Rin86
Hội Viên Ưu Tú-
Số nội dung
968 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
1
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Rin86
-
F. Ý NGHĨA CỦA HAI CHỮ VIỆT: Việt và Việt Tại sao tiền nhân của chúng ta lại dùng tới hai chữ Việt để đặt cái tên Việt ? Thông thường người ta chỉ cần một chữ là đủ rồi . Chúng ta thấy trong hai chữ , mỗi chữ Việt đều mang một ý nghĩa khác nhau . ChữViệt đi với bộ Mễ thì có mang một dụng cụ nông nghiệp là cái cày để nói lên trong thời bình người Việt trồng lúa để sinh sống . Còn một chữ Việt có kèm theo một vũ khí tức là cái qua đi với bộ Tẩu có ý nói là trong thời chiến người Việt, từng đoàn cầm vũ khí ra đi để chống giặc và giữ nước. Vậy Tổ tiên chúng ta muốn dạy điều gì cho chúng ta ở đây trong danh xưng là Việt ? Với chữ Việt đi với bộ Mễ, tổ tiên chúng ta muốn nói rằng vào thời bình người Việt chúng ta phải lo làm lụng nuôi sống gia đình, lo cho đất nước giàu mạnh ; ngày xưa đất nước của chúng ta là một nước nông nghiệp nên nghề nông là nghề chánh . Ngoài ra chữ Việt nầy đồng thời cũng nói lên đức tính siêng năng cần cù của người dân Việt. Với chữ Việt đi với bộ Tẩu có nghĩa là khi gặp thời chiến thì phải cùng ra đi, cầm vũ khí đứng ra chống giặc để giữ nước. Tổ tiên của chúng ta khi đặt một cái tên gì, hay để lại một câu chuyện gì, đều có kèm theo một ý nghĩa rất sâu sắc trong đó. Như vậy tổ tiên của chúng ta có ý dạy cho dân ta phải biết trách nhiệm và bổn phận của mình đối với đất nước và dân tộc : thời bình thì phải làm gì, và thời chiến thì phải như thế nào đối với đất nước . Cái lỗi ở đây là tại chúng ta không tìm hiểu cho rõ ràng và cặn kẽ cái ý nghĩa của tên “ Việt “ , rồi quay lại hiểu lầm tiền nhân .Bây giờ bạn và tôi mới nhận thấy cái ý nghĩa sâu sắc của tiền nhân khi đặt cái tên Việt cho dân tộc mình. Tuy rằng đã hiểu ý nghĩa của chữ “Việt “, nhưng bạn và tôi vẫn còn thắc mắc. Bạn sẽ nói rằng anh nói tiền nhân lấy cái qua đặt vào với tên “Việt“,nhưng làm sao dám chắc rằng cái qua đó là của người Việt ? Cái khí cụ đó có chắc là của người Việt hay không hay là lấy từ một chổ nào khác đem lại ? Mà nếu nó là của người Việt thì nó ra sao ? Hình dáng như thế nào ?
-
Chữ đầu tiên vẽ một người quơ hai cánh tay của họ , với bộ túc (nghĩa là chân ) ở dưới, từ đó mang ý nghĩa là đi. Nhưng sau đó chữ thành hình một người đi hơi nghiêng về phía trước , có ý nói lên một ý chí cương quyết và bước đi có vẽ nhanh nhẹn , đây là bước quân đi hay còn gọi là bước quân hành , chứ không phải là lối đi bình thường. Vậy bộ Tẩu và kế bên có cái qua là binh khí có nghĩa là người đó chẳng những đi và mà còn cầm vũ khí . Ðó là hình ảnh người chiến sĩ bước đi tay cầm cái qua . Một người đi bình thường thì không có cầm binh khí. Chữ Việt là cái qua mà đi với bộ Tẩu có ý nói là người chiến sĩ cầm vũ khí , đi từng đoàn và đi với một ý chí cương quyết để ra trận. Ðây là thời gian mà các nước Việt phía Nam tiến lên đánh chiếm phía Bắc . Cái ý nghĩa sâu xa của chữ Tẩu là như vậy. Nếu chúng ta chỉ lấy chữ Việt chỉ là binh khí mà thôi, thì tự nó không đủ để giải thích cái gì cả ! Chữ Tẩu mang ý nghĩa chạy là do sau nầy người ta đưa vào chứ chứ gốc không có nghĩa là chạy . Tóm lại , Chữ “Việt “ có bộ Tẩu và chữ kế bên đọc là Việt có nghĩa là người chiến sĩ cầm vũ khí là cái qua, đi trong cương quyết, đi từng đoàn theo thế quân hành để ra trận . Vậy chữ Việt không dính dấp gì với chó chạy cả ! E .CHỮ VIỆT ÐI VỚI BỘ MỄ Trong số năm học giả trên , có người giải thích chữ Việt đi với bộ Mễ là một bản đồ đất đai của người Việt ở từ khi mới lập quốc. Người khác thì lại phân tích rằng chữ Việt gồm các bộ Phiệt ( gần giống âm Việt ), Quynh ( miền đất ở xa ngoài cõi ), Mễ ( lúa gạo ), Khảo ( khéo léo ). Rồi ông giải thích như sau: một miền đất ở xa ngoài nước Tàu chuyên nghề trồng lúa một cách tinh xảo ; Chữ Việt này nhìn giống như một trái cây, có cuống , có quả , có nhiều hạt. Mỗi người giải thích theo mỗi ý . Bạn và tôi thữ tìm xem coi chữ Việt bộ Mễ này có nghĩa gì . Ðầu tiên chữ Việt gồm có bộ Mễ . Vậy bộ Mễ ngày xưa chữ gốc của nó là gì ? Hình 1 Hình 2 Chữ từ xưa đến nay Ðầu tiên người xưa vẽ chín hạt gạo tượng trưng cho bộ Mễ . Con số chín đây có nghĩa là nhiều , sung túc, đầy đủ. Xem hình 1, cây lúa có rất nhiều hạt .Sau đó hạt lúa văng đi bốn hướng; họ gạch chứ thập tượng trưng cho bốn hướng. Hình 2 , khi người ta đập lúa thì hạt lúa văng đi tứ ( bốn ) hướng. Bỗ Mễ ngày nay viết đổi khác hơn chữ lúc ban đầu. Chúng ta đã có lúa gạo tức là bộ Mễ, vậy thì cái chữ mà bọc bộ Mễ là chữ gì ? Ðể dễ nhận thức tôi xin đưa ra một ví dụ : chữ Hướng , chữ bộc bộ khẩu cũng viết giống như chữ bọc bộ Mễ . Chữ Hướng , đầu tiên viết là , người xưa giải thích là cái cửa sổ ( hình tròn ) , nằm dưới cái mái nhà , là cái hướng để cho gió lọt vào . Bây giờ chúng ta nhìn lại chữ Việt , cái chữ bọc bộ Mễ đó là cái mái nhà, có nghĩa là gạo được trữ dưới mái nhà hay còn gọi là trữ trong kho. Kế tiếp chữ ở dưới bộ Mễ là cái gì ? Bạn hãy coi hình ở dưới . Người xưa lấy một khúc cây , ráp một cái lưỡi bằng đá vào để làm cái cày để cày đất . Rồi người ta đứng lên trên cái cày đó để làm sức nặng và đàng trước có súc vật kéo . Bạn và tôi nên nhớ là người Việt ngày xưa nổi tiếng về nghề trồng lúa .Vậy chúng ta thấy có sự liên hệ giữa ba chữ với nhau trong chữ Việt ; bộ Mễ là lúa, gạo , được trữ dưới mái nhà tức là trữ trong kho, và để tạo ra lúa gạo thì cái cày là một dụng cụ nông nghiệp.
-
A. CÁCH CẤU TẠO CHỮ MỚI TRONG CHỮ NHO Ở đây tôi xin đượcnói phớt qua một chút để thấy ngày xưa người ta làm thế nào để cấu tạo một chữ mới trong chữ Nho, tuy nhiên những điều viết sau đây không phải là một điều cố định vì nó còn có những trường hợp ngoại lệ. Ðể dể hiểu tôi xin lấy chữ Nghệ làm ví dụ : nghệ à hung à hung à hung Ví dụ người xưa bắt đầu bằng chữ Nghệ ( tự điển Thiều Chửu trang 7 ). Bây giờ muốn tạo một chữ mới lấy gốc từ chữ Nghệ này thì họ làm sao ? Họ lấy chữ Nghệ nầy viết kèm với một bộ khác ,ví dụ bộ Khảm thì ra chữ Hung ( tự điển Thiều Chửu tr.48 ). Từ chữ Hung nầy muốn tạo thêm một chữ mới khác thì họ làm sao ? Họ lại viết kèm nó với một bộ khác , ví dụ bộ bộ Bao thì nó ra chữ Hung . Rồi họ lại cứ tiếp tục lấy chữ Hung có bộ bao đó viết kèm với một bộ mới, ví dụ bộ Tâm thì ra chữ Hung ( xem tự điển Thiều Chửu tr. 204 ). Rồi cứ như thế mà tạo ra một chữ mới Ðối với chữ Việt cũng thế ; đầu tiên nó là chữ Việt , xong để tạo ra một chữ mới người ta mới nhập nó với bộ Tẩu và đọc với âm Việt. D. BỘ TẨU Mặc dầu đã giải thích chữ Tuất và chữ Việt rồi , nhưng bạn vẫn còn thắc mắc rằng nếu chữ Việt này đủ để đọc là Việt thì thêm bộ Tẩu vào làm gì ? Tôi xin nhắc lại trong chữ “ Việt “ gồm bộ Tẩu và chữ Việt . Chữ Việt đây chỉ là cái âm có nghĩa là cách đọc, cách phát cái âm ra như thế nào mà thôi. Còn tất cả ý nghĩa gói ghém lại nằm ở bộ Tẩu là cái phần chỉ ý và đó là phần chính. Vậy tổ tiên chúng ta muốn nói cái gì khi viết bộ Tẩu vào với âm Việt . Ðó là đều mà bạn và tôi phải tìm hiểu đến. Ở trên tôi có giải thích chữ Việt , chữ xưa viết là là hình một cái qua có cái móc phía sau ; mà cái qua là một loại binh khí ngày xưa vậy nó phải có liên quan gì với bộ Tẩu . Bộ Tẩu : . Ðầu tiên chúng ta thử tìm xem trong các tự điển cắc nghĩa thế nào về bộ tẩu nầy. -Tự điển Hán-Việt của Thiều Chửu : Tẩu :1. Chạy. 2. Trốn . -Tự điển Hán-Việt Từ Nguyên của Bửu Kế : Tẩu : bộ Tẩu¨« bảy nét : chạy. - Tự điển Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của : Tẩu : chạy . - Tự điển chữ Nôm của Vũ văn Kính : Tẩu : tẩu thoát, bôn tẩu . - Hán-Việt từ điển của Nguyễn Văn Khôn : Tẩu : chạy, trốn, đi, về . - Tự điển Trung Hoa : A New Practical Chinese -English dictionary do Công Ty Viễn Ðông xuất bản : zoêu : 1. to walk có nghĩa là đi ;to go on foot tức là đi bộ. 2. to run từc là chạy. - Tự điển Trung Hoa : A Chinese-English dictionary do Viện Ngoại Ngữ của Bắc Kinh xuất bản : zoêu : 1. walk, go có nghĩa là đi. 2. run có nghĩa là chạy Các tự điển Việt , phần lớn đều dịch là chạy , chỉ có ông Nguyễn văn Khôn dịch là đi, chạy. Tự điển Trung Hoa thì nghĩa thứ nhất là đi , và nghĩa thứ nhì là chạy . Các tự điển Việt và Trung Hoa không có cắt nghĩa chữ gốc của bộ tẩu .Vậy Tẩu , chữ gốc của nó viết như thế nào và giải thích làm sao?
-
D. CHỮ VIỆT THUỘC LOẠI NÀO ? Trong 6 loại của cách cấu tạo chữ Nho kể trên , thì chữ Việt nằm trong loại Hình Thanh tức là một bên chỉ ý và một bên chỉ âm. Ðể dẫn chứng bạn lấy quyển CHỮ NHO TỰ HỌC của Ðào Mộng Nam , Giảng Sư Viện Ðại Học Huế , ở trang 110 có viết như sau : cách cấu tạo chữ Nho, phần 3 : Chỉ âm - Chỉ ý : Lấy hai chữ vẽ hình hay gom ý có sẵn ghép lại rồi dùng một chữ để chỉ âm, một chữ để chỉ ý : Ví dụ : cửu : chỉ âm ửu - ừu, người: chỉ ý. Con người khác con vật ở điểm biết thù hằn nhau . đọc là cừu ( lấy từ âm ửu của chữ cửu ) có nghĩa là thù hằn Bây giờ áp dụng chữ “Việt “ vào : Các học giả ở các bài báo ở trên cho rằng chữ Việt gồm bộ Tẩu đi với chữ Tuất ; chúng tôi cho rằng bộ Tẩu đi với chữ Việt . Bây giờ chúng ta hãy xem cách đọc : Chữ Việt gồm bộ Tẩu và chữ Tuất Việt Tuất : chỉ âm : âm ở đây là T, âm tờ, tẩu : chỉ ý Trong tự điển không có bộ Tẩu đi với chữ Tuất , nên không đọc được! Chữ Việt gồm bộ Tẩu và chữ Việt Việt Việt : chỉ âm tẩu : chỉ ý đọc là Việt Bạn thử so sánh coi , nếu lấy âm T, Tờ của chữ Tuất thì làm sao mà đọc ra Việt được ! Nó phải âm Việt thì mới đọc ra Việt được . Ðể rõ ràng hơn tôi xin đưa ra hai ví dụ trong đó có chữ Tuất đi với một bộ khác và chữ Việt đi với một bộ khác như sau : 1 . Chữ Tuất : chỉ âm : âm ở đây là T, âm tờ bộ bối : chỉ ý Vậy thì đọc như thế nào ? Thưa đọc là Tặc ( xin xem tự điển Thiều Chửu trang 648 ). 2. Chữ Việt:chỉ âm bộ Kim : chỉ ý Vậy thì đọc làm sao? Thưa đọc là Việt ( xin xem tự điển Thiều Chửu trang 711 ) có nghĩa là cái búa lớn mà ta thường gọi là Phủ Việt. Vậy có hai điểm chính ở đây . Các học giả ở trên đã chẳng những nhìn lộn chữ Việt ra chữ Tuất , và cũng chẳng soát lại coi cái âm đọc như thế nào để coi mình nói đúng hay sai . Ðể rõ ràng dể hiểu hơn chúng ta hãy coi cách cấu tạo chữ mới như thế nào trong chữ Nho.
-
A. GIẢI THÍCH TỪNG LOẠI 1a. TƯỢNG HÌNH Ðây là những hình vẽ thô sơ để chỉ một vật gì hay một giống loại gì. Ví dụ : Ngày xưa vẽ Ngày nay viết môn :cái cửa à Thủy : nước à Nhật : mặt trời à 2a. CHỈ SỰ Ðây là những hình thể để nói lên một ý nghĩa nào đó. Tuy còn là hình vẽ những chữ đã bất đầu mang một ý nghĩa trừu tượng. Ví dụ : Ngày xưa vẽ Ngày nay viết thượng : ở trên à 3a. HỘI Ý Mỗi chữ đều mang ý nghĩa của nó. Hội ý là do hai chữ hoặc nhiều chữ hợp lại để ra một ý nghĩa khác. Ví dụ : Chữ Chiêm . Chữ nầy gồm hai bộ hợp lại thành một chữ. Ở trên là bộ Bốcvà ở dưới là bộ Khẩu . Bốc có nghĩa là bói, và Khẩu là cái miệng, hai bộ nầy nhập lại thành chữ Chiêm có nghĩa là xem coi điều gì để biết xấu tốt. 4a. HÌNH THANH Chữ Hình Thanh là do sự họp lại của một hoặc nhiều chữ . Chữ Hình Thanh gồm hai phần : - Một phần là bộ để chỉ ý (nghĩa của chữ ) - Một phần là âm để nói lên cách đọc của chữ. Ví dụ : + = Bộ âm Chỉ ý Chỉ âm Thảo ( cách đọc của chữ lấy từ âm tảo mà ra) Bộ thảo chữ tảo 5a. CHUYỂN CHÚ Là một loại chữ được dùng rộng hơn ý nghĩa ban đầu của nó. Chữ đó mang nghĩa chính, ngoài ra nó đẻ thêm một nghĩa phụ nữa. Ví dụ : nhạc à là một nhạc khí để tạo ra sự vui tươi nhạc à chuyển âm đọc là Lạc là vui,thích à chuyển thêm một âm nữa đọc là nhạo là yêu, thích. ( xin coi tự điển Thiều Chửu trang 310 ) 6a. GIẢ TÁ Ðây là một sự vay mượn do lầm lẫn hoặc thiếu sót mà ra, bất nguồn từ : - Do sự chép sai lấy từ chữ gốc - Mượn chữ trùng âm hoặc chữ đồng âm để thay thế phần chữ không có trong chữ viết, mà chỉ có trong lời nói mà thôi. Ví dụ : đậu là một cái thố để đựng thịt cúng thần, cùng âm với chữ hạt Ðậu , nên cũng được dùng để chỉ hạt đậu.
-
Bây giờ xin bạn hãy coi lại cách viết của chữ Việt đi với bộ Tẩu Việt Chữ Việt bao gồm bộ Tẩu và chữ Bây giờ bạn hãy nhìn chữ Tuất Tuất Bạn hãy coi chữ Tuất và chữ có giống nhau không ?Chắc chắn là không giống nhau rồi. Chữ Tuất có một nét gạch ngang bên trái, còn chữ có một nét móc lên ở bên trái . Bạn sẽ hỏi tôi chữ đọc làm sao ? Chữ nầy đọc là Việt . Các học giả ở trên nhìn lộn chữ Tuất với chữ Việt ! Cái chữ trong chữ Việt bộ tẩu không phải là chữ Tuất mà là chữ Việt ! Vậy bạn sẽ hỏi rằng chữ Việt nầy ngày xưa chữ gốc của nó như thế nào và giải thích làm sao ? Chữ Việt ., ngày xưa viết là và được giải thích như sau : Hình một cái qua có cái móc ở phía sau. Như vậy trong chữ Việt có bộ Tẩu đi với chữ Việt chứ không phải bộ Tẩu đi với chữ Tuất ! Bây giờ bạn và tôi lại thắc mắc là tại sao đọc là Việt ? Trước khi bàn đến cách đọc , tôi xin nói phớt qua về cách cấu tạo của chữ Nho . CÁCH CẤU TẠO CHỮ NHO Chữ Nho được chia ra làm hai đại loại : - Loại Văn là những hình thể đơn giản. - Loại Tự là những chữ hợp lại hay còn gọi là hợp tự. Các cụ nhà Nho chúng ta thường hay gọi là Văn Tự. Loại Văn được chia làm hai loại : - Tượng hình - Chỉ sự Loại Tự cũng được chia làm hai loại : - Hội ý - Hình thanh Ngoài bốn loại : Tượng hình, chỉ sự, hội ý và hình thanh, thuộc về Văn Tự, chúng ta còn có thêm hai loại nữa , đó là : - Giả tá - Chuyển chú Tóm lại : - Văn Tự gồm 4 loại : Tượng hình, chỉ sự,hội ý và hình thanh - Lục thư gồm 6 loại: Tương hình , chỉ sụ, hội ý, hình thanh, giả tá và chuyển Chú.
-
VÀ Lê Văn Ẩn Bạn và tôi là người Việt, chúng ta là con dân nước Việt. Cái tên "Việt" đã có từ lâu đời , ấy thế mà khi hỏi đến nguồn gốc và ý nghĩa của nó, ít có ai hiểu nó là gì ! Tại sao là Việt ? Nó mang ý nghĩa gì ? Thỉnh thoảng trên báo chí chúng ta thấy có nhiều học giả tìm cách giải thích , nhưng rất tiếc sự giải thích đó đều mang một ý nghĩa không mấy tốt đẹp . Hôm nay bạn và tôi thử tìm hiểu, phân tích để hiểu xem vì lý do gì tiền nhân của chúng ta lại lấy cái tên "Việt" đặt cho dân tộc mình . Đầu tiên cái tên Việt đó được viết bằng một loại chữ mà ngày nay ít ai nhắc tới, đó là chữ Nho. Chúng ta có chữ viết ; các cụ ngày xưa viết chữ Nho, sau đó là chữ Nôm ; đến khi người Pháp đến đô hộ đất nước chúng ta, họ đưa vào một lối chữ viết với mẫu tự La-tinh và gọi đó là chữ Quốc Ngữ. Chữ Quốc Ngữ dần dần thay thế chữ Nho và Nôm . Sau đó tất cả các sách vỡ , văn kiện đều được in bằng chữ Quốc Ngữ .Ngày nay ít ai buồn nghĩ đến chữ Nho và Nôm của ngày trước; nếu có ai tình cờ nhắc lại thì bị coi là cổ hủ , lỗi thời. Từ đó với thời gian hai loại chữ trên đều bị rơi vào quên lãng. Sự mất mát của chữ Nho và chữ Nôm mang một ảnh hưởng rất tai hại mà ít ai nghĩ tới. Thông thường bạn và tôi không thấy sự tai hại đó , mãi cho đến một ngày có người hỏi chúng ta , anh là người Việt , vậy chữ "Việt" đó mang ý nghĩa gì? Cái gốc của chữ "Việt" đó từ đâu mà ra ? Bây giờ bạn và tôi đem chữ Quốc ngữ ra cắt nghĩa cái nguồn gốc chữ "Việt" ư ? Chữ Quốc ngữ không thể giải thích nguồn gốc của chữ "Việt" ! Quay lại chữ Nho và chữ Nôm ư ? Còn mấy người biết được chữ Nho và Nôm , và có chắc họ còn nhớ cái nguồn gốc của chữ đó không ! Một hôm , ông Bùi Tuấn Dũng , một người bạn thân của tôi , mang đến cho tôi một số bài báo giải thích về nguồn gốc của chữ "Việt" . Tôi rất mừng và vội đăng lên đây để bạn và tôi cùng tìm hiểu nguồn gốc dân tộc mình qua danh xưng là Việt . Dưới đây là những đoạn trích từ các bài báo vừa kể : 1. Ông Phạm Cao Dương có viết bài "Việt Nam hay Đại Nam" ( Một vấn đề liên hệ tới quốc hiệu nước ta ) đăng trong tờ Chiêu Dương . Ông viết như sau : "... Chữ Việt trong danh xưng Việt Nam đã không được viết là Việt chỉ hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây mà là Việt có nghĩa là vượt, một chữ mà các bậc lão thành cho là có nghĩa xấu vì nó hợp với chữ Tẩu có nghĩa là chạy và chữ Tuất chỉ một chi trong 12 chi tượng trưng cho chó". Cuối cùng nếu mê tín, dị đoan mà nói, một quốc gia mà mang tên những vượt và chạy do người ngoài đặt cho như vậy thì khó mà sống trong hòa bình, ổn định và đoàn kết xây dựng được. 2. Ông Phan Hưng Nhơn có viết bài " Nhận thức về một số suy luận mới về sử liệu Việt Nam" đăng trong tờ Viên Giác số 135 tháng 6 năm 2003 ( xuất bản ở Đức ). Ở trang 135 ông viết như sau : "... Đối với những bộ lạc sống vùng Nam man mà họ không mấy biết và cho rằng những bộ lạc nầy có lối sống hỗn độn. Nên người nhà Chu dùng từ Việt, có nghĩa là Vượt để gọi những dân tộc người ở vùng Nam man này mà họ cho "có lối sống Vượt ra ngoài vòng lễ giáo của nhà Chu". Như thế danh xưng Việt người thời nhà Chu dùng đầu tiên và chỉ có nghĩa đơn giản như vậy. Sau đó ở trang 137 ông lại viết tiếp : "... Vì vậy từ thời thượng cổ cho đến cận đại, dân tộc mà ngày nay bị gọi là Việt Nam này không bao giờ chịu nhận mình là người Việt và từ xưa cho đến nay luôn luôn tự xưng mình là dân Nam, nước mình là nước Nam ( cho đến năm 1945 ). 3. Ông Hoàng Văn Chí có viết bài "Nguồn gốc dân tộc" ( đây là bài Tham Luận ) đăng trong tờ Chiêu Dương . Ông viết như sau : "... Chữ Việt có nghĩa là vượt qua , như việt quyền là vượt quá quyền hạn, việt ngục là vượt ngục. Người Hán dùng chữ Việt để chỉ những sắc tộc ở phía Nam sông Dương Tử, mà họ coi là thấp kém ví chẳng khác người Thượng hiện nay, họ không định cư ở một nơi để canh tác nông nghiệp. Cứ ở mỗi nơi vài năm, phá rừng làm rẫy, rồi hễ đất hết màu mỡ, lại vượt sông, vượt núi, di chuyển tới một khu rừng khác . Vì có nhiều sắc tộc Việt quá nên người Hán gọi hằm-bà-lằng tất cả là Bách Việt. Sau đó ông lại viết tiếp như sau : "... Rồi người Việt-nam được gọi tắt là Người Việt, làm cho nhiều người ngộ nhận chúng ta là một trong các sắc tộc Bách Việt bên Tàu. Đáng lẽ nên gọi là Người Nam . Chữ Nam đối chọi với chữ Bắc. Ta là Nam, Tàu là Bắc. 4. Ông Trần Hữu Lễ có viết trong tờ Viên Giác số 122 , tháng 4 năm 2001 ( xuất bản ở Đức ) dưới đề mục "một bọc trăm con". Ông có nhận xét như sau : ... Họ ( Cao Biền ) viết chữ Việt gồm hai bộ Tuất và Tẩu . Tuất là chó. Tẩu là chạy , với nghĩa xách mé, như một lời chửi rủa ... Có một chữ Việt khác gồm các bộ Phiệt ( gần giống âm Việt ), Quynh (miền đất ở xa ngoài cõi ), Mễ ( lúa gạo ), Khảo ( khéo léo ). Rồi ông giải thích như sau: một miền đất ở xa ngoài nước Tàu chuyên nghề trồng lúa một cách tinh xảo . Phải chăng đấy là ý người xưa. Chữ Việt này nhìn giống như một trái cây, có cuống , có quả , có nhiều hạt. Có quả có nhân, có nhân có quả... Ngoài phần phân tích chữ Việt , bài viết "Một bọc trăm con" của ông viết rất đầy đủ ý nghĩa. 5. Ông Huy Việt Trần Văn Hợi có viết bài "Chữ Việt" đăng trong tờ Tư Tưởng như sau : "... Nếu ta tách chữ Việt bộ Tẩu ra thì ta có một bên là chữ Tẩu là chạy, và một bên chữ Tuất là chó. Đó là họ muốn ghi chiến thắng của họ là đánh đuổi dân ta chạy về Phương Nam như đuổi chó vậy". Trong năm học giả ở trên thì có ba người cho chữ "Việt" gồm bộ Tẩu và chữ Tuất ,rồi chú thích là chó chạy ; còn hai người gọi Việt là vượt và cho đó là một cái tên thấp kém , sống vượt ngoài vòng lễ giáo, rồi đề nghị đừng gọi là người Việt mà nên gọi là người Nam ! Nếu bạn và tôi không biết chữ Nho và chữ Nôm , thì chúng ta nên tin ai và bỏ ai đây ? Họ đúng hay sai, thật khó mà biết được vì tất cả đều phân tích giống nhau ! Vậy tổ tiên chúng ta không biết cái tên đó xấu hay sao mà lại chọn cái tên như vậy ? Chúng tôi tin tưởng rằng tổ tiên của chúng ta phải có lý do chính đáng để chọn cái tên "Việt", tuy nhiên đám con cháu không chịu tìm hiểu cặn kẽ rõ ràng rồi quay lại hiểu lầm tiền nhân ! Với khả năng hạn hẹp và thô thiển , tôi cố gắng tìm lại nguồn gốc qua sự phân tích , dẫn chứng về chữ Việt . Biển học thì mênh mông mà sự hiểu biết của mình thì quá hạn hẹp , nếu tôi có gì sơ xuất hay sai sót thì xin các bậc cao minh chỉ bảo để tôi có dịp học hỏi thêm. Đầu tiên , chữ Việt được viết bằng chữ Nho. Chữ đó viết bằng hai cách : Việt và Việt Trước tiên để hiểu chữ Việt trên mang ý nghĩa gì, chúng ta thử tìm qua tự điển. 1. TÌM CHỮ VIỆT QUA TỰ ĐIỂN Việt đây là chữ Việt đi với bộ Mễ . Muốn tìm chữ Việt này bạn lấy cuốn tự điển chữ Nho, hay cuốn tự điển Hán-Việt hoặc tự điển của Trung Hoa , lật tới bộ Mễ ( là bộ thứ 119 trong số 214 bộ ). Bộ Mễ theo cách viết gồm có sáu (6 ) nét hợp thành , hãy tra ở phần các bộ có sáu nét thì tìm ra bộ Mễ, sau đó tìm trong bộ Mễ ở phần 6 nét thì thấy chữ Việt nầy . Vì nó nằm ở bộ Mễ cho nên người ta nói chữ Việt bộ Mể là mang ý nghĩa như vậy. Việt đây là Chữ Việt bộ Tẩu ( là bộ thứ 156 trong 214 bộ ), bạn cũng làm giống như trên , tìm đến bộ Tẩu ( bộ 7 nét ) , rồi tìm đến phần năm nét của bộ tẩu thì thấy chữ Việt nầy . Sau khi tra tự điển tìm ra chữ Việt rồi , nay bạn và tôi thử tìm coi trong tự điển chữ Nho và tự điển Hán-Việt người ta giải thích thế nào về chữ Việt đó . Ở đây chúng tôi lấy tự điển Thiều Chửu để làm ví dụ . 2. GIẢI THÍCH CHỮ VIỆT QUA TỰ ĐIỂN A. Việt , chữ Việt bộ Tẩu được giải thích như sau ( Tự điển Thiều Chửu trang 655 ) : 1. Qua , vượt qua 2. Rơi đổ 3. Nước Việt, đất Việt 4. Giống Việt : ngày xưa các giống Việt như Ư-Việt thì ở Triết Giang ; Mân-Việt thì ở Phúc Kiến ; Dương-Việt thì ở Giang Tây; Nam-Việt thì ở Quảng Đông ; Lạc-Việt thì ở nước ta, đều là Bách Việt cả. 5. Một âm là Hoạt : cái lỗ dưới đàn sắt. B. Việt , chữ Việt bộ Mễ được giải thích như sau ( tự điển Thiều Chửu trang 474 ) : - Nước Việt, đất Việt, cùng nghĩa như chữ Việt . Tĩnh Quảng Đông, Quảng Tây nguyên trước là đất của Bách Việt nên người Tàu gọi hai tỉnh ấy là tỉnh Việt . - Bèn , tiếng mở đầu ( phát ngữ ), như Việt hữu là bèn có. Nếu bạn và tôi không biết chữ Nho, có cố gắng mà tìm hiểu nguồn gốc, thì cùng lắm chỉ tìm được lối giải thích như trên . Trong tự điển chữ Nho , hay tự điển Hán-Việt hoặc tự điển thông dụng của Trung Hoa , người ta chỉ giải thích như vậy , chứ không có cuốn tự điển nào phân tích cái gốc của chữ Việt cả ! Vì không có sự phân tích chữ gốc từ tự điển , cho nên mọi người phân tích mỗi kiểu khác nhau, từ đó chúng ta không biết tin ai bỏ ai ! Bây giờ bạn và tôi thử phân tích coi chữ Việt đó như thế nào. 3.PHẦN PHÂN TÍCH CHỮ VIỆT. A. CHỮ VIỆT ĐI VỚI BỘ TẨU Trong các bài báo đăng trích ở trên thì phần lớn giải thích chữ "Việt" đi với bộ Tẩu và chữ Tuất ; tuy nhiên có một vị cho rằng đi với bộ Tuất và bộ Tẩu, ông không gọi chữ Tuất mà lại gọi là bộ Tuất . Để tránh hiểu lầm , chúng tôi xin thưa rằng không có bộ Tuất mà chỉ có chữ Tuất . Trong 214 bộ , không có bộ Tuất . Muốn tìm chữ Tuất , ta phải tìm bộ Qua ( là bộ thứ 62 của 214 bộ ) , chữ Tuất là thuộc 2 nét của bộ Qua ( tự điển Thiều Chửu trang 219 ). Ở đây có sự nhận định không rõ ràng giữa chữ và bộ . Cuốn tự điển Khang Hi lập thành vào năm 1716 sau Tây Lịch , gồm có khoảng bốn chục ngàn chữ , nhưng chỉ có 214 bộ .Vì số chữ quá nhiều , nên người xưa dùng bộ để xấp các chữ vào từng loại cho có thứ tự và để dể tìm, ví dụ tôi muốn viết chữ đó có liên quan với nước, thì tôi viết nó đi kèm với bộ Thủy ; tôi muốn viết chữ đó liên quan đến cây thì tôi viết kèm với bô Mộc , hay nói một cách khác là nếu tôi muốn tìm một chữ trong tự điển chữ Nho hay tự điển Hán-Việt thì việc trước tiên là phải biết chữ đó nằm ở bộ nào. Ở phần sau trong phần cấu tạo chữ Nho, chúng tôi sẽ giải thích vai trò của chữ và bộ khi họp lại với nhau. Các học giả ở trên nói rằng Chữ Việt gồm bộ Tẩu và chữ Tuất. Bạn và tôi thữ tìm hiểu chữ Tuất coi nó ra sao . Chữ Tuất , ( xin xem tự điển Thiều Chửu trang 219 ) ,nếu chúng ta nhìn kỹ chữ Tuất chúng ta thấy bên trái có cái gạch ngang . Vậy ngày xưa người ta viết chữ Tuất như thế nào và giải thích ra sao ? Chữ Tuất ngày xưa viết là có nghĩa là một cái qua có một nét khuyết xuống và một đường gạch ngang bên trái ; đường gạch ngang tượng trưng cho vết chém , hay vết thương mà người chiến sĩ gây cho kẻ thù của mình , từ đó nghĩa xưa của chữ Tuất là tấn công, gây thương tích , sát hại. Tôi xin nhắc lại cái qua là một loại binh khí ngày xưa . Sau nầy người ta mới đặt chữ Tuất là chi Tuất, là một chi trong mười hai chi. Như vậy chữ Tuất với ý nghĩa ban đầu không dính dấp gì với chó cả !
-
về việc các nhà khoa học nhận định người Việt thời các vua Hùng đóng khố cởi trần có thể do suy luận từ hình vẽ trên trống đồng. Nhưng những hình vẽ đó, theo Rin86, đã mô tả cảnh người Việt trong các lễ hội và nghi lễ tế thần chứ không phải trang phục mặc thường ngày. Từ nên văn minh Ai Cập cho đến nam Mỹ đều có một kiểu trang phục na ná nhau trong các nghi lễ còn trang phục mặc thường ngày rất khác. Có lẽ những trang phục đó liên quan đến các huyệt đạo trong một môn võ công, yoga... hay để dễ dàng thông linh khi làm lễ (như hiến sinh chẳng hạn, về bản chất và công dụng có lẽ việc hiến sinh giống như thả chim phóng sinh là lợi dụng năng lượng của những linh hồn đó, nên mới có nhiều loại như hiến bò, dê, trâu... để làm mưa, thay đổi thời tiết, hiến người, đặc biệt là trinh nữ để tác động đến những việc lớn hơn, đó là mặt tối của nền văn minh cổ Atlantic đã bị tiêu diệt, theo cổ sử thì dân Atlantic là giống dân vô đạo nên bị thượng đế trừng phạt, dân tộc Lạc Việt có lẽ đã không có những nghi lễ dã man nên ko bị trừng phạt, vì trên trống đồng chỉ thấy có hiến tế bò thôi)
-
trong phần tiểu dẫn "Bài ca về người gảy đàn đất Long Thành" Nguyễn Du viết: "Người gảy đàn đất Long Thành ấy, tên họ là gì không rõ. Nghe nói lúc nhỏ nàng học đàn Nguyễn nơi đội nữ nhạc trong cung vua Lê. Binh Tây Sơn dấy lên, các đội nhạc cũ lớp chết lớp bỏ đi. Nàng lưu lạc ở các chợ, ôm đàn gảy dạo. Những bản đàn do nàng gảy là những khúc trong cung phụng gảy cho vua nghe, người ngoài không ai biết. Cho nên tài danh của nàng lừng lẫy một thời. Buổi thiếu niên, đến kinh đô thăm anh, tôi trọ gần Giám hồ. Cạnh đó các quan Tây Sơn tập hộp nữ nhạc, danh cơ không dưới vài chục. Nàng ăn đứt mọi người với cây đàn Nguyễn, lại hát hay và khéo nói khôi hài. Cử tọa đều say mê điên đảo đua nhau ban thưởng. Những chén rượu thưởng to lớn, nàng nhận uống cạn. Tiền thưởng nhiều vô số. Vàng lụa chồng chất đầy cả đất. Lúc bấy giờ tôi núp trong bóng tối, trông thấy nàng không rõ lắm. Sau gặp lại ở nhà anh tôi. Nàng người thấp má bầu, trán giô, mặt gẫy. Không đẹp lắm, nhưng da trắng trẻo, khéo trang điểm, mày thanh, má phấn, áo màu hồng, quần sắc túy, hớn hở có bề phong tao. Tánh lại hay rượu, ưa hí hước. Đôi mắt long lanh không để một ai vào tròng. Khi ở nhà anh tôi, mỗi lần uống rượu, năng uống say vùi, nôn mửa bừa bãi, nằm lăn trên đất, bạn bè chê trách, không lấy làm điều.Sau đó vài năm, tôi dời nhà vào Nam, ngót mấy năm liền không trở lại Long Thành. Mùa xuân năm nay, phụng mệnh đi sứ Trung Quốc, tôi đi ngang qua Long Thành. Các bạn mở tiệc tiễn tôi tại dinh Tuyên Phủ, có gọi vài chục nữ nhạc, tôi đều không quen mặt biết tên. Tiệc khởi múa hát. Kế đến tiếng đàn trổi lên, nghe trong trẻo khác thường không chút giống thời khúc. Lòng tôi kinh dị. Nhìn người gảy đàn, thì thấy thân gầy, thân khô, mặt đen, sắc trông như quỷ, áo quần toàn vải thô, bạc màu lại vá nhiều mảnh trắng, ngồi lầm lì ở cuối chiếu, không nói cũng không cười, hình trạng thật khó coi. Tôi không biết là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như có quen, nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi thăm thì ra là người trước kia đã gặp. Than ôi! Người ấy sao đến nỗi thế này! Cúi ngửa bồi hồi, nghĩ đến cảnh cổ kim, lòng tôi cảm kích vô hạn. Đời người trăm năm, những cảnh vinh nhục buồn vui thật sao không lường được! Sau khi từ biệt, trên đường đi, cảm thương khôn nén, nên soạn bài ca để gửi hứng." Qua những trang viết quý báu của Nguyễn Du ta thấy phụ nữ ngày xưa biết trang điểm, biết ăn mặc rất kiểu cách cầu kỳ. Bằng chứng là một người "má bầu, trán dô, mặt gẫy" biết cách trang điểm sao cho ưa nhìn, nghệ thuật trang điểm thời bấy giờ có lẽ cũng khá đa dạng, không rõ những dụng cụ thời ấy ra sao, Rin86 chỉ duy nhất một lần nhìn thấy cái nhíp đào được ở hoàng thành Thăng Long, nhìn nó rất khác cái nhíp bây giờ. Không hiểu phấn thời cụ Nguyễn Du làm bằng chất liệu gì, còn son thì không rõ dùng... làm gì vì ai cũng ăn trầu nên môi luôn đỏ. Người phụ nữ "ăn chơi" thời xưa cũng không thua gì bây giờ, người ca kỹ trong bài thơ này uống rượu ở nhà người khác nằm lăn ra đất! thật hết biết. Cuộc sống của ông cha ta thời xưa đã phát triển về nhiều mặt rất phong phú, nhưng nếu không có sự tái hiện lại thì e rằng người thế hệ sau không ai tưởng tượng được. Không hiểu người xưa ăn mặc như những tấm ảnh của bác Thiên sứ có bị cho là hở hang không chứ người bây giờ cho thế là.... hư, bây giờ không ai dám mặc yếm ra đường.
-
Thuyền truyền thống của sắc tộc Tao ở Đài Loan, trước đây thì những sắc tộc trên những hòn đảo nhỏ cạnh Đài Loan chẳng thuộc quốc gia nào cả, không biết những chiếc thuyền này có liên quan đến Nhật Bản và Việt Nam không vì Đài Loan gần Nhật Bản. Nguồn BBC
-
với câu hỏi có không thì quẻ nào là có quẻ nào là không ạ? Những quẻ tốt hẳn hoặc xấu hẳn như Hưu Lưu niên hoặc Khai Tốc Hỷ thì chắc chắn là không và có rồi còn quẻ như Cảnh Vô Vong thì là luận là có hay không ạ? I'm really confuse :(
-
nền văn minh Ai Cập, Maya, Aztec, Inca và Lạc Việt
Rin86 replied to Rin86's topic in Các Bài Viết Quan Trọng
Rin86 tìm mãi mới thấy được tấm ảnh này trên báo Tuổi trẻ đế so sánh với trang phục Nam Mỹ, Lúc nhìn thấy tấm ảnh cụ già Maya ở Quatemala độ khăn Rin86 thấy ngờ ngợ, rất giống các vấn khăn của người dân tộc miền núi Việt Nam, màu sắc và hoa văn dệt trên vải cũng tương đồng, nhưng tìm mãi mà không thấy tấm ảnh nào giống như trong trí nhớ :P . Nhìn qua ta thấy nhiều nét tương đồng giữa cụ già người Dao và cụ già ở Quatemala. Có lẽ những dân tộc ít người sống trên núi cao miền Bắc Việt Nam, ở Tây Nguyên hay Lưỡng Quảng Trung Quốc, vì ít tiếp xúc với ngừoi Hoa nên vẫn giữ được nguyên vẹn lối phục sức, công nghệ dệt vải, những ngành thủ công truyền thống từ thời đại các vua Hùng các đây khoảng 5000 năm hình đầu tiên là cụ già người Dao, hình thứ hai là cụ già Quatemala. Màu sắc và hoa văn thêu trên vải có nhiều nét giống nhau, cách vấn khăn cũng giống nhau. Họ đều sử dụng những màu sắc cơ bản, họa tiết hình học, vải dệt thô kiểu thổ cẩm.... Nét tương đồng thấy rõ. Hy vọng mọi người có nhiều hình ảnh về các dân tộc miền núi Việt Nam, trong trí nhớ của Rin86 thì trong mỗi buổi chợ, phụ nữ các dân tộc ít người vấn những chiếc khăn xanh lá mạ, hồng theo cách rất giống người Quatemala. -
Sét Đánh Sập Cổ Lâu Trên Cửa An Hòa, Kinh Thành Huế
Rin86 replied to Thiên Sứ's topic in Thông Tin Cập Nhật
Phòng tuyến sông Như Nguyệt bị đánh chiếm bởi các lò gạch! Phòng tuyến sông Như Nguyệt – trận địa bất hủ trên sông đã mang lại chiến thắng hiển hách trong cuộc chống quân Tống xâm lược (1075 - 1077) giành lại non sông Đại Việt, đồng thời cũng đặt dấu mốc quan trọng cho một thời kỳ thịnh trị, tự chủ của triều đình phong kiến Đại Việt trong “đêm dài” Bắc thuộc. Nó gắn mãi với tên tuổi của Lý Thường Kiệt, người đã lưu danh sử sách với “bản Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên bằng bài thơ thần bất hủ “Nam quốc sơn hà”. Ngót 1.000 năm đã đi qua. Con sông Cầu huyền thoại ấy, dù có bên bồi bên lở, thì cũng không đổi dòng! Thế nhưng, ít ai có thể ngờ, cả dòng sông mẹ hùng vĩ, cả những chứng tích lịch sử hào hùng kia, đang phải rên xiết vì sự tàn phá của con người. “Sa tặc” và… các chủ lò gạch đang từng ngày, từng giờ giết chết những di tích lịch sử “phòng tuyến sông Như Nguyệt” năm nào! Sự thực đau xót ấy, khiến những người nặng lòng và có trách nhiệm với quá khứ, không khỏi “xót xa như rụng bàn tay“. Công trường lò gạch sẽ tàn phá khu di tích?! Công trường lò gạch trên điểm di tích bãi Miễu Phòng tuyến sông Như Nguyệt được Lý Thường Kiệt dựng lên giống như một bức bình phong phòng thủ vững chắc, cách cửa ngõ đi vào thành Thăng Long chừng ba mươi dặm. Nó dựa vào thế núi, sông, đồng trũng, ruộng lầy, kéo dài từ chân núi Tam Đảo đến Lục Đầu Giang. Trên dòng sông Như Nguyệt xưa (nay là sông Cầu), đoạn đi qua địa phận huyện Yên Phong (Bắc Ninh) gồm các xã Tam Giang, Tam Đa có chiều dài hơn 10 km đường đê, xuôi xuống Thị Cầu. Ven theo mái đê sông Cầu, đồng thời cũng là phòng tuyến sông oanh liệt ấy, những di tích liên quan đã được Bộ Văn hoá - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia, gồm hệ thống các đền, chùa, các trại tập trung quân, các kho hậu cần, lương vận… phục vụ cho trận chiến. Chỉ riêng xã Tam Đa (Yên Phong - Bắc Ninh), trên 2km đê đã có tới 8 điểm được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử. Điều ấy cho thấy, tầm quan trọng và ý nghĩa lịch sử của phòng tuyến có tầm quan trọng làm nên chiến thắng quyết định của quân và dân nhà Lý, không chỉ là huyền thoại trong sử sách, mà nó hiện hữu ở những địa danh, những dấu tích…, như một chứng tích cho lòng tự hào, tự tôn muôn đời của chúng ta. Đường vào khu di tích Thế nhưng! Miễu Thọ Đức – một trong những điểm quan trọng của phòng tuyến sông Như Nguyệt năm nào – thuộc thôn Thọ Đức (xã Tam Đa, Yên Phong, Bắc Ninh). Theo sử sách, cánh quân tại bãi Miễu có nhiệm vụ chặn mũi tiến quân của giặc từ phía núi Tiêu Lát tràn sang và làm nhiệm vụ ứng cứu cho 2 cánh quân ở khu vực Như Nguyệt và Thị Cầu. Xưa, Miễu Thọ Đức nguyên là một doi đất cao, và nằm ở phần trong đê (phía khu dân cư). Tấm biển của khu di tích Trận lụt cách đây vài chục năm đã phá vỡ tuyến đê cũ. Chính quyền địa phương phải đắp con đê mới, thành ra, Miễu Thọ Đức lại nằm ở phần ngoài đê (tiếp giáp với sông Cầu). Tuy nhiên, Miễu vẫn đường bệ đứng trên doi đất cao. Từ Miễu ra đến bờ sông Cầu là một bãi bồi mênh mông. Từ Miễu vào đến phần chân đê cũng là một khoảng đất rộng mênh mông như thế. Những tưởng, với vị trí “an toàn tuyệt đối” này, di tích lịch sử Miễu Thọ Đức sẽ chẳng bao giờ có nguy cơ bị xâm hại, trừ phi đó là cơn giận dữ của thủy thần sông Cầu ! Mấy chục năm nay, sông Cầu hiền lắm. Cái họa thiên tai không còn là nỗi lo ngại lớn nhất. Thế nhưng, sự “an toàn” ấy, chỉ là trong các cuốn biên niên sử và trong những lời… truyền miệng. Miễu Thọ Đức bây giờ là một… ốc đảo, giữa nham nhở điệp trùng những lò gạch, những khói than, khói bụi khiến Miễu bị cô lập với khu dân cư và đứng trước nguy cơ bị xâm hại! Sơ đồ phòng tuyến sông Như Nguyệt Mặt trời chính ngọ. Chúng tôi xuống “hiện trường” (nói theo cách nói của anh Thu, trưởng thôn Phấn Động) thăm Miễu Thọ Đức. Thấp thoáng từ phía xa, những tháp lò nung gạch sừng sững và dày đặc. Hàng trăm lò gạch từ nhiều năm nay miệt mài khoét đất “đưa vào khuôn khổ” để cung cấp vật liệu dân sinh. Nghe đâu, lò gạch Thọ Đức cung cấp gạch cho toàn bộ Thành phố Bắc Ninh và các vùng lân cận. Mấy năm gần đây, các khu công nghiệp mọc lên nhan nhản, nhu cầu xây dựng càng lớn. Gạch Thọ Đức càng được mở rộng mức “cầu”. Một chòm xanh xanh nổi lên lẻ loi giữa những hố đất khoét nham nhở như vũng ao. Anh Thu bảo, đó là Miễu Thọ Đức – điểm chặn giặc lẫy lừng của Lý Thường Kiệt ngày xưa. Lách xe vào con đường ton hỏn rải cấp phối, bị các xe KAMA, xe công nông “ăn gạch” cày nát và phủ lên đó lớp bụi đỏ quạch. Chừng vài trăm mét, bắt gặp tấm biển báo: “Di tích lịch sử quốc gia: Miễu Thọ Đức” đứng chơ vơ bên vệ đường, bị mưa nắng, bị bụi gạch, bị những lưỡi xẻng khoét đất vào tận đến chân bê tông của tấm biển, khiến nó nghiêng hẳn sang một bên và long chong như kiểu trẻ con đang chơi trò bập bênh. “Đường vào di tích bãi Miễu như thế đấy. Trước, cả khu bãi bồi này xanh ngút ngàn. Tụi trẻ con chúng tôi chạy cả chiều không hết. Khi ấy, Miễu đẹp lắm!” – anh Thu nói. Cái thời gian mà anh Thu ước lượng bằng ngôn từ chung chung ấy, là cái khoảng thời gian thôn Thọ Đức chưa nghĩ ra “ý tưởng” cho các chủ lò gạch thuê đất lâu năm để khai thác sản xuất gạch nung. Từ khi thôn nảy ra sáng kiến này để lấy nguồn thu làm các công trình phúc lợi (đường xá, nhà văn hóa, nhà trẻ… của thôn), thì bãi Miễu tan hoang như một trận địa. Ngoại trừ con đường vào Miễu (nếu như không phải là lối đi cho các xe vào ăn hàng tại các lò gạch), thì hẳn nó cũng bị khoét nham nhở để lấy đất… làm gạch. Xã biết chuyện thì sự đã rồi. Mà cái hợp đồng ấy, cũng từ đời các thôn trưởng, chủ tịch xã trước. Anh Nhật – trưởng thôn mới lên được 2 năm của Thọ Đức, không “dính líu” gì đến cái hợp đồng này. Xã cũng “chịu”, vì thời hạn hợp đồng chưa hết. Các chủ lò khai thác hết đất, tiếp tục khai thác cát. Thành thử, “mặt tiền” của Miễu Thọ Đức lổng chổng những hố nước, những vũng, những “ao”… và lôm nhôm trận địa “lò gạch”. Đứng trên mặt đê, Miễu cô lập như một “ốc đảo”! “Có đến vài chục chủ lò gạch cùng chung sức khoét đất bãi Miễu, anh bảo làm sao mà không hết được. Cứ cường độ khai thác này, chỉ mươi năm nữa, có muốn sang Miễu, chắc phải đi đò!”. “Đỉnh núi bên kia là nơi quân Tống đóng quân!” Sự lo lắng của anh Thu không phải không có căn cứ. Mặt trước của Miễu là sông Cầu án ngữ. Đoạn sông trước Miễu là đoạn ngắn nhất, nhưng sâu nhất của sông Cầu, và cũng là điểm trọng yếu của trận tuyến ngày xưa. Bên kia sông là xã Tiên Sơn (huyện Việt Yên, Bắc Giang). Tương truyền, đỉnh núi sừng sững trước mặt (có tên gọi núi Tiêu Lát), là nơi giặc Tống chiếm đóng. Chúng đã tìm ra được đoạn sông ngắn nhất bắc cầu phao sang hòng đánh úp trại lính của nhà Lý tại Thị Cầu và Như Nguyệt (chạy thẳng theo đường đê chừng hơn cây số). Chỗ giặc Tống chọn xây cầu phao, có một tảng đá to như cái nhà 5 gian. Vài năm trước, một tàu cát đi qua va phải tảng đá ngầm, bị đắm. Người ta cho mìn, bộc phá xuống đánh tan tảng đá, lấy dòng thủy lưu cho tàu thuyền. “Tiếc lắm, tiếc lắm!”. Anh Thu tặc lưỡi xuýt xoa như thạch sùng. “Tảng đá ấy có tên gọi đá Can Vang. Theo cách suy luận “hiền lành” của anh, thì tảng đá ấy cũng là một phần của phòng tuyến sông Như Nguyệt xưa, nó cũng phải được ghi vào danh sách “di tích lịch sử” cho… công bằng, chứ không phải vì một chiếc tàu ăn hàng đâm phải, mà nó bị phá tan hoang như thế!? Xây nhà trên đất đền! Chếch đền Miễu chưa đầy 1km, di tích lịch sử đền Phấn Động (thôn Phấn Động – xã Tam Đa) lại chịu một số phận khác. Di tích này cũng được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1980, do Thứ trường Bộ Văn hóa - Thông tin ký ngày 18/01/1980 theo quyết định số 28 – VH/QĐ. Tuy nó không bị khai thác để làm gạch, song đất xung quanh khu di tích đã bị người dân biến thành đất dân sinh. “Trước, chỗ này là bãi hậu cần mang tên Yên Ngựa của cụ Lý Thường Kiệt đấy!”. Đền Phấn Động nằm lọt thỏm giữa xung quanh các hộ dân, chỉ chừa lại con đường dẫn xuống khu di tích được xây thành bậc cấp và mặt trái của đền tiếp giáp với sông Cầu. Những hộ dân này, nguyên là các hộ được chuyển xuống theo kế hoạch di dân khi xã xây dựng hệ thống thủy lợi từ năm 1998. Xã cho cán bộ xuống nói chuyện “khó dễ” để các hộ di dời, nhưng không ai chịu đi vì “đã được cấp sổ đỏ”. Nhưng, lý do chính theo anh Nguyễn Văn Thu (trưởng thôn Phấn Động), là vì đất mặt đê bây giờ đã lên đến 80 triệu đồng/suất. Chẳng ai chịu di dời là một lẽ đương nhiên, cho dù hầu hết các nhà dân ven đê đều vi phạm đến hành lang an toàn đê sông một cách nghiêm trọng. Năm 2000, khi Ban quản lý tôn tạo lại đền đã phát hiện một ngôi mộ cổ, hài cốt đựng trong một chiếc chum sành, nắp đậy bằng chiếc chậu đồng, xung quanh là lớp nền gạch móng… Chính quyền cho chôn cất lại, rồi xây lăng cẩn thận. Nay, cả ngôi mộ cổ này cũng được hộ anh Nguyễn Văn Cường (một trong những hộ nằm trong phương án di dời) quây lại bằng bờ tường rào, nghiễm nhiên “trưng dụng” cả ngôi mộ cổ thành “tài sản” của mình! Xã đòi, anh Cường cũng không chịu trả lại cho đền. Trời không chịu đất, đất phải chịu trời. Chỉ có các cụ trong Ban quản lý di tích là rầu rĩ nhất! Bây giờ thì di tích lịch sử đền Phấn Động đã nằm lọt thỏm giữa khu dân cư. Anh Cường đã đổ móng nhà ra tít phía ngoài sông. Có lẽ, anh chưa dám dựng hết, vì ngôi mộ cổ đã được xã dựng thành miếu. Mặt trước, mặt sau của đền, đất đều đã có chủ. Nếu cả 4 xung quanh đều dựng nhà, người ta sẽ phải xuống khu di tích bằng một con ngõ nhỏ xây theo bậc tam cấp, chạy từ mặt đê chạy xuống… “Tôi đau đầu lắm. Cả tháng trời nay, cứ cuối tuần lại hớt hải từ xã về thôn để họp bàn với các cụ bô lão trong Ban quản lý di tích. Chuyện người ta làm gạch, chiếm dụng đất đê, đền Phấn Động làm đất thổ cư, nó lâu rồi, nên cũng quen. Đau đầu nhất, là cái “vấn nạn mới” vừa phát sinh kia kìa…”. Anh Thu thở dài thườn thượt, rồi trỏ tay ra hướng mặt sông. Ngoài ấy, giữa lòng sông Cầu mênh mông, có những chiếc thuyền cắm giữa lòng, cặm cụi như đang ngủ… “Đấy là những chiếc thuyền “sa tặc” tàn phá dòng sông, và há mồm muốn nuốt chửng các di tích của Phòng tuyến sông Như Nguyệt!”… Quá trình xây dựng và chiến công của Phòng tuyến sông Như Nguyệt Tháng 3 năm 1076, nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9 tướng, hẹn với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn Đại Việt, nhưng quân Chiêm Thành và Chân Lạp không đến. Quân Tống viễn chinh lên đến 10 vạn quân, một vạn ngựa và hai mươi vạn dân phu, khí thế rất mạnh mẽ, nhất là kỵ binh Tống, nhưng quân Tống muốn phát huy kị binh thì phải làm sao qua khỏi vùng hiểm trở, tới chỗ bằng, thì ngựa mới tung hoành được. Thế thủ của quân Nam thì dựa vào sông núi, các đèo hiểm trở, các sông rộng và sâu. Từ trại Vĩnh Bình vào châu Lạng, phải qua dãy núi rậm, có đèo Quyết Lý, ở trên đường từ tỉnh Lạng Sơn đến Đông Mô ngày nay, vào khoảng làng Nhân Lý, ở phía bắc châu Ôn. Rồi lại phải qua dãy núi lèn (đá không phá đất), đá đứng như tường, ở giữa có đường đi rất hiểm: đó là ải Giáp Khẩu, tức là ải Chi Lăng, ở phía bắc huyện Hữu Lũng thuộc Bắc Giang ngày nay. Đèo ải tuy hiểm, nhưng có thể dùng kị binh hoặc vượt qua, hoặc len lỏi qua rừng để tránh. Còn sông sâu rộng, thì ngựa khó lòng qua nổi. Phòng thủ sông khá dễ, đóng cọc và dùng rào giậu ở bờ Nam, cũng đủ ngăn quân địch. Các tướng lĩnh thuộc Man Động như: Nùng Quang Lãm, Nùng Thịnh Đức coi ải Hà Nội, Hoàng Kim Mãn và Sầm Khánh Tân giữ châu Môn, Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu, Lưu Kỷ coi Quảng Nguyên khi quân Tống sang đã đầu hàng. Duy có phò mã Thân Cảnh Phúc giữ châu Quang Lang (Lạng Sơn) không những không chịu hàng mà còn rút vào rừng đánh du kích, giết rất nhiều quân Tống. Những tướng lĩnh này trước kéo quân qua đất Tống, đánh rất giỏi. Nhưng sau quân Tống tràn sang đánh báo thù, lúc đầu họ cự chiến, sau vì thất trận và vì sự dụ dỗ, nên đã đầu hàng, thậm chí như Hoàng Kim Mẫn còn chỉ đường bày mưu cho Tống. Sách Quế Hải Chí kể: \"Viên tri châu Quang Lang là phò mã, bị thua, bèn trốn vào trong rừng Động Giáp, rồi du kích hậu phương quân Tống. Rình lúc bất ngờ đánh úp quân địch làm chúng rất sợ hãi\"http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%BD_Th%C6...ote-13#_note-13. Quân Tống tiếp tục tràn xuống, theo đường tắt qua dãy núi Đâu Đỉnh, tới phía tây bờ sông Phú Lương; trong khi đó, một cánh quân tách ra, vòng sang phía đông đánh bọc hậu quân Nam ở Giáp Khẩu (Chi Lăng) và thẳng tới sông Cầu. Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, lập chiến lũy sông Như Nguyệt để chặn quân Tống. Sông Cầu từ địa phận Cao Bằng chảy đến Lục Đầu, hợp với sông Bạch Đằng. Từ Lục Đầu ra đến bể, là một cái hào tự nhiên sâu và rộng, che chở cho đồng bằng nước Việt để chống lại tất cả mọi cuộc ngoại xâm đường bộ từ Lưỡng Quảng kéo vào. Đối với đường sá từ châu Ung tới Thăng Long, thì sông Bạch Đằng không can hệ, vì đã có sông Lục Đầu, là cái hào ngăn trước rồi. Trái lại, sông Cầu rất quan trọng. Thượng lưu sông Cầu qua vùng rừng núi rất hiểm. Chỉ có khoảng từ Thái Nguyên trở xuống là có thể qua dễ dàng, và qua rồi thì có đường xuôi. Nhưng sau sông, ở về phía tây có dãy núi Tam Đảo, là một cái thành không thể vượt. Chỉ có khoảng từ huyện Đa Phúc đến Lục Đầu là phải phòng ngự bờ nam mà thôi. Trong khoảng ấy, lại chỉ khúc giữa, từ đò Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền, là có bến, có đường qua sông để tiến xuống miền nam một cách dễ dàng thẳng và gần. Lý Thường Kiệt đem chủ lực chặn con đường từ trại Vĩnh Bình đến sông Nam Định (sông Cầu) bằng cách đặt những doanh đồn và phục binh ở hai ải tiếp nhau: ải Quyết Lý ở phía bắc châu Quang Lang và ải Giáp Khẩu (Chi Lăng) ở phía nam châu ấy. Nếu hai phòng tuyến ấy bị tan, thì phải cố thủ ở phòng tuyến thứ ba, tức là nam ngạn sông Nam Định. Để cản quân Tống qua sông, Lý Thường Kiệt sai đắp đê nam ngạc cao như bức thành. Trên thành, đóng tre làm giậu, dày đến mấy từng. Thành đất lũy tre, nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một dãy thành hào, che chở cả vùng đồng bằng Giao Chỉ. Thành hào ấy dài gần trăm cây số, khó vượt qua và nhưng lại dễ phòng thủ hơn là một thành lẻ như thành Thăng Long. Cùng lúc đó thuỷ binh Tống do Hòa Mân và Dương Tùng Tiểu chỉ huy đã bị thủy quân Nam do Lý Kế Nguyên điều động, chặn đánh ngoài khơi lối vào Vĩnh An. Quân Tống có kỵ binh mở đường tiến công quyết liệt, có lúc đã chọc thủng chiến tuyến quân Nam tràn qua sông Như Nguyệt, nhưng quân Nam đều kịp thời phản kích, đẩy lùi quân Tống. Lý Thường Kiệt còn dùng chiến tranh tâm lý để khích lệ tinh thần quân Nam chiến đấu. \"Đang đêm, nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ, táng đảm, không đánh đã tan\". Quân Tống tiến không được, thoái không xong, hao mòn vì chiến sự và khí hậu, không được thủy quân tiếp viện. Quân Nam lại tập kích, doanh trại của phó tướng Triệu Tiết bị phá, dù quân Tống cũng giết được hoàng tử quân Nam là Hoàng Chân và Chiêu Văn. Quân Tống 10 phần chết đến 6, 7 phần. Lý Thường Kiệt biết tình thế quân Tống đã lâm vào thế bí, mà người Nam bị chiến tranh liên miên cũng nhiều tổn thất, nên sai sứ sang xin \"nghị hoà\" để quân Tống rút về. Quách Quỳ vội chấp nhận giảng hòa và rút quân. Sách Việt Sử kỷ yếu của Trần Xuân Sinh dẫn cổ sử nói về nội tình của nhà Tống về sự kiện này: Triều thần nhà Tống cho rằng \"Cũng may mà lúc đó địch lại xin giảng hoà, không thì chưa biết làm thế nào\". Hoàng Xuân Hãn, tác giả sách Lý Thường Kiệt đã bình phẩm: \"Giả như các mặt trận đầu có quân trung châu, thì thế thủ xếp theo trận đồ của Lý Thường Kiệt đã dàn ra, có lẽ đánh bại Tống từ đầu. Nhưng thổ quân các châu vội hàng trước đại quân Tống. Quân tiên phong không giữ nổi các ải. Cuối cùng là nhờ phòng tuyến sông Cầu khéo đặt, và thủy quân ta mạnh cho nên Lý Thường Kiệt đã ngăn cản được sức tiến công quyết liệt của Tống\". Tư liệu lịch sử. Minh Minh (Vietimes) [/size][/font] -
Kéo cày trả nợ Chuyện nầy trích ở "Chuyện cổ nước Nam". Dầu rằng, người ta có thể bảo chuyện cổ là chuyện bịa đặt, nhưng thấy tác giả tin tưởng Luật Nhơn Quả và có dụng ý khuyến thiện, chúng tôi mượn chép ra đây: Xưa có một người tên Châu Văn Ðịch, làm ăn vất vả, cửa nhà đói kém, nhưng tánh khí hiền lành, ăn ở thật thà có nhơn, có đức. Trong hạt có một nhà giàu thường cho người ấy vay nợ, năm nào cũng vậy, vay vay, trả trả đã nhiều. Gặp năm mất mùa, người ấy không trả được nợ, mà ông nhà giàu cũng không hỏi đến. Mấy năm sau, người ấy chết đi, nợ vẫn còn lại. Nên lúc hấp hối còn trối với con rằng: "Nợ nần chưa trả cho ai, Hồn nầy thác xuống tuyền đài chưa yên". Một đêm, ông nhà giàu kia nằm mơ, nghe có tiếng người nói ở bên tai rằng: "Tái sinh chưa dứt hương thề, Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai". Sáng ra ông thấy con trâu đẻ ra được con nghé trên lưng có hai chữ "Văn Ðịch". Con nghé mỗi ngày một lớn, khôn ngoan dễ bảo, cày bừa rất khỏe. Người biết chuyện, ai cũng bảo rằng: "Người ăn thì còn, Con ăn thì hết. Ðã đến lúc chết, Hãy còn nhớ ơn". Cách ít năm, hai đứa con Văn Ðịch khôn lớn lên, làm ăn nhờ Trời cũng khá. Một hôm đang cày ngoài đồng, nghe thấy ở thửa ruộng gần đấy có người bảo con trâu rằng: - Văn Ðịch! Văn Ðịch! Nhanh chơn, mau bước, kẻo đã trưa rồi. Hai đứa con nghe kêu tên cha, ngạc nhiên chạy sang bên ruộng hỏi thì người kia nói rằng: - Con trâu nầy từ lúc sanh ra, trên lưng có hai chữ "Văn Ðịch", mà có gọi đúng tên nó như thế, thì nó mới chịu làm. Lúc về hai đứa con vội vàng sang nhà ông nhà giàu hỏi chuyện tỏ ý muốn mua con trâu, thì ông ấy bảo rằng: - Trước tên "Châu Văn Ðịch" có vay nợ ta, không trả được ta cũng không đòi? Có lẽ gì vậy, mà phải hóa kiếp làm con trâu nầy trả nghĩa cho ta. Ðã mấy năm nay nó làm ăn chịu khó, trong nhà ta đây cũng được thạnh vượng. Nó trả như thế, ta cho cũng là đủ rồi. Vậy hai người có phải là con, muốn mua chuộc về thì ta để lại cho. Ta lại trả cả văn khế cũ đem về mà hóa kiếp cho yên hồn cha. Khi hai đứa con chuộc được con trâu về, vừa đem tờ văn khế ra đốt, thì nó lăn ra chết. Thế là nó đã trả sạch được nợ kiếp trước rồi. Thấy chuyện nầy, người ta mới đặt câu "Kéo cày trả nợ" thành câu tục ngữ.
-
LINH SỐ 12 Người viết: Dã Trung Tử Trong lãnh vực tôn giáo, thì con số 12 được coi là linh số của Thượng Đế. Theo chơn truyền Cao Đài giáo thì tầm quan trọng của con số 12 như sau: - Trong Thánh giáo dạy về Lễ bái, Đức Chí Tôn đã nói về con số 12 như sau: “Lạy Thầy 12 lạy là tại làm sao ? Các con không biết đâu … Thập nhị Khai Thiên là Thầy, Chúa cả Càn Khôn thế giới, nắm trọn Thời Thần vào tay. Số 12 là số riêng của Thầy” (Thánh giáo ngày 25 / 2 / 1926 / TNHT / Q1 / Tr. 9 - 10). - Trong Thánh giáo dạy về phổ độ Đức Chí Tôn đã dạy mỗi môn đệ phải độ được 12 người: “Chư môn đệ đã lập minh thệ rồi ngày sau tùy âm chất mỗi đứa mà thăng, hay tội lỗi mà giáng, song mỗi đứa phải độ cho đặng ít nữa là 12 người”(Thánh giáo ngày 27-08-1926 / 20 tháng 07 Bính dần / TNHT / Q1 / Tr. 39). - Trong Phương pháp Luyện tập thân thể Đức Hộ Pháp đã dạy tập 12 thế vận động, mỗi thế làm 12 lần, cũng như luyện thở có chỉ huy chỉ 12 hơi mà thôi. Đức Ngài đã dạy rằng: “Nên nhớ con số 12 là con số đặc biệt của Đức Chí Tôn . Trong đó 12 con Giáp linh diệu cũng là Thập nhị thời thần” (12 bài luyện tập thân thể). “Thầy nắm trọn Thập nhị Thời thần vào tay, rồi mới khai thiên lập địa”(Diễn văn của Đức Hộ Pháp đọc tại Tòa Thánh Tây ninh ngày 14-2 Mậu thìn /5-3-1928 ). Theo kinh nghiệm những người đã ứng dụng theo Phương pháp luyện tập nầy, thì chi cần làm đúng con số 12 thì không bao giờ gặp sự phản ứng nào bất lợi cả. - Trong buổi đầu khai Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn đã thâu nhận 12 người làm môn đệ đầu tiên, để truyền bá mỗi Đao. Cũng như về sau Đức Chí Tôn đã tấn phong 12 vị Thời quân Hiệp Thiên Đài làm tướng sói của Thầy để làm đồng tử (cầu cơ chấp bút). - Khi khai Thánh Giáo Chúa Jesus cũng đã chọn 12 môn đệ để truyền đạo. - Về phương diện tâm linh Đức Thich Ca đã tìm ra 12 nguyên nhân gây nên sự đau khổ cho con người gọi là “thập nhị nhơn duyên” Trong Thập nhị nhơn duyên, cái này sinh ra cái kia và cứ liên tiếp nhau như một xâu chuỗi. Mười hai nhơn duyên, cứ theo thứ tự, xin kể ra đây: 1.- Vô minh: nghĩa là tối tăm mê muội. 2.- Hành: nghĩa là hành động. 3.- Thức: nghĩa là nhận thức, biện biệt. 4.- Danh sắc: nghĩa là hình danh, sắc tướng. 5.- Lục nhập: nghĩa là sáu giác quan, gồm có ngũ quan là mắt, mũi, miệng, tai, tay thêm giác quan thứ sáu là trí tuệ. 6.- Xúc: Nghĩa là cảm xúc. 7.- Thọ: nghĩa là cảm giác tiếp thọ của ngoại vật. 8.- Ái: nghĩa là yêu mến, tức là lòng tham dục. 9.- Thủ: nghĩa là ham mê, quyến luyến sự sống 10.- Hữu: nghĩa là có xác thân có sống ở đời. 11.- Sanh: nghĩa là sanh ra ở cõi đời này 12.- Lão tử: nghĩa là già rồi chết. Những nhơn duyên ấy quan hệ với nhau đại thể như thế này: Vì mê muội (vô minh) mới sanh ra hành động (hành), có hành động sanh ra nhận thức (thức) v.v... Ngày nay chúng ta còn nhận thấy con số 12 còn hiện diện trong cả các lãnh vực khoa học tự nhiên, khoa hoc nhân văn và cả trong khoa học thực nghiệm nữa: - 12 giờ là nửa vòng của quả đất quay trên trục của nó tạo ra ngày đêm, sáng tối, âm dương. - 12 tháng là một vòng quay của quả đất theo quỷ đạo của nó quanh mặt trời, tạo ra bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. - 12 địa chi là: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Người xưa cho rằng: Thiên sanh ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần. Nên về mặt huyền vi nó kết hợp với 10 Thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu,Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý biểu tượng cho cơ sanh hóa: “Thập Thiên can bao hàm vạn tượng, Tùng Địa chi hóa trưởng Càn khôn”. (Phật mẫu chơn kinh) - Về mặt ứng dụng con số 12, Đông phương đã dùng 12 Địa chi kết hợp với 10 Thiên can để làm cơ sở cho các khoa nhân văn sau đây: * Chế ra lịch (âm lich) để tính giờ, ngày, tháng, năm…và tiên lượng sự biến chuyển thời tiết khí hậu trong năm, như ngày nào đó là tiết Đại hàn (lạnh nhiều), Đại thử (nắng gay gắt), Tiểu tuyết (tuyết rơi ít), Đại tuyết (tuyết rơi nhiều) v.v… * Âm lịch còn kết hợp với Dịch lý làm cơ sở cho các khoa: Dự đoán học (bói toán), Thái ất, Đôn giáp, Tử vi đẩu số (chiêm tinh Đông phương). - Phương Tây cũng chia Hoàng đạo làm 12 cung, và gọi các chòm sao ở mỗi cung bằng các tên: * Aries (Bạch dương). * Cancer (Cự giải). * Lbra (Thiên bình). * Capricornus (Ma kết). * Taurus (Kim ngưu). * Leo (Sư tử). * Scorpius (Thiên hát) * Aquarius (Bảo bình). * Gemini (Song tử). * Virgo (Thất nữ). * Sagitarius (Nhân mã). * Pices (Song ngư). - 12 cung còn có mặt trên địa bàn của khoa Tử vi Đông phương (Trung hoa cổ). Còn hiện diện trong 12 cung của khoa Chiêm tinh Tây phương (Hy lạp cổ), tiên đoán vận mạng con người, sinh gặp cung nào thì vận mạng sẽ ra sao, khá chính xác. - Trong cơ thể con người có 12 đường kinh lạc, xuất phát từ 12 tạng phủ, phân bố khắp cơ thể, lại có nhịp độ sinh học thịnh suy tương ứng với 12 giờ phương Đông như Phế (phổi) thịnh vào giờ Dần (3 đến 5 giờ sáng), Vị (dạ dày) thịnh vào giờ Thìn (7 đến 9 giờ sáng) v.v… - Theo khoa giải phẩu sinh lý học hiện đại, thì con người có 12 đôi thần kinh xuất phát từ sọ não, phân bố lang thang khắp cơ thể, chi phối sự linh thông sáng suốt của con người. - Trong hóa học hữu cơ hiện đại, con số 12 có mặt trong phân tử hình thành hợp chất sống, đó là phân tử hữu cơ vòng của đường Glucose có công thức C6 O6 H12. - Trong sự cấu tạo vật chất, khoa vật lý học hiện đại đã tìm ra 12 thành phần cấu tạo cơ bản của vật chất trong đó có 6 lepton, 6 quart (Theo The Tao of Physic). * * * Như vậy đối chiếu giữa huyền linh và khoa học về tầm quan trọng của con số 12, cho ta một nhận định rằng “Thượng Đế có mặt ở khắp mọi nơi, và chi phối mọi hiện tượng” từ sự cấu tạo nên hạt tiềm nguyên tử cho đến vòng quay của địa cầu. nguồn: http://www.personal.usyd.edu.au/~cdao/booksv/linhso12.htm
-
Trống minh khí là gì ạ? Cháu nghe nói đến tục giết trống vì trống đồng có linh hồn, linh hồn của trống có phải là minh khí? Liệu có tế con gì đó để linh hồn của nó biến thành linh hồn của trống không nhỉ?
-
VIỆT NAM CÓ VĂN MINH VÀ VĂN TỰ CỔ HAY KHÔNG ?
Rin86 replied to wildlavender's topic in Cổ Văn Hoá Sử
anmay viếtÝ Rin86 là sau khi về chầu vua Hùng họ hãy đợi đấy! -
môn Vovinam là một võ phái mới, môn này là sự tổng hợp những kết tinh của võ học cổ truyền dân tộc, trong đó nó còn bảo tồn được cách sử dụng một loại kiếm cổ nhưng không rõ là cổ đến mức nào đây là bộ kiếm trong một lớp học vovinam ở Pháp. kiếm Nhật Và đây là trang wed Việt Vũ Đạo quốc tế: http://www.vietvudao.com
-
Thời Hùng Vương người Việt ta đã biết đến võ thuật hay chưa? Theo Rin86 thì là có. Đơn giản là người ta tìm thấy kiếm đồng, rìu chiến bằng đồng thời Hùng Vương, những món binh khí đạt đến độ tinh xảo, có nghiên cứu về khí động học, tác động của lực, áp lực... chứ không đơn thuần là cành cây có buộc hòn đá bên trên nữa. Vậy có binh khí tinh xảo như vậy thì phải có cách sử dụng binh khí bài bản là điều tất nhiên. Kiếm Việt Nam xuất hiện rất sớm, từ thời đồ đồng Ðông sơn đã phát hiện được rìu chiến, dao găm (đoản kiếm), giáo, mũi lao, mũi tên, tấm che ngực, che cổ tay, cổ chân...Trong đó dao găm (đoản kiếm) có hình dáng rất hoa mỹ, đẹp mắt và được chạm trổ rất công phu. Một điều chác chắn là cha ông ta có kỹ thuật độc đáo để rèn đúc các loại binh khí bằng đồng và đỉnh cao là trống đồng Ðông sơn. Nhưng tiếc thay sau 1000 năm đô hộ của Bắc phương, kỹ thuật đúc trống đồng đã thất truyền, và kỹ thuật đúc kiếm của Việt Nam cũng bị chôn vùi; Càng tiếc hơn nữa là ngày nay người Việt Nam không có một kiểu kiếm riêng biệt đặc trưng cho dân tộc, mà hình dạng kiếm Việt Nam bị ảnh hưởng bởi các loại kiếm củaTrung Quốc, Nhật, Thái Lan, Pháp... Về hình dạng kiếm của Việt Nam có hai loại: Loại hai lưỡi bén và loại một lưỡi bén còn gọi là gươm. Kiếm có hai lưỡi bén, thân thẳng có hình dạng giống kiếm củaTrung Quốc, nhưng hầu hết phần hộ thủ (che tay) đều hướng về cán kiếm hơn là hướng về lưỡi kiếm. Ðôi khi kiếm thẳng của Việt Nam mới nhìn qua thấy rất giống đoản kiếm của Tây phương.Loại kiếm có một lưỡi bén từ khoảng 1400 dến 1800 có hình dạng giống Liễu diệp đao của đời nhà Minh bên Tàu, nhưng phần cán kiếm lại giống kiếm Nhật, đôi khi lại có ảnh hưởng của Thái lan. Cây kiếm của vua Quang Trung hiện được trưng bày trong viện bảo tàng Sài gòn có hình dạng của kiếm của Thái Lan, đây cũng có thể là chiến lợi phẩm thu được trong trận chiến Rạch Gầm, Xoài Mút Cuối thế kỷ 18, kiếm của Pháp bắt đầu ảnh hưởng đến hình dạng của kiếm Việt Nam, khi thực dân Pháp bắt đầu đặt nền thống trị lên nước ta. Một số kiếm đời nhà Nguyễn cho thấy kiếm thời này có phần hộ thủ hình chữ "D", vỏ và cán kiếm nạm bạc hay khảm xà cừ, lưỡi kiếm cong vòng giống kiếm Tây phương. Số kiếm cổ xưa của Việt Nam còn lại đến ngày nay rất ít ỏi và hiếm hoi, việc nghiên cứu cần nhiều công sức và thời gian của các nhà khảo cổ, xã hội học, hay các nhà võ thuật học nếu như muốn khôi phục lại một nền kiếm thuật của nước nhà (Đăng tại Đặc San Vovinam Việt Võ Đạo, số 27 Tháng 12/2001). Vậy môn nghệ thuật chiến đấu thời Hùng Vương giờ này .... ra sao? Không lẽ bị thất truyền? Theo Rin86 thì nó vẫn còn tồn tại, và một trong những hậu duệ của môn nghệ thuật chiến đấu thời Hùng vương là Việt Vũ Đạo. Việt Vũ Đạo là một trong những loại hình nghệ thuật chiến đấu của người Việt Nam. Việt Vũ Đạo là môn nghệ thuật chiến đấu đào tạo khả năng nhào lộn, thể dục cũng như nhận thức bản thân. Việt Vũ Đạo được dùng để tự vệ, người dùng Việt Vũ Đạo có thể quật ngã mà không gây đau đớn nghiêm trọng cho đối phương. Việc tập luyện Việt Vũ Đạo thích hợp với khả năng của mọi cá nhân, dù người cao, thấp hay gầy, béo đều có thể tập được và không đòi hỏi một nền tảng sức khỏe cao như nhiều môn võ khác. Điều này dễ dàng với mọi người để đạt được mục đích của mình khi tham gia tập luyện. Việt Vũ Đạo được thành lập bởi Phạm Xuân Hòa (1802-1880), người kế thừa ông là Phạm Văn Thạch (1850-1906). Sau cái chết của ông Phạm Văn Thạch, Phạm văn Tàn được giao trọng trách của gia tộc Vũ Đạo ở Dat Dao, một thành phố phía nam Bà Rịa. Ông đã thành lập trường dạy Việt Vũ Đạo đầu tiên. (wiki) Biểu tượng của Việt Vũ Đạo là hình âm dương ngũ hành với hai màu đen trắng (Vovinam là màu xanh và đỏ). Võ phục của Việt Vũ Đạo là áo trắng quần đen thể hiện cội nguồn của nó là từ người nông dân, đai có một mặt đen và một mặt trắng. Bản thân Việt Vũ Đạo thuộc môn nghệ thuật chiến đấu nhưng sao nó lại tên là Vũ Đạo? Phải chăng thể hiện tính thiện của môn này, không làm đau ai cả, không có sát khí, chỉ là vũ thôi chứ không là võ? Và giả thiết thứ hai là về nguồn gốc cổ xưa của nó, Việt Vũ Đạo bắt nguồn từ Vũ Đạo? Hay từ võ phát sinh ra vũ? Theo tham khảo từ từ điển bách khoa Wiki thì: Vũ đạo hay còn gọi chính xác đầy đủ là nghệ thuật múa Trung Hoa Cổ có từ thời rất xa xưa trong đời sống sinh hoạt dân gian ở Trung Quốc cổ đại. Nghệ thuật múa này ban đầu là để phục vụ các sinh hoạt trong lao động sau đó được dùng trong các nghi lễ truyền thống trong dân gian và cả trong các nghi lễ tôn giáo. Múa cổ đại có hai phần gọi là vu vũ và nhạc vũ. Vu tức là bà đồng (đồng cốt nữ được gọi là vu, đồng cốt nam được gọi là hịch), có bổn phận cúng tế cầu đảo. Từ thời nhà Thương đến thời nhà Chu, một số Vu có địa vị cao và được đánh giá quan trọng trong triều đình. Do vậy vu vũ chính là một hình thức vũ đạo tôn giáo của các Vu khi cúng bái cầu đảo Thượng đế Ngọc hoàng hay cúng tế sau này tại các địa phương. Nhạc vũ lại do nô lệ biểu diễn, chủ yếu để phục vụ giải trí cho giai cấp quí tộc và các đại thần, tướng sĩ trong chốn cung đình. Đến đầu thời nhà Tây Chu, lễ và nhạc được qui định thành kinh sách. Nhạc vũ được chỉnh lý lại trở thành nhã nhạc đầy tính chất đặc thù cung đình, trong khi vũ đạo của giới nô lệ trước đây lại được nâng cao đặc biệt. Cuối thời Tây Chu, vương thất nhà Chu suy yếu, nhã nhạc đã mất dần tác dụng khống chế của nó trong sinh hoạt chốn cung đình chỉ dành cho giai cấp quí tộc và quan lại địa chủ phong kiến. Lúc này, Nhạc và vũ đạo trong dân gian đã được khích lệ phát triển mạnh mẽ thay thế cho nhã nhạc thuần túy của sinh hoạt cung đình. Vũ đạo Trung Quốc cho đến thời nhà Tần và nhà Hán có thể được phân làm hai giai đoạn, bắt đầu từ thời nhà Tống để làm mốc. Từ thời nhà Tần và nhà Hán đến thời nhà Tống, vũ đạo lúc đó chủ yếu được xem là một loại hình nghệ thuật để biểu diễn trong các sinh hoạt văn hoá, giao tế, và yến tiệc của giới quý tộc. Vũ đạo hưng thịnh nhất vào thời nhà Hán và nhà Đường. Thời Lưỡng Hán (Tây Hán và Đông Hán), triều đình thiết lập một cơ quan chuyên trách để quản lý và chỉnh lý về âm nhạc và vũ đạo được gọi là Nhạc phủ. Có nhiều gia đình quý tộc và quan lại nuôi các nghệ nhân vũ đạo. Vào thời nhà Ngụy-Tấn và Nam Bắc Triều phân tranh, khu vực miền nam Trung Quốc trên cơ sở kế thừa âm nhạc của thời nhà Hán đã phát triển một thể loại vũ đạo mới được gọi là nhã vũ và tạp vũ. Nhã vũ được dùng để phục vụ các sinh hoạt tôn giáo, và tạp vũ được dùng để phục vụ cho toàn thể cộng đồng trong các kỳ hội hè yến tiệc hay các sinh hoạt văn hóa và lễ hội truyền thống trong đời sống dân gian lúc đó. Trong khi đó, các khu vực thuộc miền bắc Trung Quốc lại bị người Hồ cai trị, do đó hiển nhiên rằng vũ đạo mang đậm sắc thái và đường nét sinh hoạt văn hóa của các bộ tộc người Hồ. Các thể loại âm nhạc của dân gian Ấn Độ và vùng Tây Vực (Vân nam) cho đến khu Thiên Sơn thịnh hành cả cung đình lẫn dân gian. Đầu thời nhà Tùy, nhã nhạc được chỉnh đốn lại toàn bộ, trong đó pha trộn phong cách các thể loại cổ nhạc của các dòng nhạc Nam Triều thuộc miền nam Trung Hoa với các thể loại nhạc Hồ vũ (vũ đạo của các bộ tộc người Hồ) của Bắc Triều thịnh hành ở miền bắc Trung Hoa. Đời nhà Đường đã kế thừa toàn bộ loại nhã nhạc đó rồi du nhập thêm các loại vũ đạo của khu vực Ba Tư Lưỡng Hà (là Iraque và Iran ngày nay) để tổ chức phân làm hai nhóm biểu diễn phục vụ : nhóm múa ngồi và nhóm múa đứng. Nhóm múa ngồi sẽ biểu diễn trên thềm cung điện, nhóm múa đứng biểu diễn ở phía dưới thềm cung điện. Thời nhà Đường là giai đoạn đỉnh cao của sự dung hợp các nền văn hoá, âm nhạc, vũ đạo của các dân tộc và các địa phương trong khung cảnh mở rộng giao lưu văn hóa giữa các bộ tộc ở khắp miền nam bắc Trung Hoa cho đến vùng ngoài biên cương châu thổ Trung Nguyên. Từ đời nhà Tống trở về sau, vũ đạo Trung Quốc đã được phát triển hoàn toàn khác. Vũ đạo với vị thế độc lập đã bị suy yếu đi và biến cách thành một thể loại mới hơn và đa phong cách thể hiện trong sự pha trộn thêm vào nhiều hình thức hí khúc, kể chuyện, ngâm nga v.v... và đã được phát triển rất mạnh. Những tiết mục độc lập bên ngoài vũ đạo có từ đời nhà Đường đã trở nên biến thái và hòa nhập vào các thể loại ca vũ kịch hoặc tạp kỹ (xiếc, nhào lộn). Vũ đạo chuyên nghiệp đã suy thoái tại cung đình còn vũ đạo dân gian thì thịnh hành vào thời này. Vũ đạo sau này có một vị thế quan trọng trong Kinh kịch, một thể loại nghệ thuật sân khấu ca kịch cổ rất thịnh hành từ cuối triều nhà Thanh cho đến nay. Vũ đạo có một vai trò đặc biệt trong các bộ môn quyền thuật thuộc miền Bắc Trung Hoa, nếu ta quan sát kỹ các tư thế, điệu bộ, phong cách thể hiện và thần thái diễn tập trong nghệ thuật múa nhà Đường qua bộ phim truyền hình nhiều tập Tây Du Ký ở phần cuối phim do Trung Quốc sản xuất với vai Tôn Ngộ Không do Lục Tiểu Linh Đồng thủ vai diễn, ta sẽ thấy rất nhiều động tác dễ nhận ra trong một số bộ môn quyền thuật bắc Trung Hoa sau này. Các động tác như chạy lòng vòng thật nhanh hay chạy thật xa và dài, bay nhảy, uốn éo và lắc lư nghiêng ngả của thân pháp trong kỹ thuật của Trường Quyền có thể là do ảnh hưởng từ các điệu múa và được cách điệu lên trong các chiêu thức quyền thuật làm cho các bộ môn quyền thuật thuộc miền bắc Trung Hoa (sau này được tích hợp thành các bộ môn quyền Bắc Thiếu Lâm) trở nên có một phong cách hoàn toàn khác biệt các phái võ miền nam Trung Hoa, nhất là các bộ môn quyền thuật của Nam Thiếu Lâm. Các tư thế và chiêu thức của các môn quyền Bắc Thiếu Lâm trông rất lả lướt, phong cách hoa mỹ bay bổng hơn các dòng quyền thuật Nam Thiếu Lâm rất nhiều trong khi các tư thế và chiêu thức của quyền thuật ở Nam Thiếu Lâm trông rất thô bạo và dũng mãnh, ngắn gọn và chặt chẽ, chú trọng thực dụng và hiếm khi nhảy nhót. Lấy từ “http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_%C4%9...Qu%E1%BB%91c%29” Theo một số võ sư thì võ và vũ đôi khi khó phân biệt “Rất khó phân biệt giữa hư và thực, khó thấy rõ giữa võ chiến đấu và võ dưỡng sinh.Ngay trong một màn thị phạm có khi tôi đánh Võ, có khi lại là Vũ Đạo, tùy tâm ý của từng lúc, từng sácna. Một giây trước là Võ, ngay sau lại là Vũ Đạo”. (Trích lời võ sư Bùi Thế Cần, www.aiki-viet.com.vn) Môn Việt Vũ Đạo là môn nghệ thuật chiến đấu tự vệ vậy mà lại lấy tên là Việt Vũ Đạo, ta có thể thấy hai điều đó là tính thiện trong môn võ này, hai là cội nguồn cổ xưa của nó. Cái tên của nó cho thấy người sáng lập ra môn phái hiểu rõ thế nào là Võ, thế nào là Vũ cũng như hiểu rõ nguồn gốc của cả hai từ này. Qua một số topic về mối liên quan giữa Việt Nam và Nhật Bản, ta cũng thấy mối liên hệ giữa hai quốc gia không phải mới có cách đây vài trăm năm mà từ rất lâu rồi. Trong đó, theo Rin86, có cả mối liên quan về võ thuật. Xin hãy xem một số video sau đây về cách sử dụng kiếm trong Việt Vũ Đạo và Kendo (kiếm đạo Nhật Bản) http://uk.youtube.com/watch?v=ClkW2LBJTg0&...feature=related Việt Vũ Đạo http://uk.youtube.com/watch?v=kPb5I0eijwk Kendo (Thật đáng tiếc vì không chèn video trực tiếp vào diễn đàn được :rolleyes: xem như vậy hơi bất tiện) Dù không học võ nhưng bằng cảm giác của một người thông thường Rin86 thấy hai môn Kendo và Việt Vũ Đạo đều có nét tương đồng (động tác cắt giống nhau, hình dạng kiếm na ná nhau. Hy vọng đó không phải là sự trùng hợp theo kiểu hai con cá khác chi, khác loài cùng tiến hóa theo một hướng trong cùng một môi trường.
-
ồ! vậy ra trống đồng cũng là một đồ hình malenda? Thảo nào nó giống lịch của người Maya, Aztec.... Nhưng tại sao người Ai Cập không sử dụng đồ hình này nhỉ? :rolleyes: người xưa dùng những nét kẻ, zích zắc trên trống đồng vì họ hiểu rõ ý nghĩa của chúng, nhìn thì đơn giản nhưng ý nghĩa thật sâu xa. :rolleyes:
-
Về cái gọi là "...những phát hiện lịch sử chấn động"
Rin86 replied to wildlavender's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Anh Doremon rất hay úp mở, có phải vì theoo truyền thuyết về những người tới từ phương Đông của Tây không? Người Tây Âu di cư đến châu Âu ngày nay và đặt tên nước mới theo nước cũ, kiểu giống người Wales di cư đến Mỹ đặt tên nước mới là New soulth wales? -
Vậy ra ở Trung Quốc chữ viết có trước tiếng nói sao? Vì lượng chữ nhiều hơn lượng âm tiết, cùng một âm tiết mà diễn tả nhiều ý nghĩa vậy nên có nhiều chữ khác nhau để diễn tả những ý nghĩa khác nhau của cùng một âm tiết!!! Sao ngược đời vậy? Nếu hiểu rõ nghĩa của từng chữ thì phải có âm tiết riêng cho từng chữ một chứ? Có phải chăng là chữ có trước, tiếng nói có sau, vì đọc chữ hiểu nghĩa nhưng phát âm không chuẩn nên những chữ diễn tả âm tiết gần nhau nhưng nghĩa khác nhau bị đánh đồng làm một, cứ lơ lớ cả. Thành ra vài vạn chữ (91,251 chữ) mà chỉ có 420 âm tiết, thật quá sức ít ỏi, kể cả ghép chữ để tạo thành từ thì tiếng Hán cũng có rất nhiều từ đồng âm dị nghĩa, thật là một sữ khập khiễng kỳ lạ.
-
cảm ơn Dim rất nhiều. Dim thật dễ thương.
-
Rin86 chưa biết chuyển quẻ xấu thành tốt thế nào nhưng thông thường thì trước khi đi gặp nhân vật quan trọng ta cứ nai nịt gọn gàng, không trang điểm quá cầu kỳ và tỏ ra thật tự nhiên sẽ thành công thôi (kinh nghiệm của Rin86). Quẻ Hưu Lưu Niên có lẽ báo rằng người đó hoặc Dim sẽ đến muộn do tắc đường chẳng hạn, vì tắc đường nên ngồi trên xe nghỉ ngơi luôn :rolleyes: và người kia phải ngồi đợi!!!
-
Thật là một bất ngờ vô cùng thú vị, đáng lẽ phải gọi là âm Hán Nhật Việt mới đúng. Rất nhiều phát minh tưởng của Trung Quốc không ngờ lại có xuất xứ từ Nhật Bản, Việt Nam. không phải là Việt Nam Nhật Bản hay tìm cảm hứng từ mô hình của Trung Quốc mà là ngược lại mới đúng.