòa nhạc. Đình làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Hai ngôi đền có niên đại thế kỷ XVIII là đền Tam Lang (xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh) và đền Lê Khôi (huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh) cũng cho các cứ liệu rất cụ thể về đàn đáy, phách và sinh hoạt diễn xướng ca trù ở thế kỷ XVIII. Các bức chạm này có nét điêu khắc tinh tế hơn chứ không còn vẻ mộc mạc thô phác của các bức chạm trước đó. Điều này thể hiện rõ nhất là những đặc tả về trang phục và vũ điệu mềm mại của các nghệ sĩ dân gian. Các nghệ sĩ đã mang trang phục của nghi lễ hát thờ, với chiếc mũ trên đầu, hoặc búi tóc gọn ghẽ và khá kiểu cách, và những bộ trang phục của những vũ công chuyên nghiệp. Đây cũng là tư liệu rất quý, làm cơ sở cho việc phục hồi các nghi thức hát thờ tại các đình đền trong dân gian. Về các nhạc cụ và trình diễn các nhạc cụ, các bức chạm này không những miêu tả một cảnh hòa nhạc vui vẻ, với sự góp mặt của đàn đáy và cỗ phách, của sáo, trống cơm, chũm chọe. Điều này cho biết trong sinh hoạt ca trù tại các cuộc vui mang tính cộng đồng như thế, ngoài đàn đáy và phách, sự góp mặt của các nhạc cụ khác càng làm cho không khí thêm rộn ràng và ca trù trong lúc này không chỉ có ba thứ nhạc cụ là trống chầu, đàn đáy và phách như ca trù về sau. Như vậy, qua các ngôi đình có các bức chạm các cảnh sinh hoạt ca trù và việc sử dụng cây đàn đáy, chúng ta biết ca trù có mặt ở các tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Tây, Hà Tĩnh. Nguồn tư liệu văn bia cũng cho biết giáo phường ca trù đã phục vụ hát thờ ở khắp vùng đồng bằng châu thổ Bắc bộ. Đó là các tỉnh Hà Tây (cũ), Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hải Dương, Nam Định. Tỉnh có nhiều bia nhất là Hà Tây cũ (33 bia), trong đó các huyện có nhiều bia là Quốc Oai (10 bia), Phúc Thọ (8 bia), Thạch Thất và Đan Phượng (mỗi huyện 6 bia). Trong các huyện của các tỉnh thì huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều bia nhất, với 19 bia. Hà Nội có 11 bia, chủ yếu ở ngoại thành và đều thuộc thế kỷ XVIII. Các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Nam Định mỗi tỉnh 1 bia. Những tỉnh thành khác, tuy không có các văn bia ghi nhận nhưng thực tế, sinh hoạt ca trù đã có mặt ở hầu khắp các làng quê mỗi dịp tế thần. Các bản hương ước, tục lệ của các làng quê có ghi nhận về những ngày tiệc lớn trong làng đều có hát thờ ở cửa đình, nhiều khi là kéo dài vài ba ngày thậm chí cả nửa tháng trời. Hát cửa đình là hát thờ nên các bài bản đều có quy định khá thống nhất, trở thành một lệ tục. Mỗi giáo phường được quy định được phép hát ở các cửa đình mà mình được Ty giáo phường phân chia. Hàng năm, cứ đến ngày tế lễ ở các làng này là các giáo phường lại xách đàn phách đến hát hầu trước cửa đình theo lệ. Đi hát như vậy gọi là hát lệ. Các ả đào đứng trước điện, tay cầm lá phách hát các bài hát thờ như Thét nhạc, Bắc phản, Hát Giai, Độc phú...trong tiếng hòa âm của các nhạc khí. Giáo phường được mời đến hát nhất định sẽ hỏi cho bằng được tên huý của các Thánh thờ trong đình để khi hát đến những chữ ấy thì tránh đi. Các cô đầu hát đến những câu có chữ ấy thì hát thật nhỏ, và tránh đi; ví như chữ Hiển thì đọc là Hởn, chữ Lã thì đọc là Lữ. Nếu cô đầu không nhớ ra, cứ thế hát thẳng không kiêng thì người cầm chầu sẽ gõ liên hồi vào tang trống và cho ngừng cuộc hát. Bấy giờ người quản giáp của giáo phường phải đến nói khó với các cụ trong làng để xin cho làm lễ tạ với thánh và xin các cụ chiếu cố cho. Khi ấy, người đào nương sẽ biện cơi trầu , đến trước điện làm lễ tạ lỗi với Thánh và các quan viên. Trong làng, người được làng tín nhiệm cầm chầu phải là người am hiểu về âm luật, biết thưởng thức ca trù và là đại diện cho cả làng để khen chê đào nương, bình luận và tán thưởng về các ngón đàn, các luyến láy của giọng ca. Thưởng phải công minh thì làng mới phục, vì nếu thưởng “rộng rãi” thì làng tốn tiền, thưởng mà “hẹp” thì đào nương chê là ky bo, chê là không biết nghe hát nghe đàn. Có khi, người cầm chầu mà không biết thưởng thức, không biết khen ngợi những câu hát công phu, những tiếng phách cao siêu, những tiếng đàn bén quyện mà đào kép công phu rèn tập, gặp phải cô đào đanh đá, cô ta sẽ hát một câu khiến người cầm chầu phải xấu hổ mà bỏ roi chầu không dám cầm chầu nữa. Làng tôi ở Đường Lâm, năm xưa đã xảy ra chuyện ấy, khiến cho cô đào phải hát rằng: “Nào những ông nghè ông cống ở đâu/ Để cho ông lão móm ngồi câu con trạch vàng”. Ông lão móm ấy đã phải bỏ cuộc. Vì thế dân gian vẫn bảo: “Ở đời có bốn thứ ngu/ Làm mai, Lãnh nợ, Gác cu, Cầm chầu”. Lại có chuyện nực cười mà một đào nương già (hiện còn sống) đã kể lại với chúng tôi rằng: Bà đi hát ở một làng kia, khi hát, các thẻ tre thả xuống rất nhiều làm cho đào kép rất phấn chấn, bà đã nhẩm đếm được đến hàng trăm thẻ. Thế nhưng cuối cuộc hát, khi làng đếm thẻ để trả tiền cho giáo phường thì chỉ thấy có vài chục thẻ! Lại có chuyện khi người cầm chầu thưởng tiếng “chát” vào tang trống, nhưng chú nhỏ ngồi bên cạnh lại buồn ngủ quên cả việc ném thẻ khiến cho đào kép không vui, nên hát qua loa cho xong chuyện mà về. Đã nửa thiên niên kỷ trôi qua, hát cửa đình là một sinh hoạt văn hóa tinh thần rất độc đáo của người Việt trên khắp châu thổ Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Vẻ đẹp của ca trù là vẻ đẹp của sự hoà quyện giữa văn chương và âm nhạc vừa hoang sơ mộc mạc mà khúc triết tinh tế, dân gian mà bác học. Đó là “chút hương hỏa của tổ tiên” để lại cho cháu con hôm nay. (Còn nữa) Nguyễn Xuân Diện
-
TAi NẠN của THIÊN SỨ vàoTHỨ SÁU ngày 13 .
wildlavender replied to wildlavender's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
Hi hi hi ! Chú Thiên Sứ dùng biệt dược gì mà TRẺ thế nhỉ ? Đừng khoe là hươu nhung , tay gấu gì Chú nhé ! Động vật nằm trong sách đỏ ! Mà lại đầy nghiệp chướng ! Đúng chủ đề rồi nhé ! -
Đi tìm vẻ đẹp ca trù (Phần 2) Thứ sáu, 21/11/2008, 07:00 GMT+7 Những chuyện linh thiêng trong thế giới ca trù Xung quanh lối chơi nghệ thuật ca trù cũng đã lưu truyền biết bao câu chuyện linh thiêng khiến cho nghệ thuật càng trở nên u hiển. Nào là nữ thần ở đền Hàng Trống vốn là một ca nữ tài danh trong phủ chúa Trịnh ứng vào bà đồng già mà khiển trách người ta đem ả đào đến hát trong ngôi đền của bà. Nào là chuyện những cô đào chết vào giờ thiêng trên đường đi hát mà mối tự đắp thành mộ, hiển linh khắp một vùng quê xứ Đoài... Chuyện rằng vào thời Lê - Trịnh có rất nhiều ca nữ thanh sắc vẹn toàn từng phục vụ trong phủ. Đó là câu chuyện về nàng Nguyễn Thị Huệ ở giáo phường Cựu Lâu bên hồ Lục Thuỷ (nay gọi là hồ Hoàn Kiếm, hồ Gươm). Khi nàng 21 tuổi, trong một đêm hát ở phủ chúa nàng đã lọt vào mắt xanh của An Đô vương Trịnh Cương rồi được nhà chúa vời vào cung. Nàng rất được nhà chúa yêu vì ban cho nàng danh hiệu Ngọc Kiều phu nhân. Vào một năm nọ, kinh thành Thăng Long bị một trận dịch lớn, nàng đã tự bỏ tiền cân thuốc cứu được rất nhiều người. Về già nàng xuống tóc đi tu ngay trong chùa làng Cựu Lâu, sống cuộc sống yên tĩnh như vậy cho đến khi qua đời, thọ 71 tuổi. Dân trong vùng đã xây một ngôi đền thờ nàng ở phố Hàng Trống, trên mảnh đất có ngôi nhà mà chúa Trịnh Cương xây tặng mẹ nàng khi bà còn sống. Nay đền toạ lạc ở số 82 phố Hàng Trống. Đền có bức hoành phi “Nghiễn thiên muội”(Em gái của trời), để tôn vinh và khẳng định ân đức và uy linh của vị nữ thần là đào nương được thờ phụng trong đền. Tục ở phố Hàng Trống từ xưa đến nay không riêng ở đền mà ngay các tư gia có việc vui mừng cũng không tìm ả đào về hát. Vì một năm,nhân ngày tiệc,dân phố tìm ả đào về hát thờ, một cô đương hát tự nhiên ngã lăn ra, miệng sùi bọt mép mê man bất tỉnh. Dân làng sợ hãi kêu khấn. Nữ thần ứng vào bà đồng già mới bảo rằng: “Các ngươi đem ả đào về đây hát là làm điều vô lễ với ta, nếu lần sau còn như thế nữa ta sẽ vật chết ngay”. Một lúc ả đào dần dần tỉnh lại,khoẻ mạnh như thường. Từ đấy dân phố Hàng Trống không ai dám tìm ả đào về hát ở đền hoặc ở nhà nữa.Nàng là Huệ - tên một loài hoa đẹp, trắng tinh khôi, thơm ngan ngát và thanh tịnh. Để tỏ lòng thành kính trước người ca nữ tài danh,nhân hậu và hào hiệp, những người đến lễ đền Hàng Trống từ xưa đến nay đều không mang hoa huệ vào đền, dù là để dâng lên nàng với tất cả sự thành tâm nhất. Nếu như Kinh Bắc là đất quan họ, thì xứ Đoài là một trong những cái nôi của ca trù cửa đình. Các giáo phường, các nơi có nhà hát cô đầu ở Xứ Đoài có thểt kể như: Phù Xa, Đông Tác (Sơn Tây), Gạch (Phúc Thọ), Thượng Mỗ (Đan Phượng), Sơn Đồng, Ngãi Cầu (Hoài Đức)... Dân gian vùng Kẻ Mía (làng cổ Đường Lâm) còn lưu truyền câu chuyện về cô đào nọ đã đẻ rơi và đứa bé đã chết vào giờ thiêng ngay trong đêm hát ở đình làng Mông Phụ. Còn dân Phố Gạch thì lưu truyền câu chuyện về người ca nữ bị cảm trên đường trở về nhà sau một đêm hát, đã chết vào giờ thiêng khiến cho ngôi mộ bị mối đùn thành ra một nấm mồ bên cây cầu nhỏ. Chuyện rằng: Trên con đường Kẻ Chợ - Xứ Đoài, gần thị trấn Gạch, có một cây cầu tên gọi cầu Trò, nằm trên địa phận thôn Gia Hòa, xã Phúc Hoà, Phúc Thọ. Xưa có một cô đào từng làm mê mẩn bao quan viên, bởi vẻ đẹp đoan trang và kiều diễm, bởi nhịp phách giòn tan và những luyến láy trác tuyệt. Một đêm mưa gió, tan cuộc hát, nàng trở về nhà; không may cho nàng, vừa đến cầu thì nàng cảm lạnh mà chết. Sáng hôm sau, đã thấy mối đắp lên thành nấm mồ nhỏ. Dân làng thương nàng, quan viên say mê tiếng hát của nàng đã lập miếu thờ nàng ở ngay bên cầu. Câu chuyện ấy, tình cảnh ấy đã làm bao người xót xa thân phận “nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương” của người ca nữ nọ. Nhà thơ Vũ Đình Liên nghe chuyện ấy, cảm động viết bài thơ Cảm tạ, với hai câu kết: Tạ lòng nào biết nên chi được Phách ngọc dồn thêm một nhịp vàng! Sau khi đọc bài Cảm tạ, chung với mối đồng cảm ấy, hoạ sĩ Bùi Xuân Phái còn vẽ cả một bức tranh ca nữ Cầu Trò. Người ta còn bảo rằng, sau khi nàng chết, cầu ấy gọi là cầu Trò (trò là nhà trò, trò là trù - ca trù). Thật là câu chuyện rất thi vị mà cũng rất thương tâm! Các câu chuyện linh thiêng trong thế giới ca trù không ai biết nhiều bằng các “quan viên” vốn là chỗ thâm giao với các nhà hát cô đầu ngày xưa. Một trong những người biết nhiều chuyện nhất chắc phải là nhà văn Nguyễn Tuân. Ngày nay, đọc lại Chùa Đàn của ông, những người yếu bóng vía không khỏi rùng mình bị ám ảnh bởi không khí huyền hoặc của nó. Đó là chuyện về một người vợ giữ gìn cây đàn Đáy của chồng quá cố để lại. Người vợ, cũng là một đào nương kể về cây đàn: “Tang đàn làm bằng nắp ván thôi cỗ quan tài một người con gái đồng trinh”. Và “cứ vào những đêm tối giời không tiếng gà gáy chó kêu và thứ nhất là vào những đêm áp giỗ nhà tôi, thường cây đàn vẫn dở giời, thành đổ mồ hôi cứ vã ra như tắm và thùng đàn phát lên những tiếng thở dài và vật mình vật mẩy với bức vách, cứ lủng củng suốt đêm”. Thế rồi có người khách mê tiếng hát của đào nương mà đến xin nghe bằng được, cho dù cô đào đã nhắc lại lời thề không bao giờ hát với ai khác nữa. Người khách cũng không ngại ngần chơi bằng cây đàn thờ treo ở gian thờ của nhà đào nương, cho dù biết là mình sẽ chết vì dám động vào cây đàn thiêng... Và còn biết bao câu chuyện khác nữa xung quanh cuộc đời của các đào nương tài danh mà bạc phận, không để cho nhân gian biết lúc bạc đầu, đem cả tiếng hát tuyệt kỹ xuống hoàng tuyền xa thẳm, không để lại tuổi tên. (Còn nữa) Nguyễn Xuân Diện
-
Điều gì xảy ra khi chúng ta chết? TT- - TuoiTreCuoiTuan - Là nhân viên tại Trung tâm y khoa Weill Cornell của thành phố New York (Mỹ), tiến sĩ Sam Parnia là một trong các chuyên viên hàng đầu thế giới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học liên quan đến cái chết. Tuần qua, Parnia và các đồng nghiệp thuộc dự án ý thức con người (human consciousness project) đã công bố đột phá quan trọng đầu tiên của họ: phát hiện về mặt sinh học những gì diễn ra khi con người trải qua tình trạng thoát xác (out-of-body). Đây là công trình hợp tác của 25 trung tâm y khoa chính tại châu Âu, Canada và Mỹ qua phỏng vấn 1.500 người hồi sinh sau khi bị ngưng tim. Trích đoạn: Time: Khi kiểm tra lời tự công bố của một người cho rằng họ đã trải qua tình trạng gần chết (near-death experience), ông đã dùng phương pháp nào? Parnia: Khi tim ngưng đập, máu sẽ không đưa lên não và não sẽ ngưng hoạt động. Đây là những gì diễn ra trong khoảng 10 giây ở người gần chết. Nhưng có 10-20% người gặp tình trạng này đã sống lại (tỉnh thức), có thể sau vài phút từ khi gần chết hoặc đến hơn một giờ. Câu hỏi còn lại: họ đã gần chết thật sự hay chỉ là tưởng tượng? Vì vậy, cách duy nhất trả lời câu hỏi này là phải có kiểm chứng bằng những hình ảnh họ nhìn thấy hay âm thanh họ nghe được trong khi gần chết. Những ai được cho rằng đã chết nhưng vẫn nhìn thấy ảnh trên trần, hay nghe thấy âm thanh tức ý thức của họ vẫn tiếp tục cho dù não không làm việc. Họ thuộc số người gần chết. * Dự án này liên hệ đến nhận thức xã hội về cái chết như thế nào? - Con người thường có khái niệm về cái chết như một khoảnh khắc, hoặc chết hoặc sống chứ không thể có cả hai. Và đó là định nghĩa xã hội của chúng ta về cái chết. Nhưng định nghĩa của bệnh viện chết là khi trái tim đã ngừng đập, phổi ngưng làm việc và hệ quả là não ngưng hoạt động. Khi bác sĩ chiếu ánh đèn vào con ngươi của người chết, nó sẽ không phản xạ. Phản xạ mắt được điều khiển bởi cuống não và đó là điềm báo chúng ta còn sống. Nếu con ngươi không phản xạ có nghĩa não không làm việc. Khi ấy, bác sĩ có thể gọi y tá vào và chứng nhận bệnh nhân đã chết. Cách nay 50 năm, không ai có thể sống lại sau khi rơi vào tình trạng này. * Bằng cách nào công nghệ mới thách thức khái niệm “cái chết xảy ra trong khoảnh khắc”? - Hiện nay chúng ta đã có những công nghệ mới tiên tiến đến mức có thể làm hồi sinh một người. Trong thực tế, có những loại thuốc (và chúng có thể được tung ra bán trong tương lai gần) đã được phát triển với khả năng làm chậm tiến trình tổn thương tế bào não và cả cái chết. Hãy tưởng tượng chúng ta đang ở thời điểm mười năm nữa, khi bác sĩ cho bệnh nhân có trái tim đã ngừng đập loại thuốc kỳ lạ này và cái chết đáng ra sẽ đến sau một giờ lại triển hạn thêm hai ngày nữa. Khi những loại thuốc như vậy được hoàn thiện, chắc chắn sẽ có nhiều câu hỏi về đạo đức được đặt ra trong việc sử dụng nó. * Nhưng điều gì sẽ xảy ra với con người trong tình trạng cận kề cái chết, cả những gì sẽ tiếp diễn sau đó? - Vì thiếu sự lưu thông máu, các tế bào sẽ có những ứng phó điên cuồng để duy trì sự sống. Trong khoảng năm phút hay gần như thế, chúng sẽ bị tổn thương hoặc thay đổi. Sau khoảng một giờ, tổn thương sẽ lớn đến nỗi thậm chí nếu tim có khởi động trở lại và bơm máu thì tế bào cũng không thể sống lại, vì chúng đã thay đổi quá nhiều. Các tế bào tiếp tục thay đổi để trong vòng hai ngày nữa thi thể bắt đầu phân hủy. Vì vậy cái chết không phải là một khoảnh khắc, mà là cả một tiến trình từ lúc tim bắt đầu ngừng đập đến tột đỉnh là phần thân xác mất đi khi toàn bộ tế bào đã phân hủy hoàn toàn. Tuy nhiên, tối hậu của vấn đề là gì? Cái gì đang xảy ra trong tư tưởng và ý thức của con người trong khi đang chết? Tư tưởng và ý thức ngưng ngay khi trái tim ngừng đập hoặc chỉ sau hai giây, hai phút? Dù chúng ta đã biết các tế bào thay đổi liên tục vào lúc đó nhưng nó sẽ ngừng thay đổi sau mười phút, nửa giờ hay một giờ thì chưa biết chính xác được. * Cuộc phỏng vấn đầu tiên của ông với những người cho rằng mình đã trải qua tình trạng gần chết để lại ấn tượng gì? - Chúng tôi có khoảng 500 trường hợp đã phỏng vấn từ khi bắt đầu cuộc nghiên cứu cách nay mười năm. Đó là sự đồng nhất của những trải nghiệm gần chết với những mô tả sát thực tế. Các bác sĩ và y tá nghe bệnh nhân kể lại trải nghiệm của họ đã không thể giải thích được vấn đề. Một số trường hợp đặc biệt và đáng tin nhất tôi đã đưa vào cuốn sách Điều gì xảy ra sau khi chúng ta chết (What happens when we die?). Tôi muốn người đọc nhìn vấn đề qua hai góc độ: góc bệnh nhân và góc bác sĩ, cũng như cách bác sĩ phản ứng trước một bệnh nhân sống lại và kể cho họ nghe những gì vừa trải qua. Một bác sĩ khoa tim mạch giấu nhẹm một trường hợp vì ông không thể giải thích nổi tại sao bệnh nhân tả lại chính xác những gì ông nói và làm khi tim anh ta đã ngừng đập. LÊ TÂY SƠN (Theo Time)
-
1000 năm Thăng Long, mặc gì để thắp hương cho tổ tiên? 25/11/2008 13:08 (GMT + 7) Rồi tới đây, ngàn năm Thăng Long, ta sẽ mặc "trang phục truyền thống" nào để thắp hương cho tổ tiên? Ta sẽ nhân dịp này để tôn vinh - gìn giữ những giá trị truyền thống, hay để trình diễn những cải tiến thiếu cẩn trọng? Tối 17/11, tại lễ đón tiếp thí sinh Mr International tổ chức ở Đài Loan. Hoa Vương Việt Nam 2006 Tiến Đoàn đã xuất hiện trong trang phục có tên gọi "Hùng ca chim lạc" - bộ khố với áo choàng, mão, giày dây leo núi. Chung cuộc, Tiến Đoàn đã vượt qua 33 thí sinh, dành ngôi vị cao nhất trong cuộc thi. Theo yêu cầu của ban tổ chức cuộc thi,có một phần thi mà " tất cả thí sinh đều mặc trang phục truyền thống và giới thiệu với mọi người về dân tộc mình". Người mẫu Tiến Đoàn đã giới thiệu trang phục truyền thống của dân tộc mình là... bộ khố mà anh tự thiết kế. Qua đó "thể hiện dòng dõi con Lạc cháu Hồng của người Việt", và cảm thấy nó "truyền cho người mặc sức mạnh của niềm tự hào dân tộc". Về mặt thẩm mỹ và tính chất của cuộc thi, Tiến Đoàn hoàn toàn có thể tự chọn cho mình trang phục và cách cách thức thể hiện để thu hút, khoe vẻ đẹp hình thể và giành ưu thế trong cuộc thi. Còn độc giả và người xem cũng hoàn toàn tự do có những cách cảm thụ riêng. Người mẫu Tiến Đoàn trong "trang phục truyền thống tự thiết kế, bên cạnh các thí sinh Mr International trong buổi lễ tối 17/11 ở Đài Loan. Ảnh: Vnexpress.net Tuy nhiên, khi theo dõi cuộc thi, với băn khoăn liệu bộ khố kia có đúng là trang phục truyền thống của ta, mà thí sinh của "Mr International" dày công thiết kế để tôn vinh văn hóa dân tộc, người đọc có thể đặt một câu hỏi giản dị: vậy trang phục truyền thống của Việt Nam là gì? Đối với nữ giới, chiếc áo dài vẫn được coi là trang phục truyền thống (dù chiếc áo dài mới xuất hiện ở ta khoảng 1 thế kỉ trở lại đây). Còn đối với nam giới, trang phục truyền thống chính thức là áo dài thụng, áo the khăn xếp, áo vải thâm may dáng bà ba hay... đóng khố khoác áo choàng? Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa có ý kiến cho rằng lấy chiếc áo dài thụng kiểu triều Nguyễn làm trang phục truyền thống là hợp lý nhất. Loại trang phục này, hiện nay vẫn được lưu giữ cẩn thận trong Bảo tàng cổ vật cung đình Huế, có nhiều bộ từ thời Gia Long. Theo đó, áo cho bậc vua chúa có màu vàng, được thêu chỉ vàng, hoa văn rồng 5 móng - biểu trưng của quyền lực. Áo cho cung phi thêu hoa văn phượng. Áo cho bậc quan có màu xanh, tía, thêu rồng 4 móng. Màu sắc và hoa văn của các bộ trang phục chính thức đều có quy định rõ ràng. Qua trang phục, có thể thấy được thứ bậc của người mặc. Trong Hội nghị cấp cao APEC, từ năm 1994, việc mặc trang phục truyền thống của quốc gia đăng cai ở buổi họp tổng kết đã trở thành một nghi thức truyền thống. Năm đó, nước chủ nhà Indonesia chọn trang phục bằng vải batik nổi tiếng của mình cho các nhà lãnh đạo. Indonesia chọn trang phục bằng vải batik nổi tiếng của mình cho các nhà lãnh đạo trong buổi lễ tổng kết Hội nghị APEC năm 1994. Ảnh: AFPViệt Nam đăng cai Hội nghị lần thứ 14, năm 2006. Trong buổi họp tổng kết, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đọc Tuyên bố chung của lãnh đạo các nền kinh tế APEC trong bộ áo thụng dài màu vàng, hoa văn là hình bông sen. Mặc dù hoa sen là một biểu tượng cao quý, được tôn vinh trong văn hóa Việt, đặc biệt là trong Phật giáo. Nhưng, hoa sen vốn chưa từng là họa tiết được sử dụng trong các trang phục truyền thống, mặc trong các lễ nghi trang trọng của nước ta. Trong dịp lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương năm nay, các vị quan chức cũng mặc "trang phục truyền thống" để thực hiện nghi lễ cúng viếng tổ tiên. Chỉ có điều trong buổi lễ này, xuất hiện đủ các các loại áo màu sắc phong phú như: xanh, đỏ, tím, vàng, tía... Không biết Ban tổ chức có phân cấp cụ thể các trang phục cho mỗi vị hay không, chỉ thấy rằng khi sắp hàng thắp hương và chiếu lên truyền hình cho người dân cả nước xem, nếu cứ nhìn màu áo, trang phục, người xem không thể phân biệt được thứ bậc. Các nhà thiết kế hoàn toàn có quyền cách điệu trang phục truyền thống, làm cho nó có vẻ hiện đại và lạ mắt bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng, trang phục truyền thống cách điệu có chỗ riêng của nó: trên sàn diễn, ở các bộ sưu tập, trong cuộc thi thời trang... Còn trang phục truyền thống chuẩn mực, cần phải được đặt đúng vị trí trang trọng của nó: trong các nghi lễ chính thức, các dịp giao lưu để giới thiệu văn hóa truyền thống dân tộc, trong bối cảnh truyền thống chung tương quan với các nước bạn bè... "Mr International" tuy không phải là một buổi lễ nghi thức chính thức, nhưng đó là buổi lễ mà "tất cả thí sinh đều mặc trang phục truyền thống và giới thiệu với mọi người về dân tộc mình". Rồi tới đây, ngàn năm Thăng Long, ta sẽ mặc "trang phục truyền thống" nào để thắp hương cho tổ tiên? Hi vọng, sẽ không có một cuộc thi thiết kế nào được tổ chức để thiết kế trang phục truyền thống sử dụng cho dịp lễ truyền thống thiêng liêng này. Hi vọng, những giá trị truyền thống - bắt đầu từ bộ trang phục nghi lễ, được bảo tồn, và được trang trọng sắp đặt đúng thứ bậc. Nhà văn Võ Thị Hảo Nhà văn Võ Thị Hảo: Nếu hiểu đơn giản trang phục truyền thống chỉ là trang phục mà ông bà ta đã từng mặc trong quá khứ, thì chuyện ứng xử như Tiến Đoàn cũng là điều dễ hiểu. Cuộc tranh luận về quốc phục của ta đã diễn ra nhiều năm, nhưng vẫn chưa tới hồi kết. Chúng ta đã bỏ quên văn hóa trong một thời gian dài. Sự lãng quên đó đương nhiên dẫn đến những lộn xộn như ta thấy, đáng tiếc là hiện tượng này lại xảy ra ngay tại những sự kiện lớn. Nhưng, trách người làm thật khó, bây giờ, điều cần thiết là cần có một quy định chuẩn cấp nhà nước về trang phục truyền thống cho cả 2 phái. Quy định này cần được tham khảo ý kiến các nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử và công luận. TS. Nguyễn Thị Minh Thái TS. Nguyễn Thị Minh Thái: "Đàn ông đóng khố đuôi lươn/Đàn bà mặc yếm hở sườn mới xinh" - Đó là thẩm mĩ về cái-mặc của người Việt mình thời xa xưa. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, không thể lấy đó là thứ để trưng diện trong các dịp giao lưu văn hóa quốc tế. Theo tôi được biết, Bộ Văn hóa đã có quy định về quốc phục trong dịp giỗ tổ mùng 10 tháng 3 hàng năm, đối với nữ là áo dài, đối với nam là áo the khăn đóng. Tuy nhiên, cần có một quy định thật cụ thể và hợp với lịch sử về trang phục, đối với từng cấp vụ, trong các dịp lễ nghi cấp cao, hay trong từng hoàn cảnh ngoại giao văn hóa, đối với quan chức ngoại giao của ta và với quan chức nước ngoài khi tới Việt Nam. Linh Thủy nguồn tuanvietnam.net
-
Vừa mới đây Wild lại được nghe " cặp nến bái quan lại có tác dụng trị bệnh cho trẻ sơ sinh khóc đêm" Chẳng rõ làm cách nào ?
-
CÁC HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN CỦA TRUNG TÂM
wildlavender replied to wildlavender's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Ghi nhận sự đóng góp của Chichip 100.000vnd. Wild đã nhận được trong TK. -
Cải tiến dự báo thời tiết Người dẫn chương trình ra câu đố cho 3 đội sinh viên: "Anh, chị cho biết làm cách nào để tăng độ chính xác của các bản tin dự báo thời tiết?" - Hiện độ chính xác của các bản tin này rất thấp, dưới 50%. - người dẫn chương trình nói. Một đội xin trả lời: "Theo chúng tôi, có một cách ít tốn kém là nói ngược bản dự báo, như thế bản tin sẽ có trên 50% là đúng".
-
Loại khác Chàng và nàng cùng bàn tính chuyện tương lai. Nàng lên giọng nghiêm khắc: "Trên đời có 2 loại đàn ông. Một là ngoại tình mà biết hối cải, hai là ngoại tình mà không biết hối hận" Chàng giãi bày: - Chắc anh thuộc loại thứ ba, không ngoại tình nhưng mà... hối hận. (nguồn vnexpress.net)
-
Không có cơ hội Nàng mời chàng cứ cuối tuần sang nhà trọ của nàng ăn cơm chung. Rồi một hôm, nàng khuyên nhủ chàng: "Từ nay, anh hãy bớt hút thuốc lá đi, chỉ hút một điếu sau mỗi bữa ăn ngon em nấu thôi nhé". Chàng thở dài: Thế tức là em bảo anh bỏ thuốc luôn rồi còn gì. (nguồn vnexpress.net)
-
Thiên cổ miếu và những chứng tích về nghề giáo thời Hùng Vương Thứ năm, 20/11/2008, 12:10 GMT+7 Trên một quả đồi nhỏ ven đường thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, Thành phố Việt Trì (Phú Thọ) nằm trong địa phận của Kinh đô Văn Lang xưa, có một toà cổ miếu nằm ẩn mình dưới hai cây Táu cổ thụ, gốc to đến năm, sáu người ôm không xuể, ước đoán tuổi đời đã đến nghìn năm. Đó là Thiên Cổ miếu, nơi thờ một người tương truyền là thầy giáo thời Hùng Vương. Mặc dù những chứng tích lịch sử còn lại không nhiều, nhưng có thể nói đây là chứng tích về thầy giáo cổ xưa nhất của nước Việt ta. Tấm ngọc phả và những huyền tích Toàn cảnh Thiên Cổ miếu tại thôn Hương Lan, Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ Thiên Cổ miếu nằm trong một quần thể di tích: Đình Hương Lan, Lăng mộ ba đô sĩ thời Hùng Duệ Vương và Miếu Thiên Cổ, đã được UBND tỉnh Phú Thọ cấp bằng chứng nhận di tích lịch sử. Khách qua đường không khỏi ngạc nhiên đặt câu hỏi, tại sao ngôi miếu nhỏ này lại là thắng tích của Trung chi Hùng lĩnh, là đền thiêng của cả trời Nam? Theo ông Nguyễn Hữu Yết - người trực tiếp quản lí tại Thiên Cổ miếu thì ngôi miếu cổ này thờ Vũ Thê Lang - một thầy giáo nổi tiếng thời Hùng Vương. Tương truyền ông là người đã có công dạy dỗ hai công chúa của Hùng Vương thứ 18 là Tiên Dung và Ngọc Hoa. [/size] Hiện nay vẫn còn giữ được một bản ngọc phả quý. Được biết ngọc phả này được viết lần đầu vào năm Hồng Phúc thứ 2 (1573) đời vua Lê Anh Tông, do Đông Các học sĩ Nguyễn Bính biên soạn. Ngọc phả này đã ghi chép lại nguồn gốc của ngôi miếu cổ. [/size]“Vào thời Hùng Duệ Vương, ở đất Mộ Trạch có vợ chồng Vũ Công, thuộc gia đình có học. Cha mẹ mất sớm, cảnh nhà sa sút, hai người lần tìm về đô thành Phong Châu, tới thôn Hương Lan mở lớp dạy học. Dân làng đã cấp cho họ ruộng đất để trả công dạy dỗ. Vợ chồng Vũ Công sinh hạ được một người con trai là Vũ Thê Lang. Lớn lên, Vũ Thê Lang tìm về người bạn cũ của bố là Nguyễn Công ở đất Đông Ngàn - Kinh Bắc. Nguyễn Công đã gả cho Thê Lang người con gái của mình là Nguyễn Thị Thục - một cô gái nết na, thạo nghề tơ tằm canh cửi. [/size]Khi cha chết, Vũ Thê Lang tiếp tục thay cha dạy học, Thục Nương giúp dân nghề nông tang, canh cửi. Tiếng lành đồn xa, nhờ học vấn cao và tận tụy với nghề, sống giản dị và mẫu mực nên ông giáo Vũ Thê được vua Hùng thứ 18 giao cho chăm nom việc học hành của hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa”. [/size]Ngọc phả ghi rõ: “Năm Mậu Ngọ, ngày mồng 9 tháng giêng, bà Thục sinh người con trai đầu lòng. Hai năm sau, bà sinh thêm hai người con trai nữa (song sinh). Cả ba anh em họ Vũ đều được ông bà giáo đặt tên là Rô (do trước ngày sinh anh cả, bà Thục bắt được một giỏ cá rô ở Đầm Đáu - chuyện dân gian - người Hương Lan truyền kể). Ba người con của thầy giáo từ nhỏ đã khôi ngô tuấn tú, thông minh hơn người, vừa học giỏi văn vừa thạo nghề võ”. Nhưng các con chưa kịp trưởng thành thì hai ông bà đã bất ngờ tạ thế vào cùng một ngày: ngày mồng 2 tháng 2 năm Quý Dậu. Cụ Từ và cụ Ca xem lại cuốn "Ngọc phả" và sắc phong của Thiên Cổ miếu Đến tuổi thành niên, cả ba anh em đều được vua Hùng thứ 18 tuyển dụng làm vệ sĩ, phong chức Đô sĩ và đặt cho cả ba anh em “tiểu danh” là chàng Chấu. Về sau, do có nhiều công lao trong việc bảo vệ vua Hùng, ba vị Đô sĩ được nhà vua phong chức “Hạ hầu tướng quân”. Cuối thời Hùng Vương thứ 18, vua Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Phán (cháu ngoại họ Hùng). Vua Thục Phán thu nhận tất cả quan chức đương nhiệm thời Hùng Duệ Vương đưa về Cổ Loa (kinh đô nước Âu Lạc) để sử dụng. Do không phục vua mới (Thục Phán nhiều lần gây cảnh binh đao, chiến tranh Hùng Thục...) nên ba anh em Vũ Rô từ quan, trở về Hương Lan, nơi chôn nhau cắt rốn rồi cùng quyên sinh ở Đầm Đáu. Nghe tin này, An Dương Vương rất cảm phục lòng trung nghĩa của ba vị Hạ Hầu Tướng Quân. Vua Thục liền lấy tiểu danh của ba vị là chàng Chấu để phong “Đại Vương Thần” và sai dân sở tại lập đền miếu phụng thờ, coi là Thành Hoàng Làng. Đình thờ ba vị Đại Vương Thần và lăng (mộ) Đại Vương ở đồi bên cạnh ngôi miếu thờ hai vị phụ mẫu” .Một biểu tượng “tôn sư trọng đạo" Theo ông Nguyễn Ngọc Tám - nguyên Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phú (cũ) thì Hoành phi và câu đối trong miếu Thiên Cổ có từ thời Tự Đức năm thứ nhất (1848). Trong đền, ngoài ba lư hương cổ bằng gốm từ thời nhà Lý, nhà Lê, còn có một số đồ thờ bằng gỗ như ống hương, hai cây nến... Mô hình lớp học với ông đồ già và học trò xưa Đặc biệt là sự xuất hiện của các pho tượng: phụ vương, mẫu vương và hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa cùng hai thị nữ, đã có trên 70 năm. Theo các già làng thôn Hương Lan (truyền lại qua nhiều đời), hàng năm, vào ngày mồng 9 tháng giêng (là ngày sinh) và ngày mồng 10 tháng 10 (ngày mất) của ba vị Đại Vương, nhân dân tổ chức lễ hội (rước kiệu từ Thiên Cổ miếu về đình, dâng hương rồi mở hội). Nhiều trò chơi dân gian được tổ chức thi đấu như kéo co, vật, cờ tướng, chọi gà... hát dân ca xoan ghẹo của Phú Thọ. Trong Thiên Cổ miếu có một bức Hoành phi ghi “Thiên Cổ Miếu” và hai câu đối đều viết bằng chữ Hán “Hùng Lĩnh trung chi thắng tích/Nam thiên chích khí linh từ” nghĩa là “Đền thiêng thờ người có chí khí mạnh mẽ, lớn lao của trời Nam”. Phía ngoài miếu còn có 2 cây táu cao chừng 15m, thân to 5 - 6 người ôm. Hai cây này tuy cùng dòng giống nhưng khi nở hoa lại cho hai màu vàng-bạc khác nhau. Người dân quanh vùng vẫn quen gọi là cây vàng, cây bạc và coi như một biểu tượng của sự hưng vượng cho quê nhà. Theo quan niệm của nhiều người địa phương thì nơi nào khí vượng thì cây càng phát triển tốt, chính vậy hai tán cây ấy mới tồn tại đến ngày nay. Thiên Cổ miếu là một ngôi nhà nhỏ hai đầu nóc trang trí “hình đấu”, cửa mở giữa đầu hồi gợi lên hình bóng kiến trúc nhà sàn xưa, thường gặp ở khu nhà phố cổ. Trong Thiên Cổ miếu, có 6 pho tượng. Một số ý kiến cho rằng, hai bức tượng của người đàn ông và người phụ nữ là tượng hai vợ chồng thầy Vũ Thê Lang. Tượng được cho là thầy Vũ Thê Lang cao gần 1 mét, mặt đỏ, mắt to sáng, râu tóc bạc phơ hiền từ bình thản như ông Tiên trong thần thoại. Còn tượng người phụ nữ được cho là bà Nguyễn Thị Thục, tóc đen, da trắng mịn, hiền hậu nhưng lanh lợi, cùng hai học trò và hai người hầu như lắng nghe từng lời của thầy. Bản "Ngọc phả" ghi lại ơn đức vợ chồng nhà thầy giáo Vũ Thê Lang Tất cả 6 tượng đều nhìn ra phía trước cửa nơi có con đường làng qua, dưới là đầm nước (nay khoanh bờ làm ao thả cá). Tuy nhiên, cũng có ý kiến lại cho rằng, những bức tượng này là thờ phụ vương, mẫu vương và hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa cùng hai thị nữ và những tượng này mới chỉ xuất hiện vào thời gian gần đây. Tuy chưa khẳng định được thầy giáo Vũ Thê Lang có phải là người trực tiếp dạy dỗ công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa hay không? Nhưng những bằng chứng trong Ngọc phả đã cho thấy Thiên Cổ miếu là nơi thờ tự một người thầy giáo. Điều này đang đặt ra nhiều câu hỏi về chữ Việt cổ, về thời Hùng Vương đã có nghề dạy học, thời vua Hùng dạy học bằng chữ gì?. Và quan trọng hơn nữa, nơi đây chính là một biểu tượng cho lòng tôn kính đối với những người có công trong sự nghiệp giáo dục của nước nhà, cần phải trân trọng và bảo vệ. Đỗ Ánh Ngọc (Giadinhxahoi) nguồn tintuconline
-
Hiện Tài Khoản Từ Thiện của Trung Tâm đang có số tiền đóng góp của các thành viên sau đây : LÃNG TỬ : 1.000.000đ COC CON : 200.000đ NAM : 500.000đ .......................................... Tổng số = 1.700.000 Wild sẽ chuyển đến Cháu Bảo Ân và Chị Nga Minh vào đợt 2 .
-
Thư gởi Tên Wild, nhưng nội dung có lẽ gởi cho Trung Tâm, Anh cứ cho Thư Ký bóc ra xem, và duyệt đi ạ !