-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
III.- VẤN ĐỀ LỄ BÁI: Lễ Bái là một Đạo Nghĩa nhằm tiêu biểu ý chí tôn kính, tưởng niệm đến những ân đức sâu dày của Tổ Tiên Ông Bà, của chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng và tự thân Phát nguyện tu tâm luyện trí hầu trở thành người hữu ích trong xã hội để làm tròn bổn phận con cháu của Tông Môn và để xứng đáng là Đệ Tử của các bậc Thánh Đức. Lễ Bái còn là một Đạo Lý có tánh cách quy hướng Chánh Giác, với mục đích diệt trừ những phiền Não sanh tử, loại bỏ tánh cống cao ngã mạn trong mỗi con người, khiến được Nhứt Tâm để thể nhập được Phật Tánh và để trở thành một vị hoàn toàn giải thoát như đức Phật. Trước hết muốn thông suốt ý nghĩa và giá trị của sự Lễ Bái, chúng ta cần phải hiểu qua thế nào là Lễ Bái. A.- ĐỊNH NGHĨA: a. Lễ: là những quy tắc nhứt định của cung cách qua sự đi, đứng, nói năng trong những Quan Hôn Tang Tế nhằm thể hiện sù Tôn Kính. b. Bái: nghĩa là quỳ lạy bằng cách hạ mình xuống đất trước những bậc Hiền Đức mà mình Tôn Kính. c. Lễ Bái: tiếng Phạn là Vandana, Tàu dịch âm là Ban Đàm, còn gọi là Hòa Nam, hoặc gọi là Na Mô Tất Yết La, nghĩa là lễ nghi cung cách với hình thức cúi đầu quỳ lạy trước những bậc Tiền Nhân Thánh Đức mà mình đã đặt trọn niềm tin quy ngưỡng hướng về, như lạy chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, như lạy Cha Mẹ, Thầy Tổ v.v... Chúng ta quỳ lạy các vị đó nhằm biểu lộ đức tánh khiêm tốn và để tỏ lòng tri ân, báo ân mà bổn phận kẻ dưới hằng tạc dạ ghi tâm, ân tiên công đức. Ngoài ý nghĩa thông thường trên, theo Phật Giáo, sự Lễ Bái còn tiêu biểu nhiều ý nghĩa khác nữa, như tiêu biểu: “Chánh Quán Lễ, Phát Trí Thanh Tịnh Lễ, Thật Tướng Bình Đẳng Lễ và Biến Nhập Pháp Giới Lễ”. Ý nghĩa của những phương cách Lễ Bái này sẽ đề cập ở sau. B.- NGHI CÁCH VÀ Ý NGHĨA LỄ BÁI: Muốn hiểu ý Nghĩa Lễ Bái, chúng ta trước hết nên hiểu qua cách thức Lễ Bái theo mỗi Tôn Giáo cũng như mỗi Tông Phái quy định. Tổng quát chúng ta nên hiểu cách thức Lễ Bái của những Tôn Giáo và của những Tông Phái hên hệ rất gần đối với chúng ta. Giờ đây chúng ta nên hiểu cách thức Lễ Bái của Khổng Giáo và Phật Giáo chủ trương: C.- QUAN NIỆM LÊ BÁI: Mỗi Tôn Giáo Lễ Bái mỗi cách và mang mỗi ý nghĩa khác nhau, theo sự quy định của các Giáo Chủ làm cách nào tổ bày được tâm thành của Tín Đồ đối với những bậc Thánh Đức mà họ quy ngưỡng. Theo Truyền Thống Việt Nam, dân tộc ta phần đông chịu ảnh hưởng sâu đậm Văn Hóa của Khổng Giáo và Phật Giáo, là hai Tôn Giáo có công rất lớn qua quá trình lịch sử xây dựng đất nước. Mỗi người dân đều chịu ảnh hưởng không ít cách Lễ Bái của hai Tôn Giáo này. Thời xưa Vua Chúa đã quy định rõ ràng, mỗi người dân, khi Lễ Bái Vua, Quan, Hiền Thần, Đình Miếu thì phải áp dụng theo cung cách của Khổng Giáo và khi Lễ Bái Phật Trời, Hiền Thánh, Tổ Tiên, Ông Bà v.v... thì phải áp dụng theo cung cách của Phật Giáo. Về sau người dân bị thất truyền, không được ai chú dạy ý nghĩa và cách thức Lễ Bái cho đúng pháp. Thành thử họ chỉ biết Lễ Bái theo thói quen, hành động không đúng nghĩa và cũng không đúng chỗ. Chúng ta muốn rõ Nghi Lễ của Khổng Giáo thì nên đọc “Văn Công Thọ Mai Gia Lễ" và muốn biết Nghi Lễ của Phật Giáo thì nên am tường “Nhân Thừa Phật Học”. Cả hai rất quan hệ cho cuộc sống làm người. Sự Lễ Bái mà người Việt Nam thường áp dụng, như trên đã trình bày, đều theo Nghi Cách của Khổng Giáo và của Phật Giáo. Nghi Cách Lễ Bái khác biệt giữa Khổng Giáo và Phật Giáo được giải thích dưới đây: 1. THEO QUAN NIỆM KHỔNG GIÁO: Cách lạy của Khổng Giáo, trước hết con người phải đứng thẳng là tiêu biểu cho cái UY của kẻ sĩ. Hai tay Cung Thủ, nghĩa là hai tay nắm lại nhau là tiêu biểu cho cái Dũng của Thánh Nhân. Trước khi lạy, hai tay Cung Thủ đưa lên trán, kế đưa sang phía phải, rồi đưa sang phía trái là tiêu biểu cho Tam Tài (Trời, Đất và Người). Khi lạy, hai tay Cung Thủ chống lên đầu gối chân mặt và quỳ chân trái xuống trước là tiêu biểu cho sự Tôn Kính mà không mất tư thế cái Uy Dũng của kẻ sĩ Cúi đầu xuống đất là tiêu biểu cho sự Cung Kính những bậc mà mình đảnh lễ. Đó là Cung Cách và Ý Nghĩa tổng quát mà Khổng Giáo quan niệm. 2. THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO: Sự Lễ Bái của Phật Giáo so với sự Lễ Bái của Khổng Giáo có phần khác biệt về cung cách cũng như về ý nghĩa. Riêng về Phật Giáo, ý nghĩa và giá trị Lễ Bái được rất nhiều kinh luận đề cập đến. Theo Phật Giáo quan niệm, sự lễ bái cũng là một trong những phương pháp tu tập để diệt phiền não mà bổn phận người con Phật phải hành trì thường xuyên trong hằng ngày để được giải thoát tất cả nghiệp chướng khổ đau sanh tử và sớm chứng quả Bồ Đề Niết Bàn Tịch Tịnh. Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện quyển 4 ghi rằng: "Phật chỉ dạy các Đệ Tử phải Lễ Bái Tam Bảo và Lễ Bái các bậc Đại Tỳ Kheo”. Kinh Phạm Võng quyển hạ giải thích rằng: “Nếu có bậc Hoà Thượng, Thượng Tọa, A Xà Lê, hoặc người bạn đồng học, người đồng kiến giải người đồng hành đều phải nghinh tiếp Lễ Bái và vấn an". Luật Ngũ Phần quyển 7 ghi rằng: “Một vị Tỳ Kheo Ni một trăm tuổi, đã thọ giới Cụ Túc từ lâu cũng phải Lễ Bái một vị Tỳ Kheo Tăng mới thọ giới Cụ Túc”. Đại Đường Tây Vực Ký quyển 2 ghi rằng: “Ấn Độ có chín cách Lễ Bái được gọi là Tây Trúc Cửu Nghi”. Chín cách lễ bái nói trên được ghi nhận như sau; 1. Phát Ngôn Úy Vấn Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách mở lời vấn an. 2 . Phủ Thủ Thi Kính Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách cúi đầu tôn kính. 3. Cử Thủ Cao Ấp Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách dơ tay cao vái chào. 4. Hiệp Chưởng Bình Cung Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách chấp tay ngang bằng vái chào. 5. Khuất Tất Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách quỳ gối. 6. Trường Quy Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách quỳ nầm dài ra. 7. Thủ Tất Cứ Địa Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách hai tay và hai đầu gối quỳ sát đất. 8. Ngũ Luân Cu Khuất Lễ: nghĩa là Lễ bái bằng cách năm vóc đều cúi xuống. 9. Ngũ Thể Đầu Địa Lễ: nghĩa là Lễ Bái bầng cách năm vóc gieo xuống đất. Ngoài ra người ấn Độ còn có nhiều cách Lễ Bái khác nhau. Theo phong tục mỗi nơi, người Tín Đồ Lễ Bái trước Tượng Phật hoặc trước Bảo Tháp có hơi khác về cung cách. Sự khác biệt về cung cách Lễ Bái được nêu cử như sau: 1. Tồn Cứ Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách đứng một chân quỳ lạy. 2. Khởi Cư Lễ: nghĩa là dùng nghi thức bước một bước Lễ một lạy. 3. Hữu Nhiễu Tam Thất Lễ: nghĩa là Lễ một lạy rồi đi nhiễu ba vòng về phía bên hữu của Phật hoặc của Bảo Tháp. 4. Tạ Lễ: nghĩa là Lễ Bái bằng cách ngồi xuống đất cúi đầu lạy, tức là lạy bằng cách ngồi v.v... Phật Giáo Việt Nam hầu hết đều áp dụng phơng pháp “Ngũ Thể Đầu Địa Lễ” trong khi lễ bái. Đây là một phương pháp tiêu biểu ý chí Tôn Kính cao đẹp nhất trong các cung cách Lễ Bái. Khi Lễ Bái, người Phật Tử đầu tiên phải đứng ngay thẳng trước Tượng Phật cho nghiêm trang và khép hai chân sát vào nhau để lấy lại sự an tâm thanh tịnh, đồng thời kiềm thúc Tâm ý không cho chao động vọng tưởng. Ngay lúc đó, đôi mắt họ nhìn lên Tượng Phật và Tâm họ quán tưởng các tướng tốt, quán niệm những đức hạnh cao quý của đức Phật để tỏ bày nguyện vọng chân chánh của mình hầu mong Ngài chứng minh. Hai tay họ thay vì Cung Thủ (nắm lại nhau) mà ở đây phải HIỆP CHƯỞNG, nghĩa là hai tay chắp lại nhau cho khít là tiêu biểu Thức Tâm hiệp nhứt (Nhất Tâm) và để hai tay nơi ngực là tiêu biểu ý nghĩa Ấn Tâm. Khi lạy Phật, có người để hai tay nơi ngực lạy xuống, nhưng có người đưa hai tay lên trán rồi mới lạy xuống, cách nào cũng có ý nghĩa của nó. Cách lạy để hai tay nơi ngực là tiêu biểu ý nghĩa Ấn Tâm như đã giải thích ở trên. Còn cách lạy đưa hai tay lên trán là tiêu biểu ý nghĩa tâm nguyện của mình dung thông đến chư Phật qua nhục đỉnh kế (qua Mỏ Ác, hay qua Đỉnh Đầu) và lạy theo nguyên tắc “Ngũ Thể Đầu Địa”, nghĩa là đầu, hai tay, hai đầu gối của người Lễ Bái phải đặt sát đất và họ lạy xuống với tư thế ngồi để khỏi thất lễ nơi người đứng sau. Tiếp theo họ chỏi tay phải lên mặt đất rồi quỳ hai đầu gối và ngửa hai bàn tay ra giống như đóa sen nở. Họ quán tưởng đức Phật hiện đang đứng trên đóa sen kết thành bởi hai bàn tay của họ và họ đặt trán mình vào lòng hai bàn tay như đặt đầu mình lên chân của Phật, đồng thời họ nằm mọp xuống đất để biểu hiện sự Tôn Kính với tâm thành quy ngưỡng nương tựa. Cách Lễ Bái này là tiêu biểu cho ý nghĩa “Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ” (nghĩa là đầu và mặt của mình để lên chân của Phật gọi là Quy Mạng Lễ). Phật Giáo cho rằng, người Phật Tử ngoài sự Lễ Bái để tỏ lòng Tôn Kính các đức Phật, các vị Bồ Tát, các Hiền Thánh Tăng, còn phải tưởng niệm những ân đức cao dày của các Ngài và phát nguyện suốt đời hướng về các Ngài tiến tu đạo nghiệp để được trở thành đức Phật như quý Ngài. Người Phật Tử thật hành hạnh nguyện như trên được gọi là quy mạng lễ. Nhân Thừa Phật Giáo có chia làm bảy cách lạy, trong đó có ba cách lạy của Thế Gian thường áp dụng và bốn cách lạy của Thánh Giáo thường hành trì về mặt sự (về mặt hình thức) cũng như về mặt lý (về mặt nội dung). Để cho Phật Tử nhận thức dễ dàng và chọn lựa tu tập cho đúng pháp, bảy cách lạy được phân tích như sau: D. VỀ CÁCH LẠY CỦA THẾ GIAN: Trong Thế Gian về mặt sự tướng, tức là về mặt hình thức, có ba cách lạy phổ thông mà người đời thường áp dụng. Trong ba cách lạy nói trên, có hai cách lạy mà người Phật Tử chân chánh cần phải để ý và tuyệt đối không nên áp dụng. Hai cách lạy đó là Ngã Mạn Lễ và Cầu Danh Lễ. Hai cách lạy này chính là những tật xấu không thể có nơi con người thánh thiện. Bảy cách lạy nói trên dựa theo tinh thần Kinh Pháp Uyển Châu Lâm, quyển 20 được trình bày như sau: 1. Ngã Mạn Lễ: nghĩa là người lạy Phật hoặc lạy Ông, lạy Bà, lạy Tổ Tiên, vì hoàn cảnh bắt buộc phải hành lễ, nhưng thâm tâm của họ không muốn lạy, do dó họ lạy với cử chỉ ngạo nghễ, thái độ kiêu căng, không có chút nào lễ độ cung kính cả. Đầu họ lạy xuống không sát đất và họ đứng lên cúi xuống một cách cẩu thả cho qua việc. Họ vì sợ mất thể diện với bạn bè và sợ dơ bẩn quần áo quý giá của mình, nên buộc lòng phải lễ bái theo kiểu Ngã Mạn. Họ sợ bạn bè chê trách mình là kẻ bất hiếu, bất nghĩa, bất tín, bất trung, cũng như họ quý trọng quần áo và bạn bè hơn chư Phật, Ông Bà Tổ Tiên. Cách lạy đó gọi là Ngã Mạn Lễ. 2. Cầu Danh Lễ: nghĩa là người lạy vì mong cầu danh vọng, quyền tước qua sự chú ý và ngợi khen của cấp trên cũng như lấy lòng quần chúng ủng hộ. Khi có cấp trên cũng như khi có quần chúng, họ siêng năng lễ lạy để cho mọi người thấy rằng mình có đạo đức, thượng cấp nên nâng đỡ và quần chúng nên ủng hộ. Thật ra thâm tâm của họ không có chút gì tín thành cả và ngược lại, một khi không có ai, họ lại biếng nhác giải đãi trong việc lễ lạy. Như vậy họ lễ lạy vì mọi người chứ thật ra không phải lễ lạy cho chính họ. Cách lạy này gọi là Cầu Danh Lễ. Hai cách lễ lạy vừa trình bày là hành động dối trá không thể có nơi người Đạo Đức chân chánh. Đức Phật sở dĩ nêu lên trong kinh điển nhằm mục đích chỉ dạy cho người con Phật sau này phải ngăn ngừa và người con Hiếu Hạnh phải tránh xa. 3. Thân Tâm Cung Kính Lễ: nghĩa là người lễ lạy phải thể hiện thân và tâm đều cung kính. Thân và Tâm người lễ lạy đều cung kính thì sự Lễ Bái mới có giá trị. Nói một cách khác, người lễ lạy phải chí thành cả Thân và Tâm, nghĩa là họ phải có đức tin trong sự lễ lạy thì sự cảm ứng rất dễ dàng với chư Phật, với các Thánh Hiền, với Ông Bà, Tổ Tiên. Ngược lại, Tâm người lễ lạy nếu như thiếu cung kính thì thân họ sẽ hiện ra phong cách thiếu lễ độ dễ nhìn thấy (Hữu ư trung xuất hình ư ngoại, nghĩa là Tâm ở trong như thế nào thì tướng hiện ra như thế đó). Người lễ lạy muốn cho Thân và Tâm đều cung kính thì phải theo cách lạy của Phật Giáo mà ở trên đã giải thích và phải lạy thường xuyên để cho cung cách được thuần thục. Người lễ lạy đã thuần thục thì mới có khả năng nhiếp phục Tâm loạn động của mình. Thân Tâm Cung Kính Lễ là cách lạy cơ bản của Phật Giáo về mặt sự tướng, tức là về mặt hình thức mà người xuất gia cũng như kẻ tại gia phải hành trì cho nghiêm túc. Nhờ đó họ sau này mới đủ khả năng bước vào lãnh vực Thánh Giáo Lễ của các bậc Thánh Chúng về mặt lý tánh không cảm thấy trở ngại.
-
I.- KHI CÚNG ÔNG BÀ: Khi cúng ông Bà, con cháu phải tập họp đầy đủ trước bàn thờ Tổ Tiên và ăn mặc chỉnh tề, im lặng. Gia Chủ đại diện lên đèn và đọc thầm bài Kệ Đốt Dèn: KỆ ĐỐT ĐÈN: Đốt sáng đèn Tâm, Nguyện cho chúng sanh, Chiếu tỏa mười phương, Tẩy trừ mê ám. Nam Mô Nhiên Đăng Vương Bồ Tát. (3 lần) Tiếp theo Gia Chủ đốt ba cây hương và đọc thầm Thần Chú Đốt Hương: CHÚ ĐỐT HƯƠNG: Tinh Hương kết vần mây thể, Thơm khắp ba cõi mười phương, Năm Uẩn biến thành trong sạch, Trần ai ba độc thanh lương. Án Phóng Ba Tra Tá Ha. (3 lần) Tới cả con cháu đều quỳ xuống và Gia Chủ đại diện nguyện hương. KỆ NGUYỆN HƯƠNG: Đem tất lòng thành kính, Nguyện kết đài Mây-hương, Dâng lên khắp mười phương, Cúng dường ngôi Tam Bảo, Cúng Cửu Huyền Thất Tổ, Nội Ngoại cả hai bên, Niệm ơn trên hiển linh, Ứng lòng Từ chứng giám, Gia hộ đàn con cháu, Sớm lập Đức bồi Tâm, Khiến tỏ rạng Tông Môn, Lưu danh thơm kim cổ. Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát. (3 lần) Kế đến cầu nguyện: Hôm nay ngày lành tháng tốt, chính là ngày kỷ niệm (Kể tên họ, tuổi và năm, tháng, ngày, giờ tạ thế của người mình cúng kỵ). Để tỏ lòng tưởng niệm, nhớ nghĩa thâm ân, gia đình chúng con gồm có........... (liệt kê tên họ) thành tâm sắm sửa trai nghi, hương hoa, quả phẩm thanh khiết dâng lên, trước hết cúng dường Cửu Huyền Thất Tổ, Thất Thế Phụ Mẫu, đa sanh Phụ Mẫu, Lục Thân Quyến Thuộc, Nội Ngoại Hương Linh, trên đến Cao Tằng Tổ Khảo, dưới đến Tử Tôn Tằng Huyền, và tiếp theo cúng dường Hương Linh (Tên họ người mình cúng kỵ).Duy nguyện, chư Hương Linh quang lâm án Tiền chứng minh công đức, gia hộ con cháu chúng con, tai chướng tiêu trừ, thân tâm hương thới, mạng vị bình an căn lành tăng trưởng, bốn mùa không còn chút tai ương, tám tiết phước lớn như đông hải. Gia đình hưng thịnh, quyến thuộc tăng phúc đoàn viên, cầu chi đều như ý, nguyện tất cả được tùng tâm. Nam Mô Linh Tự Tại Bồ Tát. (3 lần) Tóm lại, vấn đề Cúng là một cung cách rất thiết yếu của người có Tín Ngưỡng đối với Tổ Tiên, đối với Hiền Thánh mà bổn phận làm người không thể thiếu trong việc cải tiến bản thân, cũng như xây dựng xã hội an lạc thật sự về phương diện Tâm Linh. Cúng là một hành động tri ân và báo ân Tiền Nhân với mọi hình thức biểu tượng mà con người ý niệm được thâm ân không thể thiếu nghĩa vụ. Cúng cũng là một phương thức giáo dục con người ý thức Truyền Thống Tổ Tiên, lý tưởng Giống Nòi và Tín Ngưỡng để họ làm tròn bổn phận làm người. Nhất là người Phật Tử, chúng ta phải cúng, nhằm thể hiện tâm linh để bất cẩu giao cảm với chư Phật, mong nhờ Tam Bảo gia hộ cho mình được an lành trên con đường Giác Ngộ và Giải Thoát. Đây là ý nghĩa và giá trị của Cúng Dường. Ý nghĩa và giá trị Cúng Dường được trình bày qua Sự cũng như qua Lý để làm quy cách căn bản cho Phật Tử chánh tín hành trì, ngõ hầu giúp đỡ họ sớm kết duyên lành với chư Phật trong mười phương.
-
E. CÁCH ĂN CỦA TỔ TIÊN ÔNG BÀ: Thế thì Tổ Tiên, Ông Bà ăn như thế nào? Như đã trình bày ở trên, Tổ Tiên, Ông Bà có thể ăn uống thường gọi là Hưởng Thực nghĩa là ăn bằng cách Thức Thực những hương vị của món đồ mà con cháu dâng cúng và nếu như không có món đồ dâng cúng thì làm sao có hương vị để cho Tổ Tiên, Ông Bà hưởng thực. Sở dĩ sự hưởng thực của Ông Bà không giống như sự ăn uống của loài người, nguyên vì các vị ấy không còn mang tấm thân xác thịt như loài người và cũng không còn sống trong thế giới loài người. Họ chết, nghĩa là họ bỏ lại tấm thân xác thịt bằng chất liệu máu huyết tanh hôi của cha mẹ. Họ chỉ còn lại thân thể bằng Tâm Thức, gọi là Thức Thân và cũng gọi là Trung Ấm Thân hay Danh Thân. Đã là Thức Thân sống trong thế giới nội Tâm không hiện tướng thì sự ăn uống của họ chỉ bằng Tâm Thức nên gọi là Thức Thực và lương thực của họ sống chính là Hương Vị của vạn pháp, thường gọi là Dưỡng Khí. Thức Thân là thân thể thuộc trạng thái vô hình không thể dung chứa những vật chất thuộc hữu tình, cho nên họ không thể hưởng đồ ăn bằng vật chất giống như sự tăn uống của loài người. Đến khi nào đi đầu thai thọ thân kiếp sau, họ kết hợp với sắc chất tức là tinh cha huyết mẹ để thể hiện Thức Thân nói trên trở thành Nhục Thân hiện tướng thì chừng đó họ có thể ăn uống những vật chất vào giống như sự ăn uống của loài người. Hoặc họ sanh vào những cõi khác, ngoài Thế Giới loài người thì sẽ ăn uống theo cách của chúng sanh ở những cõi đó. Hơn nữa, Tổ Tiên Ông Bà đã đi đầu thai vào Thế Giói nào khác từ lâu, vậy chúng ta cúng kỵ có ý nghĩa gì? Trường hợp này chúng ta cúng kỵ có hai ý nghĩa: a. Ý nghĩa thứ nhất, chúng ta cúng kỵ nhằm mục đích tri ân và báo ân những đấng sanh thành đã từng hy sinh tạo nên chúng ta cũng như gầy dựng nên giòng họ Tông Môn của Gia Phả mình. Đồng thời chúng ta giáo dục con cháu thiêng liêng hóa Tông Đường để tiếp nối sự nghiệp hiển vinh giòng họ Nội Ngoại hai bên. Không khác nào Dân Tộc Việt Nam mỗi năm thường làm lễ kỷ niệm Quốc Tổ Hùng Vương để nhắc nhở giống nòi đừng quên cội mất nguồn. Cũng như Tín Đồ làm lễ kỷ niệm Phật Tổ hay Thánh Chúa là để hình ảnh thiêng liêng đó ăn sâu vào tâm khảm của mỗi Tông Đồ. b. Ý nghĩa thứ hai, chúng ta cúng kỵ với giá trị là sử dụng năng lực tâm linh thành kính của mình biến hương vị lương thực hiến cúng thành dưỡng khí và chuyển dưỡng khí đó thành chất liệu dưỡng sinh để mang đến cho người mình cúng qua hệ thống tâm linh. Người mình cúng ở cõi khác tự nhiên được nhiều sự may mắn không biết từ đâu đến mà người đời thường gọi là được phước đức ông bà. Trường hợp này cũng tương tợ như bóng đèn điện đã bể, chúng ta thay vào đó một cái quạt máy. Hình thức quạt máy hoàn toàn không phải là hình thức một bóng đèn. Giờ đây chúng ta tăng sức dòng điện cho đường giây bóng đèn cũ thì trên thực tế quạt máy tự nhiên được ảnh hưởng ngay. Người mình cúng tuy không còn là hình thức ông Bà, nhưng Tâm Linh của họ vẫn cùng một dòng Tâm Linh với Tổ Tông không khác. Chúng ta tăng năng lực cầu nguyện trên đường giây Tâm Linh dòng họ thì người mình cúng sẽ được ảnh hưởng ngay. Giá trị này cũng giống như chúng ta đánh Fax hay gọi Điện-thoại viễn liên thay vì điện tử qua hệ thống Tâm Linh rất linh diệu vô cùng, ảnh hưởng đến người mình gọi. Tóm lại, Tổ Tiên Ông Bà và Nghiệp Lực thọ sanh vào những Thế Giới vô hình thì sự sinh hoạt ăn uống của họ chỉ bằng Thức Thực không giống như sự ăn uống của loài người và con cháu cúng dường là đem hương vị của món đồ dâng lên thành kính tưởng niệm để tri ân và báo ân. Đó là cách ăn uống của Tổ Tiên Ông Bà theo quan niệm Phật Giáo. G. CÁCH CÚNG Cúng phải có quy cách của cúng tế, nghĩa là cách thức cúng tế đã được quy định trong Nghi Lễ, như Nghi Lễ của Quốc Gia gọi là Quốc Cách, Nghi Lễ của Quân Đội gọi là Quân Cách, Nghi Lễ của Tôn Giáo gọi là Tôn Giáo Cách v.v... Người kế thừa trong sự cúng bái nếu như thiếu Nghi Lễ quy cách chính là thiếu cung cách trong việc cúng tế, tức là người đó đã phạm lỗi với các bậc Thánh Hiền đáng tôn kính. Theo Kinh Di Giáo, người cúng dường trước hết sử dụng thân thể cũng như hành vi làm chủ yếu và sau đó họ sử dụng tinh thần để giao cảm. Cho nên họ phải thể hiện được hai đức tánh: Thân Cúng Dường và Tâm Cúng Dường. a. Thân Cúng Dường: nghĩa là người cúng dường phải dâng cúng những lễ vật như đồ ẩm thực, y phục, thuốc thang v.v... lên cho Tam Bảo, cho Sư Trưởng, cho Cha Mẹ, cho Hương Linh v.v... một cách tâm thành, gọi là Thân Cúng Dường. b. Tâm Cúng Dường: nghĩa là người cúng dường cảm thấy tâm không nhàm chán, không biết đủ, không hối tiếc và tự tại trong hành động, gọi là Tâm Cúng Dường. Cũng từ ý nghĩa này, Quy Cách của Phật Giáo có hai phương thức cúng là Sự Cúng và Lý Cúng. 1. SỰ CÚNG: Những lễ vật hiến cúng lên bàn thờ chính là hình thức biểu tƯợng lòng chí thành của một người con, của một Tín Đồ dâng trọn niềm tin lên Tổ Tiên Ông Bà, lên Thánh Hiền và lên Chư Phật. Họ dâng hiến lễ vật là mong nhờ Tổ Tiên Ông Bà và Thánh Hiền Chư Phật đoái tưởng ấn ký, gọi là chứng minh cho tất lòng chí thành biết ơn của kẻ dưới. Nếu như không có lễ vật biểu tượng thì không thể hiện được lòng chí thành của mình đối với những bậc thâm ân mà mình tôn kính. Cũng như nếu không có Thiệp (Card) chúc tết hoặc lời chúc tụng thì không thể nào tỏ bày được lòng thành của mình đối với người mình chúc tụng. Nhờ sự tướng (hình thức) hiển bày được nguyên lý, nhờ hình tướng hiển bày được thể tánh, nghĩa là sự tướng nếu như không có thì không thể hiện được lý tánh. Sự và Lý cũng nhưTướng và Tánh đều dung thông với nhau không ngăn ngại. Kinh Hoa Nghiêm có câu: “Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới”, nghĩa là Lý Tánh nhờ Sự Tướng được hiển bày và Sự Tướng nhờ Lý Tánh được thành hình. Sự Lý không thể rời nhau được để thành lập. Vạn pháp tuy có tướng trạng khác nhau, nhưng đều cùng chung một bản thể. Người có lòng chí thành thì dù hột muối cắn làm hai đem dâng cúng lên bề trên cũng có giá trị và ngược lại. Người không có lòng chí thành thì mặc dù đem mâm cao cỗ đầy cũng không có ý nghĩa, đúng như câu: “Phật tức tâm, Phật chứng tại tấm lòng, tâm tức Phật lòng thành có Phật”. 2. LÝ CÚNG: Lý Cúng Dường nghĩa là thể hiện được chân lý đã chứng nhập đem ra cúng dường, nên gọi là Lý Cúng. Kinh Phổ Hiền, Phẩm Hạnh Nguyện nói Cúng Dường có ba ý nghĩa: a. Tài Cúng Dường: nghĩa là dùng những hoa quả, tiền của châu báu thường dùng trong thế gian đem ra cúng dường. b. Pháp Cúng Dường: nghĩa là đem tâm Bồ Đề làm lợi ích cho mình và lợi ích cho mọi người để cúng dường. c. Quán Hạnh Cúng Dường: nghĩa là thật hành pháp quán để nhận thấy vạn vật khắp trong ba cõi đều dung thông với nhau, tức là thật hành phương pháp quán chiếu về “Sự sự vô ngại pháp giới” của Kinh Hoa Nghiêm để cúng dường. Kinh Thập Địa Luận, quyển 8 nói: Cúng dường có 3 cách: a. Lợi Dưỡng Cúng Dường: nghĩa là chỉ dùng các thứ y phục, ngọa cụ v.v... để cúng dường. b. Cung Kính Cúng Dường: nghĩa là tỏ lòng thành bằng cách dâng hương hoa, tràng phang bảo cái v.v...để cúng dường. c Hạnh Cúng Dường: nghĩa là tiến tu đạo nghiệp về các hạnh, như Tín Hạnh, Giới Hạnh v.v... để cúng dường. Pháp Hoa Văn Cú quyển 8 nói rằng: dùng Tam nghiệp cúng dường. Tam nghiệp cúng dường như là: a. Thân Nghiệp Cúng Dường: nghĩa là dùng thân này chí thành lễ bái, kính ngưỡng các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng dường. b. Khẩu Nghiệp Cúng Dường: nghĩa là dùng lời nói ca tụng khen ngợi công đức của các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng dường. c. Ý Nghiệp Cúng Dường: nghĩa là dùng tâm ý đoan chánh tưởng niệm đến Tướng Hảo Trang Nghiêm của các đức Phật, các vị Bồ Tát để cúng dường. Với tinh thần Lý Cúng vừa trình bày trên, chúng ta luôn luôn noi gương tốt của các bậc Tiền Nhân Thánh Đức, của Tổ Tiên Ông Bà, cố gắng ngăn ngừa các điều tội ác nguyện làm các việc phước lành, giữ gìn thân tâm cho trong sạch, trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm, để xứng đáng danh nghĩa con cháu yêu quý của dòng họ của Tông Môn, để làm gương mẫu tốt trong xã hội. Chúng ta thể hiện được tinh thần cao đẹp vừa nói trên để cúng dường lên Tổ Tiên Hiền Thánh, ngưỡng mong các bậc tôn vinh trên chứng minh vâ gia hộ, đó là ý nghĩa của Lý Cúng. Theo quy cách của Phật Giáo, con cháu mỗi khi cúng kỵ Ông Bà hay Thánh Hiền phải hội đủ những điều kiện sau đây: a. Phải có lòng thành kính đối với bậc trên trước mà mình cúng bái, nghĩa là không phải cúng bái với mục đích họp bạn ăn uống vui chơi. b. Phải trang nghiêm thanh tịnh trong lúc cúng tế, nghĩa là trong lúc cúng tế không được tổ chức ca múa hát xướng như một hí trường. c. Phải có ba chén cơm, ba chung nước thanh khiết và ba đôi đũa hoặc ba muỗng nĩa cùng với hương đèn hoa quả v.v... Đó là điều kiện cần thiết trong khi cúng. Còn các thức ăn khác thêm bớt là tùy theo hoàn cảnh của mỗi gia chủ. d. Tất cả con cháu trong gia đình đều phải quỳ xuống, im lặng, chắp tay hướng về bàn thờ Tổ Tiên, Thánh Hiền v.v... bày tỏ lòng chí thành. Lúc đó gia chủ đại diện nguyện hương, vái tên họ, tuổi và ngày tháng, năm tạ thế của người quá vãng (người đã chết) mà mình cúng kỵ. Trong khi cha mẹ đang cúng Ông Bà, con cháu không được đùa giỡn làm thiếu lễ nghi cung cách. Kế đến, tất cả con cháu đều chí thành đọc tụng Thần Chú Chuyển Lương Thực để Ông Bà thọ hưởng sự cúng dường. Sau cùng tất cả đều lạy ba lễ. Đây là năm điều căn bản của con cháu mà bổn phận làm người cần phải nằm lòng trong việc kế thừa sự nghiệp gia bảo của tiền nhân. Chúng ta tại sao phải có bổn phận và lại còn hãnh diện mỗi khi tổ chức trọng đại lễ kỷ niệm Hùng Vương, Đức Thánh Trần, Tổng Thống v.v... và còn đọc tiểu sử ghi công các vị ấy một cách trang nghiêm. Ngược lại, chúng ta tại sao thiếu bổn phận và lơ là trong việc cúng bái Tổ Tiên là những bậc có công ơn lớn nhất của Tông Môn của dòng họ mình. Trong Phật Giáo, tội bất hiếu là một trong năm tội Ngũ Nghịch của Địa Ngục Vô Gián. Chúng ta mang danh là Phật Tử cần phải biết cung cách Hiếu Hạnh vừa trình bày ở trên đề ngăn ngừa đừng phạm phải
-
D. VẤN ĐỀ ĂN: Ăn, tiếng Trung Hoa gọi là Thực, tiếng phạn và tiếng Pali gọi chung là ÀHÀRA, nghĩa là duy trì và nuôi dưỡng Thân Thể xác thịt của chúng sanh hoặc Pháp Thân của các Thánh Nhân để hình thái được tồn tại, để tinh thần được nẩy nở và phát triển lâu bền. Trong ba cõi, những thực vật để nuôi lớn Thân Thể xác thịt thì gọi là món ăn của thế gian. Còn những thực vật dể nuôi lớn Pháp Thân Trí Tuệ Giác Ngộ thì gọi là món ăn của xuất thế gian. Thế Gian ăn có bốn cách và Xuất Thế Gian ăn có năm cách. Bốn cách ăn của Thế Gian cộng với năm cách ăn của Xuất Thế Gian gọi chung là chín cách ăn. Trước hết chúng ta tìm hiểu bốn cách ăn của Thế Gian. Bốn cách ăn này được Kinh Tăng Nhứt A Hàm quyển 41 giải thích như sau: Tứ Thực: (Nghĩa là bốn cách ăn của thế gian tiếng Phạn là Catvàra-àhàràh, hoặc Ahàracatuska. Tiếng Pali là Cattàro- àhàra). Bốn cách ăn này nhằm mục đích nuôi lớn Sắc Thân sanh tử trong thế gian. Bốn cách ăn của Thế Gian gồm có: Đoạn Thực, Xúc Thực, Tư Thực và Thức Thực. Hình thức bốn cách ăn được giải thích như sau: 1. ĐOẠN THỰC: (Tiếng Phạn là: Kavadim=Kàràhàra, Kavlì-kàràhàra. Tiếng Pali là: Kabalinkàràhàra). Đoạn Thực còn có tên là Đoàn Thực, Kiến Thủ Thực và còn có tên nữa là Tuy Thực. Ý nghĩa của những tên này được giải thích như sau: a. Đoạn Thực: nghĩa là chia lương thực ra từng đoạn, từng phần để ăn nên gọi là Đoạn Thực. b. Đoàn Thực: nghĩa là nắm đồ ăn vo tròn đưa vào miệng để ăn nên gọi là Đoàn Thực. Đây cách ăn của người An Độ thời xưa dùng tay nắm vắt đồ ăn bóc đưa vào miệng. c. Tuy Thực: nghĩa là vò nát đồ ăn hoặc bẻ ra từng mảnh để ăn nên gọi là Tuy Thực. d. Kiến Thủ Thực: nghĩa là cầm lấy đồ ăn đưa vào miệng nên gọi là Kiến Thủ Thực. Bốn hình thức ăn vừa giải thích đều nằm trong ý nghĩa của Đoạn Thực được nêu ở trên. Theo Phật Học Đại Từ Điển quyển 4, Trang 3997-3998 Đoạn Thực được giải thích như sau: ĐOẠN THỰC: nghĩa là ăn uống bằng cách lấy mùi hương, chất vị và tinh thể của xúc trần nơi sắc pháp để tươi nhuận và bổ ích cho các Căn trong thân thể nên gọi là Đoạn Thực. Đoạn Thực có hai phần: Phần Thô và Phần Tế. a. Phần Thô: (Tiếng Phạm là Odàrika. Tiếng Pali là Olària), nghĩa là thể chất của thực vật phổ thông để ăn được nằm trong cơm, trong miến, trong cá, trong thịt. b. Phần Tế: (Tiếng Phạm là Sùksma. Tiếng Pali là Sukhuma), nghĩa là các thứ để uống và các mùi thơm như là hương, dầu, sinh tô v.v... Nói tóm lại Đoạn Thực nghĩa là ăn bằng cách dùng tay đem đồ ăn đưa vào miệng để nuôi dưỡng Thân Thể, như loài người ăn v.v... 2. XÚC THỰC: (Tiếng Phạm là Spar-sàkàràhàra. Tiếng Pali là phassà- Kàràhàra), cũng gọi là Lạc Thực và Ôn Thực. a. Xúc Thực: nghĩa là Khí quản cảm giác xuyên qua tinh thần làm chủ thể tức là Tâm tác dụng tiếp xúc ngoại cảnh liền sanh ra cảm giác và ý chí để bồi dưỡng và nuôi lớn Nhục Thân nên gọi là Xúc Thực. Nói cách khác, Xúc Thực nghĩa là ăn bằng cách dùng miệng thay thế tay chân tiếp xúc thẳng lương thực không qua trung gian đưa vào, như cách ăn theo kiểu heo, gà, chó v.v... b. Lạc Thực: nghĩa là Tâm Sở xúc khi tiếp xúc trực tiếp với cảnh vật đối tượng liền phát sanh hỷ lạc ưa thích để nuôi lớn Nhục Thân nên gọi là Lạc Thực. Như người mê xem hát suốt ngày mà không cảm thấy đói. c. Ôn Thực: nghĩa là như chim Khổng Tước, chim Anh Vũ v.v... khi sanh Trứng xong, liền đích thân trực tiếp ấp Trứng cho đến khi nào Trứng nở thành con mới thôi. Chúng ấp Trứng nhầm mục đích nuôi dưỡng sức ấm để sanh Lạc Xúc và Trứng nhờ đó mới nẩy nở thành con, nên gọi là Ôn Thực. Con người tắm rửa, mặc áo cũng gọi là Xúc Thực. Nói tóm lại, căn cứ nơi nghiệp lực của chúng sanh mà nhận xét, Xúc Thực ở đây có nghĩa là ăn bằng cách dùng miệng tiếp xúc thẳng lương thực mà không dùng đến tay chân mang thức ăn vào miệng giống như cách ăn của loài người 3. TƯ THỰC: (Tiếng Phạm là Manah-Samce=Tanàkàràhàra. Tiếng Pali là Mano-Sance=Tanàkàràhàra), cũng gọi là Tác ý Tư Thực (Ý Thực), Niệm Thực (Ý Niệm Thực), Ý Chí Thực, Nghiệp Thực, nghĩa là tác dụng của ý Chí (Tư) mong cầu cho mình được trạng thái tốt đẹp và tồn tại tức là trạng thái sanh tồn được kéo dài nên gọi là Tư Thực. Nói cách khác, Ý Thức thứ sáu đối với cảnh sở duyên liền phát khởi tư tưởng mong muốn và phát sanh Ý Niệm hy vọng các Căn (giác quan) được tiếp tục thêm lớn. Luận Thành Thật cho là “Tư nghiệp hoạt mạng”, nghĩa là do Nguyện Lực của tư tưởng khiến cho Mạng Căn sinh hoạt. Còn Đại Thừa Nghĩa Chương, tiết mục Đại 44, trang 620 giải thích rằng: “Do Tư Nghiệp của quá khứ khiến Mạng Căn tiếp nối không dứt, nên gọi là Tư Thực. Như thế, tất cả chúng sanh có sanh mạng đều do tư tưởng ở quá khứ tạo nên, hoặc mang sống của họ đều do tư tưởng hiện tại tạo thành nên gọi là Tư Thực”. 4. THỨC THỰC: (Tiếng Phạm là Vi-jnànàkàràhàra. Tiếng Pali là Vinnànà- kàràhàra), nghĩa là Tâm Thức hữu lậu nương nhờ nơi Thức Alaya làm thể và ỷ lại vào thế lực của ba cách ăn ở trước để cồ thể tạo tác quả báo cho kiếp sau nhầm mục đích duy trì thân mạng của chúng sanh hữu tình không cho hư hoại, nên gọi là Thức Thực. Chúng sanh hữu tình trong các cõi Vô Sắc và Địa Ngục thường dùng cách ăn này nên gọi là Thức Thực. Trong bốn cách ăn nói trên, Tâm Thức sinh hoạt một cách linh diệu để duy trì vạn pháp được tồn tại trong thế gian nên gọi là Thức Thực. Xúc Thực Tư Thực và Thức Thực đều thông cả ba cõi, nghĩa là chúng sanh hữu tình trong ba cõi phần nhiều sử dụng ba cách ăn này nên gọi là thông cả ba cõi. Riêng Đoạn Thực chỉ hạn cuộc trong cõi Dục, nghĩa cách ăn này chỉ dành riêng cho các chúng sanh hữu tình trong cõi Dục sử dụng nhiều hơn. Có thể nói, Thức Thực là cách ăn bằng Tâm Thức và lương thực để cho Tâm Thức sử dụng chính là hương vị của các pháp. Riêng những người bị chết, sau khi bỏ Thân Thể xác thịt hôi tanh liền nương tựa nơi Thân Thể bằng Tâm Thức nên gọi là Thức Thân và cũng gọi là Thân Trung Ấm. Những người mang Thức Thân thì họ ăn bằng cách Thức Thực và lương thực của họ nuôi sống chính là hương vị của những đồ cúng tế mà phần đông những chúng sanh trong các cõi Đia Ngục, Ngạ Quỷ, A Tu La và cõi Trời thuộc Dục Giới đều thọ hưởng. Như chúng ta đã biết sự ăn uống của chúng sanh hữu tình trong năm cõi (Cõi Trời, cõi Người, cõi Địa Ngục, cõi Ngạ Quỷ, cõi Súc Sanh) sở dĩ khác nhau chính là do bởi chúng có nhiều hình thái được sanh ra từ nơi bốn loại không giống nhau (loại sanh ra bằng trứng, loại sanh ra bằng bào thai, loại sanh ra bằng chỗ ẩm thấp và loại sanh ra bằng sự chuyển hóa từ hình tướng này sang hình tướng khác). Do đó so với các bậc Thánh Nhân, bốn loại chúng sanh nói trên đều thuộc hạng phàm phu và chúng ăn uống cũng khác với sự ăn uống của các bậc Siêu Đẳng. Bốn cách ăn này của bốn loại chúng sanh hữu tình trong năm cõi cũng gọi là Bất Tịnh Thực (Cách ăn không trong sạch). Khác hơn bốn cách ăn của các hàng phàm phu, năm cách ăn của các bậc Thánh Nhân được gọi là Thanh Tịnh Thực (Năm cách ăn rất trong sạch) và cũng gọi là Xuất Thế Gian Thực (Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian). Đây là năm cách ăn của các đức Phật, của các vị Bồ Tát, các vị Duyên Giác và các bậc Thinh Văn thường sử dụng. Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian gồm có: 1. Thiển Duyệt Thực: nghĩa là Hành Giả dùng phương pháp Thiền để bố ích Tâm Thần, tức là những vị ấy hưởng đặng cái vui trong Thiền Định, nên gọi là Thiền Duyệt Thực. 2. Pháp Hỷ Thực: nghĩa là Hành Giả khi nghe pháp liền sanh tâm hoan hỷ, khiến tăng trưởng thiện căn và lợi ích huệ mạng, nên gọi là Pháp Hỷ Thực. 3. Nguyện Thực: nghĩa là Hành Giả vì muốn cứu độ chúng sanh đoạn trừ phiền não sớm chứng quả Bồ Đề nên phát nguyện rộng lớn duy trì bản thân để thường tu vạn hạnh, nên gọi là Nguyện. 4. Niệm Thực: nghĩa là Hành Giả sau khi an định được Tâm ý, thường ghi nhớ mãi những thiện pháp Xuất Thế mà mình đã chứng đắc không bao giờ quên, nên gọi là Niệm Thực. 5. Giải Thoát Thực: nghĩa là Hành Giả khi tu hạnh Thánh Đạo Xuất Thế của bậc Thánh Nhân đã đoạn được sự trói buộc của Nghiệp Phiền Não và không còn thọ nhận sự bức bách hay bị chi phối bởi khổ sanh tử nên gọi là Giải Thoát Thực. Đây là danh xưng năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian. Năm cách ăn này được thiết lập là căn cứ nơi Pháp Hỷ của năng lực Thiền Định, của năng lực Chánh Nguyện, của năng lực Chánh Tư Duy làm nền tảng. Hành Giả nhờ năng lực Thiền Định, năng lực Chánh Nguyện và năng lực Chánh Tư Duy sau khi đoạn được phiền não và được học hỏi Phật Pháp liền sanh ra Pháp Hỷ. Pháp Hỷ thường nuôi dưỡng sanh mạng và bảo trì hạt giống Trí Tuệ, nên gọi là Thực. Năm cách ăn của các bậc Xuất Thế Gian cộng chung với bốn cách ăn của Thế Gian nói trên trở thành chín cách ăn, gọi là Cửu Thực. (Hoa Nghiêm Kinh Sớ, quyển 28 và Kinh Tăng Nhứt A Hàm, quyển 41).
-
C. GIÁ TRỊ VÀ QUAN NIỆM SỰ CÚNG: Người Việt Nam phần đông ít ai thông suốt ý nghĩa và giá trị của sự Cúng Bái. Họ chỉ biết hành động theo tập tục cổ truyền của Ông Bà để lại mà bổn phận con cháu phải giữ gìn Gia Bảo tinh thần ấy. Đó là một điều rất tốt nhưng cũng rất tai hại cho những con cháu thiếu đức tin. Vì không hiểu ý nghĩa Cúng Bái, người kế thừa Gia Bảo Tổ Tiên không giải thích được cụ thể cho con cháu lãnh hội và còn làm lệch lạc giá trị cao quý của Truyền Thống Văn Hóa. Hơn nữa, một khi gặp phải kẻ khác xuyên tạc, họ lại xem thường và thiếu tâm thành trong sự Cúng Bái là hành động mê tín dị đoan. Con người mỗi khi làm điều gì bị bắt buộc nếu như không hiểu ý nghĩa về việc mình đang làm thì xem như bị một hình phạt đau khổ rất lớn. Nhất là đối với những kẻ có học thức, có trình độ Văn Hóa cao, họ đòi hỏi phải hiểu tường tận và cụ thể những sự việc mà họ phải làm. Không ai có thể bắt buộc họ làm những việc mà họ không hiểu. Đúng ra, họ rất muốn học hỏi và tìm hiểu tất cả những gì có tánh cách Tín Ngưỡng và Văn Hóa, nhưng không được ai giải thích vấn đề cho rõ ràng và thực tế. Nguyên do kẻ trên trước đã không hiểu Văn Hóa và Tín Ngưỡng thì đâu thể nào giải thích cho hậu lai được thông suốt. Cũng từ đấy, một số người lầm lạc khinh thường sự Cúng Bái và tỏ thái độ thiếu Lễ Nghi cung cách với bề Trên mà thật ra họ rất cần đến sự giao cảm giữa Tâm Linh của họ với Tâm Linh của các bậc Tiền Nhân qua sự nguyện cầu. Vì lẽ không hiểu, đôi khi họ mượn duyên cớ Cúng Bái làm bình phong nhằm mục đích họp bạn ăn uống vui chơi hơn là tưởng niệm để tri ân và báo ân. Họ không thể nào tin được có Ông Bà hay Thần Thánh đến hưởng đồ Cúng Bái. Giả sử trong khi Cúng Bái, con cháu nhìn thấy được Ông Bà hay Thần Thánh hiện nguyên hình đến ăn uống giống như người sống thì lúc đó họ sẽ đau khổ cực độ vì quá hoảng sợ mà con cháu lại tưởng ma quỷ hiện và sẽ đốt nhà bỏ đi nơi khác. Nguyên do Ông Bà hay Thần Thánh không còn hình tướng giống như người sống bình thường nữa. Trên thực tế, có những hiện tượng mà chúng ta bất lực trên lãnh vực quan sát. Chúng ta chỉ hiểu biết những hiện tượng đó trên bình diện giả thuyết để tìm đáp số cho đức tin. Chúng ta không thể nào nhìn thấy điện thể trong không gian bằng sự quan sát. Chúng ta chỉ nhìn thấy điện trên lãnh vực tác dụng. Nhưng điện tác dụng không phải là điện thể mặc dù điện tác dụng được phát sanh từ điện thể trong không gian. Hơn nữa chúng ta chỉ nhìn thấy sự vật bên ngoài bằng Ảnh Tử (Cause’s Images of Illusions) ảo giác méo mó và không thể nào nhìn thấy mọi vật đúng với giá trị và ý nghĩa của nó, nếu như không đặt quan niệm thương ghét vào. Giả như chúng ta nhìn sự vật trên quan niệm thương ghét thì thấy vạn pháp càng méo mó hơn. Chúng ta làm sao cụ thể hóa được toàn diện về phần vật lý những thế giới siêu hình theo sự mong muốn. Khác nào chúng ta nếu như có thể thì cũng chỉ hiểu biết được những chúng sanh hiện hữu trong phạm vi Thái Dương Hệ (Solar- Systems) này mà thôi và ngược lại không thể nào biết được những chúng sanh hiện hữu trong các Thái Dương Hệ khác ngoài Thế Giới chúng ta đang sống. Tại sao thế? Nguyên do chúng ta là con người hiện đang sống trong Thế Giới gọi là Ngoại Giới có hiện tướng (Thế Giới hiện hình tướng ra bên ngoài) hoàn toàn lệ thuộc vật chất thì không thể nào thấy được chúng sanh đã và đang sinh hoạt trong những Thế Giới có tánh cách Nội Giới không hiện tướng. Chúng sanh trong những Thế Giới Nội Giới không hiện tướng đều được xây dựng nên bởi Tâm Thức và chúng nó thì không bao giờ bị lệ thuộc chút nào về vật chất cả, mặc dù những Thế Giới Nội Giới vô hình này và những Thế Giới Ngoại Giới hữu hình kia rất tương quan chặt chẽ với nhau trong sự duyên sanh. Những Thế Giới Nội Giới vô hình kia nếu như không có thực chất để làm Nhân thì những Thế Giới Ngoại Giới hữu hình này nhất định không thể thành lập để làm Quả. Trường hợp đây cũng giống như Điện Thể không gian ở trạng thái không hình tướng (Trạng thái không có hiện tướng) nếu như không thật chất để làm Nhân thì Điện Dụng (Điện đã tác dụng) sấm chớp ở trạng thái có hình tướng (Trạng thái có hiện tướng) nhất định không thể phát sanh để làm Quả. Thể và Dụng, Nhân và Quả là hai trạng thái rất quan hệ với nhau một cách chặt chẽ không thể tách rời trong chiều hướng duyên sanh để thành hình vạn pháp. Chúng ta chỉ biết được vạn pháp từ nơi thành Quả, từ nơi tác dụng hiện tướng và ngược lại chúng ta không thể nào quan sát được vạn pháp ở trạng thái Nguyên Nhân cũng như ở trạng thái Thể Tĩnh không hiện tượng. Hơn nữa, con người nhìn thấy vạn pháp qua Nhãn Quang (Lenz-lights) chiếu soi. Nhãn Quang nếu như không chiếu soi thì con người không thể nhìn thấy vạn pháp. Nhưng Nhãn Quang lại bị ảnh hưởng nơi Nhãn Căn (Giác quan con mắt) cho nên chiếu soi không được tinh nhuệ. Trường hợp này cũng giống như dòng điện bị ảnh hưởng bóng đèn nên phát ra ánh sáng không được đúng độ. Vã lại, Nhãn Quang bị ràng buộc quá nhiều bởi ánh sáng mặt trời. Do đó con người không thể nhìn thấy rõ sự vật về đêm. Ngược lại, một số loài động vật như con mèo, con chó v.v... cũng nhìn thấy vạn pháp qua Nhãn Quang của chúng. Nhưng Nhãn Quang của những loài động vật nói trên không lệ thuộc bởi ánh sáng mặt trời và cũng như không bị ngăn cách bởi bóng đêm. Cho nên chúng nó có thể nhìn thấy những hiện tượng vô hình cả ngày lẫn đêm mà loài người không thể nào biết được. Nguyên do Nhãn Quang của loài người không phải là Nhãn Quang của các loài vật kia. Khác nào ánh sáng của mặt trời không phải là ánh sáng của mặt trăng. Như ánh sáng mặt trời soi vào nhà, chúng ta mới thấy được vô số vi trần bay khắp nhà xuyên qua ánh sáng. Trái lại, chúng ta nếu như không có ánh sáng mặt trời chiếu soi thì không thể nào thấy được những vi trần nói trên hiện đang bay lượn trong không gian. Như vậy, chúng ta mặc dù không nhìn thấy các chúng sanh của những Thế Giới Nội Giới ở trạng thái vô hình, nhưng đừng vội cho là chúng nó không có mặt trong vũ trụ bao la. Vũ trụ bao la có nhiều Thế Giới thì tất nhiên cũng có nhiều loại không sanh hiện đang sinh hoạt trong đó. Các nhà Khoa Học chưa khám phá được chúng, nhất là chưa biết được chút nào về lãnh vực siêu hình. Các nhà Khoa Học chỉ biết lẩn quẩn trong Thái Dương Hệ (Solar-system) có vật chất này mà thôi và cũng chưa biết rõ tất cả Hành Tinh hiện có mặt trong không gian. Trong không gian bao la, Thế Giới này được kết hợp bởi những nguyên liệu không giống nhau như những Thế Giới khác, thành thử chúng sanh ớ Thế Giới này không thể sinh hoạt nơi những Thế Giới khác và hình tướng của họ cũng không giống nhau với các Thế Giới khác. Tương tợ như khối nước chính là Thế Giới của loài cá và không khí chính là Thế Giới loài người. Khối nước và không khí khác nhau cho nên loài người không phải là loài cá. Vì thế loài cá không thể sống trong Thế Giới của loài người và ngược lại, loài người cũng không thể sống được dưới nước giống như loài cá sinh hoạt. Theo Phật Giáo, vũ trụ bao la có hằng hà sa số Thế Giới, nghĩa là Thế Giới nhiều như hạt cát của sông Hằng (sông Gange), trong đó chúng rất quan hệ từng loại với nhau, đức Phật phân chia chúng thành ra ba nhóm khác nhau theo sự quan hệ nói trên. Ba nhóm Thế giới gồm có: Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới. 1 Dục Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó đều do ái dục cực thịnh tạo thành. Những Thế Giới này gồm có: Thế Giới loài người, Thế Giới Địa Ngục, Thế Giới Ngạ Quỷ và Thế Giới Bàng Sanh (Súc Sanh). 2. Sắc Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó cũng do ái dục và dục tưởng kết hợp sắc chất tạo thành. sắc Chất ở đây thuộc thanh khí của Sắc Ấm một trong năm ấm tạo thành Thân Thể và Thế Giới của Sắc Giới. Sắc Chất này không phải Trược Khí của Sắc Uẩn, một trong Năm Uẩn tạo thành Thân Thể vâ Thế Giới của Dục Giới. Sắc Uẩn thì nhơ nhớp tanh hôi. Còn Sắc Ấm thì trong suốt giống như chất pha lê. 3. Vô Sắc Giới: là những Thế Giới mà chúng sanh sống trong đó chỉ do Nghiệp Thức kết thành Thân Thể và Thế Giới. Những Thế Giới này muốn thấy được phải nhờ đến Phật Nhãn mới quán thông. Mắt thịt của chúng ta không thể nào biết được họ sinh hoạt trong những Thế Giới này. Loài người còn không thể thấy được sự sinh hoạt, cách ăn uống của các chúng sanh trong những Thế Giới Địa Ngục, Ngạ Quỷ và A Tu La v.v. . . thuộc về cõi Dục thì làm sao biết được những chúng sanh trong các cõi Vô Sắc. Hiện tượng trong thế gian cho chúng ta nhận thức rằng, con người sinh hoạt thường lệ thuộc quá nhiều nơi ánh sáng mặt trời cũng như ánh sáng đèn cho nên không thể biết được những gì thuộc về bóng đêm, nghĩa là con người muốn nhìn thấy được sự vật phải nhờ đến ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng đèn chiếu soi. Ánh sáng mặt trời hoặc ánh sáng đèn nếu như không soi sáng thì con người không thể nhìn thấy được những sự vật của bóng đêm mặc dù những sự vật của bóng đêm vẫn hiện có mặt trong thế gian. Ngược lại, những chúng sanh bị lệ thuộc bóng đêm thì không thể biết được những gì của ánh sáng ban ngày, nghĩa là chúng nó chỉ nhìn thấy được những sự vật thuộc về ban đêm. Như con chim vạc, con rắn lục, con chim quốc v. v... chỉ nhìn thấy được những sự vật của bóng tối thuộc về ban đêm và chúng nó không thể nhìn thấy được những sự vật của ánh sáng thuộc về ban ngày giống như con người. Còn những chúng sanh không bị lệ thuộc bởi ánh sáng mặt trời cũng như không bị lệ thuộc bởi bóng tối thì có thể nhìn thấy những sự vật của ban ngày và những sự vật của ban đêm. Như con mèo, con chó v.v... có thể nhìn thấy những sự vật cả ngày lẫn đêm không bị ngăn cách, nghĩa là bóng tối và ánh sáng mặt trời không trở ngại cho sự sinh hoạt của chúng. Trường hợp này cũng tương tợ như loài cá sống trên đất liền thì bị chết khô và loài người sống dưới nước thì bị chết ngạt. Ngược lại loài rùa thì sống trên bờ hay sống dưới nước đều không bị trở ngại. Sự ăn uống của những chúng sanh trong các cõi khác cũng thế. Chúng sanh đã có sự sống thì nhất định phải có sự hưởng thụ, nghĩa là họ phải có sự ăn uống và sinh hoạt để tồn tại. Nhưng sự ăn uống của họ không giống như sự ăn uống của loài người. Sự ăn uống của họ tùy theo nghiệp quyết định. Thí dụ: Cùng một loại Thủy Tộc chuyên sống dưới nước như nhau,có giống thích ăn thịt như là Cá Mập, có giống chuyên ăn nhớt như là Cá Nước và có giống chỉ biết ăn rong nước như là Cá Cơm v.v... Đức Phật nói: “Chúng sanh tùy nghiệp nhi thực” nghĩa là chúng sanh do bởi nghiệp sai biệt nên ăn uống không giống nhau. Theo Phật Giáo, chúng sanh trong các cõi Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới có nhiều cách ăn. Những cách ăn của chúng sanh trong ba cõi được chia thành chín loại khác nhau, gọi là Cửu Thực. Trước hết chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa và giá trị chín cách ăn nói trên.
-
II. VẤN ĐỀ CÚNG: Vấn đề Cúng là một nghi vấn không ít trong quảng đại quần chúng và cũng có lắm người hành động sai lệch, thành thử vô tình làm mất giá trị của sự Cúng Bái. Không gia đình Á Châu nào mà không có Cúng kỵ Tổ Tiên và cũng không Quốc Gia nào mà không có Quốc Lễ, nhưng không được bao nhiêu người hiểu rõ giá trị và ý nghĩa của sự Cúng Bái. Theo Phật Giáo, Cúng Bái có những ý nghĩa và giá trị như sau: A. Ý NGHĨA CỦA SỰ CÚNG: Cúng gọi đủ là “Cúng Dường”, đó là danh từ của Phật Giáo. Danh từ này được chuyển ngữ từ hai chữ “Cung Dưỡng” của tiếng Trung Hoa. Trước hết chúng ta cần hiểu hai danh từ: Cung Dưỡng và Cúng Dường. a. Cung Dưỡng: nghĩa là cung cấp và phụng dưỡng, tức là cung ứng theo sự nhu cầu về vật chất của những kẻ thiếu thốn và nuôi dưỡng khi họ đói cơm rách áo v.v... Sự Cung Dưỡng ở đây có tánh cách bố thí với tình thương được mở rộng, giúp đỡ những phương tiện cần thiết về đời sống cho những kẻ đang cần sự hỗ trợ qua tinh thần vị tha của những người dư thừa. b. Cúng Dường: (Tiếng Phạm là: Pùjana) nghĩa là hiến cúng và dâng lễ, tức là dâng hiến những lễ vật lên các bậc tôn kính, mong cầu ơn trên chứng minh. Cúng Dường ở đây có tánh cách chí thành, quy ngưỡng, tưởng niệm đến các Tiền Nhân, các bậc Thánh Đức thâm ân mà kẻ dưới có bổn phận tri ân và báo ân. B. SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CUNG DƯỠNG Và CÚNG DƯỜNG: a. Cung Dưỡng: nghĩa là phụng dưỡng, chăm sóc những người hiện đang sống trên đời với tình thương sẵn có mà bổn phận làm người cần phải trang trải trong sự quan hệ sanh tồn lẫn nhau, như phụng dưỡng cha mẹ, anh chị em, phụng dưỡng đồng bào ruột thịt v.v... Còn đối với những kẻ đã quá cố, tức là những người đã chết mất, chúng ta không dùng hai chữ “Cung Dưỡng” trong sự tế lễ để khiến mất đi lòng Tôn Kính ở đây chúng ta dùng hai chữ “CÚNG TẾ” nhằm để thể hiện lòng thành đến với họ trong sự Lễ Nghi cung cách. Cúng Tế nghĩa là đem lễ vật hiến cúng theo lễ nghi tế tự, như cúng tế tổ tiên ông bà, cúng tế Thần Thánh v.v... b. Cúng Dường: nghĩa là tưởng niệm đến những bậc thâm ân, những Thầy chỉ đạo mà mình đã tri ân, đã quy ngưỡng với hành động Tôn Kính. Chúng ta không chỉ “Cúng Dường” cho những người hiện đang còn sống mà còn “Cúng Dường” đến cho những bậc đã quá vãng, đã qua đời. Hơn nữa, trong Phật Giáo còn gọi là Cúng Dường Tam Bảo (Cúng dường Phật, Pháp, Tăng), cúng dường Thầy Tổ, cúng dường Trai Tăng v.v...
-
Ngày nay theo quan niệm Tây phương, họ cho chỗ chính của cái nhà là phòng khách, vì họ không chủ trương thờ Ông Bà. Họ sống theo chủ nghĩa cá nhân, chỉ biết lấy mình mà thôi, ngoài ra không cần thiết đến ai cả, nhất là những người thân thuộc về quá khứ, cho đến tông môn của họ cũng thế. Chúng ta là người Á Châu, ý thức được huyết thống giống nòi, nhận chân được sự liên quan chặt chẽ hệ thống Tâm Linh trong quá trình chuyển hóa luân lưu, nhất định phải có bàn thờ Ông Bà trong nhà để làm điểm tựa tinh thần, mặc dù bàn thờ đó lớn hay nhỏ tùy theo hoàn cảnh của mỗi người. Ở nước ngoài, khi nhu cầu đời sống còn thiếu thốn, chúng ta khó chọn chỗ thờ tự đúng theo ý mình muốn. Đạo Phật chú trọng tinh thần hơn hình thức. Chúng ta thờ tự như thế nào cũng được miễn sao chỗ thờ đó thể hiện được lòng thành của mình đối với các Đấng Thiêng Liêng và những Bậc trên trước. D. GIÁ TRỊ NƠI THỜ: Chúng ta thờ tự đức Phật hay Tổ Tiên Ông Bà bằng cách nào đi chăng nữa cũng phải nói lên được giá trị thiêng liêng nơi thờ. Theo Phật Giáo chúng ta có thể đặt bàn thờ bất cứ nơi nào trong nhà, nhưng với điều kiện vị trí chỗ thờ phải được thanh tịnh và bàn thờ phải được thiết trí trang nghiêm, có thể gợi lên cho con cháu một ấn tượng Tôn Kính mỗi khi chiêm ngưỡng. Chúng ta đừng quan niệm rằng, bàn thờ như kệ đựng sách, như bàn đựng rượu v.v... bỏ lên trên đó đủ thứ tạp nhạp để phải đắc tội với các bậc Thiêng Liêng. Chúng ta có một bàn thờ rất sang trọng lộng lẫy, nhưng cứ để hương tàn khói lạnh thì càng thêm có tội với Người Trên. Chi bằng chúng ta chỉ có một bàn thờ đơn giản, nhưng được thiết trí trang nghiêm thanh tịnh và được con cháu tới lui thăm viếng mỗi ngày cũng đủ nói lên bổn phận làm người và giá trị nơi thờ. Chúng ta hằng ngày phải có nhiệm vụ chăm sóc bàn thờ cũng như chăm sóc phòng khách, và coi trọng bàn thờ như trọng bản thân, đừng tỏ thái độ khinh thường nơi thờ tự và mỗi khi chiêm bái. Để xác định một lần nữa, thờ tự không phải là một hành động mê tín dị đoan mà là Truyền Thống Văn Hóa và Tín Ngưỡng của Dân Tộc, chúng ta không thể quên được sự nghiệp của nguồn gốc Văn Hóa Đông Phương. Đó chính là một trong những biểu tượng văn minh của người Á Đông mà các nước Tây phương khó có thể tìm được giá trị Tâm Linh ấy trong cuộc sống xã hội con người. Người Phật Tử chúng ta đã hiểu được ý nghĩa, giá trị và phương cách thờ tự theo quan niệm Phật Giáo, hãy cố gắng giữ gìn Truyền Thống và thực hiện cho kỳ được việc Thờ Tự tại gia cho chu đáo, vừa lợi ích cho mình trong việc tu tạo bản thân, cải thiện hoàn cảnh và giáo dục con em sau này trờ nên Thiện Mỹ để xứng đáng là người Phật Tử trong hoàn cảnh hiện tại giữa thời đại hiện kim này.
-
A. Ý NGHĨA THỜ: Một khi thờ nhân vật nào đó, thì nhân vật ấy phải thể hiện được ý sống và nghĩa sống qua Vật Thể biểu tượng được thờ. Một Vật Thể biểu tượng cho Nhân Vật được tôn thờ phải thể hiện giá trị tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm. Một Vật Thể biểu tượng tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm sẽ trở thành Vật Linh, làm môi trường giao cảm giữa người thờ và Nhân Vật được tôn thờ. Thế nào là Tâm ân Sắc và Sắc ấn Tâm; a. TÂM ẤN SẮC: 1. Tâm: tiếng Phạn là Citta nghĩa là Tâm linh của mỗi con người. Tâm linh này vẫn hiện hữu trong con người khi xa lìa tất cả đối tượng và có khả năng xét nghiệm tư duy để quyết định mọi việc. Nói một cách khác, Tâm con người vẫn sinh hoạt suy tư trong khi tất cả đối tượng không còn hiện hữu. Trước mặt, Tâm là danh từ chung gồm Tâm Vương và Tâm Sở, là những Tâm Pháp quan hệ tương đối với Sắc Pháp. Tâm ở đây tương đương với bốn Uẩn là Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Tâm này là chỉ cho Tâm Vương một trong năm Vị (Năm Vị là: Tâm Pháp, Sắc Pháp, Tâm Sở Pháp, Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp, Vô Vi Pháp). Theo Đại Thừa Duy Thức Tông, Tâm đây chính là Tâm Thức Alaya. Tâm Thức Alaya là thể căn bản có khả năng sanh ra vạn pháp. Tâm Thức Alaya ngoài việc sanh ra vạn pháp, còn có khả năng sanh khởi Tâm Ý (Thức Mạt Na) để chấp trì vạn pháp và sanh khởi Tâm Thức Phân Ly (Ý Thức) để phân biệt vạn pháp. Tâm đây còn có nghĩa là Tinh yếu. 2. Ấn: là in vào, chứng nhận, tức là tiêu biểu hiển bày cái Đức chỗ chứng đắc nội Tâm của chư Phật. ấn còn có nghĩa là quyết định. Nhưng Ấn ở đây nghĩa là dùng Tâm in sâu vào vật nào đó và khiến cho vật đó trở thành Vật Linh (đồ vật được thể hiện sự linh cảm) biểu hiện được Phật Tâm linh cảm. 3. Tâm Ấn: theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 3 và Đại Nhật Kinh Sớ Diễn Áo Sao quyển 2 giải thích rằng: “Tâm Ấn là nơi tự thân thực hiện được tất cả Phật Tâm tác dụng”, nghĩa là khiến cho tất cả Phật Tâm sinh hoạt. Theo Đại Nhật Kinh Sớ quyển 5, Mục Bất Động Minh Vương giải thích: “Tâm Ấn là biểu thị vạn Đức ở trong Tâm”. Như vậy Tâm Ấn nghĩa là Tâm biểu thị vạn Đức và khiến cho Phật Tâm tác dụng chứng đắc cho Hành giả khải thỉnh. 4. Sắc: là sắc chất, tức là chỉ cho một vật nào đó hoàn toàn thuộc về vật thể được dùng làm biểu tượng để tôn thờ, như là Hình Giấy, Tượng Cốt, Ấn Dấu, Pháp Khí, Đồ Hình, lá Bùa, khăn Ấn v.v... đều là Sắc Chất. ẤN: là in sâu, tức là dùng Tâm in sâu vào vật nào đó và khiến cho nó trở thành Vật linh (đồ vật được linh cảm). 5. Tâm Ấn Sắc: nghĩa là Tâm Linh của con người in sâu vào một vật nào và khiến cho vật đó trở thành có giá trị được gọi là Tâm Ấn Sắc. Vật đó được Tâm Linh con người ấn vào gọi là Vật Thể, vì nó là một Vật Linh. Vật Linh là một Vật Thể biểu tượng có tánh cách linh cảm đối với con người. Thí dụ: Một em bé đem Tâm ấn vào cái gối nằm (Pillow) của em thì cái gối nằm đó trở thành vật linh đối với em. Em quí gối nằm nói trên như quí thân mạng của em. Gối nằm nói trên nếu như mất đi thì em đòi cha mẹ phải tìm cho được, mặc dù em đã trưởng thành và cái gối nằm kia đã rách nát. Một lá thơ của bà con ở Việt Nam gởi là một Vật Linh, nguyên vì bà con đã Ấn Tâm vào đó. Một Danh Thiếp (Card) chúc tết là một Vật Linh, nguyên vì người chúc tụng đã Ấn Tâm vào đấy. b. SẮC ẤN TÂM: Sắc Ấn Tâm: nghĩa là một Vật Thể nào được in sâu vào trong Tâm Linh của con người và hình bóng Vật Thể đó làm khởi điểm trợ duyên cho Tâm Linh con người tác dụng giao cảm bằng cách nhớ nhung, hồi tưởng, tưởng niệm gọi là Sắc Ấn Tâm. Thí dụ: Anh A nhớ quê hương, nhớ Ông Bà nhà cửa, nhớ bà con thân thuộc, nhớ bạn bè làng xóm, nhớ những hình ảnh kỷ niệm của tuổi học trò, nhớ những quá trình kinh nghiệm sống của mình v.v... Những hình ảnh nhớ nhung nói trên được gọi là Sắc Ấn Tâm. Cũng từ tinh thần Tâm Ấn Sắc và Sắc Ấn Tâm vừa trình bày, người có tín ngưỡng phát tâm thờ Phật hoặc thờ Ông Bà trong nhà thường rước Thầy đến làm lễ an vị hầu giúp cho bàn thờ Phật hay bàn thờ Ông Bà trở thành Vật Linh để làm biểu tượng (Symbolizes) cho sự cầu nguyện. Bàn thờ Phật hay bàn thờ Ông Bà sau khi làm lễ an vị thì đã thể hiện được ý sống và nghĩa sống giữa chư Phật, chư Bồ Tát cùng với Tín Đồ, cũng như giữa Tổ Tiên Ông Bà cùng với con cháu. Tâm Linh của chư Phật, chư Bồ Tát liền cảm ứng với người cầu nguyện. Nhưng ở đây, một cành hoa giấy và một cành hoa sống thì cành hoa giấy chỉ có giá trị trang trí bàn thờ cho thêm sắc sảo so với một cành hoa sống. Một cành hoa sống, ngoài nhiệm vụ tô điểm làm đẹp bàn thờ lại còn có giá trị thể hiện được ý sống và nghĩa sống một cách trọn vẹn so với bông hoa giấy. Nguyên vì cành hoa tươi tự nó có từ trường (Magnetic-field) sức sống tỏa ra, trong lúc đó cành hoa giấy chỉ là một loại hoa chết. Một đôi đèn nến có giá trị hơn đôi đèn điện. Đôi đến nến, ngoài sự tiêu biểu cho ánh sáng, còn nói lên được ý sống và nghĩa sống của một Vật Thể. Đôi đèn nến biểu tượng được ý sống và nghĩa sống của một Vật Thể qua sự biến thuyên liên tục không ngừng. Nhờ sự biến thuyên liên tục không ngừng mà Vật Thể mới sống còn tồn tại. Nhưng cũng vì sự biến thuyên liên tục không ngừng này mà Vật Thể nói trên phải chết đi để chuyển sang một Vật Thể khác qua ý sống và nghĩa sống của nó kết hợp nối liền. Một Vật Thể nếu như không có ý sống và nghĩa sống tức là Vật Thể đó đã chết. Dòng nước chảy là dòng nước sống và dòng nước không chảy chính là dòng nước đã chết. Dòng nước đã chết thì không thể hiện được ý sống và nghĩa sống của dòng nước. Như vậy trên bàn thờ, chúng ta không thể không đốt hương, đốt đèn, cắm hoa tươi v.v... là những Vật Thể biểu tượng được ý sống và nghĩa sống, làm tăng thêm sự uy nghiêm, tôn kính, linh động đối với chư Phật, chư Tổ, Thánh Hiền hoặc đối với Tổ Tiên Ông Bà qua sự linh ứng biểu trưng này. Trên bàn thờ, những Hình Tượng, những nén hương, những đôi nến, những cành hoa tươi v.v... đều là những gạch nối giao cảm quan trọng giữa Tâm Linh của Ôg Bà Tổ Tiên, của chư Phật mười phương cùng với Tâm Linh của Môn Đồ Đệ Tử và của con cháu họ hàng. Như vậy, Thờ thế nào cho phải cách? B. CÁCH THỜ: Thờ Tổ Tiên là tiêu biểu đức nhẫn nại của Ông Cha đã dày công bồi đắp cho giòng họ, cho Tông Môn một sự nghiệp tinh thần, một ý sống của con người hầu giúp con cháu đủ sức vươn lên trong xã hội và bắt chước đức tính đó để tiếp nối xây dựng thế hệ mai sau ngày càng thêm vinh hiển. Thờ Tổ Quốc là tiêu biểu gương cao quý của các bậc Tiền Nhân đã hy sinh xương máu để tài bồi Giang Sơn Cẩm Tú của chúng ta trường tồn và noi theo gương sáng đó để bảo vệ giống nòi, phồn vinh đất nước và xây dựng một cuộc sống thanh bình an lạc thật sự cho Dân Tộc, dĩ nhiên trong đó có con cháu của mình. Thờ Phật là tiêu biểu cho Trí Tuệ Giác Ngộ, cho Đức Hạnh Từ Bi, cho ý chí Dũng Mãnh của chư Phật mà chúng ta nương theo những gương cao quý này để đào luyện cho mình đầy đủ sáng suốt, đầy đủ tình thương và đầy đủ nghị lực giống như các đức Như Lai, ngõ hầu đả thông trước mọi vấn đề mê ngộ, chân giả, để khỏi bị lầm lạc và nhận thức được chân giá trị của cuộc đời, giải thoát mọi khổ đau sanh tử luân hồi. Đó là chân nghĩa của cách thờ tự mà chúng ta đã và đang theo đuổi thực hiện. C. CHỖ THỜ: Theo quan niệm Tiền Nhân, con người phải có xương sống mới đứng vững, cây cỏ phải có gốc rễ mới tồn tại thì cái nhà phải có cột chính, thường gọi là cột Cái mới hình thành. Cột chính bao giờ cũng ở giữa gọi là “Trung” để gánh vác hai mái nhà và cột hai bên gọi là cột Con, cũng gọi là cột Biên chỉ đóng vai trò phụ đỡ hai mái nhà yên đứng. Đây là nói về phương diện hình thức tổ chức. Còn về phương diện tiêu biểu, cột chính gọi là cột Trụ của cái nhà, cũng như Tổ Tiên Ông Bà cha mẹ là cột Trụ của gia đình giòng họ, có nhiệm vụ gánh vác cả sự nghiệp của Tiền Nhân và bảo tồn sự sống còn của con cháu từ khi sanh ra cho đến khi thành nhân. Thế nên người xưa, trong ba căn nhà, họ chọn căn giữa là căn Chính của cái nhà để thờ Tổ Tiên Ông Bà. Lớn hơn nữa, mỗi giòng họ như họ Trần, họ Nguyễn, họ Lê v.v... phải có nhà thờ Họ, được thiết lập riêng trong làng Họ của mình để cùng nhau thờ tự. Giả sử một gia đình nghèo khó đến mấy đi chăng nữa, dù chỉ có túp lều tranh, họ cũng chọn chỗ nào chính giữa của túp lều ấy để trang trí bàn thờ Tổ Tiên.
-
Cảm xạ từ xa hay đồng tâm tương ứng đều có một nguồn năng lượng nhất định để dịch chuyển đến người ta nhập tưởng phải không ThienPhu11? Tôi tin vào điều này như dâng lời cầu nguyện cao xanh cũng thấu.
-
Thờ Cúng và Lễ Bái Con người sanh ra ở đời, ắt phải có tôn ti trật tự, có trước có sau, có trên có dưới, có lớn có nhỏ, có thứ lớp giai tầng, đó là một qui luật tự nhiên, không ai có thể chối cãi, phủ nhận hay từ bỏ. Đó là một đạo lý tuyệt đối là căn bản đạo đức, là cương kỷ, nề nếp mà các Ngài Giáo Chủ đứng lên lập đạo phải lấy nó làm nền tảng, chủ đích để dạy tập con người bảo giữ nguồn gốc tôn ti trật tự, để qui định cho sự hòa hiệp sống chung, thái bình an lạc trong cõi đời. Từ đó mà vấn đề “THỜ CÚNG và LỄ BÁI” được đặt ra. Con người sanh ra ở đời, ắt phải có tôn ti trật tự, có trước có sau, có trên có dưới, có lớn có nhỏ, có thứ lớp giai tầng, đó là một qui luật tự nhiên, không ai có thể chối cãi, phủ nhận hay từ bỏ. Đó là một đạo lý tuyệt đối là căn bản đạo đức, là cương kỷ, nề nếp mà các Ngài Giáo Chủ đứng lên lập đạo phải lấy nó làm nền tảng, chủ đích để dạy tập con người bảo giữ nguồn gốc tôn ti trật tự, để qui định cho sự hòa hiệp sống chung, thái bình an lạc trong cõi đời. Từ đó mà vấn đề “THỜ CÚNG và LỄ BÁI” được đặt ra. Đây là phương pháp hay phương cách giáo hóa rất quan trọng của đời sống nhân loại; cũng lại là một giáo lý tốt đẹp làm nền tảng cho sự thương yêu, thân thiện, cung kính, lễ phép với nhau trong cuộc sống. Một cung cách xử sự liên quan truyền kiếp và nối tiếp đời đời đối với loài người nói riêng và vạn vật chúng sanh nói chung. Nhất là sự liên quan truyền nối giữa kẻ còn người mất của nhân loại. Lại nữa, truyền thống và tập tục của người Á đông càng thâm thiết hệ trọng hơn, từ trong guồng máy gia đình giòng tộc đến các tổ chức Tôn giáo Tín ngưỡng tâm Linh như Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo v.v... Tác phẩm “ Thờ Cúng và Lễ bái" này do Hòa Thượng Thích Thắng Hoan, một nhà Duy Thức Học, một vị Giáo Phẩm lãnh đạo cao cấp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đã dày công nghiên cứu và biên soạn, làm tài liệu căn bản cho mọi giới đồng bào Phật tử Việt Nam, nhất là đồng hương tị nạn nơi đất khách quê người có quá nhiều phức tạp nhiều khê. Đây là một Pháp Bảo cung ứng nhu cầu thiết thực cho đại đa số quần chúng Việt Nam. Là kim chỉ nam cho người Phật tử từ hạng bậc sơ cơ cho chí đến những người trí thức mà chưa hề quan tâm đến vấn đề “Thờ Cúng và Lễ Bái”, nó có một tác dụng hữu ích như thế nào cho cuộc sống mà các Ngài khai đạo đã mở đường giáo hóa nhân sanh bằng qui cũ trong sự Thờ Cúng và Lễ Bái nầy vậy. Tác phẩm “THỜ CÚNG VÀ Lễ BÁI” đã dẫn giải, phân bày rất là khúc chiết, mạch lạc và cụ thể, sẽ giúp cho độc giả hiểu biết rõ ràng hơn tầm quan trọng của sự Thờ Cúng và Lễ Bái. Nhà Xuất Bản Nguồn Sống chúng tôi xin được hân hạnh Giới thiệu đến quí đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước; Quí đồng hương Phật tử ở rải rác khắp Năm Châu Thế giới với tác phẩm “Thờ Cúng Và Lễ Bái” nầy. Thờ Cúng Và Lễ Bái là một trong những Gia Bảo tinh thần đáng quý của Tổ Tiên để lại cho con cháu kế thừa. Gia Bảo này đã được hấp thụ tinh hoa lâu đời do các Tôn Giáo bồi đắp và xây dựng. Gia đình Việt Nam có Truyền Thống, đều coi trọng và thiết lập Hương án trong nhà để chuyên trách về việc Thờ Cúng Và Lễ Bái. Người Thờ Cúng Và Lễ Bái thì nhiều nhưng người hiểu rõ ý nghĩa và giá trị vấn đề thì lại quá hiếm. Nhất là những người Việt Nam tỵ nạn ra nước ngoài ít ai thông hiểu về ý nghĩa và giá trị của sự Thờ Cúng Và Lễ Bái. Họ cũng thiết lập bàn thờ và tổ chức nghi lễ trong nhà có tính cách giả chiến, hời hợt tạm bợ cho có lệ theo tập tục cổ truyền, nhưng việc làm của họ thiếu sự tôn kính thiêng liêng. Thành thử vấn đề Thờ Cúng Và Lễ Bái không tạo được niềm tin vững chắc cho thế hệ con cháu trẻ tuổi tân học. Ngoài ra, lại có một số người lợi dụng niềm tin và sự hiểu biết nông cạn của đa số quần chúng trong việc Thờ Cúng Và Lễ Bái, nên họ đã manh nha khai thác tận cùng vấn đề mê tín dị đoan nhằm mục đích buôn bán làm ăn. Họ bày vẽ thêm nhiều nghi cách mơ hồ vô nghĩa, khiến cho việc Thờ Cúng Và Lễ Bái trở nên phức tạp để độc quyền tín ngưỡng. Họ vô tình làm giảm giá trị Truyền Thống Văn Hóa lâu đời của Dân Tộc về ý nghĩa Thờ Cúng Và Lễ Bái. Đã vậy lại thêm một số người Trí Thức có thành kiến, họ bôi bác và kết án, cho việc Thờ Cúng Và Lễ Bái là một hình thức hoang đường. Những lý do trên thúc đẩy chúng tôi cho ra quyển sách: “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái”. Tác phẩm này không có cao vọng lột trần được toàn diện chiều sâu ý nghĩa và giá trị của vấn đề. Ở đây chúng tôi chỉ trình bày một vài quan điểm có tính cách biện minh lý giải ý nghĩa và giá trị của sự “Thờ Cúng Và Lễ Bái” qua lăng kính Phật Giáo. Hơn nữa, sự ra đời của quyển sách “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái” nhằm đóng góp một phần nào trong phong trào phục hưng nền Văn Hóa Dân Tộc và tạo cơ hội phục vụ cho Cộng Đồng Việt Nam ở hải ngoại về mặt Tín Ngưỡng. Nền Văn Hóa Dân Tộc cần phải được phát huy rộng lớn và làm sáng tỏ quan điểm Truyền Thống lâu đời qua nhiều khía cạnh trong mọi lãnh vực, để làm khuôn vàng thước ngọc cho người Việt ly hương nương tựa sống còn. Quyển sách nhỏ này được gói ghém bằng một tâm nguyện khiêm tốn hầu đóng góp vào kho tàng Văn Hóa Phật Giáo và Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam, xem như một công tác hiếm hoi, hướng trở về Nguồn, phụng sự Chánh Pháp. Tác phẩm “Vấn Đề Thờ Cúng Và Lễ Bái” nhất định còn thiếu sót nhiều về mặt hình thức cũng như nội dung. Chúng tôi kính mong các bậc cao minh chỉ bảo góp ý thêm để cho tác phẩm có giá trị và đầy đủ hơn khi tái bản. Thờ Cúng và Lễ Bái là một đạo lý Truyền Thống của Dân Tộc có từ ngàn xưa, khi con người ý niệm được bổn phận. Ở thời kỳ Quân Chủ, các triều đại Vua Chúa cho Thờ Cúng và Lễ Bái là biểu tượng cao quí nhất đối với các bậc Tiền Nhân, nên đặc trách riêng một Bộ gọi là Bộ Lễ để trông coi việc này. Còn riêng về Phật Giáo, vấn đề Thờ Cúng và Lễ Bái lại càng hàm xúc bao ý nghĩa và giá trị, thể hiện được tinh thần thiêng liêng trọng đại đối với các bậc Thánh Hiền. Thế mà cho đến hôm nay ý nghĩa và giá trị vấn đề Thờ Cúng và Lễ Bái đã được bao nhiêu người thông suốt? Vì không thông suốt, đa số quần chúng thiếu sót Lễ Nghi cung cách, gây nhiều tội lỗi với các bậc bề trên. Họ không phải không muốn, nhưng không được ai chú dẫn tường tận để có đức tin. Nhằm mục đích giúp người con Phật thông suốt giá trị vấn đề trên, tôi xin trình bày ý nghĩa Thờ Cúng và Lễ Bái qua những nhận định như sau: Thờ Cúng và Lễ Bái là một đạo lý Truyền Thống của Dân Tộc có từ ngàn xưa, khi con người ý niệm được bổn phận. Ở thời kỳ Quân Chủ, các triều đại Vua Chúa cho Thờ Cúng và Lễ Bái là biểu tượng cao quí nhất đối với các bậc Tiền Nhân, nên đặc trách riêng một Bộ gọi là Bộ Lễ để trông coi việc này. Nhằm mục đích giúp người con Phật thông suốt giá trị vấn đề trên, tôi xin trình bày ý nghĩa Thờ Cúng và Lễ Bái qua những nhận định như sau: I. VẤN ĐỀ THỜ: Trước hết là vấn đề Thờ. Thờ nghĩa là thể hiện, tỏ bày sự Tôn Kính của mình lên các Tiền Nhân, các Thánh Đức mà mình đã dâng trọn niềm tin, như thờ Phật, thờ Chúa, thờ Tổ Quốc, thờ Tổ Tiên, Ông-Bà v.v... Người con đã có Giòng Họ Tông Môn thì phải có bàn thờ Tổ Tiên. Con người có giống nòi chủng tộc thì phải có bàn thờ Tổ Quốc. Tín Đồ có Tín Ngưỡng Tôn Giáo thì phải có bàn thờ đức Giáo Chủ của mình. Ngược lại, con cái mà không có bàn thờ Tổ Tiên, Ông Bà là con bất Hiếu. Một công dân mà không có bàn thờ Tổ Quốc là kẻ bất Trung. Một tín đồ mà không có bàn thờ đức Giáo Chủ của mình là người bất Tín. Nhưng hiện nay có một số người không hiểu bảo rằng Thờ Cúng là hành động mê tín dị đoan, kém văn minh, thiếu khoa học, bởi vì những hình tượng được thờ đều bằng xi măng, hoặc bằng giấy và hương đèn đều bằng cây, bằng mạt cưa làm nên v.v... rồi tin tưởng đặt lên thờ và cho là thiêng liêng. Những hành động ấy đã không lợi ích chi, lại còn nhơ bẩn đến nhà cửa và tốn hao tiền bạc. Lời này mới nghe qua như có lý, nhưng kỳ thực xét cho kỹ thì hoàn toàn sai lầm. Sự sai lầm này được nhận định như sau: a. Hình Tượng mặc dù được xây dựng bằng giấy hay bằng xi măng hoặc hương đèn được làm nên bằng mạt cưa hay bằng gỗ đi chăng nữa, những vật thể ấy đã trở thành thiêng liêng cao quí, nhất là đã tượng trưng (Symbolizes) cho dòng họ, Tổ Tiên, Ông Bà, cho Thánh Hiền, cho chư Phật mà mình đã Tôn Thờ. Cũng như Lá Cờ của một Quốc Gia, mặc dù nó được kết bằng vải tầm thường không giá trị, nhưng nó đã được tiêu biểu cho Tổ Quốc, cho Quốc Hồn Quốc Túy của một Dân Tộc mà người Công Dân hay Chiến Sĩ đều phải Tôn Thờ. Một Công Dân hay Chiến Sĩ mỗi khi chào cờ không phải chào miếng vải ấy, hoặc hy sinh dưcờ không phải chết cho miếng vải mà ở đây họ chào và chết vì Tổ Quốc, vì Hồn Thiêng đất nước đã được biểu hiện qua lá cờ. Nước Mỹ ai cũng cho là một nước Văn Minh đứng đầu trên Thế Giới về phương diện khoa học cơ giới. Thế mà họ vẫn tôn trọng ngày Hollyvine như là một Quốc Lễ và đến ngày đó dân chúng cả nước đều được phép nghỉ để tổ chức lễ theo phong tục của họ. Chúng ta đối với ngày lễ này cho là hành động mê tín dị đoan, nhưng đối với người Mỹ, ngày lễ này là một ý nghĩa trọng đại nhất và mỗi năm cần phải được tổ chức linh đình không cho mất gốc. Còn ngày Lễ Tổ Tiên Ông Bà của chúng ta chính là ngày cao cả không kém của Giòng Họ Tông Môn, nhưng một số người khinh thường cho việc làm đó là hành động mê tín dị đoan thiếu Văn Minh tiến bộ rồi cho nó đi vào quên lãng. Thật là một tội lỗi nặng nề. Mỗi quốc gia đều có nền Văn Hóa riêng của họ và Văn Hóa đó được họ tìm mọi cách đề cao tuyệt đối tột đỉnh. Chúng ta cũng có nền Văn Hóa riêng của Dân Tộc ta. Chúng ta cũng phải có bổn phận phát huy nền Văn Hóa của Tổ Tiên được sáng tỏ thêm hơn là đi bôi bác và chà đạp lên nó để đắc tội với Tiền Nhân. b. Chúng ta thờ Tổ Tiên là để tri ân và báo ân các bậc Cha Ông đã dày công sanh trưởng cuộc đời mình. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc kiến tạo xã hội và giòng họ. Chúng ta thờ Tổ Quốc là để ghi ân và noi gương các bậc anh hùng liệt sĩ đã hy sinh cho sự sống còn của giống nòi. Chúng ta thờ Phật là để quy ngưỡng hướng về các bậc đã giác ngộ và giải thoát, nhờ các Ngài dẫn dắt chúng ta và chúng sanh vững vàng đi trên con đường Thánh Thiện. Bàn thờ Ông Bà không được thiết lập làm biểu tượng thì con cháu không biết nương vào đâu để thể hiện lòng hiếu thảo đối với Tổ Tiên và bàn thờ Phật không được an vị trang nghiêm thì đệ tử cũng chẳng biết nương tựa vào nơi nào để bộc lộ lòng tôn kính đối với bậc Thầy chứng ngộ. Khác nào trên mộ không có đặt vòng hoa tưởng niệm thì những người còn sống làm sao tỏ bày được lòng tri ân đến những kẻ đã hy sinh vì đại nghĩa. Con ngời cần phải có điểm tựa để an tâm, mặc dù điểm tựa đó bằng bất cứ hình thức nào. Chúng ta chưa phải là Thánh Nhân thì nghi lễ, cung cách Thờ Cúng và Lễ Bái rất cần thiết cho việc tu thân, giáo dục gia đình và hướng dẫn con người làm tròn bổn phận trong xã hội loài người, nhất là con người ở vào thời đại văn minh. Như vậy Thờ thế nào cho đúng nghĩa? (còn tiếp)
-
Đường đi từ Biết đến Vực được Đạo còn vời vợi xa Như Thông ơi! Nói đến chánh pháp đã khó làm sao mà hành? Hội đủ duyên mới chắt lọc đường Quang để bước bằng ngược lại đường tà cách nhau gang tấc.
-
Brazil: Huấn luyện cảnh sát theo phương thức của Phật giáo (Espírito Santo, Brazil) : Chính quyền bang Espírito Santo, miền đông-nam Brazil, đang thí nghiệm một chương trình huấn luyện hàng ngày mới cho một số sỹ quan cảnh sát cơ động. Thay vì học kỹ thuật tác chiến mới, các sỹ quan cảnh sát hiện đang phát triển kỹ năng quan hệ giữa các cá nhân, cân bằng cảm xúc và kỷ luật trong một thiền viện Phật giáo, tọa lạc cách thủ phủ Vitória 70 km. Vốn quen với hệ thống phân cấp trên dưới cứng nhắc của quân đội, những người tham gia chương trình huấn luyện này ngay lập tức phải đối diện với động cơ bình đẳng của các nhà sư. Mọi người, từ chỉ huy cho đến cấp dưới, đều phải chấp hành nghiêm chỉnh cùng một thói quen, cùng một nhiệm vụ. Họ khởi đầu một ngày mới bằng việc thực hành thiền định và trong im lặng, một sự thay đổi hoàn toàn so với môi trường buổi sáng truyền thống của các trụ sở cảnh sát. Sau khi thiền định, họ tiếp tục một số hoạt động như tập cắm hoa ikebana, làm đồ gốm sứ, luyện Thái cực quyền, và thậm chí tham gia trà đạo. Dùng cơm theo nghi thức Phật giáo Thực tập Thiền tọa Luyện Thái Cực quyền. Tham gia Trà Đạo Học làm gốm sứ. Học nghi thức đánh chuông, khánh. Tập cắm hoa Ikebana. Các sỹ quan cảnh sát trải qua chương trình huấn luyện này tâm sự rằng, họ cảm thấy đã sẵn sàng đối diện với nhiệm vụ của họ nhiều hơn bằng con đường bất bạo động. Với việc hiểu rõ hơn về chính họ, về đồng nghiệp và về mối tương hệ giữa các sự vật theo triết học Phật giáo, cảnh sát có thể làm giảm thiểu mức độ căng thẳng (stress) trong nghề nghiệp của họ, do đó việc gìn giữ hòa bình trở nên có hiệu quả nhiều hơn. Thích Minh Trí (theo psfk.com) nguồn giacngovn.online (sẽ bổ sung phần minh họa sau)
-
- 1
-
-
Ếm và giải ếm Trong thời gian này, tôi vắng mặt ở nhà. Mẹ và Bà Ngoại của tôi không biết phải làm cách nào để cho các em tôi bớt la và sợ hãi. Mẹ và Bà của tôi đã lần lượt đi mời các Vị Thầy cúng và Thầy bùa trong vùng đến để làm phép giúp em tôi nhưng tất cả đều không có tác dụng. Công việc xong, tôi trở về nhà được nghe kể lại sự việc. Trong đêm đó, tôi nhìn thấy các em tôi trong giấc ngủ không bình an. Chúng cứ giật nẩy người lên, la hét và đầy vẻ sợ hãi. Nhìn các em tôi mà lòng dạ rất đau sót. Tôi nhìn lên bàn thờ Đức Phật Chuẩn Đề thầm cầu nguyện: "Nhờ Đức Phật từ bi giúp Thần lức cho con được trị bênh này". Nguyện xong tôi kiết ấn chuẩn đề, miệng thì đọc Thần chú, tâm thức thanh tịnh, tôi đọc 7 lần Thần chú. Sau đó, tôi chỉ ấn chuẩn đề trên tay vào người của H (Em gái tôi) và tôi không ngờ uy lực của Ấn chuẩn đề quá mạnh và linh hiển làm cho em tôi bật dậy bò bò chạy vòng vòng trong mùng.Như có luồng điện cực mạnh tác động vào nó, nó lồng lộn lên dữ dội. Đây là lần đầu tiên tôi sử dụng Ấn chuẩn đề, vừa ngạc nhiên và cũng vừa sợ. Nhìn thấy những hiện tượng trên cũng làm tôi điếng cả người ra. Hiện tượng như vậy xảy ra khoảng 5 phút, sau đó em tôi mới bình tĩnh lại. Sáng hôm sau tôi mua trái cây nhang đèn dâng cúng lên bàn thờ, cầu nguyện cho trong nhà mọi người được bình an. Tôi ngồi hành trì trước kính đàn và trì niệm vào bốn viên gạch mà tôi đem treo ở bốn hướng của nhà (Đây là phương pháp trì niệm làm cho nhà cửa an ổn - trấn giữ và đã rất mầu nhiệm của Sư Tổ Triệu Phước - Đức Quí lúc Tổ còn ở Việt Nam, Trà Vinh người đã truyền dạy lại cho một đệ tử). Làm phép xong, khoảng 11h đêm tối hôm đó, cả nhà tôi mọi người đều thấy hiện tượng thật lạ, từ trong bốn cây cột nhà, ở trên đầu cột đều thấy xuất hiện rất nhiều hình nhân bằng giấy bay xuống, mặt mày dữ tợn. Ở dưới đất có rất nhiều âm binh. Cả nhà tôi quá sợ hãi, đồng loạt đều niệm lớn tiếng Thần chú chuẩn đề. Và đồng thời lúc đó, một sự linh hiển khác lại xảy ra, từ trên bàn thờ, ngay hình Đức Chuẩn Đề và kính đàn phát ra ánh sáng như đèn, từ trong mười tám cánh tay của người hiện ra rất nhiều cây kéo bay ra và cắt đứt những hình nhân. Từ dưới nền nhà phát ra lửa và thiêu rụi toán âm binh. Thật là một hiện tượng quá mầu nhiệm và hết sức tưởng tượng. Sau đêm này, nhà tôi yên ổn và em tôi không còn la thất thanh nữa. Hỏi kỹ lại, tôi mới biết mẹ tôi khi sửa nhà, bà mua lại mớ gạch lót nền và ngói của một ngôi nhà xưa. Nghe đồn ngôi nhà này bị ếm, họ bị phá dữ tợn, có rất nhiều Thầy pháp và Thầy cúng làm phép nhưng đều không có hiệu lực. Chủ nhân ngôi nhà không ở được và họ tháo bỏ căn nhà này đi. Tôi viết bài này kể cho các bạn nghe để nói lên một năng lực rất phi phàm của Thần chú Chư phật. Một năng lực được kết trong phương pháp "Tam Mật Gia Trì" khi sử dụng. Và chính bản thân tôi khi sử dụng lúc đó vẫn không biết "Tam Mật Gia Trì" là gì nữa. Sau này, khi gạp Ân sư của tôi (qua điện thoại)- Đức Thầy đã chỉ dạy cho tôi và nhiều lần tôi đã dùng pháp này và đạt được rất nhiều linh hiển và may mắn. Và ngày hôm nay, tại bài viết này tôi muốn nói lên trên bước đường tu Mật Tông của mình, bản thân tôi đã đạt được nhiều sự thanh thoát và thoải mái. Thật an toàn vì bên cạnh tôi đã có Đức Sư Tổ Triệu Phước - Đức Quí và Đức Ân Sư Nguyễn Mai dìu dắt và hướng dẫn, dạy dỗ. Bài này và những bài viết khác sau này, mặc dù nội dung và văn tự không mấy hoàn thiện nhưng nếu như nó có được sự ảnh hưởng và kiến tạo thành phước báu, công đức. Con xin nguyện kính dâng lên Đức Sư tổ và Đức Ân sư để hầu đền đáp lại sự chỉ dạy của Tổ, Thầy. Xuất xứ từ web: vutruhuyenbi.com The Mystical Universe
-
Ly tán giữa vàng son. Ở chùa Bút Tháp, tôi gặp lại hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc. Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (tượng chùa Mật hiện đặt ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) Hồi mới vào đại học, tôi từng gặp được bà. Ở sảnh trưng bày mỹ thuật cổ Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có pho tượng quý được đặt trong lồng kính. Đó là hình ảnh hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (ngày xưa đặt ở chùa Mật, Thanh Hóa). Bà hoàng phục sức lộng lẫy, thần thái sống động như vẫn còn hơi thở. Nhưng trông bà xa cách và cô độc. Còn ở đây, trong phủ thờ chùa Bút Tháp, hoàng hậu Ngọc Trúc là một người khác hẳn, chỉ mặc tấm áo kép đơn giản, tóc buông thả xuống lưng. Trên người bà không có chút gì vướng bận danh phận của một người có địa vị cao nhất trong xã hội Lê - Trịnh lúc bấy giờ. Cạnh bên bà là con gái ruột - công chúa Lê Thị Ngọc Duyên. Khung cảnh tình thân ấy lại đặt để giữa chốn Phật môn có điều gì đó khiến chúng tôi phải chạnh lòng. Sử sách nói rằng năm 1630, chúa Trịnh Tráng đem con gái Trịnh Thị Ngọc Trúc gả cho vua Lê Thần Tông. Điều đau lòng trong câu chuyện này là bà Ngọc Trúc chính là vợ góa của Cường quận công Lê Trụ (chú họ vua Thần Tông), là người đàn bà đã có bốn con. Dưới sự sắp đặt kỳ quặc (và tàn nhẫn?) của cha, bà phải tái hôn, lên ngôi hoàng hậu. Bà hoàng khi ấy không chỉ có vai vế là trưởng bối mà còn hơn vua Thần Tông đến mười hai tuổi. Còn Lê Thần Tông khi lấy bà Ngọc Trúc, cả triều đình đều can, nói: “Đã trót rồi, lấy gượng vậy. Từ đó trời mưa dầm không ngớt”. (Theo Đại Việt sử ký toàn thư) Bỏ qua hết những lý giải chính trị và thời cuộc, đây là một câu chuyện gia đình thật sự buồn. Bà Ngọc Trúc lên ngôi hoàng hậu không được bao lâu thì bỏ cung lên chùa làm người tu hành thật sự, mang theo con gái Ngọc Duyên (là con của bà và Lê Trụ). Tôi có ý tìm nhưng không thấy sử sách ghi gì về ba người con còn lại của bà (với Lê Trụ), cũng không có ghi chép bà có đứa con nào với vua Thần Tông. Hai cuộc hôn nhân đến với cuộc đời một người đàn bà. Cuối cùng là một kết cục buồn thương với chia ly và mất mát. Cũng như những câu chuyện gia đình ly tán khác, mỗi người trong cuộc đều nhận lấy một số phận có quá nhiều điều chưa thỏa nguyện. Trong buổi chiều vắng lạnh, khói hương thắp lên cứ quẩn một chỗ không tan ra được. Không biết các bạn tôi nghĩ gì? Riêng tôi chạnh lòng nghĩ tới công chúa Ngọc Duyên. Một thân phận cành vàng lá ngọc như nàng, dẫu đã cách chúng tôi hằng mấy trăm năm, vẫn có khác bao nhiêu. Ngồi bên cạnh mẹ mình đã bao thế kỷ trong phủ thờ heo hút của một ngôi chùa, nàng có bao giờ mong ngóng gặp lại cha mình, có bao giờ luyến nhớ những giây phút gia đình đầm ấm hay buồn thương thời thanh xuân đã trôi qua phí hoài trong câu chuyện đau buồn của người lớn? Bạn tôi thắc mắc: vậy còn vua Lê Thần Tông trong câu chuyện này đâu phải là người ngoài cuộc? Cuộc hôn nhân của ông và bà Ngọc Trúc vốn từ lúc khởi đầu đã không thể tìm thấy điều gì có thể làm nên một câu chuyện gia đình bền chặt. Cho nên mấy trăm năm qua dù hình ảnh ông và hình ảnh bà Ngọc Trúc vẫn còn (trong khá nhiều di tích cổ), nhưng ông và bà không thể cùng ngồi lại bên nhau. Tuy ở chùa Mật ngày xưa vua Thần Tông ngồi giữa sáu bà hoàng của mình (các bà này được coi như là hoàng hậu, trong đó bà Ngọc Trúc là chính cung hoàng hậu) nhưng rồi khi chùa Mật không còn, người hậu thế đã đem bà Ngọc Trúc rời hẳn khỏi ông. Người ta dời tượng bà về đặt vào lồng kính ở Bảo tàng Mỹ thuật, trong khi năm bà vợ kia vẫn còn ngồi lại bên ông, được phối thờ cùng ông ở đền Vua Lê. Người nào đã làm công việc di dời tượng bà Ngọc Trúc hẳn ngoài mục đích thực thi nghiệp vụ bảo tồn còn gửi chút lòng cảm khái cá nhân của mình vào đó. Vì trong bộ sáu pho tượng nguyên bản của sáu bà hoàng tượng nào cũng tuyệt đẹp và đặc sắc, sao lại chỉ muốn dời mỗi tượng bà Trịnh Thị Ngọc Trúc? Có lẽ lòng người thời nào cũng vậy, trân trọng những mối quan hệ thực chất. Còn những gì không thật, những con người không dành cho nhau dẫu có phải gán ghép lại vì những mục đích hay nỗi niềm nào đó thì cuối cùng cũng phải chia lìa. Trong câu chuyện gia đình xưa cũ, đầy bi thương của hoàng tộc Lê - Trịnh ấy, ai cũng ngẫm nghĩ được vài điều gì đó cho riêng mình. Vậy mà trong những câu chuyện hằng ngày thời hiện đại, bọn trẻ tụi tôi (và cả những người nhiều tuổi hơn chúng tôi nữa) thỉnh thoảng vẫn cứ thung dung bước vào những sai lầm. Chuyện xưa và chuyện bây giờ nào có khác gì đâu. NGUYỄN THỊ NHƯ KHANH ( TTCT) nguồn giacngovn.online
-
- 2
-
-
Tử = Kim = ĐỨC Tốc Hỷ = Hỏa = URUGUAY Hỏa khắc Kim có nghĩa phần rủi ro nằm ở đội Đức do quẻ Tử nhưng màu áo sậm của Đức tương ứng ngũ hành là Thủy nên Kim sinh Thủy và Thủy khắc Hỏa (Uruguay) vì vậy chiên thắng của Đức khá vất vả. Nhưng Đức vẫn chiến thắng dù mang quẻ Tử. Có lẽ cách giải thích này sau khi có kết quả cũng giảm phần giá trị tuy thế Wild vẫn đưa lên cho AE cách này để thấy cái biến hóa vô cùng của LVĐT cần có nhiều yếu tố tương quan với môi trường, hoàn cảnh, cảm ứng và phương pháp luận. Thật sự đây là cách giải của BW trước khi đi vào trận đấu, nhưng Wild đã lười không post bài sớm. Đó là trách nhiệm của cá nhân Wild đối với tài luận đoán của BW.
-
Thật sự đọc bài của chị, tôi cũng không hiểu Chị muốn hỏi vấn đề gì?
-
Xác nhận Tk báo có 1,000,000 đ(một triệu đồng) của Chị Điệp đóng gopd cho Quỹ Từ Thiện Diễn đàn. Quỹ hiện có: 15,799,000đ +1,000,000đ=16,799,000đ(mười sáu triệu bảy trăm chín mươi chín ngàn đồng)
-
Cây trâu cổ . Vị thuốc tốt cho xương khớp Cây trâu cổ còn gọi cây xộp, vẩy ốc, bị lệ, mác pốp (Tày Nùng). Tên khoa học: Ficus pumila L., họ Dâu tằm (Moraceae). Cành, lá, và quả trầu cổ Trâu cổ là loại dây leo, mọc bò với rễ phụ bám lên đá, bờ tường hay cây cổ thụ. Toàn thân có nhựa mủ trắng. Lá mọc so le; ở các cành có rễ bám thì lá nhỏ, không có cuống, gốc lá hình tim, nhỏ như vẩy ốc nên có tên là "cây vẩy ốc". Bộ phận dùng là quả (tên thuốc là bị lệ thực, lương phấn quả, vương bất lưu hành); cành mang lá, quả non phơi khô (tên thuốc bị lệ lạc thạch đằng). Trong vỏ quả chứa đến 13% chất gôm, khi thuỷ phân cho các đường đơn: glucose, fructose, arabinose. Thân và lá có mesoinositol, sitosterol, taraxeryl acetate, amyrin. Hạt quả có chứa polysaccharid. Theo Đông y, quả có vị ngọt, tính mát, có tác dụng bổ thận tráng dương, cố tinh, hoạt huyết, lợi thấp, thông sữa. Dùng làm thuốc bổ, chữa di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày, kinh nguyệt không đều, viêm tinh hoàn, phong thấp, ung thũng, thoát giang (lòi dom), sa dạ con, tắc tia sữa và đái ra dưỡng chấp. Thân và rễ: vị hơi đắng, tính bình, có tác dụng khu phong, hoạt huyết, tiêu thũng, tán kết và giải độc. Dùng chữa phong thấp tê mỏi, sang độc ung nhọt và kinh nguyệt không đều.Lá có vị hơi chua chát, tính mát, có tác dụng tiêu thũng giải độc. Dùng chữa viêm khớp xương, nhức mỏi chân tay, đòn ngã tổn thương, mụn nhọt, đinh sang ngứa lở.Trâu cổ được dùng làm thuốc trong các trường hợp: Chữa tắc tia sữa, sưng vú, ít sữa:quả trâu cổ 40g, bồ công anh 15g, lá mua 15g. Sắc uống. Kết hợp dùng lá bồ công anh giã nhỏ, cho ít dấm, chưng nóng chườm hay đắp ngoài. Cao quả trâu cổ: quả chín thái nhỏ, nấu với nước, lọc bỏ bã, cô thành cao. Ngày uống 5 - 10g. Dùng chữa đau xương, đau người ở người già, làm thuốc bổ, điều kinh, giúp tiêu hoá. Rượu bổ chữa di tinh liệt dương: cành và lá, quả non phơi khô 100g, đậu đen 50g. Xay thô 2 thứ và ngâm trong 250ml rượu trắng, ngâm 10 ngày, ngày uống 10 - 30ml Chữa dương uỷ, di tinh: quả trâu cổ 12g, dây sàn sạt 12g. Sắc uống. Chữa thấp khớp mạn tính : cành trâu cổ 20g, rễ cỏ xước 20g, thổ phục linh 20g, rễ tầm xuân 20g, dây rung rúc 12g, thiên niên kiện 10g, rễ gấc 10g, lá lốt 10g, dây đau xương 10g, tang chi 10g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô; sắc với 400ml nước, cô thật đặc, khi dùng hoà với rượu, chia làm 3 lần, uống trong ngày. Nước thanh nhiệt giải khát :quả chín rửa sạch, xay nhuyễn, cho qua túi vải ép lấy nước cốt. Để yên một lúc nước này sẽ đông thành khối thạch trắng; thái thành sợi, thêm nước đường và hương liệu để uống. TS. Nguyễn Đức Quang (Nguồn Suckhoedoisong)
-
- 2
-
-
Địa đạo Củ Chi Thuộc 5 đường Hầm Trứ Danh Thế Giới
wildlavender posted a topic in Thông Tin Cập Nhật
Địa đạo Củ Chi thuộc 5 đường hầm trứ danh thế giới Địa đạo Củ Chi ở Việt Nam là một trong 5 đường hầm lạ nhất thế giới cùng với đường hầm xuyên biển Manche, nối Anh với Pháp và đường hầm qua vịnh Tokyo, Nhật. Đường hầm là một con đường dưới đất, được xây dựng nhằm giải quyết nhu cầu ngày càng tăng về đường sá, cầu đường. Đường hầm có thể là một lỗ khoan khổng lồ xuyên núi hoặc nằm vài chục mét dưới mặt nước biển. Dưới đây là những đường hầm lạ, nổi danh thế giới. Đường hầm xuyên biển Manche Đường hầm xuyên biển Manche, nối Anh và Pháp dài 50,5km được xây dựng năm 1994 với chi phí lên tới hơn 20 tỷ USD. Ý tưởng xây đường hầm qua kênh Anh đã bị chế giễu suốt vài năm và nó không thể triển khai vì vô số lý do, gồm cả kỹ thuật và chính trị. Những máy móc hiện đại được phát minh cùng với khối lợi ích không thể phủ nhận khi kết nối hai nước với nhau đã khiến dự án trở nên khả thi và cuối cùng cũng thành hiện thực. Đường hầm buôn lậu ở biên giới Mexico-Mỹ Ngày 25/1/2006, đường hầm buôn lậu lớn nhất từ trước tới nay được nhà chức trách Mỹ và Mexico phát hiện tại biên giới hai nước. Đường hầm dài 720m chạy từ một nhà kho gần sân bay Tijuana, Mexico tới một nhà kho khác ở San Diego, Mỹ. Khi bị phát hiện, không có người nào trong đường hầm nhưng nó chứa 2 tấn marijuana. Đường hầm cao 1,5m và sâu 27m dưới đất. Nền đường hầm được lát xi măng và tường được đắp bằng đất sét, đèn được lắp ở một bên của đường hầm. Trong hầm còn có hệ thống thông gió, hệ thống thoát nước. Nhà chức trách cho biết, không rõ đường hầm này đã được dùng bao lâu rồi. Đường hầm xâm nhập tại Bán đảo Triều Tiên Những năm 1970, có ba đường hầm khác nhau được tìm thấy dọc theo một trong những biên giới tranh chấp nhất thế giới. Năm 1990, một đường hầm thứ tư được phát hiện ở khu vực phi quân sự trên Bán đảo Triều Tiên. Đường hầm thứ 3 trong số 4 đường hầm trên, còn được gọi là đường hầm gây hấn, chỉ còn cách thủ đô Seoul của Hàn Quốc 44km. Những đường hầm bí mật này tạo cho người Triều Tiên một lợi thế lớn trong việc tiến hành một chiến dịch quân sự lớn chống lại đối phương hùng mạnh là Hàn Quốc. Các đường hầm này đều rất lớn, mỗi giờ đều có nguyên một đơn vị quân đội qua lại. Đường hầm Củ Chi Mê cung khổng lồ dưới đất tại Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến thời người dân địa phương chống Pháp và Mỹ. Địa đạo Củ Chi dài từ 120km tới hơn 240km. Trong những năm gần đây, địa đạo Củ Chi trở thành một điểm du lịch rất được ưa chuộng. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất. Đường hầm xuyên vịnh Tokyo Đường hầm kết hợp với cầu bắt đầu tại thành phố Kawasaki, Nhật Bản. Đường hầm dài 9,6km cùng với 4,8km cầu. Con người bắt đầu qua lại đường hầm vào năm 1997. Sử dụng đường hầm kết hợp với cầu này, những người qua lại giữa thành phố Kawasaki và Kisarazu sẽ tiết kiệm được 45phút mỗi ngày. Điều độc nhất vô nhị về đường hầm kết hợp với cầu là một khu để xe lớn nằm trên đỉnh đường hầm nhân tạo, được xây dựng ở lối vào của hầm. Theo Vietnamnet-
- 1
-
-
Người Hà Nội đổ xô mua cóc “vàng” Bước sang năm Canh Dần, ở Hà Nội rộ lên xu hướng mua cóc “vàng” 3 chân về trưng bày hoặc thờ cúng để cầu may, khiến cóc "vàng" đẻ ra vàng cho những người kinh doanh nó! Tại các cửa hàng bán hàng phong thủy và đồ đồng trên phố Hàng Đồng, Hàng Quạt, Ngô Thời Nhậm, Bà Triệu, Hàm Long, Phố Huế... của Hà Nội, lượng khách vào tìm mua cóc “vàng” tăng đột biến trong những ngày đầu năm. Cóc “vàng” còn gọi là thiềm thừ có đủ mọi chất liệu từ đồng nguyên chất đến các loại đá tự nhiên, đồ sứ mạ vàng, nhựa... Thầy tử vi “bấm” nên phải mua! Anh Nguyễn Đình Vinh, Giám đốc Công ty TNHH Trường Phát (Hà Nội), đã đi nhiều cửa hàng bán hàng phong thủy và thờ cúng tìm mua một con cóc “vàng” ưng ý về để thờ. Sau cùng, anh Vinh đã chọn một con cóc “vàng” bằng đồng nguyên chất khá to, trị giá gần 5 triệu đồng. Anh Vinh bộc bạch: “Thầy xem tử vi “bấm” tôi phải mua cóc vàng về thờ thì sẽ giữ được của. Nếu không, làm được bao nhiêu cũng “trôi” hết”. Chị Nguyễn Thị Thúy, chủ cửa hàng bán hàng thờ cúng Cường Thúy (23 phố Hàng Đồng), cho hay cóc “vàng” bằng đồng và các chất liệu khác xuất hiện trên thị trường từ vài năm trở lại đây nhưng chỉ rộ lên từ Tết Nguyên đán đến nay. Trung bình, mỗi ngày, cửa hàng này bán được trên dưới 10 cóc “vàng”, cao hơn nhiều so với những ngày trước Tết. Theo chị Thúy, sở dĩ người dân đổ xô đi mua vì cóc “vàng” ba chân được nhiều người xem là biểu tượng của thần tài, đem lại may mắn trong kinh doanh. Vào dịp đầu năm, người dân thường đi lễ đền, chùa và mua hàng thờ về để cầu may mắn, phát tài. Thượng vàng hạ cám cóc “vàng” Hiện nay, trên thị trường hàng thờ, phong thủy ở Hà Nội có rất nhiều loại cóc “vàng” với đủ hình dáng, kích thước, chất liệu khác nhau từ các loại đá tự nhiên cao cấp như ruby, bạch ngọc, bích ngọc đến bằng vàng, đồng nguyên chất, nhựa, sứ mạ vàng... Nhóm cao giá nhất là cóc “vàng” bằng đá tự nhiên như ruby tới gần 50 triệu đồng/con, bạch ngọc từ 8-10 triệu đồng/con... Loại cóc “vàng” được người mua ưa chuộng nhất là bằng đồng nguyên chất, rỗng ruột, với đủ loại kích cỡ, trọng lượng từ vài lạng đến trên 10 kg, đa dạng về xuất xứ và có giá thành từ 200.000 đến trên dưới 5 triệu đồng/con. Anh Hòa, chủ cửa hàng đồ thờ Dung Hoa (27 phố Hàng Đồng), cho hay hiện nay, trên thị trường giá cóc “vàng” bằng đồng do một công ty liên doanh trong nước sản xuất đắt gấp 3-4 lần so với hàng do Trung Quốc sản xuất. Giá cóc “vàng” của Đài Loan cũng đắt hơn hàng Trung Quốc vì bóng hơn và khó bị ôxy hóa. Điều đáng tiếc là nhu cầu thị trường rất lớn nhưng các làng nghề đúc đồng truyền thống VN lại chưa xâm nhập được thị trường này. Ông Nguyễn Đình Hải (làng đúc đồng Võ, Quảng Phú, Lương Tài, Bắc Ninh) phân tích hiện nay, các làng nghề trong nước chưa thể sản xuất được vì sản phẩm kém tinh xảo như hàng nhập. Cũng theo ông Hải, để làm ra những chú cóc “vàng” các làng nghề phải đầu tư dây chuyền công nghệ khá tốn kém. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng bình dân, cóc “vàng” còn được làm bằng nhựa mạ vàng, bằng sứ mạ vàng... Mỗi chú cóc “vàng” bình dân có giá từ vài chục đến vài trăm ngàn đồng. Chuyện "chơi" cóc "vàng", thờ cúng nó là chuyện tâm linh hoặc mê tín, tùy theo suy nghĩ của mỗi người. Nhưng chắc chắn chỉ có cậu cóc "vàng" ngồi đó không thôi thì làm sao chủ nhân của nó có thể phất lên, đổi đời được!?. Cóc "vàng" 3 chân... hiện đại ! Theo truyền thuyết dân gian, tài thần có văn tài thần và võ tài thần. Nhưng liên quan tới con cóc (thiềm thừ), thì phải nhắc đến truyền thuyết "Lưu Hải câu cóc". Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, tác giả cuốn Thần tài, tín ngưỡng và tranh tượng (NXB Văn hóa, 1997), trong các vị thần tài mà dân gian đang thờ, có một vị tiên được tôn tài thần là Lưu Hải. Vị tiên này thường được thể hiện là một chàng trai trẻ, tay cầm một sợi dây ngũ sắc buộc một con cóc ba chân – gọi là thiềm, hay mang trên vai những sợi dây buộc quả trứng với các đồng tiền vàng. Theo truyền thuyết, ông ta là tể tướng dưới triều vua Thái Tổ đời Lương (907-926). Sau đó, ông ta từ quan về ở ẩn. Lưu Hải đã gặp Lữ Đồng Tân – một trong bát tiên và học được bí pháp luyện quặng vàng thành linh đan trường sinh bất tử. Ông sống đời ẩn sĩ và đã tu thành tiên.Một truyền thuyết khác lại cho rằng Lưu Hải là con trai một lái buôn người Phúc Kiến. Ông ta đã câu được một con cóc ba chân ở một cái giếng. Lưu Hải về sau đã trở thành tiên. Ảnh tượng thường thể hiện Lưu Hải câu cóc và Lưu Hải luôn mang sợi dây kết những đồng tiền vàng nên được thế nhân cho là tài thần. Những người làm nghề thương buôn thường thờ Lưu Hải, dán tranh vẽ Lưu Hải trên hai cánh cửa tiệm buôn để cầu tài. Trong những năm gần đây, có một loại tượng cóc ba chân (và cóc ngậm đồng tiền vàng) đã được tạo tác độc lập không gắn với truyền thuyết Lưu Hải, bán rộng rãi trên thị trường và con vật này coi như có uy linh thần kỳ phò trợ cho sự làm ăn buôn bán phát tài, sự giàu có! Có thể nói đó là loại cóc "vàng" 3 chân... hiện đại! (Theo Người lao động)
-
Đám mây kỳ thú tại Vũng Tàu Chiều 8/7, trên bầu trời Vũng Tàu xuất hiện một hình ảnh khác thường. Phía sau đám mây đen to có một đám mây sáng màu sắc lung linh như vầng hào quang. Hình ảnh này lưu trên bầu trời Vũng Tàu khoảng 20 phút. Đám mây nằm ở phía núi Lớn và xuất hiện vào giờ tan sở nên nhiều dân được chiêm ngưỡng. Những người đi đường đã dùng điện thoại để ghi lại khoảnh khắc thiên nhiên kỳ thú này. Hình ảnh ban đầu của đám mây. Đám mây sáng màu lung linh sau vần mây đen Trời càng dần về chiều, đám mây cũng dần biến màu. Rất nhiều người đi đường đã dừng xe chiêm ngưỡng hiện tượng thiên nhiên kỳ thú Văn Thanh nguồn vnexpress.net
-
Bạch Tuộc Paul Với Lý Học Đông Phương
wildlavender replied to Nguyên Anh's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
Khả năng tiên đoán thần kỳ của động vật Tiên tri bạch tuộc Paul không phải là con vật duy nhất có khả năng dự đoán đặc biệt. Việc sử dụng động vật để dự báo về tương lai đã có từ lâu trong lịch sử. Từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, người ta thường nghiên cứu ruột động vật để phỏng đoán tương lai, Telegraph cho biết. Một số loài vật cũng có khả năng cảm nhận những thay đổi mà con người không thể nhìn thấy. Đến tận thế kỷ 20 người ta vẫn thường đưa các con chim bạch yến xuống hầm mỏ để kiểm tra hàm lượng khí độc có thể gây ra các vụ nổ. Người ta cũng tin rằng một số loài vật như rắn có thể dự đoán được những thảm họa thiên nhiên như động đất và sóng thần. Các chuyên gia cho rằng các con vật có khả năng cảm nhận được sự rung động của mặt đất hay nhận ra những biến chuyển trong khí quyển. Và trong nhiều thế kỷ nay khi những con bò nằm xuống là người ta nghĩ ngay rằng sắp có mưa. Người Mỹ còn tin rằng chuột chũi cũng có thể dự báo thời tiết. Thời điểm một con chuột chũi chui ra khỏi hang ổ có thể quyết định bao lâu thì mùa đông chấm dứt. Một nghiên cứu năm 2004 thì tìm thấy một số con chó có thể dự đoán khi nào một đứa trẻ bị lên cơn động kinh. Trong số 60 con được nghiên cứu, 15% phát hiện ra những dấu hiệu co giật tiềm ẩn. Tuy nhiên, còn nhiều con vật có khả năng đoán trước được những điều phi thường. Con mèo Oscar đã gây sốt trên báo chí vào đầu năm nay khi đoán trước được cái chết của những người sống tại Trung tâm chăm sóc và phục dưỡng Steere House ở Rhode Island, Mỹ. Con mèo 5 tuổi này cứ đến nằm cạnh những bệnh nhân vài giờ trước khi họ qua đời và đã dự đoán đúng 50 cái chết. Một con chó tại nhà dưỡng lão ở Ohio, Mỹ, cũng có những biểu hiện tương tự đối với các bệnh nhân sắp chết. Chú chó Jim tại Louisiana, Mỹ, thì được đặt tên là "Siêu khuyển" khi làm đúng theo các chỉ dẫn thậm chí bằng tiếng nước ngoài, ký hiệu viết tắt và cả mã Morse. Nó còn đoán đúng kết quả của các trận thi đấu bóng chày thế giới và giới tính của những em bé chưa sinh. Những con vật khác kém thành công hơn. Con khỉ Armani ở Mỹ đoán rằng Hillary Clinton sẽ đắc cử tổng thống, hay cá heo Sacy tại Argentina chọn quả bóng có màu cờ Argentina thay vì cờ Đức để đoán kết quả trận tứ kết World Cup năm nay. Diệu Minh -
Vẹt dự đoán Hà Lan vô địch World Cup Trong khi mọi người đang hồi hộp chờ đợi bạch tuộc Paul chọn đội nào trong trận chung kết World Cup sắp tới, thì một con vẹt ở Singapore đã dự đoán Hà Lan vô địch. Con vẹt mang tên Mani ở sống ở khu dân cư của người Ấn Độ tại Singapore đã làm nghề "thầy bói" trong nhiều năm nay. Nó thường giúp ông chủ của mình đoán tương lai, vận mệnh cho các khách hàng. Hôm qua, chủ của Mani đã cho con vẹt dự đoán World Cup bằng cách đặt sấp hai thẻ có dán quốc kỳ của Hà Lan và Tây Ban Nha trước mặt con vật. Sau đó, Mani đã tiến lên và mổ vào thẻ có chứa cờ Hà Lan. Ông chủ con vẹt nói: "Tôi tin chắc chắn 100%, những gì nó chọn đều đúng hết". Video vẹt Mani chọn đội Hà Lan. Trước đó, chủ nhân của "nhà tiên tri hai chân" cho biết nó cũng đã đoán đúng cả 4 trận trong vòng tứ kết của World Cup 2010. Trong khi đó, các đài truyền hình Đức, Hà Lan và Tây Ban Nha đang chuẩn bị phát sóng trực tiếp từ Viện Hải dương học ở Oberhausen, Đức, hôm nay, để xem "tiên tri" bạch tuộc Paul dự đoán kết quả của hai trận cuối cùng trong giải World Cup năm nay như thế nào. Diệu Minh nguồn vnexpress.net
-
Làm Thế Nào để Mời được Các Sư Phụ Về Xem Giúp Phong Thủy ạh!
wildlavender replied to Hoa kien truc su's topic in Phong Thủy
Chào bạn! Chú Thiên Sứ rất thường xuyên ra hà nội, nếu có cơ duyên bạn nên chờ sp để thực địa thì vẫn tốt hơn. Nếu gấp bạn có thể liên hệ Hoàng Triệu Hải vừa được chính thức bổ nhiệm Trưởng Văn Phòng HN, từ tháng 2/2010, tất nhiên HTH đủ tài và đủ năng lực để giúp gia đình bạn và tất cả các bạn Thành viên tại hànội, đồng thời luôn được sự hổ trợ trực tiếp từ Sp trong những ca phức tạp. Việc bạn nhờ và liên hệ Phạm Cương là tùy sự chọn lựa của bạn, nhưng thông tin đến bạn là Anh Phạm Cương đã vì lý do sức khỏe và bận việc chuyên môn nay đã không phụ trách công việc tại Trung Tâm nữa. -
Dược thiện khi gan nhiễm mỡ Khi gan nhiễm mỡ, tùy theo triệu chứng đi kèm để phân ra nhiều thể khác nhau, mỗi thể nên chọn món ăn, thức uống thích hợp để giúp điều trị hiệu quả. Kinh nghiệm Đông y có các món ăn, thức uống sau đây dành cho người bị gan nhiễm mỡ: - Thể can khí uất: Người bệnh tức ngực, trướng bụng, đau tức hạ sườn phải, ăn chậm tiêu, ợ hơi, người bực dọc, dễ cáu gắt. Món ăn, thức uống thích hợp: + Dùng 100 g gạo tẻ nấu thành cháo nhừ rồi cho vỏ quýt khô (15 g phơi khô tán nhỏ) trộn đều, hạ lửa nhỏ nấu sôi lại, chia 2 lần ăn lúc đói bụng. + Ép 100 g củ cải trắng lấy nước, 5 trái quất bỏ hạt, giã nát. Trộn đều nước củ cải và quất, thêm 20 g mật ong, hòa với 300 ml nước sôi. Chia 2 lần uống trước bữa ăn. - Thể khí trệ huyết ứ: Đau tức hạ sườn phải, gan sưng to có thể sờ thấy được, lưỡi đỏ tía, mạch căng như dây đàn. Món ăn, thức uống thích hợp: + Sấy khô, tán vụn 3 g củ tam thất, 3 g trà xanh. Hai thứ hãm với 200 ml nước sôi trong 10-15 phút. Uống thay trà và có thể ăn luôn cả xác. + 10 g nghệ vàng, 10 g vỏ quýt khô. Hai thứ phơi khô tán nhỏ cùng 3 g trà xanh. Chia 2 lần sắc uống. - Thể đàm thấp: Thường gặp ở người béo phì, bụng to, tay chân nặng nề, yếu mỏi không có sức, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng dày. Món ăn, thức uống thích hợp: + 15 g sơn tra xắt mỏng, 15 g lá sen phơi khô, bóp vụn. Trộn hai thứ nấu chung với 600 ml nước, sắc còn 300 ml, chia 2 lần uống trong ngày. + 30 g ý dĩ nhân, 50 g lá sen tươi thái nhỏ. Hai thứ nấu chung với 100 g gạo tẻ thành cháo nhừ. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng. - Thể tì khí suy: Người bệnh suy nhược cơ thể, mệt mỏi không có sức, hơi thở ngắn, ăn uống kém, bụng đầy, đại tiện phân lỏng. Món ăn, thức uống thích hợp: + 15 g sơn tra xắt mỏng, 100 g bột bắp trộn đều với nước nóng. Nấu sơn tra với 1 lít nước, đun sôi nhỏ lửa khoảng 20 phút. Cho hồ bột bắp vào nồi, vừa đổ vừa quậy đều cho tan bột. Dùng ăn điểm tâm. + 20 g củ khoai mài ngâm nước cho mềm. Cà rốt 50-80 g bỏ vỏ, xắt lát. Hai thứ nấu cùng 100 g gạo tẻ thành cháo nhừ. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng. - Thể can thận âm hư: Người bệnh đau tức vùng hạ sườn phải, chóng mặt, ù tai, đau lưng mỏi gối; lòng bàn tay, bàn chân và ngực đều nóng, người gầy, da khô, khát nước, tiểu tiện vàng. Món ăn, thức uống thích hợp: + 30 g hà thủ ô nấu với 1 lít nước, sắc còn 500 ml. Dùng nước vừa đủ để nấu với 100 g gạo tẻ và đại táo (4-6 trái bỏ hạt) thành cháo nhừ. Cho đường phèn hoặc mật ong vào khuấy đều. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng. + 15 g hải sâm ngâm nước ấm, 15 g mộc nhĩ trắng ngâm nước nửa ngày cho mềm, bỏ cuống. Hai thứ nấu với 100 g gạo tẻ thành cháo nhừ, thêm gia vị. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng. - Thể thấp nhiệt và đàm ứ: Gan sưng to đau tức; mắt vàng; da vàng; miệng khô, đắng; nước tiểu vàng; người buồn bực, dễ cáu gắt; rêu lưỡi vàng, dơ. Thường gặp ở người bị viêm gan vàng da, viêm gan siêu vi (B, C), người nghiện rượu. Nếu gan nhiễm mỡ do can đởm thấp nhiệt thì dùng: + Cúc hoa 15 g. Thảo quyết minh 30 g sao vàng, tán nhỏ. Hai thứ hãm với 200 ml nước sôi trong 15 phút. Chia nhiều lần uống thay nước trà. + Bí đao 350 g bỏ vỏ, hạt. Nấm rơm tươi 150 g. Cho nước rau củ vào chảo cùng với bí đao và nấm rơm. Nấu lửa lớn cho sôi, hớt bỏ bọt, nêm gia vị, cho sôi riu riu đến chín đều. Rưới bột ướt và dầu mè vào, trộn đều. Ăn trong bữa cơm hoặc ăn riêng. Theo Lương y Đinh Công Bảy / NLĐ
-
- 1
-