Trần Phương
Hội Viên Ưu Tú-
Số nội dung
449 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Trần Phương
-
Như những trận bóng đá luôn được diễn ra trước ngày khai mạc, hôm nay Trần Phương xin được ra mắt và gởi vài dòng tâm sự đến tất cả tất cả anh chị em trên diễn đàn Lý học Đông phương. Trần Phương trân trọng kính chào tất cả quý vị, tôi được biết đến diễn đàn này một cách rất tình cờ mà trước tiên là phải cám ơn cuộc đời đã đem đến cho tôi tác phẩm "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại" của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, xin được tham gia diễn đàn với tinh thần học hỏi, xây dựng và giao lưu cùng tất cả quý vị. Tôi rất ngưỡng mộ anh Rubi cũng như các bài nghiên cứu của anh Vo Truoc, ... Do không có nhiều thời gian để lên mạng nên tôi đã cẩn thận in từng trang các bài nghiên cứu đó và đóng bìa để tham khảo dần :D Một lần nữa xin gởi lời chào đến quý vị và kính chúc tất cả mọi thành viên trên diễn đàn cùng gia đình dồi dào sức khỏe ! Trần Phương
-
Ảnh thư giãn : Yên bình làng quê Việt
Trần Phương replied to Trần Phương's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
Hì, ... Ở nông thôn nước ta hiện nay (cả nam lẫn bắc) hầu như chỉ có chủ yếu là người đứng tuổi và trẻ con, còn nam nữ thanh niên thì rất ít, bởi vậy có một cô thôn nữ xinh như mộng (mà xinh thật nhỉ) gót sen, môi hồng ... hiếm hoi như thế thì việc dàn dựng để lên ảnh không có gì là lạ. Nói về dàn dựng, xin kể một câu chuyện sau, mà chính tôi cũng là một trong những "đạo diễn" của vở dàn dựng đó :rolleyes: Đó là một lần công ty tôi tổ chức cho một đoàn khách tham quan về với miệt vườn ĐBSCL vào dịp cuối tuần, chỉ là khách nội địa thôi, đối tượng khách là những nhân viên văn phòng và kỹ thuật của 1 công ty ở TPHCM, những người suốt ngày chỉ quanh quẩn trong văn phòng và muốn tìm cảm giác về với miệt vườn sông nước ... Điểm đến là một cù lao ở Vĩnh Long, khách đến đó nhận phòng xong được ngắm cảnh sông nước và thưởng thức các món ăn đồng quê. Ngày hôm sau, đoàn khách được đi ghe dọc triền sông, vào những lạch nhỏ, rồi ở ngã ba lạch bỗng xuất hiện một đám cưới trên sông, họ reo hò thích thú và chụp hình, vẫy chào thật vui vẻ. Vào đến cù lao, họ được bố trí 2 người 1 xe đạp để dạo, đạp xe khoảng chừng gần 5 cây số (thú vị là dù mồ hôi ướt đẫm nhưng không một ai tỏ ra mệt mỏi) là đến nhà một người dân, ở đấy họ được đón tiếp rất chân tình, được các cô thôn nữ xinh đẹp trong những chiếc áo bà ba dẫn đi vào vườn trái cây, rồi được dẫn đi tát cá, bắt được con nào họ được những cô gái đó hướng dẫn chum rơm lại để nướng và thưởng thức. Những người lớn tuổi hơn không đi tát cá thì được ông chủ nhà mời uống rượu, ăn lẩu cá ... Buổi tối, mọi người sinh hoạt giao lưu rất vui vẻ, được nghe các cô gái đó hát đờn ca tài tử, rồi hò đối đáp với du khách, ... Nói chung là chuyến tham quan cuối tuần đó kết thúc rất có hậu :D Nhớ lại, nhìn những gương mặt rạng ngời niềm vui của du khách lúc ấy mà tôi vừa vui vừa có gì trầm lắng, mừng vì có 1 tour thành công, nhưng họ có biết đâu tất cả những sự việc đó đều là do sắp đặt, từ cái đám cưới "vô tình" đi ngang cho đến mọi thứ : ông chủ nhà, những cô thôn nữ xinh xắn trong chiếc áo bà ba, ... đều là những nhân viên của công ty tôi và của các khu du lịch gần đó bố trí, thậm chí ngôi nhà vườn đó cũng chỉ là thuê mướn, rồi vườn trái cây được tính chiết khấu, cái đìa tát cá được đào sẵn, và ngay cả các con cá cũng là do người ta bỏ vào, còn đờn ca tài tử thì có sẵn hợp đồng với các nghệ nhân từ nơi khác đến, ... Một thoáng ngậm ngùi : những sinh hoạt đó, những món ăn đó, những cây trái đó, những câu hò điệu lý đó, ... chính là một trong những chuỗi "xương sống" văn hóa Việt Nam từ bao đời nay, nhưng những cái tự nhiên của xóm làng chân quê đó nay còn đâu ... Vài dòng tâm sự, -
.
-
DI HÀI CỦA MỘT TIÊN NỮ ? Được tìm thấy tại miền quê hẻo lánh ở Derbyshire, bộ xương khẳng khiu dài 20 cm với nguyên vẹn da, răng, tóc và đặc biệt là đôi cánh tiên bé xíu đã được các nhà nhân chủng học và chuyên gia giám định pháp y ở Anh khẳng định là di hài đích thực, tuy nhiên không-phải-của-người. Tiên nữ - nhân vật tưởng chừng chỉ tồn tại trong truyền thuyết - nay đã được khẳng định là có thật bằng những chứng cứ xác thực đầu tiên. Một người đàn ông (xin được giấu tên) ở Derbyshire đã phát hiện di hài huyền thoại trên con đường cổ xưa từ thời La mã, nằm giữa hai làng Duffield and Belper. “Hôm đó như thường lệ, tôi dắt chó đi dạo qua khu mộ cổ Iron Age thì bất chợt con vật cưng cất tiếng sủa và tỏ thái độ khác thường. Nó cứ quay đầu về phía ngôi mộ mà sủa và nhất định không chịu rời bước, bất chấp tôi có lôi kéo thế nào. Thật là điều bất thường vì hàng ngày chúng tôi vẫn đi qua đây, mà nó có bao giờ hành xử khác lạ như thế. Tò mò, tôi tiến lại gần khu mộ... Đập vào mắt tôi là cảnh tượng ngỡ như trong truyện cổ: một mô đất sạt xuống, mở ra một đường hầm đen ngòm rộng chừng nửa mét. Chắc chắn là trước đây, tôi chưa nhìn thấy hầm tối này bao giờ. Tôi quỳ gối xuống để quan sát rõ hơn, cảm nhận rõ làn gió hun hút lạnh buốt phả vào mặt - chứng tỏ, hầm rất sâu. Tôi bấm đèn pin ở chìa khóa xe và căng mắt nhìn cho rõ. Chính lúc ấy, vật thể lọt vào tầm quan sát làm tôi giật nảy mình: cách tôi chưa đầy 3 bước chân, một thi hài nhỏ xíu còng queo nằm trơ trọi trên đất. Phản xạ đầu tiên, tôi toan chạy đi báo cảnh sát - rất có thể đó là một đứa bé chết non. Nhưng khoan, thi hài này nhỏ hơn nhiều so với 1 đứa bé sơ sinh, và quan trọng hơn cả, sau lưng nó còn một đôi cánh tiên mỏng dính. Tôi dùng que khều nó lên, như vẫn không tin nổi vào mắt mình rồi bỏ vào cái túi nylong (định để dành đựng phân chó)”. Không do dự, người đàn ông rút điện thoại gọi cho vợ. Hai vợ chồng thận trọng đặt xác “tiên nữ” vào trong 1 hộp thiếc đựng bánh, sau đó giấu trong ga-ra ôtô. Ngày hôm sau, cảnh sát ngay sau khi được thông báo đã tới đem thi hài đi giám định và phân tích. Không chỉ một xác tiên “Là một trong số ít những chuyên gia hiện tượng kỳ bí ở Derbyshire, tôi không bất ngờ khi cảnh sát viếng thăm nhờ giám định một thi thể lạ lùng - mặc dù lúc đó sự việc vẫn còn giấu kín nhằm tránh những rùm beng từ phía phương tiện truyền thông đại chúng. Đích thân người đàn ông phát hiện ra khu mộ bí ẩn đã dẫn tôi trở lại nơi tìm ra thi hài. Thật bất ngờ, càng tìm kiếm chúng tôi càng phát hiện ra nhiều xác tiên nữ - tất thảy trên 2 chục xác với các mức độ khô cứng khác nhau. Không hiểu bằng cách nào mà chúng được bảo quản nguyên vẹn một cách đáng ngạc nhiên, tới mức có thể thấy rõ cả những chiếc móng tay và lông mi bé xíu. Kỳ lạ hơn nữa khi một lần tình cờ, tôi chợt nhận ra dường như có bàn tay ai đó đang cố gắng lấp lại đường hầm bí hiểm”. Những bức chụp X-quang tiết lộ những điều vô cùng thú vị: về cấu tạo sinh học, di hài tiên nữ chẳng khác gì bộ xương của một bào thai vừa mới thành hình, tuy nhiên, những đốt xương rỗng tuếch khiến trọng lượng cơ thể chúng nhẹ nhàng hơn nhiều. Đáng ngạc nhiên, “tiên nữ” cũng có rốn - điều này cho thấy những sinh vật này cũng duy trì nòi giống theo cách của con người, mặc dù chúng không có bộ phận sinh dục hoàn chỉnh. Không dám khẳng định chính xác những xác khô này đã tồn tại bao lâu, nhưng mức độ ướp khô cho thất chúng ít nhất phải trên 400 năm tuổi. Nhưng do đâu mà những sinh vật kỳ bí này luôn bị coi chỉ là nhân vật hoang đường trong truyền thuyết. Các chuyên gia sinh vật bí hiểm cho rằng, khả năng hòa trộn với môi trường quá tốt đã giúp chúng lọt khỏi tầm mắt con người cho đến tận ngày nay. Sắc tố đặc biệt trên cánh và da khiến chúng như “tan” vào những tán lá xanh cao chót vót - nơi chúng cư ngụ thường xuyên và hầu như không bao giờ mạo hiểm sà xuống dưới đất. Vào mùa đông lạnh giá, chúng rút lui vào hang động sâu trong lòng đất. Những di hài phát hiện ở Derbyshire là bằng chứng hiển hiện rằng, truyền thuyết không hoàn toàn là những điều tưởng tượng. (Dân trí)
-
Một điều thú vị nữa là nguồn gốc tên gọi của "Phở", thì ra thuở ban đầu người ta bán Phở cũng có rao à :D ? Vì theo tôi thấy, tiếng rao của các hàng quán thì có nhiều nhưng đặc biệt quán Phở thì chưa bao giờ thấy rao cả hì ... -------------------------------------- Nói thêm về thắc mắc này của tôi. Các món ăn có lời rao thường là những món bình dân, rẻ tiền, ... như : xôi, chè, bánh bèo, ... nhưng như món Phở thì được biết từ xưa nó là một món quà xa xỉ, ngay ở Hà Nội, điều này cũng được nói đến qua các tác phẩm văn học hiện thực thời 1930 - 1945. Đồng ý Phở có xuất xứ từ tầng lớp bình dân, nhưng trong thời Pháp thuộc, đa số thường dân là người nghèo cho nên được ăn một món ăn "vua chúa" như Phở không phải là dễ, do đó nếu cho rằng tên gọi "Phở" bắt nguồn từ những lời rao thì cũng hơi ngạc nhiên ... :rolleyes:
-
Ra là thế : :unsure: Họ ngầm cho rằng đó là một nét văn hóa rất Hà Nội... Kiểu thứ ba “bệnh hoạn” đến mức tưởng như không có thật. Đó là “không bị xử tệ thì ăn không ngon!”. Thậm chí có ông chủ (khi mát mình) bộc bạch: “Mình đang chửi mắng nó (khách) quen rồi, nó thích. Bây giờ mà tử tế có khi phá sản”. Nhà văn Băng Sơn từng giải thích: "Người Hà Nội ăn không chỉ lấy ngon hay no mà còn cả thưởng thức không khí ẩm thực thật riêng biệt, đặc trưng... Có lẽ cách giải thích ấy phù hợp với các quán phải xếp hàng hoặc quán nhà cổ như chả cá Lã Vọng mà thôi chứ nhu cầu bị chửi, quát, đuổi thì chắc... hiếm!". :rolleyes: :rolleyes: Sự nổi tiếng của Phở Bát Đàn thì tôi đã nghe nhiều nhưng vẫn chỉ được biết đến như : cầm bát, xếp hàng, ăn xong thì nhanh chóng "biến", mà ăn xong cũng không có nước uống, muốn uống nước thì phải sang hàng chè tươi bên đường : 500 đ/cốc, ... nhưng đến "Phở Chửi" thì quả thật là mới nghe <_< Kiểu này giá nào khi ra Hà Nội nhất định sẽ đến phố Bát Đàn để thưởng-thức-một-lần-cho-biết. Thực ra công bằng mà nói, theo tôi thấy, người Việt chưa bao giờ quay lưng với văn hóa của mình cả, ẩm thực đối với người Việt nó không nằm ở sự cầu kỳ trong cách ăn uống mà nó nằm ở chính trong những cái rất bình thường mà dung dị, tinh tế. Ăn Phở mà sạch sẽ quá, sang trọng quá cũng không phải là sự lựa chọn của đa số người Việt. Cứ nhìn những quán Phở sang trọng ở Sài Gòn (như Phở 24, ...) sẽ thấy sự đìu hiu vắng khách như thế nào, đó là chưa nói đến chất lượng ở những quán đó, có thể do giá cả, nhưng theo tôi đó cũng chưa hẳn lý do chính, tôi xin dẫn chứng như thế này : ở khách sạn New World Saigon, giá 1 bát Phở là 8 USD (+16%) và thú thực tôi chỉ nếm một lần (vì được mời) mà chỉ muốn "đổ đi" vì không hợp khẩu vị (không dám chê dở, hì ..), thua xa một tô Phở ở góc phố gần nhà : rẻ mà ngon ... ;) Nhưng nói như anh anmay thì tôi chưa hiểu lắm : Có lẽ đã đến lúc người Việt nên tỉnh dậy để đối diện với thực tế hơn là tiếp tục ru ngủ mình trên những thành quả đã đạt được trong quá khứ. Người ta từng ví von rằng : "người Việt luôn dành những cái tốt đẹp nhất cho người nước ngoài", ẩm thực cũng vậy, điển hình là những nhà hàng giới thiệu ẩm thực Việt sang trọng hầu như chỉ có người nước ngoài, nhưng không phải vì thế mà ẩm thực Việt Nam bị "thua trên sân nhà", đơn giản chỉ nhìn vào các cửa hàng thức ăn nhanh (như KFC, ...) mọc đầy ở các thành phố lớn từ nam ra bắc mà cho tới nay các món ăn nhanh đó chưa bao giờ là lựa chọn làm bữa ăn chính của đa số người Việt, từ các doanh nhân lắm tiền nhiều của cho đến giới công chức văn phòng, người ta vẫn thích ăn những món ăn truyền thống hơn ... Do đó theo tôi nghĩ, "món ăn của mình phục vụ dân mình" mà cầu kỳ quá, sang trọng quá, ăn Phở mà cũng phải phòng máy lạnh, có tiếp tân, ... cũng không phải là cách hay, cá nhân tôi những khi có dịp đi ăn nhà hàng (với khách) cũng chỉ để được dùng món Tây, chứ món Ta thì tôi vẫn thích các hàng quán bình dân hơn ... Còn về nguồn gốc của món Phở thì tôi ủng hộ quan điểm Phở có gốc từ Nam Định, điều này thì chính tôi cũng được biết qua tìm hiểu các quán Phở Bắc Hải như anh Vo Truoc đã nói, như vậy, cứ cho Hà Nội là nơi kết tinh món Phở độc đáo của VN thì theo qui chiếu : Nam Định "truyền ra" khác hẳn với Tàu "truyền vào", thời gian có món Phở cũng không phải là thời điểm ta ảnh hưởng văn hóa của Tàu, mà đó là thời Tây. Một điều thú vị nữa là nguồn gốc tên gọi của "Phở", thì ra thuở ban đầu người ta bán Phở cũng có rao à :D ? Vì theo tôi thấy, tiếng rao của các hàng quán thì có nhiều nhưng đặc biệt quán Phở thì chưa bao giờ thấy rao cả hì ... Vài lời mạn đàm, cám ơn tất cả !
-
Bây giờ văn hóa ẩm thực kết hợp văn hóa "Chửi", nên có một hàng phở tại Hanoi nghe tên rất oách: "Phở Chửi". Không tin à? Xin cứ ra phố Bát Đàn mà hỏi thăm "Phở Chửi" ở đâu người ta chỉ cho liền. Cụ Nguyên Tuân sống lại chắc phải viết tái bản có bổ sung và sửa chữa bài viết trên. Ngạc nhiên !!! Có thật không vậy anh Thiên Sứ ? :D
-
CẦU KỲ NƯỚC MẮM VIỆT Nếu món ăn Tây tự hào vì các loại nước xốt, món nào phải đúng xốt đó, thì người Việt cũng không kém phần cầu kỳ, tinh tế trong chén nước chấm. Trong các loại nước chấm thì nước mắm là thứ nước chấm chủ đạo của món ăn Việt. Nếu kể tới những thứ nước chấm khác nữa thì danh sách chắc chắn phải dài không thua xốt Tây. Nước mắm Việt Nam làm từ cá biển đã vang danh với mùi vị đặc trưng mà bây giờ một số sách, báo nước ngoài viết bằng tiếng Anh, Pháp, đặc biệt là sách dạy nấu ăn bắt đầu sử dụng nguyên văn "sauce nuoc mam" chứ không xài "fish sauce" hay "la saumure" nữa. Khẩu vị nước mắm ba miền. Khẩu vị của nước mắm nguyên chất, ở cả ba miền không khác nhau bao nhiêu. Nhưng chuyển sang nước mắm pha thì bắt đầu có sự khác biệt rõ nét. Miền Bắc thích nước mắm pha loãng với nước thêm giấm, chanh và ít đường. Nhưng bí quyết ở chỗ nước để pha nước mắm nếu muốn ngọt đậm phải dùng đúng thịt thăn heo nấu hớt bọt thật trong, nếu có thêm con tôm he cho vào nước càng thanh hơn. Rồi dùng nước này pha với nước mắm ngon và các thứ đã kể trên. Nam bộ thì dùng nước dừa xiêm, trái dừa phải vừa nạo, non quá nước chua, còn để già rám nước sẽ chát. Mang nước dừa nấu cô với ngọn lửa riu riu còn hai phần ba hoặc phân nửa là vừa, dĩ nhiên là khi nấu phải hớt bọt cho trong nước. Sau đó dùng nước dừa pha với nước mắm và chanh, đường. Trừ nước mắm pha với nước luộc tôm của Huế để ăn bánh nậm, bèo, bột lọc… còn lại khẩu vị các nơi khác ở miền Trung thích giữ sự đậm đà của nước mắm nên chỉ cho ít chanh, đường mà không thêm nước để pha loãng. Một số địa phương cũng có nước mắm pha, chủ yếu để làm giảm độ mặn và tăng thêm hương vị chứ không pha loãng như hai miền kia. Như nước mắm ngò của Nha Trang, người ta dùng ngò rí giã nhuyễn rồi mới cho nước mắm, chanh, đường vào. Đặc biệt ớt cho vào chén nước mắm ngò phải là ớt hiểm còn xanh thì chén nước mắm mới thơm nồng, xanh biếc một màu. Vùng Phan Thiết thì có nước mắm cà và nước mắm thơm. Cà lựa trái chín mọng, luộc qua nước sôi, bỏ hạt và lớp vỏ ngoài. Rồi cho vào cối quết với ớt sừng, tỏi thật mịn, sau đó cho nước mắm và đường vào. Nước mắm cà đặc sắc nhờ độ xốp và sánh như một món xốt màu đỏ cam bắt mắt. Nước mắm thơm khi chế biến phải chọn trái thơm chín vàng, vì thơm chín vị chua, ngọt, mùi thơm lẫn màu sắc vừa tới nhất. Vắt nước thơm, nấu sôi hớt bọt thật kỹ. Lúc nước thơm sóng sánh thì cho nước mắm, đường vào đánh đều là được. Chén nước mắm ánh màu vàng nền nã toả hương thơm ngan ngát. Ớt là gia vị không thể thiếu trong chén nước mắm của người Việt. Còn tỏi thì tuỳ ý thích, đa số nước mắm pha có đủ cả hai vị. Nhưng cách cho ớt vào chén nước mắm pha ở ba miền khác nhau chút ít. Miền Bắc thường cắt từng khoanh ớt đều tăm tắp cho vào nước mắm. Miền Trung giằm ớt khi ăn để tận hưởng mùi cay nồng của ớt hoà cùng nước mắm. Còn Nam bộ thì giã hoặc băm nhuyễn ớt để lấy vị cay và màu đỏ giúp chén nước mắm thêm hấp dẫn. Nước mắm không làm từ cá biển. Ngoài nước mắm làm bằng cá biển, một số vùng nhờ sự ưu đãi của thiên nhiên với nguồn sản vật dồi dào, người dân địa phương còn chế biến nước mắm tôm, nước mắm mực, nước mắm cua đồng, nước mắm cua gạch son… Chẳng hạn nước mắm cua đồng của vùng Sóc Trăng. Hàng năm vào tháng 5 âm lịch, nước vừa nổi ngập đồng là lúc cả xóm làng rủ nhau đi bắt cua. Tối đến cua đồng bắt cặp đen nghẹt cả mặt ruộng trống đang chờ sạ lúa, cua bắt đến lúc mỏi tay, không còn thùng chứa nữa thì ngưng. Cua mang về bóc mai rửa sạch, giã nhỏ trộn với tỏi, thính gạo, đường, muối hột rồi nhận vào diệm hoặc thau đem phơi nắng khoảng tuần lễ. Lúc cua trở màu đỏ au thì đem nấu nước mắm. Công đoạn nấu rất quan trọng, tốn cả ngày trời, phải hớt thật sạch bọt và xác cua thì nước mắm mới để được lâu. Nước mắm nấu xong có màu đỏ cánh gián trong vắt, vị ngọt đậm, mùi khá nặng không thể lẫn với bất cứ thứ nước mắm nào khác. Nước mắm cua đồng dùng để nêm nếm, ăn với canh chua cá lóc… ngon hết biết. Nước mắm cua gạch son miệt U Minh, là một kiểu nước chấm tươi quá xá cầu kỳ. Từ khi muốn ăn cho đến khi được ăn phải chờ mất đúng một tuần. Cua gạch son rửa sạch, bỏ vào hũ, rồi muối đúng bảy ngày. Sau đó lấy ra đánh tan gạch cua với lòng đỏ trứng gà, đường, trộn với thịt cua được lấy từ con cua đã muối. Một con cua chỉ làm được bốn chén nước chấm nhỏ, do đó khi được chia phần, mạnh ai nấy "ôm" chén nước mắm của mình chấm với bánh tráng cuốn, vì muốn có chén thứ hai thì ráng… chờ 7 ngày nữa. Nước chấm cua gạch son không thể làm nhiều để dành được, vì sang ngày thứ tám thì chúng chuyển mùi, đổi vị để trở thành mắm như ba khía. Mắm nào món đó Canh chua dứt khoát phải ăn với nước mắm y, có khi cho chút chanh, ớt, nếu dùng bất kỳ thứ nước chấm nào khác cũng đều hỏng. Bánh cuốn, chả giò, bánh xèo, cơm tấm phải ăn với nước mắm pha chua ngọt. Nước mắm ngò, nước mắm cà, nước mắm thơm xem ra có duyên nợ với cá biển, mực, ốc vì nó làm tăng hương vị hải sản lại dễ tiêu hoá. Món cá thì lại khác, mỗi loại cá đều có một thứ nước mắm khác nhau. Cá trê nướng thì có nước mắm gừng, cá rô thì nên ăn bằng nước mắm xoài, hay nước mắm me thì chuyên trị các món lươn… Thử dùng cá trê nướng chấm nước mắm chua ngọt xem, miếng cá trở nên nhàn nhạt, xam xảm, cái mùi cá trên sau bữa ăn cứ ám ảnh khẩu vị thật khó chịu. Còn lỡ dùng nước mắm gừng với cá hú, cá tra thì… khó lòng nuốt nổi. Nhiều món ăn, ngon hay dở, được quyết định bởi chất lượng chén nước mắm. Cái hồn của món ăn Việt chính là nước mắm. Nấu phải nêm bằng nước mắm, cá kho, thịt kho ướp bằng nước mắm, chiên, xào, nướng, luộc… với bất cứ món ăn nào cũng phải có nước mắm. Nước mắm đã thấm vào huyết quản của mỗi người từ thuở bé thơ cho đến lúc trưởng thành, nó đã hình thành và ảnh hưởng sâu sắc đến khẩu vị của từng người. Cho dù đi bất cứ đâu họ không thể nào quên được hương vị đậm đà tinh tế trong chén nước mắm quê nhà. Đó chính là một phần của đất nước, con người là hương vị quê nhà trong ký ức không thể phai mờ của từng người Việt. (Theo Sài Gòn Tiếp Thị )
-
Hồn rối nước trong tem Việt Nam :
-
NGHỊCH LÝ RỐI NƯỚC Một nghịch lý đang đặt ra đối với việc bảo tồn rối nước hiện nay, là khi muốn khôi phục các hoạt động sau một thời gian dài bị gián đoạn, các phường rối nước dân gian - nơi sản sinh nghệ thuật múa rối - phải đi học lại các tích trò và kỹ thuật trình diễn của các đoàn rối chuyên nghiệp. PGS-TS Nguyễn Văn Huy, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho biết, với mong muốn tìm lại những vẻ đẹp nguyên thuỷ của bộ môn nghệ thuật truyền thống độc đáo này, Bảo tàng đã mời 15 phường rối dân gian của đồng bằng Bắc Bộ biểu diễn trong một chương trình kéo dài từ tháng 3 đến hết năm 2006. PGS.TS Nguyễn Văn Huy * Bảo tàng Dân tộc học tập hợp 15 phường rối từ các làng quê, mời họ lên Hà Nội biểu diễn trong một chương trình “dài hơi” như vậy, nhằm mục đích gì, thưa ông ? - Trước đây, ở vùng đồng bằng Bắc Bộ có khoảng 28 phường rối dân gian thường xuyên biểu diễn với hàng trăm tích trò. Nhưng do chiến tranh kéo dài, và sau này là do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, các phường rối này không còn được duy trì nữa. Những năm sau đó, với chủ trương phục hồi nghệ thuật truyền thống dân tộc, hai đoàn nghệ thuật múa rối chuyên nghiệp là Nhà hát Múa rối Thăng Long và Nhà hát Múa rối Trung ương ra đời, dựa trên việc học hỏi, sưu tầm và phát triển các tích trò, kỹ thuật biểu diễn từ 28 phường rối dân gian này. Chính hai đoàn chuyên nghiệp này đã mang rối nước VN đến với bạn bè thế giới. Họ thường xuyên biểu diễn ở nước ngoài, và ngay tại Hà Nội thì sân khấu rối nước của hai nhà hát này vẫn luôn luôn sáng đèn mà vẫn không đủ phục vụ khách du lịch. Trong khi đó, các phường rối dân gian lâm vào tình cảnh khó khăn. Từ 28 phường, sau mười năm cố gắng phục hồi, giờ đây còn 15 phường. Các phường rối dân gian hiện vẫn đang trong quá trình phục hồi, và còn nhiều gian nan. Họ hầu như không có đất diễn và không có khán giả. Vì vậy, mục đích chính của Bảo tàng khi mời 15 phường rối biểu diễn trong một chương trình kéo dài như vậy, là mong muốn giúp họ tìm lại công chúng, không chỉ là khách du lịch nước ngoài, mà chủ yếu là người VN, đặc biệt là đối tượng trẻ em, học sinh để các cháu có thể tiếp cận trực tiếp với di sản văn hóa của cha ông. Hơn nữa, qua một thời gian biểu diễn kéo dài, nghệ nhân các phường rối cũng có thể nâng cao tay nghề, dần dần học cách biểu diễn chuyên nghiệp hơn sau những giao lưu, học hỏi. * Thưa ông, hiện nay nội dung các vở diễn và kỹ thuật của các phường rối dân gian này có gì khác nhau và có gì khác với múa rối chuyên nghiệp? - Điều đáng buồn là khi tìm cách khôi phục, các phường này đều phải học lại những tích rối, cách diễn từ các đoàn chuyên nghiệp. Kết cục là nội dung và kỹ thuật trình diễn của các phường đều na ná như nhau và về cơ bản thì cũng giống với múa rối chuyên nghiệp. Đó là một vấn đề đang đặt ra đối với công tác bảo tồn múa rối nước. Thực ra thì các phường rối đều có những bí quyết riêng, do các nghệ nhân nhiều tuổi nắm giữ. Tuy nhiên, để khôi phục thì cần rất nhiều thời gian và đòi hỏi nhiều kinh phí vì nó liên quan cả việc tạo con rối mới, khôi phục kịch bản và thời gian tập luyện. Trong khi đó, các nghệ nhân già thì cứ lần lượt ra đi, còn lớp nghệ nhân mới hiện chỉ có thể học qua những gì có sẵn của múa rối chuyên nghiệp và các phường bạn. Một số phường trong thời gian gần đây cũng cố gắng sáng tạo một vài tích trò riêng, nhưng chưa được đầu tư chiều sâu nên kịch bản và khâu kỹ thuật biểu diễn nói chung còn yếu. * Như ông nói, nội dung biểu diễn của các phường rối này thì cơ bản là giống nhau và giống các đoàn chuyên nghiệp, còn kỹ thuật biểu diễn lại yếu hơn họ, vậy điều gì có thể tạo nên sức hấp dẫn để thu hút người xem đến với chương trình biểu diễn này? Tuy các phường rối dân gian hiện chưa có được dấu ấn riêng, và tất nhiên trình độ biểu diễn của họ cũng không thể bằng các nghệ sĩ chuyên nghiệp, nhưng thực sự họ vẫn có sức hấp dẫn riêng để thu hút khán giả. Đó chính là sự mộc mạc, hồn nhiên và điều này đã được du khách trân trọng. Những nghệ nhân ở đây là nông dân thực sự, rời công việc cày cấy là họ đến với múa rối, do vậy cách diễn của họ chân chất, mang hơi thở ruộng đồng. Khán giả đã cảm nhận được nét độc đáo đó và họ đến đây đều rất thích thú. Hơn nữa, những ai biết chút ít về múa rối thì đều thấy rằng xem múa rối ở đây sẽ thú vị hơn nhiều khi môi trường biểu diễn gắn liền với cảnh quan ngoài trời, chung quanh là mái nhà Việt, hồ nước, cây xanh… gần với môi trường của rối nước nguyên thuỷ là đồng ruộng, cây đa bến nước ở làng quê. Đặc biệt, khán giả cũng có điều kiện giao lưu, trao đổi trực tiếp với các nghệ nhân, tìm hiểu thêm về nghệ thuật múa rối cũng như những băn khoăn nghề nghiệp của họ. Đối với các em nhỏ, đến đây ngoài việc thưởng thức múa rối, còn được khám phá môn nghệ thuật này qua việc được tự mình học cách điều khiển con rối trên sân khấu thu nhỏ. Đối với khách du lịch nước ngoài thì khi đến đây, họ cũng có cơ hội tiếp xúc trực tiếp và đầy đủ hơn với một nét văn hoá truyền thống độc đáo của Việt Nam. Họ có thể xem biểu diễn, tìm hiểu kỹ thuật cũng như nhiều mặt khác về múa rối qua các nghệ nhân. Tập điều khiển con rối * Nhưng thưa ông, sau chương trình này, liệu các nghệ nhân có được tiếp tục biểu diễn thường xuyên không, hay lại trở về với ruộng đồng và cả năm chỉ đợi để diễn một lần trong ngày hội làng? Năm 2006 chỉ là năm khởi đầu của chương trình này, chúng tôi dự định sẽ tiếp tục mời họ biểu diễn dài kỳ trong những năm sau. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng giới thiệu với khách du lịch đến tận các làng quê nơi có phường rối dân gian. Du khách có thể trực tiếp thưởng thức múa rối trong chính môi trường sống của nó. Tuy vậy, phải công nhận cái hạn chế của các phường rối dân gian là họ chưa có được lịch diễn đều đặn, và đó là công việc đang đặt ra đối với những người làm công tác bảo tồn văn hóa. Chúng ta không những phải khôi phục những giá trị đã mất của múa rối dân gian, mà chúng ta còn phải tìm lại công chúng cho nó nữa. (Theo Nhân dân) Nghệ nhân Phạm Thế Toàn, Trưởng phường múa rối Nghĩa Trung (Nghĩa Hưng, Nam Định) : Ngoài việc chọn lọc và tập theo các vở của 14 phường bạn, chúng tôi cũng đã sáng tạo được một vài trò riêng cho mình. Đó là những vở diễn ngắn liên quan đến đời sống đương đại như các đề tài về dân số, HIV. Phần âm nhạc thì chúng tôi sử dụng làn điệu chèo cổ, và tự sáng tác lời. Con rối của chúng tôi có một vài điểm khác, chẳng hạn như sư tử ở các phường khác thì chỉ có mỗi cái đầu, nhưng chúng tôi có cả thân và khi điều khiển phải khéo léo hơn. Việc khôi phục các vở cũ do lớp nghệ nhân già nắm giữ rất khó khăn vì thiếu kinh phí. (Theo Nhân dân)
-
Thơ Thiên Sứ thật hay nhưng có nhiều chữ "sầu" quá. :) Mời anh ghé quán thời gian Đong đưa tọa ẩm uống làn hương xưa :) Trần Phương
-
TÍNH MINH TRIẾT TRONG ĐỒ HÌNH ÂM DƯƠNG VIỆT
Trần Phương replied to Thiên Sứ's topic in Chú Ý - Các Bài Viết Quan Trọng
Trong bài hát "Hòn Vong Phu ra đời từ những năm 30 của thế kỷ trước, Lời bài hát mang năng tính tiên tri: "Từ bờ tre, mái đình trong làng. Từ mái tranh, gốc rạ bên đường ...nguồn sử xanh hãy còn ghi dấu..." Đây chính là lời nhắc nhở những di sản lịch sử văn hóa Việt còn lưu truyền trong văn hóa dân gian Việt. "Ta cố đợi ngàn năm. Một ngàn năm nữa sẽ qua...." Kể từ nền văn hiến huyền vĩ Việt sụp đổ ở miền Nam Dương Tử đến nay đã hơn 2000 năm. ------------------------------------------------------------------------- Đọc đoạn này mà Trần Phương tôi chợt nhớ tới bài "Thề Non Nước" của thi sĩ Tản Đà, bài thơ mượn lời của đôi nam nữ tạm chia ly để nói đến vận nước trong bối cảnh nước nhà thời Pháp thuộc, nhưng nghĩ rộng ra, chàng (Nước) và nàng (Non) sao mà giống Lạc Long Quân - Âu Cơ quá ... THỀ NON NƯỚC Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu Nước non nặng một lời thề Nước đi đi mãi không về cùng non Nhớ lời nguyện nước thề non Nước đi chưa lại non còn đứng không Non cao những ngóng cùng trông Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày Xương mai một nắm hao gầy Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương Trời tây ngả bóng tà dương Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha Non cao tuổi vẫn chưa già Non thời nhớ nước, nước mà quên non Dù cho sông cạn đá mòn Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa Non xanh đã biết hay chưa Nước đi ra bể lại mưa về nguồn Nước non hội ngộ còn luôn Bảo cho non chớ có buồn làm chi Nước kia dù hãy còn đi Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui Nghìn năm giao ước kết đôi Non non nước nước không nguôi lời thề Tản Đà -
“Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, vì chỉ ở Hà Nội mới ngon". Phở ngon phải là phở "cổ điển", nấu bằng thịt bò,"nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt với hành tây đủ cả", "rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một ít cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ" – Thạch Lam. Biến tấu từ món "xáo trâu" thuần Việt Phở là thuần túy Việt Nam và chỉ mới xuất hiện ở Hà Nội vào đầu thế kỷ 20. Nó bắt nguồn từ một món ăn làng quê Việt Nam. Từ lâu dân ta rất ít dùng thịt bò vì cho là nóng và gây. Món ăn rẻ tiền, no bụng là món thịt trâu xáo hành răm ăn với bún, gọi là xáo trâu, rất phổ biến ở các chợ nông thôn và xóm bình dân... Thế nhưng, người Pháp không ăn thịt trâu, mà chỉ dùng thịt bò. Từ ngày thực dân Pháp sang ta khai thác thuộc địa đầu thế kỷ 20, ở Hà Nội bắt đầu có các cửa hiệu bán thịt bò, thường bán không hết, nhất là xương bò. Chưa thích nghi được với phong cách ẩm thực của người Việt, đến chiều muộn, qua các hiệu thịt bò thấy còn treo lủng lẳng từng súc thịt và Đống Xương . Thịt bò ế, tất phải bán rẻ. Người ta liền nảy ra sáng kiến làm xáo bò thay xáo trâu. Nhưng xáo bò mà ăn với bún thì không hợp khẩu vị. Vậy là, bún được thay bằng một loại bánh cuốn chay mỏng, rất sẵn ở Hà Nội. Xáo bò ăn với bánh cuốn chay thái thay bún lại rất ngon bất ngờ. Từ lời rao "Ngầu nhục phấn" mà thành tên Người mình bán hàng thì rao là "xáo bò ơ". Còn mấy chú Khách thì rao "Ngầu nhục phấn a...". “Ngầu”, tiếng Hán là “ngưu”, “nhục là thịt”, “phấn” là “gạo”, tức bánh bột gạo. Tiếng Trung Quốc gọi trâu hay bò đều là ngưu, hắc ngưu là trâu, hoàng ngưu là bò. Tiếng rao "xáo bò ơ" nghe cụt lủn. Còn tiếng rao "Ngầu nhục phấn a..." nghe trầm bổng, tha hồ ê a kéo dài, mặt khác do tư tưởng sùng ngoại nên được khách ăn ơi ới gọi đến. Thấy thế, các gánh hàng của người mình cũng phải rao theo họ để tranh khách. Phở ngày càng được ưa chuộng nên số lượng gánh phở rong cũng ngày một nhiều. Lời rao gọn dần, chỉ còn "ngầu phớn ơ...", rồi "phở ơ", cuối cùng thành "phở". Những hàng phở đầu tiên Do là thức quà bình dân có một thời phở bị những người giàu tiền lắm bạc ở Hà Nội xem thường. Phải đến năm 1918 - 1919, phở mới được nhiều giới tìm đến. Cửa hiệu phở đầu tiên của Hà Nội mở ở phố Hàng Quạt (nay là Lương Văn Can) gần rạp tuồng Thông Sáng và tuồng Năm Trăn để đón khách. Năm 1937, duy nhất có một hiệu phở của Hoa kiều mở ở phố Mã Vũ (nay là phố Hàng Quạt kéo dài) lấy tên là Nghi Xuân. Các cửa hàng này đua nhau cải tiến chất lượng. Lúc đầu chỉ có phở chín, sau có phở tái. Thêm thịt mỡ gầu, nạm, sách bò nên thành tên tái gầu, tái nạm, tái sách... Sau nữa có hiệu dùng thịt bò nấu sốt vang, thịt áp chảo nên lại thêm tên gọi phở sốt vang, phở áp chảo nước, áp chảo khô, phở xào, v.v... Từ những năm 1930 lại đây, phở đã tới đỉnh cao của văn hóa ẩm thực Việt Nam với nghệ thuật lóc thịt, hầm xương và gia giảm gia vị: thảo quả, quế chi... thành món đặc sản của đất Hà Thành: "phở Hà Nội". Theo MonNgonHaNoi.com Trần Phương : Còn nhiều sự lý giải nữa nhưng nhìn chung khá thống nhất là "Phở" có nguồn gốc từ món "Canh thịt bò" (Ngầu nhục phấn) của Tàu, rồi từ "Phở" được gọi chệch đi từ chữ "Phấn" (!) Nhưng qua sự tìm hiểu của tôi thì thấy rằng món "Canh thịt bò" của Tàu khác xa món "Phở" của VN, từ cách chế biến phức tạp cho đến những gia vị nêm nếm đều là những nguyên liệu có sẵn ở VN và mang tính đặc thù khẩu vị của người Việt (như gừng, chanh, hành lá ...). Không hiểu sao bất cứ sự lý giải nào mà được cho là xuất xứ từ Tàu đều dễ được chấp nhận và phổ biến rộng rãi, thậm chí khách du kịch đến VN thưởng thức "Phở" cũng được giải thích như vậy. "Phở" là món ăn quốc hồn quốc túy của VN và là 1 trong 10 món ẩm thực ngon nhất thế giới. Tôi thì thú thật cũng không rành lắm về ẩm thực nên kính nhờ quý vị có cách lý giải nào khác hợp lý hơn về nguồn gốc món ""Phở" không ? Xin cám ơn !
-
Những từ Hán Việt thực chất là từ Việt cổ bị coi là Hán Việt, chứ không phải là từ Hán được Việt hóa. Thí dụ người Việt nói: Nhất Nhị tam tứ Ngũ lục - đâu phải như người Tàu nói: Y - Ơ - San - Sư - Ủ - Liu - Tơ - Ba. Đâu có dây dưa gì đến nhất nhị ....đâu. Nếu nói người Việt đã Việt hóa từ Hán thì nó được Việt hóa từ bao giờ? Triều đại nào trong 1000 năm hưng quốc trở lại đây đã qui ước những từ gọi là Việt hóa nó để phổ biến trong dân chúng? Có người thống kê được 30.000 từ gọi là Hán Việt . Nếu không có hẳn một cơ quan chuyên nghiên cứu chuyển đổi có quyền lực tầm cỡ quốc gia thì sao mà thống nhất trên toàn quốc 30.000 từ đó? Nhưng ai làm việc đó trong lịch sử nhỉ? Xin phép chen ngang chủ đề này :) , đọc đoạn trên thấy thật là thú vị, chính ở Trung Quốc hiện cũng có rất nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, nhất là miền nam Trung Quốc, những từ : nhất nhị tam tứ ... (cùng nhiều từ khác) tôi thấy cũng khá giống cách phát âm của tiếng Quảng Đông nhưng không cứ như vậy mà cho là từ Hán Việt. Bởi nếu cho rằng "Hán" ở đây là tất cả những ngôn ngữ cổ ở Trung Quốc hiện đại thì hầu như tiếng Việt đều là Hán Việt cả, còn thuần Việt thì rất ít. Ví dụ như : TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG Tất cả đều là từ Hán Việt :)
-
Vũ trụ có rất nhiều hành tinh giống Trái đất
Trần Phương replied to Thiên Sứ's topic in Lý Học Lạc Việt
Riêng Trần Phương tôi vẫn tin rằng loài người trên hành tinh xanh của chúng ta không cô độc trong vũ trụ. Và nền văn minh hiện hữu của chúng ta cũng không phải là nền văn minh đầu tiên duy nhất trên Trái Đất. -
Cho nên tôi cũng không trông chờ lắm cái ngày "thái bình" ấy, mặc dù theo kiến giải của bạn tôi về phần địa lý thì cũng giống như cái hình bạn đã vẽ bên trên vậy, nước việt nam ta quả là có cái tượng của Thái Cực. Nói thêm về Sấm của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, những lời Sấm tiên tri của cụ có rất nhiều điều khiến chúng ta phải suy nghĩ, tôi nhớ có câu Sấm sau : "Đất Hồng Lam sau ta 500 nữa sẽ là thời kỳ hưng thịnh ngót vạn năm". Cụ sinh năm 1491, 500 năm sau là 1991, kinh tế nước ta bước sang một thời kỳ phát triển mới.
-
Xem chủ đề này mà tôi chợt nhớ ra rằng mình đã từng được đọc qua một tài liệu (nghiên cứu) nào đó có nói rằng : các số chẵn (2,4,6,8) trong Lạc Thư Cửu Cung có dạng hình chữ S là một lời tiên tri. B) Thật khiên cưỡng !
-
Đọc chủ đề này mà bất giác tôi chợt nhớ đến phố cổ Hội An. Có lẽ Hội An đã may mắn hơn Đường Lâm nhiều vì nhờ có sự quan tâm của mọi giới hữu quan từ các nhà văn hóa trong và ngoài nước đến ngành du lịch, từ thông tin đại chúng đến ... UNESCO. Kinh tế của người dân Hội An đã cải thiện rất nhiều và thậm chí ngày nay họ kinh doanh dịch vụ du lịch rất chuyên nghiệp. Từ khi có ý tưởng sử dụng đèn lồng thay thế cho đèn điện vào những đêm rằm mỗi tháng (khoảng 10 năm trước), hiệu quả là du khách đến với Hội An rất nhiều và thậm chí theo tôi được biết, gần đây người dân Hội An thích "được cúp điện" hơn và hầu như tuần nào cũng có ít nhất một ngày "cúp điện tự nguyện" ở Hội An. Đường Lâm có lẽ không thuận lợi bằng Hội An, nhất là hạ tầng cơ sở (giao thông, khách sạn, lễ hội, ẩm thực, ...), tuy có thể hơn về bề dày văn hóa sử thuần túy Việt. Thật tiếc và đáng buồn là trong kinh doanh dịch vụ, lợi ích kinh tế luôn được đặt lên trước, kinh nghiệm ở các nơi khác (như Mũi Né - Phan Thiết, Sapa - Lào Cai, hoặc ngay cả Hội An, ...) trong khoảng 10 năm trở lại đây cho thấy : các nhà hàng khách sạn mọc lên như nấm, các điểm du lịch được xây dựng và khai thác triệt để, người dân địa phương xoay sở không kịp, rồi mâu thuẫn nảy sinh (địa phương - môi trường - giá cả dịch vụ - khách du lịch), sau đó mới dần dần sắp xếp lại, ... Theo tôi được biết là hiện nay, chưa hề thấy có chữ "Đường Lâm" trong các chương trình tham quan du lịch, cả nội địa lẫn quốc tế.
-
Hôm nay (15/8 DL), Trần Phương tôi nghỉ làm cả buổi chiều để đến chùa ăn cơm và đọc kinh - lễ Phật (cùng với đám bạn cũ). Một điều thú vị là sau khi đọc kinh (Nhật Tụng) xong, tới lúc cúng cô hồn, tôi thì không tham gia giành giật mà chỉ đứng một chỗ ngay góc bàn để xem, nhưng cũng chẳng bỏ qua khi lộc đến với mình B) hì ... tôi cứ đứng yên một chỗ mà chụp những đồng xu văng tới ... và, khi tất cả đã xong xuôi, lúc ra về tôi đếm "lộc" của mình thì được đúng 5000đ không hơn không kém, không biết có nên mua 1 tờ vé số không nữa ;) , mà thôi ... hổng mua đâu :P
-
Rất quan tâm và chờ đợi sự lên tiếng của anh Techno trong chủ đề này. Vấn đề tôi quan tâm là cần làm sáng tỏ những vòng luẩn quẩn của những bất hợp lý trải hàng ngàn năm nay như Bách Việt và Lạc Việt : Khu vực đại giang Dương Tử lúc bấy giờ có nhiều nhóm cát cứ như vậy, và họ có các chỉ tiêu nhân trắc gần giống nhau. Người Trung Hoa xưa gọi cư dân phía nam nói chung là Bách Việt, với nghĩa là một trăm bộ tộc Việt. Các sách xưa ghi chép nhiều nhóm người Việt, trong đó có Câu Ngô (句吳), Ư Việt (於越), Dương Việt (揚越), Mân Việt (閩越), Nam Việt (南越), Đông Việt (東越), Sơn Việt (山越), Lạc Việt (雒越, người Kinh ở Việt Nam ngày nay) Âu Việt (甌越, hay còn gọi là Tây Âu - 西甌) v.v... Trong khi Lạc Long Quân, hay Lạc Vương - vua rồng Lạc Việt, lại là tổ của Bách Việt : Cuộc hôn nhân của hai người được thần thánh hoá thành cuộc giao phối giữa thần Rồng Lạc Long Quân Và Tiên nữ Âu Cơ (U à Âu như chu sa à châu sa; Ca à Cơ như rà và rờ). Trên dưới 100 bộ tướng thành con nuôi của họ và trở thành 100 người con thánh hoá từ cuộc sinh nở phi thường ra chiếc bọc 100 trứng.(*) ........... Chữ Lạc, về sau viết nhầm thành chữ Hùng (Ngô Sĩ Liên: trước là Lạc Tướng sau lầm ra Hùng Tướng - Lạc Tướng hậu ngọa vi Hùng Tướng), nhưng do ý nghĩa của chữ Hùng quá đẹp nên được dùng đến ngày nay. Lạc Vương --> Hùng Vượng Và niềm tự hào Con Rồng Cháu Tiên của người Việt : Con cả của thần Rồng Lạc Long Quân và tiên nữ Âu Cơ trị vì dưới tên Hùng Vương, và là vị vua đầu tiên của người Việt. Vì thế, người Việt thường tự xưng là con rồng cháu tiên. Xin cám ơn !
-
Đề bài nào cho tư vấn ngoại lập quy hoạch HN mới?
Trần Phương replied to Thiên Sứ's topic in Mạn Đàm
Phim Thái Tổ Lý Công Uẩn: Sao còn chưa quyết? TT - Tôi đang theo đoàn làm phim ký sự truyền hình Đi tìm dấu tích ba vua do đài truyền hình TP.HCM (HTV) và Công ty tư nhân BHD hợp tác thực hiện với phương thức công ty này chịu trách nhiệm toàn bộ kinh phí (khoảng nửa triệu USD). Đoàn chúng tôi(*) đã "quay" trọn một vòng xuyên Việt, Sài Gòn - Hà Nội rồi ngược lại, suốt năm tuần không nghỉ một ngày nào. Tiếp theo, lại năm tuần nữa cũng không nghỉ ngày nào, "quay" vòng quanh nước Pháp và đảo La Réunion (tận Nam Ấn Độ Dương, thuộc châu Phi). Vài ngày nữa, nhóm "quay bổ sung" sẽ bay trở lại Pháp và Algeria, đi tìm tiếp những dấu tích vua Hàm Nghi thời lưu đày ở đó. Kinh phí "xã hội hóa" đã được tính toán rất chi li đến từng xu, từng xen, buộc chúng tôi phải "thắt lưng buộc bụng", dè sẻn chi tiêu tối thiểu, đôi khi phải "ăn nhờ ngủ đậu" như hồi còn "chiến tranh nhân dân"... Nhưng ai nấy đều vui vì được làm việc mình muốn làm, hào hứng làm và hi vọng thành công. Năm ngoái, đoàn làm phim của nhà văn Nguyễn Hồ và đạo diễn Đào Anh Dũng đã thực hiện thành công phim truyền hình dài kỳ Ký sự Tân Đảo, cũng HTV hợp tác với Công ty tư nhân BHD bằng vốn "xã hội hóa" do công ty này đầu tư. Trước đó nữa, HTV đã làm nhiều phim lớn nhờ vốn "xã hội hóa" như Mekong ký sự, Ký sự hỏa xa... Cũng không ít phim truyện của các hãng đã ra lò nhờ vốn "xã hội hóa", cả người chi tiền lẫn người tiêu tiền đều phải chịu trách nhiệm với "đồng tiền dính liền khúc ruột" và phải chịu trách nhiệm về hiệu quả của công việc. Nó rất khác với cách chi tiền và tiêu tiền ngân sách nhà nước, tiền "chùa", chi lẫn tiêu đều vô tội vạ mà chẳng ai phải chịu một tí trách nhiệm nào về hiệu quả, thậm chí về hậu quả của công việc. Nhiều bộ phim "tiền tấn" của ngân sách nhà nước còn "đắp chiếu để đó”, nhiều tượng đài "năm cha ba mẹ” rất phản cảm, cũng như nhiều dự án "vô bờ bến" đầu tư theo kiểu "chia chác" cho các hoạt động văn hóa, sáng tác văn học - nghệ thuật mà hầu như chẳng thu về được gì đáng gọi là giá trị, thì nên gọi đó là lãng phí hay tham nhũng? Hay là gì nữa?... Vừa trở về từ đảo La Réunion xa xôi, đoàn làm phim "ba vua…" chúng tôi được nghe bạn bè bàn luận xôn xao về việc Nhà nước đang đắn đo có nên dừng đầu tư cho bộ phim "khổng lồ" về Lý Công Uẩn ? Nghe đâu cũng cả trăm tỉ đồng, tức khoảng hàng nghìn căn nhà tình nghĩa cho người nghèo, nếu quy ra trâu cày thì khoảng hàng vạn con. Để làm gì nhỉ ? Thì để kỷ niệm một nghìn năm ngày cụ Lý về Thăng Long. Thiết nghĩ, đó là việc nên làm, nếu làm tốt, làm xứng đáng một tác phẩm nghệ thuật giá trị dâng cúng tổ tiên. Còn nếu chỉ vì chạy theo thành tích kỷ niệm suông mà "làm lấy được", làm bôi bác, thậm chí lợi dụng cơ hội kỷ niệm mà "làm tiền" nhân dân thì có tội với tổ tiên đấy. Thà đem tiền ấy làm nhà cho người nghèo, mua trâu cày cho nông dân, thì chắc các ngài sẽ hài lòng hơn là đem tiền ấy nhờ láng giềng làm cỗ cúng giỗ Tổ (biết đâu lại đi cúng bánh dỏm, bánh thiu như đã từng xảy ra). Tại sao còn đắn đo chưa "quyết" nhỉ? Để "rộng đường dư luận", tôi xin dẫn nguyên văn "lời bàn" bằng thơ của nhà thơ Bằng Việt - nguyên phó chủ tịch HĐND TP Hà Nội, đương kim chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội - in trên tạp chí Nhà Văn (Hội Nhà văn VN) số 7-2008. Xin cảm ơn nhà thơ Bằng Việt vui lòng cho tôi sử dụng bài thơ thời sự của ông trong bài viết này. NGUYỄN DUY ------------------------------------------- Phim về Lý Công Uẩn Tới mốc nghìn năm còn chín trăm ngày Phim chất lượng cao dễ gì đạt được Thảo luận mãi ngỡ chừng nát nước Chưa ai chịu ai có sáng kiến gì Một người thăm dò "Hay cứ thuê thầy ngoại Đạo diễn nước mình chưa đủ chắc ăn" Người khác bàn thêm, nghi ngại, băn khoăn "Đến thành quách, cung đình...cũng nên nhờ nước bạn" Người thứ ba hùng hồn hơn, lên giọng phán: "Thế còn ngựa nghẽo không thuê thì ông biết quay gì? Bao trận đánh hào hùng cũng sẽ vứt đi Nếu chỉ kéo ba chú ngựa còm thuê từ đoàn xiếc Chạy tới chạy lui thở sùi bọt mép Y hệt trong phim Đề Thám thuở nào…" Ba người nói xong, nhẹ nhõm thở phào Ý kiến xem ra đã gần thống nhất Tôi bèn tặc lưỡi: "Thôi thuê quách diễn viên Hàn Quốc Thật ăn khách, bảnh trai, vào vai Lee Koong Wan!(**)"… Bằng Việt ------------------------------------------------- Lộ trình phim Thái tổ Lý Công Uẩn : Năm 2002, 15 nhà biên kịch được UBND TP Hà Nội mời viết đề cương tham dự cuộc thi sáng tác kịch bản phim truyện lịch sử về 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Tháng 10-2002, cuộc thi kịch bản phim truyện kết thúc với giải nhất trao cho kịch bản Hội thề Đông Quan của Nguyễn Quang Thân và giải nhì trao cho Thái tổ Lý Công Uẩn của Đinh Thiên Phúc. 15-6-2005: thường trực Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long chọn kịch bản Thái tổ Lý Công Uẩn đưa vào làm phim và bắt đầu tiến hành "đấu thầu đạo diễn". Tiến độ bắt buộc là tháng 10-2010 phải có phim công chiếu. Sau hai năm "đấu thầu đạo diễn" thất bại, đầu năm 2007, dự án làm phim chính thức được giao cho Hãng Phim truyện VN (PTVN). 12-2007: công bố thành phần đoàn làm phim với hai đạo diễn tên tuổi là Đỗ Minh Tuấn và Lưu Trọng Ninh. 6-3-2008: Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội Ngô Thị Thanh Hằng tuyên bố Hà Nội chưa duyệt dự toán bộ phim. Công luận xôn xao vì kinh phí dự trù lên đến 200 tỉ đồng. 20-3-2008: giám đốc Hãng PTVN Lê Đức Tiến cho biết hãng không làm phim bằng mọi giá, sẽ giảm kinh phí xuống còn khoảng trên 100 tỉ đồng. 12-7-2008: giám đốc Sở VH-TT&DL Hà Nội Phạm Quang Long tuyên bố giãn tiến độ làm phim vì nội bộ đoàn làm phim chưa thống nhất, kịch bản chưa hoàn chỉnh và nhiều công trình có kinh phí lớn phải tạm ngưng để thực hành tiết kiệm, giảm đầu tư công. 28-7-2008: Thứ trưởng Bộ VH-TT&DL Lê Tiến Thọ cho biết Hà Nội có quyền giãn tiến độ của bộ phim vì là chủ đầu tư. Lỗi thuộc về Hãng PTVN và các nghệ sĩ. Tuy nhiên, ông cũng cho biết bộ chủ quản đã yêu cầu Hãng PTVN phải trình hai phương án làm phim khác. Phương án thứ nhất: giảm quy mô, rút kinh phí xuống còn khoảng 80 tỉ. Phương án thứ hai: huy động các nguồn vốn xã hội hóa và Nhà nước chỉ phải bỏ vào khoảng 50 tỉ. Tuy nhiên, đến thời điểm này cả hai phương án trên vẫn chưa hoàn chỉnh và được trình chính thức. TH.H. (*) 3/6 người đã ở tuổi hưu trí, gồm nhà biên kịch Nguyễn Hồ (66 tuổi), nhà văn Ngô Thảo (68 tuổi), nhà thơ Nguyễn Duy (60 tuổi) - ghi chú của Tuổi Trẻ. (**) Lee Koong Wan: Tên phiên âm Lý Công Uẩn theo kiểu Hàn Quốc - ghi chú của tác giả Bằng Việt. Theo báo Tuổi Trẻ ============================================================= Trần Phương trích : Thiết nghĩ, đó là việc nên làm, nếu làm tốt, làm xứng đáng một tác phẩm nghệ thuật giá trị dâng cúng tổ tiên. Còn nếu chỉ vì chạy theo thành tích kỷ niệm suông mà "làm lấy được", làm bôi bác, thậm chí lợi dụng cơ hội kỷ niệm mà "làm tiền" nhân dân thì có tội với tổ tiên đấy. Thà đem tiền ấy làm nhà cho người nghèo, mua trâu cày cho nông dân, thì chắc các ngài sẽ hài lòng hơn là đem tiền ấy nhờ láng giềng làm cỗ cúng giỗ Tổ (biết đâu lại đi cúng bánh dỏm, bánh thiu như đã từng xảy ra). Tại sao còn đắn đo chưa "quyết" nhỉ ? Đúng vậy, Hà Nội hiện đang mang một tầm vóc mới, do đó không riêng cá nhân tôi mà tin rằng rất nhiều người nữa đang trông đợi được thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật hoành tráng nhân dịp thiết thực kỷ niệm "đại tiệc" 1000 năm Thăng Long sắp tới. Chưa biết công việc bề bộn tới đây như thế nào nhưng nhất định tôi sẽ có mặt ở Hà Nội đúng vào dịp kỷ niệm đó :lol: -
ĐĂNG KÝ LỚP PHONG THỦY LAC VIỆT - KHÓA 2
Trần Phương replied to Minh Châu's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Trần Phương tôi đã gởi mail đăng ký học đến Trung Tâm mấy bữa nay nhưng không biết Ban quản trị đã nhận được chưa vì không thấy trong danh sách các học viên đã đăng ký ? -
Một nền văn minh toàn cầu cổ xưa, có thể chứ?
Trần Phương replied to quangnx's topic in Các Bài Viết Quan Trọng
Cảm ơn anh Thiên Sứ và anh quangnx ! Quý bạn đọc thân mến, Thực ra việc tôi đặt vấn đề bằng các câu hỏi như vậy cũng là có lý do, bởi từ rất lâu rồi, tôi có nhớ là mình đã được đọc những nghi vấn về một trong những công trình do chính con người tạo nên nhưng không phải của nền văn minh nhân loại hiện hữu mà nó thuộc về một nền văn minh cổ xưa đã mất, mấy bữa nay tôi cũng băn khoăn là có nên đưa lên diễn đàn vấn đề này để chia sẻ hay không vì tài liệu về giả thuyết đó hiện tôi không còn lưu trữ. Vật thể đó đã giúp người xưa ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, từ thiên văn, lịch pháp (âm dương lịch), dự báo thủy triều, ... đến là cơ sở cho học thuyết Âm Dương Ngũ Hành ... Vật thể đó, chuyện không đùa, chính là Chị Hằng của chúng ta : Mặt Trăng. Về sự hình thành của Mặt Trăng, cho tới nay đã có nhiều giả thuyết, hiện giả thuyết phổ biến nhất và được nhiều sự chấp nhận nhất : Qua mô hình mới về sự thành tạo mặt trăng, các nhà khoa học chỉ ra rằng chị Hằng trẻ hơn nhiều so với ta tưởng. Ngay trước khi trái đất hoàn tất quá trình khai sinh cách đây khoảng 4,5 tỷ năm, một thiên thạch cỡ sao Hoả đã va vào nó, giải phóng đá và cát bụi, liên kết thành mặt trăng. Từ nhiều thế kỷ, loài người đã vô cũng ngưỡng mộ chị Hằng. Chúng ta gửi các tàu thăm dò tới đó, đưa các nhà du hành bước trên bề mặt mặt trăng. Nhưng đến tận bây giờ chúng ta vẫn không biết chính xác làm cách nào, trái đất lại có được người bạn đồng hành ấy. Nay, nhóm khoa học của Asphaug, Đại học California, Santa Cruz đã có cách giải thích rõ ràng hơn cho "giả thuyết về vụ va chạm vĩ đại” phổ biến lâu nay về sự thành tạo của mặt trăng. Giả thuyết này được đưa ra lần đầu vào giữa thập kỷ 70. Theo đó, mặt trăng được hình thành sau khi một vật thể, có kích cỡ sao Hoả, va vào trái đất. Nhưng, trong các mô hình tính toán sau đó, người ta không lý giải nổi mối liên quan giữa một (hay nhiều) vụ va chạm này với thành phần và khối lượng của trái đất, mặt trăng cũng như cách thức chúng lơ lửng trong hệ mặt trời như ngày nay. Sử dụng mô hình mới, các nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Tây Nam và Đại học California, Mỹ, đã tạo ra một bức tranh mô phỏng tác động xiên do một vật thể có khối lượng bằng 10% khối lượng của trái đất va chạm vào tinh cầu của chúng ta. Vụ đụng độ này có thể đã làm bắn ra một lượng vật chất phi sắt đủ lớn, văng vào quỹ đạo trái đất, cuối cùng liên kết lại thành mặt trăng của chúng ta, để lại trái đất với khối lượng và tốc độ quay như ngày nay. Cũng theo mô hình này, mặt trăng được sinh ra ngay trước khi trái đất hoàn tất quá trình thành tạo, khoảng 4,5 tỷ năm trước đây. Phát hiện được công bố trên tạp chí Nature, hôm nay (16/8). (Theo CNN). Và dưới đây là thông tin chi tiết của Mặt Trăng theo wiki : http://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%B7t_Tr%C4%83ng Ngoài giả thuyết trên, trước đó còn có nhhiều giả thuyết về sự hình thành của Mặt Trăng nhưng cho tới nay không giả thuyết nào đứng vững, chỉ có thể đút kết một số điều rằng : - Mặt Trăng sinh ra muộn hơn Trái Đất rất nhiều. - Kích thước của Mặt Trăng bằng 1/4 so với Trái Đất. - Khối vật chất, đất đá cấu tạo nên Mặt Trăng chính là của Trái Đất, do đó mới có giả thuyết là Mặt Trăng được tách ra từ Trái Đất. Chính vì vậy mà mặc dù các nhà khoa học đã cố gắng đưa ra nhiều giả thuyết nhưng cho tới nay sự hình thành của Mặt Trăng vẫn là một bí ẩn. Chẳng hạn như : - Với kích thước bằng 1/4 Trái Đất, nếu một lực tác động đủ mạnh để tách Mặt Trăng khỏi Trái Đất thì sẽ giải phóng một năng lượng lớn đủ để văng ra khỏi quỹ đạo Trái Đất, chứ không dễ dàng gì bị từ trường của Trái Đất hút trở lại và "bắt làm tù binh" như vậy ? - Mặt Trăng có một từ trường bên ngoài chưa bằng 1 % từ trường Trái Đất. Các khác biệt quan trọng nhất là Mặt Trăng hiện tại không có một từ trường lưỡng cực (lẽ ra phải được tạo ra bởi địa động lực trong lõi của nó), và sự từ hóa hiện diện hầu như đều có nguồn gốc từ lớp vỏ ? Như vậy, phần lõi của Mặt Trăng phải là rỗng, sao lại như vậy ? ................................................................. Còn nhiều vấn đề nghi vấn bí ẩn nữa của Mặt Trăng, đó là lý do có thể đưa ra một giả thuyết rằng : - Mặt Trăng chính là vệ tinh do chính văn minh nhân loại từ quá khứ xa xăm đã tạo ra. - Phần lõi MT rỗng để chứa các máy móc thiết bị, phần bề mặt của "vệ tinh" được bao bọc bằng các lớp đất đá do được đem từ Trái Đất lên để bảo vệ bởi các va chạm trong không gian. - Con người thuộc văn minh cổ xưa đã ra đi sau một đại nạn toàn cầu và đã để lại MT để theo dõi sự sống và văn minh nhân loại về sau. .................................................................. Trên đây là một giả thuyết mà Trần Phương tôi mạn phép đưa lên trong trí nhớ của tôi về một tài liệu từ rất lâu có đặt ra nghi vấn về một sản phẩm nhân tạo kỳ vĩ do một nền văn minh cổ xưa đã tạo ra và để lại cho nhân loại ngày nay. Rất mong nhận được ý kiến của quý bạn đọc ! -
Một nền văn minh toàn cầu cổ xưa, có thể chứ?
Trần Phương replied to quangnx's topic in Các Bài Viết Quan Trọng
Kính anh quangnx ! Đến đây, tôi cũng mạn phép thổ lộ một chút, từ dạng thức toán học tổng quát của Bát Quái, cũng bằng toán học tôi đã tìm lại được dạng thức của Phương trình Einstein trong thuyết tương đối tổng quát về mối quan hệ giữa vật chất và không-thời gian. Tương tự, tôi cũng đã tìm được dạng thức của phương trình trường lượng tử cũng như phương trình schrodinger trong cơ học lượng tử. Vì vậy các vấn đề về lượng tử, về điện từ trường, về trường hấp dẫn, về hạt nhân nguyên tử,về năng lượng... và về rất nhiều thứ, tôi vẫn có cảm nhận được rằng chúng ta chỉ mới lăn được chưa đủ nữa vòng quay cũ của tiền nhân. Anh có thể nói rõ hơn không ? Cụ thể là theo tôi được biết, trong không gian nếu vận tốc càng lớn thì sẽ không còn khái niệm của thời gian. Nền văn minh cổ xưa của nhân loại có thực sự bị tuyệt diệt hay là họ đã ra đi ? Vậy anh có thể đưa ra một khoảng thời gian ước lượng sự tồn tại của nền văn minh này trong quá khứ không ? Hay nói cách khác, nền văn minh đó đã kết thúc cách chúng ta bao nhiêu năm ? Cám ơn anh nhiều ! -
ĐĂNG KÝ LỚP PHONG THỦY LAC VIỆT - KHÓA 2
Trần Phương replied to Minh Châu's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương thực hiện chức năng được phép, cùng nhu cầu đào tạo lớp kế thừa. Nay mở khóa đào tạo Phong Thủy Lạc Việt online trên website www.lyhocdongphuong.org.vn ------------------------------- Xin cho hỏi đào tạo online này là như thế nào ? Có giống với đào tạo từ xa không ? Với một người giờ giấc làm việc không cố định lại hay đi công tác tỉnh như tôi có thể tham gia lớp học được không ? Chân thành cám ơn !