-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
Thế giới là một sự trình hiện, một dạng xuất hiện dưới mắt của một chủ thể. Như ta đã biết, cái "khách quan" đó phải cần một chủ thể nhận thức mới có. Vấn đề còn phức tạp và nan giải hơn khi ta nhớ rằng cái khách quan lẫn cái chủ quan là không có tự tính. Cả khách quan đang trình hiện lẫn chủ quan đang nhận thức đều là vô ngã, đều là Không. Đó là một nội dung cũng quan trọng trong Trung quán luận của đạo Phật và cũng là một điều hết sức khó hiểu cho những ai mới làm quen.
-
Phiếm luận về đạo hiếu của Chử Đồng Tử. Theo truyền thuyết dân gian, Chử Ðồng Tử là một người con rất có hiếu. Truyện Nhất Dạ Trạch trong Lĩnh Nam chích quái, ghi về cuộc đời buổi sơ thời của Chử Ðồng Tử như sau: "Tại làng Chử Xá, có người tên Chử Vi Vân, sinh được con trai đặt tên là Chử Ðồng Tử. Theo truyền thuyết dân gian, Chử Ðồng Tử là một người con rất có hiếu. Truyện Nhất Dạ Trạch trong Lĩnh Nam chích quái, ghi về cuộc đời buổi sơ thời của Chử Ðồng Tử như sau: "Tại làng Chử Xá, có người tên Chử Vi Vân, sinh được con trai đặt tên là Chử Ðồng Tử. Hai cha con bản tính từ hiếu. Một thời, nhà lâm đại nạn, tài sản tiêu tán, chỉ còn lại một cái khố. Cha con ra vào thay nhau mặc, đến khi bệnh nặng gần chết, người cha mới dặn dò Chử Ðồng Tử, hãy giữ lấy cái khố để mặc, còn chôn cha khỏa thân. Nhưng Chử Ðồng Tử không đành lòng thấy cha trần truồng nằm trong lòng mộ, nên chôn khố theo cha. Thế là từ ấy, Chử Ðồng Tử khỏa thân sống dọc theo bãi cát…". Như thế, niềm hiếu đạo của Chử Ðồng Tử là ở nơi ý nghĩ và hành động chẳng thà để tự mình bị lõa lồ còn hơn để thây cha trần truồng khi chôn cất. Trong truyện này, ta thấy vấn đề xoay quanh chiếc khố duy nhất giữa hai cha con Chử Ðồng Tử. Thực tế, cho dù nghèo đói đến đâu, cũng không lý nào mà cả hai cha con chỉ có được một chiếc khố để che thân. Cũng như câu dân gian thường nói "Nghèo đến nỗi không có mảnh đất để cắm dùi", lẽ là phải nói "Nghèo đến nỗi không có được một cái dùi để cắm đất". Cho nên, khi nói ra vào, cha con Chử Ðồng Tử thay đổi nhau mà mặc, vậy đến phiên người mặc nó, thì người đó làm gì? Tất nhiên là đi ra ngoài kiếm sống, sinh nhai. Không lý trong thời gian vật lộn với cuộc sống như vậy, cả hai cũng không thể dành dụm được một chút gì để có thể sắm thêm được một cái khố nữa hay sao? Sao phải cứ thay nhau mà mặc một chiếc, cho đến khi người cha chết rồi cũng phải chôn theo luôn để tự mình trần truồng như nhộng? Như vậy, ở đây, chiếc khố có ý nghĩa gì? Dĩ nhiên, khố là để che nơi kín đáo của con người, tuy kín đáo nhưng mà lại là nguyên ủy của sự sinh sôi nảy nở, sự truyền thừa nòi giống của con người. Một khi che kín lại, một mặt là để phù hợp với thuần phong mỹ tục khi sống trong khuôn khổ của xã hội, nhưng mặt khác thì lại che mất đi cái nguyên ủy, cái bản thể, cái chân tánh của con người. Cho nên hình ảnh một Chử Ðồng Tử lõa thể, có thể nói đó là hình ảnh nguyên sơ, trút bỏ hết mọi ngăn che, mọi hệ phược, để đạt đến cái mà Ðạo gia gọi là "xích tử", "hồn nhiên", hay "bản phác", và là điều mà Phật gia gọi là "không còn dính mắc", "không còn ràng buộc", tức là "giải thoát". Không còn gì cả, nên đạt được tất cả. Trở về với nguyên uyên của cái gọi là "bản lai diện mục" trong nhà Thiền. Rồi cũng chính nhân duyên hiếu hạnh chôn khố theo cha mà Chử Ðồng Tử mới có thể gặp được Tiên Dung khi nàng công chúa này lại chọn đúng vào nơi Chử Ðồng Tử ẩn vùi thân dưới cát. Thế là cả hai thành vợ thành chồng, cho đó là duyên tiền định. Nếu xét ở logic thông thường thì đây là chuyện hoang đường. Có lẽ vì thế mà xưa nay, chuyện Chử Ðồng Tử chỉ lưu truyền trong dân gian như là một huyền thoại, ngay cả khi được phái Nội Ðạo tôn xưng là biểu trưng cho đạo hiếu, là vị tổ của quan niệm về chữ hiếu của dân tộc Việt Nam, vẫn không được giới Phật gia lưu tâm đến. Cho nên, ta cần đặt vấn đề đọc lại chuyện Chử Ðồng Tử bằng một nhân sinh quan mới. Qua những điều trên, ta bắt đầu trực diện với hai lý tắc đáng kể. Trước nhất, một anh chàng nghèo xơ kiết xác, trọn đời không sắm được một mảnh vải để che thân, ở dưới tận cùng nhất của cái cùng cực thấp kém lại được sánh vai cùng nàng công chúa giàu sang cao ngất tột đỉnh trên nấc thang xã hội. Thực tế bất khả thể. Cả hai biểu trưng cho hai thái cực tương phản nhau. Có phải chăng vì là hai thái cực cho nên chung quy cũng phải quay về một mối nên cũng phải gặp gỡ nhau? Ðó là lý tắc uyên nguyên của Ðạo. Mà trong đạo Phật thì không cực đoan nào có thể tồn tại. Bởi vì còn cực đoan là còn nhị nguyên, còn có đối đãi, còn bị điều kiện tương ưng. Chỉ có trung dung, siêu việt cả hai để đi đến cái Một bất nhị mới có thể thấu triệt được chân lý trung đạo. Lý tắc thứ hai, chính ở nơi điều mà thế gian cho là duyên tiền định, ngay cả đến Chử Ðồng Tử cũng quan niệm "vợ chồng [họ] là do bởi Trời mà nên". Nhà Phật gọi đó là nhân quả. Từ nơi nguyên nhân là do lòng hiếu thúc đẩy phải chôn khố theo cha mới đưa đến kết quả là gặp được Tiên Dung, nên duyên vợ chồng. Giả dụ như mà Chử Ðồng Tử có khố, thì làm gì có việc chàng phải vùi mình dưới cát để trốn, mà chỉ có chuyện là nhởn nhơ đâu đó, thì duyên tiền định không đến mà nhân quả cũng chẳng thành. Ðây là lý tắc chủ yếu, phát sinh từ nơi lòng hiếu thảo của Chử Ðồng Tử đưa đến việc thành hôn cùng Tiên Dung, từ đó họ bắt đầu phát triển việc buôn bán (Chử Ðồng Tử còn được cho là ông tổ nghề thương buôn) dẫn đến cuối cùng gặp nhà sư Nhật Quang tại núi Quỳnh Viên nơi cửa biển Nam Giới, còn gọi là cửa Sót [Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, 1999, tr.19-22], thuộc Hà Tĩnh ngày nay, một cuộc nhân - quả, quả - nhân duyên khởi trùng trùng. Câu chuyện Chử Đồng Tử ẩn chứa nhiều triết lý của người Việt xưa cần được nghiên cứu và giải mã Sau khi gặp nhà sư Nhật Quang trên núi Quỳnh Viên và được truyền pháp, Chử Ðồng Tử lại còn được tặng cho một cây gậy và một chiếc nón và được sư dặn rằng: "Mọi việc linh thông đều ở đó". Gậy và nón gợi ra biểu tượng cho sự phồn thực, là một giải cách rất phù hợp, bởi vì từ nơi lòng hiếu thảo của Chử Ðồng Tử, chắc chắn khi sinh con đẻ cháu, hiếu đạo đó sẽ được truyền thừa và với sự linh thông giữa gậy và nón, chắc chắn truyền thừa đó đã trở thành bẩm sinh trong lòng con cháu của Chử Ðồng Tử, của những người con Việt, của dân tộc Việt Nam. Một giải cách thứ hai về sự linh thông của cây gậy [xem thêm bài "Ý nghĩa của cây gậy trong truyện Chử Ðồng Tử và Man Nương" của Ngọc Kinh Lang Hoàn] cũng là để biểu hiện một nền Phật giáo quyền năng trong giai đoạn du nhập vào Việt Nam và hài hòa cùng các đức tin bản địa. Trong truyện Nhất Dạ Trạch này, sau khi vợ chồng Chử Ðồng Tử thành công trong việc tạo dựng một vùng đất mới để an cư lạc nghiệp thì bị vua Hùng Vương tưởng dân tạo phản, kéo quân đánh. Trong một đêm nhờ vào cây gậy, Chử Ðồng Tử đã hô phong hoán vũ tạo nên thành quách lâu đài, quân binh rầm rộ, khiến Hùng Vương phải giảng hòa, mới biết ra đó là vợ chồng Tiên Dung mà trước kia vua trục xuất. Thế là thành quách lâu đài, không còn giá trị thực dụng nữa, sau một đêm biến mất. Có phải chăng đây là ý nghĩa "Hóa thành" trong kinh Pháp Hoa? Tất cả đều huyễn hóa, không thật, tất cả đều chỉ là phương tiện mà thôi.Thường vào mùa Vu lan, ta hay nhắc đến chuyện Mục Kiền Liên nhờ lòng hiếu thảo đã cứu được mẹ thoát khỏi cõi địa ngục. Chuyện Chử Ðồng Tử trái lại là một biểu tượng hiếu đễ ngay tại cõi thế. Ðạo hiếu của Phật giáo Việt Nam như thế chính là ở nơi thực hiện ngay với người sống, chứ không phải là "Sống thì lại chẳng cho ăn, đến khi chết mới làm văn tế ruồi" như ta thường thấy qua hình thức rình rang nghi táng thậm chí ngay cả vào thời nay. Mà chữ hiếu của Chử Ðồng Tử được thể nghiệm ngay trong tương quan giữa người sống với người sống. Chính ngay trong sinh hoạt hàng ngày mà người đời đã nhận định hai cha con Chử Ðồng Tử là "từ hiếu", cha hiền, con hiếu, và tuyệt đỉnh của thể hiện đạo hiếu này chính là nơi chôn khố theo cha để cha không lõa thể thi thể. Chuyện Chử Ðồng Tử không có vấn đề vào địa ngục cứu mẹ, một vấn đề huyền bí siêu linh, thường thấy ở Trung Hoa. Bởi vì nghiệp đã tạo rồi, thì tự người gây nghiệp phải gánh nhận hậu quả, không ai có thể giải quyết được. Ngay chính Ðức Phật, bậc Giác ngộ, mà còn có "tam bất năng", trong đó "định nghiệp bất năng chuyển" là một . Chữ hiếu của Chử Ðồng Tử như thế lại có tích cách vô cùng tích cực, thực dụng và thực tế không trừu tượng, không đi vào cõi âm linh, không siêu nhiên như chuyện Mục Kiền Liên. Mà bản chất đạo Phật cũng là tích cực, thực dụng và thực tế, cho nên chuyện Chử Ðồng Tử không còn phải là một truyền thuyết nữa, mà là một sự kiện với đầy đủ dữ liệu hoàn toàn phù hợp với tinh thần Phật giáo đương thời. Bởi vậy, ngoài việc cây gậy và chiếc nón tạo nên sự linh thông làm nền tảng cho tầng lớp Phật giáo quyền năng tại Việt Nam [Lê Mạnh Thát, sđd, tr.22], chuyện Chử Ðồng Tử còn tiềm ẩn rất nhiều tư tưởng, rất nhiều triết lý, rất nhiều ý nghĩa có tính cách Phật giáo rất căn bản cần phải được giải mã, như trên đã một phần đề cập đến. Chuyện không phải chỉ chờ đến lúc Chử Ðồng Tử gặp được nhà sư Phật Quang mới xác định được Chử Ðồng Tử là người Phật tử đầu tiên và Phật Quang là nhà truyền đạo đầu tiên tại Việt Nam mà thôi. Như học giả tài danh Hồ Thích đã từng xác định rằng: "Phật giáo đã truyền vào Giao Châu rất sớm, có thể là 400 hay 500 năm trước thời Lý hoặc luận (ra đời khoảng cuối thế kỷ thứ II sdl) và các kinh luận đã được học tập và phiên dịch tại đây còn sớm hơn rất nhiều các kinh điển hiện tồn tại Trung Quốc cho ta biết". Như thế có nghĩa là, theo Hồ Thích, Phật giáo đã có mặt tại Giao Châu khoảng 200 hay 300 năm trước dương lịch, và đó là điều rất phù hợp với niên đại của Chử Ðồng Tử sống vào triều Hùng Vương ở khoảng thế kỷ II tdl. Một phù hợp không phải chỉ do suy diễn mà đã có luận cứ vững chắc như các dẫn chứng trên. Ngoài ra, các học giả Ðông phương học khác như E. Schafer, G. Sargent, Tsukamoto Zenryù và J. Keenan cũng trực tiếp hay gần xa ủng hộ xác định trên của Hồ Thích [Hồ Thích, Luận học nghiên cứu, tập I, tr.151-154; Schafer, E.H, The Vermillion Bird: T’ang Image of the South, Berkely: UC Berkeley Press, 1967, p.97, Sargent, G.E., "The Intellectual Atmosphere in Lingnan at the Time of the Introduction of Buddihsm"in Drake, F.S (editor), Symposium on Historical and Linguistics Studies on Southern China, University of Hongkong, 1967, p.161-171; Tsukamoto Zenryù, A History of Early Chinese Buddihsm : from its Introduction to the Death of Hui-yuan, tr. By Leon Hurvitz. Tokyo, Kodansha, 1985, tập 1, tr.43-45, Keenan, J., How Master Mou remmoves Our Doubts : a Reader-Response Study and Translation of the Mou-tzu Li-hou lun. State University of New york Press, 1994, p.184, note 86]. Tóm lại, sự tồn tại của Chử Ðồng Tử như là một trong Tứ Bất Tử, biểu trưng cho đạo hiếu của dân tộc Việt Nam, và như là người Phật tử đầu tiên sống khoảng thế kỷ II tdl, Phật giáo cần phải được xác quyết một lần dứt điểm là đã hiện hữu tại Việt Nam ở những thế kỷ II, III trước dương lịch [Lê Mạnh Thát, sđd, ch.I] và đã tôn trọng đạo hiếu theo quan điểm tích cực và thực tế của dân tộc Việt Nam. PHẤN TẢO Y LANG Nguồn giacngo.vn
-
Tướng Giáp, GS Châu:Trùng hợp kì lạ vận người, thế nước. Kinh đô Thăng Long ngàn năm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đại thọ tròn 100 tuổi, GS Ngô Bảo Châu đoạt giải thưởng Toán quốc tế Fields có tầm cỡ Nô-ben - Liên tiếp những sự kiện trọng đại của dân tộc khiến lòng người phấn chấn. Trong không khí rạo rực đó, chúng tôi nhận được bài viết đầy chiêm nghiệm của nhà văn Xuân Cang. Đọc xong bài viết này, độc giả dường như sẽ có chung một cảm xúc, tâm thế: Tự hào thế nước đi lên! Trong cuộc đời dường như có một quy luật là mỗi con người đều được giời đất sinh ra vào một thời điểm nào đó, là để giao cho một sứ mệnh nào đó, một việc đời nào đó, việc lớn, việc nhỏ, cùng với những thăng trầm trong cuộc sống, gọi là số mệnh. Đó là một nhận định, một suy ngẫm tổng kết của người xưa truyền lại. Đã sinh ra ở trong trời đất - Nguyễn Công Trứ đã từng thao thức như thế. Trăm năm trong cõi người ta - Nguyễn Du đã thốt lên khi mở đầu truyện Kiều, như là vận mệnh Kiều đã được định sẵn từ một bàn tay bên trên. Nghe có vẻ huyền hoặc, khó tin. Nhưng tôi qua thực tế làm các bài toán Kinh Dịch về vận mệnh con người thì thấy đó là một sự thật kỳ diệu. Nhân tháng Tám lịch sử này của đất nước tôi xin kể vài chuyện liên quan đến những con người dường như được trời đất sinh ra để giao cho thực hành những việc liên quan đến vận mệnh đất nước. Đó là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp. Hoặc để làm một tín hiệu sáng lên trong vận mệnh nhân dân, như một nhân vật gần đây là Ngô Bảo Châu - một trong những "hậu duệ" xứng đáng của các bậc tiền bối. Trước hết nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người được sinh ra với quẻ Dịch là Thiên Trạch Lý, nguyên đường chủ mệnh là hào 5. Người xưa đặt lời cho quẻ Lý chỉ có 7 chữ Hán, dịch là Dẫm lên đuôi cọp, mà cọp không cắn, hanh thông (Lý hổ vĩ, bất khiết nhân, hanh). Nghe hoang sơ, đơn giản thế, nhưng là cả một triết lý cao sâu, khái quát một Minh triết: Lấy nhu thắng cương, lấy yếu thắng mạnh. Phải thế nào thì dẫm lên đuôi cọp mà vẫn an toàn chứ? Chỉ có mấy chữ mà nói lên cái tính cách người, cái bản lĩnh người, cái tài đức hơn đời của người. Hồ Chí Minh chính là như thế. Cuộc đời Hồ Chí Minh với bản lĩnh lấy nhu thắng cương, lấy yếu thắng mạnh chính là bắt nguồn từ triết lý cao sâu dẫm lên đuôi cọp mà cọp không cắn. Đó cũng là tính cách Việt, bản lĩnh Việt, sức sống Việt. Năm 1946, khi Người sang Pháp, giao việc nước cho Phó chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng. Giữa tình hình nước sôi lửa bỏng, cụ Huỳnh hỏi cụ Hồ: Khi có biến thì làm thế nào? Hồ Chủ tịch trả lời: Dĩ nhu ứng cương, dĩ bất biến ứng vạn biến. Nghĩa là lấy cái mềm ứng xử với cái cứng, lấy cái bất biến đối phó với vạn cái biến. Câu ấy chính là một minh triết bắt nguồn từ vận mệnh của người: Lấy nhu thắng cương. Hậu vận của Hồ Chí Minh bắt đầu từ năm 1942 là quẻ Trạch Hỏa Cách, chủ mệnh hào 2. Cách là Cải cách, Cách mạng. Lời hào 2 nói rằng: Chuẩn bị lâu ngày rồi, liệu cải cách đi, tiến lên, tốt, không lỗi. (Cải cách ở đây theo vận mệnh Hồ Chí Minh là làm cách mạng). Thực tế đời sống đã diễn ra đúng như thế. Tôi xin không nói thêm. Có một điều thú vị. Năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định dời đô, ban hành Chiếu dời đô, câu cuối có câu: Ý các khanh ra sao? Các nhà văn, các nhà sử học đều có lời bình: Đó là câu văn hay nhất trong toàn bộ bài Chiếu. Chính câu hỏi ấy đã đi vào lòng dân, biến thành ý chí của quần thần, của nhân dân. 935 năm sau, năm Ất Dậu (1945) sau cuộc Tổng khởi nghĩa ngày 19-8 tại Hà Nội, đúng 15 ngày sau, ngày 2-9, tại quảng trường Ba Đình, ngay sát gần Hoàng thành xưa, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập. Một điều bất ngờ đã xảy ra, vừa đọc được vài câu, giữa chừng bỗng dừng lại vài giây, Người hỏi: Tôi nói đồng bào nghe rõ không? Hàng vạn người trên quảng trường đã đồng thanh reo lên: Rõ ạ. Sau đó im phắc nghe Bác Hồ đọc tiếp. Không ngờ câu hỏi đột ngột từ trong trái tim người thủ lĩnh, người lãnh đạo, bỗng có tính minh triết cao sâu. Tôi nói đồng bào nghe rõ không, là sự gặp nhau đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, giữa lãnh tụ và quần chúng, nguyên thủ và nhân dân. Cái phút giây ấy của lịch sử, cũng chứng kiến một cuộc gặp nhau giữa hai nguyên thủ quốc gia (cách nhau gần nghìn năm) trong một câu nói gần giống nhau. Ý các khanh ra sao? Tôi nói đồng bào nghe rõ không? Đây không phải tình cờ. Đây là sự gặp nhau về ý chí, gặp nhau về Thời Cơ, gặp nhau trong một chữ THỜI của trời đất, núi sông. Xin nói về Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Năm nay ông vừa 100 tuổi. Chúng tôi có làm quẻ Kinh Dịch về cuộc đời ông, thấy ra một điều vô cùng kinh ngạc trong số mệnh ông. Tiền vận ông 42 năm được quẻ Thuần Khảm. Hậu vận ông từ năm 1953 được quẻ Địa Thủy Sư, hào 5. Chỉ xin nói về hậu vận này. Sư là Đám đông, Quân đội. Tượng quẻ là trong Đất có Nước tụ lại. Quẻ này phản ánh cuộc đời người có số mệnh điều khiển đám đông, nếu tham gia quân đội thì trở thành người chỉ huy. Người được quẻ này thường là trước gian nan, sau thành công. Người quẻ Sư hào 5 có thiên chức chỉ huy, thích ứng nhanh với chiến trận, thu nhận nhanh binh pháp, binh thư, nghệ thuật hành quân, dụng tướng, dụng hiền. Mệnh thế nào thì cuộc đời thế ấy. Ông trở thành vị tướng cầm quân suốt hai cuộc kháng chiến cứu nước. Ngày nay thấy thêm rằng với mệnh trời cho, những gì thuộc về quẻ Địa Thủy Sư đã tiềm ẩn trong vô thức của ông và nhập vào những ứng biến của ông trong công tác chỉ huy chiến dịch. Chỉ xin nói một ví dụ. Hào 4 quẻ Địa Thủy Sư có vẻn vẹn bốn chữ: Lui quân không lỗi (Tả thứ vô cựu). Cả quẻ Dịch chỉ có 6 hào, mà người xưa để hẳn ra một hào nói về lui quân, đủ biết vấn đề này quan trọng dường nào trong học thuyết về quân sự. Trong diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ, khi vừa mới lên mặt trận, nhận thấy tập đoàn cứ điểm của địch đã tăng cường, việc chuẩn bị chiến trường của quân ta chưa đạt yêu cầu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định chuyển từ phương án đánh nhanh, thắng nhanh sang đánh chắc, tiến chắc; đã kéo pháo vào nay lại kéo pháo ra, củng cố lại trận địa, lui để tiến, chia giai đoạn đánh công kiên, bóc từng mảng cứ điểm của địch. Chủ trương phù hợp với thực tế chiến trường, được Đảng ủy mặt trận tán thành, cán bộ chiến sĩ chấp hành nghiêm chỉnh, đã biến thành sức mạnh đi đến thắng lợi cuối cùng. Kinh Dịch bảo lui quân thế không lỗi. Không khác gì trời đất đã mách bảo từ trong số mệnh. Viết đến đây tôi có cảm tưởng như giời đã sinh ra cho nước Việt ta hai con người, với hai sứ mệnh, một người là Nguyên thủ, một người là Tướng cầm quân, và đã dẫn dắt hai con người đó đến với nhân dân ta đúng thời khắc Cách mạng và Cứu nước. Bây giờ đến Ngô Bảo Châu. Tôi tính quẻ Kinh Dịch thấy anh được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu, nguyên đường chủ mệnh hào 5. Quẻ Đại Hữu nói rằng anh là người có Sở hữu rất lớn, tóm tắt là Có Lớn, còn hiểu là có lòng khoan dung, rộng lớn. Tượng quẻ là Lửa ở trên Trời. Người quẻ Đại hữu là người bên ngoài thì phát triển mạnh mẽ, bên trong thì chứa chất hàm súc. Có lớn ở đây có hai nghĩa, một là có lớn về vật chất, là người giàu có, hai là có lớn về trí tuệ, là người sang trọng. Ngô Bảo Châu thuộc lớp người thứ hai này. Người quẻ Đại hữu có lúc như bánh xe lớn, chở nặng, đi chốn nào cũng được, sẵn sàng gánh vác công việc to lớn, nặng nhọc. Có lúc như được phúc trời ban xuống, là người có uy danh, có lòng chí thành, được tin dùng, có thể tiếp xúc với các bậc đại nhân, nguyên thủ. Mệnh như thế nên sự kiện anh trở thành người Việt Nam giỏi toán được giải thưởng Fields danh giá, dường như có giời trong đó. Có một cuộc gặp huyền diệu giữa hai thời gian: Ngày 19-8 năm 1945 của toàn dân ta tổng khởi nghĩa thành công, cả dân tộc bước vào kỷ nguyên lịch sử mới, gặp ngày 19-8 năm 2010, vào lúc 12 giờ 55 phút, Ngô Bảo Châu người Việt được giải thưởng Toán quốc tế Fields có tầm cỡ Nô-ben. Việt Nam là nước Châu Á thứ hai có sự kiện này. Mọi người Việt trong nước, ngoài nước đều vui mừng, xúc động về sự kiện này. Thấy rằng trong đó có một tín hiệu tỏa sáng về một thời kỳ mới trong lịch sử đã bắt đầu, mà ngày 19-8 đã gợi ra: một cuộc “tổng khởi nghĩa”, một cuộc cách mạng ít nhất trong Giáo dục, trong Văn hóa, trong khám phá khoa học, phát hiện và sử dụng hiền tài, mà hiền tài là nguyên khí quốc gia. Đây không phải tình cờ. Đây cũng là sự gặp về ý chí, gặp về Thời Cơ, trong một chữ THỜI của trời đất, núi sông. Duy có một điều này giời đất bảo thêm cho ta hay: Đối với Ngô Bảo Châu, tuy số mệnh cực tốt như thế, nhưng nếu không có một sự đam mê hết mình, nếu không có những người thày, những môi trường Toán như anh đã từng được trải nghiệm qua, thì liệu có thể có / hay không cái ngày 19-8 của anh năm nay? Câu trả lời dành cho tất cả các bạn trẻ. Từ vận Người đến vận Nước vẫn có một khoảng cách dành cho ý chí con người, bản lĩnh con người, kể cả một cái gì gọi là may mắn. Cuộc đời Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp là một tấm gương. Tôi cứ nghĩ lan man như thế từ cái hôm 19-8 năm nay, vào giờ Ngọ, lúc 12 giờ 55 phút theo giờ việt. Theo VTC News.
-
- 13
-
-
Nhặt lá rụng trong tâm. Sư Đỉnh Châu và một vị sư ngồi đọc kinh ở sân chùa, đột nhiên một trận gió thổi đến, lá trên cây rụng xuống khá nhiều. Đỉnh Châu liền khom lưng nhặt từng chiếc lá bỏ vào trong đãy. Vị sư bên cạnh thấy vậy bèn nói: - Không cần nhặt đâu, dù sao sáng ngày mai chúng ta cũng phải quét mà! Đỉnh Châu không cho là như vậy nên nói: - Không thể nói như vậy, tôi nhặt thêm một lá, sân sẽ sạch thêm một chút. Vị sư lại nói: - Lá rụng nhiều như thế, nhặt phía trước nó lại rụng phía sau, làm sao mà nhặt hết được? Sư Đỉnh Châu vừa nhặt vừa nói: - Không sạch lá rụng ở trên mặt đất nhưng với lá rụng trong đất tâm thì cũng có lúc tôi nhặt sạch. Vị sư nghe rồi, hiểu ra việc nhặt lá rụng của Đỉnh Châu cốt là nhặt những phiền não vọng tưởng trong tâm. (Theo Hoa Linh Thoại) BÀI HỌC ĐẠO LÝ: Quét chùa, một hình ảnh và việc làm quen thuộc của các tiểu tăng, vì “con sãi ở chùa lại quét lá đa”. Nhất là đối với những ngôi chùa thâm u, nhiều cổ thụ thì lá rụng vô số và quét lá vàng rơi là việc gần như liền tay của các chú tiểu và những vị Phật tử công quả, gieo phúc với chùa. Trước đây, mỗi lần đến chùa ngồi nhẩn nha niệm Phật thì các sư thường trao cho tôi một cây chổi tre, bảo quét chùa cho có phước. Lạ, quét chùa thì cũng như quét nhà thôi, có khác gì đâu, vậy thì tại sao quét chùa lại có phước? Cũng có thể làm việc cho chùa nên có phước, ngày ấy tôi cũng chỉ biết vậy thôi. Rồi duyên lành đến, một vị sư đã dạy tôi cách quét chùa. Sân chùa lá rụng hoài, dĩ nhiên phải quét mãi không thôi. Sân chùa phải sạch mới trang nghiêm chốn thiền môn, cũng như tâm của mình cần tĩnh lặng thì Phật trong tâm mới hiển bày. Do đó, quét lá vàng rơi trên đất cũng đồng thời quét luôn những phiền não rơi rụng trong tâm. Vì quét sạch bụi trần phiền não trong tâm nên mới tạo ra phước đức, sống hạnh phúc an lành. Và từ đó đến nay cũng đã nhiều năm, tôi vẫn hành trì pháp môn “quét chùa” trong im lặng, bền bỉ và liên tục. Tôi nhận ra rằng phiền não trong tâm nhiều hơn lá rụng sân chùa gấp nhiều lần. Dù nhiều não phiền nhưng do kiên trì quét dọn, không bao giờ ngừng nghỉ, không đợi đến ngày mai nên rắc rối thưa dần và bình an ngày càng thêm lớn. Mới hay, người biết tu và thực tu thì dù làm bất cứ việc gì cũng là phương tiện để dọn dẹp và trau dồi thân tâm nghiêm tịnh. Từ quét lá, làm vườn, trồng cây cho đến dịch kinh, viết sách, tụng niệm cũng chỉ để “an tâm”. Nếu không hướng đến mục tiêu làm trong sạch thân tâm thì mọi việc dù mệnh danh Phật sự cũng phù du và cạn cợt. Như sư Đỉnh Châu chỉ làm một công việc bình thường là nhặt lá vàng rơi ở sân chùa nhưng kết quả thì diệu dụng vô cùng. Vì đó là một quá trình hướng đến thanh lọc nội tâm thanh tịnh, không còn phiền não và chấp thủ. Tu tập là một người làm vườn, là thiên thần quét lá lúc nào cũng dọn dẹp vườn tâm trở nên đẹp đẽ và trang nghiêm. Bạch Vân
-
- 3
-
-
Xin Các Ace Lhdp Chọn Giùm Ngày Tốt để Dọn Về Nhà Mới
wildlavender replied to langthang08's topic in Phong Thủy
Cứ thong thả qua tháng 7 âl, bạn hãy chọn ngày để dọn trong tháng 8 âl. -
Thông Báo Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt
wildlavender replied to a topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Đã nhận của dangthu97 số tiền 1,200,000 đ(một triệu hai trăm ngàn đồng) nhờ chuyển đóng học phí 03 tháng/PTCB. -
Thông Báo Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt
wildlavender replied to a topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Lớp sẽ được mở vào lúc 14g30 Khai Đại an ngày hôm nay. -
Xác nhận có 500,000 đ(năm trăm ngàn đồng) của nhanqua góp tặng cho trường hợp trên, Quỹ hiện có: 10,549,000 đ + 500,000 đ = 11,049,000 đ (mười một triệu không trăm bốn mươi chín ngàn đồng) Nhân đây Wild cũng tin đến các nhà hảo tâm. Số tiền hiện tại trong QTT dự chi cho sữa chữa ngôi chùa bị bế khí đã nuối 8 trẻ mồ côi vào khoảng trên dưới 5,000,000 đ tất cả số còn lại, và của AE đăng ký đóng góp thêm trực tiếp trong bài, sẽ dành tặng toàn bộ cho hoàn cảnh "người mẹ có 10 đứa con bị Điên ở hà nội" Trân trọng kính báo.
-
Thông Báo Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt
wildlavender replied to a topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Vẫn còn kịp cho lớp PTCB vì ngày hôm nay 25/8 sẽ khai giảng vào lúc 14g30 cho tất cả các HV đã đăng ký và nộp học phí. Bạn cứ đăng ký học bình thường khi có họp lớp (offline) đều có Sư Phụ tham gia và giải đáp câu hỏi. -
Xác nhận có 3,120,000 đ(ba triệu một trăm hai mươi ngàn đồng) của N.H.G đóng góp cho Quỹ Từ Thiện. Quỹ hiện có: 7,429,000 đ + 3,120,000 đ = 10,549,000 đ(mười triệu năm trăm bốn mươi chín ngàn đồng) Đã chuyển 3,000,000 đ cho Học Phí Lớp PTNC số còn lại 3,120,000 đ đưa vào QTT.
-
Lời tiên tri: HN tròn nghìn năm sẽ có người "bắt Rồng" Những ngày trước khi GS Ngô Bảo Châu giành giải thưởng Fields, trong quá trình đi tìm hiểu về những con người gắn liền với tên tuổi anh, về công trình “bom tấn” Bổ đề cơ bản của anh, PV đã tìm thấy một câu chuyện hết sức thú vị xung quanh sự kiện quan trọng này. Lời "tiên tri" từ 10 năm trước Tôi tìm đến một căn hộ chung cư trên phố Cầu Giấy, Hà Nội, nơi GS.TSKH Nguyễn Duy Tiến đang sinh sống. Ông nguyên là Trưởng ban điều hành Hệ Đào tạo Cử nhân Khoa học Tài năng, nguyên Phó Chủ tịch (2001-2006) và Chủ tịch (2007) Hội đồng Học hàm ngành Toán học. Khi biết mong muốn của tôi tìm hiểu những câu chuyện về GS Ngô Bảo Châu, GS Tiến mỉm cười rồi mở chiếc máy vi tính của ông, chỉ cho tôi xem bản thảo cuốn sách “Kể chuyện về toán và những nhà toán học” của ông sắp xuất bản. GS Ngô Bảo Châu là một trong những nhà toán học xuất chúng được kể trong cuốn sách của GS Tiến. Tuy vậy, lúc đó tôi vẫn chưa hiểu GS Tiến định cho tôi xem cái gì mà quan trọng đến thế. GS.TSKH Nguyễn Duy Tiến đã có dự cảm về một chàng trai Hà Nội sẽ nhận được giải thưởng Fields từ cách đây 10 năm (Ảnh: Phạm Thịnh) GS.TSKH Nguyễn Duy Tiến đã có dự cảm về một chàng trai Hà Nội sẽ nhận được giải thưởng Fields từ cách đây 10 năm (Ảnh: Phạm Thịnh) Dù tới thời điểm đó (chiều tối 17/8) là trước thời điểm GS Ngô Bảo Châu được giải thưởng Fields mấy ngày, nhưng GS Tiến vẫn khẳng định “Tôi tin anh Châu sẽ được giải thưởng Fields. Điều này tôi đã có dự cảm từ 10 năm trước”. Nói rồi ông chỉ cho tôi xem bài viết trên Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ cách đây đã 10 năm (năm 2000) với tiêu đề: "Toán học thế kỷ XXI cơ hội và thách thức". Trong bài viết này và một bài viết tiếp đăng theo có tiêu đề "Bắt rồng", GS Tiến đã có một dự cảm lớn lao vào năm 2010, khi Thủ đô Hà Nội tròn nghìn năm tuổi sẽ có một người con của Thủ đô bắt được “rồng”. Câu chuyện cách đây 10 năm mà GS Tiến đã kể cho các thế hệ học trò có nội dung tóm tắt như sau: Cách đây đúng 100 năm, năm 1900, năm con chuột, nhà toán học vĩ đại người Đức tên là Hilbert đã nêu ra 23 bài toán chưa giải được cho các nhà toán học thế kỷ XX. Cho đến nay, sau 100 năm, 2 trong số 23 bài toán trên vẫn chưa có lời giải. Năm 2000 là năm Canh Thìn, năm "rồng vàng". Rồng là con vật không có thật: đầu sư tử mình rắn, vẩy cá, chân chim, nhưng lại biểu hiện cho quyền uy: sân rồng, mũ rồng, mặt rồng... Đồng thời, múa rồng là một nghệ thuật vui tươi sống động trong những ngày hội lớn. Cần chú ý rằng khi múa rồng, ngoài con rồng còn có một nhân vật khác không thể thiếu: đó là chú Tễu (chú hề). Có câu chuyện như sau: Một người được hỏi đang học nghề gì? Anh này trả lời: Tôi đang học nghề bắt rồng. Lại bị hỏi: Rồng có đâu mà bắt? Trả lời: Nếu không có rồng để bắt, tôi sẽ làm nghề dạy người khác bắt rồng . GS Ngô Bảo Châu trong ngày nhận giải thưởng Fields. Có một số ý kiến cho rằng theo nghiệp Toán cũng là theo nghiệp... bắt rồng. Nếu đúng như vậy thì năm 2000, mở đầu thế kỷ XXI là năm rồng, chắc sẽ phải có nhiều rồng để các nhà toán học hành nghề. Các bạn trẻ thân mến, trong Toán học có rồng thật đấy. Ví như Bài toán Fermat là con rồng cực kỳ lớn, hấp dẫn nhất. Rất nhiều người phát điên vì muốn bắt nó và rất nhiều người “suýt” nữa bắt được nó. Thế nhưng mãi tới lúc “Cụ rồng” này hơn 350 tuổi mới bị bắt. 23 bài toán của Hilbert cũng là những con rồng đẹp lộng lẫy. Các nhà toán học lành nghề đã bắt được 21 con rồi. Còn 2 con nữa sẽ vào tay ai đây? Nếu các bạn trẻ có ý định hành nghề bắt rồng thì phải lưu ý rằng rồng rất khó bắt, phải trường kỳ mai phục và nếm nhiều thất vọng. Còn nếu không làm nghề bắt rồng thì phải làm nghề vẽ rồng, múa rồng hoặc đóng vai chú Tễu chắc cũng kiếm được nhiều tiền. Riêng ở Việt Nam, nền Toán học Việt Nam được gieo mầm trong cuộc kháng chiến chống Pháp, hình thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trưởng thành sau ngày thống nhất đất nước. Có thể nói trong vòng 50 năm qua, chúng ta mới chỉ biểu hiện năng khiếu học toán giỏi, còn năng lực làm toán thì còn bị hạn chế nhiều. Các nhà toán học Việt Nam chưa xây dựng được một trường phái toán học có bản sắc riêng, thiếu màu sắc Vật lý, Thiên văn và Cơ học, vốn là nguồn ý tưởng vô hạn của Toán học. Vì thế, tôi hy vọng rằng: Trong thế kỷ XXI này các bạn trẻ không chỉ học toán giỏi mà còn có năng lực làm toán giỏi. Nếu may mắn thì chúng ta sẽ bắt được một con rồng, đấy là Giải thưởng Fields dành cho các nhà Toán học trẻ dưới 40 tuổi. Nếu may mắn hơn nữa, ta sẽ có một trường phái về toán học, có bài toán riêng, có trung tâm nghiên cứu riêng và có một nhóm nghiên cứu được cả thế giới thừa nhận. Cuối cùng tôi xin chúc các bạn trẻ sức khỏe, hạnh phúc và cùng nhau tìm cách bắt được một con rồng hoặc đặt ra được những bài toán hay, nghĩa là chỉ ra sự tồn tại một hay vài con rồng chưa ai bắt được. Tôi hỏi tại sao GS Tiến có thể có những dự cảm chính xác thế, ông chỉ mỉm cười không đáp. Dù rất tin tưởng vào GS Ngô Bảo Châu sẽ giành giải thưởng Fields danh giá, nhưng trong bài "Bắt rồng", GS Tiến cũng chỉ "dám" dự đoán 95% cơ hội để GS Châu làm được điều này. Chàng trai Hà Nội Ngô Bảo Châu đã bắt được rồng GS Tiến đã đưa ra những lý do hết sức thuyết phục để chứng minh cho những dự đoán của mình. Ông lập luận: Bác Rồng mang tên “Giả Thuyết Poincaré về đồng phôi với hình cầu 3 chiều” đã bị nhà toán học Nga Perelman tóm gọn. Nhờ tóm được Bác Rồng này mà năm 2006, Perelman được trao tặng giải thưởng Fields. Việt Nam ta có một người (với xác suất 95%) sẽ tóm được Chú Rồng “Bổ Đề Cơ Bản” trong Chương trình Langlands. Cần lưu ý là, đây là lần thứ hai Tạp chí The Time quan tâm đến Toán học; lần đầu năm 2006, Perelman cũng đã có vinh dự được Tạp chí này vinh danh. Thêm vào đó: Giáo sư Châu được mời đọc báo cáo trong phiên họp toàn thể tại Đại hội toán học thế giới 2010 tổ chức ở Ấn Độ. Điều quan trọng nhất là GS Ngô Bảo Châu năm nay mới 38 tuổi, hoàn toàn đủ điều kiện nhận giải. GS Ngô Bảo Châu bên GS.TSKH Nguyễn Duy Tiến Tất cả những điều này cho phép ta hy vọng (với độ tin cậy 95%) là: Đúng vào dịp lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội, một chàng trai Hà Nội sẽ mang về cho dân tộc Việt Nam (con Rồng cháu Tiên) một Chú Rồng tuyệt vời.Thế là, Cụ Rồng (Bài toán Fermat) sau hơn 350 năm đã được Andrew Wiles rước về Mỹ để chiêm ngưỡng Thần Tự Do. Bác Rồng (giả thuyết Poincaré) ở tuổi 100 được Perelman mời về St.Peterburg của Nga để xem vở ba-lê Hồ Thiên Nga. Và bây giờ, Chú Rồng (Bổ đề cơ bản), ở tuổi 40, được Ngô Bảo Châu sắp đón về Hà Nội để nghe các làn điệu Ca trù, Quan họ Bắc Ninh và cùng múa rồng với người Việt, mừng Thăng Long Hà Nội 1000 tuổi. Thật may mắn cho tôi, chuyện Bắt Rồng kết thúc có hậu đến thế! Tất cả những điều trên đều là những dự đoán của GS Tiến được ông viết ra cách đây nhiều tháng, thậm chí khi GS Ngô Bảo Châu vẫn chưa về nước. Ông luôn có một niềm tin tuyệt đối rằng sẽ có một kết thúc có hậu cho câu chuyện “Bắt rồng” mà ông đã viết vào trong cuốn sách. Ngày 12h55 ngày 19/8/2010, sau khi có thông tin từ Đại hội toán học thế giới tại Ấn Độ thông báo GS Ngô Bảo Châu giành giải thưởng Fields cao quý, tôi nhấc luôn điện thoại gọi điện cho GS Tiến để chia vui cùng ông. GS Tiến đã mừng vui như bật khóc. Ông hỏi lại tôi nhiều lần “Thật không? Thật không?”. Ông như reo lên vui mừng qua điện thoại: “Vậy là dự cảm của tôi đã đúng. Toán học Việt Nam là một ngành trẻ mà đã đạt được giải thưởng cao quý Fields thì mình có thể ngẩng cao đầu được rồi”. Để hoàn thiện cuốn sách “Kể chuyện về toán và các nhà toán học”, ông vội vàng lên mạng, tìm những hình ảnh mới nhất về GS Ngô Bảo Châu nhận giải, gửi bổ sung cho nhà xuất bản trước khi quyết định in chính thức. GS Ngô Bảo Châu cùng một số người bạn đến chơi nhà GS Nguyễn Duy Tiến Ngay sau khi thông tin GS Ngô Bảo Châu đã được nhận giải thưởng Fields từ Ấn Độ, GS.TSKH Trần Văn Nhung và nhiều người bạn của GS Tiến đã gọi điện đến chia vui cùng ông và chúc mừng cho dự cảm thần kỳ của ông. Tình cờ, cuốn sách của ông vừa được chính thức xuất bản vào ngày 23/8/2010, và ông đã dành một cuốn để tặng GS Ngô Bảo Châu khi về nước. Thật là một kết thúc có hậu cho những người làm toán và yêu toán.Thật vinh dự cho tôi, cuối năm 2005, thay mặt Hội đồng ngành Toán (lúc đó tôi là phó chủ tịch của Hội đồng này), tôi được ủy nhiệm giới thiệu phong giáo sư cho anh Ngô Bảo Châu trước phiên họp toàn thể của Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước. Chủ tịch phiên họp đó là GS. TSKH. Phạm Minh Hạc, cùng với cố GS. TSKH. Nguyễn Văn Đạo (1937-2006), GS. TSKH. Trần Văn Nhung hết sức ủng hộ đề nghị của Hội đồng ngành Toán. Và kết quả là: năm 2005, ở tuổi 33, Ngô Bảo Châu được đặc cách phong hàm Giáo sư tại Việt Nam và trở thành vị giáo sư trẻ nhất của Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại. Việc công nhận này đã từng gây ra nhiều tranh luận, vì lúc đó Ngô Bảo Châu chưa có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Việt Nam. Lý do thuyết phục nhất mà chúng tôi đưa ra là: Anh đã được Pháp công nhận là giáo sư rồi nhờ thành tích sau: Năm 2004, anh được trao tặng giải Nghiên cứu Clay của Viện Toán học Clay cùng với Gérard Laumon vì đã chứng minh được Bổ đề cơ bản cho các nhóm unita. Và cuối năm 2009, kết quả chứng minh Bổ đề cơ bản Langlands của Giáo sư Ngô Bảo Châu đã được tạp chí "The Time" bình chọn là 1 trong 10 phát minh khoa học tiêu biểu của năm 2009. (Trích "Kể chuyện về toán học và các nhà toán học" của GS.TSKH Nguyễn Duy Tiến) Theo VTC News
-
- 1
-
-
Mẹo dùng nước gừng nóng chữa bệnh, làm đẹp 23/08/2010 09:27 (GMT +7)Nghiên cứu mới đây nhất cho thấy, dùng gừng tươi để chế biến thành nước gừng nóng sau đó dùng để uống cũng là một bài thuốc hay có thể vừa có tác dụng phòng ngừa vừa chữa nhiều chứng bệnh thường gặp.1. Lở loét khoang miệng Dùng nước gừng tươi thay trà để uống và súc miệng thường xuyên, khoảng 2-3 lần mỗi ngày, hiệu quả sẽ khiến bạn thấy bất ngờ, khoảng 60-90% vết lở loét đều biến mất. 2. Viêm nha chu Thường xuyên dùng nước trà tươi nóng để súc miệng hoặc uống đều có hiệu quả chữa trị bệnh viêm nha chu. Nên uống hoặc súc miệng mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng và tối. Dùng gừng tươi để chế biến thành nước gừng nóng sau đó dùng để uống cũng là một bài thuốc hay Nếu cổ họng bị dát, ngứa hoặc đau có thể cho thêm chút muối ăn vào hòa tan và uống nóng, mỗi ngày uống khoảng 2-3 lần.3. Phòng ngừa và trị sâu răng Mỗi buối sáng và tối kiên trì súc miệng bằng nước gừng nóng hoặc uống nước gừng nóng nhiều lần trong ngày có tác dụng bảo vệ răng, phòng ngừa và trị chứng sâu răng hiệu quả. 4. Đau một bên đầu Khi thấy đau một bên hoặc đau nửa đầu, dùng nước gừng nóng xoa đều ra hai tay sau đó bóp đều quanh vùng đầu bị đau khoảng 15 phút, cảm giác đau đớn sẽ nhanh chóng giảm dần, thậm chí có thể tiêu biến hoàn toàn. 5. Say rượu bia Dùng nước gừng nóng để uống không những thúc đẩy quá trình lưu thông máu mà còn giúp tiêu tan lượng cồn trong máu, nhanh chóng đánh bật cơn say sỉn và tình trạng đau đầu lúc tỉnh dậy sau khi uống say. Có thể cho thêm chút mật ong vào nước gừng nóng và uống làm nhiều lần càng tăng thêm hiệu quả giã rượu. 6. Sắc mặt nhợt nhạt Rửa mặt thường xuyên bằng nước gừng nóng vào mỗi buổi sáng và tối có tác dụng làm cho da mặt hồng hào, sắc mặt nhợt nhạt do thiếu chất, thiếu ngủ hay lao lực sẽ nhanh chóng tan biến. Nên duy trì thói quen rửa mặt như vậy trong vòng 60 ngày liên tiếp. Theo đó, rửa mặt bằng nước gừng nóng cũng phát huy tác dụng nhất định đối với những vết thâm nám và làn da khô ráp. 7. Trị gàu Có thể dùng nước gừng nóng thay thế dầu gội đầu để trị gàu. Trước tiên nên thái gừng tươi thành những miếng nhỏ hoặc giã nát, sau đó đắp đều lên da đầu khoảng 10-15 phút, cuối cùng dùng nước gừng nóng gội lại thật sạch. 8. Đau lưng và đau vai Khi bị đau lưng và đau vai, nên dùng nước gừng nóng cho thêm chút muối và giấm ăn. Dùng khăn thấm đều hỗn hợp gừng tươi, mật ong và giấm lên chỗ bị đau làm nhiều lần. Cách làm này giúp cơ bắp được thoải mái, lưu thông máu giảm đau hiệu quả. . 9. Trị giun kim Trước khi đi ngủ, nên vệ sinh hậu môn bằng nước gừng tươi nóng, đồng thời uống khoảng 1-2 cốc nước gừng nóng, kiên trì trong khoảng 10 ngày có tác dụng diệt giun kim hiệu quả. 10. Hôi chân Cho thêm chút muối và giấm ăn vào nước gừng nóng, sau đó ngâm chân khoảng 15 phút, lau khô, để chân thoáng mát, mùi hôi sẽ tự khắc biến mất. 11. Cao huyết áp Khi huyết áp tăng cao đột ngột, có thể dùng nước gừng tươi nóng ngâm chân khoảng 15-20 phút. Nước gừng nóng mặc dù tiếp xúc bên ngoài chân nhưng thông qua các huyệt đạo ở lòng bàn chân sẽ khiến huyết quản giãn nở, theo đó, huyết áp từ từ hạ xuống. Theo Phạm Hằng Dân Trí
-
- 3
-
-
Tướng Giáp - Những ấn Tượng Khó Quên
wildlavender replied to wildlavender's topic in Thông Tin Cập Nhật
Mừng thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng. Nhiều mái đầu bạc đã gặp lại nhau trong căn phòng nhỏ ở số 30 Hoàng Diệu - Hà Nội sáng nay (23/8) cùng ôn lại những kỷ niệm cũ về "anh Văn" (Đại tướng Võ Nguyên Giáp), người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tham dự cuộc gặp mặt của những người từng làm việc trong Văn phòng Đại tướng còn có các nhà sử học và những người bạn thân thiết với gia đình. Người dẫn đường Là thư ký đảm trách giúp việc về khoa học, giáo dục cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời kỳ 1976 - 1989, đại tá Nguyễn Ngọc Thanh tha thiết mong lịch sử đánh giá đúng vai trò của Tướng Giáp đối với nền khoa học nước nhà. Ông Thanh nhớ lại, ngay khi Đại tướng được giao phụ trách khoa học, kỹ thuật, nhiều nhà khoa học, trong đó có GS Hoàng Tụy đã thẳng thắn bày tỏ băn khoăn, không hiểu rồi vị nguyên soái lẫy lừng trong quân đội có tiếp tục "lập chiến công" trên mặt trận khoa giáo mới hay không. "Và rồi chỉ 5, 6 năm sau, nhiều người đã phải công nhận rằng, ở Đại tướng có tầm nhãn quan chiến lược về khoa học, qua những công văn, nghị quyết và ý kiến gửi lên Bộ Chính trị và Chính phủ, quyết sách về nhiều vấn đề quan trọng", ông Thanh nói. Như nguyên Viện trưởng Viện năng lượng hạt nhân Đà Lạt Phạm Duy Hiển chia sẻ, chúng ta vẫn chưa đúc kết được công lao Đại tướng trong phát triển của khoa học, giáo dục nước nhà. Không có điều kiện dự cuộc họp mặt, GS Hoàng Tụy gửi lời nhắn mong chuyển tới Đại tướng: "Tôi luôn nhớ lời hứa với Đại tướng là làm sao cho nền khoa học, giáo dục Việt Nam đạt tới đỉnh cao trí tuệ. Tôi sẽ phấn đấu nốt phần đời còn lại của mình cho mục tiêu này. Hiện tượng Ngô Bảo Châu khẳng định thành công của trí tuệ Việt Nam chứ không phải thành công của nền khoa học - giáo dục Việt Nam". Với nhiều người, Tướng Giáp không chỉ "đóng đinh" trong huyền thoại ở vị trí người anh cả của quân đội mà với sự quan tâm, trăn trở cho vận nước, ông còn hiện diện ở nhiều lĩnh vực khác của đời sống. Thành viên Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội, Chánh văn phòng Quân ủy Trung ương Lê Trọng Nghĩa run run xúc động: "Tôi vẫn thấy trong thời kỳ đấu tranh xây dựng đất nước hoà bình, đấu tranh cho tự do, dân chủ hiện nay hình ảnh anh Văn. Vẫn thật cao quý, đáng trân trọng. Vị tướng kiệt xuất của quân đội, giờ đây vẫn đang đứng cạnh chúng ta trong cuộc đấu tranh mới xây dựng tự do, dân chủ". Nhà thơ Việt Phương nói với sang: "Không chỉ đứng cùng chúng ta mà vẫn dẫn đường chúng ta". "Người có công với Hoàng thành Thăng Long" Câu chuyện miên man không dứt khi nhà sử học Phan Huy Lê kể lại những "duyên nợ" của Tướng Giáp - Chủ tịch danh dự Hội sử học Việt Nam - với những người làm sử. S Phan Huy Lê: "Ông là vị tướng hiếm hoi không chỉ có binh nghiệp lừng lẫy mà còn soạn binh thư hiện đại" "Cả thế giới đều nói ông đã đi vào lịch sử bằng tài năng nhân cách, thiên tài quân sự, nhà văn hóa lớn. Nhưng tôi muốn nói ở khía cạnh sử học, hiếm có vị tướng nào trên thế giới vừa có binh nghiệp lẫy lừng vừa soạn được những cuốn binh thư hiện đại, tổng kết về lý luận", ông Phan Huy Lê khẳng định. Vị tướng huyền thoại, trong suốt quá trình chỉ huy cuộc kháng chiến đã vừa làm sử, tham gia vào lịch sử lại vừa viết sử, những trang sử sống động. Theo GS Phan Huy Lê, lịch sử quân sự Việt Nam chỉ có hai pho "binh thư", của Trần Quốc Tuấn và Võ Nguyên Giáp. Cũng theo ông Lê, với tác phong, tư duy chiến lược, Đại tướng đã có nhiều cống hiến lớn lao cho nền sử học Việt Nam, với nhiều ý kiến xác đáng giúp các nhà sử học biên soạn sách về lịch sử chống ngoại xâm, các trường phái quân sự Việt Nam, về Nguyễn Trãi... Một kỷ niệm đáng nhớ về tác phong nghiêm ngặt, chuẩn mực của ông, đó là khi ý kiến "chiến tranh nhân dân yêu nước chống ngoại xâm đã có từ thời Trần" gây tranh cãi, thì Đại tướng đề nghị các nhà sử học phải đi tìm cứ liệu để chứng minh. Quả thật, các sử gia đã tìm được từ "dân binh" được dùng dưới thời nhà Trần, để nói về lực lượng vũ trang nhân dân. Đại tướng cũng đề nghị những người làm sử phải tìm trong ngôn ngữ từng thời kỳ để thấy nghệ thuật quân sự, vai trò của người dân trong các cuộc chiến tranh. Ông cũng không hài lòng việc các dịch giả diễn giải chữ "manh lệ" (dân cày, tôi tớ, nô lệ) trong "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi thành chữ "dân nghèo". Bởi chữ dân nghèo không nói hết được sự tham gia của người dân. Tướng Giáp cũng đưa ra nhiều kiến nghị mong vực dậy nền sử học nước nhà. GS Phan Huy Lê cũng tin tưởng rằng vị tướng huyền thoại sẽ không thể không tham gia Đại lễ 1.000 năm Thăng Long sắp tới đây. Bởi, ông là người có công lao cực kỳ lớn trong bảo tồn Hoàng thành Thăng Long, ở giai đoạn đầu tiên khó khăn nhất để giữ gìn di sản, từ đó mới có căn cứ lập hồ sơ. Theo ông Phan Huy Lê, "Đại tướng vẫn quan tâm tới các vấn đề thời sự, tới vận mệnh dân tộc, di sản văn hóa dân tộc". Ngoài lẵng hoa tươi, Hội Sử học cũng gửi tặng gia đình Đại tướng cuốn sách viết về 59 vị nguyên soái huyền thoại trong lịch sử 2.500 năm của thế giới. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người Việt Nam duy nhất, cũng là người duy nhất còn sống có mặt trong cuốn sách này. Ông Phạm Khắc Lãm (phải) kể về một quyết định lui quân của Tướng Giáp: "Một vị tướng hô tiến công khi xông lên không quan trọng bằng một vị tướng hô rút quân khi thấy quân có thể tổn thất lớn. Đó là lòng thương người" Đại tá Nguyễn Huy Toàn tặng lại gia đình Đại tướng bức ảnh Đại tướng bên bờ suối. Lê Nhung - Ảnh: Lê Anh Dũng nguồn vietnamnet.vn -
Nhà báo, sử gia Stanley Karnow. Tướng Giáp - những ấn tượng khó quên TT - Nhà báo, sử gia Stanley Karnow là người Mỹ đã phỏng vấn độc quyền đại tướng Võ Nguyên Giáp sau chiến tranh VN - cuộc trò chuyện thẳng thắn về những cuộc chiến tại VN trên tờ New York Times năm 1990 với tựa đề “Ký ức của tướng Giáp”.Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm lại Điện Biên Phủ vào tháng 4-1994 - Ảnh: Catherine Karnow Ông bảo đến giờ vẫn còn nhớ như in ngày ông ngồi trong một căn phòng kiểu cổ ở Hà Nội và nghe tướng Giáp, con người huyền thoại vẫn còn bí ẩn với thế giới phương Tây, nói về chiến thắng thần kỳ của ông và dân tộc VN trước những cuộc chiến đầy bi kịch trong lịch sử nhân loại. Stanley Karnow đã dành cho Tuổi Trẻ cuộc trò chuyện nhân dịp sinh nhật đại tướng Võ Nguyên Giáp (25-8-1911-25-8-2010). * Lần đầu tiên ông phỏng vấn đại tướng Võ Nguyên Giáp là khi nào? - Lần đầu tiên tôi gặp ông là sau chiến tranh, khoảng năm 1990. Bởi vì trong suốt thời chiến người Mỹ không thể đến miền Bắc VN. Chúng tôi gặp nhau tại một tòa nhà kiểu cổ ở Hà Nội, gần khách sạn của tôi. Chúng tôi nói chuyện, sau đó tôi đến thăm nhà ông, gặp vợ ông và vài người thân khác trong gia đình ông. Sau chuyến đi này tôi đã viết một bài lớn cho tờ New York Times về ông và sử dụng các nghiên cứu đó cho một phần trong quyển sách của mình sau này. Tôi đã nghiên cứu để biết về chiến tranh, về vai trò của ông lúc ông bắt đầu tham gia lãnh đạo Việt Minh... Tôi và ông Giáp nói chuyện với nhau và thực hiện cuộc phỏng vấn bằng tiếng Pháp vì ông tỏ ra đặc biệt thông thạo ngôn ngữ này. * Ông có bao giờ biết tại sao tướng Giáp lại đồng ý để ông - một người Mỹ - phỏng vấn vào giai đoạn mới vừa mở cửa không? - Tôi nghĩ chắc vì ông đã đọc quyển Việt Nam: một lịch sử của tôi. Khi tôi ngỏ ý muốn được phỏng vấn ông đã chấp nhận. Ông đã dành thời gian kể cho tôi nghe về Điện Biên Phủ, bằng cách di chuyển những ly tách và vật dụng đặt trên bàn ăn của chúng tôi. Việc được gặp và phỏng vấn tướng Giáp là một điểm quan trọng thường được nhắc tới trong sự nghiệp báo chí và sử học của tôi. * Có bất cứ thay đổi nào trong quan điểm của ông về cuộc chiến tranh sau khi ông trò chuyện với tướng Giáp? - Tôi thật sự nghĩ rằng người Mỹ đã sai khi thực hiện cuộc chiến VN. Người Mỹ không có bất cứ một cơ hội nào có thể thắng tại đây. Đó cũng là chủ đề trong quyển sách của tôi. Khi nhìn lại tất cả, tôi thấy cuộc chiến là một bi kịch. Khoảng 60.000 người Mỹ chết và mất tích. Quá nhiều người VN chết. Quá nhiều gia đình VN mất người thân và bị nhiễm chất độc da cam. Bất kể hoàn cảnh thế nào, tướng Giáp tỏ ra vô cùng kiên quyết. Và khi tôi hỏi ông: “Hãy giúp tôi hiểu vì sao không có một cơ hội nào cho người Mỹ thắng cuộc chiến này?”, ông đã trả lời: “Bởi vì chúng tôi luôn kiên định và luôn sẵn sàng chiến đấu vượt qua mọi hoàn cảnh”. * Tướng Giáp có bao giờ nói với ông về cái giá con người phải trả trong cuộc chiến không? - Ông kể nhiều về những nghĩa trang liệt sĩ, nơi chôn những binh lính chết trận và những bia mộ màu trắng ở đó. Có rất nhiều nghĩa trang có bia mộ màu trắng nhưng bên dưới không có thi thể hay tro cốt của ai cả. Đó là những ngôi mộ gió của những người lính đã chết trận tại miền Nam chưa tìm được dấu tích. Chúng ta có thể hiểu rằng khi một cuộc chiến diễn ra thì luôn có những hi sinh đau lòng. Tướng Giáp không bao giờ nói với tôi về con số cụ thể người VN chết trong chiến tranh. Ông luôn nhắc lại rằng đó là một tổn thất lớn, nhưng cũng như ông ấy nói sẽ có những sự sống phải hi sinh vì cái quyết định phải chiến thắng đến cùng trong cuộc chiến ấy. Tôi đã nghe ông ấy nói và rất hiểu... Vào thời điểm đó mọi chuyện không thể khác được. Tôi không có bất cứ phán xét nào về ý niệm đó. Chính tôi cũng là người lính trong Chiến tranh thế giới thứ hai khi tôi 18, 19 tuổi. Tôi đã tường thuật cuộc chiến ở Algeria. Tôi đã quan sát nhiều cuộc chiến trong suốt cuộc đời mình, để hiểu rằng số người phải chết cho tất cả những hành vi chiến tranh đó thật khủng khiếp. * Tại sao ông viết về tướng Giáp là “người ngang hàng với những Grant, Lee, Rommel và MacArthur trong ngôi đền vinh danh các lãnh đạo quân sự thế giới”? - Tôi đề cập rất nhiều vị tướng trong tác phẩm của mình để so sánh với ông. Ông đã kể tôi nghe về việc ông phải đối mặt với người Pháp từ năm 1946. Người Pháp bắt đầu tăng lực lượng của họ lên dữ dội. Khi ông Giáp nói với tôi về tướng Jean de Lattre de Tassigny của Pháp tại VN, ông vô cùng tự hào. Đó là một trong những vị tướng quan trọng nhất của người Pháp. Tướng Giáp tự hào vì mình đã thật sự đối mặt với vị tướng này trong chiến tranh. Ông làm tôi nhớ đến những vị tướng khác trong lịch sử. Khi tướng Giáp chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, có một số cố vấn người nước ngoài luôn kề bên ông. Họ chỉ dẫn ông phải làm cái này, cái kia, phải điều khiển chiến dịch thế này, thế khác. Tướng Giáp bảo ông luôn lắng nghe những gì mà các cố vấn ấy nói, để rồi ông không ngủ được suốt cả đêm dài, phải quyết định cái gì là điều đúng đắn thật sự cần làm. Sáng hôm sau ông tự quyết định bài bố lại chiến dịch theo ý mình. Ông đã ra lệnh phải đào sâu vào lòng đất để tiến vào trung tâm. Người Pháp không bao giờ tưởng tượng tướng Giáp có thể đưa đại bác lên các đỉnh đồi, sau đó chiến thắng với ít tổn thất nhất, và đó là một trong những chiến thắng đặc biệt nhất của cuộc đời tướng Giáp. Đó là lý do tại sao tôi so sánh ông, trận đánh lịch sử của ông với những vị tướng nổi tiếng khác trên thế giới. * Điều gì làm ông nhớ nhiều nhất đến tướng Giáp? - Ông là một người đàn ông lịch thiệp, luôn có chút hài hước khi trò chuyện. Ông ấy đặc biệt thông minh và có một kiểu bặt thiệp “rất Pháp”. Nhân dịp sinh nhật của ông, cho tôi gửi đến tướng Giáp lời chúc mừng sinh nhật của tôi và Catherine, con gái tôi, người từng phỏng vấn và có rất nhiều kỷ niệm đẹp về ông. LAN PHƯƠNG thực hiện. Stanley Karnow là trưởng phân xã của tạp chí Time - Life tại châu Á trong thời chiến tranh VN. Từ năm 1959, ông đã đi, về VN rất thường xuyên trong những biến động chính trị và xã hội. Ông là nhà báo đầu tiên viết về người lính Mỹ đầu tiên chết tại VN. Ông tường thuật khoảnh khắc chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ và cái chết của ông Diệm. Ông là phóng viên chính tường thuật cho một loạt phim tài liệu truyền hình: VN - thiên lịch sử truyền hình, giải mã cuộc chiến VN từ hai phía với những phỏng vấn nổi tiếng cùng các tướng lĩnh hàng đầu ở cả hai bên. Loạt phim truyền hình này đoạt sáu giải Emmy. Ông là tác giả cuốn sách Vietnam: a history (Việt Nam: một lịch sử). Ông tường thuật cuộc chiến VN từ 1959-1974 với tư cách là một nhà báo và sử gia. nguồn tuoitre.online
-
Thông Báo Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt
wildlavender replied to a topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Xác nhận có 3,000,000 đ(ba triệu đồng)/04 tháng/PTNC của N.H.G. -
Thông Báo Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt
wildlavender replied to a topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
LeDien cứ đăng ký bình thường và nộp học phí(dù sao LeDien cũng là Hv lâu năm mà) tuy nhiên hình như LeDien chưa qua lớp Cơ Bản sao học Nâng cao được? -
Xác nhận có sự đóng góp 1,000,000 đ(một triệu đồng) của Thuthu1101 dành cho Quỹ từ Thiện. Quỹ hiện có: 6,429,000 đ + 1,000,000 đ= 7,429,000 đ(bảy triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn đồng)
-
Xác nhận có 500,000 đ(năm trăm ngàn đồng) của Arigato đóng góp cho QTT. Quỹ hiện có: 5,929,000 đ+ 500,000 đ= 6,429,000 đ(sáu triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn đồng)
-
Sẽ Ðược Chữa Trị Miễn Phí. Dưới đây là tổ chứ thiện nguyện mang tên Chiến Dịch Nụ Cười, cơ sở được đặt tại 6435 Tidewater Drive Norfolk, VA 23509, Hoa Kỳ. Ðây là một con tàu y tế đi khắp mọi nơi để làm nhiệm vụ giải phẩu những trẻ em trên thế giới đang mang bịnh tật khó chữa của những gương mặt bị biến đổi, dị dạng, như sứt môi, hàm ếch, ...Trên thế giới mỗi năm có khoảng 200 ngàn trẻ em mang những bệnh tật như vầy. Tuy trụ sở được đặt ở Hoa Kỳ, Chiến Dịch Nụ Cười gồm đủ mọi sắc mọi người tình nguyện trên thế giới. Hiện tại tổ chức này có 60 thiện nguyện viên đi khắp mọi nơi trên thế giới để làm việc thiện nguyện này. Bạn muốn tình nguyện viên trong một nhiệm vụ y tế, bạn có thể tham dự vào hàng ngũ của Chiến Dịch Nụ Cười. Dưới đây là thời khóa biểu của những con tàu sẽ đến Việt Nam vào những ngày: Dưới đây là thời khóa biểu của những con tàu sẽ đến Việt Nam vào những ngày: - 22-26 tháng 8 năm 2010 tại Huế và Sài Gòn - 6-10 tháng 9 năm 2010 tại Hà Nội - 27-30 tháng 9 tại Huế - 3-10 tháng 10 tại Hà Nội - 25-29 tháng 10 tại Huế rồi vào Sài Gòn tháng 11 cho đến khi hoàn tất. - 8-12 tháng 11 tại Huế - 8-12 tháng 11 tại Sài Gòn - 22-26 tháng 11 tại Hà Nội - 6-10 tháng 12 tại Sài Gòn - 13-19 tháng 12 tại Hà Nội - 20-24 tháng 12 tại Huế Mong rằng quý vị sau khi đọc tin này có thể loan báo với báo chí VN, hoặc người thân có con em bị căn bịnh gương mặt biến đổi, dị dạng, như sứt môi, hàm ếch, ... Hãy tìm cho được con tàu Operation Smiles hay gọi là Chiến Dịch Nụ Cười, để chữa bịnh cho con em mình miễn phí hoàn toàn. http://www.operationsmile.org/get_involved...fessionals.html.
-
- 3
-
-
Thông Báo Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt
wildlavender replied to a topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
@ BaoTran509, TommyDang vui lòng đợi qua ngày thứ hai, Wild sẽ đích thân nhờ Kỷ Thuật xem và set 2 bạn vào lớp vì hôm nay chủ nhật. mong các bạn thông cảm! Wild rất áy náy về lời hứa này vì thú thật ngoài khả năng thực hiện của Wild. -
Nhờ Các Bác Tư Vấn Cho Em 1 Quẻ Về Công Việc
wildlavender replied to MeSim09's topic in Lạc Việt Độn Toán
Nhận được câu hỏi của ban, cho một quẻ tốt! bạn đừng chần chờ gì nữa mà nắm lấy cơ hội. Dù thời gian đầu có làm bạn bỡ ngỡ, chật vật âu lo trong c/việc mới nhưng đường dài bạn có nhiều hướng thuận tiện. Không e ân hận vì thay đổi mà chỉ e mình không biết nắm thời cơ. Chúc bạn may mắn! -
MẸ! Trong tâm tưởng muộn màng con viết, Lời cầu mong còn Mẹ mãi trên đời! Tôi muốn nói với tất cả những ai đang còn Mẹ, hãy quay về hãy yêu thương không bao giờ đủ vì ngày Mẹ đi xa ta không thể cúi xuống trãi lưng mình ra để cõng Mẹ lên trời. Mẹ đi đâu thế nào ta suốt đời tìm câu hỏi ấy!
-
Một hành động bình thường nhỏ nhoi đôi khi chứa đựng một tấm lòng rộng lớn, ở phía bên kia người nhận sẽ nhận được 1 trái tim vĩ đại vì đã chia sẽ biển yêu thương. Trong cuộc sống tôi đã từng biết có những căn nhà thật to đẹp nhưng không còn đón tiếp họ hàng người thân thuộc cũng chỉ bởi vì nhà to nhưng lòng lại hẹp. Nhà rất gần nhưng lòng thì xa nên chẳng bao giờ còn đến với nhau được nữa! :D
-
Thông Báo Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt
wildlavender replied to a topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Đến nay baotran509 chưa vào được lớp sao? Chỉ trục trặc một ngày thôi mà! Bt có thể cho biết bạn chưa vào lớp được buổi nào phải không? -
Giảng Giải Chú Đại Bi
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Vãng sanh quyết định chơn ngôn. Vãng sanh quyết định chơn ngôn hay Vãng sanh Tịnh độ thần chú là mật ngôn được trì niệm phổ biến trong các khóa lễ Tịnh độ, cầu siêu. Thần chú này có tên đầy đủ là Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sanh Tịnh độ Đà la ni. Cứ vào tên của Đà la ni (Tổng trì, thâu nhiếp vạn pháp, tạm gọi là chơn ngôn hoặc thần chú) cho biết thần chú này có công năng phá trừ tất cả nghiệp chướng căn bản, để được vãng sanh về Cực lạc. Theo kinh Niệm Phật Ba la mật, phẩm thứ 7 (HT.Thích Thiền Tâm dịch), Bồ tát Phổ Hiền vì thương xót chúng sanh thời mạt pháp nên nói Đà la ni này để trợ duyên được mau vãng sanh về Tịnh độ: “Lúc bấy giờ, Ngài Phổ Hiền Đại Bồ tát bạch Phật rằng: Thưa Thế Tôn! Con nay vì thương tưởng chúng sanh nơi thời mạt pháp, khi ấy kiếp giảm thọ mạng ngắn ngủi, phước đức kém thiếu, loạn trược tăng nhiều, kẻ chân thật tu hành rất ít. Con sẽ ban cho người niệm Phật thần chú Đà la ni này để thủ hộ thân tâm, nhổ tận gốc rễ nghiệp chướng, trừ sạch phiền não, được mau chóng sanh về Cực lạc, gọi là Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sanh Tịnh độ Đà la ni. Liền nói chú rằng: Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa điệt dạ tha, a di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha Đức Phật A Di Đà - Ảnh tư liệu Người niệm Phật phải giữ giới, ăn chay, thân khẩu ý đều phải thanh tịnh. Ngày đêm sáu thời, mỗi thời tụng 21 biến. Như vậy, diệt được các tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác và hủy báng Chánh pháp. Thường được Phật A Di Đà hiện trên đỉnh đầu. Hiện đời an ổn, phước lạc. Khi trút hơi thở cuối cùng được tùy nguyện vãng sanh. Trì tụng đến ba chục ngàn biến liền thấy Phật ngay trước mặt”. Xưa nay, phần lớn những hành giả tu tập pháp môn Tịnh độ thường trì niệm thần chú Vãng sanh theo phiên âm tiếng Hán. Chúng ta có thể trì niệm theo nguyên văn tiếng Phạn (đã phiên âm) và tìm hiểu đôi chút về “ý nghĩa” của thần chú này. - Namo Amitàbhàya (Na-mô A-mi-ta-pha-gia) Nam mô A di đa bà dạ Quy mạng Vô Lượng Quang (A Di Đà) - Tathàgatàya (Ta-tha-ga-ta-gia) Đa tha già đa dạ Như Lai - Tadyathà (Ta-di-gia-tha) Đa điệt dạ tha Nên nói thần chú - Amrto dbhave (A-mờ-rật-tô đờ-pha-vê) A di rị đô bà tỳ Cam lộ hiện lên - Amrta sambhave (A-mờ-rật-ta sam-pha-vê) A di rị đa tất đam bà tỳ Cam lộ phát sinh - Amrta vikrànte (A-mờ-rật-ta vi-kờ-răm-tê) A di rị đa tỳ ca lan đế Cam lộ dũng mãnh - Amrta vikrànta gamini (A-mờ-rật-ta vi-kờ-răm-ta ga-mi-ni) A di rị đa tỳ ca lan đa già di nị Đạt đến Cam lộ dũng mãnh - Gagana kìrtti kare (Ga-ga-na kít-ti ka-rê) Già già na, chỉ đa ca lệ Rải đầy hư không - Svàhà (Sờ-va-ha) Ta bà ha Thành tựu cát tường. Như vậy, Bồ tát Phổ Hiền trong pháp hội tại Linh Sơn đã vì chúng sanh đời mạt pháp về sau mà xin phép Thế Tôn tuyên thuyết thần chú Vãng sanh. Theo lời dạy của Bồ tát, nếu có người nào phát nguyện sanh về Cực lạc nhưng vì phước mỏng nghiệp dày, niệm Phật chưa đạt đến nhất tâm thì có thể nương nhờ công đức của thần chú Vãng sanh để được như nguyện. Hành giả thực hành trai giới, giữ ba nghiệp: thân, miệng, ý thanh tịnh; mỗi ngày trì niệm 6 thời, mỗi thời 21 biến thì chắc chắn tiêu trừ tất cả nghiệp chướng, cho dù là ngũ nghịch hay thập ác tội chướng. Thần chú Vãng sanh có tầm quan trọng như thế, nên người tu pháp môn Tịnh độ luôn trì niệm nhằm thú hướng Lạc bang. Nhiên Tự nguồn giacngo.vn