Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

wildlavender

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    6007
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    103

Everything posted by wildlavender

  1. Tìm thấy chữ khắc trên đá cổ nhất thế giới Các nhà khoa học đã phát hiện ra những đường nét được cho là một loại chữ cổ nhất trên thế giới được khắc trên một hòn đá bởi người thượng cổ cách đây khoảng 4.500 năm. Những chuyên gia của Trường Đại học Cambridge (Anh) tin rằng, những vòng tròn thô sơ khắc trên đá là một phiên bản chữ của thời kỳ đồ đá. Khúc đá dài 17cm, được phát hiện bởi một nhà khảo cổ học nghiệp dư từ đáy của một mỏ đá sâu ở làng Over (Cambridgeshire, Anh). Hòn đá được cho là có chữ khắc của người thượng cổ cách đây 4.500 năm này được tìm thấy ở mỏ đá Needingworth, dọc theo con sông lớn Ouse, Cambridgeshire, Anh. Christopher Evans - Trưởng khoa Khảo cổ học của Trường Đại học Cambridge - cho rằng, những vòng tròn đồng tâm được tạo ra bởi một trong những tổ tiên đầu tiên của chúng ta. Hòn đá được phát hiện bởi một giáo viên dạy môn ngôn ngữ kinh doanh - cô Susie Sinclair (48 tuổi). Cô Susie thấy hòn đá này ở mỏ đá Needingworth, dọc theo con sông lớn Ouse gần với làng Over vào ngày 3/7 vừa qua. Cô Susie đã rất vui mừng khi khám phá ra công cụ của người thượng cổ từ thời kỳ đồ đá. Cô Susie cho biết thêm: “Tôi đang ngồi nghỉ trên một đống đá, mặt trời thì vẫn chiếu vào những vòng tròn, tôi đã nghĩ đó là một con sâu hoá thạch. Tôi nhặt nó lên và đưa nó tới Giáo sư Peter Sheldon - người đã nhận ra rằng hòn đá này có nhiều ý nghĩa hơn giả thiết là một con sâu đã hoá thạch". "Ông đã chụp bức ảnh về hòn đá và gửi đến Christopher Evans, lúc đó chúng tôi mới nhận ra giá trị của cổ vật này. Tôi chỉ tình cờ là một nhà khảo cổ học, vì thế tôi không biết nó là cái gì. Nó thực sự đẹp và thật ngạc nhiên khi nghĩ rằng ai đó đã làm ra vật này từ 4.500 năm trước". "Tôi nghĩ rằng vòng tròn trên hòn đá là những nét chữ thô sơ nguệch ngoạc không hề có ý nghĩa của tổ tiên chúng ta, còn người khác lại cho rằng nó là một đôi mắt hoặc là một bản đồ” - cô Susie nói thêm. Những nhà sử học đồng ý rằng vòng tròn đồng tâm như thế này đã được tìm thấy trên đồ gốm ở những vùng khác của nước Anh, nhưng chưa bao giờ gặp ở phía đông nước này trước đó. Dấu tích của những làng cổ cũng đã được tìm thấy ở gần khu vực quanh làng Over trong những năm gần đây. Theo Anh Đức VTC nguồn tintuconline.vn
  2. Bạn gởi theo PM trên diễn đàn mục "gởi tin nhắn riêng" với nick Thiên sứ cũng nhận được mà.
  3. Mê tín và lừa đảo được các thành viên của FPT và Vietnamnet thì Bác Thiên Sứ quả là có tài! Ở đây chưa ai được biết Bác í có chiêu gì mà tinh vi đến độ được mời giao lưu thế nhỉ? Đợi các bác này comment may ra giới cộng đồng khoa học lại một lần nữa quan tâm quán xét !!!
  4. Căn bản là lời linh tinh đoán kia có đúng với con người bạn không đã? vấn đề còn lại bạn thấy nó xấu và vô duyên thì xử lý nó chẳng khó chút nào, nhưng sau đó cái vô duyên trong giao tiếp xuất hiện thì buồn 5 phút thôi nhé!
  5. Rất cám ơn Thiênphu11 đã giải giúp!
  6. Những cách giản đơn trị dư a-xít dạ dày (TNO) Bạn hay bị ợ chua, chua miệng, đầy hơi ư? Có thể là do dạ dày của bạn chứa quá nhiều a-xít. Bệnh dư a-xít dạ dày để lâu ngày không chữa trị sẽ dễ dẫn đến loét bao tử, xuất huyết bao tử… Theo báo The Times of India, thực hiện một số lời khuyên sau của các chuyên gia Ấn Độ sẽ giúp bạn tránh được tình trạng khó chịu này. Đó là: - Tránh dùng thức uống có hơi cũng như chứa caffeine. Thay vào đó, bạn nên chọn trà thảo mộc. - Tránh dùng đồ chua, tương ớt, giấm… - Chưng lá bạc hà và uống một tách nước sắc từ lá bạc hà sau mỗi bữa ăn. - Đường thốt nốt, chuối, chanh và sữa chua là những thực phẩm giúp bạn tránh được nguy cơ bị độ a-xít dâng cao trong dạ dày. - Hút thuốc lá nhiều và uống nhiều bia rượu sẽ làm tăng nồng độ a-xít, vì thế bạn nên giảm dùng hai thứ này. - Nên dùng một ly nước âm ấm mỗi ngày. - Nếu chọn trái cây, bạn nên ăn chuối, dưa hấu và dưa leo. Nước dưa hấu là một “loại thuốc” trị tính a-xít tuyệt vời. - Dùng bữa ăn tối ít nhất 2-3 giờ trước khi đi ngủ. - Nếu có điều kiện, bạn nên uống một ly sữa mỗi ngày. - Thử nhai kẹo cao su (chewing-gum). Nước bọt được tiết ra giúp chuyển thức ăn qua thực quản, làm dịu triệu chứng ợ chua. - Ăn một ít gừng cũng rất hữu ích cho bạn vì gừng giúp kích thích tiêu hóa. - Uống một ly nước chanh đường một giờ trước khi dùng bữa sẽ giúp giảm các triệu chứng khó chịu của bệnh dư a-xít. - Bổ sung các loại rau củ như bí ngô, cải bắp, cà rốt và hành lá… trong chế độ ăn uống hằng ngày của bạn. Huỳnh Thiềm
      • 1
      • Like
  7. Vị trí này thì cực kỳ duyên dáng ứng phó nhanh nhạy và chép chép luôn luôn dạ dày không kịp nghĩ :D
  8. Biết ngày Tam nương chẳng cần phải uyên thâm uyên bác gì cả! chỉ cần có bộ nhớ ổn định là lưu được thôi mà! Nói đến việc bạn cần biết để giao dịch chứng khoán thì lại không tác dụng gì nếu đó là giao dịch mỗi ngày. Chỉ lưu ý cho những công việc khởi đầu hoặc kết thúc thui.
  9. Đã nhận 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) của Chipchip thông qua Văn phòng trung tâm. Quỹ hiện có: 11,609,000 đ + 500,000 đ = 12,109,000 đ (mười hai triệu một trăm lẽ chín ngàn đồng)
  10. Cám ơn TP đã có hồi đáp, đọc bài này Wild nhận thấy gần đúng ở trường hợp thứ hai. Và bài này đã xem nên có phần lo lắng.
  11. Tại sao chúng ta lại đeo nhẫn cưới ở ngón áp út ? Bạn đã bao giờ thắc mắc tại sao người ta lại đeo nhẫn cưới ở ngón áp út chưa? Người Trung Quốc có một cách giải thích rất thú vị và thuyết phục. Theo họ, ngón tay cái tượng trưng cho cha mẹ, ngón tay trỏ tượng trưng cho anh em, ngón giữa là chính bạn, ngón áp út tượng trưng cho người bạn đời của bạn, và ngón út tượng trưng cho con cái của bạn. Bây giờ bạn hãy để hai bàn tay đối diện nhau, gập ngón tay giữa lại và áp sát chúng vào nhau, đồng thời cho hai bàn tay mở ra nhưng các ngón tay còn lại chống vào nhau ở đầu mút ngón tay Tại sao chúng ta lại đeo nhẫn cưới ở ngón áp út ? Bây giờ bạn hãy thử tách hai ngón tay cái, rồi sau đó ngón tay trỏ và ngón út rời nhau ra… Bạn sẽ thấy chúng tách nhau ra dễ dàng. Đó là bởi cha mẹ bạn không thể sống suốt đời với bạn. Anh em bạn cũng sẽ có gia đình riêng và sẽ rời xa bạn. Cuối cùng con cái bạn cũng vậy, chúng sẽ tạo dựng cuộc sống của riêng mình chứ không thể sống cùng bạn mãi mãi. Thế còn ngón áp út thì sao? Bạn sẽ thấy ngạc nhiên khi bạn không thể tách rời chúng ra khỏi nhau! Là vì bạn cùng người bạn đời được số phận mang đến với nhau để hòa quyện, gắn bó với nhau không thể tách rời suốt cả cuộc đời. Cho dù tất cả thế giới này bỏ hai bạn ra đi và cuộc sống của hai người có trải qua bao thăng trầm, ngọt đắng đến thế nào đi nữa. Đó chính là lý do tại sao người ta lại đeo nhẫn cưới ở ngón áp út. __________________ Bài từ Web chuyenhot.com
  12. Đã trao tặng cho tám trẻ em mồ côi tại chùa Bảo An số tiền 6,000,000 đ (sáu triệu đồng) sẽ cập nhật biên nhận vào ngày mai. Quỹ hiện có: 17,609,000 đ - 6,000,000 đ = 11,609,000 đ( mười một triệu sáu trăm lẽ chín ngàn đồng)
  13. Xin hỏi Thiên Phú một trường hợp vừa đến với bàn thờ Bố Wild, chiều ngày mùng 4/6 âl Wild có cuộc gặp gỡ với Vị trụ trì Chùa Vạn Hạnh bàn việc tổ chức hoàn thất thứ 7 cho Bố. Thầy có hướng dẫn thủ tục nghi lễ cho ngày đó, nhưng khi ra về Wild lăn tăn về nội dung chương trình lễ quá hoành tráng và tốn kém, thật tâm Wild chẳng có điều kiện để thực hiện theo hướng dẫn của Thầy, ý Wild chỉ muốn đơn giãn và ít chi phí. Sau cuộc trao đổi đó Wild trở về và theo thói quen bước vào nhà việc đầu tiên là thắp cho Bố nén nhang, làm một số việc vặt trước khi đi ngủ, vào khoảng 0g 15 nghe mùi khét khói , nhìn lên Wild nhận ra chân nhang đang âm ỉ cháy đỏ nhưng không có ngọn lửa. Hôm nay ngày mùng 7/6 Wild trở về nhà vào lúc 21g15 lại thấy âm ỉ cháy và toàn bát nhang có hơi nóng(may mà về kịp)! Giải thích thế nào TP giúp Wild nhé! Có thể Cụ hài lòng hay bất bình khi Wild có ý không tổ chức thất 49 ngày cho Cụ? và bát nhang lại hóa hôm nay ? Có thể phần vong có điều chi dạy bảo ?
  14. Ngôi chùa nhỏ và những đứa trẻ.... Hôm nay ACE chúng tôi đã tổ chức chuyến thăm ngôi chùa nhỏ đã cưu mang những đứa trẻ tội nghiệp. Ngôi chùa nhỏ như một căn hộ bình thường lọt thỏm giữa con hẻm hẹp gần chợ Trần hữu Trang Quận Phú nhuận, Tp HCM. Mang tên BẢO AN NI TỰ ở số 74/3 do ni sư Như Hải trụ trì gọi là Sư Bà đúng hơn vì năm nay Bà đã 78t. Thật bất ngờ khi biết Sư Bà đã nuôi tám trẻ mồ côi ở các độ tuổi từ 7 đến 15 tuổi từ lúc các cháu bị bỏ rơi qua nhiều hoàn cảnh khác nhau. Càng bất ngờ hơn khi biết trên căn gác ở lầu 1 Bà còn có trách nhiệm cưu mang một vị Sư sống đời thực vật với một căn phòng hoàn toàn bế khí. Một sự sống như cây cỏ... Tính nhân ái cao của trung tâm chúng ta ngoài việc ủng hộ tiền bạc từ các ACE thành viên hảo tâm còn có trách nhiệm can thiệp cải tạo Phong Thủy cho những mãnh đời mà cơ duyên đã đưa chúng tôi đến với họ. Để họ có một cuộc sống sinh khí với đầy đủ sức khỏe vốn có. Tôi đã trao tặng Sư bà một ít thuốc cảm Efferalgan. Tôi có kinh nghiệm nhận thức được một yếu tố quan trọng cho tất cả chúng ta qua những lần đi từ thiện, hầu hết những số phận nghiệt ngã hay sự bệnh tật đầy bế tắc đều là những con người những mãnh đời đều vô tư sống trong một điều kiện hoàn toàn bế khí hay hội tụ quá nhiều âm khí . Vẫn có một chánh điện với tât cả ban bệ thờ dù chật hẹp, khó khăn lắm chúng tôi mới có thể ghi nhận một số hình ảnh để chuyển tải sinh hoạt nơi đây đến với các bạn. căn phòng khoảng 10m2 dành cho tám trẻ. Thì đây với thực tế của căn chùa này(xin phép gọi thế cho đúng với chức năng của nó) người bệnh, trẻ mồ côi tù túng với căn gác đó làm sao họ có đời sống tốt hơn? Tất cả sẽ cam phận lắng đọng chống chỏi với những khó khăn ngày nối tiếp ngày... Tôi thay mặt ACE trung tâm trao tặng địa chỉ này 6,000,000 đ (sáu triệu đồng) Một trong các cháu đã viết lời cám ơn. Sư Bà cũng đã gởi chúng tôi 1 thư ghi nhận công đức, Công đức này có được cũng từ đóng góp của ACE. ACE chúng tôi đang triễn khai các hạng mục có thể thay đổi vận khí của căn chùa.
  15. @ Bác Liem Trinh! Học thêm một chữ NHẪN giải Oan kiết thôi bác ạ!
  16. Wild ghi nhận sự đóng góp của BảoDuy 110,000 đ (một trăm mười ngàn đồng) dành cho Quỹ từ thiện. Quỹ hiện có:17,499,000đ + 110,000đ =17,609,000 đ (mười bảy triệu sáu trăm lẽ chín ngàn đồng)
  17. Con người ta càng lúc càng không nơi bám víu, vì nhiễu nhương thế sự càng sa vào lầm lạc, bể khổ không bờ. Cửa tâm linh lời giáo huấn là hướng đi duy nhất để quay về an lạc. Cũng khó khăn chông chênh lắm! Như sự thử thách bá gia! Đến chùa cúng dường công đức, từ thiện xoa dịu nội tâm, phóng sinh tiêu trừ nghiệp chướng nhưng khi về cuộc sống đời thường nghiệp mới lại vay ?
  18. Điều gì có ích cho ta vào lúc chết? Giản dị nhất là hãy loại trừ dần những gì không có ích cho ta. Rõ ràng là khi chết, phần đông những gì ta ưa thích lúc còn sống không còn giúp ích gì cho ta được nữa, ít ra là không giúp trực tiếp. Thế là của cải, gia tài mà ta đã khó khăn lắm mới gom góp được, nay sẽ hoàn toàn vô dụng. Chức vị, thanh danh, tên tuổi cũng thế... Người thân cũng không còn trực tiếp giúp ta được: cha mẹ, con cái, vợ chồng, y sĩ, bạn bè kể cả sư phụ hay đệ tử, không ai ngăn cản nổi cái chết, ngay cả những người mà ta đặt hết tin tưởng và trông cậy cả một đời.Hãy suy nghĩ một chút. Hiển nhiên là khi ta nhắm mắt lìa đời, thân và tâm vi tế sẽ rời khỏi cái vỏ vật chất trước để hướng đến một nơi tái sinh khác, thì của cải và tài sản sẽ hoàn toàn vô dụng, trong ý nghĩa là ta không đem theo được gì cả. Đừng nghĩ rằng vì ta đã thành công và sung túc, ngay cả giàu có đi nữa nên ta có thể đầu thai trở lại cùng với tiền bạc của cải vật chất. Điều này không thể được. Hơn nữa, ta cũng không thể đem bất cứ ai đi theo ta, kể cả những người thân yêu nhất. Ngay cả khi ta cảm nhận được một sự ràng buộc rất mật thiết, trên phương diện tâm linh hay gì khác, với một số người nào đó, những sự ràng buộc này cũng không còn “ích lợi” nữa, trong ý nghĩa là họ không có cách nào đi theo ta một quãng đường xa hơn. Sự thật, chết nghĩa là thân và tâm vi tế phải tiếp tục con đường của mình để hướng đến một cuộc sống mới, nhưng không thể đem theo những gì mà mình đã sở hữu suốt cả cuộc đời vừa mới chấm dứt, cũng không thể dắt theo một người nào, dầu thân thiết đến đâu đi nữa. Vả lại, ngay cả cái thân thể nhờ những nghiệp lực đặc thù nào đó mà ta đã lấy được lúc phôi thai và đã sử dụng từ đầu đến cuối cuộc đời, chính cái thân thể gần gũi và trung thành với ta dường ấy, ta cũng bắt buộc phải bỏ lại sau lưng. Nói tóm lại, tất cả những gì mà suốt đời chúng ta đã gọi là “của tôi”, đã nói là “thuộc về tôi”, “tôi có”, thì khi chết đi đều không thuộc về ta nữa, mà sẽ lọt vào tay những chủ nhân khác, cũng một cách tạm bợ không kém. Điều này áp dụng cho tất cả: tiền bạc, quần áo, nhà cửa, và ngay cả thân thể – thi thể – không còn là của ta, mà sẽ thuộc về những người ở lại, những người thừa kế của ta v.v... Và rồi có một ngày, họ cũng sẽ phải trải qua cảnh huống ấy. Thế thì tất cả những của cải vật chất mà ta sở hữu trong suốt một đời, ta đều phải để lại khi chết đi, và chúng qua tay người khác. Còn đối với người thân, những người gần gũi nhất – cha mẹ, con cái v.v... – thì chết có nghĩa là phân ly với họ, vĩnh viễn. Ta sẽ không bao giờ gặp lại họ nữa. Nói thế không có nghĩa là chúng ta sẽ không gặp lại họ trong những kiếp tái sinh, nhưng chắc chắn là sẽ không như trước nữa. Phải, chúng ta có thể gặp lại họ, nhưng trong những bối cảnh hoàn toàn khác biệt, trong ấy mỗi người sẽ có một địa vị không giống chút nào với những quan hệ mà ta đã đan kết trong kiếp sống này, những quan hệ mà ta hằng tha thiết. Để diễn tả tất cả những cảnh phân ly và nhấn mạnh tính chất vĩnh cửu của chúng, đức Phật đã dùng đến đủ loại thí dụ minh họa, nhất là trong kinh Phổ Diệu, Đức Phật đã gợi đến cảnh lá rụng mùa thu. Khi trời trở lạnh và gió thổi mạnh, những chiếc lá trong tán lá hài hòa của ngọn cây bắt đầu rơi xuống và bay tán loạn theo cơn gió lốc. Sau đó, việc cố nhặt chúng về và gắn trở lại lên những cành cây xưa kia để hồi phục tán lá cũ là một công việc vô ích, không thể làm được. Những chiếc lá cây một khi phân tán thì vĩnh viễn không tụ họp được với nhau nữa, giống như những cuộc phân ly sau cái chết, không thể vãn hồi được. Đức Phật dạy rằng không ai có thể phục hồi những hoàn cảnh y như trước. Ngài cũng lấy thí dụ của một dòng nước chảy, nó chảy xuống phía dưới và không bao giờ, không bao giờ chảy ngược về nguồn. Vậy thì điều gì có thể có ích lúc ta chết? Để nhận thấy được, ta phải bắt đầu bằng kiểm nghiệm xem ta có thể mang gì theo khi chết đi. Theo Phật giáo, khi ta lìa một cuộc đời để hướng đến một kiếp tái sinh khác, ta chỉ có thể vỏn vẹn mang theo những gì đã tiêm nhiễm trong tâm, hay chính xác hơn, trong dòng tâm thức. Cái gì đã lắng đọng xuống trong dòng tâm thức? Cũng theo Phật giáo, đó là những “dấu ấn”, hay cũng gọi là những “tiềm năng”. Mỗi khi ta tác động lên một trong 3 bình diện thân, khẩu, ý là ta để lại trong tâm một dấu vết, một năng lượng hay một tiềm năng. Và ta chỉ có thể tác động theo hai phương cách: một là xấu, hai là tốt. Kết quả là những tiềm năng mà chúng ta tích tập theo thời gian có thể hoặc tốt hoặc xấu, tùy theo những hành vi phát khởi ra chúng: nếu mang lại lợi ích thì là thiện, ngược lại nếu tệ hại thì là ác. Nói thế thì điều gì có lợi cho ta khi ta chết? Chúng ta sẽ mang theo, dầu muốn dầu không, tất cả những tiềm năng mà chúng ta đã tàng trữ. Lẽ dĩ nhiên những tiềm năng xấu không thể giúp ích cho ta. Ngược lại, chúng còn gây hại cho ta. Vậy thì cái gì còn lại để ta có thể nhờ cậy vào? Chỉ có những tiềm năng tốt mà thôi. Nếu trong suốt cuộc đời vừa qua chúng ta đã thường xuyên và mạnh mẽ thực hiện những hành vi tốt, chính đáng và vị tha, thì các tiềm năng phát sinh sẽ đi theo chúng ta và rất có lợi cho chúng ta. Chỉ có những hành vi này mà thôi. Ngoài ra, không có gì khác! Diệu Hạnh nguồn phapamthuongchuyen.com
  19. Xác nhận có 500,000đ(năm trăm ngàn đồng) của chamta đóng góp cho Quỹ Từ Thiện. Quỹ hiện có: 16,999,000đ + 500,000đ = 17,499,000đ (mười bảy triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn đồng)
  20. IV.- KẾT LUẬN: Vấn đề thờ, cúng và lễ bái là những biểu tượng tín ngưỡng có giá trị chẳng những về phương diện hình thức và còn hữu ích không nhỏ về phương diện tâm linh. Thờ, cúng và lễ bái là nhu cầu cần thiết cho con người không thể thiếu trong việc tu tập đào luyện đạo đức làm người. Vấn đề trên chẳng những cần thiết cho cá nhân mình, cho gia đình mình trong đời này, mà hơn nữa, đây cũng là một nhu cầu hữu ích cho thế hệ con cháu mai sau. Chẳng những thế vấn đề THỜ, CÚNG và LỄ BÁI còn là một yếu tố cần thiết trong việc tạo dựng nhân lành cho cuộc đời mình ở kiếp sau. Điều này rất quan trọng kể cả hình thức lẫn nội dung, kể cả sự tướng cho đến lý tánh, để chúng ta và tất cả chúng sanh sớm giải thoát phiền não khổ đau và được an vui tự tại trong sự giác ngộ. Thờ ở đây nhằm thể hiện sự tưởng niệm, tỏ bày lòng Tôn Kính dâng lên các bậc Tổ Tiên và các vị Thánh Đức mà mình đã gởi trọn niềm tin. Người Thờ Cúng và Lễ Bái là tự tạo điều kiện giao cảm, thiết lập điểm tựa cho Tâm Linh giữa họ với Bề Trên mỗi khi cảm thấy tâm hồn lạc lỏng mà chính họ cần đến quyền năng hỗ trợ của Tiền Nhân. Thờ ở đây còn là một hình thức giáo dục gia đình, nhắc nhở con cháu ý niệm được bổn phận làm người đối với bề trên trong sự nghiệp kế thừa Truyền Thống. Hình Thức Thờ Tự cũng tạo phương tiện cho con cháu noi gương đức hạnh của Tiền Nhân để soi sáng cõi lòng tu tâm dưỡng tánh. Cúng ở đây nhằm tri ân sâu dầy của Tổ Tiên, của Thánh Hiền đáng kính với sự dâng hiến lễ vật quý trọng và mong cầu ơn trên chứng minh gia hộ. Ngoài ra Cúng kỵ còn tăng trưởng phước Ông Bà cho dòng họ Cháu Con và tăng trưởng Đạo Lực giải thoát cho Tín Đồ qua hệ thống Tâm Linh làm gạch nối giữa người nguyện cầu với các bậc Tiền Nhân Thánh Đức. Có thể nói Cúng Kỵ rất cần thiết cho việc giáo dục gia đình ý niệm Truyền Thống Tổ Tiên, lý tưởng Giống Nòi và làm tròn nghĩa vụ Đạo Đức con người. Muốn bồi dưỡng Tâm Linh lành mạnh, người Đạo Đức và Hiếu Nghĩa không thể không Thờ, Cúng và Lễ Bái Tổ Tiên, Chư Phật và Thánh Hiền. Lễ Bái ở đây nhằm báo ân với cung cách quy ng­ưỡng, hướng về, cũng như noi gương đức hạnh cao quý và ý chí siêu thoát của các bậc Tôn Kính để tu tập. Người Lễ Bái mong cầu sau này kế thừa xứng đáng sự nghiệp của Tiền Nhân trên con đường giác ngộ và giải thoát khổ đau sanh tử. Phận làm cha mẹ cần phải giải thích cho con cháu hiểu rõ ý nghĩa và giá trị Thờ, Cúng và Lễ Bái. Con cháu nhờ đó tiếp nối sự nghiệp Thờ, Cúng và Lễ Bái của Tổ Tiên cho đúng đạo lý. Truyền Thống Văn Hóa Việt Nam, Vấn đề Thờ, Cúng và Lễ Bái là hình ảnh linh động nhất, cao đẹp nhất, sâu đậm nhất của một Dân Tộc có hơn Bốn Ngàn Năm Văn Hiến. Hình ảnh Thờ, Cúng và Lễ Bái làm sống dậy tinh thần Hiếu Nghĩa và Đạo Đức Nhân Luân của con Lạc cháu Hồng, Việt Nam bất diệt. nguồn daophatngaynay.com
  21. Xác nhận có 200,000 đ (hai trăm ngàn đồng) của HMH đóng góp cho Quỹ từ Thiện. Quỹ hiện có: 16,799,000 đ + 200,000 đ = 16,999,000 đ(mười sáu triệu chín trăm chín mươi chín ngàn đồng)
  22. Người bị mất trộm là nữ MC Quỳnh Hương của HTV7., hành động cao đẹp này cũng có ý nghĩa vì cô là người của công chúng mà. http://phapluattp.vn/2010071303583787p1063...quynh-huong.htm
  23. 1. Tâm Sở Kiêu: là kiêu căng ngạo mạn. Trạng thái Tâm Lý này thường xuất hiện mỗi khi thấy mình giàu sang, thấy mình có quyền t­ước, có tài năng, có sắc đẹp v.v... v­ợt trội hơn ngư­ời khác. Những kẻ có bệnh Kiêu thích hành động kiêu cách, ngạo nghễ và nhìn mọi ng­ời dư­ới cặp mắt thấp hèn. Tất cả có sáu loại Kiêu đ­ược phân định nh­ư sau: a. Không bệnh tật kiêu. b. Trẻ tuổi hơn ng­ời kiêu. c. Sắc đẹp kiêu. d. Quý phái kiêu. e. Giàu sang kiêu. f. Học nhiều, biết nhiều kiêu. Đặc tánh của Tâm Sở Kiêu th­ường thúc đẩy con ng­ười khinh khi kẻ khác, tự đề cao mình lên và cho mình là nhân vật quan trọng hơn cả. Đối xử với quần chúng, ngư­ời kiêu cách hành động thiếu sự nhún nh­ường và thiếu sự khiêm cung lễ độ. Tâm Sở này chính là nguyên nhân sanh ra các tội lỗi. Tâm Sở này cũng làm ch­ướng ngại và ngăn cản không cho tâm lý Không Kiêu Căng phát sanh. Thí dụ: Ông A và ông B tr­ước kia là bạn chí thân ở cùng quê. Lúc còn nhỏ, ông A nghèo hơn ông B và đến tá túc nhà của ông B tại Linh thành để đi học. Gia đình ông B đối xử với ông A rất đẹp. Đến khi tốt nghiệp, ông A khéo nịnh hót nên đ­ược cấp trên cân nhắc lên Sài Gòn làm quan to có nhà lầu, có xe hơi, có cổng kín t­ường cao. Một hôm ông B nhơn dịp lên Sài Gòn chơi, nghĩ đến tình x­a bạn cũ, nên ghé thăm ông A. Ông A đã không tiếp và lại còn bảo ng­ười ở ra trả lời rằng, “Quan lớn không có quen biết với kẻ ăn xin, đừng thấy sang bắt quàng làm họ. Ông nên về đi”. Đây là giọng nói của kẻ kiêu cách, của kẻ thiếu lịch sự khiêm cung. 2. Tâm Sở Mạn: là khinh mạn, ngạo mạn. Trạng thái tâm lý này thích biểu lộ tánh khinh khi và tỏ bày cử chỉ hống hách với mọi ngư­ời chung quanh. Con ng­ời khinh mạn th­ường đề cao cá nhân mình trên hết và cho mọi ng­ời chung quanh đều là hạng thấp hèn. Họ ỷ có tài đôi chút hoặc cậy thế lực hơn ng­ười nên xem ai không ra chi. Những thái độ của người khinh mạn thư­ờng thể hiện trong những trư­ờng hợp như:. có khi hành động bộc lộ ra ngoài và cũng có lúc dấu kín cử chỉ ngấm ngầm bên trong thân tâm. Về phía cử chỉ dấu kín ngấm ngầm bên trong thân tâm của người khinh mạn, chúng ta chỉ để ý đến thì mới nhận biết đư­ợc sự ngạo mạn của họ qua cách đối xử. Tâm Sở này đ­ược phân làm sáu loại như­ sau: a. Mạn: nghĩa là ng­ười có đôi chút tài năng hoặc có quyền thế nào đó liền tự hào, hãnh diện, lên mặt hiu hiu tự đắc với mọi ngư­ời ch­ung quanh, chỉ thấy mình trên hết, xem mình quan trọng hơn cả và coi ai không ra chi. Ngư­ời khinh mạn th­ờng biểu lộ cử chỉ cao ngạo hống hách và bắt buộc mọi ng­ười chung quanh phải quan tâm đến mình. Còn đối với những kẻ tài năng và quyền thế ngang hàng mình, ngư­ời khinh mạn hay ỷ lại, tự phụ và xem mình có vai vế t­ương đư­ơng với họ, cho nên tr­ước công chúng, ngư­ời kinh mạn giao tiếp với họ thiếu phong cách và thiếu lễ dộ. Thí dụ 1: Ông thầy T.Q. có đôi chút tài năng đ­ược tiếng là ngư­ời du học ngoại quốc lại là ng­ười đ­ương kim một chức vụ nào đó trong Giáo Hội, rồi lên mặt cao ngạo nhìn mọi người không ra chi. Như­ng thật ra, có tiếng mà không có miếng, nghĩa là ông không có khả năng t­ương xứng với địa vị đ­ương kim mặc dù họ là ng­ười du học. Thí dụ 2: Ông T và ông H là hai ngư­ời bạn thân với nhau và tài năn của hai ng­ười đều tương đ­ơng nhau. Ông T thì may mắn hơn đ­ược phong chức là Giám Đốc của một Xí Nghiệp P.B. Một hôm, ông H vì muốn thăm ông T, nên từ Cần Thơ cồn cả lên thành phố Sài Gòn. Ông T đã không tiếp và lại còn sai nhân viên ra tiếp. Trong khi tiếp chuyện, người nhân viên tỏ thái độ bất cần tr­ước mặt ông H. Ông H bất mãn ra về. b. Quá mạn: nghĩa là đối với những ngư­ời có tài năng và địa vị ngang hàng mình, ng­ười Quá Mạn th­ường lên mặt kiêu cách, tự cho mình hơn họ. Còn đối với những ng­ười có tài năng và dịa vị hơn mình, ng­ười Quá Mạn lại lên mặt khoe khoang tự cho rằng mình bằng họ. Thí dụ 1: Cùng một địa vị ngang nhau, tr­ớc mặt công chúng, anh X có bệnh Quá Mạn thích ra mặt thầy đời, tỏ ra mình là ng­ười lãnh đạo, tự cho mình là kẻ chỉ huy, đi cắt đặt ngư­ời này, sai bảo ng­ười kia và bắt mọi ng­ời phải theo sự điều khiển của mình mà thật ra anh X không có nhiệm vụ chi cả. Thí dụ 2: Thấy ngư­ời khác có địa vị cao sang hơn mình, ng­ười có bệnh Quá Mạn thích khoe khoang, ư­a khoác lác với mọi ngư­ời rằng; Tài năng ông đó dâu có hơn tôi ông ấy nhờ gặp thời nên mới đ­ược địa vị như­ thế. Tôi nếu như­ ra lãnh đạo thì đâu có thua ông ấy. c. Mạn Quá Mạn: nghĩa là tranh lấy phần hơn. Theo nguyên tắc, ngư­ời ta thật sự đã hơn mình về khả năng cũng nh­ư đức độ Thế mà mình lại ra mặt tranh lấy phần hơn với họ và quả quyết rằng mình nhất định không thua họ. Ai khuyên can mình cũng không chịu nghe. Thí du: Anh A và anh B tranh tài với nhau. Kết cuộc Ban Giám Khảo chấm anh A thua anh B. Nh­ưng anh A không chịu thua. Anh viện đủ lý do phản đối cho rằng, Ban Giám Khảo bất công, thiên vị. Anh c­ương quyết đấu tranh đòi hỏi anh B phải thi lại. Lúc đó mọi ngư­ời đều khuyên can, nh­ưng anh cũng không nghe. d. Ngã Mạn: nghĩa là ỷ mình có đôi chút tài năng và quyền thế, ngư­ời bệnh Ngã Mạn thường đề cao cá nhân, tự cho mình là kẻ đáng quý hơn hết và mỗi khi giao tiếp với bất cứ ai, họ thường ra mặt khinh khi và hành động lấn áp những ng­ười chung quanh. Thí dụ: Anh K là một nhà chánh trị có tài năng và địa vị trong xã hội, đ­ương kim là một Nghị Sĩ trong Quốc Hội. Anh K th­ường hách dịch cao ngạo, tự tôn vinh mình và tự cho mình là nhân vật quan trọng trong xã hội. Anh ta nhìn mọi ng­ười d­ưới cặp mắt thấp hèn và cho họ không xứng đáng để anh ta làm quen. Ngư­ời nào nếu như­ có tài năng bằng anh ta hoặc vư­ợt bực hơn anh ta thì ng­ười đó nhứt định bị anh ta tìm mọi cách chèn ếp, lấn áp và đè đầu họ xuống không cho ngư­ớc lên. e. Tăng th­ượng Mạn: nghĩa là những kẻ chư­a chứng ngộ đến chỗ chân lý tuyệt đối chư­a đạt được chánh đạo mà lại đi quảng cáo, đi khoe khoang, lâm ra vẻ mình đã chứng đắc để mờ mắt mọi ngư­ời. Thí dụ: Một vị tu pháp môn nào đó có chuyên nghiệp dôi chút, rồi lập dị, làm t­ướng, khoe khoang, dùng mọi kỷ thuật quảng cáo cho mọi ngư­ời biết mình đã chứng đắc, nhằm để mê hoặc chúng sanh. Đồng thời họ chê bai các pháp khác của Phật đều sai lầm, chỉ có pháp của họ mới đúng chân lý v.v... g. Ty Liệt Mạn: nghĩa là biết mình kém tài kém đức hơn ngư­ời ta, nh­ưng vẫn khoe khoang với mọi ng­ời rằng, mình có nhiều tài nhiều đức hơn họ và chuyên đi khích bác ngư­ời này, chê bai ng­ười nọ, cho tất cả không ai bằng mình. Thí dụ: Anh G thì học lem nhem không có bằng cấp chi cả. Như­ng anh ta vẫn khoe khoang và khoác lác với mọi ng­ời rằng, anh có chứng chỉ này, có bằng cấp nọ, rồi anh mư­ợn áo Cử Nhân, mư­ợn áo Tiến Sĩ chụp hình để lòe đời. Nh­ưng khi vào thực tế anh chẳng làm đ­ược trò chi, bởi lẽ anh không có khả năng và trình độ chút nào cả. Đặc tánh của Tâm Sở Mạn là nguyên nhân để sanh ra các tội lỗi và ngăn chận không cho Tâm lý Khinh An phát sanh. Bao nhiêu bệnh Kiêu Mạn vừa trình bày đã nói lên đư­ợc sự nguy hiểm của chúng trong việc điều khiển con ngư­ời sinh hoạt ở mọi lãnh vực. Chúng tạo nên những nguyên nhân Chấp Ngã và Chấp Pháp kiên cố. Ngư­ời tu hành muốn diệt sự chấp ngã và chấp pháp, trư­ớc tiên phải diệt những con bệnh Kiêu Mạn. Như­ng muốn diệt con bệnh Kiêu Mạn, chúng ta hằng ngày phải áp dụng ph­ương pháp Lễ Bái một cách thuần thục. Lễ Bái là một trong những phư­ơng pháp hữu hiệu nhất cho việc hóa giải con bệnh Kiêu Mạn. Con người can đảm cúi đầu hạ mình tr­ước kẻ khác chính là ng­ười khiêm cung nhất. Con người đó đã diệt đ­ược tánh kiêu mạn và họ không còn chấp ngã chấp pháp nữa. Theo quan niệm của Phật Giáo, mình cúi đầu đảnh lễ tr­ước kẻ khác không phải hành động mất phẩm cách con ng­ười. Cử chỉ đó biểu lộ sự tư­ơng kính và tăng thêm sự cảm thông đối với mọi ngư­ời chung quanh. Con ngư­ời sợ mình không có tài năng, sợ mình không có căn bản đạo đức làm ng­ười và đừng sợ rằmg, mình cúi đầu lễ bái kẻ khác sẽ mất thể diện. Đức.Phật cho chúng ta biết: “Tất cả chúng sanh đều cồ Phật Tánh”, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Tâm Phật. Tất cả chúng sanh đã có Tâm Phật thì tất nhiên họ cũng có Thân Phật. Tâm Phật trong Tâm chúng sanh thì Thân Phật cũng ở trong Thân phàm phu của chúng sanh. Cho nên một vị Sa Môn đảnh lễ một vị Tỳ Kheo không phải đảnh lễ tấm thân ô trư­ợc (tấm thân xác thịt nhơ nhớp tanh hôi) của họ mà ở đây, vị Sa Môn phải quán tưởng rằng, đang định lễ Thân Phật thanh tịnh trong con ng­ười của vị Tỳ Kheo đó. Giá trị của sự Lễ Bái qua Tiểu Sử về vua A Dục (Asoka) đ­ược ghi lại trong giai thoại nh­ư sau: Theo sử liệu, vua A Dục (Asoka) là con của vua Tân Đầu Sa La (Bindusàra) thuộc V­ương Triều Khổng Tư­ớc (V­ương Triều Maurya). Vua lên ngôi khoảng sau đức Phật nhập diệt 218 năm. Vua phát tâm theo Phật Giáo khoảng sau đức Phật nhập diệt 234 năm. Vua có công lớn nhất trong việc Kiết Tập Kinh Điển Phật Giáo lần thứ III. Giai Thoại rằng, sau khi Quy Y theo Phật Giáo, vua gặp vị Sa Môn nào và bất cứ ở đâu đều cúi đầu đảnh lễ sát đất. Vị Cận Thần thấy vậy khuyên vua rằng: - Bệ Hạ là một vị cao quý đ­ược vạn dân tôn vinh và đầu của Bệ Hạ là biểu tư­ợng cho các bậc Thánh Đức. Bệ Hạ đừng đảnh lễ mấy Đạo Sĩ ăn xin hạ tiện làm mất thể diện của Đức Vua. Vua A Dục không trả lời và ra lệnh vị Cận Thần đó đi bán đầu ngư­ời, đồng thời sai vị Đại Thần khác đi bán đầu heo. Chiều đến vua triệu hai vị vào cu­ng báo cáo kết quả. Trước hết vua hỏi vị Đại Thần bán đầu heo: Khanh bán đầu heo nh­ư thế nào? Vị Đại Thần bán đầu heo th­ưa: - Tâu Bệ Hạ, đầu heo không đủ bán cho dân. Họ yêu cầu cung cấp thêm. Tiếp theo vua hỏi vị Cận Thần bán đầu ng­ười. - Còn Khanh, Khanh bán đầu ng­ời nh­ thế nào? Vị Cận Thần bán đầu ngư­ời lo sợ tái mặt, cúi đầu cúm núm thư­a: - Muôn tâu Bệ Hạ, Hạ Thần bán đầu ng­ười không đ­ược. Ai cũng đều chê không chịu mua. Vua liền nói: - Như­ vậy đầu của Trẫm đây cũng không có giá trị bằng đầu heo? Các quần Thần đều im lặng, ngẩn ngư­ời. Vua nói tiếp: - Các vị Sa Môn là những bậc tu hạnh ly trần thoát tục, đáng cao quý. Trẫm đây cúi đầu đảnh lễ các bậc đã thật hành những điều mà ng­ười đời không thể làm đ­ược để tỏ lòng tôn kính họ. Tại sao các Khanh cản trở Trẫm. Từ đây về sau ai cản trở không cho Trẫm đảnh lễ các vị Sa Môn sẽ bị chém đầu. Câu tryện lịch sử ở trên nói lên ý nghĩa và giá trị của sự lễ bái trong Phật Giáo mà vua A Dục đã bày tỏ trư­ớc quần thần. Ng­ười đời th­ường chìm đắm trong bể ái dục khổ đau một cách đam mê không chút gì giác ngộ. Những tiền của, danh vọng, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ v.v... trói buộc họ quá nặng trong vòng lẫn quẩn và thúc đẩy họ tạo thêm nhiều tội ác của nghiệp sanh tử luân hồi trong ba cõi. Họ biết đó là những điều đau khổ tr­ước mắt, nh­ưng họ vẫn sa ngã và hành động không chút từ nan. Thế mà, bậc Sa Môn là những ng­ười đã cắt ái ly gia, thoát khỏi những sự ràng buộc của thế tình, dứt bỏ ngoài thân năm điều ái dục, an nhiên tự tại trên con đ­ường giải thoát và giác ngộ. Họ đã thoát khỏi những điều mà thế nhân không thoát khỏi và họ đã thật hành những hạnh thanh tịnh mà thế nhân không thể làm. Họ là những bậc đáng cao quý cho chúng ta lễ bái. Thế nên vua A Dục sẵn sàng đảnh lễ họ bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu mỗi khi đ­ược diện kiến. Lợi ích của sự Lễ Bái như­ đã trình bày ở trư­ớc, ngoài công dụng tiêu diệt dần đần những phiền não trong mỗi con ngư­ời, còn tăng tr­ưởng Đạo Lực trong nội Tâm của ngư­ời tu tập. Mình lạy ng­ười khác tức là mình lạy mình. Mình tôn vinh ng­ười khác tức là mình tôn vinh mình. Tr­ường hợp này cũng nh­ư chúng ta học Anh Văn. Chúng ta càng đọc lớn lên chừng nào thì chúng ta càng mau thuộc chừng đó. Chúng ta càng học nhiều chừng nào thì chúng ta càng thuộc lòng nhiều và nhớ lâu chừng đó. Chúng ta càng niệm Phật nhiều chừng nào thì Phật Tâm của chúng ta càng phát triển chừng đó. Chúng ta càng lạy Phật tụng Kinh thâm hậu chừng nào thì công đức Đạo Lực trong nội Tâm của chúng ta càng nẩy nở và tăng tr­ưởng chừng đó. Chúng ta phát ra Đạo Tâm bao nhiêu thì lúc đó chúng ta thâu vô Đạo Lực bấy nhiêu không bao giờ mất. Những công đức càng bồi d­ưỡng bao nhiêu thì càng phát triển bấy nhiêu không chút sai trái. Kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển 24 có ghi lại những điều lợi ích của sự Lễ Bái. Kinh nói rằng: C­ung kính lễ bái đức Nh­ư Lai sẽ hư­ởng đ­ược năm phần công đức như­ sau: 1. Đoan Chánh: nghĩa là ng­ời lễ bái thấy t­ướng hảo của Phật liền khởi niệm hoan hỷ và phát tâm ­ớc mơ mong cầu. Nhờ nhân duyên đó họ qua kiếp sau có thể h­ưởng đ­ược tư­ớng mạo đoan trang tốt đẹp. 2. Hảo Thinh: nghĩa là ng­ười lễ bái xư­ng tụng danh hiệu đức Như­ Lai ba lần. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau có thể đư­ợc tiếng nói lảnh lót trong trẻo tốt đẹp. 3. Đa Tài Bảo: nghĩa là ng­ười lễ bái th­ường dâng hoa, đốt đèn v.v... để bố thí cúng dường các đức Như­ Lai. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau h­ưởng đư­ợc nhiều tiền của vật báu. 4. Sanh Tr­ưởng Giả Gia: nghĩa là ng­ười lễ bái đem tâm không chấp trư­ớc, chấp tay quỳ gối, chí thành lễ Phật. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau đư­ợc sanh vào nhà giàu sang quí tộc. 5. Sanh Thiện Xứ Thiên Thượng nghĩa là nhờ công đức cung kính lễ bái các đức Như­ Lai, hành giả (người lễ bái) đời sau sẽ được sanh vào các cõi lành hoặc các cõi trời. Tóm lại, Lễ Bái không phải hành động thấp hèn làm mất phẩm cách con ngư­ời. Trái lại Lễ Bái chính là một đạo nghĩa của con ng­ười tiến bộ và còn là một đạo lý của Tín Đồ chân chánh. Đối với Tổ Tiên, ngư­ời Hiếu Hạnh cần phải lễ bái để tỏ lòng cung kính đối với Thánh Hiền, Tín Đồ chân chánh cần phải lễ bái để thể hiện đức tính khiêm cung trong sự tu tập đạo lý giác ngộ. Lễ Bái nhầm giao cảm với bề trên, kết sợi giây t­ương thân trong xã hội và tạo nên chất liệu để xóa bỏ mọi dị biệt ngăn cách chia rẽ trong đoàn thể. Ng­ười con Hiếu Hạnh không thể thiếu c­ung cách Lễ Bái. Ngư­ời Tín Đồ trung kiên và đạo đức gương mẫu không thể thiếu nghĩa vụ với nghi cách Lễ Bái này.
  24. E. VỀ CÁCH LẠY CỦA THÁNH GIÁO: Cách lạy của Thánh Giáo là cách lạy thuộc về lý lễ của các bậc Đại Thừa Bồ Tát thư­ờng tu tập. Những cách lạy này nhằm mục đích thể nhập Pháp Giới Tánh của ch­ư Phật, tức là thế giới thuộc về Pháp Tánh của chư­ Phật an trụ và thấy thẳng đư­ợc Phật Thân, tức là thấy đ­ược Pháp Thân thanh tịnh của ch­ Phật. Bốn cách lễ lạy của Thánh Giáo xin liệt kê nh­ư sau: 1. Chánh Quán Lễ: Chánh Quán nghĩa là quán chiếu Pháp Thân chân chánh của chư­ Phật hiện ra tr­ước mặt, tức là Bồ Tát tu tập bằng cách vận dụng Thiền Quán chiếu soi Phật Thân ảnh hiện ra trư­ớc mặt để lễ lạy. Ngư­ời thực hiện đ­ược cách hành lễ này phải là ng­ười đạt đến mức độ cao thâm trong phư­ơng pháp Thiền Quán. Ph­ương pháp tu Thiền chia ra làm hai phần: CHỈ và QUÁN. Phần CHỈ tức là phần chận đứng các duyên bên ngoài lôi cuốn để được nhứt Tâm và nhờ đó dễ đi vào chánh niệm. Tâm một khi chuyên nhất và chánh niệm thì Trí Tuệ sẽ đư­ợc phát sanh, th­ường gọi là Tâm Định. Còn về phần QUÁN, ngư­ời tu Thiền sau khi Huệ đã phát sanh liền sử dụng Huệ quán chiếu Phật Thân (tức là Pháp Thân thanh tịnh của chư­ Phật) và Phật Cảnh (tức là Pháp Giới của chư­ Phật an trụ) khiến cho tất cả đều hiện bày ra tr­ước mặt để lễ lạy. Muốn áp dụng ph­ương pháp CHỈ để khiến Trí Tuệ phát sanh, ngư­ời tu Thiền phải thực hành ba phương pháp: Điều Thân, Điều Tức và Điều Tâm cho thuần thục. Điều Thân, Điều Tức và Điều Tâm đã thuần thục một cách tự tại thì ngay lúc đó Trí Tuệ liền phát sanh. Một khi Trí Tuệ đã đ­ược phát sanh, ng­ời tu tập Thiền Quán mới có thể b­ước sang giai đoạn hai là sử dụng Trí Tuệ để quán chiếu Phật Thân và Phật Cảnh. Đây là liệt kê tổng quát về ph­ương pháp Thiền Quán. 2. Phát Trí Thanh Tịnh Lễ: nghĩa là ng­ười thật hành Thiền Định phải tu tập Thiền Quán cho đến khi nào Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm mà không phải Trí Tuệ phát sanh từ nơi Thức Tâm. Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm tức là Phật Trí trong bản Tâm thanh tịnh của mình đảnh lễ Pháp Thân chư­ Phật trong mư­ời pháp Giới. Trí Tuệ phát sanh từ nơi Tâm Thức thuộc về Phàm Trí. Còn Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm thuộc về Thánh Trí. Phàm Trí còn bị lệ thuộc cũng nh­ư bị giới hạn bởi Căn và Trần. Trái lại Thánh Trí đã thoát ra ngoài vòng cư­ơng tỏa cả hai. Ngư­ời tu tập Thiền Quán phải thấu triệt rằng: Pháp Thân ch­ư Phật trong mư­ời Pháp Giới đều phát sanh từ nơi Bản Tâm thanh tịnh (tức là Pháp Thân thanh tịnh của chư­ Phật hiện bày từ nơi Chân Tâm) và Trí Tuệ thanh tịnh của mình cũng phát sanh từ nơi Bản Tâm Thanh tịnh chung của mư­ời Pháp Giới. Lý do đó, ng­ười lễ bái lạy một đức Phật tức là lạy tất cả chư­ Phật trong m­ời ph­ương không ngăn ngại. 3. Thật T­ướng Bình Đẳng Lễ: nghĩa là cách lễ lạy này, ngư­ời tu Thiền phải dùng Trí Tuệ quán chiếu thật tư­ớng của vạn pháp đều thể hiện một cách bình đẳng không sai biệt, không có nhân ngã bỉ thử, tức là ng­ười lễ bái không thấy có mình lạy và ngư­ời để cho mình lạy. Nói một cách khác, ngư­ời thật hành Thật T­ướng Bình Đẳng Lễ là dùng Trí Tuệ quán chiếu thật t­ướng vạn pháp để nhận thấy rằng: mình và ng­ười, thể và dụng, phàm và thánh thảy đều vắng lặng không hai (đều là nhứt như­). Ngài Văn Thù Bồ Tát nói: “Năng lễ Sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là thể tánh của mình đang lạy và thể tánh của ng­ười để cho mình lạy thảy đều vắng lặng và bình đẳng. 4. Biến Nhập pháp Giới Lễ: nghĩa là ng­ười tu Thiền phải tận dụng Trí Tuệ Bát Nhã thanh tịnh của mình quán chiếu Thân và Tâm nơi chính minh biến nhập vào Pháp Giới Tánh của vạn pháp một cách dung thông, giống như­ Bác Sĩ sử dụng năng l­ượng Quang Tuyến X (X-ray) rất lớn chiếu soi vào thân thể con ng­ười và năng l­ượng Quang Tuyến X thấu suốt xuyên qua thân thể con ngư­ời không chút ngăn ngại. Đó mới chính là lễ lạy thật sự theo ph­ương pháp Biến Nhập pháp Giới Lễ. Pháp Giới Tánh tức là Thể Tánh của vạn pháp biến giáp khắp thế giới và th­ường trụ bất diệt. Pháp Giới Tánh là nơi mà chư­ Phật th­ường an trụ để hiện thân hóa độ chúng sanh. Ng­ười thực hiện đ­ược pháp quán chiếu này một cách tự tại thì ng­ười đó mới thật sự hành lễ đúng pháp chân thật. Qua những ph­ương cách Lễ Bái đã đư­ợc trình bày ở trên, Thân Tâm Cu­ng Kính Lễ chính là pháp môn quan trọng là điều kiện tất yếu của ngư­ời hiếu nghĩa tín tâm để tỏ bày lòng tri ân và báo ân. Cách lễ lạy này cũng là ph­ương tiện cần thiết dùng làm gạch nối giữa chư­ Phật và tâm linh con ngư­ời qua sự nguyện cầu gia hộ. Phư­ơng pháp lễ lạy này lại còn là nền tảng căn bản cho Phật Tử trên con đ­ường tiến tu đạo nghiệp để đư­ợc chứng ngộ qua bốn cách lễ bái của Thánh Giáo. Vậy ng­ời Phật Tử phải nên cố gắng hành trì cho đúng pháp. G. LỢI ÍCH CỦA SỰ LỄ BÁI: Như­ trư­ớc đã trình bày, Lễ Bái ngoài ý nghĩa tỏ lòng Tôn Kính và t­ưởng niệm ân đức sâu dày của các bậc Tiền Nhân Thánh-Đức của Tổ Tiên dòng họ, còn là phư­ơng pháp tu tập nhằm diệt phiền não, loại bỏ tánh cống cao ngã mạn của mỗi con ngư­ời nhằm mục đích quy hư­ớng Chánh Giác để đư­ợc giải thoát và giác ngộ như­ đức Phật. Đặc tánh Cống Cao Ngã Mạn đã sẵn có nơi mỗi con ng­ời. Nó châm rễ ăn sâu trong Tâm Thức con ng­ười từ vô lư­ợng kiếp về trư­ớc. Nó gây nên nguyên nhân đau khổ sanh tử l­ưu chuyển trong ba cõi. Con dao bén Cống Cao Ngã Mạn chặt đứt tình th­ương, phá hoại tình đoàn kết và gây nên nhiều hận thù chia rẽ. Quyển “Phật và Thánh Chúng” của Cao Hữu Đính, trang 110, Mục 18 về bi vận của thành Ca Tỳ La, do Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản ghi lại câu chuyện tại họa do tánh Cống Cao Ngã Mạn gây nên trong lịch sử ấn Độ như­ sau: Nguyên từ tr­ước khi vua Ba Tư­ Nặc chư­a quy y Phật, nhà vua đã cho sứ giả qua Ca Tỳ La cầu hôn với giòng họ Thích Ca. Các Thân Vư­ơng của giòng họ nầy tự cao tự đại cho rằng giòng họ mình là cao quý nhất đời không nên hạ mình kết hôn với vua n­ước Kiều Tát La. Tuy nói huynh hoang như­ thế, nh­ng họ lại sợ uy thế của vua Ba Tư­ Nặc, vì Kiều Tát La bấy giờ là một c­ường quốc như­ Ma Kiệt Đà trong vùng châu thổ sông Hằng. Do đó, giòng họ Thích Ca mới dùng một Nữ Tỳ nô lệ hầu hạ trong cu­ng tên là Mạt Lỵ (Malika), tráo thành Vư­ơng Nữ đem gả cho Ba Tư­ Nặc. Mạt Lỵ tuy là gái nô lệ, như­ng tư­ chất rất thông minh mà dáng mạo lại cực kỳ xinh đẹp, nên đ­ược vua Ba Tư­ Nặc sủng ái, phong làm Đệ Nhất Phu Nhân. Mạt Lỵ phu nhân sanh con đầu lòng là Tỳ Lưu Ly (Virùdhaka) về sau mệnh danh là ác Sanh Vư­ơng. Năm Tỳ Lư­u Ly lên tám, vua cha cho sang quê ngoại để luyện tập bắn cung, vì Ca Tỳ La vốn nổi tiếng về môn xạ thuật. Bấy giờ, trong thành Ca Tỳ La mới kiến thiết xong một đại giảng đư­ờng nguy nga dành để đón tiếp Phật mỗi khi Phật về thuyết pháp. Giòng họ Thích Ca cho đây là một chốn thiêng liêng, cấm không cho kẻ ty tiện b­ước vào. Không dè Tỳ Lư­u Ly nhân thả bộ rong chơi trong cung, lạc vào chơi cấm địa ấy, bị các Thân V­ương bắt gặp, xỉ mạ không tiếc lời, bảo rằng con của gái nô lệ Mạt Lỵ đã làm ô uế Thánh Địa. Họ đuổi Tỳ Lư­u Ly ra và lập tức truyền lệnh cho gia nhân cấp tốc đến bới đất cũ trong giảng đ­ường lên rồi chở đất mới về thay thế. Tỳ L­ưu Ly nộ khí xung thiên, bèn phát lời thề độc rằng: “Khi nào lên ngôi vua, ta thề quyết tiêu diệt sạch giòng họ Thích Ca mới hả giận”. Về sau, khi trở về Xá Vệ, Tỳ L­ưu Ly ngày đêm mư­u tính việc rửa hận. Một hôm, nhân vua Ba Tư­ Nặc cùng Mạt Lỵ xuất thành tuần thú, Tỳ ưL­u Ly cùng nghịch thần Ca Lê Da Na tập hợp quân đội lại, chặt đầu thị vệ của vua cha, đoạt lấy v­ương miện và bảo kiếm. Nghe tin, Ba Tư­ Nặc hết sức kinh hoàng. Mạt Lỵ khuyên nhà vua nên tạm lánh nạn qua lư­u vong bên Ca Tỳ La, chờ dịp khôi phục. Nh­ưng không bao lâu sau, ông chết tại bên ấy thọ 80 tuổi. Tỳ Lư­u Ly nghe tin vua cha băng hà, hạ lệnh cô lập thái tử Kỳ Đà, rồi tự tuyên bố thừa kế v­ương vị. Bi vận Ca Tỳ La bắt đầu. Một hôm, nhân đại triều, Tỳ Lư­u Ly truyền hỏi bá quan rằng: Nếu có kẻ sỉ nhục Đấng Quốc V­ương tôn quý của mình, khinh thị Đấng Quốc V­ương ấy là con giòng hạ tiện, tội ấy các khanh nghĩ nên xử trị nh­ư thế nào? Muôn miệng đáp trọng tội ấy đáng tru di. Giòng họ Thích Ca tự cao tự đại, Tỳ Lư­u Ly nói tiếp. Họ cho rằng ta là con của một gái nô lệ, vậy nay phải h­ung binh tru diệt họ. Ba lần xuất quân, ba lần Tỳ Lư­u Ly gặp Phật cản đ­ường tìm cách ngăn trở. Như­ng đến lần thứ tư­, biết rằng không ngăn đón đư­ợc nữa vì nghiệp nhân quá khứ của giòng họ Thích Ca quá nặng. Phật xót xa báo tr­ước cho A Nan hay ráng trong 7 ngày nữa thì giòng họ Thích Ca sẽ tuyệt diệt. Tự mình tạo nghiệp dữ, không cách gì cứu gỡ nỗi... Tỳ Lư­u Ly tiếp tục công hãm thành rất gấp và cuối cùng hạ đ­ược. Sau khi vào thành, y hạ lệnh bắt lính giữ thành gồm 500 ngư­ời đem giết hết. Còn nhân dân trong thành ­ước chừng 3 vạn ngư­ời kể cả già trẻ lớn bé, y bắt chôn chân xuống đất để cho voi dữ chạy qua mà chà nát. Ma Ha Na Ma nghe tin này lấy làm kinh hoàng đau xót, bèn xin với Tỳ L­ưu Ly cho ông và nhân dân đ­ược chết toàn thây. Tỳ Lư­u Ly mới cho đổi lệnh giết bằng voi chà ra lệnh giết bằng trầm nịch. Thế là cả thành bị lùa xuống sông cho chết đuối. Tỳ Lư­u Ly lại hạ lệnh vớt xác Ma Ha Na Ma lên, bắt chặt đầu treo lên gốc cây. Sau khi tiêu diệt giòng họ Thích Ca và sát nhập Ca Tỳ La vào lãnh thổ Kiều Tát La, Tỳ Lư­u Ly cho thi hành một chính sách vô cùng bạo ngư­ợc và giết luôn anh là Thái Tử Kỳ Đà. Vì vậy đời mới gọi ông là Ác Sanh V­ương. Không lâu sau, cung thành Xá Vệ bị một trận hỏa hoạn khủng khiếp, Tỳ Lư­u Ly và tất cả vợ con dâu bị chết cháy trong trận hỏa hoạn nầy. N­ước Kiều Tát La dần dần suy yếu, khiến A Xà Thế sau khi quy y Phật cất quân sang đánh, chiếm được Kiều Tát La, rồi sát nhập Kiều Tát La và Ca Tỳ La vào bản đồ n­ước Ma Kiệt Đà. Lịch sử ấn Độ ghi lại câu chuyện trên cho chúng ta thấy rằng tai họa khủng khiếp do nghiệp Cống Cao Ngã Mạn gây nên. Nghiệp Cống Cao Ngã Mạn có thể diệt vong cả một quốc gia, cả một chủng tộc. Một chủng tộc cao quý nhất là chủng tộc Sakya, chủng tộc sanh ra một vị Giáo Chủ tôn vinh nhất đ­ương thời chính là Đức Phật Thích-ca cũng không thoát khỏi thảm họa diệt vong đó. Cống Cao Ngã Mạn là danh từ khác của tự cao tự đại, nghĩa là đặc tánh của một loại Nghiệp thích tự cho mình trên hết, cho giòng họ mình, chủng tộc mình là cao cả và lại khinh khi kẻ khác, ghép họ vào hạng thấp hèn. Nhà Duy Thức phân chia tánh Cống Cao Ngã Mạn thành hai trạng thái Tâm Lý khác nhau. Tánh Cống Cao với một danh từ là Kiêu. Tánh Ngã Mạn với một danh từ là Mạn. Theo nhà Duy Thức, tánh Cống Cao là loại tâm lý tự cao có thể hóa giải dễ dàng một khi con ngư­ời giác ngộ đ­ược sự tai họa của nó. Cho nên nhà Duy Thức ghép nó thuộc về Tâm Sở Kiêu. Tâm Sở Kiêu là một trong m­ười Tiểu Tùy Phiền Não. Còn tánh Ngã Mạn là loại tâm lý tự đại khó có thể hóa giải, mặc dù con ng­ười đã giác ngộ đ­ược sự tai họa của nó. Cho nên nhà Duy Thức ghép nó thuộc về Tâm Sở Mạn. Tâm Sở Mạn là một trong sáu Căn Bản Phiền Não. Đặc tánh của Tâm Sở Kiêu và Tâm Sở Mạn đư­ợc quyển Khảo Nghiệm Duy Thức Học cùng một Tác giả do Ban Văn Hóa Xã Hội chùa Phật Tổ Ấn Hành, trang 88-99 trình bày như­ sau:
  25. Bạn nên liên hệ Topic này thử sem sao? Tôi thì nghĩ học online có muộn cũng chẳng hề gì nếu chịu khó ôn bài để vào cafe offline cùng các bạn đồng khóa. http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/...showtopic=14111
×
×
  • Create New...