Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Trần Phương

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    449
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by Trần Phương

  1. Kính thưa quý vị, Lịch sử có những khoảng trống để lại cho ta nhiều nghi vấn. Phải chăng đã có những sự thật lịch sử bị vùi lấp hàng ngàn năm ? Đó là lý do mà Trần Phương tôi muốn chia sẻ trong bài viết hôm nay ... Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa giành độc lập của dân tộc liên tục diễn ra, dưới đây là quan điểm của anh Thiên Sứ cho tới trước thời kỳ Hai Bà Trưng : Cuộc xâm lược của những chính quyền Bắc phương với dân tộc Việt không diễn ra ngay một lúc và ồ ạt. Nó trải hàng trăm năm và nhiều hướng bởi những quốc gia thuộc nhà Chu. Bởi vậy, sự chinh phục cuối cùng của nhà Hán cũng chỉ là sự quản lý về hành chính và tô thuế. Nền văn hóa Việt vẫn tồn tại ở địa phương cho đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng làm chấn động toàn bộ lãnh thổ Văn Lang cũ ở Nam Dương tử. Đây chính là lý do mà chính Mã Viện - tổng tư lệnh quân đội Hán phải thân chinh đánh dẹp ( Chứ nếu chỉ là một bộ lạc ngớ ngẩn thì quân Hán chắc không cần huy động tổng lực lương như vậy). Hai Bà Trưng thất bại, cuộc đàn áp chắc chắn khốc liệt và dân Việt đã di tản khắp nơi. Nhận xét trên rất dễ hiểu và có thể chấp nhận, kẻ đang gõ những dòng này cũng đồng ý như vậy, nhưng những nghi ngờ của tôi về thời kỳ Hai Bà Trưng bắt đầu chỉ từ một dòng sau của GS Lê Mạnh Thát : ... cho đến năm 43 (sau dương lịch), trước khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng thất bại, nước ta vẫn là một nước độc lập. Kính thưa quý bạn đọc quan tâm, Đầu tiên, ta hãy xem lại tiểu sử Hai Bà Trưng : Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, hai bà nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu. Mẹ hai bà là bà Man Thiện, theo truyền thuyết và thần tích bà là người làng Nam Nguyễn (Ba Vì, Hà Tây), có tên là Trần Thị Đoan, chồng mất sớm. Bà có công dạy hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị giỏi võ, có tinh thần yêu nước, có chí lớn. Và Thi Sách : Trưng Trắc là vợ của Thi Sách con trai Lạc tướng huyện Chu Diên "Lạc tướng" nào vậy ? Thời Hùng Vương đã kết thúc từ lâu. Nếu nước ta lúc đó đã hoàn toàn thuộc Hán thì liệu những nhà cai trị có dễ dàng để cho sự quản lý của thời Hùng Vương còn tồn tại và kéo dài tới thời điểm đó không ? Tiếp theo là những nhận xét của các nhà sử gia về cuộc khởi nghĩa : Sử gia Lê Văn Hưu viết : Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy. Sử gia Ngô Sĩ Liên viết : Họ Trưng giận thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà quốc thống nước ta cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng há chỉ lúc sống dựng nước xưng vương, mà sau khi chết còn có thể chống ngăn tai họa. Phàm gặp những việc tai ương hạn lụt, đến cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả bà Trưng em cũng thế. Vì là đàn bà mà có đức hạnh kẻ sĩ, cái khí hùng dũng trong khoảng trời đất không vì thân chết mà kém đi. Bọn đại trượng phu há chẳng nên nuôi lấy cái khí phách cương trực chính đại ấy ư? Với một cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ có tính chất toàn diện nhưng chỉ "hô một tiếng" mà nhận được sự hưởng ứng sâu rộng đến vậy sao ? Mà cuộc khởi nghĩa này (lật đổ Tô Định) đã diễn ra rất nhanh chóng, nhanh chóng đến mức không thể tin được chỉ là một cuộc khởi nghĩa thông thường. Đến mức sau này, Mã Viện, tổng tư lệnh quân đội Hán phải thân chinh đánh dẹp và phải trả giá rất đắt (quân đi 10 phần, về chỉ còn 4,5 phần). Vậy phải chăng "nghĩa quân" của Hai Bà Trưng không phải chỉ là sự tập hợp quần hùng thông thường mà chính là một quân đội chính qui của một quốc gia và có tổ chức hẳn hoi ? Cũng xin được nói thêm rằng, với nghĩa đúng là một cuộc khởi nghĩa giành độc lập và nhận được sự ủng hộ sâu rộng của mọi tầng lớp dân chúng, không thể chỉ xảy ra trong một sớm một chiều mà phải được liên tục và bền bỉ suốt nhiều năm tháng, nghĩa quân trưởng thành phải trải qua nhiều trận đánh lớn nhỏ, thậm chí những nhà lãnh đạo nhiều lúc phải nằm gai nếm mật, thập tử nhất sinh, ... Nhưng ta không hề thấy điều này ở các sự ghi nhận nào trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Tạo sao ? Vậy, có thực sự là thời điểm trước đó nhà Hán đã chiếm được nước ta không ? Nhưng nếu chưa chiếm được nước ta, vậy thời đó nước ta vẫn là một nước độc lập, tất phải có vua, vậy vua là ai ? Nhưng trước hết, hãy xem lại lý do của cuộc khởi nghĩa : Thái thú Trung Hoa là Tô Định cai trị tàn bạo, dùng pháp luật trói buộc, lại giết chồng Bà Trưng nên Bà khởi nghĩa. Sau đây là lời của Toàn thư: “ Mùa xuân, tháng Hai [canh tý], vua [Trưng Trắc] khổ vì thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình, mới cùng em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu...” Dưới đây là trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca : Đường-ca lâu đã vắng lời, Đến như Tô-Định là người chí hung. Bà Trưng quê ở châu Phong, Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên. Và đoạn dưới đây là tôi trích trên tấm bia ở đền thờ Hai Bà Trưng (Bình Thạnh - TPHCM) : Ngàn thu công đức nhớ Hai Bà Cân quắc anh hùng đất Việt ta Nghĩa nặng một lòng em với chị Thù chung hai mối nước như nhà ......................................... Chúng ta có thể hiểu được rằng, trước là nghiệp lớn rồi sau đó mới đến thù nhà, đó là lý do đã dẫn đến sự bùng nổ của cuộc khởi nghĩa. Rất đáng trân trọng. Nhưng, tôi không nói đến các sách sử của Tàu có phần xem nhẹ cuộc khởi nghĩa, thậm chí có tài liệu nói rằng Thi Sách còn sống và tên là Thi chứ không phải Thi Sách, tôi vẫn dựa theo sự cảm nhận trân trọng về một thời kỳ hào hùng trong sử ta đối với hai Nữ Vương anh hùng của dân tộc, mối "thù chồng" được nhắc đi nhắc lại và luôn đi đôi với "nợ nước", sao lại như vậy ? Quý bạn đọc thân mến, "nợ nước thù nhà" không phải chỉ là của riêng cá nhân nào trong bối cảnh đất nước bị ngoại bang dày xéo, đó là nỗi đau chung của những người con đất Việt trong cảnh nước mất nhà tan. Nhưng nếu xét trong trường hợp của Trưng Trắc, sự "thù chồng" sẽ ít nhiều làm ảnh hưởng đến sự nghiệp chính là vận nước, thậm chí đã từng có sử gia nước ngoài nhận xét rằng công cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chỉ "mang tính địa phương" bởi có yếu tố "thù chồng", như vậy, việc trong dân gian (và sử ta) nhắc nhiều tới việc "thù chồng" sẽ ít nhiều làm giảm nhẹ ý nghĩa thực sự của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Ta hãy xem tiếp đoạn sau trong Đại Nam Quốc Sử diễn ca : Chị em nặng một lời nguyền, Phất cờ nương-tử thay quyền tướng quân. Vâng, "thay quyền tướng quân", sao lại như vậy ? Phải chăng trước đó đã có những cuộc đấu trí cân não bền bỉ giữa ta và địch, thứ nhất là tránh cho nhân dân một cuộc binh đao, thứ hai là biết được lực ta chưa đủ mạnh. Sự nhân nhượng bền bỉ này của nước ta là chấp nhận làm một nước chư hầu trên danh nghĩa để đổi lấy một nền độc lập thực sự, và trong một chừng mực, nước ta chấp nhận các tướng lĩnh và quân đội nhà Hán ngang nhiên qua lại ở nước ta, như trường hợp Thái thú Tô Định (chức "Thái thú" cũng chỉ là danh nghĩa). Cũng xin được chia sẻ thêm rằng, sự căm thù của nhân dân và các tướng lĩnh đối với sự ngang ngược và tàn bạo của những kẻ đang có dã tâm cướp nước dù có cao đến đâu, thậm chí có bất bình với chính sách nhân nhượng quá mức của triều đình ta, nhưng cũng phải có kỷ luật và không thể manh động, dĩ nhiên trường hợp đó nước ta phải đang độc lập và có vua, cũng phải ít nhiều thấu hiểu được rằng : chưa đến lúc phải động binh nếu lực của ta chưa mạnh. Điều này lý giải hợp lý là đến khi Hai Bà phất cờ khởi nghĩa, như một lệnh tuyên chiến ban ra, các đơn vị địa phương (đã có sự chuẩn bị và chờ đợi kìm nén tứ trước) đã nhất loạt nổi lên và lan tỏa rộng như chúng ta đã biết. Như vậy, sự nghi vấn của tôi đặt ra một giả thuyết là : chính quyền nhà Hán trước đó đặt ách cai trị nước ta về danh nghĩa chỉ là sự quản lý về hành chính và tô thuế, về thực sự, nước ta vẫn là một nước độc lập. Nhưng sự cai trị này càng ngày càng ngang ngược và vươn vòi sâu rộng. Chính quyền nước ta thời bấy giờ đã có những sự nhân nhượng tối đa, vua tôi vẫn phải tuân thủ qua lại để cống nạp lễ vật, nhưng "cây muốn lặng song gió chẳng ngừng", cái gì đến cũng phải đến, việc Tô Định dùng mưu bắt và giết hại Thi Sách tướng quân để uy hiếp và làm nhụt chí quân dân ta đặt ra một nghi vấn là : phải chăng Thi Sách tướng quân chính là người đứng đầu nước ta thời bấy giờ ? Nếu điều giả thuyết trên là đúng, thì việc Trưng Trắc lên ngôi nối nghiệp chồng và "phất cờ nương tử thay quyền tướng quân" chính là sự trả lời của cả một dân tộc. Và cuộc chiến sinh tử đó chính là một cuộc chiến tranh vệ quốc chứ không phải là một cuộc khởi nghĩa thông thường. Và như vậy, dù trước đó vẫn có sự tồn tại khách quan Âu Lạc - An Dương Vương và Nam Việt - Triệu Đà thì sự độc lập của nước ta trước thời kỳ Hai Bà Trưng cũng không thể không có thật, phải chăng khoảng trống đó của lịch sử đã bị vùi lấp bởi hàng ngàn năm Bắc thuộc ? Một xin rửa sạch nước thù Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng Ba kẻo oan ức lòng chồng ................................................... Kính thưa quý vị, Trên đây là những nghi vấn của Trần Phương tôi về một sự thật lịch sử đã bị vùi lấp hàng ngàn năm, dĩ nhiên còn nhiều thô sơ, xin tạm dừng tại đây, cám ơn quý bạn đọc quan tâm !
  2. Nỗi hàm oan mang tên Lê Văn Thịnh 9:30, 25/04/2008 Theo như "Đại Việt sử ký toàn thư" và "Kiến văn tiểu lục" của Lê Quý Đôn, "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú, "Việt Nam sử lược" của Trần Trọng Kim đều cho biết khoa thi đầu tiên của nước ta là vào mùa xuân, tháng 2, năm Ất Mão (1075), với vị trạng nguyên đầu tiên của nước Việt là Lê Văn Thịnh, người xã Đông Cứu, huyện Gia Định (nay là Gia Bình, Bắc Ninh). Về vụ án Thái sư, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh trên hồ Dâm Đàm (Hồ Tây - Hà Nội) vào năm Bính Tý (1096), khi còn trẻ, tôi đọc sử đã bị ám ảnh bởi sự kiện này, rồi một số sáng tác thuộc loại hình sân khấu thời nay lại nhấn mạnh và điển hình hoá sự kiện này hơn nữa. Tôi có nghe nói những năm qua đã có cuộc trao đổi tranh luận về vấn đề này, ở Bắc Ninh hiện đã có một số vở kịch và tiểu thuyết nhằm minh oan đối với Trạng nguyên Lê Văn Thịnh; về phần mình, tôi muốn góp thêm một tiếng nói về một hiện tượng đã được ghi một cách đột ngột trong sử ở vào thời đại Lý Nhân Tông. Như chúng ta đều biết, thời đại Lý Nhân Tông là thời đại hùng mạnh về kinh tế và quân sự của nước Đại Việt, qua hai lần đại thắng quân Tống tại Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) vào năm 1075 và tại sông Cầu vào năm 1076. Lý Nhân Tông lên ngôi năm 1072 khi mới 7 tuổi, Ỷ Lan Hoàng Thái hậu buông rèm nhiếp chính từ năm 1073 cho đến cuối đời - Điều này được ghi rõ trong sử như sau: Ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117), Ỷ Lan Hoàng Thái hậu băng hà, thì tháng 2 năm 1117 sử vẫn ghi: "Tháng 2, định rõ lệnh cấm trộm trâu" Hoàng Thái hậu nói: "Gần đây ở kinh thành, hương ấp, có nhiều kẻ trốn tránh, lấy việc ăn trộm trâu làm nghề nghiệp, trăm họ cùng quẫn, mấy nhà cày chung một con trâu. Trước đây, ta đã từng nói đến việc ấy, nhà nước đã có lệnh cấm. Nay giết trâu lại càng nhiều hơn trước". (ĐVSKTT - NXB KHXH - 1983 - trang 302) Theo như sử ghi thì cách 5 tháng trước khi mất, tiếng nói của Ỷ Lan Hoàng Thái hậu vẫn đầy quyền lực trong triều đại Lý Nhân Tông. Sau đây, để tham khảo và suy ngẫm, tôi xin được chép lại một số sự kiện từ cuối thời đại Lý Thái Tông đến năm 1075, với những sự kiện có liên quan đến Ỷ Lan Hoàng Thái hậu và Thái sư, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh (theo Đại Việt sử ký toàn thư - NXB Khoa học xã hội - 1983). * Quý Mão (1063): Bấy giờ vua xuân thu đã nhiều, tuổi 40 mà chưa có con trai nối dõi, sai chi hậu nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa, sau đó Ỷ Lan phu nhân có mang, sinh hoàng tử Càn Đức (tức Lý Nhân Tông). Tục truyền rằng nhà vua cúng khấn cầu tự chưa thấy hiệu nghiệm, mới đi chơi khắp các chùa quán. Xa giá đi đến đâu, con trai con gái đổ xô đến xem không ngớt, duy chỉ có một người con gái hái dâu cứ đứng tựa trong bụi cỏ lau. Vua trông thấy, gọi đưa vào cung, được vua yêu, phong làm Ỷ Lan phu nhân. * Bính Ngọ (1066): Mùa xuân, tháng Giêng, ngày 25, giờ hợi, hoàng tử Càn Đức (sau này là Lý Nhân Tông) sinh. Ngày hôm sau lập làm hoàng thái tử, đổi niên hiệu, đại xá, phong mẹ thái tử là Ỷ Lan phu nhân làm Thần phi. (trang 285). * Kỷ Dậu (1069): Mùa xuân, tháng 2, vua thân đi đánh Chiêm Thành, bắt được vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn người. Trận này vua đánh Chiêm Thành mãi không được, đem quân về đến châu Cư Liêm, nghe tin Nguyên phi giúp việc nội trị, lòng dân cảm hoá hoà hợp, trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi là bà Quan Âm, vua nói: "Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao!". Bèn quay lại đánh nữa, thắng được (trang 286). * Canh Tuất (1070): Mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối (Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử), vẽ tượng Thất thập nhị hiền (72 học trò giỏi của Khổng Tử), bốn mùa cúng tế. Hoàng Thái tử tới học ở đây (trang 287). * Nhâm Tý (1072): Mùa xuân, tháng Giêng, ngày Canh Dần, vua (Lý Thánh Tông) băng hà ở điện Hội Tiên. Hoàng Thái tử Càn Đức (tức Lý Nhân Tông) lên ngôi ở trước linh cữu, đổi niên hiệu là Thái Ninh năm thứ 1. Bấy giờ vua mới 7 tuổi, tôn mẹ đẻ là Ỷ Lan nguyên phi làm Hoàng Thái phi, tôn mẹ đích là Thượng Dương thái hậu họ Dương là Hoàng Thái hậu, buông rèm cùng nghe chính sự, Thái sư Lý Đạo Thành giúp đỡ công việc (trang 288). * Quý Sửu (1073): Giam Hoàng Thái hậu họ Dương, tôn Hoàng Thái phi (Ỷ Lan nguyên phi) làm Linh Nhân Hoàng Thái hậu. Linh Nhân có tính ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với vua rằng: "Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác được hưởng, thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?". Vua bèn sai đem giam Dương Thái hậu và 72 thị nữ vào cung Thượng Dương, rồi bức phải chết chôn theo lăng Thánh Tông. Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Nhân Tông là người nhân hiếu, Linh Nhân là người sùng phật, sao lại đến nỗi giết đích Thái hậu, hãm hại người vô tội, tàn nhẫn đến thế ư? (...) Thái sư Lý Đạo Thành phải ra trấn bên ngoài, biết đâu chẳng vì can gián việc ấy? Thái sư Lý Đạo Thành lấy chức Tả gián nghị đại phu ra coi châu Nghệ An. Đạo Thành lập viện Địa Tạng ở trong miếu Vương Thánh châu ấy ở giữa viện đặt tượng Phật và vị hiệu của Thánh Tông, sớm hôm thờ phụng (trang 289). * Ất Mão (1075): Mùa xuân, tháng 2, xuống chiếu tuyển Minh Kinh bác học và thi nho học tam trường, Lê Văn Thịnh được trúng tuyển cho vào hầu vua học. * Giáp Tý (1084): Mùa hạ, tháng 6, sai thị lang bộ binh Lê Văn Thịnh đến trại Vĩnh Bình cùng với người Tống bàn việc cương giới. Định biên giới, nhà Tống trả lại cho ta 6 huyện 3 động. Người Tống có thơ rằng: "Nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim" (Vì tham voi Giao Chỉ, bỏ mất vàng Quảng Nguyên). * Ất Sửu (1085): Cho Lê Văn Thịnh làm Thái sư. Bấy giờ thiên hạ vô sự, hoàng hậu đi chơi khắp các núi sông, ý muốn xây dựng chùa tháp (trang 294). * Bính Tý (1096): Mùa xuân, tháng 3, Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết, an trí ở Thao Giang (Tam Nông, Phú Thọ). Bấy giờ vua ra hồ Dâm Đàm, ngự trên thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mây mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo kêu rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người tái mặt, nói: "Việc nguy rồi!". Người đánh cá là Mục Thận quăng lưới trùm lên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Thịnh là đại thần có công giúp đỡ, không nỡ giết, đày lên trại đầu Thao Giang. Thưởng cho Mục Thận quan chức và tiền của, lại cho đất ở Tây Hồ làm thực ấp. Trước đấy Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch" (trang 297). * Đinh Sửu (1097): Mùa thu, tháng 8, sao mọc ban ngày. Bấy giờ trong nước giàu đủ, Thái hậu làm nhiều chùa Phật (trang 297). "Đại Việt sử ký toàn thư" có lời bình chú rằng "Tục truyền Thái hậu hối về việc Thượng Dương thái hậu và các thị nữ vô tội mà bị chết, làm nhiều chùa Phật để sám hối, rửa oan" (trang 301). Vụ án trên hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) xảy ra vào năm 1096 đối với Thái sư, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh - vị Trạng nguyên đầu tiên của nước Đại Việt, tính đến nay đã 912 năm. Từ đọc trong sử sách, đến việc về tận quê hương của Trạng nguyên Lê Văn Thịnh, tiếp xúc với dân gian thấy câu chuyện về Lê Văn Thịnh khác hẳn như trong sử sách đã ghi. Trước và sau sự kiện 1096, trong sử không thấy ghi sự việc gì liên quan đến Lê Văn Thịnh với vụ án này, mà chỉ dẫn ra một sự việc khá hàm hồ là "Lê Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch". Thời đại Lý Nhân Tông mà Trạng nguyên Lê Văn Thịnh phò tá là một thời đại hùng mạnh, giàu đủ như trong sử đã ghi rõ. Một vị Thái sư, một Trạng nguyên giỏi giang thông thái như Lê Văn Thịnh không thể mượn phép thuật để mưu phản "giết vua". Thử hỏi, một mình ông đứng ra giết vua ở vào thời đại đó, để làm gì? Trước sau trong sử không hề ghi ông có hiềm khích, thù oán, xung khắc gì với triều đình, với vua và Hoàng Thái hậu - sử không hề ghi ông có phe nhóm, bè đảng và âm mưu gì. Vậy Trạng nguyên Lê Văn Thịnh giết vua vì mục đích gì? 912 năm trôi qua, sự việc ở hồ Dâm Đàm vẫn treo trên đầu các thời đại một câu hỏi lớn. Hiện quê hương của Trạng nguyên Lê Văn Thịnh, nhân dân trong vùng sùng kính trân trọng ông tột bậc, có 2 khu di tích lập ra để thờ ông (ở Thuận Thành và Gia Bình), khu lăng mộ của ông đã được trùng tu nhiều lần đến nay rất quy mô và bề thế. Người dân trong vùng truyền đi những giai thoại đẹp về vị Trạng nguyên đầu tiên của nước Việt, và vụ án được ghi trong sử đã được Ỷ Lan Hoàng Thái hậu giải oan từ khi bà còn sống, được thể hiện qua pho tượng điêu khắc rồng hiện đang được thờ tại đền thờ Trạng nguyên Lê Văn Thịnh. Đã gần 10 thế kỷ trôi qua, dấu xưa đã phôi pha chẳng còn bao vết tích. Ngay trong sử sách có nhiều điều bị thêm bớt, sửa chữa cách nay nhiều thế kỷ nên ngày nay có nhiều điều chúng ta chưa được rõ. Theo cố GS Trần Quốc Vượng trong lời đầu sách khi dịch "Việt sử lược" (thế kỷ XIV) cho biết: "Quyển sử đầu tiên của nước ta - cho đến nay được biết là sách "Đại Việt sử ký" do Lê Văn Hưu soạn, đời Trần Nhân Tông năm Nhâm Thân 1272. Sách ấy ngày nay không còn nữa. Nó đã bị thêm bớt, sửa chữa, bao gồm vào sách "Đại Việt sử ký toàn thư" (...). Những sách sử đời Trần còn lại đến ngày nay chỉ còn thấy hai bộ: Một là sách "An Nam chí lược" của Lê Tắc soạn ở Trung Quốc vào năm 1333. Còn bộ sử thứ hai là một bộ sách nhỏ, gọi là sách "Việt sử lược". "Việt sử lược" là do một tác giả cuối đời Trần đã lược lại "Đại Việt sử ký" của Lê Văn Hưu (...). Theo Ngô Sĩ Liên, sách "Đại Việt sử ký" của Lê Văn Hưu gồm 30 quyển, mà nay phần còn lại trong "Toàn thư và Việt sử lược" không còn là bao. Điều đó chứng tỏ cả hai sách đã lược bớt Đại Việt sử ký rất nhiều". Tôi chỉ là người yêu sử, nhân một cuộc du ngoạn viếng thăm đền thờ và quê hương Trạng nguyên đầu tiên của nước Việt, cảm khái chép lại đôi điều trong sử sách, rất mong được các bậc học giả, các nhà nghiên cứu lịch sử sớm làm sáng tỏ sự kiện năm 1096 trên hồ Dâm Đàm, trả lại những giá trị đích thực đối với vị Trạng nguyên đầu tiên của nước Việt - Thái sư, Trạng nguyên Lê Văn Thịnh Dương Kiều Minh Theo : Báo CÔNG AN NHÂN DÂN & AN NINH THẾ GIỚI
  3. Anh Thiên Sứ thân mến, Tôi hiểu ý anh. Tôi hứa sẽ có bài trả lời toàn bộ bài viết của anh về vấn đề nước Nam Việt và nhân vật Triệu Đà theo những phân tích - đánh giá chủ quan của tôi đối với một thời kỳ nhạy cảm của lịch sử dân tộc. Nhưng tôi tin rằng, mọi sự tranh luận thuộc quan điểm cá nhân (khác nhau) của mỗi người về những khoảng trống của lịch sử nước nhà đều xuất phát từ những tình cảm da diết, nỗi quay quắt đối với tổ tiên nguồn cội của những người con đất Việt và tất cả không ngoài mục đích mang tính xây dựng. Còn để tiếp tục với chủ đề này, như ở bài viết trước tôi đã trình bày, trong suy nghĩ của tôi - rất nghiêm túc - từ lâu đã có những nghi ngờ về một thời kỳ kháng chiến oanh liệt và bi hùng của lịch sử nước nhà : cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Mặc dù tôi cũng không đồng ý với quan điểm của GS Lê Mạnh Thát trong việc phủ nhận nhân vật Thục Phán An Dương Vương, vấn đề này tôi rất ủng hộ bài phản biện của anh Thiên Sứ. Nhưng nếu được, từ nay tôi xin mạn phép nêu ra những mối nghi vấn và thử đặt ra những giả thuyết của chủ quan cá nhân tôi về thời kỳ này. Xin được tiếp tục ở các bài viết sau. Cám ơn anh Thiên Sứ và quý bạn đọc quan tâm !
  4. Kính thưa quý anh chị bạn đọc, Thực ra, ngay từ những số báo đầu tiên (Thanh Niên) về những quan điểm của GS Lê Mạnh Thát đã để lại cho Trần Phương tôi rất nhiều suy nghĩ, tôi đã định viết lên hàng loạt những nghi vấn của mình về một thời cổ sử ở nước ta thời kỳ đầu công nguyên mấy lần nhưng chưa biết phải bắt đầu như thế nào, với lại cũng không có nhiều thời gian. Có thể nói rằng, tài liệu cổ sử của nước ta về thời kỳ đó quá ít, nếu không muốn nói là còn quá nhiều lỗ hổng bởi phần lớn các tài liệu sử của nước ta thời đó đều dựa vào sử sách của Tàu. Hôm nay, tôi xin trích vài đoạn của GS Lê Mạnh Thát (báo TN) và một số tài liệu lịch sử liên quan, tôi sẽ từng bước nói rõ hơn về những nghi vấn và quan điểm của tôi ở các bài viết sau. Đầu tiên, quý vị hãy xem quan điểm này của GS Lê Mạnh Thát : Nước Nam Việt của Triệu Đà chưa bao giờ bao hàm nước ta trong đó cả. Có nghĩa là, cho đến năm 43 (sau dương lịch), trước khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng thất bại, nước ta vẫn là một nước độc lập. Đó là triều đại Hùng Vương, là nhà nước Hùng Vương. Nhà nước đó đã được xây dựng trên một nền văn hiến với điển chương riêng của nó, có luật pháp, có chữ viết, có lịch số, có âm nhạc, có văn học Về tiểu sử của Hai Bà Trưng, theo wiki : Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, hai bà nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu. Mẹ hai bà là bà Man Thiện, theo truyền thuyết và thần tích bà là người làng Nam Nguyễn (Ba Vì, Hà Tây), có tên là Trần Thị Đoan, chồng mất sớm. Bà có công dạy hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị giỏi võ, có tinh thần yêu nước, có chí lớn. Và Thi Sách : Trưng Trắc là vợ của Thi Sách con trai Lạc tướng huyện Chu Diên Dưới đây là công cuộc kháng chiến oanh liệt của Hai Bà : Tháng 2, năm Canh Tý, vì Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Tô Định giết chồng mình, Trưng Trắc cùng với em gái là Trưng Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu. Tô Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương. Về lý do của cuộc khởi nghĩa : http://e-cadao.com/lichsu/haibatrung.htm Thái thú Trung Hoa là Tô Định cai trị tàn bạo, dùng pháp luật trói buộc, lại giết chồng Bà Trưng nên Bà khởi nghĩa. Sau đây là lời của Toàn thư: “ Mùa xuân, tháng Hai [canh tý], vua [Trưng Trắc] khổ vì thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình, mới cùng em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị sở ở châu...” Còn về qui mô của cuộc kháng chiến, đã nhiều sự đánh giá rất trân trọng đối với đối với 2 vị nữ vương anh hùng của dân tộc : Sử gia Lê Văn Hưu viết : Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao? Ôi! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình vậy. Sử gia Ngô Sĩ Liên viết : Họ Trưng giận thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà quốc thống nước ta cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng há chỉ lúc sống dựng nước xưng vương, mà sau khi chết còn có thể chống ngăn tai họa. Phàm gặp những việc tai ương hạn lụt, đến cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả bà Trưng em cũng thế. Vì là đàn bà mà có đức hạnh kẻ sĩ, cái khí hùng dũng trong khoảng trời đất không vì thân chết mà kém đi. Bọn đại trượng phu há chẳng nên nuôi lấy cái khí phách cương trực chính đại ấy ư? ........................... Kính thưa quý vị, Tôi chưa thể trích hết những trang sử nói về thời kỳ của Hai Bà Trưng trong bài này, nhưng tạm thời xin trích dẫn vài tài liệu như trên. Xin được tiếp tục trình bày những nghi vấn của tôi về một thời kỳ oanh liệt và bi hùng của lịch sử nước nhà trong các bài viết sau. Cám ơn quý anh chị bạn đọc quan tâm !
  5. Xin được trả lời toàn bộ bài viết của anh Thiên Sứ đối với lập luận của tôi. Tôi viết đọan này ở bài viết trước : Các tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch vâng lệnh nhà Minh cất quân tấn công và đánh chiếm thành công vùng đồng bằng sông Cửu Long của các chúa Nguyễn, khai phá và đặt quyền kiểm soát vùng này là một tỉnh của nhà Minh. Sau này nhà Mãn Thanh thay thế nhà Minh, như một luật bất thành văn, các vùng đất thuộc chủ quyền của nhà Minh trước đó đều phải thuộc nhà Thanh. Và các tướng trên không phục nhà Thanh nên quyết chống lại và lập lãnh thổ riêng ... Đây là một điều giả sử do chính chủ quan của tôi đặt ra, tôi có nhấn mạnh bằng cách tách riêng và để chữ in nghiêng, ý muốn nói đến một điều không có thật trong lịch sử nhưng chỉ có trong trường hợp giả định như vậy mới có thể so sánh Trần Thượng Xuyên, Trương Ngạn Địch với Triệu Đà bởi vì như anh viết : "Tỵ nạn chính trị" với "xâm chiếm và xác định chủ quyền" là hai vấn đề khác nhau." Tôi nghĩ đã có sự hiểu lầm của anh đối với lập luận của tôi. Vì điều ở trên cũng chính là điều mà tôi đang muốn chứng minh : các tướng nhà Minh được xem là tị nạn chính trị nên không thể so sánh với trường hợp của Triệu Đà là xâm chiếm và xác định chủ quyền được. Anh viết : Nếu nói như anh thì: "đặt quyền kiểm soát vùng này là một tỉnh của nhà Minh. Sau này nhà Mãn Thanh thay thế nhà Minh, như một luật bất thành văn, các vùng đất thuộc chủ quyền của nhà Minh trước đó đều phải thuộc nhà Thanh". và : Với lập luận trên của anh thì theo anh bây giờ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thay thế nhà Mãn Thanh thì vùng đất này sẽ thuộc chủ quyền của ai? Như tôi đã nói ở trên, đó chỉ là điều giả định do chủ quan của tôi đặt ra nên không thể là sự thật, do đó không thể có trường hợp này :rolleyes: Nhân đây, tôi cũng xin mạn đàm thêm về ý của anh, nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Trung Hoa thay thế nhà Mãn Thanh thì theo một lẽ hiển nhiên, những vùng đất trước đó của Mãn Thanh đều phải thuộc về CHDCND Trung Hoa. Tôi chứng minh điều này như sau : chiếu theo lịch sử, Trung Quốc ngày nay hoàn toàn có cớ chính đáng để lấy lại những vùng đất trước đây của mình (nhà Thanh) như Hongkong, Macau, ... dù trước đó thực dân Anh và Bồ Đào Nha chiếm của nhà Thanh trước đây chứ không phải nhà nước Trung Quốc hiện tại. Các nước phương tây dù có muốn tiếp tục duy trì ảnh hưởng của mình ở những vùng đất đó nhưng không thể chối bỏ chứng cứ lịch sử rõ ràng ấy nên buộc phải trao trả, đó là chưa nói đến sức mạnh của Trung Quốc bây giờ, sự kiện trao trả này chính là một tất yếu của lịch sử. Trường hợp tương tự là đảo Đài Loan, nhưng vì đây là một vấn đề thuộc phạm trù chính trị quốc tế nhạy cảm nên tôi không dám lạm bàn. Anh viết : Quan điểm của tôi rất rõ ràng là: Nam Việt Triệu Đà là quốc gia của người Việt. Không chỉ vì một Triệu Đà là người sinh ở vùng đất thuộc nhà Hán quản lý mà Nam Việt không phải quốc gia Việt. Về quan điểm này (Triệu Đà) thì có lẽ tôi và anh khác nhau, tôi không thể công nhận một nhân vật nối tiếp bước chân kẻ xâm lược để áp đặt sự thống trị ở nước ta là đại diện cho chủ quyền của dân Việt và nền văn hóa Việt, nhưng xin được tiếp tục ở một dịp khác vì tôi xin ngưng các bài viết thể hiện quan điểm của tôi về Triệu Đà kể từ đây bởi có lẽ không phù hợp với chủ đề này. Anh viết : tôi đặt vấn đề là : Triều đại Mãn Thanh có thuộc quốc gia chính thống của Trung Quốc không? Nếu người Hoa Kỳ bầu Obama làm tổng thống thì Hoa Kỳ thuộc quốc gia Kenia ở châu phi chăng? Tất nhiên điều đó phi lý. Triều Mãn Thanh thì dĩ nhiên là thuộc về triều đại chính thống của Trung Quốc :rolleyes: , nhưng có lần tôi cũng có nói đến là hơi éo le bởi vì bị người ngoại tộc nắm quyền. Đây lại là một vấn đề chính trị nhạy cảm. Theo tôi, qua các tác phẩm văn học hay phim ảnh, ta cũng có thể thấy được nỗi đau của người Trung Hoa khi một mặt vẫn gọi là "giặc chó Thanh" nhưng một mặt vẫn không thể phủ nhận sự xác định chủ quyền rộng lớn đến thế nào của nhà Thanh, một trong những tác phẩm (phim) mà theo tôi là tiêu biểu cho vấn đề này là "Lộc Đỉnh Ký". Tuy nhiên, vì đây là chuyện xứ người nên cũng không dám bàn sâu. Cụm từ "phân biệt chủng tộc" không có trong kho từ điển tiếng Việt của tôi, nên anh Thiên Sứ đặt vấn đề về bầu cử tổng thống da màu ở Mỹ để so sánh với trường hợp nhà Mãn Thanh hay Triệu Đà là không mấy thuyết phục, ít nhất với quan điểm của tôi. Cuối cùng, xin được nhắc lại là, để trở lại với chủ đề chính, tôi xin ngưng các bài viết thể hiện quan điểm của mình về nhân vật Triệu Đà kể từ bài viết này. Xin cảm ơn anh Thiên Sứ cùng quý bạn đọc !
  6. Kính chị Wildlavender và anh Thiên Sứ, Ở đoạn "Lạc Việt, Tây Âu và nước Nam Việt", tác giả viết : Sự thâm nhập trực tiếp của người Hoa Hạ vào khu vực Lạc Việt diễn ra rõ rệt nhất vào thời Tần (Thủy Hoàng), cuối thế kỷ III trước Công nguyên. Tuy nhiên cố gắng lớn nhất của Tần Thủy Hoàng chỉ là lập được một tuyến quận huyện Tần từ Trường Sa đến Nam Hải, tức là chinh phục được các nhóm Yuê ở Bắc (một phần Âu Việt) và Nam Ngũ Lĩnh (một phần Lạc Việt) (Hồ Nam, Quế Lâm, Quảng Đông, Quảng Tây), lập thành quận Nam Hải. Trong sự thôn tính đó, chúng ta đều biết Nhâm Ngao và Triệu Đà cùng là tướng lĩnh của nhà Tần, và : Trong quá trình nhà Tần suy yếu, Hán Sở tranh hùng, Nhâm Ngao (là chủ soái của Triệu Đà) cùng Triệu Đà âm mưu cát cứ để lập một quốc gia riêng của người Yuê ở vùng Nam Hải. Nhưng không thể có sự so sánh khập khiễng như thế này : Chính Triệu Đà đã lấy vợ người Việt (quê Đồng Xâm, Thái Bình, nay còn đền thờ bà và Nam Việt Vương họ Triệu đó). Điều này giống tình trạng của những người Minh lưu vong do Trương Ngạn Địch, Trần Thường Xuyên đã sang nước ta cùng chúa Nguyễn xây dựng Tổ quốc mới. Trong so sánh có thể hình tượng khái quát mặc dù có thể khác về thời điểm và bối cảnh lịch sử, nhưng ít nhất phải có một đơn vị chung. Chỉ có thể so sánh trường hợp trên trong trường hợp giả sử như thế này : Các tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch vâng lệnh nhà Minh cất quân tấn công và đánh chiếm thành công vùng đồng bằng sông Cửu Long của các chúa Nguyễn, khai phá và đặt quyền kiểm soát vùng này là một tỉnh của nhà Minh. Sau này nhà Mãn Thanh thay thế nhà Minh, như một luật bất thành văn, các vùng đất thuộc chủ quyền của nhà Minh trước đó đều phải thuộc nhà Thanh. Và các tướng trên không phục nhà Thanh nên quyết chống lại và lập lãnh thổ riêng ... Chỉ có điều giả sử trên thì mới có thể so sánh với trường hợp của Triệu Đà. Còn thực tế lịch sử thì hoàn toàn khác hẳn : các tướng lĩnh trên thuộc nhà Minh cũ vốn không phục nhà Thanh nên mới dẫn đoàn gia quyến cùng tùy tùng sang xin các chúa Nguyễn được tị nạn chính trị ở nước ta và được các chúa Nguyễn bố trí sinh sống ở vùng đất Đồng Nai và Tiền Giang ngày nay. Như vậy, ở phần nhân vật Triệu Đà, tôi đã từng thể hiện quan điểm của mình là coi công cuộc bành trướng và thâu tóm của các thế lực phong kiến phương bắc đối với nước ta là hành động xâm lược. Không phải là đại diện cho chủ quyền của dân Việt và nền văn hóa Việt. Về việc phân tích quan điểm của GS Lê Mạnh Thát, tôi đã định trình bày những phân tích của mình trong topic "thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất" nhưng vì bữa giờ tôi bận quá nên không thể có thời gian lên net được lâu. Nay tôi xin tiếp tục trình bày trong chủ đề này ở các bài viết sau.
  7. NÊN Hôm nọ tôi đến thăm anh Thiên Sứ và có kèm theo chút ... nhờ vả : - Thế này anh Thiên Sứ ạ, chẳng là tháng này tôi làm ăn bết quá, chỉ chưa đầy một tuần mà bị hủy hết 3 cái hợp đồng. Tôi định xả xui bằng cách hôm nay sẽ trút hết số hầu bao còn lại để mua vé số, theo anh thì có nên không ? - Nên, nhưng anh hãy lựa tờ trúng mà mua.
  8. Tất cả sẽ vô nghĩa khi nó không chứng tỏ một định hướng tốt đẹp cho tương lai con người. Đúng vậy anh Thiên Sứ ạ, lịch sử cũng cần những cách hiểu dung dị và giàu tính nhân bản. Tôi thực sự không thể hiểu nổi một số người cho rằng : "chính cái âm mưu giết hại Tiên Hoàng của Dương Thị và Lê Hoàn đã khiến cho nhà Tống có cơ hội xua quân sang nước ta, bởi vì trước đó Tiên Hoàng, mà nhất là hoàng tử Đinh Liễn đã có quan hệ rất tốt đẹp với nhà Tống". Trời ạ, gọi là "nhà sử học" làm gì để mà ấu trĩ vậy chứ, bài học lịch sử còn sờ sờ ra đó : mỗi khi đất nước có biến loạn về triều chính thì cũng là lúc ngoại bang đâu dễ gì khoanh tay đứng nhìn, bài học về Hồ Quý Ly còn đó, nội chiến Lê - Mạc còn đó, Tây Sơn và vua Lê Chiêu Thống còn đó, vậy mà ... Bây giờ nếu người ta có cố chứng minh Hai Bà Trưng bị chết chém chứ không phải tự tử ở Hát Giang thì sao chứ ? Hai Bà chẳng phải là đại diện cho ý chí quật cường của dân tộc, cho nền văn hóa Việt à ? Và đứng đầu một nước thì gọi là Nữ Vương hay là Vua thì có gì là khác biệt ? Hay chẳng qua vì Hai Bà "làm phản" nên gọi là "Vua" là hỗn chăng ? Hic ... Và nếu bây giờ tôi vẫn cứ giữ hình ảnh đẹp của Hai Bà là gieo mình xuống Hát Giang tự vẫn thì sao nào ? Bởi vì tôi (và tin rằng cả nhiều thế hệ trẻ em sau này nữa) là người yêu cái đẹp là xuyên tạc lịch sử à ? Tôi cũng xin mượn lại câu kết của anh Thiên Sứ làm câu kết của tôi : Tất cả sẽ vô nghĩa khi nó không chứng tỏ một định hướng tốt đẹp cho tương lai con người. Trần Phương
  9. Tôi thực sự bị cuốn hút vào những món đồ cổ vớt được ở nhà hàng Trống Đồng, chắc chắn một điều rằng sẽ còn rất nhiều cổ vật vẫn chưa tìm thấy hoặc sẽ không bao giờ tìm thấy. Theo tôi, ý tưởng của bạn Rin86 là một ý tưởng rất hay, vì đối với nhiều người Việt Nam, theo tôi biết, thời kỳ Hùng Vương vẫn là một cái gì đó mờ mờ ảo ảo, nên tôi nghĩ, giới thiệu về văn hóa Việt từng có thật một thời lung linh huyền vĩ qua các giá trị cổ vật là một việc thiết thực, nếu chưa ai làm thì mình làm, bởi có phải vì lợi nhuận gì cho riêng ai đâu mà gọi là quảng bá hay khuếch trương. Nếu được, tôi cũng xin đóng góp chút phần nhỏ :) Tôi đã từng ra Hà Nội nhiều lần, nhưng chưa biết qua nhà hàng Trống Đồng. Anh Thiên Sứ có thể giới thiệu cho tôi biết website hay địa chỉ của nhà hàng đó không ? Trước mắt, tôi muốn biết chút thông tin như : thực đơn, giá cả dịch vụ, số lượng khách tối đa cho mỗi lần, ... Không biết đã có chương trình ẩm thực nào đưa khách tới đây tham quan chưa, nhưng nếu được thì tôi sẽ thử đưa thêm vào tour khách nội địa xem sao, tôi nghĩ chắc sẽ thú vị lắm. Vài ý tưởng, mong quý vị góp ý, ...
  10. Đúng vậy, điều này từ lâu tôi cũng có suy nghĩ như anh Thiên Sứ, mặc dù sau này người ta có đặt ra nhiều nghi án :) Trước đây tôi rất thích xem truyện tranh, trong truyện về kiếm sĩ Kenshin Ruruni - tranh truyện Nhật Bản, tôi còn nhớ mãi mẩu đối thoại giữa Kenshin và Kaoru sau : Kaoru nói : Môn phái của ta chỉ sử dụng kiếm để cứu người. Kenshin đáp : Không đúng, kiếm là hung khí, dù người ta có thêm vào những từ hoa mỹ cho nó như thế nào thì sự thật trần trụi nó vẫn như vậy, nhưng trong tâm khảm của ta, "kiếm để cứu người" là rất dễ thương, cầu mong những điều dễ thương ấy luôn truyền mãi trên khắp thế giới. Ngày nay có nhiều nhà sử học rất khắt khe khi đặt lại vấn đề lịch sử rằng : các đoàn nghệ thuật ngày nay thêm bớt nhiều cả về nội dung lẫn tên gọi, phải gọi cho đúng là Dương Thị chứ không có tên Nga nào cả. Cá nhân tôi vẫn thích gọi bà là Dương Vân Nga. Cái tên ấy đẹp làm sao ! Có ai đó nói rằng : cuộc sống cần thực tế một chút. Điều này đúng. Nhưng cuộc sống đâu chỉ có vậy. Tại sao ? Bởi vì ... đó là cuộc sống ! :unsure:
  11. Đôi khi ... Đôi khi, ta chợt nhận ra rằng, có một cái gì đó tinh tế trong những cái bình thường của đời sống tâm hồn ... Rằng có khi mỗi ngày ta chỉ rong ruổi vài cây số trong đường phố Sài Gòn cũng không thể nhớ nổi tên các đường phố mình đã đi qua ... Rằng cái thằng tôi này từng rất kiêu hãnh rằng : mình là một trong những người khá rành tên đường trong thành phố này, đơn giản vì công việc nên phải rong ruổi nhiều nên khá rành, nhưng nhớ tên đường chỉ để phục vụ cho cuộc sống mưu sinh của mình chứ biết làm quái nào được ý nghĩa tên đường ... Rằng hình như có thằng bạn Việt kiều lâu lâu về nước năm nào đó nói rằng : hiếm nơi nào như ở VN mình cứ bước ra phố là thấy tên anh hùng, đó là cái đạo lý Tri Ân đối với những người có công với đất nước rất độc đáo của người VN. Tưởng lâu lâu được nó mời đi nhậu để được nghe kể chuyện xứ người chứ, đằng này lại toàn nói chuyện xứ ta, chán ... Rằng vào mỗi buổi chiều khi tan sở, chỉ cần nghe được điện thoại của thằng chiến hữu nào đó nói tên đường nào là biết ngay tên quán, vù xe bay đến đích ... Nhưng chính trong những lúc đôi khi bất chợt chỉ vài giây đó, bỗng nhận ra có một sự tinh tế ... Lần đó là một buổi chiều kẹt xe đến kinh người, ngay chỗ chợ Phạm Văn Hai, nhích từng bước, mệt ... Lúc đang cau có vì không thể tiếp tục di chuyển, nhìn lên bảng tên đường bên hông chợ, con đường nhỏ mang tên : Dương Vân Nga, nhưng cũng chẳng để ý gì vì nó đập vô trước mắt nên nhớ, vậy thôi, ... Tiếp tục nhích từng bước một, đến bên hông chợ bên kia, lại cũng không thể tiếp tục di chuyển, cũng thấy đập vô mắt tên một con đường nhỏ : Nguyễn Bặc, ... Bỗng chốc, như chợt nhớ ra một cái gì đó, hai bên hông chợ là hai tên đường ! Hay thật, tinh tế thật, khá khen cho ai khéo đặt tên ... Như quên hết mệt mỏi, hết cau có, khẽ mỉm cười và tiếp tục hành trình ... Trần Phương
  12. Độc Thoại Của Dương Vân Nga Cao Tự Thanh (viết cho Nguyễn Thị Minh Ngọc) Này, các người, hậu huệ của các thần dân trước kia của ta, các người đánh đập xong rồi phải không ? Một pho tượng như ta mà lên tiếng thật cũng trái với thói thường, quyền phát ngôn chỉ thuộc về kẻ sống. Nhưng cả ngàn năm rồi mà các người vẫn hát bài đồng ca chính thống cũ, vần những gia điệu cũ, tiết tấu cũ, có khác chăng chỉ là lời hát mới, từ ngừ mới mà thôi. Xem ra đầu óc các người còn cũ kỹ hơn cả một pho tượng cũ, thất đáng thương. Nghĩ mà buồn cười : các người thờ phụng ta mà lại đánh đập ta, nhưng đánh đập ta mà vẫn thờ phụng ta. Các người dám bất kính chứ không dám phủ nhận chứ gì. Mà các người bất kính với ta vì lẽ gì nào ? Vì ta tái giá với Đại Hành hoàng đế à ? Chuyện đó đụng chạm gì tới các người chứ ? Bọn đàn ông kia, sao các người không tự trách mình không làm được một Đài Hành hoàng đế, mà chỉ biết kết án các Dương Vân Nga ? Còn các phụ nữ thủ tiết không đi bước nữa nghe đây : tại sao các người không dám tái giá thế ? Chỉ có hai lý do : hoặc là lo chồng sau không bằng chồng trước, hoặc là sợ chồng sau còn qúa chồng trước thôi, đúng không ? Ta thì khác nhé, hai người của ta đều anh hùng, đều hoàng đế, đều có công với nước với dân, đều yêu thương và kính trọng ta, chỉ có bọn xấu xí đần độn mới muốn mà không dám làm vợ họ thôi. Thật ra, ta cũng biết người lên án ta kịch liệt nhất là các nhà Nho. Họ nói ta ưng thuận đưa Đại Hành hòang đế lên ngôi là có tội vì làm mất ngôi vua của con cháu Tiên Hoàng. Vậy những người ưng thuận đưa Tiên Hoàng lên ngôi có tội với Ngô Vương không ? Thật khốn kiếp, họ cứ làm như đất nước là của riêng của một nhóm người hay một giòng họ. Cái thói coi nhà là triều và coi triều là nước ấy đã làm nảy sinh hàng bầy vua chúa chông hầu yêu nước mà không thương dân đấy. Vả lại có dòng họ nào làm vua được mãi mãi không ? Bọn ngu xuẩn không hiểu gì về quyền lực mới tham quyền cố vị. Mà nếu ngai vàng đúng là của gia đình ta thì họ càng không được bất kính với ta. Ta là vợ cúa Tiên Hoàng, vợ chồng đã ra riêng, chồng chết thì vợ hưởng gia tài, ngay nhà chồng cũng không có quyền can thiệp vào việc ta sử dụng tài sản của ta, chứ đừng nói là người ngoài. Tựu trung, chỉ vì họ nhất quyết không chịu khâm phục ta. Mà nói lại, tại sao họ tự cho phép mình có cài quyền không chịu khâm phục ta ? Chì vì ta là phụ nữ thôi. Nói thật lòng thì hai đời chồng cùng không thoải mái lắm. Nếu không có chuyện quân Tống qua đánh thì chưa chắc ta đã đi bước nữa đâu. Đại Hành hoàng đế là người giỏi nhất trong các tướng lãnh của Tiên Hoàng, không phải ông cầm quân thì khó mà chống được quân Tống. Lấy chồng lần thứ hai khó mà dễ, khó là khó qúa phận để lên làm vợ, dễ là dễ yên phận mà ra sức giúp chồng. Ta giúp chồng sau chống giặc giữ nước, giữ gìn sự nghiệp nhất thống giang san của chồng trước, khiến công nghiệp anh hùng của Tiên Hoàng được nối tiếp bằng công nghiếp của anh hùng của Đại Hành hoàng đế, lại không không phải là hai lần vợ hiền à ? Tiên Hoàng vừa băng, vua nhỏ mới lập, trong triều đại thần tranh giành, ngoài biên cương địch dòm ngó, mà sử nước Việt từ Đinh qua Lê vẫn một mạch nối liền, cái công chuyển nguy thành yên ấy là của những ai vậy ? Những kẻ miệng đầy lời trung ái mà tay không chút công lao kia, tại sao các người không chịu học một lịch sử như nó có mà chỉ muốn học một lịch sử như các người muốn thế ? Cũng cần nhìn tới tương lai một chút. Sang năm, các người sẽ lại cúng tế ta, đánh đập ta, rồi đem kiệu rước ta qua miếu Đại Hành hoàng đế cúng tế màn hai, đúng không ? Ta chỉ có một cuộc đời, mà các ngưòi lại đem tín điều của mình chặt ra làm hai mảnh ? Bổn phận của những kẻ nhìn lịch sử qua lăng kính đạo đức như các người là kết án những phụ nữ lấy chồng và giữ nước không theo kiểu các người muốn, còn ta, một phụ nữ trong giới hoàng hậu và một hoàng hậu trọn giới phụ nữ, bổn phận của ta là cứ việc lấy chồng và giữ nước bất kể chuyện đó phù hợp hay không phù hợp với tiêu chuẩn trung trinh của bất cứ ai. Khởi kiệu đi ! Cao Tự Thanh Sài Gòn tháng 10, 2002
  13. Ở đoạn nói về Ngũ hành, ông Cao Tự Thanh viết : Quan hệ tương sinh tương khắc ở đây cũng là những phạm trù biểu kiến trong tư duy triết học của người Trung Hoa cổ, chúng phản ảnh sự mâu thuẫn có tính hiện tượng, bề mặt và sự thống nhất có tính bản chất, bên trong của giới tự nhiên. Người Việt Nam chúng ta hay gọi người Trung Quốc là người Hoa hay người Tàu (chỉ riêng người Việt mới gọi người Trung Quốc là người Tàu) là nói đến tất cả những cư dân sinh sống (hay xuất xứ) trên đất nước Trung Quốc ngày nay, không phân biệt dân tộc hay chủng tộc nào. Như vậy, ông Cao Tự Thanh dùng từ "người Trung Hoa cổ" một cách chung chung trong lập luận của mình khi trình bày về cổ văn hóa sử là không khách quan, dễ làm người đọc đi lầm đường khi nghĩ rằng các giá trị văn hóa VN ngày nay có bắt nguồn từ Trung Hoa. Thực tế là ở miền nam Trung Quốc ngày nay có nhiều dân tộc khác nhau với nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đó đã là một vấn đề lịch sử. Ông phê phán GS Trần Ngọc Thêm : Không lạ gì mà Trần Ngọc Thêm đã chạy theo số lượng khi nỗ lực giành quyền tác giả cho phương Nam, cho Bách Việt các giá trị loại Hà đồ, Lạc thư trên một đường hướng ít minh bạch và với những thao tác thiếu thẳng ngay kiểu nhập nhằng đánh đồng phương Nam với Việt Nam, Bách Việt với Lạc Việt. Vậy ra ông Cao Tự Thanh vẫn xuất phát từ quan niệm từ hàng ngàn năm nay khi cho rằng Kinh Dịch là sản phẩm của văn hóa Trung Hoa. Và nếu cứ mãi như vậy thì mọi sự nghiên cứu về văn hóa Việt vẫn mãi là những vòng lẩn quẩn bất hợp lý không thể lý giải từ hàng ngàn năm trước cho tới ngày nay và ... hàng ngàn năm sau nữa. Vài lời nông cạn,
  14. Xin được giới thiệu với anh Thiên Sứ đôi nét về nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh : Nguồn : http://www.vnexpress.net/GL/Van-hoa/2007/05/3B9F5C44/ Là nhà nghiên cứu về lịch sử văn hóa, một trong những học giả Hán Nôm, dịch giả Hoa văn uy tín hiện nay, Cao Tự Thanh có hơn 10 tác phẩm nghiên cứu về các lĩnh vực này, hơn 40 đầu sách dịch cùng nhiều công trình khác. Nhà nghiên cứu Hán học Cao Tự Thanh Nguồn : http://www.tiasang.com.vn/news?id=2385 Bàn luận về Tính cách Việt, nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh quan niệm không thể nói chung chung về tính cách. Xã hội nào tính cách ấy. Ông nói: Nói đến tính cách, phải nói đến phương thức sống của xã hội vào thời kỳ đó. Phương thức sống ở đây hiểu theo nghĩa là sự thể hiện trên quy mô xã hội và mang tính chất tổng hợp của các phương thức tồn tại vật chất, sản xuất tinh thần, giao tiếp xã hội và quản lý xã hội. Khi bước qua phương thức tồn tại vật chất mới, lối sống, mức sống cũng như quan niệm sống sẽ thay đổi. Phương thức sống trong thời kỳ bao cấp là một trong những nguyên nhân sản sinh ra thói vô trách nhiệm và đạo đức giả... Trần Phương giới thiệu.
  15. Ngoài cuốn "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", sách "Cơ sở văn hóa Việt Nam" của GS Trần Ngọc Thêm là một trong những kiến thức cơ bản của sinh viên trong môn học "Cơ sở văn hóa Việt Nam" ở các trường Đại Học, Cao Đẳng và TCCN, ... Liên quan đến chủ đề này, xin được giới thiệu bài phê bình của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh đối với tài liệu này : Đọc quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm Ngay sau khi vừa được phổ biến rộng rãi, quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm (Trường Đại học Tổng hợp thành phố HCM in, 1995) đã thu hút sự chú ý của nhiều người đọc sách. Bởi vì mặc dù chỉ là một tài liệu lưu hành nội bộ, đây lại là hóa thân của công trình Tính hệ thống của văn hóa Việt Nam - một đề tài khoa học cấp Bộ đã được nghiệm thu năm 1994 đồng thời là hậu thân của giáo trình cùng tên đã được đưa vào giảng dạy trong một số trường Đại học vài năm gần đây. Tác dụng xã hội của quyển sách do đó đã vượt khỏi phạm vi một công trình nghiên cứu văn hóa thông thường, nên việc nhìn nhận giá trị đích thực của nó là một điều cần thiết. Giở qua Cơ sở văn hóa Việt Nam, một người đọc bình thường cũng có thể thấy ngay rằng nó chứa đựng khá nhiều sai sót, trước hết do kiến thức cơ sở của tác giả về văn hóa và lịch sử Việt Nam. Báo Văn nghệ số 17 và 18 ngày 27. 4 và 4. 5. 1996 đã đăng tải một bài viết nêu ra hàng loạt sai lầm kỳ quặc loại cốm thóc nếp tẻ chiêm mùa trong quyển sách. Cũng có thể kể thêm nhiều ví dụ tương tự, chẳng hạn thực dân Pháp “lập ra Nam Kỳ tự trị” sau khi đánh chiếm luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1867 (tr. 385), “Kim Đồng thời đánh Pháp, Võ Thị Sáu thời đánh Mỹ” (tr. 398)... Tuy nhiên, các học giả lớn đôi khi không biết tới những sự thật nhỏ, vả lại đó là hệ thống những sai sót mà người đọc bình thường nào cũng có thể đính chính ngay không cần tới “cách tiếp cận hệ thống” hay “phương pháp hệ thống - cấu trúc” sang trọng như Trần Ngọc Thêm, nên chúng chỉ làm tổn thất uy tín của riêng tác giả chứ không phương hại gì tới khoa văn hóa học. Điều quan trọng đáng nói là bên cạnh cái kiến thức cơ sở cần phải đính chính và bổ sung khá nhiều ấy, Trần Ngọc Thêm còn có một kiến thức lý thuyết và lý luận nông cạn và chắp vá về văn hóa. Chính sự nông cạn và chắp vá này mới làm hại cho văn hóa học, với các sai lầm của quyển sách về cả nội dung khoa học lẫn định hướng thực tiễn, về cả phương pháp nghiên cứu lẫn thao tác chứng minh. Tình hình này thể hiện đặc biệt rõ nét ở hai chương đầu (Văn hóa học và văn hóa Việt Nam và Văn hóa nhận thức), mà trước tiên là ngay từ định nghĩa về văn hóa. Khởi đi từ cách hiểu “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”, Trần Ngọc Thêm đi tới kết luận văn hóa gồm bốn đặc trưng (tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh) và ba chức năng cơ bản (tổ chức xã hội, điều chỉnh xã hội, giáo dục) (tr. 20 - 24). Ở đây không phải chỗ để vạch chữ tìm nghĩa, nhưng tính chủ động, tính nhân đạo hay chức năng nhận thức, chức năng định hướng, chức năng tái tạo thế giới... của văn hóa là những điều cần đề cập mà chưa được đề cập hay đề cập chưa đúng mức trong quyển sách cho thấy Trần Ngọc Thêm chưa thực sự nắm vững bản chất của văn hóa. Bởi vì văn hóa là một hệ thống giá trị, nhưng nhìn từ một góc độ khác, nó còn là một thế giới quan (worldview) thể hiện và phản ảnh sự lựa chọn của con người trong những điều kiện sống nhất định, sự lựa chọn này biến hệ thống các giá trị văn hóa thành hệ thống chuẩn mực xã hội trước hết trong các hành vi sáng tạo. Và ngay định nghĩa nói trên cũng chưa chính xác. Các giá trị văn hóa luôn luôn được tạo ra trong những điều kiện cụ thể và một cách có mục đích, nên văn hóa không chỉ bao gồm các giá trị được tạo ra mà còn cả những cách thức sáng tạo và sử dụng các giá trị ấy. Dĩ nhiên những cách thức này cũng là những giá trị do con người tạo ra, nhưng đó là một loại giá trị đặc biệt, mang ý nghĩa định tính và đóng vai trò thước đo về trình độ phát triển của mọi nền văn hóa. Vì nếu phương thức phát triển của hệ thống các giá trị được tạo ra chủ yếu là thay thế, phủ định lẫn nhau thì của hệ thống những cách thức sáng tạo và sử dụng này chủ yếu lại là kế thừa, bổ sung cho nhau, nên nó lưu trữ nhiều kinh nghiệm và trí tuệ hơn đồng thời cũng có khả năng dự báo và định hướng cao hơn. Nói theo ngôn từ của các nhà ngôn ngữ học thì đây chính là các yếu tố ngữ pháp và phong cách của một nền văn hóa, cũng vận động và thay đổi theo lịch sử nhưng luôn mang tính ổn định, thống nhất cao hơn hẳn so với các yếu tố từ vựng và ngữ âm. K. Marx từng có một kết luận cần nhắc lại về vấn đề này “Những cá nhân biểu hiện đời sống của mình như thế nào thì họ là như thế ấy, do đó họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất cũng như cách họ sản xuất” (K. Marx và F. Engels, Tuyển tập, tập I, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 269). Cho nên với định nghĩa của Trần Ngọc Thêm, người ta sẽ không thấy được sự khác biệt văn hóa giữa hai cái ngạnh trên chiếc lưỡi câu thời tiền sử và thời hiện đại : trên phương diện là một giá trị được tạo ra thì cái ngạnh ấy đã được hoàn chỉnh hàng ngàn năm trước về mặt công cụ để đảm bảo chức năng giữ chặt con cá câu được của nó rồi, nên sự phát triển văn hóa ở đây chỉ nằm trên phương diện cách thức tạo ra, tức kỹ thuật chế tác công cụ ma thôi. Tương tự, hai ca sĩ tài năng đều có thể thành công khi trình bày cùng một bài hát nhưng chắc chắn họ sẽ đưa lại cho người nghe hai cảm xúc thẩm mỹ khác nhau : rõ ràng nhiều giá trị văn hóa đã được tạo ra ngay trong quá trình con người sử dụng - tiêu dùng các giá trị văn hóa. Tóm lại, định nghĩa nói trên chỉ mới đề cập tới cái lượng, cái hình chứ chưa giới thiệu được về cái chất, cái thần của văn hóa. Không lạ gì mà Trần Ngọc Thêm đã chạy theo số lượng khi nỗ lực giành quyền tác giả cho phương Nam, cho Bách Việt các giá trị loại Hà đồ, Lạc thư trên một đường hướng ít minh bạch và với những thao tác thiếu thẳng ngay kiểu nhập nhằng đánh đồng phương Nam với Việt Nam, Bách Việt với Lạc Việt. Ở đây cũng cần nhìn qua sự hiểu biết của tác giả Cơ sở văn hóa Việt Nam về những khái niệm loại âm dương, Ngũ hành, Bát quái..., vì giới thiệu chúng trong chương Văn hóa nhận thức, Trần Ngọc Thêm đã công nhiên gieo rắc nhiều kiến thức sai trái ngoài việc mặc nhiên coi chúng là uyên nguyên của truyền thống triết học và tư tưởng Việt Nam. Trước hết, hãy nói tới những kiến giải về âm dương. Triển khai hai phạm trù nhận thức này vào việc tìm hiểu lịch sử văn hóa, trong nhiều chương sau, Trần Ngọc Thêm đã nhiều lần nhắc lại về hai hệ thống văn hóa - nền văn hóa du mục (và gốc du mục) trọng dương thiên động phương Bắc và nền văn hóa nông nghiệp trọng âm thiên tĩnh phương Nam. Lối phân loại và khái quát lịch sử văn hóa của nhân loại theo một mô hình đăng đối như thế chính xác tới mức nào thì tạm thời chưa bàn, chỉ cần nói ngay rằng Trần Ngọc Thêm đã sai lầm ngay từ những kiến giải về âm dương với việc lấy hình thức làm loại hình, đem khái niệm làm thuộc tính. Ví dụ ở đoạn về “Hai quy luật của triết lý âm dương”, Trần Ngọc Thêm viết “Quy luật về Bản chất của các thành tố : không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong dương có âm và trong âm có dương”, rồi nêu ra hai yêu cầu khi xác định tính chất âm dương của một đối tượng là phải “xác định đối tượng so sánh” và “xác định cơ sở so sánh” (tr. 82). Chỉ có một điều gần đúng, vì phải được đặt vào ít nhất là một quan hệ với ít nhất là một sự vật, hiện tượng khác cùng hệ thống thì một sự vật, hiện tượng mới có thể được coi là âm hay dương, chứ tự thân nó thì chẳng âm cũng chẳng dương gì cả, cũng như Thái cực vốn vô đối nên không phân âm dương vậy. Nhưng thao tác gần đúng ấy lại bị “sai hóa” trong hệ thống cấu trúc kiến thức về âm dương của Trần Ngọc Thêm mà trở thành một lối lập luận bị động, đối phó vì bị gắn với một quan niệm sai lạc gán cho tất cả các sự vật trên đời hai thuộc tính âm hay dương hoặc ít hoặc nhiều! Chính vì vậy mà quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam đầy rẫy những lập luận ngụy khoa học và kết luận phi lịch sử kiểu “... tên gọi các đối lập cơ bản, thiết yếu (cũng tức là xuất hiện trước nhất) đều tuân theo thứ tự âm trước, dương sau : âm dương, vợ chồng, chẵn lẻ, vuông tròn... (tên gọi các đối lập không cơ bản như cha mẹ, ông bà... xuất hiện muộn hơn, do vậy đã chịu ảnh hưởng gốc du mục trọng nam, trọng dương tính)” (tr. 91). Thật không sao tin nổi rằng tiếng Việt có từ “vợ chồng” trước khi có những từ như “bố cái”,”cha mẹ”, và thật không rõ vì sao tổ tiên ta lại nói “đực cái”, “trống mái” mà không nói ngược lại cho nó trọng âm, trong khi chắc chắn họ phải có ý niệm về đực cái trống mái trước khi có ý niệm vợ chồng mà cũng không cần gì chịu ảnh hưởng của văn hóa gốc nào. Hơn thế nữa, nếu triển khai lập luận và kết luận ấy thì có lẽ ngay cả các nhà ngôn ngữ học cũng đớ lưỡi không nói được các từ ghép loại sông núi - núi sông, trắng đen - đen trắng, ngày đêm – đêm ngày, gạo thóc - thóc gạo là được cấu tạo theo thứ tự trọng âm hay trọng dương ! Bởi vì âm dương là một cặp khái niệm biểu kiến trong tư duy triết học của người phương Đông cổ, nó phản ảnh và khái quát hóa một cách đơn giản nhưng hàm súc sự khác biệt mang tính thống nhất biện chứng giữa các hiện tượng, lãnh vực và quá trình của thế giới chứ không phải là bản chất hay thuộc tính của các hiện tượng, lãnh vực và quá trình ấy... như lối nhận thức và suy diễn của Trần Ngọc Thêm. Về Ngũ hành thì phức tạp hơn, nên Trần Ngọc Thêm càng hiểu ít hơn. Quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam giảng giải về Ngũ hành sinh khắc theo kiểu trực quan giống hệt các sách Tử vi nhập môn, nhưng tác giả chưa hiểu được sự tinh tế của cổ nhân khi đặt ra các quan hệ ấy nên mới giải thích Mộc khắc Thổ như “cây hút chất màu của đất” (tr. 104). Nói như vậy thì là Thổ chứ đâu phải Thủy sinh Mộc? Quan hệ tương sinh tương khắc ở đây cũng là những phạm trù biểu kiến trong tư duy triết học của người Trung Hoa cổ, chúng phản ảnh sự mâu thuẫn có tính hiện tượng, bề mặt và sự thống nhất có tính bản chất, bên trong của giới tự nhiên. Nếu Trần Ngọc Thêm thực sự có một “cách tiếp cận hệ thống” thấu đáo và nhất quán thì sẽ thấy ngay rằng các quan hệ tương khắc là các quá trình cơ lý không đưa tới những biến đổi về chất (đất ngăn nước, nước dập lửa, lửa nung sắt, sắt chặt cây, rễ cây phá đất), còn các quan hệ tương sinh mới là các quá trình hóa sinh đưa tới những biến đổi về chất của Ngũ hành. Bên cạnh đó, để phản ảnh chi tiết hơn về giới tự nhiên, các quan hệ sinh khắc còn được chia ra làm hai dạng xuất nhập, chẳng hạn Kim khắc Mộc là Kim khắc xuất còn Mộc bị khắc nhập, Kim sinh Thủy là Kim sinh xuất còn Thủy được sinh nhập..., ngoài ra còn phải kể tới các quan hệ trùng hành kiểu “Lưỡng Hỏa Hỏa diệt, lưỡng Kim Kim khuyết, lưỡng Mộc Mộc chiết” mà có lẽ Trần Ngọc Thêm chưa biết. Nếu nhìn trên một diễn tiến tương sinh khởi từ Thổ (Thổ là mẹ muôn vật, Thủy là nguồn muôn vật, không có Thổ không sinh, không có Thủy không trưởng...) thì quá trình vận động của Ngũ hành là Thổ => Kim => Thủy => Mộc => Hỏa => Thổ... Tuy nhiên, Thổ sinh Kim nhưng khắc Thủy tức là khắc cái mà Kim sinh, Kim sinh Thủy nhưng khắc Mộc tức là khắc cái mà Thủy sinh...: rõ ràng người xưa đã thấy sự chuyển hóa giữa hai mặt thống nhất và đối lập trong quá trình vận động, phát triển của thế giới. Nhưng mô hình Ngũ hành còn thiếu sót trong việc phản ảnh một thế giới thống nhất, hoàn chỉnh, đa dạng và tự vận động. Thứ nhất, nó bao gồm năm yếu tố đẳng lập nên phải được thể hiện bằng một hệ thống không gian, không thể “nhất ngôn dĩ quán chi” nên lại tạo ra ý niệm về một thế giới bị chia cắt thành năm phần trong nhận thức, mặt khác thế giới ấy có điểm không nhất quán : hành Thổ về phương vị thì có vai trò định vị, thống thuộc các hành còn lại vì đứng ở trung ương còn trong quan hệ cả tương sinh lẫn tương khắc thì lại ngang hàng với bốn hành kia vì phải nằm trên một chuỗi năm điểm liên tục để đảm bảo tính liên tục trong sự vận động của thế giới. Thứ hai, sơ đồ tương sinh không ghi nhận được một cách đồng thời các quan hệ tương khắc (Thổ => Thủy => Hỏa => Kim => Mộc => Thổ...), bằng chứng là ngay cả Trần Ngọc Thêm với “phương pháp hệ thống - cấu trúc” được vài giáo sư khen nức nở mà cũng phải vẽ thành hai bảng riêng rời với sự bố trí Ngũ hành khác hẳn nhau chứ không hệ thống hóa và đồng hiện được trong một cấu trúc chung nhất (tr. 104), tình hình này không ăn khớp với quy luật trong khắc có sinh trong sinh có khắc nói theo triết lý âm dương. Thứ ba, các sơ đồ ấy không phản ảnh được đầy đủ thực tế, chẳng hạn Thủy khắc Hỏa nhưng gặp lúc “nước gáo lửa xe” thì kẻ bị cháy nhà chỉ còn cách bỏ của chạy lấy người, hay Thổ khắc Thủy nhưng vẫn có chuyện “Đê dài sắp vỡ, một vốc đất khó nỗi duy trì” nói như Nguyễn Trãi, mặt khác nhìn lên hai sơ đồ sinh khắc thì chỉ thấy Thổ là Thổ hay Thủy là Thủy, không có các dạng đan xen, phối hợp giữa năm hành kiểu “Thổ đới Thủy, Hỏa đới Kim” như giới Tử vi về sau tạo ra, tóm lại không làm rõ được sự khác biệt giữa lượng và chất, giữa nguyên lý và thực tế... Thứ tư, các quan hệ sinh khắc nói trên không thể hiện rõ sự vận động nội tại của sự vật, những thay đổi, chuyển biến mà đặc biệt là ở các quan hệ tương khắc chỉ được mô tả như các vận động có động lực bên ngoài. Chính các thiếu sót ấy đã hạn chế khả năng ứng dụng của thuyết Ngũ hành trong đời sống xã hội, trong việc tổng kết, lý giải và dự báo về hiện thực xã hội, và người xưa đã tìm tới Bát quái. Tới Bát quái thì phải thẳng thắn để nói rằng Trần Ngọc Thêm không biết gì cả nhưng lại viết khá nhiều và đặc biệt là như rất biết, đây dường như cũng là biệt tài của một số học giả đời nay... Truyền thuyết từ Bát quái Tiên thiên tới Bát quái Hậu thiên thật ra phản ảnh quá trình hình thành rồi định hình của Bát quái, chứ hoàn toàn không phải vì thay đổi mục đích sử dụng như Trần Ngọc Thêm viết (hay chép đâu đó) rằng với sự điều chỉnh để làm chính trị của Chu Văn vương, hệ thống Bát quái Tiên thiên phản ánh các hiện tượng tự nhiên đã trở thành mô hình Bát quái Hậu thiên phản ánh các hiện tượng xã hội (tr. 111 - 113). Từ khi hình thành, Bát quái luôn luôn hướng tới mục đích tìm hiểu hiện thực khách quan trong đó chủ yếu là đời sống xã hội. “Quái giả quải dã. Huyền quải vật tượng dĩ thị ư nhân, cố vị chi quái” (Quái (quẻ) là quải (treo). “Treo” các hiện tượng thiên nhiên lên để tỏ việc cho người, nên gọi là quái). Các tượng quẻ như Trời Đất Lửa Nước... là một cách nói hình tượng (về cả ngôn ngữ lẫn chữ viết thì Càn Khôn Ly Khảm đều không phải là Thiên Địa Hỏa Thủy), các danh hiệu Chấn Trưởng nam, Đoài Thiếu nữ... cũng chỉ là một cách nói hình tượng để dễ ghi nhớ thứ tự theo âm dương của sáu quẻ Chấn Khảm Cấn Tốn Ly Đoài, còn phương vị của Bát quái trong không gian cũng tương tự như Ngũ hành, đều là các quy ước mang tính biểu trưng. Nhưng điều quan trọng nhất mà Trần Ngọc Thêm không biết về Bát quái là nó không mô tả một thế giới năm thành phần như Ngũ hành. Nó coi thế giới là nhất nguyên nhất thể (Thái cực), các khác biệt của thế giới là do sự vận động nội tại tạo ra (Thái cực sinh Lưỡng nghi), và bản thân các khác biệt ấy cũng hàm chứa sự vận động nội tại phủ định chính chúng (Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, tức trong Thái âm có Thiếu dương, trong Thái dương có Thiếu âm)..., còn nó là các hiện thực khác nhau trong quá trình vận động nói trên. Sơ đồ Bát quái nhờ vậy đã giản lược được yếu tố không gian, nên Bát quái chỉ còn phải phản ảnh thế giới trong sự vận động của nó trên trục thời gian, hay nói gọn hơn, mỗi quẻ trong Bát quái là một thời điểm của hiện thực. Do không biết điều sơ đẳng này, Trần Ngọc Thêm đã trượt dài trên con đường sai lạc tới bảng so sánh Ngũ hành và Bát quái về lối tư duy với các cứ liệu (nhờ suy diễn mà có) là mỗi hành trong Ngũ hành “có nhiều nghĩa, vừa cụ thể vừa trừu tượng, có quan hệ tương sinh tương khắc, bao quát được cả trung tâm”, còn mỗi quẻ trong Bát quái “chỉ có một nghĩa, luôn rất cụ thể, không có quan hệ gì với quẻ khác, bỏ trống trung ương” (tr. 115). Nhưng không thể so sánh Ngũ hành với Bát quái kiểu ấy, vì nó cũng giống như nói “Anh ấy bị thương hai lần, lần ở chân nặng hơn lần ở Trường Sơn” vậy. Ngũ hành trước hết là các yếu tố tự nhiên, được khái quát hóa thành hệ thống khái niệm phản ảnh nhận thức của con người về các hiện tượng, lãnh vực và quá trình của giới tự nhiên, còn Bát quái là các khái niệm nhân tạo, được vận dụng như hệ thống phương tiện để nhận thức về các quá trình của thế giới, đặc biệt là của hiện thực xã hội. Cần nói thêm rằng phải hiểu một quẻ (cả đơn quái lẫn trùng quái) là một thời điểm biểu kiến của hiện thực thì mới đúng tinh thần “Dịch giả dịch dã” (Dịch là biến đổi) của kinh Dịch. Chính vì nhìn nhận Bát quái trên một sơ đồ không gian như Ngũ hành nên Trần Ngọc Thêm mới nói liều rằng mỗi quẻ trong Bát quái không có liên hệ gì với quẻ khác và Bát quái bỏ trống trung ương. Hệ thống các quẻ trong Bát quái liên hệ với nhau rất chặt chẽ, chẳng hạn mỗi quẻ (đơn quái) đều có thể biến thành bảy quẻ kia nếu đổi các hào dương thành hào âm và ngược lại, còn cái trung ương mà Trần Ngọc Thêm cho là thiếu ấy thì thật không ai chỉ ra được cho thời gian. Nếu nói cho thật đúng với kinh Dịch thì trung ương của Bát quái chính là cái không gian biểu kiến tức phần thể là đồ hình Thái cực Lưỡng nghi Tứ tượng, chứ Bát quái chỉ là phần dụng của cái thể Thái cực ấy mà thôi... Cũng có thể đọc thấy một vài đoạn viết liều lĩnh tương tự về Tứ đại (đất nước lửa gió), tóm lại về triết học cổ phương Đông thì sự hiểu biết của Trần Ngọc Thêm hiện tại may ra chỉ đủ để nghe giảng mà biết chứ chưa đủ để tự học mà hiểu, vậy lấy gì mà dạy cho các sinh viên bất hạnh phải học âm dương Ngũ hành Bát quái qua quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam? Sau chương Văn hóa nhận thức, quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam còn có một số chương mang tên Văn hóa tổ chức cộng đồng..., Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội, tóm lại tác giả chia văn hóa làm bốn phân hệ là Nhận thức, Tổ chức cộng đồng, Ứng xử với tự nhiên, Ứng xử với xã hội, trong đó những vấn đề như Phật giáo được xếp vào phân hệ Ứng xử với xã hội còn những vấn đề như Tín ngưỡng được xếp vào phân hệ Tổ chức cộng đồng. Thật là một cấu trúc có thể làm đảo lộn quan niệm của những người tìm hiểu văn hóa trong nhiều năm, có điều không thấy tác giả nêu ra căn cứ nào để lý giải về cách phân loại văn hóa không giống ai ấy. Con người không còn là con vật từ khi họ biết sản xuất, nghĩa là có ý thức sáng tạo ra những giá trị vốn không có trong tự nhiên. Và nếu lấy sự phân công lao động làm tiêu chuẩn phân loại thì có thể chia các hoạt động xã hội của con người ra làm năm kiểu (lãnh vực) cơ bản là sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, quản lý, giao tiếp và tái sản xuất sinh học - xã hội. Sự nghiên cứu, phân loại văn hóa không thể tách rời năm lãnh vực hoạt động cơ bản này. Nhưng khởi đi từ một kiến thức thiếu sót về văn hóa học, Trần Ngọc Thêm lại đi tới một tiêu chuẩn phân loại độc đáo kiểu như xếp Phong tục vào phân hệ Tổ chức cộng đồng (Đời sống cá nhân) và xếp Nho giáo vào phân hệ Ứng xử với xã hội! Nhưng Nho giáo đâu phải chỉ là một cách ứng xử? Hệ thống học thuật - lý luận (Nho học) bao gồm vũ trụ quan, lịch sử quan của nó là một giá trị tinh thần to lớn, và hệ thống chuẩn mực xã hội - tam cương ngũ thường của nó đã thực sự là yếu tố cơ bản trong hoạt động quản lý xã hội của các quốc gia Nho giáo suốt nhiều trăm năm. Và cũng dễ thấy là Trần Ngọc Thêm không biết gì về Nho giáo từ nội dung học thuật tới lịch sử phát triển nên đã áp đặt cho nó những yếu tố “nông nghiệp phương Nam” theo một lối suy diễn rất kỳ lạ. Chẳng hạn câu Khổng tử trả lời Tử Lộ trong Trung dung theo đó ông chia sự mạnh mẽ ra “Nam phương chi cường” và “Bắc phương chi cường” rồi khẳng định người quân tử theo “Nam phương chi cường” thì Trần Ngọc Thêm hiểu đó là “cái mạnh của phương Nam” và “cái mạnh của phương Bắc” (tr. 349) rồi kết luận là Khổng tử đề cao văn hóa phương Nam! Nam phương, Bắc phương đây tức Nam diện (quay mặt về Nam, chỉ kẻ trên) và Bắc diện (quay mặt về Bắc, chỉ kẻ dưới), và hai khái niệm nói trên phải được hiểu là “Cái mạnh của người trên” và “Cái mạnh của người dưới” mới đúng với học thuyết của Khổng tử vốn chia con người làm hai loại là người trên – người dưới, quân tử - tiểu nhân, kẻ lao tâm - kẻ lao lực... Cái học về văn hóa của Trần Ngọc Thêm đại để chắp vá như thế, nên cứ khai thác một vài khía cạnh hình thức để tách sự vật ra khỏi hệ thống có thật của nó rồi ấn vào hệ thống của mình. Và hệ thống về văn hóa của Trần Ngọc Thêm ra sao? Nét độc đáo trong lập luận của Trần Ngọc Thêm là căn cứ vào triết lý âm dương mà chia văn hóa thành hai hệ thống du mục (và gốc du mục) trọng dương thiên động phương Bắc và nông nghiệp trọng âm thiên tĩnh phương Nam. Từ góc độ thao tác luận mà nhìn thì hệ thống ấy quả rất nhất quán và chặt chẽ, có điều nó chỉ phản ảnh kiến thức về văn hóa của tác giả chứ không phải về hiện thực văn hóa của loài người. Thứ nhất, nếu triển khai lập luận Bắc là du mục, Nam là nông nghiệp ấy thì văn hóa Việt Nam trước thế kỷ XVII sẽ mang tính du mục cao hơn văn hóa Campuchia, nhưng chính người Việt Nam chứ không phải người Campuchia đã khai phá thành công đồng bằng Nam Bộ, hay vào thế kỷ XVII - XVIII văn hóa Việt Nam ở Đàng Trong sẽ mang tính nông nghiệp cao hơn ở Đàng Ngoài..., mà mọi người đều biết vào thời gian này đời sống văn hóa - xã hội Đàng Trong lại chịu ảnh hưởng kinh tế hàng hóa tiền tư bản nhiều hơn ở Đàng Ngoài chứ không phải mang nhiều yếu tố nông nghiệp “trọng âm thiên tĩnh” hơn. Thứ hai, với việc lấy hình thức làm loại hình mà coi hoạt động chăn nuôi kiểu du mục không thuộc phạm trù sản xuất nông nghiệp như Trần Ngọc Thêm thì nông nghiệp chỉ còn là trồng trọt đồng thời phải kể thêm vài loại văn hóa khác như “văn hóa du nông” của nhiều tộc người du canh du cư ở miền núi hay “văn hóa đánh bắt” của các cư dân hải đảo... Thứ ba, chia văn hóa làm hai hệ thống có nguồn gốc Bắc - Nam, Trần Ngọc Thêm vô hình trung còn sa vào một loại quyết định luận địa lý về văn hóa, vì nhìn từ khía cạnh phương pháp nghiên cứu thì hệ thống hai nền văn hóa trọng âm - trọng dương ấy là một kết luận đã có trước khi chứng minh, không xuất phát từ thực tế văn hóa sử. Thứ tư, hệ thống của Trần Ngọc Thêm không những không lý giải được sự phát triển văn hóa trong những hoàn cảnh khác nhau về kinh tế, xã hội, khoa học, chính trị... mà còn không làm rõ được cả sự tiến triển văn hóa nói chung, vì với những dương biến thành âm, âm biến thành dương kia thì văn hóa sử chỉ còn là một vòng tròn không lối thoát chứ đừng nói tới việc bước qua kỷ nguyên Tin học... Tất cả những điều nói trên khiến Cơ sở văn hóa Việt Nam trở thành một công trình không có giá trị thực tiễn cũng như khoa học : mặc dù thừa hưởng và sử dụng kết quả đúng đắn và phát hiện quan trọng của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều ngành khoa học, nó cũng vẫn không tổng kết được, không lý giải đúng và dĩ nhiên càng không thể dự báo về văn hóa Việt Nam. *** Để chỉ ra đầy đủ và lý giải rốt ráo những sai lầm trong quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam thì còn phải tốn thêm rất nhiều giấy mực, đây là chưa nói tới việc vì tiết kiệm thời giờ của người đọc mà bài viết này không đề cập tới những chứng cứ đáng buồn về sự liêm khiết trí thức của Trần Ngọc Thêm... Nhưng những điều đó nếu có cần thiết cũng không quan trọng. Điều quan trọng nhất là phải xử sự với quyển sách một cách xứng đáng. Nó phải được đưa ra khỏi hệ thống các giáo trình văn hóa học hiện hành trong các trường Đại học càng sớm càng tốt. Còn về trách nhiệm để cho một thứ khoa học phẩm nhiều sai lầm mà ít kiến thức như vậy được công nhiên lưu hành đến nay trong các trường Đại học thì xin nhường lời cho giới chức hữu quan. Cao Tự Thanh Tháng 7. 1996
  16. Có thể cho tôi thắc mắc chút ở đoạn này : Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Hàn thực vì trong ngày này theo tục lệ kiêng ăn món đồ nóng Tết Đoan Ngọ còn gọi là tết Nửa Năm (giết sâu bọ) thì đúng rồi, nhưng tết Hàn Thực (kiêng ăn đồ nóng) thì không phải mùng 5/5 mà là mùng 3/3 âm lịch. Điều này thì tôi được biết trong chuyến về quê nội tôi (Đông Anh - Hà Nội) hồi năm 2005, một số làng vẫn có lệ làm bánh trôi - bánh chay vào mùng 3/3 chứ không phải mùng 5/5. Liệu có nhầm lẫn gì không ?
  17. Thì ra Rin86 là một nữ nhi, điều này giải tỏa những nghi ngờ bữa giờ của tôi về những "bênh vực" rất dễ ... "ghét" như : "Phụ nữ nắm quyền về kinh tế, chính trị và quân sự, nam giới đóng vai trò khá mờ nhạt. Thật là trùng hợp với thời đại của hai Bà Trưng ", ... hi ... :lol: Hi vọng không làm gián đoạn những nghiên cứu của quý vị, tôi vẫn rất quan tâm và theo dõi sâu sát các bài nghiên cứu tuyệt vời này !
  18. Xin nói thực lòng, kẻ viết những dòng này cũng thuộc giống con người tư duy nên biết bao năm băn khoăn khốn khổ chỉ vì một câu ca : Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra ! Thái Sơn là gì ? Hòn núi lớn. Như vậy công cha to như hòn núi lớn ! Còn nước trong nguồn thì dễ rồi : nước đầu nguồn, dạt dào mà trong trẻo ! Yên chí ! Đến khi mò mẫm biết được Thái Sơn, ngọn Nguồn là hòn núi dòng sông bên Tàu thì lòng bất nhẫn : Sao cha ông ta vong bản đến vậy ? Chúng cướp nước ta chưa đủ sao mà còn thương còn nhớ còn ơn ngọn núi dòng sông bên Tàu ?! Quá nửa đời buốt đau vì mặc cảm đó ! Đoạn văn trên là Trần Phương tôi trích trong lời Tựa của tác phẩm "Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt - Hà Văn Thùy". Vâng, xin thực lòng chia sẻ với tác giả nỗi day dứt về câu ca trên. Suy rộng ra, đó chính là những lời mà ông cha ta đã gởi gắm trong câu ca quen thuộc về "Công cha - Nghĩa mẹ" như lời nhắc nhớ về sự tri ân đối với tổ tiên nguồn cội của những giá trị văn hiến Việt huyền diệu từng một thời núi sông hùng vĩ ở bờ nam sông Dương Tử ! Trần Phương
  19. Bạn Rin86 thân mến, ... đó là do nhà Hán đã thành lập được sự kiểm soát chặt chẽ ở hai tỉnh này nên nhân dân không có cơ hội tụ họp, không có khí giới, mọi liên lạc với chính quyền Lạc Việt bị cắt đứt. và việc ... kiểm soát ... chặt chẽ đến mức không nhà nào có dao rựa Đây là một việc không thể (và không dễ), Ý ở trên tôi có nói tới việc đồng hóa dần dần các vùng đất Lưỡng Quảng tức không cứ phải là hòa huyết với ý nghĩa đơn giản là đồng hóa chủng tộc. Việc các nhà cai trị xâm chiếm các vùng đất rộng lớn với một nền văn hóa cao và kế thừa những tri thức văn hóa đó, sáp nhập và sử dụng như một phần của văn hóa mình là những việc mang tính chính trị, vì không thể dễ dàng hủy diệt tất cả. Như vậy, ý ở trên của tôi có nghĩa là văn hóa Việt ở những vùng đất Lưỡng Quảng đã dần dần bị đồng hóa và trở thành một bộ phận của nền văn hóa Trung Hoa Còn ở vùng đất Âu Lạc, theo tôi, đó chính là nơi tập kết cuối cùng của những người dân Việt mang theo những nét văn hóa tinh túy nhất của nền văn hiến ngàn năm Lạc Việt, quyết không để những giá trị văn hóa của mình bị vùi lấp bởi những vòng xoáy mộng bá đồ vương của những tập quyền phong kiến hiếu chiến. Thực tế lịch sử cho ta thấy điều này : dân Việt có thể chấp nhận trắng tay, những giá trị văn hóa vật thể có thể bị tàn phá và vùi lấp hàng ngàn năm, ... nhưng văn hóa Việt vẫn giữ được bản sắc riêng và để lại những giá trị huyền vĩ để con cháu Lạc Hồng ngàn năm sau kế thừa, giải mã và phát huy. Đó chính là bản lĩnh ngàn năm rất đáng tự hào của dân tộc. Bạn Rin86 và anh Vo Truoc thân mến, Còn vấn đề chế độ mẫu hệ và phụ hệ, chúng ta nên hiểu theo một nghĩa sâu xa hơn, nền văn hóa Việt từ muôn đời trước cho đến nay vẫn rất coi trọng và đề cao vai trò của người phụ nữ, theo tôi, sự chuyển tiếp từ mẫu hệ sang phụ hệ chính là một sự tiếp diễn của bề dày văn hóa trong sự tương tác giữa con người đối với môi trường tự nhiên và xã hội. Từ những việc nhỏ như gia đình, làng xã, ... tiến tới quản lý một vùng đất, một quốc gia lãnh thổ lớn, ... nó đòi hỏi nam giới phải gánh vác những công việc nặng nhọc hơn, mang tầm vĩ mô của một chính thể, nhưng không vì lẽ đó mà vai trò của người phụ nữ bị xem nhẹ. Ta có thể thấy được điều này qua các đền, miếu, chùa ... thờ các "Bà", "Cô" rất nhiều từ nam ra bắc. Điều này khác hẳn quan điểm trước đây của nhiều người cho rằng : nước ta bị ảnh hưởng bởi Nho giáo Trung Hoa nên chuyển từ nguyên thủy là chế độ mẫu hệ sang phụ hệ, tôi cũng xin nói thêm rằng, chính các triều đình phong kiến Trung Hoa đã sử dụng và lạm dụng học thuyết Nho giáo để phục vụ cho bộ máy chính quyền cai trị tập quyền của mình, trong đó có những tư tưởng như : trọng nam - khinh nữ, ... Có thể thời kỳ Bắc thuộc hơn 1000 năm đã ít nhiều ảnh hưởng sâu đậm đến tư tưởng của các triều đình phong kiến nước ta, nhưng từ trong sâu xa, từ văn hóa ứng xử đến các tín ngưỡng dân gian, chúng ta luôn thấy vai trò của người phụ nữ được đề cao như thế nào trên mọi vùng miền của đất nước. Về vấn đề thời kỳ Hai Bà trưng, tôi xin được tiếp tục trình bày vấn đề này ở các bài viết sau liên quan đến chủ đề này trong việc phân tích quan điểm của GS Lê Mạnh Thát. Xin cám ơn quý bạn đọc quan tâm !
  20. Thực tình thì Trần Phương tôi cũng không muốn lên tiếng phản biện trong chủ đề này vì thấy cái lập luận của ông Lê Thành Khôi này quá ấu trĩ và đầy dụng ý, nhưng vì tính dân chủ của diễn đàn nên tôi cũng xin góp chút tiếng nói của mình. Ông Lê Thành Khôi viết : Năm 1471 Lê Thánh-tông đánh Chiêm Thành để "tự vệ" hay để mở mang bờ cõi ? Sau khi chiếm thủ đô Chăm, Lê Thánh-tông đã giết hơn 40.000 người và bắt hơn 30.000 người về để làm gia nô hay điền binh (Ðại Việt sử kí toàn thư). Ðó có phải là một hành động "trọng tình" không ? Tôi thì gọi nó là dã man, lấy làm hổ thẹn, chỉ biết ... tạ lỗi với người Chăm. Nếu ông này đang ở Việt Nam và không chê Trần Phương này dốt nát thì xin được mạn phép gặp ông để dẫn ông đi "tạ lỗi với người Chăm", gì chứ riêng tôi thấy, đoạn văn này là một xúc phạm nghiêm trọng đối với đồng bào Chăm. Xin thưa với riêng ông Lê Thành Khôi rằng : dân tộc Chăm còn đó, nền văn hóa Chăm vẫn còn đó, chữ viết Chăm cũng còn đó, ... Các di sản văn hóa Chăm trên mọi nẻo đường của dải đất hình chữ S này vẫn tồn tại và sống mãi với thời gian. Các tháp Chàm vẫn ngày đêm đón mời các du khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng và khám phá vẻ bí ẩn của nó. Việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam, trong đó có người Chăm, đang là một vấn đề nhức nhối không chỉ riêng của cá nhân hay tổ chức nào mà là vấn đề của toàn xã hội. Vài lời góp nhặt nông cạn, Trần Phương
  21. Kính thưa anh Thiên Sứ và quý bạn đọc quan tâm, Trước hết, tôi xin gởi lời cảm ơn đến lời chúc phúc tốt lành của anh Thiên Sứ ! Thú thật với các quý vị, thật ra từ lâu Trần Phương tôi đã không còn quan tâm gì đến lịch sử nước nhà và cội nguồn văn hóa dân tộc vì tôi thấy nó ... thế nào ấy, mặc dù công việc hiện tại trong ngành của tôi cũng ít nhiều cần đến những kiến thức lịch sử, nhưng chỉ được coi là quan trọng thứ 2 sau ngoại ngữ mà thôi. Còn vị trí kinh doanh - điều hành du lịch của tôi thì có lẽ kiến thức văn hóa sử cũng không cần lắm, thậm chí theo một số anh em hướng dẫn viên lâu năm có kinh nghiệm, ngay cả đối với hướng dẫn viên thì cũng chỉ cần rành lịch sử từ thời các chúa Nguyễn trở lại là đủ để hành nghề rồi (!) Mọi việc bắt đầu thay đổi trong cuộc sống tư duy của tôi từ khi tôi được biết qua tác phẩm : "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại" (THVQTTVHT) của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh cách nay đúng 1 năm. Lần đó là một dịp rất tình cờ, tôi và mấy người bạn lang thang trong nhà sách để kiếm tài liệu để làm báo cáo về lịch sử các địa danh của nước ta. Cũng thật lạ là người ta lại xếp cuốn THVQTTVHT ở mục Văn hóa - Du lịch chứ không phải là Chính trị - Lịch sử, cuốn sách đó (chỉ còn duy nhất 1 quyển mà thôi) nằm chơ vơ giữa một rừng sách văn hóa khác, tôi cầm lên xem thử, sách gì mà to bản gần như cuốn tạp chí, lại mỏng lét, ngẫm nghĩ : chắc lại là mấy cái chuyện huyền thoại gì đó kể cho trẻ em chứ gì, điều mà tôi quá rành về các sách viết về huyền sử đời Hùng ! Nhưng thật bất ngờ, chỉ xem qua vài trang tôi đi từ ngẩn ngơ này sang ngẩn ngơ khác : hoàn toàn không phải như những gì tôi nghĩ, chứa đựng trong nó là cả một sự lý giải kỳ diệu. Không biết tự bao giờ mà nhiều người Việt chúng ta rất ngại nói đến "4000 năm văn hiến", ngay cả các anh em hướng dẫn viên gạo cội của công ty tôi với kiến thức đầy mình đều rất né tránh tới cụm từ đó. Ái chà, viết thế mới là viết chứ ! tôi thầm khen cho tác giả quyển sách, và lần đó tôi đã lén mua nó mà không một ai đi theo tôi biết cả. Sau này tôi có giới thiệu sách đó với một số chiến hữu cũng rất rành về văn hóa và kinh dịch, cũng chẳng ai quan tâm, dĩ nhiên họ có lý do của họ : cái tên Nguyễn Vũ Tuấn Anh này lạ hoắc, chẳng tên tuổi gì (và họ có nhắc đến : Trần Ngọc Thêm, Cao Tự thanh, ... hoặc Dương Trung Quốc, Nguyễn Khắc Thuần, ...), thì ra người ta vốn thích sự nổi tiếng ! Chẳng chia sẻ được với ai và tôi chỉ gặm nhấm một mình đến gần như thuộc lòng. Nhưng mọi việc lại bắt đầu bùng nổ từ hồi cuối tháng 2 năm nay với loạt bài báo chấn động về GS Lê Mạnh Thát trên báo Thanh Niên, cảm giác thúc giục, tôi lên mạng search với quyết tâm tìm ra vị "ẩn sĩ" với cái tên Nguyễn Vũ Tuấn Anh này, và tôi đã tìm được các bài nghiên cứu của vị này trên website vietlyso, rồi lại tiếp tục tìm kiếm và tìm được blog của ông ta, đúng là người mình tìm kiếm rồi, cũng nhờ may mắn trong dịp đó, một người bạn mới quen trên mạng đã giới thiệu cho tôi biết cái website này là của Nguyễn Vũ Tuấn Anh mở ra và hướng dẫn tôi tham gia, ... Quý bạn đọc và anh Thiên Sứ thân mến, Tản mạn một chút để xả stress, bây giờ tôi xin được tiếp tục phần trình bày quan điểm của tôi, Vâng, tôi thừa nhận với anh Thiên Sứ rằng : sự tồn tại của nước Nam Việt là một sự thật lịch sử hoàn toàn khách quan. Tôi không phủ nhận điều này. Nhưng nếu cho rằng công cuộc thôn tính Âu Lạc và thống nhất các vùng đất khác thuộc Văn Lang cũ là một cuộc nội chiến thì vấn đề không đơn giản vậy, ... Tôi đặt giả sử trường hợp sau : nếu Triệu Đà (bất kể người Hán hay Việt) nổi binh từ trong lòng nhà nước Âu Lạc, vùng đất cuối cùng mà người dân Việt còn có quyền tự chủ, tức là chưa bị thôn tính bởi nhà Tần trước đó, lật đổ An Dương Vương rồi sau đó cất quân tiến đánh và thống nhất các vùng đất thuộc Văn Lang cũ do các lãnh chúa địa phương cát cứ, lập nên nhà nước Nam Việt thì lẽ dĩ nhiên Triệu Đà rất xứng đáng là một bậc Đại Đế, và như vậy việc thâu tóm và lập nước Nam Việt của Triệu Đà thực sự chỉ coi là một cuộc nội chiến của riêng nước ta, và việc lấy lại những vùng đất đã mất trước đó hoàn toàn xứng đáng để ghi nhận công lao to lớn của Triệu Đà. Nhưng, anh Thiên Sứ thân mến, sự thật lịch sử lại hoàn toàn ngược lại như tôi đã trình bày ở các bài viết trước, tôi lại đặt giả sử một trường hợp là : nếu nhà Tần không bị diệt vong mà ngày càng hưng quốc và không có sự xuất hiện của nhà Hán, thì việc Triệu Đà tiến đánh Âu Lạc chính là sự tiếp diễn mộng bá đồ vương của các triều đại phong kiến Trung Hoa mà thôi, và sự thật lịch sử là nhà Hán được hình thành sau khi dẹp yên các vùng cát cứ khác (nhưng chưa dẹp được Triệu Đà) thì quan hệ xung khắc giữa nhà Hán với Nam Việt phải được xem là công việc nội bộ của đế chế Hán chứ. Anh Thiên Sứ viết : Triệu Đà tiến dánh các quốc gia thuộc vùng lãnh thổ của Văn Lang cũ là sự thật hoàn toàn khách quan và điều này thể hiện trong các văn bản trao đổi giữa triều đình Hán với Nam Việt Vấn đề các văn bản ngoại giao này thì tôi cũng được biết qua các tài liệu của các nhà nghiên cứu, đây là một vấn đề rất đáng quan tâm, tuy tôi chưa được biết chính xác như thế nào nhưng tôi tin rằng : các văn bản đó là chữ Hán, có nghĩa là chữ viết của người Việt đã không còn tồn tại, tức là các vùng đất của người Việt đã bị thôn tính bởi các triều đại phong kiến tập quyền của văn hóa Trung Hoa rồi. Một điều nữa rất đáng lưu ý là : kể từ sau khi Nam Việt bị thôn tính bởi đế chế Hán, các cuộc khởi nghĩa giành độc lập của dân tộc ta liên tục diễn ra cho tới khi Khúc Thừa Dụ giành được quyền tự chủ và Ngô Quyền sau đó giành được độc lập, hoàn toàn chỉ diễn ra trong vùng đất của Âu Lạc cũ (vùng Bắc bộ ngày nay), chứ tuyệt nhiên ta không hề thấy ở các vùng khác như Quế Lâm, Nam Hải. Điều này chứng tỏ rằng : trong công cuộc bành trướng của nhà Tần, các vùng đất khác của Bách Việt đã dần dần bị đồng hóa và được xem là một phần của văn hóa Trung Hoa, chỉ còn vùng đất Âu Lạc là còn gìn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống Việt và công cuộc thôn tính của Triệu Đà đối với Âu Lạc chính là một cuộc chiến tranh xâm lược, dân ta bị mất nước từ đó. Riêng phần này tôi sẽ nói rõ hơn trong các bài viết sau của tôi về quan điểm của GS Lê Mạnh Thát. Tôi xin tạm dừng ở đây, chúc anh Thiên Sứ và quý bạn đọc những ngày nghỉ cuối tuần hạnh phúc !
  22. Khác với quan điểm này của anh Thiên Sứ, Triệu Đà chinh phục và thống nhất các quốc gia thuộc lãnh thổ Văn Lang cũ, chỉ là một quộc nội chiến giành quyền lực trong bối cảnh lịch sử bấy giờ. Tôi vẫn không cho rằng công cuộc thôn tính của Triệu Đà chỉ là một cuộc nội chiến của riêng nước ta, và xem triều đại của Triệu Đà là một triều đại chính thống của lịch sử Việt Nam, bởi nếu thực sự như vậy (lên ngôi vua và lấy lại những vùng lãnh thổ đã bị mất trước đó) thì Triệu Đà rất xứng đáng là một Đại Đế Vương hiển hách không thể phủ nhận trong các triều đại phong kiến nước ta, bất kể ông ta là người Hán hay Việt. Nhưng dù thế nào thì sự thể hiện quan điểm của tôi cũng không có nghĩa là xét lại lịch sử và hạ thấp giá trị truyền thống văn hiến Việt, ngược lại, chính sức sống bền bỉ và kỳ diệu của văn hóa Việt trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc đó chính là một minh chứng không thể chối cãi của một nền văn hiến tồn tại hàng ngàn năm trước đó. Do tuần này tôi bận công tác xa nên không thể có thời gian lên net tham gia diễn đàn lâu được. Cho nên tôi xin hẹn sẽ tiếp tục trình bày quan điểm của mình vào cuối tuần này. Cám ơn anh Thiên Sứ cùng các anh chị bạn đọc quan tâm !
  23. Anh Thiên Sứ, Nếu tôi được phép tổ chức các tour du lịch đến Hà Tiên thì hướng dẫn viên du lịch của tôi sẽ miêu tả Thạch Động như một vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên ban tặng cho tỉnh Hà Tiên mà ở đó sẽ làm cho trí tưởng tượng phong phú của con người thăng hoa bởi sự kỳ vĩ của hình thù những thạch nhũ mà thiên nhiên đã tạo ra ở đây qua hàng thiên niên kỷ. Vâng, tôi xin ghi nhận ý kiến này của anh, trước mắt tôi sẽ giới thiệu Topic này cho các anh em hướng dẫn viên của công ty tôi. Trong thâm tâm, tôi luôn chờ đợi và mong muốn sự phản bác này được phổ biến rộng rãi ít nhất bởi các ngành chức năng có trách nhiệm, trả lại giá trị thực cho câu chuyện Thạch Sanh cũng như sự quang đãng của khu văn hóa Thạch Động. Có một điều đáng lưu ý là : tour du lịch tham quan Thạch Động và tắm biển Mũi Nai (cũng ở Hà Tiên) là một chương trình tham quan nghỉ hè rất được yêu thích của các em học sinh.
  24. Kính anh Thiên Sứ, Rất cám ơn những lời phản bác của anh, tôi hoàn toàn đồng ý với anh như vậy. Anh biết không, ở trong khu du lịch Thạch Động còn có nhiều cái nữa lắm : những dung nham chảy lâu ngày dính trên vách đá rất giống hình thù của nàng công chúa đang được kéo lên, rồi đứng trên Thạch Động có thể phóng tầm mắt để nhìn sang nước bạn Campuchia, ... Nhưng thật khó anh Thiên Sứ ạ, nếu người ta loại bỏ truyền thuyết Thạch Sanh khỏi Thạch Động thì điểm du lịch đó chỉ còn cái hang động và các thạch nhũ trơ trọi đến vô duyên. Các thạch nhũ ở đấy rất bình thường và thua xa các điểm du lịch khác, như : Phong Nha - Kẻ Bàng, ... Còn nếu chỉ riêng chúng tôi không giới thiệu như vậy sẽ bị cho rằng thiếu kiến thức (vì nhiều du khách đã mặc nhiên công nhận Thạch Động gắn liền với câu chuyện Thạch Sanh) ... Ngẫm lại thật buồn và đáng tiếc !
  25. Kính anh Thiên Sứ, Vâng, đúng là như anh khẳng định : Theo tôi chẳng ai có công giáo hóa dân tộc Việt cả. Chính nền văn hóa huyền vĩ Việt đã tạo nên nền văn minh Hoa Hạ sau khi chiếm được lãnh thổ Việt. Nhưng đó chính là điều mà tôi muốn nói đến cái hiển nhiên của nhân vật Triệu Đà trong lúc cai trị cả một vùng đất mà trước đó vốn không thuộc về ông ta, nhưng người ta lại dùng từ "giáo hóa" để nói đến công trạng của Triệu Đà, cũng như việc ông ta quyết đối đầu với nhà Hán để giữ gìn giang sơn - quyền lực của ông ta như là một cái công lớn đối với dân Việt. Đây lại là kiểu lập luận : "Kẻ thù của kẻ thù là bạn". Ngay từ đầu tôi cũng nói rằng : tôi viết chủ đề này lên diễn đàn là không bao giờ có ý "kết tội" hay phủ nhận những việc Triệu Đà đã làm cho dân Việt trong thời gian Nam Việt tồn tại cả. Tôi chỉ nói đến cái nào mới chính là tất yếu của lịch sử mà sau này người ta có thể lầm đường khi nhìn nhận lịch sử theo "lối mòn", nghĩa là nếu không nhờ có nhân vật Triệu Đà nắm quyền gần 100 năm thì có lẽ văn hóa Việt đã bị văn hóa "lớn" của Hán tộc "nuốt chửng" từ lâu rồi ... (?!) Anh hãy xem đoạn trích sau đây của Nhà văn Hà Văn Thùy : Sử gia Ngô Thì Sĩ khi viết : “Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả” đã tỏ ra bất cập. So với một quốc gia còn trong tình trạng nguyên thủy với những lạc hầu lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận huyện, biên số thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã hội. Với cái gọi là "quốc gia" mới thoát thai từ "nguyên thủy" và được cai quản bằng các "tù trưởng bộ lạc" như trên thì quả là may mắn đối với dân Việt khi nhờ có sự xuất hiện và "giáo hóa" của Triệu Đà, và có lẽ như vậy mà người ta coi sự xuất hiện của Triệu Đà như một tất yếu của lịch sử chăng ? Sau đây tôi xin nói tiếp về quan điểm của tôi : Anh Thiên Sứ và quý bạn đọc thân mến, Khi đặt một vấn đề : "Thời kỳ Bắc thuộc", chúng ta nên hiểu theo một nghĩa rộng, việc thôn tính Âu Lạc của Nam Việt chính là sự tiếp diễn của vòng xoáy mộng bá đồ vương bởi các triều đại phong kiến tập quyền của văn hóa Trung Hoa, chúng ta không nên nhất thiết đó cứ phải là triều đại chính thống của Trung Hoa, nghĩa là phải đúng nghĩa của dân tộc lớn phương Bắc là người Hán. Có thể có người sẽ cho rằng : văn hóa Việt đã mất gì trong giai đoạn Nam Việt ? Tôi có thể dẫn chứng ngay trong bài viết mà anh Thiên Sứ đặt vấn đề, tuy hơi khác về thời điểm và hoàn cảnh lịch sử, nhưng về tính chất cũng có nhiều điểm chung : Người Pháp xâm lược Việt Nam, thế kỷ 19. Ở thời kỳ này thì thời gian xâm lược của người Pháp cũng tương đương với giai đoạn Nam Việt tồn tại sau khi thôn tính Âu Lạc, ta có thể thấy lẽ dĩ nhiên một điều rằng, quân đội viễn chinh Pháp cùng các tướng lĩnh tập hợp lại cũng chỉ là con số nhỏ xíu so với người Việt, và chẳng lẽ vì cho là vùng đất người Pháp chiếm có đa số là người Việt nên chúng ta không coi người Pháp là xâm lược ? Nhưng chúng ta chỉ lên án cái chế độ thực dân mang cai mác là "khai hóa" kia thôi, có bao giờ vì vậy mà ta lên án cả dân tộc Pháp đâu. Có bao giờ chúng ta phủ nhận những giá trị văn minh phương tây mà người Pháp mang đến, cũng như sau khi giành lại độc lập, chúng ta có bao giờ đem đập bỏ những giá trị vật thể người Pháp để lại đâu. Vấn đề nước Nam Việt cũng mang nhiều nét tương tự, không nói đến những gì mà Triệu Đà đã làm cho dân Việt nữa, chúng ta có thể thấy một điều rằng : nền văn hóa Việt đã không phát triển trong giai đoạn đó, có thể không có kiểu hủy diệt như "nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn", nhưng giai đoạn đó đã có những bước thôn tính dần các giá trị văn hóa Việt bởi những lưu dân người Hán, có thể chữ viết của người Việt đã bị thay bởi chữ viêt chính thống trong triều đại của Triệu Đà : chữ Hán, đã có bước đầu những truyền bá Nho giáo, và còn nhiều giá trị khác nữa ... Nhưng nói đi cũng phải nói lại, không riêng gì triều đại nước Nam Việt, ngay cả các triều đại phong kiến Bắc thuộc về sau, sự vươn vòi cai trị của các triều đại phong kiến phương Bắc không bao giờ vượt quá "cấp huyện" cả. Chính vì lối sống cộng đồng, quyết bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa Việt bằng mọi hình thức, kể cả dùng mật mã dưới các dạng : ca dao, tục ngữ, dân ca, ... đã minh chứng cho sức sống mãnh liệt và kỳ diệu của văn hóa huyền vĩ Việt. Tôi xin tạm dừng ở đây, cám ơn anh và các quý bạn đọc quan tâm.
×
×
  • Create New...